Bóng Đá Ăn Gian- Trần Khải

1.  Hình ảnh minh họa: Biểu tình chống Nguyễn Tấn Dũng tham dự hội nghị G20 tại Canada.

Thưa cô phóng viên, Ở VN cộng sản đàn áp thô bạo những tiếng nói cất lên cho nhân quyền.

2.  Bài đọc suy gẫm:  Tuyệt Vời Là Bóng Đá – Trần Khải

Dường như tất cả các cậu bé tại Việt Nam đều đã từng xem Pele đá banh, và đã từng một lần ước mơ trở thành cầu thủ bóng đá tuyệt vời như thế. Nói như thế, vì tôi đã từng say mê Pele, và đã từng muốn trở thành cầu thủ bóng tròn thượng thặng. Thế nhưng nước mình luôn luôn có những ngã rẽ làm cho cuộc đời trở nên bất toàn: không phải cứ muốn gì là được.
Sau này lớn lên, ra nước ngoàì, tôi lại càng say mê Pele hơn sau khi đọc thấy một câu nói của anh. Tôi gọi Pele là anh, thay vì gọi là “ông” như kiểu bình thường, vì Pele trong trí nhớ tôi không bao giờ thay đổi: một chàng trai phóng như gió, banh không rời chân bất kể anh chạy tới trước hay lùi phía sau, hay nghiêng qua trái hay ngả người qua bên phải. Tuyệt vời là quả bóng như có phép ma, như hút dính vào giày của Pele, cho tới khi anh sút một cú xuyên thủng lưới đối thủ thì khắp cầu trường vang lên những tiếng hoan hô. Các âm thanh hoan hô đã vang dội trong cả những giấc mơ của tôi sau khi xem các hình ảnh như thế, mà thời đó chủ yếu là phim đen trắng chứ làm gì có màu, thậm chí còn chuư có cả TV truyền hình gì nữa.
Lớn rồi, già rồi, tôi mới đọc thấy câu này của Pele nói, “Tất cả các cậu bé khắp thế giới chơi bóng tròn đều muốn trở thành Pele. Tôi có trách nhiệm lớn để cho các cậu bé đó thấy không chỉ là cách sống như một cầu thủ bóng tròn, nhưng còn là sống như một con người.”

Pele, người Brazil được mệnh danh là vua bóng đá thế giới trong hai thập niên 1956- 1976.

Từ nơi đỉnh cao như Pele, anh nói rằng trách nhiệm lớn của anh là dạy các cậu bé sống như một con người. Nghĩa là, có những người không tử tế lắm, hoặc là cứ đá việt vị, hay cứ nhắm chân cẳng đối thủ mà đá, hay cứ không thấy ai ngó là thò tay chọt banh, hay cứ che khuất là húc vai vào ngực đối thủ, vân vân. Nghĩa là đủ thứ trò gian lận. Chắc chắn, Pele đã từng gặp đủ thứ hạng người tốt xấu trên sân cỏ, nhưng rồi anh thấy cần hướng dẫn các cậu bé sống tuyệt vời như anh: giữ đúng luật bóng tròn, tận nhân lực để dẫn banh vào lưới như mục đích.
Lần đầu tiên học bóng đá đúng quy củ là tại sân Hoa Lư, lúc đó tôi mới học năm đệ thất (lớp 6) hay đệ lục (lớp 7). Mỗi tuần, sáng sớm lúc 6 giờ, đi xe đạp ra, cùng với cả lớp tập trong giờ thể dục thể thao. Sương sớm tỏa hơi lạnh, trong lúc Sài Gòn còn ngái ngủ, mờ tối đèn đường hiu hắt. Các cậu nhóc bấy giờ được nghe thầy giảng về luật bóng đá.
Nhưng thực ra, tôi đã say mê bóng đá từ trước cả tuổi này. Gần nhà tôi thời đó, nơi các góc đường hẻm Nguyễn Thông, nơi gần xóm Chuồng Bò, bọn nhóc cỡ 6 hay 7 tuổi là đã chia phe đá banh rồi. Tuyệt vời là khi có trận bóng được xem là quan trọng, thì bọn trẻ lại ra tiệm hớt tóc đầu ngõ để đứng ngồi mà nghe nhà tường thuật bóng tròn Huyền Vũ kể trực tiếp qua máy phát thanh (thời đó, chưa có truyền hình TV gì cả). Nhưng cũng qua giọng nói Huyền Vũ, bọn nhóc chúng tôi được học về luật bóng đá, nơi naỳ một tí, nơi kia một tí, tuần này một tí, và rồi cùng lớn lên với những giấc mơ trở thành Pele.

Freedom : For VietNam – Human Rights : For VietNam

Chốt tại góc Richmond- W. Cảnh sát Canada tuy trang bị tận răng nhưng là bạn thân thiết với người dân.

Tới khoảng năm đệ tứ (lớp 9 bây giờ), tự nhiên thấy vài tên bạn học trong lớp biến mất. Những tên ngồi hàng ghế sau cùng lúc nào cũng to con và có nhiều trò vui – tôi nghiệm ra như thế. Mấy tên bạn này cũng say mê bóng đá như tôi vậy, nhưng đa số các bạn ở xóm Nhà Thờ Vườn Xoài. Chỉ nghe sau này kể lại, nhóm bạn này dù còn trẻ, nhưng đã lấy giấy khai sanh giả để tình nguyện đi lính biệt kích nhảy toán ra bắc. Lúc đó, đầu óc tôi thơ ngây lắm, phải mấy năm sau nữa mới hình dung toàn cảnh. Các bạn này đa số là Bắc Kỳ di cư, và rằng lính nhảy toán cần tuyển các bạn này để nhảy ra Bắc mà khó thể bị lộ vì có giọng nói Bắc Kỳ tự nhiên. Kể như thế, không có nghĩa trên sân banh chỉ còn toàn bọn nói giọng Sài Gòn rặt như tôi. Bởi vì tuổi lớp 9 mà đi lính là sai luật, trên nguyên tắc. Thế nhưng, ra sân bóng thấy mất đi ít nhất 2 tiền vệ, đá với lớp khác là phải bổ sung rồi. Cho tới bây giờ, nhiều thập niên sau, tôi vẫn không nghe tin gì về các bạn đã biến mất này.
Tới khi lên lớp đệ tam Chu Văn An, tức lớp 10, thì tập thể dục ở sân vận động Phan Đình Phùng. Lúc này, say mê bóng đá vẫn còn, nhưng ẩn kín rồi, cần nhiều thì giờ đọc sách hơn. Thêm nữa, chạy nơi đây thì vui hơn, thích nghi hơn, vì sân này sang trọng quá, không giống gì với hình ảnh trong trí tưởng của tôi về những nơi cậu bé Pele tập đá banh thời nhỏ. Một hình ảnh làm mất hứng bóng đá giữa sân Hoa Lư với sân Phan Đình Phùng là ở Hoa Lư không có ai cầm vợt tennis cả, chỉ có ở sân Phan Đình Phùng thôi. Nghĩa là, có giai cấp rồi, vì chơi tennis phải là dân xịn. Dù vậy, những tiếng hoan hô vang dội khi Pele sút banh vẫn còn rải rác trong một số giấc ngủ của tôi. Tuyệt vời là thế.
Sau này, tôi thấy bóng đá còn tuyệt vời hơn nữa, khi nghiệm ra vị trí hai đội banh. Ít nhất, còn có tư pháp độc lập, có trọng tài, y hệt như Tòa Tối Cao ở Mỹ hay Tòa Bảo Hiến ở nhiều nước Châu Âu, không hề sợ ông Tổng Bí Thư hay Chủ Tịch Nhà Nước naò cả. Thủ quân cỡ như ông Nông Đức Mạnh hay Nguyễn Tấn Dũng cũng có thể bị phạt thẻ đỏ, thẻ vàng như thường.
Tuyệt vời nữa, bóng đá còn dạy chúng ta biết cách ganh đua tử tế. Nghĩa là tranh thắng đa đảng, chứ không hề có kiểu độc đảng tự sướng. Hãy hình dung, nếu Pele ra sân bóng kiểu ông Mạnh hay ông Dũng, mà không có đội bóng đốí thủ và khắp cầu trường đều tung hô như kiểu quốc hội hiện nay… Trời ạ, Pele đâu có kiểu như thế.
Mới đây, tôi đọc thấy một loạt bài bình luận của nhà báo Bùi Tín trên đàì VOA, có một đề nghị với Đảng CSVN rất là thích nghi.
Trong loạt bài nhan đề “Về văn kiện Đại hội XI,” bài số 5 với tiêu đề “Lối ra danh dự cho Đảng CS,” do Bùi Tín viết riêng cho VOA, trích như sau:
“…Cần thẳng thắn chỉ rõ rằng trong văn kiện Đại hội XI, có một điều nói dối lớn, sai hẳn với sự thật khi viết: «Đảng CS đã tiếp thu những giá trị quý giá nhất của thời đại» (!), trong khi trên thực tế qua văn kiện Đại hội XI đảng đã quay lưng, không chấp nhận tự do báo chí, tự do bầu cử dân chủ, tự do lập hội và chính đảng. Cần chỉ ra rằng một đảng cầm quyền biết tự trọng không thể nói một điều dối trá lớn như thế, một cách công khai, trắng trợn đến vậy mà không biết hổ thẹn với dân, với công luận quốc tế.
Trong dịp Kỷ niệm lịch sử Ngàn Năm Thăng Long, sẽ là điều sâu sắc, cao đẹp, có ý nghĩa trọng đại là Đảng CS bàn luận cho kỹ, tuyên bố và thực hiện trả lại cho nhân dân, cho cử tri các quyền tự do hiến định đầy đủ, không cắt xén, cùng nhân dân xây dựng chế độ dân chủ theo kiểu dân chủ – xã hội, theo mô hình Nhà nước Phúc Lợi Chung, cùng nhân dân đưa Tổ quốc Việt Nam lên một tầm cao Văn hóa – Chính trị, bước kịp với những nước dân chủ văn minh của thời đại. Nghĩa cử lịch sử này sẽ có giá trị hơn trăm ngàn tượng đài, vườn hoa, công trình xây dựng và văn hóa để Kỷ niệm xứng đáng một sự kiện Ngàn năm mới có một dịp…”(hết trích)
Thế đấy, sân bóng chính trị tại Việt Nam trước giờ vẫn là sân bóng kiểu Bắc Hàn, hễ có đội bóng đối thủ xuất hiện là bị ông Mạnh, ông Dũng đá thẳng vào chân cho gãy giò liền, hay thò tay chọt banh cho rớt ra biên liền… Hãy thấy, nếu có đa đảng tại Việt Nam, nếu có đội bóng do Nông Đức Mạnh dẫn ra sân đá với đội bóng do luật sư Lê Công Định dẫn ra sân, thì tuyệt vời biết là bao nhiêu.
Hãy hình dung, một hình ảnh trên sân  cỏ, Nguyễn Tiến Trung dẫn banh vào vùng cấm địa, và rồi Nguyễn Tấn Dũng vọt tới thò chân cản… Tuyệt vời biết là bao nhiêu.

Các ông thấy không. Giời mưa thế này, nếu đồng bào tôi không bị tụi cs. đàn áp thì tôi ra đây làm quái gì? nằm nhà coi… bóng đá sướng hơn phải không nào.:)

Các cậu ở ngoài hô to lên: Yêu cầu nhà nước cộng sản trả tư do cho những người tranh đấu

Tôi tin rằng 3 triệu người đã chết ở Việt Nam, trong đó có những thằng bạn ở xóm Vườn Xoài  đã biến mất thời thơ ấu của tôi, đều say mê chờ đợi một trận bóng có 2 phe đầy đủ như thế. Đâu có phải độc đảng tự sướng như hiện nay, mà bao nhiêu  chuyện như cho thuê rừng, cho đào bôxít, vân vân đều không thấy mấy ai trong quốc hội phản đối.
Tôi mang ơn Pele biết là bao nhiêu. Những tiếng hoan hô vang dội Pele thực ra cũng là tiếng hoan hô tự phát, của lòng chân thành, của sự thán phục. Chứ không phải những tiếng hoan hô do lãnh tụ Kim Jong-Il dàn dựng, hoàn toàn không phải là những tiếng hoan hô theo nhịp chỉ thị.
Bao giờ thì trận bóng lớn nhất tại VN khởi sự? Không phải là tuyệt vời sao, khi nhìn thấy trận bóng đá mà nhiều triệu người đã hy sinh đề tìm nó. Hai đội bóng, tranh nhau đá bóng vào hai gôn. Đơn giản như thế, mà sao vẫn độc đảng, vẫn  không thấy “hổ thẹn với dân” – để mượn chữ của nhà báo Bùi Tín.

TRẦN KHẢI

Nhóm phóng viên Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.


