Họ Trả Lời Y Chang Nhau – Joyce Ann Nguyễn

Demokratie And Pluralismus = Biểu Ngữ Dân Chủ và Đa Đảng Cho Việt Nam tại Germany.

Hình ảnh minh họa: Sinh hoạt biểu tình tuần qua trên khắp các châu lục. 16 xin được cám ơn và vinh danh các chiến sĩ Paltalk như William P. , Trương Nhân, … đã kiên trì chuyển tải tin tức hình ảnh đều đặn mỗi ngày.

Úc Châu – Melbourne (Đêm Thắp Nến Cầu Nguyện cho quê hương Viêt Nam).

Đồng ca: Phải Lên Tiếng– Anh Bằng

Bài đọc suy gẫm: Họ Trả Lời Y Chang Nhau tức “Tranh Luân” –  trích từ Face Book của Joyce Ann Nguyễn, một người 17 tuổi, tuy còn bé và mới tị nạn cộng sản 1 năm tại Norway (Na-Uy) nhưng có cái nhìn sâu sắc về những luận điệu, trả lời giống hệt nhau của các “cán hay cớm mạng còn gọi là CAM” mỗi khi  tranh luận trên các diễn đàn internet.

************************************

Có 1 điều tôi nhận ra thế này, sau khi tranh luận với nhiều người khác quan điểm chính trị.
– Nếu bạn ở trong nước và viết bài so sánh giữa nước ta và nước ngoài, họ sẽ nói bạn là ếch ngồi đáy giếng và ko biết gì.
Nếu bạn ở nước ngoài và nói những điều tương tự, họ sẽ bảo bạn ăn cơm ngoại bang và quay về chống phá tổ quốc.
Nếu bạn rời VN được 1 thời gian ngắn, họ sẽ bảo bạn chưa kịp thấy những cái xấu xa của các nước tư bản.
Nếu bạn đã sống ở nước ngoài 1 thời gian dài, họ sẽ bảo bạn đã đi lâu rồi và ko biết tình hình VN đã thay đổi và phát triển như thế nào.
– Nếu bạn nói bạn muốn tự do dân chủ, họ sẽ nói bạn ăn tiền nước ngoài, hoặc bạn là người của VNCH.
– Nếu bạn nói về những vấn nạn của VN, họ sẽ nói nước nào cũng có vấn đề và đất nước ta đang ngày càng tiến bộ.
– Nếu bạn phê bình lãnh đạo, họ sẽ nói ko có ai hoàn hảo, rồi hỏi bạn có làm được như thế ko, và hỏi bạn, bạn có cãi lời cha mẹ ko mà lại chỉ trích những người lãnh đạo.

Châu Âu – Pháp- Balê (Paris) Biểu tình phản đối công hàm ô nhục Phạm văn Đồng 14-9-1958

Germany – Frankfurt am Main.

Châu Mỹ-  Đông Bắc Hoa Kỳ- Thủ phủ Washington D.C. (nhà của bác Obama). Biểu tình phản đối trước tòa lãnh sự tàu.

– Nếu bạn hỏi vì sao họ có thể làm ngơ và ko quan tâm tới những vấn đề của đất nước, họ sẽ nói VN ko cần những người như bạn.
– Nếu bạn nói bạn mong muốn 1 sự thay đổi, họ sẽ bảo thật ra bạn chỉ muốn chống phá đất nước chứ ko làm được gì.
– Nếu bạn nói bạn muốn có tự do thực sự cho đất nước bạn, họ sẽ nói màu sắc dân chủ mỗi nước khác nhau, mỗi nơi có chế độ khác nhau, và đất nước ta hiện nay đã được tự do, độc lập, hạnh phúc.
– Nếu bạn nói có đa đảng vẫn tốt hơn 1 đảng, vì sự cạnh tranh bao giờ cũng tạo nên sự hoàn thiện và phát triển, họ sẽ hỏi bạn có chắc như thế sẽ tốt hơn ko, và đa đảng là loạn.

Thành phố New Orleans, tiểu bang Louisiana.

Tiểu bang Utah.

 Tây Bắc Hoa Kỳ- Tacoma City – Seatle bang Washington (quê hương của Bill Gate, Microsoft)


– Nếu bạn chê TQ, họ sẽ chê Mỹ.
– Nếu bạn nói đến yêu cầu và phản kháng, họ sẽ hỏi bạn đã làm gì cho tổ quốc mà đòi hỏi tổ quốc phải làm gì đó cho bạn, hoặc bạn chỉ nói và ko làm được gì.
– Nếu bạn hỏi chủ nghĩa cộng sản tốt đẹp đến thế vì sao lại sụp đổ ở các nước Đông Âu, họ sẽ bảo vì các nước Đông Âu ko theo đúng chủ nghĩa cộng sản, hoặc từ bỏ ko có nghĩa là nó ko tốt, hoặc 1 ngày nào đó những nước này sẽ quay lại con đường cũ.
– Nếu bạn hỏi vì sao họ nói tư bản đang giãy chết, hoặc tư bản ko tốt, vậy tại sao trên TG có rất nhiều nước tư bản, họ sẽ nói bạn hùa theo số đông.
– Nếu bạn muốn biểu tình chống TQ, hoăc bức xúc vì những người biểu tình bị bắt giữ, họ sẽ bảo biểu tình chẳng ích gì, và VN là nước nhỏ, phải nhún nhường trước TQ, và bắt giữ là đúng. 

 Bắc California- San Francisco: Trưóc tòa lãnh sự tàu.

Trưóc tòa lãnh sự việt cộng.

SanJose- California (nơi mệnh danh là thủ đô văn hóa của người tị nạn)


“Cực” Nam California- San Diego

Đặc biệt trong ngày 19/9/2011.  Đồng bào từ khắp các tiểu bang của Hoa Kỳ hội tụ về trụ sở Liên Hiệp Quốc tại New-York để biểu tình rất đông,  phản đối tàu cộng sai trái và bọn việt gian,  việt cộng bán nước.   Hình dưới: Boston- Tiểu bang Massachusetts.

