Con Vịt – Tạ Quân

“Quê hương là chùm khế ngọt”

Deception is everything
(Sun Tzu – The Art of War)

1. Hình ảnh minh họa: Biểu tình Vinh Danh Cờ Vàng đồng thời Chống Việt Gian cộng sản (hội doanh nhân việt kiều) tại Melbourne- Victoria- Úc Châu. Tin chi tiết- Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu.

2. Bài đọc suy gẫm:  Quê Hương Là Chùm Khế Ngọt- Tạ Quân (Tạp Chí Quê Mẹ).

L.T.S. :  Chúng tôi gặp Lê Thành Trung ở trại tị nạn Spandaw Tây Berlin vào đầu tháng bẩy năm nay.  Anh vừa từ Tiệp Khắc chạy qua Đức xin tị nạn chính trị, nhân chuyến đi do Đài Tiếng Nói Việt Nam cử sang tìm hiểu tình hình người Việt ở Đông Âu.  Tốt nghiệp đại học Tổng hợp và đại học Báo chí Hà nội, Lê Thành Trung hành nghề phóng viên ở Đài Tiếng nói Việt Nam.  Anh đã phụ trách các chương trình phát thanh thời sự, Văn nghệ, Khoa học và đời sống, Tiếp chuyện bạn nghe đài, Chương trình dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc v.v..

Quê Mẹ :  Xin anh cho biết về cơ cấu hoạt động và mục đích của chương trình phát thanh dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc của Đài Tiếng nói Việt Nam ?

Lê Thành Trung :  Câu hỏi khái quát quá… Tôi sẽ trả lời từng phần.  Về tổ chức thì Đài TNVN chia làm hai Ban chính. Ban đối nội và Ban đối ngoại.  Trên thực tế phần đối nội được coi trọng hơn.  Ban đối ngoại phụ trách các chương trình phát thanh ra nước ngoài bằng 11 thứ tiếng Nga, Anh, Pháp, Trung, Tây Ban Nha, Đức, Nhật, Lào, Campuchia, Thái, Phi-líp-pin và tới đây sẽ phát thêm tiếng Hin-đi.  Chương trình phát thanh dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc bằng tiếng Việt là một bộ phận của Ban đối ngoại.  Ở nhà, chúng tôi gọi tắt là Phòng Việt kiều.

Quê Mẹ : Phòng Việt kiều cũng nằm ở 58 phố Quán Sứ ?

L.T.T. :   Không.  Đài có 3 trung tâm chính.  Tòa nhà 58 Quán Sứ là trụ sở của Bộ Tổng biên tập và Ban đối nội. Ban đối ngoại ở số 39 phố Bà Triệu, nhà bên phải là trung tâm thu thanh, còn bên trái là Thư viện Hà nội.   Phòng Việt kiều ở tầng 3, trong số nhà 39 đó.  Nhỏ thôi, cả phòng có 8 người làm việc.  Mỗi người phụ trách một mục cho chương trình phát sóng hàng ngày là một giờ đồng hồ. Giờ phát ở nhà vào 22 giờ 30 tương đương 7 giờ ở châu Âu.  Trạm phát sóng Mễ Trì chuyển đi và trung tâm âm thanh của Đài Mát-xcơ-va chịu trách nhiệm tiếp âm sang châu Âu.

Thời gian đầu, đối tượng chính của chương trình là Việt kiều sinh sống ở các nước Tây Âu, nhiều nhất là ở Pháp.  Sau này số lượng người vượt biển gia tăng, số lượng du học sinh và công nhân lao động xuất khẩu ngày một nhiều, nội dung chương trình cũng được bổ sung thêm.  Không thể ước tính được số lượng người nghe nhưng chắc rằng trên tất cả các quốc gia ở châu Âu đều có người theo dõi chương trình này.

Quê Mẹ :  Anh cho biết nội dung những giờ phát sóng ấy ?

L.T.T. :   Có thể nói phòng Việt kiều như một cái Đài con.  Nó lượm nhặt tất cả các bài vở của các chương trình khác phát trong ngày rồi gọt ra, cắt xén thành chương trình của mình.  Cũng đủ cả thời sự âm nhạc, văn thơ, du lịch v.v… Mỗi chỗ lấy một ít.  Thêm tí này bớt tí kia.

Quê Mẹ :  Anh có thể cho biết kỹ hơn về khía cạnh này.  Chương trình dành cho đồng bào Việt Nam ở xa tổ quốc có những đặc điểm gì so với các chương trình phát thanh trong nước ?

L.T.T. :  Đặc điểm chính là ở sự cóp nhặt, cắt xén đó.  Mọi chương trình phát trên sóng trong nước đã được gọt tỉa kỹ càng so với thực tế đời sống.  Sang phòng Việt kiều lại được gọt tỉa tắm gội một lần nữa.  Trên tinh thần : đem chuông đi đấm nước người, tốt đẹp phô ra, xấu xa che lại.  Chẳng hạn không bao giờ trên sóng phát ra nước ngoài đưa tin về các tệ nạn xã hội, về tham nhũng, hối lộ, ăn xin, cướp bóc… Trái lại, những tin chung chung như tiềm năng dầu khí ở Việt Nam, triển vọng phát triển ngành du lịch, đất nước Việt Nam giàu đẹp, tiền rừng, bạc bể, các gương mặt tài năng trẻ, các phát minh sáng chế v.v… được triệt để khai thác, bất kể có giá trị thực tế hay không.  Để làm gì ? Để cho đồng bào ở xa quê hương luôn có một hình ảnh lạc quan về Việt Nam.  Để gợi nhớ, gợi thương, gợi lên tình tự dân tộc ray rứt trong lòng những người con dân Việt đang sống tha hương nơi những chân trời xa lạ.  Phải khơi nhói vào chỗ này.  Làm cho ý thức đối kháng của Việt kiều phôi pha theo thời gian.  Thời gian của những lần nghe liên tục.  Theo đấy, cái sâu xa, cái đầu tiên, cái còn lại và cái sau cùng vẫn là tình tự dân tộc. Vả lại, có thông tin phiến diện, tô hồng thì người ở xa nước làm sao biết được, lấy gì mà kiểm chứng?  Không tin rồi cũng tin, nghe mãi cũng chịu ảnh hưởng.  Từ tin đến yêu.  Đài độc quyền tiếng nói Việt.  Một Việt Nam của sự dối trá và lừa đảo

Quê Mẹ :  Vài khi chúng tôi cũng nghe trên sóng một ít tin về nạn mất mùa, thiên tai, lũ lụt ?

L.T.T. : (cười) Đó là khía cạnh khác.  Khía cạnh độc đáo, được ưu tiên đấy.  Lỗi đó đâu là lỗi của chính quyền, của đảng.  Lỗi do ông Thiên lôi, ông Hà bá, ông Sơn tinh, Thủy tinh gì đó.  “Cần phải đặc biệt tung mạnh lên để đồng bào cảm thông với những khó khăn của đất nước.” – lời ông trưởng Ban chỉ đạo thường nhấn_mạnh.  Đúng là bão lụt hay thăm viếng rẻo đất miền Trung của nước ta. Song không phải cơn bão nào cũng “gió giật trên cấp 12, cấp 13 – Hàng trăm héc-ta lúa bị ngập nước, hàng trăm ngôi nhà đổ, hàng nghìn người đói rét không có chỗ ở … v.v.”. Lấy ví dụ đưa tin ở huyện Vạn Xuân tỉnh Thanh Hoá cơn bão số 6 làm đổ 180 nóc nhà, chưa đầy tháng sau cơn bão số 7 lại làm đổ nát 200 nóc nhà nữa, đồng ngập trắng nước, nhiều trâu bò lợn gà bị chết… Mấy hôm sau có anh bạn quê ở Vạn Xuân ra Hà nội chơi, tôi ân cần hỏi thăm, thì anh bảo có thấy gì đâu, chỉ mưa rào vài trận và gió làm đổ mấy cái lán tre làm nhà phơi của lò gạch.

Vui thế đấy.  Thực tế thì chưa một phóng viên nào của phòng Việt kiều có mặt ở vùng lũ lụt cả. Đơn giản là lấy xe đâu mà đi, tiền đâu mà ăn đường, vả lại ba cái chuyện vẽ mây vẽ rồng ấy chỉ có lợi cho công việc tuyên truyền thôi.  Trái lại, nạn mất mùa, sâu bệnh là có thật.  Nhưng đâu phải là ông trời chơi ác nông dân ta quá quắt.  Chẳng qua là thuốc trừ sâu bị đánh cắp, phân bón luân chuyển lung tung qua các cấp quản lý, các kho hàng, rồi từ kho ra đến ruộng, mỗi người lấy một phần, thằng lớn cuỗm cả tấn, bán cả kho, thằng nhỏ nhất là nông dân cũng bốc vài nắm giấu đi trước khi tung rắc lên mặt ruộng.  Đất xác khô, cây chết non, chết cằn là vì thế.

Thế nhưng việc ưu tiên tung lên sóng những tin tức kiểu bão lụt này cực kỳ có lợi cho chính quyền.  Một mặt làm lẫn lộn, làm mờ đi những khó khăn thúc bách của đời sống vốn là sản phẩm của một cơ chế quản lý kinh tế quan liêu, dốt nát.  Mặt khác kêu gọi được lòng nhân đạo của các tổ chức từ thiện quốc tế, tranh thủ lòng trắc ẩn và nỗi xót xa quê hương của kiều bào.

Viện trợ tiền bạc, gạo, thuốc men, quần áo từ các nguồn trên liên tục gửi tới cứu giúp đồng bào vùng bão lụt. Càng kêu gào to, tiền gửi về càng nhiều.  Không có cách gì xin tiền và làm tiền dễ hơn cách ấy.

Người cộng sản với nhiều thành tích lật lọng. Chúng ta yêu cầu chính phủ Úc lưu ý về những nhân sự đội lốt doanh gia được chúng gửi qua đây.

Democracy For Viet Nam. Ô Nguyễn Thế Phong (Chủ tịch BCH- CĐLB Úc)

Quê Mẹ :  Ngoài việc đưa tin cắt xén, loan lin thất thiệt ra, chương trình dành cho đồng bào VN ở xa tổ quốc còn có những đặc điểm tuyên truyền gì đáng chú ý không ?

