Nước Việt Nam Anh Hùng – Đinh Từ Thức

1.Hình ảnh minh họa: Tin từ quốc nội – Giáo Phận Vinh nổi sóng, 5000 giáo dân Hạt Cầu Rầm phản đối việc cướp đất nhà thờ bán cho tư nhân. Theo Nữ Vương Công Lý. net

2. Bài đọc suy gẫm:  Bệnh ANH HÙNG – Đinh Từ Thức



Khu đất Nhà thờ Cầu Rầm lấy làm “Di tích tội ác Đế quốc Mỹ” rồi dần dần biến tướng thành công viên

Rồi từ công viên, đất Nhà thờ Cầu Rầm được bán cho công ty tư nhân để chia chác

Thế giới chúng ta sống lại có thứ luật pháp của chính quyền vô sản  rất “hài vì nó chìa khe hở cho bè lũ cường quyền, chính quyền công khai biến của công thành tư. Toàn dân phải làm gì đây?

Bệnh ANH HÙNG – Ðinh Từ Thức

Anh hùng không phải là điều xấu, nhưng khi nó trở thành một ám ảnh thường trực, đã biến thành bệnh. Ví dụ, giữ gìn cơ thể sạch sẽ để phòng bệnh, là thói quen tốt. Nhưng sợ vi trùng đến nỗi bị ám ảnh như nhà kỹ nghệ nổi tiếng Howard Hughes, là người bị bệnh hiểm nghèo, tiếng chuyên môn gọi là hypochondriac. Theo triệu chứng tỏ tường, Việt Nam đã mắc “bệnh Anh hùng“.

Mười năm qua, tôi đã lui tới Singapore bốn lần, nhưng các lần trước ít chú ý về tình hình tại đây. Một tháng ở đó trong lần chót vừa rồi, gặp đúng dịp đảo quốc này kỷ niệm 40 năm ngày Độc Lập. Cũng trùng với dịp Việt Nam kỷ niệm 60 năm cuộc Cách Mạng tháng Tám, khiến tôi có ý định nêu ra mấy nhận xét đáng chú ý giữa Singapore và Việt Nam :

Không phải chỉ riêng tôi muốn so sánh Singapore với nước mình. Trong thời gian bão Katrina tàn phá, nhà bình luận thời sự nổi tiếng của báo New York Times là Thomas Friedman cũng có mặt ở Singapore. Ông đã viết hai bài trên trang bình luận của New York Times, và có những nhận xét về Singapore. Trong bài báo ngày 14-9-, ông viết:

-“Nếu phải chọn bất cứ nơi nào ở Á châu để trải qua một trận bão, thì nơi đó nên là Singapore”.

Friedman nói như vậy, vì so sánh với nỗ lực của Mỹ cấp cứu nạn nhân bão Katrina, Singapore mau mắn và hữu hiệu hơn nhiều …khi cứu nạn nhân sóng thần ở Nam Dương vào cuối năm ngoái. Được như vậy, vì trong việc chọn người vào các chức vụ then chốt ở Singapore, người ta không chọn theo tiêu chuẩn bồ bịch, như ông Bush chọn cựu giám đốc cơ quan cấp cứu liên bang (FEMA) Michael Brown, hay “hồng hơn chuyên” theo kiểu Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa.

Singapore chọn người theo tiêu chuẩn có khả năng nhất, và ít tham nhũng nhất. Để xứng đáng với khả năng và tránh tham nhũng, họ trả lương rất cao. Thủ tướng lãnh lương gần gấp ba lần tổng thống Mỹ, mỗi năm 1,1 triệu Mỹ kim; nhân viên chính phủ và thẩm phán Tối cao Pháp viện gần 1 triệu.

Friedman nhận xét rằng, vào buổi đầu, việc cai trị tốt rất quan trọng tại Singapore:

-“Vì Đảng cầm quyền phải giành giựt tâm trí người dân với cộng sản, những người được tiếng là không tham nhũng và ân cần – khiến nhà nước phải cũng như vậy, hay khá hơn”.

Thật may mắn cho Singapore, cả phía cộng sản và không cộng sản. Nhờ những người không cộng sản nắm chính quyền mà Singapore được như ngày nay, và phe cộng sản nhờ không cướp được chính quyền nên ngày nay vẫn còn được tiếng là thân dân và không tham nhũng.

Trong bài thứ nhì vào ngày 16-9 , Friedman viết về tình hình giáo dục tại Singapore. Theo ông, “chính quyền tại đây hiểu rằng, trong một thế giới phẳng (cả thế giới có thể thu gọn trong chiếc màn ảnh phẳng của máy computer), công việc có thể chạy đi bất cứ đâu thì khá hơn láng giềng… chưa đủ. Cần phải đứng trên mọi người – kể cả chúng ta (Mỹ)”. Một hiệu trưởng cho biết:

-“…Chúng tôi đã nới lỏng đôi chút để cho phép học sinh nuôi dưỡng ý tưởng riêng của mình”, và “kiến thức có thể được tạo ra tại lớp học, chứ không phải chỉ đến từ thầy giáo”.

Vẫn theo Friedman, các học sinh lớp 4 và lớp 8 tại Singapore đã đạt được điểm cao nhất trong các kỳ thi quốc tế về toán và khoa học do Times tổ chức. Và sách toán của Singapore đã được trường Mỹ, nơi con gái ông theo học, sử dụng tại Maryland.

Trong khi Singapore cố gắng vượt Mỹ về giáo dục, Việt Nam vẫn bắt buộc học sinh từ nhỏ đến lớn, muốn ra trường, phải học những môn “thầy không muốn dạy và trò không muốn học”, là môn “tư tưởng Hồ Chí Minh” và “lý thuyết Mác-Lê”. Ngoài ra, Việt Nam còn phí phạm nhân tài như kiểu tuyển những sinh viên ưu tú, gửi đi nước xã hội anh em Cuba, chịu cảnh đói rách, học những môn không phải sở trường của họ, như kinh tế và computer (theo phóng sự của báo Tiền phong, Hà Nội).

Bây giờ, xin trở lại âm vang hai lễ lớn của Singapore và Việt Nam. Cùng vào tháng Tám, một bên kỷ niệm 40 năm ngày Độc Lập (9-8), một bên kỷ niệm 60 năm ngày cướp được chính quyền (19-8). Việt Nam đi trước Singapore đúng 20 năm. Ngoài khác nhau về thời gian, còn khác nhau về người cầm quyền: Việt Nam có Đảng Cộng sản, với lãnh tụ Hồ Chí Minh; Singapore có Đảng Nhân dân Hành động (PAP – People’s Action Party), với lãnh tụ Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu).

Dân số Việt Nam hiện có 83 triệu rưỡi người. Dân số Singapore chỉ bằng số lẻ của Việt Nam, công dân thực thụ có ba triệu rưỡi, cộng với 700 ngàn người ngoại quốc tới làm việc, là 4,2 triệu.

Nhưng Singapore đang sử dụng ba triệu rưỡi máy điện thoại di động, hơn Việt Nam một triệu đơn vị. Số ngoại tệ và vàng dự trữ của Singapore vào năm ngoái là 112,8 tỷ Mỹ kim, trừ đi số nợ phải trả cho ngoại quốc là 19,4 tỷ, nếu chia đều cho dân, mỗi đầu người được khoảng 26.000 ngàn Mỹ kim. Trong khi ấy, số dự trữ của Việt Nam là 6,51 tỷ MK, nếu trừ đi số nợ ngoại quốc là 16,55 tỷ, tính đổ đồng mỗi người dân phải mang nợ chừng hơn 100 Mỹ kim . Bao giờ dân Việt Nam đông bằng dân Trung Quốc, số nợ mỗi đầu người phải gánh sẽ giảm xuống còn khoảng 10 Mỹ kim.

Singapore chỉ cách Việt Nam hơn một giờ bay, tương đương khoảng cách Sài Gòn đi Hà Nội. Người dân Singapore cùng thuộc giống da vàng, chắc không thể thông minh và chịu khó hơn dân Việt Nam. Singapore lại bị những điều kiện kém Việt Nam, như đất hẹp, không có tài nguyên thiên nhiên, và phải dùng tới bốn ngôn ngữ chính. Nhưng tại sao, Singapore độc lập sau Việt Nam 20 năm, ngày nay Singapore nằm trong số những quốc gia đứng đầu danh sách các nước trên thế giới, trong khi Việt Nam nằm chung với các nước dưới cuối ? Hình như câu trả lời là chỉ vì hai tiếng “ANH HÙNG” mà thôi.

Theo dõi Việt Nam kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám, hai chữ “anh hùng” được nhắc tới nhiều hơn cả. Trước hết là diễn văn của Chủ tịch nước Trần đức Lương tại Quảng trường Ba Đình vào sáng 2-9 :

-“Nhìn lại những thành tựu vẻ vang của Cách mạng Việt Nam 60 năm qua, chúng ta vô cùng tự hào về dân tộc ta, một dân tộc anh hùng… truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân Việt Nam chính là những nhân tố cơ bản, cốt lõi làm nên sức mạnh vô địch của nhân dân Việt Nam trong thời đại mới”.

