Chủ Thuyết bị Phá Sản và Tội Ác – Đại Nghĩa

Bản đồ Việt Nam hôm nay dưới mắt Babui- Đàn Chim việt Online.net

1. Hình ảnh minh họa: Cải cách ruộng đất tại Bắc Việt 1953-1956.  Thảm sát Tết Mậu Thân tại Huế.

2. Bài đọc suy gẫm: Tội ác của Cộng sản với nhân loại – Đại Nghĩa

Youtube: Imagine (The newest version- anti communism) see link at the end.

Photo courtesy of Wikipedia

Karl Marx và Vladimir llyich Lenin.

Chủ nghĩa Mác-Lê

Chủ nghĩa Mác-Lê do hai ông Karl Marx và Angels chủ xướng và được ông Lênin vận dụng tạo cuộc cách mạng giải phóng lớp công nhân thợ thuyền bị bốc lột và các dân tộc nhược tiểu bị áp bức. Chủ thuyết này thoạt đầu rất được phát triển ở các nước Đông Âu, Á, Phi và Mỹ Latin. Tuy nhiên chẳng được bao lâu thì nó đã bị phá sản, nó bị phá sản vì nó chỉ là một chủ thuyết mơ hồ, ảo tưởng không đưa được các dân tộc đã tốn nhiều xương máu có được đời sống ấm no, không đi đến được thiên đường mà họ đã rêu rao, trái lại chỉ đem đến cho họ một cuộc sống cơ cực hơn và bị bạc đãi hơn.

Rồi bức tường ngăn cách Đông Tây nước Đức bị vỡ tan, người vùng cộng sản chạy sang tìm cuộc sống mới trên vùng tư bản. Sau cùng chủ nghĩa cộng sản dãy chết trên cái nôi, nơi sinh ra nó: thành trì Liên Xô. Tuyên truyền hoạt động giành chánh quyền về tay nhân dân để làm chủ đất nước theo thiên đường cộng sản, nhưng khi chiếm được chính quyền rồi thì người cộng sản trở lại đàn áp và bốc lột nhân dân gấp trăm lần tư bản.

Vì thế sau khi chiếm được chính quyền chẳng bao lâu thì người dân thấy được bộ mặt gian trá, chỉ giỏi tuyên truyền phỉnh gạt của người cộng sản nên họ luôn tìm cách vượt biên, vượt biển, băng rừng trốn sang vùng tự do của chế độ tư bản, vì chế độ tư bản dù sao cũng khá hơn. Những chính trị gia vùng Đông Âu cộng sản trước đây nhận định về chủ nghĩa cộng sản như sau:

Lech Walesa, giải Nobel Hòa bình, cựu chủ tịch Công đoàn Đoàn Kết và là tổng thống Balan sau ngày giải phóng từng tuyên bố:

Lech Walesa. Photo courtesy of Wikipedia.

“Người cộng sản là những tổ sư chuyên về phá hoại. Họ có thể biến cái hồ cá thành tô súp cá dễ như chơi. Cái mà chúng tôi phải đối đầu hôm nay là biến tô súp cá đó thành cái hồ cá lại…” (Đàn chim Việt online ngày 12-5-2007).

Theo Brianhanrahan, phóng viên ngoại giao đài BBC trong bài “ Vai ttrò của Hungary trong cách mạng 1989 ” viết về Ông Imre Pozsgay, một nhân vật có đầu óc chủ trương đổi mới hàng đầu trong đảng Cộng sản Hungary. Ông nói: “ Từ lâu tôi tin vào chủ thuyết cộng sản. Nhưng từ đầu thập niên 1980, tôi nhận thức là không thể nào đổi mới được đảng cộng sản, và điều duy nhất là phải thay đổi chế độ đó.” (BBC online ngày 26-10-2009)

Cũng lời của ông Imre Pozsgay do Chris Bowlby thuật trong một cuộc phỏng vấn ông đáp không hề do dự:

“ Tôi không muốn trở về thời kỳ trước đây vì bất cứ một lý do nào cả bởi vì xã hội trước đây là một xã hội ung thối và phải tan rã, thế thôi.”(BBC online ngày 04-11-2009 )

Sau đây là ý kiến của những nhà cách mạng lão thành và những nhà trí thức trẻ đang đấu tranh vì dân chủ của Việt nam nhận định về chủ nghĩa cộng sản như sau:

Ông Lê Hồng Hà, nguyên chánh văn phòng Bộ Công an trong bức thư chất vấn Bộ trưởng Công an Lê Minh Hương , ông viết:

“Đối với dân tộc Việt nam, học thuyết Mác là học thuyết ngoại nhập…Không giúp lý giải được xã hội Việt nam với những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, tư tưởng toàn khác với Tây Âu, rất dể dẫn cách mạng VN đi chệch đường và do đó gây nên tổn thất, gây đổ vỡ, gây kiềm hãm sự phát triển…” (Người Việt ngày 28-2-2001)

Giáo sư Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng viện Triết học Mác-Lê của Hà nội trả lời phỏng vấn của đài RFA:

“ Cái đảng này nó đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, mà bản thân chủ nghĩa Mác-Lênin đã sai từ gốc rễ và cái đảng này nó đang xây dựng một cơ chế độc tài, độc quyền toàn trị thì làm sao cải tổ được, tự đổi mới được…Liên xô đàn áp nhân dân như thế, Liên xô đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin xây dựng một chính đảng toàn trị, thì chính nhân dân đã nổi dậy lật đổ cái chính đảng đó…”(Việt Tide số 55, ngày 02-08-2002)

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang trong cuộc hội luận trong và ngoài nước do đài RFA tổ chức, ông nói:

“Ba mươi năm qua, chủ nghĩa Mác-Lênin đã tàn phá đất nước này về mặt kinh tế, và tàn phá cả về mặt văn hóa và tư tưởng…Phải bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin và phải rút ra được những nhận định một cách khách quan, thẳng thắng về sự tàn hại của cái ứng dụng sai lầm chủ nghĩa Mác-Lênin…” (Người Việt ngày 11-07-2005)

Linh mục Phan Văn Lợi trích trong bức thư nhân ngày lễ Tháng Tư Đen lần thứ 32:

“ Thành tố thứ nhất, tức cái chủ nghĩa phi nhân sai lạc mang tên học thuyết Mác-xít, khởi sự hoành hành trên cả nước. Bao nhiêu gía trị văn hóa, đạo đức cao dẹp ngàn đời vốn được tổ tiên chúng ta xây dựng và bồi đắp nhờ sự trợ lực của các tôn giáo, nay bị thứ chủ nghĩa lai căng tồi tệ đó coi khinh, xóa bỏ…”(Thời luận ngày 3-4-2007 )

Kỹ sư Đỗ Nam Hải, một nhà trí thức trẻ trong thư trả lời cô Hải Yến ông viết: “Thiên đường Mác-Lênin hiện nay đã quá lỗi thời và đảng CSVN chỉ dùng để nhồi sọ, ru ngủ thanh niên mà thôi…” (Người Việt ngày 09-08-2005 )

Xem thế, chủ nghĩa Mác-Lênin ngày nay không còn ai tin nữa, tuy nhiên đảng Cộng sản Việt nam còn mượn nó để làm cái phao “ nín thở qua sông ” chớ không thôi rã bè ra thì chết chùm cả đám, mà ngay cái mã Hồ Chí Minh cũng không còn.

Luật sư Lê Quốc Quân, trích bài “Đảng cộng sản cần canh tân”

“Học thuyết Mác Lê Nin xây dựng CNXH từ lâu không còn tồn tại trong thực tế. Chủ nghĩa CS thực sự đang chết dần vì những toan tính lợi ích riêng tư của từng đảng viên khi phấn đấu vào đảng…

Những đảng viên cộng sản hiện nay tự vo tròn, co vòi lại. Họ không còn dám xả thân vì nghiệp lớn. Nhiều đảng viên nay né tránh, lười biếng và phủ nhận chính mình…Lý thuyết cộng sản mất đi tính quyến rũ. Nó trở nên trần trụi và lai căng…

Bởi vậy, đảng phải tự ý thức đổi mới nhiệm vụ đầu tiên và quan trọng nhất.  Đảng phải thẳng thắn sám hối và canh tân từ trong sâu thẩm chứ không chỉ thay đổi bề ngoài rồi lại tiếp tục nguỵ biện, chấp vá một cách thiếu cơ sở…” (BBC online ngày 12-3-2010)

Tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ một đảng viên kỳ cựu, một trí thức ở Hà Nội đã gửi thư cho đảng CSVN đề nghị bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin trả lời phỏng vấn của phóng viên Mặc Lâm đài RFA, ông Thọ nói:

“…Quan điểm của tôi, nếu mà đảng không lấy chủ nghĩa dân tộc làm nền tảng tư tưởng thì cái nghủ nghĩa Mác-Lênin sẽ bằm nát đảng lại. Với những mũi nhọn tấn công từ phía ngoài, nó chỉ cần đánh vào cộng sản và đánh vào tham nhũng là chết rồi, là tan đảng rồi….” (RFA online ngày 02-04-2010 )

Khi trả lời phỏng vấn của BBC hôm 13- 4 tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ nói:

“Chính chủ nghĩa Mác-Lênin và sự “ mù mờ”của định hướng XHCN đã gây ra những vấn đề trong xã hội Việt nam hiện nay trong đó có tham nhũng và “ bịt miệng”. Ông Thọ cũng nói ông tin là đa số các đảng viên của đảng cộng sản nhìn thấy sự cần thiết phải gạt bỏ học thuyết của Mác và Lênin.”(BBC online ngày 14-04-2010)

Những con người cộng sản khát máu

Liên xô: Vladimir llyich Lenin

Vladimir llyich Lenin. Photo courtesy of Wikipedia.

“Các sử gia từ lâu đã thống nhất rằng lãnh tụ Cách mạng Nga Vladimir llyich Lenin đã phải chịu đựng ba cơn đột quỵ liên tục để cuối cùng dẫn đến cái chết của ông. Nhưng chứng cứ mới được phát hiện cho thấy Lenin qua đời vì căn bệnh lây truyền qua đường tình dục: giang mai…”

“Trong hồ sơ lưu trữ tại Đại học Columbia ở New York, cô (Helen Rappaport) đã tìm thấy bản tham chiếu liên quan đến sự thật hiển nhiên về căn bệnh của Lenin do nhà khoa học lỗi lạc người Nga Ivan Pavlov ghi lại…

Các bác sĩ của Kremllin từng nghiên cứu về Lenin đều bị cấm nói về chuyện nầy – có thể phải chịu hình phạt tử hình – và đã bị buộc phải tiêu huỷ tài liệu chính thức…” (Đối thoại online ngày 23-10-2009 )

“Cung điện Mùa Đông bị tấn công đêm 24 rạng 25 tháng 10. Sau đó Lénine, chiến thắng vào 07tháng 11, tuyên bố lập trật tự xã hội bằng tàn sát cũng như đày ải. Vô thần và duy vật bắt đầu gieo rắc đau khổ cho nhân loại kể từ ngày 07-11-1917…” (Đàn chim Việt online ngày 15-11-2009 ).

Joseph V. Stalin:

“ Ngày 17-09(1939) Hồng quân Liên xô cũng tràn vào nước Balan từ phía Đông. Mười ngày sau, chính quyền Balan sụp đổ và rút lực lượng còn lại chạy theo hướng Đông-Nam ra nước ngoài . Sau đó, Liên xô bắt chừng 1 triệu rưỡi người Balan đi đày ở vùng Siberia và bắn chết 22 ngàn người tù binh Balan  ở rừng Katyn, bất chấp Công ước quốc tế về chiến tranh. Khi vụ thảm sát bị phát hiện, Matxcơva đổ tội cho quân Đức. Mãi đến thời Gorbachov nước Nga mới nhận lỗi về vụ này.” (BBC online ngày 06-0502005 )

“Tổng thống Nga Dmitry Medvedev đã lớn tiếng chỉ trích những ai có ý định phục hồi vị thế của cựu lãnh tụ Xô viết Joseph Stalin. Hàng triệu người dân Liên xô cũ chết dưới thời Stalin và ông Medvedev khẳng định không có lời giải thích thỏa đáng cho hành động của những người lãnh đão huỷ diệt chính nhân dân mình…Ông Medvedev nói ông không thể tưởng tượng nổi quy mô đàn áp dưới thời Stalin khi nhiều nhóm người bị tàn sát và thậm chí mất cả quyền được chôn cất.” (Đài BBC online ngày 31-10-2009 )

Joseph V. Stalin. Photo courtesy of Wikipedia.

“Cách đây đúng 70 năm, trong giai đoạn 1937-1938, chế độ độc tài của nhà độc tài sắt máu Stalin, mở đầu hàng loạt vụ bắt bớ, thủ tiêu và thanh trừng chính trị. Từ tháng 8-1937 đến tháng 10-1938, chỉ riêng trong nhà tù tại Uỷ ban An ninh quốc gia, chế độ Stalin đã bắn bỏ 20.760 người, trong đó có khoảng 1.000 người lãnh đạo tôn giáo. Giáo chủ giáo phận St.Petersburg Serafincũng bị giết vào thời gian này…Hơn 700 ngàn người bị giết. Theo Alexandr Solzhenitsyn, nhà văn đoạt giải thưởng văn học, có khoảng 60 triệu người đã bị chết trong chế độ Xô viết trong giai  đoạn từ 1917 đến 1956…”(BBC online ngày 12-08-2007 ).

Trung cộng: Mao trạch Đông

Trích bài “Cựu thư ký nói về Mao Trạch Đông .”

“Theo Lý Nhuệ, Mao từng nói:“Ta là Tần thuỷ Hoàng và Marx.  Hoặc anh ủng hộ ta, hoặc anh không dám nói ra, hoặc anh tự thú nói trái lòng mình.”

Lý Nhuệ nói:“ Bất kỳ ai có não bộ phải nói dối.” Nhưng năm 1958, tính cứng cỏi khiến ông ta bị tống đi cải tạo 2 năm sau khi phê phán Đại Nhảy Vọt. Trong phong trào Đại Nhảy Vọt năm 1958,  ước tính 30 triệu người đã chết đói…”(BBC online ngày 14-02-2008 )

Nhà báo Bùi Tín: Trích bài “ Những điều chưa biết về Mao trạch Đông .”

