Một gương đấu tranh – Lữ Giang

Hình ảnh người Việt đó đây:

1.  Biếm Họa: Người Buôn Gió của Đàn Chim Việt.

Thông tin chủ nhân BLog Người Buôn Gió bị bắt.  Blog VietnamExodus.

« Câu trả lời này bạn : là cho gió cuốn đi
Câu trả lời là đang cuốn theo chiều gió bay đi
Nguy
ên bản:
The answer, my friend, is blowin’ in the wind,
The answer is blowin’ in the wind » By Bob Dylan

2.  Biểu tình phản đối văn hóa vận của cộng sản tại Melbourne, Australia .

3.  Biểu tình trước Tòa Đại Sứ Trung Cộng ở Washington DC. – Hoa Kỳ. Pics

4.  Bài đọc suy gẫm:   Một Gương Đấu Tranh –  Lữ Giang

Melbourne- Australia 28-8-2009



Ngày 18.8.2009, ông Kim Đại Trọng (Kim Dae-jung), cựu Tổng Thống Hàn Quốc (Nam Hàn) đã qua đời ở tuổi 85 vì bệnh viêm phổi. Nhiều nhà lãnh đạo trên thế giới đã gởi lời chia buồn và ca tụng ông, còn dân chúng Nam Hàn và Bắc Hàn đều bày tỏ sự ngưởng mộ đối với ông.
Đại diện của nhiều quốc gia đã đến Nam Hàn tiển đưa ông. Ngay cả chính phủ Bắc Hàn cũng gởi một phái đoàn đến viếng ông. Sáu viên chức của nhà cầm quyền Bắc Hàn, mặc com-lê đen và đeo cà vạt đen, đã tới đặt vòng hoa tại bậc thềm Quốc Hội Nam Hàn, nơi quàn linh cữu của ông. Phóng viên John Sudworth của đài BBC tại Seoul nhận định chuyến viếng thăm này trước hết cho thấy cựu Tổng thống Nam Hàn Kim Đại Trọng được kính trọng như thế nào ở cả hai miền Nam – Bắc.

Đêm 19.8.2009 đã có khoảng 10 nghìn người đến bệnh viện Yonsei Severance viếng ông, hơn 10 nghìn người đến viếng bàn thờ ông đặt tại Tòa Thị Chính Seoul và hàng chục ngàn người đã tưởng niệm ông tại 115 bàn thờ lập trong cả nước.

Sau 6 ngày để tang trong cả nước, tang lễ của ông đã được tiến hành theo nghi thức quốc táng vào lúc 14 giờ chiều Chủ nhật 23.8.2003 và được an táng tại Nghĩa Trang Quốc Gia ở Dongjak-dong. Đây là vị cựu tổng thống thứ hai được làm lễ quốc táng tại Nam Hàn. Người thứ nhất là Tổng Thống Pác Chung Hy.

Chính gia đình ông Kim Đại Trọng và Đảng Dân Chủ, đảng đối lập với chính quyền hiện tại, đã yêu cầu chính phủ Nam Hàn cử hành quốc táng cho ông và tối 19.8.2009 chính phủ Nam Hàn đã đưa ra quyết định như vậy. Đảng Đại Dân Tộc đang cầm quyền cũng đã bày tỏ thương tiếc ông. Đảng này đã ca ngợi sự đóng góp to lớn của ông trong việc phát triển dân chủ, và quan hệ giữa hai miền Nam – Bắc, và khẳng định dấu ấn quan trọng của ông trong hòa hợp nhân dân và hòa bình giữa hai miền.

Sở dĩ ông Kim Đại Trọng được dân chúng Đại Hàn và nhiều nhân vật quan trọng trên thế giới ca tụng là vì ông đã bỏ cả cuộc đời để theo đuổi dân chủ và thúc đẩy thống nhất hai miền Nam Bắc.



“Chính sách Ánh Dương” (Sunshine Policy) của ông, một chính sách nhằm cải thiện quan hệ giữa hai miền Nam – Bắc trên danh nghĩa vẫn còn đang trong tình trạng chiến tranh. Chính vì chính sách này, ngày 13.10.2000, Ủy Ban Giải Nobel đã tuyên bố tặng Giải Nobel Hòa Bình cho ông với lý do: “Qua Chính sách Ánh Dương, ông Kim Đại Trọng đã cố gắng vượt qua hơn 50 năm chiến tranh và thù nghịch giữa Bắc Hàn và Nam Hàn. Cuộc viếng thăm Bắc Hàn của ông thúc đẩy tiến trình làm giảm bớt căng thẳng giữa hai quốc gia.”

Trước khi nói về nội dung của “Chính sách Ánh Dương”, vai trò của nó trong thời đại “diễn biến hoà bình”, những tính toán của chính phủ Nam Hàn và Hoa Kỳ, những thành quả và những trở ngại, những tranh luận…, chúng tôi xin nói qua về cuộc đời tranh đấu kiên cường và không mệt mỏi cho dân chủ và nhân quyền của cựu Tổng Thống Kim Đại Trọng.

VÀI NÉT VỀ KIM ĐẠI TRỌNG

Ông Kim Đại Trọng sinh ngày 3.12.1925 tại làng Ha Enido, tỉnh Cholla, một làng nhỏ ở phiá nam Nam Hàn, trong một gia đình Công giáo. Đây là một khu vực nghèo nhất nước Đại Hàn. Người dân ở đây bị đa số người Nam Hàn coi là thấp kém hơn họ. Tuy nhiên, ông Kim Đại Trọng vẫn cố gắng vươn lên. Năm 1943 ông tốt nghiệp trường thương mại và mãi đền năm 1970, sau khi ra đời nhiều năm, ông mới tốt nghiệp Tiến Sĩ Kinh Tế tại Đại Học Kyunghee ở thủ đô Hán Thành.

Vào đời, ông đứng đầu một công ty chuyển vận hàng hải nhỏ, đến năm 1954, ông bắt đầu hoạt động chính trị, nhưng ông đã gặp nhiều gian khổ và thất bại. Mãi đến năm 1961, sau hai lần thất cử, ông mới đắc cử vào Quốc Hội Nam Hàn. Tuy nhiên, khi ông vừa đắc cử thì ngày 16.5.1961 Tướng Pác Chung Hy làm đảo chánh và giải tán Quốc Hội. Năm 1963, ông tái đắc cử và trở thành phát ngôn viên của Đảng Dân Chủ. Năm 1969, Tổng Thống Pác Chung Hy quyết định sửa hiến pháp để ông có thể làm Tổng Thống nhiệm kỳ thứ ba. Ông Kim Đại Trọng đã chống lại việc này.

Năm 1971, ông được Đảng Tân Dân Chủ chọn làm ứng cử viên Tổng Thống để tranh cử với Tướng Pác Chung Hy. Trong thời gian tranh cử, ông đã bị mưu sát 5 lần. Tuy ông bị thất bại, nhưng Tướng Pác Chung Hy thấy ông là một nguy cơ lâu dài nên muốn loại trừ ông. Một tháng sau, trên đường đi họp, một chiếc xe vận tải 14 tấn đã lao thẳng vào xe ông. Tài xế nhanh trí lách vào lề, tông vào một xe khác làm ông và hai tùy tùng bị thương, ông bị gãy chân. Năm sau, Quốc Hội gồm các dân biểu thân chính đã làm luật ban cho Pác Chung Hy quyền làm Tổng Thống trọn đời và cấm mọi hoạt động chống lại nhà cầm quyền. Ông đã cương quyết chống lại luật này.

Thấy tình hình trong nước quá nguy hiểm, theo lời khuyên của nhiều người, ông đã đi qua Mỹ rồi Nhật để lánh nạn và tiếp tục vận động chống độc tài. Trưa 8.8.1973, ông Kim Đại Trọng đã họp với một số thành viên của đảng Hòa Hợp Dân Chủ tại phòng số 2212 của khách sạn Grand Palace. Mục đích của cuộc họp là chuẩn bị cho hội nghị thành lập một liên minh dân chủ của người Hàn Quốc tại Nhật Bản để đấu tranh với chế độ độc tài trong nước. Ngay sau cuộc họp, ông Kim bị 5 kẻ lạ mặt xông vào phòng khống chế, bịt mắt và bí mật chuyển sang phòng 2210 gần đó. Tại đây, ông đã bị chích thuốc mê và bị chuyển đến Osaka. Khi tỉnh dậy, ông thấy mình đang bị trói chặt vào một cột gỗ trên một chiếc tàu ngoài khơi Nhật Bản. Những kẻ bắt cóc định đem ông ném xuống biển. Trong giờ phút tuyệt vọng, ông bắt đầu cầu nguyện. Bổng nhiên một chiếc trực thăng đã bay đến sát con tàu chở ông và từ trên đó có tiếng loa vọng xuống: “Ông có phải là Kim Đại Trọng không?”. Bị phát hiện, những kẻ bắt cóc đã không dám thực hiện ý đồ giết ông. Ông bị đưa về Nam Hàn giam giữ và đánh đập tàn nhẫn. Nhờ sự can thiệp của Hoa Kỳ và các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền, ông được phóng thích nhưng bị quản thúc tại gia ở Hán Thành. Năm 2007, Cơ quan gián điệp Nam Hàn thừa nhận đã bắt cóc ông vào năm 1973 và ngụ ý vụ này được tiến hành dưới sự hậu thuẫn của Tổng Thống Pác Chung Hy.

Ngày 1.3.1976, ông và nhóm ông công bố “Tuyên Ngôn Ngày Độc Lập cho Dân Chủ Hóa” (Independence Day Declaration for Democratization) nhằm phát động một phong trào đòi dân chủ. Ông bị bắt và bị tuyên án 5 năm tù. Đến năm 1978 ông được phóng thích nhưng lại bị quản chế tại gia.

Ngày 26.10.1979 Tổng Thống Pác Chung Hy bị một trong các cận vệ ám sát. Ông Choi Kyu-hah được phong làm Tổng Thống lâm thời. Ông được phục hồi tất cả các quyền công dân. Tháng 8-1980, Tướng Chung Đô Hoan (Chun Doo-hwan) người cầm đầu một nhóm sĩ quan đầy thế lực, đã được Hội nghị Quốc gia về Thống nhất một tập thể cử tri, bầu làm Tổng thống thay Tướng Pac Chung Hy. Phong trào chống chính quyền độc tài lại nổ ra tại Kwang Du quê hương ông. Quân đội đàn áp và giết chết ít nhất 200 người. Tháng 6 năm 1979, Tổng Thống Chung Đô Hoan ra tối hậu thư cho ông: hoặc là cộng tác với chính quyền hoặc chịu chết. Ông từ chối.

Biểu tình tại Washington DC.

Tháng 5 năm 1980, ông Kim Đại Trọng đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy đòi hỏi dân chủ tại Quang Du. Quân đội đã dẹp tan cuộc nổi dậy này làm cho 191 người chết và 852 người bị thương. Tuy nhiên theo tài liệu không chính thức có hơn 1000 người chết.

Tháng 8 năm 1980, ông bị bắt giam và bị truy tố về tội phản quốc. Ngày 4.12.1980, trong một toà án quân sự chỉ diễn ra trong 6 phút, ông bị kết án tử hình! Theo tin tức báo chí, lần này ông cũng thoát chết, vì các phong trào đấu tranh cho nhân quyền đòi chính phủ Nam Hàn phải trả tự do cho ông. Ông được giảm án xuống còn khổ sai chung thân, rồi khổ sai 20 năm.
Tuy nhiên, theo tài liệu văn khố mới được công bố tại Nam Hàn vào ngày 18.5.2009, ngay sau khi ông Kim Đại Trọng bị tuyên án tử hình, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết thư cho Tổng Thống Chung Đô Hoan xin ân xá cho ông. Gần một tháng sau, ngày 5.1.1981, Tổng Thống Chung Đô Hoan phúc đáp thư ĐGH trong đó Tổng Thống nói ông Kim Đại Trọng bị kết án vì tội phản quốc, lật đổ chính phủ, chứ không phải vì vấn đề chính trị. Tuy nhiên, trong thư đó Tổng Thống Chung Đô Hoan cũng thừa nhận rằng lời kêu gọi của ĐGH hoàn toàn vì nhân đạo và bác ái.

