Dùi Cui Miễn Phí – Nông Đức Dân


1. Hình ảnh minh họa: Dưới trào Xã Hội Chủ Nghĩa, khi ông công an được làm thủ tướng, cánh công an lên ngôi, phất như diều gặp gió, chỉ phục vụ đảng, hành xử tàn ác với người dân.

Tra tấn trong tù, bịt miệng ngoài tòa.

Nổ súng giết em bé.

 

Chỉ biết còn đảng, còn mình. Ôi bất hạnh cho dân tôi


2.  Bài đọc suy gẫm: Công An Nước Tôi- Tác Giả: Nông Đức Dân.

Người ta nói công an là thành phần nòng cốt và là công cụ được dân trả tiền để dùng vào việc bảo vệ xã hội, nhưng ở trên đất nước của tôi, thì tôi không nghĩ là như vậy. Một định nghĩa chính xác của tôi là công an được dựng lên để trung thành và bảo vệ quyền lực của đảng thì đúng hơn. Nếu bạn hỏi, tôi có sợ công an hay không? Câu trả lời không cần phải ngập ngừng của tôi: “Tôi sợ họ lắm chứ! Bởi vì có bao giờ họ đứng về phía của người dân mà bảo vệ tôi đâu!” Đó là tôi chưa nói đến những vụ việc long trời lỡ đất mà họ thường xuyên làm một cách ngang nhiên mà chẵng bao giờ đến xĩa gì đến luật pháp đó nhé! Ở nước tôi, công an có cái quyền bắt bớ và đánh đập bất cứ một ai họ thích miễn sao nạn nhân đó đừng có dây mơ rễ má gì đến những quan chức cấp cao của nhà nước là được rồi. Đã có nhiều việc xãy ra tưởng chừng như chỉ trong kịch bản những phim xã hội đen của Hàn Quốc, nhưng nó lại là sự thật một trăm phần trăm ở trên cái xứ sở thiên đường xã hội chủ nghĩa nước tôi. Chuyện công an đánh chết người vì vi phạm giao thông, chuyện công an bắt bớ người trái phép, chuyện công an mướn xã hội đen đánh dằn mặt người dân… Ôi, nhiều lắm… Tôi không thể nào kể hết được đâu.
Nếu bạn là người nước ngoài và bạn không tin những điều tôi kể trên ư? Xin mời bạn hãy đến thăm quê hương tôi, nơi mà đất nước tôi đang chuẫn bị tiến đến cái thế giới văn minh nhất nhân loại đó là “Chủ nghĩa xã hội”. Nơi mà không có những cái cảnh ông chủ người da trắng bụng mập ú, tay cầm ly rượu nho, miệng ngậm điếu xì gà và lúc nào cũng bóc lột trên sức lao động của người dân nghèo đâu. Nếu bạn có thấy, thì bạn chỉ nhìn thấy đám công an, mật vụ mà thôi. Họ là những người làm việc vô cùng chăm chỉ lẫn ngày và đêm, nhưng bạn đừng có lầm tưởng là họ đang canh chừng giấc ngũ an lành cho bạn đấy nhé. Họ săn lùng, rình rập và bắt bớ những ai dám mở miệng nói xấu lãnh đạo của họ, mặt khác thì họ cũng tìm đủ mọi cách xão quyệt để bắt bạn phải nộp tiền cho họ. Mà phải nộp một cách kính cẩn và thành kính, chứ không phải là muốn nộp sao thì nộp đâu! Công an nước tôi họ khó tính lắm, bạn mà lộn xộn, thì bạn sẽ bị nộp phạt gấp hai hoặc ba lần đó! Tiền này họ gọi là tiền ngu bởi vì bạn không biết thành khẩn và lễ phép với họ.

Công an đánh chết dân oan vô tôi tại tỉnh Đồng Nai.

 

Chuyện công an ở nước tôi mà viết ra thì phải dầy gấp mấy lần cái quyển truyện Chiến Tranh Và Hòa Bình của cái ông nhà văn gì người Nga viết… Mà công an ở nước tôi cũng đặc biệt lắm. Không biết là sau khi được tuyển chọn vào ngành công an, thì họ có bị mất trí nhớ hay không, nhưng tôi có một thằng bạn cùng học chung thời trung học. Sau khi nó trở thành anh công an, có những lúc nó nhìn thấy tôi, thì nó lơ tôi luôn! Riêng tôi nghĩ rằng chắc nó lâu ngày không gặp lại tôi, nên có thể nó không nhận ra tôi chăng? Vì vậy, khi tôi thấy nó, tôi gọi: “Hùng! Tao nè, thằng Thắng ngày xưa học chung với mày ở trường Đồng Tâm đây!” Nó nhìn tôi với ánh mắt xa lạ và đặc mùi của kẻ bề trên, nó nói: “Tao biết chứ, nhưng bây giờ tao là công an, nên tao không kết bạn với thành phần như mày đâu.” Ui, cha mẹ ơi! Cái thằng chết tiệt này! Bộ nó tưởng nó là ông trời con chắc! Các bạn thấy chưa? Công an xứ tôi đặc biệt như vậy đó! Xa lánh bạn bè và thậm chí không nhận đến cả người thân của chính họ nữa… Thật là không còn gì để nói nữa và tôi cho rằng chắc họ đã được huấn luyện và bị tẩy não nên trong đầu của họ, không ai hơn ngoài đảng và họ chỉ biết trung thành với đảng, chứ không bao giờ trung thành với dân.
Tôi còn nhớ cái thời bao cấp, mấy ông công an ốm nhom ốm nhách à! Chắc tại lúc đó mấy ông công an này chỉ kiếm chác được chút ít để nuôi vợ, nuôi con thôi, nhưng bây giờ thì đã quá khác xưa rồi. Đất nước mở cửa và làm ăn kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nên mấy cha nội này có cơ hội kiếm chác nhiều hơn nên ông nào bụng cũng phệ và toàn mùi rượu bia ngoại quốc đắt tiền.
Chắc không có cái nghề nào sướng bằng cái nghề công an ở xứ tôi! Này nhé,  họ vừa được trả lương để đánh người, lại vừa được có cái cơ hội kiếm ăn. Mà nói đến chuyện làm kinh tế thì tôi phục mấy ông công an của tôi sát đất. Không biết mấy ổng học được cái gì ở trong trường đào tạo công an, mà ông nào cũng biết làm kinh tế hết! Ông công an lớn, thì có mấy cái nhà hàng hoặc khách sạn khổng lồ kinh doanh. Ông nhỏ hơn một chút, thì có một vài cái nhà nghỉ mát nhỏ nhỏ rồi bảo kê cho mấy cô gái chân dài hành nghề mãi dâm để kiếm sống qua ngày và đã là cơ sở làm ăn của công an, thì đố ai mà dám động vào họ chứ?

Tà quyền cộng sản chiếm hữu tài sản của các tôn giáo làm tư lợi, khi bị phản đối liền sai đám công an ra tay đàn áp đồng bào.

Công an bạn dân chặn đường dân vừa đánh vừa chửi:”đánh thấy mẹ con của thằng mục sư Thân …”

Các mẹ các chị thì chúng ông công an… đục theo các mẹ các chị.

Công an nước tôi là thế đó, bạn có thích hay không thì tùy bạn, nhưng mà bạn đừng có lắm chuyện mà nói năng lăng nhăng trước mặt họ đấy nhé! Dùi cui đập vào đầu bạn lúc nào cũng miễn phí ở đất nước tôi cả. Nếu bạn không tin, thì bạn có thể thử ở bất cứ nơi nào mà bạn thấy có hình bóng anh công an thân thương của chúng tôi. Họ đánh dùi cui và đá đấm vào người bạn một cách rất là chân thành chứ họ không biết vẻ vời khách sáo gì đâu. Đó là đặc điểm của người công an nhân dân nước tôi là như thế đấy. Dùi cui đi trước để thay cho lời nói. Mà như vậy thì cũng tốt bởi vì họ đở phải hao hơi tổn tiếng mà la hét làm gì. Cứ đánh thật mạnh vào, thì còn ai đâu nữa làm dám đứng lên kêu gào phản đối! Bạn đừng ngạc nhiên và có những cảm giác tội nghiệp cho chúng tôi. Chúng tôi sẽ không thích đâu bởi vì chúng tôi đã quá quen với những cái cảnh đó rồi. Khi mà điều gì đó đã trở thành quen thuộc, thì ai mà hơi sức đâu để ý đến nó làm gì có đúng không?
Công an nhân dân ở nước tôi có lẽ sẽ khác với nước bạn nhiều lắm. Ví dụ như, thay vì nhiệm vụ của họ là bảo vệ luật pháp, thì ngược lại, luật pháp nước tôi được dùng để bảo vệ lại họ. Bạn không đồng ý với tôi về điểm này đó là quyền của bạn, nhưng nếu đã đến nước tôi rồi, thì mong rằng bạn hãy tuân thủ theo những điều lệ đó và đừng bao giờ tỏ ra có thái độ bất mãn với họ. Nhà tù ở nước tôi lúc nào cũng mở rộng cánh cửa hơn cả cái cửa của nhà chùa để đón chào tất cả mọi người. Nếu bạn không may mà phải vào tạm trú trong đó, thì bạn phải nhớ rõ là bạn phải nhận bất cứ tội gì họ gán ghép cho bạn nhé bởi vì châm ngôn của họ là: “Không, đánh thành có. Mà có, thì họ đánh cho què!” Đừng ý kiến, ý cò mà mang họa vào thân bởi vì họ có biết nghe đâu mà bạn mất công phải nói với họ!

Công an Việt Nam đánh ký gỉả, hình ký giả JB. Nguyễn Hữu Vinh bị đánh bất tỉnh khi đi tham quan biến cố Đồng Chiêm.

 

Đánh luôn nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, sau đó ngụy tạo chứng cớ đổ ngược lại cho nhà văn đánh người và bắt bà bỏ tù, còn gì mất dậy hơn? khốn nạn thay cho ngành cớm nước tôi!

Hình dưới: Công an đưa ra hình ông Nguyễn văn Điệp cho biết ông này bị TKTT dùng đá ném trúng đầu. Tuy nhiên ảnh ngụy tạo của bạn dân nhiều sơ hở quá làm sao qua mắt được các blogger thời nay. Tin chi Tiết

 

Đánh luôn  ký giả ngoại quốc. Ký giả Mỹ-BenStocking bị công an… lỡ tay phạng trúng đầu khi đang thi hành công vụ trong biến cố Tòa Khâm Sứ của người Công Giáo bị bọn cường hào ác bá xâm phạm.  Không hiểu sao người Mỹ vẫn làm ăn buôn bán được với vc.?

Và tấm hình mẹ già Việt Nam bị đánh đã “vinh danh” ngành công an  Việt cộng với thế giới.

 

Ngôn ngữ đất nước tôi vốn rất là đa dạng, vì vậy, chúng tôi có rất nhiều loại công an lắm. Nào là công an mạng, công an khu vực, công an kinh tế, công an an ninh, công an gác đường, công an gác chuồng heo, công an gác mồm (đây là công an đặc biệt được dùng để bịt miệng người dân) v.v. Ôi, đủ tất cả các loại công an hết. Mỗi ngành đều đặc tính và sở trường riêng của họ, ai làm việc nấy không chồng chéo với nhau và cùng một mục đích chung là phục vụ cho đảng.
Không biết công an ở đất nước bạn ra sao, nhưng ở nước tôi thì họ như thế đó. Nếu đến viếng thăm đất nước chúng tôi, hãy nhớ lấy những lời tôi căn dặn để bạn có một chuyến du lịch thật là bình yên và vui vẽ.
Nông Đức Dân

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The


Links:

Thằng Nông Dân Blog

Một số link You Tube liên quan đến Công An nhân dân Việt Nam

Công an Hải Phòng bắn thanh niên không đội mũ bảo hiểm.

Dân oan tụt quần.

Công an đánh dân

Advertisements

Những người cầm quyền không cần sách – Phạm Toàn.

Logo Ngày Blogger Việt Nam” by Trg SG.

Cư dân mạng Việt Nam tuần qua đang xôn xao góp ý, lựa chọn một ngày tiêu biểu cho Blogger

1.  Hình ảnh (sưu tầm trên Net) chỉ có tính cách minh hoạ

2.  Bài đọc suy gẫm:   Những người cầm quyền không cần sách – Phạm Toàn.

 

Dịch giả Phạm Toàn đổi tựa sách vì chính quyền ‘rất sợ và dị ứng với từ dân chủ’ – VOA.