Trả lời phỏng vấn của Pv Nguyễn An đài RFA dựa theo cuốn sách

“ Mao-an unknown story ” của hai tác gỉa  Jung Chang và Jon Halliday do nhà xuất bản Globalflair ấn hành .

“Đặc biệt là cuộc Cách mạng Văn hóa đã làm đổ máu hàng 10 triệu người mà tiêu biểu nhất là ông Lưu thiếu Kỳ, ông Bành đức Hoài, nguyên soái Hạ Long đã bị đối xử một cách tàn khốc, bị đọa đày, bị bắt phải quỳ xuống, bị đánh đá hộc máu. Gọi Cách mạng Văn hóa mà không có một tí gì văn hóa cả…”(RFA online ngày 14-02-2008)

Bác sĩ Lý Chí Tuy nói về bí mật cuộc đời của Mao trạch Đông như sau:

“Họ Mao bị viêm phế quản và nay thêm bịnh mới-lậu mủ. Các cuộc tiếp xúc tình dục của họ Mao đã đến mức quá đáng và vì giữa tôi và ông không còn thân thiết như trước nên cũng không tiện tìm hiểu nguyên nhân. Để chửa bịnh này tôi dùng thuốc Bắc…”

Mao Trạch Đông (1893-1976). Chủ tịch Đảng cộng sản Trung Quốc nhiệm kỳ từ 1943 đến 9 tháng 9, 1976. Photo courtesy of Wikipedia.

“Bước nhảy vọt của họ Mao đem đến nạn đói bi thảm nhất trong lịch sử Trung hoa với con số lên đến bốn mươi ba triệu người chết. Cuộc Cánh mạng Văn hóa thì đẩy đất nước vào tình trạng hổn loạn, tiêu huỷ đời sống người dân, phá hại gia đình, làm vỡ tan tình bằng hữu và toàn bộ cơ cấu xã hội Trung hoa…”

“Điều đáng ngạc nhiên hơn là con số các cô gái trẻ đẹp hầu hạ cho họ Mao tăng lên nhiều hơn trước, khắp mọi nơi…Chung quanh ông lúc nào cũng có một bầy con gái. Lúc Cách mạng Văn hóa trở thành cao trào thì họ Mao nằm trên giường với ba, bốn hoặc năm cô cùng một lúc…” (Trích “Bí mật cuộc đời Mao trạch Đông” do Bs Lý Chí Tuy viết và Ngọc Dung dịch)

Cambodia: Khmer Đỏ

Phóng viên Nguyễn Bình: Trích bài “ Tòa xử Khmer Đỏ …”

“ Nghi phạm ra vành móng ngựa đầu tiên là ông Khang Gạc Yêu, tên thường gọi là Dutch, trưởng trại giam Tuol Sleng S-21, là nơi được ví như địa ngục trần gian trong gần 4 năm cầm quyền của Khmer Đỏ, từ năm 1975 đến năm 1979…

Ông Dutch là một trong 5 vị lãnh đạo tối cao của chế độ Khmer Đỏ bị quy trách nhiệm về cái chết của gần 2 triệu người Cambodia. Ông bị bắt ở gần biên giới Thái lan vào năm 1999, và bị tòa án xử Khmer Đỏ ra quyết định đưa vào trại giam trong trụ sở của tòa này vào tháng 7 năm 2007 vừa qua.

Theo Trung tâm tài liệu Cambodia, ông Dutch sẽ chịu trách nhiệm về cái chết của trên 10.000 tù nhân trong trại giam S-21 do ông phụ trách…”(RFA online  ngày 31-10-2007)

Việt-nam : Hồ Chí Minh

Cải cách ruộng đất 1953-1956 :

Hòa thượng Thích Quảng Độ, trong cuốn“ Nhận định về những sai lầm tai hại của đảng CSVN đối với dân tộc và Phật giáo Việt nam”, đoạn viết về cuộc tàn sát những người dân vô tội của cộng sản trong chiến dịch cải cách ruộng đất, ông viết:

“…cuộc đấu tranh câm thù giai cấp diễn ra suốt sáu tháng trời trên toàn miền Bắc chết chốc quá nhiều, đến 700 ngàn người (trong đó có nhiều trường hợp, như một cán bộ đã nói với tôi nguyên văn như sau: “cộng sản chặt đầu cộng sản mới đau chứ.” (Đối thoại online trang 11 ngày 21-09-2007)

“Ông Bùi Tín một người bất đồng quan điểm với chính phủ CSVN cũng nêu lên con số nạn nhân là 500 ngàn người do Michel Tauriac, nhà văn, nhà báo đưa ra. Bùi Tín cũng cho rằng con số này hợp lý nếu kể cả người bị giết, bị chết trong tù, bị chết sau khi thả ra và tự tử.” (Wikipedia online ngày 19-5-2006)

Thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế:

Trích bài “Huế, 40 năm sau Tết Mậu thân…” của Pv Thiện Giao đài RFA:

“Học gỉả Douglas Pike, thuộc Phòng Thông tin Hoa kỳ, trong bản báo cáo hoàn tất vào ngày 01 tháng 02 năm 1970 tại Sài gòn, đã viết: chỉ trong Mậu thân tại Huế, gần 4.800 thường dân đã chết và mất tích. Ông Pike kết thức lời mở đầu của báo cáo bằng một câu khẳng định:“Nếu  báo cáo của tôi là một bản án đối với thái độ của người cộng sản, thì thật sự nó là như vậy đấy. Đơn giản vì thái độ ấy đáng bị lên án.” (RFA online ngày 4-2-2008)

Theo giáo sư Nguyễn Lý Tưởng, người tham dự cuộc tìm kiếm xác các nạn nhân bị cộng sản sát hại trong Tết Mậu Thân tại Huế trong bài “ Huế, 25 ngày kinh hoàng của 40 năm trước” của phóng viên Thiện Giao đài RFA viết lại thì:

“ Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể  Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được2.326 sọ người. Sau tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng sản trong Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4.000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6.000 người, có nhà báo ước tính 5.000.Chúng tôi cho con số 5 đến 6 ngàn là không sai lệch lắm đâu.”  (RFA online ngày 31-01-2008).

Những mồ chôn tập thể đang được khai quật tại Huế. Mậu Thân 1968- Tội ác công sản Việt Nam. Links:

You Tube (Chiều đi qua bãi dâu hát trên những xác người-TCS.)

-Ngô Thế Linh tripot.com Oan Hồn Trên Xứ Huế (hình ảnh)

Tội ác của cộng sản đối với nhân loại

“Dưới nền trời ảm đạm, Tổng thống Putin đã đặt vòng hoa trước cây thánh giá được dựng lên để tưởng nhớ hơn 20.000 người đã bị hành quyết tại trường bắn Butovo ở ven phía Nam thủ đô Matxcơva…Nhà lãnh đạo Nga nói rằng hàng triệu người đã bị tiêu diệt, bị đưa đến các trại lao động tập trung, bị tra tấn hoặc bắn chết…” (VOA online ngày 30-10-2007)

Trong bản tinTổng thống Bush đã tham dự lễ khánh thành một Đài kỷ niệm nạn nhân Cộng sản trên khắp tế giới, bản tin viết:

“Trong buổi lễ ngày hôm nay được tổ chức tại thủ đô Washington, tổng thống Bush nói rằng, thế giới sẽ không bao giờ biết được tên của tất cả những  nạn nhân đã chết trong tay người cộng sản.”

“ Nhưng tổng thống Bush nói rằng, mọi người có bổn phận tưởng nhớ họ và vinh danh kỹ niệm của hơn 100 triệu người gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em đã chết dưới chế độ cộng sản trên khắp thế giới. Ông Bush nói rằng, con số chính xác các nạn nhân cộng sản này sẽ không bao giờ biết được. Tổng thống ghi nhận nỗi thống khổ của những người đã chết tại Trung quốc, Bắc Triều tiên, Châu Phi, Đông Âu, Cambodia, Cuba, Đông Đức và những nơi khác trên thế giới dưới chế độ cộng sản…”(VOA online ngày 28-6-2007).

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The


Links:

Youtube- Imagine (The newest version)

RFA – Bạn đọc viết

Đàn Chim Việt Online.net

Advertisements

Thương Người- Thương Mình. Trương Ngọc Bảo Xuân.

1. Hình ảnh minh họa: Không lực Hoa Kỳ biểu diễn hàng năm (Air Show) tại Pt. MuGu airbase – Nam California. Hình ảnh của gia đình do tác giả cung cấp theo yêu cầu từ Blog 16. Xin cám ơn.

Chiến đấu cơ của Nhật (đây làchiếc máy bay cuối cùng từ đệ nhị thế chiến còn giữ lại, cám ơn bạn airplane-search cho biết) do hãng Misshubishi chế tạo được hãng phim 20th Century Fox cải tiến và xử dụng để dàn dựng cho phim “Tora- Tora- Tora” đang phi diễn.

F117 Night Hawk.

2. Bài đọc suy gẫm:

Ghi chú:   Bài đọc này rất quan trọng vì có nhiều biến chuyển chính trị cho cả một thế hệ, một giai đoạn tang thương của đất nước liên quan đến người Việt và người Hoa Kỳ đã được chuyển thành audio book . Blog 16 xin mời quý bạn đọc theo dõi tại đây:   “32Năm- P1”


Thương Người- Thương Mình. Thương tới muốn khóc hay 32 năm Người Mỹ và Tôi.

Bài viết thắng giải chung kết Viết Về Nước Mỹ (VVNM) do Việt Báo tổ chức.  Đây là chuyện kể 32 năm của một cô dâu Việt, về một chàng trai Mỹ, người bắt Mẹ ký tên cho đi lính trước tuổi, khi anh mới có 17 để sang tận bên kia trái đất rồi “mang tui về trả nợ”, như tác giả Bảo Xuân Abbott nói đùa.

Nhân dịp Việt Báo tổ chức 10 năm Viết Về Nước Mỹ, Blog Mười Sáu hân hạnh được tuyển chọn bài viết độc đáo này mà mỗi lần đọc lại đều rưng rưng nước mắt, đầy cảm động, với những liên quan tới lịch sử, vận mệnh của dân tộc ở từng giai đoạn  từ 1968 cho tới nay.

Theo thông tin bên lề thì tất cả những tuyển tập Viết Về Nước Mỹ hàng năm do Việt Báo Nam California xuất bản bằng cách này cách khác đều được in ra bán vô tội vạ tại Việt Nam và được nồng nhiệt hoan nghênh, đón nhận  cuả độc giả quốc nội.  Tuy nhiên điều đáng nói ở đây là câu chuyên ” 32 năm người Mỹ và Tôi”  tác giả Trương Ngọc Bảo Xuân, bài viết thắng giải chung kết đầu tiên của VB. đã được họ cẩn thận lấy ra, không cho in…. điều thắc mắt này 16 xin dành quyền cho quý bạn đọc nhận xét.

*****

Hàng ngàn người. Có thể cả chục ngàn, trăm ngàn, rồi cả triệu không chừng. Những người Việt tan tác khắp nơi, chưa gặp, chưa quen… Lạ thay, khi không bỗng thấy nhau thân thiết. Thân tới mức mang cả chuyện nhà của mình ra kể cho nhau nghe. Toàn những chuyện khổ đau, oan ức, tang thương đã bao năm nuốt xuống. Giải Thưởng Việt BáoViết Về Nước Mỹ hàng ngày cho tôi cảm giác ấy. Khi viết, khi đọc, thấy thương người, thương mình. Thương tới muốn khóc.
Và bây giờ, bạn thân mến,
Đến phiên tôi kể chuyện nhà cho bạn nghe.
Viết về nước Mỹ, được rồi, đang sống ở Mỹ mà. Viết về người Mỹ, tìm đâu cho xa. Tôi muốn nói về người đi bên cạnh tôi 32 năm qua: David, chồng tôi.
Cuộc đời giống như cuốn sách dán hình kỷ niệm. Mấy chục năm gom vô vài trang giấy. Ngược giòng thời gian. Giở lại từng trang…

Tết 1968, hình gia đình cuối cùng, tháng Năm năm này Ba mất

*1968, Năm Mậu Thân
Ngày 28 tháng 5, cư xá Cảnh Sát Phú Lâm A đường Lục Tỉnh quận 6 Chợ Lớn.
Cộng sản tấn công Sài Gòn lần thứ hai, đặt bộ tư lịnh tại khu cư xá Phú Lâm A. Gia đình tôi cư trú tại đây. Ba tôi là Cảnh sát, tùng sự tại phòng Giảo Nghiệm, Tổng nha Cảnh Sát Quốc Gia ở đường Vỏ Tánh, Sài Gòn.
Ba tôi bị cộng quân chận bắt, bắn chết tại chổ. Một viên đứt yết hầu, một viên xuyên bao tử.  Hai chị em tôi chứng kiến cảnh Ba bị bắn chết. Tôi nâng đầu, máu nóng vọt ra. Ngọc Anh đở chân, máu nhểu dài xuống đất. Hai chị em lệt bệt, khiêng, rớt… khiêng, rớt… vừa khóc vừa khiêng thây Ba tôi về nhà. Em tôi mới 15 tuổi, mặt đầy nước mắt, hai bím tóc, bộ đồ trắng loang máu.  Khoảng đường gần 100 thước đó dài, nặng, đau đớn, uất ức, hận thù, khắc sâu vô tim, vô óc, vô suốt cuộc đời chúng tôi.

