Hillary Clinton- Chọn Lựa và Thách Thức Trên Thế Giới Mạng

 

Bài đọc suy gẫm:
Quyền sử dụng internet và việc làm trái đạo lý: Những chọn lựa và thách thức trong một thế giới nối mạng
Bài phát biểu của bà Ngoại trưởng Hillary Clinton trước cử tọa sinh viên tại Trường đại học George Washington
Washington DC, ngày 15/02/2011
Lê Minh chuyển ngữ (1) Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

Cám ơn quý vị và xin chào. Thật là thú vị, hôm nay một lần nữa tôi có dịp trở lại khuôn viên của Trường đại học George Washington, nơi mà cách nay hơn 20 năm tôi đã có mặt để làm một số công việc khác nhau. Đặc biệt tôi chân thành cám ơn ông Knapp, chủ tịch Hội đồng quản trị và ông Lerman, Hiệu trưởng trường, bởi vì đây là một cơ hội lớn để tôi trình bày về một vấn đề quan trọng, rất đáng cho công dân và các chính phủ các nơi lưu tâm. Và có lẽ hôm nay trong phần trình bày này, chúng ta có thể bắt đầu một cuộc tranh luận quyết liệt để đáp ứng những nhu cầu mà chúng ta đã tận mắt thấy qua hệ thống truyền hình trong thời gian vừa qua. 

Chỉ vừa qua khỏi nửa đêm ngày 28 tháng Giêng thì toàn bộ internet tại Ai Cập bị cắt. Trong bốn ngày trước đó, hàng trăm ngàn người dân Ai Cập đã xuống đường tuần hành đòi phải có một Chính phủ mới. Và cả thế giới, qua Tivi, máy tính xách tay, cùng các loại điện thoại di động và điện thoại “thông minh” đã dõi theo từng bước đi của các sự kiện. Những hình ảnh, các đoạn videos từ Ai Cập tràn ngập các trang mạng. Trên trang Facebook và Twitter, các ký giả liên tục đưa lên các bài tường thuật tại chỗ. Những người biểu tình phối hợp và kết nối những bước kế tiếp. Người dân thuộc đủ mọi tầng lớp, tuổi tác đã chia sẻ với nhau những hy vọng cũng như những nỗi lo sợ trong cái thời khắc quan trọng này của lịch sử nước họ.

Hàng triệu người khắp năm châu đồng thanh đáp trả: “Các bạn không cô đơn chúng tôi cùng sát cánh với các bạn”. Thế là chính phủ liền ngắt cầu dao điện: mạng điện thoại di động bị cắt; sóng truyền hình bị nhiễu và hầu như toàn thể mọi người không vào được mạng internet. Chính phủ không muốn người dân trao đổi với nhau và cũng không muốn báo chí đưa tin. Và đương nhiên là cũng không muốn thế giới dõi theo.

Những biến cố ở Ai Cập làm cho chúng ta nhớ đến cuộc biểu tình ở Iran trước đó 18 tháng, khi người dân xuống đường phản đối kết quả bầu cử. Những người biểu tình khi đó cũng đã sử dụng đến các trang mạng để tổ chức nhau lại. Một đoạn video quay được bằng điện thoại cầm tay cho thấy một cô gái trẻ tên Nadia bị lực lượng dân quân giết chết, và chỉ trong vòng vài tiếng đồng hồ, đoạn video ấy đã được loan truyền rộng rãi và được nhiều người xem.

Nhà cầm quyền Iran cũng sử dụng công nghệ. Lực lượng Vệ binh Cách mạng rình rập các thành viên của Phong trào Xanh bằng cách theo dõi hồ sơ cá nhân trên mạng. Cũng giống như trường hợp Ai Cập, Chính phủ nhất loạt cắt mạng internet và điện thoại di động một thời gian. Chỉ sau khi nhà cầm quyền lùng bắt tại gia, tấn công ký túc xá các trường đại học, bắt bớ hàng loạt, tra tấn và bắn vào đám đông, thì cuộc biểu tình mới chấm dứt.

Tuy nhiên, đoạn kết ở Ai Cập lại khác. Những cuộc biểu tình vẫn tiếp tục mặc dầu mạng internet bi cắt. Người dân tổ chức xuống đường bằng cách phân phát tờ rơi, truyền miệng, sử dụng modem không cố định và máy fax để liên hệ với thế giới. Sau năm ngày, Chính phủ nới lỏng kiểm soát và Ai Cập lại được nối mạng với thế giới bên ngoài. Tuy nhiên Chính phủ vẫn muốn kiểm soát người biểu tình bằng cách ra lệnh cho các công ty điện thoại di động gởi các mẩu tin nhắn với nội dung ủng hộ Chính phủ và bắt bớ các Bloggers và những ai kêu gọi biểu tình trên mạng internet. Thế nhưng 18 ngày sau khi có các cuộc biểu tình phản đối thì Chính phủ sụp và Tổng thống thì từ chức.

Những gì đã xảy ra tại Ai Cập và Iran, mà ở nước này một lần nữa lại có bạo lực để trấn áp những người biểu tình đòi các quyền tự do căn bản, khiến ta cần phải chú ý nhiều hơn là chuyện sử dụng internet. Trong cả hai vụ, ở Ai Cập và ở Iran, người dân biểu tình chỉ vì họ vô cùng thất vọng với những điều kiện sống về mặt kinh tế và chính trị của họ. Họ nổi dậy, tuần hành và hô to các khẩu hiệu và nhà cầm quyền theo dõi họ, ngăn chặn và bắt họ. Mạng internet chẳng hề làm chuyện này mà chính con người làm ra cả. Tại cả hai quốc gia này, cách thức người dân và nhà cầm quyền sử dụng mạng internet phản ánh quyền năng của công nghệ kết nối, với một bên là công cụ thúc đẩy tiến trình thay đổi chính trị, xã hội, kinh tế và bên kia là phương tiện trù dập, ngăn chặn ước vọng đổi thay này.

Hiện nay có những luồng ý kiến khác nhau đangtranh cãi xem mạng internet có tác dụng để giảiphóng hay là một công cụ dùng để đàn áp. Nhưng tôi cho rằng tranh luận này là lạc đề. Không phải người dân Ai Cập có được cảm hứng chỉ vì họ sử dụng mạng Twitter để thông tin với nhau, mà là họ đồng cảm với nhau và kiên trì đòi hỏi một tương lai xán lạn hơn. Iran không đáng sợ vì việc nhà cầm quyền sử dụng trang mạng Facebook để theo dõi và bắt bớ các thành viên đối lập. Iran thật sự đáng sợ bởi vì Chính phủ nước này thường xuyên vi phạm nhân quyền. 

Nói thế có nghĩa là phẩm giá đã gây ra những hành động này để chúng trở thành nguồn cảm hứng cho chúng ta hoặc khiến chúng ta thấy bị xúc phạm, đó là sự ý thức về nhân phẩm, về những quyền làm người xuất sinh từ nhân phẩm đó và những nguyên tắc cơ bản làm cơ sở cho cái nhân phẩm đó. Và cũng chính những phẩm giá này đã thúc đẩy chúng ta hướng về con đường phía trước. Hiện nay có 2 tỷ người nối mạng, tức là gần một phần ba nhân loại. Chúng ta reo hò từ mọi chân trời góc bể, từ khắp nơi đang sống dưới các chính thể khác nhau và theo mọi hệ thống tín ngưỡng khác nhau. Và càng ngày chúng ta càng cần đến mạng internet khi cần dắt dẫn những nhu cầu quan trọng trong cuộc sống của mình.

Mạng internet đã trở thành một không gian chung cho thế kỷ XXI – thành quảng trường của thế giới, thành lớp học, chợ búa, tiệm café và phòng trà của thế giới. Chúng ta định hướng và được định hướng qua những gì đang xảy ra nơi quảng trường ấy, tất cả 2 tỷ người đang sử dụng nó và con số đang tăng dần. Và điều này đem đến cho chúng ta một thách thức. Để duy trì một hệ thống mạng có thể đem lại tiện ích tối đa cho thế giới, chúng ta cần phải nghiêm chỉnh bàn thảo những nguyên tắc sẽ dẫn dắt chúng ta, những luật chơi nào cần tồn tại và không nên tồn tại và tại sao lại như vậy, những thái độ nào cần được khuyến khích hoặc cần ngăn cản và làm những điều đó như thế nào.

Mục đích không phải là bảo người ta cách sử dụng mạng internet như kiểu bảo người ta cách thức sử dụng, tụ tập tại quảng trường, dù đó là quảng trường Tahrir hay quảng trường Times. Giá trị của những không gian này có được từ những hoạt động mà người ta theo đuổi, từ việc tổ chức biểu tình cho đến bán rau quả, cho tới chuyện ngồi trò chuyện riêng tư với nhau. Những khoảng không gian này cung cấp cho chúng ta cái mặt bằng cởi mở và mạng internet cũng làm những chuyện như vậy. Internet chẳng phục vụ cho nhu cầu của riêng ai và nó cũng chẳng khi nào làm điều đó. Nhưng nếu người dân từ khắp nơi trên thế giới đều nối mạng hằng ngày và có được những kinh nghiệm quý báu thì chúng ta cần chia sẻ với nhau một tầm nhìn đủ sức dắt dẫn chúng ta.

Cách đây một năm tôi có đưa ra một khởi điểm cho tầm nhìn đó bằng cách kêu gọi thế giới quan tâm hơn nữa đối với quyền tự do sử dụng internet, bảo vệ nhân quyền trên mạng internet cũng như ở xã hội bên ngoài mạng internet. Quyền cho các cá nhân được tự do bảy tỏ các quan điểm, các kiến nghị gửi đến lãnh đạo, quyền được thờ phụng theo niềm tin của mình – đó là những quyền phổ cập cho dù chúng được bày tỏ tại một quảng trường hay trên một trang Blog cá nhân. Quyền tự do hội họp và lập hội cũng áp dụng với không gian mạng. Ở thời đại ngày nay, người ta dễ dàng đến với nhau qua mạng để cùng đeo đuổi những quyền lợichung cũng giống như việc làm đó trong nhà thờ hay tại một nơi hội họp của dân lao động.

Kết hợp lại tất cả những quyền tự do bày tỏ chính kiến, hội họp và giao tiếp trên mạng, tôi xin gọi là quyền tự do kết nối. Hoa Kỳ ủng hộ quyền tự do này đối với người dân ở bất cứ nơi nào trên thế giới và chúng tôi cũng kêu gọi các quốc gia khác hãy làm như vậy. Bởi vì chúng tôi muốn người dân có cơ hội thực thi quyền lợi này. Chúng tôi cũng ủng hộ việc nới rộng hơn mạng internet để có thêm người sử dụng. Và để đạt tiện ích tối đa, mạng internet phải hoạt động tốt, đều và chúng tôi ủng hộ một hệ thống mạng đa chiều như hệ thống mà chúng ta đang có ngày hôm nay, là một hệ thống đang chạy rất tốt cho dù có những trắc trở ở những khâu mạng khác nhau, cách biệt về biên giới, hay quốc gia.

Trong thời gian tới đây, người dân ở khắp nơi vẫn tiếp tục sử dụng mạng internet để giải quyết một số vấn đề và tiết lộ những vụ tham nhũng: từ việc người dân Nga sử dụng mạng internet để dò tìm các vụ cháy rừng và lập ra những đội cứu hỏa thiện nguyện, cho đến những trẻ em ở Syria sử dụng trang mạng Facebook để công khai những vụ thầy giáo hành hạ học trò; và những cuộc vận động trên mạng tại Trung Quốc để giúp phụ huynh tìm kiếm con em mất tích.

Cùng lúc đó, mạng internet cũng bị ngăn trở bằng hàng vạn cách khác nhau. Ở Trung Quốc, Chính phủ kiểm duyệt nội dung và chuyển yêu cầu kết nối vào những trang mạng không có thật. Ở Miến Điện, những website cung cấp thông tin độc lập đều bị đánh phá các kiểu. Ở Cuba, Chính phủ cố gắng xây dựng một mạng internet riêng cho mình và không cho phép công dân mình kết nối với mạng bên ngoài. Ở Việt Nam, các Bloggers chỉ trích Nhà nước đều bị bắt hay trù dập. Ở Iran, nhà cầm quyền ngăn chặn các website đối lập, theo dõi các trao đổi trên mạng và đánh cắp các thông tin cá nhân để tiện việc truy lùng.

Những động thái này phản ánh một tình trạng phức tạp và manh động, và chắc chắn sẽ trên đà gia tăng trong những năm tới khi có thêm nhiều người được nối mạng. Sự chọn lựa của chúng ta hôm nay sẽ định hướng cho internet trong tương lai. Các doanh nghiệp sẽ phải chọn có nên và bằng cách nào xâm nhập thị trường khi mà internet bị giới hạn. Người ta sẽ phải chọn lựa cách giao tiếp trên mạng như thế nào, chia sẻ những thông tin gì và với ai, nêu lên những ý kiến gì và bằng cách nào. Chính phủ sẽ phải chọn cách cư xử đúng mực để bảo vệ quyền bày tỏ chính kiến, hội họp và lập hội.

Đối với Hoa Kỳ, sự chọn lựa rất rõ ràng. Dưới lăng kính của quyền tự do sử dụng internet, chúng tôi đặt mình về phía công khai. Bây giờ chúng tôi nhận ra rằng mở rộng internet có những thách thức. Việc này cần đến những luật chơi căn bản nhất để chống lại những việc làm sai trái và có hại. Và quyền tự do sử dụng internet cũng có những áp lực của nó, cũng như tất cả những quyền tự do khác. Nhưng chúng tôi tin rằng những tiện ích luôn vượt trội lên trên hết.

Và hôm nay, tôi muốn trao đổi về những thử thách khác mà chúng ta phải đối mặt khi phải bảo vệ và bảo đảm một hệ thống mạng internet tự do và rộng mở. Bây giờ, tôi là người đầu tiên xin nói rằng, không phải tôi hoặc Chính phủ Hoa Kỳ có tất cả các câu trả lời. Chúng tôi không chắc rằng mình có tất cả các câu hỏi. Nhưng chúng tôi cam kết với việc đặt ra những câu hỏi, để có thể đưa đến một cuộc đối thoại và không chỉ bảo vệ những nguyên tắc căn bản phổ thông nhất mà còn có quyền lợi của người dân chúng tôi và các đối tác.

Thử thách đầu tiên là đạt được cả hai sự tự do và an ninh. Sự tự do và an ninh thường được xem là hai vấn đề ngang nhau nhưng đối nghịch; Càng có cái này thì sẽ đánh mất dần cái kia. Thật ra tôi tin rằng cả hai đều bổ sung cho nhau. Không có an ninh thì sự tự do sẽ dễ đổ vỡ. Không có sự tự do thì an ninh là kềm kẹp, đàn áp. Thử thách ở chỗ là làm sao có được đủ an ninh để hưởng đầy đủ tự do, nhưng không quá nhiều hay quá ít để gây phương hại đến tự do.

Tìm kiếm một biện pháp thích hợp cho internet thật là quan trọng, bởi vì phẩm chất đem đến cho internet một lực phát triển chóng mặt – sự giao mở, sự ảnh hưởng đồng bộ, và tốc độ – cũng có thể đem đến những tai họa khôn lường. Bọn khủng bố và các thành phần cực đoan sử dụng internet để chiêu mộ thành viên và lên kế hoạch tấn công. Bọn buôn người sử dụng internet để dụ dỗ lôi kéo nạn nhân vào con đường nô lệ. Bọn chụp ảnh ấu dâm sử dụng internet để khai thác bóc lột trẻ em. Tin tặc (Hackers) đột nhập vào tài khoản, hệ thống di động và email cá nhân.

Do đó chúng ta cần có những chiến lược hữu hiệu để đối đầu với những đe dọa này và thêm nữa mà không ảnh hưởng đến sự mở rộng của internet. Hoa Kỳ nỗ lực truy lùng trên mạng để bắt những kẻ phạm tội hình sự và bọn khủng bố. Chúng tôi cũng đầu tư vào hệ thống an ninh mạng quốc gia, cả hai là để phòng ngừa nguy cơ và giảm thiểu tác hại. Chúng tôi cũng đang hợp tác với nhiều quốc gia để chống bọn tội phạm mạng. Hoa Kỳ cũng đầu tư giúp một số quốc gia khác tăng cường lực lượng an ninh mạng. Chúng tôi cũng ký vào Công ước Budapest về Tội phạm Mạng, là công ước đề ra những bước mà các quốc gia phải cam kết rằng không để bọn tội phạm và khủng bố lạm dụng internet trong khi vẫn bảo vệ quyền tự do của công dân mình.

 

Bằng mọi nỗ lực để ngăn ngừa những cuộc tấn công hoặc bắt bọn tội phạm, chúng tôi vẫn duy trì cam kết đối với nhân quyền và các quyền tự do căn bản. Hoa Kỳ quyết tâm ngăn chặn các hoạt động khủng bố và tội phạm mạng, cũng như bên ngoài xã hội, và trong cả hai trường hợp, chúng tôi cam kết theo đuổi những mục tiêu này phù hợp với luật pháp và giá trị của chúng tôi.

Ngày nay có những kẻ hành xử trái ngược. Vấn đề an ninh chỉ là cái cớ để người ta trù dập, tước đoạt các quyền tự do. Bây giờ, những trò này chẳng còn mới lạ trong thời đại kỹ thuật số nữa nhưng nó đem lại cho những Chính phủ này có được những kỹ thuật mới để truy lùng và bắt các nhà đấu tranh nhân quyền. Những Chính phủ giam cầm bắt bớ Bloggers, săm soi vào các hoạt động ôn hòa của công dân mình và giới hạn quyền tự do sử dụng internet thường là những Chính phủ muốn tìm kiếm sự an toàn cho mình. Thật ra, họ muốn thật đấy và muốn cho mình. Nhưng họ đi sai con đường. Những kẻ trù dập quyền tự do sử dụng internet có thể tiếp tục làm như vậy chỉ được một thời gian nữa thôi, những không thể mãi mãi được. 

Mối thử thách thứ hai là phải bảo đảm cả hai sự minh bạch và bảo mật. Cái hay của mạng internet ở chỗ là việc đưa thông tin các kiểu một cách nhanh chóng đã tạo ra sự minh bạch. Và cái hay nữa là mặc dầu mạng internet là sân chơi chung cho tất cả, nhưng cũng là sân chơi cho mỗi cá nhân trong việc trao đổi với nhau. Và để sân chơi này được tiếp tục, chúng ta phải bảo mật được sự trao đổi giữa cá nhân với nhau trên mạng. Mỗi cá nhân hay tổ chức đều cần có sự bảo mật tuyệt đối trong giao tiếp hay công việc. Trong công việc làm ăn, người ta cần bảo mật các mẫu đối thoại trước khi tung ra các sản phẩm mới. Các nhà báo cần phải bảo mật các nguồn cung cấp thông tin để tránh bị lộ diện hay bị công chúng để ý. Và Chính phủ cũng cần đến sự bảo mật trong công việc giao thiệp trên mạng, cũng như bên ngoài xã hôi. Mặc dầu sự hiện hữu của kỹ thuật kết nối có thể gây khó khăn cho sự bảo mật, nhưng nhu cầu này vẫn không thay đổi.

Bây giờ tôi biết rằng việc bảo mật các thông tin của Chính phủ đang là một đề tài bàn cãi sôi nổi trong suốt vài tháng qua, thông qua bàn tay của Wikileaks, nhưng nhìn dưới nhiều góc cạnh, thì chẳng đáng bàn tí nào. Trên căn bản, vụ tiết lộ của nhóm Wikileaks là một hành động ăn cắp. Các thông tin của Chính phủ đã bị đánh cắp tương tự như cách người ta lén đánh cắp hồ sơ từ bên trong cặp hồ sơ vậy. Có người cho rằng hành động này có thể chấp nhận được bởi vì lẽ ra Chính phủ phải có trách nhiệm điều hành tất cả mọi công việc như thế nào để bàn dân thiên hạ biết rõ mười mươi. Tôi xin phép không đồng ý về điểm này. Hoa Kỳ không thể nào vừa phải bảo toàn an ninh cho công dân mình và vừa đề cao giá trị nhân quyền nếu phải công khai hóa tất cả đường đi nước bước của mọi nỗ lực.