Ngày 23.1.1981, Tổng Thống Chung Đô Hoan đã giảm án cho ông Kim Đại Trọng, từ án tử hình xuống còn tù chung thân. Vào tháng 2 năm 1981, ĐGH đã viết thư cám ơn Tổng Thống Chung Đô Hoan, trong đó Ngài viết: “Tổng Thống đã ân cần đáp ứng lại lời kêu gọi của tôi hoàn toàn có tính nhân đạo là xin ân xá án cho ông Kim Đại Trọng.”

Năm 1982, chính quyền Chung Đô Hoan lại rút bản án của ông xuống còn 20 năm tù và buộc ông phải đi Hoa Kỳ sinh sống. Trước lễ Giáng Sinh năm 1982, ông bị tống xuất sang Hoa Kỳ. Ông sống tại Boston và dạy ở Đại học Harvard.

Năm 2000, trong một chuyến công du Ý, Tổng Thống Kim Đại Trọng đã viếng thăm Vatican và trong cuộc hội kiến với ĐGH Gioan Phaolô II, Tổng Thống đã nói với ĐGH: “Đức Thánh Cha đã cứu mạng sống tôi. Tôi xin tri ân Ngài”.

Năm 1985, ông tự ý trở lại Nam Hàn nên bị quản chế tại gia. Nhưng sự trở về của ông đã làm dấy lên phong trào đòi dân chủ ở Nam Hàn. Tháng 6 năm 1987, ông được phục hồi quyền công dân. Ông đã ra tranh cử Tổng Thống hai lần vào năm 1987 và 1992, nhưng thất bại. Năm 1997, ông đắc cử Tổng Thống Nam Hàn với 40,3% số phiếu. Đây là vị Tổng Thống Công Giáo đầu tiên ở Nam Hàn.

Tuy nhiên, khi ông mới lên cầm quyền thì Nam Hàn rơi vào một cuộc khủng hoảng về tài chánh rất nghiêm trọng. Ngân Hàng Thế Giới và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế đã nhảy vào, buộc chính phủ phải thi hành những biện pháp cải tổ thật cứng rắn để cứu nguy. Ông đã đưa ra những biện pháp để phục hồi lại nền kinh tế Nam Hàn và đã thành công, nên uy tín của ông ngày càng lên cao. Đầu năm 2003, khi ông rời dinh Tổng Thống, quỹ dự trữ của Nam Hàn đã lên đến gần 124 tỷ Mỹ kim, tức 13 lần số cao hơn số dự trữ lúc ông lên nhậm chức. Năm 2002, mức trao đổi mậu dịch lên đến 3.150 tỷ Mỹ kim, tức tăng gấp rưỡi mức trao đổi lúc ông vừa mới cầm quyền.


CHÍNH SÁCH ÁNH DƯƠNG

Điều làm cho Tổng Thống Kim Đại Trọng trở nên nổi tiếng là “Chính sách Ánh Dương” của ông nhằm đưa tới sự thống nhất đất nước Đại Hàn.

Chính sách Ánh Dương được mô phỏng theo một câu chuyện trong ngụ ngôn của Aesop (620-560 trước Công Nguyên), một người nô lệ và người kể chuyện dưới thời Hy Lạp cổ. Câu chuyện ngụ ngôn đó nói về Gió Bấc và Mặt Trời thi nhau lột áo con người. Gió Bấc thổi rất mạnh, nhưng con người cứ ôm chặt lấy áo và không buông nó ra. Trái lại, Mặt Trời chiếu những tia nắng ấm áp khiến con người tự nguyện cởi áo ra để tận hưởng tiết trời tuyệt đẹp. Kết quả, Mặt Trời đã thắng Gió Bấc. Đây là một chính sách nhằm mở đường cho Bắc Hàn tự mình thay đổi để có một đời sống tốt đẹp hơn.

Trong cuộc phỏng vấn của đài BBC vài tuần trước khi qua đời, ông Kim Đại Trọng nói: “Chưa có trường hợp nào mà chủ nghĩa Cộng sản bị đánh bại nhờ vào chiến tranh hay bao vây kinh tế.”

Với thế mạnh về kinh tế, tháng 6 năm 2000, ông đã đến Bình Nhưỡng dự hội nghị cấp cao với Chủ Tịch Kim Chính Nhật (Kim Jong-il), bàn về việc thống nhất Nam – Bắc, mở đầu cho những quan hệ giữa hai miền. Sau chuyến đi này, mức trao đổi hàng hóa giữa hai bên tăng lên đến 360 triệu Mỹ kim mỗi năm, và số du khách từ miền Nam sang thăm miền Bắc đã lên trên nửa triệu người. Một số gia đình bị chia cách vì chiến tranh đã có cơ hội gặp lại nhau. Các cuộc thảo luận giữa hai miền tuy có lúc đã gặp khó khăn những vẫn được tiến hành. Với những thành quả này, năm 2000, ông đã được tặng giải Nobel Hòa Bình.

Ông đã đưa ra “Kế hoạch Marshall mini”, giúp Bắc Hàn tái thiết lại, và cam kết viện trợ ngay cho Bắc Hàn 600.000 tấn phân bón và 500 triệu Mỹ kim, và hứa sẽ nghiên cứu xây đựng lại các hạ tầng cơ sở cho Bắc Hàn. Số tiền đầu tư vào công tác này được dự trù từ 1 đến 3 tỷ trong vòng 5 năm.

Cùng với hàng loạt các dự án như tuyến đường sắt liên Nam – Bắc Hàn, Cụm công nghiệp Gaeseong, đặc khu du lịch Núi Kim Cương là những điểm sáng trong nỗ lực hoà giải và hợp tác giữa hai miền. Ông Kim Đại Trọng đã từng nói: “Đặc khu du lịch Núi Kim Cương chính là con cả của Chính sách Ánh Dương của tôi”.

Theo thoả thuận giữa chính phủ Nam Hàn và Bắc Hàn, kể từ tháng 11 năm 1998, đặc khu này sẽ do những người ngoại quốc, đặc biệt là những người Nam Hàn và Bắc Hàn từ ngoại quốc về điều hành và khai thác. Tuy nhiên, cho đến nay, trong thực tế việc khai thác dịch vụ du lịch và xây dựng cơ sở hạ tầng chủ yếu do tập đoàn Hyundai Asan thực hiện.

Một số lãnh vực khác cũng đã được thỏa thuận như thành lập khu vực đánh cá chung tại vùng biển tranh chấp và mở hội đàm cấp cao thường xuyên, các gia đình bị chia rẽ khi hai miền phân cách cũng sẽ có điều kiện đoàn tụ nhiều hơn, v.v.

NHỮNG KHÓ KHĂN PHẢI ĐỐI PHÓ

Chính sách Ánh Dương cũng chỉ là một trong những kế hoạch “diễn biến hòa bình” mà các quốc gia Tây phương ngày nay đang áp dụng để làm biến đổi dần các chế độ cộng sản còn lại và các chế độ tài, đưa các nước này đi dần vào một qũy đạo mới. Nó được tiến hành sớm hay muộn, chậm hay nhanh là tuỳ thuộc vào tình hình thực tế ở tại mỗi nước và nhu cầu mà các cường quốc đang nhắm tới. Riêng tại Đại Hàn, Chính sách Ánh Dương đã gặp những trở ngại sau đây:

1.- Không kiểm soát được tay chân bộ hạ

Tháng 12 năm 2003, ông Park Jie-won, một phụ tá của Tổng Thống Kim Đại Trọng đã bị tòa án Hán Thành kết án 12 năm tù về tội chuyển tiền bất hợp cho chế độ Kim Chính Nhật trước ngày hội nghị thượng đỉnh 2 nước vào tháng 6 năm 2000. Theo bản cáo trạng, Park Jie-won chuyển bất hợp pháp cho chế độ Bắc Hàn số tiền 15 tỉ wons (tương đương 12,5 triệu đôla) lấy từ một công ty lớn của Nam Hàn. Toà án Hán Thành tuyên bố rằng nỗ lực của ông Park Jie-won vì hoà bình trên bán đảo Triều Tiên nên bản án đã được giảm nhẹ.

Viện công tố khám phá ra Tập đoàn Hyundai đã chi cho Bình Nhưỡng khoảng 500 triệu đôla cũng vào thời điểm nói trên. Sáu bị can khác, trong đó có Lim Dong-won, cựu Giám đốc tình báo Nam Hàn, được hưởng án treo.

Trước đó, cựu Tổng thống Kim Đại Trọng đã lên truyền hình xin lỗi tất cả người dân Nam Hàn về vụ tai tiếng chính trị này.

Tổng thống Kim Đại Trọng cam kết xây dựng một chính phủ trong sạch, trong khi hai người con trai của ông bị kết án về tội trốn thuế và tội nhận hối lộ. Chuyện này đã làm ông đau lòng không ít.

2.- Con rối Trung Quốc tỏ ra bất trị

Chính sách Ánh Dương bao hàm những giới hạn sau đây: Không tha thứ bất kỳ hành động khiêu khích quân sự nào của Bắc Hàn. Nam Hàng cũng sẽ không tìm cách “thâu tóm’’ Bắc Hàn bằng bất cứ hình thức nào. Cả hai bên chủ động hợp tác.

Bắc Hàn cũng đã từng tuyên bố mong muốn tiến tới thống nhất giữa hai miền Nam – Bắc không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài, thông qua cơ cấu liên bang, duy trì bộ máy lãnh đạo và hệ thống của mỗi bên.

Tuy nhiên, cho đến nay Bắc Hàn vẫn chưa thoát khỏi vai trò làm con rối cho Trung Quốc và lãnh tụ Kim Chính Nhật cũng đã tỏ ra thích hợp trong vai trò này, nên nhiều chuyện rắc rối thỉnh thoảng lại xẩy ra.

Trong những năm qua, Bình Nhưỡng đã từng dùng tầu chở điệp viên từ Bắc xâm nhập vào Nam, đưa máy bay xâm phạm không phận Nam Hàn. Chính sách Ánh Dương đã bị ngưng lại vào tháng 10 năm 2002, khi Hoa Kỳ loan báo Bắc Hàn lén lút tái tục chương trình chế tạo vũ khí hạt nhân. Gần đây, Bắc Hàn đã tự ý rút khỏi Hiệp Ước Chống Phổ Biến Võ Khí Hạt Nhân và đuổi thanh tra võ khí Liên Hiệp Quốc ra khỏi Bắc Hàn.

Ngày 2.7.2009 Bắc Hàn đã hai lần bắn thử tên lửa tầm ngắn. Tên lữa Bắc Hàn có tầm bắn 130 km. Trước đó Bình Nhưỡng đã thông báo sẽ tiến hành tập trận từ ngày 11 tháng 7 và yêu cầu tầu bè của Nhật Bản không lại gần khu vực bờ biển.

Bất chấp lời cảnh báo của Hoa Kỳ và LHQ, cuối tháng 5, Bắc Triều Tiên đã tiến hành vụ thử hạt nhân lần thứ hai và sau đó, còn thực hiện một loạt vụ bắn thử tên lửa. Ngày 12 tháng 6, Hội Đồng Bảo An LHQ đã ra nghị quyết 1874, tăng cường các biện pháp trừng phạt, lập ra một cơ chế kiểm soát các phương tiện vận tải trên bộ, trên không, trên biển, đến và đi từ Bắc Hàn, đồng thời mở rộng cấm vận buôn bán vũ khí đối với nước này.

Mặc dầu Bắc Hàn đã có những hành động như trên, các quốc gia liên hệ đều tin rằng Bắc Hàn không dám làm những chuyện mạo hiểm nguy hiểm hơn, vì không có khả năng. Bắc Hàn chỉ làm reo để đòi viện trợ hay nói lên một sự cảnh báo nào đó của Trung Quốc mà thôi.

3.- Chỉ muốn cởi mở có giới hạn

Nam Hàn rất sợ kiểu thống nhất của nước Đức khi Bức Tường Bá Linh sụp đổ, vì một sự thống nhất như vậy có thể đưa tới rối loạn và khủng hoảng kinh tế. Trong giai đoạn đầu, Nam Hàn chỉ muốn tạo điều kiện để có thể đầu tư thuận lợi vào Bắc Hàn thay vì đầu tư vào Trung Quốc và một số nước khác. Sau khi cuộc sống và dân trí ở Bắc Hàn được nâng cao, vấn đề thống nhất sẽ được diễn biến tự nhiên trong hoà bình.