– Nếu bạn viết bài về chính trị, và nói VN ko có tự do dân chủ, xã hội lắm bất công, họ sẽ bảo bạn là kẻ phản quốc, thất bại trong cuộc sống và đem lòng hận thù.
– Nếu bạn bức xúc vì nhiều người bất đồng chính kiến bị bắt giữ và bỏ tù, họ sẽ nói như thế là hoàn toàn đúng, và có những người thậm chí còn nói, và đem giết chết cả gia đình dòng họ mới đủ.
– Nếu bạn còn trẻ, họ sẽ nói bạn lo học và còn quá non và thiếu trải nghiệm để phán xét.
– Nếu bạn đã lớn, họ sẽ nói bạn nên lo kiếm tiền và chuyện lớn để nhà nước lo.
– Nếu bạn hỏi, xã hội bình an hạnh phúc đến thế, vì sao sau 1975 rất nhiều người vẫn bỏ đi, họ sẽ bảo những người này ko quen chịu khổ, là tay sai Mỹ- Ngụy chay đi ăn bơ thừa sữa cặn.

Á Châu – Việt Nam – Sài Gòn.  Biểu tình phản đối Trung quốc xâm lược dưới mưa. Tin chi tiết HLTL Blogspot

– Nếu bạn hỏi thế tại sao bây giờ người ta vẫn ra đi bằng hàng trăm hàng ngàn cách khác nhau, họ sẽ im lặng.
– Nếu bạn hỏi những người lãnh đạo như thế nào lại ký tên đồng ý tiến hành những dự án nguy hiểm cho môi trường và an ninh lãnh thổ đất nước, bất chấp bản kiến nghị, họ sẽ im lặng.
– Nếu bạn nói, trái ngược với luận điệu những ai muốn tự do dân chủ là dân miền Nam tay sai Mỹ- Ngụy, có rất nhiều người đấu tranh hiện nay được sinh ra trong chính xã hội này, và thay đổi quan điểm, và những người đấu tranh này cũng là người thành đạt và có vị trí trong xã hội, họ giải thích thế nào, họ sẽ giữ im lặng.
– Nếu bạn nói về việc tấm bản đồ “lưỡi bò”, và người dân VN bị đánh cướp và giết chết, nhưng nhà nước ko làm gì cả, họ sẽ giữ im lăng.
– Nếu bạn chứng minh chế độ hiện nay hoàn toàn đi ngược với lý thuyết của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội, họ sẽ giữ im lặng.
– Bạn nói bạn đơn thuần là người yêu nước, và đau đớn với số phận dân tộc, họ sẽ nói bạn dối trá, bạn là đồ phản động, nhưng bình thường với những vấn đề chính trị, họ găn vào cái mác “nhạy cảm” và lờ đi ko quan tâm.
Và những gì tôi vừa viết nói lên điều gì, ngoài việc những con người ấy được dạy dỗ và tuyên truyền để có luận điệu và lý lẽ y hệt nhau?

Joyce Anne Nguyen.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Nguyễn Đắc Hải Di- FB

HLTL Blogspot

 Picasa Đặng Nguyễn

 Ly Hương. Net

Face Book – Turquoise Daniela Ganesh

Picassa N Nguyễn

Picassa Simon Nguyen

Advertisements

Made In …Viet Nam – Nguyễn Thượng Long

Hình ảnh minh hoạ:  Hưởng ứng phong trào biểu tình trên khắp thế giới phản đối đảng công sản VN trong ngày ô nhục 14/9/ (ngày Phạm Văn Đồng, đại diện cho đảng cộng sản VN. ký công hàm bán nước 14/9/1958, xác nhận, nhượng chủ quyền lãnh hải cho bọn tàu cộng).  Nhiều nghìn đồng bào quận Cam, Little SaiGon tham dự biểu tình và đêm thắp nến tại tượng đài “Công Viên Chiến Sĩ”. Nam California.

Ban Tù ca – Xuân Điềm với hoạt cảnh người dân không còn cá để bán ngoài chợ vì bị tuần phòng “Nước lạ” chặn bắt, tịch thu ngoài biển, ngay trong lãnh hải nước nhà.

Bài đọc suy gẫm:  Made In …Viet Nam – tức “Vì Sao Họ Không Đến?” của nhà báo Nguyễn Thượng Long, bài viết về nền Giáo Dục-  Đào Tạo (GD ĐT) con người dưới chế độ cộng sản và những hệ lụy ắt phải có.

Nhà báo Nguyễn Thượng Long.

Ngành GD – ĐT đương đại đã, đang và sẽ còn mang lại cho đất nước những con người như thế !…thì ai cũng hiểu được: Vì sao giáo viên và học sinh phổ thông không đến vườn hoa Lê Nin vào những ngày này & vì sao mà các sếp lớn, sếp bé, kể cả các sếp GD ĐT đã chối bỏ nền GD trong nước để cho con cháu họ lũ lượt ra nước ngoài, nương nhờ nền GD của bọn tư bản xấu xa và giẫy chết (!?)

 

VÌ SAO HỌ KHÔNG ĐẾN ?

