Cơ Chế Xin Cho -Duyên Lãng Hà Tiến Nhất

 

Bài đọc suy gẫm: “Cơ Chế Xin Cho” hay Phương pháp cấm đạo của Việt gian cộng sản (Từ cấm đạo cho đến công cụ hóa tôn giáo) của tác giả  Duyên Lãng Hà Tiến Nhất.  Blog 16 xin được giới thiệu bài viết sâu sắc về những phương cách cấm đạo của cộng sản  hiện nay trên đất nước.  Hình ảnh sưu tầm trên NEt chỉ có tính cách minh họa.

Bác ái và thù hận (đấu tranh giai cấp) là hai phạm trù đạo đức đối nghịch nhau, và là mấu chốt của sự phân biệt giữa Công Giáo và cộng sản. Ngày nay, bọn vô thần  lợi dụng điều này để giương ra một cái bẫy rất tinh vi…

Đạo Chúa được truyền vào đất nước ta từ năm 1533 đời Lê Trang Tôn. Trải qua gần 500 năm, Giáo Hội Công Giáo Việt – Nam (GHCGVN) luôn gặp phải những cấm cản, thậm chí đàn áp, tiêu diệt của các triều vua chúa phong kiến. Ngày nay dưới chế độ cộng sản (CS), việc cấm đạo còn tệ hơn gấp bội. Nó không chỉ nhắm vào GHCG không thôi, mà còn bao trùm trên tất cả mọi tôn giáo, và biến đổi đi theo một hình thái mới, từ việc tiêu diệt một tín ngưỡng qua việc biến tính các tôn giáo thành những công cụ hầu phục phụ cho chế độ.

Các tác gỉa của cuốn Sách Đen (Le Livre noir du communisme) đồng ý cho rằng cộng sản (CS) là một thảm họa lớn nhất cho loài người trong thế kỷ 20. Nhìn riêng trên khía cạnh tôn giáo không thôi, gọi CS là thảm họa thiết tưởng không sai tí nào.

Việt Nam là một quốc gia đã chịu đựng thảm họa CS chính thức từ 50 năm nay (từ 1954). Cái thảm họa này mọi thành phần dân tộc đều cùng chia phần gánh chịu. Riêng GHCGVN phải gánh phần có thể nói là nặng nề vượt trội. Trong bài viết này, tôi muốn đối chiếu cơ bản hai hình thức cấm đạo thời vua chúa phong kiến và dưới chế độ CS ngày nay để làm nổi bật lên cái bản chất phi tôn giáo của CS. Sau đó bàn đến những thiệt hại trước mắt, cũng như những di hại về sau do chế độ CS gây nên mà GHCGVN sẽ còn phải chịu đựng cả sau khi chế độ này không còn tồn tại trên đất nước.

Nhân đây cũng xin được lưu ý bạn đọc về ý nghĩa của một vài từ ngữ thường gặp trong lối nói hàng ngày. Hai cụm từ “đàn áp tôn giáo”, hay “tiêu diệt tôn giáo”, mỗi nhóm chữ này tuy có nghĩa riêng của nó, nhưng cả hai đều bao hàm chung một nội dung là “cấm đạo”. Nghĩa là chủ trương dùng những biện pháp cưỡng chế theo ý muốn của nhà cầm quyền nhằm mục đích bắt người có đạo phải từ bỏ tín ngưỡng của mình, ngăn cấm tự do hành đạo và giảng đạo. Để tránh sự gò bó trong mạch văn, người viết xin được xử dụng hai cụm từ này chung trong ý nghĩa là “cấm đạo” cho tiện. Riêng cụm từ “biến tính tôn giáo” (religious transmutation), người viết dùng để nói đến đường lối cấm đạo đặc biệt ngày nay của chế độ CSVN. Phương pháp cấm đạo này sẽ được đặc biệt bàn đến trong bài.

NHỮNG CÁCH CẤM ĐẠO XƯA VÀ NAY

Nhìn chung, từ việc cấm đạo của một số vua chúa thời phong kiến trước đây đến chủ trương tiêu diệt tôn giáo của CS hiện nay tại Việt – Nam , ta thấy có một khoảng cách khá xa về 3 phương diện: Chủ trương, nguyên nhân và đường lối áp dụng. Cần phân biệt cho rõ các khía cạnh của vấn đề thì mới hiểu được sự tinh vi, tàn bạo và vô luân của chế độ CSVN.

1.CHỦ TRƯƠNG

Người chủ trương cấm đạo thời phong kiến tại Việt – Nam là các vị vua chúạ. Họ đều là những người duy tâm và có tín ngưỡng. Nhiều người rất sùng đạo nữa là khác. Việc cấm đạo phát sinh do tính hẹp hòi và đầu óc thiển cận của những người lãnh đạo thủ cựu trước bối cảnh giao tiếp của hai nền văn hóa Đông Tây.

Đạo Chúa vào Việt – Nam là một tôn giáo hoàn toàn xa lạ so với các tôn giáo đã có sẵn nề nếp trong nước. Lại cũng khác hẳn về giáo lý lẫn phụng vụ. Những yếu tố đó lồng trong bối cảnh đất nước bị ngoại xâm đe dọa nên không dễ dàng được những đầu óc bình vôi thủ cựu chấp nhận. Hơn nữa, vua chúa phong kiến nắm mọi quyền hành độc đoán trong tay, lại tự cho mình có trách nhiệm thay Trời cai trị thiên hạ, nên việc chuyên quyền quyết đóan đưa đến sai lầm là điều rất dễ xẩy ra.

Điểm đáng lưu ý ở đây là hành động cấm đạo của các vua chúa chỉ nhằm mục đích ngăn cấm truyền bá một tín ngưỡng bị cho là gây nguy hại cho xã hội và triều đình, tuyệt đối không cấm tất cả mọi tôn giáo hoạt động, cũng không chủ trương tiêu diệt ý thức về tôn giáo nơi con người.

Ngược lại, chủ thể của việc cấm đạo ngày nay là đảng CS vô thần. Đảng này được xây dựng trên nền tảng triết học duy vật biện chứng. Triết thuyết này chối bỏ Thượng Đế và mọi thần linh, cũng không thừa nhận bất cứ một ý thức tôn giáo nào. Lý thuyết này đúng ra đã có từ lâu đời, đến nay Marx hệ thống lại, được Lenin triển khai thực hành và biến nó thành vũ khí chính trị để đấu tranh dành chánh quyền. hãy nghe những ông tổ CS này nói về tôn giáo. Marx: “Tôn giáo là thuốc phiện của loài người”. Và Lenin: “Hàng triệu hành động bẩn thỉu nhất, hành vi bạo tàn nhất, bệnh truyền nhiễm nguy hiểm nhất vẫn không nguy hiểm bằng những ý niệm về thần linh, về thượng đế được bao che bằng cái áo lý tưởng khôn ngoan nhất”.

2. NGUYÊN NHÂN

Như thế cho thấy việc cấm đạo của CS là một giáo điều nằm trong một học thuyết phi tôn giáo, phủ nhận mọi tín ngưỡng, chối bỏ mọi niềm tin vào thần linh, coi tôn giáo là kẻ thù cần phải tiêu diệt. Điều đó giải thích tại sao CS ngăn cấm và tìm cách tiêu diệt mọi tôn giáo chứ không trừ ra một tôn giáo nào.

Còn về việc cấm đạo của các vua chúa thời phong kiến tại nước ta, có hai lý do để giải thích. Một là vì cho rằng đạo công giáo là một thứ tà đạo ngoại nhập xúi dục và mê hoặc người dân trong nước làm những điều trái với luân thường đạo lý, với phong tục tập quán lâu đời của người dân, với nếp sống văn hóa của xã hội. Hai là vì nghi ngờ các giáo sĩ truyền giáo là những người thực dân cướp nước, đe dọa đến quyền hành của triều đình, và giáo dân đều là những kẻ dốt nát đã bị thực dân mê hoặc.

 

Tính ra, có khoảng 130 ngàn tín hữu đã hy sinh mạng sống vì Đức Tin của mình.  Hình trên:  Một số hình vẽ về Tử Vì Đạo của giáo dân Công Giáo Việt Nam dưới các trào vua nhà Nguyễn. 

3. ĐƯỜNG LỐI

Đường lối cấm đạo dưới các triều Minh-Mạng, Thiệu-Trị, và Tư-Đức nhà Nguyễn, và một số các ông Chúa thời phân tranh nói chung rất tàn bạo. Đường lối này dẫn đến việc xử dụng các biện pháp tàn ác và quyết liệt như chặt đầu, giam cầm, đầy ải, tịch thu tài sản, phân sáp v.v. Triều đình ra nghiêm lệnh cấm truyền bá đạo. Các chỉ dụ đều ghi rõ giết hoặc thích chữ “Tả đạo” vào mặt, và bắt đi lưu đầy những ai không tuân lệnh của triều đình, phân sáp các làng công giáo. Thánh đường bị triệt hạ. Tài sản bị tịch thu v.v.

Việc cấm đạo cũng giống như một trận bão lớn thổi ngang qua một cánh rừng. Mưa gío ào ào lướt tới. Có cây đổ. Cây gẫy cành. Lá rụng tơi tả. Cả khu rừng cúi rạp mình xuống để chịu đựng khi cơn bão đổ tới. Nhưng khi trận bão đi qua, dưới ánh mặt trời quang đãng, khu rừng lại vươn mình trỗi dậy. Sức sống xem chừng còn tràn đầy hơn trước. Trận bão chỉ là một hiện tượng vật lý xẩy ra trong thời gian ngắn, đơn vị đếm được là ngày. Sự thiệt hại của khu rừng nhiều ít tùy theo sức gío, và lượng mưa. Trận bão đi qua không hề để lại thiệt hại về sinh thái cho khu rừng.

Bằng biện pháp tàn sát như đã thấy, việc cấm đạo của các vua chúa tất nhiên gây nên rất nhiều thiệt hại. Thiệt hại về tài sản, nhất là thiệt hại về sinh mạng. Sự thiệt hại về nhân mạng theo sách vở ước lượng là 130.000 (Lm Bùi đức Sinh OP. Lịch sử GHCG, trang 392). Nhưng khi việc cấm cách qua đi đến đâu, GH vươn mình sống dậy mạnh mẽ và tươi tốt đến đó. Với lề lối cai trị của thời phong kiến, triều đình tưởng chỉ cần ban bố vài ba cái Đạo hoặc Chỉ Dụ là giải quyết xong được vấn đề. Chịu đựng những biện pháp tàn ác như thế, nhưng lịch sử cho thấy, càng bị đàn áp, GH thời đó càng kiên trì sống đạo, cộng đồng giáo dân càng đoàn kết, giáo lý càng trong sáng. Đó là điểm cần lưu ý.

Ngày nay, trong nỗ lực tiêu diệt các tôn giáo, VC áp dụng đường lối hoàn toàn khác các vua chúa xưa kia, theo đúng đặc tính lưu manh, xảo trá và quỉ quyệt của chế độ. Hồi ký của một điệp viên CS Liên Sô được đặt tên là Michael đã len lỏi lên tới hàng ngũ cao cấp trong GHCG viết: “I would particularly never lose sight of the fact that persecutions only make martyrs of whom Catholics have reason to say that they are seeds of Christianity. Therefore, no martyrs.” (AA 1025, The Memoirs of an Anti-Apostle). Xin tạm dịch: Trích từ cuốn AA 1025, Hồi ký của một tên phản đồ: “Đặc biệt không bao giờ tôi quên để tâm tới sự thể là khủng bố chỉ tạo ra người tử đạo mà các tín hữu đều có lý do nói rằng máu tử đạo là hạt giống làm triển nở GH. Do đó, không để có tử đạo được”.

Đường lối khác nên biện pháp áp dụng cũng có khác. Trước hết có thể khẳng định rằng dưới chế độ CS vô thần không có luật pháp nào minh thị cấm đạo cả. Hiến Pháp VC hiện hành điều 70 không cấm mà còn minh nhiên cho phép công dân có quyền tự do tín ngưỡng hoặc không tín ngưỡng. Chính cái quyền tự do tín ngưỡng hữu danh vô thực này đã đẻ ra đủ mọi thủ thuật đàn áp rất tinh vi và xảo trá. Chỉ nhìn bề ngoài, người quan sát thấy nhân dân Việt – Nam hầu như có hoàn toàn quyền tự do tôn giáo. Phải tìm hiểu cho thật cặn kẽ mọi khía cạnh thì mới biết rõ được vấn đề. Chẳng hạn Hiến Pháp công nhận quyền tự do tôn giáo, nhưng đủ thứ luật lệ như Sắc Lệnh (đạo luật), nghị định, qui định v.v. về tôn giáo của đủ mọi cấp chánh quyền và đoàn thể lại tìm cách trói buộc, hạn chế hoặc cấm cản. Rất ít giết chóc công khai, nhưng ngấm ngầm thủ tiêu thì không ít. Không có ai bị bắt bớ tù đầy vì lý do tôn giáo, nhưng áp dụng quản chế trên hầu hết mọi giáo sĩ. Những giáo sĩ bị nghi ngờ là nguy hiểm đối với chế độ bị bắt giữ không xét xử toàn là vì những tội danh bịa đặt. Cấm các tôn giáo in ấn sách đạo, nhưng nhà nước độc quyền in ra sau khi đã sửa đổi nội dung cho phù hợp với chủ trương của đảng, rồi bán ra cho các tín đồ đọc. Cho chiêu sinh vào các chủng viện nhưng nhà nước toàn quyền tuyển chọn ứng viên. Tóm lại, những biện pháp này và muôn ngàn biện pháp tinh vi và ma giáo khác được CS xử dụng cốt để biến đổi bản tính các tôn giáo thành một thứ tôn giáo vụ vào hình thức làm công cụ cho chế độ. Trong khoa học, người ta có thể biến hướng dòng chẩy của một con sông theo ý muốn của con người để làm lợi cho kinh tế. Chánh sách tôn giáo của CSVN ngày nay cũng thế, biết không thể tiêu diệt nổi các tôn giáo, CS lèo lái các giáo hội đi theo con đường chúng vạch ra để phục vụ cho chế độ.