Nếu không bảo mật được thông tin thì Chính phủ sẽ không thể nào làm được việc.

Chẳng hạn như việc thương lượng với các nước thành viên trong khối Xô Viết cũ về vấn đề bảo toàn nguyên liệu hạt nhân. Việc bảo mật hồ sơ này sẽ khiến cho bọn tội phạm hoặc khủng bố khó lòng sở đắc được những nguyên liệu này để gây họa. Hoặc là hãy xem xét nội dung những hồ sơ mà Wikileaks đã tung ra. Không cần phải tìm hiểu xem những hồ sơ giả này là giả hay thật, chúng ta thấy rằng có rất nhiều hồ sơ do Wikileaks tiết lộ có liên quan đến việc vận động nhân quyền trên khắp thế giới. Các nhà ngoại giao của chúng ta có một mối liên hệ chặt chẽ với các nhà đấu tranh, nhà báo và người dân lên tiếng phản đối các Chính phủ độc tài. Đó là công việc đầy nguy hiểm. Việc Wikileaks tiết lộ những hồ sơ này sẽ gây nguy hại cho họ.

Đối với những công việc như thế này, việc bảo mật là cần thiết, nhất là trong thời đại internet toàn cầu, khi mà chỉ cần một cú trỏ con chuột thì tức khắc những thông tin nguy hiểm sẽ được nhanh chóng chuyền tay khắp thế giới. Đương nhiên là Chính phủ cần phải minh bạch trong công việc. Chúng tôi được người dân tin tưởng giao phó trách nhiệm điều hành quốc gia và sự tin tưởng đó phải được thể hiện đúng nghĩa. Do đó chúng tôi cũng phải thận trọng khi giữ kín công việc và thường xuyên xem xét nguyên tắc làm việc để giữ phép tắc nghiêm minh. Ở Hoa Kỳ, chúng tôi có luật lệ là dân chúng phải biết việc làm của Chính phủ và Chính phủ của Tổng Thống Obama có sáng kiến đưa các thông tin của Chính phủ lên mạng, khuyến khích người dân tham gia và tăng tính phổ cập và minh bạch của Chính phủ.

Chính phủ Hoa Kỳ phải có khả năng bảo vệ đất nước, và để giữ gìn sự tự do của người dân và ủng hộ các quyền làm người và quyền tự do của con người trên thế giới, thì cần phải có sự cân bằng giữa công chúng và cái gì không nên đem ra công chúng.

Cái cán cân lúc nào cũng nghiêng về tính công khai nhưng nghiêng hẳn thì hoàn toàn không có lợi cho ai cả. Tôi xin nói rõ, vụ tiết lộ của Wikileaks bắt đầu bằng một hành động ăn cắp, tương tự như kiểu người ta đánh cắp nó từ cặp hồ sơ vậy. Sự thật là chúng tôi không chỉ trích việc Wikileaks sử dụng internet. Qua vụ này, chúng tôi không hề thay đổi lập trường của mình về quyền tự do sử dụng internet.

Và một lời cuối đối với vấn đề này: Có những nguồn tin cho rằng, ngay sau vụ Wikileaks, Chính phủ Hoa Kỳ đã can thiệp vào một số công ty để ép họ từ chối dịch vụ cho Wikileaks. Không phải vậy đâu. Một số nhà chính trị gia và học giả đã kêu gọi các công ty nên tránh liên hệ với Wikileaks, trong khi một số khác thì chỉ trích cách làm của họ. Công chức nhà nước là một phần của hệ thống công quyền, nhưng luôn có một lằn ranh rõ ràng giữa việc nêu ý kiến và ép buộc người ta. Những quyết định do các công ty này đưa ra có thể là do họ có những nguyên tắc và chính sách riêng đối với vụ Wikileaks và Chính phủ Obama không có liên can đến vấn đề này.

Một thử thách thứ ba là bảo đảm quyền bày tỏ ý kiến trong khi vẫn tạo chỗ đứng cho sự bao dung và đúng đắn. Tôi không cần nói ra thì quý thính giả ở đây thừa biết rằng mạng internet là nơi chấp chứa đủ loại trên đời: sự giả dối, đụng chạm, phá phách, sáng kiến, sự thật và cái đẹp.

Sự quy tụ nhiều ý kiến và ý tưởng đã đem lại cho internet tính công khai và cũng phản ánh được sự đa dạng của con người. Trên mạng, ai cũng có tiếng nói của mình. Và bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền bảo vệ quyền bảy tỏ ý kiến cho mọi người. Nhưng những gì chúng ta nói ra đều có hậu quả của nó. Những lời lẽ thù hận và phỉ báng có thể làm căng thẳng, gây chia rẽ và đưa đến xung đột. Trên mạng, sức mạnh này lại được nhân lên gấp bội. Những lời tuyên bố vung vít thường được khuyếch đại lên và không thể rút lại được. Và đương nhiên, mạng internet cũng là nơi giúp tạo sự cảm thông, kết nối và hiểu biết lẫn nhau.

Cũng có người cho rằng, để khuyến khích sự bao dung, thì Chính phủ nên dập tắt những ý kiến đầy thù hận. Chúng tôi tin rằng nếu tìm cách kiềm chế ý tưởng của lời phát biểu thì chỉ chuốc lấy thất bại và thường thì trở thành cái cớ cho những vụ vi phạm quyền bày tỏ ý kiến.

Thật ra, lịch sử cũng đã chứng minh rằng câu trả lời tốt nhất đối với những loại phát biểu như vậy là người ta cần phải lên tiếng nhiều hơn nữa. Người ta có thể và nên lên tiếng chống lại sự hẹp hòi và thù hận. Bằng cách đưa ra ý kiến để tranh luận, những lời lẽ chí tình sẽ được lắng nghe, trong khi những ý tưởng gian dối thì sẽ tàn lụi dần đi; tuy sẽ không tan biến ngay nhưng sớm muộn gì cũng vậy thôi.

Bây giờ, phương hướng này không nhất thiết ngay lập tức bác bỏ những ý tưởng thù hận hoặc thuyết phục những kẻ ngu ngốc phải thay đổi cách suy nghĩ của mình. Nhưng chúng ta đã xác định rằng trong một xã hội thì phương hướng giải quyết theo cách này vẫn có hiệu quả, hơn hẳn bất cứ cách giải quyết nào khác. Rút bài xuống, kiểm duyệt nội dung, bắt bớ kẻ lên tiếng – những hành động này đàn áp tiếng nói, nhưng không hề đả động gì đến những ý tưởng căn bản. Làm như thế chỉ đẩy người ta ra ngoài lề, trong khi việc kết tội họ lại càng bị đào sâu hơn, không thay đổi được gì cả.

Mùa hè năm ngoái, bà Hannah Rosenthal, Đặc sứ Hoa Kỳ về Giám sát và Chống Bài-Do Thái, đã tổ chức một chuyến đi Dachau và Auschwitz với một phái đoàn gồm tu sĩ và các nhà lãnh đạo Hồi giáo tại Hoa Kỳ. Nhiều người trong số họ trước đây đã từng chối bỏ các vụ thảm sát người Do Thái trong Thế chiến thứ II và họ cũng chưa bao giờ lên án việc chối bỏ những vụ thảm sát này. Nhưng sau khi viếng thăm những trại tập trung, họ đã bắt đầu thay đổi cách nhìn nhận của mình. Và chuyến đi đó đã có tác động mạnh. Họ cầu nguyện với nhau, và họ đưa ra những thông điệp hòa bình, và nhiều trong số đó đã được viết bằng tiếng Ả Rập trong quyển lưu niệm. Sau chuyến đi, họ đã đưa ra một tuyên bố rằng họ đã viết và cùng ký tên thẳng thừng lên án việc chối bỏ các vụ thảm sát người Do Thái và các hình thức bài Do Thái. 

Hình thức tụ hội các ý kiến rõ ràng là có hiệu quả. Rõ ràng là các nhà lãnh đạo Hồi giáo này chưa hề bị bắt vì chính kiến của mình hoặc bị buộc phải giữ im lặng. Nơi thờ phụng của họ không bị đóng cửa. Nhà nước cũng không dùng vũ lực để khuất phục họ. Những người khác thì kêu gọi, thuyết phục họ. Và lên tiếng một cách ôn hòa về những lời giảng của họ.

Chiếu theo luật lệ quốc gia và những cam kết quốc tế, Hoa Kỳ có đặt ra một số giới hạn trong vấn đề phát biểu. Chúng tôi có luật để xử lý những lời phỉ báng và vu cáo làm mất danh dự kẻ khác, và những lời phát biểu xúi giục bạo động. Nhưng chúng tôi thực thi những luật lệ này rất rõ ràng, minh bạch và người dân có quyền khiếu nại về cách thức áp dụng. Và chúng tôi cũng không hạn chế những lời phát biểu mà ngay cả khi số đông cảm thấy bị xúc phạm. Nhìn lại lịch sử có nhiều thứ từng bị cấm đoán mà bây giờ nhìn lại chúng ta thấy là hoàn toàn sai. Người dân bị phạt chỉ vì không tuân lệnh Vua, hoặc là gợi ý rằng mọi người sinh ra ở trên đời phải được bình đẳng như nhau, bất kể là sắc dân, phái tính hoặc tôn giáo. Những khắt khe đã phản ánh quan điểm vào thời buổi đó, và hiện nay những khắt khe đó dù đã có biến đổi, vẫn hiện diện tại nhiều nơi trên thế giới.

Nhưng khi nói đến vấn đề phát ngôn trên mạng, Hoa Kỳ vẫn theo đuổi các nguyên tắc ứng xử trong thời đại này. Chúng tôi thiết tha kêu gọi người dân hãy thận trọng với lời phát ngôn, phải biết mức độ nguy hại và ảnh hưởng của những lời phát ngôn trên mạng. Ngay trong quốc gia này, đã từng xảy ra những câu chuyện bắt nạt kẻ khác rồi đưa đến những hậu quả thương tâm. Những người như chúng tôi trong chính phủ cần phải làm gương, giữ gìn lời ăn tiếng nói. Sự lãnh đạo còn có ý nghĩa là cho phép người dân có quyền lựa chọn, chứ không phải là can thiệp và không cho người ta quyền lựa chọn. Chúng tôi bảo đảm quyền được nói với đầy đủ pháp luật và chúng tôi cũng kêu gọi sự kiềm chế để tránh thù hận.

Bây giờ, không dễ gì mà có thể đạt được cả ba nguyên tắc này một cách dễ dàng. Nó sẽ tạo ra căng thẳng, và cũng tạo ra nhiều thách thức. Nhưng chúng ta không cần phải chọn lựa cái nào. Quyền Tự do và vấn đề An Ninh, Minh bạch và Bảo mật, Tự do phát biểu và sự Khoan dung – Tất cả những thứ này tạo thành một xã hội tự do, vững chắc và cởi mở cũng như một hệ thống mạng internet an toàn, tự do và công khai, nhân quyền được tôn trọng, chắc sẽ là nền tảng đưa đến phát triển, giàu mạnh về lâu về dài.

Hiện nay có một số quốc gia đang tiến hành một cách xử lý khác. Họ hạn chế quyền tự do sử dụng internet, và tìm cách dựng lên những bức tường che chắn giữa các hoạt động khác nhau – trao đổi về kinh tế, thảo luận về chính trị, bày tỏ quan điểm tôn giáo và giao tiếp xã hội. Họ muốn giữ cái mà họ mong muốn và ngăn chặn cái mà họ không thích. Nhưng điều này không dễ dàng chút nào. Những website tìm kiếm thông tin giúp kết nối cơ sở làm ăn với khách hàng mới, nhưng đồng thời cũng thu hút người sử dụng bởi vì những website này giúp sắp xếp tin tức và thông tin. Các trang mạng xã hội không chỉ là nơi mà bạn bè trao đổi với nhau hình ảnh mà họ còn trao đổi với nhau những quan điểm chính trị và những quan tâm về xã hội hoặc là giúp người ta tiếp cận với những cơ hội công việc.

Những “bức tường” được dựng lên để ngăn chặn internet, các nội dung chính trị, hoặc ngăn cấm nhiều hạng mục trong quyền bày tỏ ý kiến, hoặc chỉ cho phép một vài kiểu tụ tập ôn hòa nhưng lại cấm đoán những kiểu khác, hoặc trù dập người dân lên tiếng. Những loại “bức tường” này thật ra dựng lên rất dễ dàng nhưng duy trì rất khó. Không phải bởi vì cái khó không thể bó cái khôn, người ta có thể tìm cách vượt tường lửa được, mà là vì không hề có một mạng internet riêng cho kinh tế, hoặc riêng cho xã hội hoặc riêng cho chính trị, mà chỉ có một mà thôi. Và việc duy trì những bức tường chắn với mong muốn thay đổi sự thật này sẽ phải trả một cái giá về Đạo đức, Chính trị và Kinh tế. Có những quốc gia có thể chi trả nổi những cái giá này một thời gian, nhưng tôi tin rằng đó là việc làm không khả thi về lâu dài. Người ta sẽ phải trả một cái giá nếu chỉ tìm cách mở rộng internet cho công việc buôn bán làm ăn nhưng lại đóng chặt đối với quyền tự do bày tỏ ý kiến – đó là cái giá đối với hệ thống giáo dục, sự ổn định chính trị, tính năng động xã hội và tiềm năng kinh tế.

Khi những quốc gia tìm cách ngăn chặn tự do internet, thì họ đã tự đặt cho mình một giới hạn về tương lai của nền kinh tế. Giới trẻ không có thể tiếp xúc được với những trao đổi và tranh luận ở thế giới bên ngoài, hoặc không có cơ hội cọ xát với những câu hỏi khác nhau, sẽ khiến cho họ chỉ loanh quanh lẩn quẩn với lề lối làm việc cũ rích và hạn chế nảy sinh sáng kiến. Và việc ngăn cấm người dân lên tiếng chỉ trích quan chức chỉ khiến cho Chính phủ đó dễ rơi vào vòng tham nhũng, sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế về lâu dài. Tự do tư tưởng và một sân chơi công bằng chính là quy luật thúc đẩy một nền kinh tế phát triển mạnh mẽ.

Do đó chúng ta không ngạc nhiên khi tuần rồi Hội đồng Thương mại Âu-Mỹ, một nhóm gồm 70 công ty, đã ra một bản tuyên bố chung về tự do internet. Nếu bạn đầu tư vào những quốc gia có sự kiểm duyệt gắt gao và những chính sách theo dõi chặt chẽ, thì trang website của bạn có thể bị đóng bất cứ lúc nào mà không cần báo trước, máy chủ của bạn bị Nhà nước đột nhập đánh phá, thiết kế của bạn bị đánh cắp, hoặc nhân viên của bạn bị đe dọa bắt bớ hoặc bạn bị trục xuất vì không chấp hành một cái lệnh có động cơ chính trị. Cái rủi ro sau cùng và đối với nhân phẩm của bạn chắc chắn không thể so sánh được với cái lợi làm ăn đem lại, nhất là nếu đem so với cơ hội làm ăn ở những nơi khác.

Hiện nay người ta nói đến một số trường hợp, đặc biệt là Trung Quốc, được xem là ngoại lệ, là nơi mà mức độ kiểm duyệt internet rất gắt gao và kinh tế phát triển mạnh. Dễ hiểu thôi, bởi vì vẫn có nhiều công ty nhắm mắt làm ngơ, sẵn sàng chịu đấm ăn xôi, miễn là kiếm được tiền. Chính phủ có thể thành công trong việc kiểm soát từng phần internet trong một giai đoạn ngắn hoặc trung, nhưng những sự hạn chế này về lâu dài sẽ khiến cho quốc gia trả một giá đắt, vì nó sẽ ảnh hưởng lên sự phát triển kinh tế.

Còn có cái giá về chính trị nữa. Hãy nhìn vào truờng hợp của Tunisia, ở đây các hoạt động kinh tế trên mạng là một phần quan trọng trong công việc làm ăn với Âu Châu, trong khi Nhà nước lại kiểm quyệt gắt gao các vấn đề khác, giống như tại Trung Quốc và Iran. Nhà nước Tunisia đã thất bại trong việc duy trì một hệ thống internet kinh tế tách biệt với mọi thứ khác. Người dân, đặc biệt là giới trẻ đã tìm ra cách kết nối, đến với nhau để chia sẻ những ưu tư, nhọc nhằn, và việc này đã giúp giới trẻ Tunisia làm nên cuộc cách mạng vừa qua.

Ở Syria cũng vậy, Chính phủ đang làm những chuyện trái ngược nhau. Chỉ mới tuần rồi, họ chấm dứt ngăn chặn trang mạng xã hội Facebook và YouTube lần đầu tiên trong ba năm nay, và hôm qua họ lại tuyên phạt một cô gái tội làm gián điệp với 5 năm tù ở chỉ vì bày tỏ chính kiến của mình trên trang Blog cá nhân.

Chuyện này cũng vậy, không thể biện hộ được. Không thể có được nhu cầu về một sân chơi để bày tỏ ý kiến nếu người sử dụng lại bị bỏ tù. Chúng tôi tin rằng những Chính phủ nào tìm cách dựng lên các bức tường lửa cho dù là ngăn lọc hay kiểm duyệt nội dung, hay tấn công đánh phá những ai thực thi quyền tự do bày tỏ ý kiến trên mạng, thì Chính phủ đó sẽ tự đóng khung mình mà thôi. Họ sẽ tự đặt mình vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan của các nhà độc tài và sẽ phải chọn lựa giữa việc hạ bức tường xuống hoặc phải trả cái giá đắt cho chỗ đứng của mình, có nghĩa là khi đến nước cùng rồi thì ra sức ngăn chặn các luồng thông tin và đàn áp dân chúng bằng mọi giá, tức là đánh mất đi cơ hội để lắng nghe những ý kiến đóng góp và sinh mạng oan uổng của một số người.

Tôi đề nghị các nước ở năm châu hãy cùng chúng tôi đánh cược vào một cuộc chơi cho phép người dân tự do internet rộng rãi, vì nó nhất định sẽ đem đến một quốc gia hưng thịnh. Nguyên gốc của cuộc chơi mà Hoa Kỳ liên tục mở rộng trong suốt hơn 200 năm qua, đã cho phép xã hội tiến triển không ngừng, theo đó luật lệ được làm nền tảng cho công lý và hòa bình và sáng kiến trong mọi ngành nghề được nở rộ. Đây không phải là đánh cược vào máy vi tính và điện thoại di động, mà một cuộc đánh cược vào chính quần chúng nhân dân. Cùng với các đối tác khắp năm châu, chúng tôi tin tưởng rằng chúng ta đang cùng đặt cược để đem lại những quyền phổ cập cho con người, là động cơ thúc đẩy để xã hội mở rộng, chúng ta quyết giữ cho internet mở rộng đến tất cả mọi người. Và như thế sẽ đặt viên gạch lót đường để chúng ta cùng chia sẻ sự thăng tiến và thịnh vượng. Hoa Kỳ sẽ tiếp tục đề cao việc phát triển internet ở bất cứ nơi nào mà quyền con người được tôn trọng và rộng mở cho mọi sáng kiến và phát triển đa dạng, đủ vững mạnh để người dân đặt niềm tin vào, và đủ tin cậy để xác minh công việc làm của họ.

Trong những năm vừa qua, chúng ta đã thấy sự xuất hiện của nhiều liên kết giữa các quốc gia trên toàn cầu, các công ty, các tổ chức dân sự và các nhà đấu tranh thời đại điện tử tìm cách thăng tiến các mục tiêu này. Chúng tôi có nhiều đối tác mạnh trên khắp thế giới và chúng tôi cũng rất phấn khởi qua việc làm mới đây của Sáng Kiến Mạng Toàn Cầu (Global Network Iniative) vì qua đó sẽ giúp các công ty, các trí thức và các tổ chức Từ thiện phi chính phủ (NGOs) ngồi lại làm việc với nhau để giải quyết các thử thách mà chúng ta đang đối mặt hàng ngày như làm sao giải quyết khi một Chính phủ đưa ra yêu cầu kiểm duyệt hoặc là quyết định xem có nên hay không sang nhượng các kỹ thuật mà người ta có thể dùng để vi phạm nhân quyền hoặc là làm sao giải quyết vấn đề bảo mật trong phạm vi của việc sử dụng lưu trữ thông tin hoàn toàn trên mạng. Chúng tôi cần đến những đối tác mạnh, có nguyên tắc, có quyết tâm đề cao quyền tự do internet để cùng nhau thăng tiến mục đích chung này.

