Hoàng Sa Qua Những Nhân Chứng – Trần Thế Đức.

Sắc chỉ của triều đình Nhà Nguyễn sai phái đội thuỷ quân ra Hoàng Sa – Sắc lệnh này do bố chánh tỉnh Quảng Ngãi đưa ra vào tháng thứ tư năm thứ 15 đời Vua Minh Mạng, tức là năm 1834, về việc cử một đội gồm 3 chiếc tàu cùng với 24 thủy thủ tiếp tục tuần tra và bảo vệ Hoàng Sa.

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa
Đã mười lần giặc đến tự biển Đông
Những ngọn sóng hóa Bạch Đằng cảm tử
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng…

Nguyễn Việt Chiến

Lời bàn: Tuần qua, hầu như toàn thể báo chí trong nước hùa theo phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga, đồng loạt lên tiếng phản đối tàu chiến của bành trướng Bắc Kinh cắt dây cáp của tàu thăm dò dầu khí, khai thác địa chấn Bình Minh ngay trong lãnh hải Việt Nam.  Đồng thời gởi công văn tới Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam phản đối lệnh cấm đánh bắt cá ở biển đông của…Trung quốc mà thực ra trong phần lãnh hải Việt Nam. Đây là những hành động khiêu khích trắng trợn, xâm phạm thô bạo vào chủ quyền nước nhà… Một số trang báo điện tử trong nước đang hô hào kêu gọi  biểu tình tại các sứ quán Trung quốc tại Sài Gòn, Hà Nội….Nhân dịp này Blog 16 xin được chia xẻ thêm đôi nét về những hoạt động của người Việt tại Hoàng Sa truớc khi bị người Tàu chiếm đóng của tác giả Trần Thế Đức.

Hải giám 84,(trên) 1 trong 3 tàu của Trung Quốc uy hiếp và cắt dây cáp của tàu Bình Minh 2 (hình dưới)

Đường nét đứt màu xanh là ranh giới phạm vi đặc quyền kinh tế 200 hải lý của VN.

Đại cương về vấn đề Trường Sa, Hoàng Sa

1956:Trung Quốc chiếm một phần quần đảo Hoàng Sa

1958: Đại diên cho đảng csVN. Thủ TướngPhạm Văn Đồng ký công hàm bán nước

1974:Trung Quốc chiếm tòan bộ quần đảo Hoàng Sa

1988:Trung Quốc bắt đầu chiếm một số đảo trên quần đảo Trường Sa

1992:Trung Quốc tiếp tục chiếm thêm một số đảo trên quần đảo Trường Sa

Từ năm 1974 đến nay Trung Quốc cho xây dựng

các cơ sở hạ tầng,sân bay và tập trận  trên quần đảo Hoàng Sa Trường Sa,giết hại các ngư dân người Việt


Bài đọc suy gẫm:   Hoàng Sa Qua Những Nhân Chứng – Trần Thế Đức. (Hình ảnh từ các nguồn trên net chỉ có tính cách minh họa).

Biến cố Hoàng-sa xảy ra đầu năm 1974 ở cách xa đất liền nên chỉ có những người có mặt trong cuộc mới biết rõ sự việc xảy ra. Về phía Việt-Nam, những quân nhân trên chiến hạm là những người mục kích được một vài sự kiện; những quân nhân đồn trú từ lâu trên đảo, cũng như các nhân viên khí tượng cũng thấy được phần nào biến cố tại quần đảo này.

Với tai nghe mắt thấy, da thịt xương chịu đựng, và con tim rung động, những nhân vật kể trên ghi nhận được không nhiều thì ít những sự việc xảy ra. Tuy vậy, không ai giống ai. Có người có giác quan nhạy bén. Có người có giác quan lờ đờ. Trí thức của mỗi người được đào luyện khác nhau. Vì thế sự ghi nhận sự việc do mỗi người cũng không hoàn toàn giống nhau

Ngoài ra, những lời thuật sự của các nhân chứng cũng cần được cân nhắc kỹ lưỡng, vì có người muốn trình bày sự thật, có người muốn giấu kỹ tất cả hay một vài chi tiết.

Chúng tôi muốn ghi lại một vài sự kiện của biến cố Hoàng-sa qua lời tường thuật của một số người trong cuộc.

Làm chứng trước quan tòa là một điều phiền toái cho người chứng. Làm chứng trước lịch sử, trước dân tộc lại càng phiền toái hơn, nhất là trong khung cảnh đặc biệt của đất nước, trong hoàn cảnh hiện tại còn nhiều liên hệ.

Tuy vậy, gạn lọc hết những dè dặt nêu trên, chúng ta vẫn ghi nhận được giá trị của lời thuật lại: khung cảnh địa lý, tình trạng của quần đảo, cũng như một số sự kiện xảy ra.

MỘT CHUYẾN TÀU

Cách đây trên một năm, lúc 7 giờ tối ngày 30-11-1973, chiến hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 rời hải cảng Đà-nẵng, ra khơi trực chỉ hướng đông để tới mục tiêu là đảo Hoàng-sa ( Pattle), một đảo trong quần đảo Hoàng-sa cách Đà-nẵng 20 hải lý.

Chiến hạm có tốc độ khá mau (chừng 20 hải lý mỗi giờ) nên khởi hành vào lúc tối. Trước kia trong những sứ mạng tương tự, các chiến hạm khác phải khởi hành sớm hơn (lúc 4-5 giờ chiều), để cùng tới mục tiêu lúc 9 giờ sáng hôm sau. Bây giờ đi mất 14 tiếng đồng hồ, trước kia mất 16-17 tiếng. Những người ra Hoàng-sa nhiều lần nói rằng tàu bây giờ nhanh hơn tàu Pháp nhiều lắm. Xưa kia, chiếc La Modepiquer khởi hành kúc 4 giờ chiều, mà tới 12 giờ trưa hôm sau mới ra đảo.

Chiến hạm HQ 16 mang sứ mạng vận chuyển một số quân nhân (một trung đội) và 4 nhân viên quân chính thuộc nhà khí tượng ra thay thế các quân nhân và công chức đã trấn giữ đảo tại này từ ba tháng trước. Đây là công tác bình thường của hải quân Việt- Nam Cộng-Hòa. Trước đây hải quân Pháp đồn trú ở Đông-Dương cũng có những sứ mạng tương tự như tuần dương hạm này. Cùng với các nhân viên khí tượng người Việt, các quân nhân Pháp và Việt xưa kia được liên lạc với đất liền mỗi tháng một lần, có khi ba tháng, không nhất định.

Thời Pháp, tàu từ Đà-nẵng ra, thường đi tuần canh tất cả các đảo trong quần đảo ngay cả các đảo xa xôi nhu Phú-lâm (IleBoisée), đảo Tây…(Ile Quét, hay đảo Cây, Trê Island). Từ xa nhìn vào, đảo Phú-lâm trông thật thơ mộng như Ha-uy-di: bãi cát vàng, hàng cây dừa xanh, cao.

Trong những người đi trên chuyến tàu này có người ra đảo vài lần, có người đã đến được lần thứ 16 nhưng cũng có người ra đi lần đầu. Có người đã từng quen với sóng biển, nhưng cũng có người lần đầu tiên bước xuống tàu.

Trong tâm can của mọi người đều mang những xúc động lớn lao. Người ra đi lần đầu mang đầy lo lắng; đằng sau họ là vợ, con, gia đình, những khuôn mặt và khung cảnh quen thuộc; trước mặt họ là biên ải ở đầu sóng ngọn gió. Không biết rồi đây những khó khăn gì sẽ đến với họ? Bão táp? Gian khổ? Quạnh hiu? Người trở lại với biên cương hẻo lánh này cũng không khỏi xúc động khi phải rời bỏ những người thân, tuy đã biết chắc cuộc đời họ sẽ được an bài sao đây trong những ngày sắp tới.

Nhóm người trên tàu ấy gồm một trung-đội-địa-phương quân thuộc tiểu khu Quảng-nam, dưới quyền chỉ-huy của một trung-úy trung đội trưởng. Họ phần lớn là những người bị trừng phạt, gom góp lại trong tiểu khu, không phải là một đơn vị thuần nhất. Cuộc sống quạnh hiu giữa trời, mây, nước sẽ làm họ nghĩ về nội tâm mà ăn năn, sửa đổi? Sự cô đơn là hình phạt nặng nề. Với trời, mây, nước, dù sao cũng chẳng phải là điều tuyệt vọng đối với họ. Tới vùng hải đảo xa xôi đó, đâu có bao giờ nghe tiếng súng. Trong đất nước chiến tranh hàng mấy chục năm nay, vùng hải đảo chưa hề hứng lấy một vết đạn, chưa hề hứng chịu pháo kích, mưa bom. Họ phải tạm thời xa lánh vùng đất chết chóc, đau thương trong một thời gian. Ôi! Thật là lạ lùng! Một vùng đất thanh bình! Những gắp đạn M16 trên thắt lưng thật là nặng nề. Thôi! Gửi lại vùng đất chiến tranh, chỉ đem tượng trưng vài gắp mà thôi. Còn khẩu súng nữa. Có lẽ còn lâu lắm, khi trở về đất liền nó mới được dùng tới. Trên biển cả mênh mông này chỉ quí nhất là chất nổ: nào lựu đạn, béta, plastic. Họ đem theo càng nhiều càng tốt. Đó là nguồn cung cấp thực phẩm trong những ngày sống lênh đênh trên hải đảo.

Một nhóm khác gồm bốn người trong ngành khí tượng, đó là:

1) Ông Nguyễn Kim Nhường : Trưởng ty

2) Ông Đặng Hiền Võ : Chiêm sát viên

3) Ông Võ Vĩnh Hiệp : (nt)

4) Ông Nguyễn Văn Tấn : lao công

Sự phân biệt chức vụ chỉ có giá trị trên giấy tờ mà thôi. Ở ngoài đảo, trưởng ty cũng phải làm việc như các nhân viên khác, sống cùng với các đồng nghiệp không có gì cách biệt.

Các ông Nhường, Võ, Hiệp làm ở Nha khí-tượng Saigon. Ông Tấn làm ở trung tâm khí tượng Đà-nẵng. Ông Hiệp ra Hoàng-sa lần này là lần thứ 16. Ông Nhường ra lần thứ 10. Ông Tấn ra lần thứ 3. Còn ông Võ ra lần đầu. Ngoài những hành khách nêu trên, chiến hạm HQ 16 còn có thêm một nhóm hành khách khác gồm bốn quân nhân thuộc tiểu-khu Quảng-nam có nhiệm vụ lo việc chuyên chở. Khi tới đảo, bốn người này sẽ phụ trách việc đưa các quân nhân từ tàu vào đảo, và từ đảo ra tàu. Bốn người này không ở lại đảo, theo tàu về Đà-nẵng. Hành trang của họ chỉ có hai chiếc tàu cao su, tới đảo, họ sẽ bơm lên, thả xuống biển để di chuyển.

Còn các binh sĩ khác, cũng như nhân viên khí tượng, ngoài quần áo đem theo, phải đem theo đồ ăn đủ trong ba tháng. Từ đây tới ba tháng sau không hề có chuyến tàu nào từ đất liền chạy ra, trừ phi có chuyện khẩn cấp. Gạo chiếm phần chính trong số thực phẩm họ đem theo, nặng nề nhất. Ngoài gạo, họ phải đem theo thức ăn có thể để lâu được (đồ hộp…), hột cải, và rau để trồng, nhất là không thể thiếu gia vị (tiêu, ớt). Gia vị làm giảm mùi tanh của cá biển. Mấy năm về trước (1964-1968), đồ hộp rẻ, những hộp thịt, cá, bia, nước ngọt,…chiếm một trọng lượng đáng kể trong hành trang. Xa hơn về trước nữa, họ còn đem theo cả gà, vịt, heo…thật cồng kềnh. Bây giờ họ cũng đem theo một ít gia súc để thỉnh thoảng có được bữa ăn với thực phẩm tươi, nhưng đơn giản, ít cồng kềnh hơn. Khi xưa người Pháp trấn đồ trên đảo, khối lượng thực phẩm mà hồi đó tàu phải chở còn nặng nề hơn nhiều. Thay vì gạo như người Việt Nam, toán lính Pháp mang theo nhiều bao bột mì.

HẢI ĐẢO XA-XÔI

Tàu đi vào lúc gần cuối năm, sóng biển tương đối thấp. Tuy nhiên, với những người quen sống ở núi rừng, với đôi chân làm phương tiện di chuyển chính yếu, thì biển cả thật là độc ác.

Sau một đêm dài vật lộn với sóng gió, con tàu vẫn trực chỉ hướng mặt trời mọc. Khi mặt trời đã sáng rõ, mặt trời lên chênh chếch, một vùng trắng xóa hiện ra rõ dần trên vùng biển xanh. Đó mới là đảo Quang-ảnh (Vĩnh-lạc, Monney) mà thôi. Còn chừng một giờ nữa mới tới đảo Hoàng Sa (Pattle). Đảo Quang-ảnh hiện rõ dần, rồi lại mờ dần đằng sau tàu.

Một đảo khác lại hiện ra ở mé bên phải của tàu. Đó là đảo Hữu-Nhật (Cam-tuyền, Robert). Đây là một đĩa xôi hiện ra trên mặt biển. Viền quanh đảo là một bãi cát vàng, ở giữa đảo cao trội hẳn lên.

Xa hơn Hữu-Nhật một chút là đảo Hoàng-Sa (Pattle). Đảo này cũng được bao quanh bằng một bãi cát vàng. Trên đảo, cây cối xanh tươi. Ngay góc đảo, một căn nhà trắng nằm mé bên bờ biển. “Đó là miễu bà. Bà linh thiêng lắm”. Người thành thạo giải thích.

Nhưng sao lạ! Tàu không ghé vào đảo! Đảo Hữu-Nhật (Cam tuyền, Robert) đang bị bỏ xa dần. Còn ở mé trái của tàu, Hoàng-sa (Pattle) cũng đang lùi dần. Tàu còn đi tới tận đâu? Tàu phải đi về phía đông để tránh đá ngầm ven đảo, rồi mới kiếm chỗ đậu gần cầu tàu.

Trên bờ, người hiện ra nhỏ li ti trên bãi cát trắng. Tàu chạy chậm dần, rồi ngừng hẳn lại, còn cách xa bờ nên không thấy rõ người trên đảo, chỉ thấy chiếc cầu tàu chạy dài ra biển một quãng. Theo những người có kinh nghiệm. Cầu tàu đó được làm từ lâu lắm rồi, từ thời Pháp thuộc lận. Thời ông Ngô Đình Diệm, hãng phân bón[1] cho sửa chữa lại để chở phân. Gió to, bão dữ, nên cầu bị hư hại nhiều, chưa được sửa chữa lại. Ở ngoài này chẳng có gì tồn tại được với bão táp, gió biển. Đồ sắt chỉ một vài năm là muối biển ăn sét hết. Ở cuối đảo, trước kia có ngọn hải đăng cao lớn. Nay chỉ còn là đống sắt vụn. Người tò mò thì hỏi cho biết vậy thôi, chứ lên đảo rồi thì ai mà ngó đến mấy thứ đó. Giữa đảo, đằng sau nhà của khí tượng, bên trong mấy cây dương và cỏ dại, người tò mò còn ngó thấy một đống gạch và xi măng vụn nát, cùng với một khối vuông vuông cũng đang “ tàn phai nhan sắc”. Nghe nói đó là bia chủ quyền gì đó. Người trên đảo chẳng ai chú ý tới nó làm gì. Nghe đâu có mấy chị “ Empereur d’ Annam…” [2]

Hai chiếc xuồng cao su được bơm lên từ khúc do các anh lính lo việc chuyển vận. Hai chiếc thay phiên nhau chở người và đồ đạc từ tàu vào cầu tàu, rồi lại chở người từ đảo ra tàu.

Báo Du lịch (Cơ quan tổng cục du lịch-Bộ văn hóa thể thao và du lịch) Số xuân Kỷ sửu trang 23 có đăng một bài viết: Tản mạn cho đảo xa của tác giả:Trung bảo.Sau khi bài báo phát hành,một số bạn đọc đã cảm nhận được một cái gì đó không ổn với “Lề bên phải”. Tổng biên tập báo Du lịch trong vấn đề nhạy cảm quan hệ giữa Việt nam-Trung quốc đã âm thầm xé rào. Với số lượng 10,000 ấn bản,nó đã nhanh chóng lan tỏa rộng khắp giới học sinh và sinh viên cả nước…Dĩ nhiên sau đó báo này bị nghiêm khắc phê phán và lên án vì dám lên tiếng ca ngợi những thanh niên, sinh viên từng xuống đường biểu tình chống Trung Quốc.

Người tới thì cồng kềnh, khó nhọc, đăm chiêu. Người đi thì sao nhẹ nhàng, hớn hở. Ngoài những túi quần áo, người đi chỉ cầm theo một vài vật nhẹ, kỷ niệm của đảo: bông đá, những con ốc sò thật to, lóng lánh, hình dạng kỳ dị. Cách đây vài năm, những người về đâu có nhẹ nhàng thế này, người nào cũng cực nhọc vì những bao rau câu. Một người có thể mang vài ba bao. Những bao gạo 50kg sau khi ăn hết gạo, được dùng vào việc chứa rau câu. Ngoài này đầy dẫy rau câu, còn trong đất liền thì hiếm lắm. Nhưng từ sau năm 1970 trở lại đây, rau câu không còn nhiều như trước kia nữa. Vớt hoài thì cũng phải hết chứ. Đâu có phải riêng mình vớt đâu. Biển thì ai tới vớt chẳng được. Thứ quí, nên các tàu tới vớt luôn luôn, riết thì phải hết.