Rồi Chủ tịch:

-“vô cùng biết ơn và cảm tạ các bậc lão thành cách mạng, các bà mẹ Việt Nam anh hùng”,

Trước khi kết luận:

-“Dân tộc Việt Nam anh hùng, nêu cao truyền thống tự tôn dân tộc, nhất định sẽ lập nên những kỳ tích mới…”

Báo Nhân Dân ngày 2-9, qua bài “Hà Nội, 60 năm nhìn lại” viết:

-“Trải qua 60 năm chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hà Nội đã vươn lên mạnh mẽ, xứng đáng là thủ đô anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng”.

Và viết tiếp:

-“Ghi nhận những thành tựu của Hà Nội trong hơn nửa thế kỷ qua, Đảng, Nhà nước trao tặng danh hiệu cao quý Thủ đô Anh hùng”.

Bài báo kết luận:

-“…với truyền thống lịch sử nghìn năm văn hiến, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thủ đô phấn đấu hơn nữa, đưa thành phố Hà Nội trở thành thành phố hiện đại, là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học, kỹ thuật của cả nước, xứng đáng là Thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng.”

Sài Gòn, đã mất địa vị thủ đô từ hơn ba mươi năm, cũng được tặng danh hiệu anh hùng. Báo Tiền phong Online ngày 2-9 tường thuật:

-“Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã thay mặt Đảng, Chính phủ trao danh hiệu ‘Thành phố Anh hùng’ cho lãnh đạo TP.HCM. Tổng Bí thư nhắc đến truyền thống anh hùng của thành phố mang tên Bác Hồ kính yêu”

Tự ca tụng mình là anh hùng chưa đủ, mạng lưới chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 30-9 đã phổ biến lại bài bình luận của đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) ngày 29-8, mượn lời báo Mỹ để tự ca anh hùng:

-“Ngay ở Mỹ, Báo Bưu điện Washington, một trong những tờ báo có đông độc giả cũng vừa có bài khẳng định, chủ nghĩa anh hùng của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh giải phóng này đã khích lệ và tạo nguồn cho hàng triệu người trên khắp địa cầu, kể cả tại Mỹ, đấu tranh chống lại chiến tranh và cường quyền” (“Báo Bưu Điện Washington”, có lẽ là Washington Post, nhưng không nói rõ bài báo xuất hiện ngày nào, nên người viết không thể kiểm chứng).

Theo dõi Singapore kỷ niệm 40 năm lập quốc, không nghe thấy ai nhắc tới hai tiếng “anh hùng“. Thủ tướng Lee Hsien Loong (Lý Hiển Long, con Lý Quang Diệu), trong cuộc nói chuyện lâu hai tiếng rưỡi, [1] không có lần nào ông trực tiếp hay gián tiếp nhắc tới công nghiệp của bố Lý, cũng không hề đả động gần xa tới Đảng Nhân dân Hành động, là đảng cầm quyền từ năm 1959. Trong khi ấy, Chủ tịch Trần đức Lương của Việt Nam XHCN, trong bài diễn văn quốc khánh, đã hãnh diện:

-“Tự hào về Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, tư tưởng và cuộc đời vẹn toàn của người mãi mãi là ngọn đuốc soi đường, là kho tàng vô giá của dân tộc ta cho hôm nay và cho cả mai sau. Sự cộng hưởng vĩ đại của tư tưởng Hồ Chí Minh, sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng Sản Việt Nam…”

Chính Hồ Chí Minh khi còn sống, cũng tự nhận mình là anh hùng. Trong dịp viếng đền Kiếp Bạc, nơi thờ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, họ Hồ đã xuất khẩu thành thơ:

-“Bác anh hùng, tôi cũng anh hùng”. Trong hai cuối tuần lễ lạt ăn mừng Độc Lập, Singapore không nói tới thắng lợi, không nhắc tới kẻ thù. Thủ tướng Loong nhấn mạnh:

-“Được như ngày hôm nay là nhờ “nhân dân chúng ta, tư tưởng chúng ta, và hành động của chúng ta. Điều quan trọng hơn cả là chúng ta đã tạo được một tinh thần Singapore. Chúng ta can đảm nhưng nhân đạo, chúng ta tự tin nhưng không bao giờ tự kiêu”.

Trong khi đọc diễn văn, có lúc thủ tướng Singapore đã rưng rưng nước mắt, khi nhắc lại kỷ niệm khó quên, xảy ra trong dịp lễ Độc Lập năm 1968. Thời gian này, Việt Nam đã nổi tiếng thế giới với trận Tổng công kích Mậu Thân, với quyết tâm “giải phóng Miền Nam”, dù phải san phẳng dãy Trường Sơn và hy sinh hàng triệu con người. Trong khi ấy Singapore đang bơ vơ, không biết sẽ làm gì để sống ! Nước Anh, tuy đã trả độc lập cho Singapore, vẫn còn giữ lại căn cứ quân sự ở Seletar Air Base, hẹn đến năm 1971 mới ra đi. Nhưng đầu năm 1968, Anh quyết định rút sớm, khiến khoảng 150 ngàn dân trực tiếp hay gián tiếp làm cho quân đội Anh bị mất việc. Thu nhập của những người này bằng 20% tổng số lợi tức quốc gia. Singapore họp nhau kỷ niệm lần thứ ba ngày độc lập trong tình huống lo lắng như vậy. Sáng ngày 9-8, trời quang mây tạnh, nhưng trước khi cuộc lễ bắt đầu, mưa đổ tầm tã. Tất cả mọi người cố giữ nguyên hàng ngũ. Đó là niềm hãnh diện về sự quyết tâm, cũng là nỗi xót xa của Singapore trong lịch sử lập quốc của mình. Báo chí Singapore năm nay đã dành nhiều trang lớn, đăng bài vở, hình ảnh và phỏng vấn về lễ kỷ niệm mưa gió này. So với những trận mưa bom đạn mà dân Việt Nam phải chịu từ Bắc tới Nam, trải qua một trận mưa rào nhiệt đới, không bằng chuyện muỗi cắn. Nhưng với những người không muốn làm anh hùng , muỗi cắn cũng đau !

Trong khi Việt Nam sợ “diễn biến hòa bình”, Singapore chủ trương phải thay đổi, hay là chết. Thủ tướng Loong khẳng định:

-“Vì thế giới sẽ thay đổi, nếu Singapore vẫn như hiện nay, chúng ta chết !”.

Trong khi Việt Nam cảnh giác về “bọn phản động trong nước”, và những “thế lực thù địch bên ngoài”, thì Singapore chủ trương xây dựng một “xã hội hợp quần” (inclusive society), thúc đẩy sự tham gia của mọi người trong nước, và sẵn sàng học hỏi từ các nước, kể cả Việt Nam. Thủ tướng Loong kể chuyện:

-“Tôi gặp một nhà vô địch Võ Nam Dương (silat), hỏi ông ta ai là đối thủ đáng sợ nhất tại cuộc tranh tài Á Châu SEA Games ? Ông ấy nói Việt Nam. Tôi sốc ! Tôi nói Việt Nam biết gì về Võ Nam Dương. Thái cực đạo, Kong fu, hay mấy môn võ cổ truyền Đông phương thì họa may, nhưng silat ? Ông ấy nói đúng đấy. Từ con số không, họ bắt đầu học vào năm 1993, với hai huấn luyện viên Nam Dương. Mới đầu, không cơ sở, không vận động trường, không dụng cụ tối tân. Họ lấy mấy ống kim khí, buộc vào nhau thành khung, bọc lại, làm đệm, đấm đá, luyện tập vất vả. Sau vài năm, họ biết khá rồi, cho huấn luyện viên về, tự lo lấy. Bây giờ, họ là vô địch Đông Nam Á, đang nhắm chức vô địch thế giới. Và thứ võ này là môn thể thao hàng đầu ở Việt Nam”.

Ông Loong kết luận:

-“Chúng ta cần có một tinh thần như thế”.

Học võ mà bắt chước Việt Nam, đúng quá !

Nay thì đã rõ: Di tích tội ác cũng không cần bằng tiền bỏ túi quan tham.

Già trẻ của GX- Cầu Rầm đau lòng, ngậm ngùi, phẫn nộ.  Nên nhớ: đây là tài sản của cha ông họ đã đổ máu xương mà có

Các mẹ các chị “anh hùng” bảo nhau: không thể nào để chúng khắp nơi trôm cắp đất đai, tài sản công ích  trên đất nước này mãi được.