NHỮNG THIỆT HẠI DO CS CẤM ĐẠO GÂY RA

Phương pháp cấm đạo mới mẻ này tất nhiên gây nên rất nhiều thiệt hại cho các giáo hội, đặc biệt là GHCG. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chỉ nêu và dẫn chứng GHCG làm điển hình. Các giáo hội khác thiết tưởng không nhiều thì ít cũng đều chịu chung số phận như thế cả.

Có nhiều hình thức thiệt hại khác nhau, nhưng có thể xếp gom lại trong ba lãnh vực sau: sinh hoạt, giáo lý, và lãnh đạo. Những thiệt hại trong lãnh vực sinh hoạt có thể gọi là dạng ngắn hạn, vì dạng này có thể phục hoạt trở lại chỉ trong thời gian ngắn khi có điều kiện. Trái lại, những thiệt hại trên hai lãnh vực giáo lý và lãnh đạo được xếp vào dạng dài hạn, vì đó là những di hại có thể nói là truyền đời, không thể phục hồi trong một vài tháng, một vài năm, thậm chí một vài chục năm.

Sau đây chúng ta xem xét về những thiệt hại đó trên từng lãnh vực.

1. SINH HOẠT

Các sinh hoạt của GHCG được xét đến qua 2 khía cạnh: phương tiện và các hoạt động của GH.

Phương tiện bao gồm các cơ sở vật chất như thánh đường, nguyện đường, tu viện, trường học, bệnh viện, các cơ sở ấn loát, từ thiện, xã hội như cô nhi viện, nhà dưỡng lão, câu lạc bộ sinh viên v.v. đất đai và các tài sản khác.

Hoạt động của GH ngoài phụng vụ, còn trải rộng trên các lãnh vực y tế, giáo dục và xã hội. Cả hai mặt hoạt động và phương tiện trong vấn đề sinh hoạt của GH liên hệ cơ hữu với nhau, vì không có phương tiện thì dĩ nhiên là không thể hoạt động hữu hiệu được. Do đó ngay khi vừa lên nắm quyền, VC đầu tiên nghĩ ngay đến chuyện cắt đứt hết mọi phương tiện sinh hoạt của GH. Chỉ trừ một số thánh đường, còn tất cả đều bị tịch thu trắng trợn, hoặc huê dạng dưới hình thức “tự nguyện” hiến tặng.

Cho đến nay, tất cả những cơ sở của GH bị CS tịch thu đều coi như mất đứt luôn. Nghĩa là không hoàn trả, cũng không hy vọng đòi lại được. Hơn thế VC còn muốn cướp luôn những gì GH còn may mắn giữ lại, như đất dòng Thiên An ở Huế, đất Thánh địa La Vang ở Quảng Trị, đất nhà chung bên cạnh nhà thờ chánh tòa Hanoi v.v.. Mới đây nghe nói VC trả lại cơ sở trước kia gọi là câu lạc bộ (CLB) Phục Hưng tại Saigon cho dòng Đaminh. Chuyện nghe có vẻ hi hữu đấy, nhưng nó cũng có lý do của nó. CLB này trước kia là tài sản của dòng Đaminh chi Lyon , Pháp. Hồi đó dòng Đaminh tại VN thuộc hai chi nhánh riêng biệt là Lyon, Pháp, và Manilla , Philippines . Bây giờ cả hai nhánh hợp nhất thành một và trong dòng có hai linh mục quốc doanh thứ gộc là Thiện Cẩm và Đinh Châu Trân.

Chiếm rồi trả lại đất đai của Giáo hội Công Giáo trong vụ Thánh địa La-Vang để đổi lấy bài phát biểu dạy dỗ, tuyên truyền cho chính sách”Tự Do Tôn Giáo” tại Việt Nam. Một nước cờ cao của đảng ta. Hình dưới:  Phó thủ tướng nhà nước Nguyễn Thiện Nhân đang lúng túng đứng ngồi đều…rất ngượng khi tham dự Lễ Hội La Vang năm rồi.

VC trả CLB này lại cho nhà dòng chẳng phải có ý tốt lành gì. Chúng trả cơ sở này lại cho dòng Đaminh, nhưng thực tế là giao cho quí ngài quốc doanh Thiện Cẩm quản lý để ông có phương tiện hoạt động hầu “nắm đầu” sinh viên cho chúng, vì cơ sở này là một câu lạc bộ sinh viên. Sự việc là thế.

Chuyện ngược đời hiện nay là các cơ sở khác thì VC chiếm không nhả ra, nhưng các thánh đường thì tại một số nơi, chúng còn thiếu điều năn nỉ giáo dân lấy lại dùm nữa mới lạ. Chuyện nữa khó tin nhưng có thật là VC còn ngấm ngầm thúc đẩy giáo dân trùng tu các thánh đường đã cũ nát, và xây cất mới càng nhiều càng tốt và càng nguy nga đồ sộ càng hay. Đây là chánh sách diệt CG hết sức tinh vi của CSVN.

Chánh sách này, theo tiết lộ của tên Hai Cẩn, bí thư huyện ủy Gò Vấp trước đây có 5 tác dụng:

a/ GH kiếm dollar từ nước ngoài về cho nhà nước.
b/ Thúc đẩy kinh tế phát triển qua ngành xây cất.
c/ Tạo công ăn việc làm cho công nhân.
d/ Làm cho giáo dân nghèo đi và cơ cực hơn vì phải đóng góp công sức và tiền bạc, từ đó tạo bất mãn giữa giáo dân và chủ chăn, đồng thời còn một tác dụng nữa là gây ý thức đố kỵ với các tôn giáo khác trong nước.
e/ Sau cùng và quan trọng nhất là phô trương chánh sách tự do tôn giáo bịp của nhà nước CS.

Do sự thả lỏng và khuyến khích ngầm của CS, hiện nay tại VN, chuyện xây mới và trùng tu nhà thờ đang nở rộ như một phong trào. Nhiều giáo dân có máu trào phúng đã ví nó như phong trào “nuôi cút” ngày xưa. Nhiều nhà thờ hãy còn xử dụng tốt phải đập đi xây mới lại cho kịp với phong trào. Có linh mục gởi thơ sang Mỹ quyên tiền kèm tấm card mầu có hình linh mục cùng với 7 ngôi nhà thờ cha đã xây. Nay ngài xin giúp đỡ để xây thêm ngôi thánh đường thứ 8. GH cũng đã nhận thấy tình trạng phi lý này.

Chính đức hồng y Phạm Minh Mẫn khi đến khánh thành thánh đường giáo xứ Hanoi tại Xóm Mới, Gò Vấp đã kín đáo khuyên các linh mục của ngài như sau: “Các cha đừng làm nhà thờ như những tay cua rơ xe đạp”. Chỉ một lời khuyên nhẹ nhàng thôi không có tác dụng. Tình trạng vẫn lan tràn khắp nơi, và hiện nay người ta vẫn thấy các linh mục VN ào ào đổ ra ngoại quốc quyên góp tiền bạc về xây nhà thờ.

Nhìn vào tình hình xây nhà thờ chúng ta thấy rõ ràng là khi điều kiện cho phép thì những thiệt hại về vật chất có thể khôi phục lại một cách rất mau chóng. Nhưng ở đây sự khôi phục qúa đà đã trở nên tai hại và mang những hậu quả không lường được về niềm tin của người ngoài đối với GH và về lối sống của nhiều linh mục.

GHCG vốn tự hào là GH của người nghèo. Các ngôi thánh đường qúa nguy nga tráng lệ trong bối cảnh và cuộc sống hôm nay của người dân trong nước có phản ảnh đúng niềm tự hào đó không, hay tự chúng đã trở thành phản chứng của Tin Mừng mất rồi? Trong một khu vực dân cư nghèo nàn, nơi quần tụ của đủ mặt các tôn giáo khác nhau mà chùa chiền thì đổ nát hoang sơ, thánh thất rêu phong dột bấy, giảng đường (Hòa Hảo) tiêu điều vắng vẻ, GH có nên xây cất lên một ngôi thánh đường qúa bề thế tại đó không?

Gỉa dụ cho vui, đôi khi Đức Phật, Đức Thầy, hoặc Thiên Nhãn ở quanh đấy muốn ghé thăm Chúa, liệu các vị khách có cảm thấy rụt rè e ngại khi bước vào mà thấy nhà Chúa qúa lớn, qúa sang không? Từ đó nẩy sinh thắc mắc là ngôi thánh đường nguy nga kia với những lễ lạt đông đúc sầm uất trong bối cảnh và thực trạng của khu vực có thật sự làm vinh danh Chúa, hay đã làm Chúa phải mất mặt trước các vị khách quí nói trên, vì chính họ đã từng nghe Ngài dậy dỗ môn đệ của Ngài rằng: “Phúc cho kẻ sống khó nghèo vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3). Đã từ lâu lắm rồi, người dân VN mang ấn tượng rằng đạo Chúa là một tôn giáo giầu có và quyền quí nên có câu tục ngữ “đi đạo lấy gạo mà ăn”. Cái ấn tượng thật tai hại mà không biết có ai chịu để tâm và suy nghĩ không?

Phong trào thi đua xây nhà thờ khả dĩ còn gây nên sự nghi ngờ nơi giáo dân về tinh thần đạo đức và tính ngay thẳng của các linh mục. Thật vậy, khi một vị linh mục ra ngoại quốc xin tiền xây nhà thờ, giáo dân tại hải ngoại ào ào đưa tiền trao vào tay cha. Dĩ nhiên họ trao ra cho mục đích xây nhà thờ nên đồng tiền này đã trở thành tài sản chung, của thánh. Nếu tiền này được dốc hết ra để xây nhà thờ thì đó là điều tốt. Nhưng việc tốt phỏng có được bao nhiêu! Thực tế không thiếu trường hợp các linh mục nghĩ rằng tiền người ta cho là cho cha nên cha có quyền xài thế nào tùy ý cha. Dĩ nhiên cha xây nhà thờ, nhưng cũng đổ vào các việc tư riêng của cha không ít. Phải xây nhà xứ tương xứng cho cha xứ ở, phải trang trí, sắm tiện nghi cho nhà xứ, và có khi còn phải tậu xế 4 bánh để cha có phương tiện đi lại. Rất có thể còn những nhu cầu thầm kín khác nữa, ai mà biết được. Với một cơ ngươi bề thế cùng những phương tiện và tiện nghi hiện đại của lối sống văn minh ngày nay, ông cha xứ sống giữa đám bổn đạo nghèo xơ xác tự nhiên mang hình ảnh một tên lãnh chúa quyền uy thời nô lệ từ lúc nào mà chính cha cũng không hay.

Chuyện xoay xở tiền bạc để làm nhà thờ đối với một số linh mục quan trọng đến độ còn hơn việc chăm sóc phần hồn cho bổn đạo. Có vị đã nằm lỳ ở bên Mỹ này hàng nửa năm trời kiếm cho đủ chỉ tiêu mới chịu về. Có vị bị con chiên “việt kiều” lừa vào tròng. Lũ con chiên lưu manh dỗ ngọt ông cha đổi tiền mặt ra check để cầm về cho dễ. Khi nhận check cha còn đứng cho tờ báo đạo của chúng chụp hình. Tờ báo này bay về VN trước ông cha. Khi cha bước chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất, công An khám xét tịch thu tấm check, giơ ra tờ báo chứng minh ông cha nhận tiền của CIA để hoạt động chống nhà nước. Rất may là cha chỉ mất tiền, không bị đưa ra tòa về tội làm gián điệp. Con chiên bổn đạo thương an ủi cha xứ của mình “mất của nhưng còn người là may rồi”.

2. GIÁO LÝ

Có thể có bạn đọc nghi ngờ và thắc mắc làm sao việc CS cấm đạo lại di hại đến giáo lý của tôn giáo. Vấn đề này có thật và còn rất tai hại nữa. Mitrokhin, một trùm tình báo KGB đã tiết lộ trong một báo cáo về tình hình tôn giáo năm 1961: “Chúng ta phải gài người của chúng ta vào hàng ngũ các chủng sinh để về sau họ sẽ gây ảnh hưởng lên các hoạt động của giáo hội Chính Thống Nga. Họ sẽ là nhân viên của chúng ta ảnh hưởng đến các tín đồ”.

Như trên chúng tôi đã viết, ngày xưa vua chúa cấm đạo nhưng không tiêu diệt ý thức về tôn giáo. Cho đến khi Marx đưa ra chủ nghĩa CS, ông mới nêu vấn đề tận diệt nơi con người ý thức về Thượng Đế. Các chế độ CS từ Liên Sô cho đến VN đều rắp tâm thực hành kinh điển của Marx. Thế nhưng cho đến nay, CS mới khám phá ra rằng chúng đã hoàn toàn thất bại trong việc tiêu diệt nơi con người lòng tin vào Thượng Đế. Nhưng chúng đã tìm ra được một đường lối khác thay thế. Đường lối đó là không tiêu diệt được tôn giáo thì thay đổi nó để sai khiến nó. Vấn đề này đòi hỏi thời gian và bắt đầu từ việc thay đổi giáo lý nền tảng của tôn giáo.

