Bài Học Của Sự Sống – Tin Mừng.net


Bài đọc suy gẫm: Chân Dung Các Thánh Tử Đạo Việt Nam


Lời bàn: Chưa có một đất nước nào mà những người theo đạo bị trả giá cho đức tin của mình như người Việt Nam chúng ta trong thời phong kiến và dưới ách cộng sản vô thần. Gần đây,  tin tức dồn dập về việc công an xuống tay trắng trợn đàn áp các họ đạo Tin Lành trong nước trước mùa Giáng Sinh cho thấy sự cấm đạo trên đất nước càng gay gắt. Những phương cách hãm hại người có đạo bằng  tù đày, quản chế dân sự và tinh vi hơn khi lập ra hình thức đạo quốc doanh mục đích tiếm danh rồi trộn lẫn đối với các tôn giáo như Công Giáo, Phật Giáo, Tin Lành, Đạo Cao Đài, Phật Giáo Hòa Hảo, v.v.. nhằm mục đích đưa tất cả vào vòng tay của đảng để dễ bề kiểm soát.

Nhân  mùa Noel lại đến, Blog 16 hân hạnh giới thiệu đến các bạn đọc câu truyện  về “Chân Dung Các Thánh Tử Đạo Việt Nam” để cùng nhau suy gẫm.  Đây là bức tranh máu lệ, bi tráng, can đảm và hào hùng của những người Công Giáo Việt Nam đã bị bách hại vì đức tin của mình trong hơn một thế kỷ 1745-1862….

Ngày 19 tháng 6, năm 1988. Tất cả những vị tử vì đạo đều được Ðức Thánh Cha Giaon Phaolô II phong thánh.  Chúng ta, dù có hay không niềm tin tôn giáo, chia sẻ lịch sử đầy máu lệ của 117 vị Thánh Tử Đạo Việt Nam để thấy gương sống và thái độ bất khuất trước cái chết cho Đức Tin của các ngài.

Hình ảnh minh họa: Nguồn Internet


Hội Thánh Tin Lành Phúc Âm Toàn Vẹn ở Thanh Hoá họp mặt mừng lễ Chúa Giáng Sinh bị khoảng 200 công an cộng sản đàn áp, hành hung. Hình dưới : MS. Nguyễn Trung Tôn (mang cà vạt) và những người tín hữu đi tham dự lễ bị đánh.

HỌ ĐÃ SỐNG NHƯ THẾ

Martyr theo nguyên ngữ có nghĩa là nhân chứng. Trừ một vài vị tử đạo nhờ ơn đặc biệt để có được một quyết định quả cảm bất ngờ trước thử thách. Còn bình thường, cuộc đời của họ đã là một chứng từ, một quá trình hợp tác với ơn Chúa, trước khi phải làm chứng cho Ngài bằng máu đào.

Để trả lời câu hỏi : các thánh tử đạo đã sống thế nào ? Chúng ta có thể chú ý đặc biệt đến những vấn đề sau :


-Thân ái với mọi người

Người Việt Nam thường nói : “Phép vua thua lệ làng”. Mặc cho triều đình nhà Nguyễn ra những chiếu chỉ bách hại, dấu hiệu tình thân giữa bà con chòm xóm đối với người Công giáo là sự kiện quá rõ rệt. Thí dụ trong vụ án linh mục Gioan Đạt, viên cai ngục nói : “Tôi thấy cụ khôn ngoan, đạo đức, thì muốn kết nghĩa huynh đệ lắm, ngặt vì cụ sắp bị án tử rồi. Tôi xin hứa biếu cụ một cổ quan tài để biểu lộ lòng tôi quí cụ.”

Chuyện hai linh mục Trương Đình ThiDũng Lạc, quan huyện Bình Lục nói : “Các ông là quan bên đạo, tôi quan bên đời”, rồi cho lệnh cởi trói và cho dọn cơm bằng mâm bát của mình. Đến khi cho áp giải hai vị về Thăng Long, quan lập đàn tế lạy trời phật để thanh minh mình vô can trong vụ án.