Cứ năm bao rau câu tươi mới vô được một bao khô. Một đám vài chục người phải vớt hàng trăm bao tươi. Người ta vớt hằng bao nhiêu năm trời ròng rã, thì biển nào mà sanh ra cho kịp.

LÊN ĐẢO

Đảo trông tựa như hạt đậu, nằm ngang theo hướng đông-tây. Phần nở ra của “hạt đậu” quay về hướng bắc. Như thế, đảo có thể chia làm hai phần: nửa phía đông và nửa phía tây. Cầu tàu ở đầu phía đông. Đi bộ vòng quanh đảo mất 20 phút.

Đi qua cầu tàu dài 180m là tới đất. Chân cầu tàu có nhiều tảng bê tông bể nằm ngổn ngang. Đây là nơi cá rút vào lúc mưa to, biển động, và anh em ra đó kiếm cá. Trên cầu tàu trước kia có đường rầy để những toa gòong chở phân từ trong đảo ra. Giờ thì đường rầy bị phá hư hết, chỉ còn vài ba khúc đường lỏng chỏng bên cạnh cầu tàu, còn di tích của một cái bệ đặt cần câu xúc phân trên xe rùa đổ xuống xà lan. Xe rùa giờ đây cũng tan nát cả rồi.

Đám gạo thực hành hạ thật quá quắt. Mọi người đã say sóng, nhọc mệt, đi không vững còn hơi, sức đâu mà khuân mấy thứ nặng nề đó nữa. Thôi đành để chúng ở bờ biển. Mai mốt khỏe người rồi rinh vào. Đường đi còn xa chứ nào phải dăm ba bước thì cũng rán được. Từ bờ vào tới giữa đảo cũng cả gần nửa cây số. Ở đây nào phải như đất liền. Còn ai tới mà ăn cắp nữa. Thế nhưng khốn thay, ông trời nào có thương cho. Một trận mưa bất ngờ xảy tới, thế là gạo hư hết trọi.

Trước khi ra đi, nghe nói đảo có phân chim, tưởng chừng nhiều chim. Ra tới nơi thì mới ngỡ ngàng: chẳng thấy một con chim nào cả, chỉ có vết tích của phân phốt phát mà thôi: trên con đường nối dài theo cầu tàu, hai bên có hàng đống phân cao lút đầu người đã được gom lại. Gọi là phân, chứ chất dơ dáy đó đâu có mùi hôi thối nữa, cũng chẳng còn hình thù như nguyên thủy nữa, lâu ngày biến thành đất rồi. Đất này tốt dễ sợ. Trước kia có người đem hột củ cải ra trồng, ra củ lớn gấp đôi, gấp ba trồng đất liền. Nhân công xắn đất thành từng tảng cạnh chừng 30cm, trông tựa như hòn đá. Nhìn kỹ thì thấy màu vàng nâu (phốt phát) lẫn với cát và vỏ sò nhỏ lấm tấm.

Ông Nguyễn Văn Nghề, một nhân viên khí tượng từng ra đảo 9 lần kể rằng lúc công ty khai thác phân chim hoạt động (vào khoảng 1961-1962), xem các lao công đào xới phân, ông đã thấy nhiều vật lạ dưới lớp đất trên mặt đảo:

1) Nhiều đồng điếu bằng thau, gõ kêu keng keng, giữa có một lỗ vuông, có chữ nho. Ông không đọc được. Một nhân công người Việt gốc Hoa[3] nói rằng mấy chữ trên đó nói tiền làm từ thời vua Gia-Long, (Gia-Long Thông Bảo).

2) Nhiều ché và chén cổ rất đẹp. Ché cao chừng 60-70cm.

3) Một bộ xương người tầm vóc như người thường bị xiềng hai chân ở chỗ gần mắt cá và hai tay ở gần cổ tay. Hai chân duỗi thẳng. Hai tay úp vào nhau, trói ở phía trước mặt. Xiềng có khoen thật to, bề ngang cỡ 3-4cm. Hai đầu xiềng được khóa chặt với nhau bằng một cái khóa kỳ lạ gồm có hai phần:

– Một thanh sắt dài chừng 6cm, một đầu là ổ khóa, một đầu có gờ để giữ thanh sắt cong.

– Một thanh sắt cong, bán kính đường cong chừng 3-4cm, một đâu do cái gờ giữ lại, một đầu do ổ khóa.

Anh em khí tượng bèn cải táng cho người chết, đúc một tấm bia đề “vô danh, cải táng ngày…”

Gần bên bộ xương người là rất nhiều đồng điếu và một con dao ngắn. Lưỡi dao sáng loáng, con dao tuyệt đẹp: lưỡi dài chừng 30cm đầu nhọn, hơi cong về phía sống dao; cán bằng ngà; trạm một con rồng. Dao nay do thiếu úy Trực (địa-phương quân Quảng-nam) cất giữ.

Các nhân viên khí tượng năm đó còn gặp một tấm bia bằng đá cẩm thạch (?) cao chừng gần 1m, bề ngang chừng 0,5m. Phía trên của bia hình vòng cung, có trang trí một mặt trăng. Dưới mặt trăng (hay mặt trời gì đó) là một con dơi ngậm hai cái sợi vải. Giữa bia là nhiều hàng chữ nho. Dưới hàng chữ nho là một hộp ấn. Dưới hộp ấn là hai thanh gươm bắt tréo nhau. Dưới cùng là một cái bàn.

Ông Nghề đem tấm bia này vào Viện Khảo-Cổ Sài gòn khi ông trở về đất liền [4].

Vài hình ảnh tuổi trẻ Việt Nam biểu tình tại Hà Nội- Sài Gòn trong năm 2007 do các phóng viên quốc tế chụp.

Sinh viên tụ tập trước tòa đại sứ Trung cộng tại Hà Nội.

Một sinh viên Việt Nam tuy được công an mời ra khỏi hàng nhưng vẫn khôn khéo giương khẩu hiệu THS của VN cho phóng viên AP. chụp.

Đã nói là không được yêu nước rồi cơ mà, cậu này bố láo bố lếu nhá.:)

Đoàn người tiếp tục di chuyển vào đảo trên con đường độc nhất từ cầu tàu dẫn vào giữa đảo. Đây là xương sống của đảo.

Con đường này rộng chừng hai mét, đá cục lăn lóc trên mặt đường. Người ra đảo từ thời Pháp, lúc Nhật vào Việt Nam, nói rằng hồi đó đường lót đá xanh, trải nhựa tốt lắm. Gió bão đã phá hư hết, ở bên phải con đường có hai ngôi nhà nằm dọc theo đường, cách đường hai mươi thước. Người đã từng sống ở đây cho biết ngôi nhà gần nhà mình nhất là nhà chứa phân, bây giờ bỏ hoang. Còn ngôi nhà kia là nhà nguyện (nhà thờ), kiêm nhà xác. Gọi là nhà xác vì lúc đầu người ta xây để làm nơi chứa xác một viên đội (sergent) người Pháp. Sau này người có đạo vẫn thường vào làm lễ, biến thành một nhà nguyện (nhà thờ). Cái chết của người Pháp này ly kỳ lắm. Có dịp sẽ nhắc tới.

Khắp đảo, chỗ nào cũng thấy những cây lá lớn bằng bàn tay, màu xanh lá chuối non, mọc thành rừng thưa. Thân cây cứng, cao bằng đầu người hay hơn. Ngoài loại cây này, phía giữa đảo còn có vài cây dương liễu (phi lao) có lẽ đem từ đất liền ra

Đi mút con đường là một giếng nước, đây là giữa đảo. Giếng nước không ngọt như trong đất liền, mà vị lợ. Về bên trái, cách giếng vài chục thước là hai ngôi nhà lớn, thật đồ sộ và kiên cố: một là đồn binh, một là ty khí-tượng. Thật là khác thường: mái nhà bằng phẳng làm bằng xi măng-giống như nhà thờ và nhà chứa phân-để gió bão không hủy hoại. Đây là nơi đầu sóng, ngọn gió nên chịu đựng những trận bão khủng khiếp. Mái ngói hay tôn sẽ bay như chiếc lá trong cơn mưa gió tàn khốc. Nhà cửa lơ mơ chỉ còn là đống gạch vụn. Cửa cứ phải làm lại hoài, mà cũng không chịu đựng nổi sức mạnh của gió bão. Gió mạnh đến nỗi có thể đập nát các cánh cửa ra thành miếng nhỏ. Trận bão lớn thổi qua đảo vào tháng 11 năm trước (1972) là một trong những trận bão lớn nhất.

Hai ngôi nhà lớn nhất trên đảo (đồn binh và nhà của khí tượng) cũng ngó về hướng bắc, nằm gần giữa đảo hơn là mé bờ biển phía nam. Trước mặt đồn binh là một sân bóng chuyền và cột cờ. Tại cột cờ này có một bia bằng xi măng của Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng-Hòa. Trên cùng của bia là dấu hiệu của binh chủng. Phía dưới có ghi “Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến….”. Bia có ghi ngày lập nữa, nhưng người trên đảo, ai để ý tới chi tiết nhỏ nhặt đó.

Kế đến sân bóng chuyền nằm bên phải đồn binh là dãy nhà của binh sĩ. Trên nóc đồn binh, góc trông ra biển (phía nam) là một tháp canh, một góc khác có đèn pha thế cho đèn pha đã gãy đổ.

Nhà của khí tượng ở mé trái (phía tây) của đồn binh, cách đồn binh chừng 30m. Chếch về bên trái của nhà, là một dãy nhà phụ của khí tượng, gồm bốn gian: một nhà kho, kế bên là lò bánh mì, kế đó là nhà chứa hơi hydro, gian còn lại là nhà bếp. Tòa nhà rộng mênh mông dài 24m, rộng 4m, chỉ chứa có 4m, chỉ chứa có 4 người.

Một ngôi nhà nữa trên đảo là nhà của đồn binh, nằm ở hướng tây bắc của giếng, cách giếng chừng vài chục mét, cách đồn binh chừng 150m.

Ngoài con đường chính từ dưới cầu tàu đi lên, theo hướng đông-tây, trên đảo còn hai đường chính nữa:

– Đường thứ nhất song song với đường trên, chạy từ đằng sau nhà của khí tượng tới cuối đảo. Bên phải con đường là ruộng muối cũ [5]

Gần cuối đảo, ở bên trái con đường là đèn pha cũ, nay đổ nát. Gần tới cuối đảo, đường mòn quẹo trái dẫn tới miễu Bà nằm trên bờ biển.

– Đường thứ hai đi từ giữa giếng về bờ biển phía bắc. Đường này hơi hẹp hơn con đường từ cầu tàu vào. Đây là con đường có nhiều người đi lại nên cây cối không thể mọc lên được. Bên trái con đường có hai cây dừa, nhiều cây thông. Bờ biển phía bắc là vùng nhiều cá. Còn nửa phía tây của đảo là vùng ít người lui tới vì góc tây bắc của đảo là vùng ít người lui tới vì góc tây bắc của đảo là vùng sóng lớn, biển động, ít cá và góc tây nam là “Vùng của Bà” .

Từ nhà của khí tượng và đồn binh có những đường mòn đi về phía giếng, đi ra bờ biển phía nam và đi ra giếng nước. Đây là những đường được tạo thành do bàn chân người dẫm nát cây cỏ, do sự tiện lợi, chứ không theo một kế hoạch sắp xếp. Đó đây là những đường gần nhất đi ra biển của những người sống trên đảo. Người ngoại quốc từ các tàu đánh cá đậu ngoài khơi, phía nam của đảo lên bờ, vào đảo đổi nước ngọt lấy đồ ăn tươi, rau, trái cây do những con đường mòn hướng nam-bắc này.

Như vậy, hệ thống đường xá trên đảo thuận lợi cho di chuyển từ nơi cư trú (gần như đảo) về bốn phía trên đảo.

Để bảo vệ đảo, người Nhật (thời thế chiến thứ hai) đã đem đá từ Quảng-nam ra xây năm lô cốt trên bờ biển:

-Một ở phía nam: ở cuối các con đường mòn từ ty khí tượng và đồn binh đi ra bờ biển phía nam.

bảo vệ cầu tàu và mạn phía đông của đảo.

-Một ở phía đông nam

-Một ở phía đông bắc

-Một ở phía bắc: Ở cuối con đường mòn từ giếng ra bờ biển phía bắc.

-Một góc đông bắc.

Các lô cốt này bảo vệ đảo chống lại các cuộc tấn công nếu có từ vùng biển xung quanh.

Tại sao người Nhật không xây lô cốt gần miễu bà? Có lẽ họ cũng xây, nhưng nay đã đổ nát cũng như các lô cốt kia (nay chỉ còn vết tích là các đống bê tông cốt sắt).

MIỄU BÀ

Trong cảnh cô đơn, sóng, gió, miễu bà là nguồn an ủi lớn lao cho những người trên đảo cũng như những người thường lui tới nơi này. Nhang, đèn được người trú đóng trên đảo đem từ đất liền ra. Dân Việt, Tàu, Nhật, Tân-gia-ba đánh cá quanh vùng khi ghé ngang đảo cũng đem nhang vào khấn vái. Miễu đặt ở góc tây nam của đảo, nơi mà từ đất liền ra là gặp ngay. Bà quay mặt ra hướng này để che chở cho ghe, tàu từ đất liền ra.

Miễu mới được xây sau khi người Nhật thất trận, nhưng trước năm 1948. Cũng giống như lối kiến trúc khác trên đảo, miễu cũng chỉ là một “cái hộp” nóc dài bằng 6m, rộng 4m, cao 3m, có một cửa duy nhất trông ra biển.

Trước mặt miễu là một bức bình phong. Dưới chân bức bình phong là đám san hô được sắp xếp như một mâm xôi. Bên ngoài đám san hô này là những đường trang trí bằng các lon đồ hộp cắm xuống cát, do anh em binh sĩ bỏ công ra làm. “Cây nhà, lá vườn” ngoài đảo này không có hoa, có gì làm nấy, miễn là lòng thành. Gần có một bia do người Pháp lập, có người còn nhớ có chữ “Le Président…”

Qua cửa, bước vào trong là gặp một hàng binh khí cổ truyền chắn ngang. Gió, bão phá hư nên đến năm 1973, chỉ còn một thanh đao, treo ở bên trái của bà.

Tượng Bà đứng trên một bệ xi măng. Đầu và mình được choàng bằng chiếc khăn và mảnh vải màu hồng, do một nhân viên khí tượng trước kia làm việc ở đây gửi ra thay cái cũ. Người từng sống ở đây về, vẫn thường gửi nhang ra cúng Bà.

Vào miếu lạy và khấn, ít ai dám ngó bà lâu. Một vài kẻ bạo dạn kể rằng tượng bà cao chừng 1,50m tương tự các tượng Phật vùng Non-nước gần Đà-nẵng. Có kẻ thành thạo hơn nói rằng Bà giống Bà ở Phú-quốc.

Mặt bà phúc hậu, đôi mắt hiền từ, tai dài. Người tạc tượng để Bà mặc chiếc áo the dài quá đầu gối.

Hai tay bà cầm một cái chén hình 6 cạnh, bề ngang chừng 4-5cm. Người ta bảo rằng đó là bát nhang.

Đằng trước Bà, là tượng Phật Thích-ca. Trong miễu còn có đèn dầu, bát nhang, hai chân đèn, chuông, mõ, để trên kệ. Ngoài ra, trong miễu còn có thẻ và ba đồng điếu để xin xâm. Xâm linh lắm. Nghe kể chuyện một người lính xin Bà cho ở lại đảo. Bà không cho (qua xâm). Anh ta không tin. Thường thường, ai xin ở lại đảo cũng đều được chấp thuận, vì đỡ phải chọn lựa người khác thay thế, tốn kém lắm. Gần đến ngày mãn hạn, anh ta xin cấp chỉ huy từ đất liền ở lại nữa. Vị chỉ huy chấp thuận. Sau vài ngày, chị vợ nhớ chồng quá, giả bộ đau, van lạy cấp chỉ huy ở đất liền cho chồng về. Thế là anh chồng phải rời đảo, như ý muốn của Bà.

Vùng biển trước mặt miễu gọi là vùng riêng của Bà, không được ai lai vãng tới. Tới đó kiếm cá là Bà quở phạt ngay. Cái chết của một viên đội (sergent) Pháp đưa đến việc thành lập nhà xác được truyền kể như sau:

Anh chàng “sergent” này thuộc về công binh, nên chất nổ rành rẽ lắm. Một hôm anh tới “Vùng biển của Bà” châm ngòi cho cháy một bánh thuốc nổ để bắt cá. Anh ta ngó hoài không thấy lửa cháy ngòi. Không ngờ lửa không cháy cả cái ngòi, mà chỉ cháy phần giữa của ngòi, ăn lan vào trong và chất nổ làm anh ta chết.

Một chuyện khác kể rằng có hai người lính đem chất nổ ra trước miễu Bà, không tin chuyện dị đoan. Cả hai người thấy một cặp cá thật to đang lờn vờn gần bên các tảng đá. Một người châm ngòi bánh thuốc nổ, nhưng tay cầm chặt, đứng trân trân ra ngó lửa cháy, mà không chịu ném. Anh kia thấy thế, sợ quá, co giò chạy. Một tiếng nổ lớn làm người cầm thuốc nổ chết ngay, còn người bỏ chạy bị thương.