Giáo lý của đạo Chúa nằm trong Thánh Kinh, giáo huấn của các Công Đồng, các giáo phụ, tông huấn của các giáo hoàng v.v. Tất cả đều được viết bàng ngoại ngữ. GHVN để có sách dùng nên phải dịch sang tiếng Viet cho thông dụng. Các bản dịch xưa văn chương qúa cổ, nên ngày nay các sách đã được dịch lại cho thích hợp hơn. Dịch lại thì dễ rồi vì GH không thiếu nhân sự. Nhưng còn in? Đây là hai khía cạnh của vấn đề mà chúng ta đang bàn đến.

Trước hết xin nói về người dịch.

Hiện nay tại tổng giáo phận Saigon có một ban tu thư dịch thuật gồm linh mục, nữ tu, và giáo dân. Họ vào khoảng vài chục người. Trên những sách quan trọng như Kinh Thánh, sách lễ, chúng ta thấy có để tên các dịch gỉa này. Có lẽ vì khiêm tốn, tên tuổi của quí vị không thấy kèm theo danh hiệu, bằng cấp hoặc chức vụ. Tuy nhiên họ hẳn là phải thuộc hàng “elite” mới đủ khả năng làm công việc đó. Trong số các dịch giả có một nhân vật mà tiếng tăm thì có thể không một giáo dân nào không biết tới. Đó là cha Thiện Cẩm. Ông là một linh mục quốc doanh loại gộc.

Trong hệ thống linh mục chính ủy hiện nay, Thiện Cẩm chỉ đứng sau nhóm “Tứ nhân bang” Minh-Cần-Từ-Bích. Thử nghe Lm Thiện Cẩm nói về tự do tôn giáo tại VN: “Thực tế là chúng tôi không hề còn một mảy may nghi ngờ nào đối với chính sách của đảng và nhà nước về tôn giáo. Chính sách ấy trước sau như một là tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo”.

Ngoài ra, người viết còn biết được 2 nhân vật khác. Một vị là linh mục rất hăng say trong nhóm biểu tình đòi trục xuất đức khâm sứ Henry Le Maitre và hạ bệ đức cha Nguyễn Văn Thuận, TGM phó giáo phận Saigon . Vị này đã chết. Một người khác nữa là một giáo dân trước kia hoạt động trong nhóm “Sống Đạo” tại Saigon . Ông trốn động viên Thủ Đức, chui vào làm lính trơn tại một đơn vị tham mưu trong quân đội. Sự có mặt của các nhân vật nêu trên (và rất có thể còn nhiều người khác nữa trong ban dịch thuật) không thể nào không khiến cho người ta nghi ngờ có bàn tay CS dính vào công tác phiên dịch này. Từ đó dặt ra vấn đề trung thực của các bản dịch, mặc dù các sách này đã có phép “imprimatur” (được phép in) của đức TGM Phạm Minh Mẫn và viện phụ Phước Sơn Vương Đình Lâm.

Ngoài những bộ sách quan trọng có ghi tên dịch gỉa, còn là không thiếu những sách kém quan trọng khác được dịch chui, nghĩa là không để tên người dịch trên sách. Tất cả những sách dịch chui hay không chui đều được in tại các nhà in quốc doanh và bán hầu như công khai trong nước.

Như vậy lại phải bàn đến vấn đề in ấn.

Ai cũng biết CS nắm trong tay mọi cơ sở ấn loát. Do đó nhiều người ở ngoài này cứ tưởng rằng giáo dân trong nước không có sách đạo để đọc. Nghĩ thế là lầm to. Trái lại, giáo dân trong nước bây giờ không thiếu bất cứ một loại sách đạo nào, từ Kinh Thánh đến các sách truyện. Không những thế, sách đạo trong nước còn thấy xuất khẩu sang Mỹ do đồng bào về thăm nhà mang ra. Sự kiện trong nước không thiếu thốn sách đạo thật sự là một hiện tượng ngược đời và lạ lùng ít có người ngờ và hiểu nổi, buộc lòng những người quan tâm đến vấn đề tự do tôn giáo đặt ra hàng loạt thắc mắc về người dịch, người in, và sự trung thực của các bản dịch.

Chuyện khá lý thú là CS cấm phổ biến sách báo đạo, nhưng chúng lại công khai in sách đạo cho GHCG. Nói thế có nghĩa là tất cả mọi sách vở của GH hiện nay đều được in từ cơ sở ấn loát của nhà nước CS. Đúng vậy. Một số sách có ghi cơ sở ấn loát đàng hoàng. Cuốn Kinh Thánh Trọn Bộ được in tại Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, 62 Nguyễn Thị Minh Khai, Q1. Cuốn Lời Chúa Trong Thánh Lễ, tức sách lễ, in tại Nhà Xuất Bản Tôn Giáo, 10 Chu Văn An, Hanoi . Một số không ghi cơ sở ấn loát nhưng được ngụy trang qua dòng chú thích trang đầu sách, chẳng hạn “Tài liệu học tập tư” v.v..

Câu hỏi được đặt ra là những sách này khi đem đến in có bị công an văn hóa kiểm duyệt không? Câu trả lời chắc chắn một trăm phầm trăm là CÓ. Một chứng minh cụ thể là trong cuốn Mẹ Đến Lần Cuối trang 38 bị kiểm duyệt “bỏ” với ghi chú ở cuối trang dòng chữ “Bỏ đi vài đoạn không cần thiết. Chúng tôi đánh dấu bằng (…..)”. Câu văn trước đoạn phải bỏ do kiểm duyệt viết: “Tin đồn lan đi nhanh như thuốc súng khắp vùng ấy và xa hơn. Công an cảm thấy lúng túng”. Sự thể được hiểu là công an CS Nam Tư đã thất bại trong việc ngăn chận tin đồn về chuyện Đức Mẹ hiện ra (chú thích của người viết). Ngoài ra điều hiển nhiên không cần chứng minh là trong chế độ CS, không thể có bất cứ một ấn loát phẩm nào mà không bị kiểm duyệt. Sách đạo càng không có điều kiện miễn trừ hơn. Đối với bọn CS tham lam thì không gì chúng không dám làm, miễn là có tiền. Tuy nhiên có tiền thì có tiền, nhưng đừng hòng chúng lơ là vấn đề trị an của chế độ.

Một thắc mắc khác nữa về sự trung thực trong nội dung của các sách dịch măc dầu như trên vừa nói đã được phép Imprimatur của các đấng bản quyền. Tuy hai cuốn sách lễ và Kinh Thánh không thấy có vết tích rõ ràng về kiểm duyệt, nhưng chuyện dịch khác đi một số chữ hoặc câu trong đó đã được nhiều bậc cao minh ở hải ngoại đặt ra trên báo hoặc trên internet. Ngoài những trường hợp đã được nêu lên, người viết xin đưa ra nhận xét về hai trường hợp khác: một trong Kinh Thánh và một trong sách Lễ. Trong Kinh Thánh, người dịch dùng chữ “Đức Giêsu” thay vì “Chúa Giêsu”, và câu trong Thánh Lễ “Chính nhờ Đức Kito, cùng với Đức Kito, và trong Đức Kito” thay vì “Chính nhờ Người, với Người và trong Người”.

Văn từ đọc trong Thánh Lễ, tất cả mọi ngôn ngữ đều giống nhau. Câu tiếng Mỹ là “Through Him, with Him, and in Him” thì tiếng VN phải là “Chính nhờ Người, với Người, và trong Người”, chứ không thể dịch là “Chính nhờ Đức Kito, cùng với Đức Kito, và trong Đức Kito” được. Lý do khiến người ta dịch khác đi, theo một số linh mục trong nước ra cho biết, là vì có chữ NGƯỜI viết hoa trong câu. Chữ Người dùng ở đây theo văn phạm VN là đại danh từ (pronoun). Ở trong nước, chữ này viết hoa chỉ được dùng để nói về Hồ Chí Minh mà thôi. Dùng chữ Người viết hoa trong bất cứ trường hợp nào cũng là bất kính đối với lãnh tụ và có thể bị trừng phạt. Nhà thơ Trần Dần của miền Bắc đã đi tù gần suốt cuộc đời vì hai câu thơ ông viết:

“Xưa nay Người vẫn chẳng tin Người
Người vẫn thường kinh hoàng trước tương lai”

Có thể các dịch gỉa trong ban dịch thuật của giáo phận đã thấy được cái gương Trần Dần trước mắt nên cho rằng Chúa Giêsu dù là Đấng Quyền Năng nhưng đây là Việt Nam, ai quyền năng hơn “bác hồ” của họ đây?

Cố tình dịch sai như trên chưa phải là chuyện quan trọng vì câu dịch không sai về ý nghĩa mà chỉ sai về hình thức. Còn trường hợp dịch chữ “Đức Giêsu” thay chữ “Chúa Giêsu” xem ra có dụng ý lớn chứ không phải vừa. Thật vậy, VN vốn là một dân tộc tôn ti trọng đạo, vì thế ngôn ngữ VN cho thấy cách dùng tiếng xưng hô rất quan trọng. Chữ chúa trong danh từ kép “vua chúa” mang ý nghĩa khác với chữ Chúa trong lối dùng để nói về Thượng Đế. Người tín hữu nói Chúa Giêsu để chỉ Ngài là Ngôi Hai Thiên Chúa. Nói “Đức Giêsu” là đã hạ Chúa xuống trình độ con người tạo vật chứ không còn phải là Thiên Chúa sáng tạo nữa. Khi nói Đức Giêsu, đức giám mục, đức ông, đức bà v.v. thì có gì khác nhau? Khi CS không tiêu diệt được đức tin của người CG, chúng dụng tâm hạ bệ Chúa xuống ngang tầm vóc con người, và biến Thiên Chúa Cứu Thế thành một lãnh tụ vô sản cũng giống như Lenin, Che Guevara, Hồ Chí Minh v.v.. CS đã dùng các linh mục theo thần học giải phóng tại các quốc gia Mỹ Châu La tinh rao giảng Chúa Giêsu là một lãnh tụ cách mạng vô sản xuống thế để giải phóng các dân tộc bị nô lệ. Hiện nay các linh mục quốc doanh VN cũng đang tiếp tục công tác đó.

Lm Trương Bá Cần viết trong Công Giáo Và Dân Tộc: “Ý định của Thiên Chúa đã bắt đầu được thực hiện trên đất nước VN nhờ công lao của Hồ Chủ Tịch. Nếu Hồ Chủ Tịch muốn vào nước trời, Người (viết hoa, ghi chú của người viết) sẽ vào trước hơn ai hết”. Theo cha Trương Bá Cần thì có thể kết luận là nếu Hồ Chí Minh có khả năng tự mình ra vào nước trời tùy tiện theo ý hắn, không cần ơn Thiên Chúa thì quả thật hắn có đủ năng quyền như Thiên Chúa và là Thiên Chúa rồi. Rõ ràng Lm quốc doanh Trương Bá Cần đã nâng ‘bác Hồ” của ông lên ngang bằng Thiên Chúa. Dịch Kinh Thánh gọi Chúa Giêsu là Đức Giêsu quả là một âm mưu thâm sâu khó lường.

Giáo dân VN kể cả không ít trong hàng chủ chăn xưa nay xem ra coi thường vấn đề chữ nghĩa này. Cũng không có gì lạ, bởi vì đa số chỉ là đàn cừu Panurge. Có sách là đọc, thấy kinh là tụng, không cần hiểu ý nghĩa gì trong kinh trong sách. Ngay cho đến bây giờ khi Công Đồng Vatican II đã kết thúc cả gần nửa thế kỷ, tại các nhà thờ VN, mỗi sáng chúa nhật người ta vẫn còn nghe rang rang câu kinh “những kẻ chẳng thông công cùng hội thánh ấy thì chẳng được rỗi linh hồn”. Nếu đúng như lời kinh dậy thì các thánh Gioan Tiền Hô, Gioakim, Anna (thân phụ và thân mẫu Đức Mẹ) chắc đã sa hỏa ngục hết, vì các ngài chết trước khi Hội Thánh Chúa được thiết lập trên trần gian. Đấy là chưa nói đến những người tuy không phải CG nhưng lương tri của họ luôn tin có một đấng Tạo Hóa tối cao, suốt đời ăn ngay ở lành, làm việc thiện. Không lẽ họ cũng sa hỏa ngục hết. Chúa Giêsu nói với người đàn bà bị băng huyết khi bà này sờ vào tua áo của Ngài: “Này con, cứ an tâm, lòng tin của con đã cứu chữa con” (Mt 9,22). Một lời kinh sai giáo lý tụng hàng thế kỷ nay vẫn còn tụng thì thử hỏi những câu, những chữ trong Kinh Thánh hoặc trong sách giáo lý bị cố tình dịch sai đi với dụng ý, ai hơi đâu để ý tìm tòi mà sửa. Cái di hại lâu dài là ở chỗ đó.

Một số hình ảnh giáo dân đi dự lễ hội La Vang trong năm 2010.