Hoa Kỳ cũng chủ chủ trương thúc đẩy Bắc Hàn cởi mở đến một mức cần thiết như ở Việt Nam chứ chưa mong đợi có một sự thay đổi toàn diện. Bà cựu Ngoại Trưởng Condoleezza Rice đã từng lên tiếng thúc giục Bắc Hàn và Miến Điện theo gương (example) của Việt Nam. Bà nói:

“Nếu các nhà lãnh đạo của Miến Điện và Bắc Hàn theo gương của Việt Nam, nếu họ có sự lựa chọn chiến lược có những bước cần thiết để liên kết với cộng đồng thế giới, điều đó sẽ mở con đường cho hoà bình và cơ hội”.

(If the leaders of Burma and North Korea were to follow the example of Vietnam, if they make the strategic choice and take the necessary steps to join the international community it will open a new path of peace and opportunity).

“Gương” Việt Nam bao gồm ba yếu tố chính là đoạn tuyệt với quá khứ, ổn định tình hình và phát triển kinh tế. Như vậy, Việt Nam trong hiện tại đã được Hoa Kỳ coi như một thứ “model” mà Bắc Hàn và Miến Điện nên noi theo.

Hoa Kỳ không chủ trương thống nhất Nam – Bắc Hàn trong một thời gian ngắn. Hoa Kỳ muốn “cởi áo” Bắc Hàn một cách từ từ. Đây cũng là chủ trương của các chính quyền Nam Hàn trong những năm qua. Một viên chức cấp cao của Nam Hàn đã nói:

“Chúng tôi có một cơ chế thống nhất rõ ràng. Thống nhất từ từ, từng bước vì nếu thống nhất nhanh sẽ gây đối đầu… Để làm được điều đó, cần thúc đẩy hội nhập, hoà nhập, mở cửa kinh tế và cởi mở hơn về chính trị…”

MẶT TRỜI VẪN CHIẾU NẮNG ẤM

Người kế nhiệm Tổng Tống Kim Đại Trọng là một học trò của ông, đó là Tổng Thống Roh Moo-hyun (Lô Vũ Huyễn), đắc cử vào tháng 12/2002. Xuất thân từ một gia đình nông dân, luật sư Roh Moo-hyun cam kết chống tham nhũng và hòa hợp với Bắc Hàn. Ông nhận chức vào tháng 2/2003.

Với Bắc Hàn, ông đưa ra “Chính sách Hòa bình và Thịnh vượng” được thực hiện theo tôn chỉ hoà giải, thống nhất từ từ, không nóng vội.

Tháng 10/2007 ông đã thực hiện một chuyến viếng thăm Bình Nhưỡng bằng đường bộ. Sau 3 tiếng rưỡi chạy xe từ Seoul tới Bình Nhưỡng, đoàn đại biểu gồm khoảng 300 người (13 viên chức cao cấp, 137 trợ lý và cố vấn, 50 nhà báo và 98 nhân viên phục vụ) đã có mặt tại hội trường văn hóa ở ngoại ô thủ đô Bình Nhưỡng. Chủ tịch Kim Chính Nhật đã tổ chức lễ đón chính thức phái đoàn ở đó.

Phát biểu khi đi bộ qua biên giới có chiều ngang 243 km, Tổng thống Roh Moo-hyun đã cam kết sẽ thúc đẩy hòa bình trên bán đảo Triều Tiên. Ông nói: “Tôi hy vọng sau khi bước qua giới tuyến này, sẽ ngày càng có nhiều người hành động như tôi. Giới tuyến này sẽ được xoá bỏ và bức tường ngăn cách hai miền sẽ sụp đổ.”

Trong cuộc họp với Chủ tịch Kim Chính Nhật ông đã yêu cầu thực hiện chính xác thoả thuận mới nhất giữa 6 nước về việc vô hiệu hoá chương trình vũ khí hạt nhân của Bắc Hàn.

Nhưng nhiệm kỳ 5 năm của Tổng Thống Roh Moo-hyun đầy sóng gió với bê bối và đấu tranh nội bộ. Sau khi mãn nhiệm, ông đã bị thẩm vấn về các vụ nhận tiền hối lộ. Nhiều người cho rằng thông tin về nghi án hối lộ bị rò rỉ hàng ngày khiến ông “không thể chịu được” và dẫn tới quyết định tự sát hôm 23.5.2009.

Người kế nhiệm Tổng Tổng Roh Moo-huyn là tân Tổng Thống Lee Myung-bak. Ông này thuộc đảng bảo thủ nên không mặn mà với chủ trương hoà giải. Tuy nhiên, chính phủ này cũng không ngăn cản kế hoạch hoà giải. Mới đây, chính phủ Lee Myung-bak đã thảo luận cụ thể với Hoa Kỳ về những quan hệ giữa công ty Hyundai Asan và Bắc Hàn. Theo quan điểm của Nam Hàn, những quan hệ này không vi phạm Nghị quyết 1874 của LHQ vì các chương trình du lịch tại miền Bắc do doanh nghiệp tư nhân thực hiện và Nghị quyết của LHQ cũng cho phép các hoạt động hỗ trợ mang mục đích nhân đạo và phát triển.

Nhìn lại, dân chúng Nam – Bắc Hàn và thế giới đã ngưởng mộ ông Kim Đại Trọng vì những nổ lực tranh đấu không mệt mỏi cho dân chủ của ông và ông đã có công lớn trong việc phá vỡ băng giá giữa Nam và Bắc Hàn kéo dài trong suốt 50 năm, đưa đất nước Đại Hàn vào một triển vọng mới tốt đẹp hơn.

Theo đài BBC, ông Kim Đại Trọng có vị trí đặc biệt trong lịch sử Triều Tiên nhờ viễn kiến, lòng dũng cảm và sự kiên trì của ông trong suốt nhiều năm chiến đấu cho tự do chính trị.

Lữ Giang
(Ngày 25.8.2009)

Paltalk_VN-Flag-sm.jpg picture by nhacyeuem

Nhóm PV. Paltalk -Nam California tổng hợp từ các nguồn:

Đàn Chim Việt

Ly Hương. net

Hồn Nhỏ- Gia Đình Nazareth

Blog Việt Nam Exodus

Advertisements

Ông Cố Vấn Nói Gì ?

1. Hình ảnh minh họa:  Hiệp Thông với Tam Toà từ khắpnơi.

2. Bài đọc suy gẫm:   Giải phóng hay xâm lăng? Cách mạng hay cướp nước?-

Minh Võ.

Hiệpthông tại BosTon- Massachusetts- USA.

Khi Cộng quân Bắc Việt tràn vào Saigon ngày 30 tháng tư năm 1975 và Hà Nội tuyên bố Miền Nam đã được “giải phóng”, thì giới bình dân đã đáp lại bằng cái giọng nói lái quen thuộc: “Phỏng Giái”. Giới có học thì chau mày: giải phóng cái gì, xâm lăng thì có.

Nhưng trước đó 30 năm, cả nước chưa có ai dám gọi “trung đội vũ trang tuyên truyền giải phóng quân” của Võ Nguyên Giáp (thành lập ngày 19/12/1944) là quân xâm lăng; hay Ủy ban dân tộc giải phóng do Hồ Chí Minh làm chủ tịch (được bầu trong cái gọi là Quốc Dân Đại Hội ở Tân Trào ngày 08/07/1945) là Ủy Ban Xâm Lăng. Cũng như ngày “cách mạng tháng tám thành công” chưa ai dám gọi là ngày CS xâm lăng Việt Nam.

Vì lúc ấy chưa mấy người hiểu CS là gì và mưu mô của nó thâm độc ra sao.

Ngô Đình Nhu trước khi bị thảm sát chẳng bao lâu đã tiên đoán, “Nếu như Cộng sản Miền Bắc thôn tính được miền Nam, thì việc Trung Hoa thôn tính Việt Nam chỉ còn là vấn đề thời gian.” (1)

Nói thế là vì đến lúc ấy (đầu thập niên 60) ông ta và nhiều người khác đã hiểu bản chất CS ra sao, và mối liên hệ môi với răng giữa CS Trung Hoa và CS Việt Nam như thế nào. Ông ấy cũng đã biết chiến thắng Điện Biên và các trận đánh ở Việt Bắc, như Đông Khê, Thất Khê được… Trung Cộng tiếp viện dồi dào… đã để lại trên lưng CS Bắc Việt những món nợ kếch sù mà chỉ có lấy non sông ra mới trả nổi.

San Jose- California

Gần đây sau các vụ cắm mốc biên giới Việt Hoa rồi thành lập huyện Tam Sa đến các vụ ngư dân Việt Nam bị các toán hải tuần Trung cộng bắt giữ gần các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và đặc biệt là dự án Bô-xít tại Trung Nguyên (*) nhiều người đã kêu toáng lên rằng, nước mất đến nơi rồi. Có lẽ trong số những người ấy cũng chẳng mấy ai đã đọc cuốn Chính Đề Việt Nam của Ngô Đình Nhu. Nhưng xem ra ai cũng tỏ dấu lo sợ (?) cho số phận Tổ Quốc lâm nguy.

Tuy nhiên ngay từ đầu năm 2002, khi thứ trưởng ngoại giao VC (CHXHCNVN) Lê Công Phụng, nay là đại sứ Việt Cộng ở Hoa Thịnh Đốn, tuyên bố đã ký vói Trung Cộng hiệp ước quy định làn ranh biên giới giữa hai nước (2), chúng tôi đã viết bài Mất Đất và Mất Nước, trong đó chúng tôi quả quyết nước đã mất từ 30 tháng 4, 1975, để lưu ý mọi người đừng để vụ mất chưa đầy một ngàn cây số vuông đất vùng biên giới mà sao nhãng quyết tâm lấy lại toàn bộ Đất Nước đã mất vào tay Cộng Sản. (3)

Đúng vậy. Nước đã mất từ ngày đó, ngày mà bọn Mafia (chữ của luật sư Nguyễn Mạnh Tường tác giả cuốn hồi ký Kẻ Bị Vạ tuyệt Thông: Un Excommuníe) con đẻ của chủ nghĩa Mác-xít, một quái thai của lịch sử đã chiếm trọn Tổ Quốc Việt Nam thì chúng đã biến Tổ Quốc thiêng liêng đó thành cái tổ cuốc trong đó đã có những quả trứng cò sắp nở thành cò con. Và có thể còn có cả trứng quạ nữa.

Chúng tôi không có ý dùng ẩn dụ để thậm xưng, hay cường điệu.

Nhiều người đã phản bác lại rằng nước đâu có mất, chỉ mất một nền đệ nhị Cộng Hoà của miền Nam. Những người đó không biết rằng nước không phải chỉ có đất đai, sông ngòi, núi non . Mà nước chủ yếu là những dân tộc sinh sống trên đó. Họ là chủ của những đất đai sông ngòi, núi non đó.

Nam Hàn (South Korea) hiệp thông cho Tam Toà.

Hãy nghe một nhà thơ nổi danh khắp thế giới bày tỏ cảm tưởng của mình trước cảnh một nửa Việt Nam bị mất vào tay Cộng Sản từ 1954:

Ôi mảnh đất nửa trên hình chữ S

Ước lìa ngươi, ta ước lìa ngươi

Ta trót yêu ngươi từ thuở lên mười

Ngươi lừa phản nên đời ta mắc kẹt

Tình yêu đã trở thành thù ghét

Nếu rời ngươi, dù cụt mất một chân

Chặt nốt một tay, ta cũng không cần

Mà coi đó là điều may mắn nhất

Vì sống gần ngươi là ta mất tất

Vì sống gần ngươi ta thành súc vật. (4)

Thi nhân thốt lên những lời ai oán đó vào năm 1967, khi nước mới mất một nửa. Thì khi Cộng Sản vào chiếm nốt miền Nam, nghĩa là từ khi toàn bộ lãnh thổ hình chữ S lọt vào tay bọn xâm lăng, cái cảm tưởng của nhà thơ đã được bày tỏ một cách ồ ạt, tập thể bởi trên một triệu ngươi tự chặt tay, chặt chân là mọi liên hệ vật chất tinh thần, mồ mả cha ông, nhà cửa ruộng vườn và những mối tình ruột thịt thân thưong, người yêu , bạn bè v.v… để liều chết ra đi, rời bỏ hẳn cái mảnh đất hình chữ S đã mất ấy.

