30 – 4: Chuyện Người Nghĩa Quân Thờ Hình Chính Mình.

 Hình ảnh minh họa: Lễ Xuất Phát Treo Quốc Kỳ VNCH trên mọi nẻo đường của Little Saigon trong tháng Tư đen, tưỏng niệm “Ngày Quốc Hận”.

 


Bài đọc suy gẫm: 30 Tháng Tư: Chuyện Người Nghĩa Quân Thờ Hình Của Chính Mình – Tác Giả: Phạm Thành Châu.

Rừng thiêng sơn trại không hò trận
Chỉ thấy tiêu điều những bóng ma

Viên Linh

Tết năm đó tôi về Việt Nam ghé thăm bạn bè. Đến miền Trung, tôi được một người bạn rủ thăm mộ một người bạn khác. Từ một thị trấn miền biển, chúng tôi ra quốc lộ Một, theo hướng bắc, lên một đèo nhỏ, đến đỉnh đèo, thay vì xuống dốc, bạn tôi cho xe chạy vào một đường mòn dọc theo chân núi. Đây là một vùng hoang vắng, cằn cỗi, toàn đá, cây lưa thưa, cao không quá đầu người. Chiếc xe gắn máy cứ nhảy chồm chồm, như con ngựa trở chứng, mấy lần suýt ngã xuống vực. Cuối cùng chúng tôi cũng đến được một nơi, hơi bằng phẳng, có mười mấy ngôi mộ đất, nằm rải rác trên một diện tích khoảng một cái sân lớn. Bạn tôi chỉ một mô đất có miếng gỗ nhỏ ghi chữ Tư bằng hắc ín bạc màu.

– Nó nằm đây!

Chúng tôi lấy nhang, đốt lên, đứng trước mồ bạn, khấn vái mấy câu. Trong giây phút tưởng niệm, tôi như hình dung rõ bạn tôi trong những ngày cùng ngồi chung lớp, chung trường. Bạn tôi vui tươi, khỏe mạnh, yêu đời, lúc nào cũng nói chuyện tếu được, khiến cho dù ai có chuyện buồn cũng phải bật cười… Rồi cảm tưởng như tất cả những người nằm trong các ngôi mộ rải rác chung quanh đều là bạn thân thiết, vong linh họ đang đứng bên cạnh, tò mò nhìn xem chúng tôi làm gì? Ý nghĩ đó khiến tôi thêm ngậm ngùi, thương cảm. Tôi khấn lầm thầm. “Chúng tôi rất hãnh diện có được những người bạn đã chọn một cái chết hào hùng để bảo vệ tự do, bảo vệ đồng bào. Sự hy sinh của các bạn càng thêm ý nghĩa sau khi cộng sản Bắc Việt chiếm đóng Miền Nam. Dân chủ, tự do không còn nữa!” Tôi cũng trấn an người bạn học quá cố của chúng tôi khi nói về cuộc sống ổn định của vợ và các con của bạn “Anh em đồng môn luôn tìm cách an ủi, giúp đỡ chị và các cháu”. Khấn xong, chúng tôi đem nhang cắm lên tất cả các ngôi mộ.

– Chỉ thằng nầy là dân hành chánh, còn mấy cậu nằm chung quanh toàn quân nhân. Nhảy dù với nghĩa quân.

– Có lẽ phải xây một cái khung cho tất cả các ngôi mộ nầy, rồi đổ đất lên mới không bị mồ xiêu mả lạc.

– Lần trước, lên đây, tôi có gặp anh chàng sống một mình trong mái tranh đằng kia, mình có thể nhờ anh ta lo vụ nầy…Chắc không tốn bao nhiêu.

Mới buổi sáng mà nắng đã gay gắt. Tôi đứng nhìn quanh. Một bên là núi cao, một bên là sườn núi thoai thoải, chạy đến một rừng cây xanh có lẽ là điểm nước, thấp thoáng sau hàng cây là quốc lộ Một, mấy chiếc xe đang chạy trên một cây cầu nhỏ, bắc qua một con suối, về mùa hè nên nước cạn, chỉ thấy lấp loáng ánh nắng qua những gộp đá nhỏ. Bạn tôi chỉ tay về hướng bên kia đồi.

– Nhà anh ta dưới tàng cây lớn kia kìa, nếu để ý, quá khỏi tàng cây, có cái gò cao, giống hình người đang ngồi. Bạn thấy chưa? Đó là cái gò mối, nhưng người ta đồn đãi là mộ của một cô gái rất linh thiêng. Bây giờ mình thử đến đó xem sao.

Chúng tôi đi băng qua đồi. Đường rất khó đi nên phải đẩy bộ chiếc xe gắn máy, có khi phải khiêng qua những những tảng đá lớn chắn lối hay những rãnh sâu. Cuối cùng thì chúng tôi cũng đến nơi. Đó là một căn nhà tranh vách ván, nằm dưới một cây mít có tàng lớn che gần hết mái nhà. Sau nhà là một khu vườn vuông vức mỗi cạnh độ vài trăm thước, trồng cây lưu niên làm hàng rào, trong vườn là những luống khoai lang, khoai mì và bắp, góc vườn có một giàn bầu hay bí gì đấy. Nhà vắng tanh. Chúng tôi lên tiếng.

– Có ai trong nhà không?

Một người đàn ông từ sau bếp bước ra.

– Có tôi!

Anh ta khoảng trên bốn mươi, người hơi ốm nhưng rắn rỏi, da sạm nắng, tóc cắt ngắn, đôi mắt chơn chất sáng lên niềm vui của kẻ sống cô độc được có người đến thăm.

– Chào quí anh. Quí anh có chuyện gì mà lên chỗ hẻo lánh nầy?

– Chúng tôi đi thăm mấy cái mộ đằng kia, nhân tiện ghé thăm anh, định nhờ anh chút chuyện.

Anh ta cười, đưa hàm răng vàng khè vì khói thuốc.

– Lúc mấy anh đi lên, tôi đã thấy rồi. Vậy chứ mấy anh có thân nhân, bạn bè gì nằm ở đó?

– Có ông bạn học…Lên thăm, và định xây cho nó cái mộ cho tươm tất, để mộ đất, lâu ngày, gió mưa trôi hết, sau nầy tìm không ra.

– Mời hai anh vô nhà ngồi uống nước.

Chúng tôi bước vào. Đó là một ngôi nhà tranh nhỏ tầm thường. Nhà ba gian, giữa là bàn thờ, có tấm màn che. Bên trái là chiếc giường nhỏ, có lẽ là chỗ ngủ của chủ nhà, bên gối tôi thấy có mấy quyển sách, vì phép lịch sự tôi không nhìn kỹ sách gì nhưng như thế chứng tỏ chủ nhà là người có học và có thú vui đọc sách. Bên phải là một căn buồng đóng cửa. Trước bàn thờ là bàn nước bằng gỗ mộc, cũ kỹ, để một bình tích trong trái dừa khô, giúp cho nước giữ nóng được lâu,  mấy cái ly thủy tinh trên một dĩa lớn. Có bốn cái ghế dựa để tiếp khách. Anh kéo ghế mời chúng tôi rồi xuống bếp thổi lửa nấu nước, pha trà. Chúng tôi ngồi nhìn quanh, hỏi vọng xuống bếp.

-Anh sống một mình sao?

Anh ta đi lên nhà trên.

– Tôi sống một mình. Cũng hơn mười năm.

– Không buồn à? Kiếm một bà về ở chung để có người chuyện trò, ốm đau còn nương tựa nhau.

– Tôi có vợ rồi, nhưng vợ mất, tôi ở vậy…thờ vợ.

Tôi pha trò.

– Anh có hiếu với vợ dữ! Cô vợ anh chắc sẽ mỉm cười nơi chín suối khi có được người chồng chung tình như anh.

Anh ta chỉ cười, xuống bếp lấây ấm nước lên, mở nắp bình tích, bỏ trà, chế nước sôi vào.

– Sống một mình cũng quen. Xuống phố thấy xe cộ, người nói, ồn ào, chỉ muốn về nhà cho yên tĩnh.

– Đất vùng nầy cằn cỗi, sao vườn anh tươi tốt vậy?

-Phải xuống suối móc sình lên đắp, mấy đời như thế nên mới trồng trọt được. Mấy anh đi thăm mộ ai ở đằng đó?

– Thăm người bạn, tử trận hồi bảy lăm. Bởi vậy mới định nhờ anh…

Anh ta ngồi lên giường, gác tréo chân, thong thả vấn điếu thuốc lá.