 


 

 

 

3. LÃNH ĐẠO

Không phải đến nay CSVN mới có sáng kiến cấy người vào các giáo hội để lũng đoạn và sai khiến. Ngay từ hồi còn mồ ma Liên Sô, CS Nga đã làm việc này rồi. Trong một báo cáo hàng năm 1962, viên phụ tá giám đốc mật vụ KGB Grimakov viết: “KGB đã thành công trong việc cho xâm nhập các điệp viên giỏi và có khả năng vào nắm giữ các chức vụ cao cấp trong GH Chính Thống Giáo tại Moscow và các giáo phận công giáo cũng như giáo hội Armenian Gregorian. Với những điệp viên này, khẳng định đảng sẽ loại trừ được bọn tu sĩ và các giáo hội phản động ra khỏi vị trí đương thời của chúng”.

CSVN, tên đầy tớ thông minh của Moscow , học và áp dụng sách này ngay từ thời chúng chưa về Hànội. Chúng đã đào tạo những Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần v.v. từ lúc họ còn học tại Pháp. Những ông này hiện nay là nòng cốt của một giáo hội trong một giáo hội. Hàng ngũ giáo sĩ quốc doanh của CSVN càng ngày càng gia tăng về con số. Phương pháp nắm các giáo phận của CSVN không khác gì lối chăn cừu của người Âu Châu. Người chủ trại chỉ cần xử dụng dăm ba con chó săn là có thể yên tâm thả đàn cừu hàng ngàn con ra đồng cỏ. Mỗi giáo phận VN, CS cũng chỉ cần cài vài ba ông quốc doanh vào nắm giữ những chức vụ then chốt là đâu vào đấy ngay.

Đồng thời với đường lối cài đặt người, CS còn khôn khéo xử dụng tuyệt hảo chính sách “cây gậy và củ cà rốt” chẳng thua gì Hoa Kỳ. Cây gậy luôn để trên người, nếu ngoan ngoãn nghe lời thì sẽ được ăn. Củ cà rốt hấp dẫn nhất hiện nay đối với nhiều vị lãnh đạo GH là được đi ngoại quốc để xin tiền. Đừng tưởng các ngài đi là không có sứ mạng. Nhẹ nhàng lắm. Sứ mạng trọng đại nhất khi đi ra ngoại quốc là giữ im lặng về các vấn đề ở trong nước. Một linh mục giáo phận Phú Cường sang đây đã nói với người viết: “Tôi nói vậy nhưng ông đừng có đưa lên báo chí nhá. Lúc đi chúng nó đã dặn kỹ là không được tuyên bố tuyên mẹ hay nói năng gì ….” Chỉ cần có thế, dễ ợt mà. Ra đến ngoài, các ngài chỉ cần im lặng ngửa tay xin tiền và lên tòa giảng nói dăm ba câu vô thưởng vô phạt khuyên con chiên bổn đạo yêu thương, tha thứ thì đã được kể là hoàn thành xuất sắc sứ mạng rồi.

Trong suốt một thời gian dài kể từ ngày Đặng Tiểu Bình đề ra chính sách “bất kể mèo đen mèo trắng”, Trung Cộng khuyến khích và dễ dãi cho phép người dân lục địa qua Mỹ thăm thân nhân của họ tại San Francisco. Những người dân Trung Hoa bình thường khi ra đi, họ không biết tuyên truyền là gì, và họ cũng chẳng tuyên truyền cho ai. Thế nhưng với đường lối này, Trung Cộng ngày nay đã thành công trong việc chiếm được của Đài Loan khu Chinatown San Francisco mầu mỡ. Các giám mục, linh mục VN được đi Mỹ thỏai mái. VC không cần các ngài tuyên truyền. Sự hiện diện của các ngài tại Mỹ tự nó đã là tuyên truyền rồi. Người tỵ nạn VN bắt đầu lo sợ ngày nay là Chinatown San Francisco, rất có thể ngày mai sẽ là Phước-Lộc-Thọ Santa Anna.

Việc CS cài người vào hàng ngũ lãnh đạo của GHCG là một công tác trường kỳ. Lung lạc được lớp chủ chăn cao niên là chuyện khó, vì đầu óc các ngài đã có sạn. Vì thế CS quyết tâm dành quyền quyết định trong vấn đề tuyển chọn, đào tạo, và đặt để các linh mục. Mục đích là để nắm lớp lãnh đạo trẻ trong tương lai. Việc tuyển chọn, dĩ nhiên là CS đã có tiêu chuẩn để chọn người. Đào tạo mới là giai đoạn chủ yếu để sàng lọc. Có thể nói tiếng nói của cán bộ giảng huấn môn chính trị học trong chủng viện là tiếng nói quyết định trong việc chấp thuận cho một chủng sinh bước lên chức linh mục.

Trong chương trình đào tạo để trở thành linh mục, có hai môn học mang tính quyết định là triết học và lịch sử. Môn triết học trong đó có triết học Marxit, và môn lịch sử có lịch sử đảng CS. Chắc chắn trong các cuộc khảo nghiệm đều có đề tài về lý thuyết Marxit và lịch sử đảng CSVN. Nghe nói đã có một đề tài khảo thí như sau: “Đạo CG lấy bác ái làm đường lối truyền bá Phúc Âm. Người CS áp dụng đấu tranh giai cấp để bành trướng chủ nghĩa. 2000 năm rồi, GHCG mới thuyết phục được một tỷ người vào đạo. Còn chủ nghĩa CS chỉ trong vòng 50 năm đã chinh phục được một nửa thế giới. Vậy hãy so sánh xem đường lối nào hữu hiệu hơn, và anh chọn đường lối nảo?”

Bác ái và thù hận (đấu tranh giai cấp) là hai phạm trù đạo đức đối nghịch nhau, và là mấu chốt của sự phân biệt giữa CG va CS. Cái khó của người chủng sinh là phải chọn lựa giữa hai cái đối nghịch. Chỉ có thể nói “yes or no” mà thôi. Không có lựa chon thứ ba. Nếu chọn bác ái làm con đường thực hành chức linh mục sau này thì thí sinh đạp vỏ chuối là cái chắc. Còn nếu chọn đấu tranh giai cấp thì hẳn dễ dàng đủ điểm để được chấm đậu. Đây là cái bẫy CS cố tình giăng ra. Mục đích lùa các ứng viên linh mục vào cái thế phải bán linh hồn cho qủi dữ. Một linh mục cố nín thở qua sông đã chịu bán linh hồn cho CS rồi thì sau này còn có cái gì ông không dám bán nữa?

Còn một cách khác nữa CS cố tình dùng để làm hư hỏng một chủng sinh sắp bước lên chức linh mục. Đó là việc chạy chọt đút lót để được thông qua ở cửa ải tham nhũng. Có chuyện kể rằng một thầy sắp đến ngày chịu chức, mọi việc đã xong xuôi, chỉ còn chờ trên thị xã OK. Nhưng quan bí thư đòi 15 cây thì mới châu phê. Bà cố tương lai băn khoăn không biết phải giải quyết ra sao, bèn đưa sự việc lên trình đức giám mục. Đức cha nghe qua rồi giải quyết lẹ: “gia đình liệu đấy làm thế nào được thì làm”. Coi như đức giám mục đã bật đèn xanh. Thế là ít ngày sau bà cố tíu tít bầy tiệc mừng con làm linh mục. Phần đức cha có lẽ ngài đọc Phúc Âm hơi nhiều nên đã thuộc lòng cách giải quyết công việc một cách gọn nhẹ của trấn thủ Philato.

Trường hợp này, một linh mục chịu đấm ăn xôi bỏ tiền mua chức thánh thì tham vọng thăng quan tiến chức trong GH chắc phải còn cao. Với các linh mục cố đấm ăn xôi và nín thở qua sông này, GH trông chờ gì, và giáo dân được lợi ích gì nơi họ? Nếu chức linh mục hấp dẫn qúa đến nỗi bất chấp tất cả để được bước lên, thì chức giám mục và trên nữa còn hấp dẫn đến đâu. CS nó rất rành tâm lý và biết rất rõ tâm lý này của từng người. Chúng đào tạo và nắm được thành phần chủ chăn này là nắm được GH. Vấn đề hệ trọng này nếu không đề phòng và ngăn ngừa sẽ gây ra thiệt hại cho GH không biết đến bao giờ mới chấm dứt, ngay cả sau khi chế độ CS đã sụp đổ. Đành rằng “lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít”, nhưng nên suy nghĩ xem “qúi hồ tinh bất qúi hồ đa” có thể đỡ thiệt hại hơn không?

KẾT LUẬN

Việc cấm đạo qua các thời khác nhau phát sinh cách đối phó khác nhau. Cách đối phó khác nhau đưa đến những kết quả khác nhau. Thật vậy, thời vua chúa cấm đạo, biện pháp thật gắt gao và tàn nhẫn, GH chỉ còn cách trốn tránh hoặc chết. Nhưng càng phải trốn tránh giáo dân càng nung nấu tinh thần sống đạo kiên trung. Và càng chém giết càng đưa đến những cái chết anh hùng làm vinh danh GH.

Ngày nay cấm đạo, CS dùng giây thòng lọng để xiết cổ GH cho nghẹt thở thôi chứ không chém giết. Phương pháp đàn áp đặc biệt này HY Phạm Minh Mẫn mệnh danh nó là “cơ chế xin-cho” đã làm phát sinh ra lối sống đạo bon chen. Bon chen để mà sống, và được sống náo nhiệt như hiện nay. GH không đi tìm cái chết, nhưng đi tìm cái sống. Và để được sống còn, GH đã phải trả gía cho sự sống đó. Cái gía đáng gía nhất đã phải trả ra là sứ mệnh ngôn sứ của GH. Cũng chẳng sao, miễn là được sống. Nhưng điều đáng nói ở đây là cung cách nhiều đấng bậc biện bạch cho lối sống đạo này. Tại Indonesia, HongKong, Thái lan, Philippines, nhiều giám mục, hồng y đã dấn thân tranh đấu quyết liệt cho các quyền tự do dân chủ, quyền làm người, không phải chỉ riêng cho GH, mà chung cho người dân trong nước của các ngài. Hành động đó không ai nói các ngài làm chính trị.

Nhưng tại VN, những hành động đó nhiều đấng bậc lại phê phán là làm chính trị, không nên dính vô. Không làm chính trị thì tốt rồi, nhưng tham gia vào các chức vụ công quyền của CS như quốc hội, mặt trận v.v. thì lại được coi là cách ứng xử thức thời. Người viết băn khoăn tự hỏi không biết đó là ơn soi sáng của Thánh Linh hay là do ma đưa lối qủi đưa đường?

Duyên-Lãng Hà Tiến Nhất

Theo http://www.vietthuc.org

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Blog Dân Lầm Than

ViệtThức.org

Cách Mạng Hoa Lài

 Thời Kỳ Bách Hại

Nữ Vương Công Lý

Anh Hai SG BlogSpot

Advertisements

Nhà Văn, Nhà Báo, Anh Chị Ở Đâu?

Tuần qua, hình ảnh trên Youtube về một em bé 3 tuổi bị xe tải cán qua người 2 lần với sự lạnh lẽo vô cảm của gần 20 người qua đường hầu như không ai thèm quan tâm, cứu giúp.  Hình ảnh được thu lại  qua một máy camera kiểm soát lưu thông tại thành phố Phật Sơn, Trung Quốc khiến cả thế giới bất bình. Tin tức mới nhất từ truyền thông CNN cho biết em bé đã qua đời vì vết thương quá nặng. Noted: Hình ảnh sưu tầm trên Net chỉ có tính cách minh họa.

Tay thanh niên trong hình thản nhiên đi ngang qua bé gái bất hạnh.

Mẹ của em bé  đang vật vã khóc. Hình bên: bà cụ lượm ve chai, người duy nhất đã thấy và ôm cháu bé Yue Yue lên trên tay.

 

Bài đọc suy gẫm:  Nhà Văn, Nhà Báo, Anh Chị Ở Đâu? hay “Chỗ đứng của người cầm bút hôm nay”.

Chỗ đứng của người cầm bút hôm nay

Người đăng: | 22.09.2011

Những cuốn sách hay trước đây đã từng đọc, với tôi lúc nào cũng như những người bạn cũ lâu ngày không được gặp. Phải chăng là một người bạn cũ, đã cùng trải qua thử thách của tháng năm, có khi đáng quý bằng hai, ba người bạn mới? Một cuốn sách hay gáy đã xác xơ cầm lại trên tay nhiều khi khiến lòng ta bồi hồi xao xuyến…

Truyện Sêkhốp là một cuốn sách như thế; tôi vẫn thỉnh thoảng tìm đọc lại những trang văn của nhà văn Nga này để rồi thêm một lần khâm phục văn tài, nhân cách của ông…

Không thể nói về nhiều tác phẩm của ông. Chỉ xin dừng lại ở một truyện ngắn nổi tiếng: truyện “Khóm phúc bồn tử” ra đời từ cuối thế kỷ 19.

Truyện là lời kể của bác sĩ thú y Ivan Ivanứt, một người bạn của tác giả. Ivan có người anh là Nhicôlai, một viên chức xoàng ở Sở thuế vụ. Suốt đời, Nhicôlai chỉ mơ ước tậu được một trang trại riêng, ở đấy thế nào cũng phải trồng một khóm phúc bồn tử. Nhicôlai nhịn ăn, nhịn mặc, dành dụm từng xu, từng đồng lương trong hàng chục năm liền và cuối cùng đã toại nguyện. An nhàn nhấm nháp cái thú làm chủ một trang trại, anh ta phát phì ra, các đường nét trên mặt đều chảy xệ xuống: Trong trang trại của anh ta, người đầu bếp cũng chậm chạp, nặng nề, cả con chó giữ nhà cũng béo tròn như con lợn.