Đặc biệt chuyện linh mục Vũ Bá Loan, niên trưởng 84 tuổi, được mọi người kính trọng gọi bằng “cụ”, ngài không bị đòn đánh, và trong ngày xử, mười lý hình bỏ đạo chạy trốn, đến người thứ mười một, đã lịch sự xin phép : “Việc vua truyền cháu phải làm, xin cụ xá lỗi cho. Cháu sẽ cố giúp cụ chết êm ái. Khi về trời cụ nhớ đến cháu nhé”.

Nhờ đâu ông câu Lê Văn Phụng, mỗi lần quan huyện đi truy lùng lại cho người đến báo trước ? Nhờ đâu linh mục Lê Bảo Tịnh được quan tổng trấn cho giấy phép mở chủng viện ? Nhờ đâu Giáo hội miền Nam suốt thời Minh Mạng chỉ có duy hất một vị trong số 117 vị tử đạo ? Rồi nhờ đâu khu vực dòng Đaminh bình an đến năm 1838, và hầu như an bình từ năm 1841-1856 ? Nhờ đâu những giám mục như Hermosilla Vọng, từng được nêu đích danh trong chiếu chỉ nhà vua, vẫn được an toàn hơn 20 năm : Thưa, nhờ những quan chức địa phương không đánh giá đạo Công giáo như nhà vua, và nhờ những căn nhà “lương dân” luôn mở rộng cách hào hiệp.

Ngay cả khi vua Tự Đức đã ra chiếu chỉ phân tháp ngày 5-8-1861, phân tán các tín hữu, giao cho lương dân quản lý cả người lẫn của cải, thì Giáo hội vẫn tồn tại nhờ nhiều người không theo lệnh vua. Như lương dân làng Hảo Hội, đã che dấu và tiếp tế cho nhiều chủng sinh ở Kẻ Mốt đến ẩn trốn. Con số hàng chục ngàn người bị giết trong giai đoạn này cũng là lớn, nhưng đó chỉ là tỷ lệ vài phần trăm, còn trên 90% giới Công Giáo vẫn sống sót qua cơn “hồng thủy”.

Chính trong bối cảnh thân ái của đại quần chúng bình dân Việt Nam, các tín hữu đầu thế kỷ XIX có nhiều cơ may thể hiện sự gắn bó, tinh thần phục vụ và lòng bác ái của Tin Mừng. Những cuộc truy lùng thường xuyên của triều đình đã giúp các nhà thừa sai sống sát với tinh thần nghèo khó của người tông đồ và gần gũi với dân lao động trong các làng quê, sau lũy tre xanh. Đến Việt Nam, các vị liền lo việc học tiếng và phong tục. Rồi sau đó, cũng ăn nước mắm, ăn tương, ăn cà, cũng nón lá, áo bà ba, áo khẩu… sống với dân Việt, sống như dân Việt, có thừa sai suốt 15 năm không đụng đến một miếng thịt. Thế nhưng các vị vẫn vui tươi. Thừa sai Gagelin Kính gửi thư về nhà : “Những thiếu thốn, những cực nhọc đủ thứ đến với chúng tôi, nhưng tôi dám khẳng định rằng : tôi được hạnh phúc trong túp lều tranh của tôi hơn vua nước Pháp trong hoàng cung của ngài”.

Đại đa số giới Công giáo thuộc thành phần nào ? Thưa, là những người nông dân tầm thường nhất, mỗi ngày lam lũ lao động để làm xanh giải đất quê hương. Linh mục Khuông từng tuyên bố : “Đạo Giatô không những cấm tín hữu chống lại triều đình, mà còn khuyến khích để họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương an ninh thịnh vượng”.


– Tôn trọng vua quan và hết lòng vì quê hương

Hội nhập vào nền văn hóa Á Đông theo chế độ xã hội gia trưởng, Giáo hội Việt Nam đã có nét suy tư sáng tạo đặc biệt. Ngay từ thời linh mục Đắc Lộ, tín hữu Việt Nam đã coi nhà cầm quyền như một người cha, mọi người đều là con trong đại gia đình dân tộc. Linh mục Nguyễn Văn Tự đối đáp với quan tòa : “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được “.