L.T.T. :  Ở phần văn nghệ.  Văn nghệ đây bao gồm cả thơ, văn, âm nhạc, sân khấu, hội họa, kiến trúc chùa chiền…  Trong đó bộ môn nhạc dân tộc, cải lương, dân ca, ngâm thơ được chú trọng. Vì sao ? Vì cái mục đích gợi thương gợi nhớ ấy.  Mà ở điểm này các bộ môn nghệ thuật cổ có sức lay động gọi về ghê gớm.  Gọi người trở về ư ? Không phải đâu.  Nhà đông con, đuổi đi không hết, về mà làm gì.  Gọi đây là gọi gửi tiền về, gọi nhớ, gọi thương mà quên đi các nguyên nhân dẫn đến thảm kịch hôm nay của đất nước.  Tôi xin được hát cho các anh nghe bài Quê Hương, nhạc Giáp Văn Thạch, thơ Đỗ Trung Quân, một bài hát được phòng Việt kiều triệt để khai thác, phát trên sóng cả ngàn lần trong bảy, tám năm qua. (Hát)

“Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

Quê hương mỗi người chỉ một
Nhà là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người”

Đẹp không? Đẹp lắm chứ. Có phải quê hương Việt Nam thân yêu của ta đó không ? phải lắm chứ. Có phải là chùm khế, cánh diều, bướm vàng, khúc sông, con đò, là chiếc cầu tre nhỏ, là vành nón lá nghiêng che của mẹ ta, trong lòng ta nhớ thương đó không? phải lắm chứ.  Chẳng kể gì đồng bào ở xa.  Vâng, chính tôi và các bạn bè tôi khi đang sống trên quê hương Việt Nam bằng xương bằng thịt hẳn hoi mà chợt nghe bài hát ấy cũng rưng rưng muốn khóc.  Tôi mông lung nhớ về một quê hương ấm êm thủa thái hòa xa xôi nào bây giờ không còn nữa.  Tác động vào đồng bào nước ngoài hẳn còn ghê gớm hơn.  Đồng bào ở nước ngoài sẽ man mác nhớ thương về mảnh đất mà tôi đang sống.  Chúng ta đều bị cái tình tự quê hương dắt chạy quanh những nhớ thương ray rứt đến mụ mị, mù lòa mà quên đi rằng chúng ta đang bị mất quê hương.  Cứ như là dải đất hình chữ S còn nguyên vẹn đó, mẹ Việt Nam còn nguyên vẹn đó.  Bài hát hay, có giá trị muôn đời, phi thời gian, đem ra phục vụ giai đoạn che chắn cho một nước Việt Nam đồi bại.  Bài hát được sử dụng tinh vi, nguy hiểm là ở chỗ đó.  Lấy cái quê hương trong nhớ thương, trong ước mơ để thay thế cái quê hương hiện tại tiêu điều.  Làm trỗi dậy cái quê hương Việt Nam ngân nga, ngất say trong long người, trong hồn người, để che đậy và làm quên đi cái quê hương Việt Nam hiện tại của đói nghèo và nhà tù, của chắp vá, hỗn loạn, của những ông cụ non, những “thần đồng” dao búa tuổi 15 và những đứa trẻ “hoàn đồng” tuổi 60 bơ vơ, bám sống ở vỉa hè, bám sống tình thương, miếng ăn, bám sống vào sự tử tế của những khúc ruột mình !  Trong sự mơ màng rên rỉ ấy, đảng độc quyền, đảng củng cố và đảng thủ lợi.

Quê Mẹ :  Chúng tôi xúc động nghe những lời tâm huyết của anh.  Xin hỏi thêm, khi bị chỉ đạo phải làm các công việc như thế, anh có ý thức được là nính đang tiếp tay cho đảng dối gạt mọi người không ?

L.T.T. :  Có chứ.  Lúc đầu thì chưa đâu.  Dần dần nhận ra thì thấy chán.  Chán đời, chán mình.

Quê Mẹ :  Chán nhưng có phản ứng gì không ?

L.T.T. :  Vô ích.  Đúng ra là chúng tôi cũng phản đối, cũng cưỡng chống lại cách này, cách khác, nhưng rốt cuộc đều bất lực.  Chả riêng chúng tôi.  Bất lực, chán nản, lãng công, vô trách nhiệm là trạng thái phản ứng tiêu cực của hàng triệu người trong nước.  Chính quyền độc tài, thằng bạn cùng phòng với mình rất có thể là thằng công an.  Sự giả dối lâu quá rồi cũng quen đi, không ý thức là mình đang giả dối nữa.  Vả lại khi làm cái công việc ấy, chính tôi cũng như bị bỏ bùa mê, chính tôi cũng bị lừa gạt.

Quê Mẹ :  Anh bị lừa gạt chuyện gì vậy ?

L.T.T. :  Nhiều, nhiều lắm.  Bị lừa gạt mà không biết.  Nhưng ở đây tôi muốn nhắc tới một câu chuyện riêng.  Chuyện lừa gạt trong nghề, thú vị như một câu chuyện trinh thám vậy.

Quê Mẹ :  Xin anh kể lại chi tiết cho độc giả cùng nghe….

Anh em Paltalk đang chuyển tải âm thanh và những hình ảnh “độc” 🙂 lên các mạng internet để đồng bào quốc nội và khắp nơi trên thế giới theo dõi trực tiếp.

L.T.T : Được chứ (Ngừng – uống nước – chậm rãi kể) – Việc xảy ra sau Tết Nguyên Đán năm ngoái thôi. Tôi được ông Phan, tổng biên tập mới của đài gọi lên phòng riêng. Ông ta dặn dò và giao nhiệm vụ cho tôi tổ chức cuộc tiếp xúc giữa một ông Việt kiều từ Pháp về thăm quê hương và nhà văn Nguyễn Huy Thiệp.  Ông Việt kiều này tên là Huỳnh Tấn Hải, đã sống ba chục năm ở Pháp, dân trí thức thuần túy, rất có lòng với đất nước.  Ông Phan nhắc tôi phải tranh thủ mọi thiện cảm vì ông Việt kiều này rất có uy tín, ảnh hưởng khá rộng trong cộng đồng người Việt ở Pháp, làm tốt vụ này có thể lôi kéo nhiều đồng bào khác.  Việc ông Huỳnh Tấn Hải tôi không lo. Lo nhất là phải gặp dàn xếp với Nguyễn Huy Thiệp về nội dung buổi tiếp xúc. Cái chuyện văn chương nó phức tạp lắm, lại nhè đúng cái ông nhà văn quái đản, lớ ngớ là tội vạ mình chịu.  Tôi chỉ mới đọc được vài truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, nghe người ta tán tụng hoặc chửi bới anh ta thì nhiều, nhưng chưa bao giờ thấy mặt anh ta.  Anh ta là một người lẩn khuất.  Hôm sau tôi lấy địa chỉ, giấy giới thiệu của ông Phan, tìm đến nhà Nguyễn Huy Thiệp, nhằm đúng giờ ăn cơm mà gõ cửa.  May là anh ấy có nhà, lại biết trước cuộc gặp.  Đúng ngày dự định tôi bảo cậu lái xe ở đài chở đi đón ông Huỳnh Tấn Hải, ghé qua đón Nguyễn Huy Thiệp, rồi cùng kéo ra quán bánh tôm ngoài trời ở Hồ Tây. Trời nắng đẹp, không khí buổi tối đối thoại rất thoải mái cởi mở.  Ông Hải có vẻ xúc động và hài lòng lắm.  Ông đã tìm ra nhiều điểm tương đồng và càng thêm tin tưởng vào nguyên lý hòa hợp hòa giải đang ăn khách ở Paris, là người Việt ở trong nước và ngoài nước cùng bắt tay vào xây dựng đất nước, xóa bỏ mọi tị hiềm, hàn gắn những vết thương cũ.  Ông cũng phát biểu những đề nghị với đảng cộng sản VN phải sửa chữa những sai lầm, mở rộng dân chủ, đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị v.v… Ông Hải đặt rất nhiều niềm tin đặc biệt vào mũi nhọn xung kích của những nhà văn trong phong trào văn học phản kháng như Nguyễn Huy Thiệp.  Ông ta xin toàn bộ tác phẩm có chữ ký của anh ta. Vui vì kết quả cuộc gặp gỡ như mong muốn, ông Hải hào phóng tặng Nguyễn Huy Thiệp 5 nghìn quan, tặng phòng Việt kiều 20 nghìn quan Pháp để trang bị thêm phương tiện làm việc.  Buổi nói chuyện vậy là thành công, gặt hái được cả tình, cả tiền.  Tôi đem cuốn băng ghi âm về báo cáo và cho ông Phan nghe.  Ông chỉ gật gù cười cười.  Khi tôi nói thêm là ông Huỳnh Tấn Hải tỏ ra rất cảm kích và hứa tới đây sẽ vận động thêm nhiều bà con ở Pháp về thăm quê hương và góp ý cho Đảng, thì ông Phan bật cười thành tiếng, và hình như  ông có thốt ra câu gì nghe như chữ : con vịt !

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp- Photographer: Xuân Anh.

Chuyện đó qua đi. Hai tháng sau một hôm tôi có việc phải cùng thằng bạn vào Sở Công an ở phố Trần Bình Trọng. Lúc trở ra, bất ngờ tôi gặp Nguyễn Huy Thiệp ở chân cầu thang. Tôi gọi to để chào. Nhưng trái hẳn với sự cởi mở dạo trước, anh ta chỉ nhìn lướt tôi gật nhẹ một cái rồi đi khuất ngay. Tôi hơi bị hẫng, quay sang bảo thằng bạn :

– Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đấy.

Nó tròn mắt nhìn tôi :

– Ơ mày điên à?

– Sao ?

Bố ơi… Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp là người khác cơ. Còn đó là lão Bảy, phó phòng Công an văn hóa đấy. Tao lạ gì thằng cha này.

Chuyện thật như đùa. Tôi kéo thằng bạn ra quán nước chè kể lại đầu đuôi và cùng cười phá lên. Cái trò chính trị nó đểu thế. Mười mấy năm làm nghề rồi mà còn bị lừa. Bất giác tôi nhớ đến nụ cười tủm tỉm và cái từ : “Con vịt” thốt ra ở cửa miệng ông Phan. Chẳng hiểu ông ấy định ám chỉ tôi hay là ông Huỳnh Tấn Hải đây.

Tạ Quân (Quê Mẹ 1991)

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The


Links:

Đàn Chim Việt

X-cafevn.org

Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu.

Advertisements

Vì Sao Anh Phải Chết? – J.B Nguyễn Hữu Vinh

SOS- Cồn Dầu


1.  Hình ảnh minh họa: Đêm Thắp Nến cho Cồn Dầu và Chùa Giác Minh tại Nam California- Hoa Kỳ. Tin chi tiết Việt Báo

2.  Bài đọc suy gẫm:  Câu chuyện của người góa phụ hay cái chết của anh Tôma Nguyễn Thành Năm.

Phàm là con người, không ai tránh khỏi cái chết. Mỗi người có một cái chết khác nhau, người chết do già cả, kẻ do bệnh tật, người do tai nạn, chiến tranh hoặc thiên tai…

Có những cái chết dai dẳng và đau đớn, người nằm đó không thể chết được, với những người hiền lành, đó là sự thương tâm, với những người đã gây nhiều tội ác với đồng loại, người đời thường lấy đó để răn đe con cháu mình biết sống đúng lương tâm và tình nghĩa, với những người sống vô cảm với mọi người, người đời thường lãng quên họ.

Nghĩa trang Giáo xứ Cồn Dầu

Cũng có những cái chết nhẹ tênh và nhanh chóng, nhiều khi chỉ vì một viên công an thèm khát bạo lực như cái chết của thanh niên Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang sau khi vào đồn công an Tân Yên chừng tiếng đồng hồ. Nhiều khi lại là cái chết không bí hiểm nhưng đầy sự khuất tất như những thanh niên đã chết tại Đồn Công an Quận Hai Bà Trưng, quận Hà Đông, Hà Nội mới đây và rất nhiều cái chết tương tự. Đến mức mà người ta tự hỏi và không thể hiểu nổi tại sao vì những lý do lãng nhách, nhân dân thường thích đến đồn công an, nhà tạm giữ để “tự vẫn” nhan nhản trên báo chí nhà nước?.