Xin dành cho những ai chưa một lần đến vườn hoa Lê Nin để biểu lộ lòng yêu nước của mình” (NTL) BA NHAM NHỞ MANG TÊN GIÁO DỤC ĐÀO TẠO :
Khi cuộc biểu tình lần thứ 4 chủ nhật 19-6-2011 để phản đối Trung Quốc đã có những hành động vi phạm lãnh hải của Việt Nam sắp nổ ra, HT một học sinh cũ của tôi, nay đang là sinh viên năm cuối của một trường đại học danh tiếng của Hà nội, tìm gặp tôi dưới chân cột cờ Hà Nội với câu hỏi:
“Thưa thầy! Vì sao các thầy cô giáo và học sinh phổ thông lại không đến với các sinh hoạt chính trị như thế này?”.
Tôi bảo: Câu hỏi của em cũng là câu hỏi của nhiều người. Đúng là vậy, những chủ nhật vừa qua, nói là sinh viên & học sinh xuống đường, thì thực ra chỉ có một số sinh viên các trường Cao Đẳng và Đại Học của Hà Nội là tham gia mà thôi. Học sinh các lớp cuối cấp của bậc phổ thông trung học cùng thầy cô giáo của họ gần như là thiếu vắng. Nói là gần như, vì cũng có 1 – 2 giáo viên PTTH không rõ của trường nào đã có mặt ở vườn hoa Lê Nin sáng 5 – 6 – 2011. Tôi chỉ phát hiện ra họ trong những Nick name đã Comment ào ạt vào bài viết “Nhật Ký Biểu Tình” của tôi khi bài này xuất hiện trên mạng ngay ngày hôm sau 6 – 6 – 2011.
Vì họ không đến với cuộc biểu tình này mà chúng ta nói họ là những người không có lòng yêu nước! Nói thế là không đúng. Đã là người thầy giáo thì mọi hình ảnh, lời nói, hành động của người thầy trước học trò luôn theo định hướng để hình thành nhân cách cho học trò. Trong những phẩm chất của nhân cách thì “yêu nước” phải là phẩm chất số 1. Không có chuyện người được gọi là có nhân cách mà lại không yêu đất nước đã sinh ra mình. Trong 5 điều Hồ Chí Minh dậy Thiếu Niên và Nhi Đồng, dù không thấy nói gì đến tình yêu ông bà, cha mẹ, thì “Yêu Nước” vẫn được ông đặt lên hàng đầu đấy chứ. Vậy tại sao sau bao nhiêu thập kỷ có 5 điều dậy này rồi mà hôm nay người học trò cũ của tôi vẫn đặt ra một câu hỏi như vậy?
Theo tôi GD ĐT Việt Nam hiện nay đã sở hữu trong tay một bộ 3 nham nhở nhất trong những nham nhở của ngành mình: GIAN DỐI TRONG THI CỬ –  VỊ THÀNH TICH TRONG THI ĐUA –  SA SÚT LÒNG YÊU NƯỚC. Trong 3 cái nham nhở nhất kể trên thì 2 nham  nhở đầu đã được ông Nguyễn Thiện Nhân khống chế bằng “vòng kim cô 2 không” rồi, hiệu quả của nó thế nào? Thôi thì hậu xét. Giờ đây ngành GD chẳng lẽ lại phải có 1 nói không nữa là “Nói không với sự sa sút lòng yêu nước!”.
Trong khi chưa thấy ngành cao quý nói gì về chuyện này thì nhà thơ – đạo diễn Đỗ Minh Tuấn, người tham dự rất sớm cuộc biểu tình yêu nước cùng SV – HS những ngày qua đã lo lắng đưa ra lời cảnh báo về hội chứng vô cảm thể “Mù Thiêng”. Theo ông đó là hiện tượng một số người không còn khả năng rung động, xúc động trước những gì có thể làm mọi người thấy rưng rưng và rơi lệ.

Người Việt Nam nào mà không xúc động khi chứng kiến hình ảnh một người   cúi xuống hôn lên mặt đất dưới chân mình, khi người đó vừa bước qua biên giới, sau nhiều chục năm bôn ba xứ người, thì hôm nay lại có quá nhiều người Việt Nam, quá nhiều thành viên của ngành GD ĐT lại vô cảm trước một Phạm Thanh Nghiên, một phụ nữ nặng không đầy 35Kg, cận thị nặng, cô đơn, lặng lẽ ngồi toạ kháng trước nhà mình dưới khẩu hiệu “Hoàng Sa – Trường Sa là của Việt Nam”, rất nhiều người không hề thấy xúc động trước hình ảnh một nam sinh viên dáng mảnh khảnh, hai cánh tay giơ cao nhiều giờ liền một biểu ngữ phản đối Trung Quốc trước cửa Lãnh Sự Quán TQ tại thành phố Sài Gòn ngày 5 – 6 vừa qua. Sinh viên đó đứng như một tượng đài bằng xương bằng thịt, một biểu tượng của lòng yêu nước đến vô bờ của lớp trẻ, làm xúc động biết bao người chứng kiến, vậy mà lại có người coi hình ảnh đó chỉ là một game show lai rai!
Nhiều người nhìn hình ảnh Cù Huy Hà Vũ hiên ngang đi giữa những người “Chỉ biết còn đảng còn mình”, nhìn hình ảnh cháu bé 5 – 6 tuổi lũn cũn đi trong tay là biểu ngữ phản đối Trung Quốc, nhìn hình ảnh các vị nhân sĩ, các trí thức, văn nghệ sĩ…với những mái tóc bạc phơ dẫn đầu những đoàn biểu tình vừa qua bằng thái độ vô tình của những người ngoài cuộc, khác máu tanh lòng!
Tôi biết, rất nhiều người trong đó có người phụ nữ Việt Nam 80 tuổi, mẹ Lê Hiền Đức, một Teresa của dân oan Việt Nam, bà đã lặng lẽ khóc bên tôi khi tôi cho bà xem những bức ảnh sinh viên Sài Gòn bị bẻ cổ, bị vặn sườn, đặc biệt là hình ảnh viên đại uý Minh, đội phó an ninh Quận Hoàn Kiếm Hà Nội đạp thẳng gót giầy vào mặt anh Nguyễn Trí Đức lúc anh Đức đang bị 4 công an khiêng như khiêng lợn trước cửa xe bus bắt người trong buổi sáng 17/7/2011 trước vườn hoa Lê Nin, nhưng tôi cũng thấy không ít người nhếch mép rồi tuôn ra những lời vô tình. Những hình ảnh dưới đây nếu lọt vào mắt họ, có lẽ cũng chẳng nói được điều gì

Hội chứng “Mù Thiêng”, hiện tượng mà nhiều người coi: Cuộc sống này, thế gian này không còn điều gì là thiêng liêng nữa! Quan điểm đó, đúng là đang lan tràn trong xã hội nói chung, trong ngành GD ĐT& ngành công an nói riêng, là một hiện thực không thể bác bỏ, thì cũng không thể nói: Chương trình GD ĐT của ta không có nội dung đề cao lòng yêu nước, yêu con người. Những năm qua, nhiều tỉ USD tiền vay ODA mà con cháu sẽ oằn lưng để trả nợ đã được đầu tư cho siêu dự án thay sách giáo khoa, chẳng lẽ những cuốn sách mới đó lại chẳng nói gì đến những dạng tình cảm này ?