Bác sĩ kiêm đại văn hào về truyện ngắn người Nga Anton Pavlovich Chekhov 1860-1904.  Wikipedia

Ivan đến thăm anh và được mời ăn những trái phúc bồn tử vừa hái trong vườn nhà. Nhicôlai nhai vội vàng, ngấu nghiến, miệng xuýt xoa: – Chà, ngon tuyệt, ngon tuyệt! Em thử nếm mà xem!

Sêkhốp chỉ dựng lên như thế đoạn đời một con người. Thoạt tiên có thể nghĩ rằng: mơ có một trang trại riêng (tất nhiên không phải bằng nguồn tiền tham nhũng!), thèm được ăn trái cây hái từ vườn nhà – chuyện này thường quá, ước mơ này có vẻ hiền lành, vô hại quá, có gì đáng để ý đâu! Nhưng dưới cái nhìn tinh tường, nghiêm khắc theo chuẩn mực đạo đức rất cao của nhà văn Sêkhốp, thì cái vẻ thỏa mãn tột độ, niềm sung sướng gần như phải reo lên, nhẩy lên của tay điền chủ nghiến ngấu nhai những trái phúc bồn tử của cả một đời người kia đã tố cáo không chỉ sự nghèo nàn thảm hại trong lẽ sống của y, mà ở một lớp tầng sâu hơn – còn là sự tòng phạm với những điều ác tày đình đang diễn ra trên khắp nước Nga Sa hoàng thời ấy.

Chúng ta như được đọc những dòng suy nghĩ tiếp của Sêkhốp qua lời tự bạch của bác sĩ Ivan.

“Không hiểu vì đâu, những ý nghĩ của tôi về hạnh phúc con người bao giờ cũng pha lẫn buồn rầu, và đến lúc này, khi trông thấy một con người thỏa mãn, hạnh phúc, một cảm giác nặng nề gần như tuyệt vọng choán cả lòng tôi. Tôi hình dung quả thật đã có quá nhiều những người thỏa mãn hạnh phúc! Đó là cả một sức đè nặng ghê gớm! Anh hãy thử nhìn lên cuộc đời này: sự đê tiện và nhàn hạ của những kẻ có quyền thế; sự dốt nát và bị dày vò như súc vật của những kẻ yếu, đâu đâu cũng thấy cảnh nghèo khổ đến cùng cực, chật chội, tha hóa, rượu chè, nghiện ngập, đạo đức giả, dối trá. Thế mà trong khắp mọi nhà và trên đường phố, đều thấy lặng lẽ, bình yên: trong số 50 nghìn người sống ở thành phố này, không một ai thét to lên, bày tỏ sự phẫn nộ! Tất cả đều bình yên, lặng lẽ, chỉ có con số thống kê câm là biết phản đối: bao nhiêu người phát điên, bao nhiêu thùng rượu đã uống cạn, bao nhiêu đứa trẻ đã bị chết yểu. Một thứ trật tự như vậy chắc là cần phải có, chắc là người tốt số cảm thấy hạnh phúc chỉ vì những kẻ bất hạnh âm thầm chịu đựng”.

“Sáng sớm hôm ấy, tôi rời nhà người anh, và từ đó tôi không thể nào sống nổi ở thành phố này được nữa. Sự yên lặng, bình thản chung quanh đè nặng lòng tôi, tôi sợ nhìn những khung cửa sổ; đối với tôi giờ đây không có cảnh tượng nào nặng nề hơn cảnh một gia đình hạnh phúc quây quần bên bàn và uống nước chè”.

Sêkhốp cùng nhân vật của ông đã nghiêm khắc quá chăng? Cái nhìn cuộc đời của ông có cực đoan quá không? Suy cho cùng thì “ngồi quây quần uống nước chè” bên khung cửa sổ sáng ánh đèn đâu phải là phạm tội!? Thế rồi Sêkhốp vẫn bày tỏ sự bất bình. Với ông, “pháp luật chỉ là cái đạo đức tối thiểu“, cái chuẩn đạo đức nhiều lần cao hơn mà lương tâm nhà văn đòi hỏi phải là sự đồng cảm sâu xa với nỗi đau của đồng loại, là phá bỏ sự vô cảm, phá bỏ cái im lặng – “đồng lõa với cái ác” đang ngự trị trong xã hội Sa hoàng.

Chỉ qua thiên truyện ngắn này ta đã thấy hiển hiện nhân cách lớn lao của nhà văn Sêkhốp, lời nhắn gửi khẩn thiết của ông về chỗ đứng của người cầm bút giữa cuộc đời.

*

Xã hội ta hôm nay tất nhiên khác xa thời Sêkhốp sống. Nhưng không thể nói chung quanh chúng ta không còn những điều gây bức xúc, đau lòng. Không xa những sân golf sang trọng, thảm cỏ xanh mỡ màng, là những dãy nhà ổ chuột xác xơ trên kênh rạch đen ngòm, hôi thối. Người nông dân mất đất, tiêu hết tiền đền bù, tuyệt vọng không biết sẽ tiếp tục kiếm kế sinh nhai bằng cách gì đây. Kẻ lo sắm xe hộp bạc tỷ, người lo chạy ăn từng bữa cơm độn khoai. Chó becgiê của một “đại gia” đã cắn xé đến chết một phụ nữ nghèo đi mót cà phê trước sự vô cảm của nhiều người có trách nhiệm. Các cháu nữ sinh vị thành niên trở thành nạn nhân mua vui cho các bậc mày râu tai to mặt lớn và rồi lại phải chịu án tù. Những ngư dân bám biển mưu sinh bị đánh đập, cướp bóc, xua đuổi ngay trên vùng lãnh hải của nước mình. Biển khơi, đảo xa cùng những cánh rừng biên ải đã và đang bị người “nước lạ” chiếm đoạt, dòm ngó… Những đứa trẻ đến trường, đánh cược với mạng sống, đu dây qua dòng sông chảy xiết, trong khi nhiều dự án viển vông ngốn cả núi tiền vẫn đang được hăm hở vẽ ra. Bệnh viện la liệt bệnh nhân, 2-3-4 người xếp chung một giường; và không ít người trong số họ sẽ bị trả về nhà chờ chết chỉ vì ví đã lép kẹp, không còn tiền chữa trị. Trường ốc thiếu hụt, phụ huynh phải thức trắng đêm, chen chúc xếp hàng cố giành giật cho con mình một suất học mầm non! Và thế rồi trống vẫn dong, cờ vẫn mở, lễ hội vẫn tưng bừng, đua nhau nói những lời có cánh, tán tụng nhau, trao huân chương cho nhau!… Và thế rồi những ngôi biệt thự hoành tráng, to vật vã với nguồn gốc mờ ám vẫn tiếp tục mọc lên như thách thức sự nhẫn nhịn của người dân. Nơi này nơi khác, người dân vẫn còn chưa “dám mở miệng ra” mà nói lên những bức xúc oan ức của mình…

Một số hình ảnh trái ngược tại Việt Nam. 

Hình dưới: Một người đàn ông bị hơn 30 người nhào vô hôi của sau khi bị 2 tên cướp giựt rách gói tiền. Link ZingVN

Nhà văn, anh ở đâu trong trận chiến không tiếng súng mà đầy cam go đang diễn ra hàng ngày nhằm xóa bỏ những điều ngang trái để đạt đến mục tiêu cao đẹp còn rất xa vời: vì “dân giàu, nước mạnh; xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”?

Vẫn biết người cầm bút bộc lộ thái độ sống của mình thông qua tác phẩm thơ, truyện, tiểu thuyết đầy ắp những tình cảm, sự am tường và những suy nghĩ trước hiện thực cuộc đời bằng nghệ thuật ngôn từ điêu luyện. Người đọc vẫn chờ đợi, lắng nghe tiếng nói trực tiếp của nhà văn, – những tâm hồn nhạy cảm, những trí tuệ sắc sảo, đầy bản lĩnh.

Tuy vốn không thích nói những lời có vẻ to tát, tôi vẫn muốn bày tỏ lòng mong mỏi những người cầm bút chúng ta trước khitrong khi cầm bút, hãy tuyên chiến với căn bệnh trầm kha vô cảm đang lây lan trong khắp xã hội ta hôm nay, hãy chia sẻ tình thương với từng số phận con người, hãy là một công dân biết canh cánh lo toan cùng dân tộc trước vận mệnh của đất nước này, hôm nay và mai sau!

Nguồn: Viet-Studies

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Khóm Phúc Bồn Tử (nguyên tác)

Lam Hồng.org

Video Surf (Youtube)


Xây – Giữ và Dọn – Chu Chi Nam

Các bạn đoán xem hình gì đây? Xin thưa là một tờ danh sách các thai nhi bị hủy!

Theo báo chí trong nước:  Từ năm 1996, Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã xếp Viêt Nam là một trong hai nước có tình trạng nạo phá thai cao nhất thế giới (Việt Nam và Uzbekistan). Số người trong độ tuổi sinh hoạt tình dục (từ 15 đến 44 tuổi) đi phá thai chiếm 8,33% tương đương với số lượng hơn 1 triệu người/năm đến các cơ sở nạo phá thai. Đến nay con số này không có gì thay đổi, trong đó đối tượng phá thai ngoài ý muốn ở tuổi vị thành niên là khá cao, 20%.  Thực ra,

con số thực tế cao gấp 3 lần!!!

Ghi chú: Hình ảnh sưu tầm từ các nguồn trên net chỉ có tính cách minh họa.

Bài đọc suy gẫm:  “Xây, Giữ và Dọn” hay Chiến Lược Ngoại Giao của Hoa-Kỳ Tại Á Châu, Thái Bình Dương – Tác giả Chu Chi Nam.

Từ sau cuộc cách mạng Pháp 1789, hay xa hơn nữa, từ tư tưởng của những triết gia Anh như John Locke ( 1632-1704), Pháp như J.J Rousseau ( 1712-1778), Montesquieu ( 1689-1755), nhất là với quyển sách nổi tiếng của ông này, mang tựa đề L’Esprit des Lois ( Tinh thần Luật pháp ), xuất bản năm 1750, theo đó, khi nói đến dân chủ, người ta phải nói và áp dụng tinh thần «  Tam Quyền phân lập «  ( La séparation des Pouvoirs). Tam quyền đó là quyền Lập pháp, tức là quyền làm ra luật pháp ; quyền Tư Pháp, đó là quyền xử án theo luật pháp đã được làm ra ; quyền Hành pháp, đó là quyền thi hành luật pháp. Theo những nhà triết lý chính trị trên, nếu 3 quyền này mà nằm trong tay một người như ở chế độ quân chủ, một ông vua, vừa làm ra luật, vừa xử án, vừa thi hành pháp luật, thì trở nên độc tài. Điều này chúng ta thấy kinh nghiệm ở những nước quân chủ.

John Locke ( 1632-1704)                                                                         J.J Rousseau ( 1712-1778)

 

 

 


 


 

 

 

 

 

L’Esprit des Lois tức Tinh Thần Luật Pháp Xuất bản năm 1700, với 117 lần tái bản. Hình bên: Montesquieu ( 1689-1755)

Và gần đây trong thế kỷ 20, chúng ta thấy tam quyền nằm trong tay một tổ chức là đảng cộng sản, nên những nước cộng sản không có dân chủ, bị kết án độc tài, cũng là vì vậy. Độc tài quân chủ còn đỡ vì quyền hành chỉ ở trong tay một ông vua. Còn độc tài cộng sản thì quyền hành ở trong tay của đảng, đi từ trên xuống dưới, từ thủ đô tới làng xã. Độc tài quân chủ, nói một cách tương đối, còn có tư cách, nhân phẩm và danh dự. Còn độc tài cộng sản hoàn toàn vô tư cách, vô nhân phẩm, vô danh dự, vì ở trong tay những kẻ « Đá cá, lăn dưa « , lại theo chủ nghĩa duy vật, theo nghĩa xấu của nó, chính là chỉ trọng vật chất, tiền bạc, không trọng tinh thần, nên xã hội cộng sản, từ xưa tới nay, xã hội nào cũng bị đạo đức băng hoại, kỷ cương suy đồi, làm bất cứ cái gì để có tiền ngay cả chế sữa độc để cho cả trăm ngàn trẻ em bị chết ở Trung cộng ; còn ở Việt Nam thì nạn phá thai cao nhất thế giới. Chỉ cần 2 thí dụ nhỏ này cũng đủ nói lên thực trạng của xã hội cộng sản.

“Tôi không biết em là trai hay gái. 

Tiếng kinh buồn, cất tiếng gọi thai nhi…”

 

Hàng ngàn nấm mộ của hơn 42.200 sinh linh bị chối bỏ được chôn cất ở nghĩa trang bào thai Anh Hài (Thừa Thiên – Huế) (Ảnh: Nguyên Bình)

 Ngày hôm nay, ở những nước dân chủ tân tiến, người ta còn nói đến quyền Thứ Tư, đó là quyền tự do báo chí, sách vở. Những nhà báo, những nhà tư tưởng, không những có quyền chỉ trích những người làm ra luật, những người xử luật, những người áp dụng luật, mà còn có quyền đưa ra những đề nghị để chỉ trích, hướng dẫn cả 3 quyền, nhất là quyền hành pháp. Chính vì vậy mà những quyển sách, những bài báo, nhiều khi có những ảnh hưởng rất lớn, không những trên chính trị quốc nội, mà cả trên chính trị quốc ngoại.