*1969, Giã Từ Các Bạn
Một ngày tháng giêng anh rể tôi đem về giới thiệu người bạn vừa ra lính Hải quân, David. Mới 20 tuổi, mắt sáng, tóc đen xanh, ốm gọn, nhanh nhẹn, rất lịch sự, đàng hoàng. Tôi thấy cảm tình.
Những người bạn học đã vô lính. Mấy đứa bạn gái vừa có chồng, chồng chết trận, tay bồng con thơ; tôi làm việc lương tháng ngàn mấy không đủ may áo dài bận đi làm, lấy đâu giúp mẹ nuôi đám em?
Khi Ba chết, đám em tuổi từ 15,13,10,7,5 và đứa em út (Thúy Phương) chưa đầy 3 tuổi. Má tôi vợ công chức chỉ biết nội trợ. Người chồng tốt, người cha hiền đã bị bắn chết. Con không cha như nhà không nóc. Là chị lớn của lũ em, thân con gái, biết làm sao đây?
Tôi đã nguyện với lòng sẽ tìm đủ cách để đi khỏi nước Việt Nam, khỏi nơi đầy thù hận, đầy bất công, đầy tủi nhục. Và đó, David tới đúng lúc. Chính y sẽ đem tôi ra khỏi vùng u tối và nhờ đó tôi sẽ tìm cách đem gia đình đi luôn. Thôi, giã từ các bạn, tôi rẽ qua ngả khác từ đây.
Tôi nhận lời làm đám cưới với y.
Đang để tang ba. Đám tang với đám cưới, gần quá. Tôi chọn đúng ngày Ba bị bắn làm ngày cưới. 28 tháng 5. Cho trộn lẫn vô nhau, trong tim, trong óc.
Đâu phải lúc tiệc tùng. Tất cả tại nhà, giản dị trước bàn thờ tổ tiên. Không hột xoàn, không vàng bạc, chỉ có lời vái hương hồn Ba. Xin Ba phù hộ cho ước nguyện của con: đem được Má và mấy đứa em ra khỏi địa ngục nầy. Tôi tự hứa sẽ là người vợ tốt suốt đời.
Chúng tôi ở chung với gia đình, trên căn gác nhỏ. David làm việc cho một ông bầu chuyên đem những dàn nhạc hát cho lính Mỹ nghe.

* 1970, Lần Đầu Tới Mỹ
Tháng 3, tôi sanh đứa con trai đầu lòng, tuổi Tuất , tên Lawrence Long .
Tội nghiệp đứa con so, 7 tháng đã ra đời. Cân nặng có 1 kí 700 gram, nhà thương Đức Chính (đường Cao Thắng) giữ trong lồng kiếng 24 giờ. Giao lại tôi, cô y tá cho hay “bé không biết bú”. Trời đất ơi, tôi biết làm sao?
Má tôi dạy “con nặn sữa ra, lấy cái ống nhỏ thuốc, hút sữa lên rồi nhỏ từng giọt vô miệng nó. Thấy hông, cái miệng nó nhỏ hơn đầu vú, làm sao mà bú bình thường được.”
Nhờ kinh nghiệm và sáng kiến của Má, con tôi qua khỏi mấy tháng đầu hung hiểm.
Lúc đó David làm lương tháng khoảng 3, 4 trăm đô. Một hôm đi làm về, say nhừ, vừa khóc vừa kể:
– Bạn tôi mới bị quân khủng bố liệng lựu đạn, chết rồi. Sống ở đây lúc nầy nguy hiểm quá.
Tháng 11 vừa hết giao kèo y đòi trở về Mỹ.
Chúng tôi đi lo thủ tục đem đứa em trai duy nhứt của tôi theo mà không được. Bởi tôi còn ngây thơ, không biết là đút tiền thì tới đâu cũng tới. Đành cắn răng, gạt nước mắt, ôm con theo chồng. Tôi hẹn ngày trở về vì bổn phận đối với gia đình chưa tròn. Tôi phải tin bên kia đám mây đen vẫn là ánh mặt trời.

F-22


F-35 mới cắt chỉ của hãng Lockheed Martin

Tiếp tế nhiên liệu cho các chú no bụng đặng ủi tiếp.

Từ trong mây vù vù bay ra, xuất hiện đột ngột với những tiếng gầm làm rung chuyển màng nhĩ

Các chú chim sắt “Thunderbird” F-16C Falcon lúc đứng xếp hàng nghiêm trang dưới mặt đất.

Tôi tới Mỹ lần đầu ngày 22 tháng 11 năm 1970, bụng mang thai 5 tháng
Mẹ chồng, chị chồng tên Elaine ra tận phi trường Portland thuộc tiểu bang Oregon đón. Bước xuống phi trường, đèn sáng trưng, rực rỡ. Không khí tưng bừng nhộn nhịp, tôi như con ngáo, thấy mình càng nhỏ bé. Rồi, phố lớn, nhà to, cây đầy trái, rụng đầy sân. Ngồi trong xe hơi rộng rãi tôi cứ lấy mắt mà ngó, mà ước thầm, “phải chi Má với mấy đứa nhỏ qua được!”
Con người ta chỉ một lần sống, tại sao dân Mỹ quá sung sướng , dân mình thì nghèo khổ chiến tranh?
Cầm chùm nho lên ăn, nhớ tới mấy đứa em mà ứa nước mắt !
Cô chồng đãi bữa ăn lễ Tạ Ơn lần đầu tiên. Thịt gà lôi sao mà ngon, ngọt.
Bên chồng thay phiên ẵm Lawrence. Suốt ngày tôi ở ngoài sân sau, hái quít hái bom, vừa hái vừa tiếc hùi hụi mấy trái rụng đầy dưới đất.
Nhà chồng thấy tôi nhỏ xíu, ai cũng thương.
Qua lễ, lái xe xuống thị trấn Coquille thăm người cô thứ nhì. (David có 5 người cô, 5 người chị và hai người chú). Trên đường đi, David ngừng lại thăm mộ của cha; kế bên là miếng đất má chồng đã mua sẵn, dành cho bà.
Ông bà dì dượng chồng cho ở tạm trong cái nhà xe một phòng khoảng hai tuần. Mỗi đêm, leo lên cái giường rộng, không có mùng, trống lốc, trùm liền cái mền điện. Cái ấm nhân tạo không đủ sức ngăn cái lạnh cắt da, cắt thịt.
Nửa đêm nhớ nhà quá, tôi khóc. David ngồi dậy, gởi con cho bà nội, chở tôi ra bờ biển. Biển nầy là biển gì tôi cũng không biết, nhớ nhà quá đâm ra ngu ngơ. Vậy mà y kiên nhẫn, không nói gì, chỉ đem tôi ra biển. Có lẽ y muốn tôi nhìn về hướng Đông?
Một hôm mỏ ác trên đầu con tôi tự dưng nổi phồng lên. Đem vô nhà thương, khi bác sĩ vừa cho biết phải thử nước trong tủy xương sống của nó để định bịnh, tôi ngã cái đùng bất tỉnh. Rốt cuộc cũng không biết bịnh gì. Có thể nó chịu lạnh không quen, cơ thể phản ứng tự nhiên, xương sọ phồng lên để bảo vệ bộ óc bên trong?. Báo hại mang cái nợ gần trăm bạc.
Người anh chồng kêu qua Tucson, tiểu bang Arizona, hứa sẽ giúp cho việc làm.
Nghe nói đó là xứ nóng, tụi tôi đi liền.
Gom va ly quần áo, thùng sách tiếng Việt, hình ảnh, mấy cái nón lá… gọn gàng trong chiếc xe Uhaul loại nhỏ nhứt, còn rộng rinh. Mùa đông trời lạnh thấu xương, quần áo không đủ ấm, ngầy ngật vì phải vặn máy sưởi suốt đoạn đường dài.
Bụng nặng nề, ngồi triền miên, phải để Lawrence nằm dưới sàn xe. Tội nghiệp con tôi, tới nơi mình mẩy nó nổi đầy phong đỏ.

* 1971, Sanh Con Tại Mỹ
Ở tạm nhà cháu Rea, David phải đi làm nghề đổ xăng, lau kiếng xe hết hai tuần rồi mới được vô làm trong hầm mỏ lộ thiên đào chất đồng đỏ, tên Anaconda Copper Mine.
Mỗi sáng đi làm, y vừa tra chìa khóa mở máy xe vừa khấn thầm “Nổ máy. Nổ máy. Nổ máy!” Trời còn tối mò, y mặc bộ đồ đồng phục màu xám đen, đầu đội nón sắt, tay xách hộp đồ ăn trưa, mặt mày còn sáng sủa. Buổi chiều về, sau một ngày trộn lẫn với bụi đất cùng mồ hôi, chồng tôi da trắng trở thành da đen!
Việc làm nầy cứ mỗi tuần là đổi ca sáng tối. Nhiều đêm y phải bận bộ đồ lót giữ nhiệt (thermal underwear) vậy mà vẫn còn lạnh run. Y lái xe đào và đổ đất, thứ xe có cả chục cái cần sang số, y giải thích, nhưng, ngôn ngữ bất đồng tôi cũng không hiểu gì mấy.
Lương một tuần 93 đô, mướn cái nhà hết 90 một tháng. Đây là nghe lời bà má chồng, tiền mướn nhà chỉ nên bằng một phần tư tiền lương tháng thì mới đủ sống.
Tôi đang mang thai, thèm cá kho tiêu, một chai nước mắm kiếm không ra, có khi chảy nước mắt
Chị chồng tên Pat đưa tôi đi thăm thai. Chị phải ẵm thằng lớn ngồi đợi ở ngoài, một mình tôi vô với cô y tá. Cô ta chỉ qua phòng restroom, nói một hơi một tràng. Tôi đoán mò, nghĩ là cổ hỏi mình có mắc đi tiểu hông, tôi liền lắc đầu. Cô ta không chịu, cứ vừa chỉ vừa nói, càng nói tôi càng không hiểu. Khớp quá, tiếng Mỹ văng đâu mất hết trơn. Sau cùng, cô ta chịu thua. Chừng về nhà, bà chị chồng vừa cười ngất vừa kể, David “dịch” lại, tôi mới hiểu ra. Thì ra cô y tá kêu tôi vô tiểu trong cái ly để sẵn, dán giâý lên rồi đề tên mình, đưa cho cổ đặng cổ thử. Quê một cục! Thôi, lần sau.
Thấy tôi gần ngày sanh, chị dặn David sáng trước khi đi làm, đem mẹ con tôi qua nhà, con gái chị, Linda sẽ nấu cho tụi tôi ăn luôn, vừa canh chừng, sợ tôi chuyển bụng bất tử.
Tháng 3 sanh đứa con trai thứ nhì, tuổi Hợi, đặt tên Tommy Phương.
Chỉ sanh thiếu một tháng mà nhà thương giữ nó lại hơn 30 ngày. Nuôi từ 5 pound 3 ounce cho tới đúng 6 pound mới cho về. Thiệt là khác biệt quá đáng giữa nước nghèo với nước giàu. Ở Saigòn mẹ nằm 1 tuần, trả tiền phòng, về là xong. Ở Mỹ, 2 ngày mẹ bị đuổi về, con giữ lại. Sanh xong mắc cái nợ hơn 4000 ngàn đô, trả góp gần 6 năm mới hết.
Được một chuyện hi hữu là hai anh em nó sanh cùng ngày cùng tháng, đứa lớn 11 giờ rưởi sáng, đứa nhỏ 9 giờ 45 sáng, cách nhau 1 năm. Sau nầy, năm nào làm sinh nhựt hai anh em chỉ tốn một cái bánh, đứa phân nửa .
Không biết có phải lúc mang bầu tôi quá buồn phiền, thèm ăn thèm uống, ảnh hưỡng tới bào thai hay không mà Tommy bụng dạ rất yếu. Cứ bú vô là ọc ra.
Má chồng tôi từ tiểu bang Nevada tới nuôi cho hai tuần. David làm lương ít, chỉ đủ sức mua loại tã bằng vải, xài xong bà má chồng tiếp giặt giũ. Bà cũng chỉ tôi mua loại sữa bột tự pha rẻ hơn.
Nhờ bà mà tôi học được cách làm bánh mì, mứt dâu mứt cam. Bà là người rất khéo nấu ăn.. Khi chồng chết (lúc David mới có 9 tuổi ) bà phải mở một quán ăn nhỏ để sinh sống. Bà dạy:
– Con cần nên học một nghề, nghề gì cũng được. Lỡ chồng có chết bất tử mình còn có thể đi làm nuôi thân và nuôi con. Đừng như má đây, chỉ biết nấu ăn cho nên phải làm nghề đứng nấu bếp, cực lắm.
Tôi thấy lời bà rất đúng vì phải khòm lưng ở cái lò nướng mà lưng bà còng hẳn đi.