Chúng tôi cũng nhận ra rằng để công việc có ý nghĩa, thì quyền tự do trên mạng phải được đưa vào thế giới thực tiễn. Đó là lý do tại sao chúng tôi hiện đang cùng làm việc với Mạng lưới các tổ chức Xã hội dân sự 2 để kết nối với các tổ chức NGOs và nhắm vào vấn đề kỹ thuật và huấn nghệ để nhân rộng tầm ảnh hưởng.

Chúng tôi cũng cam kết tiếp tục đối thoại với mọi thành phần trên thế giới. Tuần rồi, có lẽ quý vị có nghe là chúng tôi đã cho phổ biến trang Twitter bằng tiếng Ả Rập và Farsi, thêm vào những ngôn ngữ mà chúng tôi đã có như tiếng Pháp và Tây Ban Nha. Chúng tôi sẽ đưa ra những trang tương tự bằng tiếng Trung, tiếng Nga và Hindi. Điều này sẽ cho phép chúng tôi có những luồng trao đổi hai chiều, thực tiễn với những người được kết nối mà chưa bị Chính phủ họ ngăn cản.

Cam kết của chúng tôi đối với quyền tự do internet là cam kết đối với quyền tự do của con người và lời nói của chúng tôi đi đôi với hành động. Giám sát và đáp lại những đe dọa đối với quyền tự do internet đã trở thành những công việc hàng ngày của các nhà ngoại giao chúng tôi và của các chuyên gia. Họ đang theo đuổi mục tiêu vì quyền tự do internet tại các tòa đại sứ, văn phòng đại diện khắp nơi trên thế giới. Hoa Kỳ đang hỗ trợ người dân tại nơi có chế độ kiểm duyệt internet tìm cách “vượt tường lửa”, đi trước các nhà kiểm duyệt, tin tặc, và những kẻ côn đồ chuyên tìm cách đánh đập, bắt bớ những người dám lên tiếng trên mạng.

Trong khi chúng tôi rất rõ ràng trong việc bảo đảm và ủng hộ các quyền tự do, thì sự vi phạm muôn vẻ đối với những quyền này ngày càng gia tăng. Tôi biết có người chỉ trích rằng tại sao chúng tôi không đổ tiền đầu tư vào một kỹ thuật cao siêu, nhưng chúng tôi tin rằng không hề có một giải pháp toàn hảo trong cuộc chiến chống trù dập internet. Không dễ dàng gì đâu (cười). Các bạn trẻ bên dưới kia, hãy nghĩ cách dùm đi (cười). Và theo đó, chúng tôi chọn hướng giải quyết một cách bao quát và đầy tính sáng tạo, là cách giải quyết phù hợp phương thức ngoại giao và kỹ thuật sẵn có, bảo đảm một hệ thống chạy đều và hỗ trợ trực tiếp cho những ai đang phải đương đầu với khó khăn. 

Trong những năm vừa qua, chúng tôi đã bỏ ra $20 triệu đô để trợ cấp cho các cuộc thi, thông qua một tiến trình công khai, bao gồm các chuyên gia thẩm định việc làm của một nhóm chuyên gia kỹ thuật và các nhà đấu tranh làm việc cật lực để tìm ra phương pháp chống vi phạm tự do internet. Năm nay chúng tôi sẽ cấp thêm $25 triệu đô để tiếp tục công việc này. Chúng tôi đang tiến hành theo phương thức đầu tư hiệu quả, hỗ trợ các doanh nghiệp về kỹ thuật, công cụ và huấn nghệ và tính thích nghi vì ngày càng có nhiều người chuyển sang sử dụng phương tiện di động. Chúng tôi luôn lắng nghe, đối thoại với các nhà đấu tranh thời đại internet để tìm hiểu xem họ cần giúp đỡ gì và cách giải quyết đa phương của chúng tôi có nghĩa là chúng tôi sẵn sàng thích nghi với những sự đe dọa mà các nhà đấu tranh đang đối diện. Chúng tôi ủng hộ công cụ đa phương vì nếu các Chính phủ độc tài tìm ra cách đánh phá, thì ngay tức khắc đã có sẵn một nguồn khác thay thế. Và chúng tôi đầu tư vào những kỹ thuật tối tân nhất bởi vì chúng tôi biết rằng các Chính phủ độc tài luôn tìm cách nâng cao kỹ thuật đàn áp và chúng tôi muốn đi trước họ.

Cũng giống vậy, chúng tôi đang đi đầu trong việc đẩy mạnh vấn đề an ninh mạng và sang kiến mạng, giúp nâng cao khả năng ở các quốc gia đang phát triển, đi tiên phong trong việc phát triển các tiêu chuẩn điều hành công khai và nâng cao sự hợp tác để đáp trả các mối đe dọa an ninh mạng. Hôm qua ông Thứ trưởng Quốc phòng William J. Lynn III cũng đã có bài phát biểu về vấn đề này rồi. Tất cả những nỗ lực trong một thập niên qua là để xây dựng một hệ thống mạng công khai, an toàn và đáng tin cậy. Và trong những năm sắp tới đây, Chính phủ sẽ hoàn tất một chiến lược quốc tế về không gian mạng, tạo tiền đề dẫn dắt chúng ta tiếp tục công việc vào tương lai.

Đây là một ưu tiên trong chính sách ngoại giao của chúng tôi, và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong những năm sắp tới. Đó là tại sao tôi lập ra Văn phòng Điều phối các vấn đề Không gian mạng (Ofice of the Coordinator for Cyber Issues), để nâng cấp an ninh mạng và các vấn đề khác và tạo sự phối hợp với các cơ quan của Bộ Ngoại giao cũng như các ban bộ khác. Tôi chỉ định ông Christopher Painter, một cựu Giám đốc đặc trách an ninh mạng tại Hội đồng An ninh Quốc gia, cũng là một chuyên gia trong ngành này, để cầm đầu cơ quan này.

Chúng ta đã chứng kiến con số người sử dụng internet gia tăng không ngừng trong suốt 10 năm qua. Nhưng đó chỉ là sự khởi đầu. Trong vòng 20 năm tới, sẽ có hơn 5 tỷ người sử dụng internet. Họ là những người sẽ quyết định tương lai.

Như vậy chúng ta đang chơi một trò chơi kéo dài. Không giống như những gì đang xảy ra trên mạng, những tiến triển trong lĩnh vực này sẽ đo đếm bằng năm, chứ không phải bằng giây phút. Con đường mà chúng ta đang đi hôm nay sẽ xác định xem người theo chúng ta có cơ hội nếm trải sự tự do, an toàn và phát đạt của một hệ thống mạng rộng mở hay không.

Trong khi chúng ta đang hướng về phía trước, hãy nhớ rằng quyền tự do internet không chỉ là một hoạt động mạng nào đó, mà là chuyện làm sao để internet mãi là không gian mà nơi tất cả các hoạt động đủ kiểu diễn ra, từ bé đến lớn, từ to đến nhỏ, cho đến công việc bình thường nhất mà người ta làm hàng ngày.

Chúng ta muốn hệ thống internet luôn rộng mở để những người biểu tình sử dụng các trang mạng xã hội tổ chức biểu tình ở Ai Cập; để các cô cậu sinh viên ở nội trú gởi về nhà những hình ảnh học tập sinh hoạt; để các Luật sư ở Việt Nam viết Blog tố cáo tham nhũng; để các em học sinh bị bắt nạt ở Hoa Kỳ tìm kiếm sự cảm thông và ủng hộ trên mạng; để các nhà doanh nghiệp nhỏ ở Kenya sử dụng điện thoại di động để quản lý thu nhập; để các nhà triết học ở Trung Quốc có thể đọc các bài tham luận cho học trò mình nghe; để các khoa học gia ở Ba Tây có thể chia sẻ các dữ liệu nghiên cứu với các đồng nghiệp ở nước ngoài; và để hàng tỷ hàng tỷ kết nối giữa những người thân với nhau, để xem tin, để làm việc và để trao đổi với nhau trong cuộc sống hằng ngày.

Quyền tự do internet là việc bảo đảm cái không gian để những hoạt động, công việc này được diễn ra êm đẹp, không phải chỉ cho các cô cậu học sinh hôm nay, mà là còn cho các thế hệ mai sau. Đây là một thử thách to lớn của thời đại chúng ta. Chúng ta bị lôi cuốn vào một nỗ lực đấu tranh chống lại những kẻ ngăn chặn chúng ta, những kẻ muốn đánh gục và trù dập, để bắt họ phải đối diện và chấp nhận thực tiễn. Nhân danh cuộc chiến này chúng tôi ghi công của các bạn. Đó là một cuộc đấu tranh vì nhân quyền, là một cuộc đấu tranh cho quyền tự do của con người, là một cuộc đấu tranh vì nhân phẩm.

Chân thành cám ơn các bạn (tiếng vỗ tay)

 

Lê Minh (chuyển ngữ)

Nguồn:

Video link

(1) Nhằm đáp ứng kịp thời một bản dịch ra tiếng Việt, người dịch có lời xin lỗi bạn đọc về những chỗ dịch chưa thật chuẩn hoặc chưa thật hết ý, đối với bài diễn văn khá dài và cách diễn đạt khá bóng bẩy, đa nghĩa của bà Ngoại trưởng Hoa Kỳ. BVN được sự ủy thác của dịch giả, có hiệu đính được một phần, nhưng vẫn chưa thể gọi là trọn vẹn.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Phù Đổng Blog@Mutiply

Advertisements

Cao Điểm Đẫm Máu 1509 – Nakamura Masanori

Bài đọc suy gẫm: Cao Điểm Đẫm Máu 1509 – Nakamura Masanori -Hà Minh Thành dịch

Lời bàn: Năm Tân Mão 2011, theo Âu Dương Thệ, có nhiều thay đổi đáng chú ý như việc các nghĩa trang bộ đội hương khói vắng tanh. Tà quyền Hà Nội lờ đi ngày kỉ niệm 32 năm chiến tranh biên giới Việt-Hoa do Đặng Tiểu Bình phát động để dạy VN bài học“. Ngày 17.2.1979 Bắc kinh đã đưa 20 sư đoàn sang đánh chiếm  nhiều tỉnh ở sát biên giới Trung quốc và đã giết hại mấy chục ngàn binh sĩ và thường dân VN. Như vậy đúng ra xét về quyền cũng như trách nhiệm thì những người cầm đầu Nhà nước phải đứng ra tổ chức lễ kỉ niệm những bộ đội và thường dân đã bị quân xâm lược phương Bắc giết hại và cử các đại diện tới thăm viếng nghĩa trang, mồ mả của những người đã hi sinh vì Tổ Quốc. Lễ kỉ niệm như vậy không phải là khơi dậy hận thù giữa hai dân tộc láng giềng, nhưng là để tố cáo cuộc chiến tranh xâm lược của chế độ CS Trung quốc, đồng thời cũng là để thức tỉnh nhân dân VN trước các chính sách gây hấn và lấn chiếm hiện nay của bá quyền Bắc kinh!

Blog 16 nhân dịp này giới thiệu đến các bạn độc gỉa đôi nét bài viết về trận đánh tại cao điểm 1509  còn gọi là (Lão Sơn), Thanh Thủy, Vị Xuyên- Hà Giang tiếp sau đó vào năm 1984. Theo thiển ý, những hy sinh cho đất nước (không phải hy sinh cho đảng đâu nhé) đều cao quý và phải được trân trọng. Những người lính, dù ở bất cứ quốc gia nào, nhiệm vụ trước hết là chiến đấu khi đất nước lâm nguy và gìn giữ đất đai, lãnh thổ, lãnh hải, bảo vệ tài sản, sinh mệnh đồng bào. Và quân đội phải có thế đứng độc lập,  không phải là công cụ của bất cứ thế lực hay chính đảng nào.  Sự kiện cách mạng  tại Cairo- Ai Cập thành công trong những ngày gần đây cho thấy yếu tố quân đội đứng về phía toàn dân để buộc độc tài thoái trào cũng là bài học quan trong cho ta suy gẫm. (Hình ảnh sưu tầm trên net chỉ có tính cách minh họa)

image Mất hai cao điểm chiến lược có giá trị khống chế con đường tiến sang xâm lược Việt Nam của kẻ thù truyền kiếp là một mất mát quá lớn. Thảo nào việc ký Hiệp định biên giới trên bộ cứ làm úp úp mở mở mà không công khai được với dân. Hãy xem, giờ đây hệ thống ra-da của Trung Quốc sẽ từ các điểm cao ấy áp đảo mạng lưới thông tin của toàn bộ miền Bắc Việt Nam, còn đường nào mà xoay trở được? Rồi thì, công nhân Trung Quốc làm rừng trong những cánh rừng bạt ngàn mà 18 tỉnh dễ dãi cho thuê đến 50 năm sẽ đột ngột cởi áo công nhân ra để lộ nguyên tư thế một đạo binh, từ giữa núi rừng của người Việt đánh xuống. Trên cao nguyên Trung phần, một đội quân túc trực sẵn trong vai người đào quặng cũng sẽ chĩa súng áp đảo mặt Nam nếu quân Việt Nam từ phía này dám hó hé tiến ra Bắc. Còn gì nữa? Các đập thủy điện trên ngọn nguồn sông Cửu Long và sông Hồng sẵn sàng tháo nước bất kỳ lúc nào họ muốn. Và Nhà máy điện hạt nhân sắp xây dựng sát tỉnh Quảng Ninh cũng có thể tung chất thải độc hại theo gió mùa Đông Bắc bay vào toàn bộ miền Bắc nước ta.

Để đất nước rơi vào một tình trạng tứ bề thọ địch như thế thử hỏi ai là kẻ bán nước đây? Ai là kẻ không tính trước từng bước đi của một con sói xảo quyệt, để cho nó từ từ quây chặt lấy mình không còn cựa nổi? Đến nỗi từ một đội quân thiện chiến nhất Đông Nam Á, quân đội nhân dân Việt Nam giờ đây bị đánh giá là một đám người “thiên về làm kinh tế”, “đánh mất vị thế của mình ở Á Châu” – là con dân từng góp công sức máu xương dựng nên Tổ quốc này, quân đội này ai mà không tủi hổ? Thế mà còn ngang nhiên xóa bỏ lời dạy của Hồ Chí Minh “Quân đội ta trung với nước hiếu với dân” thì lý tưởng anh bộ đội cụ Hồ hiện nay phỏng còn lại mấy phần trăm là bảo vệ Tổ quốc? Hay chỉ còn là bảo vệ Đảng?

Trong khi đó nhìn lên bộ sậu cầm chịch các cấp thì chỉ thấy toan tính những mơ ước hão huyền, mà hậu quả vỡ tan như bong bóng xà phòng mới là hiện thực. Không ít người lại buông thả nhân cách, rơi vào thác loạn, và rất giỏi lo đối phó với dân, dùng kiêu binh hoành hành dọc ngang, gây hàng loạt án mạng khiến người có lương tri nghe đến đều thấy nhức nhối, ê trệ. Lực lượng công an nhân dân bởi thế từ lâu cũng đã trở thành công cụ bảo vệ cho những “chiếc ghế”, và nếu hỏi họ đang đứng ở chỗ nào trong lòng dân chúng thì e là một câu hỏi mà ai cũng phải lảng tránh nếu không muốn tự dối lòng.

Liệu còn có phép thần nào để chúng ta thoát khỏi vận hạn này?

Bauxite Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu giảng dạy dành cho sinh viên sĩ quan của Tự vệ đội, Cục Phòng vệ Nhật Bản – Đại học Phòng vệ.

Kế hoạch hành quân nhằm chiếm lại Cao điểm 1509 có mật danh là “MB84, thu hồi lãnh thổ” đã được vạch công phu. Tuy nhiên, cả Tướng Văn Tiến Dũng và các cố vấn quân sự Liên Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ quan cao cấp phản bội?  Ghi chú: cho đến nay không thấy tùy viên quân sự Nakamura Masanori lẫn cả hai phía tiết lộ tên người sĩ quan  nằm vùng trong Cục Quân Báo Việt nhưng hoạt động cho mạng lưới tình báo Hoa Nam này.

 

 

Tướng việt cộng Văn Tiến Dũng và Tướng tàu cộng  Dương Đắc Chí; đối thủ của nhau trong cuộc giao chiến tại Cao điểm 1509 (Lão Sơn) năm 1984.

 

Trận chiến Lão Sơn, (phía Việt Nam gọi là Cao điểm 1509), được xem là trận chiến đẫm máu, khốc liệt nhất trong vùng Á Châu gần đây nhất. Cuộc chiến nổ ra tại một căn cứ quân sự của Việt Nam tại điểm cao 1509 và điểm cao 1250, hai cao điểm này nằm dọc theo biên giới Việt Trung mà phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn và Giả Âm Sơn. Để chiếm được 2 cao điểm này Giải phóng quân Trung Quốc đã tạo ra một cuộc xung đột võ trang với quy mô lớn. Lịch sử quân sự Trung Quốc gọi cuộc chiến chiếm 2 điểm cao này là Chiến dịch Lưỡng Sơn.

Trận chiến Lão Sơn bắt đầu vào ngày 2 tháng năm 1984 khởi màn bằng trận tấn công tổng lực bằng pháo binh vào căn cứ quân sự của quân đội Việt Nam.

Cuộc giao tranh quân sự giữa quân đội 2 nước Việt Nam và Trung Quốc chia thành 3 giai đoạn.

Giai đoạn 1: Từ ngày 2 tháng 4 đến ngày 15 tháng 4 năm 1984

Giai đoạn 2: Từ ngày 2 tháng 6 đến ngày 10 tháng 7 năm 1984

Giai đoạn 3: Từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7 năm 1984

Trận chiến kết thúc vào ngày 14 tháng 7 năm 1984 bằng một trận đánh cảm tử xáp lá cà (bạch binh chiến) của các binh sĩ Việt Nam. Phía Trung Quốc đã phản công bằng pháo binh và hỏa lực mạnh để tử thủ Lão Sơn. Sau trận chiến này, với số thương vong quá lớn, quân đội VN đã hoàn toàn bỏ cuộc. Lãnh thổ Việt Nam đã mất vùng Núi Đất (Lão Sơn) vào tay Trung Quốc từ đó.

Sau hiệp định hoạch định biên giới Việt Trung thì 2 vùng núi này chính thức trở thành lãnh thổ của Trung Quốc.

1/ Tương quan lực lượng tham chiến

Phía Trung Cộng:

Tướng chỉ huy: Dương Đắc Chí

Chiến lực: Quân đoàn 14, Quân đoàn 11,Quân đoàn 1, Tập đoàn quân 67, Tập đoàn quân 27, Tập đoàn quân 13.

Số binh sĩ thương vong: Bất minh (có nguồn thông tin cho biết khoảng 939 binh sĩ tử trận).

Phía Việt Cộng:

Tướng Chỉ huy: Tướng Văn Tiến Dũng

Lực lượng tham chiến: Sư đoàn 313, Sư đoàn 316, Sư đoàn 356 chính quy, địa phương quân và dân binh.

Số binh sĩ thương vong: Bất minh (theo nguồn tin Trung Quốc thì có 3700 binh sĩ Việt Nam tử trận còn lại trên chiến trường). Dự đoán binh sĩ tử trận khoảng 4000 binh sĩ.

Theo nguồn tin của phóng viên chiến trường của NHK được biết chính xác là: Trung đoàn 174 thuộc Sư đoàn 316 VN sau 10 giờ giao tranh với Sư đoàn 119 của Trung Quốc tại điểm cao 142, 149 thuộc khu vực Na Lập vào ngày 12 tháng 7 năm 1984, phía VN bị tử thương 300 binh sĩ tại mặt trận.