– Thỉnh thoảng tôi có ghé thăm chừng, thắp nhang, dọn cỏ mấy ngôi mộ đó. Mấy anh định xây cho mộ nào?

– Có ông bạn học nằm đó. Cũng định xây luôn cái khung chung quanh tất cả các ngôi mộ rồi đắp thêm đất lên cho mưa lũ khỏi trôi mất. Anh có thể giúp được không?

– Có phải mấy anh định xây mộ cho ông phó hành chánh nằm đó không?

– Sao anh biết?

– Tôi là lính phòng thủ quận hành chánh. Nghĩa quân tụi tôi với ông phó thân lắm. Đúng ra thì ông phó không có nhiệm vụ tác chiến, thiếu tá quận trưởng bảo ông đưa gia đình về Sài gòn, mục đích để khỏi phải đánh nhau, nhưng ông phó chỉ gửi vợ con đi còn ông ta thì ở lại. Ôâng phó bảo đã tốt nghiệp sĩ quan Thủ Đức mà lại trốn chui trốn nhủi thì nhục lắm. Mời mấy anh dùng trà.

Vẻ dè dặt không còn trong cách đối xử của anh ta.

– Các anh yên tâm. Nếu các anh muốn xây thêm cái “khuỷnh” cho tất cả các ngôi mộ thì tôi cũng xin góp chút công. Tôi chỉ tính vật liệu thôi, không tính tiền công. Bây giờ tôi đề nghị thế nầy. Các anh ở lại đây nghỉ trưa, chúng ta sẽ có thì giờ bàn lại kỷ hơn chuyện mồ mả. Tôi xin mời các anh một bữa trưa. Chỉ kẹt là không có rựợu, chớ còn mồi thì lúc nào cũng sẵn sàng. Bắt con gà rồi quơ bậy mớ rau thơm là có ngay một nồi cháo. Hai anh cứ ngồi chơi, đợi tôi. Hay là ra sau hè, có gió, mát hơn ở trong nhà.

– Tụi tôi đâu biết nhậu, có cháo gà mà húp cũng đủ khoái rồi.

Hai đứa tôi ra sau hè, tôi nằm đong đưa trên võng, người bạn  ngồi trên cái ghế dài, tựa vào vách nhà. Gió biển thổi lên mát rượi, mấy con chim sâu hót trong bụi rậm, tiếng gió rì rào trong cảnh vắng vẻ, tĩnh mịch… Đúng là cõi thần tiên nơi góc núi. Hai đứa tôi chuyện trò linh tinh một lúc, độ hơn nửa giờ thì anh ta bưng nồi cháo ra, đặt trên một cái bàn nhỏ, thêm mớ chén, đũa, vậy là chúng tôi vừa sì sụp vừa chuyện trò.

– Bây giờ anh kể vụ bảy lăm, ở đây, xảy ra những chuyện gì? Tụi tôi chỉ nghe mang máng có đánh nhau dưới cầu kia, anh có tham dự không?

– Có chứ! Khi có vụ di tản từ Cao Nguyên xuống thì ở quận, tụi tôi được lịnh ứng chiến. Ông phó hành chánh, tức bạn của hai anh, dẫn trung đội nghĩa quân tụi tôi lên chốt trên kia.  Tụi tôi đóng ở đó được mấy ngày thì có một đại đội dù đến tăng cường. Ông phó phối hợp với bên dù cho gài mìn dưới cầu đằng kia, chờ tụi hắn đến thì giật sập cầu và chận đánh. Một toán  nằm dọc bờ suối, phục ở đó, chờ địch. Tôi và một anh nhảy dù lo việc giật mìn. Nhiệm vụ tôi hễ bấm xong mìn thì lên chỗ gò kia nằm, theo dõi và gọi máy báo cáo khi thấy địch xung phong lên núi. Thế rồi, địch xuất hiện, chạy một dọc cả chục chiếc xe lớn chở đầy bộ đội. Tôi bấm mìn giật sập cầu, mấy anh nhảy dù thụt M72, cháy mấy chiếc xe đi đầu, rồi xả súng như mưa. Từ ngày tôi đi nghĩa quân, thỉnh thoảng có hành quân lùng sục du kích, nhưng việt cộng chỉ bắn mấy phát rồi bỏ chạy, chứ chưa thực sự đụng độ bao giờ. Đến lúc đó tôi mới biết thế nào là đánh nhau. Ôi thôi! Súng nổ khắp nơi, rầm trời, rầm đất. Tôi bò lên chỗ gò mối nằm dòm chừng để báo cáo tình hình. Đến chiều thì xe tăng tụi nó đến. Đại bác của xe tăng thụt phe ta chạy tứ tán, phải núp sau mấy tảng đá, hi vọng tụi nó xung phong theo bờ suối thì nhào ra. Vậy mà chúng chỉ bắn cầm chừng, đến tối, chúng vào giở nhà dân bắt cầu, suốt đêm, sáng hôm sau chúng đi mất tiêu. Coi bộ chúng không thiết đánh nhau, chỉ lo chạy vô phía Nam mà thôi. Sáng đó tụi tôi cũng thu dọn chiến trường, chôn mấy người chết, băng bó người bị thương rồi cũng di chuyển theo đường núi về hướng Nam. Đến tháng Năm thì tan hàng, ai về nhà nấy. Tôi về trình diện chính quyền cộng sản, đi học tập, nghĩa là đi nghe chửi, lao động sản xuất rồi được về nhà. Tôi về đây phụng dưỡng ông bà già. Được năm năm hai ông bà qua đời, tôi vẫn ở đây lo hương khói, chăm nom mồ mả cha mẹ, vợ con cho đến bây giờ.

Ăn xong chúng tôi phụ nhau dọn dẹp chén đũa. Anh đem bình trà và ly ra.

– Trưa nào tôi cũng ra đây làm một giấc. Gió mát lắm!

Tôi nhìn lên đồi, thấy cái gò mối giống hình người ngồi xây lưng về phía chúng tôi.

– Tôi có nghe kể về chuyện cô gái chết nhưng linh thiêng lắm. Anh biết chuyện đó không?

– Chuyện linh thiêng thì tôi không tin, vì đôi khi chỉ là sự trùng hợp tình cờ. Nhưng chuyện về cô gái đó thì tôi biết rõ. Vì nó xảy ra cùng lúc với vụ đụng độ mà tôi vừa kể cho mấy anh nghe đó.

– Anh có thể kể vắn tắt cho tụi nầy nghe được không?

– Chuyện chẳng có gì lạ lùng cả. Lúc đụng độ thì cái gò mối chưa cao và to như vậy…

Tôi đoán chừng.

– Sau đó cái gò mới nổi lên giống hình cô gái ngồi nên người ta thêu dệt nên một chuyện linh thiêng, phải không?

– Cũng gần như thế. Trong toán nghĩa quân, có một anh chàng là chồng của cô gái ở nhà nầy, nên ông phó giao cho hai vợ chồng cái chốt đằng kia, canh chừng địch. Coi như vừa làm việc nhà vừa làm việc nước. Hai người mới cưới nhau được có nửa năm.

Anh ta  trầm ngâm.

– Cô ta có bầu được ba bốn tháng. Lúc đụng độ, cô ta không ở trên chốt mà ở nhà, ở đây. Cô với cha mẹ nấp dưới hầm nên vẫn bình yên. Sáng hôm sau, sau vụ đụng độ, cả đơn vị, dù và nghĩa quân theo đường núi vào Nam. Anh chàng nghĩa quân có hẹn với vợ là sẽ quay lại. Nếu tình hình khó khăn, nguy hiểm thì anh ta sẽ về ban đêm, điểm hẹn là cái gò đó. Thế nên, khi thành phố bị địch chiếm, làng xã bị kiểm soát, cô ta không hi vọng gặp chồng ban ngày nên buổi tối cô ta thường mang chiếc võng, mùng mền ra ngoài chốt kia ngủ để chờ chồng. Thường thì cô ngủ lại ở đó đến gần trưa mới vô. Cha mẹ thấy cô mang bầu, thương con, cứ để cho cô ngủ, khi nào thức dậy thì vô nhà. Bữa đó đến chiều, không thấy cô vào, bà mẹ mới ra đánh thức con. Không ngờ ra đến nơi thì chỗ con gái nằm, mối đã đùn lên ngập xác cô, như một nấm mộ. Hai ông bà chưa biết tính sao thì hôm sau, mối phủ cao lên nữa, đành để vậy. Hôm trước đó, cô gái đã than là trong người khó ở, bị sốt, không chịu ăn uống. Cha mẹ cản ngăn nhưng cô vẫn lên chốt ngủ chờ chồng. Có lẽ cô bị trúng gió hay trở bịnh bất ngờ, không ai cứu giúp nên phải chết, vừa lúc mối đùn gò ngập luôn xác của cô.