The

Links:

Việt Báo Daily Online – Trước Thời Cuộc

G20- Le Nhan Picasa Web Album

G20- Danny Hoang Picasa Web Album

Đàn Chim Việt

Advertisements

Ba Tôi – Ngọc Anh

1. Hình ảnh minh họa: Tưởng niệm quân dân cán chính VNCH và Thuyền nhân đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do nhân ngày Quân Lực 19-6-2010 tại Nam California- Hoa Kỳ.

2. Bài đọc suy gẫm nhân ngày Father’s Day: Ba Tôi – Ngọc Anh

Ở Việt Nam ngày trước năm 1975, chúng ta không có ngày lễ đặc biệt dành cho những người Cha như nước Mỹ. Qua đây sống , từ từ hội nhập dòng sống của người Mỹ, mỗi năm, những ngày lễ lớn như Lễ Tạ ơn, Giáng sinh, lễ cho Mẹ , lễ cho Cha, lễ cho Tình yêu… lần lượt thâm nhập vào từng gia đình người Việt sống trên đất Mỹ tạo thành một truyền thống tốt đẹp bên cạnh những tập tục cổ truyền của người mình như Tết , Vu lan mùa báo hiếu …
Năm nào mùa lễ Cha, tôi cũng đau lòng nhớ tới ba tôi , người đã quá cố từ hơn bốn mươi năm nay.
Ba tôi là một nhiếp ảnh gia, nói theo chữ nghĩa nhà nghề.
Thuở đó thập niên 50s, tôi còn nhỏ tí, chưa đi học. Gia đình tôi được cấp phát một căn nhà nhỏ trong khu cư xá Cảnh sát Quốc gia nằm trên đường Nguyễn Trung Trực, góc Lê Thánh Tôn sát nách chợ Bến Thành, Saigon. Sở làm của Ba thuộc ngành Cảnh sát Tư pháp.

Ba làm ở phòng Giảo nghiệm. Nhân viên ngành nầy tuy là Cảnh Sát , nhưng tôi thấy mấy bác cũng như ba tôi đều mặc thường phục áo sơ mi trắng quần tây màu đen khi đi làm. Tại sở, ba khoác thêm chiếc áo choàng màu trắng, như áo bác sĩ dài tới gối, lúc làm việc.
Ba tôi, giống như mấy bác đồng nghiệp của ba mà tôi biết, phải trực mỗi tháng một đêm ngủ luôn tại sở. Những ngày nầy tụi tôi thường được ba cho đi theo ba vô sở ngủ lại với ba.
Tụi tôi thích ghê lắm. Tôi vẫn còn nhớ tấm hình thằng em trai nằm trên cái ghế bố nhỏ, cầm tờ báo lên đọc giả bộ bắt chước y như ba, mà  ba chụp được, tờ báo đó em trai cầm ngược chiều vì nó có biết chữ đâu mà đọc.
Tôi thì thích theo ba vô phòng tối để coi ba rửa hình.
Ngộ ghê nghen, ba trực mà thấy ba cứ lui cui trong cái phòng tối om nầy suốt đêm.

Ngoài cửa phòng có gắn cái bóng đèn nhỏ xíu màu đỏ, được bật lên mỗi khi ba vô phòng tối để làm việc, là đèn hiệu phòng đang dùng để không có ai mở cửa vô , ánh sáng làm cho hình rửa bị hư , tôi nhớ ba nói vậy đó. Trong phòng tối thiệt, tối om, dơ bàn tay không thấy. Tôi sợ ma, bám dính theo ba.
Tôi nhớ, trong phòng tối cũng có gắn một bóng đèn rất nhỏ, màu đỏ, không đủ soi cái gì hết .
Ánh sáng có được, tôi nhớ, toát ra từ bộ phận máy rọi hình xuống tờ giấy Kodak màu trắng bóc. Sau đó thời gian mấy giây, nhớ ba canh chừng bằng cái đồng hồ đeo tay, ba nhúng tờ giấy đó vô thau đựng thuốc rửa hình, bằng cây kẹp, rồi lấy ra, ngâm vô thau kế bên.
Giai đoạn nầy thích thú nhất với tôi.
Tôi đứng bên ba, cái đầu chắc vừa đụng bàn thôi vì lúc nhỏ tôi nhỏ con lắm. Từ cạnh bàn, tôi trố hai mắt mà coi hình ảnh từ từ hiện lên trên tờ giấy trắng như là phép lạ.
Rồi tới khi hình đã rõ ràng sắc nét, ba tôi chăm chú kẹp tấm hình còn ướt lên, dùng mấy cái kẹp phơi quần áo mà kẹp tấm hình đen trắng đó lên sợi dây giăng ngang phiá trên cao.
Trên sợi dây nầy, tôi đã nhìn ngắm những tấm hình “thấy ghê” toàn là những hình ảnh xác chết . Những xác chết treo la liệt trong mấy tấm hình nầy như chết vì xe đụng, vì bị đâm chém, bị bắn, những vụ án mạng, treo cổ tự tử (cái nầy tôi sợ nhất). Có lần tôi thấy tấm hình người chết trôi trương phình lên sợ ghê lắm.
Trong sở làm nầy mấy bác thường kể chuyện cho má tôi nghe là có ma .
Ma hay đè mấy người ngủ đêm vì tới phiên trực.

Ngành Cảnh sát Tư Pháp ngày xưa còn có tên là “Cảnh Sát Khoa Học”: Người cảnh sát thuộc ngànhTư Pháp  luôn âm thầm đóng góp biết bao cho sự công bằng, điều tra, giải quyết những bất công, tệ nạn  xã hội.

Tôi nghĩ chắc ba cũng …sợ ma, cho nên ba mới đem lũ con nít theo ngủ trong sở với ba cho đỡ sợ .
Mấy đứa em tôi, tuổi chưa đi học, pha ùphách như quỉ có đứa nào biết sợ ma là gì đâu. Tôi thì sợ hình ảnh chớ không biết sợ ma nhiều. Được theo ba vô sở ngủ, được tự do đùa giởn mà ba ít khi nào rầy rà, là thích lắm. Má tôi nói ma là mấy hình tượng cụt đầu bằng đồng đen, những khuôn mặt phụ nữ, chưng bày trong sở đó. Mấy pho tượng cụt đầu nầy tôi nhớ rất đẹp, hình khuôn mặt tây phương, chắc do những người Pháp mang từ bên Pháp qua, chưng bày trong sở.
Tôi nhớ, Viện Giảo Nghiệm nầy xây theo kiểu người Pháp, rất đẹp. Sở làm có tầng lầu, cầu thang lên xuống có tay vịn bằng gỗ mun đen trơn bóng rất mịn đẹp, là chỗ tôi ưa tuột từ trên xuống dưới chơi như cầu tuột. Ban ngày thì ba lui cui trong phòng thí nghiệm, với những chai lọ kiểu dáng tròn tròn rất ngộ. Thỉnh thoảng ba đem về cho tôi vài cái chai nhỏ xíu nầy để tôi chơi.
Bạn biết, con nít mình thuở đó đâu có đồ chơi, nên mấy món như vậy thích lắm, tôi dùng để bỏ mấy con dế, con cuốn chiếu tôi bắt được. Tôi tuột cầu thang nổi tiếng tới nổi sau nầy khi tôi đã là thiếu nữ yểu điệu dịu dàng, học trường nữ trung học Gia Long, mỗi lần gặp lại mấy bác bạn của ba, mấy bác còn hỏi “cháu còn tuột cầu thang hông?” làm tôi mắc cở đỏ ửng mặt mày.
Tôi nhớ một lần ba về nhà, khoe với má là sở làm vừa có một máy sấy cho khô hình từ Nhựt gởi qua, ba đỡ phải treo hình lên dây nữa.
Không biết có phải vì méo mó nghề nghiệp hay không, mà ba tôi lúc nào cũng kè kè cái “súng Canon” bự tổ chảng, loại máy ảnh của phóng viên xài đó, bất kể lúc nào ba thấy cái gì hay hay, lạ lạ là ba túm lũ con vô bô hình của ba, cho nên tụi tôi rất ghét. Nhỏ em kế tôi còn kể, ghét nhứt hạng là mỗi đầu năm, ngày Tết, ba bắt từng đứa đứng kế bên cây bông mồng gà đỏ chói để ba bấm hình Tết. Ba thường cười mím mím nói “cười tươi chút đi con”. Nó nói nó ghét vì mình bị bắt chụp hình, chù ụ, đứng kế bông tươi rói, nên bông luôn đẹp hơn mình.
Bây giờ ngày tết, tôi luôn ao ước trong lòng, phải chi ba còn sống, ba bắt mình đứng đâu để ba chụp hình mình cũng ưng, mà cười thiệt tươi, tươi hơn cảnh và vật ở chung quanh. Nhờ ba thường hay chụp hình, mà bây giờ gia đình còn giữ lại nhiều hình ảnh rất quí giá như tấm hình thằng em trai ngồi ôm con khỉ của nó, con khỉ của chị em tôi, con khỉ mà tôi thương nhứt nhà. Trên bàn thờ của má tôi, có hình ông bà ngoại, ông nội, ông cố… Hình ông ngoại với bộ râu cá trốt thật đẹp, khuôn mặt khắc khổ mà tươi. Ông ngoại bận đồ lớn trong tấm hình nầy, coi chiến lắm, văn minh lắm, mà đầu ông ngoại thì bới củ hành.
Hỏi má, má cười cười nói:
-Ba mầy chụp ông ngoại lúc ông ngoại đang ngồi trên ghế ngoài sân, ông ngoại bận bà ba đó chớ. Trời nắng xiên xiên nên khi ba kêu ông ngoại ngước mặt lên cho ba chụp, ông ngoại nheo nheo con mắt mà hình lại thấy đẹp quá. Rồi ba mầy vẽ thêm cho ông ngoại cái áo lớn cho trịnh trọng, tô màu cho tươi  nữa.
Thì ra là ông ngoại bận bà ba chớ không phải bận áo lớn như trong hình.
Hình má thiệt đẹp, đầu bới cao, đôi chân mày do ba tự tay vẽ cho má.
Hình mấy chị em ngồi xếp hàng từ cao xuống thấp trên một bờ đê ở Phú Xuân Nhà Bè buổi đi chơi dã ngoại.
Từ ngày ba bị giết chết năm Mậu Thân, khoa học càng ngày càng tiến bộ. Tôi nhớ, ba tôi thích tất cả những kiến thức mới, những tiến bộ, những phát minh … Mỗi cái mới chạy nhựt trình là ba đọc cho cả nhà nghe, trong những bữa cơm gia đình.
Năm chiếc phi thuyền của Mỹ lên tới mặt trăng, mang về trái đất mấy mẫu đá ong lổ chỗ, người Mỹ mang đi khắp thế giới để khoe, ba cũng đưa mấy đứa con chen chúc nhau đi coi triển lãm cho biết.

Thiếu Sinh Quân VNCH  cử hành nghi lễ “Yên Nghỉ – Gác Súng”

Qua bao năm, vật đổi sao dời, mối tưởng nhớ chiến binh, đồng đội cũ khôn nguôi, nhìn vào đất  nước hiện nay với đất đai lãnh hải bị cộng sản cắt xén cho nước”lạ” vẫn là những trăn trở, day dứt.