Quyển sách nhan đề “Dân chủ ở Hoa Kỳ” của tác giả Pháp Alexis de Tocqueville phải đổi tựa thành “Nền dân trị Mỹ” khi chuyển dịch và xuất bản ở Việt Nam. Trong cuộc trao đổi với Trà Mi, nhà giáo Phạm Toàn, dịch giả chuyển ngữ tác phẩm này ra tiếng Việt, cho biết nguyên do của quyết định đó và nói về quyển sách có nội dung được cho là “nhạy cảm” so với tình hình chính trị tại Việt Nam mà ông đánh giá rất cao.

Nhà giáo Phạm Toàn phát biểu:”…tôi bao giờ cũng bi quan. Tôi không tin sách vở có thể cải tạo nổi đất nước này vì những người cầm quyền bây giờ không cần sách. Ngay những nhà trí thức bây giờ cũng ít đọc sách lắm. Thanh niên-sinh viên bây giờ họ có đọc sách đâu? Chính vì bi quan nên tôi đã lẳng lặng làm lại bộ sách giáo khoa cho trẻ em….

 

Nhà văn, nhà giáo Phạm Toàn phát biểu trong buổi hội thảo giới thiệu bộ sách lớp Một.

 

 

Trái sang phải:  GS. Nguyễn Huệ Chi, Nhà giáo Phạm Toàn và TS. Luật Khoa Cù Huy Hà Vũ.  Noted: GS. Chi, nhà giáo Phạm toàn là 2 trong 3 người chủ trương và sáng lập ra trang BọXít Việt Nam.


Bài Phỏng vấn do Trà Mi của đài Tiếng Nói Hoa Kỳ thực hiện.

Dịch giả Phạm Toàn: “Bàn chuyện sách chỉ là bàn chuyện cái ngọn, sẽ có một lúc cái gốc sẽ được giải quyết.”

Phạm Toàn: Việc đổi tựa đề là tôi và anh Chu Hảo chủ động. Chúng tôi nắm được tâm lý của nhà cầm quyền Việt Nam đương thời. Người ta rất sợ và dị ứng với chữ “dân chủ”. Đặc biệt quyển sách này là về nền dân chủ ở Mỹ, nó lại càng “nhạy cảm”. Thế nên, tôi chủ động sửa tựa. Thật ra “dân chủ” với “dân trị” cùng một nghĩa. Thế nhưng, “dân trị” nghe có vẻ như không phải là cái mà bây giờ người ta đang đấu tranh để đòi.

VOA: Sau sự thay đổi này, khi sách được ra mắt để xin phép được xuất bản có gặp trở ngại gì không ạ?

Phạm Toàn: Lúc xuất bản, người ta cũng không nghĩ là nó có gì cả. Đừng đánh giá họ cao quá. Những người làm tuyên huấn và kiểm duyệt ở đây họ không nhiều chữ lắm đâu. Người ta không có nhiều am hiểu về sách vở. Cho nên, thường có những chuyện xảy ra sau đó thôi, do có những người phá bỉnh đặt lại vấn đề. Ví dụ như lúc đề nghị tái bản quyển sách này vừa rồi, chắc do có ý kiến phá bỉnh, cho nên người ta ngăn trở. Về sau, tôi viết một bài đăng trên trang http://boxitvn.wordpress.com/, nói rằng “Anh biết quái gì mà cấm đoán, anh đọc được bao nhiêu quyển sách trên đời này mà anh cấm!?” Sau đó, nhà xuất bản bảo tôi biết là về sau tình hình êm êm rồi. Thế là bây giờ lại tái bản được.

VOA: Là người biên dịch một tác phẩm tương đối xa lạ với nếp nghĩ, tư tưởng chung ở Việt Nam, ông có gặp thách thức nào trong việc chuyển dịch quyển sách này không?

Phạm Toàn: Quyển này đơn giản, văn rất trong sáng, dễ dịch lắm, tác giả viết như tiểu thuyết ấy. Tôi nghĩ bất kỳ ai đọc quyển này đều thích. Tôi làm với một hào hứng như thế.

VOA: Nhưng trong quá trình chuyển dịch, ông có gặp khó khăn hay thử thách nào trong việc sử dụng câu cú, từ ngữ sao cho không bị gọi là “nhạy cảm” đối với tình hình tại Việt Nam?

Phạm Toàn: À không, hoàn toàn không. Vấn đề là tự mình phải thấy được tự do của mình. Lâu nay ở Việt Nam này luôn có cái nạn “tự kiểm duyệt”. Riêng tôi, tôi có thói quen không tự kiểm duyệt. Tôi chả sợ cái gì cả.

VOA: Có người cho rằng tác phẩm này có tư tưởng chính trị khác với ý thức hệ ở Việt Nam, nên mang tính “nhạy cảm chính trị”. Với tính cách như vậy mà nó được xuất bản ở Việt Nam thì đã là một điều đột phá rồi. Ý kiến của ông thế nào?

Phạm Toàn: Bất kỳ quyển sách nào “nhạy cảm” khi ra đời ở đây thì có phần may mắn nữa. May mắn là vì người ta quên, chưa dòm vào nó. Thứ hai, vì sách dài quá, muốn kiểm duyệt được nó thì phải mất 1-2 tháng, nên ai sức đâu mà làm? Thật ra, cứ để quần chúng được tự do, đựơc dân chủ là cái khôn ngoan nhất, đỡ bị chửi.

VOA: Như vậy có thể hiểu ý ông rằng sự xuất hiện quyển này ở Việt Nam không phải là một bước cởi mở, đột phá, mà là “sự may mắn” của quyển sách?

Phạm Toàn: Là một sự may mắn. Chưa bao giờ có cởi mở cả. Đừng bao giờ ảo tưởng về một sự cởi mở. Ngay cả khi cởi mở cũng không cởi mở. Thế nên tôi chủ trương sống như trẻ con, thích cái gì cứ làm.

VOA: Nhưng làm sao để không vượt quá giới hạn cho phép, thưa ông?

Phạm Toàn: “Người ta” ghét nhất những cái cụ thể, chứ họ không sợ những sách vở về ý thức đâu. Thật ra, bây giờ làm gì có ý thức hệ nào nữa. Bây giờ chỉ có đồng tiền, sự tham lam đương ngự trị để giữ lấy quyền lợi, thế thôi.

VOA: Cơ duyên nào đưa đẩy ông biết đến quyển sách này và quyết định chuyển dịch ra tiếng Việt? Ông suy nghĩ thế nào khi quyết định dịch, và sau khi hoàn tất, cảm nghĩ của ông có gì thay đổi không?

Phạm Toàn: Tôi dịch quyển này là do nhà xuất bản đề nghị. Dịch xong, tôi thích lắm. Tôi học được không biết bao nhiêu điều, đặc biệt về luật. Ví dụ như Bồi thẩm đoàn của họ huấn luyện cho toàn dân biết luật. Cái này ở Việt Nam nên có, nên học. Cử tri trên 18 tuổi được hoạt động 4 năm, tham gia xử các vụ án dân sự. Trong 4 năm đó, họ được 1 lần ngồi tập làm chánh án. Thế nghĩa là sau vài chục năm, toàn dân họ biết luật, hoạt động theo luật pháp. Họ được huấn luyện trong thực tế. Ở Việt Nam này khi ra một bộ luật phải chờ không biết bao nhiêu lâu, bao nhiêu cơ quan ra các thứ nghị định, thông tư cụ thể hóa ra. Ở Mỹ có một giải pháp rất hay, tức là họ giải thích luật trong thực tiễn xử án, chứ không phải cứ chờ một cơ quan nào giải thích luật, có khi lại ngược lại với luật. Người Mỹ rất tôn trọng cái thực. Hoặc giả, họ định nghĩa một xã là một quần cư vừa đủ để người nọ biết người kia, nguồn lực cũng vừa đủ để xây dựng các công trình công ích chung. Người ta định nghĩa theo tính cộng đồng, tính phát triển, tương lai, triển vọng của một xã. Ở ta không có những định nghĩa. Tôi thích quyển này vì nó có những định nghĩa thật rõ.

VOA: Ngoài những điểm ông cho là thú vị, nhân tiện đây, ông có thể giới thiệu nội dung chính, thông điệp chính mà tác giả Tocqueville muốn gửi gắm qua tác phẩm này là gì, thưa ông?

Phạm Toàn: Thông điệp chính của quyển này là một nền dân chủ vận hành như thế nào, muốn nó vận hành chính xác, trơn tru, phải gồm những bộ phận gì, chức năng gì. Tác giả giới thiệu hiến pháp là thế nào, chính phủ liên bang là thế nào, chính quyền bang là thế nào, xã hội dân sự phải được tổ chức như thế nào. Những phong trào dân sự phải để được tự do phát triển. Các phong trào báo chí, tín ngưỡng cần phải được tự do phát triển.

VOA: Khép lại cuốn sách này, nhìn vào thực tế những gì đang diễn ra trong xã hội Việt Nam để lại cho ông những suy nghiệm như thế nào?

Phạm Toàn: Suy nghĩ của tôi, tôi bao giờ cũng bi quan. Tôi không tin sách vở có thể cải tạo nổi đất nước này vì những người cầm quyền bây giờ không cần sách. Ngay những nhà trí thức bây giờ cũng ít đọc sách lắm. Thanh niên-sinh viên bây giờ họ có đọc sách đâu? Chính vì bi quan nên tôi đã lẳng lặng làm lại bộ sách giáo khoa cho trẻ em. Bây giờ phải chữa lại tỉ mẩn như thế. Tôi không tin là sách vở có thể cứu được đất nước này. Anh em chúng tôi vẫn nói rằng bây giờ ta phải có một nhà xuất bản cho ra được ít nhất 700 quyển sách kinh điển như Nhật Bản đã làm trước đây. Làm thế nào như quyển bàn về tự do ở Nhật được in tới 2 triệu bản một lần. Đấy là nước Nhật, một đất nước mà nền văn hiến chưa bị tàn phá vì một “bóng ma” nào đấy. Còn ở Việt Nam thế kỷ này nhiễu loạn quá rồi. Khó có thể tin vào sự cải tạo thông qua một cuộc cách mạng văn hóa.

VOA: Quyển này hiện nay đã ấn hành bao nhiêu bản, thưa ông?

Phạm Toàn: Cho tới lần gần đây nhất, nó được in có 3500 bản.

VOA: Mãi lực của nó tại Việt Nam như thế nào?

Phạm Toàn: Theo tôi, mãi lực thế là cao, nhưng ở Việt Nam người ta thích những quyển tiểu thuyết hơn. Sách lý thuyết vào với bạn đọc chậm hơn. Quyển này in được 3500 cuốn, tôi nghĩ đấy là may mắn.

Điều kỳ lạ là họ”rét” những danh từ “Dân Chủ” nhưng một số tuyển tập truyện ngắn viết về những sinh hoạt, đời sống ở một xã hội dân chủ thì lại được in và bán ào ào tại Việt Nam, rõ rệt nhất là Tuyển Tập Viết Về Nước Mỹ do Việt Báo phát hành tại Nam California- Hoa Kỳ.  Nhà giáo Phạm Toàn nói đúng:” Thật ra, bây giờ làm gì có ý thức hệ nào nữa. Bây giờ chỉ có đồng tiền, sự tham lam đương ngự trị để giữ lấy quyền lợi, thế thôi.”

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hình trên: TT-VVNM được in lại và hiện bán rất chạy tại Việt Nam (the best seller):).

Hình dưới:  TT-VVNM (the original)

VOA: Những tác phẩm có nội dung trái với quan điểm nhà nước thường bị coi là “nhạy cảm” và không được hoan nghênh. Đây cũng là trở ngại để những quyển sách ấy tiếp cận được với độc giả. Làm sao có thể thuyết phục bạn đọc tìm hiểu thêm về những nội dung “mới mẻ” trong những tác phẩm như thế này, thưa ông?

Phạm Toàn: Trước hết, việc mua sách ở Việt Nam vẫn chưa phải là một trào lưu, bởi vì một quyển như cuốn “Nền dân trị Mỹ” này giá 140 ngàn đồng, tức 1/10 lương của một viên chức nhỏ. Còn hệ thống thư viện ở Việt Nam này thì buồn cười lắm. Tôi nghĩ rất nhiều điều ở Việt Nam còn cần được uốn nắn về mặt văn hóa mà cuộc sống thật với những mâu thuẫn, xung đột của nó sẽ có tác dụng thật. Rồi nó sẽ cải tạo được xã hội.