Dĩ nhiên trong bối cảnh lịch sử “thượng tôn Tống Nho” của nhà Nguyễn, thì việc đề cao chữ hiếu hơn chữ trung đủ làm cho triều đình thêm khó chịu. Vì khi đề cao hiếu hơn trung, người Công giáo tuân lệnh vua một cách có suy nghĩ, có lựa chọn, tuân giữ luật lệ hợp lý, nhưng bạo dạn phản đối điều nghịch lý trái với lương tâm mình. Dầu sao giới Công giáo không tổ chức nổi loạn, bạo động. Giám mục Alonso Phê trong thư chung năm 1798 xác định khí giới đánh giặc bách hại “chẳng phải là súng ống gươm giáo đâu, mà là đức tin, lời cầu nguyện và đức bác ái” .

Đức cha Sampedro Xuyên ra vạ tuyệt thông cho ai tổ chức bạo động và buộc những ai vu cáo ngài cổ động nổi dậy phải cải chính công khai. Giám mục Hemosilla Liêm nhắc nhở các tín hữu phải tuân giữ luật nhà phép nước, còn nếu bị vu cáo tội chính trị thì cứ an tâm, vì đức Giêsu xưa từng bị dân Do Thái lấy cớ chính trị để giết (Ga 19,12). Ngài nói tiếp : “….Phô con đừng hòa tập vuối giặc, đừng nghe chúng nói dối dá đấng ấy đấng khác sai chúng nó, vì cái ấy là không hẳn”.

Là dân trong nước, các tín hữu sẵn sàng thi hành nghĩa vụ công dân, từ thuế khóa cho đến gia nhập quân ngũ. Năm 1838, nguyên tại tỉnh Nam Định, quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh đã tụ tập được 500 binh sĩ Công giáo, để rồi bắt đạp lên Thánh Giá. Trong quan trường, chiếu chỉ tháng 9-1855 ra lệnh sàng lọc các quan Công giáo, cấm đạo đồ đi thi hay nhận chức vụ trong làng trong tổng. Thế mà sáu năm sau (1861), trong một đợt thanh trừng, triều đình còn bắt được 32 viên quan, ba người chối đạo, 18 bị giết, 11 bị án lưu đày.

Các thừa sai Pháp sẵn sàng làm nhân viên thông dịch cho nhà vua. Chính Minh Mạng định phong các ngài làm quan chức trong triều đình. Linh mục Gagelin Kính đại diện anh em từ chối đặc ân đó : “Tuy nhiên, những việc đó nào có thể dung hòa với nhiệm vụ linh mục của tôi, tôi sẵn sàng giúp đỡ nhà vua”. Thừa sai Jaccard Phan liên tục giúp vua 10 năm, dù bị lãnh ba án tử hình : lần đầu vua giảm thành án xung quân để dịch sách, lần hai đổi thành án lưu đày chung với thừa sai Odorico Phương Ofm, vị này chết nơi rừng thiêng nước độc, còn ngài vẫn sống sót và tiếp tục dạy sinh ngữ và dịch sách cho hoàng triều. Lần cuối cùng cha tử đạo vào ngày 21-9-1838. Trước đó, nhiều người khuyên ngài bỏ trốn, ngài nói : “Không bao giờ, tôi muốn chứng tỏ phải dùng điều thiện để thắng điều ác”.

Cuốn giáo lý đầu tiên cho người Công giáo Việt Nam, cuốn “Phép giảng tám ngày” (1651) của cha Đắc Lộ đã khẳng định các tín hữu theo đạo Thiên Chúa, đạo của mọi quốc gia chứ không phải đạo Phú Lãng Sa. Đến thời Lê Cảnh Hưng (1740-86), trong cuộc tranh luận bốn tôn giáo, được ghi lại trong cuốn “Hội đồng tứ giáo”, hai linh mục Catañeda GiaPhạm Hiếu Liêm đã trả lời vấn nạn “Đạo Hoa Lang là đạo ngoại quốc” rằng :”Chớ thì đạo Phật chẳng từ Ấn Độ, đạo Nho từ nước Lỗ, đạo Lão chẳng từ đời nhà Châu ở Trung Hoa sao ?” và đã khẳng định : “Chẳng có đạo nào là đạo Hoa Lang, đạo chúng tôi là đạo Thiên Chúa, chúng tôi ước ao thiên hạ mọi nước đều biết”. Linh mục Vũ Bá Loan trình bày điều đó với quan : “Tôi chẳng theo đạo của nước nào cả, tôi chỉ thờ Chúa Trời Đất, Chúa của muôn dân thôi”.