– Nhưng nghe nói cô linh thiêng lắm, anh có biết tại sao không?

– Số là một năm sau đó, có chuyện xảy ra dưới quốc lộ, chỗ đường mòn mà mấy anh dẫn xe vô lúc nãy.  Chuyện như thế nầy. Một buổi tối, trời mưa to, có  chiếc xe khách chạy lên đèo. Vì mưa quá lớn không thấy đường sá gì cả, anh tài xế phải lái rất cẩn thận. Lúc xe vừa định quẹo cua, đổ đèo thì thấy một chị đàn bà, bụng mang bầu, đi băng qua đường. Anh tài xế hoảng kinh, vội thắng gấp rồi thò đầu ra cửa xe chửi thề chị đàn bà là đui, là ngu. Chị ta không nói năng gì cả, cứ lẳng lặng đi qua rồi khuất trong mưa. Chửi xong anh ta cho xe chạy. Nhưnh chưa kịp sang số thì thấy một chiếc xe tải chết máy, nằm lù lù một đống, không đèn đóm, không dấu hiệu gì cả. Nếu không vì chị đàn bà băng qua đường mà phải thắng gấp, anh ta đã cho xe húc vào đít chiếc xe tải chết máy nằm đó rồi, chắc chắn là xe phải rớt xuống đèo. Thật hú vía! Anh tài xế xuống xe, cứ hướng chị đàn bà đã đi khuất mà vái lạy rối rít. Không hiểu nghe ai kể mà anh tài xế, ít lâu sau, ra kêu người nhờ xây cái miếu chỗ khúc quanh suýt xảy ra tai nạn. Không may cho anh ta, mới đổ gạch xuống đó thì gặp mấy ông công an xã đi ngang. Họ dừng lại hỏi lý do xây miếu, hỏi giấy phép. Anh tài xế kể lại chuyện xảy ra hôm trước, nhưng chẳng ai tin. Vụ xây miếu bị ngưng. Mấy ông công an kéo nhau lên chỗ gò mối, ông trưởng công an xã rút súng bắn vào cái mộ để thị uy “Chết là hết. Không có ma quỉ, thần thánh gì cả. Cái mộ nầy sẽ bị san bằng nay mai” Vì mấy ông đó đi nhậu về, say quá nên khi xuống đồi, xe bị lọt hố, ông trưởng công an xã bị gãy tay. Thế là người ta đồn rầm lên là ông ta bị “Cô” vật.

– Tôi có đọc một truyện ngắn tương tự. Có lẽ người ta dựa theo đó, cùng với lòng thương cảm cô ta mà thần thánh hóa câu chuyện để người đời truyền tụng.

Đại Tá Cổ Tấn Minh Châu QL-VNCH đang cắm lá cờ vàng. 

Nhân sĩ Nguyễn Thế Ngọc và Phó Thị Trưởng Thành Phố Westminster – Mr.Tạ Đức Trí.  Hình dưới:  Minh Thư và Thu Hà của Young Marines.

Phó Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam  – Nam California.  Ghi chú: Trưởng ban tổ chức Tưởng Niệm Tháng Tư Đen và Quốc Hận 30/4 năm nay được đa số các hội đoàn trao lại cho thế hệ trẻ.  Hình dưới: Anh Billy Lê đang chia sẻ cảm tưởng.

Anh ta như không để ý lời tôi, kể tiếp.

– Ít lâu sau, anh tài xế được nhắn ra, cho phép tiếp tục xây cái miếu, nhưng không ai dám giúp vì sợ bị bắt. Vừa may gặp tôi, tôi thầu luôn. Xây xong miếu, tôi vào chùa, xin thầy trụ trì viết cho một bài vị bằng chữ nho. Phần trên để mấy chữ thật lớn Anh Hùng, Liệt Nữ. Dưới đó là tên cô gái và tên mấy anh lính chết trận. Tôi đem đến thợ đá nhờ chạm cho một bia nhỏ để thờ trong miếu. Thành ra, ngày rằm, mồng một, xe cộ ngang qua đấy thường dâng lễ vật, khấn vái, xin “Cô” phù hộ đi đường bình an.

– Bộ anh nhớ hết tên mọi người chết trên đó sao?

– Nghĩa quân là đồng đội, cùng đơn vị bao nhiêu  năm. Với các anh bên nhảy dù, sống với nhau hàng tuần lễ, chỉ cần nghe tiếng nói tôi cũng biết là ai, tên gì. Vả lại phải nhớ tên mấy người đã chết, để sau nầy thân nhân đi tìm mà chỉ cho họ.

Thấy trời đã về chiều, tôi bàn đến chuyện xây mả, anh ta đề nghị.

– Nên xây từ từ, không cho chính quyền biết, hết tiền tôi sẽ ghé nhà quí anh lấy thêm.

– Anh đừng lo, tôi là Việt kiều, anh cứ tính công vào cho sòng phẳng. Chẳng bao nhiêu mà ngại. Tôi để tiền lại, anh cứ ghé bạn tôi mà lấy.

Tôi nhờ anh ta đưa chúng tôi ra thăm gò mối là mộ của cô gái. Trông không khác bất cứ gò mối nào ở trong rừng, nhưng rất to, kích thước cũng cỡ một ngôi nhà nhỏ. Đứng gần thì không hình dung được, nhưng nếu lùi ra xa, đi vòng phía bên kia, sẽ thấy giống hình một người đàn bà với mái tóc dài, ngực lớn, ngồi xây mặt vô núi. Có một cái nấm nhỏ hơn, giống đứa bé ngồi tựa vào lòng mẹ. Tôi hỏi.

– Trông giống Hòn Vọng Phu, nhưng sao Hòn Vọng Phu nầy lại xây mặt vô núi?

Anh ta có vẻ đăm chiêu.

– Hai mẹ con chờ người trong núi ra.

Buổi chiều âm u, cảnh vật im lìm, tôi cảm thấy rờn rợn, tưởng chừng cái nấm mộ vĩ đại giống hình người kia cũng có linh hồn, có cảm giác và đang lắng nghe chúng tôi chuyện trò. Tôi nói.

– Đáng lẽ phải đem nhang ra đây…

– Vô nhà cúng cũng được. Trong đó có thờ cô ta.

Khi vào nhà, chúng tôi xin được thắp nén nhang, lễ trước bàn thờ tổ tiên, thân nhân của chủ nhà. Anh ta vén tấm màn che bàn thờ lên và lấy nhang, quẹt diêm đốt, trao cho chúng tôi. Tôi thấy trên bàn thờ có để hình hai người lớn tuổi, có lẽ là cha mẹ anh ta. Phía trước là hình một cô gái, diện mạo bình thường, hơi mập, mặt tròn, nụ cười hiền lành, chất phác. Cạnh hình cô ta là hình một người thanh niên.

– Có phải hình  thờ bên cạnh là chồng cô ta không?

-Đúng rồi! Vợ chồng phải thờ bên nhau cho có đôi.

Tôi nhìn hình người đàn ông, thấy ngờ ngợ như gặp ở đâu? Nghĩ mãi một lúc, quay nhìn anh ta… hóa ra là hình của chính anh.

-Ủa, anh chưa chết mà sao lại thờ, hay là hình người khác?

– Hình của tôi đó! Cô ta là vợ tôi. Khi cô ấy mất, tôi về đây phụng dưỡng cha mẹ vợ.

– Nhưng sao anh lại thờ chính mình?

Anh cười buồn, đôi mắt xa xăm.

– Khi học tập cải tạo, cán bộ bảo rằng nước Việt Nam Cộng Hòa không còn nữa. Tối đó, tôi nằm khóc suốt một đêm. Tôi biết, thế là hết. Đất nước tôi, quê hương, bản quán của tôi đã bị người ta chiếm mất rồi! Cán bộ nói rõ là chúng tôi đáng tội chết, chúng tôi không còn là người dân nước Việt Nam nữa. Chúng tôi sẽ bị kiểm soát, theo dõi như những người tù.