Bà linh thiêng như vậy, nên là nguồn an ủi, là niềm tin cho những người cô đơn trên hải đảo.

Thời Nhật chiếm đảo, Bà chưa có miễu che mưa nắng. Bà đứng giữa các cọc bằng tre do dân chài dựng lên. Ở bờ biển gỗ, tre, táp vào luôn luôn, đủ để dân trên đảo dùng làm củi chụm, ít khi phải đốn cây rừng. Gỗ, tre từ các ghe, tàu đắm trôi giạt vào, nhiều nhất ở góc đảo bên đối diện với miễu Bà, cùng ở phần phía tây của đảo. Tại đây, bờ biển hơi cao hơn các phần khác của đảo vì sóng biển đầy cát, san hô vào bờ thành từng đám cao. Ở vùng này, sóng gió mạnh hơn cả, nhất là lúc biển động. Ngoài những thanh gỗ, tre, đôi khi người ta còn gặp cả sọ người, xương người.

Người lạ tới đảo vào cúng Bà, thường đem theo nhang đèn, chân nhỏ như sợi tăm, hương rất thơm.

Mé bên trái của Bà là nghĩa địa, nơi chôn người chết chứ không phải nơi có nhiều vỏ sò, ốc như “ nghĩa địa ốc ” ở góc đông nam của đảo. Nơi đây có hai hàng gò mả song song với nhau, đầu quay ra biển, hướng về phía tây-nam, nghĩa là hướng về phía đất liền. Mả có từ lâu lắm rồi. Những người ra đây từ thời lính khố xanh đã thấy. Mả có nhiều bia, bằng đá có, cây có. Mả cũ có, mới có. Mả có bia bằng gỗ, đá, hay xi măng. Mả mới nhất là của Thủy Quân Lục Chiến VN CH. Cuối năm, gần tết, anh em sống trên đảo cũng dọn dẹp, sửa sang lại các gò mả không bà con chăm sóc.

Rằm, mồng một tết, hay lúc có người đau yếu, anh em thắp nhang cầu khẩn.

CÔNG-TÁC

Những người được đưa ra đây đều lãnh nhiệm vụ riêng: người thì bảo vệ lãnh thổ, kẻ thì ghi nhận tình trạng thời tiết. Sứ mạng của các anh lính nghe thì to lắm, nhưng đối với họ chỉ là chuyện bình thường. Họ đã từng làm công chuyện đó từ bao lâu nay ở đất liền. Bây giờ họ chỉ tiếp tục công việc thường xuyên đó.

Ngoài này từ hồi nào tới giờ có đánh nhau đâu, nên có chia phiên gác, nhưng cũng thảnh thơi lắm. Gác thì tới phiên mới gác. Còn thì chẳng có chuyện gì làm, buồn lắm. Ngoài chuyện đánh bóng chuyền, bắt cá, bắt ốc, còn gì nữa đâu. Súng trở thành vô nghĩa, phải cất kỹ vào kho.

Các nhân viên khí tượng thì cũng rảnh rỗi như vậy. Mỗi ngày chỉ phải làm tám lần quan trắc gọi về Saigon qua hệ thống vô tuyến điện thoại siêu tần số (motorolar): lúc 8 giờ sáng, 11 giờ trưa, 2 giờ chiều, 5 giờ chiều, 11 giờ khuya, 2 giờ khuya, 5 giờ sáng. Khi có bão, quan trắc phải làm và báo cáo hàng giờ. Nhờ đó, sức mạnh và hướng đi của trận bão được biết rõ và thông báo cho dân chúng, tàu bè, máy bay. Từ Sài Gòn qua hệ thống viễn thông, vùng Đông Nam Á và Đông Á biết đến Hoàng-sa qua ám số 48860. 48 là vùng Đông Nam Á. 860 là ty khí-tượng Hoàng-sa.

Ty khí-tượng Hoàng-sa còn kiêm luôn cả ty bưu điện, đóng dấu trên thư từ gửi về đảo. Thư từ thì trước kia chỉ có nhân công hãng phân mà thôi.

CUỘC SỐNG TRÊN HẢI ĐẢO

Sống ở ngoài này hoàn toàn lệ thuộc vào sự tiếp tế từ đất liền. Lúc đi, phải chuẩn bị thức ăn đầy đủ trong ba tháng. Trước khi Nhật đảo chính, các nhân viên khí tượng cũng như toán lính khố xanh là người Việt, trừ viên đồn trưởng người Pháp, tàu ra đảo cứ ba tháng một lần. Đôi khi mỗi tháng một lần. Sau khi người Pháp trở lại Đông-dương, toán lính canh phòng hoàn toàn là người Pháp, nếu tàu ra tiếp tế mỗi tháng một lần. Có thể có những viên chức chánh quyền ra nữa. Người thành thạo kể hình như có lần ông Phan Văn Giáo đã ra đây. Khi trao trả cho Việt-Nam, tàu cứ ba tháng ra một lần, như trước đảo chính Nhật. Khi Thủy Quân Lục Chiến Việt-Nam Cộng-Hòa trấn giữ quần đảo (trước năm 1959), có lần máy bay từ đất liền ra thả dù tiếp tế, nhưng phi công lại thả xuống đảo Phú-lâm (Ile Boisée), nơi Trung Cộng chiếm đóng. Hồi đó Trung Cộng chỉ mới chiếm các đảo trong nhóm đảo Tuyên-đức (Groupe de I` Amphitrite) mà thôi. Như đã kể, thời Pháp anh em ra đảo đã từng được tàu Pháp chở đi kiểm soát các đảo, kể cả đảo nhỏ và nhóm Tuyên-đức xa xôi.

Ở đây chất tươi (rau, thịt) hoàn toàn thiếu thốn. Xưa kia đời sống dễ dàng, gà, vịt, heo có thể mua đem theo dễ dàng.

Biển cả đầy dẫy cá, tôm, ốc nhưng cũng phải bỏ công lao khó nhọc ra chứ, đâu có dễ dàng, đâu phải lúc nào muốn ăn cá là xuống biển vớt, có ngay. Việc bắt cá dễ dàng chỉ có 7 ngày trong tháng theo tuần trăng: từ mồng một tới mồng bốn và từ rằm tới mười tám. Lúc đó, nước ròng thật sát [6], để trơ phần san hô ra, cá, tôm, vào các hang, hốc đá, hõm kiếm mồi, ra không kịp, anh em mặc sức mà bắt cá, tôm, ốc. Đó là những ngày vui nhất trên đảo. Buổi sáng, anh em dậy thật sớm (4-5 giờ), cơm nước xong xuôi là kéo nhau đi bắt cá cạn. Từ 5 giờ sáng, nước bắt đầu rút xuống, tới 7,8 giờ thì nước ròng thật sát. Ở bờ phía nam, nước biển rút ra cách chân bờ biển cát vàng tới gần 200m. Ở phía bắc đảo, vùng san hô bao quanh còn xa hơn nhiều, lại chạy vòng về phía đông bắc nữa.

Khi nước ròng thật sát, vòng đai san hô bao quanh đảo Hoàng-Sa (pattle) nối với các mỏm san hô mới nhô lên (Mỏm quan sát: Banc des observations, Récif Antilope) ở phái đông bắc đảo. Người ta có thể dùng chân để ra mỏm Quan-sát, nhưng phải chạy cho lẹ thì mới tránh được nước thủy triều dâng.

Người bạo dạn dám ra tới bìa san hô nói rằng hết san hô là vùng biển thẳm, còn gọi là mé sóng. Mé sóng ở đông bắc của đảo là nơi có nhiều người đã lượm được các mảnh chén sứ rất đẹp.

Ít người dám ra tới mé sóng, vì khi nước thủy triều dâng lên, đường xa, chạy vô không kịp.

Đi bắt cá cạn, không ai dám đi một mình, phần vì nguy hiểm, phần vì ở nhà không có chuyện gì làm, buồn.

Phải đi đông vì lỡ nước vào hõm [7], hụt chân thì có người kéo lên.

Biển lúc đó thật là nhộn nhịp. Từng toán dăm ba người đi giày nhà binh, tay xách giỏ, dở từng khối đá (san hô và vỏ sò ốc dính cứng lại với nhau) ra bắt cá. Phải đi giày nhà binh vì đi chân đất thì san hô cứa chảy máu chân. Cá biển có ngạnh bén. Người không rành phải đem cả vớ nhà binh theo lót tay cho khỏi đau. Người kinh nghiệm, trước khi ra đảo đã sắm những cái nĩa (đinh ba) có cán dài chừng 1,50m đầu có đinh nhọn dài vài phân. Đây là thứ kiếm cá rất tốt. Cá ở đây bạo lắm, thấy mình cứ nằm yên, mà có chạy cũng hết nổi vì xung quanh hang hốc, nước đâu còn nữa. Cái nĩa phóng vào mình cá là ăn chắc.

Không có nĩa, nhiều anh em ra cầu tàu đập bê tông bể lấy sắt 8-10 ly đập nhọn đầu để làm dụng cụ đâm cá. Cá có đủ loại: cá mú, cá bò, cá mó, cá hồng, mực…,nghĩa là đủ loại giống như trong đất liền. Nhưng cũng có nhiều con kỳ dị như cá “khăn bàn” lớn bằng khăn bàn. Người nào bạo gan ra xa câu được nhiều loại cá ngon như cá thu. Nghe nói đảo này có chân nên các rúc vào chân đảo kiếm mồi.

Ngoài cá ra, anh em còn bắt những con tôm hùm thật to, càng to bằng ngón tay út, trong toàn thịt.

Ngoài cá ra, bắt ốc cũng là việc làm vui nhộn. Ốc có nhiều loại kỳ lạ, vỏ ốc đủ màu, lóng lánh rất đẹp. Không biết tên của chúng là gì, nghe nói ốc “Porcelaine”. Có người bắt phơi khô, bỏ vào hàng bao bố đem về. Bởi vậy, tới cuối năm 1973, ốc bắt đầu ít đi.

Có nhưng con sò khổng lồ. Lỡ tay để vào miệng, nó kẹp lại là hết rút ra. Gân của nó ăn rất ngon.

Tới 9-10 giờ, tới 4-5 giờ chiều thì lên cao nhất, rồi lại xuống từ từ.

Trong những ngày đầu và giữa tháng, mỗi ngày nước ròng chậm chừng nửa giờ. Thí dụ ngày 15 ròng lúc 7giờ, ngày 16 ròng lúc 7 giờ 30, ngày 18 ròng lúc 8 giờ. Tới ngày 19, nước lại ròng lúc 6 giờ. Nước ròng trễ thì lên cũng trễ, mỗi ngày một giờ.[8]

Có người nhận thấy lúc nước ở Hoàng-Sa ròng sát thì ngược lại, nước ở sông Sài-Gòn dâng lên cao nhất, tràn ngập vùng đất hai bên bờ.

Những ngày nước ròng sát nhớ như in vào tâm trí mọi người sống trên đảo, vì là nhũng ngày vui nhất trên hòn đảo hiu quạnh.

Những ngày khác, nước chỉ rút xuống một khoảng ở chân bờ biển, chưa tới vùng san hô rồi lại dâng lên.

Trong những ngày đi bắt cá cạn, anh em ăn uống đầy đủ nhất. Còn những ngày khác, cá, tôm đâu có dễ dàng để mình bắt. Muốn có cá phải câu. Đâu phải bất cứ ai câu cũng có cá cả đâu, phải tùy tay. Phần lớn, anh em không quen nghề biển, nên câu thật khó khăn. Người bạo dạn lội ra xa, đứng dưới nước câu thì có cá, cá lại to mà ngon

nữa, nhưng việc đi vào bờ thật khó khăn. Trên bãi san hô, có những chỗ thình lình sâu hẳn xuống (hõm) khi nước dâng cao đi qua chỗ đó có thể bị ngập đầu. Qua khỏi, đáy biển lại cạn như những chỗ khác. Khi đi qua đó phải cẩn thận.

Cầu tàu có nhiều tảng xi măng lớn, rong, rêu, bám đầy, cũng là nơi lắm cá, nhưng để dịch được chúng lên cũng là cả một vấn đề. Chúng cắn mồi, nhưng rúc vào kẹt đá thì lôi hết ra, lại mất cả lưỡi câu nữa. Những tay lão luyện dùng nhợ cỡ lớn vẫn kiếm được cá ở đây.

Không ai dùng lưới vì san hô cứa rách lưới. Có ca nô ra ngoài xa, mé sóng thì cá nhiều lắm. Đến mùa cá, tàu ngoại quốc tới đánh đầy mặt biển, nhiều như “những chiếc lá tre”[9] nổi trên biển. Lúc đó, cá đi hàng đàn, tràn ngập cả biển. Đuôi chúng chổng lên trời như tàu đang chìm. Thế mà trong bờ kiếm cá đâu có dễ dàng.

Người sống trên đảo phải biết nghĩ đến ngày mai. Lúc có nhiều cá thì phải phơi khô, để dành cho lúc không kiếm được. Những ngày mưa, bão, biển động, thường chỉ ăn cơm với nước mắm.

Lính địa phương chia quân thành 3 tổ. Mỗi tổ 10 người thay phiên nhau kiếm cá nên tương đối dễ chịu. Còn 4 nhân viên khí tượng thật là vất vả.

Biển còn có rau câu. Trước năm 1970, ít ai chịu vớt rau câu đem về. Sau đó hình như có người đặt trước, anh em binh sĩ vớt thật nhiều. Tới năm 1973, không còn để cho vô bao nữa.

Một nguồn thực phâm khác là con vít. Cũng như cá, bắt nó phải có công phu và có mùa. Tháng 5, 6, 7, vào những đêm sáng trăng, những con rùa biển đó từ biển bò lên bãi cát đào lỗ để đẻ trứng rồi lấp đi đánh giấu chỗ chôn trứng. Trứng vít lớn bằng cái hộp quẹt Zippo. Nấu chín thì lòng đỏ đặc lại như trứng gà nhưng lòng trắng thì lầy nhầy.

Vít lên bờ thì thân mình to lớn và những đôi chân thô kệch để lại quá rõ ràng trên mặt cát. Anh em phải canh đến khuya, đi kiếm những dấu vết đó, đuổi theo là bắt gặp. Vít to bằng một cái bàn nhỏ (1x 1,5m), nặng nề, chậm chạp trên đất liền. Anh em chỉ việc lấy hai tay lật ngược lại, là bốn chân nó chới với trên không khí. Móng vít có thể chữa cho trẻ con khỏi sài, đẹn.

Thịt vít tương tự thịt bò: sớ to.

Đồi mồi thì họa hoằn lắm mới gặp.

Trước khi xảy ra vụ Trung Cộng chiếm đao, anh em bắt được hai con đồi mồi. Trước ngày bị Trung Cộng bắt, anh em thả đi một con, còn một con vẫn nuôi trong bể nước.

Một nguồn lợi khác trên đảo là muối.

Nước biển thì mênh mông xung quanh đảo, nhưng trên đảo thì thiếu muối ăn, phải chở từ đất liền ra. Vì vậy, thời Pháp, một viên đồn trương đã ra lệnh cho đám lính khố xanh dưới quyền làm một ruộng muối nhỏ ở phía tây của đảo. Cây rừng bị đốn, đào gốc và rễ. Cỏ được nhổ cho hết. Vì đất trên đảo thường là cát lẫn lộn với vỏ sò, ốc, nước dễ bị hút hết nên mặt bể muối được đổ trên nền tráng xi măng, xung quanh có bờ cao để nước khỏi chảy ra ngoài. Bể muối gần như tròn, bên trong chia thành từng ô vuông, mỗi cạnh chừng 1,5. Tổng cộng kể có 6 ô vuông.

Sau đó, hàng ngày, anh em khố xanh phải gánh nước đổ vào ruộng. Bao nhiêu sức lực, mồ hôi đổ ra, nhưng cuối cùng cũng chẳng có hột muối. Mặt ruộng muối cứ nứt nẻ hoài. Nước rút thật đi mau. Có người giải thích: đất trên đảo toàn cát và đá vôi, không giữ nước như đất sét, lại không làm nền chắc, nên không thể làm ruộng muối được.

Những ngày cuối cùng khi đảo còn thuộc về người Việt, vết tích của một công trình vẫn còn trên đảo, tuy mưa bão và cây cối cũng đang xóa nhòa dần.

PHÂN PHỐT PHÁT

Phân phốt phát trên mặt các đảo trong quần đảo Hoàng-sa (Para-cels) là một nguồn lợi đáng chú ý. Nhiều cuộc khảo sát của các nhà địa chất học cho biết lượng phân đủ khai thác có lợi[10].

Năm 1956, ông Lê Văn Cang được chính phủ Việt-Nam Cộng-Hòa cho phép khai thác phân tại quần đảo Hoàng-sa, nhưng đến năm 1961 mới khởi công. Công ty Hữu-Phước (Hyew-Huat)[11] được ông Cang giao cho các công tác lấy phân và chuyên chở về Saigon.

Số lượng phân do công ty này đã khai thác trong những năm đầu tiên (1957-1958-1959) là 8.000 tấn.