Cũng vì vậy, khi quân đội Pháp tiến vào Đà Nẵng năm 1858, giới Công giáo không hề làm nội ứng như thừa sai Pelerin tưởng. Ngược lại, họ tình nguyện đi bảo vệ non sông. Có điều, vua Tự Đức đòi họ, muốn tham chiến phải bỏ đạo trước đã. Tháng 7-1857, có 14 binh sĩ, một bỏ đạo, 13 bị lưu đày. Tháng 4-1858, trong nhóm 20 binh sĩ, bốn bỏ đạo, 16 bị lưu đày. Và khi tàu Pháp đến, 193 binh sĩ Công giáo chuẩn bị lên đường xuống Đà Nẵng, vì không chối đạo đã lãnh án chung thân.

Một vị tử đạo thời này là binh sĩ Trần Văn Trung, đã bị giết vì khẳng khái tuyên bố : “Tôi là Kitô hữu tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ”.


Sống Tin Mừng yêu thương

Thế nhưng chân dung đích thực cuộc đời các vị tử đạo nổi bật ở lòng yêu thương. Với người “có đồng ăn đồng để”, như y sĩ Phan Đắc Hòa, thì ông rộng rãi giúp người nghèo khổ, riêng bệnh nhân túng thiếu, không những ông chữa bệnh miễn phí, lại còn giúp tiền giúp lúa. Với ông Martinô Thọ, thì “Công bằng chưa đủ, phải có bác ái nữa, mà muốn thực thi bác ái phải có điều kiện”, và ông trồng thêm vườn dâu kiếm tiền giúp người thiếu thốn. Người cùng tử đạo với ông là Gioan Cỏn từng mạnh dạn đấu tranh cho người nghèo chống lại một lý tưởng đòi sưu cao thuế nặng. Ông Năm Thuông là ân nhân của viện cô nhi trong vùng. Ông Trùm Đích thường xuyên thăm viếng trại cùi và sẵn sàng nuôi người mắc bệnh dịch tại nhà mình.

Nếu tình thương bác ái đã được Đức Giêsu coi là dấu chỉ của những môn đệ Ngài (Ga 13,35), ta không lạ gì linh mục Emmanuel Triệu sẵn sàng nhường tiền bữa ăn ân huệ trước giờ xử tử : “Xin cầm tiền và gửi cho người nghèo dùm tôi”. Linh mục Phan Văn Minh dặn đừng tổ chức an táng lớn, để dành tiền giúp người bần cùng. Linh mục Hoàng Khanh trong tù sẵn sàng chữa bệnh cho thân nhân viên cai ngục. Và giám mục Henares Minh đi đâu cũng mang theo tráp thuốc chữa bệnh miễn phí.

Với ông Cai Tả, thì yêu thương để xứng với tình Chúa yêu, ông thường châm chước cho những người mắc nợ và nói “Mình quên nợ người, Chúa quên tội mình”. Với ông Năm Quỳnh thì bác ái rõ rệt là hoa quả của đức tin, ông từng nói với gia đình : “Bà và các con không đồng ý cho tôi lấy của nhà để giúp người nghèo, tôi sẽ đi vay mượn hoặc làm thuê kiếm tiền giúp đỡ họ”, vì ông nói : “Tôi chưa thấy ai hay giúp người nghèo khó lại túng bấn bao giờ. Kinh Thánh chẳng dạy chúng ta phải coi họ như chi thể của Chúa đó sao ? Chúa đã cho chúng ta sống, tất sẽ quan phòng cho ta đủ dùng”.

Với quan Hồ Đình Hy thì : “Đừng làm việc thiện cách máy móc qua lần chiếu lệ, mà phải làm với thiện ý”. Ông từng chăm sóc nuôi nấng một người bệnh bơ vơ, suốt 15 ngày sáng tối thăm hỏi, và khi người bệnh lìa đời, đã tổ chức lễ an táng tổ tế. Ông cũng nuôi hai bé gái bị bỏ rơi cho đến khi trưởng thành, một xin đi tu một xin lập gia đình, ông quảng đại lo đến nơi đến chốn.