Chúng ta phải có nghĩa vụ và quyền lợi đòi lại tài sản của mình bị chiếm đoạt bất công và trái pháp luật, phi đạo đức

Singapore không có tài nguyên, một chút đất trồng rau cũng không có, ngay nước dùng hàng ngày còn lo thiếu. Tất cả mọi thứ đều phải nhập cảng. Chỉ còn vốn liếng đáng quý hơn cả là con người. Thay vì hy sinh con người để làm anh hùng, hay làm “nghĩa vụ quốc tế vẻ vang” như lời Chủ tịch VC Trần đức Lương, thì Singapore đã cố gắng chăm sóc và xây dựng người dân của mình để tạo một thành phố tiến bộ kiểu đệ nhất thế giới, nằm trong thế giới thứ ba. Singapore hiện nay là thành phố sạch sẽ vào hàng nhất thế giới. Người ta có thể đi bộ vẹt gót giày khắp phố lớn phố nhỏ, mà không sợ đạp cứt chó như ở Paris. Singapore cũng an ninh vào hạng nhất thế giới. Thẩm phán Tối cao Pháp viện David Souter bị tấn công khi đang chạy bộ gần nhà ở Washington DC, mới 9 giờ tối, vào cuối tháng Tư năm ngoái. Tôi từng bị móc túi ở New York, Paris, và bị người lái taxi lừa khi vừa ra khỏi phi trường Roma, nhưng hoàn toàn yên tâm khi di chuyển ngày hay đêm, đi bộ hay taxi tại Singapore.

Tuy tinh thần phục vụ của người Singapore hiện nay rất cao ( ví dụ người tính tiền tại các chợ hay cửa hàng, mỗi khi trao đổi với khách, đều dùng cả hai tay và kính cẩn cúi đầu, miệng nói cám ơn) nhưng Thủ tướng Loong vẫn chưa hài lòng. Ông than rằng Singapore thiếu văn hóa phục vụ tự nhiên. Ông so sánh với người Thái, người Ấn, người Nhật, người Úc, mỗi khi gặp khách đều có lời chào trước khi vào việc, trong khi người Singapore hỏi ngay là mình có thể giúp gì, hay tệ hơn, là ông hay bà muốn gì. Ông đã coi việc phục vụ như một danh dự, và quyết định nâng cao phẩm chất phục vụ lên hàng quốc sách, trao cho một tổng trưởng chịu trách nhiệm. Trong khi Việt Nam nêu cao khẩu hiệu: “Noi gương Bác Hồ đời đời kính yêu”, khẩu hiệu mới của Singapore là “GST”, chữ đầu của “Greet, Smile and Thank” (CCC – Chào, Cười và Cám ơn).

Giống như Tổng thống Hoa Kỳ Reagan làm trong mỗi dịp đọc Thông điệp Liên bang, Thủ tướng Lý Hiển Long đã giới thiệu, và kể những câu chuyện về mấy thường dân đặc biệt. Một trong những người được ông đề cao, là bà cựu thư ký 63 tuổi. Bà này vì hoàn cảnh, đã phải đổi nghề nhiều lần. Cuối cùng, nhận việc lau chùi cầu tiêu, kiếm thêm tiền để dành cho con đi hoc. Con bà không muốn, hỏi bà: Sao má hạ mình quá thấp như vậy? Bà trả lời, chùi cầu tiêu không làm mất nhân phẩm. Làm để sống, đâu có trộm cắp ai. Kết thúc câu chuyện, ông muốn mọi người “biết và tin rằng phục vụ là việc làm danh dự. Không phải là những việc thấp hèn”.

Qua việc Thủ tướng Singapore đề cao người chùi cầu tiêu, khiến tôi liên tưởng tới chuyện mới xảy ra tại trụ sở Liên Hiệp Quốc. Trong phiên họp thượng đỉnh cấp “quốc trưởng” tại Hội đồng Bảo An của khóa họp thứ 60, Đại Hội đồng LHQ ở New York vào ngày 14-9-05, ký giả của hãng Reuters, dùng ống kính nhìn xa, đã chụp được tay Tổng thống Bush đang viết một cái note cho Ngoại trưởng Condoleezza Rice ngồi cạnh. Phóng ảnh to lên, đọc được mấy chữ của ông Bush, không phải chuyện sống còn của thế giới, mà là:

-“Tôi nghĩ rằng tôi cần đi cầu. Liệu có được không ?” (I thinhk I may need a bathroom break. Is this possible ?).

Điều này nhắc nhở mọi người một thực tế là, dù có quyền lực lớn chưa từng ai có được trong lịch sử loài người như ông Bush ngày nay, cũng không thể cưỡng nổi tiếng gọi của thiên nhiên. Vậy thì, hạnh phúc trong cuộc sống thường ngày, không nên đo bằng tiền bạc hay quyền cao chức trọng, hãy đo bằng chỉ số cầu tiêu.

Singapore là nơi nhiều cầu tiêu và sạch sẽ nhất thế giới. Washington, DC. nhờ có nhiều bảo tàng viện và đài kỷ niệm, nơi nào cũng đầy đủ cầu tiêu, nên cũng đỡ. Paris tệ nhất, vừa ít, thiếu vệ sinh, lại phải trả tiền. London khá hơn, nhưng vẫn không có nhiều. Tại New York, năm 1990, Trung tâm Công lý Đô thị (Urban Justice Center) đã kiện thành phố vì không cung cấp đủ nhà vệ sinh công cộng. Dù vậy, trải qua ba đời Thị trưởng, kể cả thị trưởng nổi tiếng thế giới Giuliani cũng không thỏa mãn được nhu cầu này. Mới đây, ông thị trưởng Bloomberg đã chọn công ty Cemusa của Tây Ban Nha để thiết lập 20 nhà cầu trên đường phố.

Trong khi ấy, tại Singapore, nhìn chỗ nào cũng thấy dấu hiệu nhà vệ sinh. Tại các tiệm bán hàng lớn, nhà vệ sinh nhiều gấp hai gấp ba lần so với bên Mỹ. Ví dụ tại Tyson Corner, khu thương mại lớn nhất ở ngoại ô Washington, DC., khách của nhà bán hàng vào loại sang Nordstrom, nhiều khi từ tầng này phải qua tầng khác, kiếm mãi mới thấy WC (cầu tiêu). Tại Singapore, tiệm Takashimaya ở đường Orchard, trong cả 7 tầng, mỗi tầng đều có 4 nhà vệ sinh (2 nam, 2 nữ). Ngoài số lượng, nhà vệ sinh Singapore còn có phẩm chất cao, chỗ nào và lúc nào cũng sạch sẽ. Lần đầu tiên tới Singapore, thấy ở đây đôi chỗ vẫn còn dùng loại bàn cầu kiểu cổ như ở Việt Nam, tuy cũng tráng men sạch sẽ, tôi bèn tìm hiểu, mới biết rằng, vì công chúng có nhiều người vẫn còn thích xài kiểu cổ. Vệ sinh hơn kiểu mới và đỡ phải lót giấy khi ngồi. Ngoài ra, còn cái thú hồi hộp khi sử dụng, phải tính toán, cân nhắc như một cao thủ thể thao, hay một nhà thiện xạ, rót sao cho trúng mục tiêu. Lần chót vừa rồi ở Singapore, tôi vào chỗ đi tiểu tại một tiệm bán hàng trên đường Orchard. Vừa đứng trước bồn, đang còn sửa soạn, chưa kịp trình diễn, đã thấy nước trong bồn tự động xịt cái ào. Nghĩ bụng chắc có trục trặc kỹ thuật. Trình diễn xong, nước tự động xịt lần nữa. Bán tín bán nghi, bèn đứng thử trước mấy bồn khác, thấy cái nào cũng xịt hai lần trước sau như vậy. Tuy đã ở Mỹ 30 năm, lúc ấy tôi có cảm tưởng mình như anh nhà quê lần đầu ra tỉnh.

Bây giờ, xin ghé qua “nước Việt Nam Anh hùng”. Rất tiếc, tôi đã không có mặt tại Việt Nam, để có thể nhận xét tại chỗ, như đối với Singapore. Tuy nhiên, những gì nêu ra sau đây, đều là những tài liệu chính thức đã công bố từ Việt Nam. Theo báo DanTri.com.vn, du khách ngoại quốc đã phiền hà rất nhiều, vì Việt Nam thiếu nhà vệ sinh công cộng . Những nơi có nhà vệ sinh thì bị đòi tiền quá giá chính thức. Những nơi không nên có nhà vệ sinh, thì lại có, như cạnh chỗ nấu ăn, khiến thực khách từ chối không ăn. Vẫn theo báo này, một doanh nhân đã khuyên VN:

-“Khoan hãy nói tới những chuyện to tát khác, khoan hãy tốn tiền cho những chuyến đi quảng bá hình ảnh du lịch ở nước ngoài, nếu chưa lo được… cái W.C cho du khách !”

Trong khuôn khổ kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Tám, ngày 18-8, Bộ Ngoại giao Việt Nam long trọng công bố cuốn sách “Thành tựu bảo vệ và phát triển con người ở Việt Nam”, dư luận quen gọi là Sách trắng về Nhân quyền. Cuối mục “Bảo đảm quyền về y tế”, sách ghi nguyên văn:

-“Tỷ lệ hộ gia đình sử dụng hố xí hợp vệ sinh năm 1995 là 27,33% (thành thị 54,9%, nông thôn 17,3%), năm 2000 là 44,07% (thành thị 81,77%, nông thôn 32,49%).”