Từ năm 1960, một công ty khác (Công ty phân bón Việt-Nam) của ông Bùi Tiến Thành giữ vai trò khai thác phân tại quần đảo Hoàng-sa (Paracels) còn Hyew-huat chỉ chuyển vận. Số lượng phân khai thác được của hai công ty nói trên trong năm 1960 là 1.570 tấn, năm 1961 là 2.654 tấn, 1963 là 3.000 tấn. Số lượng phân đã được lấy lên, chuẩn bị đem về trong năm 1962 là 12.000 tấn.

Sau đó, gặp nhiều trở ngại về mọi phương diện: phương pháp và kỹ thuật khai thác, biến chế, chuyên chở, tổ chức, thị trường, chính trị[12], các công ty trên đã ngưng hoạt động (1962).

Sau năm 1970, thị trường phân bón ở Việt-Nam-Cộng-Hòa ngày càng rộng lớn, giá phân lên cao, nên nhiều tư nhân cũng như công ty [13] lại chú ý khai thác phân ở quần đảo Hoàng-sa.

Công-ty Kỹ-nghệ phân bón Đại-Nam (KYPHADACO)[14] do ông Đào Nhật Tiến thành lập, cho biết thành phần phốt phát trong phân sản-xuất từ lớp san hô lấy ở trong các đảo trong quần đảo Hoàng-sa có phẩm chất tốt. Ông Tiến mua lại san hô có chứa phốt phát còn lại trong các kho, nghiền cho thật mịn rồi nung lên, đem bón thử cho cây thì kết quả thật mỹ mãn: cây phát triển mạnh sau nửa tháng được bón phân này. Phòng thí nghiệm của Viện khảo-cứu (Bộ cải cách điền địa và phát triển Nông Ngư Nghiệp)[15] cho biết kết quả phân tích 5 mẫu của phân Hoàng-sa của ông Tiến như sau:

N : 0%

P ­2 ­O­5 :20.51%

K2O :15.25%

Thành phần phốt phát chứa 16% trọng lượng phân thì phân mới có lợi cho giới tiêu thụ. Trong các mẫu phân đưa thí nghiệm, thành phần trên ở mức độ tốt (20,51%), lại có thêm một lượng pô-tát tốt nữa.

Theo ông Tiến, giá phân Hoàng-sa rất rẻ, chỉ bằng một phần tư giá phân nhập cảng:

Giá thành phân Hoàng-sa ( vốn sản xuất, chuyên chở, lời…) là 25$/kg. Trong lúc đó (1972) giá phân nhập cảng là 100$/kg.

Ông Tiến còn khám phá ra một loại tài nguyên khác ở Hoàng-sa: “Cát”[16] và vỏ sò, ốc ở đây rất tốt (chứa 40% chất vôi theo sự phân tích của Viện Khảo-cứu, BCCĐĐ và PTNNN). Cát, vỏ sò và ốc ở đây xay thành bột, rồi đem nung lên được ông đặt tên là “Cát trắng Hoàng-sa” Có thể bị phèn trong ruộng và trộn với đồ ăn cho gia súc, cần thiết cho ruộng phèn và kỹ nghệ thực phẩm gia súc.

Giá sản xuất tại Hoàng-sa cho loại này là 3$/kg.

Công ty KYPHADACO dự định thành lập một nhà máy sản xuất phân và “Cát trắng Hoàng-sa” ngay trên đảo H oàng-sa (Pattle), trước khi Hoàng-sa bị mất vào tay Trung Cộng.

Theo ông Tiến, “Cát trắng Hoàng-sa” mới đáng giá hơn phân,vì phân mau hết, còn cát trắng thì dồi dào hơn. Đảo Hoàng-sa (Pattle), diện tích 3,6ha, chỉ đào sâu được 1m, vì đất ở sâu hơn thì nước biển thấm vào, không dùng được. Như thế, đảo này có 36000m3 đất dùng được. Mỗi chuyến tàu chở 1000m3 thì chở 36 chuyến, hay hơn 1 tháng là hết sạch[17].

Theo 1 số doanh nhân Việt Nam, quần đảo Hoàng-sa có thể thuận lợi cho du lịch.

NHỮNG NGƯỜI KHÁCH LẠ

Vùng biển quanh hải đảo này là nơi lui tới của nhiều tàu lạ. Từ đảo nhìn ra bằng mắt thường thấy các tàu đó bằng điếu thuốc lá, hay bằng chiếc lá tre. Chúng thường là tùa cá, chạy tới chạy lui, hoặc bỏ neo đánh cá, đánh tôm, bắt ốc, từ bờ nhìn ra, không biết chúng là ghe tàu của quốc gia nào. Khi nào chúng lại gần, nhìn cờ thì mới biết. Ngoài ghe tàu Việt-Nam, còn thì Nhật-Bản, Trung-Hoa Quốc gia, Phi-Luật-Tân, Tân-Gia-Ba không phải là hiếm, nhưng thường tới nhất là Nhật-Bản. Có khi chăng biết chúng là tàu quốc gia nào nữa.

Người Việt vốn quí khách. Khách tới, đi ca nô hay xuồng nhỏ vào đảo là được tiếp đón niềm nở. Nhất là những lúc khách gặp cơn hoạn nạn (cần nước ngọt, gặp bão) lại cần phải sốt sắng cứu giúp. Chủ và khách đều vui vẻ. Khách chân thật không có gì đáng e ngại, vì khách thường từ các tàu cả tới (1), lại không có khí giới gì cả. Chủ lại được tự do xuống tàu xem nữa. Nhưng ôi thôi! mấy chiếc tàu cá đó thối lắm! xuống làm chi!

Quen với những kẻ lạ thường xuyên tới, anh em chẳng bận tâm đến họ. Họ có thể lên đảo nghỉ ngơi hoặc chạy nhảy cho khỏi chồn chân tắm nước ngọt ở giếng. Họ có thể đem lưới và cá lên đảo phơi nữa, nhát là trên đảo Hữu- nhật (Cam- tuyền, Robert). Nghỉ ngơi xong, họ lại xuống tàu, nhổ neo đi.

Sống quạnh hiu trên đảo, bỗng dưng có người tới thì cũng vui. Chủ và khách không cùng ngôn ngữ, nhưng rồi cũng hiểu nhau. Khách lạ tới là những lúc vui vẻ. mà chủ cũng mong khách tới nữa. Khách thường rất rộng rãi: đổi vài thùng nước lấy thuốc lá, đồ ăn tươi, rau, trái cây lạ, quả là hời giá.

Khách không tỏ ra vẻ nguy hiểm, nhưng đôi khi anh em cũng thấy những triệu chứng khác thường:

– Năm 1960, một nhóm người Phi-luật-tân lên bờ, đem theo dụng cụ đo đạc, ngắm nghía. Anh em trên đảo ra xem xét. Họ có vẻ vội vàng, lăng xăng trên đảo, rồi lại xuống ca nô ra tàu.

– Một lần trước năm 1970, một bọn người không rõ quốc tịch lên bờ, xin nghỉ ngơi. họ nói tàu đánh cá của họ bị bão. Khách lạ thì ta có từ chối bao giờ đâu. Các anh lính bỗng chú ý tới bọn này, vì họ đem theo một tấm giấy lớn, mở ra thì biết là một tấm bản đồ của đảo. Một anh lính thấy tên cầm bản đồ ngược, liền kêu lên: “cầm bản đồ ngược”. Anh ở trên đảo lâu ngày, hang hốc nào chẳng biết, nên thoáng nhìn thấy dáng quần đảo Hoàng- sa (Paracels) trên bản đồ là anh nhận ra ngay từng vị trí các đảo. Tên nọ giật mình, quay bản đồ lại. Thế là anh biết ngay tên kia biết tiếng Việt. Nếu không hiểu tiếng Việt, tên kia phải vụng về lắm chứ, đâu có quay ngay bản đồ lại, ngay sau khi nghe anh nói.

Thế rồi cũng chẳng có gì xảy ra cho tới giữa tháng 1- 1974.

VIỆC BẢO VỆ QUẦN ĐẢO

Những người ra đây nhiều lần chẳng cần suy tư về những người lạ dưới tàu lên, vì mọi chuyện đều êm đềm, đâu có gì đáng lo. Tuy vậy, vài người lớn tuổi đã bắt đầu suy nghĩ. Năm 1944, khi Nhật đóng ở Đông- Dương các vị đó đã từng ngắm nhìn hòn đảo Phú- lâm (Ile boisee) thơ mộng, nhìn bãi cát vàng trên đảo tây ( Ile Onest) hoặc đảo cây (Tree Island) khi tàu đi vòng quanh các đảo đó, trước khi ngừng ở Hoàng- sa ( Pattle). Tàu Pháp có thói quen đi tuần qua tất cả các đảo trong quần đảo Hoàng- sa ( Paracels), trước khi cho các nhân viên khí tượng và lính khố xanh xuống đảo thay thế đám củ trên đảo Hoàng- sa (Pattle).

Người Pháp chỉ lập căn cứ ở đảo Hoàng- sa ( Pattle), một đảo gần đất liền để tàu ra cho gần. Đảo Hoàng- sa (Pattle) lớn, tuy không bằng Phú- lâm (Ile boisee), nhưng ở gần trung tâm quần đảo, gần nhiều đảo, việc kiểm soát dễ dàng hơn Phú- lâm (Ile boisee). Các toán lính khố xanh và lính Pháp đôn trú trên đảo có xà- lúp thường xuyên đi kiểm soát các đảo.

Thời Pháp thuộc, số lính khố xanh trấn đóng chừng vài chục người, dưới quyền chỉ huy của một viên sĩ quan Pháp.

Khi Nhật đảo chính pháp, anh em trên đảo bị bỏ rơi, bèn kiếm gỗ làm bè thả trôi về đất liìen. Sau mấy ngày nhịn đói, khát, họ táp vào bờ biển Qui- Nhơn.

Người Nhật chiếm đảo, rồi xây các lô cốt xung quanh đảo để phòng thủ.

Sau khi Nhật đầu hàng, Pháp trở lại Đông- Dương họ lại ra trấn giữ đảo. Toán khí tượng đầu tiên (sau khi Pháp trở lại Đông- Dương) ra làm việc vào tháng 9/1947. Toán quân nhân pháp gồm 1 trung đội toàn người pháp. Lúc này tình thế đã biến chuyển. Tàu không đi vòng qua nhóm Tuyên- Dức (Groupe de I’Amphitrite) nữa. Nghe nói nơi đó người tàu đã chiếm rồi. (1) Ôi! Một hòn đảo thơ mộng đã lọt vào tay kẻ tham lam! Mỗi buổi sáng trời tốt, anh em nhìn về phía đông bắc, thấy hòn đảo Phú-lâm (Ile Boisée) qua kính “thiên văn”[18] (théoldoite) mà thấy xót xa.

Người Pháp canh phòng đảo rất kỹ. Họ dùng xà-lúp đi tuần quanh các đảo luôn luôn. Chân cầu tàu bây giờ còn vết tích căn nhà để xà lúp. Họ xua đuổi các tàu bè lại gần đảo. Đuổi mà không đi là họ bắn ngay.

Về sau, một tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt-Nam Cộng Hòa có nhiệm vụ bảo vệ các đảo còn lại. Sau đó số quân đóng trên đảo Hoàng-sa (Pattle), Hữu-nhật (Cam tuyền, Robert), Quang-ảnh (Vĩnh-lạc, Money) Quang-hòa (Duncan), Duy mộng (Drummond) và các đảo khác rút xuống còn một đại đội thuộc tiểu đoàn 42/162. Ngày 8-5-1957, hải vận hạm Hàn-giang chở một đại đội Thủy Quân Lục Chiến khác từ Nha-trang ra thay thế. Thủy Quân Lục Chiến có đầy đủ phương tiện (ca-nô, xăng nhớt…) nên họ cũng đi tuần, canh phòng thường xuyên.

Ngày 5-10-1959, tỉnh đoàn Bảo-an thuộc tỉnh Quảng-nam có nhiệm vụ bảo vệ an ninh quần đảo. Tỉnh đoàn cử 43 Bảo-an viên ra thay đại đội Thủy Quân Lục Chiến giữ các đảo trên. Tuy vậy, trên đảo Hoàng-sa (Pattle) vẫn còn một trung đội Thủy Quân Lục Chiến gồm 30 người.

Binh sĩ Bảo-an sau này đổi tên thành địa phương quân, thuộc tiểu khu Quảng-nam. Địa phương quân phương tiện eo hẹp, không có ca-nô đi kiểm soát các đảo, nên coi như chỉ trấn đóng trên đảo Hoàng-sa (Pattle) mà thôi

Về sau, số quân giảm xuống, chỉ còn một trung đội, do một trung úy hoặc thiếu úy chỉ huy.

Người mới ra đảo Hoàng-sa (Pattle) nhìn vào tình trạng quân sự đó thật là lo ngại. Không có phương tiện kiếm soát các đảo khác nên không biết kẻ lạ làm những chuyện gì đó trên đảo. Đảo lại không có phương tiện truyền tin với các tàu (cờ, đèn hiệu…) nên muốn ra lệnh cho các tàu cũng không được. Thời buổi này khó khăn, anh em binh sĩ đâu dám bắn bậy, bắn hạ như người Pháp, phải có lệnh mới được nổ súng. Viên sĩ quan địa phương quân không rành về mặt biển, không biết các loại tàu.

Lo gì thì lo, chứ có sao đâu. Từ trước tới giờ (đầu năm 1974) có chuyện gì xảy ra đâu.

NHỮNG DẤU HIỆU KHÁC THƯỜNG

Ra đảo được hai tháng, nghĩa là còn một tháng nữa thì hết kỳ hạn đóng trên đảo, một vài anh em nhận thấy ở mõm san hô phía đông bắc của đảo Hoàng-sa (Pattle), cũng trong nhóm đảo Nguyệt-thiềm (Grope de Croissant), có nhiều tàu xuất hiện, và neo tại đây. Anh em tưởng chỉ là các tàu đánh cá như mọi khi. Có người chỉ cảm thấy không phải là chuyện bình thường.

Đồng thời, có một tàu Trung-Hoa Quốc-gia ghé đảo, đổi thuốc hút hay lấy nước ngọt.

Giữa tháng 1/1974, còn nửa tháng nữa lại có tàu ra rước anh em về, để cho người khác ra thay thế, lúc 4-5 giờ chiều bỗng dưng anh em thấy hai tàu đánh cá[19] chạy khá nhanh, gần bờ. Nó xuất hiện từ hướng tây nam vòng lên phía bắc rồi vòng ra phía đông, lại gần cầu tàu, hình như muốn ghé vào. Lúc đó anh em mới nhận ra nó sơn màu ô liu, màu của quân đội! Trong số những người trên đảo có người đã từng đi biển, nên nhận thấy tàu này không phải là tàu thường, vì tàu đánh cá đâu có sơn màu ô-liu. Tàu lại mang cờ đỏ, góc có mấy ngôi sao vàng nữa. Trung úy trưởng đồn chưa biết triệu chứng bất thường. Anh em nọ, bèn bảo trung úy lấy cờ quốc gia treo lên cho nó thấy để nó biết đảo này của mình. Muốn đuổi nó đi thì đâu có cách nào khác. Có lá cờ đẹp, phải cất kỹ, vì gió biển ào ào, chỉ ba bữa là rách tan. Nhìn thấy lá cờ vàng ba sọc đỏ bay trên đảo, hai tàu nọ bèn bỏ đi về về phía nam đảo Hữu-nhật (Cam tuyền, Robert), nấp đằng sau đảo đó. Có người biết được lá cờ đỏ đó là cờ Trung Cộng. Nhiều người không biết là đó cờ nước nào.

Trung úy trưởng đồn báo cáo vụ trên về đất liền.

Vài anh em mở ra-đi-ô nghe nói Trung Cộng đang tính chuyện khiêu khích ở Hoàng-sa. Ai cũng tưởng chuyện chỉ xảy ra thường thường thôi, đâu ngờ sau này trở nên lớn lao quá vậy.

KHÓI LỬA TRÊN BIỂN KHƠI

Sau đó, tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 ra Hoàng-sa, (Pattle), thả xuống đảo Hoàng-sa (Pattle), 7 người gồm: thiếu tá Hồng, 1 đại úy hải quân, 1 trung úy công binh kiến tạo, 1 trung úy công binh chiến đấu, hai binh sĩ và một người Mỹ. [20] Sau đó chiến hạm này đi thám sát các đảo và mỏm đá ở phía đông của nhóm Nguyệt-Thiềm (Grouppe de Croissant).

Lúc ấy, “tàu cá” của Trung-Cộng còn ẩn phía sau đảo Hữu-Nhật (Cam-tuyền, Robert). Đuôi tàu nhô ra nên từ đảo Hoàng-sa (Pattle) còn nhận ra được. Vì đảo cao như đĩa xôi, nên không rõ Trung-Cộng làm gì ở phần đảo gần chỗ hai tàu của họ đang đậu. Sau này, các nhân chứng đổ bộ lên đảo Trung-Cộng mới đem vật liệu và hài cốt từ nơi khác lại xây bốn ngôi mộ. Anh em liền đào vứt xuống biển vì họ vi phạm chủ quyền Việt-Nam.

Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt tiến về phía hai “tàu cá” đuổi chúng ra khỏi đảo. Hai “ tàu cá ” lì ra không chịu đi. Tàu ta và tàu địch tiến gần nhau đến nỗi trông thấy cả bàn ghế trên tàu địch. Bọn lính Trung-Cộng trên tàu cá chửi sang ta bằng tiếng Tàu. Sau cùng, các tàu Trung Cộng đành rút đi, lui về phía các đảo nhỏ mà Trung-Cộng mới chiếm.