Cái chết man rợ nhất vẫn là cái chết do con người mang đến một cách mất nhân tính và vô pháp luật. Anh Toma Nguyễn Thành Năm có một cái chết như vậy. Anh bị trói, bị đánh đập cả đêm sau những ngày hoảng loạn vì những trận đòn trước đó trong đám tang bà Maria Đặng Thị Tân. Và chỉ về đến nhà mình một buổi sáng thì trưa ngày 3/7/2010 anh đã từ giã cõi đời ở tuổi 44 để lại người vợ trẻ và đoàn con bé bỏng.

Cũng là những cái chết, nhưng để đỡ oan tủi cho người chết, an ủi người còn sống, nhiều nghi thức tang lễ trang trọng được cử hành, nguyên nhân cái chết được làm rõ ràng. Nhưng có những cái chết mà người thân thích cũng không dám mở lời, không dám hé răng đành phải nuốt tủi nhục vào trong với sự đau đớn khôn cùng. Anh Toma Nguyễn Thành Năm đã có cái chết như vậy.

Câu chuyện của người góa phụ

Chúng tôi đến nhà chị Đoàn Thị Hồng Anh, tại Cồn Dầu để gặp một góa phụ trẻ, mẹ của mấy đứa con nhỏ. Sau nén hương thắp cho người quá cố trong căn nhà nhỏ bên đường làng Cồn Dầu, chúng tôi ngồi nói chuyện trong buổi chiều tà.

Những xúc động ban đầu, những giọt nước mắt và uất nghẹn khi tiếp xúc với những người lạ lần đầu tiên tới đây chị vẫn cố giấu. Đến khi chúng tôi giới thiệu với chị rõ ràng rằng chúng tôi cũng là những giáo dân, nghe tin và tìm đến đây để biết sự thực thì chị mới cho chúng tôi biết về cái chết của anh.

Ngôi nhà nhỏ của người quá cố và góa phụ

Ngồi bệt giữa gian nhà trống trơn bên di ảnh của anh, chị Đoàn Thị Hồng Anh kể lại:…

Chồng tôi vốn sống trong một gia đình mọi người khỏe mạnh, không bệnh tật. Kể từ khi xây dựng gia đình đến nay, anh không hề có bệnh tật gì. Anh là một thanh niên khỏe mạnh trong đội trợ tang của Giáo xứ Cồn Dầu.

Ngày 4/5/2010 anh cùng đội trợ tang của Giáo xứ và bà con giáo dân Cồn Dầu tham dự lễ an táng của Bà Đặng Thị Tân. Trước khi chết, bà Tân muốn được gửi nắm xương tàn bên cạnh người chồng thân yêu của mình trong nghĩa trang của Giáo xứ vốn đã có từ cả trăm năm nay.

Rạng sáng, cả đám tang bị tấn công tới tấp, anh là người đi trước trong đội trợ tang nên bị đánh nhiều nhất. Chứng kiến cảnh đàn áp đánh đập man rợ và bắt đi cả trăm người, sau đó một số người được tha về nhưng bị gọi lên đồn liên tục. Lên thì bị đánh họ nói “không có tội đánh cho có tội, có tội đánh cho chừa”.

Sau mấy lần bị gọi lên đồn như thế, anh Năm có biểu hiện sợ hãi. Đến lần thứ năm thì anh không dám lên nữa và anh trốn. Tâm trạng anh hoảng loạn và sợ hãi, chỉ cần nghe tiếng người anh đã thấy sợ và lẩn trốn.

Chiều tối ngày 2/7/2010, anh trốn xuống xóm dưới, đến đêm, chị xuống đi tìm anh, thì anh đang bị một dân phòng tên là Đề trói giật cánh khuỷu anh và bắt quỳ dưới ruộng nước.

Nhìn thấy cảnh ấy, chị khóc và hỏi: “Anh Đề, anh với anh Nam em không có một vấn đề gì, cũng là người quen biết sao anh trói ảnh như thế?”. Ông ta trả lời: “Người ta báo ăn trộm, nên tôi trói anh ấy lại, khi nào công an xuống tôi mới thả anh ra”.

Khi công an xuống, em dìu anh ấy đi mấy bước nhưng anh đi không nổi. Công an nói “Đấu tranh dồn dập” nhưng em cũng không nói chi hết. Đến khi công an hỏi “ảnh tên chi” em khai là “Nguyễn Thành Năm” anh hỏi là “Chị là cái chi” “Tôi là vợ ảnh”, nhưng mà họ hỏi “tên chi” “là Đoàn Thị Hồng Anh”.

Những ngọn nến đắp xây hình hài Việt Nam.

Nhà nước với những chính sách cướp đoạt đất đai của dân nhưng Trường Hoàng Sa và Ải Nam Quan chúng dâng cho nước “lạ”.

Ban Tổ Chức trình bày (chiếu hình ảnh và tường thuật) những diễn biến tại Cồn Dầu.

Công an vô hết trong nhà một chặp mới ra lại đưa một anh dân phòng dìu một bên và em một bên dìu đưa anh vô nhà. Khi đó em khóc với anh Nam là anh đi trốn chi cho người ta trói ri. Họ nói là thôi chị dẫn anh đi về tắm rửa.

Khi nhờ chở về nhà họ không chở, khi đưa anh về đến nhà thì máu lỗ tai đổ ra. Em khóc kêu là “anh đi chi tội rứa” thì anh bảo “nó lấy cái cây nó đánh lủng qua”.

Khi về đến nhà đã 1-2 giờ sáng, tắm rửa cho anh xong, anh nằm thì chỉ để một ngón tay lên trán. Trên cổ tay bị còng chảy máu, cả lưng đổ máu và ngực trầy xước hết.

Đến sáng, anh gọi hai mẹ con và bảo “Thôi, chắc quãng đời của tôi chỉ đến đây thôi, cố gắng ở lại nuôi mấy đứa con, còn tôi thì muốn thiêu thì thiêu, còn nếu muốn lấp đâu thì lấp”. Em nghĩ anh nói thế thôi nên đi vào nhà nói chuyện với mẹ chồng.

Đến khoảng 8 giờ em đi tìm đôi dép cho anh, anh bảo là “họ lấy hồi khuya rồi”, rồi đưa vào nhà mẹ em nằm.

Đến khoảng 11 giờ, em khuyên anh là “thôi, giờ đi bệnh viện” anh nói “Tiền bạc đâu mà đưa tôi đi bệnh viện”.

Anh chỉ nói thế thôi, và một giờ chiều thì anh tắt thở, để lại một người vợ góa và mấy đứa con nhỏ cùng với nỗi oan dậy đất, làm xao động lòng người.

Sau khi anh chết, công an về rất nhiều và liên tục có mặt, họ bảo là nếu muốn sẽ đề nghị mổ tử thi.

Nhưng, cả làng xóm hoảng loạn sau cái chết của anh. Chứng kiến những gì đã xảy ra, gia đình chúng tôi biết là có mổ tử thi thì cũng là người nhà nước, chúng tôi không tin tưởng là có mổ tử thi thì mọi việc sẽ được làm sáng tỏ. Trong khi anh đã chết oan khuất như thế cả làng ai cũng biết, công an cũng biết nhưng những người đánh anh không hề hấn gì. Nếu mổ tử thi thì chỉ làm cho anh thêm đau đớn mà thôi.

Vì vậy gia đình chúng tôi không yêu cầu mổ tử thi.

Khi gia đình chúng tôi không yêu cầu mổ tử thì, thì họ đề nghị là “Nếu không mổ tử thi, thì phải nói là ảnh bị đột quỵ”. Và chúng tôi phải chấp nhận nói là ảnh bị đột quỵ để được giữ xác anh nguyên vẹn khi về với đất. Đám tang của anh được sự quan tâm đặc biệt, không phải của bà con chòm xóm, mà chỉ là những người lạ mặt mà có họ, bà con chòm xóm không dán công khai đến thắp những nén hương cho người đã chết.

Đồng bào không phân biệt tôn giáo đều ngậm ngùi cất cao lời ca chung: Kinh Hoà Bình.

Bài ca với những lời kinh nguyện tuyệt diệu… “Để con đem ánh sáng vào nơi tối tăm…”

“Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng…”

“Đem ủi an đến chốn u sầu…”.

Sau những ngày đám tang của anh, tôi bị gọi nhiều lần lên huyện, nhưng tôi luôn bị đau đầu và con nhỏ nhà tôi nó phản ứng là bố đã bị chết như vậy, nếu cố tình gọi mẹ lên mà đổ xuống đó thì ai lo cho một đàn con. Họ kêu tôi lên để viết tường trình, nhưng tôi chưa lên và chưa viết.

Cho đến bây giờ, người giáo dân Cồn Dầu sống trong sợ hãi, nhiều người muốn đến thắp cho người quá cố một nén hương nhưng cũng không dám đến.

Nghe những lời kể của chính góa phụ này, chúng tôi hiểu rằng trong thời đại thông tin, vẫn có những vùng không phủ sóng văn minh và hiện đại. Vì phương tiện kỹ thuật hay bởi tại lòng người?

Cái chết của anh cũng đơn giản gần như cái chết của chàng thanh niên Nguyễn Văn Khương ở Bắc Giang, nhưng Nguyễn Văn Khương đã có cả thành phố xuống đường đòi công lý cho anh, và kẻ thủ ác đã phải bị chỉ mặt. Còn anh, anh vẫn im lìm nơi nghĩa địa xa lạ và cô đơn với nỗi oan của mình.

Anh Toma Nguyễn Thành Năm đã chết, nhưng sáu người dân Cồn Dầu còn lại vẫn đang trong cảnh ngục tù và đối diện với những bản án mới. Lẽ nào để nỗi oan chồng lên nỗi oan?

Tạm kết

Anh Toma Nguyễn Thành Năm đã chết, đến hôm nay, anh đã về nơi chín suối được 49 ngày. Nỗi đau của anh còn đè nặng lên suốt cuộc đời người mẹ già, góa phụ và mấy đứa con thơ. Nỗi oan khuất của anh còn đè nặng lên tất cả những người có lương tri.

Con đường từ Cồn Dầu đến nghĩa trang Giáo xứ

Những người còn sống có thể yên chăng, khi những cái chết oan khiên kia không được chú ý đến trong một xã hội luôn nêu cao nhan nhản các khẩu hiệu “Sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật” trong một nhà nước luôn mệnh danh là “Nhà nước pháp quyền”, trong một thành phố mà đi đâu cũng thấy đầy rẫy những lời kêu gọi “Học tập đạo đức Hồ Chí Minh”?

Có thể cái chết của anh, dù được ngụy trang dưới hai từ lạnh lùng và dối trá “Đột quỵ” rồi cũng sẽ qua đi như muôn ngàn cái chết khác được ngụy trang bằng những ngôn từ khác.