* Dọn nhà
Khi Tommy được 4 tháng mấy, thấy chồng cực khổ quá sức, chịu không nổi, tôi bàn nên dọn qua thành phố Reno, tiểu bang Nevada. Thành phố cờ bạc, việc làm có lẽ đở cực hơn ở đây; vả lại, có mẹ có dì dầu sao cũng không đến đổi.
Trên đường đi, đồi non, đồi già, núi đồi đầy sỏi đá mà vương lên hằng hà sa số, ngàn trùng rừng xương rồng. Bông đủ màu trắng toát, đỏ tươi, vàng chói, tím ngát, đẹp quá trời là đẹp. Tôi lính quính kêu:
– Ngừng ngừng ngừng Ngừng cho tôi xuống đào một bụi đem theo.
– Cây của tiểu bang. Đào một cây là bị phạt 500 đô !
– Trời ơi, cây cả đồi mà hổng cho đào một cây. Vậy ngừng cho tôi hái một cái bông.
David tỉnh bơ.
– Bông cũng không được hái.
– Ở đây giữa sa mạc ai mà biết.
– Tôi biết, mình biết. Nhiều người cứ tưởng nhân viên kiểm lâm không thấy, chừng bị phạt rồi mới nói sao xui quá.
Anh chồng Mỹ biết tánh cô vợ Việt. Y đánh đòn tâm lý là tôi thua liền. Nghe giá 500 đô là tôi làm toán. (500 mua được nhiều thứ. Mua đồ cũ đầy đủ: tủ+giường, + chén bát, …..tội gì vì cái bông để bị chính phủ ăn.) Vậy là tôi im.
Thiệt xứ sở gì mà luật lệ quá gắt gao. Nhưng, phải đụng vô túi tiền thì thiên hạ mới sợ. Với lại, nếu ai cũng như tôi, thấy bông thì hái, thấy cây thì đào, rừng nào chịu thấu, lấy đâu để lại hậu thế chiêm ngưỡng?
Tới nơi, chúng tôi phải ở tạm dinh thự của nhà triệu phú, Mr. Hardy, nơi má chồng tôi đang làm quản gia cho ông. Ông là người hết sức tử tế. Ngày xưa ông là kỹ sư ngành hỏa xa. Trong phòng khách còn treo một chùm đèn bằng pha lê hình dạng giống như chùm đèn ở Tòa Bạch ốc nhưng kích thước nhỏ hơn, đã được ông cựu Tổng Tống Roosevelt trao tặng.
Đi xin việc làm, ngày nào về David cũng vừa lo lắng, vừa buồn vừa tức tối. Thời buổi đó, dân Mỹ đang cơn sôi động, chống chiến tranh, đòi chồng đòi con . Họ nhìn chúng tôi, một cựu quân nhân về từ Việt Nam và người đàn bà Việt đã chiếm chỗ một công dân của họ bằng những con mắt lãnh đạm. Sự thù hằn, ghét bỏ đó là chuyện thường tình của thế gian. Tôi thường khuyên chồng:
– Tôi hiểu người Mỹ lắm. Họ mất chồng, mất cha, mất con, mất người yêu, sự đau khổ ở nước nào cũng ngang nhau. Đừng nên để tâm. Cứ kiên nhẫn đi xin, thế nào cũng có việc làm.
Đúng như vậy, David được nhận làm người giữ an ninh cho casino tên Nevada Club .
Vài tháng sau tôi kiếm người giữ con, cũng đi làm trong casino The Nugget, nhiệm vụ đổi tiền cho khách. Nếu có sự hiểu biết như bây giờ, tôi đã không bỏ con đi làm như vậy. Tiền kiếm ra có giữ được đâu. Thời gian qua rồi là không trở lại. Các con lớn lên mình không gần gũi nhiều, tiếc thay!
Tuy cả hai cùng có công ăn việc làm, chúng tôi sống như chân không chấm đất. David thường hay uống rượu say sưa, tôi vô cùng buồn bã. Lúc đó, David coi tôi như… không khí, hổng cần giữ cũng chẳng  mất đi đâu. Trong vòng mười mấy tháng, dọn nhà mấy lần. Và cũng mấy lần, tôi muốn bồng con đi. Rồi tôi nhớ lời nguyền của tôi trước bàn thờ ngày cưới. Rồi tôi nhớ lời Má tôi hay nói:
– Ba năm là tình, ba chục năm là nghĩa.
– Đồng vợ đồng chồng, chuyện gì cũng xong.
Rồi tôi nhớ lời Ba tôi khi còn sống:
– Nhịn đi con ơi (Thôi được, nhịn một chút cho con có cha có mẹ)
Rồi tôi nhớ lời thầy tôi (soạn giả Lê Hoài Nở, dạy ở trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ , đường Nguyễn Du, Sàigòn). Thầy đã dạy:
Chồng giận thì vợ làm lành
Miệng cười tủm tỉm……rằng anh giận gì ?…
Chồng bước tới, vợ bước lui,
Bước lui một bước, êm xuôi cả nhà.
Tôi tự nghĩ: “Không có trường dạy làm chồng, làm cha, làm vợ, làm mẹ. Ai cũng phải tự học cho nên cần một thời gian hơi…lâu”.

“Thunderbird” F-16C Falcon trên nền trời Pt. MuGu airbase CA chiều ngày 08-07-2010

Ngửa Xấp

Phi đội Blue Angles của Hải quân Mỷ

* 1973, Trở Lại Việt Nam
Tháng 2 năm đó, một buổi chiều đi làm về, David hớn hở hỏi:
– Muốn về Việt nam không?
– Muốn chớ, mà sao hỏi vậy?
– Hiệp định Paris. Việt Nam hóa chiến tranh. Không coi tin tức à?
– Tôi coi chương trình Seeseam Street. Đang học tiếng Mỹ mà. Tin hồi nào?
– Mới đây. Mình sửa soạn về Việt Nam.
Mượn tiền má chồng đủ mua ba vé máy bay rưỡi (phải đi trước khi Tommy hai tuổi vì trên hai tuổi phải mua nguyên vé).
Về lại Việt Nam, đọc báo, tôi biết đây là thời gian nhà báo văn nghệ sĩ “xuống đường”. Tôi không hiểu rỏ nghĩa “xuống đường” là gì. Đây cũng là lúc tôi đọc được những sách “Giải khăn sô cho Huế” của nhà văn Nhã Ca và cuốn “Mùa Hè Đỏ Lửa” của Phan Nhật Nam.
Theo lời con em Ngọc Anh, đang là thời gian thi hành hiệp định bốn bên: gồm Mỹ, Nam Việt Nam , Bắc Việt, Mặt Trận Giải Phóng. Mỹ đang từ từ giảm viện trợ, rút cố vấn, rút quân Mỹ, thu xếp trả tù binh.
Vì mừng quá, chúng tôi không cần biết gì về tin tức chiến tranh. Sống gần gia đình ngày nào hay ngày đó.
David được nhận làm cố vấn cho binh chủng Hải quân, ngành truyền tin, với tính cách công tra dân sự, đóng ở vịnh Cam Ranh. Tôi gởi hai đứa nhỏ cho mấy em, theo chồng kiếm nhà ở. Đi mà tôi đã quên một điều: gia đình tôi, chỉ là những người xa lạ đối với hai đứa nhỏ. Tommy vì nhớ cha nhớ mẹ, nó bịnh nặng, nằm thoi thóp, tưởng đâu tiêu rồi. Lúc đó má tôi theo mấy dì buôn bán quần áo con nít ở chợ Cầu Ông Lãnh. Buổi chiều về , má bồng nó đi bác sĩ liền, nó mới còn tới ngày nay. Thiệt tình, tôi làm mẹ quá dở.
Mới đầu, ở sau nhà đại úy Đương (chủ cây xăng gần cây số 9 ngoài cổng căn cứ Cam Ranh) Vài tháng sau dọn vô ở khu Đài Thu (Receiver Site) sát bãi biển, và cuối cùng ở Trung tâm Hải quân (Main Naval Base, Market Time).
Đây là thời gian vui nhứt của đại gia đình. Má với mấy đứa em thay phiên nhau lên chơi. Bãi biển Cam Ranh đẹp vô cùng. Có đảo Bình Ba có chợ Đá Bạc . Nhờ ở đây tôi mới biết và thấy những con rùa biển lớn bằng cái bàn (dân địa phương kêu là con Vích). Cam Ranh cũng là một trong ba chỗ trên trái đất giống rùa nầy lên đẻ trứng. Có một đêm theo mấy người lính rình coi . Nó đào lỗ, rặn một hơi cả trăm cái trứng, móp móp, ướt ướt, rồi dùng hai cái chân lấp đất, dấu xong, bò trở xuống biển. Mấy người lính đào lên đem về. Đôi khi, họ bắt luôn con rùa.
David hay nói :
– Sao người ta không chừa vài cái trứng. Ăn hết như vậy làm mất giống rùa !
Ngoài con rùa biển lớn còn có con kỳ nhông màu đỏ. Sau nầy về Mỹ tôi mới biết người Mỹ khám phá ra loại nầy dùng để chữa bịnh. (bịnh gì quên rồi )
Đám em tôi theo mấy người lính, nói thịt rùa đỏ tươi ăn như thịt bò, kỳ nhông cũng ăn thử, khen, như thịt gà!. Thiệt, mấy đứa em tôi ăn uống “dã man”. Tôi sợ, không dám ăn. Ở đây, nghe nói cũng là xứ nhiều cọp. Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận mà. Trong khu căn cứ còn có một cái hồ cọp thường xuống uống nước. Mỹ đặt tên là Tiger Lake.
Ngày 9 tháng 8 Tổng Thống Nixon từ chức.
Chúng tôi ngày nào cũng vùng vẫy dưới biển. Ăn món gì cũng ngon. Lúc đó David làm lương tháng chỉ trên 400 đô. Đâu có sao. Cha mẹ vui thì con cái cũng vui.

* 1974, Rút Hết Về Mỹ
Cuối năm, tháng 12, một ngày sửng sốt. David về, hối hả:
– Sửa soạn về Mỹ.
– Cái gì ? Sao vậy?
– Mỹ phải rút hết. Mình có nghe đài Hoa Kỳ không? Nó đệm bản nhạc White Christmas suốt ngày là hiệu báo Mỹ dân sự phải rút hết.
– Trời đất ơi, đi liền sao?
– Đi liền. Về Sài gòn làm thông hành cho con.
Thử thời vận lần thứ nhì, tôi ra Bộ Nội Vụ hỏi cách thức đem thằng em trai duy nhứt theo. Họ cho biết đem em không được, nhứt là con trai, nhưng, con riêng thì được.
Vậy là, tự nhiên tôi có hai đứa con gái riêng (xin chính phủ Mỹ tha thứ cho tôi).
Tin chiến sự cho hay quân Trung Cộng dùng đầu đạn hỏa tiễn (Guided Missle) bắn chìm một chiến hạm Mỹ viện trợ cho Việt Nam (chiếc Destroyer Escort), chỉ sống sót một quân nhân. Trung Cộng ỷ mạnh hiếp yếu chiếm đoạt đảo Hoàng Sa, một cái một!
Ngày 24 tháng 12 năm 1974 chúng tôi trở về Mỹ, tới Louisana ở tạm nhà bà chị.

* Thề thoát cảnh nghèo đói
David xin được việc làm, tài xế lái xe đào đất cho hãng thầu xây cất nhà cửa, loại nhà 25.000 đô một căn. Những tưởng cuộc sống tạm yên, nào ngờ, nền móng xây xong,  David bị layoff.
Tôi nhớ ngày đó, sự thất vọng và tức tối hiện rõ trên mặt, nước mắt muốn trào ra của y. Anh rể còn trong Hải quân, chị tôi theo chồng. Chúng tôi trơ trọi.
“Giải pháp Reno” là có nhiều hy vọng. Lại kêu gọi tới má chồng gởi xuống 500 đô.
Bạn hãy tưởng tượng hai người lớn, bốn đứa nhỏ cùng quần áo đồ đạc chen nhau trong chiếc xe nhỏ xíu, trong tay có khoảng 675 đô, vượt hơn 1,500 miles. Nửa chừng xe bị ãy nhíp ngừng sửa, tiêu hơn trăm rưởi. Dọc đường chỉ đậu ở chỗ bãi xe hàng , nghỉ đỡ 1, 2 tiếng. Ăn uống luôn trong xe, David lái một mạch 72 tiếng đồng hồ, xuyên qua mấy tiểu bang, giữa trời bảo tuyết!
Tới Reno 1 giờ trưa.
Đậu xe bên lề đường David đi bộ tới Casino để tìm việc. Ngồi lâu nóng ruột dặn hai đứa em coi chừng cháu , tôi cũng xuống xe đi lòng vòng coi có việc gì làm đại hay không. May mắn tôi được nhận liền chân bồi phòng ở nhà trọ tên Caravan.
Khi trở lại xe đã quá 3 giờ. David đi tới đi lui, tức tối:
– Đi đâu vậy? Tôi có việc làm, phải bắt đầu lúc 2 giờ, bây giờ trễ rồi, ai mà cho vô nữa.
– Không sao, tôi có việc, ngày mai bắt đầu.
Tìm chỗ ở. Motel Atlas, một phòng ngủ, có bếp nhỏ, tủ lạnh
Chiều hôm sau tôi đi làm về, David mặt mày một đống:
– Hôm nay tôi đi nộp đơn lãnh tiền thất nghiệp. Nó làm như mình đi xin vậy. Tôi không trở lại đó nữa đâu.
– Thì cũng phải ráng chớ sao. Lãnh tiền đó trong khi chờ kiếm việc. Chẳng lẽ để mấy đứa nhỏ đói?
Chúng tôi sống chật vật như vậy hết một lúc.
Bạn ơi, đây là thời gian khủng hoảng, xuống tinh thần nhứt. Lương tôi một tuần 63 đô, trả tiền phòng hết 60, còn lại bao nhiêu? Mỗi ngày dọn phòng, khách để lại cho mấy chục cents, một đô là mừng lắm.
Tôi bán đầu tiên cái kiềng trơn hơn một lượng vàng 24 kara chưa từng đeo, rồi cặp nhẫn vàng Má tôi cho trước khi đi với lời dặn “để dành chừng nào con đói bán lấy tiền cho con ăn”, rồi cặp nhẫn xoàn má chồng cho.
Mỗi tuần mua hai hộp cereal hiệu Captain Crunch loại hột tròn tròn có đậu phọng (thằng con lớn tới bây giờ vẫn còn nhớ mùi vị đó) 1 đô 10 ổ bánh mì, loại bánh mì gần ngày hết hạn , nhưng vì ăn trừ cơm cho nên mau hết, không sợ hư ! hai hộp mứt, hai keo đậu phọng nát, hai hộp cacao pha sữa, một bịch gạo hai cân (chỉ nấu cháo) nhiều bắp cải, có khi 1, 2 con gà là món ăn của 6 người. Cũng may, hai đứa em đi học , được ăn uống đầy đủ, mỗi ngày để dành đem về cho hai đứa cháu mấy trái cam trái bom, vài cái bánh !
Còn nhớ một ngày bà dì chồng mời ăn bữa tối. Thiệt là một bữa ăn nhớ đời, đang đói mà!
Chồng tôi, người Mỹ, sống trên đất Mỹ mà cũng trải qua thời gian đói khổ, cũng như quí vị sau tháng 4 năm 1975.
Tôi lại mắc thêm một lời thề nữa. Tôi thề sẽ không để con tôi đói khổ…
Từ đây, tôi tập nhìn đời bằng con mắt khôi hài, chuyện gì cũng thấy nhẹ bớt đi. Và rồi cái đói khổ không kéo dài lâu.
Tôi xin được việc làm trong một hãng may màn, tấm trải giường, áo gối, đồ làm bếp…
Có biết may vá gì đâu. Có lẽ họ nhận vì cái mặt Á Đông của tôi. Ngày đầu tập sự tôi hỏi việc cho chồng, gặp ông giám đốc tử tế, y đắn đo một hồi rồi nói:
– Thông thường chúng tôi không nhận vợ chồng làm việc chung, nhưng lần nầy tôi phá lệ. Việc gì cũng đủ người rồi nếu chồng you muốn thì vô làm việc sắp đặt máy may, dọn dẹp hãng.
– Thiệt là…. Đội ơn ông.
Mỗi ngày tôi ngồi vật lộn với cái máy. Máy gì chạy lẹ quá trời ! Vừa đặt miếng vải vô nó làm một cái rẹt níu không kịp.
Mỗi ngày nhìn anh chồng Mỹ cầm cây chổi quét hãng mà ứa nước mắt.
Sau một tháng đi làm khi trời còn tối, về nhà thì trời đã tối rồi!, hết việc dọn hãng.
David hỏi ông giám đốc :
– Trong hãng việc nào làm lương cao nhứt ?
– Trừ việc quản lý, chỉ còn việc làm sửa máy may là lương cao.
David nói:
– Tôi có kinh nghiệm sửa máy kéo tiền trong Casino. Ông cho tôi thử nghề sửa máy may trong hai tháng, nếu làm không xong tôi sẽ tự động xin thôi.
Từ nghề sửa máy, David được lên chức phụ tá quản lý.
Ông Harvy, người ân nhân đã mất năm 1977. Chúng tôi không bao giờ quên ơn ông. Ông biết nhìn người, ông đã khởi đầu, hướng dẫn nghề nghiệp, cho chồng tôi có cơ hội xử dụng khả năng, vượt qua cảnh nghèo.