Sau đó, hình như nhiều tàu Trung-Cộng tiến xuống phía nam của các đảo nhỏ, tụ tập xung quanh các đảo Quang-hoà (Duncan) và Duy-mộng (Drummond).

Phía ta, chiếc khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ 4 tăng cường, thả một số lính xuống đảo Hữu-Nhật (Cam-tuyền, Robert).

Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 bốc toán 7 người ở Hoàng-sa (Pattle) lên, hình như định quay về để sửa tàu, vì đã thấy thời hạn nằm ụ.

Lúc đó, tuần dương hạm Trần Bình Trọng HQ5 ra để tăng cường thêm, hình như thả một số lính xuống đảo Quang-ảnh (Vĩnh-lạc, Money). Toán 7 người được chuyển sang tuần dương hạm Trần-Khánh-Dư HQ5. Sau đó HQ5 lại trả toán này về đảo Hoàng-sa (Pattle). Tàu Trung-Cộng gồm có tàu lớn đậu đàng xa, các “tàu cá” và nhiều loại tàu đổ bộ, chạy tới chạy lui ở hai đảo Duy-mộng (Drummond) và Quang-hòa (Duncan). Các tàu Việt nam đều tiến về hai đảo này.

Không rõ súng bắt đầu nổ tư lúc nào [21], nhưng chiều ngày 18-1-1974 tiếng nổ lớn dữ dội. Anh em trên đảo đứng xem như trên màn ảnh. Những tàu nhỏ của Trung-Cộng chạy rất nhanh tiến về các tàu Việt-Nam. “Tàu cá” lộ nguyên hình tàu chiến ở đài chỉ huy có hai cây đại liên. Sườn tàu để hở các ô vuông chĩa súng ra. Tàu Trung-Cộng bắn. Tàu Việt-Nam bắn trả, có những đốm lửa nổ trên tàu địch và khói bay lên.

Tuy nhiên, về phía Việt-Nam, chiếc HQ 16 cũng bị một phát đạn vào chỗ bánh lái và một phát vào lườn tàu. HQ 16 nghiêng một bên rút về qua eo biển giữa Hoàng-sa (Pattle) và Hữu-Nhật (Cam-tuyền Robert). HQ 16 được chiến hạm HQ II dìu về Đà Nẵng. Đồng thời, hộ tống hạm Nhật-tảo HQ10 mới ra, nhảy ngay vào vòng chiến. Sau một hồi khai hoả, HQ10 bị bắn vào giữa tàu và lửa bốc lên.

Hôm sau, 27 tết, tức ngày 19-1-1974, chuyện dữ đến với anh em trên đảo Hoàng-sa (Pattle). Hai tàu lớn của Trung-Cộng và hai “tàu cá” tiến lại đảo Hữu-Nhật (Cam-tuyền Robert). Các tàu đổ bộ chạy quanh đảo này để kiếm chỗ vô. Trên đảo bắn ra, nhưng chỉ có súng nhỏ. Các tàu lớn bắn vào đảo này. Sau đó, anh em ở đảo Hoàng-sa (Pattle) mất liên lạc với đảo Hữu-Nhật. Rồi tàu Trung-Cộng bắn vào Hoàng-sa (Pattle). Anh em ra rừng và các đống quân nằm bố trí. Có cả tiếng máy bay phản lực rít lên nữa. Họ đổ bộ từ các tàu nhỏ lên đảo đông như kiến, nhưng không dám tiến vào đảo, mà chỉ nắm ở các bãi cát và 30 phút sau, họ tiến vào trong đảo. Anh em địa phương quân tới bắn hết đạn, thì họ chiếm được đảo. Khi tiến vào mỗi phòng trong nhà, họ ném chất nổ, nên mọi thứ bên trong đều bị huỷ diệt.

NVHN Tưởng Niệm Các Anh Hùng Liệt Sĩ VNCH hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974, Nam California, Hoa Kỳ 2010.

 

IMGP4934.jpg picture by nhacyeuem

DSC_8310.jpg picture by nhacyeuem

DSC_8295.jpg picture by nhacyeuem

Nguoilinhsau36nam.jpg picture by nhacyeuem

Bất cứ một vi phạm nào về chủ quyền đất đai, lãnh hải của tổ tiên dù đến từ đâu. Trong mọi tình huống, người chiến sĩ VNCH đều cương quyết đánh trả.

HQ10Nhattaomaimaitronglongbienme-1.jpg picture by nhacyeuem

TÙ BINH

Mọi người trên đảo bị tập trung lại ngồi thành hàng, kể từ bây giờ anh em trên đảo trở thành tù binh của Trung-Cộng. Lính Trung-Cộng lấy cung và chụp hình mọi người từ lúc họ chiếm đảo cho tới tối. Bọn họ nói tiếng Việt thật rành rẽ đến nỗi anh em không biết họ là người Việt hay người tàu nữa. Hầu hết, chúng nói giọng Bắc. Chỉ có một tên nói giọng Nam. Họ ăn nói văn hoa, dùng nhiều chữ mà ngay người Việt ít học cũng ít dùng tới. Mấy anh Tàu chợ-lớn nói tiếng Việt không rành. Chứ mấy tên tàu Trung-Cộng này thả về Việt-Nam thì mình không thể nhận ra được.

Như vậy, cuộc xâm lăng này được họ chuẩn bị kỹ quá rồi còn gì.

Trong lúc họ bắt anh em ngồi chờ trên đảo thì có những tên trông dữ dằn đi lảng vảng xung quanh. Đến tối, chúng nhốt tất cả 42 người gom được trên đảo (gồm toán 7 người do chiến hạm HQ 16 thả lên đảo, 4 nhân viên khí tượng và trung đội địa phương quân) vào trong nhà chứa phân và canh phòng nghiêm ngặt. Quá nửa đêm, họ đánh thức cả đám dậy, bắt xếp hàng đi ra biển, xuống ghe nhỏ, chèo ra tàu lớn. Họ bảo anh em rằng sẽ “được đưa đến an toàn hơn “. Anh em đoán rằng chúng đưa mình vào đất Trung-Cộng.

Tàu chạy được một quãng, chúng lại đưa tất cả sang một tàu lớn hơn. Chúng đưa các sĩ quan Việt-Nam và người Mỹ đi nơi khác. Lúc nào trên tàu cũng có những tên rành tiếng Việt nhòm ngó, ra lệnh.

Tới Hairnam (chúng gọi là Hải-nam), họ chuẩn bị một đoàn phóng viên bu lấy anh em khi anh em bước lên bờ.

Rồi họ lại di chuyển anh em tới một nơi khác cũng bằng tàu. Hỏi thăm họ thì bảo đây là Quảng-châu. Anh em từ sông Châu Giang lên bờ vào lúc 8 giờ mồng một tết Giáp Dần.

ĐẤT KHÁCH QUÊ NGƯỜI

mọi người bị bắt trên đảo Hoàng-sa (Pattle) và các đảo khác bị giam chung ở một nơi gọi là “Trại thu dung tù binh”, Bộ đội Quảng-đông, tỉnh Quảng-Châu”, cách Quảng-Châu 20 km. Suốt trong một tuần, họ chỉ biện hộ cho hành động xâm lăng mảnh đất bé nhỏ, nhưng từ lâu, tiếp nối từ người này sang người khác vẫn trấn giữ.

Dường như họ mang một mặc cảm tội lỗi, nên thường xuyên nói rằng “chúng tôi không xâm lăng”. Họ thường nói rằng: “Ai có thắc mắc thì cứ việc phát biểu ý kiến”. Tưởng bở, có anh đã dám đứng lên hỏi: “Đất của chúng tôi, chúng tôi đang trấn giữ, các ông đánh chiếm mà lại bảo rằng không xâm lăng? ”. Họ trả lời rằng:

“Hoàng-sa là đất của chúng tôi. Từ lâu chúng tôi biết phía nam đảo Hải-nam có một quần đảo. Người chúng tôi đã tới đó vào khoảng năm 1200”.

Rồi chúng đưa nào sách, nào vở, nào bản đồ ra. Nhưng anh em mù tịt không biết thứ chữ ngoằn ngoèo đó.

Anh em, nhất là nhữnh anh hải quân, những người có học một chút cãi lại hăng hái:

“Nếu anh bảo rằng các anh biết Hoàng-sa từ lâu, người của các anh tới đó từ lâu, thì cả đất Chợ-lớn, cả miền Đông Nam Á hiện nay là của các anh cả hay sao ?”.

Có người vặn lại bọn Trung-Cộng:

“Các anh bảo các anh không phải đế quốc xâm lăng, thế thì ở Tây-tạng, Ấn-độ, các anh đã làm gì ?”.

Khi bị hỏi ngược lại, bọn Trung-Cộng thường nổi quạu, la lên: “ Các anh khiêu khích chúng tôi”.

Thảo luận hai bên đều phải được trao đổi ý kiến. Đằng này, vị thế của hai bên hoàn toàn chênh lệch: một đằng bắt đằng kia nghe và chấp nhận tư tưởng của mình, thì đâu còn thảo luận được nữa. Biết họ bắt mình nghe, chứ không muốn mình phát biểu ý kiến trung thực cả mình, anh em đành ậm ừ cho qua chuyện. Hơn nữa, người nào trình bày ý kiến trái ngược đều bị gán cho là “ khiêu khích”, cần phải đả thông tư tưởng, bị gọi vào gặp cấp cao là thủ trưởng, hay là tư lệnh quân-đội Quảng-đông gì đó.

Dần dần, anh em chẳng muốn cãi nhiều nữa, vì cứ cãi là bị ngồi nghe lâu hơn, ngủ gục hết trọi.

NGƯỜI VIỆT TINH KHÔN

Họ chia anh em thành từng tổ xo người, dưới sự kiểm soát của hai cán bộ thông thạo tiếng Việt, thường xuyên túc trực bên cạnh.

Hàng ngày cứ bị tuyên truyền bằng miệng và bằng xi-nê chán ngắt. Có bấy nhiêu đề tài mà cứ bị xào đi xào lại hoài. Truyện phim quanh đi quẩn lại cũng bấy nhiêu khuôn mẫu. Phim nào cũng có tình tiết, nhưng bao giờ cũng lồng vào khung cảnh tuyên truyền.

Quá chán ngấy với ba thứ đó, anh em bèn nói khích, để chúng cho ra ngoài trại, cho bớt tù túng. Chúng vẫn thường đề cao tiến bộ kinh tế. Anh em bèn đưa chúng vào tròng:

“ Các anh nói nhiều, chúng tôi đâu có thấy gì đâu. Chúng tôi đâu có thấy các anh tiến bộ gì đâu”.

Phần vì bị mắc lừa, phần vì muốn tuyên truyền cho những khu trang trí, xếp đặt sẵn, họ cho anh em ra khỏi trại, đi thăm viếng mọi nơi. Anh em chỉ cần ra khỏi trại cho khỏi tù túng mà thôi.

Những màn gài bẫy khác vẫn diễn ra, mà họ vẫn tự dẫn vào tròng.

Lo lắng không biết họ giam đến bao giờ. Hỏi thẳng thì họ đau có dại gì trả lời. Anh em đã làm cho họ bật mí mà họ không hề biết. Có người hỏi :

“ Các anh đào luyện một người như chúng tôi thành cán bộ cộng sản phải mất bao lâu ?”

“Mất chừng 10 năm”, họ trả lời

Anh em lắc đầu, tỏ vẻ ngao ngán. Họ bèn bảo:

“ Chúng tôi không có ý định đào tạo các anh thành cán bộ, mà chỉ giác ngộ các anh trong ít lâu thôi.”

Thế là đủ rồi, họ không có ý định giam mình lâu dài, thế nào cũng có ngày về.

Ngày xưa, nghe kể lại có những ông quan đi sứ sang Tàu, làm cho người Tàu nể sợ vì trí thông minh , tinh khôn của dân Việt…

Cuối cùng, họ cũng phải trả anh em về Việt-Nam qua ngả Hương-Cảng.

*

Cùng một sự kiện xảy ra, những người chứng có thể tường thuật khác nhau. Tuy nhiên, sự khác nhau chỉ ở những chi tiết nhỏ, những nét lớn vẫn không có gì thay đổi.

Vụ xâm lăng quần đảo Hoàng-sa (Paracels) đầu năm 1974 nhắc nhở mọi con dân Việt-Nam ở nơi này hay bất cứ nơi nào khác rằng hiểm hoạ từ phương Bắc đối với dân tộc Việt-Nam vẫn còn tiếp tục đe doạ sự tồn vong của dòng giống Việt.

TRẦN THẾ ĐỨC

Nhóm phóng viên Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

 

Links:


Nguyễn Xuân Diện BlogSpot

CHÚ THÍCH:.

[1] Đây là công ty phân bón Hữu-Phước (Hyew-Haul) được ông Lê Văn Cang trao quyền khai thác.

[2] Hiện nay chỉ còn như vậy.

[3] Nhân công của hãng phân Hữu-Phước toàn là người Việt gốc Hoa, trừ một ông tài xế lái tàu người Việt. Sau ông nghỉ việc, thì hoàn toàn người Việt gốc Hoa.

[4] Hiện bia này còn để ở Viện Khảo-cổ

[5] Sẽ được trình bày.

[6] Lúc thủy triều xuống thấp nhất trong tháng.

[7] Là chỗ sâu bất thường trên vùng san hô.

[8] Các nhân chứng chỉ ghi nhận theo kinh nghiệm. Về thủy triều, các hải học viện Nha Trang và Hoa Kỳ đã có nhiều cuộc nghiên cứu.

[9] Đây chỉ là lời nói quá.

[10] Xem phần Thư tịch chú giải các tài liệu về Hoàng-sa, tập san Sử-Địa số này.

[11] Trụ sở của công ty đặt ở Tân-gia-ba.

[12] Tỉ lệ phốt phát có trong phân không đều, các công ty lại không khai thác phân theo như các chuyên viên đã hoạch định, không lựa chỗ có nhiều phốt phát nên thành phần phốt-phát yếu kém. Do đó giới tiêu thụ mất tín nhiệm, không mua phân. Kỹ thuật chế biến cẩu thả: khi lấy đất về xảy ra hột lớn, nên cây không hấp thụ được. Tác dụng của phân còn bị giới hạn vì chất vôi trong phân không được nung lên, để vôi hòa tan trong nước cho cây hấp thụ. Việc khai thác giới hạn vì thời tiết (bão thì ngưng hoạt động). Việc chuyên chở lại tốn kém và khó khăn vì bờ biển quanh đảo quá cạn. Vốn đấu tư lại quá khiêm tốn. Sự cộng tác các đương sự đổ vỡ. Giá phân trên thị trường lúc đó (1962) lại quá thấp. Thị trường phân Hoàng-sa lại rất giới hạn vì chỉ thu hẹp trong các nhà trồng mía ở Lái-thiêu. Nguyên do chính là cuộc đảo chánh 1963 khiến việc khai thác phải ngừng hẳn.

[13] Trong các công ty dự định khai thác, có Công –ty Kỹ-nghệ Phân bón Việt-Nam, do sự điều hành của các chuyên viên Việt-Nam, có sự hỗ trợ của các chuyên viên Nhật-bản trong công ty MARUBENI. Các chuyên viên Nhật-bản đã khảo sát quần đảo này trong năm 1973.

[14] Công ty được cấp phép hoạt động do nghị định 380 BKT/ CKN/ TNTN/ KQ/ NĐ, ký ngày 30-5-1972 , do tổng trưởng kinh tế Phạm Kim Ngọc.

[15] Bảng kết quả phân chất ngày 29-4-1971, số 030 KQ/ĐHI, do ông chủ sự phòng lý hóa đất-đai Châu Văn Hạnh, kỹ sư canh-nông, ký tên.

[16] Thực ra, đây không phải là cát mà chỉ là san hô bị sóng biển, gió, mưa, nước, làm vỡ ra thành hạt nhỏ.

[17] Sự ước lượng này cần phải xét lại

[18] Theo tiếng gọi của anh em trên đảo.

[19] Gọi như vậy, vì trông nó giống giống hệt các tàu đánh cá vẫn thường tới, trọng tải chừng 300-400 tấn. Trên tàu có treo nhiều phao, lưới cá, nhiều cần trục cao để kéo lưới.

[20] Theo tin các nhật báo (CHÍNH LUẬN, số 2982, ngày 31-1-1974, Trang 7 cột 3), người Mỹ này tên là GERALD KOSH, một nhân viên dân sự biệt phái thuộc văn phòng tùy viên quốc phòng của tòa đại sứ Mỹ tại Saigon, được biệt phái làm liên lạc viên cạnh bộ chỉ huy hải quân quân khu 1. Sau bị bắt trên đảo Hoàng-sa (Pattle) cùng với các quân nhân và nhân viên dân sự Việt-Nam, Kosh được trao trả lúc 12 giờ trưa ngày 31-1-1974

[21] về các chi tiết của trận hải chiến giữa hải quân VNCH và Trung-Cộng, các nhân chứng chỉ thấy được một vài khía cạnh mà thôi.

.

Nguồn: Tập san Sử Địa, số 29 (quý 1 năm 1975). Trang 295 – 321.

Advertisements

Nước Chúng Em Vẫn Nghèo – Hoàng Ngọc Diệp.