Nhân chuyện có liên quan đến nhà sách và xuất bản, có lẽ chúng ta cũng nên vinh danh ông Nguyễn Văn Trương (dưới, áo vest đen, đã quá cố 2005), chủ nhân nhà sách Khai Trí uy tín bậc nhất miền Nam thuở xưa. Tuy là người bán sách nhưng ích quốc lợi dân, đã có công lớn, đóng góp cho văn hoá Việt Nam.  Trích: Chỉ riêng lãnh vực từ điển, công khó của ông đối với nền học vấn của quốc dân cũng đã là lớn lao rồi, chưa nói đến biết bao sách giáo khoa, sách nghiên cứu, sách văn học cùng vô số báo chí đã được ông xuất bản hoặc phát hành, tạo ra một đóng góp khổng lồ cho văn hóa nước nhà trong một giai đoạn lịch sử.-Phạm Phú Minh (DĐTNXM)” Người áo chemise trắng là ông vua Tự Điển: Nguyễn Văn Khôn.

VOA: Nhưng theo ý kiến cá nhân ông, có cách nào để cuốn hút độc giả tại Việt Nam làm quen, tìm hiểu nhiều hơn với những tác phẩm như tác phẩm đang nói tới ở đây không ạ?

Phạm Toàn: Bàn chuyện sách chỉ là bàn chuyện cái ngọn. Sẽ có một lúc cái gốc sẽ được giải quyết. Sẽ có những lúc cấm báo tư nhân sẽ không cấm được nữa, chẳng hạn như bây giờ cấm internet làm sao mà cấm được? Phải có một tầng lớp trí thức trẻ, lành mạnh. Tầng lớp đó tự nó sẽ có lý tưởng của nó và tự nó sẽ có những thành tựu trong một tương lai không xa.

VOA: Xin chân thành cảm ơn nhà giáo Phạm Toàn đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi này.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

VOA

Diễn Đàn Thanh Niên Xa Mẹ (Du Học Sinh?)


Ngô Văn Nam Cứu Bà Con Bị Lụt – Blog Dân Báo

1. Hình ảnh minh họa: Trong khi nhà cầm quyền Hà Nội đốt tiền vào Nghìn Năm Thăng Long (chi phí tổ chức đại lễ tốn đến 4 tỷ rưỡi đô-la hay 10% GDP) thì “Giời” hành cơn lụt khắp nơi, từ Sài Gòn ra Trung. Tỉnh Quảng Bình đứng đầu thiệt hại về nhân mạng với hơn 64 người và toàn bộ tài sản coi như tay trắng. Theo RFVN– Ngoại trưởng Hoa Kỳ, bà Hillary Clinton, thay mặt Tổng Thống Obama của đảng Dân Chủ đã gửi điện văn chia buồn, đồng thời chỉ thị cho Đại Sứ quán Mỹ tại Hà Nội tham gia cứu trợ khẩn cấp đến các nạn nhân trong vụ thiên tai hàng năm này. Hiện nay nước đang rút dần, tuy nhiên thiệt hại về vật chất ước tính vào khoảng 2.500 tỉ.

Ghi chú: Một số danh từ như “triều cường”,  “rốn lũ”do các nhà báo ở bển xài rất sáng tạo và khó nghe vì  “sốc quá”.

2.  Bài đọc suy gẫm: Trong những ngày này, người ta thấy nhửng con số bạc tỷ đồng và những trái tim chì. Xin hãy như Ngô Văn Nam, một thanh niên với tấm lòng nhân ái đã liều mình đi cứu hơn 3 trăm người dân bị kẹt trong cơn lụt..

Cơn lũ đi qua người dân xã Sơn Trạch, Quảng Trạch, Quảng Bình chưa vơi nỗi đau nhưng khi hỏi về 3 người đã liều mình cứu hơn 350 người dân thoát chết trong lũ dữ thì ai cũng biết.

Đó là anh Ngô Văn Nam cùng cha là ông Ngô Tam, chú là Ngô Luật  ở thôn Hạ Vàng, xã Sơn Trạch. Ngôi làng Cư Lạc (Sơn Trạch) cách thôn Hạ Vàng ở bởi con sông Son.

Trốn mẹ, trốn vợ đi cứu người

 

Từ đường Hồ Chí Minh về thôn Hạ Vàng, bùn đất phủ lên một màu đỏ che lấp xóm làng, nhiều ngôi nhà bị cuốn trôi, sập đổ… người dân đang vật lộn khắc phục hiện ra trước mắt. Con đường độc đạo dẫn vào thôn Hạ Vàng bị sạt lở đất đá làm tắc ngẽn đi lại của người dân.

Nằm bên dòng sông Son là một căn nhà cấp bốn “vườn không nhà trống”, nơi ấy bà con làng xóm đến tấp nập đến chia sẻ những mất mát sau lũ, và đặc biệt hơn là  cảm ơn cha con Nam đã dũng cảm cứu người.

Nam không dấu được lòng mình với chúng tôi, trong dòng nước mắt: “Anh ơi! Bao nhiêu của cải của nhà em bị lũ cuốn truôi hết rồi, hiện nhà không còn một vật dụng gì nữa. Nếu đêm đó em không đi cứu người thì gia đình em không đến nỗi này”.

Trong ngôi nhà trống trơn chỉ có bùn đất phủ kín nhà, Nam kể cho tôi nghe về việc cứu người. Vào ngày 4/10 nước lũ đùng đùng kéo về và hàng trăm ngôi nhà ở xã Sơn Trạch bị chìm ngập trong nước lũ, cả một vùng quê cây cối xanh tươi biến thành màu đỏ của nước.

Từ 16h đến 18h ngày 4/10 chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ nhưng nước lũ dâng tới hai mét, ở bên kia con sông nghe tiếng khóc não lòng kêu cứu át đi tiếng mưa, nước lũ chảy ầm ầm phát ra: “Cứu với, cứu với… sắp chết cả làng rồi…”.

Mỗi lúc tiếng kêu cứu càng to lên và ở bên này sông nghe càng rõ. Nghe thấy, Nam nói với cha mình là ông Ngô Tam (42 tuổi): “Cha con mình trốn mẹ đi cứu người đi, nhà mình ở bên này cao nước không lên đâu. Nghe Nam nói vậy, ông Tam đồng ý liền và rủ thêm người chú là Ngô Luật lặng lẽ ra sông. Thấy chiếc thuyền đang neo đậu không biết của ai làm bằng tôn, chèo  tay và có trọng lượng chở được 7 người. Nam cùng cha mình và người chú đã “ăn trộm” chèo qua bên kia sông.

Sắp chết vì “tham” cứu người

Đúng 19h 30, trời tối om, mưa lớn nhưng cả ba người người chỉ có một cái đèn ắc quy, không nón mũ, áo mưa. Giữa dòng nước lũ chảy xiết đang muốn nuốt chửng mọi thứ, nhưng cả ba người liều chết, vượt dòng lũ dữ qua sông.

Nam kể lại: “Lúc đó, cha em thì chèo thuyền nhưng nước vào thuyền nhiều lắm rứa là chú phải múc nước còn em thì chiếu đèn và dùng sào đẩy gỗ, củi tránh đâm vào thuyền. Mặc dù, quãng sông chưa đến 100m nhưng phải 30 phút vật lộn với nước lũ ba người mới qua được sông và tiếp cận với những người dân ở thôn 1, Cư Lạc”.

Nam cho biết: ở bên kia con sông nghe tiếng khóc não lòng kêu cứu át đi tiếng mưa, nước lũ chảy ầm ầm phát ra: “Cứu với, cứu với… sắp chết cả làng rồi…”.

Hình ảnh đầu tiên mà Nam không cầm được nước mắt là những ngôi nhà chỉ còn 40cm nữa là ngập chìm trong lũ, từ trong đó tiếng trẻ con, người già khóc thê thảm. Lần theo tiếng khóc vô vọng của hàng trăm người dân, ông Tam chèo lái con thuyền, còn Nam gỡ mái ngói đỡ người lên thuyền chở đi đến các nhà cao tầng trong làng để tránh lũ.

Đợt đầu tiên là tại một ngôi nhà có 7 người đang chờ chết, nước dâng gần nóc nhà, tiếng kêu cứu cứ như đang lịm đi. Thuyền của cha con Nam tới kịp gỡ gói cứu thoát 7 người.

Và hết nhà này đến nhà khác, trong đêm khuya mưa to gió lớn từ 20h đêm 4/10 đến 4h ngày 5/20, Nam, ông Tam và anh Luật như con thoi đi hết cả thôn 1 làng Cư Hạ đã đưa được 350 người….

“Em giờ cũng không nhớ trong đêm đó đã chở bao nhiêu chuyến nhưng 7 ngôi nhà hai tầng, cứ mỗi ngôi nhà là có 50 người em chở đến ở. Trong đêm đó, em suýt chết khi đến một nhà gỡ gói đã đưa hết người lên thuyền thì trở lại lên xem có ai nữa không thì bị lũ cuốn sập nhà và bị đè trong đó. Cha và chú Luật nhảy xuống đưa em lên được” –  Nam rùng mình nhớ lại.

Mất của thì làm lại, người chết thì không

Sau khi đưa được hết người dân làng Cư Hạ đến nơi an toàn Nam, ông Tam và anh Luật sức đã kiệt quệ nhưng cố gắng chèo thuyền vượt lũ trở về nhà thì thấy nhà mình chỉ còn chóp nóc. Thấy vậy Nam và ông Tam vội bơi vào để cứu mẹ và hai người em, vì trước khi trốn đi cứu người họ đang còn ở trong nhà, nhưng rất may bà Nguyễn Thị Xuân, mẹ Nam biết bơi đã đưa hai người con của mình lên núi.

Ông Tam nói: “Thấy mọi người sắp chết bỏ không đành nên tôi, thằng Nam, Luật đưa mọi người đến nơi an toàn chứ không nghĩ đến vợ con ở nhà. Mặc cho nước lũ chảy xiết nhưng làm liều chèo thuyền qua sông. Khi về thấy nhà bị ngập chỉ còn lại chóp, tôi lo lắm nhưng rất may biết được vợ tôi đã đưa được hai người con đi lên núi an toàn”.

Một số đồng bào trốn bãotrong hang đá trên núi.


Đêm đó bao nhiêu của cải trong gia đình Nam bị nước lũ cuốn trôi hết. Gia tài còn lại bây giờ là một bộ bàn ghế và hai cái nồi.

Nam bảo: “Lũ qua rồi nhà em bây giờ không còn gì nữa anh ơi! Rồi không biết những ngày tiếp theo gia đình em sống răng đây, tội lắm. Nhưng em nghĩ mất của làm lại được còn người chết không bao giờ sống lại được”.

Nam nói tiếp: “Nếu đêm đó em, cha và chú Luật không đi cứu người thì lũ không bao giờ cướp được tài sản của gia đình em mô. Giờ cả gia đình em lâm vào cảnh khốn khó nhưng em và cha, cùng chú Luật rất hạnh phúc vì cứu được hơn 350 người trong lũ”.

Phải sang trái: Nam, ông Tam và những người hàng xóm đến chia sẻ mất mát của gia đình sau cơn lụt.

Do cứu người mà quên “nhiệm vụ” cứu nhà, cơn lũ khiến nhà ông Tam bây giờ thành “vườn không nhà trống”. Lúa gạo bị nước lũ cuốn trôi hết, hiện gia đình ông Tam có tới với 5 miệng ăn nhưng ngày 8/10 chỉ có 5 gói mì tôm do xã phát cho.

Ông Tam buồn bã: “Ở xóm tôi mặc dù bị lũ rất nặng nhưng người dân cũng cất trữ được ít đồ, sau đó mới chạy. Trong gia đình, tôi và thằng Nam là trụ cột nhưng đi cứu người rồi không có ai dọn đồ hết. Sau lũ đói quá, tôi lên xin xã thương tâm cho bao gạo về ăn nhưng xã nói là sẽ cấp về thôn sau đó mới phát. Những ngày tháng tiếp theo tôi lấy gì mà nuôi gia đình đây?”.

Hình ảnh đặc biệt từ trung tâm Thành Phố Sài Gòn: “Thuyền ra cửa bể”🙂 Pic by Paltalk Lương Nguyễn

 

 

Ghê thiệt! Cặp loa đôi của đảng chả biết đói rét là gì, vẫn” kiên cường “đứng vững trước ngọn “triều cường” hung dữ để hoàn thành tốt, xuất sắc nhiệm vụ thông tin một chiều do đảng giao phó.