LÒNG YÊU NƯỚC & CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẬY.
Không một giáo viên nào lên lớp lại có quyền không có giáo án. Bên cạnh những nội dung thuộc về giáo dục trí dục, giáo án nào cũng phải nói tới những nội dung giáo dưỡng về tư tưởng. Trong những nội dung giáo dưỡng tư tưởng tất nhiên không thể thiếu giáo dục lòng yêu nước. Một bài giảng có thể bị chê là yếu về nội dung trí dục, không đáng sợ bằng bài giảng bị chê là yếu về tính tư tưởng. Thế nhưng, tính tư tưởng đã từng được hiểu một cách hết sức thô sơ, ngô nghê như: Sau một bài dậy, học trò phải thấy đảng là đỉnh cao trí tuệ, là mùa xuân  bất diệt, CNXH luôn luôn là tốt đẹp là trường tồn, CNTB là xấu, là giẫy chết (!?). Một đề toán mà lại cho ra một đáp số mà số quân ta lại chết nhiều hơn số quân địch thì người ra đề coi chừng đấy (!?). Chính người viết bài này, hơn 40 năm trước khi giảng bài “Kinh tế Nhật Bản những năm cuối thập kỷ 1960” đã suýt mất nghề vì dại dột giảng trước học trò:

Đêm Thắp Nến.  Hội đồng Liên Tôn và toàn thể đồng bào cùng cầu nguyện.

“Chỉ cần hơn 2 thập kỷ sau chiến tranh 2, bằng nghị lực, sự thông minh và một bản lĩnh phi thường, người Nhật Bản đã tạo nên trên đất nước mặt trời mọc của mình một hiện tượng thần kỳ về kinh tế ”. (NTL 1969)
Với bài giảng đó, tôi đã bị trưởng đoàn thực tập xếp loại yếu về giáo dục tư tưởng (!?) vì qua bài giảng đó, học trò của tôi chẳng căm thù phát xít Nhật, lại cứ xuýt xoa trước sự phục hồi kinh tế thần kỳ của người Nhật và ao ước người Việt Nam mình cũng sớm được như thế (!?). Đã có thời, để chắc ăn, sau một bài giảng là đến màn thầy trò đứng lên hùng hổ hô khẩu hiệu đả đảo thực dân, phong kiến, đế quốc và quân ta muôn năm & như thế là họ coi là giáo dục tư tưởng (!?).
Những bài giảng Địa Lý về “Lãnh Thổ – Biển – Đảo Việt Nam”, những bài giảng Lịch Sử về “Mẹ Âu Cơ”, về “Hùng Vương”, về “Hai Bà Trưng”, về những cuộc đại phá quân Nam Hán, đại phá Tống – Nguyên – Minh – Thanh, những bài GDCD về “Nhân Phẩm”, về “Lòng Tự Trọng”, những bài Ngữ Văn, những áng văn bất hủ để giáo dục lòng yêu nước như: “Bình Ngô Đại Cáo”, “Hịch Tướng Sĩ Văn”, “Bài thơ thần bên bờ sông Như Nguyệt”, “Hải Ngoại Huyết Thư”, “Bản Án chế độ thực dân Pháp”, “Văn Tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Thư cho con của Tướng Quân Trần Độ”… đã từng có vị trí xứng đáng trong sách giáo khoa của GD ĐT Việt Nam nhiều thập kỷ nay rồi, nay đang nằm trong tay những con người coi giáo dục cũng là thị trường, là thương trường! và DẬY – HỌC là BÁN – MUA, nên tâm hồn họ là: “Còn ghế còn tiền”, trái tim họ là những giá băng, cùng với phương pháp giáo dục là hô khẩu hiệu và đọc – chép nghị quyết thì kết quả sẽ thế nào nhỉ?
Dạ thưa!  Những bài giảng, những kiệt tác văn chương đó có thể cũng đã tạo ra biết bao điểm 9, điểm 10 trong những báo cáo định kỳ của Lớp, của Trường, của Sở, biết bao giờ dậy xuất sắc, biết bao sáng kiến kinh nghiệm của thầy cô, biết bao danh hiệu giáo viên giỏi các cấp, đem lại biết bao thu nhập do học thêm tự nguyện và cả do cưỡng bức học thêm, nhưng …than ôi! Ngọn lửa yêu nước đọng lại trong lòng người dậy và người học vẫn chỉ là lửa “Ảo”, lửa “Lân Tinh”, thường thấy ở chốn tha ma mộ địa. Những thứ lửa này đã nhanh chóng lụi tắt trong những vật vã mưu sinh giữa muôn mặt đời thường. Những  người đã tắt “Lửa Lòng” như thế thì làm sao họ còn chỗ cho những rưng rưng khi nghĩ về biển đảo của tổ quốc lúc phải đối diện với sự mất còn, để họ tự tìm đến vườn hoa Lê Nin những ngày này!
Những con người như thế, đương nhiên họ không chấp nhận những:
Đỗ Việt Khoa tuẫn nạn vì GD ĐT, Phạm Thanh Nghiên lao lý vì toạ kháng: HS – TS là của Việt Nam, Vũ Hùng, Nguyễn Xuân Nghĩa, Trần Đức Thạch, Phạm Văn Trội, Trần Đại Sơn, Nguyễn Văn Tính, Nguyễn Văn Túc… lao lý vì treo biểu ngữ có nội dung vì tất cả mọi người, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Công Định, Lê Thăng Long, Trần Anh Kim, Nguyễn Tiến Trung, Cù Huy Hà Vũ lao lý vì tranh đấu cho những quyền con người, Vi Đức Hồi lao lý vì dám “Đối Mặt”, Nguyễn Anh Tuấn thấy chuyện bất bằng không tha, Từ Anh Tú sinh viên bị đuổi học vì đọc mạng, Nguyễn Trí Đức bị công an đạp vào mặt & những sinh viên Sài Gòn bị bẻ cổ, vặn sườn vì đi biểu tình, Nguyễn Văn Phương sinh viên đọc Tuyên Cáo trước Nhà Hát Lớn… cùng các vị nhân sĩ, trí thức khả kính, các bậc lão thành cách mạng, các nhà văn, nhà thơ, học giả nổi tiếng đã từng dẫn đầu các đoàn biểu tình. Các vị không có chỗ đứng trong tâm tưởng những con người rất nghèo lòng yêu nước nhưng lại quá dồi dào lòng vị kỷ này. Họ là sản phẩm được dán nhãn mác “Made in GD ĐT Viet Nam ” & tội lỗi lớn nhất của ngành GD ĐT đương đại là đã cho ra biết bao thế hệ là những người VN không còn niềm tin vào những điều cao đẹp, nhưng lại quá thừa sự vô cảm trước nguy cơ mất nước. Tôi không nói số người này là tất cả, nhưng tôi dám khẳng định số người này là không nhỏ. Họ là ai vậy? Xin thưa : Họ đang ở quanh ta, đó chính là chồng ta, vợ ta, sếp ta, con ta, người thân của chúng ta, bạn bè cùng cơ quan chúng ta, hàng xóm chúng ta…và cũng có thể lắm chính là ta, lúc mà “Lửa Lòng” ta đã nguội lạnh.