F- 117 Con ma tàng hình

Chụp được tấm ảnh bên trong cockpit này là cả vấn đề ngoại giao “vờ vịt” kinh khủng lắm đấy các cụ ạ 🙂

Thủy phi cơ, VN ta cần vài chục chiếc để  bảo vệ lãnh hải Hoàng Sa, Trường Sa.

B- 52 …bịt tai lại 🙂

Một chú như tia sét bay xuyên ngang  ở giữa 4 chú đang lưng lững xuống. Ố là la!

F-5A  Không Quân VNCH  một thời oanh liệt.

* 1975, Thắt Ruột, Thắt Gan
Bắt đầu từ tháng ba Ngọc Anh gởi thơ với tin tức chiến sự, càng ngày càng sôi động. Miền Nam thật sự trong cơn dầu sôi lửa bỏng. Qua tháng tư , mỗi ngày coi tin tức, thấy bản đồ chữ S bị màu đỏ nhuộm lần lần từ vĩ tuyến 17 xuống miền Nam, ngày nào ba chị em tôi cũng khóc. Sự lo sợ, nóng ruột nóng gan không còn nghi ngờ gì nữa, màu đỏ xuống tới Xuân Lộc, rồi Long Khánh, miền Nam lọt vô tay cộng sản là cái chắc.
Ngồi may mà nước mắt tuôn ra, tới nổi cô bạn nhỏ người Hong Kong, tên Siu Woo, chịu không thấu. Sẵn máy sẵn vải dư, nó may liền một cái túi, đi vòng vòng hãng xin tiền đồng nghiệp cho tôi. Thiệt có gặp cảnh khổ mới thấy người có lòng, nhứt là người nghèo. Nó xin được hơn trăm bạc. Rồi bà má chồng và ông giám đốc tốt bụng, cho chúng tôi mượn tiền gởi chị tôi cùng chồng trở về Việt Nam tìm cách rước gia đình. Nhưng, máy bay chỉ hạ cánh ở Thái Lan vì đã được lịnh không thể đáp xuống Việt Nam. Vậy là hết đường !
Đài truyền hình loan báo chiến hạm Mỹ đang neo ngoài khơi, ai ra tới sẽ được vớt. Lộ trình di tản, người ta chết trên đường lộ, chết chưa ra khơi, chết từ trên không trung rớt xuống. Một máy bay di tản trẻ mồ côi bị Cộng quân bắn hạ, mấy trăm trẻ chết hết???.
Đau đớn biết bao cho những người lính Cộng hòa đã bị bỏ lại. Càng coi càng thắt ruột thắt gan.
Cuối tháng Tư, trong tình trạng vô cùng tuyệt vọng, kể như sẽ không còn nhìn thấy mẹ và mấy đứa em nữa. Thình lình, đêm 29, khoãng 2, 3 giờ sáng, má chồng tôi kêu, nói, có người nào từ phi trường Hawaii cho hay má và mấy em đã rời Việt Nam.
Thủy quân Lục Chiến Mỹ làm hàng rào nhân sự, cầu không vận giờ chót đã bốc gia đình tôi ra khỏi địa ngục. Mừng quính, David liên lạc được với phi trường, nghe tiếng thằng em tôi:
– Cả nhà đi đuợc, chưa biết chắc đi đâu, họ nói Wake gì đó, em hổng hiểu, sợ quá.
David nói :
– Rồi, nó đưa qua đảo Wake, căn cứ quân sự.
Mừng thôi là mừng. Sau cơn mưa, trời sáng sủa hơn..
Mấy ngày sau, biết chắc những người trong chuyến bay đó đang ở trại Pendleton, California. Chúng tôi đi rước về. Gia đình tôi ở trại chỉ có vài ngày.
Về Reno, đài truyền hình Eye Witness News và đài số 2 tới tận nhà phỏng vấn.
Qua ngày sau, má và ba đứa em tôi vô hãng may làm, đài truyền hình lại tới quay phim, báo chí đăng hình, viết bài chúc mừng, gia đình tị nạn đầu tiên. Thiệt đúng là báo có đăng đài có nói đàng hoàng.
David nói với tôi:
– Tôi không tin tôn giáo nhưng đây là lần đầu tôi đã cầu nguyện.
Lúc đó vì mừng quá, đem gia đình ra khỏi trại sớm quá, chúng tôi không hiểu gì về quyền lợi và sự giúp đở bước đầu mà chính phủ Mỹ dành cho dân tị nạn. Chúng tôi chỉ biết có một điều là qua được rồi thì đi làm nuôi thân và trả nợ. Tội nghiệp Ngọc Anh, Kim Loan và Tấn Long thằng em trai mới có 17 tuổi là tuổi có thể trở vô trường, phải đi làm. Chỉ có Kim Phượng, Hoàng Thư và Thúy Phương được tiếp tục đi học.
Dân chúng Mỹ, chồng con về rồi, lòng nhân đạo họ cũng mở ra.
Thời gian nầy là lúc người Việt tị nạn có đủ chuyện vui về việc tự dịch tiếng Mỹ. Hiểu sao dịch vậy, giản dị gọn gàng.
Đưa tay chỉ vợ, chàng giới thiệu với người Mỹ:
– This is my house (đây là nhà tôi)
Ai làm gì sai, lắc đầu, xí xóa:
– No star where (không sao đâu)
– The wind hit him (nó bị trúng gió)
Bạn còn nhớ hôn?

* 1976, Cái Nghèo Đeo Đuổi
Sanh đứa con gái út, tuổi Thìn, tên Elizabeth Xuân. Hơn hai thằng anh, con rồng nầy ở đủ tháng đủ ngày. Nó uốn éo, nó vùng vẫy, nó nhào lộn, nó cân nặng 6 pound 12 ounce, sanh 6 giờ sáng.
Được chuyện nầy mất chuyện kia. Sợ con đói khổ, sợ cái nghèo đeo đuổi, sanh mới hai tuần tôi mướn người giữ con, đi làm lại.
Hai đứa rồi, thêm đứa thứ ba, đứa con gái mà David từ lâu mong đợi, tôi cũng đã bỏ bê nó cho người giữ.
Có phải vì lý do đó mà sau nầy lớn lên có chuyện gì buồn nó chỉ tâm sự với bạn mà thôi. Bây giờ nghĩ lại tôi vô cùng hối tiếc.
Sang năm 1977, dọn qua California. David làm Giám đốc hãng Barth&Dreyfus.
1978, Làn Sóng Thuyền Nhân
Sang năm 1978, Việt Mỹ được thư từ qua lại.
Làn sóng thuyền nhân tràn ngập các đảo nước lân cận. Cuối năm, cả đại gia đình dọn xuống North Carolina mở thêm chi nhánh. Làm ra tiền mà chỗ ở quá buồn.
Cuối năm, dì Năm cho hay chính quyền giải toả nghĩa trang Phú Thọ Hòa, phải lấy cốt Ba. Má tôi dặn đem đốt rồi gởi vô chùa. Dì Năm cho đứa con trai vượt biên, qua đảo Bulabidong an toàn.

*1979, Trận Cuồng Phong David

Năm nầy, thơ dì Năm cho hay cha con tụi tôi sẽ gặp nhau. Đó chỉ là cách nói bóng gió cho biết dì sẽ mang theo tro cốt của ba tôi đi vượt biên. Chừng không nghe tin tức của dì mà chỉ nghe tin thời tiết về trận bão chúng tôi lo lắng vô cùng.
Trận cuồng phong (hurricane ) trớ trêu thay lại có tên là David, khủng khiếp, tàn phá, giết hơn 1,100 dân vùng duyên hải đảo Caribbean. Bão dữ sóng thành nhận chìm biết bao thuyền nhân.
David liên lạc với hội Hồng Thập Tự, họ cho biết tin dữ : chiếc tàu Minh Hải khởi từ Cà Mau đã không tới bến. Hơn 20 người bà con cùng dì Năm ôm bình tro cốt ba tôi, chìm sâu đáy biển. Ba tôi chết lần thứ hai! Một lần vì chiến tranh. Một lần vượt biên.
Nghe tin, không biết phải làm gì. Thấy tôi ngồi chết lặng cả buổi trong xó nhà, David ra xe lái đi. Y đi tìm chỗ làm thủ tục đứng tên bảo lãnh hai gia đình thuyền nhân Việt Nam.
Ở North Carolina, tôi đã gặp nhiều cựu quân nhân, thương phế binh Mỹ trở về từ Việt Nam. Một người da trắng, mặt mày bị cháy bởi bom Napaln, không còn hình dạng mắt, mũi nữa… Một người da đen, tay chống nạng, ông nói:
– Tôi để lại một chân bên xứ của cô.
Bạn nghe đau lòng không?
* 1984, dọn hẳn về California
David nhảy từ hãng nầy qua hãng nọ, chỗ vài tháng, không hài lòng với việc làm. Hùn hạp với một người Đại Hàn mở hãng in vải, lỗ vốn, đóng cửa .
Thất nghiệp. Y bỏ uống rượu. Nhất định không chịu xin tiền thất nghiệp. Năm nầy là năm thất thời thất chí của y. Ngồi trước TiVi, không đổi đài, hồn lạc đâu mất tiêu. Nhiều đêm, y ngồi dậy, lâu lắm, không nói gì. (Sau nầy nghe người ta nói cựu quân nhân Mỹ tại Việt Nam thường bị flashback, có nghĩa bị hình ảnh quá khứ ám ảnh, hổng biết dịch tiếng Việt là gì.)
Tôi cũng không khá hơn. Ở nhà lãnh tiền thất nghiệp. Vừa may em tôi, Thúy Phương, đem cuốn sách dạy về ngành Thẩm Mỹ cho tôi dịch mướn, kiếm thêm chút đỉnh!

* 1987, Má Chồng Mất
Việt kiều bắt đầu trở về Việt Nam thăm nhà.
David làm cho hãng Design Collection (DC) chuyên mua bán, xuất nhập cảng hàng vải. Tôi đậu bằng thẩm mỹ, ở lại dạy cho trường.
Giữa năm, má chồng tôi mất. Trước khi chết bà dặn không được mở nắp hòm.Bà muốn con cháu nhớ lúc bà còn sống chớ không nhớ tới cái xác vô hồn. Thôi rồi!
Bà đi trước khi được thấy sự nghiệp thành công của con trai. Cũng không kịp cho tôi nói lời cám ơn, thưa với bà là đứa con dâu Việt Nam của bà đã có nghề nghiệp chuyên môn, khỏi phải lo đứng bếp như lời bà từng dặn.
Còn đâu nữa những buổi ăn ngon lành thuần túy thức ăn Mỹ. Những ngày lễ lớn, nếu tụi tôi không đi thăm được, bà luôn luôn gởi thùng bánh trái tự tay làm cho con cháu. Tôi nhớ những lúc túng quẫn, bao giờ tụi tôi cũng kêu gọi tới bà. Lòng mẹ thương con dân tộc nào cũng như nhau.
Từ đây, bà đã nằm kế bên ngôi mộ người chồng yêu dấu.

* 1988 – 1990
David lao đầu vô việc làm. Mỗi tháng đi Nửu Ước hoặc South Carolina một tuần. Tôi cũng lo việc của tôi.
Hai đứa con trai tới tuổi vị thành niên, tuổi nguy hiểm. Bắt đầu nếm mùi lo buồn vì con cái. Lỗi chúng tôi phần nào vì đã không biết dạy dỗ tụi nó đúng cách.
1990. Bà chị thứ tư của David mất vì bịnh đứng tim.
*1991, David Bị Kích Tim
David bị heart attack (kích tim) vô nhà thương mấy tuần. Hậu quả của gần 30 năm hút thuốc. Hút càng ngày càng nhiều. Việc làm càng khó khăn, căng thẳng, y càng cố gắng, càng cố gắng thì hút thuốc càng nhiều.
Chưa từng biết gì về computer nhưng với kinh nghiệm làm việc, y đã điều hành, kiểm chứng cho chuyên viên lập ra một chương trình để xử dụng trong hãng. Từ lúc hãng mới mở cửa năm 1986, việc ít, người ít, mọi sự đều làm bằng tay. Cơ sở phát triển lên hàng trăm nhân viên, phải điều hành bằng hệ thống điện toán.
Vì trách nhiệm, vì việc làm đòi hỏi sự quan tâm thường xuyên, y đã quên thân mình. Một ngày hai bình cà phê, ba gói thuốc thì thân nào chịu nổi. Bác sĩ cho biết nếu không tự săn sóc lấy mình thì y sẽ không sống tới ngày có cháu!
Sợ chết ,y bỏ hút thuốc. Một cái một. (y nói nhỏ không muốn bỏ tôi lại một mình)
Tôi thi đậu, làm giám khảo ngành thẩm mỹ.
Chiến tranh giữa Kuwai và Iraq bùng nổ.
Hai đứa con trai nói “khi quốc gia cần tụi con sẽ đi lính ” dù ba nó đã cho biết sự sai lầm của chính bản thân. Tôi quá lo sợ, sợ cho tới ngày Tổng Thống Bush rút quân về.
Con gái tôi bắt đầu cãi cha ghét mẹ. Khi buồn nó chỉ tâm sự với bạn mà thôi. Lỗi tại tôi, ham làm việc, ít gần gụi nó.
Diện con lai, gia đình HO bắt đầu qua Mỹ.