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The


Links:

Dân Làm Báo


Con Át Chủ Bài – Trần Thúc Vũ

1. Hình ảnh minh họa: Đại Hội Toàn Quân và Chào cờ Việt Mỹ tưởng niệm các anh linh chiến sĩ và đồng bào hy sinh cho lý tưởng T ự Do mỗi đầu tháng tại Công Viên Chiến Sĩ và sự hiện diện đặc biệt của cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm tại quận Cam, thủ đô tị nạn, Nam California Hoa Kỳ. Theo nhận định của Blog 16 thì giới truyền thông báo chí khắp nơi đều mong chờ cựu Đại Tướng, là người nắm giữ  hay biết rõ nhiều vấn đề quan trọng về các biến cố của cả hai nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa. Ông có thể tiết lộ thêm hay xác định lại những đúng sai của dư luận về những liên quan đó ở trong một thời gian dài mà ông là người ít nhiều có trách nhiệm ở những vị trí then chốt, kể cả những sự việc vẫn chưa được giải mã vchiến tranh Việt Nam.  Tuy nhiên đã không có một cuộc họp báo như trông đợi, và diễn văn phát biểu của ông trước Đại Hội Tập Thể Cựu Chiến Sĩ Không Định Kỳ chỉ có tính cách ủy lạo chung.

 

Hình dưới: Đại Tướng Trần Thiện Khiêm đang giơ tay trên ngực chào toán hầu kỳ Việt Mỹ.

Trái sang phải: Hội trưởng Hội Ái Hữu Cảnh Sát Quốc Gia ông Phan Tấn Ngưu, cựu Chủ Tịch Tập Thể Cựu Chiến Sĩ (TTCCS)  Khoa Học Gia Nguyễn Xuân vinh,  Thiếu Tướng Tư Lịnh Cảnh Sát Quốc Gia Nguyễn Khắc Bình, Đại Tướng kiêm Thủ Tướng VNCH Trần Thiện Khiêm,  Phó Đề Đốc Hải Quân Hồ Văn Kỳ Thoại, tức anh hùng Hoàng Sa, ông cũng là Tân Chủ tịch (đắc cử) của TTCCS- VNCH tại Hải Ngoại 10/2010 và Mũ Xanh năng động Thủy Quân Lục Chiến Nguyễn Phục Hưng kiêm cựu Chủ Tịch TTCCC trung tâm Tây Nam- Hoa Kỳ.

2.  Bài Đọc Suy Gẫm: Trận giải tỏa ĐềGi và trận đánh phản công tấn chiếm phi trường Phù Cát qua tài đánh giặc của “Mãnh Sư” Nguyễn Mạnh Tường. Trích đọan truyện ngắn “Chiến trường Bình Định với Mãnh sư Nguyễn Mạnh tường trong tuyển tập “Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử” – do Lê Khắc Anh Hào biên soạn.

Chiến trường Bình Định – không phải mãi sau này – mà ngay từ thờ kháng chiến chống Pháp, đã luôn luôn là một chiến trường sôi động. Những địa danh An Khê, Hoài Ân, An Lão . . . mãi mãi là dấu ấn kinh hoàng cho những binh đoàn viễn chinh Pháp, một phần vì địa thế chiến lược của vùng đất này, một phần khác là lòng người. Thời kháng Pháp, quân đội viễn chinh Pháp, dù đã nhiều phen dồn mọi nỗ lực, vẫn không chế ngự và kiểm soát được, và cũng chính vì thế, một số không nhỏ những người yêu nước đã bị cộng sản Hà Nội lừa gạt bởi chiêu bài Dân Tộc trá hình, đã chiến đấu dũng mãnh trong hàng ngũ của họ.

Sau Hiệp định Genève, một số tập kết ra Bắc, một số lớn ở lại âm thầm tạo dựng cơ sở. Dân chúng Bình Định, với truyền thống yêu nước của vùng đất Quang – Trung, đã bị tuyên truyền bịp bợm về ngọn cờ Dân Tộc trá hình, nên một số lớn dân chúng Bình Định hướng về Hà Nội. Thế nhưng, nét đăc thù của người dân Bình Định là phân minh, Quốc, Cộng rạch ròi, chính sự phân định ấy đã đưa đến thảm trạng tương tranh khốc liệt. Biết rõ điều này, Quân khu 5 của Cộng quân luôn coi chiến trường Bình Định là chiến trường chủ yếu mang tính quyết định, nên họ dồn mọi nỗ lực, tuyên truyền, vận động để đẩy rộng thêm sự chém giết tương tàn, gây hận thù chồng chất.

Chiến trường Bình Định luôn có mặt những đơn vị cộng sản thiện chiến nhất của Quân khu 5. Khi Chu Huy Mân nắm quyền Tư Lệnh, y điều động Sư đoàn 3 Sao vàng “anh hùng”, với những Tiểu đoàn quyết tử, Tiểu đoàn 405 trinh sát đặc công được trao tặng cờ đỏ, với Trung đoàn Địa phương và các huyện đội tinh nhuệ được đặt dưới quyền điều động của những cán bộ cuồng tín và tàn bạo bậc nhất, chưa kể đến vào những năm 1965, được tăng cường thêm Trung đoàn Địa phương Phú Yên dưới sự chỉ huy của ‘Tướng độc nhủ Nguyễn thị Lành, được mệnh danh là Nữ hung thần bất tử.”

Chiến trường Bình Định bùng lên mãnh liệt vào những tháng đầu năm 1965, giữa lúc mà cuộc diện chính trị VNCH đang nổi trôi trong sự bất ổn, những trận đánh ác liệt diễn ra khắp nơi trải dài từ Phù Ly đến tận Bồng sơn với các mặt trận Phù Ly, Đại Thuận, Phù Mỹ, Đèo Nhông, Diêm Tiêu, Vạn Bảo, Phù Cũ . . . đã mở màn dường như cùng một lúc. Chẳng phải bỗng dưng mà tháng 9/1965 sư đoàn Anh Cả Đỏ (SĐ1 Không kỵ ), rồi lần lượt sư đoàn 101, lữ đoàn 173rd Dù đều là những đơn vị thiện chiến nhất của Hoa Kỳ đã phải thay nhau có mặt tại Bình Định , chế ngự An Khê và mật khu Kon Hanùng. Chẳng phải khi không mà sư đoàn Mãnh Hổ bậc nhất của quân đội Đại Hàn được giao sứ mạng trải dài bảo vệ quốc lộ 19, nhưng vẫn không chu toàn việc bảo vệ trọn vẹn sinh lộ này….

 

…Sau những nỗ lực giải tỏa áp lực địch tại các quần phía Nam, tháng 7/1972, cuộc hàng quân tái chiến Bắc Bình Định với Sư Đoàn 22/BB làm nỗ lực chính đã đánh bật Cộng quân ra khỏi 3 quận phía Bắc, cùng lúc Sư Đoàn 2/BB thuộc quân khu với sự tham chiến của Biệt Động quân đã đánh bật Cộng Quân ra khỏi cửa khẩu Sa Huỳnh, tình hình chiến sự đã tương đối lắng dịu. Thế nhưng, với cái nhìn của những nhà quân sự, thì đây là giai đoạn tĩnh lặng trược giông tố, địch đang phối trí và sửa soạn cho một chiến trường khốc liệt khác. Chính vì dự đoán như thế, Trung tướng TL/QĐ 2 Nguyễn Văn Toàn đã đặc biệt triệu tập Đại Tá Hoàng Đình Thọ Tỉnh trưởng kiêm TKT và Trung tá Nguyễn Mạnh Tường tiểu khu phó tại biệt thự Hương Cầm tại Qui Nhơn.

Ghi chú:  Tr/tá Tường được bổ nhiệm về làm TMT trường Đại học CCCT, nhưng ông đã xin được ở lại với chiến trường Bình Định đang cực kỳ sôi động. Đại tá Hoàng Đình Thọ đương kim Tỉnh trưởng Quảng Tín, được thuyên chuyển về nhận chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Bình Định. Đại tá Thọ là một sĩ quan kiệt xuất trên nhiều lĩnh vực, từ đó, bộ mặt của Tiểu Khu đổi thay hẳn với thành phần dưới ông: – Tiểu Khu Phó : Trung Tá Nguyễn Mạnh Tường….

 

Sau những quan ngại về những mưu đồ của địch trong tương lai, ông nói (Theo lời Trung tá Tường thuật lại sau này):

– “Quân Đoàn 2 với một vùng trách nhiệm quá rộng lớn, lại là một vùng với áp lực địch luôn luôn rất nặng, vậy mà dưới tay tôi, chỉ có 2 Sư Đoàn 22 và 23, gần 8 Trung Đoàn BB, riêng Bình Định đã cầm chân thường xuyên 2 Trung Đoàn, với 6 trung đoàn còn lại, phải đảm trách một lãnh thổ quá rộng, với áp lực địch càng lúc càng gia tăng, tôi xin hai anh giúp tôi, bằng mọi cách cố gắng dùng lực lượng ĐPQ và NQ thay thế phần trách nhiệm của hai “thằng” 40 và 41 { Trung đoàn 40 & 41) để tôi có thêm khả năng đối phó với tình hình sắp tới, mà tôi tiên đoán rằng, mỗi lúc một ác liệt. Tôi đề nghị anh Thọ giao trách nhiệm quân sự cho anh Tường, tôi đặt hết niềm tin vào các anh!”

 

Quý vị dân cử quân Cam, ngồi hàng đầu là bà Lorretta Sanchez, nữ dân biểu liên bang Hoa Kỳ.

Một vị sĩ quan QLVNCH với Bảo Quốc Huân Chương.

Phút mặc niệm với những hậu duệ nghiêm trang suy tư về việc cha ông ngày trước đã liều thân, đổ bao xương máu ra để nỗ lực bảo vệ Tự Do, Dân Chủ cho đồng bào, bảo toàn lãnh thổ lãnh hải của Việt Nam.

Những tháng ngày kế tiếp sau đó, tôi chưa hề thấy Trung tá Tường có lấy một phút nghỉ ngơi, ngay cả khi phu nhân và các con của Trung tá từ Sài gòn ra Qui Nhơn thăm chồng, bà đã phải chờ đợi suốt cả tuần lễ vẫn chưa được gặp mặt chồng. Người chiến binh tận tụy ấy đã quên cả hạnh phúc cá nhân, quên cả chính thân mình. Ông ăn uống kham khổ cùng với binh sĩ của ông. Ông có mặt khắp nơi, từng đơn vị nhỏ nhất, săn sóc, an ủi, giải quyết những ưu tư của binh sĩ. Ông theo dõi, kiểm tra, lựa chọn, tổ chức, huấn luyện những binh sĩ ĐPQ &NQ, lựa chọn trong số các đơn vị thuộc quyền các chiến binh mà kinh nghiệm cũng như lòng can trường cùng khả năng chiến đấu để thành lập những đơn vị xung kích và trinh sát bằng những khóa huấn luyện đặc biệt. Binh sĩ, qua lớp huấn luyện có thể đảm đương mọi nhiệm vụ đặc biệt được giao phó, kể cả các chiến thuật Diều hâu bằng Trực thăng vận. Liên đội Trinh sát Tiểu khu với hai Đại đội bao gồm các chiến binh can trường và thiện chiến được đặt dưới quyền chỉ huy của Trung úy Khuynh, một trong những sĩ quan ưu tú của quân lực. Liên đội trinh sát ấy đã làm nên những chiến công hiển hách, không phụ tấm lòng kỳ vọng của ông.

Nhờ thế, sau một thời gian ngắn, khí thế của lực lượng ĐPQ & NQ Bình Định đã vươn lên, không hề thua sút bất cứ đơn vị thiện chiến nào. Họ không những bảo vệ an toàn các trục lộ huyết mạch, ngăn chặn một cách hữu hiệu mọi ý đồ của địch, mà còn mỗi lúc mở rộng vùng kiểm soát. Đến cuối năm 1972, tình hình an ninh mỗi lúc một khả quan và tinh thần binh sĩ đã lên cao trông thấy, địch cùng lúc càng bị dồn vào thế co cụm.

Trận đánh giải tỏa Đề Gi

Cứ điểm Đề Gi là một mõm đất, là một cửa biển giáp ranh giữa hai Quận Phù Mỹ và Phù Cát. Nơi này là căn cứ Hải quân quan trọng đặt dưới quyền chỉ huy của Hải quân Thiếu tá Cát. Về phía bắc, qua một lạch nước rộng, thông từ biển vào Đầm Nước Ngọt là Đài Kiểm báo được xây dựng trên một đỉnh núi lẻ. Phía tây của căn cứ là Quốc lộ 1, nối liền với căn cứ từ cầu Phù Ly là tỉnh lộ dài 21km chạy song song với một dòng sông nhỏ, đổ vào Đầm Nước Ngọt, kẹp giữa sườn phía Bắc dẫy núi Bà (còn gọi là Hòn chung). Đề Gi là một cửa khẩu chiến lược với Đài Kiểm báo được trang bị tối tân, có thể kiểm soát cả một vùng biển Đông bao la. Từ cửa khẩu này tiếp nối với căn cứ địa 226 nằm giữa vùng núi non, tiếp giáp 3 Quận Phù Mỹ, Hoài Ân và Vĩnh Thạnh, mở xuống một vùng đồng bằng rộng lớn phía Nam thuộc các quận Bình Khê, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước.