Văn nghệNhiều ca nhạc sĩ của Trung tâm Asia  làm chương trình phong phú và cảm động. 

Hình dưới: Ca sĩ Đặng Thế Luân trong một bài ca cám ơn người lính VNCH đã hy sinh, xả thân cho sự vẹn toàn  Tổ Quốc.

Người cựu chiến binh Hoa Kỳ cho biết ông cảm được tình yêu quê hương của những người Việt Nam tị nạn, và không thể nào tin nổi khi được biết những người dân trong nước đi biểu tình để biểu lộ lòng ái quốc của họ lại bị chính nhà nước cộng sản sai công an đàn áp? đạp lên mặt như thú vật?

Nhạc sĩ trẻ tuổi, tài cao Trúc Hồ (áo xanh) của Trung Tâm Asia,  tác giả nhạc phẩm “Đáp Lời Sông Núi”. Hình dưới:  Ca sĩ Nguyên Khang nức nở với “Đêm Nguyện Cầu” của nhạc sĩ Anh Bằng  làm nhiều khán giả thổn thức theo.

Xin ai đó đừng vội lớn tiếng rằng: Người viết bài này đã phủ định sạch trơn! Hãy thử cùng nhau làm 2 trắc nghiệm: Tỉ lệ những người xuống đường trong những ngày qua so với số dân cả nước & Tỉ lệ những người tham gia đàn áp biểu tình so với số người xuống đường biểu tình là bao nhiêu? Lời giải cho các trắc nghiệm này sẽ là những con số biết nói, bởi nó mang những thông điệp về cuộc đời này. Những con số đó là số thực & không thể bác bỏ được.
Những người mà “Lửa” yêu nước trong lòng đã tắt, nếu họ vào đảng, thì đảng không thể mạnh thêm, nếu họ đắc cử vào Quốc Hội thì cũng chỉ để giơ tay và vỗ tay, nếu họ mưu sinh trong nghề cầm phấn thì cũng lại “Còn ghế còn tiền”, nếu họ cầm dùi cui, cầm súng thì chắc chắn cũng lại “Chỉ biết còn đảng còn mình” và chỉ “Trung với đảng”. Nếu họ có lạc bước vào “làng” dân chủ thì cũng sẽ chỉ là thứ “Dân Chủ Đô La”, “Dân Chủ Cuội” khá hơn thì cũng chỉ cỡ “Dân Chủ Cải Lương”, tệ hại hơn nữa sẽ là thứ “Chim Mồi” của công an, được công an bảo kê để nhử bắt đồng đội của mình. Người ta đã có quá nhiều chứng cớ để nói rằng, nếu không có thứ “Chim Mồi Sặc Sỡ” đó, công an không dễ mà khống chế được làn sóng Dân Chủ tự phát nẩy nở ở Việt Nam & cũng nhờ sự giúp sức của “Chim Mồi Sặc Sỡ” đó mà Công an dư sức đặt cái gọi là “Phong Trào Dân Chủ” tại quốc nội phải đối diện với sự cáo chung khó tránh khỏi. Có lẽ Thanh Tùng rất đúng khi viết:
“Ta nhìn sâu vào mắt nhau mà thấy lòng đau xót”.
Ngành GD – ĐT đương đại đã, đang và sẽ còn mang lại cho đất nước những con người như thế !…thì ai cũng hiểu được: Vì sao giáo viên và học sinh phổ thông không đến vườn hoa Lê Nin vào những ngày này & vì sao mà các sếp lớn, sếp bé, kể cả các sếp GD ĐT đã chối bỏ nền GD trong nước để cho con cháu họ lũ lượt ra nước ngoài, nương nhờ nền GD của bọn tư bản xấu xa và giẫy chết (!?) (Còn nữa)
Hà Đông 2 – 8 – 2011
Ngày bị  khống chế & cách ly khỏi phiên toà phúc thẩm Tiến Sỹ Luật Sư Cù Huy Hà Vũ.
Nhà Báo Nguyễn Thượng Long.

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Web Đối Thoại

 


Người Khâm Liệm Tù – Người Buôn Gió

Biếm họa: Trại giam cổng trời (NVCL.net)

Bài đọc suy gẫm:  Người Khâm Liệm Tù – Người Buôn Gió.

Chú thích: Hình từ các nguồn internet chỉ có tính cách minh hoạ.

Thưa quý vị:  Câu chuyện sau đây của Người Buôn Gió – Bút danh của Bùi Thanh Hiếu, một người bạn ngoài công giáo – viết sau khi tìm hiểu một số tư liệu và cuốn “Hồi ký” của Đức Giám mục Phaolo Lê Đắc Trọng.
Câu chuyện khá cảm động về một nhân vật đã đi vào lịch sử Tổng Giáo phận Hà Nội trong thời cộng sản: Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh của Nhà Thờ Lớn Hà Nội.
Chúng tôi sẽ có phần giới thiệu về ngài ở cuối bài viết này…
Từ nhỏ mình đã bị ấn tượng về những người bị bắt tù, mình luôn say sưa đọc về những chiến sĩ cách mạng bị giam ở Hỏa Lò, Sơn La, Côn Đảo, những vị anh hùng như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Trần Phú… đến Hồ Chí Minh. Thật ra hồi mình bé thời bao cấp chỉ có sách về các nhân vật này thôi. Lớn chút mới đọc được Pa Pi Lon, thiên hạ say mê anh chàng Bướm lắm, nhưng mình cũng chả thấy có gì hâm mộ anh chàng này, bá tước Monte của Đuy Ma cũng không ấn tượng lắm vì có lẽ thời kỳ của các nhân vật này khá xa lạ với Việt Nam, sau này có điều kiện mới lùng được sách của Solzenitsyn như cuốn Tầng Đầu Địa Ngục, Một Ngày Trong Đời của I Van , hay cuốn Lửa Yêu Thương, Lửa Ngục Tù của Re Mac, cuốn Chuyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn. Mỗi nhật vật đều để lại cho mình những ám ảnh, những ấn tượng. Nhưng có lẽ đoạn văn của Phùng Quán viết lại theo lời kể của Tuân Nguyễn khi Nguyễn ở trong tù là ám ảnh hơn cả.
Nhưng điều may mắn này còn quan trọng hơn: trong mười năm qua, mình đã sống giữa những con người vô cùng phong phú và phức tạp, chất liệu sống vàng ròng cho các nhà văn. Mình chỉ đơn cử với cậu một người…

Linh mục Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh, một chứng nhân của thời đại. (1912-1971).