Bạn bè, đồng đội, đứa nào cũng buồn, không muốn gặp mặt nhau! Tôi như người lính duy nhất còn sống sót, lang thang giữa một vùng quen thuộc nhưng không còn nơi để trở về. Cảm tưởng rõ rệt nhất là khi tôi đứng trước quận hành chánh nhìn vào. Quận đường vẫn nguyên vẹn, vọng gác trước cổng, nơi tôi thường ngồi gác vẫn còn đó, nhưng tôi không còn quyền yêu thương nơi đó nữa. Tôi đã bị xua đuổi khỏi quê hương tôi.

Tôi sống một mình ở đây nhưng lại cảm thấy được gần gũi với bao người thân yêu chung quanh. Thỉnh thoảng tôi ra ngồi tâm sự với vợ con tôi ở gò mả ngoài kia. Khi thì tôi qua bên kia đồi, cạnh các ngôi mộ, chuyện trò với đồng đội nằm dưới đó. Tôi nghe được, hiểu được những gì các bạn nói với tôi. Tôi nghe cả tiếng cười đùa của họ, nghe cả tiếng lách cách của súng đạn va chạm nhau, ngửi được cái mùi lính, mùi  quen thuộc của mồ hôi thấm vào áo trận. Tôi ngồi đó để cảm thấy được an toàn đồng đội như những lúc hành quân, những ngày đóng chốt cũng như khi đụng độ với giặc.

Tôi ngồi đó để tưởng nhớ nước Việt Nam Cộng Hòa thân yêu của tôi.

Tôi để hình tôi trên bàn thờ là coi như mình đã chết theo với nước Việt Nam Cộng Hòa của tôi. Tôi chỉ sống lây lất, lo nhang khói cho đồng đội, cho cha mẹï, vợ con. Khi nào thực sự nhắm mắt thì tôi đã có sẵn cái huyệt mộ, gần vợ con tôi, ngoài kia.

Phạm Thành Châu

Ba tập truyện ngắn của Phạm Thành Châu, đã xuất bản, nhận gửi sách tận nhà:

– Bức Họa Khỏa Thân

(248 trang)

– Nhớ Huế (248 trang)

– Lý lẽ của trái tim (275 trang)

Giá mỗi tập 12 USD. (trong nước Mỹ). Mua ba (3) tập trở lên, giá mỗi tập 10 USD kể cả cước phí. Gửi sách trước, trả tiền sau. Liên lạc:

Phạm Thành Châu

7004 Beverly Lane

Springfield VA 22150

Phone (703) 569-0124       (571) 480 – 3276) (c)

(xin để lại lời nhắn)

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.


The

Links:

Việt Báo:Viết Về Nước Mỹ.

Advertisements

Nhục Như Con Cá Nục!

Bài đọc suy gẫm:  Nhục như con cá nục! hay “Nhà Vua Cởi Truồng”. Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

Một hôm, có tay thợ may nọ vào hoàng cung dâng lên đức vua một bộ y phục cực kỳ quý giá. Nó không được dát vàng hay đính đầy kim cương đá quý, cũng không được dệt từ thứ tơ lụa cực hiếm chỉ dành riêng cho các tiên nữ nhà trời – mà giá trị ở chỗ – nó có khả năng đo lường lòng trung thành của thần dân đối với nhà vua. Lòng trung thành của ai càng cao thì càng cảm nhận được màu sắc rực rỡ và đường nét tinh xảo của món hàng vô tiền khoáng hậu ấy. Ai nấy đều không giấu nổi sự háo hức để được chiêm ngưỡng bộ y phục kỳ lạ.

Khi nhà vua xuất hiện trước sân rồng để ướm thử bộ cánh thần kỳ, hết thảy quan quân lớn bé suýt chút nữa buột miệng: “Ôi! sao bệ hạ lại cởi…”, nhưng kinh nghiệm luồn cúi bao nhiêu năm chốn quan trường kịp thời ngăn họ lại, nên không có ai đến nỗi phải rơi đầu. Mỗi người vận dụng óc tưởng tượng của mình theo một cách khác nhau, nên họ thoải mái ca ngợi vẻ đẹp của bộ “ngự bào” mà không sợ bị “đụng hàng”. Kẻ ví nó rực rỡ như cầu vồng ngũ sắc, người so bì nó với muôn vạn loài hoa trong vườn thượng uyển chốn thiên cung…

Đức vua lấy làm đắc ý lắm, trong người lại cảm thấy thoải mái bội phần vì không vướng bận thứ gì cả, cứ tung tăng đi lại, hàng họ thì lộ cả ra mà nào ai dám hó hé. Thói quen biểu thị quyền uy thúc bước nhà vua quá bộ khỏi cấm cung. Trưởng thôn và quan lại các cấp rất nhạy bén với chuyện thời sự, bèn vận động dân chúng trong hoàng thành đổ xô ra đường nhằm biểu dương tinh thần quán triệt sâu sắc chủ trương dùng ngự bào quý báu để đo lòng trung thành. Họ vung tay hô lớn:
– Đức vua vĩ đại quang vinh muôn năm!
– Đức vua đời đời sống mãi trong trái tim của các thần dân chúng ta muôn năm!

Những tay bồi bút chộp ngay lấy cơ hội tung ra nhiều bài tham luận dài lê thê, hơn mấy chục lần nhấn mạnh:
– Phong thái của nhà vua hôm nay thể hiện đỉnh cao trí tuệ tuyệt vời, cao gấp vạn triệu lần bọn kẻ thù!
– Vị anh hùng đức vua chúng ta mà rút gươm ra thì các thế lực thù địch chỉ còn đường giãy chết!
– Con đường ngài đang đi và sẽ dẫn chúng ta đi theo là chân lý sáng ngời soi sáng cho cả nhân loại!…

Tiếng vỗ tay tung hô vang dậy cả một góc trời. Nhà vua ngất ngây trong hạnh phúc, các mạch máu trong người chạy rần rật. Lẽ tự nhiên, các thể hang ở khu vực hàng nhạy cảm cũng nhận được máu bơm về, “cái ấy” ngồng ngộc dựng với phương nằm ngang một góc tầm 45°. Một cô gái trong đám đông có phần mẫn cảm la lên 1 tiếng: -É… rồi kìm ngay lại tức thì. Nhà vua quắt mắt quay ngang, cả biển người xung quanh bỗng lặng ngắt như tờ. Mọi người đang lấm lét chờ đợi kết cục của cô gái xấu số nọ, thì bỗng dưng, tiếng một đứa trẻ con lanh lảnh cất lên:

– Cái ông này làm sao lại cởi truồng đi giữa phố?

Mọi con mắt lập tức đổ dồn về phía thằng bé chừng 4-5 tuổi. Bà mẹ ở phía sau chen lên quỳ mọp xuống lạy như tế sao:

– Muôn tâu thánh thượng, xin ngài mở lượng khoan hồng cho con trẻ dại mồm dại miệng ạ, vợ chồng chúng con cam kết sẽ uốn nắn cháu ngay ạ!

Đoạn quay sang thằng bé mắng như té nước:

– Mày giết bố mẹ rồi biết không con, nuôi mày tốn bao nhiều cơm gạo áo quần, thức đêm thức hôm, còn chưa kể đến tiền dạy thêm học thêm… Thế mà sao giờ mày lại ăn nói nhảm nhí thế này, giời ơi là giời…

Thằng bé ấm ức:

– Sao mẹ lại mắng con chứ, con thấy thế nào thì nói thế ấy chứ!

– Giời ơi, lại còn cãi cơ à? Mày xem hàng trăm hàng nghìn người xung quanh có ai nói như mày không?

– Kệ họ chứ, họ khen vua mặc đẹp là quyền của họ, con thấy ổng không mặc gì thì con bảo ở truồng…

– Giời ơi, lại ở truồng với cả ở chuồng, mày có muốn sống nữa không hả con ơi là con giời ơi là giời…

Một viên quan đi đến quát lên:

– Thôi đừng kêu giời nữa, bà biết con bà phạm trọng tội chưa?

– Dạ bẩm nhà cháu biết rồi ạ, mong quan lớn mở lượng hải hà…

– Hà bá với cả thổ thần cái gì, muốn thoát tội thì ký xác nhận vào đây!

– Thưa tờ giấy gì đấy ạ?

– Còn giấy gì nữa hả, đây là giấy ông bà xác nhận thằng con ông bà bị tâm thần phân liệt nên ăn nói lung tung, như thế nhà vua sẽ không bắt tội, rõ chưa? Có ký không thì bảo?

– Thưa ký ạ, ký ngay ạ!

Quan lệnh cho quân lính cô lập thằng bé lại, quyết liệt không để tin xấu lan ra làm ảnh hưởng đến danh dự của đức vua và uy tín triều đình.