Dù chưa đi sâu vào mẫu gương trong các cuộc tử đạo, thì những mẫu gương yêu thương của hầu hết tín hữu đầu thế kỷ XIX với mảnh đất và con người Việt Nam, đối với Giáo hội hôm nay, cũng đủ là một di sản quí giá thôi thúc kêu mời chúng ta phải phát huy, với những cách thế hữu hiệu và cụ thể hơn, để phục vụ tha nhân nhất là những người cùng khổ.


– Mặn nồng tình nghĩa gia đình

Một trong những đóng góp của giới Công giáo vào cơ chế Pháp lý gia đình Việt Nam, là luật lệ một vợ một chồng. Trong giai đoạn văn hóa quá ảnh hưởng quan điểm Nho giáo “trai năm thê bảy thiếp”, các tín hữu đã góp phần đề cao đạo đức thủy chung của dân tộc trong truyện trầu cau. Dĩ nhiên không phải mọi tín hữu đều trung thành với lời cam kết hôn nhân, như ông Lê Văn Gẫm, binh sĩ Phan Viết Huy, Cai Thìn, quan Hồ Đình Hy … đã có thời gian sa ngã, thế nhưng tất cả đều biết trở về để vun đắp lại mái ấm gia đình của mình.

Trong danh sách 117, trừ một số theo đạo khi đã trưởng thành, còn những ai sinh ra trong gia đình Công giáo đều được rửa tội và giáo dục đức tin ngay từ bé. Thày Đaminh Úy từng mạnh dạn tuyên bố, giữ vững niềm tin là giữ đạo cha ông : “Nếu tôi cả gan bước lên thánh giá, thì tôi xúc phạm đến Chúa và bất hiếu với mẹ cha. Vì song thân sinh ra tôi đã dạy tôi trung thành với niềm tin cho đến chết”. Nói chung các vị tử đạo khi bị bắt không thoát khỏi tình cảm quyến luyến với người thân, có điều các vị chọn lựa Thiên Chúa và tin tưởng phó thác người thân choi Ngài. Nhiều vị đang bị giam được về thăm gia đình, đã bình tĩnh khuyên vợ con vui vẻ cho mình được chịu tử đạo, rồi tự động trở vào tù như các ông Phêrô Dũng, Phêrô Thuần, Laurensô Ngôn, Năm Thuông. Ta có thể thấy điều đó trong vài di ngôn cuối cùng sau

  • Ông Martinô Thọ căn dặn các con vào thăm trong tù : “Các con thân mến, cha không còn làm gì giúp các con ở thế gian này được nữa, cha chỉ còn lo chuẩn bị tâm hồn đón nhận những thử thách cuối cùng. Ý Chúa đã muốn cha xa lìa các con mãi mãi, nhưng các con còn có mẹ, hãy cố gắng vâng lời mẹ. Các con lớn hãy nhớ quan tâm săn sóc em mình. Các con nhỏ phải biết kính trọng vâng lời anh chị. Hãy thương yêu nhau, siêng năng làm việc đỡ đần mẹ. Hãy nhớ đọc kinh tối sáng và lần chuỗi Mân Côi hằng ngày. Chúa trao cho mỗi người một thánh giá riêng, hãy vui vẻ vác theo chân Chúa và kiên trung giữ đạo”.
  • Y sĩ Phan Đắc Hòa thì nói : “Cha yêu thương các con và hằng chăm sóc các con, nhưng cha phải yêu Chúa nhiều hơn, các con hãy vui lòng vâng ý Chúa đừng buồn làm chi. Các con ở với mẹ, yêu thương nhau và săn sóc việc nhà….”.