***
“… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, nhưmột cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thắng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen… Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính. Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc. Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi “thằng khùng” (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ. Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài. Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc. Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
– Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
– Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc… Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, “đầu chày, đít thớt, mặt bù loong” cũng phải rơm rớm nước. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?… Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho đầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:
– Anh Tuân này – không rõ anh ta biết tên mình lúc nào – sống ở đây anh thèm cái gì nhất?

Voltaire, nhà văn, nhà triết học của Pháp với tác phẩm nổi tiếng: “Cuộc Phiêu Lưu Của Candide”.

– Thèm được đọc sách – mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.
– Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? – anh ta hỏi.
– Voltaire! – một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và trừng phạt”. Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:
– Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.Mình trả lời anh ta:
– Tôi thích nhất là Candide.
– Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:
– Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: “Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!”.
– Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! – anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:
– Anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:
– Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.
Rồi anh ta tiếp:
– Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn – ngu ngơ, đần độn như thường ngày. Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi tong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… – những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.Giám thị hỏi:
– Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói:
– Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:
– Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rầm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.  Viết xong, anh ta hoàn toàn kiệt sức, đánh rớt viên than, và lên cơn co giật.
Người lính canh dẫn mình lên giám thị trại với bàn tay có viết chữ Nhẫn ngửa ra.  Người lính canh ngờ rằng đó là một ám hiệu.  Giám thị hỏi:
– Cái hình nguệch ngoạc này có ý nghĩa gì? Anh mà không thành khẩn khai báo, tôi tống cổ anh ngay lập tức vào biệt giam.  Mình nói:
– Thưa cán bộ, thật tình tôi không rõ. Anh ta chỉ nói: tôi vẽ tặng cậu một đạo bùa để xua đuổi bệnh tật và tà khí.
Nghe ra cũng có lý, giám thị trại tha cho mình về lán…

***

Trong số bao nhiêu nhân vật tù đã được nổi tiếng nhờ tiểu thuyết hóa, người bạn tù của Tuân Nguyễn chỉ là hạt bụi bay qua so với những tác phẩm đồ sộ để đời ấy, mấy ai biết đến nhà thơ Tuân Nguyễn và mấy ai biết hơn về người bạn tù bí ẩn của ông. Người ta ấn tượng cách ông già của Solzennitsyn đầu rụng hết tóc, nhai bánh mỳ bằng lợi hay già Đô của Bùi Ngọc Tấn chết vất vưởng đâu đó trên phố phường Hà Nội khi mãn hạn tù..mình cũng ấn tượng những nhân vật ấy.Nhưng hình ảnh người tù xấu xí, nghèo khổ đọc nguyên bản Candide bằng tiếng Pháp khiến mình luôn bị ám ảnh trong đầu, Tuân Nguyễn cả Phùng Quán đều về thiên thu, giá như các cụ ấy còn sống mình cũng cất công đi tìm hỏi người mà các cụ nói ấy là ai.

Tình cờ hôm nọ được cho tập hồi ký của Đức Cha Phao Lô Lê Đắc Trọng mới láng máng biết rằng đó là cha Chính Vinh của nhà thờ lớn Hà Nội, vì can tội không cho chính quyền trang trí trước cửa nhà thờ, cha Chính Vinh bị kết án 3 năm tù, nhưng đi tù mãi chả thấy về , tăm hơi biệt tích, hơn 40 năm sau nhờ bạn tù chỉ dẫn, người thân mới biết nơi cha Chinh Vinh chết để chuyển thi hài ngài về.Sau này cất công đi hỏi một vài vị cao tuổi nữa, mới càng khẳng định chính xác là Cha Chính Vinh. Đúng như lời Tuân Nguyễn nói, đây là chất liệu vàng ròng cho các nhà văn. Tuân Nguyễn thì mất rồi, liệu ai tiếp nối ước nguyện của ông để khai thác những chất liệu quý báu như thế này không.
Người Buôn Gió

Phụ lục:

Linh mục Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh
Cha Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh chào đời ngày 2 tháng 10 năm 1912 tại làng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.Cậu Vinh, một thiếu niên vui vẻ, thông minh, có năng khiếu nghệ thuật bẩm sinh về âm nhạc, ca hát. Cậu biết kính trên, nhường dưới, trong xứ đạo, ai cũng quý yêu. Cha xứ Ngọc Lũ thời đó là Cố Hương, một cha người Pháp tên là Dépaulis giới thiệu cậu lên học tại trường Puginier Hà Nội. Năm 1928, cậu học Tiểu Chủng viện Hoàng Nguyên, Phú Xuyên, Hà Tây.Năm 1930, thầy Vinh được cố Hương dẫn sang Pháp du học. Năm 1935, thầy vào Đại Chủng viện St Sulpice, Paris. Ngày 20-6-1940, thầy được thụ phong linh mục ở Limoges.Chiến tranh thế giới xảy ra, cha Vinh phải ở lại Pháp và tiếp tục học tập. Ngài học Văn Khoa-Triết tại Đại Học Sorbone, học sáng tác và hòa âm tại Nhạc viện Quốc Gia. Ngài phải vừa học vừa làm. Vóc dáng nhỏ nhắn dễ thương của ngài đã làm cho nhiều người Pháp tưởng lầm ngài là phụ nữ nên cứ chào: Bonjour Madame! Nhưng ẩn trong cái dáng vóc nhỏ bé đó là một tâm hồn rộng lớn, sau đôi mắt sáng là tính cương trực, dưới nụ cười là ý chí sắt son.Sau khi tốt nghiệp cử nhân Văn Triết ở Sorbone, ngài gia nhập dòng khổ tu Biển Đức tại Đan Viện Ste Marie.Sau 17 năm du học, năm 1947 cha Vinh về nước, nhằm góp sức xây dựng một Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vững mạnh về mọi mặt. Khi ấy, Đức cha François Chaize – Thịnh, Bề trên Giáo phận đã bổ nhiệm ngài làm cha xứ Nhà Thờ Lớn Hà Nội. Ngài xin Bề trên lập dòng Biển Đức ở Việt Nam, nhưng không thành.
Cha Vinh, dù tu học ở Pháp nhưng luôn có tinh thần yêu nước, độc lập, không nệ Pháp. Năm 1951, Nhà Thờ Lớn Hà Nội tổ chức lễ an táng cho Bernard, con trai tướng De Lattre de Tassigni. Trong thánh lễ, tướng De Lattre kiêu căng đòi đặt ghế của ông trên cung thánh và bắt chuyển ghế của Trần Văn Hữu, Thủ tướng Việt Nam xuống dưới lòng nhà thờ. Vì lòng tự trọng dân tộc, danh dự quốc gia, cha Vinh cương quyết không chịu. Tướng De Lattre rất tức giận, gọi cha Vinh tới, đập bàn quát tháo, đe dọa. Cha Vinh cũng đập bàn, lớn tiếng đáp lại, quyết không nhượng bộ, nhưng Thủ tướng ngại khó nên tự nguyện rút lui. Sau vụ đó, để tránh căng thẳng, Đức Cha Khuê đã chuyển cha Vinh làm giáo sư của Tiểu Chủng Viện Piô XII, phụ trách Anh, Pháp văn, âm nhạc, triết học; ngài khiêm tốn vâng lời. Ngài cũng giảng dạy Văn Triết ở trường Chu Văn An.
Năm 1954, Đức cha Trịnh Như Khuê cho phép cha Vinh và cha Nhân đưa chủng sinh đi Nam, nhưng cả hai đều xin ở lại sống chết với giáo phận Hà Nội, dù biết hoàn cảnh đầy khó khăn, nguy hiểm. Đức Cha Khuê bổ nhiệm ngài làm Cha Chính, kiêm Hiệu Trưởng trường Dũng Lạc.
Ngài tổ chức lớp học giáo lý cho các giới, có những linh mục trẻ thông minh, đạo đức cộng tác, như cha Nguyễn Ngọc Oánh, cha Nguyễn Minh Thông, cha Phạm Hân Quynh. Lúc đầu, lớp học được tổ chức thành nhóm nhỏ tại phòng khách Tòa Giám Mục, về sau, con số người tham dự tăng dần, lớp học được chuyển tới nhà préau, và ngồi ra cả ngoài sân. Lớp học hiệu quả rất lớn, những tín hữu khô khan thành đạo đức nhiệt thành, ảnh hưởng lan tới cả giới sinh viên và giáo sư đại học, nhiều người gia nhập đạo. Sau chính quyền ra lệnh ngừng hoạt động vì lý do an ninh.
Khi cha Vinh đang làm Hiệu Trưởng Dũng Lạc, Chính phủ ra chỉ thị phải treo ảnh lãnh tụ thay vào ảnh Thánh Giá ở các lớp học. Ngài không tuyên đọc chỉ thị cũng không tháo bỏ Thánh giá, nên năm 1957, trường bị đóng cửa.Thời bấy giờ, Đại học Y khoa Hà Nội thiếu giáo sư, nên đã đề nghị Đức Cha Khuê cử cha Vinh đến trường dạy La tinh. Nhiều sinh viên cảm phục ngài. Một hôm, Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Quốc đến thăm trường, thấy bóng dáng chiếc áo chùng thâm linh mục, ông nói với đoàn tháp tùng: “Đến giờ này mà còn có linh mục dạy ở Đại Học quốc gia ư?”. Ít lâu sau trường Đại học Y khoa không mời cha dạy nữa.
Biết tài năng và kiến thức âm nhạc của ngài, nhiều nhạc sĩ ở Hà Nội tìm cha Vinh tham khảo ý kiến và nhờ xem lại những bản nhạc, bài ca họ mới viết.Cha Vinh, một trong những nhạc sĩ tiên phong của Thánh nhạc Việt Nam, và là một nhạc sĩ toàn tài. Ngài chơi vĩ cầm và dương cầm thật tuyệt, ngài kể chính ngài là người Việt Nam đầu tiên chơi vĩ cầm ở Hà Nội. Ngài có năng khiếu đặc biệt về âm nhạc, lại được học tập chu đáo nên đã sáng tác và để lại nhiều nhạc phẩm tôn giáo tuyệt vời. Cha Vinh trình bày bản hợp tấu ‘Ở Dưới Vực Sâu’ nhân cuộc đón tiếp phái đoàn Việt Nam do ông Hồ Chí Minh dẫn đầu sang dự Hội Nghị Fontainebleau năm 1946.Cộng tác với Hùng Lân sáng tác ‘Tôn Giáo Nhạc Kịch Đa-Vít’. Ngài còn sáng tác nhiều nhạc phẩm lớn: ‘Mở Đường Phúc Thật’, ‘Tôn Vinh Thiên Chúa Ba Ngôi’, ‘Ôi GiaVi’, ‘Lạy Mừng Thánh Tử Đạo’. Ngài phổ nhạc cho các Ca Vịnh 8 , Ca vịnh 16, Ca vịnh 23, Ca vịnh 41, Ca vịnh 115 và nhiều bài hát khác như Đức Mẹ Vô Nhiễm, Thánh Tâm Giêsu. Ngài còn viết những bài ca sinh hoạt: Sao Mai, Đời Người, phổ nhạc bài ‘Bước Tới Đèo Ngang’ của Bà Huyện Thanh Quan.Hằng tuần ngài đến dạy nhạc, xướng âm và tập hát bên chủng viện Gioan. Cha Vinh có giọng nam cao, âm hưởng thanh thoát, lôi cuốn.Ngài tổ chức và chỉ huy đồng ca trong nhiều cuộc lễ và rước kiệu lớn như cuộc Cung Nghinh Thánh Thể từ Hàm Long về Nhà Thở Lớn Hà Nội.