Nhưng, chắc chắn rằng, những con người biết sự thật này sẽ ám ảnh dai dẳng cho đến tận cuối đời khi đối diện với lương tâm mình câu hỏi: “Vì sao anh phải chết”? Và “vì sao tôi có thể vô cảm trước nỗi oan của anh”?.

Mời các bạn xem đoạn video câu chuyện kể lại cái chết của anh Toma Nguyễn Thành Năm: You Tube

Hà Nội 22/8/2010

J.B Nguyễn Hữu Vinh


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The


Links:

Tin VN: Chùa Giác Minh

JB. Nguyễn Hữu Vinh@Wordpress.com

RFA – Cồn Dầu

Việt Báo Online


Đài Phát Thanh Bị Tấn Công – Vũ Đức Vinh

Nhiều trang mạng, blogs tranh đấu cho sự thật, dân chủ, tự do trong và ngoài nước hiện nay đang bị đánh phá, cướp tên miền. Những code mã độc mà các nhóm tin tặc sử dụng đều có ghi chú bằng các ký tự hoa ng đang tạo ra nghi vấn có bàn tay của nhóm hackers tàu cộng.


1. Hình ảnh minh hoạ: Sinh nhật 12 năm Đài Radio Việt Nam Hải Ngoại tại Falls Church, Virginia- Hoa Kỳ.


2.  Bài đọc suy gẫm: Đài phát thanh Sài-gòn Tết Mậu ThânVũ Đức Vinh.

Trung tá Vũ Đức Vinh, bút hiệu Huy Quang, Tổng Giám Đốc Hệ Thống Truyền Thanh Quốc Gia VNCH gồm đài phát thanh Saigon và trên 10 đài khác từ 1965 đến 1968. Trước đó ông phục vụ tại đài phát thanh Quân Đội từ 1955-56, biên tập viên của đài Saigon trong phần thời sự từ 1957-1959, thành viên của ban Tao Đàn trên đài Saigon từ 1956-1965. Tác phẩm: truyện ngắn trên các báo ở Hà nội trước 1954, Đôi Ngả, Những Mái Đầu Xanh … Mất ngày 9 tháng 12, 2005 tại Seattle tiểu bang Washington.

Ngày mồng Một Tết Mậu Thân nhằm ngày 31 tháng Giêng năm 1968 tại Sài-gòn là một ngày ngập nắng vàng tươi, màu nắng điển hình trên bầu trời xanh trong của quê hương miền Nam mỗi độ xuân về. Người dân Sài-gòn năm đó đón Tết trong tâm trạng quẳng gánh lo đi để vui hưởng cái hương vị yên bình của ngày đầu năm. Ít ra trên nguyên tắc, cuộc chiến cũng đã tạm thời ngưng lại qua thỏa hiệp hưu chiến được loan báo từ ngày hôm trước.

Nhưng riêng tôi từ sáng sớm ngày Một Tết đã cảm thấy có điều không ổn. Nhân viên trực phòng Thâu Tin của đài Sài-gòn điện thoại cho tôi biết đài Qui-Nhơn đã bị đột nhập đêm Giao thừa. Sau đó tài xế trực của đài mang một bản tin thâu được hồi đêm đến nhà cho tôi đọc. Thường ngày các bản tin được phòng Thâu Tin ghi thành hai bản, một bán dành cho phòng Tin Tức Thời Sự để khai thác làm tin, còn một bản dành cho Tổng Giám Đốc để theo dõi. Bản tin này gồm đủ các loại tin của các hãng thông tấn quốc tế như AP, AFP, UPI, Reuters, và các đài phát thanh như BBC (Anh), VOA (Mỹ), NHK (Nhật), Hà-nội, Bắc-kinh, v.v… Bản tin tôi nhận được cho biết trong đêm Cộng quân đã có nhiều hoạt động vi phạm ngưng chiến; chẳng những ở Qui-Nhơn mà còn ở các tỉnh khác, như Pleiku, Khánh-Hòa, Darlak, và Quảng-Trị. Tôi tự hỏi liệu sẽ còn những vi phạm nào nữa trong chiều tối nay không?

Tôi không có dữ kiện nào khác để lượng định mức độ khẩn trương của chiến sự ngoài các bản tin. Mối lo của tôi sau khi đọc tin thật ra chỉ là mối lo thông thường của người có trách nhiệm về những cơ sở nằm trong mục tiêu xung kích của địch mà thôi. Hệ thống truyền thanh quốc gia là một trong những mục tiêu chọn lựa của địch, gồm có 7 đài phát thanh địa phương, 5 đài tỉnh và đài trung ương nằm tại số 3 đường Phan Đình Phùng (1) Sài-gòn, được kêu là đài Sài-gòn. Mặc dù đã được các giới chức quân sự bảo đảm tăng cường hệ thống phòng thủ các trụ sở phát thanh trên toàn quốc, tôi không thể yên tâm sau khi đài Qui-Nhơn bị tấn công.

Cơ sở bị tấn công là điều đáng lo, nhưng còn lo hơn là nếu chẳng may làn sóng phát thanh bị đối phương sử dụng để dấy động quần chúng thì hậu quả hẳn khó lường. Tôi liên lạc với đài Qui-nhơn không được, đường điện thoại tại đó đã bị cắt

Đến trưa, như chương trình đã định trước, tôi tới nhà riêng của Thiếu Tướng Nguyễn Cao Kỳ trong căn cứ Tân Sơn Nhất để dự cuộc tiếp tân do ông khoản đãi.

Tướng Kỳ là Phó Tổng Thống, từ mấy năm trước cứ vào ngày đầu năm ông mở tiếp tân tại tư gia để họp mặt với bạn bè cùng các người cộng sự. Đây là một sinh hoạt đã trở thành thông lệ của ông. Tại đây tôi gặp một số tướng lãnh như các tướng Nguyễn Ngọc Loan, Lê Nguyên Khang, Trần Văn Minh cùng một số giới chức quân sự cao cấp.

Tôi được biết thêm một số tin tức về tình hình chiến sự trong đêm, và theo nhận định chung của các sĩ quan có thẩm quyền thì không có dấu hiệu gì khiến phải lo ngại quá đáng Không khí buổi họp mặt đầu năm vui tươi thích hợp với ngày Tết. Pháo đốt liên tiếp phủ đỏ khoảng sân rộng trước nhà tướng Kỳ.

Nhưng những điều đọc được qua bản tin hồi sáng còn ám ảnh tâm trí tôi. Nấn ná một lúc, tôi rời nhà tướng Kỳ lên đài Sài-gòn để từ đó điện thoại liên lạc với các đài địa phương. Tôi vẫn không kêu được đài Qui-Nhơn nhưng liên lạc được với Ty Thông Tin gần đó để dò hỏi tin tức. Được biết không có thiệt hại nhân mạng nào bên đài phát thanh, tôi tạm yên tâm. Sau đó tôi lần lượt liên lạc với các đài khác. Hầu hết các ông quản đốc đài đều có mặt, như ông Nguyễn Cửu Tú đài Huế, ông Nguyễn Hân đài Ban Mê Thuột, ông Hoàng Anh Tuấn đài Đà-lạt, ông Vương Đức Lệ đài Long An. Chúng tôi trao đổi tin tức và kiểm điểm lại phương thức liên lạc khi cần thiết. Lúc đó, ngay tại đài Sài-gòn cũng có mặt các ông Võ Hồng Chí phụ trách Sở Tin Tức Thời Sự, ông Trần Ngọc Vân phụ trách Phòng Bình Luận, ông Lê Thái Tuế và một số biên tập viên, và ông Phạm Thái Thủy bên Sở Chương Trình. Tuy là ngày lễ nhưng tùy theo công việc mỗi người chúng tôi vẫn có mặt khi tự thấy là cần thiết. Tôi họp với các người có mặt lúc đó, nói về trường hợp Đài Qui Nhơn và bàn về những bất trắc có thể xảy ra, nhất là làm sao duy trì liên lạc và có tin tức trong mọi trường hợp bất thường.

Xướng Ngôn Viên Nam Lộc đến từ California.

Học giả Đỗ Thông Minh, Đặc Phái Viên Tokyo của VNHN (đầu bạc), ký gỉả Thế Phương (mang kiếng, tóc dài) của “Tắc Kè Nhảy Tăng Gô” và TS. Nguyễn Đình Thắng , giám đốc UBCNNVB(phải).

Vào thời gian đó điện thoại tại tư gia còn hạn chế; chỉ các công chức cấp chánh sở xấp lên và các sĩ quan cao cấp mới có điện thoại gắn tại nhà. Không phóng viên Vô Tuyến Truyền Thanh nào có điện thoại riêng, nhưng ông Võ Hồng Chí cho biết các phóng viên của ông đã sắp xếp để khi cần có thể tới kêu nhờ điện thoại của một nhà buôn cùng khu phố, hoặc của một thân nhân là sĩ quan hay công chức cao cấp.

Thường ngày sinh hoạt tại đài Sài-gòn rất tấp nập. Ngoài số nhân viên đông đảo còn các ban nhạc, ban kịch thay phiên ra vào theo giờ thâu thanh dành cho từng ban. Nhưng vào chiều mồng Một Tết này, chỉ có một số nhân viên biên tập, xướng ngôn và hòa âm có mặt mà thôi. Chiếc cổng sắt được kéo lại còn vừa lối ra vào cho một người đi lọt, và tại đó có vài ba người cảnh sát công an túc trực. Trên phía vỉa hè ngoài cổng sắt rào cản kẽm gai kéo dài ra tới vọng gác nằm trên ngã ba đường Phan Đình Phùng (1) và Phan Kế Bính, tại đó có một quân nhân thuộc đơn vị phòng thủ đứng gác. Quán phở trước cổng đài luôn đông đảo khách ra vào ngày thường, hôm nay đóng cửa im lìm. Khung cảnh trước cổng đài chiều nay phảng phất cái không khí heo hút của một tiền đồn nơi chiến tuyến.

Khoảng 5 giờ tôi ra về, nhưng trước khi rời khỏi đài tôi dạo một vòng lên khu sân thượng và khu sân sau là nơi các quân nhân thuộc đơn vị phòng thủ thường trải chiếu hoặc pông-sô để ngủ tối. Tôi nhận thấy số người quá ít so với quân số một trung đội. Hỏi một quân nhân tôi được biết số còn lại sẽ tới vào buổi tối.

Tôi rời khỏi đài mà lòng không yên. Con đường Phan Đình Phùng khúc gần đài có nhiều cây cao dọc hai bên, tỏa bóng che mát mặt đường. Trong cái không khí êm ả, tĩnh mịch của khu phố thỉnh thoảng vẫn ròn rã vọng về từng loạt pháo đón xuân từ các khu phố xa.

Tôi về nhà dự phần giỗ tết trong gia đình xong thì trời đã tối hẳn. Điện thoại lên đài Sài-gòn nói chuyện với một nhân viên trực, tôi được biết anh em quân nhân thuộc đơn vị phòng thủ vẫn chưa tới đủ. Điều này khiến tôi thật không yên tâm. Tôi lái xe lên đài.