* 1992 – 1993
Lawrence vừa đi học vừa đi làm. Đứa con trưởng có tánh tự lập từ nhỏ. Có em sớm, nó cũng sớm biết nhường nhịn, thường ngồi chơi một mình.
Còn nhớ Tommy, lúc mới mấy tháng biết nhìn ai là mẹ rồi, tối nào tôi cũng phải ẵm nó từ 8 tới 9 giờ rồi bỏ vô giường thì nó mới chịu ngủ.
Vậy mà vù một cái, năm 1993, tôi cưới dâu trưởng, gốc Quảng Đông, tên Elaine.

* 1994 – 1996
Hãng DC chia ra chi nhánh lấy tên Division 92, David đươc một phần trong bốn phần hùn. Y vừa làm chủ hãng DIV 92, vừa làm phó giám đốc cho hãng chính DC.
Cuối 1994, Tommy vô hãng làm việc cho cha.
Sang năm 1995, con dâu có bầu. Đứa đầu không giữ được.
Tôi cứ suy nghĩ hoài. Có thể nào, vì Agent Orange (chất độc mầu da cam từng xài quanh các căn cứ Mỹ ở Việt Nam thời chiến) ảnh hưởng máu ông nội, qua tới đời cháu? Chẳng lẽ hậu quả của chiến tranh đeo đẵng theo phá hoại tới đời con cháu?
*1996, Thêm Công Dân Hợp Chủng
Elaine có bầu lần thứ nhì. Lần nầy thì mẹ tròn con vuông. Chúng tôi có cháu nội gái tên Emily.
Vậy là, xứ sở có tên Hợp Chủng Quốc thêm một công dân hợp chủng. Emily có 3/4 máu Á Đông, máu Mỹ còn có 1 phần. Nếu theo cái đà nầy, vài thế hệ tới nước Mỹ sẽ không còn da trắng, đen, vàng, đỏ, nâu nữa mà sẽ có cùng chung một màu … lờ lợ. Với cháu nội, tôi muốn sửa lại những sai lầm, thiếu sót của tôi khi nuôi con, tất cả thì giờ rảnh tôi dành cho nó.

* 1997, xuống tàu, “ra riêng”
Elizabeth vô hãng làm phụ tá cho David.
Tụi tôi để nhà lại cho vợ chồng Lawrence. Mua chiếc tàu dài 28 feet, “ra riêng”, sống luôn trên tàu. Kể như chúng tôi ăn trái do mình trồng, bây giờ có dư chút đỉnh tiền, y dụ tôi mua chiếc tàu để thỉnh thoảng đi câu cá. Tôi chìu theo dù không biết lội.
Ai mà ngờ ngày ký tên nhận tàu, cũng là ngày tụi tôi ở luôn trên con tàu neo giữa Boat City tại Marina del Rey…. Không khí mát mẻ, tôi dứt chứng bịnh dị ứng mũi kinh niên. Từ ngày ở trên tàu không còn phải xài thuốc thông mũi nữa.
Sang năm 1998, con tim của David có vẻ chịu gió biển, không thấy lên cơn bất tử nữa. Công việc “xuôi chèo mát mái” y đòi đổi chiếc tàu 38 feet. Tôi lại phải gật. Sống trên mặt nước là ước muốn từ lâu của y. Có con tàu riêng đúng ý, David vui vẻ coi là “mộng đã thành.”
Nhìn y vui, tôi nhớ đủ thứ. Chẳng có giấc mộng nào tự nhiên mà thành. May mắn không đủ. Núi cao có núi cao hơn. Lúc nào chúng tôi cũng tự hỏi “Mình có làm đầy đủ nhiệm vụ chưa” để khỏi phụ công ơn của những người trên đường đời đã một lần nào đó, giúp mình.

* 1999, Vĩnh Biệt Elaine
Trước ngày lễ Tạ Ơn, nhận tin chị Elaine đang hấp hối. Tới nhà chị, tụi tôi quẩn quanh trong 4 ngày. Đây là lần thứ hai tôi chứng kiến mạng người chênh vênh giữa sự sống và chết.
Khi Ba tôi bị bắn, cái chết thời chiến đến thình lình, tức tưởi, tê dại. Chị Elaine chết trong cảnh an bình. Đứng lặng bên giường chị, tôi thấy sự hấp hối, lấy hơi lên, hớp từng hớp không khí mà không nghe hơi thở ra, cho tới hớp không khí cuối cùng. Thình lình, tim ngừng đập.
Chị mất, tuổi mới 53. Tro tàn chị dặn hãy đem rải trên ngọn núi Table Rock ở Medford, nơi chôn nhau cắt rún. Một cuộc đời, chỉ sống loanh quanh nơi thị trấn nghèo nàn, buồn thiu. Sống giản dị, chết cũng giản dị.
Còn nhớ mới ngày nào chị cùng má chồng ra sân bay rước tụi tôi, năm 1970. Tôi gặp chị vào lễ Tạ Ơn, nay chị xa tôi cũng vào dịp lễ nầy! Thoắt cái. Ba mươi năm. Thôi rồi, xong một đời người. Vĩnh biệt Elaine.

Hình ảnh gia đình do tác giả cung cấp.

* 2000, Sau 32 Năm
Ngày 28 tháng 5 năm 2000, ngày giỗ Ba tôi.
Sau 32 năm, nhìn đám con nguyên vẹn 7 đứa (chị tôi đi xa không về kịp) cùng gia đình sum họp, có lẽ Má tôi, chen lẫn trong buồn nhớ là sự hài lòng. BMá đã không uổng công ở vậy nuôi con. Mấy chị em tôi, dù con cháu đầy đàn, vẫn luôn luôn quẩn quanh bên Má. Tôi không đủ chữ nghĩa để viết về người mẹ. Bà là người đã tạo cho tôi lòng tin và sự cứng rắn. Chính bà là chỗ dựa để tôi đứng lên vững hơn mỗi lần bị đời đạp xuống. Má tôi đã lên chức Bà Cố từ lâu.
Tháng 6, tôi có thêm đứa cháu nội gái tên Charlotte. Đứa lớn giống mẹ đứa nầy giống cha. Đứa cháu lớn nói tiếng Tàu thiệt là giỏi. Tiếng Mỹ khỏi học cũng biết. Tiếng Việt nói gì nó cũng hiểu, mà còn mắc cỡ miệng. Năm nay tôi cho nó 2 cuốn băng học tiếng Việt, má nó cùng học luôn thể. Mới 4 tuổi rưởi mà nó ma le lắm. Khi nào muốn tôi chơi với nó, nó sẽ giở giọng nhõng nhẽo ra ” bà nội, lại đây” bằng tiếng Việt có bỏ dấu đàng hoàng (giỏi hơn ông nội) lòng tôi mềm nhủn liền.
Khi nhận tin người anh rể chết bất thình lình, tôi nhớ ngày anh mang David về ngôi nhà cũ ở Phú Lâm giới thiệu. Anh chính là “ông mai” của chúng tôi. Tôi biết ơn anh.
Cho tới ngày nay, David cũng chỉ nói được vài tiếng Việt không bỏ dấu.
Tôi xào đồ ăn, y nhắc:
– Put alot of Cu Hanh ( để nhiều củ hành).
Mỗi lần ai hỏi về “Chuyện gì xảy ra ở “Nam'” y trả lời:
– Mình rút, mình thua. Vinh hạnh gì mà khai? Tôi thấy xấu hổ…
Tôi không nhìn người đàn ông đi bên tôi là người ngoại chủng, chỉ thấy một người chồng, người cha, lòng tốt lấp đi tật xấu. Y bắt buộc ba đứa con phải nói tiếng Việt để tỏ lòng kính trọng người mẹ Việt và gia đình bên ngoại.
Đó bạn, “chuyện nhà” chúng tôi, cũng ba chìm bảy nổi như bao câu chuyện khác.
Qua kinh nghiệm sống hơn ba chục năm, tôi thấy nước Mỹ chuộng người siêng năng, cầu tiến, cố gắng và biết chụp cơ hội. “Ngồi mà chờ thời, đời nào mà thành.”
Tôi hay chọc David :
– Nước Mỹ nợ nước Việt Nam, cho nên phải cưu mang người Việt. Má tôi hơn 75 tuổi còn sáng suốt, ăn uống đầy đủ, bịnh hoạn đã có bác sĩ, nhà thương lo. Các em tôi có công ăn việc làm đàng hoàng. Còn you, you nợ tôi, you tình nguyện vô lính lúc chưa tới 17 tuổi, bắt mẹ phải đi ký tên, đi tuốt qua bên kia trái đất, rước tôi về đây để trả nợ.
Y nịnh:
– Nợ tình. “I love you từ kiếp trước”. Nợ tiền trả lần lần cũng hết. Nợ tình thì anh trả suốt đời. Kiếp nầy không xong trả thêm kiếp sau.
Vậy là sau bao năm coi vợ như… không khí, y bắt đầu hiểu ra là không khí cũng có chút giá trị.
Vợ chồng, khi hiểu được điều nầy, thường đã…quá “đát”. David nay không còn ốm gọn, mà y như cái thùng phuy. Tôi cũng đã tròn như cái gối ôm, đâu còn nhỏ xíu, mỏng manh như khi đứng bên y trước bàn thờ Ba tôi năm nào.
Trong trận cuồng phong David năm 1979, mạng sống hàng ngàn người và thuyền nhân đã bị nhận chìm, trong đó có dì Năm và tro cốt Ba tôi. Tất cả chìm tan nhưng biển vẫn còn đó.
Hàng ngày, tôi đang là “tàu nhân” sống ngay trên biển.
Đứng bên David, người chồng Mỹ cùng tên với trận cuồng phong, nhìn biển, nghe tiếng sóng xô, lớp sau đùa lớp trước, tôi hiểu điều tôi khấn nguyện và tự hứa năm xưa vẫn được Ba tôi liên tiếp nhắc nhở và phù hộ.

TRƯƠNG NGỌC BẢO XUÂN

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Viết Về Nước Mỹ – Việt Báo

Đàn Chim Việt


Mi cờ rô Đểu! – Trần Mạnh Hảo.

Đúng bọn này là bọn không lương thiện, không tử tế, còn lâu mới thành người mà dám khoác áo nhà văn, khoác áo chủ tịch đoàn, thế giới nó khinh như mẻ, đám ma bùn chứ nhà văn gì chúng nó…

1. Hình ảnh minh họa:  Đồng bào tị nạn tại Melbourne- Úc Châu biểu tình phản đối quyết liệt buổi trình diễn ca nhạc của văn công cộng sản Đàm Vĩnh Hưng.

Are you kidding? Mr. Dam?

2.  Bài đọc suy gẫm:  Gút Bay Đại Hội Bịt Mồm! Gút Bay “Hội Nhà Văn” của đảng. – Trần Mạnh Hảo.

Trước Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ VIII, tôi đã viết bản tham luận: ”Chỉ có sự thật mới giải phóng con người, giải phóng văn học và đất nước” gửi cho blog talawas, website Đàn Chim Việt… Lập tức hàng chục website nối mạng, đặc biệt có hai trang mạng trong nước là website của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và trang Bauxite VN của GS. Nguyễn Huệ Chi cũng post bài tham luận của chúng tôi cho mọi người cùng đọc.

Sáng 05-8-2010, khi tới Học viện Chính trị quốc gia để dự đại hội, đa số các nhà văn đều bắt tay tôi chia sẻ và động viên, rằng bản tham luận ông viết rất được… xin chúc mừng. Một số nhà văn nổi tiếng “yêu đảng vượt chỉ tiêu trên giao” như N.Đ.X., T.T.Đ… cũng bắt tay chúc mừng tôi đã cả gan nói ra những sự thật chết người, mà nói có lý luận, có sự thật bảo chứng…

Có nhà văn động viên tôi hết lời, đoạn dặn rằng: chớ kể ra tên tớ đã ủng hộ cậu nhá, có thể “nó” không bắt cậu nhưng “nó” bắt thằng ủng hộ cậu đấy, tớ hãi lắm; “nó” muốn để cho SỰ THẬT ĐƯỢC MỒ YÊN MẢ ĐẸP”, cậu lại cả gan bốc nấm mộ này lên, mất mạng như chơi…

Các nhà văn đều tin rằng, “nó” đếch cho cậu đọc tham luận này đâu. Nhiều nhà văn còn rỉ tai dặn: tuyệt đối ông không được uống nước có sẵn (chai nước lọc) trong khách sạn Kim Liên nhá, không được một mình đi vào các con phố vắng nhá, ai không thân mời đi ăn uống là tuyệt đối không nhá, đi đâu nên rủ hai ba thằng nhà văn bạn bè đi cùng nhá; rằng ông nhớ vụ cụ Dương Bạch Mai người Nam Kỳ trong cuộc họp quốc hội ngày nào chứ, cụ này mới lên diễn đàn nói thật một tí teo thôi, đoạn xuống uống một ly nước (hay bia gì đó) liền lăn đùng ra chết… Ở đầt nước “tự do gấp triệu lần tư bản”, toàn “đỉnh cao trí tuệ” cầm quyền với chủ nghĩa bách chiến bách thắng… đã bao người mới hé mồm ra nói sự thật như cụ Dương Bạch Mai liền lăn đùng ra chết bất đắc kỳ tử, thì thằng phá trời như mày liều mạng nói toẹt ra sự thật, coi chừng thí mạng cùi đó nghe con!

Nghe bạn bè lo lắng cho tính mạng của mình như vậy, tôi hãi lắm, nếu có làm sao thì cha già ngoài quê Nam Định, vợ con trong Sài Gòn biết cậy vào ai? Nghe anh bạn thân tái mặt bảo: chỉ có thằng điên như mày mới dám viết tham luận như vậy, mày đang là số phận của con cá nằm trên thớt mà dám cãi nhau với cả dao liền thớt thì coi chừng đi họp chi bộ với hà bá đó! Bước vào hội trường, tôi tự dặn mình: im mồm nhé, tuyệt đối câm nhé, đồng chí Hảo ngu như lợn ơi, mua băng keo dán miệng lại nhé… Trước khi ra Hà Nội, vợ con và bạn bè dặn: tịnh khẩu là thượng sách, đóng vai thằng đần là ăn chắc sống, thề đi, xin thề!