Cuộc biểu diễn trang phục nhà vua để đo lòng trung thành dân chúng lại tiếp tục diễu qua phố khác. Trời đã dần về trưa, mấy tay thị nữ phải cầm lọng theo che, thỉnh thoảng lại ngó vu vơ, mặt đỏ bừng mà chẳng dám cười, trông thật tội nghiệp. Đến một góc phố nọ, có tay trung niên ngồi dựa bờ trường đọc sách, làm như không thấy đoàn ngự giá đến nơi, ngoảnh mặt nói bâng quơ:

– Thời buổi gì mà nịnh thần đông như quân Nguyên. Thấy tồng ngồng thì cứ cười toẹt nó lên, việc đếch gì cứ phải khen nịnh! Nhục như con cá nục!

Tể tướng đưa mắt cho viên quan ban nãy, ý muốn đem chiêu “tâm thần phân liệt” ra dùng lại.

– Bẩm tể tướng, không được đâu ạ!

– Sao lại không?

– Dạ thứ nhất là nhìn điệu bộ thằng này nó nhất định không ký đâu ạ, thứ nữa, nó nguyên là thầy đồ dạy chữ cho cả xóm này, nếu nó ký nhận hóa ra cả xóm đều bị điên sao được ạ?

– Thế tra xem nó đã đóng thuế đinh chưa?

– Thưa rồi ạ!

– Thế nó không có tiền án tiền sự gì à, không trộm cắp cướp giật của ai ư?

– Bẩm làm thầy đồ thì đâu làm thế được ạ!

– Thế mày không nghĩ cách gì gô cổ nó lại à? Cho người đổ phân vào nhà nó, gây gổ đánh nhau với nó là xong chứ gì!

– Bẩm vâng, quả là cao kế! cao kế ạ!

– Làm cho khéo đấy, nhất định phải tạo cho được sự đồng thuận tin tưởng của dân chúng với đức vua, với triều đình, rõ chưa!

Mặt trời đã lên cao, đoàn ngự giá đang chuẩn bị quay bước về cấm cung thì bỗng thấy từng nhóm người xôn xao, tụ tập chuyền tay nhau những tờ giấy khổ lớn trông giống như khuôn dạng hịch truyền. Một tờ được chuyển đến cho tể tướng, đức vua ngó thấy sắc mặt bần thần khó ở của y bèn hỏi gắt:

– Chuyện gì đấy?

– Dạ bẩm, dạ bẩm…

– Nói!

– Bẩm có kẻ tuyên truyền xuyên tạc nói xấu người thợ may áo quần cho bệ hạ. Chúng nói rằng sách lược của người thợ may đã bị phá sản bên trời Tây, dân chúng bên ấy đã giật sập tượng sư tổ thợ may và ném cương lĩnh của ông ta vào sọt rác rồi. Tờ hịch còn cảnh báo nếu cứ tiếp tục tin dùng sách lược của thợ may thì sẽ đưa đất nước đến cảnh điêu linh…

– Quân này láo, nói thế hóa ra con đường mà tiên đế ta đã sáng suốt lựa chọn là sai lầm ư? Điều tra ngay nó là thằng nào, bắt gô cổ xử tội ngay!

– Bẩm người này xuất thân từ Bộ Hình, lại am tường luật lệ, khó mà bắt bừa được ạ!

– Sao lại không được! Luật là trẫm mà trẫm cũng là luật đây, có chuyện gì mà không làm được? Vứt mấy cái yếm cung nữ – loại đã có mùi mồ hôi đàn bà ấy – vào phòng nó rồi lấy cớ thông dâm mà bắt người trước đã. Khi ra pháp đình xét xử nặng nhẹ thế nào là cứ soạn sớ sẵn cho Quan-Bao-Che luận tội, nhớ chửa!

– Tâu vâng! Bệ hạ quả đúng là trí tuệ đinh cao ạ!

– Về sau hễ có ai nói xấu thợ may hoặc chê trẫm ở truồng thì cứ khép vào tội tuyên truyền phỉ báng triều đình mà xử, rõ chưa?

– Tâu vâng!


– À, mà này trẫm nghe nói gần đây trong bá tánh mới xuất hiện một loại cung tiễn gì thần hiệu lắm hả?

– Tâu bệ hạ, đó là phát kiến của người phương Tây. Nhờ đó từ nay dân chúng không cần dùng lừa ngựa đưa thư nữa, ai muốn trao đổi tin tức thư từ với nhau cứ ghi rõ tên họ địa chỉ rồi gắn tin vào đầu mũi tên mà tác xạ, dù ở xa đến vạn dặm cũng đến liền trong nháy mắt, rất chi là lợi hại ạ!

– Thế ở ta tình hình tiếp thu như nào?

– Bẩm, hiện nay ở ta có rất nhiều hãng cung cấp cung tiễn như là Mặt-Sách, Điểm-Ký, Ấn-Bản-Từ, Nhân-Bội… nhiều không kể xiết ạ!

– Quả là thần diệu! Thần diệu!… Ấy chết, mà như thế nhỡ có đứa nào nói xấu thợ may hoặc chê trẫm ở truồng thì chúng phao tin cho nhau cùng biết cả à?

– Tâu vâng!

– Không được, quyết không thế được! Triều đình ta là vận dụng cơ chế Pháp-Quyền-May-Sẵn, làm sao lại có chuyện tùy tiện đưa tin như thế được. Mở kho lấy ngân khố huấn luyện thật nhiều quân binh chuyên việc nghe trộm xem lén tin tức, thấy hãng nào hay đưa tin xuyên tạc chuyện ngự bào của trẫm thì cứ cấm cửa không cho hoạt động.

– Tâu vâng, thần sẽ làm ngay không chậm trễ ạ!… Nhưng như thế e rằng có những người trao đổi tin tức đơn thuần như học thuật, giải trí… sẽ bị vạ lây sao ạ? Vả lại, làm thế sẽ kìm hãm Dân Trí và các quốc gia lân bang lại chê cười triều đình ta bóp nghẹt Tự Do đấy ạ!

– Thây kệ mẹ chúng nó chứ! Dân Trí Dân Sinh với cả Tự Do Bình Đẳng là chuyện nhỏ, sự ổn định của triều đình ta mới là chuyện đại sự, nhà ngươi không quán triệt được à?

– Tâu thần đã rõ rồi ạ!

Từ đấy dân chúng răm rắp nghe theo đường lối sáng suốt của triều đình, nguyện chung tay một lòng một dạ xây đắp con đường mà người thợ may đã lựa chọn giùm. Chẳng mấy chốc dân trí phát triển vượt bậc, đến độ người ta không bận tâm đến chuyện trắng đen phải quấy, ai muốn bảo sao cũng tốt, cốt sao mình được yên phận là được. Đời sống tinh thần nhờ thế mà thăng hoa theo, cảm xúc con người được tôi luyện đến mức coi chuyện tham nhũng hối lộ là thường ngày, đâm chém giết hiếp là vặt vãnh, ăn gian nói dối là đương nhiên, người hiền thì khó kiếm mà kẻ ác như rươi, Thạch Sanh thì ít Lý Thông lại nhiều…
Thôi thì tiền đồ đất nước đi về đâu cũng không mấy khó đoán!

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.


The

Links:

 

Phù Đổng Blog

PVHai.Blogspot

Nguồn: Báo Tổ Quốc

Đàn Chim Việt


“Cá Trê Chui Ống” – Trần Viết Ðại Hưng

Hình trên Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ hiên ngang đứng trước tòa cáo gian cộng sản. Tin “Hot” hiện nay: Hôm 4/4/2011.  Ngày xử án (sơ thẩm) về những tội danh mơ hồ do công an thường ngụy tạo ra để gán ghép cho những người yêu nước. Tòa án rừng rú của nhà nước Việt cộng sợ hãi người dân ngày càng tụ tập đông đảo trước toà, có thể thành cơn bão biểu tình lớn, nên vội vã tuyên án Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ 7 năm tù và 3 năm quản chế, bất chấp dư luận quốc tế. HLTL Blogspot -CHHV.

Bài đọc suy gẫm: “Cá Trê Chui Ống” hay Kỹ thuật gỡ ngòi nổ biểu tình của công sản– Trần Viết Ðại Hưng Hình ảnh minh họa: Công an tiếp tay gian tham chiếm đất nhà chùa tại Nha Trang.