Nói đến tình nghĩa gia đình, chúng ta khó có thể quên một số hình ảnh như : linh mục Emmanuel Triệu vì thương mẹ già ở lại Huế ba tháng dựng nhà cho mẹ, nên mới bị bắt. Ông đội Trung có con gái được phép ở trong tù chăm sóc, nhưng ông bắt con về để kịp học giáo lý với bạn bè trong xứ. Ông Trùm Lê Văn Phụng tại pháp trường gặp lại con gái, cô Anna Nhiên, đã đeo cho con ảnh thánh giá ở cổ mình và nói : “Con hãy nhận lấy kỷ vật của Ba. Đây là ảnh đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, ảnh này quí hơn vàng bạc bội phần. Con hãy luôn mang nơi cổ và trung thành cầu nguyện sớm chiều con nhé !”. Nếu nói đến gia đình tử đạo phải kể : anh em có Anrê Tường – Vinhsơn Tương ; cha con có Án Khảm – Cai Thìn ; con rể bố vợ có Lý Mỹ – Trùm Đích.

Ông Lý Mỹ vì thấy nhạc phụ là ông trùm Đích đã cao niên, mỗi cuộc tra tấn đều tự nguyện chịu đòn hai lần thay thế cho cha. Con gái ông Lý 12 tuổi, trốn mẹ vào tù thăm và thưa : “Xin cha can đảm chịu chết vì Chúa”. Cậu Tường 9 tuổi, con trai ông không đi được, cũng nhắn lời : “Cha đừng lo cho chúng con, cha cứ an tâm vững lòng xưng đạo và chịu chết vì đạo”. Vợ ông, bà Mỹ nói trong tiếng nghẹn ngào : “Vợ con ai mà chẳng thương tiếc nhưng ông hãy hy sinh vác thánh giá rất nặng vì Chúa. Hãy trung thánh đến cùng, đừng lo nghĩ đến mẹ con tôi. Thiên Chúa sẽ quan phòng tất cả”.

  • Hình ảnh nổi bật nhất là bà mẹ binh sĩ Anrê Trông, được đức Lêô XIII trong sắc phong chân phước năm 1900 ca tụng về lòng can trường, đã theo gương “Nữ vương các thánh Tử Đạo”. Bà có mặt trong cuộc hành quyết để dâng hiến người con trai duy nhất. Bà đi cạnh con, không than khóc, không sầu buồn, lại bình tĩnh khuyên con bền chí. Và khi đầu vị tử đạo rơi xuống, bà mạnh dạn tiến vào pháp trường và nói với quan : “Đây là con tôi, xin các ông trả lại cái đầu nó cho tôi”. Rồi bà mở rộng vạt áo, bọc lấy thủ cấp của người con yêu quí, đem về an táng ngay trong nhà.

-Lòng anh dũng hào hùng

Một quan niệm sai lầm các tín hữu dễ mắc phải là tưởng tượng các vị thánh quá linh thiêng như những thiên thần, nghĩ rằng với ơn Chúa, các vị tử đạo chẳng còn biết đau đớn gì nữa. Thực ra, các vị vẫn mang thân phận rất người như chúng ta, cũng sợ đòn đánh tra tấn và luyến tiếc cuộc sống trần gian. Ngay trong số 117 Hiển Thánh Việt Nam, cũng không ít vị đã từng đạp lên thánh giá, có điều sau đó các vị đã hồi tâm và tiếp tục chọn Thiên Chúa.

Thày giảng Tôma Toán, 76 tuổi, đạp lên thánh giá những hai lần. Nhưng khi đã thông hối, thày chấp nhận mọi thử thách cách can đảm lạ thường. Có lần sau 13 ngày bị lột trần, bị trói ngoài sân phơi nắng phơi sương, bị mọi người qua lại sỉ nhục, hành hạ. Thế mà khi quan cho dọn một mâm cơm yêu cầu thày ăn rồi bỏ đạo, thày nói : “Nếu ăn mà phải bỏ đạo, tôi sẽ không bao giờ ăn”. Và thày bị bỏ đói chết gục trong nhà giam.

Chí khí bà Đê (Lê thị Thành), vị thánh nữ Việt Nam duy nhất, cũng không thua kém các bậc nam nhi. Quan quân cho cột các ống tay áo rồi bỏ rắn vào trong người, bà vẫn bình tĩnh đứng yên không nhúc nhích, không sợ hãi. Con cái vào tù thăm, khóc lóc khi thấy thân thể mẹ bầm tím, áo bê bết những vết máu, bà mỉm cười an ủi : “Sao con lại buồn, mẹ mặc áo hoa hồng đấy con ạ”. Bà coi những vết máu như vòng hoa khoác lên cổ người chiến sĩ thắng trận trở về.