 Cha Lasan Nguyễn Văn Vinh đang điều khiển ca đoàn hát lễ tại Nhà thờ Lớn- Hà Nội.

Năm 1957, Nhà nước muốn tỏ cho dân chúng trong nước và thế giới thấy là ở Việt Nam Đạo Công giáo tự do hành đạo, và tổ chức được những lễ nghi long trọng, tưng bừng. Dip Lễ Noel, chính quyền tự động cho người đến chăng dây, kết đèn quanh Nhà Thờ Lớn, sau lễ họ vào đòi nhà xứ Hà Nội phải thanh toán một số tiền chi phí lớn về vật liệu và tiền công. Năm 1958 cũng thế, gần đến lễ Noel, không hề hỏi han, xin phép, một số người của Nhà nước ngang nhiên đưa xe ô tô chuyển vật liệu, tự động bắc thang, chăng dây treo bóng điện màu trang trí ở mặt tiền và trên hai tháp Nhà Thờ Lớn. Cha xứ thời đó là cha Trịnh Văn Căn bảo vệ chủ quyền Giáo Hội trong khuôn viên cơ sở tôn giáo, không đồng ý, nhưng họ cứ làm. Để phản đối, cha Căn liền cho kéo chuông nhà thờ cấp báo, giáo dân kéo đến quảng trường nhà thờ rất đông ủng hộ cha xứ, hai bên to tiếng. Cha Căn gọi Cha Vinh ra can thiệp, sau một hồi tranh luận không kết quả, cha Vinh kéo những người của Nhà nước đang leo thang chăng đèn xuống, rồi chính ngài leo lên thang, hai tay đưa cao trước mặt, hai bàn tay nắm lại, hai cườm tay đặt cho nhau, làm dấu hiệu còng tay số 8, và nói lớn: “Tự do thế này!” Vụ giằng co lộn xộn kéo dài suốt buổi sáng, công cuộc trang trí không thành.
Cha Căn, cha Vinh cùng một số giáo dân bị cơ quan an ninh thẩm vấn, đem ra xét xử. Tòa án nhân dân Hà Nội tuyên án: Cha Trịnh Văn Căn, Chính xứ Nhà Thờ Lớn, người chịu trách nhiệm tổ chức lễ Noel năm 1958 chịu án 12 tháng tù treo. Cha Chính Nguyễn Văn Vinh chịu án 18 tháng tù giam, với tội danh: “Vô cớ tập hợp quần chúng trái phép, phá rối trị an, cố tình vu khống, xuyên tạc chế độ, gây chia rẽ trong nhân dân” (!).
Sau phiên tòa, cha Vinh bị đưa đi giam ở Hỏa Lò, sau bị chuyển đi nhiều trại giam khác như Chợ Ngọc, Yên Bái, cuối cùng là trại “Cổng Trời”, nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội.

 

Trại giam “Cổng Trời” nơi dành riêng cho các tù nhân tử tội. Hình dưới: Tác phẩm đặc sắc của nhà văn Bùi Ngọc Tấn viết về địa ngục trần gian dưới chế độ cs.VN.


Khi cha Vinh mới đến trại Yên Bái, ngài còn được ở chung với các tù nhân khác, nhiều giáo dân, chủng sinh, tu sĩ đến xin cha giải tội, vì thế ngài bị kỷ luật, phải biệt giam, bị cùm chân trong xà lim tối. Mấy tháng sau được ra, ngài lại ban phép giải tội. Cán bộ hỏi: “Tại sao bị cùm, bị kỷ luật, được ra, anh tiếp tục phạm quy?” Ngài đáp: “Cấm là việc của các ông, giải tội là việc của tôi, còn sống ngày nào, tôi phải làm bổn phận mình!”.
Ở tù đói rét là đương nhiên, lúc nào cũng đói, hằng ngày mỗi bữa một bát sắn độn cơm, ăn với lá bắp cải già nấu muối, khi chia cơm phải cân đong từng chút một… Một lần cha Vinh nhận được gói bưu kiện do cha Cương, quản lý Nhà Chung Hà Nội, gửi lên, trong đó có ít thức ăn, lương khô và vài đồ dùng cá nhân, ngài đem chia sẻ cho anh em trong nhóm, cả Công giáo lẫn lương dân, ăn chung, dùng chung. Anh em tù hình sự thân thương gọi ngài là ‘bố’.Ngay trong nhà tù, cha Vinh vẫn can đảm bảo vệ người bị áp bức, có lần một tổ trưởng đánh đập tù nhân, ngài lên tiếng bênh vực, liền bị người tổ trưởng này xông đến giang tay đánh, ngài đưa tay gạt, anh ta ngã khụy. Từ đó trong trại có tiếng đồn cha Vinh giỏi võ, mọi người phải nể vì.
Một cán bộ cao cấp ở Hà Nội lên Cổng Trời gặp cha Vinh, nói: “Đảng và Chính phủ muốn anh được tha về, nhưng với điều kiện phải cộng tác với linh mục Nguyễn Thế Vịnh (Chủ tịch Ủy Ban Liên Lạc Công Giáo). Nếu anh đồng ý, anh có thể về Hà Nội ngay bây giờ với tôi”. Ngài khẳng khái đáp: “Ông Vịnh có đường lối của ông Vịnh. Tôi có đường lối của tôi”.
Vì không khuất phục được ngài, nên bản án của ngài từ 18 tháng tù giam, không qua một thủ tục pháp lý án lệnh nào, đã biến thành 12 năm tù kiên giam, xà lim biệt giam và án tử. Năm 1971, khi ngài từ trần không ai được biết, một năm sau, chính quyền mới báo cho Đức Cha Khuê và cha Cương quản lý Nhà Chung: “Ông Vinh đã chết. Không được làm lễ áo đỏ cho ông Vinh!”.
Suốt đời mình, trong mọi tình huống cha Chính Vinh làm trọn trách vụ của mình. Ngài đã mạnh mẽ rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho đức tin, khi thuận tiện cũng như khó khăn. Vượt mọi thử thách gian khó, không chịu khuất phục trước cường quyền, luôn trung kiên với Thiên Chúa và Giáo Hội.
Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.

TGP Hà Nội

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Chân Dung Linh Mục

Nữ Vương Công Lý