Thế mà trong không khí bầu bán “quần ngư tranh thực” rất vô văn hóa của đại hội, nhất là không thể chịu được cách điều hành đại hội rất xách mé và trịch thượng của ông trung tướng công an Hữu Ước (nhạc sĩ mù nhạc, họa sĩ mù màu, nhà văn ít chữ…) chúng tôi đã quên béng lời dặn dò tịnh khẩu của người thân, quên béng mình đã hứa với mình: quyết tâm làm con lợn chỉ ủn ỉn chơi với bạn bè trong đại hội thôi, nghĩa là ngu vĩnh viễn đi là yên… lại ngứa tay, ngứa mồm giơ tay xin phát biểu ý kiến…

Cháu với bố cháu quyết định đổi lộ trình, đạp xe đi theo yểm trợ đoàn biểu tình cho thêm … khí thế 🙂

Tôi đã giơ tay mấy lần, giơ tay rất lâu mà các vị chủ tịch đoàn tuyệt đối không cho lên, không cho nói. Hàng chục nhà văn ngồi quanh tôi nói lớn: ông Hảo cứ lên đi, cứ lên đi, sao lại không cho một nhà văn hàng đầu của hội phát biểu… Rồi có mấy tiếng quát cô cầm micro: đưa micro cho ông Hảo. Không khí sôi sục làm chúng tôi thêm dũng khí, đứng lên nói: xin cô cho tôi mượn micro. Cô gái cầm micro quyết không đưa; có ai đứng bên cạnh giật được micro giúi vào tay tôi. Cô gái giữ trận địa an ninh của đảng giật lại micro như giật súng, nhưng không giật lại được. Tôi nói vào micro: kính thưa quý vị nhưng micro câm tiếng. Có ai nói: nó cúp điện micro này rồi, nó là micro đểu. Mấy ông nhà văn to tiếng: ông Hảo lên bục đoàn chủ tịch ngay, trên đó có hai cái micro tốt nhất nước đấy…

Tôi hùng dũng lên bục cao chủ tịch đoàn, giúi mồm vào hai chiếc micro như hai miệng súng chĩa vào tôi, đoạn kính thưa, rồi nói. Tôi mừng thầm, micro này vẫn còn chưa bị cúp: kính thưa quý vị, có cảm tưởng tôi đã đến nhầm địa chỉ, hình như đây không phải là đại hội nhà văn, đây là một đại hội chính trị tranh giành quyền lực. Ở đây văn học không có chỗ tồn tại. Hội nhà văn thì phải lịch lãm lịch sự, phải có văn hóa chứ, các vị đang đánh tráo khái niệm chính trị và văn học… Lập tức micro bị cúp… Tôi vẫn nói rất to hi vọng một số nhà văn ngôi hàng đầu nghe được: rằng ông trung tướng nhà văn Hữu Ước không biết viết văn, sao ngồi chủ tịch đoàn điều hành đại hội rất xách mé, trịch thượng, xin ông xuống cho… So với một số nhà văn bậc thầy ngồi dưới, ông Ước chỉ là thằng bé con tập tành viết lách lăng nhăng…

Nhà thơ Hữu Việt đứng lên hét to: không được đối xử với nhà văn như thế, sao lại cúp micro anh Hảo. Rất nhiều nhà văn đứng lên quát: không nghe thấy gì, để cho người ta nói, nối lại micro đi… vô văn hóa, vô văn hóa, toàn micro đểu

Không có micro, tôi đi đi lại lại trước mặt chủ tịch đoàn một lúc rồi đành đi xuống…

Lập tức micro lại vang lên trong miệng người điều hành đại hội  xin mời nhà văn Tô Nhuận Vĩ nói…

Tôi bước xuống, bạn bè đỡ lấy tôi, bắt tay rối rít. Ai cũng bảo “nó” coi nhà văn như súc vật, bịp mồm người ta, không cho người ta nói là khinh bỉ toàn đại hội. Tôi ngồi cạnh nhà thơ hàng đầu Việt Nam Bằng Việt, anh bảo tôi phản đối trò cúp micro vô văn hóa này, đây là vết nhơ không thể xóa nổi của đại hội. Nhà thơ Anh Chi bắt tay tôi bảo: chúng nó thua ông rồi, chưa giao chiến mà nó đã thua một không, bọn khốn nạn, bọn vô văn hóa chứ đâu phải nhà văn, tao sẽ lên chủ tịch đoàn chửi thẳng vào mặt chúng nó: chúng mày cúp micro của thằng Hảo là chúng mày ném bùn vào đại hội đấy, chúng mày đã làm đại hội thất bại vì đây là đại hội bịt mồm… Phạm Đình Trọng bắt tay tôi: chúng nó đã biến ông thành linh mục Nguyễn Văn Lý, ông bị một đại hội lớn bịp mồm.

Giờ giải lao các nhà văn xúm đến bắt tay tôi, chửi bọn bịt mồm. Thanh Thảo cười ngặt nghẽo: chúng nó cho chú Hảo rơi vào cõi im lặng đáng sợ, Hảo ta câm hoàn toàn, dán giấy vào miệng mày, sướng chưa con… Nguyễn Quang Lập chống gậy ra cửa bảo: em vừa quát vào mặt thằng phó ban tuyên giáo: chúng mày súng ống đầy mình sao lại sợ Trần Mạnh Hảo tay không đến thế? Mỹ chúng mày không sợ mà sợ Hảo à, đồ ngu!

Cô gái Việt nơi xứ Kanguru của chúng tôi vừa đẹp vừa giỏi 🙂

Ban Tổ Chức phân phát flyer giải thích lý do cuộc biểu tình đến người dân bản xứ.

O nói với ông chính quyền Úc ni hiểu là ở  trong nước tụi cs.cấm lưu hành văn hóa của người Việt tị nạn hải ngoại, mặt khác lợi dụng xứ tự do đưa văn công sang tuyên truyền đầu độc con em chúng tôi… thế thì công bằng ở mô?

Nhóm phóng viên Paltalk tại Melbourne tường trình trực tiếp đi khắp nơi trên thế giới, đặc biệt chuyển tải âm thanh, hình ảnh về quốc nội qua các diễn đàn thuộc hệ thống Paltalk, các mạng Yahoo, Skypie….

Chiều 5/8/2010, sau khi đài RFA gọi điện thoại phỏng vấn chúng tôi về sự kiện bịp mồm, ông Hữu Thỉnh xin lỗi đại hội về sự cố kỹ thuật bị mất điện micro của anh Hảo rất đáng tiếc, chúng tôi xin lỗi và sẽ kiểm điểm sâu sắc những người phụ trách kỹ thuật âm thanh. Cả hội trường ồ lên: cắt micro, bịt mồm người ta rồi sao còn đổ lỗi cho kỹ thật, giấu đầu lòi đuôi.

Các nhà văn bảo tôi: xin lỗi vì trục trặc kỹ thuật nên ông Hảo không nói được vì micro mất điện, nếu quang minh chính đại thì phải mời anh Hảo lên nói lại chứ, bắn không nên đền đạn chứ. Nói dối lòi mẹ cái đuôi định hướng micro, micro đểu rồi còn xoen xoét cái miệng gian trá, bịp bợm. Đúng bọn này là bọn không lương thiện, không tử tế, còn lâu mới thành người mà dám khoác áo nhà văn, khoác áo chủ tịch đoàn, thế giới nó khinh như mẻ, đám ma bùn chứ nhà văn gì chúng nó…

Một số nhà văn đã đi tìm hiểu, hỏi cán bộ công nhân viên học viện chính trị quốc gia rằng hệ thống âm thanh ở đây có bao giờ trục trặc chưa? Họ trả lời, đây là trường đảng của Bộ chính trị, trục trặc âm thanh có mà chết, không bao giờ bị trục trặc âm thanh, dàn âm thanh tốt nhất nước đấy… Với lại, hội trường này không bao giờ bị mất điện, tuyệt đối không bao giờ micro bị tắt tiếng như sự cố hôm nay đâu…

Sau hai ngày ngồi trong hội trường đại hội, chúng tôi và rất nhiều anh em nhà văn phát hiện ra sự thật này: âm thanh micro của đại hội là âm thanh đểu, micro đểu. Vì mỗi lần ông Hữu Thỉnh nói hay các ông trong chủ tịch đoàn nói, hay những ông đọc tham luận y hệt xã luận báo Nhân Dân thì âm thanh rất tốt, rất vang, rất rõ. Rõ đến nỗi tôi ngồi bên ngoài, đi trong sân của hội trường còn nghe rõ mồn một. Thế mà khi nhà văn lên nói hay lên tham luận mà họ không nắm được, họ bèn vặn rất nhỏ âm thanh micro. Tham luận của GS. Phong Lê có nhắc đền Hoàng Sa , Trường Sa, nhắc đến nỗi nguy mất nước thì micro bị nhiễu, rè như kẻ khản đặc tiếng, nghe câu được câu chăng… Các tham luận hay phát biểu của Bùi Minh Quốc, Phạm Đình Trọng… đều bị micro đểu làm méo hết giọng. Đúng là quân đểu, micro đểu, đại hội đểu…

Các nhà văn giờ giải lao xúm vào hỏi tôi, rằng ông định nói gì lúc đó, nạn nhân của micro đểu, tự do đểu, dân chủ đểu định nói gì mà “nó” sợ ông hơn sợ đế quốc Mỹ vậy? Tôi bảo, tôi đâu có cầm trong tay bản tham luận đâu mà “nó” cắt micro của tôi, tôi chỉ xin nói ba đến bốn phút mấy cảm nghĩ như sau:

Thứ nhất, tôi thấy sự thật và đất nước không có mặt tại hội trường này. Dân tộc ta, đất nước ta đang bị bọn giặc phương Bắc xâm lược; chiếm các quần đảo của ta, giết dân ta ngoài biển như giết ngóe, chiếm đất liền ta bằng kế hoạch bauxite thậm độc, trồng rừng đểu, khai quặng đểu để chiếm đất, chiếm rừng rồi ồ ạt di dân Tàu sang đất ta… Họa mất nước đang đến gần sát sạt. Vậy mà ông Hữu Thỉnh lờ đi, chủ tịch đoàn lờ đi, đa số nhà văn lờ đi, tham luận chúng ta lờ đi… Làm như đại hội nhà văn lần thứ tám này đang diễn ra bên Trung Quốc chứ không diễn ra trên đất nước ta. Điều lo lắng quan tâm nhất của 85 triệu đồng bào không hiện diện trong hội trường này; thế thì chúng ta câm mồm để Trung Quốc bóp cổ đất nước, chúng ta đồng lòng với kẻ xâm lược à?

Thứ hai, tôi muốn cải chính dùm cho ông Hữu Thỉnh. Sau khi bài báo động trời của nhà văn Trang Hạ: “Em không phải nhà văn” tung lên các trang mạng trong và ngoài nước, nhiều nhà văn hỏi chúng tôi; rằng có phải nhà thơ Hữu Thỉnh là người của Trung Quốc, do Trung Quốc cài cắm vào từ lâu để nắm hội nhà văn, sao thấy các hành xử quốc tế của ông Thỉnh yêu nước Tàu hơn yêu nước Việt, làm cái gì cũng cốt để đẹp lòng thiên triều phương Bắc? Tôi bèn trả lời rằng, không nên kết luận sớm quá như vậy, chẳng lẽ ông Hữu Thỉnh lại đang tâm làm gian tế cho giặc hay sao?

Xin good bye chủ tịch hội nhà văn Hữu Thỉnh!

Kính xin ông chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam khóa VIII Hữu Thỉnh (ông Thỉnh đã làm chủ tịch hội ba khóa rưỡi) hãy rủ lòng thương, ban cho tôi ân đức, xin ngài hạ cố gạch tên chúng tôi trong danh sách hội viên.  Xin cảm ơn ông trước. Chúng tôi không làm đơn xin ra khỏi hội; vì khi vào hội nhà văn năm 1975, chúng tôi không phải làm đơn, được hội nhà văn tự động đưa vào hội cùng mấy chục nhà văn trong văn nghệ giải phóng từ chiến khu về.

Qua đại hội này, chúng tôi kết luận: Hội nhà văn Việt Nam sinh ra không phải để phụng sự Tổ Quốc và nhân dân Việt Nam, mà chỉ cốt phục vụ Đảng Cộng sản Việt Nam mà thôi. Mà đảng cộng sản Việt Nam thì không phải là dân tộc hay tổ quốc Việt Nam.

Xin good bye đại hội bịp mồm!

Sài Gòn ngày 07-8-2010

© 2010 talawas

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The


Links:


N’s Picasa Web album

Lê Diễn Đức ‘s Web Blog

Người Việt Ly Hương- Úc Châu



You Are My Hero !

1. Hình ảnh minh họa: Đại Nhạc Hội “Cám Ơn Anh, Người Thương Binh VNCH – Kỳ 4″với nhiều nghìn người tham dự tại Nam California.

Hải quân Hoàng Sinh, người đi bán vé ĐNH-cho Thương Binh VNCH từ nhiều ngày trước ở các chợ Việt Nam tại Little SaiGon.

Hoạt cảnh nền phụ họa cho nhạc về người lính VNCH do các em thế hệ thứ hai trình diễn đầy hào hùng, xúc động.

2.  Câu chuyện về người thương phế binh Phan Thế Duyệt – Lời giới thiệu: Giao Chỉ.

Vào năm 2003 trong một chương trình giới thiệu hoạt động của hội “compassion” tại San Jose, California USA, ngay sau khi phát thanh lần thứ nhất, nhiều thính giả đã gọi vào thể hiện tâm tình họ dành cho câu chuyện thật đặc biệt, câu chuyện về một thương phế binh VNCH đang sống trong hoàng cảnh hết sức cô đơn tại một làng quê xa cách chốn phồn hoa đô hội… Câu chuyện có chút đau thương nhưng cũng lại có nhiều thơ mộng và đẹp của tình người.

Anh là một thiếu úy xuất thân từ trường Võ Bị QGVN và cũng đã từng mơ về một tương lai tươi sáng với những chiến công, những vòng hoa chiến thắng được choàng vào cổ từ tay của một nữ sinh sinh đẹp nào đó. Nhưng viên đạn AK47 ác nghiệp đã xuyên qua lưng anh ngay trong trận chiến đầu đời của một tân sĩ quan… Mọi giất mơ tan vỡ, tương lai trở nên mịt mù và anh đã phải trải qua biết bao nhiêu đau thương sau đó.
Vết thương chưa lành hẳn thì biến cố 30 tháng 4 úp xuống, anh bị đẩy ra khỏi Quân Y Viện khi viết thương còn rỉ máu, anh được cha mẹ gìa đưa về sống tại Tây Ninh, chẳng bao lâu sau đó anh đã phải cắt bỏ đôi chân vì ung thối để cứu mạng, thế rồi cha mẹ anh cũng lần lượt qua đời, còn lại một mình trong căn nhà nhỏ, anh đã sống 30 năm dài trong nỗi cô đơn tận cùng của kiếp người.