Những con số này nói gì ? Con số đầu cho biết trong nửa thế kỷ dưới quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản, chỉ có hơn một phần tư trong số gần 80 triệu nhân dân Việt Nam anh hùng được sử dụng hố xí hợp vệ sinh, còn hơn 50 triệu dân vẫn phải bài tiết một cách thiếu vệ sinh. Con số thứ nhì cho thấy, 55 năm sau khi cách mạng anh hùng thành công, hơn một nửa nhân dân anh hùng vẫn chưa có được cái hạnh phúc nhỏ nhoi là sử dụng hố xí hợp vệ sinh.

Giáo dân Cầu Rầm chia xẻ với giáo dân Tam Toà

Đông đảo giáo dân  tham dự thánh lễ hiệp thông tại nhà thờ Giáo Xứ Cầu Rầm , theo dõi những hình ảnh của chính quyền nhân dân “anh hùng” chờ khi đêm tối đã huy động cả ngàn công an, chó săn tấn công, hành hung, đàn áp giáo dân của Giáo XứTam Toà.

Giáo dân Cầu Rầm trước đó đã thông tin đến những người chủ xây nhà trên đất nhà thờ- Tiền lễ hậu binh

Năm ngày sau lễ Độc lập 2-9, từ “thủ đô Anh hùng của nước Việt Nam Anh hùng” (chữ của báo Nhân Dân), trong khi trả lời một bài phê bình, nhà văn Dương Thu Hương, mới đi ngoại quốc về, nói rằng:

-“Tôi trở lại Việt Nam là để ỉa vào mặt kẻ cầm quyền”.

Thú thật, lúc đầu tôi hơi bị sốc khi đọc câu này. Nhưng nghĩ lại, tôi thấy chẳng qua cũng chỉ là phản ứng tự nhiên của nhà văn. Đảng đã cầm quyền 60 năm, hy sinh xương máu của vài ba triệu người, hy sinh hạnh phúc của vài ba thế hệ. Kết quả: hơn nửa số nhân dân vẫn không có nổi một hố xí hợp vệ sinh. Vậy, chỉ còn cách dùng ngay mặt kẻ cầm quyền làm hố xí. Chỉ e rằng cách giải quyết này cũng không hợp vệ sinh.

Sự khác nhau giữa Singapore và Việt nam đã phản ảnh rõ qua lời tuyên bố tiêu biểu của nhà lãnh đạo hai quốc gia trong lễ Độc Lập của mình. Tuy được xếp ngang với các nước hàng đầu thế giới về nhiều phương diện, Thủ tướng Lý Hiển Long vẫn tuyên bố:

-“Singapore chúng ta không có một văn hóa phục vụ tự nhiên…chúng ta còn phải cố gắng nhiều để đạt trình độ thế giới…” (In Singapore, we don’t have a natural service culture… we have a long way to go to reach world class…).

Trong khi Việt Nam xếp hàng với những nước cuối danh sách về nhiều phương diện, Chủ tịch Trần đức Lương tuyên bố:

-“Dân tộc Việt Nam anh hùng, nêu cao truyền thống tự tôn dân tộc, nhất định sẽ lập nên những kỳ tích mới…”

Kết luận: Đảng ta anh hùng ngày càng ” hèn với nước “Lạ”, ác với dân”, tham nhũng đục khoét khắp nơi, bán cả đất biển cho ngoại bang

Anh hùng không phải là điều xấu, nhưng khi nó trở thành một ám ảnh thường trực, đã biến thành bệnh. Ví dụ, giữ gìn cơ thể sạch sẽ để phòng bệnh, là thói quen tốt. Nhưng sợ vi trùng đến nỗi bị ám ảnh như nhà kỹ nghệ nổi tiếng Howard Hughes, là người bị bệnh hiểm nghèo, tiếng chuyên môn gọi là hypochondriac. Theo triệu chứng tỏ tường, Việt Nam đã mắc “bệnh Anh hùng”. Tiếng chuyên môn viết tắt là HOC, do ở tiếng Anh Heroic Obsessive-Compulsiv e disorder. Bệnh HOC hay “bệnh anh hùng” đáng sợ hơn tất cả các chứng bệnh khác. Người bị các bệnh khác, bao giờ cũng mong được chữa khỏi, và chịu khó chữa trị. Trái lại, người mắc bệnh anh hùng luôn tự hào về căn bệnh của mình, nên không thể chữa.

Nhiều người thắc mắc, tại sao dân tộc Việt Nam thông minh, cần cù và hy sinh nhường ấy, vẫn không thể tiến bộ? Nhưng thử hỏi lại, mang trọng bệnh 60 năm, chưa chết đã là may, còn mong chi tiến bộ? Trong dịp kỷ niệm 40 năm độc lập, báo chí Singapore phỏng vấn nhà lãnh đạo lão thành Lý Quang Diệu về tương lai đất nước, ông trả lời:

-“Chúng ta đã không phung phí 40 năm qua và không lý nào chúng ta không thể phát lên được.” (We’ve not wasted the last 40 years and there’s no reason we can not make this breakthrough) .

Việt Nam đã phí phạm 60 năm qua, làm sao để phát lên được ?

Ðinh Từ Thức

Nhóm phóng viên Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:

Nữ Vương Công Lý

Ba Cây Trúc

Đàn Chim Việt

16-FaceBook

Advertisements

Bài Học Từ Giáo Hội Ba Lan cho Giáo Hội Việt Nam – Vinh Mỹ

Cha ơi, Có phải từ nay con mất Cha

Nỗi đau đớn con tim như đứng lại

Trời thì xa, ở gần là nha lại

Nỗi đau này, con biết kêu ai?…

J.B Nguyễn Hữu Vinh

1. Hình ảnh minh họa: “Những hình ảnh lạ lùng trong thánh lễ tạ ơn chào đón Đức Tân TGM Phó Hà Nội Nguyễn Văn Nhơn” tại Nhà thờ Lớn Hà Nội.

2. Bài đọc suy gẫm: Bài Học Từ Giáo Hội Balan cho Giáo Hội Việt Nam – Vinh Mỹ

Nhà thờ Lớn Hà Nội, 1 giờ trước thánh lễ

Giáo dân từ khắp nơi trong giáo phận kéo về Nhà Thờ Hà Nội ngày càng đông với nhiều biểu ngữ.

Hàng  trăm ngàn người chào đón ĐGH John Paul II tại Ba Lan năm 1979 “Ôi cái ông già nầy, cái ông già này…

Tổng Giám mục đã mất liên hệ với dân chúng!”(1)

Trong những ngày gần đây, giới truyền thông công giáo bình luận rất nhiều về câu nói sau đây của Đức Cha Tarnowski Wiktor Skworc, chủ tịch Ủy Ban Truyền Giáo của Hội Đồng Giám Mục Balan “Tình hình của Giáo Hội tại Việt Nam rất giống với tình hình Giáo Hội Ba Lan chúng ta trong hai thập niên 60 và 70,.. Đáng tiếc là giờ đây chúng ta thấy những gì đã diễn ra ở Ba Lan lại được tái diễn tại Việt Nam,”

Đây không phải là lần đầu tiên người ta nhận thức được sự giống nhau nói trên; nhưng thử hỏi Giáo hội Công giáo Việt Nam đã học hỏi được gì và có thể học được gì qua những biến cố đã xảy ra ở Ba lan để đối phó với những gì đang tái diễn tai Việt Nam?

Chúng tôi chỉ đặt câu hỏi đó cho phía Giáo hội, vì bên chính quyền, vấn đề đã được giải quyết từ lâu. Cuốn sách “His Holiness John Paul II, and the Hidden Hístory of our Time” của Carl Bernstein và Marco Politti xuất bản ở Hoa Kỳ năm 1996, thì chỉ một năm sau nó đã được Công An Nhân Dân Hà nội đem dịch và xuất bản làm sách tham khảo nội bộ dưới tiêu đề “Đức Giáo Hoàng John Paul II và lịch sử bị che đậy trong thời đại chúng ta”(sách tham khảo nội bộ) người dịch “Nguyễn bá Long, Trần Qui Thắng .-NXB Công An Nhân Dân.- Hà nội, 1997”. 912 p.

Nhìn lại những cách hành xử của chính quyền và Công an đối với công giáo, từ việc không cho Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ghé thăm Viêt nam cho đến vụ bắt giam Cha Lý, hạ bệ và thủ tiêu tượng Đức Mẹ Sầu bi, Đức Mẹ La vang, ngăn cản giáo dân tụ họp và cử hành thánh lễ ở Tam Tòa, triệt hạ và đập nát Thánh giá Đồng Chiêm v.v., chúng ta không thể không thấy họ đã tham khảo và thấm nhuần đến thế nào bài học Ba lan để ra sức ngăn chận không cho xảy ra ở Việt Nam những hậu quả tai hại đã xảy ra cho chế độ cộng sản Ba lan.

Chúng ta thử nhìn lại một biến cố ở Ba lan mà George Weigel gọi là “Cuộc khủng hoảng Đoàn Kết” và Carl Berstein lấy chủ đề là “Làm rung chuyển chế độ” xảy ra vào mùa hè năm 1980 và xem các giám mục và Giáo hội Ba lan đã “đồng hành với dân tộc” như thế nào. Cụ thể là các ngài đã lên tiếng thế nào và có những hành động gì trước cuộc đấu tranh có tính cách kinh tế, xã hội nhân quyền và …chính trị của công nhân, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phản ứng như thế nào trước hành động của hàng giám mục Ba lan.? v.v.