Bây giờ, mỗi khi thấy những máy chụp hình ngày càng tinh vi, cho tới loại máy digital ra đời, vô cùng tiện lợi, hình ảnh đưa thẳng vào computer, sửa chữa thêm thắt dễ dàng bằng những software gài đặt sẳn, tôi lại ngậm ngùi nhớ tới ba tôi, ngày xưa đơn độc trong phòng tối để rửa từng tấm hình, rồi cắt bằng tay, hay ngồi còm lưng tỉ mỉ sửa chữa những đường nét trên hình bằng cây bút lông nhỏ tí teo chấm mực đen hay màu.
Nhiều khi ngồi nhìn lại những tấm hình xưa ba đã chụp, thấy mặt mày đứa nào cũng hỏng tươi, hỏng cười, vì hỏng thích làm người mẫu của ba, ba phải năn nỉ để chụp, thấy lòng dâng trào cảm xúc thưong ba, ước chi ba còn sống, mình sẽ luôn sẵn sàng để có những nụ cười tươi tắn nhứt, để dành cho ba mình.
Ngay cả những ngày lửa loạn ly về tận thành phố Saigon năm Mậu thân, mấy chị em ngồi trên mái nhà coi khói tỏa lan bầu trời, coi máy bay thả rocket, ba cũng chụp hình mấy chị em.
Sau đó mấy ngày thì ba mất! Ba rời cõi đời như một cơn gió thoảng qua.
Tôi nhớ những ngày đầu năm Mậu Thân, khi toán lính Thủy Quân Lục Chiến tiểu đoàn 2 Trâu Điên về trấn đóng trong cư xá Phú Lâm A, để vài hôm sau lại rút ra xa cảng ngăn chận bước tiến của cộng quân, ba tôi cũng đã chụp hình đoàn lính nầy và cho tôi tấm hình một người lính Trâu Điên kiêu dũng mà tôi giữ mãi cho tới ngày lưu lạc quê hương mới bị lạc mất. Nhờ câu chuyện về người lính Trâu Điên nầy mà tôi đã tìm ra vị Đại Đội trưởng chỉ huy Trâu Điên năm xưa, hiện đang sống tại quận Cam.
Thời gian nầy ba tôi thường ôm máy ảnh chạy theo Tướng N.N. Loan, Vị chỉ huy trưởng Tổng Nha CSQG can trường, xông xáo giữa lửa đạn, để chụp hình trận chiến khốc liệt đang diễn ra quanh khu vực Chợ Lớn, mặt trận Hàng Xanh, cầu Thị Nghè. Những công tác kề cận bên vị Tướng Tư lịnh CSQG oai hùng nầy tánh mệnh của ba cực kỳ nguy hiểm khi một chiếc áo giáp cũng không có, vủ khí trong tay chỉ là chiếc máy chụp hình. Cũng năm Mậu Thân tràn ngập khói lửa trong thành phố với mức độ khốc liệt, bạn bè của ba chết khá nhiều, ngày nào về ba cũng kể cho má nghe, rồi thì đến lượt ba tôi đã bị cộng sản giết chết trong khi đang thi hành nhiệm vụ.
Ba chết đi, cảnh sống thanh bần của gia đình tôi để lại ngôi nhà tan hoang trống lốc với má tôi, hãy còn rất trẻ, và bầy con tám đứa.
Má tôi, từ một bà nội trợ chân yếu tay mềm, đã phải xông xáo ra đường buôn bán nuôi bầy con, nay đã trở thành những Quốc Gia Nghĩa Tử.
Mấy bác đồng nghiệp của ba đã nói “ba cháu sanh nghề tử nghiệp”.

Thủy Quân Lục Chiến hợp ca” Chiến Sĩ Vô Danh” đầy cảm động.

Ông Phan Tấn Ngưu, Hội Trưởng Hội Ái Hữu Cảnh Sát Quốc Gia.

Bây giờ tôi cũng đam mê chụp hình, nhưng chỉ sắm cái compact gọn gàng để bóp, đi đâu cũng đem theo. Em trai tôi cũng sắm một dàn máy chụp hình có tầm cở mà mỗi tấm hình em trai chụp ra là một nghệ thuật tài hoa.
Mỗi khi nhà có đám tiệc họp mặt, có đầy đủ gia đình, tôi thường cầm máy chụp hình rà kiếm mấy đứa cháu xinh xắn dễ thương để năn nỉ, ỉ ôi hay nài ép chúng nó làm mẫu để tôi bấm vài kiểu. Có đứa thích được chụp hình thì ẹo qua ẹo lại làm dáng, đứa không thích chụp hình thì cái mặt chù ụ y chang tụi tôi hồi đó.
Một lần tôi chụp đứa em gái áp út, khi hình lên khung chuyển đi cho khắp mấy chị em, bà chị tôi cười quá trời vì con nhỏ nầy có cái trán in hệt ba tôi, vừa cao vừa rộng, đôi mắt thật lớn, miệng luôn mim mím, nhìn biết liền …con gái của ba. Em gái út thì khỏi nói, nó lấy hết nét đẹp của ba và má cộng hưởng. Tội nghiệp nhỏ em út nầy, không còn nhớ mặt ba, vì khi ba mất, nó mới lên 3 tuổi thôi.
Những tấm hình tôi chụp, luôn mang những nụ cười trẻ thơ, những kỷ niệm sinh nhật ngày Tết ngày lễ, và những hình ảnh tôi chộp bắt được trên đường đi làm, đâu đâu, tôi cũng đưa máy chụp hình lên nhắm, hình ảnh lung linh phía trước có khuôn mặt Ba, nụ cười mím chi rất đặc biệt luôn tươi tắn hiền lành, ba đẹp như Phan An, Tống Ngọc.
Ngày lễ Cha, tôi buồn nhiều lắm.
Từ năm Mậu Thân cho tới nay, đã qua 41 năm.
Má tôi đã trở thành một bà cụ già ốm nhom, cô đơn, tối ngày ngoài vườn chăm sóc mấy cây trái bông hoa . 41  năm, má tôi làm sương phụ nuôi dưỡng hình ảnh người chồng bạc mệnh thời chiến tranh.
Mơ ước như trẻ thơ, được một lần, đứng làm mẫu để ba chụp hình.
Nhất định là tôi sẽ cười, nụ cười đẹp nhất, để tươi hơn mấy nhánh bông mồng gà đỏ chói kia. Ước gì mình quay ngược được…thời gian.
Ngọc Anh.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.


The

Links:

Việt Báo- Viết Về Nước Mỹ.


Tống Lê Chân- Cuộc Bao Vây Dài Nhất – Trần Đỗ Cẩm

Trên đầu súng quê hương tổ quốc đã vươn mình….

Cố nhạc sĩ Anh Việt Thu – Youtube– Thúy Nga

1.Hình ảnh minh họa:  Diễn hành Torrance – Nam California.

BĐQ In Action.

 

2. Bài đọc suy gẫm nhân ngày Quân Lực VNCH:  Tống Lê Chân- Tiền Đồn Quá Xa – Trần Đỗ Cẩm

Trong lịch sử chiến tranh cận đại, có nhiều trận đánh lớn quân số đôi bên lên tới nhiều sư đoàn, hoặc với tầm mức quan trọng “dứt điểm” như trận Normandie, Stalingrad, Okinawa, Iwo Jima v.v… Trong cuộc chiến tranh vừa qua tại Việt Nam, chúng ta cũng thường nghe nói tới những trận đụng độ ác liệt như trận Hạ Lào, An Lộc, Quảng Trị, Pleiku v.v… So với những cuộc hành quân nổi tiếng kể trên, trận đánh tại Tống Lê Chân giữa một Tiểu Ðoàn Biệt Ðộng Quân QLVNCH và quân Cộng Sản không những chỉ nhỏ bé về tầm vóc mà còn cả về mức độ quan trọng.Trại Tống Lê Chân chẳng qua chỉ là một tiền đồn hẻo lánh gần biên giới Việt – Miên thuộc Vùng III Chiến Thuật có nhiệm vụ phát hiện sự xâm nhập của địch quân vào lãnh thổ VNCH. Tuy chỉ là một trận đánh nhỏ lại không mấy quan trọng, nhưng nếu kể về tinh thần chiến đấu can trường và sức chịu đựng phi thường của người lính chiến trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng, các chiến sĩ TÐ 92 BÐQ đã vượt trội và tạo nhiều thành tích có một không hai khiến trận đánh Tống Lê Chân trở thành có tầm vóc lịch sử, khác biệt và đáng chú ý hơn nhiều trận đánh lớn khác. Nhân dịp kỷ niệm ngày QLVNCH 19 tháng 6, chúng tôi tường thuật lại trận đánh oai hùng của TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân qua những tài liệu thâu thập được để tôn vinh các chiến sĩ Cọp Rừng Mũ Nâu. Ðây cũng là dịp tri ân toàn thể QLVNCH đã đổ nhiều xương máu bảo vệ quê hương.

Tống Lê Chân? Ðịa Danh Xa Lạ.

Cuộc chiến tranh dai dẳng tại Việt Nam ngoài mức độ khốc liệt, còn tạo ra những địa danh xa lạ. Nếu không có trận Tân Cảnh, Kon Tum, làm gì có những tên Charlie, Delta? Nếu không có trận Hạ Lào chắc cũng chẳng có LoLo, Sophia, BÐQ Bắc, BÐQ Nam v.v… Tống Lê Chân cũng là một tên rất lạ. Dân địa phương người Miên gọi vùng này là Tonlé Tchombe. Tonlé tiếng Miên có nghĩa là sông, hồ, suối hoặc nơi nào có nước. Thí dụ như Biển Hồ có tên Miên là Tonlé Sap. Khi mới thành lập, trại này chưa có tên nên Thiếu tá Ðặng Hưng Long, vị chỉ huy trưỏng đầu tiên phiên âm tiếng Miên Tonlé Tchombe thành tiếng Việt Tống Lê Chân. Sau này, phần đông các quân nhân trong binh chủng BÐQ biên phòng gọi tắt là Tống Lệ để ám chỉ một căn cứ đầy máu và nước mắt, không có một ngày yên vui kể từ khi ra đời.

Tiền đồn Tống Lê Chân nguyên thủy là một trại Dân Sự Chiến Ðấu (DSCÐ) (Civilian Irregular Defense Group gọi tắt là CIDG) do Lực Lượng Ðặc Biệt Hoa Kỳ thành lập từ năm 1967 để phát hiện và ngăn chận sự xâm nhập của Cộng quân từ bên kia biên giới. Ðến năm 1970 trong chương trình cải biến Lực Lượng Dân Sự Chiến Ðấu thành Biệt Ðộng Quân Biên Phòng, phần đông những binh sĩ của trại Tống Lê Chân thuộc sắc dân ngưởi thượng Stieng đều tình nguyện ở lại để trở thành Tiểu Ðoàn 92 BÐQ Biên Phòng, tổng cộng gồm 292 binh sĩ lúc khởi đầu, chưa kể một số sĩ quan QLVNCH giữ các chức vụ chỉ huy.

Trại Tống Lê Chân thuộc Vùng III Chiến Thuật được thành lập vào đầu năm 1967 cùng với trại Prek Klok tại vùng Chiến Khu C của Việt Cộng. Vì chận ngay yết hầu nên ngay từ khi thành lập, các trại này đã bị địch quân đe dọa thường xuyên. Trong hệ thống LLÐB, trại Tống Lê Chân mang ám danh A-334 và được biến cải thành trại BÐQ Biên Phòng vào ngày 30 tháng 11 năm 1970. Toàn thể quân số trong trại lúc đó có 318 người (gồm 292 người nguyên thuộc DSCÐ và các sĩ quan cùng Hạ Sĩ Quan QLVNCH mới được bổ nhiệm tới để chỉ huy) trở thành TÐ 92 BÐQ Biên Phòng thuộc hệ thống chỉ huy của BÐQ/QLVNCH.

Trại Tống Lê Chân trấn giữ một địa điểm quan yếu, chận ngay đường vào khu Tam Giác Sắt và án ngữ vùng Mỏ Vẹt, Lưỡi Câu thuộc Cam Bốt. Ðây là những an toàn khu và cũng là đại bản doanh Cục R của Việt Cộng như hai mũi dao nhọn chĩa vào cạnh sườn Quân Khu III. Trong các trận hành quân vượt biên của Quân Ðoàn III do Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí chỉ huy vào năm 1970, trại Tống Lê Chân đã đóng một vai trò quan trọng trong nhiệm vụ phát hiện và diệt địch. Căn cứ được thiết lập trên một ngọn đồi cao chừng 50 thước, trông xuống hai con suối nhỏ dân địa phương gọi là Takon và Neron. Ðây là những lạch nước khởi nguồn của sông Sài Gòn chảy qua Dầu Tiếng, Bến Súc, Phú Cường v.v…. Tống Lê Chân, như trên đã nói là một trong chuỗi trại Dân Sự Chiến Ðấu do LLÐB thiết lập dọc theo biên giới Miên – Việt thuộc lãnh thổ Quân Khu III.

Về vị trí, trại Tống Lê Chân nằm trong vùng ranh giới của hai tỉnh Tây Ninh và Bình Long, cách An Lộc chừng 15 cây số về hướng Tây Nam và mũi nhọn của chiếc Mỏ Vẹt chứng 13 cây số về hướng Ðông Nam. Dưới chân căn cứ là con đường 246 nối liền Chiến Khu C và Chiến Khu D của Việt Cộng. Ðây cũng là trục giao liên Nam – Bắc huyết mạch nối liền bản doanh của Cục R bên Cam Bốt và vùng Dầu Tiếng với Khu Tam Giác Sắt của Cộng Quân.

Với vị trí chiến lược vô cùng quan trọng có thể kiểm soát được các trục giao liên Nam – Bắc và Ðông – Tây của Cộng Quân tại vùng biên giới, lại trấn giữ sườn Tây cho thị trấn An Lộc, Tống Lê Chân như chiếc gai nhọn cần phải nhổ bằng mọi giá trên sa bàn trận liệt của địch. Vào mùa hè năm 1972, cùng với các trận cường tập có pháo binh và chiến xa nặng của Công quân vào vùng Lộc Ninh, Chơn Thành và An Lộc, các căn cứ biên phòng lân cận Tống Lê Chân như Thiện Ngôn, Katum, Bù Gia Mập đã phải di tản. Tống Lê Chân chơ vơ còn lại như một hải đảo cô đơn giữa biển người cộng quân trùng điệp.