2/ Quá trình đưa đến sự giao tranh

Trong suốt thời gian trước hoạch định biên giới Việt Trung thì Lão Sơn và Giả Âm Sơn được công nhận là lãnh thổ của Việt Nam. Lão Sơn với cao độ 1422,2 m so với mặt biển là một vị trí chiến lược quan trọng trong phối trí quân lực trong suốt lịch sử vệ quốc của người Việt Nam. Từ đây có thể giám sát con đường huyết mạch nối từ Hà Giang của Việt Nam sang Trung Quốc.

Năm 1979 trên đường tiến quân sang đánh Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí – Tư lệnh quân khu Côn Minh đã chiếm vùng này. Sự tiến quân quá nhanh của Trung Quốc vào Việt Nam đã khiến Tướng Dương Đắc Chí khinh địch và đánh giá thấp Tướng Võ Nguyên Giáp – một thiên tài quân sự của Việt Nam.

Trong một công điện báo công với Đặng Tiểu Bình, sau khi xâm nhập vào Việt Nam mà không bị tổn thất nhiều, Tướng Dương Đắc Chí đã xin phép cho thêm một tuần nữa để tiến quân đến Hà Nội, bắt sống toàn bộ Ban lãnh đạo Việt Nam. Phía Việt Nam, Tướng Võ Nguyên Giáp đã áp dụng nhuần nhuyễn chiến thuật: dụ địch vào sâu nội địa; cắt đứt quân viện hậu cần; tổng phản công… một chiến thuật trong kinh nghiệm vệ quốc hàng ngàn năm qua của người Việt Nam đối với Trung Quốc.

Tướng Võ Nguyên Giáp với các lực lượng khinh binh và địa phương quân đã phá hủy toàn bộ các tuyến quân viện hậu cần của Tướng Dương Đắc Chí; hành động quân sự này khiến trên 500 chiến xa của Giải phóng quân Trung Quốc dưới quyền của Tướng Dương Đắc Chí trở thành những cục sắt chết không hoạt động được trên chiến trường vì thiếu nhiên liệu và trở thành các điểm tác xạ của Địa phương quân VN.

Trước tình thế tan rã toàn bộ các quân đoàn tiến chiếm Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí buộc phải cấp tốc xin lệnh rút binh về nước. Trên đường rút binh của Tướng Dương Đắc Chí, quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề bởi sự truy kích bằng pháo binh của quân đội Việt Nam từ điểm cao 1509 này.

Có một kỳ tích về hành quân mà đến thời điểm này, các nhà phân tích về chiến lược quân sự cũng không hiểu bằng cách nào, chỉ trong vòng một thời gian ngắn chưa đầy một ngày, Tướng Võ Nguyên Giáp của Việt Nam có thể phối trí một lực lượng pháo binh mạnh tại Cao điểm 1509, một căn cứ có địa hình hiểm trở để có thể truy kích tận diệt các binh đoàn của Trung Quốc trên đường rút chạy khỏi VN. Mặc dầu Đặng Tiểu Bình tuyên bố đã dạy xong cho VN một bài học, nhưng trên thực tế thì có thể nói rằng gần như toàn bộ các quân đoàn của Quân khu Côn Minh dưới quyền Tướng Dương Đắc Chí đã hoàn toàn bị xóa sổ.

Từ sau bài học về sự đại bại chiến dịch quân sự đầu năm 1979, Đặng Tiểu Bình đã phải đi đến quyết định cải cách lại quân đội theo hướng hiện đại hóa. Tướng Dương Đắc Chí được sự ủng hộ của Đặng Tiểu Bình đã nắm chức Tổng Tham mưu trưởng kiêm Ủy viên Quân ủy Trung ương. Để phục hận về trận đại bại 5 năm về trước, để có thể kiểm soát không phận và uy hiếp tỉnh Hà Giang, cũng như làm bàn đạp để tấn công bình định Việt Nam trong tương lai, đồng thời nhằm khôi phục lại uy tín của quân đội đã xuống đến tận đáy, Tướng Dương Đắc Chí đã lên kế hoạch chiếm lĩnh hai điểm cao của vùng núi Lưỡng Sơn này.

3)  Quá trình giao tranh

Ngày 2 tháng 4 năm 1984 quân đội Trung Quốc bắt đầu pháo kích đại quy mô vào điểm cao 1509 của Việt Nnam mở đầu cho trận giao tranh. Cuộc pháo kích kéo dài 26 ngày cho đến ngày 27 tháng 4 năm 1984.

Ngày 28 tháng 4, qua thông tin tình báo biết được phía VN đang chuẩn bị thay quân tại điểm cao này. Vào lúc quân số của phía VN đồn trú ít nhất ở căn cứ 1509, Tướng Dương Đắc Chí đã ra lệnh cho Sư đoàn 40 và Sư đoàn 49 thuộc Quân đoàn 14 Quân khu Côn Minh bắt đầu tấn công căn cứ hiểm yếu này. Mặc dầu với số quân áp đảo là hai Sư đoàn, nhưng trước sự thiện chiến và quả cảm của lực lượng nhỏ quân đội Việt Nam đóng tại đó, phía Trung Quốc đã chịu nhiều tổn thất nặng nề. Phải sau 18 ngày chiến đấu, quân đội Trung Quốc mới chiếm lĩnh được một phần của Lão Sơn và Giả Âm Sơn vào ngày 15 tháng 5 năm 1984.

Ngày 12 tháng 6 đến ngày 7 tháng 10 năm 1984 được xem là giai đoạn giao tranh thứ 2, quân đội VN đã cố gắng tổ chức tái chiếm lại Lão Sơn, trong giai đoạn giao tranh này, thương vong phía Việt Nam không xác định được, nhưng phía Trung Quốc thì 2 đại đội có nhiệm vụ tử thủ căn cứ này đã hoàn toàn bị tiêu diệt. Phía Việt Nam tạm thời chiếm lại Lão Sơn.

Rút kinh nghiệm từ lần giao tranh này, Tướng Dương Đắc Chí đã cho sử dụng hỏa tiễn liên trang để đối kháng và sau đó dùng bộ binh tái chiếm căn cứ. Đối lại quân đội VN dùng súng cối và vũ khí hạng nhẹ, lưỡi lê với cách đánh cận chiến cảm tử bám sát vào quân đội Trung Quốc để đánh nhằm giảm nguy cơ thương vong vì hỏa tiễn đã gây thương vong khủng khiếp cho cả lực lượng hai bên. Tuy nhiên trước sự áp đảo về lực lượng và vũ khí của Trung Quốc, phía Việt Nam đã chịu thất bại trong nỗ lực phòng thủ căn cứ. Sau trận giao tranh này Trung Quốc chiếm được cao điểm 1509.

4/ Giai đoạn 3 của cuộc giao tranh

Bắt đầu từ ngày 12 tháng 7 đến ngày 14 tháng 7. Được thông tin tình báo chính xác từ một sĩ quan cao cấp trong Cục quân báo Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí đã nắm rõ toàn bộ kế hoạch hành quân tái chiếm căn cứ của VN. Bằng cách bố trí pháo binh mạnh và hỏa tiễn đa liên tranh tập trung vào các điểm quân đội Việt sẽ tập kết bên mạn sườn núi ở cao độ 500 và 800, quân đội Trung Quốc chỉ còn chờ đợi quân đội Việt Nam bước vào cửa tử bằng trận địa bao vây bằng hỏa tiễn và pháo.

Phía Việt Nam lần này với sự trợ giúp của các cố vấn quân sự Liên Xô và trực tiếp Tướng Văn Tiến Dũng chỉ huy, lực lượng tấn công đã tổ chức nghi binh nhằm đánh lạc hướng theo dõi của tình báo Trung Quốc bằng cách: chọn ra 6 Trung đoàn từ các Sư đoàn 313, Sư đoàn 316, Sư đoàn 356.


Lính Tàu đứng cạnh những người lính Việt Nam đã anh dũng hy sinh vì đất nước

Kế hoạch hành quân nhằm chiếm lại Cao điểm 1509 có mật danh là “MB84, thu hồi lãnh thổ” đã được vạch công phu. Tuy nhiên, cả Tướng Văn Tiến Dũng và các cố vấn quân sự Liên Xô cũng không ngờ là họ đã bị bán đứng bởi một sĩ quan cao cấp phản bội?

Ngày 12 tháng 7 năm 1984, sáu Trung đoàn quân Việt Nam lần lượt tập kết vào các địa điểm đã được Tướng Dương Đắc Chí đợi sẵn ở cao độ 500 và 800 bên dưới cao điểm 1509.

5 giờ sáng giờ Việt Nam ngày 12 tháng 7, quân đội VN bắt đầu men theo triền núi để tổng công kích và trận pháo kích bao vây tận diệt của Tướng Dương Đắc Chí cũng bắt đầu. Sau 17 tiếng đồng hồ pháo kích tập trung vào các điểm đã biết trước dựa theo kế hoạch hành quân mang tên MB84 của Việt Nam, Tướng Dương Đắc Chí hoàn toàn đại thắng. Quân đội VN buộc phải rút lui với số liệu thương vong do phía Trung Quốc công bố: khoảng 3700 thi thể binh sĩ Việt Nam đã bị bỏ lại trên đỉnh Lão Sơn…

5/ Ảnh hưởng về mặt quân sự

Trận chiến Lão Sơn là một trận chiến kinh điển trong các trận chiến hạn định phi quy ước. Chiến thắng của phía Trung Quốc có thể kể công đầu là chiến thắng của mạng lưới tình báo Hoa Nam; lực lượng tình báo Hoa Nam đã cài cắm được điệp viên vào hàng ngũ sĩ quan cao cấp của Việt Nam. Nếu không có thông tin tình báo từ Việt Nam, cục diện trận chiến Lão Sơn có khả năng sẽ đi theo một hướng khác. Chắc chắn số thương vong khủng khiếp sẽ đến với các Sư đoàn 40 và 49 của quân đội Trung Quốc bởi lối đánh cảm tử và thiện chiến của binh sĩ Việt Nam.

Trận chiến Lão Sơn đã làm thay đổi toàn bộ chiến thuật tấn công của quân đội Trung Quốc theo hướng hiện đại hóa. Trong giai đoạn 3 của cuộc giao tranh có thể nói đây là một sự tái diễn lại cách đánh giữa quân đội Bắc Việt Nam với chiến thuật biển người, cận chiến với quân đội Mỹ; kết hợp với chiến thuật tập trung pháo binh nhằm giảm thương vong cho binh sĩ xung kích trong thời gian chiến tranh Việt Nam.

Từ chỗ tấn công theo chiến thuật biển người là chiến thuật quân sự cổ điển của Trung Quốc với Việt Nam; Tướng Dương Đắc Chí đã thành công trong việc mạo hiểm ứng dụng chiến thuật tấn công và phòng vệ tập trung bằng pháo binh, kết hợp với thông tin tình báo theo phong cách tác chiến hiện đại của Mỹ.

Từ trận đánh này cũng lộ rõ một điểm yếu của quân đội Trung Quốc, đó là công tác hậu cần, vận tải của quân đội, không có khả năng không vận để phục vụ cho việc tác chiến. Ví dụ để phục vụ cho cuộc chiến họ phải huy động cả xe của dân sự để tải đạn dược và thương binh.

Về phía quân đội Việt Nam, mặc dầu địa hình bất lợi nhưng với quyết tâm thu hồi lãnh thổ đã chọn chiến thuật tấn công bằng biển người. Với sĩ khí của quân đội Việt Nam lúc đó, khả năng thu hồi lại lãnh thổ trong trận chiến này rất cao nhưng đồng nghĩa với việc chấp nhận hàng ngàn binh sĩ phải hy sinh.

Có thể coi đây là một chiến thuật hạ sách khi mà Tướng Văn Tiến Dũng không còn con đường để chọn lựa. Tuy nhiên thất bại về phản gián của Việt Nam trong cuộc chiến này đã khiến Việt Nam phải chấp nhận thất bại với gần 4000 binh sĩ thương vong (theo số liệu phía Trung Quốc đưa ra). Đây là một bài học quan trọng trong công tác bảo mật mà các sĩ quan trẻ trong tương lai phải luôn tâm niệm trong quá trình cầm binh tác chiến. Một sơ sót của người chỉ huy sẽ phải đổi bằng máu xương của hàng ngàn binh sĩ trên mặt trận và mất đi lãnh thổ.

Các cựu chiến binh Trung Cộng tham dự trận đánh Núi Lão Sơn (đỉnh núi 1509) chụp hình lưu niệm trên đỉnh Núi Lão Sơn… nay thuộc về họ.

Về mặt ảnh hưởng quân sự thì, chiến thắng Lão Sơn đã nâng cao sĩ khí cho quân đội Trung Quốc, tạo cơ hội cho quân đội Trung Quốc chuyển mình từ một quân đội lạc hậu sang một đội quân hiện đại với kỹ thuật tác chiến hiện đại thay cho chiến thuật biển người cố hữu. Đây là đà tiến để giới quân sự Trung quốc tạo ảnh hưởng lên giới chính trị để hiện đại hóa quân đội. Với việc chiếm lĩnh Lão Sơn và Giả Âm Sơn, việc đặt 2 căn cứ tại đó, Trung Quốc đã có khả năng kiểm soát và khống chế về mặt quân sự trên toàn bộ miền Bắc Việt Nam.

Trong một số lần hiếm hoi, các đài duyên hải của lực lượng Hải thượng Tự vệ đội Nhật Bản dọc theo quần đảo Okinawa, đã phát hiện bắt được các làn sóng phát theo hình thức nhiễu loạn số từ đài phát vô tuyến có tọa độ xác định đặt trên đỉnh Lão Sơn.

Theo đánh giá của các chuyên gia quân sự, nếu xảy ra một trận chiến phi quy ước giữa Việt Nam và Trung Quốc một lần nữa, thì với hệ thống rada và đài phá sóng vô tuyến mạnh như vậy của Trung Quốc ở căn cứ Lão Sơn, khả năng toàn bộ hệ thống thông tin của lực lượng phòng không không quân tại miền Bắc của Việt Nam kể cả hệ thống thông tin của Hàng không dân dụng sẽ bị tê liệt ngay tức khắc; nếu bị quân đội Trung Quốc tiến hành gây nhiễu từ cụm đài của căn cứ này. Chưa kể đến lợi thế về mặt tác chiến pháo binh cũng như hỏa tiễn tầm xa, với vị trí Lão Sơn có khả năng khống chế quân đội Việt Nam trên một phần vùng miền Bắc Việt Nam trong một cuộc chiến hạn định từ căn cứ quân sự lớn này.

Về phía Việt Nam, trận chiến này đã khiến cho uy tín một số tướng lãnh quân đội với nhiều công trạng trong cuộc chiến Việt Nam bị suy sụp, thất sủng. Nhiều tướng lãnh kinh nghiệm dày dạn chiến trường bị thay thế bởi thế hệ tướng lĩnh trẻ chưa có kinh nghiệm tác chiến trên những mặt trận lớn.

Một mất mát lớn khác đối với quân đội VN trong thời kỳ này đó là: sự thất sủng của Tướng Võ Nguyên Giáp trước Ban lãnh đạo Chính phủ Việt Nam khi ông đưa ra yêu cầu giải quyết “Bài toán nước lớn”. Tướng Võ Nguyên Giáp chủ trương mở một nền ngoại giao đa phương với phương Tây kể cả cựu thù là Mỹ và các nước xung quanh, cùng với việc dùng lực lượng quân chính quy Việt Nam tại Lào đánh quy hồi từ Lào sang Campuchia, giải phóng Campuchia xong thì rút hết quân về nước, giao lại Campuchia cho Liên hợp quốc để giảm bớt sự hy sinh của binh sĩ và ngân sách quốc gia. Tìm cách phá mở thế bao vây từ kinh tế cho đến quân sự bởi các nước xung quanh.

Chủ trương này của Tướng Võ Nguyên Giáp đã không được Ban lãnh đạo Chính phủ Việt Nam đương thời đồng ý. Sự thất sủng của một nhà chiến lược quân sự vĩ đại đã khiến giới quân đội của Việt Nam dần dần bị xem nhẹ, đồng thời thế lực thân Trung Quốc trong giới chính trị gia Việt Nam có cơ hội quật khởi trở lại.

Sau cái chết của Phạm Hùng – người được cho là kiên trì đường lối chống Trung Quốc, bị chết một cách mờ ám tại thành phố Hồ Chí Minh, có ý kiến nghi vấn có bàn tay của lực lượng tình báo Hoa Nam, chính sách của lãnh đạo Việt Nam đã bắt đầu thay đổi…

Các chính sách về công tác tuyên truyền chống Trung Quốc cũng dần dần bị loại bỏ từ dân chúng cho đến quân đội. Cùng với chính sách đổi mới, quân đội Việt Nam đã thiên về làm kinh tế hơn đặt nặng trọng tâm quốc phòng. Sau thất bại ở cuộc hải chiến Nam Sa (Trường Sa) vào tháng 3 năm 1989 thì có thể nói là quân đội Việt Nam đã đánh mất vị thế của mình ở Á Châu, Việt Nam đã bị các chuyên gia quân sự đánh giá không còn là một đội quân mạnh và thiện chiến nhất trong vùng Đông Nam Á nữa.

clip_image003[1]

clip_image007

Một góc nghĩa trang liệt sĩ tại Hà Giang trong cuộc chiến tranh biên giới 1984 -1985. Hình trên: Giấy báo tử của Trung Đội Trưởng Phạm Hữu Tạo, em của nhà văn Phạm Viết Đào mất tích trong trận đánh này.

6) Ảnh hưởng về mặt chính trị

Đối với Trung Quốc: Chiến thắng của trận chiến Lão Sơn trùng khớp với thời kỳ sĩ khí đang hồi phục lại ở Trung Quốc nhờ vào hiệu quả của chính sách cải cách, khai phóng. Kết quả trận chiến đã chấp cánh, tăng thêm uy tín cho Đặng Tiểu Bình trong việc chỉ đạo thể chế cầm quyền của Trung Quốc.

Hệ thống thông tin của Trung Quốc có thể nói đã tuyên truyền hết công suất về tin thắng lợi của quân đội Trung Quốc trong trận chiến Lưỡng Sơn này. Báo chí Trung Quốc đã lợi dụng trận thắng này để phát dương quốc uy và ca ngợi công đức chỉ đạo của Đặng Tiểu Bình. Việc tuyên truyền này khiến cho dân chúng Trung Quốc phần nhiều đều chỉ biết đến Chiến tranh biên giới Việt – Trung qua chiến thắng Lão Sơn năm 1984 chứ không phải trận đại bại năm 1979.

Đối với Việt Nam: trận chiến Lưỡng Sơn đã khiến phía Việt Nam tái nhận thức về kẻ thù truyền kiếp của họ chính là Trung Quốc, tâm lý phục thù của người Việt đã trỗi dậy.

Cùng với sự sa lầy của quân đội Việt Nam tại chiến trường Campuchia đã gây tổn thất lớn về nhân mạng binh sĩ, sự gia tăng của thương phế binh, sự bao vây cấm vận kinh tế của thế giới, sự kiệt quệ về kinh tế đã khiến sĩ khí của quân đội Việt Nam suy giảm.

7/ Mối bang giao cải thiện quan hệ Trung – Việt

Tháng 3 năm 1988 Thủ tướng Phạm Hùng của Việt Nam đột tử. Ông được xem là người cuối cùng trong ban lãnh đạo của Việt Nam theo đường lối cứng rắn chống Trung Quốc. Ông là một trong những người đã đồng ý đưa quân sang tiến chiếm Campuchia bất chấp sự phản đối của nhà chiến lược quân sự, Tướng Võ Nguyên Giáp. Đồng năm đó quân đội Liên Xô cũng đại bại phải rút lui khỏi chiến trường Afghanistan.

Cùng với chính sách cải cách khai phóng thành công của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã tạo mối bang giao thân mật với Mỹ và Nhật Bản; chính sách này đã khiến cho quốc lực của Trung Quốc nhanh chóng hồi phục. Ngược lại mối quan hệ đồng minh của Việt Nam và Liên Xô bởi phái thân Liên Xô là Lê Duẩn ngày càng suy giảm khiến cho Chính phủ Việt Nam chuyển đổi chính sách sang cải thiện quan hệ với Trung Quốc.