Cũng vì nước đã mất nên có những tù nhân khi được phóng thích để trở về nhà đã không chịu ra khỏi tù khiến cai tù phải lôi ra như anh Thi trong hồi ký của Kiều Duy Vĩnh hay treo cổ tự tử như Ngụy Như Cần trong Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, vì thấy sống ở đất nước đã bị CS xâm lăng chẳng khác gì sống trong tù lớn, còn khổ hơn trong tù nhỏ.

Năm 1961, khi tôi ngồi viết cuốn biên khảo đầu tay, tôi đã đặt tên cuốn sách của tôi là Sách Lược Xâm Lăng của Cộng sản. (5) Dùng hai chữ xâm lăng là tôi đã quả quyết Cộng Sản chỉ có tấn công để chiếm đất, chíếm quyền cho đảng CS, cho Quốc Tế Cộng Sản, mà kẻ chỉ huy tối cao là các lãnh tụ Cộng Sản Liên Xô. Chứ không phải “giải phóng” như chúng rêu rao. Chính cái gọi là Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam mà nhiều nhà báo và học giả ngoại quốc lúc ấy đều cho là kết quả của chính sách mất lòng dân của Đệ Nhất Cộng Hoà, đã được chúng tôi vạch rõ trong tác phẩm đó, rằng nó chính là con đẻ của Cộng Sản Miền Bắc dùng làm một thứ vũ khí xâm lăng miền nam, giống hệt như các mặt trận Thống Nhất, Mặt trận Dân Chủ, Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, mặt trận Tổ Quốc, thuộc sách lược mặt trận nói chung của các đảng CS. Chúng tôi đã phân tích và giải thích cặn kẽ bằng những chứng liệu của CS do những cán bộ cao cấp biên soạn, không thể chối cãi. (6)

Sau 30 tháng Tư Đen, khi bọn Mafia vào chiếm miền Nam, hàng triệu người chạy trốn ra biển, liều chết để khói phải sống với bọn đầy tớ ngoại bang. Và rồi hàng trăm ngàn người nếu không phải là gần một triệu người bị bắt bỏ tù không biết ngày về, không có án lệnh.

Dân số Việt Nam hiện giờ là 84 triệu. Số đảng viên Mafia là 4 triệu. Đảng này phát sinh từ Quốc Tế Cộng sản, bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác Lê “bách chiến bách thắng”, một thứ quái thai. Về cái quái thai này chúng tôi sẽ trở lại với chi tiết hơn. Thế mà ngay từ khi chiếm trọn cả nước, cái đảng đó đã chẳng cho trên 80 triệu dân được có một quyền gì. Bốn quyền chính trị, lập pháp, hành pháp, tư pháp và báo chí, tất cả đều nằm gọn trọng tay đảng.

Hip Thông Tam Toà từ Houston– Hoa Kỳ, Photo by Hiền Vy- RFA.

image

Về lập pháp, bọn Mafia chỉ có không đầy 5% dân số lại chiếm trên 90 phần trăm số ghế trong cái gọi là quốc hội. Để cho danh chính ngôn thuận phải gọi là “đảng hội” mới đúng. Chữ nghĩa của đảng Mafia chẳng ăn nhằm gì. Số 10 phần trăm nói là thuộc về 80 triệu dân, thực ra những thường dân nào muốn ứng cử vào cái gọi là quốc hội đó đều phải do Mặt trận Tổ Quốc của đảng giới thiệu và đựợc trung ương đảng chấp thuận. Như vậy có thể nói không ngoa quốc hội một trăm phần trăm nằm trong tay đảng.

Về hành pháp, các chức vụ trong chính phủ từ thủ tướng trở suống đều do các đảng viên nắm giữ.

Về tư pháp, các quan toà đều do người của đảng.

Về báo chí, trong nước hiện có trên 600 tờ báo, tất cả đều do người của đảng điều hành. Tư nhân chỉ có một vài tờ báo chui.

Ngoài việc nắm toàn bộ và chặt chẽ 4 quyền trụ cột của một quốc gia dân tộc ra, Cộng đảng còn chi phối mọi hoạt động và tổ chức xã hội dân sự. Từ cái gọi là mặt trận tổ quốc cho đến các tổ chức đoàn thể nhất là đoàn thanh niên CS HCM cho đến những hội đoàn nhỏ trong xóm phường, củng đều bị điều khiển bởi những đảng viên cốt cán.

Như vậy có phải mọi quyền dân đều mất, tức cả nước đã mất vào tay bọn Mafia, con đẻ của chủ nghĩa Mác, quái thai của lịch sử không?

Tại sao lại gọi là quái thai của lịch sử?

Vì Thuyết Mác Xít thai nghén và ra đời vào lúc dân nghèo, gọi là giai cấp vô sản trên thế giới đang bị bóc lột gây nên những bất công và vết thương xã hội ở giữa thế kỷ 19. Nó có vẻ hay, đẹp và đầy hứa hẹn như một thần dược cho căn bệnh của nhân loại. Nhưng chẳng dè, với thời gian, đụng chạm vào thực tế, nó lại chính là độc dược chết người. Những con bệnh nào nếm vào đều sống dở chết dở. Và cuối cùng tất cả các chế độ CS ở Đông Âu và Liên Xô đều tắt thở.

Nhiều người gọi nó là một đại ngụy biện hay thuyết đại bịp. Thế mà khi mới ra đời nó được phần đông nhân loại, kể cả những đại trí thức hoan nghênh, ca ngợi. Vì nó hứa một thiên đường ngay ở trần gian, trong đó nhân loại sẽ sống sung sướng. Thế giới sẽ là thế giới đại đồng. Xã hội sẽ không còn bất công. Không còn cần chính phủ. Không còn biên giới quốc gia. Mọi người sẽ làm việc tùy sức và hưởng thụ theo nhu cầu.

Hoá ra đó chỉ là một ảo tưởng. Cũng giống như cái ảo ảnh của một con sông, cái hồ, con suối trên sa mạc nóng cháy mà người lữ hành sắp chết khát nhìn thấy từ xa nhưng đi mãi chẳng bao giờ đến nơi.

Hơn một thế kỷ sau, khi nhìn thấy thực tế của thuyết Mác Xít, người đời đã đánh giá nó là một học thuyết không tưởng. Tiên dược lại thành độc dược. Mộng đẹp lại biến thành ảo mộng và ác mộng.

Một lý do nữa khiến cái tà thuyết đó được chúng tôi gọi là quái thai của lịch sử vì chủ trương chuyên chính vô sản của nó. Việt Cộng và Trung Cộng (CHND Trung Hoa) dịch mấy từ Mác-xít “dictature du Prolétariat” hay “dictatorship of the Proletariat” là chuyên chính vô sản, chứ không dịch là độc tài của vô sản như người quốc gia. Nghe thì hay lắm. Nhưng thực chất chỉ là một nền độc tài của giai cấp vô sản.

Theo Duy vật sử quan của Mác thì sau khi toàn thắng, đánh bại toàn bộ giai cấp bóc lột, giai cấp vô sản sẽ lập một chế độ đại đồng trong đó chỉ còn giai cấp vô sản nắm quyền chuyên chính.

Nhưng trong thực tế, liền ngay sau khi nắm được chính quyền, (chứ không đợi cho tới khi toàn thắng trên khắp thế giới như thuyết Mác-xit dậy) tất cả các nước Cộng Sản đều thiết lập chế độ độc tài (chuyên chính vô sản).

Gọi là chuyên chính vô sản, nghĩa là nền độc tài của giai cấp vô sản. Nhưng trong thực tế, nền độc tài của các chế độ Cộng Sản lại là nền độc tài của đảng Cộng Sản, tự nhận là đại diện cho giai cấp vô sản. Chứ giai cấp vô sản không nắm thực quyền nào trong cái chê độ đó cả. Những kẻ nắm quyền đều là một thứ giai cấp tư bản đỏ, giầu sụ và chuyên bóc lột, đàn áp giói nghèo, tức giai cấp “vô sản”.

Chính những cái phi lý, ngụy biện, mâu thuẫn trắng trợn giữa lý thuyết và thực tế của các chế độ CS khiến ta có thể gọi học thuyết Mác là quái thai của lịch sử.  Khi thuyết Mác xít mới ra đời, chưa được thử thách bằng thực tế, người ta thấy nó tốt đẹp bao nhiêu thì sau khi áp dụng vào thực tế nó đã trở thành xấu xa, quái dị bấy nhiêu.

Ai chịu trách nhiệm về việc đem cái tà thuyết phi lý, quái dị độc hại đó vào nước ta để ta mất nước vào tay nó?

Gần đây, nhân vụ “bô xít” đầy “ác xít”, vì nhuốm màu “mác-xít” quái dị kia, từ trong nước cũng như ở hải ngoại phát ra những tiếng kêu inh ỏi: nước mất đến nơi rồi! Tổ quốc (hay tổ cò?) đang lâm nguy! Lần này thì chính một số kẻ trách nhiệm về việc đưa chất ác xít cực độc của thuyết Mác-xít vào cũng làm bộ đạo đức giả lên tiếng gọi là “phản biện”. Tiếc rằng tiếng nói của họ còn được hàng vạn người gọi là trí thức hoan nghênh, hy vọng họ sẽ là chỗ tựa an toàn cho lớp trẻ đứng dậy liều chết chống lại mối nguy từ phưong Bắc (!??)

Thay vì lên tiếng yếu ớt một cách lố lăng, đáng lẽ họ phải viết những cuốn hồi ký lấy tên là Hồi Ký Của Một Thằng Ngu để thú nhận mình đã ngu, thậm ngu, chí ngu khi đem áp dụng một chế độ quái dị, độc hại nó đã làm cho dân ta suy yếu cùng cực gần một thế kỷ nay, cho nên ngày nay đã trở thành cái mồi ngon cho kẻ thù phương Bắc. Đáng lẽ những kẻ tự phong là “khai quốc công thần” đó phải thú nhận chính mình đã theo lệnh QTCS và bọn đồng đảng Phương Bắc như những Mao Trạch Đông, La Quý Ba, Trần Canh, Vi Quốc Thanh, v.v… tiến hành cuộc chiến tranh khốc liệt nhắm vào đồng bào khiến hàng triệu người chết.  Và sau khi chiếm được cả nước, bọn cướp nước đã dìm toàn dân vào vòng u tối, nô lê, hèn nhát, sợ sệt, ngu muội, tham lam. Và như vậy đảng cầm quyền ở Việt Nam ngày nay đã bị bọn Tầu phù cấy sinh tử phù, khiến cho chẳng những bị bọn chúng nắm trọn sinh mạng trong tay, mà còn làm cho dân ta, nước ta cũng nhiễm một thứ virus cực độc thuộc loại liệt kháng như bệnh “Ếch”. Chính vì thế mà trong nhân dân không có ai hay tổ chức nào có được hành động cụ thể có thế cứu được một Lê Thị Công Nhân hay một Nguyễn Tiến Trung non dại, yếu ớt khỏi bị tù tội, hành hạ đến sống dở chết dở, chứ đừng nói đấu tranh về chính trị và pháp lý để đòi lại những vùng đất vùng biển đã bị Tầu Cộng chiếm đoạt, nói chi đến việc quật khởi để hất bọn cướp nước xuống. Những vận động tố cáo, lên án những vụ hà hiếp đàn áp dân oan cũng chẳng đem lại kết qua gì khả quan. Tại sao vậy? Đã đến lúc Việt Nam thân yêu lại làm mồi cho một cuộc Bắc thuộc ngàn năm chăng?

Hiệp thông TamToà từ Nhật Bản

Japanhiepthong.jpg picture by nhacyeuem

Trở lại vấn đề nhận tội và sám hối của các lãnh tụ CS. Nói là nói vậy thôi. Chứ ở cái tuổi gần đất xa trời này, mấy người đó đâu còn đủ sinh khí để làm nên trò trống gì nữa. Đáng lẽ ra hồi giữa thập niên 80 thế kỷ trước mà Võ Nguyên Giáp dám theo gương Gorbachev hay Yeltsin thì đã phúc cho dân tộc ta. Hoặc giả khi còn sống ông Hồ đã có đủ can đảm viết một cuốn hồi ký lấy tên là Hồi Ký của một Tên Đại Bịp, cảnh báo cho quốc dân đồng bào và những tay trí thức gà mờ đã lỡ nghe theo ông ta mà ủng hộ, tung hô một kẻ chí ư tài giỏi về nghệ thuật đánh lừa nhân dân.