Người ta còn nhớ vào cuối thập niêm 80, đầu thập niên 90, hai quyển sách có ảnh hưởng rất lớn trên nền ngoại giao Hoa kỳ. Đó là quyển Sự Hình thành và Sụp đổ của những Cường quốc ( The Rise and Fall of the great Powers) của Paul Kennedy và quyển Sự Kết thúc Lịch sử và Con người cuối cùng ( The End of History and the Last Man), của Francis Fukuyama. Quyển sách này là kết tụ lại những bài báo ông đã viết trước đó vào mùa hè năm 1989. Gần hơn nữa là quyển sách “Sự xung đột của những nền Văn Minh” và ” Lập lại trật tự  thế  giới mới” ( Clash of Civilizations and the Remaking of World Order ), của ông Samuel Huntington, xuất bản năm 1996. Đây cũng chỉ là những ý kiến ông đã viết trên tờ báp Foreign Affairs vào mùa hè năm 1993.

Chính vì vậy, mà nhiều khi chỉ cần đọc một quyển sách quan trọng, đọc một số bài trên những tạp chí quan trọng, người ta cũng có thể tiên đoán đôi phần đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ, vì giới trí thức Hoa Kỳ, không những dám chỉ trích chính phủ, mà còn đưa ra những kế hoặch, chương trình mà nhiều chính phủ phải theo ; khác hẳn với phần lớn trí thức tại một số quốc gia, nhất là ở những nước cộng sản trước đây, và những nước cộng sản còn sót lại như Trung cộng, Việt Nam, Bắc Hàn, Cu ba, giới trí thức chỉ là giá áo túi cơm, nhai lại những cái gì Chính quyền, Bộ Chính trị, Trung Ương đảng đã nhả ra. Nên có người nói phần lớn giới trí thức cộng sản là loài nhai lại,  nói « leo, nói theo «,điều này không phải là oan trái.






 


 

Mô hình Hoa Kỳ, Hiến Pháp đứng trên Quốc Hội, Hành Pháp và Lập Pháp. Hình bên: Sách về Tam Quyền Phân Lập. Wikipedia (tiếng Việt).  Rất hay, đáng cho chúng ta tham khảo.

Gần đây, trên tờ báo National Review, số ra ngày 29/8 /2011, ông Micheal Auslin có viết một bài báo về chiến lược ngoại giao của Hoa kỳ ở vùng Ấn độ Thái bình dương, làm nhiều người đặt ra câu hỏi, phải chăng Hoa Kỳ đã thay đổi chiến lược ngoại giao ở vùng này.

Chúng ta cùng nhau xem xét vấn đề trên.

Ông Micheal Auslin cho rằng sau khi giảm qui mô hoạt động quân sự ở A phú Hãn và Irak, Hoa kỳ nên chú trọng vào vùng Ấn độ Thái bình Dương. Ông viết :

«  Sự thịnh vượng, ảnh hưởng, và an ninh tương lai của chúng ta (tức Hoa Kỳ) sẽ được quyết định bởi những gì đang diễn ra trong khu vực Ấn Độ Thái bình Dương. Nếu chúng ta đóng được vai trò quan trọng trong khu vực mênh mông trải dài từ Ấn độ tới Nhật bản này, thì những thập kỷ mới không những chứng kiến sự lớn mạnh của không những siêu cường quốc Hoa Kỳ, mà còn của những đồng minh tự do, dân chủ của Hoa Kỳ. Ngược lại, nếu chúng ta nhượng vị thế cao này cho Trung cộng, chắc chắn sẽ dẫn đến sự suy thoái của hệ thống quốc tế tự do và sự hình thành một thế giới giáo điều, kém an toàn và bất ổn hơn ở vùng này. »

Ông đưa ra chiến lược ngoại giao của Mỹ ở vùng Ấn độ Thái bình dương là «  Xây – Giữ và Dọn « (bản Anh Ngữ  ở đây) , thay cho chiến luợc «  Dọn – Giữ và Xây « đã được áp dụng trước đây ở A Phú Hãn và Iraq.

Thật vậy, rút tỉa kinh nghiệm từ thời chiến tranh Iraq và A phú Hãn, nhất là vao thời nhiệm kỳ đầu của Tổng thống Georgres Bush con, trường phái Tân Bảo thủ còn mạnh, mà người đứng đầu không ai hơn là Phó Tổng thống Dick Cheney, rồi đến Bộ trưởng Quốc phòng Rumsfeld, Thứ trưởng Quốc phòng Paul Wolfowick, người được coi là lý thuyết gia với chiến lược « Tấn công trước  là ưu điểm « , theo đó ở vào thời kỳ sau Chiến tranh lạnh, nhất là thời kỳ khủng bố, sau biến cố 11/9/2001, Hoa kỳ cần phải dẫn đầu, nếu phải đi đến chiến tranh, thì phải tìm cách tấn công trước mới giữ được ưu thế. Chính vì vậy mà đã có một « chính sách đối ngoại một mình một ngựa «, coi thường các nước đồng minh, và nhất là coi thường những những hạ tầng cơ sở như quân đội, cảnh sát của những chính quyền cũ, kinh nghiệm Iraq và A Phú Hãn. Chính sách này tỏ ra hao tốn và mất thì giờ, vì phải dọn sạch, sau đó rồi mới giữ và xây dựng.

Từ kinh nghiệm đó, ông Micheal Auslin đề nghị một chính sách mới cho Hoa Kỳ ở vùng Ấn độ Thái bình dương là  Xây, Giữ và Dọn ; theo đó có thể dùng những hạ tầng cơ sở quân đội, cảnh sát, hành chánh có sẵn để xây dựng, sau đó giữ những cái mình đã xây dựng, rồi từ từ dọn và tu bổ sau.

Đó là nói một cách lý thuyết, nhưng đi vào thực tế, ông Auslin khuyên Hoa Kỳ nên tạo ra nhiều tam giác đồng tâm, trong đó có tam giác chính. Đó là Nhật Bản, Hàn quốc và Úc, sau đó nới thêm ra với Ấn độ rồi lan ra nhiều nước khác. Với 3 nước này, Hoa Kỳ nên xây dựng thêm những liên hệ vế chính trị, quân sự, kinh tế thương mại. Từ ba nước này, xây thêm những liên hệ với những nước khác, có những nước mà tình trạng nhân quyền, tự do, dân chủ mới bắt đầu như Nam Dương, Thái lan, Phi luật tân, Mã lai, nhưng cũng có nước mà tình trạng nhân quyền chưa được bảo đảm như Miến điện, Việt Nam, Bắc Hàn và cả Trung cộng. Tuy nhiên cứ từ đi từng bước một, rồi từ từ dọn sau.

Từ đó, có người cho rằng Hoa Kỳ đã thay đổi chiến lược ngoại giao tại vùng Châu Á Thái bình dương, cũng như có người cho rằng có những sự đoạn tuyệt trong chính sách ngoại giao Hoa kỳ, nhất là giữa 2 ông tổng thống thuộc hai đảng khác khau.,

Thực ra không phải hoàn toàn như vậy.

Chúng ta lấy lịch sử gần để làm sáng tỏ : Trường hợp chiến tranh A phú Hãn và Iraq.

Mặc dầu trong thời gian tranh cử, Tổng thống Obama đã chỉ trích mạnh mẽ chính sách ngoại giao, quân sự của ông G. Bush ở 2 nước này. Tuy nhiên khi thắng cử, lên cầm quyền, ông vẫn dùng lại ông Robert Gates làm Bộ trưởng Quốc phòng, một trong những người chính hiện nay về chính sách ngoại giao và quân sự ở 2 nước trên. Điều này nói lên không có sự thay đổi nhiều lắm và không có sự gián đoạn.

Nhìn về lâu dài và toàn diện, ít ra là cả trăm năm nay, người ta có thể nói không có sự thay đổi mạnh mẽ và sự gián đoạn của chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, nhất là chính sách dài hạn ; mà người ta có thể nói là có một sự tiếp nối và bổ xung cho nhau, dù người đó là tổng thống dân chủ hay là tổng thống cộng hòa.

Chúng ta cứ lấy kinh nghiệm của Chiến tranh Lạnh thì rõ. Chiến tranh này kéo dài gần nửa thế kỷ, từ cuối Đệ Nhị Thế Chiến tới ngày đế quốc Liên Sô sụp đổ. Trong suốt thời gian dài đó, Hoa kỳ trải qua bao nhiêu Tổng thống từ Dân Chủ qua Cộng Hòa, nào là Truman, qua Eisenhower, Kennedy, Johnson, Nixon, Ford, Carter, Reagan, Bush (cha), nhưng vẫn theo Chính sách Be Bờ ( Containment Policy), được soạn thảo ra bởi Paul Nitzé và Georges Kennan, một người là Cố vấn An ninh cho Tổng thống Truman, một người là Chuyên viên về vấn đề cộng sản ở Bộ Ngoại giao. Chính sách này được gói ghém trong Chỉ thị mang tên Chỉ thị số 68 của Hội đồng An Ninh quốc gia Hoa Kỳ, mà những người làm ngoại giao coi như Thánh kinh, theo đó Hoa kỳ nên nhân nhượng ( Aménager ) với Liên Số để có ngày có thể lôi kéo họ trở lại cộng đồng những quốc gia tự do, dân chủ ; làm thế nào để tránh việc Liên Xô dùng những nước Tây Âu để bắt chẹt Hoa Kỳ ; và cuối cùng cố gắng ngăn chặn làn sóng đỏ tràn xuống Đông Nam Á. Ông Paul Nitzé, sau khi làm Cố vấn An ninh cho Tổng thống Truman, thì làm Trưởng Phái Đoàn về tài giảm Binh bị ở Genève, suốt thời gian Chiến Tranh Lạnh, trải mười mấy vị tổng Tổng thống, cho đến ngày bức tường Bá Linh sụp đổ, ông tuyên bố : «  Chúng ta đã thắng Chiến tranh Lạnh », và xin về hưu. Ngày hôm nay có người cho rằng việc đàm phán tài giảm binh bị ở Genève là một đài quan sát việc vũ trang của Liên Xô, để lôi kéo quốc gia này vào một cuộc chạy đua vũ trang, lâm vào cảnh nhà nghèo thi đua tiêu tiền với nhà giàu, anh lực sỹ yếu sức chạy đua với anh lực sỹ sung sức, đến lúc không còn chạy được nữa, đó là thách thức của Reagan đối với Liên Xô về việc chạy đua Chiến tranh các vì sao (Starwar), thì Liên Xô bị ngã quị. Điều này không phải là không có lý.

Micheal Auslin, chiến lược gia hay nhà phân tách chiến lược về chính sách của Hoa-Kỳ trong một buổi phỏng vấn qua kênh truyền hình C-Span2.

Trở về bài viết của ông Auslin, điểm son đó là ông đã nhắc nhở chính giới Hoa Kỳ về tầm quan trọng của vùng Ấn độ Thái Bình dương trong tương lai; điểm son nữa, đó là ông đã làm cho người ta dễ hiểu, dễ nắm bắt chiến lược ngoại giao của Hoa kỳ qua ba chữ : Xây – Giữ và Dọn thay vì Dọn – Giữ và Xây, rút tỉa kinh nghiệm từ Chiến tranh A phú Hãn và Iraq.
Tuy nhiên cái nhìn của ông Auslin có tính chất chiến thuật nhiều hơn là chiến lược, đúng với trường hợp của A Phú Hãn và Iraq ; nhưng trên bình diện chiến lược, thì tôi không tin là có sự thay đổi về đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ ở vùng Ấn Độ Thái bình dương, mà tôi nghĩ rằng có một sự lập lại chiến lược đã được áp dụng cho Liên sô và Đông Âu, nay áp dụng cho những nước cộng sản còn lại như Trung cộng, Việt Nam và Bắc Hàn ; và từ đó tôi không nghĩ có một sự gián đoạn về chiến lược ngoại giao giữa những người Tổng thống Hoa ky ; mà ngược lại có một sự bổ xung.

Thực vậy, như trên đã nói, ngay về chính sách ngoại giao, quốc phòng với 2 nước Irak và A phú hãn, mặc dầu, trong kỳ tranh cử, ông Obama chỉ trích mạnh Georges Bush, nhưng sau khi lên Tổng Thống, ông lại chỉ định ông Robert Gates, Bộ trưởng quốc phòng của Bush, làm lại chức này.
Về Trung cộng, Việt Nam và Bắc Hàn, Hoa Kỳ muốn áp dụng lại chíến lược ngoại giao đã làm sụp Liên Xô và Đông Âu. bản cũ soạn lại. Nhiều khi lịch sử lập lại. Điều hiển nhiên, vì Hoa Kỳ đã chiến thắng với chiến lược cũ. dại gì mà thay đổi.
Tuy nhiên, Hoa Kỳ biết rất rõ rằng dù mình là đại cường quốc, có ưu điểm ở nhiều mặt, nhưng nếu Trung Cộng và Việt Nam nhất định bế quan tỏa cảng như Bắc Hàn, Cu Ba, thì Hoa kỳ cũng không thể làm gì được. Vì vậy để áp dụng chiến lược ngoại giao cũ đã áp dụng cho Liên Xô, nay áp dụng cho Việt Nam và Trung Cộng, thì phải làm thế nào dụ 2 nước này chấp nhận luật chơi kinh tế thị trường, mở cửa buôn bán với nước ngoài.
Thời gian đầu, có thể phải giành cho 2 nước này một vài đặc lợi, chẳng khác nào câu cá, để con cá cắn mồi chính, thì phải tung ra một vài mồi giả, có mùi thơm, sau đó cá cắn câu rồi, thì cũng phải tùy thời cơ mới giật câu, vội vã giật, nhiều khi cá còn khỏe, quậy quặng, có thể làm đứt dây câu, hay có thể làm rách môi cá, bị tuột câu.