Chúng tôi sẽ lược dịch, trích dẫn hoặc viết phỏng theo nội dung của cả hai tác phẩm trên đây để trình bày đầy đủ biến cố theo diễn tiến thòi gian.

Biến cố Ba lan

George Weigel viết: “Ngòi lửa Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhen lên ở Balan tháng 6 năm 1979 đang âm ỷ cháy, chậm rãi nhưng chắc chắn. Mười bốn tháng sau, ngày 14 tháng 8 năm 1980 nó đã gây nên một vụ nổ bất bạo động mà kết quả là 10 năm sau đó cộng sản Âu châu đã sụp đổ” (2)

Ngòi lửa đó chính là việc cả một đân tộc tìm lại được lòng tự trọng, không còn khiếp nhược sợ hãi đến độ chấp nhận một kiếp sống không xứng đáng với phẩm giá con người. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã làm cho họ lấy lại được lòng tin vào mình, tin vào tiền đồ dân tộc, dám nhìn thẳng vào sự thật, chấp nhận thách đố và sẵn sàng chịu đựng mọi rủi ro để nói lên sự thật. Họ từ khước nếp sống luồn lách, phục tùng thỏa hiệp để được yên thân.




Nguyên nhân vụ phát nổ này là việc nhà nước, để giải quyết nạn khủng hoảng kinh tế đã lại một lần nữa, ngày 2 tháng 7 năm 1980 tăng giá thực phẩm lên từ 30 đến 100% , trong khi đồng lương công nhân không thay đổi. Một làn sóng phẩn nộ từ từ lan rộng, bắt đầu từ cuộc bãi công của công nhân đường sắt Lublin dần dần lan ra đến hầu như tất cả các nhà máy khắp cả nước. Cuộc đình công của công nhân đường sắt làm chính quyền Liên xô rất lo ngại vì nó làm bế tắc trục giao thông nối liền Liên xô với các nước Đông Âu, nơi có đến nửa triệu hồng quân chiếm đóng. Vì thế mà Edward Gierek, bí thư thứ nhất đảng cộng sản Ba lan đã phải cam đoan với Brezhnev là vụ việc sẽ được giải quyết gấp. Quả thực chỉ bốn ngày sau vụ đình công Lublin đã được giải quyết, không phải bằng đàn áp quân sự ghê gớm như những năm 1956, 1970, 1976 mà bằng một thỏa hiệp nhân nhượng những đòi hỏi của công nhân. Những đòi hỏi đó, không những chỉ có tính cách kinh tế mà còn có cả chính trị, chẳng hạn thừa nhận quyền đình công, cam kết không phạt người đình công, bàu lại đại diện vào công đoàn nhà nước và được thương lượng thắng với chính quyền.

Đây là lần đầu tiên công nhân dám đòi hỏi tự do thực sự. Đã hết cái thời người dân cúi đầu chấp nhận thuần phục để được ăn no, hay như một thi sĩ Đoàn kết đã nói một cách rất tượng hình : “cái thời mà họ bịt miệng chúng ta bằng một khúc dồi.”(3)

Sau Lublin là cuộc đình công ở xưởng đóng tàu Lênin ở Gdansk. Ngày 14 tháng 8, một ngày trước Lễ Đức Mẹ Lên Trời, tất cả 17000 công nhân xưởng bắt đầu đình công và chiếm đóng xí nghiệp. Lech Walesa. một người thợ điên thất nghiêp đã trèo tường vào lại xưởng củ để lãnh đạo cuộc đình công. Ủy ban đình công soạn thảo một yêu sách gồm tám điểm, cùng với việc đòi hỏi cải thiện kinh tế, ủy ban còn đòi thành lập nghiệp đoàn tự do và nhất là đòi chính phủ phải bồi thường danh dự cho 45 công nhân xưởng bị tàn sát trong vụ đàn áp biểu tình năm 1970 bằng việc thiết dựng một đài kỷ niệm ngay trong xưởng.

Giám mục giáo phận Gdansk là Lech Kaczmarek, mặc dầu rất dè dặt với vấn đề đình công, đã cảm thông với công nhân trong việc đòi hỏi cải thiện mức sống và tôn trọng nhân quyền. Giám mục đã vận động để gửi một linh mục vào lo việc mục vụ cho công nhân đình công trong xưởng.

Ngày 17 tháng 8, linh mục Henryk Jankowski, cha xứ của Walesa đã cử hành thánh lễ ngoài trời đầu tiên bên trong xưởng, 4000 công nhân quây quần xung quanh bàn thờ. Bên ngoài hàng rào sắt gắn đầy hình ảnh Đức Mẹ Đen và ảnh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, có khoảng 2000 bà con bạn bè thân thuộc của công nhân cũng tập trung để cùng hiệp thông. Họ cùng hát lên các bài thánh ca và các bài hát yêu nước để bày tỏ những bất bình của họ đối với chế độ. Sau thánh lễ, cha Jankowski làm phép một cây thánh giá đồ sộ do công nhân ngành mộc chế tạo. Thánh giá liền được dựng lên sát bên cửa số 2 và được tạm coi là đài kỷ niệm nạn nhân của vụ tàn sát năm 1970.

Đây là một hình ảnh hết sức đặc thù, công nhân nổi lên thách thức một Nhà nước công nhân với những biểu tượng Đức Tin dùng để diễn tả những giá trị về nhân phẩm và tự do mà Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc nhở tháng 6 năm 1979. Điều đó nói lên rằng có thể làm một cuộc cách mạng bất bạo động và có kỷ luật, không nhất thiết cách mang là phải làm những chuyện rùng rợn, đổ máu như chủ trương của Robespierre, Lenin hay những anh hùng cách mạng tân thời khác.

Tuy thế, phần đông các Giám mục Ba lan, kể cả vị Giáo chủ Wyszynski rất thờ ơ trước phong trào và mãi lâu sau mới ý thức được tầm quan trọng của biến cố đang xảy ra ở Gdansk . Giám mục Kaczmarek có mặt tại hiện trường có lẽ chỉ là một ngoại lệ.

Ngày 18 tháng 8, sau khi đã cũng cố lại niềm tin cho công nhân để họ hết bị giao động trước những lời hứa tăng lương của ban giám đốc, Walesa đã đưa ra trong cuộc đàm phán một bản yêu sách mới gồm 21 điểm, kể cả những đòi hỏi có tính cách thuần chính trị, như việc đòi bỏ kiểm duyệt, thả các tù nhân chính trị v.v. Tất cả các cuộc đàm phán đều được phía công nhân truyền thông qua loa phóng thanh đặt trong sân nhà máy. Vì thế mà tất cả những yêu sách táo bạo của Walesa đã được các công nhân theo dõi và phổ biến sâu rộng, lan ra khắp vùng bờ biển Baltic, đẫn tới hàng loạt các vụ đình công khác. Walesa được sự đồng tình ủng hộ của Ủy Ban bảo vệ công nhân (KOR) đứng đầu là Jacek Kiróns, một cựu đảng viên cộng sản, của Câu lạc bộ trí thức công giáo (CKIK) và của những nhà trí thức khác.

Cùng ngày đó, trong một bài nói chuyện trên đài truyền hình, Gierek đã hứa sẽ sửa chữa những sai lầm nhưng lại đe dọa những người chống đối: “Vận mệnh của đất nước gắn liền với hệ thống xã hội chủ nghĩa… những nhóm người vô chính phủ, chống lại xã hội chủ nghĩa đang cố gắng khai thác triệt để tình hình, nhưng chúng ta sẽ không dung thứ bất kỳ một yêu sách hay hoạt động nào nhằm mục đích phá hủy trật tự xã hội ở Ba lan”. Nhưng những luận điệu như thế chính là cái mà người công nhân không còn chấp nhận.

Trong khi đó, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đang nghỉ hè ở Castel Galdolfo, ngài bỏ cả công việc thường lệ, suốt ngày theo dõi tình hình qua báo đài, qua cha Dziwisz thư ký riêng đang “nghỉ” ở Balan và qua Bộ ngoại giao có quan hệ mật thiết với Hội Đồng Giám mục Balan. Tuy nhiên ngài vẫn giữ im lặng suốt cả tuần lễ, để trách nhiệm cho Tổng Giám mục Wyszynski ứng xử tại chổ.

Trong một bài giảng ngày lễ Đức Mẹ Lên trời ở Czestochova, một ngày sau khi biến cố ở Gdansk xảy ra, Tổng giám mục Wyszynski đã phớt lờ, không hề đả động đến vụ đình công. Vảo ngày 16 tháng 8, lễ kỷ niệm chiến thắng Hồng quân của Pilsudski 60 năm về trước, đức Tổng giám mục chỉ nói đến việc cám ơn Đức Mẹ, và xin giáo dân cầu nguyện cho tự do hòa bình và quyền tự quyết của Balan. Chỉ đến ngày 17 tháng 8, ở Trung tâm Đức Mẹ Wambierzyce, ngài mới nói đến những cái “khủng hoảng và xáo động”đang xảy ra trong nước và “những thợ thuyền đang tranh đấu đòi các quyền xã hội, tinh thần, kinh tế và văn hóa”. Ngày 20 sau đó, bài giảng được đưa lên truyền hình Varsovie, nhưng bị cắt bỏ đoạn nói đến những xáo động của công nhân, mà chỉ nhấn mạnh đến lời Tổng giám mục kêu gọi “phải bình tĩnh và hành xử cho phải lẽ”.