Đối với những người thương binh VNCH khác, hoàng cảnh của anh có lẽ chưa phải là tận cùng bằng số (?) Anh biết rõ điều này, nên không than vãng, chỉ vì buồn muốn viết thư đi khắp nơi để tìm người tâm sự và không kêu nài trợ giúp, lá thư gởi ra Hải Ngoại đi lang thang và được ai đó đưa lên internet, một cô gái ký tên “H” gởi về anh $50.00 Mỹ kim, anh viết thư cảm ơn…

Một người ở Paris đọc được lá thư anh gởi cho người con gái có tên “H” tưởng là bạn mình nên chuyển qua cho cô BS Hương (Liên Hương) thành viên của “Hội Huynh Đệ Chi Binh” cô BS cảm động vì lá thư lạ đã viết trả lời anh, lá thư cũng đầy tình cảm chan chứa, tường chừng như ở thời còn chinh chiến của một người em gái hậu phương gởi cho anh chiến sĩ nơi chiến trường, lá thư tỏ lòng ngưỡng mộ tuyệt đối dành cho một anh hùng. Anh chính là một “anh hùng” trong mắt cô Liên Hương ở Hoa Kỳ. Thư trao đổi giữa anh và cô BS trẻ với những lời chân tình đã làm nhiều người rơi lệ.

Giao Chỉ.

Đặng Thế Luân và Băng Tâm của trung tâm Asia diễn xuất độc đáo, chinh phục trái tim khán giả.

Tôi là lính, xa nhà đi trấn sơn khê, hai mùa mưa, mây mù che nẻo đường về…. Lính Nghĩ Gì (Nhạc Hoài Linh).

Hình ảnh đặc biệt: Thương Binh hải ngoại (cụt 2 chân) yểm trợ thương binh quê nhà – Người ôm thùng tiền là ca sĩ Nguyên Khang tức Xướng Ngôn Viên Vĩnh Lộc của đài truyền hình SET.:)

Tây Ninh ……………. 1999

Cô H. thân mến,

Khi cầm bút viết thư này tới cô, tôi rất cảm động vì lần đầu tiên nhận được 1 thiệp chúc Noel và 50 USD. Bao đêm nằm suy nghĩ moi óc tìm về quá khứ xem có quen ai là H. không. Rồi kết luận tôi và cô rất xa lạ chưa 1 lần đối diện. Thế nhưng giữa khoảng không gian xa cách nghìn trùng, giữa lúc bận rộn với cuộc sinh nhai nơi đất khách quê người, mà cô còn có thời giờ hướng về quê nhà, nơi đó có những người nghèo khổ, tàn tật, đang âm thầm trên giường bệnh như tôi. Ngoài ý nghĩa về vật chất, món quà của cô còn có 1giá trị tinh thần rất to lớn, nó an ủi tôi trong những ngày Đông giá để chuẩn bị đón Xuân về. Nghĩa cử cao đẹp của cô chắc chắn sẽ được Thượng Đế đền bù.

Đây là những ngày đầu Xuân. Sau vài ngày Tết tạm quên đi những âu lo phiền muộn thì bây giờ lại suy nghĩ, tính toán cho năm rộng tháng dài. Tôi đã bị loại ra khỏi vòng chiến vào một buổi chiều mây giăng tím ngắt cách nay gần 27 năm dài (bị liệt và cưa 2 chân!).

Trong vòng 27 năm đó, cuộc sống của tôi âm thầm như những đêm không trăng sao. Bốn mùa cứ lần lượt trôi qua, bao đứa trẻ thơ đã trưởng thành, còn tôi đã thấy thấp thoáng con đường tới nghĩa trang!!! Ngày ngày chỉ nằm trên giường ngắm mây bay qua khung cửa sổ, và chiều chiều nghe tiếng chuông giáo đường buồn bã. Rồi đôi khi âu lo khi số tiền trong túi cạn dần.

Chưa bao giờ tôi đủ can đảm ngắm mình qua gương. Tuổi trẻ, tình yêu đã vượt khỏi tầm tay. Đôi khi kỷ niệm hiện về hỗn độn, quay cuồng, tan vỡ như những mảnh thủy tinh sắc nhọn. Tủi thân, phiền muộn là căn bệnh trầm kha kéo dài từ ngày nầy đến ngày khác! Đầu năm chỉ duy nhất một mình trong căn nhà bầu bạn với chiếc tivi, dò hết đài nầy đến đài khác, rồi mệt mỏi lăn ra ngủ. Những lúc đau nặng, bao nguy cơ rình rập, chỉ biết phó mặt cho bàn tay Thượng Đế.

Đã lâu lắm rồi không có cơ hội viết thư nên trong hồi báo này từ đầu đến giờ lẩn thẩn quá phải không cô H? Nếu có gì sơ suất xin cô bỏ qua sự thiếu sót đó. Trước thềm năm mới, tôi chúc cô và gia đình hưởng một mùa Xuân vui vẻ, một năm mới An khang thịnh vượng.

Tôi xin dừng bút nơi đây. Chào cô.

Ký tên: Duyệt

P T D

Thưa với cô phóng viên:” Liên đoàn Hướng Đạo cũng xin đóng góp một tay cho các chú bác thương binh quê nhà….

Nhóm thiện nguyện viên nhận điện thoại từ đồng bào gọi vào đóng góp cho Thương Binh. Theo tổng kết hiện tại thì tổng số đã lên đến 7 trăm ngàn đô la.

Thanh Niên Cờ Vàng  (TA-NPN) trách nhiệm chuyển âm, hình ảnh lên Paltalk trực tiếp vào các mạng Yahoo, Skypage- Cà Mau- Cần Thơ- Sài Gòn- Huế- Hà Nội…

San Jose ngày 1 tháng 8, 2003

Anh Duyệt thân mến,
Có lẽ anh sẽ ngạc nhiên lắm khi nhận được lá thư này. Do một sự tình cờ hay sắp xếp nào đó của Thượng Đế, nếu chúng ta còn tin có Thượng Đế hiện hữu trong cuộc đời này, lá thư của anh đã vượt ngàn dặm hải lý và thời gian phủ bụi mờ để đến tay tôi. Một người bạn của tôi ở Pháp, trong lúc đi sưu tầm trên những trang điện toán đã tìm thấy lá thư này, và chuyển đến tôi. Chỉ vì một sự trùng hợp ở vần tên với một cô gái nào đó mà anh đã viết thư cám ơn 3 năm trước đây.
Lá thư của anh không giống như bất cứ lá thư nào tôi đã đọc trong gần 10 năm qua. Tôi cũng chưa bao giờ trả lời riêng như tôi đang làm ngày hôm nay. Đây cũng là lần đầu tiên tôi dùng tên thật của mình để viết cho một người chưa biết mặt. Tôi viết như thế để anh hiểu cái ấn tượng sâu đậm, và một phần nào là nỗi xúc động lá thư của anh đã để lại trong tôi.
Trong tuần lễ qua, tôi đã gọi điện thoại về Việt Nam một vài lần theo số anh ghi trong thư, nhưng đáng tiếc vẫn không liên lạc được vì đường giây luôn luôn bận. Cũng có thể vì tôi gọi không đúng cách, một lần nữa lại cho anh biết rằng đây là 1 điều tôi không thường hay làm lắm đâu.
Lá thư của anh đã vô tình nhắc nhở cho tôi về quá khứ, những năm tháng chiến tranh điêu linh của đất nước mà tất cả chúng ta đều muốn quên. Anh không kể nhiều trong thư, nhưng tôi đoán anh chắc phải là 1 người đã có kiến thức của 1 vài năm Đại học, hay ít nhất cũng đã đỗ Tú Tài trước khi đăng lính vào quân đội. Bởi vì 1 người bình thường ít may mắn được đến trường hơn, đã không thể viết một lá thư vừa lắng đọng, vừa lãng mạn dạt dào tình cảm như vậy.


Ca sĩ “very hot” của Asia- Nguyễn Hồng Nhung, mặc dù vừa đám cưới tuần rồi, tuy nhiên nhất định hy sinh “HoneyMoon” qua tuần tới để đến tham dự hát chung với Lâm Nhật Tiến cho ĐNH-Thương Binh kỳ IV, không phụ lòng trông đợi của các fan. Cực kỳ  hoan hô nhiệt tình..🙂

Nữ Ca Sĩ kiêm Xướng Ngôn Viên Mai Vy đang bê thùng đi xin tiền cho Thương Binh.

Loạ !  Quyên tiền giúp thương binh lại có cả nữ ca sĩ Loretta Sanchez 🙂 thiệt là dzui.

Sự gắn bó của tôi với những người lính cũ có lẽ bắt nguồn từ gia đình tôi vốn đã có rất nhiều người xuất thân từ quân đội miền Nam trước đây. Cha tôi ngày xưa là 1 bác sĩ quân y ở Chẩn Y Viện Trung Ương, và cậu tôi cũng đã từng là 1 bác sĩ giải phẫu chữa phỏng và chấn thương tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, nơi tôi vẫn thường xuyên lui đến những ngày còn nhỏ vì căn bệnh riêng của mình. Hình ảnh của những nguời thương bệnh binh quấn khăn băng trắng thẫm máu đỏ hàng ngày được chở về từ mặt trận với tôi vì thế đã không xa lạ lắm. Một trong những người bạn thân nhất của tôi ở đây hôm nay là 1 cựu phi công từng đóng quân ở Phù Cát (Qui Nhơn)…
Tôi viết thư cho anh hôm nay, không phải như 1 người Việt kiều xa xứ được ưu đãi trong 1 đời sống an lành, và thoải mái hơn về vật chất lẫn tinh thần, đang nghiêng mình xuống viết cho 1 người đồng loại bất hạnh của mình. Nhưng tôi viết với tâm trạng của một cô gái nhỏ năm xưa đã lớn lên yên ổn giữa thành phố Saigon, nhìn tuổi thơ ấu của mình trôi qua dưới ánh hỏa châu và những tiếng bom đạn hàng đêm vẫn vọng về từ 1 chiến trường xa. Ở đó, bao nhiêu xương máu và nước mắt của cả 1 thế hệ tuổi trẻ đã đổ xuống để che chở cho những cô gái nhỏ như tôi được tiếp tục bình yên đến trường. Ở đó, vẫn có bao nhiêu người chiến sĩ như các anh còn ôm tay súng, chiến đấu đơn độc vào những giờ phút chót để gia đình chúng tôi có cơ hội xuống thuyền ra đi, tìm đến những quê hương hạnh phúc mới bên này bờ biển Thái Bình Dương.
Chính với tấm lòng tri ân và ngưỡng mộ đó mà hôm nay tôi thấy cần phải viết cho anh, cho các bạn của anh những lời các anh xứng đáng được nghe nhưng có lẽ đã chưa bao giờ được nghe từ gần 30 năm qua. Để các anh hiểu được rằng những hy sinh của mình đã không lãng phí, hay vô ích. Những tượng đài có thể bị đạp đổ, nhưng những hình ảnh thần tượng ghi khắc trong lòng sẽ chẳng bao giờ có thể bị xóa nhòa.
Chúng ta đã mất mát rất nhiều thứ, những người thương binh như các anh đã mất hết 1 phần thân thể, tình yêu và tuổi trẻ, còn những người Việt tỵ nạn như tôi cũng mất cả 1 nơi chốn dung thân để phải tha hương, lưu lạc khắp mọi phương trời. Có 1 điều ngày hôm nay, tôi mong chúng ta sẽ không đánh mất là tình người đến với nhau để khoảng không gian anh đang sống và hít thở bớt đi niềm lẻ loi, và cô độc. Tôi không là 1 bà tiên có đôi đũa thần nhiệm màu để có thể hóa phép trả lại anh thân thể nguyên vẹn. Nhưng tôi có thể trao tặng anh 1 tình bạn, và hy vọng những giòng chữ của mình có thể xoa dịu được những vết thương vẫn còn nhỏ máu trong tâm hồn anh từ 30 năm qua.
Khi nhận được lá thư này, xin anh gửi cho tôi hồ sơ + 1 tấm ảnh hồi đáp qua địa chỉ 1 người thân của tôi ở Saigon, để rồi sẽ có người đem thư về Mỹ lại cho tôi:

Nguyễn Liên Hương
c/o Phạm Thục Tuyết Xuân

tel:XXXXX

Tôi muốn biết địa chỉ chính xác của anh, để gửi đến anh 1 món quà nhỏ, mà tôi ước mong sẽ đem lại 1 vài tia nắng ấm trong gian nhà lạnh vắng, hiu quạnh của anh hôm nay.
Cũng xin anh đừng phổ biến tên tuổi hay địa chỉ của tôi, vì điều tế nhị thỉnh thoảng tôi vẫn còn trở về Việt Nam trong những công tác xã hội. Thêm nữa, tôi hiểu khả năng giới hạn của mình trong những điều có thể làm. Thật sự sẽ là một điều tàn nhẫn để gieo mầm cho những ảo tưởng, hy vọng không có cơ may được thành tựu.
Cuối cùng, dù tôi không thể gửi nguyên 1 bài hát về, cũng xin cho tôi được gửi tặng anh và những người bạn anh hùng không tên tuổi của anh lời tựa của bài hát, “You are my hero”. Bởi vì cuối cùng, trong cuộc đời này, không có điều gì anh hùng, và cao thượng hơn là hy sinh bản thân mình cho những người khác được quyền sống. Trong mắt tôi, mãi mãi không có những người phế binh thương tật mà chỉ có những người trai anh hùng một thời đã chọn cho mình con đường đi và sống đích thực có ý nghĩa nhất.
Thân ái chào anh, và cầu chúc anh những ngày tháng cuối an lành trong niềm vinh dự và tự hào.

Nguồn: Đàn Chim Việt

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The


Links:


Paltalk’s Picasa (hình ảnh)

Đàn Chim Việt (Online.net)