Nhưng thôi mọi thứ nay đã quá muộn. Cái thây ma nằm ở trong lăng Ba Đình, dù cho có phù phép của thần thánh cũng không ngồi dậy để viết bản tự khai, tự thú, tự kiểm được đâu.

Ngoài ra cũng còn phải quan tâm đến thực tế chính trị hiện đại. vì một trớ trêu của lịch sử. Kẻ cướp đã chiếm địa vị chính thức là chủ mât rồi. Lá cờ đỏ rực màu máu lại nghiễm nhiên tung bay tại trụ sở Liên Hiệp Quốc và tại hầu hết các thủ đô khắp thế giới.

Và trớ trêu hơn nữa là sở dĩ có sự kiện đó là vì hình ảnh già Hồ vẫn còn được trưng bày và đánh bóng không những chỉ tại Việt Nam mà còn được lưu trữ tại những thư viện lớn trên khắp các lục địa.

Đây là thực tế chúng ta phải can đảm nhìn vào mà tự vấn tại sao đến nông nỗi này?

Tại sao cái ngày Cộng Sản chính thức công khai xâm lăng Việt Nam là ngày 19 tháng 8 này lại được ghi vào trong lịch sử là ngày cách mạng thành công? Rõ ràng hai chữ “Cách Mạng” phải hiểu là cách mạng vô sản theo thuyết Mác Xít. Nhưng tại sao dân ta, đại đa số vẫn coi đó là cách mạng dân tộc thành công?

Nhân sắp đến ngày kỷ niệm đau thương này, chúng tôi xin long trọng cải tên nó là ngày CS xâm lăng, nguyên do sự mất nước vào ngày 30 tháng tư.

Một cơ may duy nhất cho chúng ta để sau này con cháu chúng ta học được bài học quý giá của lịch sử hầu đứng lên cứu nước, đó là đồng bào ở hai phía, thuộc cả hai miền hãy nhìn lại lịch sử nhìn nhận chính vì chúng ta dại dột, không biết gì về cái quái thai Cộng Sản, không biết gì về mưu mô thâm độc của nó, nên đã lầm mà theo nó từ những ngày đầu, ủng hộ nó nên cái gọi là cuộc “cách mạng 19 tháng 8” của nó mới thành công. Và nước đã bị xâm lăng kể từ ngày đó.

Ngày nay nhiều người đặt dấu hỏi: Tại sao bỗng dưng thủ tướng Trần Trọng Kim từ chức khi thấy Việt Minh chuẩn bị “Cách Mạng”, nghĩa là sắp sửa xâm lăng? Vì yếu bóng vía, hay vì lầm tưởng Việt Minh mới có chính nghĩa? Tại sao vua Bảo Đại lại thoái vị, trao ấn kiếm cho Trần Huy Liệu đem về cho Hồ Chí Minh? Vì thích làm dân của một nước độc lập, hay vì chẳng biết rõ CS là gì, chẳng biết Hồ Chí Minh là ai? Tại sao các tổ chức yêu nước ở Hoa Nam che chở cho Hồ Chí Minh? Phải chăng vì tưởng CS mà yêu nước thì cũng cùng một phe? Nghĩa là chẳng biết gì về CS, vẫn nghĩ CS vẫn có thể yêu nước. Tại sao các vị như Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Hải Thần nhập bọn với Hồ Chí Minh lập nên chính phủ Liên Hiệp để cho nhân dân cả nước lầm tưởng Việt Minh giải phóng chứ không xâm lăng?

Nếu lúc ấy bộ mặt thật của CS đã hiện rõ, thì tình hình đã khác hẳn.Cũng như một số nhân vật và chính khách miền Nam đã vì lý do này hay lý do khác tiếp tay với một số nhà báo và chính khách Mỹ lật đổ Đệ Nhất Cộng Hoà, để mở đầu cho hỗn loạn và băng hoại, biến miền Nam thành con mồi cho Cộng Sản chiếm nốt cả nước.

Nơi quê nhà: Hơn 2 trăm ngàn giáo dân Công Giáo tập trung về quảng trường toà Giám Mục- Giáo Phận Vinh- Nghệ An mừng lễ Quan Thầy và Hiệp Thông cầu nguyện cho Tam Toà. (Utube đặc biệt: Tung Hô Mẹ Giáo Phận Vinh)

Chỉ có nhận khuyết điểm, tìm ra nguyên nhân đích thực của sự mất nước, mới có thể cứu nước. Vì cái thể chế “chuyên chính vô sản” hiện nay không có gì giống bất cứ một nền độc tài nào trên thế gian, kể các chế độ quân chủ chuyên chế thời cổ đại. Nó là con quái vật, do một quái thai thành hình. Cho nên đừng hy vọng lấy dân chủ để đánh đuổi quân xâm lăng vì chính chúng đã thú nhận, Bỏ điều 4 hiến pháp là tự tử.

Chúng tôi biết việc nhận khuyết điểm và sám hối là việc vô cùng khó khăn. Vì hiện còn rất nhiều người muốn bào chữa cho cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và chính quyền Đệ Nhị Cộng Hoà, trong đó có rất nhiều cán bộ Đại Việt nắm giữ những chức vụ quan trọng. Những người này thường nói Mỹ xấu chơi, bỏ rơi đồng minh nên VNCH mới thua. Chứ không chịu nhận rằng Mỹ cũng bị đánh bại về quân sự, cần phải bằng mọi giá rút chân ra khỏi vũng lầy chiến tranh bằng quân sự này để tự cứu mình và mở mặt trận khác rộng lớn hơn hòng đánh thắng CS thế giới.

Chúng tôi thiết nghĩ, khi trách đồng minh bỏ rơi hay phản bội, chúng ta cũng nên tự hỏi, mình đã cố gắng đủ chưa. Và nhất là khi chính phủ Phan Huy Quát, tự ý để cho Mỹ đem quân ồ ạt vào từ tháng 3 năm 1965, các vị đó có bắt Mỹ ký giấy tờ gì bảo đảm rằng không được tự ý rút lui bỏ lại đồng minh không? Để cho người Mỹ tự do vào rồi lại trách họ tự do rút, thì có hợp tình hợp lý và công bình không? Và như vậy là khôn hay dại?

Hơn nữa nhiều người còn bảo Mỹ bỏ rơi con tốt vì đã bắt được con xe. Họ cho rằng vì Nixon đã nắm được Trung Quốc rồi nên bỏ rơi Việt Nam. Họ đã lấy nguyên nhân làm hậu quả. Ngay từ 1968, sau vụ Mậu Thân, chiến bại về quân sự của VC, với trên 5 vạn thương vong, đã trở thành chiến thắng về tâm lý và chính trị, khiến cho những Robert McNamara, Lyndon B. Johnson nắm chắc phần thua nên một người đã từ chức và một người không dám ra ứng cử nữa. Và từ đó Mỹ đã muốn thưong thuyết với địch để có thể rút quân về chứ Nixon đâu có phải là người đầu tiên có ý “bỏ rơi” Việt Nam? Vả lại ngay khi tranh cử Nixon đã hứa rút quân về. Cho nên việc bỏ Việt Nam không phải là hậu quả của Thông Cáo Chung Thượng Hải, mãi đến năm 1972 mới ký. Mà trái lại để có thể rút quân trong danh dự, mà phải thương thuyết với Trung Cộng.

Ông Diệm từng chủ trương khi nào thật cần thì có thể ký với Mỹ một hiệp ước song phương cho quân Mỹ đóng ở biên giới gần sông Bến Hải. Đó là một lập trường khôn ngoan. Nhưng những người không có tinh thần tự lập, chỉ muốn ỷ vào ngoại nhân đã gián tiếp giết ông để cho Mỹ tự do đem quân vào rồi tự do rút quân đi. Thì nay chuyện đã rồi, không còn cách nào cứu vãn được.

Vì thế, nhân nhớ lại ngày dân ta mắc hỡm mà hoan hô “cách mạng mùa thu”, cũng là ngày mở màn những đợt XÂM LĂNG đầu tiên của CS đưa tới sự mất nước, chúng tôi mong rằng cả hai phía (tội nhận và nạn nhân ở cả hai chiến tuyến) đều nên xét mình và sám hối để mở mắt cho hậu sinh. Đó là điều kiện cần để con cháu chúng ta sẽ sáng suốt hơn cha ông có thể tìm ra những phưong cách hữu hiệu, giành lại được đất nước và bảo vệ Tổ Quốc khỏi sự thôn tính của kẻ thù Phưong Bắc.

Minh Võ

Nhóm PV. Paltalk -Nam California tổng hợp từ các nguồn:


Paltalk_VN-Flag-sm.jpg picture by emyeunhac

Links:

Trắng Đen Online

Việt Catholic News


Tham Khảo:

(1) Năm 1964, một năm sau đảo chính 1-11-1963, tại Saigon người ta thấy xuất hiện một cuốn sách nhan đề CHÍNH ĐỀ VIỆT NAM nói là bản dịch một tác phẩm bằng Pháp văn của ông Ngô đình Nhu, bào đệ và là cố vấn chính trị của Tổng thống Ngô đình Diệm. Theo một số người thì tác giả thấy tác phẩm chưa hoàn chỉnh nên chỉ mới cho phổ biến hạn chế trong số những nhân vật thân tín trong chính quyền thời ấy. Rồi một vị cựu bộ trưởng thời Đệ Nhất cộng Hoà (Ông Lê Văn Đồng) đã dịch ra Việt Ngữ và đề là của Tùng Phong. Không ai rõ bút hiệu này là của tác giả hay dịch giả. Gần đây bản dịch đã được tái bản và thấy phổ biến tại Nam Cali. Trong tác phẩm 360 trang này, Tùng Phong đã phân tích nhu cầu phát triển và tham vọng bành trướng cố hữu của Trung Quốc. Đồng thời cũng nêu lên những liên hệ khắng khít giữa các người Cộng Sản của hai nước lân bang. Rồi đưa ra lòi tiên đoán nói trên. (SĐD trang 212.)

(*) Ngày nay nhiều người mới thấy vùng Cao Nguyên có tầm quan trọng chiến lược như thế nào. Nên khi Trung Cộng đưa hàng vạn công nhân và kỹ thuật viên vào để khai thác mỏ Bô xít, họ đã nhìn ra mối nguy mất nứoc. Nhưng trước đây hơn nửa thế kỷ Ông Ngô đình Diệm đã nhìn thấy điều đó và chủ trương đưa người lên đó lập một “bức từong người” (human wall) ngăn chặn làn sóng xâm lăng trong tương lai. Chuyện này, trong bài Mạn Đàm Với Ông Cao Xuân Vỹ, (đăng trên DCV Online cách nay một năm, chúng tôi đã trưng dẫn lời ông Cao Xuân Vỹ kể rằng ông được Tổng Thống Diệm cử lên Cao Nguyên công tác, bất chấp lời thỉnh cầu của đương sự muốn ở lại giúp ông Ngô đình Nhu về công tác đảng. Mới đây cựu thiếu tướng Nguyễn Khắc Bình, nguyên Tổng Giám Đốc Cảnh Sát kiêm Giám Đốc Trung ương Tình Báo thời đệ nhị Công Hoà cũng cho biết ông cũng từng đựoc Tổng Thống Diệm cử lên cao nguyên phụ trách việc đưa dân di cư (là những nạn nhân CS và có tinh thần chống cộng cao) lên đó lập nghiệp. Rồi chính Tổng Thống Diệm cũng chết hụt trong vụ Hà Minh Trí mưu sát ông, khi ông chủ toạ lễ khánh thành khu dinh điền trên Cao Nguyên.

(2) Hiệp ước này được ký lén lút ngày 30-12-1999. Sau đó cái gọi là Quốc hội (gật) của CS cũng lặng lẽ “thông qua” ngày 9-6-2001. Nói lén lút và lặng lẽ, vì dân chúng không hề được thông báo. Cuối cùng ngày 27-12-2001 Việt Cộng và Trung Cộng đã tổ chức lễ khánh thành cột mốc trên bộ phân định biên giói giữa hai nước. Thứ trướng NG Trung Cộng Vương Nghị (Wang Yi) và thứ trưởng ngoại giao VC Lê Công Phụng đã có mặt để long trọng đánh dấu việc đặt mốc tượng trưng số 1369. Rồi mãi đến đầu năm 2002 Lê Công Phụng mới công khai loan báo các sự việc trên. Nghĩa là việc ký kế một hiệp ước liên quan đến biên giới quốc gia, chỉ được thông báo cho quốc dân biết sau khi mọi sự đã thành chuyện đã rồi.