Từ khi cửa khẩu Sa Huỳnh bị Sư đoàn 2 tái chiếm, cắt đứt mọi khả năng vận chuyển lương thực và vũ khí của địch từ biển đông tiếp vận cho nội địa, Sư đoàn 3 Sao vàng cuống cuồng vì lệnh từ Hà Nội và Quân khu 5 CS, bằng mọi cách phải chiếm được ít nhất một cửa khẩu để dùng làm địa bàn sau khi Hiệp định đình chiến có hiệu lực. Trong khi mọi nỗ lực của Sư đoàn 3 Sao vàng và lực lượng địa phương của chúng hoàn toàn bất lực trong nhiệm vụ nống lấn mở rộng vùng kiểm soát, không những thế, cón bị các lực lượng ĐPQ&NQ đẩy vào thế bị động, luôn luôn bị săn đuổi. Cuối cùng Chu Huy Mân phải chấp nhận kế hoạch Tổng lực do viên Thiếu tá CS là Võ văn Ứng đệ trình. Chu Huy Mân bổ nhiệm Ứng làm Lữ đoàn trưởng thực hiện kế hoạch (mà Ứng đã đệ trình với sự cam kết chiến thắng), Lữ đoàn bao gồm 7 Tiểu đoàn thiện chiến của Sư đoàn 3 Sao vàng gồm: 5 Tiểu đoàn Bộ chiến,1 Tiểu đoàn Đặc công,1 Tiểu đoàn Pháo Lực lượng tổng lực của Huyện đội Phù Cát.


Với một nghiêm lệnh là bằng mọi giá phải chiếm cho bằng được căn cứ Đề Gi, bất kể Hiệp định đình chiến đã có hiệu lực. Cuộc chiến bùng nổ vào rạng sáng ngày 27/1/1973. Đài Kiểm báo do lực lượng của Duyên đoàn 21 Hải quân trấn giữ, bất thần bị Tiểu đoàn Đặc công địch tràn ngập. Núi Gềnh là một mõm núi thuộc dãy Núi Bà nhìn xuống căn cứ Hải quân, trước đây do một đơn vị của Sư đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn trú đóng, đã âm thầm rút đi, không thông báo, bỏ trống, không bàn giao lại cho lực lượng Việt Nam, bị Huyện đội cộng sản Phù Cát chiếm giữ.
Lúc 8 giờ sáng ngày 27/1/73, phút đầu tiên của Hiệp định đình chiến có hiệu lực, căn cứ Đề Gi bị tấn công bằng tất cả sức mạnh của Lữ đoàn cộng sản. Hỏa lực địch từ Núi Gềnh, từ Đài Kiểm báo với hàng ngàn trái đạn rót vào căn cứ. Căn cứ được phòng thủ bởi lực lượng Hải quân đồn trú, quân số chỉ bằng 1/10 lực lượng địch, anh dũng đánh trả và đẩy lui nhiều đợt xung kích, gây nhiều tổn thất về nhân mạng cho địch. Gặp sức kháng cự mãnh liệt của lực lượng phòng thủ, chúng bắc loa kêu gọi đầu hàng. Qua máy, Thiếu tá Cát lên án hành vi vi phạm Hiệp định đình chiến của chúng, Tên Lữ-đoàn trưởng, Thiếu-tá CS Võ văn Ứng lý luận là theo giờ Hà Nội, lúc này chưa phải đúng giờ đình chiến. Đồng thời y chặt đầu một Nghĩa quân mà chúng bắt được, bỏ cái xác không đầu của người lính tội nghiệp lên xe lam, chở xác người Nghĩa quân đến cổng căn cứ Hải quân, với những lời đe dọa ” Hàng thì sống, chống chặt đầu, quyết không bỏ sót!”

Hành động bạo tàn này đã không làm cho những chiến sỹ trú phòng sợ hãi, ngược lại, càng khiến tăng thêm ý chí quyết chiến đấu trở thành sắt thép hơn, càng quật nát từng đợt tấn công liều chết của địch. Đạn pháo của địch từ hai cao điểm dội xuống như mưa, trực thăng không thể đáp xuống được, cùng lúc, hỏa lực địch từ núi Gềnh và Đài Kiểm báo khống chế toàn vùng biển.

Cuộc tấn công vi phạm Hiệp Định đình chiến của Việt cộng được thông báo cho UB/QT Kiểm soát Đình chiến trú đóng tại TTHL/Phù-cát, và yêu cầu UB/KS/ĐC ký vào biên bản. Trước hành vi bạo ngược của những người Cộng sản anh em, viên trưởng đoàn Ba Lan không thể chối cãi, đành phải ký tên vào biên bản (sau này viên trưởng đoàn Ba Lan bị cách chức!!).

Giữa lúc cộng sản dồn mọi nỗ lực nống lấn, chiếm đất, giành dân trước và cả sau giờ đình chiến, các đơn vị diện địa, lực lượng trú phòng tỉnh Bình Địng nói riêng và trên toàn quốc nói chung, đã phải dàn trải khắp nơi, ngăn chặn không cho Cộng quân thực hiện mưu đồ của chúng. Chúng đã gặp phải sức chiến đấu quyết liệt của các chiến sỹ ĐPQ &NQ, không những đã không thực hiện được ý định, mà còn bị thiệt hại nặng nề trên khắp các mặt trận. Ngay cả những trục lộ giao thông quan trọng : Quốc-lộ 1, từ đèo Cù Mông đến Bình Đê, Quốc lộ 19 từ Bà Di lên đến đèo Măng Giang, các chiến sỹ ĐPQ&NQ diện địa đã bảo vệ an ninh lưu thông một cách tuyệt đối không ngờ .

Đứng trước tình hình ấy, Bộ Tổng Tham Mưu/QLVNCH đã khẩn cấp không vận Liên đoàn 7/BĐQ của Trung tá Bùi văn Huấn từ Quân khu 1 vào tăng cường, với chỉ thị xử dụng như một lực lượng trừ bị, không được xử dụng làm nỗ lực tham chiến tiên phong. Quân đoàn 2 đã tổ chức cuộc họp khẩn cấp tại Phi trường Phù Cát để đối phó với tình hình, gồm có Tư lệnh Quân đoàn, Trung tướng Nguyễn văn Toàn, Tư lệnh Sư đoàn 22/BB với Thiếu tướng Phan Đình Niệm, Tiểu khu trưởng TK/BĐ, Đại tá Hoàng Đình Thọ, TK phó Tiểu khu Trung tá Nguyễn Mạnh Tường, LĐT/BĐQ Trung tá Bùi văn Huấn, Phụ tá Quân trấn trưởng Qui Nhơn, Trung tá Nguyễn văn Thanh, Quận trưởng Phù Cát Trung tá Đoàn văn Bái, Trung tá Khổng Trọng Huy. . . Cuộc họp để hoạch định kế hoạch hành quân giải tỏa và lựa chọn người chỉ huy cho cuộc hành quân. Giữa lúc ấy, công điện hỏa tốc từ Phủ Tổng thống gởi đến. Tổng thống Nguyễn văn Thiệu đã chỉ thị trao quyền chỉ huy tuyệt đối cho Trung tá Nguyễn Mạnh Tường và đòi hỏi phải tránh tối đa thiệt hại cho dân chúng trong vùng hành quân.

(Sau này được biết là Nhân dân Quận Phù Mỹ và Phù Cát qua đại diện dân cử, đã đệ đơn yêu cầu xin Tổng thống Thiệu trao trách nhiệm hành quân cho Tr/tá Tường vì lý do: Cuộc hành quân Đại Bàng 800, dân chúng bị tổn thất nặng nề, và sau này lực lượng Đại Hàn hành quân khu vực này, sự tổn thất của dân chúng còn bị nặng nề hơn nữa. Riêng Tr/tá Tường, từ khi về Bình Định, với rất nhiều cuộc hành quân, với nhiều cuộc đụng độ với Cộng sản, nhân dân chưa hề bị tổn hại về sinh mạng lẫn của cải…)

Chính vì sự tin tưởng của dân chúng Bình Định, các cuộc hành quân trước đây đều lấy danh hiệu Toàn Thắng. Danh hiệu các cuộc hành quân giải tỏa Đề Gi của Trung tá Nguyễn Mạnh Tường là An Dân. Với tư cách Tư lệnh hành quân, Trung tá Tường xin phép Trung tướng Tư lệnh QĐ2 được bảo vệ tuyệt mật mọi kế hoạch. (Mãi sau này, mọi ý niệm điều quân, Tr/tá Tường luôn luôn bảo vệ một cách tuyệt mật, ngay cả Trung tâm HQ cũng phải giữ im lặng vô tuyến đến tận lúc chiến thắng.)

Việc bảo mật ấy đã thành công trong một chiến thắng lớn khác: Hạ sát tên Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn đặc công 405 Anh hùng, bắt toàn bộ cấp chỉ huy của Tiểu đoàn này, tịch thu rất nhiều vũ khí trong trận đột kích vào sào huyệt của chúng tại ranh giới Bình Định và Phú Yên, bẻ gẫy mũi dùi chúng đang tiến hành tấn công kho xăng và kho đạn của quân khu II tại Đèo Son Bình Định.

Cuộc hành quân này, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường đặc biệt giữ kín, ngay cả Trung Tâm Hành Quân (TTHQ) cũng không hề biết, không một ai hay, thậm chí lực lượng tham dự là các Nghĩa Quân viên được lựa chọn cho cuộc đột kích cũng chỉ được biết vào phút chót. Cho đến khi đích thân Trung Tá Tường lên máy vào lúc 3 giờ sáng, lệnh cho TTHQ gọi ANQD và Quân Cảnh ra phi trường tiếp nhận tù binh và các chiến lợi phẩm.

Ngay cả đến trận phản công giải tỏa Phi trường Phù Cát vào tháng 5/1974 với mưu toan của cộng quân tiêu diệt căn cứ 60 Không quân, cũng bị Trung Tá Tường dùng kỳ binh bất ngờ đánh cho “Sấm sét không kịp bưng tai” khiến Trung Đoàn 2 của sư Đoàn 3 Sao Vàng tan tác.)

Đại Hội Không Định Kỳ cuả Tập Thể Cựu chiến Sĩ Hải Ngoại  tại Westminster, Nam California Hoa Kỳ. Tin chi tiết: Việt Báo Online.

Lời yêu cầu được hoàn toàn chp thuận, và lực lượng được đặt dưới quyền của Tr/tá Nguyễn Mạnh Tường gồm: LĐ/7BDQ. QKI làm lực lượng trừ bị : 2 Tiểu Đoàn thuộc TR/Đ 4 1/SĐ 22/BB, 1 Tiểu Đoàn thuộc TR/Đ 421/SĐ 22/BB, 1 Chi Đoàn thiết quận vận M.113, 1 Tiểu Đoàn pháo binh, 1 Đại Đội Tr/sát, 1 Pháo Đội 115 ly và 1 Tiểu Đoàn/ ĐPQ/ Tuyên Đức.
So sánh Tương quan, giữa ta và địch, ta 3, địch 5, tức 3/5. Một cuộc hành quân tấn công giải tỏa với quân số tham chiến yếu hẳn hơn địch, trong lúc địch đã sẵn sàng chờ đợi một mặt trận đã được họ bố trí và lựa chọn trước, quả là điều không mấy sáng sủa. Mà thời gian lệnh ấn định là trong 7 ngày phải thanh toán xong chiến trường.
Trong lúc mọi người đều cho rằng cuộc hành quân khó lòng đạt được thành quả tốt đẹp thì Tr/tá Tường lại tin tưởng sẽ chiến thắng. Với lối đánh bất ngờ, yếu tố bảo mật phải được áp dụng triệt để. Ông xin với Th/tướng Phan Đình Niệm, Tư lệmh SĐ22BB để xin được xử dụng Đại đội trinh sát thuộc SĐ để tốc chiếm Núi Gềnh, và một đại đội thuộc LĐ/7BĐQ chiếm lại Đài Kiểm báo là hai cao điểm do 1 Huyện đội Phù Cát và 1 đơn vị đặc công của SĐ 3 Sao vàng quyết tử chiếm giữ. Th/tướng Niệm đã thoái thác cho rằng Đại đội Trinh sát đang trong thời gian dưỡng quân, khó lòng có thể đảm nhận tốt được trách nhiệm. Thấy vị T/lệnh Sư Đoàn lo ngại sự tổn thất, Tr/tá Tường vui vẻ, nói rằng ông sẽ dùng 1 Đại-đội ĐPQ thay thế Đại đội trinh sát của sư đoàn để thi hành nhiệm vụ vinh dự này.