Lòng anh dũng của các chứng nhân tử đạo đã được tô điểm thêm bằng sự kiên trì theo năm tháng. Chấp nhận bản án, và bình tĩnh chờ đợi, không một ai quyên sinh để tự kết liễu đời mình. Một phụ nữ ngoại giáo tặng linh mục Gioan Đạt lọ độc dược để khỏi kéo dài những ngày bị tra tấn khổ đau; một viên quan yêu cầu đức cha Delgado Y uống thuốc độc theo kiểu những người “quân tử” Đông Phương thường làm. Nhưng các ngài lại dùng chính cơ hội ấy trình bày quan điểm Giaó hội về mạng sống con người.

Kịch diễn cảnh quan nha đang tra hỏi người theo đạo, xứ đạo Alberta- Canada

-Lòng bao dung thứ tha

Nếu lòng anh dũng giúp các vị tử đạo bình thản đón nhận cái chết không run rẩy, không quỵ lụy khóc than, thì lòng bao dung thứ tha mới là đặc tính phân biệt vị tử đạo với những vị anh hùng vì lý do khác.

Các tín hữu chỉ thực sự chết vì đạo nếu biểu lộ được tình yêu, lòng nhân ái, sự bao dung của Tin Mừng. Các vị chắc chắn không đồng ý với bản án bất công của triều đình nhưng như Đức Giêsu trên thánh giá vẫn cầu nguyện cho quân lính giết hại mình, các chứng nhân tử đạo vẫn tiếp tục yêu thương vua quan và chính những người hành xử mình.

Thừa sai Gagelin Kính gửi thư cho bạn bè : “Tôi sẵn lòng tha thứ cho những kẻ áp bức tôi”.

Chuyện linh mục Théophane Vénard Ven, khi viên quan nói : “Tôi phải theo lệnh vua, đừng giận tôi nhé”, ngài đáp : “Tôi chẳng ghét gì ai cả, tôi sẽ cầu nguyện nhiều cho quan”.

Cụ Hoàng Lương Cảnh làm cho quan quân phá lên cười, vì khi họ yêu cầu cụ đọc : “Cầu Chúa Giêsu, xin cho các quan trị nước cho yên càng ngày càng thịnh”.

Linh mục Phan Văn Minh trong tù đã giải tội cho bếp Nhẫn, kẻ đã dẫn lối cho quan quân bắt ngài. Cũng vậy, linh mục Đặng Đình Viên, trên đường ra pháp trường, ban phép lành xá giải cho hai phụ nữ tố giác nơi cha trú ẩn.

Ông Lê Văn Phụng tại pháp trường nhắn nhủ con trai mình : “Con ơi, hãy tha thứ, đừng tìm báo thù kẻ tố giác ba nhé”. Và dặn dò thân hữu : “Hãy tha thứ các bạn ơi. Hãy tha thứ, vì chính tôi đã thứ tha”.

Linh mục Phạm Khắc Khoan và hai thày Đinh Văn Thanh, Nguyễn Văn Hiếu trước lúc bị xử chém đã giơ tay lên trời cùng cẩu nguyện : “Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, Chúa trời đất, chúng con hiến dâng mạng sống cho Ngài. Xin Chúa chúc phúc cho nhà vua được cai trị lâu dài trong an bình. Xin biến đổi trái tim vua, để vua tin theo đạo thật, đạo duy nhất đem lại cho con người hạnh phúc đích thực”.

Việc chiêm ngưỡng lòng bao dung thứ tha của các vị tử đạo cho phép chúng ta mường tượng ra khuôn mặt của các ngài: không một chút bất mãn tức tối, không một chút oán ghét hận thù, ánh mắt và nụ cười của các ngài toát lên nét dịu hiền thông cảm. Thế nhưng, còn hơn thế nữa, các ngài tràn trề hân hoan ngước nhìn về trời cao vì trong thâm tâm, các ngài tin tưởng rằng : cái chết tử đạo là cái chết vinh quang, sẽ khai mở cho các ngài vào cuộc sống mới muôn đời bất diệt.