(3) Xin xem Cầu Nguyện Và Nước Trời của Minh Võ, Nam Cali, 2007, từ trang 147.

(4) Thơ Nguyễn Chí Thiện làm năm 1967. Xem Hoa Địa Ngục, nxb Cành Nam, 2006, trang 150.

(5) Cuốn sách này đã được tái bản lần thứ hai tại Hoa Kỳ tháng 10- năm 2007 (dầy 230 trang khổ nhỏ, giá bán 15 MK)

(6) SLXLCCS của Minh Võ, ấn bản 2007 tại Hoa Kỳ từ trang 153 đến trang 163.


Nhịn Đói Trên Xứ Mỹ – Cam Ly

Bài đọc hay và cảm động, 16 xin mạn phép giới thiệu đến bạn đọc Việt Nam khắp nơi và thân chúc tác giả được thắng giải VB-Viết Về Nước Mỹ năm 2009.

Nhịn Đói Trên Xứ Mỹ

Tác giả: Cam Ly Ng. T. Mỹ Thanh
Bài số 294-16208763- vb480509

Bài Viết Về Nước Mỷ đầu tiên của tác giả là“Áo Đầm Trắng, Gia Long” đã được phổ biến từ tháng Ba, 2009. Theo bài viết, trước 1975, tác giả là nữ sinh Gia Long, rồi học dược. Sau 1975, từng là nghiên cứu sinh Việt Nam tại Centers for Disease Control and Prevention (CDP) tại Atlanta, Georgia, nhưng chỉ mới định cư tại Mỹ chưa đầy một năm. Thêm một bài viết mới, hai bài, đủ cho thấy tài viết và tấm lòng người viết. Mong tác giả tiếp tục.

***

Hai người bạn gặp nhau lần đầu tại phi trường Hongkong. Xuân đi từ Sài Gòn. Thu đến từ Hà Nội. Việc hẹn nhau và cách thức nhận diện nhau cũng thật dễ dàng vì họ đã làm quen và dặn dò nhau nhiều lần qua điện thoại. Xuân lớn hơn Thu một vài tuổi. Hai người cùng ngạc nhiên khi thấy người kia có nét hao hao giống mình. Những e ngại hầu như đã biến đâu gần hết. Từ đó cho đến khi vượt đoạn đường bay mười mấy giờ đồng hồ đến San Francisco, họ đã trở nên đôi bạn. Thêm một đêm bay nữa, họ đến Atlanta, Georgia.
Hai người không có thời gian nghỉ. Sáng hôm mới đến, lo xong chỗ ở là họ phải đến CDC (Centers for Disease Control and Prevention) trình diện ngay. Rồi thì bắt tay vào việc: học hành và làm việc trong phòng thí nghiệm. Tuy vậy, không phải mới đến trung tâm là đã thành “cư dân” của trung tâm ngay đâu! Mỗi người được phát một thẻ “visitor” (khách) để tạm thời được ra vào trung tâm. Họ được hẹn ngày hôm sau đi làm “fingerprint” (lấy dấu tay) ở một địa điểm khác, rồi sau đó sẽ được chụp ảnh để làm một cái badge (phù hiệu) để đeo trên áo, từ đó mới được coi như “nhân viên tạm” trong thời gian đi tu nghiệp, và thế có nghĩa là được quyền mang một thẻ “khóa magnetic” (khóa từ tính) để ra vào các cửa, đến phòng thí nghiệm; và rồi cũng như những nhân viên thực thụ của trung tâm, họ được ăn uống ở cafeteria, được tham dự các buổi báo cáo khoa học…
Đối với Xuân, tuy chưa sống ở Hoa Kỳ nhưng Xuân đã tìm hiểu nhiều về xứ sở này qua người chị ruột đã sống ở California từ hơn hai mươi năm nay. Còn với Thu, tất cả đều mới lạ và đáng ngạc nhiên. Tiếng Anh của Thu không mấy lưu loát. Thu bảo Thu phải nhờ Xuân giúp nhiều. Không sao đâu! Xuân đã quen làm việc với các chuyên gia ngoại quốc. Xuân đã từng làm thông dịch viên cho các chương trình y tế. Xuân sẵn sàng giúp cô bạn mới từ nay sẽ sống với mình. Và như thế, mặc nhiên, họ đã coi nhau như hai người bạn, hai chị em.
Ngày đi làm fingerprint, hai chị em được đưa đến một tòa nhà nằm trên một ngọn đồi. Nhiều người đã có mặt ở đó. Chờ đợi rồi cũng đến lượt mình. Xuân và Thu đã làm xong. Nhưng người tài xế lo việc đưa đón hai người bị một tai nạn nhỏ, không đến đón được. Thế nên Xuân và Thu phải đi lang thang trong sân, hết nhìn người đến kẻ đi rồi lại ngắm hoa cỏ. Ồ phải chi mình rành đường một chút thì chắc sẽ đi đón xe bus mà về. Hai chị em lại an ủi nhau “Không sao đâu!”, rồi lại đi dạo chơi.
Tòa nhà nằm trong một khuôn viên thơ mộng. Một nơi có thật nhiều hoa. Từ lúc đặt chân đến Hoa Kỳ tới nay, qua ngày thứ nhì, hai bạn mới có dịp ngắm một quang cảnh mới mẻ. Không khí trong lành và những bông hoa thắm tươi gợi Xuân nhớ nhiều đến Đà Lạt. Trên đỉnh đồi này nhìn xuống, thấy những con đường xinh xắn uốn lượn. Atlanta thật đẹp!!! Nhưng đó chỉ mới là vùng đồi núi vắng vẻ mà thôi, hai bạn vẫn chưa biết phố xá là như thế nào, chỉ nhớ lúc ở phi trường về có đi ngang qua khu downtown với những ngôi nhà cao trang trọng còn im ngủ trong sương sớm…
Đến một lúc cảm thấy đói, không còn muốn đi dạo nữa, hai bạn bắt đầu nghĩ tới việc tìm nơi mua thức ăn. Nhưng thật lạ, nhìn quanh không có một tiệm ăn nào, cũng không có một cái máy bán bánh kẹo tự động nào. Hai bạn bảo nhau:
– Giá mà có được một tiếng rao hàng nhỉ!
– Đúng rồi! Phải chi có một gánh hàng rong…
Nói như thế rồi cùng nhìn nhau cười thú vị.
Và rồi đến một lúc không thể cười được nữa, hai bạn cùng ngồi xuống ghế. Xuân nhìn Thu, thấy nét mặt bạn không còn vẻ hồng hào như sáng nay. Và chợt Xuân nghe tay chân mình bủn rủn. Ôi, đói quá! Mỗi đứa một tô sữa với cereal buổi sáng sớm, giờ đây nghe bụng trống rỗng. Mình lại vô ý không mang theo chút bánh kẹo gì để dằn bụng, cứ tưởng đi một chút rồi về ăn trưa. Ở đây là cơ sở thuộc cảnh sát, mình đâu có thể vào bên trong tòa nhà. Xung quanh cũng không có một ngôi nhà nào khác nữa. Không chợ búa, không tiệm tùng. Hai bạn thất vọng, cùng cầu mong có ai thay cho người tài xế để đến đón họ về. Nhưng hoàn toàn im lặng. Không có chiếc xe nào mang dấu hiệu của CDC xuất hiện như họ mong.
Xuân đề nghị:
– Thôi mình nói chuyện vậy. Đi không nổi vì sẽ hao năng lượng. Nhưng ngồi mong ngóng thì mệt mỏi lắm!
Thu cười nhẹ:
– Phải chị ạ! Nói chuyện cho quên đói.
– Hồi còn bé, mỗi khi đói mà chưa được ăn… thì chị hát.
– Ô, vậy à? Em thì ít khi chịu nhịn đói. Nhưng em nghe bố em kể về nạn đói năm 1945.
– Chị cũng nghe ba má mình kể lại. Đó là trận đói khủng khiếp nhất của nước mình. Lúc ấy chị và em đều chưa sinh ra.
Thu đưa tay vuốt nhẹ một bông hoa, giọng lâng lâng:
– Nghĩ cũng lạ chị nhỉ! Hai chị em mình có duyên với nhau thật, học khác ngành mà rồi được đi tu nghiệp cùng một nơi. Ở hai miền xa lắc mà bỗng thấy gần như hai chị em một nhà.
– Vâng, thì bây giờ mình đã ở cùng một phòng, ăn cùng một mâm nữa. Thu hãy nói cho chị biết vì sao em được chọn qua đây học.
– Em ấy à? Em được cho đi tu nghiệp ở đây là vì bố em làm chức lớn trong ngành, việc đề nghị cho em đi rất dễ dàng. Còn chị?
– Chị ư? …Chị không có thân thế gì cả. Chị được cho đi là vì… chị qua được những vòng tuyển chọn, có chấm điểm, có bằng chứng hẳn hòi.
– Vậy là chị may đấy! Có nhiều người làm giấy tờ xong vẫn hụt đi.
– …Thì chị đã từng….
Xuân ngưng lại, không muốn nói tiếp. Vì Xuân nhận thấy nét mặt của Thu thật dễ mến. Thu chắc cũng đã biết nhiều những mẩu chuyện như vậy, mình kể thêm một chuyện nữa mà làm gì! Kinh nghiệm về những lần bị dìm hồ sơ, bị cướp học bổng đi tu nghiệp, đi học, vẫn còn rõ ràng với Xuân lắm. Đơn giản chỉ vì Xuân là người sống trong miền nam, không có thân thế. Xuân tự hỏi không biết rồi với cái bề ngoài dễ mến của Thu và tính nhẫn nhịn của Xuân, hai người bạn này có thể sống hòa đồng được với nhau trong một thời gian khá dài hay không? Hai hoàn cảnh thật khác biệt, cả về nguồn gốc gia đình lẫn bối cảnh xã hội.
Xuân chợt thở dài. Xuân cũng không ngờ mình đang ngồi ở đây, và rồi sẽ được học hành, làm việc ở trên xứ Mỹ trong một thời gian ngắn. Xứ Mỹ, quê hương thứ hai của gia đình người chị ruột, những người đã đến bến bờ này bằng mồ hôi và nước mắt, trên con thuyền tả tơi dập vùi trong sóng gió. Hơn hai mươi năm sau, em của chị đi sang xứ Mỹ bằng máy bay, tất cả đã thật khác. Chỉ có một điều không khác: đó là hoàn cảnh của đất nước vẫn không thay đổi bao nhiêu.
Không biết lặng yên bao lâu, rồi cả Xuân và Thu cùng ôm bụng. Cái đói lại đến! Xuân chợt nhớ thật rõ một bài văn được học hồi trung học, bài “Đói” của Thạch Lam. Thuở nhỏ Xuân không mường tượng ra cái đói là ghê gớm thế nào mà ông Thạch Lam mô tả hay đến thế. Một bài văn ngắn đã đi vào chương trình giáo khoa. Có đoạn Xuân đọc gần như thuộc nằm lòng: “Sinh rùng mình khi nghĩ đến trước cái mãnh liệt của sự đói, chàng cảm thấy sự cần dùng của thân thể trấn áp đuợc hết cả những lệ luật của tinh thần… Mùi xào nấu đồ ăn ở dưới sân nhà đưa lên làm cho chàng khó chịu vô cùng. Sinh cúi đầu trên bao lơn nhìn xuống xem họ làm bữa cơm chiều. Các thức ăn tuy tầm thường, nhưng Sinh lấy làm lạ rằng chàng chưa bao giờ thèm muốn những cái đó như chàng thèm muốn bây giờ”. Bây giờ thì có thể tưởng tượng được rồi đây! Không biết là do đói hay do ánh nắng chiều sắp tắt chiếu thẳng vào mặt làm cho mắt hai bạn như mờ đi. Ôi! Qua Mỹ, đi tu nghiệp, có xe đưa đón, mà lại nhịn đói như thế này! Chuyện này mà kể ra chắc không ai tin. Không hẹn mà cả hai lại cùng đứng lên. Nhưng Xuân cảm thấy không còn sức. Còn Thu kêu lên nho nhỏ:
– Ôi giời ơi!
Xuân đang ỉu xìu nhưng cũng bật cười khi nghe tiếng than đó. Vừa lúc ấy chiếc xe mang dấu hiệu CDC hiện ra. Xuân vỗ tay. Còn Thu reo lên thất thanh:
– Sống rồi!!!