Nhà tôi ớ đường Tô Hiến Thành, phía Ngã Bảy, cách đài khoảng 20 phút lái xe. Khúc đường Phan Đình Phùng gần đài tối hơn các khúc đường khác, nhưng nhân viên đài đã báo cho lính canh vọng gác phía ngoài biết. Người lính gác kéo rào cản kẽm gai cho xe tôi vào thẳng cổng đài. Lúc đó ông Trần Công Thân, Giám Đốc Kỹ Thuật đã có mặt trong đài. Ông đã liên lạc với tôi từ lúc trưa và chia xẻ nỗi lo âu của tôi sau khi được biết đài Qui Nhơn đã bị tấn công đêm Giao thừa. Ông Thân đến Đài để kiểm soát lại hệ thống liên lạc từ đài với các trung tâm phát tuyến Phú Thọ và Quán Tre. Hai trung tâm này nằm cách Đài Sài-gòn khoảng 10 và 16 cây số về hướng tây bắc, có trang bị các máy phát thanh có công suất cao từ 10, 50 đến 100 kilowatts

Ông Thân cho tôi biết đã liên lạc với ông Đào Văn Nam, Quản Đốc Trung Tâm Quán Tre, và ông Hồ Văn Huệ, Quản Đốc Trung Tâm Phú Thọ và được xác nhận có đầy đủ nhân viên tức trực. Tôi cảm thấy yên tâm, nhưng còn việc canh phòng ngay tại đài trung ương này! Tôi đi vòng ra khoảng sân phía sau đài. Có một vài binh sĩ mặc đồ trận đang ngon giấc trên những tấm bạt nhà binh trải trên nền xi-măng. Hẳn những anh em này ngù trước để rồi lo các phiên gác vào đêm

Tôi cũng lên sân thượng của đài và thấy khoảng trên 10 binh sĩ đang tụ tập đánh bài. Trở lại văn phòng ở tầng dưới, tôi nhờ một nhân viên an ninh kêu sĩ quan chỉ huy trung đội phòng thủ tới gặp. Sĩ quan này là một trung úy ở tuổi ngoài hai mươi. Tôi lưu ý ông về tính cách quan trọng của trụ sở phát thanh, và cho ông biết mối lo ngại của tôi, về những vụ cộng sản vi phạm hưu chiến trong đêm Giao thừa. Ông trung úy đoan chắc với tôi là các trạm canh được trấn gác cẩn mật và hứa sẽ cho các binh sĩ đi ngủ sớm.

Mặc dầu vậy, tôi vẫn kêu điện thoại nói chuyện với một sĩ quan cao cấp bên Cục An Ninh Quân Đội có thẩm quyền giám sát việc phòng thủ khu vực quanh Cục An Ninh Quân Đội và đài Sài-gòn. Hai cơ quan này nằm trong vị trí cách nhau có một con đường. Vị này cho tôi biết chẳng nên lo ngại quá đáng. Ông còn nói trung đội phòng thủ đài phát thanh mới từ mặt trận về, “nhân ngày Tết cũng nên cho đàn em nó được xả hơi một chút!”

Lúc đó đã hơn 11 giờ khuya, nhưng tôi còn nấn ná chờ đọc bản tin mới nhất mà Phòng Thâu Tin đang thâu.

Khoảng 11G30, vợ tôi từ nhà kêu điện thoại nhắc tôi ngày mồng Một Tết nên về nhà mà ngủ. Nhà tôi đã quen lối làm việc bất kể giờ giấc của tôi, và thông cảm với sự bề bộn công việc do tôi đảm trách, nhưng vẫn không thể bỏ qua chuyện dị đoan cho rằng ngày đầu năm mà không ngủ nhà là sẽ dông cả năm, không tốt. Liền sau cú điện thoại tôi ra về. Qua khung cửa kính của phòng vi âm nhỏ bên cầu thang đi xuống tầng dưới tôi thấy xướng ngôn viên Minh Diệu đang giới thiệu một chương trình nào đó. Bà Minh Diệu là vợ của nhạc sĩ Mạnh Phát thường làm việc trong các phiên chiều tối.

Sinh hoạt chính của ngành phát thanh như đọc tin, đọc bình luận hội luận, thoại kịch, ngâm thơ, ca hát , trình diễn cải lương đều thực hiện trong các phòng vi âm, cách âm với bên ngoài. Vì vậy không khí làm việc trong đài phát thanh thường yên tĩnh. Lúc này gần nửa đêm càng yên tĩnh hơn.

Từ cổng đài tôi lái xe về phía trái ra ngã ba Phan Đình Phùng và Phan Kế Bính. Người lính gác từ trong vọng gác bước ra phụ giúp nhân viên an ninh kéoo rào cản cho xe tôi ra. Đường khuya vắng, nhưng tiếng pháo từ các khu phố xa vẫn lác đác vọng tới nghe rất rõ.

Tôi về nhà, sắp lên giường thì chuông điện thoại reo. Bên kia đầu dây là tiếng nói quen thuộc của nhân viên trực điện thoại đài Sài-gòn: “Thưa ông, Việt Cộng đã lên lầu hai”. Cùng với lời báo cáo khẩn cấp này, qua đường dây tôi nghe rõ những tiếng nổ chát chúa. Liền đó tiếng điện thoại tắt ngay.


Văn Nghệ Văn Gừng: Nghệ sĩ Chí Tâm với vọng cổ hài được bà con hoan nghênh, vỗ tay um sùm.

Ban hợp ca đài VNHN: Vẫn còn đây các con của mẹ, vẫn còn đây trái tim Việt Nam.

Tam ca “Ba trái nho”:)

Phản ứng đầu tiên của tôi là ra phòng ngoài dừng chiếc máy truyền tin siêu tần số FM5 mà phòng kỹ thuật của đài đã trang bị cho tôi. Tôi liên lạc được ngay với ông Trần Công Thân và ông Đào Văn Nam. Tôi được hai ông đoan chắc là nhân viên kỹ thuật đã cắt hệ thống chuyển âm từ trụ sở đài tới trung tâm phát tuyến, nghĩa là địch sẽ không sử dụng được làn sóng. “Chúng không làm gì được!” ông Thân cho tôi biết. Liền đó tôi yêu cầu ông Nam cho chạy ít đĩa nhạc trong khi chờ đợi bản tin. Tiếp theo, giới chức cao cấp đầu tiên trong chính phủ mà tôi liên lạc là ông Đoàn Bá Cang, Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng. Vì Cục Vô Tuyến Truyền Thanh bao gồm đài Sài-gòn mang quy chế tự trị nên chúng tôi nằm trong sự thống thuộc của Phủ Thủ Tướng và ông Cang là Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị. Theo hệ thống làm việc tôi điện thoại cho ông Cang trước và trình bày tóm gọn với ông sự kiện đặc công cộng sản đã đột nhập đài Sài-gòn, giao tranh đang diễn ra ngay trong đài. Tôi cũng cho ông biết đài vẫn bảo vệ được làn sóng, và chúng tôi xin chỉ thị của Thủ Tướng. Ông Cang là một người trong ngành ngoại giao lâu năm nên nói năng lúc nào cũng trịnh trọng. Ông nói:

– Việc này liên quan đến tình hình quân sự, ông Tổng giám đốc cứ trình thẳng Thủ Tướng.

Tiếng súng lúc đó đã nghe rõ từ nhiều nơi trong thành phố, kể cả tiếng pháo kích từ ven đô dội vào. Tôi quay số điện thoại của Thủ Tướng Nguyễn Văn Lộc. Nghe tôi trình bày xong, Thủ Tướng nói:

– Việc quân sự quan trọng tôi không nắm vững. Ông Vinh có thể trình thẳng Tổng Thống.

Tôi điện thoại cho Đại Tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn Phòng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông Cầm nói sẽ trình Tổng Thống rồi kêu lại tôi ngay.

Trong khi chờ đợi, tôi được điện thoại của ông Võ Hồng Chí cho biết ông đã thu thập được một số tin tức từ quanh chỗ ông cư ngụ trong vừng Phú Nhuận, và ghi nhận có tiếng súng lớn từ miệt Gò Vấp. Chúng tôi trao đổi tin tức, rồi sau đó ông Chí tìm cách liên lạc với các phóng viên trực thuộc ông.

Nóng lòng chờ tin phủ Tổng Thống tôi lại điện thoại cho Đại Tá Cầm. Ông Cầm nói vẫn đang chờ lệnh Tổng Thống và đoán chắc sẽ có chỉ thị của Tổng Thống trong vài phút nữa. Chiếc máy truyền tin siêu tần số FM5 và máy điện thoại của tôi đặt trên chiếc bàn viết trông ra khoảng vườn nhỏ trước sân nhà trong khu cư xá Phú Thọ trên đường Tô Hiến Thành. Con đường này lúc đó không một xe qua lại.

Từ giây phút đầu biến cố tôi vẫn đứng bên bàn viết. Vợ tôi đang ngồi bên phòng khách theo dõi lo lắng. Bốn đứa con trên dưới 10 tuổi của chúng tôi vẫn ở trong phòng ngủ của chúng. Nhà tôi đã cấm chúng không được ra khỏi phòng ngủ, và chắc chúng đã ngủ trở lại. Tôi chợt nhớ và tự hỏi nếu hồi nãy cứ nấn ná ở trên đài lâu hơn, liệu có thể tôi đã bị kẹt lại trong đài không.

Từ chiếc máy thu thanh hiệu Zenith bên phòng khách vẫn réo rắt tiếng nhạc êm dịu. Đó là những bản nhạc được phát ra từ trung tâm phát tuyến Quán Tre. Tôi nhìn chiếc đồng hồ trên bàn viết. Từng phút qua đi, dài đằng đẳng Không thể chờ lâu hơn, tôi lại kêu Đại Tá Cầm, nhưng lần này chuông reo rất lâu mà không có trả lời. Tôi nghĩ chắc phải có chuyện bất thường.

Sau đó tôi điện thoại vào tư gia của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, Phó Tổng Thống. Người nhấc ống nói là Đại úy Hồ Đăng Trí, tùy viên Tướng Kỳ. Ông Trí cho tôi hay là Tân Sơn Nhất đang bị pháo kích dữ dội, gia đình ông tướng đang chờ trực thảng tới bốc di tản, và ông tướng không thể nói chuyện với tôi.

Không thể nói chuyện với Tướng Kỳ nhưng tôi đã biết thêm một điều qua ông Trí là Tân Sơn Nhứt đang bị pháo dữ dội. Dữ kiện này cho thấy tình hình thêm nghiêm trọng. Tới lúc đó đã 10 phút trôi qua. Tôi thấy tiếng nhạc phát ra từ chiếc máy thu thanh bên phòng khách thật lãng nhách. Tôi muốn sớm có ngay một bản tin.

Tôi không sao liên lạc được với Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia và Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội. Người Phụ Tá của ông cho biết ông đang ở ngoài đường điều động các lực lượng cảnh sát. Tôi kêu tới tư thất của Tướng Lê Nguyên Khang, Tổng Trấn Sài-gòn. Chính tướng Khang trả lời điện thoại. Tôi trình bày với ông là Cộng quân đã xâm nhập đài Sài-gòn. Tôi nói chưa hết câu thì ông ngắt:

– Toa (toi) nói sao? Đài của toa vẫn đang phát nhạc đấy thôi.