Bình luận thái độ này của Tổng giám mục Wyszynski, Carl Bernstein viết :”Vị Tổng Giám mục già nua này đã can thiêp theo cái cách mà trước đây ông đã tiến hành thành công nhiều lần trong các cuộc khủng hoảng….Nhưng tình thế hiện nay không thể giải quyết được bằng những biện pháp mà Tổng Giám Mục đã sử dụng 30 năm qua.” (4)

George Weigel còn nói thêm: “Xem ra đức Tổng Giám Mục không hiểu một tý gì về một biến cố phi thường đang diễn ra ở Gdansk”.(5)

Chính vào thời điểm này Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã can thiệp lần đầu tiên vào nội tình Ba lan. Trong buổi triều yết ngày 20 tháng 8, ngài xin mọi người cầu cho quê hương ngài và nhất là ngài đã công khai cầu nguyện cho cuộc đình công, một việc mà Đức Hồng Y Giáo chủ Wyszynski không dám và không thể làm. Trong khi đó thì ở Ba lan Giám mục địa phận Gdansk, Lech Kaczmarek, đã truy tặng Walesa và 14 thành viên của Ủy ban đình công huy chương Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Xưởng đóng tàu Gdańsk trong ngày kỷ niệm thứ 25 của Công đoàn Ðoàn Kết. cũng là 25 năm ngày Balan thoát ách vô thần cộng sản.(2005)

Sau đó Đức Giáo Hoàng đã gửi một thông điệp cho Đức Tổng giám mục Wyszynski, khẳng định lập trường của ngài dứt khoát ủng hộ những đòi hỏi của giới đình công ở Gdansk : ”Tôi thiết tha cầu nguyện để một lần nữa, hàng Giám mục Balan đúng đầu là đức Giáo chủ, đảm nhiệm việc giúp dân tộc này trong cuộc đấu tranh để đòi của ăn hằng ngày, đòi công bằng xã hội, và để bảo toàn những quyền bất khả xâm phạm cho sự sống còn và sự phát triển riêng biệt của Ba lan” (6)

Thông điệp này được công bố ngày 23 tháng 8.

Chính đêm hôm đó, Chính phủ đã phải làm một nhượng bộ có tính cách lịch sử, chấp nhận đối thoại trực tiếp với Ủy ban đình công liên xưởng (Gdansk, Gdynia và Szczecin).

Ủy ban đình công cũng vừa nhận được sự hợp tác của nhóm trí thức công giáo và không công giáo, gần gủi với Wojtyla, đứng đầu là Tadeusz Maziowiecki, chủ nhiệm tờ báo công giáo Wiez (liên lạc). Ông đã được Ủy ban đình công đích danh mời đến làm cố vấn trong cuộc đàm phán với chính quyền, cũng có sự tham gia của sử gia Bronislaw Geremek.

Cuộc đàm phán trở nên thật gay go vào những ngày 24 và 25 tháng 8 khi bên phía Chính phủ chấp nhận cho đình công nhưng cương quyết từ chối việc cho thành lập công đoàn và bên Ủy ban cương quyết không chấp nhận một thỏa thuận do chính phủ đưa ra nhằm ép người đình công trở lại với “statu quo”. Tổng bí thư Gierek lại một lần nữa xuất hiện trên truyền hình đọc diễn văn tự phê, nhưng không có hiệu quả gì. Lâm vào thế bí, một bên là lực lượng công nhân đối kháng, một bên là mối đe dọa can thiệp quân sự của Liên xô, ông đã quay sang cầu cứu với Đức Tổng Giám mục Wyszynski xin ngài can thiệp nói là “để tránh những hậu quả khôn lường cho đất nước.”

Trước tình thế căng thẳng đó toàn dân nóng lòng chờ nghe những gì Đức Hồng y Tổng giám mục Wyszynski sẽ nói trong bài giảng lễ Đức Mẹ Czestochowa tại tu viện Jasna Góra vào ngày 26 tháng 8. Bài giảng của Hồng y Wyszynski đã làm cho người đình công hết sức thất vọng. Họ đồng ý khi ngài kêu gọi “bình tĩnh, chừng mực, cẩn trọng, khôn ngoan và có trách nhiệm vì lợi ích cho cả nước Balan”. Nhưng họ không thể ngờ rằng, trong thời điểm này mà Đức Cha lại có thể nói những lời trách cứ công nhân đã làm việc kém năng suất, nhấn mạnh phần trách nhiệm của họ trong sự sụp đổ kinh tế Ba lan. Ngài còn nói : “ Chúng ta không được chỉ trích người khác, tất cả chúng ta ai cũng mắc sai lầm và cũng cần được tha thứ.” Liên quan đến việc đòi hỏi thành lập nghiệp đoàn tự do, ngài đồng ý trên trên nguyên tắc, nhưng tuyên bố: “Các bạn không thể đòi hỏi tất cả mọi điều trong một lúc, phải tiến hành từ từ, không được đẩy quốc gia vào vòng nguy hiểm” Rõ ràng ngài đã nói theo luận điệu của ông Gierec khi nhấn mạnh đến vấn đề chủ quyền quốc gia, coi đó là điều kiện cần thiết cho mọi tiến bộ về kinh tế và xã hội.

Những đoạn quan trọng trong bài giảng có lợi cho phía chính quyền được phổ biến rộng rãi trên đài truyền hình quốc gia đã làm cho nhiều người hết sức bối rối. Nhóm trí thức công giáo cố tình im lặng để phản đối. Nhiều giám mục công khai lên tiếng chỉ trích và theo Carl Bernstein Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã rất xúc động và thất vọng thốt lên:

“Ôi, cái ông già nầy, cái ông già nầy” và ngài đã thổ lộ với hai linh mục người Ba lan đang có mặt ở Castel Galdolfo: “Tổng Giám mục đã mất liên hệ với dân chúng(7)

Một lần nữa Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II lại phải can thiệp vào nội tình Ba lan.

Ngay ngày hôm sau, để bênh vực những người đình công, ngài tuyên bố là những vấn đề họ đưa ra nghị sự đều là những vấn đề cụ thể và chỉ có thể giải quyết được bằng cách mang lại “hòa bình và công lý cho dân tộc”. Dưới sự chỉ đạo của Đức Giáo Hoàng, ngay chiều hôm đó Thượng Hội đồng Giám mục Ba lan đã họp khóa bất thường ở Warsovie, thông qua một tài liệu tuyên bố một cách dứt khoát quyền độc lập và tự quản của các tổ chức đại diện cho công nhân, trích đẫn giáo huấn Công đồng Vatican II liên quan đến “những quyền căn bản”của người công nhân được kết hợp thành tổ chức.

Lập trương kiên định trên đây của hàng Giám mục Ba lan dưới sự chỉ đạo vừa khôn ngoan vừa cứng rắn của Đức Giáo Hoàng đã cổ võ người đình công không chấp nhận trở về lại “statu quo” mà giữ vững yêu sách thành lập các nghiệp đoàn tự do, không bị chế độ kiểm soát. Phía chính phủ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận.

Ngày 31 tháng 8, năm 1980 thỏa ước Gdánsk lịch sử được ký kết, Công đoàn Đoàn kết ra đời, một công đoàn độc lập đầu tiên dưới chế độ cộng sản.

Con lạy cha, cha đừng đi cha ơi !


Thưa với ông Mỹ phóng viên:  Đức Tổng của chúng con thì mới có 58 tuổi, Đức Phó Tổng Nhơn thì ngài đã ngoài 70 nên chúng con rất không thể nào mà hiểu được cái sự “cố” này…:)


Các cha cùng nắm tay nhau dàn thành hàng ngang.  Ơ hay! có phải công việc của các ngài đâu?  Ôi buồn thay!

Cánh bạn dân Hà Nội từ xa xa đứng quan sát, buồn rầu …kháo nhau:”thế là khoẻ”.  LẠ!  khỏe mà lại buồn là thế lào? 🙂



Bài học cho Việt Nam

Từ trước đến nay, không ít người giáo dân, trong cũng như ngoài nước lên tiếng vì sự “im lặng” của các Giám mục Việt nam trước những vấn đề “nóng bỏng” của Giáo hội của đất nước và của con người. Và mới đây, một vài giám mục “nhân dịp” này nọ đã lên tiếng “nói năng” trên tòa giảng, trả lời báo chí hay chúc tết, thì lại làm cho nhiều linh mục và giáo dân phải nói lên nỗi thất vọng của mình hơn nữa.

Đứng trước hoàn cảnh đó, chúng ta không thể không xét lại vấn đề “Nói hay không nói,”! Đã từ lâu vấn đề cứ dai dẳng được đặt ra cho các Giám mục. Các ngài có bàn cãi với nhau không, chúng ta không được biết, nhưng câu trả lời thì đã rõ: không nói đến những vấn đề cụ thể.