*
Từ hôm sau đôi bạn luôn nhắc nhau đừng coi thường chuyện ăn uống. Mỗi sáng khi ăn điểm tâm Xuân đều bảo Thu:
– Ăn nhiều nhiều một chút, trưa lỡ có ráng làm việc không có thì giờ nghỉ để ăn, thì cũng không bị đói.
Còn Thu thì cẩn thận hơn, mỗi ngày đều tự tay gói ghém một ít bánh cookies, chips hay chocolate đem theo cho cả hai chị em. Nhìn những thức ăn đó, hai bạn nhớ đến buổi chiều khi đi làm fingerprint về đến nhà, người lả đi, hai bạn kịp thấy hai túi quà của người thư ký nhà trọ đưa cho hôm qua, chưa kịp mở. A, thì ra là “túi thức ăn cứu đói”! Nhà trọ đã dành cho mỗi người khách mới đến một túi như thế, bên trong có một phong bánh đậu phọng, một phong kẹo, một gói mì ăn liền, một gói trà, một gói cà phê và một gói đường. Hai bạn nhìn nhau rưng rưng nước mắt. Người ta thật chu đáo. Thế mà mình đã không biết đến điều này.
Gọi là nhà trọ cho gọn, thật ra nơi Xuân và Thu cư ngụ trong suốt nửa năm ở Atlanta là một tòa nhà gần giống như khách sạn, nhưng trả tiền ở từng tháng, phòng ngủ riêng, còn thì sử dụng nhà bếp và phòng ăn chung nên có được bầu không khí như ở gia đình.
Villa International, tên của nhà trọ là thế. Xuân và Thu hay gọi tắt tên nhà là “Villa”. Dần dần Xuân và Thu có dịp tìm hiểu thêm về Villa mới biết đây là nhà trọ lập ra do Hội Thánh Tin Lành để giúp đỡ những người đi học và tu nghiệp, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, có nơi ăn ở rẻ và thân mật…
Villa International là một khu nhà hai tầng nằm ngay dưới chân đường đồi, hơi khuất sau một ngõ quanh. Có một khu đậu xe rộng rãi, rồi đến một khoảng sân xinh xắn với những bàn ghế nho nhỏ để mọi người có thể ngồi nghỉ chân. “Đi về Villa”! Sống nửa năm ở đó, nghe cũng thân ái khi gọi như vậy, giống như “đi về nhà”. Sáng dậy sớm, chuẩn bị ăn nhẹ rồi đi bộ qua CDC chỉ mất 5 phút. Trưa ăn tại cafeteria của trung tâm. Chiều về Villa nấu nướng với nhau và ăn tối. Đêm thì xem TV chung dưới phòng sinh hoạt, hoặc chơi bi-da, hoặc đọc sách trong thư viện. Và cũng có một nhà nguyện nho nhỏ dành cho những ai muốn vào cầu nguyện.
Những cư dân của Villa đến từ khắp năm châu. Họ dễ hòa nhập với nhau trong bầu không khí thân thiện một “home-away-from-home”. Ngày ngày họ tỏa ra hai nơi để học và làm việc: CDC và trường đại học Emory. Cả hai nơi này đều gần Villa nên tất cả cư dân đều không phải sắm xe hơi hay bận tâm về các lộ trình xe bus. Rồi thì băng qua một con đường nhỏ, lên dốc một ngọn đồi khác là họ có thể đến một siêu thị để mua sắm thức ăn về dự trữ và nấu ăn hàng ngày. Cuối tuần lại có những tình nguyện viên làm việc trong Hội Thánh đến để lái xe đưa họ đi phố mua sắm hoặc du ngoạn các danh lam thắng cảnh. Muốn đi đâu khác nữa thì mọi người đã có xe lửa, xe bus. Và những chuyến xe bus của vùng này, đến và đi rất đúng giờ, mà cũng rất đặc biệt: rất vắng khách, ngoại trừ lúc giờ tan sở thì có hơi đông một chút, còn thường thì chỉ có một hay hai người khách là cùng, nếu không muốn nói là nhiều lúc chỉ có người tài xế trên xe.
Những tháng ngày học hành và làm việc cũng khá bận rộn. Tuy vậy, Xuân và Thu cũng dành thời gian những dịp lễ để đi thăm bà con. Xuân có khá nhiều thân nhân ở rải rác khắp Hoa Kỳ, còn Thu chỉ có một người dì trước kia đi học ở Đông Đức rồi sau khi nước Đức thống nhất đã xin qua Mỹ ở lại. Xuân ít khi bàn đến chuỵên thời sự với Thu. Xuân không muốn những điều tế nhị ấy làm ảnh hưởng đến hòa khí tốt đẹp giữa hai bạn. Những người có duyên với nhau mới gặp được nhau. Cùng làm việc trong khoa học, thế là đủ rồi! Xuân tự dặn mình như thế và cảm thấy tâm yên ổn. Hằng đêm, hai chị em cùng ôn bài, bàn luận về công việc làm trong ngày, và rảnh rang thì cùng chia xẻ những câu chuyện về gia đình, chồng con. Xuân có hai cô cậu nhóc đang học trung học, còn Thu mới có một con trai hai tuổi. Nói chuyện về con cái bao giờ cũng là những đề tài vui và chẳng có gì để né tránh cả.

*
Một buổi trưa, khi Xuân và Thu đang đứng trong hành lang, một người đến trước mặt hai bạn, nhìn đăm đăm một chút rồi bỏ đi. Xuân kịp nhận ra chị là một phụ nữ đứng tuổi người Việt Nam. Chị đẩy một chiếc xe trên có một cái thùng to và các dụng cụ quét dọn cùng các chai hóa chất tẩy rửa. Bóng chị khuất sau khúc quanh dẫn đến khu nhà vệ sinh. Xuân và Thu hơi băn khoăn nhìn theo. Thu thắc mắc hỏi:
– Nơi đây có nhân viên người Việt sao chị? Em tưởng chỉ có người đi học như chị và em….
Thu bỏ lửng câu nói. Xuân im lặng. Chính Xuân cũng tự hỏi không biết người công nhân vệ sinh ấy là ai, gia cảnh thế nào. Trong đầu của Xuân vẽ ra nhiều giả thuyết.
Bẵng đi vài tuần lễ, có một em trai nét mặt sáng sủa đến tìm hai bạn trong lab, ngỏ lời thay cha mẹ em mời hai bạn cuối tuần đến nhà em dùng cơm. Em cũng là người Việt, đang thực tập trong CDC chuẩn bị ra trường đại học. Tuy có hơi ngần ngại nhưng Xuân nhận lời, Thu thấy thế cũng đồng ý theo.
Ngày gặp gỡ tại nhà của em trai sinh viên cũng là ngày hai bạn được biết mẹ của em chính là người phụ nữ trong hành lang hôm nọ. Những lạ lùng bỡ ngỡ nhanh chóng qua đi. Xuân và Thu được tiếp đãi với một bữa cơm Việt Nam thật ngon lành và… khá thịnh soạn. Trong ngôi nhà gọn gàng và đầm ấm, cha mẹ của em sinh viên không e ngại khi tâm tình cùng hai bạn.
– Chúng tôi sang Mỹ theo diện H.O. Hai cô thấy đó, chúng tôi rất khó khăn trong hoàn cảnh mới. Nhưng chúng tôi không ngại. Ông xã tôi bao năm tháng ở trong “tù cải tạo”, tự học nghề mộc, nay xin làm công nhân trong một xưởng đóng bàn ghế. Tôi không có vốn liếng Anh văn, nên chấp nhận làm “nghề janitor”. Làm gì cũng được, miễn được sống lương thiện và có tiền. Chúng tôi vất vả kiếm tiền nuôi các cháu học lên tới đại học và dành dụm mua nhà, mua xe. Đâu có gì phải xấu hổ, phải không các cô?
Xuân không nói gì, chỉ gật đầu cảm động. Nhưng Thu đang thấm nước mắt và nói hơi nghẹn ngào:
– Em cảm phục anh chị lắm. Đồng tiền anh chị làm ra, thật quý báu. Bởi vì… nó thật sạch sẽ.

*
Thu theo Xuân đi đến thăm nhà những người thân của Xuân thường hơn. Hai bạn siêng ra phố, vào ăn tiệm Việt Nam và đem những tờ báo về đọc. Thu càng ngày càng tỏ ra đăm chiêu, trầm mặc.
Nhiều khi hai bạn nhắc lại cái ngày bị nhịn đói và cười ngặt nghẽo. Có hôm đứng lại trước một shelter, Xuân chỉ vào những người đang sắp hàng nhận thức ăn và bảo bạn:
– Thật ra bảo là qua Mỹ nhịn đói cho nó lâm ly ai oán, chứ ở Mỹ không lo đói, phải không Thu? Tụi mình đói có một bữa, đâu thấm gì so với cái đói của những người trong tù, cái đói của những em bé thất học lang thang ở đầu đường xó chợ, cái đói triền miên của những người dân, đói không chỉ miếng ăn, mà còn đói nhiều thứ khác, đói tự do, đói sự thật….
Xuân nghẹn lời. Xuân không muốn nói thêm nữa…
Thời gian thấm thoát qua nhanh. Hai bạn trở về Việt Nam. Những quyến luyến với các thành viên của Villa từ nhân viên cho đến người trọ học thật sâu sắc làm Xuân và Thu thấy rất bùi ngùi. Xuân cũng bịn rịn chia tay với gia đình người chị ruột qua cuộc thăm ngắn tại Cali. Rồi từ đó, Xuân và Thu, hai người bạn, hai chị em khác họ, cũng nói lời tạm biệt để sau đó kẻ nam, người bắc.
Xuân đã có một quyết định. Nhìn tận mắt đất nước và con người tự do ở Hoa Kỳ, Xuân đã nhờ chị xúc tiến giấy tờ bảo lãnh đang chờ đợi. Xuân hiểu rằng ra đi đồng nghĩa với việc bỏ tất cả để làm lại từ số không. Cũng như những người bất chấp nguy hiểm đi trên sóng gió ngày trước vậy. Cũng như cha mẹ của em sinh viên kia vậy. Vợ chồng Xuân cũng sẽ như thế. Nhưng các con của Xuân sẽ có cả một chân trời của cơ hội.
Hơn năm năm sau, vào cái ngày gia đình Xuân sắp rời Việt Nam, Xuân gọi điện thoại ra Hà Nội thăm Thu và vắn tắt báo tin. Đầu giây bên kia, giọng của Thu ướt sũng như chìm trong nước mắt:
– Em chúc mừng chị, chúc mừng gia đình chị. Chị biết không, từ ngày đi tu nghiệp về, em đã có một cái nhìn khác đối với cuộc đời mà em vẫn sống. Ở đây, em sống trong một tầng lớp danh vọng, chức quyền, no đủ đến thừa mứa. Nhưng em ao ước mình cũng được ra đi như chị, để cho con em được sống trong một xã hội tốt đẹp hơn cái xã hội gian dối này. Chị ơi! Nếu được ban cho một điều ước, em xin ước rằng: “Em ước được là một “người làm nghề janitor” như người phụ nữ mình gặp trong CDC, chỉ để cho con em được giống như con của chị ấy, chỉ thế mà thôi!”.
Cam Li- Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Nguồn.


Chiến Sĩ Biên Phòng Ở Đâu? Nhật Hà

1. Hình ảnh hiệp thông: Đồng bào Nam California thắp nến cầu nguyện cho Nhà Thờ Tam Tòa.

2. Bài đọc suy gẫm: MỘT XÃ HỘI KHÔNG BÌNH THƯỜNG CẦN MỘT SỰ THAY ĐỔI- Nhật Hà .

TTselected13.jpg picture by nhacyeuem

TTselected1.jpg picture by nhacyeuem

IMG_0928.jpg picture by nhacyeuem

TTselected15.jpg picture by nhacyeuem
TTselected12.jpg picture by nhacyeuem

Buổi “tọa đàm về Biển Đông và Hải đảo Việt Nam”, được tổ chức bởi CLB trí thức Công giáo Phaolô Nguyễn Văn Bình (P.NVB) và NXB Tri Thức phối hợp thực hiện chắc chắn khiến rất nhiều thế hệ, tầng lớp người Việt Nam quan tâm.