Nhìn một cách khác, để thay đổi một chế độ tại một quốc gia khác chỉ có 2 cách : Bột biến và tiệm tiến :
Bột biến như trường hợp gửi quân sang Iraq, sang A phú hãn ; hay Hoa Kỳ có những liên hệ chặt chẽ với quân đội, sinh viên học sinh, xúi quân đội đứng ra đảo chánh, hay xúi sinh viên học sinh đứng ra biểu tình. Trường hợp đã xẩy ra ở Á châu tại Việt Nam, Nam Hàn, Phi luật tân vào những năm của thập niên 60 ; hay trường hợp hiện nay của Ai Cập, Tunisie.
Tiệm tiến đó là phải từ từ, biến cải nước đó qua thương mại, ngoại giao, từ từ tổ chức những hội vô chính phủ (ONG) để xâm nhập từ từ vào xã hội đó ; rồi đợi thời cơ thuận tiện hoặc làm cuộc đảo chính hoặc xúi sinh viên đứng lên biểu tình.

Từ đó, đâu là chính sách ngoại giao của Hoa kỳ đối với Trung Cộng và Việt Nam. Chắc chắn không thể nào là bột biến, mà phải là tiệm tiến ; vì người ta không thể nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ gửi quân qua Trung cộng và Việt Nam để làm một cuộc thay đổi như ở Irak va A phú hãn. Cũng như Hoa kỳ chưa đủ những đường dây để có thể tổ chức một cuộc đảo chính.

Chiến lược ông Auslin đưa ra : Xây – Giữ và Dọn, chiến lược này đã được áp dụng từ lâu. Hoa Kỳ đã phải từng bước một xây dựng mối bang giao với Trung cộng, như thí dụ vừa kể là phải dụ Trung Cộng chấp nhận kinh tế thị trường, chẳng khác nào như dụ con cá cắn câu. Đấy là xây vậy. Thêm vào đó còn phải tăng cường mối bang giao với những nước chung quanh Trung cộng, để làm một cái vòng đai. Thì đó chính là quan niệm những tam giác đồng tâm của ông Auslin.

Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ, nếu chúng ta nhìn lâu dài và toàn diện trên phương diện chiến lược, thì không có nhiều thay đổi và cũng không có sự đứt đoạn, mà nhiều khi bổ xung nhau. Nhưng nếu chúng ta nhìn ngắn hạn, trên phương diện chiến thuật và kỹ thuật, thì nhiều khi có sự thay đổi. Chính giới Hoa Kỳ rất thực tế, thực tiễn. Đúng theo tư tưởng của trường phái Thực Tiễn ( Pragmatisme), mà người sinh ra nó chính là một người Hoa Kỳ, ông Williams James (1842-1910). Nhưng một bên thì thực tế thực tiễn, bên khác thì rất lý tưởng và không bao giờ quên những mục đích dài hạn.
Bài của ông Auslin có vẻ nhìn nhiều về khía cạnh chiến thuật và kỹ thuật. Tuy nhiên nó vừa là một lời tiên đoán, vừa là một sự nhắc nhở rằng kỷ nguyên tới là kỷ nguyên của vùng Ấn Độ Thái Bình Dương. Chính phủ Hoa Kỳ không nên quên điều này (1).

 Paris ngày 16/09/2 011
Chu chi Nam

(1)    Xin xem thêm những bài vừa ngoại giao Hoa Kỳ, trên : http://perso.orange.fr/chuchinam/

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Chu Chi Nam

Tin Tức Hàng Ngày – Online


Giới Trí Thức Bị Tha Hóa – Lưu Hiểu Ba

Biếm họa về ông Lưu Hiểu Ba, người đoạt giải Nobel Hòa Bình 2011

Nhà bất đồng chính kiến Trung Quốc hiện vẫn đang ngồi tù.  Hình ảnh từ các nguồn trên net chỉ có tính cách minh họa.


Lễ trao giải Nobel Hòa Bình 2010 đã diễn ra tại thủ đô Oslo, Na Uy với bằng chứng nhận dành cho chủ nhân giải thưởng, ông Lưu Hiểu Ba, được đặt lên một chiếc ghế trống. Trung Quốc lên án việc trao giải là “trò hề chính trị”.

 

 

 

 

Bài đọc suy gẫm: Giới Trí Thức Bị Tha Hóa hay Triết Lý Con Heo của Lưu Hiểu Ba – Giới thiệu sách của Tác giả Đoàn Thanh Liêm.

Ấn bản tiếng Pháp: La Philosophie du porc et autres essais.
Tác giả: Liu Xiaobo – Nhà xuất bản Gallimard ấn hành năm 2011

Lưu Hiểu Ba là một nhân vật rất nổi danh trên thế giới ngày nay, đặc biệt kể từ lúc ông được cấp phát giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2010 vừa qua. Và cũng giống như trường hợp của bà Aung San Suu Ky người Miến Điện và của nhà bác học Andrei Sakharov người Nga trước đây vì bị chính quyền nước mình ngăn cản, nên đã không thể có mặt trong buổi lễ Trao giải tại thủ đô Oslo của vương quốc Na Uy, ông Lưu Hiểu Ba vì đang bị giam giữ trong tù tại Trung quốc, nên cũng đã vắng mặt trong dịp này. Sự kiện này lại càng khiến công luận khắp thế giới chú ý, và cũng là một điều gây bất lợi cho uy tín của giới lãnh đạo chính quyền Bắc kinh.

Mới đây, vào đầu năm 2011 nhà xuất bản Gallimard ở Pháp đã cho ấn hành một cuốn sách gồm nhiều bài tiểu luận của ông Lưu viết trong vài chục năm gần đây, với nhan đề thật tức cười ngộ nghĩnh lấy từ tiêu đề của một bài tiểu luận, đó là : “Triết lý con heo” như đã được ghi nguyên văn tiếng Pháp ở trên. Sách dày trên 500 trang với Bài tựa ngắn của Cựu Tổng thống Vaclav Havel ở Tiệp khắc. Và bài Giới thiệu khá chi tiết dài 30 trang của chuyên gia nổi tiếng về Trung quốc là Jean-Philippe Béja đích thân tuyển lựa và dịch các bài tiểu luận thật đặc sắc của một nhân vật được học giới Trung hoa gọi là “ con hắc mã “ của văn đàn Trung quốc hiện đại (dark horse = heima).

Bài viết đầu tiên này nhằm giới thiệu tóm lược những nét chính yếu trong cuốn sách giá trị này với độc giả người Việt. Trong các bài tiếp theo, người viết sẽ trình bày chi tiết hơn về một số quan điểm của tác giả họ Lưu, với những lập luận mà chúng ta có thể sử dụng như là những gợi ý cho sự trao đổi thảo luận giữa người Việt chúng ta.

I – Sơ lược tiểu sử của tác giả Lưu Hiểu Ba.

Lưu Hiểu Ba sinh năm 1955 trong một tỉnh thuộc miền đông bắc Trung quốc. Cha của ông là một giáo sư tại đại học sư phạm ở địa phương. Năm lên 14 tuổi, Lưu theo cha mẹ đến các miền quê tại khu vực Nội Mông trong thời kỳ cách mạng văn hóa đày ải giới trí thức. Không được đến trường học, Lưu đã tìm cách đọc tất cả sách báo mình bắt gặp. Vào năm 1973 lúc ở tuổi 18, Lưu được điều động về các làng xã để “học tập cách thức phục vụ nhân dân ”.

Năm 1977, sau khi Mao Trạch Đông từ trần, Lưu được trúng tuyển vào đại học và tốt nghiệp năm 1982 với chuyên môn về văn học Trung quốc. Sau đó, Lưu được nhận vào học tại đại học sư phạm Bắc kinh để thi bằng cao học và cuối cùng ông đã được cấp văn bằng tiến sĩ văn chương tại đây vào năm 1988 ở tuổi 33.

Các bạn hữu cho biết là trong thời gian dài theo học ở Bắc kinh, Lưu ít chú ý đến sinh họat chính trị, mà tập trung vào việc nghiên cứu văn học, ông đặc biệt chú ý đến quan điểm của nhà văn Kafka ở Âu châu vào hồi đầu thế kỷ XX. Năm 1986, Lưu đã gây chấn động trên văn đàn Trung quốc với bài báo phê bình văn học với nhan đề : “ Khủng hỏang ! Văn học thời kỳ mới đang lâm vào cuộc khủng hỏang “. Trong bài này, Lưu phê phán thẳng thừng sự thiếu vắng sáng tạo của các nhà văn Trung quốc, mặc dầu lúc đó họ đang được ca tụng vì đã có những cố gắng vượt thóat khỏi tình trạng kềm kẹp dưới thời Mao Trạch Đông. Quan điểm phê phán triệt để này có thể coi như có tính cách đột phá tương tự như hào khí khai phóng sôi nổi khắp nơi ở Trung quốc của “ Phong trào Ngũ Tứ “ bột phát vào năm 1919 sau thế chiến thứ nhất ( May 4th Movement).

Với danh tiếng đó, Lưu được nhiều đại học trong nước cũng như ngọai quốc mời đến diễn thuyết hay dậy học. Năm 1989, lúc đang làm việc ở đại học Columbia, New York, Lưu đã cắt ngang việc giảng dậy để về nước tiếp sức với giới sinh viên đang sôi nổi đòi phải cải cách dân chủ. Và ngay sau vụ đàn áp đẫm máu Thiên An Môn vào đầu tháng Sáu, Lưu đã bị bắt giữ.
Trong khi ở tù, thì Lưu bị người vợ đòi phải ly dị. Hậu quả của việc ly dị này là Lưu bị mất sổ hộ khẩu, mất cả quyền cư trú hợp pháp ở Bắc kinh lúc ông được trả tự do vào năm 1991. Mà ông cũng không còn được ký tên thật của mình trên các bài báo, hay sách do mình viết nữa. Vì thế mà cuộc sống trở thành hết sức bấp bênh, đến độ nghẹt thở. Nhưng vào năm 2000 trở đi, nhờ sự phát triển của Internet, họ Lưu đã có thể sáng tác hết sức mạnh bạo, mau chóng với sức lan tỏa rộng rãi cùng khắp. Ông thường xuyên bị công an theo dõi và bị làm khó dễ sách nhiễu dọa nạt đủ bề. Tuy vậy, Lưu vẫn kiên trì theo đuổi cuộc tranh đấu cho dân chủ, tự do và nhân quyền của mình.

Sự đóng góp lớn của ông trong việc sọan thảo bản văn “ Linh bát Hiến chương “ (08 Charter) được nhiều nhân vật trí thức và nhà họat động có tên tuổi ở Trung quốc ký và công bố vào năm 2008, nhân kỷ niệm lần thứ 60 ngày công bố Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948 – 2008), đã khiến cho ông lại bị công an bắt giữ lần nữa và đem ra tòa án xét xử vào cuối năm 2009, và tòa đã đưa ra bản án xử phạt họ Lưu 11 năm tù giam với tội danh rất mơ hồ là  : “ Xúi giục lật đổ chính quyền nhà nước “. Vụ đàn áp thô bạo này đã bị công luận thế giới chỉ trích mãnh liệt và nhiều nhân vật nổi danh trong nước cũng như quốc tế đã lên tiếng đòi trả tự do cho Lưu Hiểu Ba.

Và tiếp theo việc họ Lưu được cấp phát Giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 2010 vừa qua lại càng làm cho tên tuổi của ông được mọi người nhắc nhở tới. Đây là một sự kiện mà chính quyền Bắc kinh dù đã sử dụng mọi đòn phép chính trị bá đạo, thì cũng chẳng làm sao có thể ngăn cản hay bưng bít được nữa.

Hình ảnh biểu tình đòi thả nhà bất đồng chính kiến, giáo sư văn học Lưu Hiểu Ba trước Bộ Ngoại Giao Trung Quốc- Hồng Kông.



II – Giới thiệu tóm lược cuốn sách “ Triết lý con heo “.

Cuốn sách này là một tuyển tập các bài viết tiêu biểu của Lưu Hiểu Ba trong nhiều năm, mà có mấy bài viết mới nhất vào năm 2007 – 2008. Các bài này được sắp xếp trong 8 phần, mà ta có thể liệt kê ra mấy đề mục đáng chú ý như sau:

A/ Văn học:  “ Khủng hỏang! Văn học của thời kỳ mới đã lâm vào tình trạng khủng hỏang “ (trang 57 – 87)
B/  Suy nghĩ triết học và chính trị ( trang 91 – 231).
Đặc biệt mục : “Triết lý con heo “ (trang 147 – 177) tiêu đề này được chọn để làm nhan đề cho cả cuốn sách.
C/  Hệ thống chính trị và đời sống chính trị (trang 235 – 331)
Đặc biệt mục : “ Nỗi băn khoăn về ý thức hệ của Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo ( trang 319 – 331)
D/  Những bài viết về một số sự việc cụ thể ( trang 355 – 413)
Đặc biệt mục : “ Tuyên ngôn của những nông dân muốn đòi lại  ruộng đất” ( trang 391 – 401).