Sau 10 năm xảy ra giao tranh, vào ngày Tết âm lịch năm 1989, Việt Nam và Trung Quốc đột ngột mở cửa lại giao dịch ở vùng biên giới. Quan hệ Trung – Việt cấp tốc hồi phục. Sau đó Trung Quốc lần lượt triệt thoái các lực lượng quân sự lớn đóng ở Lão Sơn và Giả Âm Sơn.

Tháng 5 năm 1989 thì toàn bộ quân chính quy của Trung Quốc hoàn tất việc rút ra khỏi vùng Lưỡng Sơn này chỉ để lại một bộ phận nhỏ các Tiểu đoàn công binh và địa phương quân, dân binh để xây dựng căn cứ.

Lê Công Phụng Thứ Trưởng Ngoại Giao của csVN trả lời phóng viên VASC Orient đã xác nhận “Mục Nam Quan nay thuộc về Trung Quốc”. Đây là sau chiến tranh 10 năm,  đảng cs.VN. lén lút ký đất đai cho họ, tại sao lần nàyngười tàu chiếm đoạt lãnh thổ Việt Nam ta mà không nghe một tiếng súng nổ?

(Hình  trái, Ải Nam Quan trước khi ký hiệp định biên giới 12/1999. Hình phải, sau khi ký biên giới Việt Nam là Mục Nam Quan từ cây số Zero)

Xung đột võ trang biên giới Việt –Trung xảy ra lần cuối cùng vào năm 1989 khi Trung Quốc cho xây dựng các đài ra đa dọc theo các điểm cao mà họ đã chiếm được sau các lần xung đột. Một số lượng lớn công nhân xây dựng người Trung Quốc đã xâm nhập xây dựng nhà cửa, lán trại bất hợp pháp trên phía lãnh thổ Việt Nam. Xung đột đã nổ ra khi lực lượng cảnh sát đương cục của Việt Nam đã tìm cách bài trừ, đuổi họ ra khỏi Việt Nam. Trong lần này quân đội hai nước không có nổ súng và sự kiện kết thúc khi phía Trung Quốc chịu đưa toàn bộ số công nhân đó về nước. Có thể coi sự kiện cuối cùng đó là bài thuốc thử của Trung Quốc đối với sự chân thành cải thiện bang giao của phía Việt Nam.

NM

(*) Tác giả bài viết từng là Tùy viên quân sự
tại Đại sứ quán Nhật ở VN dưới quyền của Đại sứ Tsutsumi Koichi, Đại sứ  Matano Kachigeaka, Đại sứ Asomura Kuniaki.


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The


Links:

Đàn Chim Việt

Báo Tổ Quốc


Biểu tình là gì? – Dzu Kaka

Từ Ai Cập đến Ba Đình- Babui- Đàn Chim Việt

***

Lời bàn: Sau 3 tuấn lể kiên trì biểu tình trên khắp nước. Người dân Ai Cập hôm nay đã oanh liệt chiến thắng khi Tổng Thống Mubarak bị tuyên bố thoái vị sau 30 năm nắm quyền cai trị độc đoán.  Một vận hội mới bắt đầu cho Ai Cập.  Nhiều câu hỏi khá ngạc nhiên được đặt ra từ giới quan sát viên tây phương vì họ không tin tưởng lắm những cuộc cách mạng xuống đường có thể thay đổi được những chế độ độc tài. Tuy nhiên, việc phải đến đã đến.  Theo quy luật lịch sử, những gì bị đào thải dù có cưỡng chế cách mấy đến một lúc nào đó cũng sẽ phải ra đi nhục nhã.  Blog 16 xin hân hạnh giới thiệu bài nhận định rõ ràng của bạn Dzu Kaka viết về  Biểu Tình và Quyền Con Người.  Hình ảnh từ các nguồn trên Net (Reuter, AFP, BBC News , …) chỉ có tính cách minh họa.

Tahrir Square in Cairo February 11, 2011.

Cách mạng nào mà không tốn xương máu, theo tin từ Cairo, đã có hơn 3 trăm người thiệt mạng và hơn ngàn người bị thương.

Sau khi được giải thích cặn kẽ, chú “bộ đội” lái tăng đã cùng quỳ xuống chung với các bạn đấu tranh để cầu nguyện cho đất nước mau thoát ách bạo tàn Mubarak:)

Lời Ngỏ của tác giả: Trong thời gian người dân biểu tình tôi có ý định viết một entry để chia sẻ cảm nghĩ và đánh giá của mình về hình thức đấu tranh của người dân trong nước. Giờ thì không còn nhiều ý nghĩa để có thể chia sẻ cảm thông với người dân nghèo khiếu kiện, cũng đã quá muộn màng để nhìn và đưa ra những đánh giá cá nhân, nhưng tôi nghĩ rằng nhiều người trong chúng ta đã học được bài học lớn từ chính những người dân quê mùa và thấp cổ đó.Cuộc biểu tình bị đàn áp một cách im lặng đáng sợ, bên cạnh là sự im lặng đáng sợ đang hiện diện trong bao con người mang dòng máu Việt chúng ta từ lâu nay. Có khác chăng là sự im lặng thứ nhất xuất phát từ nỗi sợ của kẻ bạo quyền trước công lý, còn sự im lặng thứ hai thì ngược lại. Còn nếu tôi cũng im lặng, tôi sẽ đồng lõa luôn với hai nỗi sợ trên.
Bài viết dưới đây mong rằng nó sẽ là một tiếng nói nhỏ của tôi, để khẳng định rằng những gì bà con dân oan đã làm là đúng pháp luật và thực thi đúng quyền lợi của con người. Hơn nữa, đó cũng là những quyền lợi mà dân tộc này cần phải có và cần được tôn trọng. Không một chủ nghĩa, một chế độ, và một lý do nào có quyền tước đoạt những quyền chính đáng của người dân.
Dzu Kaka

Biểu tình là gì?

Theo bách khoa toàn thư Bắc Mỹ (Encyclopaedia Americana) thì biểu tình được hiểu một cách thông thường là hành động bất bạo lực của một nhóm người, nhằm mục đích đưa đến cộng đồng một quan điểm hay một cách nhìn về một vấn đề nào đó trong xã hội.

Hình thức của biểu tình

Biểu tình có thể diễn ra bởi nhiều cách và sự đa dạng khác nhau. Trong các xã hội dân chủ hiện đại, các cuộc biểu tình có thể được thực hiện qua các hình thức sau:

Diễn hành:   Là cuộc xuống đường của nhiều người di chuyển trong trật tự từ một địa điểm này đến một địa điểm khác.
Tập họp:   Người biểu tình tập họp tại một địa điểm cố định, để nghe diễn thuyết của một người, và đôi khi là diễn đàn để đưa ra các ý kiến và quan điểm.

Thường trực:   Các cuộc biểu tình cố định đã “chiếm đóng” một địa bàn và diễn ra trong một khoảng thời gian dài.

Giả chết (Die-in):   Hình thức biểu tình khổ hạnh, người biểu tình sắp đặt một cảnh tượng chết chóc dùng để phản đối chiến tranh, hay phản đối một sản phẩm thuốc men mà cho rằng có hại.

Địa điểm và thời gian

Địa điểm và thời gian của các cuộc biểu tình nhiều khi mang tính lịch sử và liên quan trực tiếp đến chủ đề biểu tình. Ví dụ biểu tình để kỷ niệm sự kiện Thiên An Môn vào ngày 4 tháng 6 hàng năm tại Hồng Kông. Nhưng cũng chính trong ví dụ này lại mang tính gián tiếp về địa điểm vì nó không xảy ra tại quảng trường Thiên An Môn.

Biểu tình và luật pháp trong xã hội Mỹ

Tu Chính Án số 1 (First Amendment) trong hiến pháp Mỹ bảo vệ quyền biểu tình ôn hòa của người dân thông qua qua quyền tự do ngôn luận và quyền tự do hội họp. Tu Chính Án số 1 cũng khuyến cáo nhằm nghiêm cấm Quốc Hội Mỹ ra bất cứ luật lệ nào có ý định xâm phạm đến các quyền này.
Lịch sử nước Mỹ được coi là lịch sử đấu tranh và bảo vệ nhân quyền, và biểu tình được coi là một hình thức tích cực trong một nền dân chủ gương mẫu.
Các cuộc biểu tình tại Mỹ có thể xảy ra ở nhiều nơi với nhiều hình thức, và đặc biệt trên toàn liên bang Mỹ đã cho thiếp lập các địa điểm tự do ngôn luận (Free speech zones – hay còn gọi là The First Amendment Area), là những địa điểm cộng đồng mà người dân có thể dùng để đưa ra những quan điểm của mình một cách tự do tuyệt đối. Các trường đại học Mỹ cũng có những địa điểm như vậy để cho sinh viên bày tỏ quan điểm và tranh biện về bất cứ đề tài nào trong xã hội.
Trong lịch sử nước Mỹ đã từng diễn ra những cuộc biểu tình lớn lên đến hàng triệu người, có tiếng vang và ảnh hưởng rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới.
Ngày nay, xã hội Mỹ đã quá văn minh và đi vào hệ thống pháp trị nên các cuộc biểu tình tại Mỹ thường chỉ xoay quanh những vấn đề còn bàn cãi như: đồng tính luyến ái, di dân, nạo phá thai, và các vấn đề ngoại giao diễn ra bên ngoài nước Mỹ như chiến tranh, chống khủng bố.

Và vì đặc điểm đa sắc dân và vị thế ảnh hưởng số một thế giới của mình mà nhiều cuộc biểu tình diễn ra tại Mỹ nhưng không có một sự liên quan tối thiểu nào đến xã hội và đất nước Mỹ. Ví dụ: người Cuba tại Miami biểu tình phản đối chế độ độc tài cộng sản và Fidel Castro, người Việt tại Little Saigon biểu tình phản đối chính quyền Việt Nam bắt tù cha Lý, người Palestine biểu tình chống quân đội Israel chiếm đóng Gaza. Các cuộc biểu tình bảo vệ quyền súc vật, bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên .v.v. cũng thường diễn ra tại Mỹ nhằm gây tiếng vang lớn.

Tại Mỹ, chính quyền thành phố có trách nhiệm trực tiếp đến các hoạt động biểu tình. Các cuộc biểu tình diễn hành lớn thường có một chương trình và kế hoạch rõ ràng từ trước. Các tổ chức biểu tình sẽ làm việc với chính quyền thành phố để hẹn giờ, địa điểm, và chính quyền thành phố sẽ có trách nhiệm mở đường, hộ tống, giữ trật tự và cứu thương cho đoàn người biểu tình. Nếu trong cùng một vấn đề mà đoàn biểu tình có những quan điểm trái ngược nhau, thì chính quyền cũng không có quyền can thiệp vào các quan điểm ấy. Ví dụ: năm 2003 khi diễn ra chiến tranh Iraq, tại Mỹ đã có nhiều cuộc biểu tình lớn diễn hành chống chiến tranh để phản đối chính quyền tổng thống Bush, nhưng cũng có những cuộc xuống đường biểu tình ủng hộ hành động quân sự nhằm lật đổ Saddam Hussein. Chính quyền không có quyền xâm phạm đến các quan điểm khác nhau. Nhiệm vụ của chính quyền là thực thi pháp luật và hợp tác để các cuộc biểu tình diễn ra được suôn sẻ và ôn hòa.
Trong quá khứ cũng từng xảy ra những cuộc biểu tình dẫn đến những hành động quá khích, nhưng nhìn chung, biểu tình tại Mỹ được xem là tích cực hơn so với biểu tình tại nhiều nước châu Âu vì tính cách ôn hòa và trật tự của nó.

Cách mạng thành công một phần lớn cũng nhờ mạng Face-Book. Cám ơn, cám ơn:)

Trước tiên tớ chui vào đây đánh một giấc cái đã, 3 tuần rùi có ngủ nghê gì đâu.:)

Biểu tình trong các chế độ độc tài toàn trị.

Biểu tình là một hình thức thể hiện quyền tự do ngôn luận, mà qua đó chúng ta có thể đánh giá về mức độ dân chủ và tôn trọng nhân quyền trong một xã hội.Khác với trong các xã hội dân chủ, nơi mà hành động biểu tình được xem là một hình thức tiến bộ và tích cực thể hiện tính chất văn minh và năng động của con người; thì trong các chế độ chuyên chế, biểu tình được coi như một dấu hiệu xấu và không nên được diễn ra. Con người trong các xã hội độc tài bị nhồi sọ và tiêm nhiễm vào đầu óc lối suy nghĩ rằng: biểu tình là hành động chống phá làm quấy rối trật tự xã hội, làm xấu hình ảnh đất nước, bôi nhọ quê hương.
Tất nhiên, đó là lối suy nghĩ từ những khối óc nông cạn đã bị tẫy não, vì trên thực tế những xã hội có nhiều cơ hội để bày tỏ quan điểm nhất lại là những xã hội giàu có, văn minh và được tôn trọng nhất trong cộng đồng thế giới.
Tuy nhiên, trong các chế độ chuyên chế vẫn có những cuộc biểu tình diễn ra. Các cuộc biểu tình được ủy quyền bởi chính quyền thường lại là những cuộc biểu tình với đề tài không hề liên quan đến xã hội và đất nước đó. Ngược lại, những cuộc biểu tình với các vấn đề bức xúc trong xã hội đó lại bị nghiêm cấm và đàn áp.
Từ thời Stalin ở Nga và các chế độ toàn trị Đông Âu, con người đã bị cai trị bằng hình thức trại cừu, và khi cần thiết thì kẻ cai trị chỉ cần phát động phong trào để lùa “đàn cừu” đi làm những việc với mục đích chính trị riêng của mình.
Ngày nay, trong các xã hội chuyên chế, ngay cả những cuộc biểu tình như thế cũng không còn vì chế độ cai trị e sợ sự xuống đường của người dân.
Nói chung, mọi hình thức biểu tình và xuống đường diễn hành một cách tự phát của người dân là không được các chế độ chuyên chế chấp nhận.

Biểu tình tại Việt Nam.

Là một xã hội độc đảng nên các đặc điểm trong xã hội này cũng bao gồm những đặc điểm vừa trình bày trên.
Tại Việt Nam ngày nay, tất cả các cuộc biểu tình đều là tự phát từ những vấn đề bức xúc trong chính xã hội, nhưng nó không được chế độ cầm quyền chấp nhận. Các cuộc biểu tình xảy ra và kết cục đều bị giải tán (đàn áp) bằng cách này hay cách khác, như: vụ biểu tình của người dân Thái Bình (1999), vụ biểu tình Tây Nguyên (2004), và gần đây là vụ biểu tình của người dân oan các tỉnh miền nam tại Sài Gòn.
Ngược lại, ngay cả những quan điểm trùng lặp với chế độ cũng không được thể hiện qua hình thức biểu tình. Ví dụ: Vào năm 2003 khi quân đội Mỹ tiến hành chiến dịch Tự Do Cho Iraqi, thì tất cả đài báo tại Việt Nam đều tuyên truyền một chiều với ý đồ nhồi nhét vào đầu óc người dân hình ảnh bài chính quyền Bush trên toàn nước Mỹ và thế giới. Hiếm có báo chí nước nào mà mô tả hình ảnh phiến diện một chiều như báo chí tại Việt Nam, nhưng một điều lạ là ở Việt Nam không hề có cuộc biểu tình chống chiến tranh nào diễn ra.
Một câu chuyện bên lề là lúc đó tôi có nói chuyện với một cô bạn tại Việt Nam, thì cô ta hỏi tôi rằng: Vừa rồi H. có đi biểu tình chống chiến tranh chứ? Câu hỏi này làm tôi nhận thấy y như rằng cô bạn đã hiển nhiên coi tôi là người phải chống đối lại chiến dịch lật đổ chế độ Saddam, trong khi đó đáng lý trước hết cô ta phải hỏi tôi là người ủng hộ hay là chống chiến dịch ấy. Rõ ràng báo chí tuyên truyền mô tả một chiều và bưng bít thông tin đã áp đặt và nhồi nhét tư tưởng bài Mỹ vào đầu óc cô bạn, và khi cô bạn nói chuyện với tôi, cô bạn cũng đem cái tư tưởng đó mà áp đặt vì cho rằng ai cũng như ai. Sự áp đặt tư tưởng một chiều đã biến một sinh viên đại học trong xã hội này mất cả khả năng suy luận tối thiểu mà nghĩ rằng cả nước Mỹ đang xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh, và ai cũng phải có tư tưởng như mình. Trên thực tế, theo thăm dò của các hãng thông tấn lớn lúc đó thì trên 75% dân Mỹ ủng hộ chiến dịch lật đổ chế độ Saddam.
Tôi không trả lời trực tiếp cô bạn, và sau khi giải thích cho cô bạn hiểu, tôi hỏi ngược lại: Vậy thì V. có đi biểu tình chống chiến tranh không? Cô bạn có vẻ bất ngờ với câu hỏi ngược lại của tôi, tôi cũng hiểu lý do vì sao, bởi trong xã hội Việt Nam hiện nay làm gì có khái niệm ấy.
Tóm lại, biểu tình là một việc làm không được chế độ Cộng Sản đang cai trị tại Việt Nam chấp nhận, nó chỉ diễn ra ở mức “tức nước vỡ bờ” như những gì người dân các tỉnh miền nam đã thể hiện trong những tháng vừa qua. Trong xã hội này, nhiều khi biểu tình được xem là tội lỗi, là phản động, làm xấu hình ảnh đất nước, bôi nhọ quê hương trong mắt thế giới. Lối suy nghĩ nông cạn này chỉ nhằm giúp để bao biện cho những kẻ độc tài tiếp tục cai trị và chà đạp quyền con người. Ngược lại, thế giới bên ngoài chẳng bao giờ nhìn vào một kẻ luôn tìm cách che đậy xấu xa và sự thật mà cho đó là tốt đẹp, là một đối tác đáng tin cậy để hợp tác làm ăn và phát triển.

Tuổi trẻ Việt Nam biểu tình trước toà lãnh sự Trung Quốc tại Hà Nội 2007.

Nguồn BBC – Hình Ảnh Phương Anh – Lan Hương

Biểu tình cùng ngày tại Sài Gòn. Đông và “căng” chả kém gì ngoài thù đô, cứ nườm nượp như đi diễn binh ấy. Lãnh đạo ta vừa xấu hổ vừa bị xốc quá:)

Sau hơn một tiếng, công an đến giải tán: Các cậu đừng lo, để …nhà nước lo”.

 
Những cuộc biểu tình lớn và kết quả của nó

Lịch sử thế giới đã trải qua nhiều nghìn năm, nhưng những cuộc biểu tình đúng nghĩa bằng hình thức đấu tranh ôn hòa chỉ được ghi nhận cách đây khoảng 4 thập niên, từ phong trào đấu tranh cho quyền dân sự do Martin Luther King khởi xướng.
Civil Rights: Ngày 28 tháng 8 năm 1963, khoảng 200,000 người đã xuống đường diễn hành từ khu bảo tàng Washington (Washington Monument) đến đài tưởng niệm Lincoln (Lincoln Memorial). Ở đây, Martin Luther King đã đọc bài diễn văn hùng biện “I have a dream” nổi tiếng. Tên tuổi ông đã đi vào lịch sử như một nhà chính trị cao cả trong thế kỷ 20. Ông được trao tặng Nobel hòa bình (1964), huân chương tổng thống về tự do (1977), và huân chương danh dự của Quốc Hội (2004). Từ năm 1986, ngày sinh nhật của ông đã được lấy làm ngày lễ quốc gia ở Hoa Kỳ.
Stonewall Riots: là phong trào đấu tranh của những người đồng tính và chuyển giới. Đây thực chất không phải là một cuộc biểu tình, vì nó là một chuỗi bạo động giữa cảnh sát thành phố New York và những người đồng tính kéo dài nhiều ngày từ ngày 28 tháng 6 năm 1969. Tuy nhiên, nó có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức con người và luật pháp sau này. Nó được coi là một cuộc cách mạng về quyền cá nhân và giới tính.