Đến lượt giáo dân lại phải đặt câu hỏi “nói hay không nói” trước cái “không nói”, hay “nói không cụ thể” của các giám mục. Phần tôi, sau khi suy nghĩ về phản ứng của Đức Thánh Cha về bài giảng của Đức HYTGM Wyszynski, tôi hết sợ nói ra là mất kính trọng, là lên mặt dạy đời, và tin chắc các giám mục chúng ta cũng sẽ không thua sự khiêm tốn và tiếp thu của Đức Hồng y Giáo chủ Balan, chẳng những không buồn, mà khi Đức Thánh Cha bị bắn ngài còn xin dâng mạng sống mình để chuộc mạng ĐTC và sau đó ngài đã chết thánh thiện. Án phong thánh cho Đức Hồng y hiện đang được tiến hành ở Rôma.

Còn một lẽ nữa là nay đã hết cái thời mà chỉ có cha con trong nhà biết nhau. Nói ra ngoài sợ “vạch áo cho người xem lưng”. Có một đệ tam nhân là Công An nhân dân đã xen vào qua cuốn sách chúng tôi vừa trich dẫn ở trên. Từ nay họ có đủ tiêu chuẩn để đối chiếu và đánh giá hành vi cử chỉ của chúng ta và những nhận xét sau đây về một vài trường hợp của các Giám mục Việt Nam của chúng tôi cũng có thể là của chính họ,

Sau đây chúng tôi xin đối chiếu một vài trường hợp:

1.- Ở Ba lan, Đức Giáo Hoàng thúc đẩy các Giám mục Ba lan trên tòa giảng phải đứng về phía người công nhân đấu tranh đòi cơm áo và nhân quyền thi ở Việt nam Đức cha Đọc, trên tòa giảng trước cử tọa các gíám mục đã “ăn nói” thế nầy: “Trước sự phức tạp của tình hình thế giới, trước những thế lực giằng co chống đối nhau luôn muốn lôi kéo chúng tôi về phía họ…Để không làm công cụ cho một thế lực chính trị nào, chúng tôi phải giữ gìn lời ăn tiếng nói…” và nữa: “Nếu có ai không thích Cộng sản, người ấy không nên yêu cầu chúng tôi khích bác họ.”

Có lẽ ĐGH Gioan Phaolô cũng sẽ phải thốt lên :“Ôi, cái ông giám mục này (sic!)“

2.- Đức Cha Đọc còn nói: “Đã có một thời cách đây khoảng 50 năm, có rất nhiều người ước ao được hiện diện, được rao giảng Tin Mừng Chúa Giê-su tại các nước xã hội chủ nghĩa như Liên Sô, các nước Đông Âu, Trung Hoa lục địa, mà không được mãn nguyện. Bây giờ, chính chúng tôi, được hiện diện, được rao giảng Tin Mừng trong một nước cộng sản…”

Diễm phúc thay cho ĐC ! Nhưng xin ĐC biết cho rằng vào thời điểm đó thì người ước mơ chỉ có hai lựa chọn : một là tử đạo hay vào tù (hoặc trốn trong đại sứ Hoa kỳ) hai là cúi đầu chấp nhận thuần phục đảng để được “ở trước bàn thờ, ở trên bục giảng, ở trong phòng xưng tội(8)

Nhưng từ 30 năm nay, ở các nước cộng sản, có lẽ chỉ trừ Trung Hoa, Giáo hội đã đứng hẳn về phía người dân đòi các quyền căn bản của con người, và khi có tự do thì chế độ cộng sản tự tan rã. Chỉ còn ĐC Đọc là còn coi chế độ công sản là thời vàng son cho người truyền giáo.

Có lẽ ĐGH Gioan Phaolô cũng sẽ phải thở dài :“Ôi, cái ông giám mục này (sic!)“

3.- Ở Balan, khi tiểu chủng viện Địa phận Krakow bị nhà nước tịch thu để làm trường sư phạm, Wojtila, khi đó là Giám mục phó, đã chạy đến gặp bí thư đảng ủy khu vực để phản đối và giành giật lại được ngôi nhà cho chủng sinh, chỉ mất đi một tầng 4 để nhà nước mở trường sư phạm.(9)

Ở Việt nam khi Đại học Công Giáo Đà lạt bị tịch thu làm.công viên (!) Đức Cha Nhơn đã muốn đối thoại để xin lại, nhưng có ai cho gặp để mà đối thoại đâu, ngài chỉ được gửi một bức thư “xin”mà người ta cũng không cần trả lời. Thì ra đối thoại ở Việt nam “tôi” thế đó.

4.- Có một điều chắc chắn là lấy kinh nghiệm ở Balan, công an Việt nam rất tâm đắc với chủ trương của Đức Hồng y Mẫn cũng như các GM Việt nam “Đối thoại không đối đầu” tại sao ?

Ở Ba lan chính phủ cộng sản phải chịu chấp nhận đối thoại sau khi công nhân đã đình công đối đấu từ ngày 14 tháng 8 đến khuya ngày 23 thang 8 năm 1980, dưới sức ép của hơn ba trăm ngàn công nhân biểu tình. (10).

Còn ở Việt nam Đức Hồng y không cần tranh đấu chỉ .. “cố gắng đi theo con đường mới Công đồng Vatican II đã mở ra, là đối thoại * và hợp tác với mọi tổ chức văn hoá và tôn giáo, kinh tế và chính trị trong cộng đồng xã hội, trên cơ sở sự thật và công ích.” Cố gắng của Ngài là thế nào và đã được đối thoại với ai ?

Thì ra với cộng sản, muốn có đối thoại phải đối đầu. Hàng giám mục Việt nam đã từ khước đối đầu thì làm gì ai đời cho đối thoại mà nói đối thoại.

Bây giờ thì chúng ta mới hiểu tại sao các giám mục chúng ta đã không lên tiếng, vì lên tiếng tức là đã đối đầu, trái với chủ trương của các ngài là đối thoại, mà vì “đối thoại là đối thoại với”, nếu không có “với” thì đối thoại là ….. “ làm thinh.”

Lại chuyện làm thinh, ở Balan, những người đấu tranh tuyên bố: Đã qua đi cái thời mà người ta bịt miệng chúng ta bằng một khúc dồi ”. Ở Việt nam bao giờ cho thời đó qua đi ?!

5.- Con đường đồng hành cùng dân tộc: Ở Ba lan, trong lúc công nhân đình công đòi

cơm áo và quyền con người, Đức Giáo Hoàng viết thư thúc dục các Giám mục và Hồng y Giáo chủ phải đồng hành với dân tộc, đứng lên bênh vực họ. Và khi Đức Hồng y Giáo chủ lên tòa giảng chỉ nói tới đoàn kết vì lợi ich quốc gia, không đả động đến những người đấu tranh, thì liền bị Đức Giáo Hoàng lập tức quở trách (11)

“Ôi, cái ông già nầy, cái ông già nầy” …. “Tổng Giám mục đã mất liên hệ với dân chúng”

Còn ở Việt nam, đang khi dân oan đang kêu thương khắp nơi, linh mục và giáo dân bị hành hung, tượng thánh bị triệt hạ, tài sản bị xâm chiếm, nhân quyền bị chà đạp công nhân bị áp bức mà Đức Hồng y Tổng Giám mục không hề đả đông gì đến, nói chi đến chuyện đồng hành . Họ không phải là dân tộc sao? Ngài chỉ nói những lời hoa mỹ mà chúng ta có cảm tưởng như đã nghe đâu đây trong những bài học luân lý xã hội tổng quát, ngài nói : “đồng hành cùng dân tộc trên con đường lịch sử của đất nước, mọi người cần quan tâm mở rộng tình huynh đệ cùng phát huy tinh thần trách nhiệm liên đới trong cộng đồng xã hội, qua con đường đối thoại và hợp tác với mọi thành phần xã hội, trên nền tảng sự thật và công ích, nhằm phục vụ cho sự sống con người cùng sự phát triển đất nước.”

“Ôi, cái ông già nầy, cái ông già nầy” …. “Tổng Giám mục đã mất liên hệ với dân chúng”

Đành rằng Balan là Balan, Việt Nam là Việt Nam, và so sánh không phải là lý lẽ (comparaison n’est pas raison), nhưng Giáo hội là một, và sự thật ở Balan không thể không phải là sự thật ở Việt Nam. Giáo hội không chủ trương “chiến đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản ” như Wojtyla thường nói (12) nhưng Giáo hội phải góp phần giúp con người lấy lại được lòng tin vào mình, tin vào tiền đồ dân tộc, dám nhìn thẳng vào sự thật, chấp nhận thách đố và sẵn sàng chịu đựng mọi rủi ro để nói lên sự thật, từ khước nếp sống luồn lách, phục tùng thỏa hiệp để được yên thân. Mong thay !