14 bức họa thời tử đạo được lưu trữ tại “Hội Thừa Sai, Paris”. Xem chi tiết dẫn giải tại Đây

-Niềm tin phục sinh

Linh mục Nguyễn Văn Xuyên trong thời gian bị giam đã phổ biến cho các tín hữu bài vè lục bát sau :

“Ai ơi giữ lấy túi khôn
Dẫy tràn tin cậy đầy lòng mến yêu
Gươm đao đe dọa dẫu nhiều
Quỉ ma cám dỗ sớm chiều đe loi
Ai mà thắng được trên đời
Mai sau hưởng phúc cõi trời cao sang.”

Với các vị tử đạo, cái chết chính là cuộc thử thách cuối cùng mà họ sẵn sàng mong đợi. Thày Hà Trọng Mậu đại diện cho anh em nói với quan : “Thưa quan, chúng tôi mong ước về bên Chúa như nai mong tìm thấy suối vậy”.

Ông Án Khảm vui vẻ nói với mọi người: “Cha con chúng tôi hôm nay vào Nước Thiên Đàng đây”. Linh mục Nguyễn Văn Hạnh cũng tươi tỉnh đi chào mọi người : “Anh em ở lại, chúng tôi đi về Thiên đàng nhé”. Ông Gioan Cỏn khi thấy người anh em sụt sùi nước mắt, ông nói : “Sao anh lại khóc, lẽ ra phải mừng cho tôi chứ”.

Ngoài ra trong các bức thư trao đổi với gia đình và bạn bè, các vị tử đạo không chào vĩnh biệt mọi người mà chỉ chào tạm biệt, hẹn ngày tái ngộ. Thày Nguyễn Đình Uyển trả lời thắc mắc kẻ dọa chém đầu mà thấy thày không sợ rằng : “Hãy chém đi, đến ngày phán xét, tôi lại được cái đầu khác”. Linh mục Nguyễn Văn Xuyên diễn tả niềm tin này bằng câu : “Thưa quan, tôi chọn cái chết để được sống đời đời, hơn là nghe quan sống thêm ít lâu rồi muôn đời bị tiêu diệt”. Linh mục Lê Bảo Tịnh thì nói : “Thân xác tôi đây, các ông muốn làm gì thì làm, tôi sẵn sàng không oán thán, nó chết đi, nhưng mai này sẽ sống lại vinh quang”. Niềm tin sống lại của các chứng nhân ấy được bộc lộ khá rõ nét, vì chính vua Minh Mạng cũng phải lo lắng bồn chồn trong vụ án linh mục Gagelin Kính. Chính vua ra lệnh canh mả vị tử đạo ba ngày, sợ ngài sống lại, rồi còn cho đào lên xem hài cốt có còn đó chăng, sau mới chôn lại.

-TỔNG KẾT

Cuối cùng, bài học rút ra từ những cái chết của các vị Tử Đạo là bài học của sự sống. Cái chết nguyên nó chẳng có giá trị gì hết, chính sự sống mới làm nên muôn điều huyền diệu. Sự sống đó chính là tình yêu với con người chung quanh, tình yêu với những gì cao thượng và chân thật. Tình yêu đó bùng lên cách mãnh liệt trong mầu nhiệm tự hủy và hiến dâng.

Bài học của các vị tử đạo không phải là khơi lên máu nóng tìm đến cái chết, mà chính là sống hiến thân từng giây từng phút của đời mình cho Thiên Chúa và tha nhân. Sự sống đó luôn kêu mời chúng ta : mỗi ngày chết đi những yếu đuối tầm thường, để can đảm làm chứng tá đấu tranh cho Chân lý. Sự sống đó hứa hẹn với chúng ta một ngày sau rạng rỡ, ngày đoàn tụ với cha anh chúng ta trên cõi bất diệt.


Nguồn: Tin Mừng .Net


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ


The


Links:

Tin Mừng.Net

Đàn Chim Việt

Giới Trẻ Xuân Lộc

Advertisements


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s