Không một ai, hay ít ra, trừ viên Tư lệnh Quân đoàn, Tr/tướng Nguyễn văn Toàn, vốn đã biết rõ khã năng điều quân và tài năng của Tr/tá Nguyễn Mạnh Tường, nguyên là Giám đốc Trung tâm Hành Quân/QĐ 2. Th/tướng Niệm tỏ rõ nghi ngờ về khả năng của ĐPQ. Tr/tá Tường khẳng định rằng, một đoàn quân thiện chiến không nhất thiết phải là danh hiệu, mà do được huấn luyện như thế nào, tinh thần binh sỹ ra sao, và cũng còn tùy thuộc vào chính cấp chỉ huy của đơn vị ấy nữa. Ông chỉ xin riêng với Tr/tướng tư lệnh Quân đoàn cặp lon Đại úy để thăng cấp tại chỗ cho viên Trung úy Đại đội trưởng Đại đội Địa phương quân này, và Trung tướng Toàn chấp nhận yêu cầu ấy, nếu đạt được chiến thắng.

Ngay sau khi rời khỏi phòng họp, Tr/tá Tường đã đến Tiểu đoàn 209/ĐPQ do Đ/úy Nguyễn Bá Gạt làm Tiểu đoàn trưởng. Ông gặp riêng Tr/úy Phước, Đại đội trưởng Đ/đội 1/209 và ngỏ ý muốn xử dụng Đại đội này đánh chiếm Núi Gềnh bằng chiến thuật tốc chiến, chỉ xử dụng lựu đạn trong trận đánh, và ông hứa, nếu chiến thắng, ông sẽ tức khắc gắn lon Đại úy ngay tại mặt trận. Tr/úy Phước cũng hứa rằng ông sẽ chiếm Núi Gềnh một cách dễ dàng, không quá 30 phút.

(Tr/úy Phước kể rằng, từ thuở nhỏ, ông thường chăn trâu trong khu vực này nên mọi địa thế của Núi Gềnh ông biết rõ hơn ai hết, và lối tấn công bằng lựu đạn là hiệu quả nhất) Tr/tá Tường bàn thảo việc tiến công với người Sĩ Quan mà ôâng đã hiểu rõ và đã lựa chọn, duy nhất ông đòi hỏi Tr/úy Phước không được tiết lộ bí mật hành quân với bất cứ ai, ngay cả với những người thân cận nhất.

Ngày N1, trước nửa đêm, 1 Đại đội BĐQ được đổ xuống tấn công sấm sét vào Đài Kiểm báo, chưa đầy nửa tiếng, Đại đội Biệt Động Quân đã làm chủ tình hình, đánh bật lực lượng đặc công của SĐ 3 Sao Vàng ra khỏi mục tiêu, địch để lại nhiều vũ khí cá nhân và xác chết.

Ngày N lúc 5 giờ sáng, ĐĐ1/209 của trung úy Phước đã tiếp cận mặt trận, bất thần tung hàng trăm trái lựu đạn, chỉ 15 phút sau, Huyện đội Phù Cát lớp chết, lớp bị thương, lớp quăng vũ khí tháo chạy, cuộc chiến thắng của ĐĐ 1/209 trọn vẹn và chớp nhoáng đến nỗi không một ai có thể tin được. Về phía bạn, ĐĐ 1/209 chỉ duy nhất 1 binh sĩ bị thương nhẹ vì chính mảnh lựu đạn của mình. Cùng thời gian ấy, Tiểu đoàn của Trung đoàn 42 do đại úy Trí (Năm 1975 là Tr/ Tá) làm tiểu đoàn trưởng, đã từ chân phía Nam Núi Bà, vượt đỉnh núi, tràn xuống đánh như bão táp vào sau lưng địch. Cuộc tấn công bất ngờ đến nỗi trên tư lệnh Lữ Đoàn địch quẳng cả “Xắc-cốt” với toàn bộ tài liệu tháo chạy, 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 41 cũng đồng loạt tràn ngập, địch không kịp phản ứng, bỏ chạy tháo thân.

Cũng ngày N, Chi đoàn M.113 thiết quân vận cũng đổ bộ lên bãi biển cách phía Nam căn cứ vài Km, nhất loạt tấn công hoàn toàn lực lượng địch đang vây hãm căn cứ Đề Gi, gần như toàn bộ pháo binh của địch quẳng lại, chúng đạp lên xác đồng đội mà tháo thân.

Cuộc hành quân truy kích bắt đầu và chỉ đúng 5 ngày sau ngày N, cuộc hành quân đã hoàn toàn chiến thắng, không một tổn thiết về phía bạn. Cuộc hành quân An Dân 1/73 hoàn tất bao gồm cả nhiêm vụ và công tác An Dân, công tác An Dân 1 ĐĐ SVSQ/CTCT Đà Lạt đảm trách trong giai đoạn thực tập công tác Dân Sự Vụ trước khi mãn khóa khóa 3/SQ/CTCT với 5 ngày vừa chiến thắng, vừa ổn định cuộc sống của nhân dân vùng Phù Mỹ và Phù Cát, không một người dân nào bị thiệt hại về sinh mạng và tài sản, bảo đảm 100% toàn vẹn mệnh lệnh do Phủ Tổng Thống trao phó, xứng đáng với tấm lòng tin tưởng và ưu ái của nhân dân Bình Định ủy thác.

Và ngay hôm sau, Tổng Thống Thiệu mời tất cả các Đại Sứ của các nước đến thăm viếng Đề Gi mới được giải tỏa, với tất cả mọi chứng tích về cuộc vi phạm Hiệp Định Đình Chiến của Cộng Sản VN, và Tổng Thống đãi các đại sứ một bữa gỏi cá cơm nổi tiếng ở Đề Gi, miền đất nổi danh của các chiến sĩ âm thầm, các chiến sỹ Địa phương quân và Nghĩa quân Bình Định…

(Khoảng tháng 6 năm 1973, viên Thiếu tá Võ văn Ứng bất chợt về hồi chánh. Theo lời khai của y, với trận Đề Gi thất bại, 3/4 lực lượng tham chiến thuộc Lữ đoàn CS bị loại khỏi vòng chiến, một số lớn tử thương, không kể bị thương và bị bắt. Sư đoàn 3 Sao vàng rúng động, Quân khu 5 CS ngẩn ngơ, Hà Nội tím ruột. Ứng bị giáng cách tuột xuống chuẩn úy. Khi về hồi chánh, y tha thiết xin được gặp người đã làm cho y thân bại danh liệt: Trung tá Nguyễn Mạnh Tường.

Võ văn Ứng quê ở Hoài Nhơn, Bình Định, một sỹ quan nổi danh của SĐ3 Sao vàng, xuất thân từ hàng ngũ binh sỹ đi lên, chiến trận dạn dày. Trung tá Tường tiếp y với nụ cười ân cần, hiền hòa và bình dị. Y thật lòng thú nhận là y không thể ngờ được có ngày y bị bại trận một cách nhục nhã đến như thế. Tuy nhiên y rất khâm phục về phương cách điều quân lạ lùng và chớp nhoáng mà y không hề nghĩ tới, duy có một điều y bất phục:

– “Thưa ông, nếu tôi là ông, thì hai Tiểu-đoàn còn lại của tôi sẽ không thể nào chạy thoát, sẽ không còn một người nào sống sót, bằng cách xử dụng phi pháo và chặn đánh.”

Trung tá Tường vẫn nụ cười hiền hậu, đưa phóng đồ hành quân ra và nói:

– “Ông hãy xem đây, tôi đã dự tính hơn những điều ông nói, tuy nhiên, nếu tôi thực hiện điều đó, người dân vô tội sẽ tổn thất không nhỏ về nhân mạng và tài sản. Với tôi, dù nếu để tiêu diệt trọn hai tiểu đoàn tẩu thoát của các ông, đổi lại, chỉ một người dân phải chết oan uổng, tôi nhất quyết không làm!”
Ứng không ngờ là trong đời y, y đã gặp được một danh tài quân sự, mà lại càng không ngờ trong đời chiến trận sinh tử lại có một tấm lòng nhân ái đến như thế…

Trận đánh giải tỏa phi trường Phù Cát…

Sau trận Đề Gi, tiềm năng quân sự của Sư đoàn 3 Sao vàng bị hao hụt trầm trọng, các hoạt động quân sự của địch hầu như suy giảm hẳn. Hai Liên đoàn 4 và 6 Biệt Động tăng cường chế ngự địch tại hai Quận Hoài Nhơn và Tam Quan. Hoài Ân và một phần quận Phù Mỹ do trung đoàn 41 đảm trách. Tình hình an ninh tương đối ổn định. Quốc lộ 1 và 19 thông suốt, do các lực lượng ĐPQ và Nghĩa quân đảm trách. Bọn Cộng sản gửi văn thư tố giác đích danh Trung tá Nguyễn Mạnh Tường là luôn luôn nống lấn, vi phạm Hiệp định đình chiến. Nực cười là lời tố giác nầy lại đứng trước một thực tế mà viên Trưởng đoàn Kiểm soát đình chiến trú đóng tại TTHL/Phù Cát đã phải thừa nhận là chính cộng sản đã vi phạm . Thêm vào đó, các vị đại sứ của các quốc gia đã đích thân đến thăm căn cứ Đề Gi ngay sau khi quân lực ta tái chiếm, đã là những nhân chứng đáng tin cậy nhất. Do đó, văn thư tố giác Trung tá Nguyễn Mạnh Tường rơi vào khoảng không.

Trong suốt thời gian từ tháng 1/1973 cho đến tháng 4/1974 các ấp an ninh từ loại “V” được dần dần nâng lên loại A càng lúc càng nhiều, khu vực vùng đai an ninh thị xã Qui Nhơn mỗi lúc một mở rộng thêm, dù rằng địch cố gắng giành giật nhưng hầu như hoàn toàn thất bại.

Cũng thời gian này, tuy rằng tình hình quân sự tương đối lắng dịu, lại chính là giai đoạn vất vả nhất đối với Trung tá Tường. Ông thường xuyên có mặt ở khắp nơi, vừa luyện quân, vừa tổ chức, phối trí lại tất cả lực lượng dưới quyền. Một trong những đơn vị mà ông đã bỏ công sức để thành lập, huấn luyện đó là Liên đội Trinh sát của Tiểu khu. Ông đi đến từng các Trung đội ĐPQ và Nghĩa quân, tìm hiểu và lựa chọn đến từng binh sỹ. Ông tìm hiểu hoàn cảnh, đời sống, tâm tư và tình cảm của tất cả các chiến binh, lựa chọn các cấp chỉ huy dũng lược để bổ nhiệm vào các chức chỉ huy từ Tiểu đội trưởng trở lên. Trung úy Khuynh được bổ nhiệm làm Liên đội trung Liên đội Trinh sát Tiểu khu, với quân số khoảng 2 đại đội. Sự lao tâm khổ trí của ông đã được đền bù trong trận đánh giải vây căn cứ 60 KQ/Chiến thuật của Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền, trú đóng tại Phi trường Phù Cát.

Phi trường Phù Cát là một phi trường quân sự lớn, do Không lực Hoa kỳ xây dựng vào những năm 1966-1967. Căn cứ nằm giữa ranh ba quận An Nhơn – Bình Khê và Phù Cát, kéo dài theo hướng Tây Nam – Đông Bắc, chạy dài từ núi Vân Sơn, cạnh dòng sông Côn, lên đến tận Núi Một, kế cận cầu Phù Ly thuộc quận Phù Cát. Phi trường Phù Cát rộng lớn, hơn cả phi trường Phú Hiệp (Phú Yên). Tất cả các loại phi cơ phản lực có thể lên xuống một cách dễ dàng. Khi quân đội Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam, Đại tá không quân Nguyễn Hồng Tuyền tiếp nhận phi trường và trở thành chỉ huy trưởng căn cứ 60/KQ/CT. Từ căn cứ này xuất phát tất cả mọi loại phi vụ yểm trợ đắc lực nhu cầu chiến trường trong một vùng hoạt động rộng lớn.