Tứ Bề Thọ Ðịch

 

Nhằm mục đích mở rộng đường giao liên cũng như giữ bí mật các cuộc chuyển quân xâm nhập từ biên giới Miên – Việt vào lãnh thổ Quân Khu III, ngày 10 tháng 5 năm 1972, Cộng quân dồn lực lượng đánh biển người vào căn cứ Tống Lê Chân quyết nhổ cái gai trước mắt. Quyết san bằng căn cứ, địch quân dùng đại pháo 130 ly cùng với đủ loại súng cối, sơn pháo bắn phủ đầu như mưa vào căn cứ theo đúng chiến thuật lấy thịt đè người “tiền pháo hậu xung”. Trận pháo kích khốc liệt này chính thức mở đầu cho gần hai năm trời vây hãm. Sau loại pháo vòng cầu, nhiều đợt pháo cấp tập bắn thẳng vào Tống Lê Chân như muốn san bẳng căn cứ nhỏ bé nằm lẻ loi trên ngọn đồi. Trong khi đó, một rừng phòng không từ thượng liên đến cao xạ 37 ly, 57 ly và cả hỏa tiễn tầm nhiệt thuộc sư đoàn Pháo Phòng Không tân lập 377 khoá kín không phận khiến các phi cơ không thể nào tới gần để yểm trợ. Sau những đợt pháo kích dữ dội, Tiểu Ðoàn độc lập 200 của Việt Cộng lãnh nhiệm vụ tấn công vào Tống Lê Chân với sự yểm trợc của các đơn vị bộ binh thuộc hai Công Trường 7 và 9.

Tuy bị bao vây và cô lập, các chiến sĩ Mũ Nâu thiện chiến của TÐ 92 BÐQ đã bình tĩnh bố trí trong các giao thông hào đào sâu trong lòng đất chờ địch ngay khi các quả đạn pháo kích đầu tiên rơi vào căn cứ. Một đơn vị đặc công địch theo sát những trái pháo mở đường đã xâm nhập được vòng đai phòng thủ bên ngoài. Những chiến xa hạng nặng T-54 của Cộng quân yểm trợ cũng nã đạn như mưa rất chính xác khiền tình hình có vẻ nguy kịch. Nhưng quân trú phòngvẫn không nao núng vì rất tin tưởng vào hệ thống bố phòng vững chãi và nhất là bãi mìn dầy đặc bao quanh căn cứ. Dưới sự chỉ huy đầy kinh nghiện của Thiếu Tá TÐT Lê Văn Ngôn, các chiến sĩ BÐQ vẫn chưa khai hỏa. Họ chờ bộ binh chủ lực địch xung phong mới bắt đầu nổ súng. Quả nhiên, khi thấy không bị bắn trả, Cộng quân bắt đầu tràn vào căn cứ vì tưởng quân trú phòng đã bị chết hết hay mất tinh thần vì các đợt pháo kích ác kiệt cũng như vì chiến xa với đại bác 100 ly trực xạ. Ðúng lúc đó, các chiến sĩ Mũ Nâu mới đồng loạt khai hỏa. Từng đợt “biển người” của Cộng quân bị bất ngờ nhưng vì đã tiến tới quá gần không kịp tìm nơi ẩn trú nên bị đốn ngã như rạ. Sau đợt tấn công đầu tiên bị thiệt hại nặng, địch lui ra để pháo binh tiếp tục nã vào căn cứ, sau đó bộ binh lại tấn công. Sau nhiều đợt xung phong vô hiệu quả, cuối cùng Cộng quân phải rút lui, bỏ lại hàng trăm xác chết phơi thây trên hàng rào phòng thủ.

Cũng trong thời gian này, các mặt trận lớn khác tại vùng Hỏa Tuyến, Tây Nguyên, An Lộc … bùng lên dữ dội với những cuộc đụng độ đẫm máu của một Mùa Hè Ðỏ Lửa, trận đánh tại Tống Lê Chân tuy là một chiến thắng lớn của các chiến sĩ BÐQ nhưng không được nhiều người biết tới. Nhưng từ khi cuộc “thử lửa” ban đầu bị thất bại nặng nề, Cộng quân biết rằng không thể dễ dàng nuốt chửng Tống Lê Chân nên chúng chủ trương dùng chiến thuật tiêu hao, bao vây chặt chẽ và pháo kích thường xuyên với đặc công xâm nhập quấy phá. Chúng tin rằng chiến trường An Lộc lân cận có tầm mức quan trọng hơn và nếu đạt được chiến thắng, Tống Lê Chân không cần phải đánh cũng sẽ tự tan rã. Cuộc bao vây dài nhất trong quân sử bắt đầu …

Một vị niên trưởng Biệt Động Quân

Cứ như vậy, tiền đồn Tống Lê Chân bị Cộng quân vây chặt. Ðịch pháo kích thường xuyên vào căn cứ, trong khi màng lưới phòng không dầy đặc cắt đứt nguồn tải thương và tiếp vận duy nhất bằng phi cơ. Thoạt tiên, các phi cơ vận tải C-130 của Không Quân Việt Nam đã phải bay rất cao để thả dù tiếp tế khiến nhiều kiện hàng bay lạc ra ngoài, rơi vào tay Cộng quân. Theo lời kể lại của một hồi chánh viên, vào khoảng tháng 6-1973, Cộng quân đã tổ chức một đại đội có nhiệm vụ chuyên đi “lượm dù” để lấy đồ tiếp tế. Vì vậy, đã có dư luận từ các nguồi tin ngoại quốc cho rằng đôi bên đã ngầm thỏa thuận để các vận tải cơ được tự do thả dù mà không bị phòng không bắn lên, miễn là quân trú phòng không bắn vào toán Cộng quân lượm dù bên ngoài. Sau này, khi rút tỉa kinh ngiệm, KQVN đã hoàn chỉnh được kỹ thuật thả dù tiếp tế nên số lượng đồ tiếp vận thất thoát không còn dáng kể.

Riêng các phi cơ trực thăng, phương tiện duy nhất để tản thương hay chở quân tăng viện không thể nào bay lọt lưới phòng không dầy đặc của địch. Nhiều toán trực thăng đã liều lĩnh bay vào Tống Lê Chân chẳng những không đạt được nhiều thành công, lại bị thiệt hại khá nặng. Trong khoảng thời gian từ tháng 10-73 đến cuối tháng 1-74, có khoảng 20 phi vụ trực thăng nhằm tản thương và tiếp tế cho Tống Lê Chân, nhưng chỉ có 6 trực thăng hạ cánh được, trong số này có 3 chiếc bị bắn hư hại trên bãi đáp. Cuối tháng 12-73, một trực thăng Chinook CH-47 cũng bị bắn rơi khi hạ cánh. Ðây là chiếc trực thăng thứ 13 bị trúng đạn phòng không địch chỉ nội trong tháng 12/73. Thiệt hại về phía KQVN gồm 9 chết, 36 bị thương. Tới tháng 1-1974 tức là một năm sau khi ký kết hiệp định ngưng bắn, vẫn còn có 12 chiến sĩ BÐQ bị thương nặng vẫn chưa được tản thương khỏi căn cứ.

Ngưng Chiến Kiểu Việt Cộng

Tuy căn cứ Tống Lê Chân bị Cộng quân khởi sự tấn công vào tháng 5 năm 1972, nhưng bị vây hãm và tấn công dữ dội nhất vào lúc thỏa ước nhưng bắn được thi hành tại Việt Nam theo khuôn khổ hiệp định Paris. Ðây cũng là một điểm đặc biệt có một không hai trong cuộc chiến tại Việt Nam cũng như trong lịch sử chiến tranh thế giới: môt hiệp ước ngưng bắn bị vi phạm ngay sau khi vừa ký kết! Cộng quân, có lẽ đang cay cú vì thất bại chua cay không chiếm được An Lôc, nay cố chiếm một mảnh đất khỉ ho cò gáy gần biên giới Việt – Miên để có một chỗ cho Cục R ra mắt. Trong lúc toàn thể thế giới thở phài nhẹ nhỏm vì ngòi lửa chiến tranh tại Việt Nam có thể đưa đến hiểm họa chiến tranh giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản không còn nữa, thì tại Tống Lê Chân, TÐ 92 BÐQ vẫn đơn độc ngày ngày hứng pháo và dành dựt với Cộng Quân từng thước đất để sống còn.

Tuy Cộng Quân trắng trợn và công khai vi phạm thỏa ước ngưng bắn, nhưng ngưới bạn đồng minh Hoa Kỳ của VNCH vẫn dửng dưng không hề có một lời phản đối dù lấy lệ, dường như còn say men rượu mừng vì đã tìm thấy “ánh sáng ở cuối đường hầm”. Dĩ nhiên họ cũng chẳng có một phản ứng hay hành động tích cực nào thuận lợi cho VNCH. Ngay cả Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát Ðình Chiến cũng không can thiệp. Vì vậy, trước những vi phạm trắng trợn và lộ liễu của Cộng quân tại Tống Lê Chân, trong phiên họp ngày 17-3-73, trưởng phái đoàn VNCH là tướng Dư Quốc Ðống đã phải đặt vấn đề Tống Lê Chân lên bàn hội nghị với ba giải pháp như sau:

1. Cử một tổ Liên Hợp Quân Sự bốn bên đến Tống Lê Chân để điều tra tại chỗ các sự vi phạm.
2. Nếu phe CS phản đối, sẽ yêu cầu UB Kiểm Soát Ðình Chiến can thiệp.
3. Yêu cầu các đơn vị Cộng quân quanh Tống Lê Chân không được bắn lên phi cơ của UBQT.

Dĩ nhiên đề nghị hợp lý của phái đoàn VNCH bị phe Cộng Sản phản đối vì chính chúng là kẻ vi phạm. Trần Văn Trà, trung tướng trưởng phái đoàn MTGPMN cố ý vắng mặt để tên đạt tá Ðặng Văn Thu thay thế. Tên Thu một mặt vu khống chính VNCH mới là phe vi phạm ngưng bắn, một mặt tự coi là không đủ thẩm quyền quyết định nên yêu cầu mở một cuộc họp khác để bàn về Tống Lê Chân với sự hiện diện của Trần Văn Trà. Về các đề nghị thứ hai và thứ ba của phái đoàn VNCH, phe Cộng sản cũng “nhất trí” phản đối, ngoài ra còn dọa dẫm các thành viên trong UHQT rằng tình hình tại Tống Lê Chân “chưa rõ rệt” nên họ không bảo đảm an ninh cho phái đaòn cũng như phi cơ của Ủy Hội.

Tóm lại, cả phe Cộng sản trong UBLH và UHQT đều đồng thanh tránh né việc điều tra vi phạm ngưng bắn tại Tống Lê Chân, lúc thì chờ chỉ thượng cấp quyết định, khi lại không bảo đảm an ninh.

Ðến ngày 23-3-73 tức là chỉ còn 4 hôm nữa là hết hạn 60 ngày làm việc của UBLH bốn bên, phái đoàn Hoa Kỳ mới yêu cầu chiếu lệ Gia Nã Ðại là chủ tịch UBQT điều tra về vụ Tống Lê Chân. Phía Việt Cộng đưa tên đại tá một mắt Võ Ðông Giang ra thảo luận với đại tá Lomis của Gia Nã Ðại và thỏa thuận cử sĩ quan liên lạc của MTGPMN theo UHQT tới Tống Lê Chân vào ngày 24-3-73. Nhưng đó cũng chỉ là mánh lới tiểu xảo cố hữu của Cộng Sản: tới ngày hẹn, viên sĩ quan liên lạc này đã “trễ trực thăng” nên máy bay của UHQT không đi Tống Lê Chân được!

Như vậy, với sự tráo trở và lọc lừa cố ý của Cộng sản, việc điều tra tại Tống Lê Chân đã không bao giờ được thực hiện. Số phận của Tống Lê Chân đành phó thác cho định mệnh và TÐ 92 BÐQ phải tự chiến đấu một mình để sống còn.

Vòng Vây Xiết Chặt

 

Suốt năm 1973 kể từ ngày ngưng bắn, trong lúc Việt Cộng giở thủ đoạn hèn hạ tại bàn hội nghị, Tống Lê Chân bị bao vây chặt chẽ và bị tấn công hàng chục lần nhưng vị trí vẫn đứng vững như một khúc xương khó nuốt. Nhả ra không được vì bị Tống Lê Chân chận nghẹn ngay yết hầu, nuốt vào thì không xong vì các chiến sĩ Mũ Nâu rất kiên cường không chịu nhượng bộ một tấc đất, Cộng Quân chỉ còn cách bao vây “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Tuy phòng không địch dầy đặc bao quanh căn cứ nhưng phi cơ VNCH đôi khi vẫn liều lĩnh bay lọt qua màng lưới của tử thần để tản thương và tiếp tế. Việc tiếp tế cho Tống Lê Chân bằng dù khá hiệu quả, nhưng vì chu vi phòng thủ quá hẹp nên có một số đồ tiếp liệu bị lọt vào tay địch.