Năm 1987, hơn 10 năm sau khi chiến tranh kết thúc GDP của Việt Nam là 36,65 tỷ USD trong khi đó của Philippines thậm chí còn thấp hơn của Việt Nam với chỉ 33,19 tỷ USD. Ba năm sau tức vào năm 1990 GDP của ta chỉ còn 6,47 tỷ USD trong khi của Philippines là 44,31 tỷ USD. Đến thời điểm hiện tại thì Philippines đã vượt khá xa Việt Nam. Xuất phát điểm của Việt Nam tính từ năm 1987 hoàn toàn cao hơn Philippines vậy tại sao chúng ta bị tụt lại quá xa? Ta có thể loại bỏ yếu tố chiến tranh tàn phá vì thời gian này Việt Nam đang trên đường tiến lên XHCN, hoàn toàn không có chiến tranh.  P. Đ. M. H.

Cũng theo tác giả Phan Đình Minh Hùng thì trong bối cảnh chúng ta đạt được nhiều thành tựu vượt bậc, kinh tế tăng trưởng trung bình 7.26%/ năm trong 10 năm qua thì những câu nói như trên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được xem là hơi lạ. 

Tại sao”Lạ” ?:  

Một đất nước anh hùng, một đất nước trải qua hai cuộc chiến thần thánh chống Pháp và chống Mỹ, sau 36 năm: “vẫn là nước nghèo”.

Một đất nước đỉnh cao trí tuệ, một đất nước với chỉ số IQ cao với vô số Tiến sĩ: “vẫn là nước nghèo”.

Một đất nước với rừng vàng biển bạc, con người cần cù, chăm chỉ, thông minh: “vẫn là nước nghèo”.


Và tại sao”Quen”?:

Nước ta là nước nghèo điều này ai cũng biết. Nhưng mỗi lần đem Việt Nam ra so sánh với các nước khác chúng ta thường nghe: Việt Nam chịu nhiều thiệt hại mất mát trong chiến tranh; đạt được những thành tựu như hiện tại là nhờ sự lãnh đạo tài tình sáng suốt của Đảng và Nhà Nước.

Nước Nghèo:

Trong khi ADB (Asian Development Bank) đưa chúng ta vào danh sách các nước có thu nhập trung bình thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng lại khăng khăng “Việt Nam vẫn là nước nghèo”. Nghe có vẻ nghịch lý nhưng nếu nhìn vào các khoản vay ưu đãi nhận được hàng năm chúng ta có thể hiểu được tại sao Thủ tướng lại hạ thấp mình như vậy. Chịu nhục, chịu bắt bớ chịu tù đày cho sự phát triển của đất nước người ta gọi là kẻ sĩ. Còn cố chịu nhục để duy trì sự lãnh đạo, duy trì một nền kinh tế yếu kém, duy trì một nền hành chánh quan liêu và một xã hội đầy rẫy những bất công thì không biết nên gọi là gì.

Bài đọc suy gẫm:  Nước Chúng Em Vẫn Nghèo – Hoàng Ngọc Diệp.

Lòng trắc ẩn và sự hổ thẹn: Hoàng Ngọc Diệp là một người Việt ở nước ngoài. Ông về Việt Nam sống và mong cống hiến tâm sức để xây dựng đất nước đã gần 20 năm nay. Đây là những dòng tâm sự về hiện tình đất nước mà ông viết cho con trai của mình trên facebook.
Chúng tôi thấy sự xác đáng, chân thành và đau đớn trong bài viết này. Xin giới thiệu đến quý độc giả mục Đối Thoại.
Tiền Vệ.

LÒNG TRẮC ẨN VÀ SỰ HỔ THẸN
(Những tâm sự gửi đến các con ruột và con nuôi của bố)
Như những lần trước đây, ở những nơi chốn, diễn đàn khác, bố sẽ tâm sự và gửi gắm tới các con những gì bố ưu tư và đau buồn! Bố đưa lên diễn đàn này không những để các con đọc mà còn để các bạn trẻ khác của bố và của các con cũng chia sẻ. Nhân, con giúp bố dịch cho chị Amy của con nhé!  Một câu chuyện nhỏ về lòng trắc ẩn.

Vào các năm cuối thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, bố có dịp cùng đi hoặc tổ chức đưa các phái đoàn cấp lãnh đạo nhà nước thăm và làm việc ở các nước trong khu vực. Có lần đến Hong Kong cùng một số vị bên Bộ Lao Động và Bộ Kế Hoạch Đầu Tư, bố cố tình sắp xếp để sáng Chủ Nhật, ngày cuối của chuyến đi, đưa họ đi ăn sáng; để đến nhà hàng, mọi người phải đi bộ qua hai công viên nhỏ từ khách sạn.

Khi đi ngang qua hai công viên này, phái đoàn thấy lạ vì sao có quá nhiều phụ nữ da ngâm đen, như họ đến từ Việt Nam hay Philippines, đang tụ tập tại đó với nhau. Phái đoàn dừng lại chụp hình với những người này, hỏi ra thì quả là họ đến từ Philippines để làm người ở đợ (còn gọi một cách nhẹ nhàng là người giúp việc nhà) cho các gia đình tại Hong Kong.

Trong khi ăn sáng, bố kể cho phái đoàn biết hoàn cảnh của những người đi làm người giúp việc nhà này, bố cho biết họ may mắn hơn những phụ nữ Việt Nam đi làm người ở đợ tại các nước khác, vì Hong Kong, qua gần một thế kỷ dưới sự quản lý của Anh Quốc, đã xây dựng được hệ thống theo dõi và quản lý những người giúp việc tại Hong Kong; tất nhiên vẫn xảy ra một số vụ hành hạ và xâm phạm tình dục, nhưng ít hơn rất nhiều so với các nước khác như Hàn Quốc hay Đài Loan. Bố còn cho họ biết, qua nghiên cứu của Hiệp Hội Bảo Vệ Phụ Nữ Thế Giới, thì hầu hết những phụ nữ này sẽ không thể tìm được một gia đình hạnh phúc nếu họ đi ra khỏi nước và trở về khi còn trẻ, và gia đình sẽ đổ vỡ chia ly, hoặc không thể lập gia đình nếu họ đi và về khi ở tuổi trên 30.

Sau đó bố hỏi họ một loạt câu hỏi như “Tại sao chúng ta xuất khẩu những người đi ở đợ mà báo chí ca ngợi các kỷ lục xuất khẩu lao động?, “Quý vị có sẵn sàng đưa chị em gái hay con gái của mình đi làm người giúp việc nhà tại Đài Loan không”, “Nhà nước và quý vị có thấy việc xuất khẩu phụ nữ Việt Nam đi ở đợ là một sự hổ thẹn của đất nước không?” v.v… mọi người đều tỏ ra rất buồn; vài người thì giận dữ với bố vì cho rằng bố không biết gì về hoàn cảnh đất nước và đã xúc phạm họ! Tất nhiên, bữa ăn sáng không còn vui, rồi mọi người ra về trong im lặng.

Mười mấy năm qua, số người đi xuất khẩu lao động theo diện này vẫn cứ tiếp tục, mặc dù những bài báo nói về chuyện này đã giảm, nhưng vẫn chưa có một kế hoạch gì để bảo vệ cho họ; mặc dù như vậy, bố vẫn hằng mong nhà nước sớm xây dựng được các kế hoạch đào tạo và tìm công việc làm cho họ tại chính đất nước Việt Nam mình.

Cho đến nay bố vẫn cứ lo lắng, băn khoăn, thỉnh thoảng mất ngủ về những số phận này! Bố tin chắc trong mấy trăm ngàn người đang đi ở đợ, hay lao động chân tay cấp thấp nhất, ở nước ngoài, phải có những người bà con của bố và của các con trong số này!

Với bố, đây là một trong vô vàn điều trắc ẩn cần phải có trong mỗi công dân Việt Nam, từ cấp lãnh đạo cao nhất xuống tới ngay những người có số phận đen tối này! Các con có lòng trắc ẩn cho những số phận này hay những số phận khác còn đáng thương hơn nữa đang sống ngay tại đất nước mình không? Có đủ lòng trắc ẩn để chuyển nó thành năng lực để nhắc nhở, thúc đẩy các con phát triển và dấn thân mỗi ngày không? Các con phải luôn nhắc nhở bản thân mình nhé!

Một câu chuyện về sự hổ thẹn

Tại các thành phố lớn trên khắp nước, giờ đây, nơi nào cũng nhiều nhà lầu, nhiều chung cư trung bình hay cao cấp; hầu hết các công chức nhà nước từ cấp trưởng phòng trở lên, nhất là các cấp phó giám đốc sở trở lên, đều có nhà riêng, cho con đi du học nước ngoài, có vài cái nhà hay miếng đất thêm để làm của cho con. Trên đường phố thì đầy xe hơi các loại, trong đó có khá nhiều xe vô cùng đắt tiền, nhất là ở Hà Nội, Sài Gòn, và vài thành phố lớn khác. Có luôn cả những chiếc xe mà chính các bạn nước ngoài của bố phải ngạc nhiên là người Việt Nam mình làm sao mua nổi, vì ngay cả chính họ, những doanh nhân triệu phú USD, cũng chưa dám nghĩ tới!

Mỗi ngày chi tiêu của rất nhiều “thiếu gia”, “trung gia” hay “đại gia” thường lên đến vài chục triệu đồng, nhưng hình như họ không phải làm gì vất vả hay nặng nhọc hết!

Quả thật đời sống của người dân nói chung ở chừng mức nào đó rất phát triển, nhất là so với thập niên 1980s hay đầu thập niên 1990s. Còn đời sống của các vị lãnh đạo cấp quốc gia thì khỏi phải bàn! Bố đã gặp nhiều trường hợp kinh lắm. Cái cách họ cho con đi học, cách mua sắm nhà cửa, xe hơi để phục vụ cho các con của họ ở nước ngoài, thì các gia đình trung lưu, và ngay cả thượng lưu từ các nước khác cũng gửi con đi du học cùng trường không thể nào sánh nổi!

Mặt khác, nhìn chung xã hội Việt Nam mình thì những người nghèo lại còn quá nhiều! Sự cách biệt giữa những gia đình giàu có, chức quyền và đại đa số người dân còn lại càng ngày càng xa! Chỉ cần một trong những chiếc xe hơi của một gia đình giàu có là dư sức để cho cả một đại gia đình nghèo đang sống trong cùng thành phố có thể có nhà ở và con cái được đi học cả đời! Các con có bao giờ thắc mắc về điều này không? Các con có nhìn thấy sự vô tâm hay vô tình và bất bình đẳng của tầng lớp cao, tầng lớp lãnh đạo, đối với đa số nhân dân không?

Điều làm cho bố hổ thẹn nhất, phẫn nộ nhất, đó là chuyện xảy ra cách đây vài ngày!
Khi có những dấu hiệu thế giới sẽ đưa Việt Nam mình ra khỏi danh sách các nước nghèo, thì ngay lập tức lãnh đạo nhà nước, ông Thủ tướng, đã phát biểu, giải thích với thế giới rằng “Việt Nam vẫn còn là nước nghèo”,[*] nhằm để thế giới tiếp tục giữ nước mình trong danh sách các nước nghèo.

Lý do là vì họ muốn vẫn tiếp tục được nhận viện trợ!!!!!!!

 
    Vài hình ảnh các đại gia chơi siêu xe tại Việt Nam, nguồn internet.


   Mỹ, Mễ, Mít…nói chung là cả nước trầm trồ khi thấy Rolls-Roice do một đại gia Việt làm chủ, hiên ngang, hồ hởi,  tự hào lăn bánh trên đường phố Hà Nội ?

     Giấy đang bộ xe có phần tiếng Mỹ kèm theo ?? 

Hình như họ cho rằng Việt Nam mình làm ăn mày thế giới là chuyện tốt chăng? Trời ạ, hay còn tệ hơn nữa, có khi họ cho việc cố gắng thuyết phục thế giới để Việt Nam mình nằm trong danh sách các nước ăn mày là một công lao lớn của họ đối với đất nước?

Các con hãy cùng bố thử đánh giá đất nước mình vào thời điểm 2011 này nhé:

Việt Nam đã thống nhất hơn 36 năm, không còn phân tranh, chia rẽ, nội chiến hay bị xâm lược nữa nhé, ngoại trừ một cuộc chiến nhỏ ngắn ngày với Trung Quốc (cái đất nước láng giềng mà ngày nay người ta còn gọi một cách giễu cợt, để cười ra nước mắt, là Nước Lạ) vào năm 1979, nhưng cuộc chiến đó cũng đã 32 năm rồi. Như thế không thể lấy mãi lý do vì chiến tranh mà nước mình nghèo đói, phải không nào?

Việt Nam hiện là một trong vài nước xuất khẩu nông thuỷ sản dẫn đầu thế giới. Việt Nam còn có các nguồn tài nguyên quan trọng khác đang được khai thác. Như vậy, trên nguyên tắc Việt Nam không thể đói và nghèo được!

Ai cũng biết chúng ta có rất nhiều người tài giỏi trong gần 90 triệu người Việt ở trong nước và ở nước ngoài, từ chiến lược gia cho EU, các khoa học gia trong gần như mọi lĩnh vực làm việc tại các trung tâm khoa học thế giới, các nhà quản trị, kinh tế, giáo sư đại học, bác sĩ, luật sư… v.v…, nhiều vô số kể. Như vậy, trên nguyên tắc, không thể bảo Việt Nam không có nguồn nhân lực nòng cốt để tiếp tục nằm trong tình trạng lạc hậu và quản lý quốc gia yếu kém nữa.

Như vậy tại sao Việt Nam mình vẫn còn lạc hậu, vẫn còn có thể — theo lời ông Thủ tướng — được chứng minh là nghèo đói?

Vì tham nhũng chăng?
Đúng!

 
 

 

Nhưng gốc của tham nhũng từ đâu ra? Do trời sinh, do người dân thiếu lòng tự trọng và tham lam, hay do tính đặc quyền từ một lối “cơ cấu” và “cơ chế” bởi guồng máy quyền lực?Đừng đổ cho ông Trời nhé! Cũng đừng đổ cho nhân dân, vì người dân của hầu hết mọi quốc gia đều rất đơn giản, họ chỉ làm theo những gì guồng máy lãnh đạo làm và chính quyền cho phép hay lỏng lẻo trong quản lý mà thôi!

Thế thì còn lại là vấn đề “cơ cấu” và “cơ chế” của guồng máy lãnh đạo!

Vì thiếu nhân tài chăng?

Sai, nhưng thực tế thì Đúng!

Sai là vì mình có rất nhiều nhân tài, nhưng Đúng trên thực tế vì guồng máy lãnh đạo chỉ sử dụng những người trong “cơ cấu” cho dù họ yếu kém, bất tài hơn những người bên ngoài cơ cấu!

Phải chăng guồng máy quyền lực hiện nay không có ý định thay đổi để tận dụng nguồn lực bên ngoài này cho dù họ đã cho thấy sự bất lực của “cơ cấu” mà họ tạo ra?

Vì thiếu sản phẩm sản xuất trong nước chăng?

Sai, nhưng thực tế thì có khác! Sai vì mình là một trong vài nước dẫn đầu sản xuất và xuất khẩu nông thuỷ sản và nhiều mặt hàng khác, nhưng trên thực tế hầu hết đều chỉ là cung cấp ở mức nguyên liệu thô hay gia công với giá thành thấp nhất!

Phải chăng là vì các công ty không có khả năng? Hay guồng máy nhà nước không biết quản lý để giúp họ khắc phục và nâng cao giá trị sản phẩm?

Như vậy, nếu ta nghiêm túc đặt Việt Nam mình là nước nghèo đói và lạc hậu, thì phải tự mình nghiêm túc tìm hiểu tạo sao và tự khắc phục nó!

Ngay sau khi chiến tranh, thế giới cho nước mình là nghèo đói thì có thể chấp nhận được. Nhưng sau mấy chục năm thống nhất, khi thế giới dự tính đưa nước mình ra khỏi danh sách các nước nghèo đói, thì lãnh đạo nước lại đại diện cho đất nước tự biện giải để tiếp tục nằm trong danh sách các nước nghèo đói, hầu tiếp tục làm một đất nước ăn mày!

Như vậy thì làm sao công dân Việt Nam mình có thể có một niềm tự tin, niềm hãnh diện để góp sức và tận lực phát triển?

Đúng ra, khi nhận được dự tính đưa nước mình ra khỏi danh sách các nước nghèo đói, chúng ta nên xem nó là một tin vui; mọi người dân Việt Nam mình phải hoan nghênh và hãnh diện về khả năng tự phát triển thoát nghèo để tiếp tục thay đổi, tiếp tục chuyển mình! Như vậy mới là một quốc gia có danh dự, có lòng tự trọng và có khả năng tự lực phát triển, phải không nào?

Trong lịch sử nước Việt Nam mình đã có nhiều lần chịu nhục! Nhưng những lần đó đều là vì sự áp chế của bọn xâm lăng nước ngoài.

Nhưng lần này thì khác, các con nhớ dùm bố, đây sẽ là lần nhục nhã nhất trong lịch sử của Việt Nam!

Vì lãnh đạo nước mình tự nguyện chịu nhục với thế giới bằng cách tự nguyện xin làm một đất nước ăn mày, một dân tộc ăn mày, chứ không chịu chấp nhận sự kiện Việt Nam đã có khả năng thoát nghèo đói, hay chấp nhận sự kiện guồng máy lãnh đạo yếu kém trong khả năng lãnh đạo đất nước!