Các ban ngành chính quyền xã Vĩnh Hiệp kết hợp với tên Phi và băng nhóm tấn công, mang xe ủi tới chiếm đất nhà Chùa. Sư ông trụ trì và một số tín hữu liều chết nhất định nằm cản trước xe ủi, múc đất.  Hình dưới: Tên Luân, trưởng công an xã kẻ tiếp tay bọn gian tham dùng chiến thuật vừa đánh vừa đàm (đe dọa ?).

Từ ngày thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam năm 1930 đến nay, Cộng sản luôn tồn tại nhờ những thủ thuật dối trá lưu manh. Những chuyện đổi tên Ðảng để che dấu lý lịch Cộng sản cũng như tổ chức lập Quốc Hội bao gồm nhiều phe phái được coi như những thủ đoạn chính trị giai đoạn mà Cộng sản thi hành để tồn tại và bảo toàn lực lượng khi chúng chưa hoàn toàn nắm được quyền lực. Ðến khi cướp được chính quyền bằng chiêu bài chống ngoại xâm vốn rất ăn khách trong một đất nước mà tinh thần ái quốc lúc nào cũng cao và cháy bỏng trong lòng mỗi người dân như dân Việt Nam, chúng hiện nguyên hình là bọn khát máu, sẵn sàng tiêu diệt những đảng phái đối lập một cách không thương tiếc. Lúc Cộng sản tóm được chính quyền trong tay, đứng trước những cuộc xuống đường biểu tình nổi dậy, Cộng sản thướng sử dụng chiêu thức gỡ ngòi nổ để làm cho tình hình lắng dịu và sự tồn tại của chế độ Cộng sản được củng cố dài lâu. Trong những ngày gần đây, đứng trước cao trào xuống đường chống Trung Cộng xâm lăng Trường Sa và Hoàng Sa cùng phong trào đòi lại đất của dân oan cũng như của các giáo hội tôn giáo, Cộng sản lại dùng bài bản cũ gỡ ngòi nổ biểu tình. Phải nhận định cho rõ kỹ thuật gỡ ngòi nổ biểu tình của Cộng sản để có thể đưa ra những chiến thuật, chiến lược đối phó hữu hiệu nhằm đưa phong trào tranh đấu cho dân chủ và toàn vẹn lãnh thổ đi đến chỗ thành công mỹ mãn.

Cách đây không lâu giáo dân ở Nha Trang đã xuống đường biểu tình trước tòa nhà số 16 đường Phước Long, Nha Trang để phản đối việc Cộng sản cho xây dựng công trình trên đất của Dòng Thánh Giuse. Giáo hội Thiên chúa giáo Nha Trang tính dùng mảnh đất này để xây dựng một bệnh viện nhằm chữa bệnh cho người nghèo. Mảnh đất này đã bị Cộng sản ” mượn ” của giáo hội sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 và cố tình không trả. Ðứng trước khí thế xuống đường của giáo dân Nha Trang có thể đưa đến chuyện bạo động, đổ máu và từ đó có thể gây bất ổn cho chính quyền Cộng sản địa phương, Cộng sản cho cán bộ đến vuốt ve, xoa dịu sự phẫn uất của giáo dân . Ðoàn biểu tình giải tán trước sự hứa hẹn Cộng sản sẽ trả lại đất đai cho giáo hội. Ðiều đáng buồn là cho đến nay, Cộng sản vãn nuốt lời hứa không trả lại đất cho giáo hội Nha Trang và những lời hứa hẹn để cho đoàn biểu tình giải tán chỉ là một thứ kỹ thuật gỡ ngòi nổ biểu tình được Cộng sản gian manh áp dụng khéo léo mà thôi.

Linh mục Lưu minh Hoàng, người phụ trách dẫn dắt giáo dân Nha Trang tranh đấu đòi lại đất đai của giáo xứ trong nhiều năm qua đã cho Ðài Á châu tự do ( RFA) biết mọi chuyện như sau :

Bây giờ thì chúng tôi chắc chắn là trông ơn trên, bây giờ mình chỉ có cái xuống đường, dám xuống đường, chớ họ không bao giờ trả hết. Chắc có lẽ sau này chắc là chúng tôi sẽ tiến tới, vòng vòng anh em rồi các thầy, các sơ, tất cả những người trong nhà, tất nhiên là sẽ mặc nhung phục rồi đến tại chỗ đó mà yêu cầu họ trả, bởi vì đó là khuôn viên của nhà dòng chứ đâu có phải nhà trường.

Lúc thì họ nói họ trả, lúc thì họ không trả, bây giờ có thể họ chiếm để họ xây trường rồi đó. Trong những ngày tới chắc chúng tôi phải có biện pháp, nhưng ngày hôm nay chúng tôi sẽ lên nói với tỉnh rằng chúng tôi sẽ có biện pháp nếu như các vị không có dứt khoát, không có đường hướng rõ rệt nào hết, thì chắc chắn chúng tôi cũng phải giống như ở Hà Nội, giống như Sài Gòn đó.

Chắc cái vụ Hà Nội, các anh biết quá rồi. Giáo dân thì họ rất là hăng say và họ cầu nguyện. Nói tiếng cầu nguyện chứ họ sẽ làm tất cả những gì mà họ đã làm trước đây. Ông Dũng ông cũng tới và gặp Ðức cha Kiệt rồi, cho nên tức là họ cũng có một giải pháp.

Nhưng mà cái đó thì chưa dứt khoát bởi khi tôi ra Hà Nội thì nhiều khi ban đêm tôi ngủ không được bởi họ chơi, cả khu đó họ biến thành picnic để tắm, rồi thức ăn, cho nên không còn cái thể thống gì của tòa Tổng giám mục Hà Nội và cả tòa Khâm sứ nữa, cho nên chắc chắn là phải có cách đối xử với tôn giáo, chứ nếu như thế này thì chắc chắn là không chịu nổi được rồi. Hết sức chịu nổi rồi.

Trước đây những cái mà chúng tôi cho mượn thì họ nói mượn sẽ trả, cái đó dĩ nhiên là vậy thôi, không lấy ví dụ gì cao xa nhưng bây giờ họ lại nói ngược lại. Bây giờ chủ trương của họ tất nhiên đất là đất toàn dân, cho nên bây giờ chắc chắn là họ lấy cớ không có đất của ai hết, chỉ có đất của toàn dân.

Cái điều họ nói lơ lửng mà rồi mình hổng bao giờ hy vọng, đó là khi cần thì họ cấp cho. Ví dụ bữa trước họ cũng nói là nhà thờ có dự án thì họ sẽ cấp đất, nhưng mà rồi cuối cùng thì họ hổng cấp mà họ lại lấy thêm. Cho nên tôi thấy không có đi đến đâu hết mà chắc là ngạt thở lắm rồi.

Người ta muốn làm gì thì làm, nói trước khác, nói sau khác. Không có cái gì là nhất quán hết trong chủ trương của nhà nước và nhất là của chính quyền địa phương các tỉnh đó. Nhiều khi ở trên bảo xuống dưới làm rồi sẽ báo cáo lên trên , cho nên mình cứ như chuột chạy ống tre, cho nên mình không thể nào biết được đường lối nào hết.”

Lời phát biểu của Linh Mục Lưu minh Hoàng cho thấy thủ đoạn hứa cuội của chính quyền địa phương Nha Trang.. Chính quyền này chỉ đem cán bộ đến vuốt ve, hứa hẹn khi có chuyện biểu tình của giáo dân Nha Trang nổ ra. Ðó là một kỹ thuật gỡ ngòi nổ biểu tình của Cộng sản . Thường thường chúng hay có cách giải thích là địa phương chờ lệnh trung ương, đến khi người khiếu kiện lên tới trung ương thì trung ương lại yêu cầu về địa phương giải quyết cụ thể. Ðó là phương cách chúng đối phó với những cuộc biểu tình của dân oan ở Hà Nội và Sài gòn trong những tháng gần đây. Ðó là thủ đoạn cù cưa, bán cái cho nhau nhưng thực chất

không thực sự muốn giải quyết vấn đề , nhằm mục đích làm cho người khiếu kiện nản lòng bỏ cuộc.

Ðầu tháng 12, khi có cuộc biểu tình của anh em sinh viên xuống đường chống Trung Cộng ở Sài gòn, trước khí thế của sinh viên, Phó bí thứ thành ủy Nguyễn thành Tài mời các anh em sinh viên vào nhà văn hóa thanh niên vuốt ve, xoa dịu sự căm phẫn của anh em và hứa thành đoàn sẽ tổ chức một cuộc biểu tình để anh em tham gia bày tỏ ý kiến của mình. Khi sinh viên tỏ vẻ nghi ngờ vào lời hứa thành đoàn sẽ tổ chức một cuộc biểu tình cho anh em sinh viên bày tỏ ý kiến của mình thì Nguyễn thành Tài liền đánh đòn tâm lý để thuyết phục, ” Tôi tin các em, sao các em lại không tin tôi?”