Đương nhiên, bởi nó diễn ra trong thời điểm mà các sự kiện đe dọa đến an ninh biển và hải đảo của tổ quốc liên tục xảy đến với tần suất ngày càng lớn và ngày càng trắng trợn đối với ngư dân miền Trung, những người đứng đầu ngọn sóng!

Buổi tọa đàm này diễn ra chỉ sau vụ Tam Tòa mấy ngày, ( vụ Tam Tòa xảy ra ngày 20/7, tọa đàm về Biển Đông diễn ra ngày 24/7). Tự nhiên lại có sự liên tưởng hai sự kiện với nhau, (từ đây sẽ gọi vụ Tam Tòa là “sự kiện thứ nhất”, buổi tọa đàm là “sự kiện thứ hai”), chắc bởi lẽ cả hai sự kiện cùng gợi cho người ta nhiều nỗi niềm day dứt, ám ảnh và hoài nghi giống nhau về một thể chế xã hội?

Sự kiện thứ nhất thực ra hoàn toàn không đáng xảy ra, nó chỉ là sự chưa đồng thuận về một vấn đề giữa người dân và chính quyền địa phương mà nếu những người của chính quyền có một cái đầu bình thường thì đã có nhiều cách giải quyết khác hơn là dẫn đến đổ máu, nồi da xáo thịt, xung đột lương giáo… bởi chính sự kích động mù quáng của chính quyền như vậy! Nhưng nó đã xảy ra, chỉ vì một ý thức hệ mù quáng và ngu xuẩn là kích động hằn thù tôn giáo, lấy bạo lực làm phương thế giải quyết mọi vấn đề.

Sự kiện thứ hai, thật may mắn vì nó cũng được diễn ra trót lọt trong sự hồi hộp, nín thở , lo lắng của Ban tổ chức (sợ bị dẹp bất kỳ lúc nào)! Trong khi đó, chính sự kiện này lại rất cần đến mọi tầng lớp nhân dân kể cả “quần chúng nhân dân bức xúc” có mặt, hiện diện để bày tỏ thái độ của cá nhân, cộng đồng và dân tộc về chủ quyền Quốc gia.

Cũng rất mới đây thôi, giữa đường phố Thủ đô Hà Nội, hai kẻ ngoại bang Madein China trong một cơn khát máu đã cầm chân, giộng đầu một người Việt Nam đến chết !

Bức xúc chứ, tại sao không? Nhưng còn phải đợi cho phép mới được thể hiện ! Yêu nước còn chưa được phép kia mà?

TTselected8.jpg picture by nhacyeuem

TTselected2.jpg picture by nhacyeuem
TTselected16.jpg picture by nhacyeuem
TTselected4.jpg picture by nhacyeuem
TTselected10.jpg picture by nhacyeuem

Tổ quốc là gì nếu không là một nắm đất biên cương, một cành san hô nơi trùng dương sóng vỗ, là đồng bào mình đang đối mặt với hiểm nguy nơi đầu sóng ngọn gió?

Không thể tin được người Việt Nam ngày nay đã trở nên tàn bạo với chính đồng bào mình mà lại hèn hạ khiếp nhược với kẻ thù như vậy?

Từ bao giờ người Việt đã tôn thờ chủ nghĩa vật chất để đến độ “một trăm nghìn đồng” có thể sai khiến được lương tâm, chôn vùi nhân cách, chà đạp đạo lý… nhưng lại dửng dưng trước thế hệ tương lai, thờ ơ với vận nước, sợ hãi trước bóng ma cường quyền bạo ngược?

Tại sao chính quyền không phải là phương tiện để xóa bỏ kỳ thị tôn giáo nếu thực sự có cái gọi là “kỳ thị tôn giáo”, mà lại chính là thủ phạm xúi giục, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xúc xiểm, biến người dân thành công cụ cho mục đích xấu xa và phục vụ cho quan thầy của nó?

Tại sao chính quyền và các cơ quan chức năng “của dân, do dân, vì dân” không lên tiếng bảo vệ mấy thanh niên ở buổi tọa đàm khi các em bị kẻ phản động bắt cởi “chiếc áo yêu nước” (có in hình Tổ quốc với hai quần đảo Hoàng- Trường Sa) thì mới cho vào hội trường dự buổi tọa đàm? Tại sao kẻ phản động đó không bị vạch mặt chỉ tên? Hay hắn đã được bảo kê bởi chính một thế lực phản động lớn hơn? (Đã có ý kiến cần kết tội phản quốc đối với kẻ đã ra lệnh tịch thu 3 “chiếc áo yêu nước” này).

Từ bao giờ người ta đã quen với trò đánh lận con đen, với thủ đoạn đánh tráo khái niệm? Những giáo dân hiền lành cầu nguyện, thực hành nghi thức tôn giáo của mình trong không gian chủ quyền của mình thì bị vu khống là “gây rối trật tự công cộng”.

Những kẻ giả danh thường dân, tấn công các cơ sở tôn giáo với đầy đủ vũ khí, công cụ chuyên dùng (vụ Thái Hà, tòa Khâm sứ của người Công giáo, tu viện Bát Nhã của Phật giáo…và bây giờ là nhà thờ Tam Tòa) thì được gọi là “quần chúng bức xúc tự phát”.

Những người yêu nước biểu tình ôn hòa vì Hoàng Sa, Trường Sa thì bị bắt, bị xua đuổi và bị “cấm tụ tập đông người” (bloger Điếu Cày, đạo diễn Song Chi, cùng rất nhiều thanh niên và sinh viên …).

Những hạt giống đã và đang hé mở một tiền đồ tươi sáng cho dân tộc, lẽ ra phải được tạo một môi trường thuận lợi giúp nhân rộng niềm hy vọng này thì lại bị dập vùi không thương tiếc (Luật sư Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Bác sĩ Phạm Hồng Sơn…, Luật sư Lê Trần Luật , Lê Công Định và bây giờ là Thạc sĩ Nguyễn Tiến Trung…).

Những ngư dân miền Trung lam lũ bị hải tặc tấn công, sát hại, tống tiền… thì chính quyền lớn nhỏ không dám có một động thái khả dĩ xứng đáng để có thể bảo vệ dân mình?

TTselected5.jpg picture by nhacyeuem
TTselected3.jpg picture by nhacyeuem
TTselected.jpg picture by nhacyeuem

Một thiếu nữ trong đoàn vũ Công Giáo.

TTselected9.jpg picture by nhacyeuem
TTselected6.jpg picture by nhacyeuem

“Quần chúng bức xúc tự phát” có thể xông vào đánh đập, cướp phá những biểu tượng thiêng liêng của người anh em mình nhưng lại không có một mảy may rung động trước mối nguy mất nước, mất dân tộc!

Chiến sĩ Biên phòng ở đâu? Hải quân nhân dân ở đâu mà từ hồi nào tới giờ không thấy lên tiếng, không thấy thực thi nhiệm vụ của mình? Hàng năm trong các dịp lễ kỷ niệm gì gì đó luôn thấy đưa tin phong cho đơn vị này đơn vị kia danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân”, phong hàm thăng cấp cho nhân vật này nhân vật khác. Với các anh, Tổ quốc và Dân tộc có phải là lý tưởng không, hay các anh đã bị khủng bố, mua chuộc, áp đặt cho một lý tưởng xa lạ và ảo tưởng nào đó? Nguyễn Tiến Trung, người trí thức yêu nước dù rất trẻ đã sớm nhận ra sự “lập lờ đánh lận con đen” này và anh không bị mắc lừa!

Chắc chắn, mỗi một người lính các anh đều thuộc một bài hát có lời rất hay “…Đoàn Vệ quốc chúng ta từ nhân dân mà ra, được dân mến được dân tin muôn phần…”, nay không biết các anh có đủ tự tin để hát tự đáy lòng mình lời ca ấy?

Tất cả những hiện tượng ấy xảy ra trong lòng đất nước hôm nay phải gọi là gì nếu không phải là phản ý thức khiến dẫn đến phản động?

Tất cả những hiện tượng ấy xảy ra trong lòng đất nước hôm nay là hệ quả của một thứ thuyết giáo man rợ, sắt máu, bạo quyền được nhập khẩu bởi một thời mông muội, mù quáng … Những hiện tượng ấy cũng đem đến một dự cảm là sự giãy chết của một thể chế lạc loài giữa thời đại văn minh rực rỡ của loài người!

Đã quá lâu rồi, người Việt Nam phải sống lắt lay trong bầu khí dối trá, bị bạo quyền bịt miệng và sai khiến.

Một bài văn của một học sinh lớp 8 dễ dàng bị điểm dưới trung bình mặc dù đó là một bài viết rất hay, đầy cảm xúc về tình bạn giữa em và chú mèo, chỉ bởi vì nó đã viết không đúng ý người ta (đáp án). Bảo làm sao khái niệm về những vấn đề “nhạy cảm” đã xuất hiện ngày càng nhiều và ngày càng khiến người ta nực cười về sự lố bịch của nó.

Có một thời, nhà thơ Sóng Hồng và cũng là lãnh tụ cộng sản (Trường Chinh) từng mơ có thể “dùng cán bút làm đòn xoay chế độ , lấy ý thơ bom đạn phá cường quyền” (đúng khí phách cộng sản), nhưng nay các nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam chỉ cần phản ánh những thực trạng xã hội, bày tỏ niềm tri ân các liệt sĩ trong ngày lịch sử giữ nước cũng đã là động chạm đến “vấn đề nhạy cảm” rồi, cẩn thận sẽ bị treo bút cũng có nghĩa là bắt đầu một sự đối đầu bất đắc dĩ. Vậy nên các nhà báo chọn cách khôn ngoan hơn cả là đã tự kiểm duyệt mình, không chỉ trong một vài bài báo mà cả ý thức hệ để luôn đi đúng lề phải cho an toàn.

Đồng bào chen chúc nhau nhận DVD về “Sự Thật Hồ Chí Minh” và áo thung có in hình ảnh Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam.

TTselected14.jpg picture by nhacyeuem

Đêm Hiệp Thông và Cầu Nguyện cho Tam Tòa Tại Trung Tâm Công Giáo ngày thứ bảy 1/8/2009

TTselected7.jpg picture by nhacyeuem

Buổi tọa đàm về Biển Đông diễn ra một cách âm thầm, dù đã được chính quyền cho phép, tại một địa điểm tôn giáo: Trung tâm Phaolô Nguyễn Văn Bình (số 43 Nguyễn Thông, Q.3, TP.HCM), nhưng theo Bauxit Việt Nam kiểm chứng chỉ thấy duy nhất một tờ Bình Dương (cơ quan ngôn luận của ĐCS Việt Nam tỉnh Bình Dương) đưa tin, dù sao cũng có một kẻ dám cả gan đặt một chân sang lề trái.

Trong khi đó, báo chí truyền thông các loại đã không tiếc lời vu khống giáo dân, tu sĩ Công giáo trong vụ Tam Tòa như đã từng làm với Thái Hà, Tòa Khâm sứ…

Trong một xã hội bình thường thì không bao giờ lại có những chuyện bất bình thường như thế được, nó chỉ có thể tồn tại trong một thể chế xã hội man rợ , bất chấp luật pháp hay không thèm đếm xỉa đến luật pháp mà thôi!

Người Việt Nam từng tự hào có nền văn hiến ngàn năm, có lịch sử giữ nước bốn ngàn năm nay không lẽ chấp nhận, cam chịu một thể chế xã hội man rợ lạc loài như thế ?

Xã hội đã không bình thường, nhu cầu thay đổi là tất yếu. Cần lắm những trai tim và khối óc biết nghĩ đến non sông đất nước.

Hà Nội, ngày 01/08/2009
Nhật Hà

Paltalk_VN-Flag-sm.jpg picture by nhacyeuem

Nhóm PV. Paltalk -Nam California tổng hợp từ các nguồn:


DCCTVN.Net

ĐànChimviệtOnline.net

Phóng Sự Tọa Đàm biển Đông tại Sài Gòn

More on MuoiSau Blog

(Baì đọc khác)

click on the picture

then click “blog”