Họ đã chứng tỏ rằng họ không còn lòng tự trọng để là những đại diện và lãnh đạo đất nước Việt Nam mình!

Và bố, thế nào đi nữa, bố vẫn xem mình là một người Việt Nam, một con dân của dân tộc Việt Nam trong huyết thống, thì bố đau khổ và nhục nhã quá!

Nay bố già rồi, không còn nhiều sức lực và thời gian nữa; bố cũng không còn là công dân Việt Nam về mặt pháp lý, để đóng góp nhiều như mong muốn và khả năng cho phép, nhưng các con là công dân Việt Nam, các con còn cả một tương lai lâu dài, các con phải hứa với bố là khi trưởng thành các con sẽ luôn có lòng trắc ẩn cho những người dân đen, và đóng góp hết sức mình làm thay đổi guồng máy đần độn, thối nát và vô liêm sỉ này, để Việt Nam mình không còn là dân tộc ăn mày thế giới nữa nhé!

Bố thương các con lắm!!

Hoàng Ngọc Diệp

 
 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.


The

Links: 

PhùĐổng Blog

Bô Xít Việt Nam

Tiền Vệ


Cải Cách Ruộng Đất Dưới Cái Nhìn Của Một Linh Mục.

Cố Giám Mục Phaolô Lê Đắc Trọng(1917- 2009)
Lời bàn:  Nhân bài viết về vấn đề “Luật đất đai” dưới chế độ cộng sản luôn được đông đảo bạn đọc  chiếu cố cho thấy người dân trong nước có quá nhiều lo lắng khi phải đối phó với những luật lệ đầy gian manh, lừa dối của nhà nước.  Để các bạn trẻ thấy rõ thêm bản chất của đảng, những người cộng sản Việt từ  xưa đến nay. Blog Mười Sáu xin được trích đăng phần “Cải Cách Ruộng Đất” trong sách Hồi Ký của cố Giám Mục Phao Lô Lê Đắc Trọng, phụ tá Tổng Giáo Phận Hà Nội: ” Chứng Từ Của Một Giám Mục”. Hình ảnh từ  các nguồn trên Net chỉ có tính cách minh họa.
Vài hàng về đức Giám Mục Phao Lồ: Tác Giả Trần Phong Vũ.

Sau 92 năm tại thế, ngày 07-9-2009 Đức Cha Phaolô Lê Đắc Trọng, nguyên giám mục phụ tá tổng giáo phận Hà Nội đã được Thiên Chúa gọi về. Trong hơn 60 năm linh mục và 15 năm giám mục, ít ai biết rõ về thân thế, gia cảnh nhất là tác phong, nhân cách của ngài. Cho đến những năm cuối đời khi hai tập Hồi Ký 1 (2006) và 2 (2007) được phổ biến giới hạn trong nước, một số người mới bắt đầu lờ mờ nhận ra nơi Đức Cha Phaolô một nhân cách lớn. Nhưng vẫn chưa đủ rõ nét.

Phải chờ tới sau Thánh Lễ an táng tại Nhà Thờ Chính Tòa Nam Định ngày 09-9-2009, khi Hồi Ký tập 3 được công bố*, người ta mới cảm nhận được trọn vẹn chân dung của người môn đệ Chúa Kitô đã âm thầm nhưng can đảm sống và thể nghiệm niềm tin son sắt của mình giữa những tháng năm đầy biến động trong lòng Giáo hội và Quê hương.  Đấy là hình ảnh của đoá hoa sen tinh khiết lừng lững vươn lên giữa bùn lầy nhơ bẩn.

Hé mở đôi chút về mình, tác giả hồi ký cho hay: “Tính tôi nhút nhát, không thích ra mắt. Sợ gặp người giầu có quyền sang, thích giao thiệp với những người dân nghèo khó”. (HK toàn tập Phần Một � Thời Thơ Ấu & Bước Đường Mục Vụ, trang 25-26).Trong bài giảng thuyết nhân Thánh Lễ an táng Đức Cha Phaolô ở Nhà Thờ Nam Định hôm 09-9-2009, Đức Cha Lôrenxô Chu Văn Minh, đương kim giám mục phụ tá Hà Nội, làm chứng: Trong cuộc sống riêng tư, ngài luôn sống khó nghèo, không ham hố hưởng thụ giàu sang, ngài ăn uống đạm bạc, mặc áo vải thô, đi guốc mộc Về điểm này, người ngoại cuộc chỉ cần nhìn tấm hình chụp chiếc giường ngủ đơn sơ, thanh đạm của vị giám mục quá cố là đủ rõ.


Bài Đọc Suy Gẫm: Cải Cách Ruộng Đất Dưới Cái Nhìn Của cố GM. Phaolồ Lê Đắc Trọng.

Cải cách ruộng đất: Đây là biến cố được tác giả Hồi Ký coi là “long trời lở đất” do đảng và nhà nước phát động ở miền Bắc giữa thập niên 50. Dù là một linh mục, nhưng với tâm tình yêu nước thiết tha, luôn gắn bó với nhịp sống nổi trôi, bất hạnh của người dân trong thời nhiễu nhương, tao loạn, đức cha đã quan sát từng đường đi nước bước của guồng máy cầm quyền trong tiến trình cải cách ruộng đất, từ giai đoàn các Đội Cải Cách được gửi về để “bắt rễ” tại các địa phương tới lúc phong trào lên cao với hàng trăm, hàng ngàn người dân vô tội bị đem ra đấu tố, bị xỉ nhục, bị giam cầm hay bị giết chóc thảm khốc.

Một cách khái quát, tác giả Hồi Ký nhận định:

Cuộc cải cách ruộng đất nó dữ dội quá, giết nhiều người quá, đã làm hoen ố bộ mặt cộng sản luôn tuyên bố vì nước, vì dân, vì độc lập, với bao là chính nghĩa xuông.” (HK toàn tập Phần Ba � Cái Nhìn Đối Với Việt Minh & Chủ Nghĩa CS. Trang 375)

Đức Cha Phaolô khẳng định, cũng như mọi đường lối, chính sách khác, khi phát động cuộc cải cách ruộng đất, đảng và nhà nước cộng sản hoàn toàn rập khuôn những gì quan thày của họ đã thực hiện tại Liên Xô và Trung Cộng.

“… Người Cộng sản Việt Nam học được kinh nghiệm của các anh Liên Xô, Trung Quốc, nên công cuộc được tổ chức rất chu đáo cặn kẽ, từ lúc phát động đến hoàn thành”

Kinh nghiệm đó như thế nào? Theo trình thuật của tác giả Hồi ký thì:

“Đầu hết là cái khẩu hiệu: ‘Người cầy có ruộng’ quá hợp tình hợp lý đi thôi. Cho được thế, đem ruộng đất ở tay những người có nhiều quá mà san sẻ cho những người không có tí nào! Đó cũng là lẽ công bằng. Nhưng làm sao để vui lòng san sẻ. Giáo Hội có luật công bằng, xã hội dựa trên bác ái. Cộng sản có phương châm đấu tranh dựa trên căm thù. Làm thế nào để khơi dậy căm thù, hay nói chung, để thành cán bộ cải cách, là đội cải cách?” (Trang 378)

Theo nhận định bằng những thực chứng của Đức Cha Phaolô thì đây là một chính sách được chuẩn bị kỹ lưỡng với những nhân sự gọi là “đội cải cách” được đào tạo có bài bản trong những trường huấn luyện được xây dựng ở nhiều nơi.

Đức cha viết:

“…Những trường được xây dựng để đào tạo đội cải cách. Tôi biết một trường như thế ở Phủ Lý….. Người ta dạy gì trong trường? Tôi không rõ, tất cả là bí mật. Nhưng khi thấy công việc đội cải cách làm, thì biết họ học gì, được huấn luyện thế nào?

Vậy đội cải cách đã làm gì? Xin hãy đọc những giòng HK sau đây:

“… Vào phòng họp, đội dõng dạc tuyên bố: ‘Bà con nông dân đề cao cảnh giác, vì địch nó ngồi ở đằng sau ta…’.  Người ngồi sau run sợ…! Một lúc nữa, đội lại nói: ‘Bà con cảnh giác, địch nó ngồi ngay trước mặt ta‘. Ngồi trước ngồi sau đều là địch cả. Không còn biết chọn chỗ nào nên ngồi?  Sợ sệt và sợ sệt…!

Ai nấy ngồi yên chỗ, bắt đầu cuộc ‘đấu tố’. Tố cáo tội ác giai cấp bóc lột, đấu tranh đánh đổ giai cấp bóc lột đó. Mọi người bắt đầu cuộc kể khổ, để tố cáo tội ác của bọn địa chủ cường hào ác bá. Những tội ác được bịa đặt ra nhiều hơn và nặng nề hơn sự thật.

‘…Tôi vay hắn ta mấy bát gạo, hắn ta bắt tôi viết văn tự thế bằng một sào ruộng. Tôi không có gì trả, thế là hắn ăn không sào ruộng của tôi. Và cứ mấy lần vay như vậy, rồi không có gì trả, thế là không còn một mẩu đất để cắm dùi’.

‘Tôi cấy tô cho nó, chẳng may trời để mất mùa, vì bão lụt, nó cứ thu tô như chẳng có tai hoạ gì xẩy ra. Chẳng có gì mà nộp, nó cho người đến tháo bộ cửa, dỡ mấy gian nhà tôi….’

‘Tôi nghèo khổ, đi làm thuê cho nhà nó, ăn đói, ăn khát, nó còn đánh đập, tiền công không trả, nhà nó tìm cách đuổi tôi đi để quỵt công….’

Và nhiều thứ tội khác, chung quy chỉ là tội tàn bạo, bóc lột, đổ trên những người bị quy là địa chủ, hay ác ôn, cường hào ác bá. Có thể là tội cá biệt nhưng nay là tội chung. Ai là đối tượng thì được khoác cho những tội đó. Người nông dân thật thà chất phác, mấy ai nghĩ ra được cách tố cáo, tất cả đã được dậy bảo, được Đội ‘mớm’ cho trước.

Thế rồi đấu, đấu tranh với địa chủ, thì phải có khí thế, chưa quen thì phải tập. Chưa có ai xuất hiện để mà đấu, thì có thể dùng cái cột nhà thay thế. Bà con và nhất là các phụ nữ. Giơ tay xỉa xói vào cái cột nhà: ‘Mày đã cướp của tao, mày đã đốt nhà tao, mày đã đánh đập tao thật tàn bạo, tao khó nhọc làm giầu cho mày, mà mày cho tao ăn đói ăn khát…’. Tất cả phải được nhuần nhuyễn, từ cử chỉ đến lời nói, để khi gặp ‘người thật’ không ngượng ngùng ái ngại.

Đến nỗi mà một người phụ nữ đứng tuổi, rất thương người cha già chị săn sóc hằng ngày. Chị nói với bố: ‘Ông có biết tôi là ai không?’. Người cha ngậm ngùi nhìn đứa con dứt ruột của mình và nói:: ‘Thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ’. Lời thưa não nùng thảm thương, nhưng phải hỏi cái sức ma quỉ nào đó đã thúc đẩy người con chất vấn người bố như thế? Cứ đó mà luận ra những người khởi xướng!” (Trang 381-382-382)

Theo nhận định của Đức Cha Phaolô thì không ai khác, chính ông Hồ là người chịu trách nhiệm về kết quả kinh hoàng của cuộc cải cách ruộng đất ở miền Bắc mà Trường Chinh Đăng Xuân Khu chỉ là một thứ “con dê tế thần”. Ngài viết trong Hồi Ký như sau:

“Tuy là Tổng bí thư Đảng, là lý thuyết gia của Đảng, nhưng ít người biết đến tên tuổi ông, đến mặt mũi ông. Ông được trao cho là người thừa hành kế hoạch cải cách ruộng đất, còn ông Hồ Chí Minh ‘giả cách đứng ngoài‘.

Kế hoạch đó cũng đạt mục đích phần nào, vì sau này tai tiếng đều trút trên đầu ông Trường Chinh, mà ‘Bác Hồ’ là ‘nhân từ’ chỉ bị liên hệ chút ít. Nhưng làm sao mà che mắt được dư luận nhân dân. Ông Hồ là lãnh tụ tối cao, mà ông Trường Chinh chỉ là tay chân, làm sao công việc long trời lở đất đó lại qua mắt được lãnh tụ tối cao?…” (Trang 375-376)

Giữa lúc cuộc cải cách ruộng đất đang tiến vào giai đoạn kinh hoàng nhất thì nhà cầm quyền lên tiếng là có sai lầm và ra lệnh sửa sai. Sửa sai như thế nào? Vì nhận ra là sai lầm nên sửa sai hay chỉ là một thứ đòn phép quen thuộc của những người cộng sản? Sự thật ra sao, chúng ta hãy đọc tiếp những chứng từ của cố Giám Mục Phaolô Lê Đắc Trọng:

“Lại bàn về sai lầm. Thiết nghĩ làm gì có thể sai lầm được? Giả sử chỉ có mình Việt Nam làm cải cách ruộng đất, chưa có đâu làm, thì còn có thể nói đến sai lầm. Đàng này các bậc thày, các bậc đàn anh đã làm, đã rút kinh nghiệm. Việt Nam chỉ việc lặp lại. Người ta đã tính từ trước sẽ có những sai sót. Có thể nói, những sai sót cố ý! Thà có giết nhầm mười người còn hơn để sót một thằng. Hoặc kinh nghiệm cho thấy là việc cải cách gây đau khổ nhức nhối chừng nào! Nên giả cách, có vài sửa sai chẳng vào đâu cả, để phần nào làm nguôi lòng dân.” (Trang 408))

Rập khuôn đấu tố bên Tàu.

Ở một đoạn khác, tác giả Hồi Ký viết tiếp:

“Trong cuốn Biên Niên Sử có nói: ‘Cuộc cải cách ruộng đất đã hoàn thành, mười triệu nông dân có ruộng cầy’. Một cuộc cách mạng long trời lở đất, mà kết quả có thế thì cũng khiêm tốn. Đó chỉ là cái khiêm tốn giả tạo, sự thực kết quả to lớn hơn vô cùng. Lấy được ruộng ở tay người địa chủ ra, không phải là việc dễ dàng. Phải có những bàn tay mạnh mẽ, đi tới tàn bạo của một chính thể độc tài chuyên chính… Lấy lại ruộng đất để chia cho những người cầy, không phải là mục tiêu chính của việc cải cách và chính việc cải cách cũng không phải là mục tiêu của cách mạng. Lấy lại ruộng đất chỉ là phương tiện để cải cách, chính việc cải cách cũng chỉ là phương tiện cho sự thống trị của giai cấp vô sản. Nói đúng ra cho sự thống trị của Đảng chuyên chính được thiết lập vững chắc.

… Cải cách ruộng đất là một cách quét sạch những địa chủ, những cường hào ác ôn, ác bá, những người có uy tín, những người có mầm mống để vươn lên. Tất cả những gì mà cách mạng cho là đối nghịch, là nguy hiểm trong hiện tại và trong tương lai. Quét sạch, để cho xã hội trở nên một tờ giấy trơn, để Đảng muốn vẽ gì thì vẽ, theo ý mình.” (409-410-411)

Hóa ra tất cả chỉ là một tấn tuồng, một trò lường gạt, đối trá không tiền khoáng hậu, chưa từng thấy trong lịch sự mấy ngàn năm của dân tộc Việt. Rút cuộc, người nông dân Việt Nam chỉ là một đám nạn nhân ngây thơ, khốn khổ bị lợi dụng, bị xúi bẩy lao đầu vào những trò bất nhân man rợ của những cuộc đấu tố dẫn tới những cuộc tàn sát đẫm máu với cái mồi do đảng và nhà nước treo trước mắt là được chia chác tài sản, ruộng nương để cuối cùng vẫn trở về với cảnh khố rách áo ôm vì phải thực hiện khẩu hiệu “đoàn kết dân tộc, tiến lên xã hội chủ nghĩa” bằng cách phải trao nộp trở lại những mảnh đất nhỏ vừa được chia chác để tham gia “hợp tác xã”! Trong HK toàn tập Phần III, đức cha Phaolô viết:

“Nông dân vô sản làm gì mà biết suy luận như thế? Người ta bảo đánh thì đánh, đập phá thì đập phá. Rồi họ mãn nguyện với mảnh bằng chứng thực. Họ được làm chủ mấy sào ruộng, để rồi ít lâu nữa sẽ rời những cái ghế chủ nhân. Bây giờ họ chưa biết thế đâu! Tấm bằng được trình bầy một cách rất lộng lẫy khổ 60 x 40 có ghi những chữ lớn với nét đỏ thắm: Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất.

Sau cuộc đấu tranh mệt mỏi, được thưởng bằng một tờ giấy có ghi: ‘Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất’ là hể hả. Nhưng còn phải giữ cái thành quả đó bằng ‘tăng cường đoàn kết’, rồi ‘nâng cao cảnh giác’. Nâng cao cho đến lúc ruộng đất được đem đi dâng, còn lại mảnh bằng…

Nông dân hí hửng được chia ruộng cày, nhưng gặt xong thì nhà nước đến thu mua sạch thậm chí không đủ gạo ăn cho gia đình.