Ngày tháng trôi qua cho thấy lời hứa của Nguyễn thành Tài chỉ là lời thề ” cá trê chui ống “. Lời hứa hẹn của Tài là tổ chức một cuộc biểu tình cho anh em sinh viên chống Trung Cộng đã không xảy ra.. Tài chỉ đến vuốt ve xoa dịu anh em sinh viên vì lo sợ cuộc biểu tình tự phát của anh em sinh viên xảy ra vào hai ngày 9 và 16 tháng 12 ở Sài gòn có thể đưa đến những bạo động không hay cho chính quyền Cộng sản. Có thể nói Tài là một chuyên viên gỡ ngòi nổ biểu tình chuyên nghiệp không hơn không kém.

Tên Phi cầm đầu cho lịnh ủi, trụ trì cương quyết không tránh đường…

Dùng càng  xe múc đất múc luôn nhà sư và tín hữu.

Sau đó ủi sập mặt tiền của Chùa

Rồi đến chuyện hàng ngàn giáo dân Hà Nội biểu tình đòi Cộng sản trả lại tòa Khâm sứ. Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng đích thân sang gặp Tổng giám mục Ngô quang Kiệt là cũng nhằm xoa dịu và phá ngòi nổ cuộc biểu tình. Cộng sản cố tỏ ra vẻ mềm mỏng biết điều để giải quyết vấn đề. Trong thời điểm nhạy cảm trước việc Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa và Trường Sa, anh em sinh viên xuống đường biểu tình làm Cộng sản Việt Nam hết sức lo ngại vì chúng cũng thừa biết nếu những cuộc xuống đường biểu tình ở quy mô lớn vài chục hay hàng hàng trăm ngàn người tham dự có thể đưa đến sự sụp đổ của chế độ.. Ðây là một thực tế đã xảy ra ở những nước Cộng sản như Tiệp, Ba Lan và ở những nước tư bản như Phi

luật Tân hay Thái Lan. Cho nên hiện tượng giáo dân xuống đường hàng ngàn người là chuyện Cộng sản lo sợ và tìm cách khôn khéo thương lượng với người chủ chăn để giải tán các cuộc cầu nguyện biểu tình của giáo dân là chuyện dễ hiểu. Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng hạ mình sang thăm cũng vì lý đo như thế.

Nhưng rồi Trưởng ban tôn giáo Nguyễn thế Doanh tuyên bố với BBC ngày 3 tháng 1 năm 2008 là ” không có vấn đề trả lại gì hết “. Rõ ràng trong khi Nguyễn tấn Dũng xoa dịu vuốt ve thì Nguyễn thế Doanh lại giữ vững lập trường ăn cướp tài sản giáo hội của Cộng sản. Bởi vì chuyện trả lại tòa Khâm sứ có thể tạo ra một tiền lệ khiến những giáo phận địa phương hay những tôn giáo khác có thể vin vào đó để đòi tại tài sản giaó hội bị Cộng sản tịch thu từ trước đến nay. Cho nên Cộng sản đứng vào thế tiến thoái lưỡng nan, dùng dằng chưa giải quyết dứt điểm chuyện trả lại tòa Khâm sứ cho giáo hội Thiên chúa giáo Việt Nam.

Mong rằng Tổng giám mục Hà nội Ngô quang Kiệt sẽ rút được bài học vuốt ve xoa dịu để rồi không trả đất của Linh mục Lưu minh Hoàng của giáo phận Nha Trang để kiên quyết ra thời hạn dứt khoát cho Cộng sản phải trả lại tòa Khâm sứ cho giaó hội Thiên chúa giáo. Nếu không, sẽ kêu gọi giáo dân biểu tình với số lượng lớn người và đó là cách duy nhất để giải quyết vấn đề với bọn thất hứa Cộng sản. Tuyệt đối không mềm lòng và ngây thơ trước thủ thuật quen thuộc gỡ ngòi nổ biểu tình của chúng. Mọi chuyện trả lại đất đai cho giáo hội cần được giải quyết một cách công khai minh bạch và mau chóng. Ngón đòn hứa cuội vuốt ve để giải tán biểu tình của Cộng sản từ nay sẽ không còn công hiệu vì người ta đã nhìn thấy rõ đường đi , nước bước của chúng. Chúng không thể diễn trò bịp bợm này nữa mà phải giải quyết mọi chuyện một cách công khai minh bạch trên giấy trắng mực đen của pháp luật.

Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách. Có nhìn thấy những người như nhà văn Nguyễn xuân Nghĩa ( Hải Phòng) mạnh dạn xuống đường biểu tình chống lại sự xâm lăng của Trung Cộng mới thấy tiền đồ của đất nước Việt Nam không đến nỗi đen tối lắm. Nguyễn xuân Nghĩa, cũng như Phạm hồng Sơn, là những nhà tranh đấu đúng nghĩa là mạnh dạn xuống đường

đối diện với dùi cui, roi điện của công an trong khi những nhà tranh đấu cho dân chủ khác né tránh không dám xuống đường, chỉ ngồi ở nhà ” đánh võ mồm”.

Xin ghi lại bài thơ ” Ký sự biểu tình ngày 23 – 12 – 2007″ mà nhà văn Nguyễn xuân Nghĩ ghi lại những bức xúc đau đớn khi xuống đường.

Bị cưỡng chế xa đường phố lớn
Có dây chăng, có xe bịt bùng
Trong những con hẻm nhỏ
Công an khóa đầu,
Dân vệ khóa đuôi
Chúng tôi
là sinh viên nợ cơm từng ngày
là tiểu thương mất chợ
là nông phu không còn ruộng cấy
vai sát vai
Băng rôn người ta đã cướp
Rút túi giương cao trước ngực
” Hoàng Sa, Trường Sa ” bé tựa vở học sinh
Trên đường tới đây,
Phải dấu nhẹm như dấu điều tủi nhục
Tổ Quốc !
” Nam Quốc Sơn Hà ” còn trong Hồn Nước
” Sát Thát ” còn vang trong hội nghị Diên Hồng
Cáo Bình Ngô còn ngân từ ống đồng
tống tiễn Vương Thông về nước
Giờ đây,
Tổ quốc ơi,
Ai làm Người chịu nhục ?
Tổ Quốc !
Người có còn là của chúng tôi không?
Khi dầu mỏ và than đen
Khi vàng rừng và bạc bể
chảy vào túi ai !
để lại chúng tôi những khoản nợ nước ngoài
để lại chúng tôi cầu sập
để lại chúng tôi núi lở , đá đè
để lại chúng tôi lũ lụt
để lại chúng tôi ngư dân bị giết
Tổ Quốc !
Người còn là của chúng tôi không ?
Nghĩa trang Biên Hòa hoang phế
” Chung cộng đồng ” mà xương cốt nửa kia hương lạnh khói tàn
Tổ Quốc của ai, ba triệu người lìa xứ
sấp ngửa thiên thu chưa tìm được lối về
Vậy mà Tổ Quốc ơi !
Chúng tôi vẫn yêu người !
Vết chân hoang sơ tiền nhân còn lưu giữ
Tiếng hú khởi nguồn cho ngôn ngữ
còn nằm trong âm sắc lứa đôi yêu
Da thịt chúng tôi được dưỡng nuôi phôi trứng tự ngàn đời
Tổ quốc !
Chúng tôi không thể mất Người dù ai đánh đuổi
Dù chính quyền phản bội
Dù báo chí mù lòa
Giọt nước mắt chúng tôi nhọn căng viên lửa
Tiếng gào thét tung lên như trái phá
Tổ Quốc !
Chúng tôi chết cho Người
không chờ ai cấp phép !
Mãi mãi người là của chúng tôi !

Nguyễn xuân Nghĩa

Vụ việc được giàn xếp rất khó hiểu khi có cả người của Phòng Tôn Giáo sở Nội Vụ cũng có mặt tại hiện trường.  Hình dưới: mấy tên công an vờ vịt vô sửa lại cờ Phật Giáo bị húc đổ.