Phong trào phản chiến chiến tranh Việt Nam: phong trào từ cuối những năm 60’s đến năm 1973 lan rộng khắp Hoa Kỳ và trên thế giới, và có sự ảnh hưởng vô cùng to lớn. Mặc dù ngày nay vẫn còn sự tranh cãi đúng-sai của phong trào, nhưng hầu hết mọi người đều thừa nhận phong trào này đã ảnh hưởng đến nền chính trị Mỹ khiến quân đội Mỹ phải rút khỏi Việt Nam vào năm 1973, và gián tiếp làm toàn bộ cõi Đông Dương rơi vào tay khối Cộng Sản sau đó.
Thiên An Môn: Là phong trào của sinh viên Bắc Kinh đòi dân chủ diễn ra vào cuối tháng 4 năm 1989, kéo dài đến ngày 4 tháng 6 khi chính quyền cộng sản Trung Quốc đã dùng quân đội đàn áp một cách đẫm máu. Mặc dù bị dập tắt và Trung Quốc ngày nay vẫn chưa có dân chủ, nhưng phong trào này đã có ảnh hưởng lớn đến cải cách chính trị và kinh tế sau này, góp phần giúp Trung Quốc phát triễn thịnh vượng hơn.
Kết luận
– Mọi hình thức đấu tranh ôn hòa và không gây hại TRỰC TIẾP đến một cá nhân khác đều được coi là hợp pháp.
– Biểu tình là một trong những hình thức thực thi quyền tự do ngôn luận của công dân trong xã hội dân chủ, là một trong những nhân quyền cơ bản được qui định trong Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân quyền.
– Không một bộ luật nào được coi là có hiệu lực, nếu nó vi phạm hiến pháp nhà nước hoặc trái ngược với các luật nhân quyền.
– Không một chính quyền hoặc chế độ nào có đủ lý do để đàn áp nhân quyền, ngoại trừ chính chế độ đó đang vi phạm pháp luật và vi phạm Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.
– Mọi hình thức cản trở tự do ngôn luận đều bị xem là vi phạm nhân quyền.

————————————-————————————-

Tài liệu tham khảo:
– Kilman, J. & Costello, G. (Eds). (2000). The Constitution of the United States of America: Analysis and Interpretation.

– “Václav Havel.” The Power of the Powerless. trans. Paul Wilson, M.E. Sharpe, Inc. Armonk, New York. Personal Webpage Online.

– “Benjamin Franklin.” Discovering World History. The Gale Group.

Online. 14 Mar 1999.

– “Protests against the 2003 Iraq war” Br. Online. 13 April 2003.


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.


The

Links:

Đàn Chim Việt

Dzu Kaka’s Weblog

HoangKimNgan@Mutiply

BBC-UK


Qua Cơn Mê – Phan Lạc Phúc

Biếm họa Bùi Bá: Năm Tân Mão 2011, con mèo châm ngòi cho nổ banh xác pháo.

Câu Đối Tết Con Mèo.

Ba Đình tâu với Thiên Đình, thú thật Triều Đình không nói dối. Hà Sĩ Phu (xướng).

Ái Quốc bám theo Trung Quốc, e gần Phản Quốc có đâu xa.  Hữu Tình (họa).


Bài đọc suy gẫm: Qua Cơn Mê ( hay Văn Nghệ Tết Trong Trại Tù Yên Hạ) – Phan Lạc Phúc (hình ảnh sưu tầm trên net chỉ có tính cách minh họa)

…”Bạn ơi nếu tôi có một điều ước, tôi ước mong cho ngày nào trời đất phong quang, chúng ta được trở về đất nước Việt Nam yêu dấu, muốn đi đâu thì đi. Tôi sẽ đi tới những trại tù năm cũ, thăm lại người xưa, thăm lại các bạn tù chúng ta còn nằm lại. Tôi sẽ tới trại Yên Hạ, tới quận Phù Yên hỏi xem ông cụ Việt trại trưởng năm xưa còn sống hay không? Nếu gặp được ông cụ tôi sẽ nầm lấy tay mà nói “Tôi là là cựu tù nhân Yên Hạ đây, cụ còn nhớ tôi không, thưa cụ?…Một mai qua cơn mê, xa cuộc đời bềnh bồng, tôi lại về bên em…Nhc Trần Trịnh- Nhật Ngân- Ca sĩ Băng Châu (Youtube).

Tôi vừa nhận thư từ Seattle, Mỹ gửi sang. Không phải những người bạn thân quen của tôi mà nhìn tên người gửi thấy đề T. Nguyen lạ hoắc. Sang xứ sở văn minh thực dụng này, tên tuổi lộn đầu lộn đuôi mà chữ viết cũng ít khi dùng đến nên tôi cầm lá thư mà chưa nhớ ra ai. Mỗi người sinh ra trên trái đất này đều có một nhân dáng riêng, cũng như có một nét chữ riêng, có ai giống ai đâu? Bây giờ bỏ cái riêng tư ấy đi, dùng toàn chữ in sẵn trong computer – tiện lợi thì có tiện lợi thật nhưng cầm cái thư tôi thấy nó lạnh lùng, khô khốc… Bề ngoài bao thơ không cho tôi một tín hiệu tình cảm nào, tôi hờ hững mở thư. Nhưng vừa đọc, tôi đã vô vàn cảm xúc: “Anh P. ơi, chấc anh không nhớ được em đâu, nhưng em nhớ anh hoài, em nhớ “ông già chăn ngựa”. Em là “La Sơn Phu Tử” đây.” Những cụm từ “ông già chăn ngựa ” và “La Sơn Phu Tử” đã như chiếc chìa khóa mở ra một quãng đời tù tưởng đã nhạt nhòa trong ký ức…

Dạo ấy là cuối năm 1977, chúng tôi vừa từ giã trại tù quân quản Liên trại 2 để đến một nhà tù chính thức Yên Hạ – Sơn La thuộc Công an – Bộ Nội vụ. Cùng là đi cải tạo nhưng bên trong có chia ra nhiều loại. Loại cải tạo trong Nam tương đối nhẹ nhàng hơn, ngắn hạn hơn. Tù nặng, tù lâu là ra Bắc. Những năm đầu ra Bắc, tù đặt dưới quyền quân quản, tức là do bộ đội quản lý. Sau chừng từ 2 đến 3 năm tù được chuyển dần từ trại “trâu xanh” (bộ đội) sang trại “bò vàng” (công an). Ở trại tù chính thức của Bộ Nội vụ như trại Yên Hạ này chúng tôi được gặp những bạn tù anh em ta bị bắt từ hồi Mậu Thân (1968) cũng như một số anh em khác, tù binh từ trận Hạ Lào (1971). Những trại tù này thường là trại hỗn hợp vừa có tù chính trị (như tụi tôi) vừa có tù hình sự. Bên hình sự có thiếu gì những người tù bị hình án nặng nề từ 20 năm đến chung thân ở đây.

Đến trại Yên Hạ này, tôi được gặp Trung tá Kh., dân Tiếp vận bị bắt hồi Mậu Thân khi về Huế ăn Tết thăm gia đình. Anh còn sống sót không nằm trong nấm mồ tập thể mấy nghìn người, kể ra cũng phải tạ ơn Trời Phật. Cho đến lúc này thì Kh. đã có thâm niên 9 năm tù, kinh nghíệm hơn tụi tôi nhiều lắm (mới có trên 2 năm). Khi được hỏi về sự khác nhau, giống nhau giữa 2 trại trâu xanh và bò vàng Kh nói: “Một bên là dao găm, một bên là thuốc độc, không biết bên nào êm ái hơn bên nào”. Ngừng một lát Kh. Nói tiếp: “Tuy nhiên, qua các trại miền Bắc tôi thấy cuộc sống tù đày tùy thuộc khá nhiều vào trại trưởng. Mới chuyển sang trại bò vàng Công an mà các bạn được về đây là khá đấy. Ông cụ Việt, trại trưởng trại này là một biệt lệ trong các cai tù… Rồi các bạn sẽ thấy”.

Chúng tôi nhận ra biệt lệ này ngay trong lần đầu tiên lên hội trường nghe “huấn thị”. Trại trưởng trại Yên Hạ, cấp bậc Trung tá Công an, thường được gọi thân mật là cụ Việt, là một ông già tóc bạc, tuổi trên dưới 60, dáng vẻ trầm tư, phát ngôn mực thước. ông nói “Chúng tôi được trên giao nhiệm vụ quản lý các ông, cải tạo viên chính trị. Phạm nhân chính trị có quy chế riêng. Trại sẽ áp dụng đúng quy chế ấy đối vđi các ông. Tôi mong các ông chấp hành nội qui nghiêm chỉnh để trại chúng tôi thực hiện tốt mục đích trên giao mà các ông cũng tạo được kết quả bước đầu trong học tập cải tạo”.

Khác với cán bộ CS thường thay, trại trưởng Yên Hạ nói ngay vào vấn đề, ngắn gọn, cụ thể – không lèm bèm chửi mắng mà cũng không lý thuyết chính trị rẻ tiền. Nhưng điều đặc biệt là tù nhân chúng tôi chưa bao giờ nghe thấy ở đâu là ông cụ Việt này gọi chúng tôi là “các ông”. Sau tháng 4 đen 75, chúng tôi tự biết mình đang đi xuống nấc thang thứ bét của xã hội, thuộc vào giai cấp bị triệt tiêu, chưa bị hành hạ, bắn giết lúc nào là may lúc ấy. Có bao giờ chúng tôi nghĩ rằng mình lại được gọi là “các ông” như thế. Tìm hiểu về người trại trưởng, tôi lại phải hỏi Kh. , người tù thâm niên ở đây. Được tiếp xúc với trại trưởng nhiều lần, nên Kh. dường như hiểu biết khá rõ về ông cụ Việt. Kh. nói: ông ta là người có văn hóa, nói tiếng Pháp khá hay, nguyên là trưởng xa (chef train) của Sở Hỏa xa thời Pháp. ông ta hình như có tham gia hội kín, hội hở trước 1940 và sau mới chuyển theo Cách mạng. Vì “quá trình” như thế nên bây giờ gần tuổi về hưu rồi mà cấp bậc vẫn lẹt đẹt trung tá. Xem như tên trại phó Đặng U. dân răng đen mã tấu chính tông mới chưa đến 40 mà đã thiếu tá Công an rồi. Nó bóp còi qua mặt ông ta mấy hồi…”

Đây là trại tù chính thức của Công an miền Bắc, và tôi nhận ra rằng những trại tù sau này mà tôi sẽ đi qua đều có một kiến trúc tương tự. Tường đá bao quanh cao chừng 4m (ở đây Sơn La “lưới núi” nên xây tường bằng đá hộc), ở trên có chăng thêm 3 tầng dây thép gai chằng chịt. 4 góc có 4 chòi canh, công an bò vàng gác suốt ngày đêm, đầu giờ, cuối giờ kẻng đánh lia chia, gắt gỏng. Ngay bên cạnh cổng giữa đi vào là văn phòng trực trại, nhìn vào một cái sân rộng gọi là sân “tập kết” nơi tù các đội tập họp đợi giờ xuất trại đi làm. Cuối sân tập kết là Nhà Văn Hóa hay Hội trường, vừa là nơi hội họp, học tập toàn trại vừa là nơi trình diễn văn nghệ. Dọc hai bên sân tập kết là 2 khu nhà. Gọi là khu A và khu B . Mỗi khu lại chia ra nhiều lô nhỏ có tường bao quanh. Mỗi lô có một nhà tù dài chia ra làm 2 lán. Mỗi lán chứa 2 đội tù, từ 70 đến 100 người, tùy theo nhân số lúc vắng lúc đông. Chúng tôi đến trại Yên Hạ này đầu mùa rét tháng 11 năm 1977 lúc tù rầm rộ kéo về mỗi người tù chỉ có được chừng 50cm vừa ăn vừa nằm chật cứng. Khu A là khu dành cho chúng tôi, tù chính trị, khu B đối diện là khu hình sự. Theo quy định nhà tù, lô này không được sang lô kia, nếu không có phép của trực trại, và khu này với khu kia thì tuyệt đối cấm không được lai vãng.

Một buổi trưa, chúng tôi vừa tạm thu xếp chỗ nằm xong chợt có tiếng la giật giọng từ bên khu B đối diện vọng sang: “Chết tôi rồi, cứu tôi với. ôi cụ Việt ơi!” Từ một lô nhà khu hình sự một người tù đang cố sức chạy ra sân tập kết. Nhưng anh ta chạy không được vì một cán bộ Công an bò vàng đang nắm tóc người tù kéo giật xuống mà lên gối. Tiếng kêu cứu của người tù tắc nghẽn giữa những tiếng hự hự liên tiếp. Người cán bộ này ra đòn rất gọn rõ ra có nghề . Người tù rũ xuống như một đống giẻ rách mà cán bộ chưa tha. Còn “sút” thêm mấy quả vào lưng vào bụng. Chợt có tiếng ông cụ Việt từ một căn nhà gác ở bên ngoài cổng trại (ở dưới là văn phòng trại trưởng, ở trên là nơi ở) nói vọng vào: “Cái gì thế?” Có tiếng trại trưởng là cán bộ mới từ từ bỏ đi… Tù bên khu B mới ra cõng người tù hình sự vào nhà, hình như đã ngất đi, trào máu họng.

Vừa mới sang nhà tù Công an mà chúng tôi đã được “dàn chào” như vậy nên rét quá. Lại phải đi hỏi Kh. bạn tù thâm niên. Kh. nói “Tù hình sự ở đây nó khiếp lắm. “Đầu gấư’ cả đấy. Hở ra là nó giết nhau ngay. Cho nên cán bộ an ninh kiêm chấp pháp chuẩn úy Trần M. mới dữ như vậy. Nhưng trại trưởng ông cụ Việt thì ông ta không cho phép đánh tù. Có mặt ông là không được phép. Nhưng mà sau lưng ông là nó đánh ra gì. Đánh chết bỏ. Vài bữa nữa đi làm các bạn đi về phía Mường Thải, thấy có cái nghĩa địa mả cũ mả mới lô nhô, đó là chỗ tù theo nhau ra nằm ở đấy” – “Tù chính trị cũng vậy à”. – “Cũng nằm một chỗ nhưng có khác. Mả tù chính trị thì hơn được cái bia, hoặc là bằng đá hoặc là bằng gỗ. Còn mả hình sự thì vùi nông một nấm, coi như xong.”

Sau vụ dàn chào ghê rợn, một số anh em tù cải tạo thầm thì to nhỏ với nhau rằng: “Trại trưởng ông cụ Việt đóng vai ông Thiện, phó trưởng trại Đặng U. với cán bộ giáo dục (tức chính trị viên của trại) Nguyễn Hồng L., và cán bộ an ninh kiêm chấp pháp Trần M. đóng vai ông Ác. Đó là trò vừa đấm vừa xoa thường thấy.” Nhưng ở lâu hơn, tôi thấy hai khuynh hướng này đối chọi nhau rõ rệt, không phải chỉ là sách lược đối phó nhất thời.

Đã gần hết năm, một buổi họp bàn về tổ chức vui Tết năm Ngọ (1978) được cán bộ giáo dục Nguyễn Hồng L. chủ trì. Anh cán bộ mặt gà mái này tuyên bố: “Các anh sống một cuộc sống tay sai, trước là cho Pháp sau là cho Mỹ nên các anh thiếu văn hóa, hay là không có văn hóa. Bây giờ đi cải tạo, Cách mạng phải hướng dẫn các anh, dạy dỗ các anh sống có văn hóa. Trong dịp Tết này, trại dành cho các anh một nửa chương trình, một nửa cho khu A, một nửa cho khu B . Các anh hãy rán theo đường lối của Cách mạng mà sửa soạn một chương trình văn nghệ, để xem các anh có mở mắt ra được chút nào không?”

Còn ông trại trưởng ông cụ Việt, khi gặp ban Văn nghệ chúng tôi được triệu tập lo chương trình Tết thì ông cụ lại nhỏ nhẹ nói rằng: “Tết là một ngày lễ truyền thống của dân tộc. Các ông là người có học. Tôi hi vọng các ông sẽ đóng góp được một chương trình văn nghệ có ý nghĩa”. Cách ăn nói, thái độ khi tiếp xúc với chúng tôi của ông cụ Việt trại trưởng nó ôn tồn, thoải mái, không có vẻ nghiến răng căm thù như thường thấy nơi cán bộ CS. Phải chăng nguồn gốc xuất thân của ông đã khiến ông có một niềm thông cảm tự nhiên đối với chúng tôi, những người tiểu tư sản thua quân mất đất. Năm ấy chủ trương đấu tranh giai cấp còn rất mạnh; ở miền Nam đang vào cao điểm đánh tư sản, mại bản nên dân “Ngụy” chúng tôi từ trong tù cho đến ngoài xã hội được coi như một lũ “cùi” không ai dám đến gần. Đúng theo quy luật, chúng tôi là giai cấp bị triệt tiêu. Có những người bạn tù, có anh em ruột thịt làm lớn ở ngoài Bắc; Những nhà CM ấy đã vào Nam nhận họ, nhận “hàng”, nhận tiền, nhận bạc để khi ra Bắc, nhờ mang một số quà đi thăm người thân cải tạo. Nhưng dù là anh em ruột thịt, cùng mẹ cùng cha nhưng phần lớn các nhà CM ấy quên luôn, không dám đi thăm. Dính líu với ngụy quân ngụy quyền là phản động. “Thời kỳ phát động chiến dịch, bố tôi bị đi cải tạo là tôi cũng phải quên bố tôi luôn nếu tôi muốn có sổ gạo, có bát cơm mà ăn, huống hồ là anh em họ hàng”, một người tù hình sự đã nói với tôi như vậy. Thế mà ở đây đang mùa đánh tư sản mại bản, ông cụ Việt chánh giám thị trại tù lại gọi chúng tôi là “các ông”. Tôi chưa gặp ở đâu, cai tù CS lại gọi đối xử với tù nhân như vậy…

Trại triệu tập ban Văn nghệ tù chính trị bằng hai cách. Theo nghề nghiệp trước đây ghi trong hồ sơ và tin tức nhận được về những người tù có khả năng văn nghệ. Một người bạn của tôi được gọi ra thành lập ban kịch. Đó là bạn Nguyễn Văn Th. nguyên đạo diễn điện ảnh và sân khấu. Anh cũng là người được giải thưởng văn chương toàn quốc thời Đệ nhất Cộng hòa… cùng với nhà văn Nguyễn Mạnh Côn. Th. già là bạn cùng khóa 2 Thủ Đức và cùng ngành Chiến tranh Chính trị với tôi nên một bữa Th. tìm gặp tôi và nói: “Cán bộ chính trị nó chửi mình nặng như thế thì dù là tù đi nữa, mình cũng phải làm cái gì chứ ông”. Nể lời bạn nên tôi cũng vào ban văn nghệ với một nhiệm vụ khiêm nhượng “phụ tá khói lửa”. Ở miền Bắc, kịch cũng như điện ảnh bao nhiêu năm qua đều sống với đề tài chiến tranh nên tổ chức nào cũng phải có người lo về khói lửa tức là vấn đề kỹ xảo về súng bắn, mìn nổ, lửa cháy, v.v… Nhưng nhiệm vụ khởi đầu của tôi chỉ là đem đến ban kịch một cái nùi rơm và cái điếu cày để anh em giải lao hút thuốc. Ngẫm ra rất đúng với nhiệm vụ được giao: có khói và có lửa.

Nguyễn Văn Th. được lệnh viết một cái kịch ngắn cho anh em trình diễn. Nhưng mà bạn tôi kẹt, viết mãi không ra. Một bữa tôi mới nói với Th.: “Mình “sức voi” mà đi viết kịch. Tư tưởng mình khác, tư tưởng của họ khác. Đầu óc họ luôn luôn căm thù, nghi kỵ, không khéo rồi bút sa gà chết. Tại sao mình không lấy kịch của họ mà “chơi?” – “Nhưng mà kịch của họ, nó chỉ chửi bố mình không làm sao mà diễn”, Th. đủng đỉnh trả lời như vậy.