Hậu trường có tiếng nhạc. Hẳn lúc đó Tướng Khang đang nghe đài Sài-gòn, và không ngờ đài đã bị đặc công đột nhập.

Tôi tường thuật vắn tắt sự việc cho Tướng Khang rõ. Tướng Khang nói tôi thử kêu Biệt Khu Thủ Đô xem sao. Tôi liền kêu Đại Tá Nguyễn Văn Giám bên đó. Ông Giám cho biết có nhiều tiếng súng trong thành phố, nhưng ông chưa nhận được báo cáo nào.

Đến lúc đó tôi thấy không thể chờ đợi lâu hơn. Tôi quyết định cho loan tin căn cứ trên những tin chúng tôi đã thâu thập được qua các cuộc điện đàm dù rất ít.

Đúng lúc đó, ông Chí đài Sài-gòn kêu lại cung cấp thêm một số tin mà ông đã được các phóng viên của ông chuyển về. Theo tin của một phóng viên cư ngu trong quận Nhất thì có nhiều tiếng nổ ở phía cuối đường Thống Nhất, tức nơi tọa lạc tòa đại sứ Hoa Kỳ. Tôi liền soạn ngay bản tin ngắn đại ý loan báo khoảng 20 phút trước, vàn thời gian nửa đêm Cộng quân đã tấn công vào thủ đô, pháo kích căn cứ Không Quân Tân Sơn Nhất, công phá một số cơ sở thuộc trung tâm thành phố, và xâm nhập đài phát thanh Sài-gòn, nhưng tại mọi nơi mưu toan của chứng đã bị chặn đứng. Bản tin viết tiếp là các đơn vị thuộc quân lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn giũ vững vị trí và đồng thời khuyến cáo đồng bào không nên đốt pháo.

Tôi chuyển ngay bản tin cho ông Nam tại Trung Tâm Quán Tre để loan đọc. Liền đó từ chiếc máy Zenith của tôi tiếng nhạc ngưng lại, nhường làn sóng cho bản tin.

Tôi lắng nghe từng lời và cảm thấy nhẹ nhõm khi bản tin chấm dứt. Đài Sài-gòn đã có tin nhanh nhất cho thính giả. Tôi yêu cầu ông Nam cho đọc bản tin nhiều lần, cách quãng chừng một hai phút. Ông Chí vẫn giữ liên lạc với tôi, cho biết thêm tin có một vài phóng viên của đài ra khỏi nhà là bị lính gác từ đầu phố đuổi về . Tôi yêu cầu ông Chí liên lạc với ông Nam để cho thêm chi tiết đó vào bản tin, để người nghe thấy có sự hiện diện của quân đội và lực lượng an ninh ngoài đường phố, đồng thời cũng để cảnh giác đồng bào không nên ra khỏi nhà. Tôi cũng kêu lại Đại Tá Cầm và vẫn không thấy trá lời.

Sau khi bản tin đọc trên đài vài ba lần, tôi nhận được điện thoại của Tướng Kỳ. Ông nói với tôi:

– Bản tin trên đài như vậy là được lắm; nhưng anh cho loan thêm là tôi thừa lệnh Tổng Thống vắng mặt khỏi thủ đô ra lệnh cho các đơn vị ta nằm trong khu vực xung kích của địch phải giữ vững vị trí và phản công. Tôi cũng kêu gọi đồng bào trên toàn quốc tin tưởng vào sự bảo vệ của quân đội

Tôi ghi ngay những điều ông Kỳ nói, đồng thời cũng tin ông biết là tôi dã liên lạc với Đai Tá Cầm và ông Cầm cho biết sẽ có chỉ thị của Tổng Thống. Tôi cũng nêu thắc mắc nếu không nói lý do Tổng Thống vắng mặt có thể khiến dân chúng hoang mang. Tướng Kỳ cao giọng:

– Ông Tổng Thống về quê vợ ở Mỹ Tho ăn Tết rồi. Nếu tôi không thừa ủy nhiệm mà lên tiếng thì chẳng những dân mà quân cũng hoang mang luôn, còn mệt nữa. Anh cứ cho loan như vậy đi .

Trước khi đặt máy, tôi hỏi thăm Tướng Kỳ về tình hình pháo kích trong Tân Sơn Nhất, ông cho hay: “Khu trục lên, chúng nó câm rồi”. Ông cũng cho biết gia đình ông không phải di tản.

Tôi thi hành chỉ thị của ông. Bản tin đài Sài-gòn liền đó có thêm lời hiệu triệu của Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ. Tôi cũng cho loan thêm tin máy bay khu trục của Không Quân đã truy kích các ổ súng pháo kích, và pháo kích từ ven đô đã ngưng lại.

Sau này tôi được biết nhiều tướng lãnh và chỉ huy trưởng các đại đơn vị từ nhiều nơi trên khắp bốn vùng chiến thuật đã liên lạc với Tướng Kỳ ngay sau khi nghe lời hiệu triệu của ông trên đài Sài-gòn; và Tướng Kỳ cho hay, “nhờ vậy đã tránh được tình trạng hoang mang trong quân đội để từ đó việc phối trí phản công được mau chóng hơn.”

Cứ thế, mỗi khi có thêm tin, chúng tôi lại cập nhật hóa bản tin. Các phóng viên đài Sài-gòn tuy không thể đi xa khỏi khu phố nhà họ, nhưng vẫn nghe ngóng thu thập tin và liên lạc chuyển tin về ông Chí hoặc ông Nam. Bản tin mỗi lúc một phong phú hơn.

Khi gần sáng chúng tôi liên lạc và nhận được những tin tức từ các sĩ quan trực bên Bộ Quốc Phòng, Tổng Nha Cảnh Sát, Tòa Tồng Trấn và Biệt Khu Thủ Đô. Tôi cũng được tin một đơn vị Nhảy Dù đã được phái đến để lấy lại đài Sài-gòn.

Cho đến lúc đó tôi vẫn giữ liên lạc điện thoại với hai ông Thân, Chí. Tôi ngỏ ý định lên đài để theo dõi tại chỗ cuộc phản công của đơn vị Dù. Ông Thân và ông Chí đều hưởng ứng. Ông Chí từ Phú Nhuận sẽ lên thẳng đài; còn ông Thân từ Chợ-lớn sẽ ghé nhà tôi để cùng đi. Tôi phải chờ khá lâu mới thấy ông Thân đi bộ tới. Thì ra ông đã bị lính Mỹ chặn xe tại chợ Trần Quốc Toản, và ông phải bỏ xe tại đó đi bộ một cây số đường vào nhà tôi.

Khi ra khỏi khu phố nhà tôi, trời đã sáng rõ mặt người, toán lính Mỹ chặn ông Thân tại khu chợ cá Trần Quốc Toàn hồi nãy đã rút đi. Tôi lái xe qua Ngã Bảy, theo đường Hồng Thập Tự, và quẹo vào đường Nguyễn Bỉnh Khiêm dừng lại trước cổng trụ sở Cục An Ninh Quân Đội. Nơi này cách cổng sau đài Sài-gòn khoảng 100 thước.

Ra khỏi xe, nhìn về phía đài, tôi thấy một vài quân nhân Nhảy Dù hoặc đứng nấp sau thân cây bên đường, hoặc nằm úp trên mặt đường, miệng súng chĩa vào phía trong đài. Tất cả đang ở trong vị thế sửa soạn tấn công, trong khi tiếng loa từ phía chòi canh trên cao bên An Ninh Quân Đội đang hướng qua đài phát thanh kêu gọi các đặc công cộng-sản buông súng. Tại ngã tư, bên lề đường Phan Đình Phùng, tôi nhìn thấy ông Chí, các phóng viên Lê Phú Nhuận, Nguyễn Thiên Ân, Vũ Ánh, Nguyễn Mạnh Tiến; một số giới chức thuộc đài như các ông Lã Huy Quý, Trần Ngọc Vân, Uyên Thao, Thái Thủy, cùng một số anh chị em biên tập phụ trách ca sáng. Đài chưa được giải tỏa nhưng quý vị này đã sẵn sàng làm việc lại

Tôi tiến đến gần cổng đài, và nhận ra Tướng Nguyễn Ngọc Loan đang ngồi trên chiếc ghế kê sát cạnh tường phía bên kia cổng với khẩu súng tiểu liên trên đùi. Ông mặc bộ đồ dã chiến có áo giáp quanh ngực, nét mặt so với lúc thường không thay đổi, vẫn cái nhìn linh động tự tin, vẫn nụ cười hóm hỉnh. Ông vẫy tôi qua. Tôi và ông Thân băng nhanh qua cổng. Một binh sĩ Nhảy Dù theo bén gót chúng tôi đã bị đạn trúng chân do một đặc công từ cầu thang trong sân đài bắn ra. Anh chiến sĩ bị thương được đưa đi cấp cứu tức thì. Súng tiếp tục nổ nhưng Tướng Loan cho biết bên trong chỉ còn một hoặc hai tên đặc công mà thôi.

Khoảng một tiếng đồng hồ sau thì đơn vị tăng cường tái chiếm đài phát thanh đã thanh toán xong tên đặc công cuối.

Vở kịch đầy can trường, nhiệt huyết “Hiệp Sĩ Mù trên đỉnh Phú Sĩ Sơn 🙂


Vài câu chúc trước khi cắt bánh.

Chụp hình lưu niệm.

Tôi cùng Tướng Loan vào Đài và đi thẳng lên lầu hai là nơi trang bị các tiện nghi hạ tần. Trong một phòng hòa âm nhỏ chúng tôi thấy trên bàn một cuốn băng lớn mà băng được kéo gỡ ra khá dài và rối tung. Cuốn băng này khác với loại băng thường được sử dụng tại đài. Người hòa âm của đài bị kẹt đêm hôm trước cho hay đó là cuốn băng mà mấy đặc công định cho chạy nhưng không được. Tướng Loan bảo một tùy viên lấy cuốn băng đó mang về Tổng Nha Cảnh Sát. Ít ngày sau tôi được Tướng Loan cho biết cuốn băng mang lời kêu gọi quân dân Miền Nam “vùng dậy lật đổ chế độ Thiệu Kỳ.”

Kiểm kê tại chỗ những tổn thất của cộng-sản, đơn vị tái chiếm đài cho biết đếm được 6 hay 7 (đến nay tôi không còn nhớ rõ) tử thi đặc công. Tôi cũng được biết có vài ba quân nhân thuộc lực lượng phòng thủ đã hy sinh. Riêng đài Sài-gòn có một mất mát là anh Hửng, người tài xế trẻ tuổi đã mang bản tin đến nhà tôi hôm trước. Các nhân viên khác làm việc trong ca đêm hôm đó như biên tập viên, hòa âm viên, phụ trách thâu tin, điện thoại, và bà xướng ngôn Minh Diệu đã tìm cách ẩn nấp an toàn giữa các lằn đạn giao tranh. Họ đã trải qua một đêm hãi hùng. Về thiệt hại vật chất, các phòng vi âm và máy móc kỹ thuật trên lầu hai bị hư hại nặng không còn sử dụng được.