Qua năm 1974, trong khi các phái đoàn “Kiểm Soát” tranh luận dằng co, tình hình tại Tống Lê Chân ngày càng nguy ngập sau cả năm trời bị bao vây. Thời gian càng trôi qua, phần bất lợi càng nghiêng về phía quân trú phòng. Bị cả sư doàn địch quân phong tỏa chặt chẽ và bị tấn công thường xuyên, quân số BÐQ ngày càng hao hụt không được bổ xung. Lúc này, TÐ 92 BÐQ chỉ còn lại 255 người, trong số đó có nhiều thương binh. Việc tiếp tế lại không được đầy đủ vì phi cơ thả dù bị phòng không chận bắn. Về mặt tinh thần cũng sa sút phần nào vì bị vây hãm quá lâu ngày và áp lực liên miên . Tuy vậy, Tống Lê Chân vẫn còn đứng vững như một biểu tượng hùng hồn cho lòng quả cảm và sức chiến đấu kiên cường của các chiến sĩ BÐQ.

Nhưng để giữ vững Tống Lê Chân, QLVNCH tính ra đã phải trả một giá quá đắt: sự thiệt hại về nhân mạng mỗi ngày một cao, việc dùng phi cơ để yểm trợ và thả dù tiếp tế đã trở thành một gánh quá nặng cho KQVN lúc đó phương tiện không còn được dồi dào như lúc Hoa Kỳ còn tham chiến. Hơn nữa, tuy Tống Lê Chân chiếm giữ một vị trí khá qun trọng nhưng vẫn chỉ là một tiền đồn nên giá trị quân sự không thể so sánh với các căn cứ chính cần phải bảo vệ khác, do đó không nhất thiết phải giữ bằng mọi giá. Vì không thể chia bớt lực lượng để yểm trợ Tống Lê Chân, đã đến lúc BTL/QÐ III phải có một quyết định dứt khoát để giải quyết vấn đề Tống Lê Chân để chấm dứt tình trạng bất lợi.

Do đó, vào ngày 23-3-73, tướng Phạm Quốc Thuần, Tư Lệnh QÐ III đề nghị với Bộ TTM/QLVNCH chọn một trongba giải pháp sau đây:

1. Mở một cuộc hành quân cấp sư đoàn từ An Lộc để giải tỏa áp lực, tăng cường, thay thế hay di tản TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân.
2. Cho phép thương lượng với Cộng quân, giao Tống Lê Chân cho chúng để đổi lấy sự di tản an toàn của các chiến sĩ Mũ Nâu trú phòng.
3. Cho lệnh TÐ 92 BÐQ được di tản khỏi căn cứ bằng những toán nhỏ để tránh bị tiêu diệt hoàn toàn.

Về giải pháp một, theo tình hình lúc đó, toàn bộ vùng Lai Khê, An Lộc chỉ có đơn độc một sư đoàn 5 chống giữ, hiện đang phải đương đầu với các Công Trường 5, 7 và 9 của Cộng quân. Vì vậy, ngay cả việc giữ an ninh trục lộ huyết mạch 13 cũng còn khó khăn, chưa đủ quân số, nói chi đến việc mở đường tới tận Tống Lê Chân để tăng viện? Hơn nữa, dù một sư đoàn có thể đảm đương trọng trách tiếp viện, nhưng kiếm đâu ra sư đoàn này trong lúc các đại đơn vị QLVNCH tuy đã phải phân tán rất mỏng nhưng cũng vẫn chưa đủ để trám vào những vùng quan trọng Hoa Kỳ vừa rút quân để lại?

Như vậy, giải pháp 1 coi như không thể thực hiện được. Nhưng nếu giải pháp 1 bất thành vì lý do quân sự thì giải pháp 2 cũng thiếu thực tế vì lý do chính trị. Nếu “bàn giao” Tống Lê Chân cho Cộng quân, hậu quả tai hại về chính trị sẽ không thể lường được. Quân và dân Miền Nam sẽ vô cùng hoang mang. Tổng Thống Thiệu sẽ rất khó ăn khó nói vì mới hô hào “dành dân chiếm đất” trước đây không lâu. Vả lại, nếu giao Tống Lê Chân cho Cộng Quân, việc này có thể sẽ trở thành tiền lệ đưa tới nhiều cuộc bàn giao kiểu Tống Lê Chân khác.

Do đó, tuy đề nghị ba giải pháp, nhưng tướng Thuần biết rỏ chỉ còn một con đường khả trợ duy nhất: đó là cho phép TÐ 92 BÐQ rút khỏi Tống Chân. Nhưng quyết định rút bỏ này không phải là không có hậu quả nghiêm trọng về quân sự cũng như chính trị. Hơn nữa, việc rút quân qua vòng vây trùng điệp của Cộng Quân cũng không phải là điều dễ dàng. Chính vì những lý do này mà BTL/QÐ III phải hội ý trước với Bộ TTM. Rất có thể, ngay Bộ TTM cũng không quyết định được, mà việc rút quân phải do chính Tổng Thống cho phép.

Trong khi chờ đợi quyết định dứt khoát từ trung ương, tình hình tại Tống Lê Chân trở nên hết sức căng thẳng và sôi động từng giờ, từ trầm trọng đến nguy kịch. Bị bao vây cả năm trời, thiếu lương thực, thiếu đạn dược, quân số hao hụt, thương binh ngày càng nhiều không được di tản, bị pháo liên miên, đặc công đánh phá ngày đêm … khiến TÐ 92 BÐQ ngày càng suy yếu. Tuy nhiên, các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn kiên cường giữ vững căn cứ bằng mọi giá. Và cuộc bao vây dài nhất trong quân sử vẫn tiếp tục.

Tử Thủ Ðến Cùng

Ðể giảm bớt phần nào áp lực vô cùng nặng nề của khoảng 3 Sư Ðoàn địch quanh Tống Lê Chân, vào ngày 23/7/74, phi cơ của Không Quân VNCH bay trên 30 phi vụ dội bom vào các vị trí Cộng Quân trên trận địa. Nhưng phòng không địch rất dầy đặc nên phi cơ qanh tạc không mấy hiệu quả. Ngoài ra, lực lượng địch quá đông nên chúng vẫn không chịu rút lui để tránh thiệt hại mà ngược lại còn gia tăng cường độ tấn công để sớm thanh toán mục tiêu.

Trong khoảng thời gian liên tiếp 3 ngày từ 22 đến 24/3/74, Cộng Quân dùng đủ loại đại pháo 130 ly, hỏa tiễn 122 ly, súng cối 82 ly v.v… nã hơn 1,000 quả đạn vào tiền đồn Tống Lê Chân nhỏ bé, nơi có khoảng 300 chiến sĩ TÐ 92 BÐQ đang bị vây hãm. Tuy phi cơ được gọi đến oanh kích và thả trái sáng yểm trợ, nhưng hỏa lực phòng không vô cùng dữ dội của Sư Ðoàn Phòng Không 377 địch với các loại hỏa tiễn tầm nhiệt SA-7, đại bác 57 ly, 37 ly và thượng liên đã đan một màn lưới lửa đầy đặc quanh Tống Lê Chân khiến mọi hoạt động của phi cơ đều vô hìệu. Bên trong trại, các chiến sĩ Mũ Nâu chỉ còn cách co mình chịu pháo. Nhiều công sự phòng thủ cũng như vị trí chiến đấu bị hư hại vì cơn mưa pháo. Tuy nhiên, Trung Tá Lê Văn Ngôn, vị Tiểu Ðoàn Trưỏng, tuy mới có 25 tuổi nhưng dầy dạn kinh nhiệm chiến trường vẫn bình tĩnh đôn đốc và ra lệnh cho binh sĩ trực thuộc chuẩn bị phản công sau mỗi đợt pháo kích. Quả nhiên, liên tiếp trong 2 đêm 21 và 22/3/74, sau khi “tiền pháo”, khoảng một trung đoàn bộ binh địch “hậu xung” dữ dội cả bốn phía định san bằng tiền đốn nhỏ bé bị vây hãm đã lâu ngày. Nhưng TÐ 92 BÐQ bắn trả dữ dội, tuy đạn dược khan hiếm nhưng họ tác xạ rất chính xác, đẩy lui nhiều đợt tấn công biển người. Có lúc vì Cộng Quân quá đông, các chiến sĩ Mũ Nâu bắn không xuể nên một số đã lọt vào lớp hàng rào phòng thủ. Nhiều trận cận chiến bằng lựu đạn diễn ra ác liệt. Quân trú phòng được lợi thế vì trú ẩn trong các hầm hố kiên cố nên đã gây thiệt hại nặng cho địch quân. Cuối cùng, trước tinh thần chiến đấu dũng mãnh và can trường của TÐ 92 BÐQ, địch đành ôm hận rút rui để lại nhiều xác đồng bọn và đủ loại vũ khí.

Tuy vẫn giữ vững được vị trí nhưng tình trạng bên trong căn cứ vô cùng bi đát. Thương binh mỗi lúc một nhiều thêm vì không được tản thương. Ðạn dược gần cạn vì các trận đánh liên tục, lương thực thiếu thốn vì không được tiếp tế đã nhiều ngày, ngay cả đên nước uống cũng khan hiếm. Hơn nữa, sau mỗi đợt tấn công bị thất bại, Cộng Quân lại điên cuồng pháo kích dữ dội hơn.

Trước tình thế nguy ngập như chỉ mành treo chuông, Trung Tá Ngôn biết rõ nếu không được tản thương, tăng viện, yểm trợ và tiếp tế hữu hiệu ngay tức khắc, việc giữ Tống Lê Chân hầu như không thể làm nổi. Trong lúc đó, biết được tình trạng cực kỳ bi đát của quân trú phòng, Cộng Quân chung quanh đồn dùng loa phóng thanh uy hiếp tinh thần và kêu gọi TÐ 92 BÐQ đầu hàng. Nhưng Trung Tá Ngôn vẫn không rối trí. Một mặt ông ra lệnh cho các binh sĩ bố phòng chặt chẽ để nhất định đánh tới người cuối cùng. Mặt khác, ông gửi công điện khẩn cấp cho Ðại Tá Nguyễn Thành Chuẩn, CHT Liên Ðoàn 3 BÐQ tại An Lộc yêu cầu thả dù tiếp tế gấp khí giới, đạn dược và lương thực cho quân trú phòng. Trung Tá Ngôn cũng yêu cầu gửi quân tiếp viện và gia tăng sự yểm trợ của phi cơ. Nhưng các phi cơ dù liều lĩnh cũng không thể nào bay qua được hàng rào phòng không và quân tiếp viện cũng chẳng bao giờ tới. Tuy nhiên, dù trong tình trạng tuyệt vọng, các chiến sĩ anh dũng của TÐ 92 BÐQ vẫn nhất quyết không hàng địch. Trung Tá Ngôn còn cho biết nếu bị địch tràn ngập, ông sẽ yêu cầu dội bom phá hủy Tống Lê Chân để cùng chết với địch quân.

Các cháu BĐQ thế hệ thứ ba

Sĩ quan Quân Lực Hoa Kỳ và Biệt Kích Phạm Hòa.

Hình ảnh Chiến sĩ (Nam Quân- phe thua trận) thời Nội chiến Nam Bắc Hoa Kỳ

M113- Thiết giáp lội nước tiện dụng trong chiến tranh Việt Nam được cải tiến “ngầu” hơn xưa

Ô hay! Có anh lính trẻ đội nón binh chủng Thiết Giáp bế cả con theo 🙂

Nhận được công điện cầu cứu của TÐ 92 BÐQ, Ðại Tá Chuẩn lập tức chuyển lời yêu cầu tiếp viện lên BTL/QÐ II. Nhưng Tướng Thuần cho biết vẫn chưa nhận được chỉ thị nào của Bộ TTM về đề nghị tăng viện hay di tản căn cứ! Trong lúc Tống Lê Chân như ngọn đèn leo lét trước trận cuồng phong, có thể bị tràn ngập bất cứ lúc nào, nhưng lệnh trên vẫn là “chờ”!

Cho tới giờ phút này, quân số tại Tống Lê Chân gồm có 254 BÐQ, 4 binh sĩ Pháo Binh, 12 lao công chiến trường và 7 nhân viên phi hành đoàn trực thăng bị bắn rơi. Tuy tổng cộng gần 300 nhân mạng nhưng thật sự hầu hết trong số này đã bị thương ít nhất một lần. Hơn nữa, bị vây hãm lâu ngày trong tình trạng thiếu thốn nên khả năng chiến đấu đã bị yếu đi rất nhiều.