Sư ông bị thương

Cờ bị rách. Xem thêm Link: You-tube


Một người bạn trẻ tên Quỳnh Vy cũng bày tỏ những tình cảm thiết tha với Tổ Quốc trong lần xuống đường ngày 19 tháng 1 năm 2008. Có đọc những dòng thơ đầy xúc cảm này mới thấy tuổi trẻ Việt Nam bao giờ cũng là niềm hy vọng của quê hương dất nước Việt Nam:

Lửa tim tôi đang dâng tràn cuồn cuộn
Vài giờ nữa thôi, tôi sẽ xuống đường
Hòa lòng mình với tiếng gọi quê hương
Vì Tổ Quốc yêu thương và nòi giống
Trái tim tôi, đang rực sôi lửa nóng
Giận căm gan lũ phương Bắc từ lâu
Lấy quyền chi mà phách lối cơ cầu
Ngang nhiên chiếm biển Ðông và lãnh hải
Thương ngư dân sống quanh vùng duyên hải
Vẫn ra khơi tìm nguồn sống như mọi khi
Ngày tám tháng giêng bỗng tối sầm đi
Khi tang trắng phủ quanh vùng Thanh Hóa
Và hôm nay chúng giở trò xảo trá
Với dã tâm chiếm đoạt Hoàng- Trường Sa
Vu ngư dân chứa vũ khí ( nên ) chẳng tha
Quyết đuổi giết người dân lành vô tội
Khi giang sơn, Tổ Quốc tôi trôi nổi
Giận run người, uất nghẹn cả tim gan
Quyết xuống đường dù ” ai kia ” cản ngăn
Hay khuyên giải ” hãy giữ tình hòa khí “
Im lặng ư ? Là cúi đầu nhụt chí
Hòa khí ư ? Sao lại cướp đất ta?
Cản ngăn ư ? “Anh”bảo vệ chúng à?
Là những kẻ với dã tâm chiếm đoạt
Cởi đi anh, chiếc áo mình đang mặc
Tự khoác vào áo dân tộc quê hương
Thì như tôi, anh cũng sẽ xuống đường
Vì hai chữ thiêng liêng là Tổ Quốc
Lửa trong tim đang cháy lên đỏ rực
Chẳng riêng tôi mà còn có triệu người
Và hồn thiêng sông núi sẽ mỉm cười
Vì còn đó, những người yêu Tổ Quốc

Quỳnh Vy

Thật đáng cảm phục cô sinh viên Quỳnh Vy, bất chấp sự răn đe trấn áp của Công an , vẫn quyết tâm xuống đường để bày tỏ lòng yêu nước thiết tha mà không bạo lực nào có thể dập tắt được. Quê hương đất nước nếu còn có ngày sáng lạn là cũng nhờ có đứa con yêu quý, dũng cảm như Quỳnh Vy.

Hiện nay những cuộc biểu tình của sinh viên có số lượng hàng chục hàng trăm người thì công an đàn áp thẳng tay bằng bạo lực. Nhưng phải nhớ rằng khi số biểu tình lên đến hàng ngàn người thì lúc đó chính quyền Cộng sản sẽ dở trò vuốt ve , mua chuộc để xoa dịu và dập tắt cuộc biểu tình như chúng đã từng khôn khéo làm trước đây. Sinh viên sẽ sáng suốt và sẽ không mắc vào bẫy hứa hẹn đường mật của chúng. Trong ngày biểu tình 19 tháng 1 vừa rồi, Sinh viên Hà nội đã dùng chiến thuật ” dương đông kích tây ” để lừa công an khi công bố trên mạng là sẽ biểu tình ở một địa điểm này nhưng thật sự lại hẹn nhau ra quân ở một địa điểm khác. Chỉ một chuyện này cũng nói lên được tài trí tổ chức của anh em sinh viên và chắc chắn anh em sẽ còn nhiều mưu kế độc đáo ngoạn mục khác để vạch mặt bọn bán nước Bắc bộ phủ trước mặt toàn dân

Ngày nào mà sinh viên cũng như mọi công dân Việt mạnh dạn xuống đường, hiên ngang đi vào tù thì ngày đó chế độ tàn bạo đương thời cũng sẽ đi đến chỗ cáo chung. Sự tổ chức vụng về, thiếu nhất trí ban đầu sẽ dần dần đi đến sự chặt chẽ và quyền biến cho những cuộc xuống đường về sau. Phải sử dụng truyền đơn và những phương tiện thông tin khác để liên lạc và loan tin cho quần chúng. Chắc chắn sinh viên sẽ tổ chức được những cuộc biểu tình quy mô có đông người tham dự và gây tiếng vang lớn.

Học giả Nguyễn hiến Lê sau vài năm sống dưới chế độ Cộng sản, chứng kiến những chính sách quái đản, độc ác, nghịch lý của chế độ Cộng

sản nên đã ghi lại lời phê phán chế độ này trong hồi ký của ông, ” Cổ kim chưa thấy có xã hội nào phi lý như vậy ” ( 1) . Ông Lê qua đời vào cuối năm 1984, nếu ông còn sống đến giờ phút này , chắc chắn ông còn sững sờ kinh ngạc trước chuyện Công an cộng sản ngăn chận sinh viên biểu tình chống Trung Cộng trong khi Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa và Trường Sa. Trên thế giới chưa bao giờ xảy ra tình trạng nghịch lý quái gỡ là nhà cầm quyền dùng công an ngăn chận dân chúng biểu tình chống ngoại xâm như ở Việt Nam. Rồi chính bọn công an này lại bảo vệ cho vài chục người Trung Quốc biểu tình ủng hộ Trường Sa, Hoàng Sa là của Trung Cộng ngay tại tòa Ðại sứ Trung Cộng ở Hà nội ! Ðôi khi người dân suy nghĩ không hiểu chính quyền hiện tại là chính quyền người Việt hay là người Tàu cai trị nước Việt Nam !

Tại sao chế độ phi lý này tiếp tục tồn tại dù nó phạm nhiều tội ác và sai lầm đối với người dân và đất nước. Câu trả lời là mỗi lần người dân đứng dậy xuống đường biểu tình là bạo quyền có thủ thuật gỡ ngòi nổ để làm êm dịu tình thế. Còn nhớ vào năm 1956, sau cuộc cải cách ruộng đất kinh hoàng giết oan cả trăm ngàn người, nhân dân Quỳnh Lưu, Nghệ tĩnh đã nổi dậy chống đối. Hồ chí Minh chỉ huy chuyện gỡ ngòi nổ bằng màn kịch khóc lóc xin lỗi và cho hạ tầng công tác những cán bộ có trách nhiệm trong cuộc cải cách ruộng đất như Hồ viết Thắng, Trường Chinh. Mục đích là nhằm xoa dịu sự phẫn uất của quần chúng đang vùng lên. Ðể rồi đâu cũng vào đấy, nghĩa là chế độ Cộng sản tiếp tục gây tội ác trong trận Mậu Thân 1968 và chính sách tù cải tạo sau 1975. Chế độ khốn nạn này vẫn tiếp tục tồn tại vì biết sử dụng thủ thuật gỡ ngòi nổ khi dân chúng xuống đường biểu tình nổi dậy.

Nhưng tình hình ngày nay khác rồi, những lãnh tụ tôn giáo và tranh đấu sẽ không còn ngây thơ tin vào biện pháp xoa dịu của Cộng sản mỗi khi có biến động nữa. Bùa phép dỗ dành xoa dịu để giải tán biểu tình của Cộng sản không còn hữu hiệu nữa. Cộng sản phải buộc phải nhượng bộ hay sẽ phải đối đầu với tình thế gay go nghiêm trọng hơn. Dĩ nhiên cuối cùng sẽ đưa đến chuyện sụp đổ chế độ cho dù chúng sử dụng biện pháp hòa hoãn hay đàn áp. Lòng dân đã chán chúng đến cùng cực và tất cả chỉ chờ một giọt nước là tràn ly uất hận.

Hòa thượng Quảng Ðộ có đưa ra nhận xét với Ðài Á châu tự do là ” Ðại hội 10 vừa rồi là đại hội cuối cùng của chế độ Cộng sản Việt Nam”.. Nhìn những khó khăn chất chồng không lối thoát hiện nay của chế độ Cộng sản

hiện nay và số lượng người xuống đường phản đối ngày càng nhiều thì mới thấy lời của thầy Quảng Ðộ là lời tiên tri chính xác..


TRẦN VIẾT ÐẠI HƯNG.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Trần Viết Đại Hưng

Hỏi Là Trả Lời Blogspot -CHHV.

Tôi Sẵn Sàng Hy Sinh Cho Tổ Quốc- Thơ Lê Chân- Diễn Ngâm: Trúc Minh