Vinh Mỹ

Mùa sám hối 2010


(1) Carl Bernstein và Marco Politi.- Đức Giáo Hoàng John Paul II và lịch sử bị che đậy trong thời đại chúng ta (His Holiness John Paul II and the Hidden History of our Time) (Sách tham khảo nội bộ) Người dịch Nguyễn Bá Long, Trần Quí Thắng.- Nhà Xuất bản Công An Nhân Dân.- Hà nội 1997.- trang 419

(2) George Weigel.- Jean Paul II : Témoin de l’expérance.- Ed. Club France Loisir, 1999 p. 495

(3) G. Weigel.- Sách đã dẫn trang 495

(4) C. Bernstein.- Sách đã dẫn trang 413-414

(5) G. Weigel.- Sách đã dẫn trang 498

(6) G. Weigel.- Sách đã dẫn trang 497

(7) C. Bernstein.- Sách đã dẫn trang 419

(8) C. Bernstein.- Sách đã dẫn trang 153

(9) C. Bernstein.- Sách đã dẫn trang 191

(10) C. Bernstein.- Sách đã dẫn trang 417

* Nếu tôi không lầm thì ĐHY bỏ đi chữ tìm “Tìm đối thoại“

(11) C. Bernstein.- Sách đã dẫn trang 418

(12) C. Bernstein.- Sách đã dẫn trang 149

Nhóm phóng viên Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:

Tiếng kêu trong sa mạc Blog

Mẹ Hằng Cứu Giúp

Công Đoàn Đoàn Kết Poland

ĐCVOnline.net



Hãy làm những gì cộng sản sợ. P16

Cúi lạy xin anh nhận lễ này
Trông lên phất phới quốc kỳ bay
Tưởng hồn liệt sĩ về chứng giám
Thương kính dâng đầy ngút biển mây…

Thái Lâm

1. Hình ảnh minh họa: Người Việt Tị Nạn cs. Hải Ngoại tổ chức lễ Quốc Hận 30-4 trên khắp thế giới.  Ghi nhận quan trọng: Các thế hệ một rưỡi và thứ hai tại hải ngoại đã đứng dậy tiếp nối truyền thống cha anh, nhận trách nhiệm.

2. Bài đọc suy gẫm: Hãy làm những gì cs. sợ.  hay “Ngày Email về VN” – P16

Lễ Tưởng niệm Quốc Hận Tại Âu Châu.

Hòa Lan

Paris có gì lạ không em? Dạ Có, 30-4 Ngày Quốc Hận năm nay được tổ chức trọng thể lắm.

Frankfut- Germany.

Bài đọc suy gẫm: 30-4-2010 “Ngày Email về VN”- P16

Như chúng ta đã biết. Mặt trận truyền thông là cốt lõi chính để các chế độ độc tài vận dụng để bảo vệ chính họ và cộng sản Việt Nam là bậc thầy trong lãnh vực này. Tuy hệ thống báo chí và thông tin tại quốc nội rất nhiều nhưng tựu chung chỉ thông tin một chiều có lợi cho chế độvà hoàn toàn bưng bít những sự việc như đất đai và lãnh hải tổ quốc bị dùng để đổi chác quyền lợi cho một thiểu số lãnh đạo. Những vấn đề như tham nhũng, dân oan bị cướp đất xảy ra trên khắp mọi miền đất nước hầu như không ai biết đến v.v.. Như vậy, có thể kết luận rằng thông tin báo chí dưới chế độ cs. thuần túy chỉ là những cái loa cho đảng cs.

Trong vấn đề đấu tranh để yểm trợ quốc nội tự chủ ta thấy. Muốn tranh đấu với cs phải có sức mạnh quần chúng. Muốn có sức mạnh quần chúng, cần có truyền thông, báo chí. Sức manh truyền thông sẽ giật sập sự bưng bít, gian dối thông tin của cs. Thông tin thông thoáng đồng nghĩa với ngày tàn của độc tài, độc đảng. Qua vụ Trường Hoàng Sa, ta thấy cả nước ngu ngơ, trong khi hải ngoại, ai cũng thấy rõ đảng cs việt gian, giờ chỉ là những tên thái thú cho lãnh đạo Tàu cộng.

Trong khoảng 5 năm trở lại, nhờ sự phát triển về nối kết trên mạng internet, qua nhiều nguồn thông tin tiếp cận được từ bên ngoài, đã thức tỉnh suy nghĩ các bạn trẻ trong nước. Sự ào ạt mở nhật ký mạng hay blog trong quốc nội cho chúng ta thấy người dân Việt nhất là các bạn trẻ đã có sự chuyển mình, vươn vai đứng dậy.
Úc châu- Canberra Melbourne

Nhà nước cs gần đây đã thấy mối nguy về thông tin bùng nổ tại Việt Nam sẽ là đe dọa cho sự sống còn của chế độ nên ngoài điều 4 hiến pháp của chúng, vốn đã nghịch với thiên nhiên lại còn muối mặt ra những thông tư, qui định * để giới hạn nhật ký mạng và tạo các hình thức răn đe, bỏ tù hay quấy nhiễu những blogger. Những sự việc này, cho đến nay ngày càng cho chúng ta thấy rõ: Sự vận dụng Văn Minh Tin Học hiện đại trong những năm gần đây qua hình thức hội luận Paltalk, gửi điện thư, Blog, báo cá nhân đã mang đến nhiều kết quả khả quan, đang xuyên thủng bức màn sắt cộng sản một cách hữu hiệu và có khả năng cô lập, giới hạn hay bớt đi những vi phạm về nhân quyền. Có thể kết luận rằng: cs rất sợ đồng bào trong nước có thông tin đa chiều. 

Như vậy:

Đừng sợ những gì cs. làm.

Hãy làm những gì cộng sản sợ. 

Mỹ Châu- Quốc Hận tại San Jose, Bắc California.

Đêm Văn Nghệ Tưởng Niệm 30-4 tại Washington DC.

Boston Massachussette. Những tòa nhà cao tầng cũng phải nghiêng mình thán phục.:)

Houston – Texas: Từ khi việt cộng lén lút đặt tòa lãnh sư tại đây, đồng bào chúng ta biểu tình phản đối chúng hầu như mỗi ngày, không ngơi nghỉ. Hoan hô

Này, cậu đàn cho tớ cái tông Đơ nhé 🙂


Để tích cực hơn thay vì mỗi năm chúng ta đi Biểu Tình 30-4 xong rồi là về nhà nghỉ khỏe. Nhóm Phóng viên Paltalk nay ra tuyên cáo vận động kêu gọi 

30-4-2010 là “Ngày Email về VN”

Toàn thể 3 triệu Người Việt Tị Nạn Cộng Sản Hải Ngoại dùng ngày 30-4-2010 năm nay là ngày khởi đầu. “Chúng ta cùng đồng lòng Chuyển Lửa Về Việt Nam” or Ngày Email về VN (Copy and Paste ‘s day).

Data Mining Email to Discover Social Networks and Emergent Communities (Hệ thống email chằng chịt khắp nơi và ngày càng phát triển rộng hơn. Điểm quan trong ở đây là:   cs. dựng tường lửa chặn các website hải ngoại hay những địa chỉ (net) không có lợi cho chúng, nhưng để phá rối email thì lại là vấn đề khác ).

SanDiego- USS Midway

Lá cờ vàng thân yêu được quân đội Hoa Kỳ chào mừng trước.

 

Quốc Hận tại Nam California cả ngày 30-4-2010 với nhiều ngàn người tham dự 


Buổi chiều tối với số người kỷ lục. Từ BTC đến mọi tầng lớp
trẻ già , trai gái đều nức lòng

Mục Tiêu Vận Động 

1. Tuy là công việc nhỏ nhoi nhưng “nhiều lỗ nhỏ làm đắm thuyền” Với 3 triệu NVTNCSHN trên toàn thế giới, và 80 triệu người dân trong nước đồng lòng, cùng nhau tiếp tay vận chuyển thông tin đa chiều mọi nơi, mọi lúc về quốc nội. thì chúng ta tin rằng: đạo quân phá hoại trên mạng của cs. dù có đông cũng phải bó tay. Công việc này rất đơn giản và trong tầm tay mỗi người. Mỗi ngày chỉ cần chuyển những email với những link kết nối thông tin đi khắp nơi. Với số lượng truy cập khổng lồ sẽ vô hiệu hóa cho đến giải thể hoàn toàn mọi phương cách ngăn cản truy cập internet như tường lửa, hacker, và những hình thức thô bạo khác mà cs đang áp dụng nhằm bưng bít thông tin mạng và đầu độc giới trẻ quốc nội bằng thông tin dối trá của chúng.

2. Từ mỗi cá nhân đến các đoàn thể đều khuyên bảo, nhắc nhở đốc thúc nhau mỗi ngày dành riêng ra 5, 10” để “Email Chuyển Lửa”. Tạo thành phong trào ngàn người, triệu người, mỗi người , mỗi gia đình đều trở nên một chiến sĩ, một gia đình vận chuyển thông tin. Chúng tôi tin rằng tiến trình “Tự Do- Dân Chủ hóa đất nước” sẽ ngày càng mau lẹ hơn.

Nhóm Phóng Viên Paltalk xin cám ơn sự tiếp tay vận động của quý vị.

Phóng viên Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:

LyHương .net

Facebook