Về phía Cộng Quân, tuy đã bị thiệt hại rất nặng nhưng lại được tăng viện và bổ xung nhanh chóng từ các an toàn khu bên Cam Bốt nên sức mạnh coi như không suy giảm. Trong lúc chỉnh đốn hàng ngũ, địch ngơi tấn công nhưng vẫn pháo kích dữ dội. Rút kinh nghiệm những trận tấn công trước đã bị thất bại chua cay, Cộng quân biết tuy TÐ 92 BÐQ sẽ chiến đấu cho đến phút chót nhưng như cá nằm trong rọ nên chúng thong thả nghỉ ngơi dưỡng quân, cố ý để quân trú phòng kiệt quệ tới mức tối đa mới tấn công dứt điểm để đỡ bị thiệt hại. Và chuyện phải đến đã đến!

Những Ðợt Cường Tập Liên Tiếp

 

Ròng rã trong các đêm 24, 25 và 26/3/74, Cộng quân sau khi bổ xung đầy đủ đã lìên tiếp mở những đợt xung phong biển người ồ ạt quyết san bằng Tống Lê Chân. Tuy đã gần kiệt sức, các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn cắn răng chờ địch trong những giao thông hào đổ nát vì đạn pháo kích. Trung tá Ngôn và các cấp chỉ huy cũng sát cánh trong các công sự phòng thủ với thuộc cấp, ra lệnh phải tiết kiệm từng viên đạn, chỉ được bắn khi thật “chắc ăn”. Giá của mỗi viên đạn phải là một quân thù. Rồi hàng hàng lớp lớp Cộng Quân tràn tới giữa tiếng hò la man đại “hàng sống, chống chết”! Ðúng lúc này, các chiến sĩ BÐQ mới cắn răng xiết chặt cò súng. Ðịch đã xâm nhập hàng rào kẽm gai phòng thủ ngoài cùng, nhưng lập tức bị khựng lại vì gắp phải bức tường lửa từ trong bắn ra rất chính xác. Xác địch chồng chất trên trận địa hay vất vưởng trên hàng rào kẽm gai. Nhưng địch quá đông, nhất định “dứt điểm” nên chúng vẫn liều lĩnh xung phong. Chẳng bao lâu, chúng tràn tới hàng rào thứ hai. Lúc này một loạt mìn “Claymore” nổ tung khiến nhiều xác giặc tan thành mảnh vụn. Tiếng súng nổ, tiếng la hét cùng với mùi thịt, mùi máu, mùi thuốc súng tạo nên một khung cảnh khủng khiếp. Nhiều chiến sĩ BÐQ quá mệt mỏi và căng thẳng gần như ngất xỉu vì những trận tấn công liên tiếp đêm này qua đêm khác nhưng vẫn không rời tay súng.

Ðịch quân quá đông, lớp này chết, lớp khác đạp lên xác đồng bạn tiến tới. Trong đêm tối, phi cơ không thể yểm trợ hỏa lực; dù có ban ngày đi nữa cũng khó bay qua màng lưới phòng không. Trên bầu trời đen kịt, chỉ có vài đóm hỏa châu do phi cơ bay thật cao thả xuống, không đủ soi sánh trận địa, trông leo lét và mong manh như số phận của gần 300 chiến sĩ đang tử chiến với quân thù. Ðịch đã tràn gần tới hàng rào phòng thủ sau cùng, đôi bên giáp mặt. Các chiến sĩ Mũ Nâu buông những cây súng đỏ nòng, với tay tìm lựu đạn. Nhiều tiếng nổ chát chúa giúp hàng loạt những con thiêu thân thực hiện lời thề “sinh Bắc tử Nam”. Lại một loạt lựu đạn thứ hai tung ra giết hết những tên địch còn sống sót trong đợt xung phong này. Bên ngoài hàng rào, không còn những bóng người đầu đội nón cối, chân đi dép râu di động như trước. Sau đó, mặt trận bỗng nhiên im bặt không còn những tiếng la hét hô xung phong man dại. Những tên địch ngoài xa may mắn còn sống sót biết không thể xâm nhập căn cứ nên vội vã lẩn vào bóng đêm. Ðợt xung phong cuối cùng của địch đã bị chận đứng tuy chúng đã lọt được gần tới hàng rào phòng thủ sau cùng.

Một lần nữa, Cộng Quân tuy đông hơn nhưng lại bị thất bại chua cay trước sự quả cảm và tinh thần chiến đấu gan dạ vô song của các chiến sĩ TÐ 92 BÐQ. Cùng với lời nguyền “Thà chết không hàng giặc”, căn cứ Tống Lê Chân tuy tan nát như TÐ 92 đang tan nát, nhưng vẫn đứng vững như một phép lạ. Vỏn vẹn một Tiểu Ðoàn QLVNCH vẫn giữ vững được vị trí sau khi bị bao vây hàng năm trời với nhiều đột tấn công của hàng Sư Ðoàn địch? Các “cố vấn” Hoa Kỳ còn sót lại tại BTL/QÐ III đã vô cùng kinh ngạc. Trước đây họ đã cho rằng số phận của Tống Lê Chân coi như đã “xong”, vì theo ước tính của những người lạc quan nhất, ngay cả quân đội Hoa Kỳ với hỏa lực khủng khiếp của thảm bom “Arc Light” B-52 và đại pháo 175 cũng khó lòng giữ nổi Tống Lê Chân trong vòng vài ba tuần. Phía Công quân lại càng sững sờ vì chúng tưởng sẽ ăn tươi miếng mồi béo bở nhưng lại gặp phải cục xương khó nuốt. Sau nhiều cuộc tấn công thất bại và bị thiệt hại nặng nề, chúng đành ôm hận, lập lại sa bàn trận địa, bổ sung quân số, rút ưu khuyết điểm chờ ngày rửa hận.

Trong những ngày kế tiếp và suốt tuần lễ đầu tiên của tháng 4/74,Cộng Quân không giám tấn công mạnh vào Tống Lê Chân. Chúng chỉ dùng đặc công quấy rối nhưng mức độ pháo kích vẫn không giảm. Nhưng “mãnh hổ nan địch quần hồ”, các chiến sĩ Mũ Nâu đã không còn sức chiến đấu. Ðến lúc này, thượng cấp vẫn chưa có quyết định dứt khoát về việc tăng viện hay rút bỏ Tống Lê Chân. Cả Phủ Tổng Thống, Bộ TTM lẫn BTL/QÐ III đều lâm vào thế “tiến thối lưỡng nan” không có cách nào giải quyết vấn đề. Sau 17 tháng trời ròng rã bị vây hãm, pháo kích và tấn công liên miên TÐ 92 BÐQ hầu như không còn phương cách nào để thoát khỏi viễn ảnh bị tiêu diệt.

Trận Ðánh Sau Cùng Của TÐ 92 BÐQ

 

Nhưng tình trạng tạm thời sống lây lất không còn kéo dài được bao lâu. Tống Lê Chân như một con cá phơi mình trên thớt không còn phương cách tự vệ, nằm chờ lưỡi dao chém xuống. Và lưỡi dao đã rơi …

Ngày 11/4/74, sau khi tái điều nghiên, bổ xung lực lượng, Cộng quân mở những cuộc tấn công ác liệt quyết đạt được chiến thắng bằng mọi giá. Trong ngày chúng pháo kích mù mịt không dưới 1,000 quả đạn vào căn cứ đã tan nát trong các cuộc tấn công trước. TÐ 92 BÐQ lúc này đã kiệt lực, hết đạn, một số lớn binh sĩ lại bị thương nên không còn sức chống trả những đột tấn công mãnh liệt của đối phương. Nhưng dù tình thế đã đến lúc tuyệt vọng nhưng Trung Tá Ngôn vẫn không ra lệnh rời bỏ căn cứ khi chưa có lệnh của thượng cấp. Trước những loạt đạn pháo kích chính xác và các đợt tấn công biển người, vị TÐT anh hùng biết chắc không thể nào phòng thủ được nữa nên khẩn cấp yêu cầu thượng cấp cho lệnh di tản trước khi căn cứ bị địch quân tràn ngập. Trung Tướng Thuần, Tư Lệnh QD III – không rõ có tham khảo ý kiến của Bộ TTM hay Phủ Tổng Thống hay không – ra lệnh cho Trung Tá Ngôn phải “tử thủ bằng mọi giá”!

Nhưng TÐ 92 BÐQ sau hơn một năm trời bị vây hãm, bị pháo kích và tấn công liên miên bởi một lực lương địch quân đầy đủ vũ khí và đông hơn nhiều lần, lại thiếu đạn dược, lương thực, quân số hao hụt không được bổ xung nên đã chẳng còn giá nào để trả! Các chiến sĩ Mũ Nâu không còn nhiều chọn lựa: ở lại căn cứ chắc chắn sẽ bị chết hay bị bắt hết vì không còn cách nào ngăn chận địch quân hoặc đầu hàng để tìm con đường sống. Nhưng theo truyền thống hào hùng của binh chủng Mũ Nâu, dù trong lúc thập tử nhất sinh cũng vẫn không hàng địch. Trung Tá Ngôn đã đưa ra một quyết định vô cùng táo bạo: dùng toàn lực phá vòng vây, rời bỏ căn cứ, tuy có thể bị chết hết nhưng may ra sẽ đưa đơn vị tới một nơi an toàn.

Sau khi quyết định xong, vào khoảng nửa đêm 11/4, căn cứ Tống Lê Chân báo cáo nguy cơ sắp bị địch quân tràn ngập. Sau đó, mọi giấy tờ, tài liệu quan trọng đã được thiêu hủy đúng theo kế hoạch di tản để không bị lọt vào tay địch. Lúc dó, chỉ có phi cơ bay thật cao thả hỏa châu yểm trợ. TÐ 92 BÐQ yêu cầu phi cơ ngưng thả trái sáng để đơn vị nương theo bóng tối rời bỏ căn cứ. Dưới sự chỉ huy gan dạ của vị TÐTtrẻ tuổi vả tinh thần kỷ luật của toàn thể binh sĩ, TÐ 92 BÐQ đã di tản trong vòng trật tự, mang theo tất cả những thương binh. Liên lạc vô tuyến với BTL/QÐ III bị gián đoạn ngay sau đó.

Mãi tới 9 giờ sáng ngày hôm sau 12/4, BTL/QÐ III mới bắt được liên lạc với TÐ 92 BÐQ trên tần số hành quân lúc đó đã rời khỏi Tống Lê Chân đang trên đường di chuyển về hướng An Lộc, khoảng trên 15 cây số về hướng Ðông Bắc. Cuộc hành trình xuyên qua rừng rậm dưới sự rình rập của Cộng Quân, lại phải mang theo nhiều thương binh nên vô cùng gian nan vất vả. Suốt đêm, Tiểu Ðoàn 92 BÐQ phải kịch chiến với địch, vừa đánh vừa tìm đường rút lui khiến thêm 14 binh sĩ tử thương, 34 người nữa bị thương. Cuối cùng, may mắn như một phép lạ, TÐ 92 BÐQ tới được An Lộc tương đối an toàn, chỉ có thêm 4 chiến sĩ can đảm ở lại chận đường truy kích của địch quân để thành phần chủ lực rút lui anh dũng hy sinh. Tất cả các thương binh, kể cả xác chết của những người bị thiệt mạng đề được mang về.

Biệt Ðộng Quân: Sát!

Nhìn chung, Tống Lê Chân chỉ là một tiền đồn nơi đèo heo hút gió gần biên giới Việt – Miên không được nhiều người biết đến. TÐ 92 BÐQ lại là một đơn vị tương đối trẻ trung mới được thành lập từ năm 1970. Vị TÐT, Trung Tá Lê Văn Ngôn, con Cọp đầu đàn của TÐ 92 BÐQ cũng là một sĩ quan rất trẻ mới 25 tuổi, xuất thân khóa 21 Võ Bị Ðà Lạt. Trận đánh tại Tống Lê Chân cũng không phải là một cuộc đụng độ lớn. Cuối cùng, Tống Lê Chân lại rơi vào tay địch.

Như vậy, về mặt quân sự, rõ ràng trận đánh tại Tống Lê Chân cũng chỉ “tầm thường” như những trận đánh cùng tầm cỡ khác, kết thúc bằng việc quân trú phòng phải di tản. Tuy nhiên, về phương diện tinh thần chiến đấu và sức chịu đựng phi thường của các chiến sĩ Mũ Nâu, Tống Lê Chân đã vượt xa những trận đánh lớn nhỏ khác trong quân sử với nhiều điểm rất đặc biệt. Ðây là cuộc bao vây lâu dài nhất trong quân sử, một trận dánh trong chiến cuộc Việt Nam mà lực lượng đôi bên chênh lệch nhất và sau cùng, một cuộc lui binh thần tình nhất do một vị TÐT trẻ tuổi nhất, can trường nhất chỉ huy.