Khi mới về trại, tôi có thời gian lo liên lạc mượn một số sách, báo cho anh em, nên tôi biết thư viện trại có một số kịch bản. Trong trường kịch Quang Trung của Trúc Đường có một màn có thể tách ra diễn được. Tôi ngỏ ý với Th. già: “Màn Lửa Kinh Thành trong kịch Quang Trung này viết khá. Nếu chơi màn kịch này, mình có 2 điều lợi. Thứ nhất mình không mất công viết, kịch của họ, tác giả của họ mình khỏi lo về phần tư tưởng. Thứ hai kịch lịch sử nên anh em ta không có mặc cảm khi tập và khi diễn. Như thế may ra mới có “chút lửa” cho anh em”. Tôi đưa kịch bản Lửa Kinh Thành cho Th. đọc và bạn tôi đồng ý; sau đó kịch được đưa lên ban Giáo dục duyệt. Trong khi đó bộ phận nhạc do một số anh em ngành Tâm lý chiến đảm trách lo hát đồng ca, tốp ca, đơn ca và độc tấu tây ban cầm. Anh em bên nhạc cũng đồng ý chọn trình bày những bài ca ít sắt máu, ít căm thù mà vẫn bàng bạc một tấm lòng yêu quê hương xứ sở. Chương trình tổng quát được chuẩn y, gồm 30 phút ca nhạc, một giờ kịch, anh em bắt đầu vào tập dượt.

Chúng tôi tập ở trên Hội trường, anh em hình sự tập trong một căn nhà khu B. Chúng tôi được biết anh em hình sự được nghỉ lao động ăn tập trước chúng tôi 2 tuần theo một chương trình đã được công diễn từ những năm trước, nay chỉ ôn luyện lại cho thuần thục. Nửa buổi, khi chúng tôi đang uống nước cầm hơi thì anh em văn nghệ hình sự xuống nhà bếp đem về một rổ khoai lang “bồi dưỡng”. Theo như chúng tôi cảm nhận, ban Giáo dục trại đang dốc hết tâm lực để phần trình diễn của anh em hình sự nhuần nhuyễn, vượt trội hơn phần văn nghệ của tù chính trị, nhằm “dạy cho tụi ngụy một bài học về văn hóa”.

Anh em trong ban Văn nghệ khu A tuy không nói ra nhưng cảm thấy có trách nhiệm trong trò chơi văn nghệ của mình. Đói thì đói nhưng anh em tập dượt hết mình.

Cả nước làm bạn với khoai mì, khoai lang.

Còn gần một tháng nữa mới đến Tết nhưng không khí thi đua văn nghệ giữa 2 khu A, B đã lan truyền khắp trại. Anh em khu A đi làm ngoài, có bữa kiếm được củ khoai, miếng sắn lại dấm dúi đem cho. Chúng tôi hiểu được sự chăm lo, kỳ vọng của anh em. Cuộc chiến tranh quân sự tàn rồi, cuộc chiến tranh văn hóa còn đang tiếp diễn.
Một hôm đang nửa buổi, trại trưởng ông cụ Việt vào hội trường dự khán anh em chúng tôi tập dượt. Thấy gần trưa rồi mà ban Văn nghệ khu A vẫn xuông tình, ông cụ hỏi: “Anh em không nghỉ ăn bồi dưỡng hay sao?” Mấy người có trách nhiệm mới trình bày với trại trưởng là chúng tôi vẫn tập “xuông” không có “bồi dưỡng”. Ông cụ Việt liền cho gọi thi đua (mấy anh tù được cất nhắc lên làm chân chạy việc cho ban giám thị) lên chỉ thị: “Cung cấp ngay chế độ bổi dưong hằng ngày cho đội văn nghệ khu A”. Ông cụ còn dặn thêm: “lệnh trại trưởng cấp thêm cho mỗi đội văn nghệ của A lẫn B mỗi ngày một gói trà. Anh em tập dượt ca, kịch cần thấm giọng”. Thế là hàng ngày, “phụ tá khói lửa” là tôi lại thêm việc đun nước pha trà cho anh em nhấm nháp.

Đi vào thực hiện kịch lịch sử đối với chúng tôi, nó có ưu điểm nhưng cùng một lúc nó kéo theo nhiều điều phức tạp. Thứ nhất tập dượt cầu kỳ. Người “ngày xưa” ăn nói cử chỉ khác người ngày nay. Một ông quan văn với một ông quan võ chào hỏi, vuốt râu nó khác nhau, không giống nhau. Cách phát âm hay nói theo giọng nhà nghề “đài từ” của kịch lịch sử khác với kịch thời đại. Hơn nữa trang trí sân khấu, cách phục sức cho nhân vật kịch “ngày xưa” nó đòi hỏi nhiều nghiên cứu, nhiều phụ tùng hơn kịch “bây giờ”, cái kho đạo cụ của trại không thỏa mãn được. Vào việc đạo diễn Th. già bấn xúc xích về việc dàn cảnh, về đạo cụ nên bạn già yêu cầu tôi lo giúp về phần tập luyện.

Bạn Th. già biết dạo xưa tôi có sinh hoạt trong Sông Hồng Kịch Xã ở Hà Nội trước khi động viên vào quân đội, trong khi đó Th. già viết cho báo Giang Sơn. Chúng tôi biết nhau từ ngày ấy. Vả chăng tôi vốn sinh trưởng ở nhà quê mà làng tôi vốn là đất chèo, có một phường chèo thường trực ở trong làng nên tự nhiên tôi quen thuộc với một số ước lệ của tuồng, chèo cổ. Những năm đi kháng chiến ngoài bưng, tôi đi theo một đoàn Tuyên truyền xung phong nên tôi cũng tàm tạm có một số kinh nghiệm về sân khấu. Cho nên nhận lời bạn già, tôi đang là “phụ tá khói lửa” lại thêm một chức vụ nữa “phụ tá đạo diễn”.

Không gian kịch là tư dinh Đinh Đề Lĩnh, viên quan trấn thủ kinh thành Đông Đô (Thăng Long – Hà Nội). Thời gian là đêm mồng 4 tháng Giêng năm Kỷ Dậu đêm trước của toàn quân vua Quang Trung đại phá quân Thanh. Vở kịch đòi hỏi 5 vai quan trọng: Đinh Đề Lĩnh, trấn thủ Thăng Long; thất vọng trước sự yếu hèn của hôn quân Lê Chiêu Thống, căm hận trước sự tham tàn bạo ngược của quân tướng nhà Thanh nên phút cuối cùng Đinh Để Lĩnh nghe theo lời khuyến dụ của La Sơn Phu Tử, đặc sứ của vua Quang Trung Nguyễn Huệ, mở cửa thành, đốt kho lương thảo khi nghĩa quân tấn công. Vai chính Đinh Đề Linh do Nguyễn Huy T., đại úy đài Tự Do cục Tâm lý chiến đảm trách. T. là một con người tài hoa, hát hay, nhảy giỏi, dáng người cao mà thanh, vừa văn vừa võ, đã nhập vai Đinh Để Linh rất đẹp. Anh chơi kịch từ thời sinh viên nên có đủ bản lĩnh trên sân khấu vừa say mê vừa tỉnh táo.

Vai La Sơn Phu Tử do Nguyễn T. cũng đại úy bên Tổng cục Chiến tranh Chính trị (người ở Seattle vừa viết thư cho tôi) nhận lãnh. Nguyễn T. vốn là em một người bạn tôi, nên tôi biết T. từ khi chưa bị động viên vào quân đội. T. đi Hướng đạo nên quen thuộc với sân khấu. T. không dám tin ở tài sức của mình nhưng tôi khuyến khích T. nhận vai La Sơn Phu Tử. T. vốn người Thanh Hóa, nói được giọng già, dáng người văn nhã mà cứng cỏi, lại chuyển sang gíọng Nghệ An – Hà Tĩnh rất ngọt nên có đầy đủ dáng vẻ của một mưu sĩ “đàng trong”. Một vai phản diện rất gay là vai tướng nhà Thanh, nói tiếng Việt ngọng líu ngọng lo mà tham dâm hiếu sắc do Trung tá Lê Văn Hóa, Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn văn nghệ Quân đoàn 4 phụ trách. Anh là người tràn đầy kinh nghiệm sân khấu lại thêm là “vua cười” của đội, luôn mồm hát, no cũng hát, đói cũng hát “Ngộ bên Tàu à… ngộ mới sang – sang Nam Việt bán buôn làm giàu…” nên vai tướng Tàu như là vai viết riêng cho anh vậy.

Người nữ độc nhất, cô chủ quán mê hoặc tướng Tàu do đại úy Tôn Thất L. thủ vai. Anh đi tù cực khổ, đói khát như vậy mà vẫn da trắng tóc dài, mắt sắc như dao làm gái Thăng long rất đẹp. Riêng có một vai quê mùa, vai ông già chăn ngựa thọt chân, luôn luôn say xỉn do một đại úy Cảnh sát đảm nhận vai mà tập mãi chưa vô. Anh có nhân dáng quê mùa, cục mịch, say mê vai diễn nhưng tiếng cười, giọng nói của anh nó văn minh quá, thành thị quá thiếu mất chất nhà quê. Mà đây là vai quần chúng vai đại diện cho nhân dân phản kháng nên trại để ý lắm. Thiếu úy Công an Q. đại diện cho phòng Giáo dục, hằng ngày theo dõi chúng tôi tập dượt, lắc đầu trước vai ông già chăn ngựa mà phê bình đủng đỉnh “chưa được”. Sau rồi, đạo diễn Th. già mới tham khảo ý kiến anh em mà bảo tôi rằng: “Ông khỏi mất công dượt cho anh ấy nữa. Ông thì vừa già, vừa chân tập tễnh, lại vừa có chất quê… thế thì ông chơi ngay cái vai ấy đi cho nó tiện việc sổ sách.” Anh em cũng ồn ào đề nghị nên tôi lại kiêm luôn vai cụ Triệu ông già chăn ngựa. Sở dĩ đạo diễn Th. già và tôi chú ý đến giọng nói là vì khi diễn kịch ở đây, chúng tôi diễn “chay” không có ban nhạc làm nền (background music). Vì vậy phải đặt trọng tâm vào giọng “thoại”, đưa vào đó nhiều màu sắc để phần nào quên đi cái thiếu vắng nhạc nền kia.

Có giọng Bắc trầm hùng cứng cỏi của Đinh Đề Lĩnh, giọng miền Trung uyển chuyển, sâu sắc của La Sơn Phu Tử, giọng ngọng nghịu của tướng Tàu, giọng Bắc pha Huế đài các của cô chủ quán, giọng quê mùa bạo liệt của ông già chăn ngựa. Nút kịch được thắt khi La Sơn Phu Tử đang đêm được ông già chăn ngựa nhà ở gần bên đưa vào gặp Đinh Đề Lĩnh ở tư dinh, thuyết điều hơn, lẽ thiệt. Kịch được thắt thêm 1 nút khi tướng Tàu sục sạo đi tìm cô chủ quán xinh đẹp bất ngờ xộc vào tư dinh Đinh Đề Lĩnh khi La Sơn Phu Tử còn đang hiện diện. Để tránh cho cơ mưu của “đàng trong” đừng bại lộ, cũng là cởi nút cho vở kịch… ông già chăn ngựa liền dũng cảm nhảy vào đâm chết tướng Tàu rồi cùng chết. Cái chết bất ngờ của ông già chăn ngựa như một giọt nước làm tràn ly khiến Đinh Đề Lĩnh còn đang do dự, chuyển hẳn sang thế nghĩa quân… mở cửa thành, đốt kho lương thảo khi đại quân vua Quang Trung tràn tới. Sau đó, bình minh ngày 5 tháng 1 năm Kỷ Dậu cũng vừa hiển hiện.

Để lo việc trang trí sân khấu và phục sức cho nhân vật kịch, trung tá Quân cụ Tr., nguyên sinh viên Mỹ Thuật ngày nào bây giờ là trưởng ban đạo cụ liền đem cái tài hoa còn lại của mình sửa chữa mấy đôi bốt hư của cán bộ thành hia cho văn quan, võ tướng nhà Lê , cải biến mấy cái mền dạ cũ màu đỏ, màu xám thành nhung y cho Đinh Đề Lĩnh, cho tướng nhà Thanh. Mấy cái đường kẻ đen trên tấm mền đỏ ngày nào bây giờ dưới bàn tay thần tình của Tr. đã biến thành hoa văn “thủy ba sóng rợn”. Tướng nhà Thanh thì nhung y lẫm liệt, hia mão đàng hoàng. Nhưng khi Đinh Dề Lĩnh, võ quan nhị phẩm triều đình đội mão theo đúng nghi thức thì tôi có ý kiến là Đinh Đề Lĩnh không nên đội mão chỉ nên đội khăn. Đội mão xem ra nó “cải lương” hơn, không truyền thống bằng cái khăn lượt Việt Nam. Đạo diễn Th. già đồng ý. Anh Tr. cũng đồng ý tuy rằng anh rất tiếc chiếc mão “võ quan nhị phẩm” rất công phu của anh.

Trong thành tích trang trí tư dinh của Đinh Đề Lĩnh ngày Tết, anh Tr. đắc ý nhất là 3 chữ đại tự anh viết trên bức hoành phi (bằng giấy): Huyết do hồng. Tr. vừa là nghệ sĩ vừa là trí thức. Th. già và tôi hiểu ý anh, nắm tay anh thông cảm. Thiếu úy Công an Q. người thường xuyên sinh hoạt với chúng tôi một bữa mới hỏi Th. già về ý nghĩa mấy chữ nho này. Th. giải thích: đây là 3 chữ cuối trong vế đối, nhắc lại chiến công chống xâm lược phương Bắc của tiền nhân “Đằng Giang tự cổ Huyết do hồng” (Nước sông Bạch Đằng từ xưa đến nay vẫn còn đỏ máu). Tôi thấy Thiếu úy Q gật gù, ngẫm nghĩ, và từ đó thái độ đối với chúng tôi có khác. Anh em chúng tôi dù sống kiếp tội đồ khổ sở, đói khát nhưng trong công tác văn nghệ này ai củng cố gắng đóng góp một chút gì, để hi vọng nói lên rằng: chúng tôi thua trận, bị cầm tù, bị lăng mạ nhưng chúng tôi có văn hóa theo cách riêng của chúng tôi.

Đã đến ngày 30 Tết, năm Tỵ sắp sang năm Ngọ (1977-1978). Nghe anh em lưu cựu ở đây 1âu nói rằng chưa có bao giờ trại ăn Tết to như thế. Có lệnh của trại trưởng là bao nhiêu tiền quỹ của năm cũ chi cho bằng hết nên Tết đến thịt trên 10 con heo, 1 con bò; tát ao lấy cá chắm, cá chép lên ăn Tết. Mấy vườn su hào cũng nhổ “đại trà” làm dưa. Toàn là món “cao cấp” cho toàn trại, toàn thể tù nhân ăn Tết. Trong 10 năm đi tù cải tạo, tôi ngẫm lại chưa có năm nào, ở đâu được ăn một cái Tết tù như vậy. Ngoài các món ăn, anh em tù nhân còn được lĩnh mỗi người hai bánh chưng, thuốc lá, thuốc lào, và đêm 30 đi xem kịch tất niên về toàn trại còn có cháo lòng bò bồi dưỡng. Nghe phong thanh là sau Tết trại trưởng trung tá Trần Việt sẽ nghỉ hưu nên ông xã cảng “cái gì của tù là trả hết cho tù”.

Vài ngôi mộ của những người tù cải tạo.

Bữa tổng dượt có mặt đủ ban Giám thị trại, chương trình của khu A chúng tôi được cán bộ giáo dục Nguyễn Hồng L. chăm chút rất kỹ. Y ta để ý rất nhiều đến những sự “đóng góp” của chúng tôi vào vở kịch, hỏi khá kỹ về câu đối “Đằng Giang tự cổ huyết do hồng “. Vốn bản tính đa nghi nên y không muốn đưa vào bất cứ điều gì không có trong kịch bản. Ông cụ Việt, có lẽ ông ta là người rộng rãi kiến văn nên ông cụ nói: “Tư dinh một viên võ tướng có tâm hồn với đất nước mà treo bức hoành Đằng Giang tự cổ huyết do hồng thì được lắm. Để đối phó với cường lân phương Bắc lại càng hay nữa .” Nhưng cán bộ giáo dục tỏ ý ngần ngại, khi chúng tôi định hát đoạn đầu của bài Thăng Long Hành Khúc của Văn Cao vào đoạn kết của vở kịch. Nguyên văn trong kịch bản chỉ có “tiếng hô sát của đại quân ta nhỏ dần rồi màn hạ”. Ỏ đây chúng tôi trong hậu trường sẽ hô “sát, sát” đồng loạt rồi hát từ từ nhỏ đến to dần lên “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long thành cao đứng, trông khói sương chiều ám trên dòng sông. Nhị Hà còn kia Nhị Hà còn đó, lũ quân giặc Tôn sập cầu trôi đầy sông.” Màn từ từ khép và đến đó là dứt kịch. Chúng tôi muốn cho cái “coup de rideaư’ nó thêm sức thuyết phục. Đã thử lại lúc màn hạ này mà không có tiếng đồng ca Thăng Long Hành Khúc ở bên trong. Nó nguội đi nhiều lắm. Cán bộ giáo dục cuối cùng chấp nhận “cách đạo diễn” của chúng tôi nhưng nhất quyết không bằng lòng 2 chữ “giặc Tôn” mà phải đổi ra là nhà Thanh “cho nó rõ nghĩa” (chữ của y ta, bởi vì giặc Tôn có thể liên tưởng đến Tôn Đức Thắng chăng?).

Tối 30 Tết, trại Yên Hạ nôn nả hẳn lên. Mới 7 giờ đêm, mà hội trường đã chật cứng. Phạm nhân khu A ngồi bên phải. Khu B bên trái. Những dãy ghế phía trên là dành cho quan khách, gồm cán bộ khung xã sở tại, huyện ủy Phù Yên, cán bộ Công an và gia đình. Cứ như ý kiến bữa tổng dượt thì đêm 30 Tết, ban Văn nghệ sẽ diễn trong trại. Mồng 4 Tết chúng tôi sẽ ra huyện lỵ Phù Yên diễn cho dân chúng tới xem. Cho nên buổi diễn hôm nay là buổi diễn trong chương trình vui Tết đón Giao thừa, vừa là buổi phúc khảo trước khi ban Văn nghệ “đem chuông đi đấm xứ người”.

Chương trình khu B, bên hình sự được diễn đầu tiên. Cũng đồng ca, đơn ca, một màn kịch ngắn “đánh Mỹ” và kết bằng màn dân ca Quan họ Bắc Ninh. Anh em hình sự chơi chương trình này đã “thuộc” nên đối đáp, tung hứng rất là nhuần nhuyễn. Nhưng vì “bổn cũ soạn lại” nên nó làm cho tù chính trị chúng tôi chăm chú hơn là khán giả sở tại.

Bên hình sự có một ca sĩ tên Ng. hát rất hay, rất kỹ thuật; nghe nói anh ta đã tốt nghiệp thanh nhạc nên hát đâu có thua gì ca sĩ trên đài phát thanh. Ca sĩ bị tù mút mùa vì nghe nói anh mắc tội làm tem, phiếu giả. Kịch “đánh Mỹ” thì không có gì mới. Vẫn theo công thức cũ. “Mỹ cút, ngụy nhào, quân ta kẻ thù nào cũng đánh thắng, khó khăn nào cũng vượt qua”. Nhưng phải công nhận anh em hình sự chơi nhạc cảnh Quan họ “Mời trầu, giã bạn” rất đằm thắm, ý nhị và duyên dáng. Đây là một tiết mục hay. Khi anh em cúi đầu chào khán giả, chúng tôi dù ở trên sân khấu, đang sửa soạn “ra trò” mà chúng tôi cũng không ngừng vỗ tay tán thưởng. Đoàn trưởng đoàn kịch khu B. Quách H., đứng ở cánh gà phía bên kia, đứng nghiêm, để tay lên ngực cúi đầu chào lại chúng tôi như một sự cảm thông cái tình tri âm, tri kỷ.