Vào một buổi sáng ngày Chủ nhật, tháng 5 năm 1974, Đại tá Hoàng Đình Thọ, Tỉnh trưởng kiêm TKT/TKBĐ đi họp tại SaiGòn, Tr/Tá Tường xử lý thường vụ chức vụ tiểu khu trưởng trong lúc Đại tá Thọ vắng mặt. Trời còn rất sớm, Thượng Sĩ Nguyễn Đình Đốc, một hạ sỹ quan đầy tài năng và kinh nghiệm (hiện Th/Sĩ Đốc đang cư ngụ tại Canoga Park, Nam California) của phòng 2/Tiểu khu trình cho Tr/tá Tường một bản điện văn của địch đã được giải mã, nội dung vỏn vẹn gồm 10 chữ “Quân Át Chủ Bài đã vào vị trí tập kết”. Nội dung ấy nói lên rằng SĐ 3 Sao Vàng của quân khu 5 sắp khai diễn một cuộc tấn công có tầm mức rất quan trọng, tuy nhiên không rõ được mục tiêu mà chúng đã lựa chọn.

Là người chỉ huy luôn luôn nắm vững mọi tình hình lực lượng bạn, với một hệ thống tình báo riêng, ông còn biết rõ địch tình, lực lượng và những thói quen, cùng tích nết của các cấp chỉ huy của Sư đoàn 3 Sao Vàng. Ông theo dõi những chuyển dịch của lực lượng địch một cách cập nhật, với sự thận trọng và khách quan, đồng thời loại bỏ từng mục tiêu cùng khả năng chuyển quân của chúng.

Cuối cùng ông đã khẳng quyết rằng: Mục tiêu của con ” Át chủ bài” này chính là căn cứ 60 Không Quân chiến thuật. Lập tức ông điện thoại cho Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền, chỉ huy trưởng căn cứ, cũng may Đại tá Tuyền còn tại nhà (căn cứ 60), và ông cho biết là có một chuyện cực kỳ quan trọng cần thảo luận với Đại tá Tuyền và yêu cầu Đại tá Tuyền ở nhà chờ ông, mà vì tính chất quan trọng của vấn đề ông không thể nói trên điện thoại được. Đại tá Tuyền đã khẩn cấp đưa trực thăng đón Trung tá Tường ngay tức khắc….

Cựu Đại Tướng Trần Thiện Khiêm  đưa tay chỉ lá cờ vàng ba sọc đỏ và nói: Lá cờ này  xưa đại diện cho Tam Kỳ Bắc Trung Nam, nay và mãi về sau là biểu tượng cho Tự Do Dân Chủ Và Nhân Quyền.  Tôi nói thêm :”Lịch sử đứng về phe Tự Do hay ngược lại”.

Để giữ bí mật, chỉ có hai người chỉ duy nhất trong cuộc họp mật này. Trung tá Tường cho Đại tá Tuyền biết chỉ trong đêm nay Cộng quân sẽ tấn công căn cứ 60/KQ CT. Lực lượng địch “Con át chủ bài” chắc chắn phải là một lực lượng cực kỳ hùng hậu.

Phòng ngự căn cứ gồm các lực lượng yểm cứ và quân nhân cơ hữu của không quân, ngoài ra từ trước, căn cứ được tăng cường tiểu đoàn 263 ĐPQ do Thiếu tá Phạm Hữu Kỳ làm Tiểu đoàn trưởng với quân số chừng 600 binh sĩ. Tuy nhiên, căn cứ quá rộng, lực lượng phòng thủ phải phân tán quá mỏng. Đường phi đạo nằm dọc theo chiều Bắc Đông Bắc và Nam Tây Nam, do đó căn cứ cũng phải trải dài theo chiều dài phi đạo.

Sườn phía đông của căn cứ là khu dân cư dầy đặc của 3 quận An Nhơn, Phù Cát và Tuy Phước, địch không có khả năng che dấu và di chuyển vũ khí nặng, do đó chắc chắn mũi tiến công của cộng sản từ sườn phía Tây của căn cứ, khu vực thưa thốt dân cư, xa xa ở phía Tây là dẫy Núi Vĩnh Thạnh, trùng điệp tiếp giáp với các mật khu của địch, cánh đồng phía Bắc quận Bình Khê, từ Gò Đề trở lên là khu đất cằn cỗi, do nước lũ từ triền dẫy Vĩnh Thạnh đổ xuống, năm từng năm xoi mòn làm thành những con lươn sỏi đá khô cằn, những con lươn này, là một địa thế lý tưởng cho cuộc chuyển quân, ém kín và tiếp cận mục tiêu của địch từ dẫy núi Vĩnh Thạnh chạy sang phía Đông, tiếp giáng Phi Trường Phù Cát.

Sườn phía Tây có hai ngọn đồi cao, một ở phía Bắc Tây Bắc nằm bên trong vòng đai phòng thủ là ngọn đồi 69, do một trung đội thuộc Tiểu đoàn 263 ĐPQ trấn ngự. Một ngọn đồi khác nằm hướng chính Tây mang tên Đồi 151 nằm cách căn cứ chừng 1 km do 1 Trung đội Nghĩa Quân thuộc chi khu Bình Khê trú đóng.

Muốn tấn công một mục tiêu rộng lớn và quan trọng như căn cứ 60/KQ/CT Phù Cát, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường ứớc tính lực lượng địch phải từ cấp trung đoàn trở lên, được tăng cường lực lượng phòng không, pháo binh, hỏa tiễn nhằm khống chế các phi cơ của căn cứ, không cho cất cánh, đồng thời phá hủy tất cả những kho lẫm và những mục tiêu trọng yếu, mà chắc chắn chúng đã có được sơ đồ chi tiết do bọn nội tuyến cung cấp. Đại tá Chỉ huy trưởng căn cứ ra lệnh cắm trại 100% đồng thời mọi kế hoạch phòng thủ được âm thầm tiến hành sẵn sàng chờ địch. Đứng trước tình hình nghiêm trọng ấy, trong tay Trung tá Tường không còn bất cứ một lực lượng trừ bị nào ngoài Liên đội Trinh sát Tiểu khu của Trung úy Khuynh với quân số khoảng 250 binh sĩ. Phòng ngự không để cho địch tràn ngập căn cứ là thiết yếu, nhưng phản công tiêu diệt địch lại là một vấn đề quan trọng hơn.

Giữa lúc ấy, một đoàn xe chở một Tiểu đoàn Biệt động quân về thụ huấn tại TTHL/Lam Sơn, đang di chuyển ngang qua Tỉnh Bình Định,Trung tá Tường, sau rất nhiều khó khăn trong buổi sáng Chủ nhật ấy, mới xin phép được Thiếu tướng Phan Trọng Chinh, để được sử dụng Tiểu đoàn BĐQ này để tăng cường phòng thủ cho phi trường, tuy nhiên không được sử dụng Tiểu đoàn làm lực lượng tấn công, giải tỏa. Biết chắc chắn là với lực lượng còn lại, không đủ khả năng tấn công trực diện địch mà phải sử dụng kỳ binh tốc chiến, tốc thắng, âm thầm đánh vào sườn địch vào giữa lúc bất ngờ nhất, Trung tá Tường đã xin lệnh Quân đoàn được phép xử dụng Chi đoàn Thiết giáp đang trú đóng tại An Khê để bảo vệ trục lộ cho các đoàn xe tiếp tế từ Qui Nhơn lên Pleiku. Tuy nhiên Trung tướng Toàn, Tư lệnh QĐ2 đã đi họp tại Sàigòn, Ch/tướng Cẩm, Tư lệnh phó không có mặt, Sĩ Quan trực TTHQ cho biết không biết Ch/tướng Cẩm ở đâu trong ngày chủ nhật hôm ấy.

Trước tình trạng cấp bách, Trung tá Tường xử dụng trực thăng do Đại tá Tuyền biệt phái, đáp xuống An Khê, gặp Trung úy Mỹ, Chi đoàn trưởng Chi đoàn Thiết giáp, giả lệnh của Quân đoàn, đặt chi đoàn dưới quyền điều động của ông, đồng thời ông cũng ra lệnh đình hoãn tạm thời các đoàn công voa tiếp tế lên Cao nguyên cho đến khi có lệnh mới. Chi đoàn thiết giáp được lệnh đổ đèo An Khê xuống Bình Khê chờ lệnh.

Ông trình bày kế hoạch tấn công, nhiệm vụ của Chi đoàn và Liên đội thám sát Tiểu khu, có trách nhiệm tấn công sườn phía Nam của địch, tuyến xuất phát từ phía Bắc bờ sông Côn khi có lệnh. Kế hoạch của ông là, Liên đội Thám sát tùng thiết đánh thốc từ phía Nam lên với sức mạnh hỏa lực tối đa, với vận tốc tối đa, không được dừng lại để thu nhặt chiến lợi phẩm mà phải chia cắt nát mặt trận của địch. Trong khi ấy, ông sẽ dùng Tiểu đoàn BĐQ giả làm lực lượng tấn công trực diện, với tất cả hỏa lực và những vũ khí cộng đồng để thu hút địch.

Trung tá Tường đáp xuống bờ bắc sông Côn, cách Đền thờ Đức Quang Trung khoảng 50m, dẫn Tr/úy Mỹ và Tr/úy Khuynh cùng ông vào điện thờ làm lễ dâng hương, xin anh linh thần dũng của người Anh hùng năm xưa, đã chớp nhoáng đánh tan 20 vạn quân Thanh vào đầu Xuân năm Kỷ-dậu 1789, phù trợ cho các chiến binh hậu duệ của Ngài. Sau đó ông cùng Tr/úy Mỹ và Tr/úy Khuynh lên trực thăng đi thám sát địa thế, bởi vì địa hình khu vực Bắc Bình Khê, Tây Phù Cát, An Nhơn có nhiều bất lợi cho cuộc tấn công chớp nhoáng bằng thiết giáp, do đó người chỉ huy phải nắm vững địa hình một cách chặt chẽ.

Sử dụng 1 Chi đoàn Thiết giáp với một Liên đội làm mũi nhọn, làm chủ lực tấn công một địch thủ mà quân số và hỏa lực gấp 10 lần là một điều ít ai dám làm, thậm chí không dám nghĩ tới. Thế nhưng trong chiến sử cổ kim và đông tây đã từng xảy ra với các danh tướng đã từng chiến thắng trong mỗi hoàn cảnh với những yếu tố bất ngờ, thần tốc …

Đêm chủ nhật hôm ấy, các chiến binh căn cứ Không Quân/Chiến Thuật trong tư thế sẵn sàng chờ địch. Và quả nhiên, cộng quân mở đầu cuộc tấn công bằng hàng ngàn trái đạn đủ loại. Tiểu đoàn Trinh sát Sao vàng ồ ạt tấn công cao điểm 151 do Trung đội Nghĩa quân thuộc chi khu Bình Khê trú đóng. Đồi 151 bị địch tràn ngập và chiếm ngự, chúng dùng điểm cao nầy để chế ngự phi trường. Riêng ngọn đồi 69 nằm trong vòng đai phòng thủ Bắc Tây Bắc phi trường do một trung đội của Tiểu đoàn 263 tử thủ, đã đẩy lui nhiều đợt tấn công của địch. Trung đoàn 2 Sao Vàng, Trung đoàn được gọi là “con át chủ bài” nghĩ rằng với yếu tố bất ngờ và với hỏa lực ưu thế, chúng sẽ dễ dàng chọc thủng tuyến phòng ngự và tràn ngập căn cứ một cách dễ dàng. Nhưng chúng không thể ngờ, các chiến sĩ của căn cứ đã chờ đợi chúng và bằng tất cả sức chiến đấu mãnh liệt, từng đợt tấn công của cộng quân đã bị đẫy lui.