Cuộc Bao Vây Dài Nhất Trong Quân Sử

 

Kể từ khi trại Tống Lê Chân bị Cộng Quân khởi sự uy hiếp vào năm 1972 cho tới khi TÐ 92 BÐQ phải di tản vào tháng 4 năm 1974, căn cứ đã bị bao vậy ròng rã 17 tháng trời! Vòng vây của địch vô cùng chặt chẽ khiến “Nôi bất xuất, ngoại bất nhập”, kể cả đường hàng không. Chẳng những việc gửi quân tăng viện, tản thương và tiếp đạn dược, lương thực v.v… đều bị giới hạn nhỏ giọt mà ngay cả đến cặp lon Trung Tá thăng cấp đặc cách ngoài mặt trận của TÐT Lê Văn Ngôn cũng phải thả dù vào trong trại, không có người gắn lon và việc “rửa lon” truyền thống của nhà binh có lẽ đã được thực hiện bằng máu của Cộng quân. Ðiều này làm chúng ta liên tưởng đến chiếc lon thăng cấp của Ðại Tá De Castries, người hùng cùa đoàn quân viễn chinh Pháp tại Ðiện Biên Phủ vào năm 1954 cũng đã được thả dù vào khu lòng chảo. Nhưng De Castries trước kia đã không quá cô đơn và bị bao vây ngột ngạt như Lê Văn Ngôn tại Tống Lê Chân vì ít ra cũng có một số quân nhẩy dù tăng viện. Ngoài ra, De Castries cò có những “nàng hầu” thân yêu như Béatrice, Éliane, Huguette, Dominique để … tâm sự. Còn Lê Văn Ngôn và TÐ 92 BÐQ chỉ có độc nhất một quả đồi trơ trụi với vòng cao độ không quá 50 thước trên bản đồ UTM, một vị trí vuông vức mỗi bề không quá 300 thước để sống chết ôm ấp ròng rã gần một năm rưỡi trời! Cuộc bao vây ngặt nghèo tới nỗi vào những ngày tháng chót, cả đến việc thả dù tiếp tế cũng bị gián đoạn, còn nói gì đến việc tản thương hay tiếp viện bằng trực thăng.

Về các cuộc bao vây nổi tiếng khác trong chiến sử, Ðiện Biên trước kia cũng chỉ kéo dài 57 ngày. Ðịa ngục Khe Sanh, niềm tự hào của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ cũng chỉ bị bao vây dăm ba tháng, nhưng với thảm bom dầy đặc đêm ngày của B-52, và lúc nào cũng có ba tầng phi cơ chiến thuật chờ sẵn trên không để dội bom, binh sĩ trú phòng coi như được đi nghỉ mát dưỡng quân theo tiêu chuẩn lính Việt Nam, vì họ không thiếu một thứ gì, kể cả nuớc đá để uống giải khát! Trong kỳ đệ nhị thế chiến, Stalingrad lừng danh cũng chỉ bị quân Ðức bao vây gần ba tháng. Tobruk của người Anh cũng chỉ cần tử thủ hơn 8 tháng. Còn Tống Lê Chân? Suốt 17 tháng truờng ròng rã trong những điều kiện tăng viện và tiếp vận khó khăn nhất. Như vậy, sức chịu đựng của người lính VNCH phải được coi là bền bỉ siêu đẳng vô địch.

Lực Lượng Chênh Lệch Một Trời Một Vực

 

Về tương quan lực lượng đôi bên, khi xảy ra trận đánh tại Tống Lê Chân, phía Cộng quân có các Sư Ðoàn 5, 7 và 9 cùng Sư Ðoàn Pháo Phòng Không 377 tân lập, cộng thêm dăm ba Tiểu Ðoàn địa phương và đặc công “lẻ tẻ”. Tuy Công Trường 5 đã bị thiệt hại khá nặng trong những cuộc hành quân vượt biên đánh sang vùng Lưỡi câu – Mỏ Vẹt trước đây của QLVNCH, nhưng đã được tăng viện nhanh chóng và thường lẩn quất tại vùng biên giới để uy hiếp các trại BÐQ Biên Phòng. Ngoài ra, Công Trường 7 cùng với Tiểu Ðoàn Pháo 22 và Tiểu Ðoàn Ðặc Công 28, sau khi tràn ngập các căn cứ Chí Linh nẳn trên Liên Tỉnh Lộ 13 giữa Chơn Thành và Ðôn Luân, cũng đè nặng áp lực trên quãng đường bộ từ Lai Khê đến An Lộc Riêng Công Trường 9 của Cộng Quân với 3 Trung Ðoàn còn đầy đủ quân số vừa từ Cam Bốt xâm nhập được dùng làm mũi dùi tiến công chính đánh Tống Lê Chân, sau khi đã buộc các trại BÐQ Biên Phòng khác như Thiện Ngôn, Katum, Bù Gia Mập phải di tản.

Tống Lê Chân là căn cứ biên phòng duy nhất còn lại trong vùng vì tất cả binh sĩ đều tình nguyện ở lại giữ trại. TÐ 92 BÐQ với quân số vỏn vẹn khoảng 300 người, đã bị hàng sư đoàn địch quân thay nhau tấn công và vây hãm hàng năm trời không được tăng viện. Thế mà các chiến sĩ Mũ Nâu vẫn anh dũng bền gan chiến đấu, nhất định không hàng địch! Ðây quả là một thành tích phi thường ngoài sức tưởng tượng!

Cuộc Lui Binh Thần Tình

 

Sau gần một năn rưỡi trời giữa vòng vây trùng điệp, lại bị tấn công liên miên, đương nhiên TÐ 92 BÐQ phải kiệt sức. Cho tới khi tình trạng tuyệt vọng, đơn vị chỉ còn đường rút lui để bảo toàn lực lượng nhưng cũng không quên dùng chất nổ phá hủy doanh trại, không để lọt vào tay Công Quân. Sau đó, tuy bị truy kích, nhưng các con Cọp Rừng Mũ Nâu đã về được tới An Lộc với tổn thất nhẹ không ngờ: trong số 277 binh sĩ gồm nhiều thương binh, một số lớn đã về được An Lộc. Ðây là một thành quả quá sức mong đợi cho một cuộc hành quân lui binh sâu trong lòng địch. Với tài chỉ huy khôn khéo, tinh thần kỷ luật và sức chiến đấu bền bỉ gan dạ, các chiến TÐ 92 BÐQ đã làm nhiều người ngạc nhiên và thán phục khi rút quân thành công trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn, bi đát.

Cuộc lui quân thành công ngoài sức tưởng tượng này đã khiến dư luận phía Hoa Kỳ nghi ngờ rằng TÐ 92 BÐQ đã “thương lượng” với Cộng Quân, bằng lòng bàn giao căn cứ Tống Lê Chân để đổi lấy việc rút lui an toàn. Quả thật, việc TÐ 92 BÐQ phá được vòng vây về được đến An Lộc phải coi như một phép lạ nên “dư luận” thương thuyết không phải là không có lý. Vả lại, đây cũng là một trong ba giải pháp mà BTL/QÐ III đã đề nghị lên thượng cấp cách đó không lâu. Ngoài ra, rất có thể những lời đồn đại nói trên là do Cộng Quân tung ra để đỡ bị mất mặt vì TÐ 92 BÐQ đã vượt khỏi vòng vây như chỗ không người.

Thật sự, TÐ 92 BÐQ đã chỉ giết giặc chứ không bao giờ thương lượng với chúng và cuộc rút lui thành công vì tinh thần kỷ luật cũng như khả năng chiến đấu tuyệt vời của các chiến sĩ Mũ Nâu. Bằng cớ xác thực nhất là chính những tài liệu bắt được sau đó tại mặt trận cùng những lời khai của tù hàng binh Cộng Quân đã cho thấy không hề có chuyện “thương lượng”. Một hồi chánh viên tham dự trận đánh sau cùng vào đêm 12/4 tại Tống Lê Chân đã thuật lại khá chi tiết về biến cố này. Sau trận pháo kích dữ dội, bộ binh địch có chiến xa yểm trợ đã mở các cuộc tấn công mạnh. TÐ 92 BÐQ không còn đạn dược và nhất là không có vũ khí chống chiến xa nên bắt buộc phải rời bỏ vị trí. Tống Lê Chân bị bỏ ngỏ từ đêm 12/4 nhưng vì hàng rào phòng thủ quá kiên cố, lại có nhiều bãi mìn, hơn nữa Cộng quân sợ TÐ 92 BÐQ còn tử thủ sẽ gây cho chúng nhiều thiệt hại như những lần trước nên mãi tới ngày 13/4 chúng mới vào được trại. Lúc đó, các chiến sĩ Mũ Nâu đã rời xa căn cứ trên đường về An Lộc. Tống Lê Chân đã bị đặt chất nổ phá hủy. Ðịch chỉ tìm thấy xác của 2 BÐQ và bắt sống một người khác.

Một bằng chứng rõ ràng khác là bản báo cáo của Cộng quân bị QLVNCVH tịch thu. Tài liệu này tiết lộ một đơn vị Cộng Quân có nhiệm vụ chặn đường rút lui của TÐ 92 BÐQ đã bất tuân thượng lệnh, không bố trí quân tại những vị trí đã ấn định vì sợ bị phi pháo VNCH tiêu diệt. Cuối cùng, bản báo cáo còn đưa ra nhận xét rằng trong trận đánh tại Tống Lê Chân, tinh thần binh sĩ TÐ 92 BÐQ rất cao, còn cao hơn cả nhiều đơn vị chính qui của Cộng Quân có nhiệm vụ tấn công.

Ðường Vào Lịch Sử

 

Trận đánh tại Tống Lê Chân chính thức chấm dứt vào ngày 15 tháng 4 năm 1974 khi binh sĩ cuối cùng của TÐ 92 BÐQ về tới An Lộc. Trước đó, vào ngày 13/4, phi cơ của Không Quân VNCH đã bay 19 phi vụ thả bom đánh vào lực lượng Cộng Quân tại Tống Lê Chân. Tuy trận đánh đã chấm dứt từ lâu, nhưng qua cuộc bao vây dài nhất trong quân sử và cuộc lui binh thành công mỹ mãn, huyền thoại của TÐ 92 BÐQ tại Tống Lê Chân vẫn sống mãi. Các chiến sĩ Mũ Nâu dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Văn Ngôn đã tô đậm một nét son cho truyền thống hào hùng của binh chủng Biệt Ðộng Quân và viết một trang sử huy hoàng trong pho quân sử QLVNCH.

Trần Ðỗ Cẩm


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

 

Links:

 

Tống Lê Chân- Ong VoVe


CÔNG DÂN MẠNG, Ngoài ngủ trong thức – Mạc Văn Trang

Hiện thực XHCN- Tranh biếm họa của Babùi – DCVOnline- Link: Web Nó Kià

1.Hình ảnh minh họa: Những sinh hoạt về Đại lễ Phật Đản của Văn Phòng 2- Viện Hóa Đạo/ GHPGVNTNHN-/HK và đồng bào Phật Tử tuần qua tại Little Sai Gon- Nam California:

– Công Viên Chiến Sĩ

– Tượng Đài Thuyền Nhân

– Chùa Điều Ngự

Nhân mùa đại lễ Phật Đản.  Tăng đoàn giáo phẩm Phật Giáo từ khắp nơi đến cầu nguyện tại Công Viên Chiến Sĩ .

2. Bài đọcsuy gẫm: Các Công Dân Mạng- Gương mặt tinh thần mới của xã hội- Mạc Văn Trang

“Các công dân mạng, họ xứng đáng là kênh thông tin cần phải quan tâm hàng đầu của các cơ quan Đảng và Nhà nước, trước hết là Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, hơn là đối tượng của A25 Bộ Công an!” (Mạc Văn Trang). Quả đúng vậy.

clip_image002

Tuy thế, vẫn phải nói thêm và nói rõ rằng gốc rễ vấn đề không phải Internet, mà là dân chủ. Báo chí bị kiểm soát nghiêm ngặt. Chỉ một tuần sau khi được Quốc hội phê chuẩn làm Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, ông Lê Doãn Hợp thẳng thừng và công khai tuyên bố: Báo chí “cứ đi đúng lề đường bên phải thì sẽ an toàn và được tự do” (http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/215043/Toi-han-che-viec-dung-ngoai-bao-chi-de-quan-ly-bao-chi.html).