…Mấy sào ruộng rồi sẽ đưa vào hợp tác xã để ông chủ lại đi cầy thuê…

…Cái bầu trời phát quang, cái mặt đất phẳng lì lì. Muốn dựng lên cái gì thì dựng, với cái tính tàn khốc, tính quá khích, đã tạo nên bầu trời quang, và cái mặt bằng cái tính tình man rợ đó đã in sâu trong lòng, không biết phải bao nhiêu thế hệ mới xoá nổi chăng?” (Trang 413-414-419-420)

Thay lời kết:

Lòng trung thành với đức tin Công giáo của đức cha còn được biểu hiện qua những lần ngài được mời đi “làm việc”. Trong Hồi Ký, ngài kể lại chi tiết cuộc đối thoại sau đây:

“Một tháng sau, tôi bị gọi ra Viện Kiểm Sát Nhân Dân làm việc. Viện Kiểm Sát có chức năng điều tra xác minh dữ kiện để đưa ra Toà án. Lần đầu tiên và cả đời tôi chỉ có lần này mới biết Viện Kiểm Sát…. Chung quanh tôi độ ba chục giáo gian, tôi quen mặt một số vẫn đến nhà xứ đấu tranh. Ông Viện Trưởng cất tiếng hỏi:

– Ông có làm phép đạo cho anh này không (tôi không nhớ tên)?

– Tôi thưa: Có.

– Khi làm phép thì ông đã nói thế nào?

– Điều này luật đạo chúng tôi không được phép nói.

– Ông phải nói, vì đây là pháp luật đòi hỏi.

– Tôi không được phép nói, vì luật chúng tôi dạy rằng: khi giải tội thì không bao giờ được nói điều người ta nói với tôi, dù có phải chết cũng không được nói: đó là bí mật toà giải tội, chúng tôi phải giữ với giá mạng sống chúng tôi.

Họ cứ hỏi đi hỏi lại mãi, tôi vẫn chỉ thưa có một câu:

– Tôi không được phép nói.

Rồi họ hỏi hàng mấy chục câu hỏi vu vơ, trong đó có một câu quan trọng:

– Ông có tôn trọng chính quyền không?

– Có – luật đạo chúng tôi dạy điều ấy.

Cả một ngày thẩm vấn, chỉ có lời hỏi đáp đó là đàng hoàng.

Ông Viện Trưởng đọc lại biên bản để tôi ký. Khi đọc đến câu: ông có tôn trọng “chính quyền” không? thì ông ta lại hỏi: ông có tôn trọng luật pháp nhà nước không? Tôi ngắt lời ông ngay và nói: Ông không hỏi tôi thế. Nếu ông hỏi tôi ‘có tôn trọng luật pháp không’, thì tôi thưa khác”.

– Ông thưa khác thế nào?

– Nếu ông hỏi có tôn trọng chính quyền thì tôi thưa có và không điều kiện. Vì luật đạo dạy dù chính quyền là thế nào đi nữa, cũng phải tôn trọng. Còn nếu hỏi: Có tôn trọng luật pháp nhà nước không, thì tôi thưa khác.

– Thưa thế nào? Rồi ông ta giơ cao cuốn Hiến pháp lên:

– Đây luật pháp nhà nước, dù là Tổng thống, dù là Chủ tịch nước cũng phải tuân theo. Và ông ta trịnh trọng hơn nữa, hỏi khi dằn từng tiếng:

– Ông có tuân theo pháp luật nhà nước không?

Tôi cũng trịnh trọng và dằn từng tiếng:

– Tôi tôn trọng luật pháp nhà nước, khi luật pháp đó không ngược đạo lý chúng tôi.

Ông ta lại nói to hơn và dằn từng tiếng:

– Đây! Pháp luật nhà nước! Ông có tôn trọng không?

Tôi cũng dằn từng tiếng:

– Tôi tôn trọng khi luật pháp đó không có gì đi ngược với đạo lý chúng tôi. Còn nếu có điều gì ngược với đạo lý chúng tôi, lương tâm tôi không buộc phải theo.

– Thế nào là không hợp với lương tâm?

Tôi ví dụ:

– Ngày xưa vua chúa ra luật cấm đạo, thì dù có chết cũng không tuân luật vua chúa. Đó là cái chết của các Thánh Tử Đạo chúng tôi đó.

Ông Viện trưởng không còn gì mà nói. Tôi cũng thế…” (HK toàn tập Phần Ba � Cái Nhìn Đối Với Việt Minh & Chủ Nghĩa CS, trang 365-366-367).


Cố Giám Mục Phaolồ Lê Đắc Trọng


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.


The

Links:

freevietnews.com

“Luật đất đai”

Chị Em Ơi Chuyển Lửa – You Tube


Sám Hối – Thích Viên Định

Hình ảnh minh họa:  Người Việt Hải Ngoại tưởng niệm Ngày Quốc Hận 30-4.

 

    Bắc Mỹ Toronto- Cananda.


Bài đọc suy gẫm:   Sám hối là phương cách duy nhất xóa ngày tang thương 30-4.  Thích Viên Định

Ngày 30.4.1975, ngày chấm dứt chiến tranh hai miền Nam Bắc, lẽ ra là một ngày vui, lại trở thành một ngày buồn, ngày đất nước rơi vào thời kỳ tăm tối, gia đình ly tán, quê hương tan nát, dân tộc chia lìa. Ngày chấm dứt chiến tranh lại là ngày đất nước rơi vào thể chế độc tài độc đảng theo chủ thuyết ngoại lai sai lầm làm cho nhân dân mất hết tự do, dân chủ, nhân quyền như thời kỳ phong kiến, thực dân, hoang dã. Bạo lực chỉ thâu tóm được đất nước nhưng không thống nhất được lòng người.

DFW- Texas– Hoa Kỳ


Trong một thế giới đầy xung động luôn có những sự tranh chấp. Có nhiều phương cách để giải quyết các cuộc tranh chấp. Thời kỳ hoang dã, hai bên thường giải quyết bằng bạo động, thế giới văn minh các bên có khuynh hướng giải quyết bằng thương thảo ôn hoà. Cùng bị chia đôi đất nước vì khác nhau ý thức hệ, nhưng 3 đảng Cộng sản của 3 nước đã có 3 cách hành động khác nhau. Cộng sản Đông Đức thì bắt tay, thương thảo với Tây Đức để thống nhất đất nước trong hoà bình. Cộng sản Bắc Việt lại gây chiến tranh, huynh đệ tương tàn đến khi có kẻ thắng, người thua mới chịu thôi. Cộng sản Triều Tiên lại khác nữa, cứ để phần ai bên đó giữ, đợi xem rốt cuộc ai đúng, ai sai, hạ hồi phân giải. Việt Nam thì khen Việt Nam anh hùng, vì thắng Mỹ, thắng Pháp, Thái Lan lại khen Thái Lan anh hùng vì tránh được cuộc chiến tranh đối đầu với phương Tây. Không biết ai đúng, ai sai, ai mới thật sự anh hùng? Ai gây tội ác với dân tộc?

Ông Võ Văn Kiệt, cố Thủ Tướng cộng sản Việt Nam, người có một phần trách nhiệm trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn giữa hai miền Nam Bắc Việt Nam, khi về già, ông đã có những nhận định rất khác lạ, nhưng nghe có vẻ chân thành, Ông nói rằng: “Trong chiến thắng 30.4.1975, nếu có một triệu người vui thì cũng có một triệu người buồn…”. Có lẽ, như cổ nhân thường nói: “Nhân tương tử kỳ ngôn dã thiện, điểu tương tử kỳ minh dã ai”, con người sắp chết, lời nói thật thà, con chim sắp chết, tiếng kêu thê lương. Có lẽ cuối đời, ông muốn quay trở về với ông bà, tổ tiên, không muốn đi theo Mác-Lênin nữa, vì ông đã thấy ra rằng, chủ thuyết Mác-Lênin đã sai lầm, nên thẳng thắn, mạnh dạn, dám nói lên sự thật, giống như ông Gorbachev đã can đảm thú nhận rằng: “Chủ nghĩa Cộng Sản mà tôi (Gorbachev) phục vụ gần cả đời người, toàn là tuyên truyền lừa bịp. Người Cộng Sản chúng tôi tin dùng những điều gian dối để che giấu sự thật . Theo lời ông Võ Văn Kiệt thì tuy cuộc chiến kết thúc nhưng chỉ có người dân nửa nước là vui mừng, còn một nửa lại đau khổ. Ông Võ văn Kiệt, một đảng viên Cộng sản cao cấp, có công lớn trong cuộc chiến, làm đến chức Thủ tướng, là kẻ chiến thắng, nhưng ông đã nói như vậy, thì không một ai trong hàng ngũ lãnh đạo đảng Cộng sản hiện nay, có thể nói gì khác được. Thật vậy, chẳng có cuộc chiến tranh nào mà không gây điều tàn cho đất nước đó, chẳng có cuộc chiến tranh nào mà không mang đến đau thương cho những người dân vô tội. Cuộc chiến Bắc Nam lại kéo dài gần 21 năm trời, tiêu tốn không biết bao nhiêu xương máu của binh lính hai bên, của đồng bào vô tội. Tổng kết gần 10 triệu người chết, nhà cửa tan hoang, ruộng vườn đổ nát, đất nước điêu tàn, dân tình ly tán… Cái hậu quả đau thương mất mát của dân tộc, đã kéo dài từ đó đến nay chưa dứt, không biết đến bao giờ mới hàn gắn được, chứng tỏ cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn, do Cộng sản Bắc Việt gây ra, rõ ràng là sai lầm và thất đức. Nếu chỉ vì người dân một nửa nước vui mà lại gây cho nửa nước buồn, thi chi bằng bắt chước Cộng sản Triều Tiên, phần ai nấy giữ, có hay hơn không? Hay tốt nhất là bắt chước Cộng sản Đông Đức, bắt tay với Tây Đức, thống nhất đất nước trong hoà bình thì vui đẹp biết chừng nào!

Ai đã gây ra tội ác này? Ai là người phải chịu trách nhiệm? Ai là kẻ có tội với tổ quốc, với dân tộc Việt Nam?
 

Âu Châu: Frankfut- Germany

Paris- France

Den Haag -Hòa Lan

Århus- Đan Mạch.

Sau chiến thắng, 30.4.75, về kinh tế thì Nhà cầm quyền Cộng sản đã áp dụng chủ thuyết vô sản Mác-Lênin để “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên Xã Hội Chủ Nghĩa”. Ở miền quê thì quốc hữu hoá ruộng đất của nông dân đem gom vô hợp tác xã. Ở thành thị lại chủ trương đánh công thương nghiệp. Nhà máy, công ty, cửa hàng buôn bán của tư nhân đều bị trưng thu. Tiền bạc bị đổi theo chỉ tiêu mỗi gia đình chỉ được 200 đồng. Trong phút chốc, toàn dân trên cả nước, đều trở thành vô sản. Chủ trương chuyên chính vô sản thiếu cạnh tranh nên không kích thích được nhu cầu phát triển khiến nền kinh tế cả nước dần đi đến kiệt quệ. Dân chúng, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, đau bệnh không thuốc thang, lại thêm chế độ hộ khẩu, công an trị…cuộc sống mất tự do, đau khổ, cơ hàn như địa ngục. Đến nỗi, năm 1986, Cộng sản đã phải khẩn cấp thay đổi chính sách: “Đổi mới hay là chết”.

Về chính trị thì với tư tưởng hận thù, Nhà cầm quyền đã bắt giam hàng triệu sĩ quan, công chức của Việt Nam Cộng Hoà vào trại tù cải tạo. Qui chế trong trại tù lại tuân theo chỉ thị khắc khe tàn ác của Thủ Tướng Bắc Việt, Phạm Văn Đồng: “Chúng gây tội ác với dân tộc, cho chúng ăn ít, bắt chúng làm nhiều, đó là nhân đạo lắm rồi”. Vì bị đối xử tàn bạo, dã man nên không biết bao nhiêu quan chức chế độ cũ phải bị bệnh tật, chết chóc, trong các trại tù ở nơi rừng sâu, nước độc. Nhiều người phải liều mạng vượt biên, bằng ghe, bằng thuyền, băng rừng vượt biển cố thoát ra nước ngoài. Lớp chết trên rừng, lớp chết dưới sông, lớp bỏ mình ngoài biển cả, làm mồi cho chim cá…Thật là một giai đoạn đau khổ cùng cực cho dân tộc. Trong lịch sử Việt Nam chưa có thời nào như vậy. Cho đến nay, Xã hội vẫn tiếp tục xuống cấp, các tệ nạn trộm cắp, bài bạc, xì ke ma tuý, tham nhũng hối lộ nhiều vô kể. Văn hoá suy đồi, đạo đức băng hoại…

Ai đã gây ra cảnh tượng đau thương này cho dân tộc? Ai mới thật sự là kẻ có tội với tổ quốc, có tội với nhân dân?

Năm 1861-1865, Hoa Kỳ cũng có một cuộc nội chiến giữa hai miền Nam, Bắc về vấn đề giải phóng Nô lệ. Miền Bắc cũng thắng, Miền nam cũng thua và phải đầu hàng. Sau khi thảo luận giải quyết vấn đề giải giáp cho binh sĩ, hai bên cùng đồng ý rằng, sĩ quan miền Nam vẫn tiếp tục giữ nguyên cấp bực, còn binh lính miền Nam, ai muốn về nhà với gia đình thì về, ai muốn tiếp tục binh nghiệp, thì gia nhập vào binh đoàn miền Bắc. Không có trại cải tạo, không có trại tù. Nghĩa Trang chôn chung binh sĩ hai miền, binh lính tôn trọng lẫn nhau. Đó mới là hoà bình, đó mới là thống nhất, thật đẹp đẽ biết bao.

Hơn cả thế kỷ trước mà Hoa Kỳ đã văn minh như thế. Vậy mà ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn còn sống trong tư tưởng hận thù như thời kỳ man dã. Tại sao Cộng sản Việt Nam biết sao chép Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ, như lời ông Bill Clinton, cựu Tổng Thống Hoa Kỳ đã nói, nhưng lại không biết bắt chước cách đối xử hoà bình, thương yêu và bao dung cho nhau, như tướng Grand và tướng Lee của hai miền Nam, Bắc Hoa Kỳ đã làm sau khi cuộc nội chiến chấm dứt?

Ông Vó Văn Kiệt còn nói, “Yêu nước cũng có nhiều cách yêu nước”. Không phải như lời tuyên truyền nhồi sọ của Nhà cầm quyền Cộng sản rằng, “yêu nước là yêu Xã hội chủ nghĩa.” Ngày nay chỉ còn vài nước theo Xã hội chủ nghĩa, vậy người dân của hàng trăm nước theo chế độ tự do, dân chủ trên thế giới thì không biết yêu nước hay sao? Các Nhà cầm quyền độc tài đã lợi dụng vấn đề yêu nước như một phương tiện để khủng bố, đàn áp người dân, quyết giữ độc quyền lãnh đạo, vì quyền lợi của bè đảng phe nhóm riêng tư.

Có nhiều cách để giải quyết vấn đề khác biệt về lập trường và tư tưởng. Nhất là đối với người dân trong một nước. Cùng là đồng bào, cùng là bà con, thân thuộc với nhau, tại sao lại phải tương tàn, tương sát nhau chỉ để giải quyết vấn đề tư bản và cộng sản mà phải gây ra bao khổ đau, tan nát. Thật là một sự vọng động và sai lầm quá lớn!
Úc Châu:  Canberra.

Ngày 30.4.1975, ngày chấm dứt chiến tranh hai miền Nam Bắc, lẽ ra là một ngày vui, lại trở thành một ngày buồn, ngày đất nước rơi vào thời kỳ tăm tối, gia đình ly tán, quê hương tan nát, dân tộc chia lìa. Ngày chấm dứt chiến tranh lại là ngày đất nước rơi vào thể chế độc tài độc đảng theo chủ thuyết ngoại lai sai lầm làm cho nhân dân mất hết tự do, dân chủ, nhân quyền như thời kỳ phong kiến, thực dân, hoang dã. Bạo lực chỉ thâu tóm được đất nước nhưng không thống nhất được lòng người.

Nhu cầu tự do, dân chủ và hoà bình là nhu cầu chung cho mọi người trên thế giới. Đã bước qua thế kỷ 21, một thế kỷ mà các nước trên thế giới đang hướng đến tự do và phát triển về mọi măt, vậy mà người dân Việt Nam vẫn sống bên lề xã hội văn minh. Việt Nam không có các quyền tự do tôn giáo, báo chí, đi lại, cư trú, lập hội… như qui định trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc.

Về vấn đề này, Đại Lão Hoà Thượng Thích Huyền Quang, từ năm 2000, lúc còn bị lưu đày ở Quảng Ngãi, Ngài đã viết thư yêu cầu Nhà cầm quyền cộng sản: “Hãy lấy ngày 30.4.1975 làm ngày Sám Hối và Chúc sinh toàn quốc” Ngài đòi hỏi: “ Hãy trả Nhân quyền lại cho người sống và Linh quyền cho người chết”. Nếu được như vậy thì mới thật sự thống nhất đất nước, thống nhất lòng người, nhân dân được đầy đủ quyền tự do, dân chủ, tiếp đến sẽ đoàn kết dân tộc, cùng nhau chống ngoại xâm để cứu nước thoát khỏi nạn bành trướng Đại Hán nguy cấp hiện nay.


Thích Viên Định

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.


The

Links:


Ly Hương .net

ToànDânLênTiếngBLogSpot

Vung Cao Picasa WebPhoto Album

Nguyễn Bắc Ninh Picasa WebPhoto Album