Khi Tướng Loan ra về thì nhân viên đài cũng đã tề tựu đông đủ. Chúng tôi họp các giới chức điều khiển đài bàn cách thích ứng với các điều kiện làm việc mới thiếu thốn tiện nghi máy móc. Vì cần thời gian chấn chỉnh kỹ thuật tại trụ sở hạ tần, chúng tôi quyết định tạm thời phát thanh trực tiếp từ trung tâm phát tuyến Quán Tre, và tôi liên lạc với Bộ Tư Lệnh Không Quân xin cho trực thăng chuyên chở phóng viên, biên tập viên cùng chuyên viên kỹ thuật xuống làm việc tại trung tâm ngay buổi sáng hôm đó. Sở dĩ cần phương tiện chuyên chở của Không Quân vì cho tới lúc đó giao tranh còn tiếp diễn làm tắc nghẽn trục giao thông đường bộ Sài-gòn – Quán Tre.

Quãng gần trưa tôi được điện thoại của phòng Báo Chí Phủ Tổng Thống yêu cầu tới Bộ Tổng Tham Mưu để thâu băng lời hiệu triệu của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu.

Tôi lên xe cùng ông Trần Công Thân và một nhân viên kỹ thuật phụ trách thâu băng vào Bộ Tổng Tham Mưu.

Tại đại sảnh kế cận bên văn phòng Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Cao Văn Viên, tôi thấy rất đông các giới chức lãnh đạo chính phủ gồm Tổng Thống Thiệu, Phó Tổng Thống Kỳ, Thủ Tướng Lộc, Đại Tướng Viên, các bộ trưởng, một số tướng lãnh như Nguyễn Bảo Trị, Đặng Văn Quang, Nguyễn Đức Thắng, Lê Nguyên Khang. Chắc quý vị này mới họp xong.

Tôi trao đổi đôi câu chào hỏi với một vài vị đứng ngay phiá ngoài, rồi do sự hướng dẫn của một sĩ quan tùy viên, chứng tôi đi thẳng vào một phòng họp nhỏ ở phía trong.

Khi nhân viên kỹ thuật của chúng tôi đặt máy ghi âm trên một chiếc bàn lớn kê giữa phòng, ông Thân nhắc tôi trình Tổng Thống diễn tiến về việc liên lạc với Đại Tá Cầm đêm hôm trước. Lời nhắc ấy khiến tôi nhớ lại đoạn viết về sự vắng mặt của Tổng Thống khỏi thủ đô mà Phó Tổng Thống Kỳ yêu cầu tôi ghi vào bản tin. Tôi gật đầu hiểu ý.

Khi máy đặt xong, sĩ quan tùy viên bước ra mời Tổng Thống, và ông Thân cũng ra theo. Trong phòng chỉ còn lại tôi và nhân viên kỹ thuật. Một phút sau Tổng Thống Thiệu bước vào. Ông mặc bộ đồ kaki, áo ngắn tay, khóe nhìn có phần đăm chiêu. Theo sau là Trung Tá Trần Văn Lâm, Tổng Giám Đốc Việt Tấn Xã và cũng là Giám Đốc Báo Chí Phủ Tổng Thống.

Là quân nhân biệt phái tôi thường mặc y phục dân sự, nhưng hôm đó tôi mặc quân phục. Tôi chào Tổng Thống theo quân cách, và ông giơ tay bắt tay tôi.

Tôi đã có dịp diện kiến Tổng Thống vài ba lần trong những năm trước, kể cả lần ông mở tiếp tân khánh thành Dinh Độc Lập tái thiết. Lần nào cái siết tay ông dành cho tôi cũng chặt chẽ, chưa bao giờ lỏng lẻo hờ hững như lần này. Tôi nhớ ngay đến bản tin đêm trước và lời nhắc của ông Thân. Hẳn rằng bản tin đã làm Tổng Thống không vui vì loan tin ông không có mặt tại thủ đô vào lúc mà sự có mặt của ông rất cần thiết. Nhưng tôi vẫn muốn nghĩ ông không vui vì đã thức trắng đêm, rồi lại họp suốt buổi sáng nên tâm thần mệt mỏi không còn như lúc thường.

Tôi không đề cập gì đến bản tin đêm trước, và cũng không giải thích gì cả. Tôi mời Tổng Thống vào bàn thâu băng. Trung Tá Lâm đi lên trước đặt bên chiếc máy vi âm một bài viết soạn sẵn.

Bài hiệu triệu lâu khoảng mười phút. Khi Tổng Thống đọc xong, người chuyên viên quay lại đoạn băng để ông nghe. Ông gật đầu hài lòng rồi đứng dậy hướng ra phía cửa. Lúc đó tôi đã di chuyển về góc bàn ở phía trong đứng bên ông Lâm. Từ vị từ đó tôi giơ tay ngang tầm trán chào Tổng Thống khi ông bước ra cửa. Nét mặt ông bình thản, khó đoán ông đang nghĩ gì . Đó cũng là lần chót tôi gặp Tổng Thống Thiệu. Lời hiệu triệu của Tổng Thống đã được phát thanh ngay sau đó trên các làn sóng phát thanh của đài Sài-gòn và đài Quân Đội.

Sau này, đôi khi nhớ lại nét mặt và thái độ của Tổng Thống Thiệu trong cuộc gặp gỡ này tôi thấy rõ ràng hơn cái khó khăn của những người phục vụ trong ngành truyền thông báo chí dù ở bất cứ cương vị nào. Khó mà chiều hết được áp lực từ mọi phía. (2)

Trên đường về đài Sai-gon, tôi cho ông Thân hay tôi đã không nói gì với Tổng Thống cả. Tôi nghĩ hãy cứ làm việc hết mình và phục vụ ngay thẳng chứ giải thích mà làm gì. Rồi chúng tôi vùi đầu vào công việc. Lời hiệu triệu của ông Thiệu được phát thanh liền ngay xế trưa hôm đó trên các làn sóng quốc gia và quân đội. Tôi cũng chẳng có việc gì để kêu lại ông Cầm.

Nhưng gần 20 năm sau, tình cờ tôi gặp lại ông trong tiệc cưới, con của một người bạn tại thành phố Portland thuộc tiểu bang Oregon, Hoa Kỳ. Thoạt nhìn chúng tôi nhận ra nhau ngay, có già đi nhưng chẳng thay đổi bao nhiêu. Không hiểu nghĩ sao, trong cái bắt tay chặt chẽ, câu nói đầu tiên của ông Cầm với tôi là: “Đất nước như vậy làm sao hơn được!”. Tôi không rõ cái ý đích thực của ông trong câu nói nhưng tôi cũng chẳng muốn khơi lại chuyện cũ. Khách dự tiệc nối tiếp tới và chúng tôi được mời vào bàn. Trong cái không khí ồn ào vui tươi của tiệc cưới, chúng tôi nói đủ chuyện, nhưng thảy đều là chuyện về nước Mỹ, kể cả những chuyện thời tiết ngộ nghĩnh về thành phổ sương mù San Francisco nơi ông Cầm cư ngụ, và thành phố Seattle với biểu tượng cây dù che mưa nơi tôi sinh sống.

Hình sưu tầm trên Net: Cơ quan cung cấp tin tức của Việt Nam hiện nay tức Thông Tấn Xã VN. Ối chao, sao mà khiêm nhượng quá xá.


Chú Thích:
(1) Từ sau tháng 4/1975, đường Phan Đình Phùng đổi thành đường Nguyễn Đình Chiểu.

(2) Luôn luôn tôi tôn trọng hệ thống chỉ huy và trong tinh thần không bè phái. Ngay khi có biến tôi đã liên lạc trực tiếp với ông Bộ Trưởng Phủ Thủ Tướng, rối mới đến Thủ Tướng, rồi văn phòng Tổng Thống (chứ không qua văn phòng Phó Tổng Thống). Sau chính văn phòng PTT liên lạc với tôi, và tôi chỉ nhận chỉ thị của PTT khi biết TT vắng thủ đô. Trình bày như vậy để người đọc hiểu thêm cho rằng tôi không phải là người thích đi tắt hay bè phái. Có lẽ vì vậy khi tôi nạp đơn từ chức vào tháng 8 năm 1968, thì Bộ Trưởng Thông Tin Tôn Thất Thiện cũng như Thủ Tướng Hương đã có nhã ý giữ tôi lại (nhưng tôi không thể đổi ý nên vẫn từ chức như đã dự liệu).


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The



Links:

Picasa’s Đang Web Album

Đài Phát Thanh Việt Nam  Hải Ngoại

X-càfe

Đàn Chim Việt

Hỏi Là Trả Lời Blogspot.com (Viet Daily News)


Trăm Năm Trồng Người- Bán Nguyệt San Tự Do Ngôn Luận

Con quan được chở đi học bằng “xe ôtô”, con nhà nghèo thì đu giây qua sông thời XHCN


Bài đọc suy gẫm:  Nền Phản Giáo Dục của cộng sản Việt Nam – Ban Biên Tập Bán nguyệt san Tự Do Ngôn Luận.


Mỗi năm, đúng hôm 03-09, nhà cầm quyền VN lại rùm beng tổ chức “Ngày toàn dân đưa trẻ đến trường”. Cái tên nghe thật kêu, như chứng tỏ “đảng ta” quan tâm về giáo dục lắm. Nhiều bích chương có hình 2 trẻ nhỏ, một nam một nữ, mang khăn quàng đỏ của Đội thiếu nhi Tiền Phong, đứng dưới cờ đỏ sao vàng với giòng chữ ở đỉnh hay đáy bích chương: “Từ ngày có Đảng”, được treo khắp phố phường, làm như thể dân Việt chỉ được đến trường từ ngày đảng CS xuất hiện.

Thế nhưng, ngoại trừ kẻ mắc bệnh tâm thần, ai cũng biết rằng nền giáo dục của CSVN là nền giáo dục khốn nạn nhất trên thế giới. Với đủ thứ thành tích rất đáng xấu hổ và tệ trạng vô phương chữa trị. Về tư cách lãnh đạo thì trước hết là chuyện đích thân bộ trưởng giáo dục kiêm phó thủ tướng (nay chỉ còn chức PTT) được các trang blogs bầu chọn là nhân vật tồi tệ nhất trong 2 năm liền (2007-2008), vì đã đẩy nền giáo dục ngày càng xuống hố thẳm. Thầy có một thành tích nổi bật là đã lệnh cho các hiệu trưởng đại học từ Nam chí Bắc (chính các vị này cũng nhất trí đồng lòng) ra văn thư cấm cản sinh viên biểu tình chống Trung Quốc xâm lược Hoàng Trường Sa năm 2007-2008. Còn đích thân thầy thì chủ tọa cuộc rước đuốc Thế vận Bắc Kinh qua Sài Gòn ngày 30-04-2008 với thái độ thản nhiên trước bản đồ Trung Hoa do thanh niên Tàu giương cao trong đó Hoàng Trường Sa được ghi là lãnh thổ Trung Cộng…

Theo báo chí trong nước, bị cáo hiệu trưởng Sầm Đức Xương mua dâm với học trò đồng thời môi giới cho các quan chức khác.

Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang bị tố cáo quan hệ tình dục với cả hai “bị can”?