Có lẽ “cái đinh” của đêm văn nghệ hôm nay đối với khán giả địa phương là Văn nghệ khu A, tù chính trị. Họ chưa bao giờ được biết miền Nam thật sự như thế nào? Miền Nam đã thua, đã tan nát nhưng những tàn dư của miền Nam, lũ tù chính trị chúng tôi, vẫn còn đây. Họ đã được nghe “nhà nước ta” nói rất nhiều về miền Nam, nhưng “trăm nghe sao bằng một thấy”. Văn nghệ, là một thái độ sống. Họ muốn biết thái độ sống của miền Nam thế nào qua những đại diện khốn khổ nhưng trung thực là chúng tôi Chúng tôi cũng cảm nhận được điều đó nhưng trong tình trạng tù đày, bó buộc như thế này, biết ăn, biết nói làm sao? Thôi thì “sức người có hạn, được đến đâu hay đến đó”.

Qua mấy màn ca nhạc, đồng ca, đơn ca, tôi nghiệm ra là về kỹ thuật, chúng tôi không sánh bằng anh em hình sự. Điều dễ dàng nhận thấy là tù chính trị già hơn, nên hơi hám kém hơn. Nhưng hiệu quả sân khấu thì chưa chắc ai hơn ai. Lấy ví dụ như ca sĩ Văn B . của chúng tôi hát làm sao tốt bằng, khỏe bằng Ng. bên khu B, nhưng khi anh hát xong tiếng vỗ tay có lẽ nhiều hơn, nồng ấm hơn. Ng. hát giọng ngực, lớn, vang nhưng anh hát theo lề lối thường thấy ở ngoài Bắc, không rõ lời. Nhiều khi không biết anh hát cái gì nữa chỉ thấy trước sau giọng ngân vang rền rĩ mà thôi. Còn Văn B. anh là ca sĩ tài tử (ngoài Bắc kêu bằng nghiệp dư, thích thì hát chơi không phải nhà nghề) nên hát bài nào anh phổ tâm tình vào bài hát đó. Anh không trưng bày giọng hát mà như văn nghệ thường thấy ở miền Nam, anh có một tâm sự để mà kể lại. Anh thuộc loại ca sĩ trữ tình (chanteur de charme) không phải ca sĩ Opera như khuynh hướng ngoài Bắc. Cho nên nghe Văn B . ca sĩ miền Nam, hát không giỏi bằng, không khỏe bằng nhưng nó dễ nghe hơn, nó thấm thía hơn, nó con người hơn. Mà cũng có thể vì cách hát của anh khác lạ hơn nên anh được chú ý và tán thưởng.

Tiết mục gây được nhiều tiếng cười sảng khoái là màn tốp ca. Anh em chúng tôi dựng tiết mục này theo lối AVT, nhằm kiếm được nụ cười trong tình trạng tối ám của nhà tù. Mà điều này cũng là một thực tế. Chúng tôi là phạm nhân nhưng trong đời sống chúng tôi vui cười nhiều hơn cán bộ coi tù. Ở ngoài Bắc, hoặc là người ta sống căng thẳng quá hoặc là người ta phải ngụy trang lối sống cho nên phần đông mọi người mặt khó đăm đăm. Đây là bệnh táo bón tinh thần thường thấy nơi xã hội thiếu tự do. Ba bạn Đỗ H., Văn B., Trịnh P. hát hò, đối đáp với nhau thoải mái. “Cái gì nhúc nhích là ta chén liền “. Tiếng cười đồng cảm vang lên. Từ cánh gà nhìn xuống, tiếng cười lan tỏa chỉ có người cau mặt là cán bộ giáo dục…

Màn gây ấn tượng sâu sắc là độc tấu Tây ban cầm. Đây là loại đàn nhiều người chơi. Nhưng tập tành đến nơi đến chốn chơi được nhạc cổ điển hay bán cổ điển thì có rất ít người. Người anh em chơi Tây ban cầm của chúng tôi đã có trên 10 năm cầm đàn. Anh bữa ấy độc tấu một bản bán cổ điển. Một cây đàn Tây ban cầm mà như một dàn nhạc. Có lúc réo rắt như violon, lúc nhảy nhót như mandoline, khi rộn rã như piano, khi trầm hùng như một đoàn quân nhạc đón đoàn chiến binh chiến thắng trở về . Tôi nghĩ đám đông khán giả kia chưa chắc đã hiểu hết ý nghĩa của bài vừa diễn tấu nhưng nhìn bàn tay buông bắt đầy kỹ xảo, nghe âm thanh tiết tấu phong phú, họ hiểu rằng chơi đàn như vậy là một kỳ công. Kỳ công ấy là văn hóa.

Giọt nước mắt người vợ tù cải tạo trong ngày cựu tù Bình Điền họp mặt tại Nam California, ảnh Huy Phương. Hình dưới: triển lãm hình ảnh về trại tù cũ.

Bây giờ bắt đầu tiết mục cuối cùng, tiết mục chủ yếu chấm dứt đêm văn nghệ, kịch Lửa Kinh Thành, trung tâm đầu tư công sức của chúng tôi. Tôi nhìn suốt một lượt. Sân khấu đã trang trí chỉnh tề. Diễn viên đã sẵn sàng, đạo cụ đầy đủ. Th. già nhìn tôi. Tôi giơ tay ra dấu sẵn sàng. Trưởng ban đạo cụ kiêm trang trí sân khấu, họa sĩ Tr. đưa cho Th. một thanh gỗ. Rất trịnh trọng Th., nhà đạo diễn giơ cao thanh gỗ nện 3 lần xuống sàn sân khấu. 3 tiếng gõ truyền thống của sân khấu kịch bắt đầu. Màn từ từ mở. Tư dinh quan Đề Lĩnh với hoành phi, câu đối, lộ bộ, cờ hiệu trên án thư, kiếm treo trên tường đã phút chốc đưa người xem về không khí trang trọng và sương kính của thế kỷ 18. Một tràng pháo muộn của đêm mồng 4 Tết từ đâu vẳng lại. Đinh Đề Lĩnh, võ phục uy nghiêm, lưng mang đoản kiếm tiến lại gần án thư, cúi mặt thở dài. Chợt lính hầu khép nép hiện ra chắp tay thưa:

– Bẩm quan, người vừa đi chầu về.

– Có chầu chực gì được đâu. Hoàng thượng còn bận sang hầu Tôn Tổng đốc… Ở nhà có chuyện gì không ?

– Bẩm quan, có ông cụ Triệu mấy lần sang kêu về cỏ ngựa. (Có tiếng i ới bên ngoài vang lên: Quan lớn về chưa ?) Đấy lại có tiếng ông cụ…

– Ra mời ông cụ Triệu vào đây.

(Ông cụ Triệu, ông già chăn ngựa, tập tễnh vì thọt chân, lảo đảo vì say rượu, chầm chậm bước vào).

– Xin kính chào quan lớn.

– À cụ Triệu (giọng độ lượng), Thế nào ? Cụ đã làm lễ tạ ông vải chưa?

– Bẩm quan, các cụ nhà tôi có về đâu mà tiễn. Con cháu còn không đủ ăn lấy gì mà thỉnh các cụ. Bẩm quan, từ ngày Hoàng thượng hồi loan đến giờ, nhờ ơn Hoàng thượng mà cả nước này đói xanh xao cả người ra đấy quan lớn ạ.

Vừa nghe đến đó, cả khối B hình sự như chạm phải một luồng điện, vùng lên vừa vỗ tay vừa cười la ầm ĩ. Qua nửa chương trình, tôi nghiệm ra khán giả khu B thưởng thức văn nghệ rất nhạy bén. Không thích là ồ, là suỵt, là thở dài ào ào, mà thích là vỗ tay là cười la thoải mái. Ở đây kịch vừa mới bắt đầu, động tác chưa “chuyển”, tại sao anh em lại hoan nghênh như vậy? Sau hỏi ra mới biết là chưa có ở đâu dám động đến cái đói thâm căn cố đế của miền Bắc như vậy. Cả nước đói “xanh xao” mà vẫn phải luôn miệng “ơn đảng ơn người”. Đến những cảnh sau, khi động đến sự thối nát của đương triều, sự bạo ngược của đoàn quân họ Tôn là anh em hình sự lại vỗ tay rôm rả. “Cái quân họ Tôn này là nó vừa trí trá vừa ngông cuồng” (vỗ tay). “Tại sao nhà Lê lại có một ông vua ươn hèn như vậy, cõng rắn cắn gà nhà (vỗ tay rất lâu). Người miền Bắc sống dưới một chế độ chuyên chính lâu ngày, đã trở thành một vương quốc nói dối. Không ai dám công khai nói thực ý kiến của mình. Có nói là phải nói gần nói xa, nói cạnh nói khóe. Đói phải nói là no, khổ phải nói là sướng. Đang trong tình trạng ấm ức như thế, ơn đảng ơn người như thế mà bây giờ có người dám nói thẳng ra giữa chốn trù nhân quảng tọa “là từ ngày Hoàng thượng hồi loan đên giờ nhờ ơn Hoàng thượng mà cả nước đói xanh xao cả người ” thì dân hình sự nghe nó sướng quá, nó thỏa mãn quá. Nói đến quân họ Tôn thì họ không nghĩ đến Tôn Sĩ Nghị mà nghĩ đến Tôn Đức Thắng”. Ông vua nhà Lê ươn hèn thối nát họ không nghĩ đến vua Lê Chiêu Thống mà lại nghĩ đến ông “vua” Lê Duẩn đương thời.

Thực tình khi trình diễn chúng tôí không hề có hậu ý đó. Chỉ cốt tìm một kịch lịch sử để cho anh em có chỗ diễn mà thôi, những sự kiện trên hoàn toàn là sự ttùng hợp tình cờ. Nhưng anh em hình sự lại nghĩ chúng tôi cố ý nên khi vở kịch kết thúc là anh em hình sự đứng dậy vỗ tay như pháo nổ, nồi niêu xoong chảo gõ loạn lên, hoan hô kịch liệt. Đội trưởng đội văn nghệ khu B, Quách H. chạy lại nói với Th. và tôi: “Các đàn anh chơi kịch đâu ra đấy” . Mấy chú hình sự “đồng nghiệp văn nghệ” thì chạy lại cõng Đinh Đề Lĩnh, La Sơn Phu Tử mà quay mòng mòng.

Điều làm trại phó Đặng U., cán bộ giáo dục Nguyễn Hồng L. và cán bộ an ninh kiêm chấp pháp Trần M. khó chịu hơn hết là họ muốn qua văn nghệ khu B dạy cho chúng tôi một bài học về văn hóa thì bây giờ chính anh em hình sự sau buổi trình diễn lại càng gần gũi thân thiết với chúng tôi hơn.

Cái vui của đêm văn nghệ không kéo dài được bao lâu. Ngay mồng 2 Tết, còn đang ngày nghỉ, Th. và tôi cùng mấy anh em bên ca nhạc có lệnh đi họp với cán bộ giáo dục, đã nhận được một tin choáng váng “buôỉ diễn hôm mồng 4 Têt ngoài huyện Phù Yên được hủy bỏ. Đội văn nghệ nghiệp dư giải tán ngay sau kỳ nghỉ Têt”. Chúng tôi phải về làm kiểm điểm về “những sai phạm trong công tác văn nghệ”. Ngày mồng 4 Tết trước khi nộp kiểm điểm, Th. và tôi được thiếu úy Q. phụ tá giáo dục, gọi ra nói khẽ: “Trước sau như một, phải cam kết là diễn y như kịch bản, không thay đổi một chữ”. Không hiểu bạn tôi Th, làm kiểm điểm ra sao, riêng tôi cứ y thế thi hành. Có lẽ thiếu úy Q., người đi sát chúng tôi khi tập dượt, phần nào thông cảm chúng tôi sau hơn một tháng trời sát cánh nên chút thiên lương còn lại đã khiến y chỉ cho chúng tôi cái cạm bẫy mà chúng tôi cần tránh. Nếu chúng tôi, trong khả năng thường thấy của đạo diễn, có sửa đổi kịch bản cho nó thêm phần sống động, là chúng tôi có thể bị ghép vào tôi “bôi xấu chế độ có hệ thống” một trọng tội thuộc hàng quan điểm. Thực ra chúng tôi chỉ linh động phần trang trí mà không hề đổi thay kịch bản một chữ nào. Đương sự, phó trại trưởng Đặng U. đã chính thức lên trại trưởng khi Tết ra, cán bộ giáo dục Nguyễn Hồng L., cán bộ an ninh kiêm chấp pháp Trần M. khi đọc lại nguyên văn kịch bản của Trúc Đường chắc cũng nhận ra điều đó. Nhưng người CS vốn luôn luôn cảnh giác, cảnh giác nhiều quá thành đa nghi nên mới “có tật giật mình” như thế.

Sau một tuần lễ kiểm điểm đi kiểm điểm lại, người chịu tội thay cho toàn thể ban văn nghệ khu A là bạn trẻ Đỗ H. bên phần nhạc. Thật ra khi sáng tác ra bản nhạc vui kiểu AVT, nhiều anh em xúm lại cùng làm, trong đó có tôi. Nhưng khi bị cán bộ giáo dục quy tội “bôi bác chế độ” trong câu “cái gì nhúc nhích là ta chén liền” Đỗ H. một mình nhận hết cho anh em. Trong 3 người ca hát AVT, Đỗ H. cũng là người hát duyên dáng nhất, nên bị cán bộ gà mái Nguyễn Hồng L. cho rằng “nhảy dậm giựt phát huy văn hóa đồi trụy”. Tôi thường ngày rất gần gũi Đỗ H., bởi vì H. ngoài việc tính tình khẳng khái, hát giỏi, thơ hay, anh còn là một người “biết sống”. Nửa đùa nửa thật nhiều lúc anh gọi tôi là “ông thầy”. Có miếng khoai củ sắn anh thường chiếu cố đền tôi. Một hôm trời mưa không đi ra ngoài làm được anh cũng “bồi dưỡng” tôi miếng sắn. Tôi thấy rõ ràng sắn khẩu phần của trại đâu phải sắn cải thiện bên ngoài. Cho nên dù luôn luôn đói, tôi không nhận củ sắn H. cho. “Anh cứ ăn đi mà” – “Chú mày coi tao ra làm sao mà lại đi ăn sắn khẩu phần của chú mày cho được”. Đỗ H. đủng đỉnh “Nóỉ thật với anh, H. chỉ ăn môt nửa số sắn trại phát là đủ rồi. Tập cho cái bao tử nó quen đi. Chế độ này nó chỉ giỏi nắm cái bao tử của mình. Mình tập cho bao tử nó teo lại thì dù có bị nắm, nó cũng không ảnh hưởng bao nhiêu. Em thấy ngoài hiện trường anh cuốc hăng quá. Cuốc chút chút thôi chớ”. Nghe xong tôi mới tỉnh ra mà nói: “Thôi chú mày đừng có gọi tao là ông thầy nữa, chú mày mới đúng là ông thầy của tụi tao”.

Người anh em của tôi, Đỗ H. bị lên làm việc trên phòng an ninh chấp pháp liên miên. Đỗ H. có nhắn một người bạn Nguyễn T. La Sơn Phu Tử nói với tôi là bất cứ ở đâu, trong trại ngoài hiện trường đừng gặp Đỗ H., coi như không quen biết. Một buổi sớm mai, Đỗ H. được đi làm trở lại. Đỗ H. gầy rộc, mặt mũi vêu vao, thâm tím. Sau này tôi mới biết, đối với tù chính trị, cán bộ khi cần không có đánh công khai. Gọi lên “làm việc”, đánh kín trong phòng chấp pháp.

*
Từ ngày trại phó Đặng U. lên làm trại trưởng, lũ tù cải tạo chúng tôi gieo neo vất vả hơn nhiều. Khẩu phần ít đi, làm việc nhiều hơn. Làm quần quật ban ngày, đêm còn “ngồi đồng” bình bầu, tự phê, tự kiểm.. . Trời đã sang tháng 3, hoa gạođã bắt đầu nở đỏ, chim “bắt cô trói cột” mà cán bộ bắt chúng tôi gọi là chim “khó khăn khắc phục” đã ra rả ở đầu rừng. Từ khi trại phó Đặng U. lên, tôi được thăng chức làm “phân cục trưởng” chuyên môn đi gánh c… Mỗi buổi sáng, gánh từ trại ra đội rau 3 chuyến là xong. Chuyến cuốì cùng, tắm rửa xong ra về anh em chúng tôi bất ngờ gặp ông cụ Việt, nguyên trại trưởng đang ngồi trên chiếc xe đạp gần nhà kho của trại. “Thưa cụ, cụ từ trên huyện về thăm trại”. – “Vâng, các ông đi làm; tôi về lĩnh chút tem, phiếu”. Ngày ấy chế độ bao cấp còn thịnh hành, người ta sống bằng phiếu gạo, phiếu đường, phiếu sữa, phiếu bột ngọt, phiếu thuốc lá, thuốc lào, v.v… ông cụ Việt chắc chưa chuyển hộ khẩu về huyện Phù Yên nên hàng tháng vẫn phải lên trại lĩnh chút nhu yếu phẩm. Tôi nghĩ vậy.

Nhưng buổi chiều đi làm tôi vẫn gặp ông cụ ngồi trên chiếc xe đạp cũ bên cạnh cửa kho. Chưa ai phát nhu yếu phẩm cho ông cụ, mà cũng không ai mời ông cụ vào nghỉ chân qua lúc ban trưa. Tôi tự nghĩ tại sao cùng là cán bộ với nhau, người ta lại phũ phàng với ông già như vậy? Tôi chợt nhớ đến câu nói của người tù hình sự khi mới về đây “Đang phát động chiến dịch đánh tư sản mại bản nếu bố tôi có bị đi cải tạo tôi cũngphải quên bố tôi luôn, nếu tôi muốn có bát cơm mà ăn “. Sự nghỉ hưu bất ngờ và vội vã của ông cụ Việt có liên hệ gì đến việc ông cụ đối xử tử tế với tù nhân, đến việc ông gọi chúng tôi là “các ông”. Câu hỏi này cứ làm tôi băn khoăn thắc mắc mãi. Bất giác, một người tù khổ sai biệt xứ là tôi lại thấy cảm thương một người cai tù già “cùng một lứa bên trời lận đận “.

Bạn T. “La Sơn Phu Tử” cái thư của bạn làm tôi bồi hồi nao nức về chuyện văn nghệ trong tù 19 năm xưa. Bạn nói là có lúc nào chúng ta gặp lại nhau “chơi” lại cái màn kịch “Lửa Kinh Thành” không nhỉ? Khó lắm bạn ơi. Làm sao người ở lục địa này, người lục địa kia hội họp bên nhau cho được. Lại còn chuyện người còn kẻ mất. “Tướng nhà Thanh”, người bạn Lê Văn Hóa của chúng ta đã đi rồi. Anh mất ở trại Thanh Phong rừng sâu Hạ Lào. Anh cứ phù lên xẹp xuống như “thủy triềư”. Hôm cáng anh lên tuyến trên rồi nghe tin anh mất ở đó, nằm trên cáng mà anh vẫn hát “ò e con ma đánh đu, thằng Tây nhảy dù, Zoro bắn súng”. Người đâu mà lạ. Cười ngoài đời, cười trong tù, cười luôn khi sắp chết.

Bạn nói trong thư “ước gì chúng ta…” Bạn ơi nếu tôi có một điều ước, tôi ước mong cho ngày nào trời đất phong quang, chúng ta được trở về đất nước Việt Nam yêu dấu, muốn đi đâu thì đi. Tôi sẽ đi tới những t’rại tù năm cũ, thăm lại người xưa, thăm lại các bạn tù chúng ta còn nằm lại. Tôi sẽ tới trại Yên Hạ, tới quận Phù Yên hỏi xem ông cụ Việt trại trưởng năm xưa còn sống hay không? Nếu gặp được ông cụ tôi sẽ nầm lấy tay mà nói “Tôi là là cựu tù nhân Yên Hạ đây, cụ còn nhớ tôi không, thưa cụ?”


Phan Lạc Phúc.


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:


Đàn Chim Việt Online.net

Ái Tử Bình Điền

Trách Nhiệm Online