Trong lúc ấy, tuyến phòng thủ của Tiểu đoàn BĐQ được trang bị bằng những vũ khí hạng nặng, khai hỏa ào ạt, được ngụy trang như những chiến xa, lôi kéo hỏa lực địch, chúng nghĩ rằng những chiến xa của ta bắt đầu xung kích… Giữa lúc địch tấn công vào căn cứ, cũng là lúc Chi đoàn thiết giáp chuyển các chiến binh của Liên đội Thám sát Tiểu khu bắt đầu vượt tuyến xuất phát, âm thầm xuất kích đánh vào sườn trái của địch. Trong bóng đêm mịt mùng, mãi mê vì bị lôi kéo, hòng ngăn chặn thiết giáp đánh ra từ căn cứ (do BĐQ ngụy trang), cả Trung đoàn 2 Sao Vàng và các đơn vị tăng cường dồn hết mọi hỏa lực về phia trước. Chúng không ngờ bên sườn trái, tử thần đang từng phút kề cận. Cho đến khi toàn bộ hỏa lực của Chi đội thiết giáp và Liên đội Trinh sát tấn công ào ào như sấm dậy, như sét đánh không kịp bưng tai, nổi kinh hoàng tràn ngập trận tuyến địch, địch không kịp quay súng, từng lớp bị đốn ngã…

Giữa đêm đen, khi đã phát hiện ra lực lượng tập kích sườn trái, từng lưới đạn vẫn ào ào đổ xuống, lớp chết , lớp bị thương, địch bỏ súng tháo chạy, lớp này cuốn theo lớp khác bị bắn hạ. Toàn thể Trung đoàn 2 Sao Vàng “anh hùng” thoắt chốc tan tác, cuống cuồng tháo thân… Tiểu đoàn Trinh sát Sư đoàn 3 Sao Vàng trấn trên đồi 151 không hề hay biết, cho đến lúc một đại đội của liên đội Trinh sát tiểu khu do Tr/úy Khuynh chỉ huy, đánh thốc lên từ sau lưng bằng lựu đạn, tên tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trinh sát Sao Vàng bị đốn ngã ngay từ phút đầu tiên, cả tiểu đoàn buông súng lao xuống sườn đồi tháo chạy, bất kể phương hướng, chúng kinh hoàng bởi sự đột kích hết sức bất ngờ, tử thần đã từ phía sau ập đến… Xác địch ngỗn ngang trên đồi cao, cùng một số thi thể của các chiến sĩ nghĩa quân đã hy sinh lúc khởi đầu chiến trận. Cuộc tháo chạy kinh hoàng, bỏ lại đủ loại vũ khí trên đường tiến quân của ta. Ngược lại, như một sự linh thiêng mầu nhiệm, lực lượng tấn công của ta hoàn toàn vô sự.

Trung úy Khuynh gỡ chiếc “xà cột”trên vai xác tên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Trinh sát Sư đoàn 3 Sao Vàng. Mọi ý đồ của địch được ghi chép trong tài liệu bắt được cho thấy trận đánh này chỉ là bước khởi đầu cho một trận tấn công toàn lãnh thổ tỉnh Bình Định. Ý đồ của chúng bị bẻ gẫy, bị đập tan ngay từ bước khởi đầu. Cùng lúc, những tên còn sống sót của Trung đoàn 2 Sư Đoàn 3 Sao vàng cuống cuồng tháo chạy, Chi khu Phù Cát tổ chức cuộc hành quân trực thăng vận khẩn cấp với 2 Trung đội Nghĩa Quân đổ xuống mục tiêu đã được dự trù, tịch thu được 1 khẩu súng “bắn hỏa tiển” loại mới với những trái đạn khổng lồ còn lăn lóc (đây là một loại vũ khí mới nhất của Trung Cộng, súng dùng để bắn hỏa tiễn với máy nhắm hiện đại. Máy nhắm này phía Hoa Kỳ đã xin mượn để nghiên cứu, vì đây là loại súng bắn hỏa tiễn tối tân nhất của Trung cộng, bị tịch thu ở chiến trường miền Nam, với mức độ chính xác gấp nhiều lần so với dàn phóng hỏa tiễn có từ trước). Ngoài ra còn tịch thu được: 1 súng cối 120 ly, 4 đại bác 82 ly và 1 đại bác 122 ly

Số lượng vũ khí cộng đồng, cá nhân và xác địch quân bỏ lại trên chiến địa không đếm xuể, hầu như toàn bộ lực lượng địch tham chiến bị tiêu diệt gần hết. Một điều kỳ diệu là thiệt hại của lực lượng bạn không đáng kể, ngoại trừ trung đội Nghĩa quân của chi khu Bình Khê trú đóng trên đồi 151 đã hy sinh lúc khởi đầu trận đánh.

Sau chiến thắng, Chuẩn tướng Cẩm, Tư lệnh phó Quân đoàn 2, đề nghị Tướng Toàn phạt Trung tá Nguyễn Mạnh Tường 30 ngày trọng cấm với lý do đã điều động và xử dụng chi đoàn Thiết giáp khi chưa được “ông-tướng-rong-chơi” này cho phép(!!!), trong khi 2 Trung tá Không quân thuộc căn cứ 60/KQ/CT được vinh thăng Đại tá tại mặt trận, một số sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ được thăng cấp rất hạn chế… Điều bất công ấy đã khiến cho Đại tá Nguyễn Hồng Tuyền và toàn thể Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Binh sĩ tham chiến kinh ngạc và phẫn nộ. Ngay cả đến Trung tướng Tư lệnh Không Quân Nguyễn văn Minh cũng tức giận. Trung tướng Minh ra thăm căn cứ K/Q Chiến thuật, cho tổ chức tiệc ăn mừng chiến thắng. Tướng Minh đã ca ngợi và giới thiệu Trung tá Tường với thuộc cấp như vị “ân nhân” của binh chủng Không quân, lệnh cho binh chủng luôn ghi nhớ công sức của người đã cứu nguy và mang lại chiến thắng cho binh chủng, và sẽ luôn phải ưu tiên thỏa mãn cho Tr/tá Tường những nhu cầu công cũng như tư. Đại tá Tuyền từ đó đã dồn mọi ưu tiên không yểm cho Trung tá Tường trong các yêu cầu tại chiến trường. Cũng vì thế, Tư lệnh Sư đoàn 22/BB đã kiện về Bộ Tổng tham mưu về sự ưu tiên nầy. Bộ Tổng tham mưu đã phái một Đại tá ra điều tra sự kiện thưa gởi ấy. Đại tá Tuyền đã trả lời một cách minh bạch:

– “Điều ấy dễ hiểu, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường đã giúp chúng tôi một cách tận lực trong lúc nguy nan, cấp cứu và giải thoát cho những phi đoàn của chúng tôi lúc bị bắn hạ một cách mau chóng. Trong khi ấy, Sư đoàn đã không làm gì trước những yêu cầu như thế. Do đó, chúng tôi phải tận lực yểm trợ cho Trung tá Tường là điều đương nhiên!”

Người chỉ huy và mang lại chiến thắng trong trận Phù Cát, Trung tá Nguyễn Mạnh Tường, bị đối xử như thế, đã khiến Trung tướng Minh bất bình và không thể im lặng, do đó, trong một cuộc họp các tướng lãnh tại Sài gòn, có mặt Đại tướng Trần thiện Khiêm, đương kim Thủ tướng Chính phủ, Trung tướng Minh đã nêu lên thắc mắc này. Đại tướmg Khiêm đã hỏi Đại tướng Cao văn Viên về sự kiện ấy, ông Viên trình bày là “đã hết cấp số!”. Đại tướng Khiêm lệnh mang hồ sơ của Trung tá Nguyễn Mạnh Tường cho ông đích thân cứu xét, và ngay tức khắc Thủ tướng Đại tướng Trần Thiện Khiêm đã ký nghị định thăng cấp Đại tá thực thụ cho Trung tá Nguyễn Mạnh Tường ngay sau cuộc họp. Đó là vào khoảng tháng 8/1974.

Sau khi được thăng Đại tá, một tưởng thưởng muộn màng, Đại tá Tường được thuyên chuyển về làm Phụ tá Hành quân cho tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh Sư đoàn 5BB. Kể từ ngày ấy, tôi không gặp lại Đại tá Tường, mãi cho đến cuối năm 1977 mới gặp lại ông tại Hoàng Liên Sơn trong một lần đi vác nứa. Tôi đã đứng nghiêm kính cẩn chào ông bằng lễ nghi quân cách với những dòng nước mắt nghẹn ngào. Ông vẫn bình thản như ngày xưa, vẫn đôi mắt và nụ cười thuở trước. Dường như sự đày đọa trong tù ngục không ảnh hưởng gì đến ông. Người chiến binh già ấy đã từng làm cho tôi kính trọng thuở nào, càng làm cho tôi kính yêu hơn nữa trong cung cách thản nhiên chịu đựng sự nhục mạ, sự đọa đày hèn hạ trong chốn lao tù.

Bẳng đi bảy năm sau đó, 1984, tôi được gặp lại ông tại Z30A Xuân Lộc, ông sống âm thầm trong cuộc sống đày ải như một bậc chân tu. Ông dạy tôi về Thiền, về khí công, về cách điều tức “sâu-dài-êm-đềm-chậm”. Thì ra chính Thiền công đã khiến ông vượt qua được tất cả, kể cả mọi bệnh tật cũng không xâm nhập được vào cơ thể người chiến binh năm xưa. Thỉnh thoảng ông mới được thăm nuôi, cuộc sống cực kỳ đạm bạc, thế mà ông vẫn chia xẻ những món quà khiêm tốn, ít ỏi cho những anh em đồng tù bất hạnh, không kể thân sơ, chỉ giữ lại cho mình những hủ tương mặn chát. Trong tù, tôi được nghe nhiều người nhắc đến ông trong thời gian ông về làm Phụ tá hành quân Sư đoàn 5, kể lại cuộc rút quân thần kỳ cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp, cùng những đức tính cao quý, không chỉ những sỹ quan thuộc Sư đoàn 5 mà còn rất nhiều người đã sống bên ông trong quãng đời tù đày.

Mãi đến năm 1992, tôi mới gặp lại ông tại Sài gòn. Ông sống một mình trong một con hẻm đường Công Lý. Ngày từng ngày, ông đi chữa bệnh cho những ai cần đến ông. Ông không nhận bất cứ thù lao nào từ những bệnh nhân được ông chữa khỏi. Những lúc rảnh rỗi, ông lên gác chuông chùa Vĩnh nghiêm đọc kinh Phật.

Năm 1993, tôi bị CSVN bắt lại với án tù 12 năm về tội “âm mưu lật đổ chính quyền”, may mắn được Quốc tế can thiệp và được ra khỏi tù cuối năm 1998.

Đầu năm 1999, tôi sang Mỹ theo diện H.O được chiếu cố vì quá muộn màng. Và vui mừng xiết bao vì lại được gặp lại ông. Nhân lời yêu cầu của nhóm nhà văn quân đội chủ trương thực hiện tập “Những Trận Đánh Không Tên Trong Quân Sử”, tôi xin phép ông cho phép tôi được viết lại một cách khiêm tốn quãng thời gian ông đã tham dự và chỉ huy các trận đánh ở chiến trường gian khổ Bình Định, cùng những chiến thắng lẫy lừng của các chiến sỹ Địa phương quân và Nghĩa Quân âm thầm mà ông chính là người đã, với tài trí và đức độ của mình, đưa đến những chiến thắng thần kỳ trong sự hạn chế và gìn giữ tối đa sinh mạng và tài sản của dân lành vô tội. Ông đã từ chối rất nhiều lần với ý muốn thành khẩn của tôi, khi tôi muốn đưa một tài năng chỉ huy của quân lực vào Quân sử, với lý do là ông đã quên hết trong thế giới của Thiền đạo. Và cũng bởi vì, với kết cuộc thảm khốc của sinh mạng QLVNCH trong tháng Tư đen tối 1975, thì mọi chiến công đã trở thành tận cùng đau đớn, có nhắc lại chỉ thêm đắng cay, mà mỗi người trong chúng ta chỉ nên âm thầm trong sám hối bỡi những hành vi đã có, đóng góp một phần trong cuộc bại trận này.

Theo ông, có 3 đại họa trong thiện hạ là:

1/ Công ít mà bỗng lộc nhiều
2/ Tài mọn mà địa vị cao
3/ Chí nhỏ mà mưu việc lớn.

Tôi hoàn toàn thẩm thấu được nổi đau lòng ấy, nhưng tôi thưa với ông là “VNCH của chúng ta bị bức tử vì nhiều mặt. Tuy nhiên, các chiến-sỹ QLVNCH đã chiến đấu vô cùng anh dũng, biết bao người đã nằm xuống, đã đổ máu xương cho một Việt Nam Tự do, và giờ nầy các chiến binh vô danh cả triệu người đang sống trong tối tăm, trong đọa đày tủi nhục, trong đau đớn ê chề… Vậy thì hãy cất tiếng nói, HÃY TRẢ LẠI DANH DỰ CHO CÁC CHIẾN BINH ÂM THẦM kia, trả lại cho lịch sử mai hậu về một VNCH và một QLVNCH đã có những đứa con xứng đáng trong bất khuất, anh dũng trong hy sinh, vinh hiển trong máu xương oan khuất. Việc nhắc đến, vinh danh những chiến binh đã chiến đấu, đã nằm xuống như dòng nước mát, như nén hương thơm cho Quê Hương Việt Nam thống khổ. Và sau cùng, vì những điều tôi vừa trình bày. Cuối cùng, ông đã đồng ý cho tôi viết những dòng trả lại vinh quang cho những người lính miền Nam.

Trần Thúc Vũ

 

(Bài đọc được trích từ Việt Luận, xin theo dõi toàn bài trong link ở cuối)

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The


Links:

Nguyệt San Việt Nam Online

Việt Luận

Việt Báo Online.