*Kế tiếp là chuyện thầy hiệu trưởng trường trung học thị trấn Việt Lâm (tỉnh Hà Giang) đứng ra thành lập đường dây mua bán trinh trẻ vị thành niên, những nữ sinh yêu quý của thầy, để “phục vụ sinh lý” cho các quan chức lớn trong tỉnh…

*Gần đây nhất, hôm tháng 8, là chuyện hai nhân vật lớn từ Bộ Giáo dục (trong đó có một Thứ trưởng) đã tìm cách gây khó khăn cho Đại học tư thục Phan Châu Trinh tại Hội An, Quảng Nam nhằm mục đích loại ban quản trị để chiếm lấy trường…

*Còn vô số “gương lành lãnh đạo” khác nữa… Về đạo đức học đường thì hầu như ngày nào cũng có chỗ xảy ra cảnh dân phòng hay công an tra tấn học sinh sinh viên kiểu xã hội đen.

*Thầy giáo hiếp dâm học trò, đổi tình lấy điểm,lén coi nữ sinh thay y phục.

*Cô giáo bắt học trò liếm ghế, cho bạn tát tai bạn, sờ chỗ kín của nam sinh.

*Học trò đánh thầy giáo, đánh bạn học (thậm chí nữ sinh cũng đấm đá nhau chí tử rồi tung lên mạng).

*Học trò vay nóng, lãi cao để chơi game hay hút xì ke bị xã hội đen dọa giết.

*Nữ sinh viên để kiếm tiền trả học phí đành làm gái gọi v.v…

*Rồi nạn dối trá tràn lan, như lời nhà văn Trần Mạnh Hảo (trong tham luận gởi Đại hội Hội Nhà văn mới đây): “Đạo đức trong giáo dục VN hôm nay đồng nghĩa với dối trá :

*Thày dối trá thày, trò dối trá trò.

*Quản lý giáo dục báo cáo láo cốt lấy thành tích

*Nạn mua bán bằng, bán đề thi, mua quan bán tước đang là đại họa của nền giáo dục.

*Hầu hết sách giáo trình, sách giáo khoa… là sách đạo văn.

*Cán bộ có chức có quyền đua nhau làm thạc sĩ, tiến sĩ… lấy bằng thật nhưng học giả. Nạn dùng tiền mua bằng cấp, mua học hàm học vị đang diễn ra công khai trong cái chợ trời giáo dục VN…”.

*Ngoài ra còn phải kể đến nạn ban giám hiệu, sở giáo dục hay cả bộ giáo dục hăm dọa, cấm cản học sinh sinh viên sống niềm tin tôn giáo (như tại Nghệ An).

*Sách nhiễu, loại trừ các thầy cô có tinh thần độc lập hay dân chủ (như Nguyễn Thị Bích Hạnh, Đỗ Việt Khoa, Vũ Hùng…); dửng dưng trước việc các nữ sinh nạn nhân ở trường Việt Lâm đã bị tuyên là tội phạm, chịu những án tù dài.

*Bỏ mặc cho công an đày đọa giáo sư Phạm Minh Hoàng chỉ vì thầy có chính kiến khác với đảng thống trị…

*Về thành tích giáo dục thì kết quả kỳ thi tốt nghiệp năm nào cũng dưới 50% nhưng lại được đôn lên gần 100%…

*VN không có đại học nào chất lượng được thế giới công nhận. Chẳng cơ sở nào của VN có tên trong mọi danh sách các đại học hàng đầu châu Á. Trong số các bài viết xuất bản trên các tạp chí khoa học năm 2007, thì Đại học Quốc gia Seoul (Hàn quốc) có 5.060 bài, Đại học Quốc gia Singapore: 3.598, Đại học Bắc Kinh (Trung Quốc): 3.219, Đại học Mahidol (Thái Lan): 950, Đại học Malaya  (Malaysia): 504, Đại học Manila (Philippin): 220, còn Đại học Quốc gia VN (cả Hà Nội lẫn Sài Gòn) chỉ có 52 bài. (x. Science Citation Index Expanded, Thomson Reuters). Đến nay VN vẫn lẹt đẹt như vây. Chỉ số sáng tạo thì trong số bằng sáng chế được cấp năm 2006, Hàn Quốc có 102.633 bằng, Trung Quốc: 26.292, Singapore: 995, Thái Lan: 158, Malaysia: 147, Philippines: 76, còn VN ta là một con số 0 vĩ đại (x. World Intellectual Property Organization, 2008 Statistical Review). Đến nay ta vẫn chưa khá lên nổi.

*Dĩ nhiên còn nhiều tệ nạn khác trong ngành giáo dục như tham nhũng từ cao xuống thấp, cơ sở và giáo viên thiếu thốn, trường ốc xập xệ, học cụ nghèo nàn, giáo khoa đắt đỏ, môn chính trị quá nặng, học sinh nghèo bỏ học…


Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc sở Văn hóa – thông tin và du lịch tỉnh Phú Thọ đỗ tiến sĩ tại Mỹ nhưng không biết tiếng Anh. Tôi làm Tiến Sĩ tốn 17 nghìn đô la.

Cũng theo báo chí trong nước thì 90% bằng tốt nghiệp khi test lại là bằng giả, và nưóc ta hiện nay số tiến sĩ có lẽ cao nhất thế giới, đặc biệt bên diễn đàn  X-cafe đang vinh danh 2 tiến sĩ có bằng cấp nặng ký nhất VN.  Hai vị sau đều có bằng Tiến Sĩ nước ngoài như những người khác, nhưng trong tất cả các TS người Việt cả trong và ngoài nước không ai có được loại bằng nặng kí như hai vị sau:

  • Bằng của ông Nguyễn Văn Ngọc – phó bí thư Tỉnh ủy Yên Bái có cả chữ kí của ngoại trưởng ngoại giao Hoa Kỳ, chữ kí của tóa án New York, và Thống đốc bang New York
  • Bằng của ông giám đốc Sở Văn hóa – thể thao và du lịch Phú Thọ thì còn KHỦNG hơn, ….có cả chữ ký của cựu tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton !

Bằng dỏm được quảng cáo trên net “búa xua”

Văn miếu (Hà Nội) cần phải xây thêm nhiều hàng may ra mới đủ chổ cho các quan tiến sĩ cộng sản.

Có người cho tất cả những tệ nạn trên là do đất nước đã trải qua một cuộc chiến tàn phá tổn hại, do sự yếu kém trong quản lý giáo dục, do nền kinh tế của đất nước và quốc dân còn nghèo nàn, do việc đào tạo thầy cô ở mọi cấp chưa được chu đáo hoàn chỉnh, do sự thiếu cọ xát giao lưu với các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới…. Theo chúng tôi thiết nghĩ, đó chỉ là những nguyên nhân phụ. Nguyên nhân chính vẫn là đường lối giáo dục, bao gồm triết lý giáo dục và mục tiêu đào tạo, vốn do đảng Cộng sản đề ra. Điều này được trình bày rõ ràng trong Luật Giáo dục do Quốc hội khóa 11 ban hành ngày 14-06-2005. “Điều 2: Mục tiêu giáo dục: Đào tạo con người VN phát triển toàn diện, có đạo đức… trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội….”. “Điều 3: Tính chất, nguyên lý giáo dục: 1. Nền giáo dục VN là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”. “Điều 27: Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất… hình thành nhân cách con người VN xã hội chủ nghĩa…”. “Điều 40: Nội dung giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản… và các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…” Tất cả các điều này rõ ràng cho thấy đảng và nhà cầm quyền Cộng sản VN quyết tâm đào tạo con người VN theo một chủ nghĩa đã bị nhân loại vất vào sọt rác từ mấy chục năm nay vì phi nhân và bất lực, dối trá và cưỡng bức, sai lầm và ảo tưởng, noi gương một con người mà đạo đức là vô luân và tư tưởng là vô thực, hướng đến một mục tiêu, lý tưởng và nhân cách chưa bao giờ xác định được là “chủ nghĩa xã hội”. Rồi để bảo đảm đi đúng đường lối giáo dục này, Điều 56 cho biết trong mọi trường (có lẽ trừ mẫu giáo của các Giáo hội) đều có Tổ chức Đảng: “Tổ chức Đảng Cộng sản VN trong nhà trường lãnh đạo nhà trường…”. Cụ thể là mọi hiệu trưởng các cấp đều phải là đảng viên và trong mỗi trường đều có đảng ủy, chưa kể Đoàn thanh niên CS Hồ Chí Minh (với nhiều đoàn viên đóng vai công an học trò theo dõi thầy giáo và bạn học) hoặc Đội thiếu nhi Tiền Phong trong các trường cấp 1 (với nhiều đội viên có nhiệm vụ báo cáo về cô giáo). Tổ chức đảng này còn nằm trong những Sở giáo dục tỉnh, thành, quận, huyện mà mục tiêu chủ yếu là theo dõi chính kiến của phụ huynh và học sinh. Một chính đảng cầm quyền và một chính phủ công cụ mang trong mình ba đặc tính cố hữu: “tàn ác cách lạnh lùng, dối trá cách bình thản, ngu dốt cách cố chấp”, sáu yếu tố tự hủy: “vô thần, duy vật, hận thù, bạo lực, bất công và gian trá”, đã và đang thất bại trong các lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng… thì làm sao có một nền giáo dục lành mạnh, nhân bản và hiệu quả? làm sao đào tạo được những công dân trưởng thành, tự do và độc lập cho đất nước? Có chăng là chỉ đào tạo được những thần dân hoặc trung thành tối mặt với đảng, hoặc khiếp nhược im lặng trước đảng, nghĩa là thành nô lệ hay công cụ cho đảng. Và tất cả những tệ nạn trên kia chỉ là hậu quả của đường lối chính trị hóa giáo dục đó.
Cả nước ồn ào chúc mừng GS. Ngô Bảo Châu, phải ôm ngay vào …nòng.:)

Đến đây, không thể không ngậm ngùi luyến tiếc nền Giáo dục của VN Cộng Hòa trước năm 1975. Triết lý giáo dục thời đó theo ba nguyên tắc “nhân bản”, “dân tộc” và “khai phóng” (liberal), được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp VNCH (1967). Nhân bản vì lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người làm căn bản; xem con người như cứu cánh chứ không như phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái hay tổ chức nào. Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục. Dân tộc vì tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp và quốc gia; bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Khai phóng nghĩa là mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới. Còn Mục tiêu giáo dục là Phát triển toàn diện mỗi cá nhân trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của từng học sinh; cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực để nhồi sọ học sinh theo một chủ trương, đường hướng định sẵn. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh, bằng cách giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường và lối sống của người dân; biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở, ca ngợi tinh thần đoàn kết đấu tranh chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; học và sử dụng tiếng Việt cách hiệu quả; biết bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia, có tinh thần tự tin, tự lực và tự lập. Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học bằng cách giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; có khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa của nhân loại (theo Wikipedia)

Làm văn hóa giáo dục sai là giết chết cả một thế hệ. Từ 1954 tới nay, CS đã giết chết bao thế hệ? Ngày nào nó mất đi, thì làm sống lại các thế hệ cũng không phải là điều dễ dàng!!!

Ban Biên Tập


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The



Links:

X-càfe

Đàn Chim Việt

Hỏi Là Trả Lời Blogspot.com