Nhưng thế nào là “lề đường bên phải”? Trên thực tế, đó không phải là pháp luật, mà là mệnh lệnh (rất nhiều khi chỉ là lệnh miệng) của “cơ quan chức năng”. Không dựa chắc vào luật pháp, mệnh lệnh hôm nay có thể thế này, ngày mai có thể thế khác. Báo Du lịch đăng bài về chủ quyền biển đảo trước khi có lệnh, thì người chịu trách nhiệm là nhà báo Nguyễn Trung Dân bị mất chức; nhưng chì vài tháng sau, báo chí viết về Trường Sa, Hoàng Sa, vẫn được an toàn. Đã là mệnh lệnh, thì chỉ có cách là chấp hành!

Cho nên, đã xảy ra chuyện kỳ quái mà chắc chắn lịch sử báo chí Việt Nam sẽ ghi nhận như một hiện tượng có một không hai: tàu Trung Quốc cướp của, đánh đập ngư dân Việt Nam, lại được gọi là “tàu lạ”, “tàu nước ngoài”; ngay cả hiện nay, khi báo chí đã được bật đèn xanh viết về đề tài này, vẫn còn có tờ báo nơm nớp sợ hãi, cứ gọi là “tàu lạ”, “tàu nước ngoài” cho an toàn.

Cho nên, đã xảy ra chuyện ngày càng phổ biến: muốn nói được điều gì có ích, người viết phải cố công “tầm chương trích cú” một câu của lãnh tụ để che chắn cho mình. Thấy dân bị bịt miệng quá, nhà báo Thái Duy lấy nguyên văn lời cụ Hồ để đặt tên cho bài viết “Phải cho dân được mở miệng“. Cái thủ thuật ấy được ông sử dụng như một nguyên tắc: “Khi đặt bút, tớ luôn phải “dựa” vào cụ Hồ, không họ “thịt” tớ ngay!” (http://truongduynhat.vnweblogs.com/post/1545/33693).

Than ôi! Lãnh tụ dù có thiên tài đến đâu cũng không thể dự liệu hết mọi vấn đề. Cuộc sống thật hàng ngày hàng giờ đặt ra bao nhiêu vấn đề mới mẻ, đòi hỏi người ta phải giải quyết một cách sáng tạo. Cái mẹo nhỏ của nhà báo Thái Duy, do đó, cũng chỉ có tác dụng rất giới hạn. Trong thể chế hiện hành, người viết nào cũng nhiều lần day dứt vì không thể viết được điều mà lương tri thúc giục phải viết.

Cầu nguyện tại Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân.

Cung cách quản lý báo chí hiện nay là đặc trưng cho chế độ toàn trị: người quản lý đảm nhận trách nhiệm chọn lựa thức ăn cho nhân dân. Nói cách khác, đó là cách ứng xử tự cho mình là cha mẹ, mà nhân dân chỉ là đứa trẻ hoàn toàn không có năng lực phân biệt thức ăn độc hại hay bổ dưỡng. Mặc cho bao nhiêu mỹ từ đề cao nhân dân, trên thực tế đó là sự khinh bỉ nhân dân cùng cực. Công dân mạng sở dĩ là “gương mặt tinh thần mới của xã hội”, chính là vì không chịu sự ràng buộc “lề trái lề phải” ấy.

Cái cung cách ấy làm khổ báo chí đã đành, mà còn làm khổ ngay cả những người quản lý có tâm huyết. Họ phải theo dõi chặt chẽ báo chí, lúc nào cũng trong tâm trạng dè chừng báo chí “đi lệch đường” và phải có biện pháp “chấn chỉnh” tức khắc, nếu không sẽ bị vạ lây.

Một nền báo chí như thế chỉ có tác dụng che giấu cuộc sống thật, tuy có làm yên lòng lãnh đạo. Nhưng như thế thì chừng nào mới có thể “chấn dân khí” như lời kêu gọi khẩn thiết của cụ Phan Châu Trinh xưa?! Xét cho cùng, đó là cung cách quản lý làm tổn hại “nguyên khí quốc gia”, làm cho cả dân tộc bị chấn thương mà không có thuốc chữa trị. Cái lề phải “an toàn và tự do” ấy về lâu dài sẽ đẩy chế độ vào chỗ hiểm nguy.

Nhiều ngàn đồng bào nô nức tham gia Đại Lễ Mừng Phật Đản tại chùa Điều Ngự.

Dịp 30/04 năm nay các phương tiện truyền thông luôn nhắc đi nhắc lại mấy khẩu hiệu “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”, “hòa hợp dân tộc”… Nhưng các nội dung, hình thức tuyên truyền vẫn chủ yếu là “ôn nghèo, gợi khổ, nhớ thù xưa”! Chưa thấy hé lộ những giải pháp gì mới. Trong khi đó các CÔNG DÂN MẠNG xuất hiện như một nhân tố mới, lực lượng mới, gương mặt tinh thần mới của sức mạnh đoàn kết và hòa hợp dân tộc lại không được nhắc đến. Các công dân mạng không chỉ “đoàn kết”, “hòa hợp” theo lối cũ mà kết nối toàn cầu thành “một làn sóng mạnh mẽ”… hành động cực kỳ mau lẹ, hết lòng vì dân, vì nước.

Một loạt sự kiện nóng bỏng gần đây liên quan đến an nguy quốc gia, danh dự dân tộc, trong khi các phương tiện truyền thông chính thống của Nhà nước còn chưa có thông tin đầy đủ, còn xin ý kiến, chờ chỉ đạo của các cấp trên, còn cân nhắc câu chữ… thì các công dân mạng đã nhanh nhạy loan tin, kịp thời phản ứng, kết nối dư luận của người Việt ở trong và ngoài nước khắp nơi trên thế giới để đấu tranh một cách quyết liệt và hiệu quả. Chỉ xin nêu lại vài sự kiên gần đây nhất.

Đó là vụ Hội Địa lý Quốc gia Hoa Kỳ (NGS) cho xuất bản tấm bản đồ thế giới có những ghi chú sai lệch rất tinh vi. Nhưng một người có tên Mai Nghiêm ở Hoa Kỳ đã phát hiện bản đồ của NGS in tên quần đảo Hoàng Sa của nước ta với tên Trung Hoa là Xisha Qundao và dưới tên này họ lại để thêm chữ China màu đỏ. Anh liền loan tin cho bạn, bạn anh lai loan báo rộng rãi và ba anh Nguyễn Hùng (ở Úc), Lê Quang Long (ở Tân Tây Lan) và Ngô Khoa Bá (Hoa Kỳ) cùng nhau soạn ngay một thư phản đối gửi đến NGS (10/03/2010). Các anh cũng gửi ngay tin về cho các cơ quan thông tin trong nước và Chính phủ Việt Nam. Dư luận trong và ngoài nước cùng lên tiếng mạnh mẽ buộc NGS đã phải chấp nhận sửa lại bản đồ trên. Trong thông báo ngày 25/03 họ chấp thuận sẽ chỉ dùng tên Paracel Islands cho quần đảo Hoàng sa, và với những bản đồ chi tiết họ sẽ ghi chú thêm: “Trung Quốc đánh chiếm quần đảo này và Việt Nam đang đòi lại”. Như vậy chỉ trong vòng 15 ngày, mục tiêu đấu tranh với NGS đã đạt được.

Trong khi NGS có hành động sai lầm như trên bị công luận rộng rãi phản ứng thì Công ty Google không hiểu vô tình hay cố ý, cho công bố những bản đồ giữa Việt Nam và Trung Quốc với đường biên giới lệch hẳn vào trong lãnh thổ Việt Nam, mà trang mạng Bauxite Việt Nam đã kịp thời lên tiếng, kế đó bà Nguyễn Phương Nga đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam chính thức tuyên bố việc làm của họ là sai… Ba anh Nguyễn Hùng, Ngô Khoa Bá và Lê Quang Long lại viết liên tục 3 văn thư gửi đến Công ty Google để phản đối. Kèm theo thư là danh sách gần 100 người ở trong và ngoài nước đang sinh sống tại nhiều quốc gia cùng ký tên phản đối. Đồng thời các anh gửi thư cho Tổng bí thư Đảng, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Việt Nam biết tình hình và yêu cầu công bố tấm bản đồ chính thức của Việt Nam về biên giới Việt – Trung đã cắm mốc để làm cơ sở đấu tranh với Google…

Hình dưới: Thượng Tọa Thích Viên Lý- chủ trì chùa Điều Ngự và Kristopher Anderson Oslo.

Ghi chú thêm:  Kris Anderson là người làm phim trẻ tuổi can trường đã cùng chủ tịch hội Nhân Quyền Hoa Kỳ Thor Halvorssen dàn xếp, qua mặt công an cs. để quay phim, phỏng vấn Đại Lão Hòa Thượng Quảng Độ tại Thanh Minh thiền Viện -Sài Gòn trong tháng qua. Đoạn phim này đã được phổ biến khắp thế giới. Xem U-tube Video 1 & 2 –  RFA phỏng vấn Kristopher.

Văn Nghệ


Tiếp đó là vụ BBC tiếng Việt, ngày 17.04.2010 cho công bố bài: TS. Đỗ Ngọc Bích – Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc”. Bài báo có tính xuyên tạc lịch sử, xúc phạm dân tộc Việt Nam… Và “có thể nói là một “quả bom tấn” không còn giới hạn trong thế giới ảo” (Ngô Minh Trí, BVN). Các công dân mạng, từ người bình thường đến các nhà sử học, nhà văn hóa học… ở trong và ngoài nước đồng loạt lên tiếng. Rồi các phương tiện truyền thông khác, các cơ quan có trách nhiệm cùng vào cuộc. Và ngày 19-10-2010, PGS Khoa Nhân học Erik Harms tại Đại học Yale (nơi cô Bích đang hợp đồng dạy thêm tiếng Việt cho một số sinh viên) đã kịp thời lên tiếng. Hóa ra cô Đỗ Ngọc Bích chưa đỗ “bà nghè” và không phải là giảng viên của Đại học Yale. Rõ thật là một bài báo vớ vẩn không đáng để tranh luận. Nhưng như bạn Hiền Chi có nêu một ý kiến chí lý: “Bài báo kém cỏi của một kẻ vô danh tiểu tốt hóa ra là phép thử hiệu nghiệm cho thấy tinh thần dân tộc của người Việt (nhất là các công dân mạng – MVT) nhạy bén đến mức đáng cho những ai hoài nghi nhất cũng phải xét lại mình, rằng một đất nước như thế thì không thể mất về tay bất kỳ kẻ thù xâm lược nào, cho dù chúng thâm hiểm đến đâu và cho dù có những kẻ cam tâm bán rẻ mình cho chúng” (BVN). Rồi búa rìu dư luận lại tập trung vào BBC tiếng Việt: “Giống như một giọt nước tràn ly làm cho bao nhiêu yếu kém của trang BBC tiếng Việt lâu nay khiến độc giả ấm ức mà chưa có dịp phát ngôn bỗng được thể bùng lên như một thùng thuốc súng phát nổ. Có tổ chức như Hội An Việt ở Anh Quốc đề xuất với Tổng giám đốc đài BBC sa thải ông Nguyễn Giang, phụ trách trang BBC tiếng Việt, là người chịu trách nhiệm về tất cả những yếu kém ấy, không những thế, còn là người có thái độ đối phó với độc giả trong vụ việc cô Bích, không nghiêm chỉnh và đàng hoàng… ” (BVN).

Còn biết bao nhiêu phản ánh nhạy bén, loan tin kịp thời, kiến nghị tâm huyết của các công dân mạng đầy tình yêu, tinh thần dũng cảm và trách nhiệm với dân, với nước, tạo nên một sức sống mới, bộ mặt tinh thần mới của xã hội ta ngày nay.

CÔNG DÂN MẠNG, họ là ai? Đó có thể là em thiếu niên, hay vị lão tướng, là bà nội trợ hay nhà khoa học, là anh xe ôm hay nhà doanh nghiệp, là người ở phía “bên này” hay “bên kia”, dù họ ở chân trời góc biển nào… các ý kiến của họ đều chân thành, vô tư (không vì tiền) và đều bình đẳng. Các công dân mạng, họ xứng đáng là kênh thông tin cần phải quan tâm hàng đầu của các cơ quan Đảng và Nhà nước, trước hết là Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, hơn là đối tượng của A25 Bộ Công an!

Với tất cả sự khiêm tốn của một tân công dân mạng, tôi có thể tuyên bố hùng hồn (mà không sợ lố) rằng: các công dân mạng người Việt, cùng một bọc Mẹ sinh ra, dù ở chân trời góc biển nào cũng luôn mang trong mình dòng máu yêu nước thiết tha. Khi bà con trong nước ngủ thì anh em ngoài nước thức, cùng nhau canh giữ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu!

Hà Nội, 01–05–2010

M.V.T

HD Mạng Bauxite Việt Nam biên tập.


Nhóm phóng viên Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:

DCVOnline.net

Gần Xa.com

BoxitVỉệt Nam

Thanh Niên Cờ Vàng (hình ảnh)

Câu Lạc Bộ Nó Kìa