Nói chung, tác giả họ Lưu đề cập đến nhiều lãnh vực, từ phê bình văn học đến suy nghĩ triết học về chính trị, và nhất là bày tỏ quan điểm dứt khóat về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền và công lý xã hội. Các bài viết này biểu lộ sự hiểu biết sâu sắc của tác giả qua lối nhận định và phân tích sự kiện cụ thể với một nhãn quan bao quát, thông thóang và một lập trường kiên định tự tin vững vàng. Ta sẽ có dịp thảo luận chi tiết hơn trong các bài viết tiếp theo liên quan tới một số đề tài có tính cách căn bản trong một xã hội còn đang bị kềm kẹp bởi chế độ độc tài cộng sản, ở Trung quốc cũng như ở Việt Nam hiện nay.

Tiếp theo đây, người viết xin giới thiệu riêng về mục “Triết lý con heo” được tác giả trình bày trong 30 trang sách, và tiêu đề của bài này lại được nhà xuất bản lấy làm nhan đề chung cho tòan thể cuốn sách.


Hình bên: Một nhóm người biểu tình phản đối giải Nobel Hòa Bình bên ngoài Olso, Norway.

III – Triết lý con heo.

Bài này được viết vào năm 2000, tức là 11 năm sau biến cố thảm sát Thiên An Môn ngày 4 tháng sáu năm 1989, mà tác giả lấy làm cột mốc cho sự đàn áp tàn bạo do giới lãnh đạo đảng cộng sản thực hiện nhằm dập tắt mọi ý chí vươn lên của lớp người yêu nước tiến bộ, đặc biệt là giới sinh viên trong công cuộc bảo vệ tự do, dân chủ và nhân quyền cho người dân Trung quốc.

Tác giả nhấn mạnh đến sự đồng lõa, thỏa hiệp của giới trí thức với chủ trương mê hoặc ru ngủ của nhà cầm quyền đương thời qua các chiêu bài “ phải bảo vệ sự ổn định xã hội”, “ phát triển kinh tế là ưu tiên hàng đầu, “trở về với gốc rễ cội nguồn của văn minh Trung quốc “… để mà bỏ qua những đòi hỏi về tự do, công bằng xã hôi và phẩm giá của người công dân.

Ông thẳng thắn tố cáo tình trạng “tồi dở, tầm thường” (médiocrité) cả ở trong chính quyền, lẫn trong giới trí thức ưu tú của xã hội. Với giọng văn thật mạnh mẽ độc đáo, họ Lưu ghi nhận rằng: “ Giới trí thức đang bị tha hóa vì cam tâm lãnh nhận những ân huệ vật chất và các tiện nghi thỏai mái do nhà nước cung ứng cho để đổi lại với sự im lặng làm ngơ trước sự nhũng lạm thối nát, sự đàn áp cướp bóc của cán bộ nhà nước đối với đa số quần chúng dân oan…”

Rõ ràng là đã có sự “bán linh hồn cho quỷ dữ”, sự “tự ý ngoan ngõan đi vào cái chuồng heo” (porcherie) để được vỗ béo, yên thân mà quên đi cái nhiệm vụ phải luôn luôn thức tỉnh để cảnh giác công luận trước những sa đọa tàn bạo của nhà nước chuyên chính độc tài, phải bênh vực đa số quần chúng nạn nhân của sự áp bức bóc lột ở khắp nơi.

Dưới các tiểu đề mục như: “ Sự yếu đuối của người bị trị đã sản xuất ra những người cầm quyền tồi dở” ( la faiblesse des gouvernés produit des gouvernants médiocres) và “ Sự tồi dở nhất lọat đã phá vỡ tất cả” (La médiocrité homogénéisée a tout écrasé), họ Lưu đã thẳng thắn nêu ra cái sự nhục nhã của giới trí thức ưu tú (élites) là đã hèn kém cam tâm phủ phục trước những kẻ lãnh đạo tồi dở tầm thường hiện nay. Ông phát biểu dứt khóat : “ Trên mảnh đất này, sự cao cả của tâm hồn và sự uyên bác thông tuệ không còn chỗ đứng nữa “ ( Sur cette terre, la grandeur d ‘âme et l’érudition n’ont pas leur place)

Vì bài mở đầu này có giới hạn, nên người viết sẽ trình bày chi tiết rõ ràng hơn trong các bài sau, khi thảo luận về từng vấn đề riêng biệt.

Nhân tiện, tác giả cũng xin ghi nhận sự biết ơn đối với anh chị Nguyễn Văn Tánh và Bạch Nhật cư ngụ tại Bruxelles Belgique đã cho đọc cuốn sách giá trị này, nhân chuyến anh chị đến tham dự cuộc Hội Ngộ do tạp chí Diễn Đàn Giáo Dân tổ chức tại miền Nam California vào mấy ngày đầu tháng Sáu năm 2011 vừa qua.

Costa Mesa, Trung tuần tháng Sáu 2011

 

© Đòan Thanh Liêm

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Diễn Đàn Người Dân VN

Tin Tức Hàng Ngày – Online

RFI

SaiGon Echo

Lưu Hiểu BaWikipedia


Bằng Thiệt, Bằng Dỏm – Phương “N”

1.  Hình ảnh sưu tầm trên internet chỉ có tính cách minh họa.

2.  Bài đọc suy gẫm:  Nhân chuyện toàn thể báo đài quốc nội hô hoán ầm ỹ lên về việc Thứ trưởng Bộ Y-Tế Việt Nam xài bằng giả nhưng quan chức thiệt và siêu sao này lại có rất nhiểu “sự cố” vấn đề bê bối trong quá trình công việc điều hành bộ. Blog 16 xin tuyển đăng bài viết dí dỏm  Bằng Thiệt, Bằng Dỏm hay “Tại Tôi…Không May của X-cafe Netter Phương “N”. 16 xin chân thành cám ơn quý anh chị đã chuyển những bài đọc hay từ khắp nơi đến kèm theo chú thích đề nghị đăng trên blog 16 từ trước tới nay.

 

Bằng “dỏm” của trường đại học nổi tiếng Harvard được cấp cho chú “Gúk”


Tại tôi… không may
Phương “N”

Ở Việt Nam người ta hay nói đến bằng A, bằng B, bằng C để định mức cho trình độ ngoại ngữ tiếng Anh được học ở các “Trung Tâm Đào Tạo” (TTĐT) ngắn hạn, hoặc bằng cử nhân Anh Văn cho bậc đại học chính quy dài hạn 4 năm.

Tiếng là bằng cấp hay đúng hơn là một loại chứng chỉ (certificate) của các TTĐT ngắn hạn (vocational centre) nhưng đừng xem thường nó à nha!.

Như đã kể ở bài trước, có một dạo tôi làm việc cho một công ty của Thụy Sĩ có chi nhánh ở Việt Nam . Quanh năm ngày tháng tôi hết ở Hà Nội rồi đến Sài Gòn, những lúc ở Sài Gòn, buổi tối tôi cũng thường hay la cà bụi đời nơi mấy cái quán bar ở Phạm Ngũ Lão (Sài Gòn) để nhìn “tây ba lô” cho đỡ nhớ xứ “xứ người”. Lúc đó, ngồi đía dóc với mấy người đẹp chân dài làm pha chế cho quán bar ở đây, tôi đã vài lần được các nàng cho biết các nàng cũng đang theo học bằng B, bằng C tiếng Anh ở các TTĐT trong phố. Để chứng minh, các nàng còn “khè” cho tôi coi một số bài tập của thầy cho đem về nhà làm. Nhìn các bài tập này tôi thấy nó khó dàn trời mây luôn đối với một thằng đã ở Úc trên 10 năm, và cũng có chút học hành lem nhem ở đây như tôi.

Tình thật mà nói nếu cho tôi làm một bài luận văn của học viên đang học tiếng Anh ở mức bằng C ở trong nước thì tôi… bí lù. Làm được chết liền! Vậy thì trình độ ngoại ngữ của dân mình ở trong nước phải giỏi lắm chứ. Bởi vì hầu như ai cũng có vài cái bằng cấp phải học bằng ngoại ngữ hết. Bằng B, hay bằng C là loại “lôm côm” nhất chứ người ta còn có đến bằng Thạc sĩ hay Tiến sĩ , Giáo sư đào từ các đại học ngoại nữa kìa…

Cho đến một hôm, công ty (nước ngoài) nơi tôi đang làm việc có nhu cầu tuyển thêm một số nhân viên địa phương mới. Thằng sếp thấy tôi là (gốc) Việt Nam , lại biết nói tiếng Việt “very well” (rất nhiều “vi kê” khác về nước làm không biết nói tiếng Việt đâu nha!) nên đẩy cho tôi ôm cái công việc mà tôi không khoái tý nào, đó là phỏng vấn các ứng đơn xin việc để tuyển người.

Phải công nhận là ở Việt Nam mình chuyện gì thì chậm chứ chuyện đăng báo tuyển người thì vô cùng hiệu quả, rất là nhanh. Mẩu quảng cáo đăng lên báo chỉ có 1 ngày thôi thì phòng nhân sự đã nhận được trên 40 hồ sơ xin việc. Công ty tôi chỉ tuyển có mấy người nên sếp giao cho tôi làm cái chuyện khó nuốt là chuyện sàn lọc để loại bớt.

Ngày phỏng vấn, tôi chỉ cho hẹn chục 12 người, chọn lựa những ai có đơn xin việc tương đối thích hợp nhất mà tôi đã tham khảo trước…

Thú thật là lần đầu tiên xem hồ sơ của các bạn trẻ trong nước tôi có chút ngạc nhiên là sự đồng bộ giống y khuôn nhau trong các hồ sơ xin việc. Người nào cũng có một cử nhân hay cao đẳng hệ chính quy nào đó, ai cũng có vài chứng chỉ ngoại ngữ tiếng Anh bằng B hay C, và ai cũng có thêm vài bằng vi tính loại sử dụng thành thạo các thứ Office Word, Excel, Power Point, Asset v.v… Người này giống y chang người kia.

Đọc xong xấp hồ sơ của các ứng viên tôi mới thấy cái khó cho người chọn lựa. Ai cũng như ai thì biết chọn… ai đây? Vì vậy tôi đành phải xem qua mấy… tấm hình dán trong đơn xin việc để làm tiêu chí mà “sàn lọc” bớt số đơn thặng dư. Tôi xin thành thật mà nói là tôi biết rõ các công việc của công ty tôi đang muốn tuyển chẳng có liên quan gì đến chuyện hình ảnh xấu đẹp của ứng đơn hết, nhưng tôi đành phải “tội nghiệp ” cho những ai đi xin việc ở trong nước (nhất là mấy cô) mà không có “ngoại hình” loại “điện nước đầy đủ” (dễ nhìn).

 Đại học danh tiếng của quận Cam, University of California, Irvine nằm sát nách Little Sài-Gòn của Mít tị nạn.  Theo Blogger Nguyễn Văn Tuấn, trường đại học Irvine bị cơ sở kinh doanh bằng cấp “dỏm”,  nhái theo những chương trình, thời gian học, ban giảng huấn, phương cách giáo dục,… tạo ra chuyện Irvine University từng hợp tác vơi Đại học Quốc Gia Hà- Nội,  đào tạo thạc sĩ quản trị kinh doanh! (MBA). Các quan đỏ cứ thế lấy tiền của dân, ị lên đầu dân, mua bằng “dỏm” xài “búa xua”. Ngao ngán thay!

Đành rằng có rất nhiều công việc tuyển dụng chẳng có chút xíu liên quan gì đến … điện nước của mấy nàng, nhưng như đã nói khi mà hai ứng đơn giống nhau y chang về văn bằng, về chứng chỉ chuyên môn thì người tuyển chọn chỉ còn biết “trông mặt mà bắt hình dong” thôi chứ làm cách nào khác giờ.

Cuối cùng tôi cũng chọn ra hơn chục bộ hồ sơ loại “ngon cơm” nhất, và nghĩ là buổi phỏng vấn chỉ cho có lệ, chỉ gặp để nhìn rõ “dung nhan” của nhau thôi chứ người nào trong nhóm xin việc này cũng có trình độ toàn hàng “chiến đấu” không hà. Nhất là cái khoản tiếng Anh và vi tính, nhìn cả đống bằng cấp và những chứng chỉ mà họ đính kèm thì tôi biết mấy thứ này họ giỏi hơn tôi là cái chắc rồi chứ còn phỏng vấn phỏng viếc làm gì nữa.

Ấy! Nghĩ vậy mà không phải vậy đâu bạn mình ơi! Tôi không biết khi đi xin việc ở nơi khác người ta phỏng vấn ra sao. Còn tôi thì như đã nói, tự biết “tài” của mình, nên tôi không dám ba xí ba tú hỏi lôi thôi sẽ dễ bị lộ tẩy mấy cái dốt của tôi trước mặt các ứng viên. Hơn nữa phần vi tính các công việc mà tôi đang tuyển không cần phải đòi hỏi trình độ cao siêu để biết cách đút “phần mềm” vào hay rút “phần cứng” ra (khi nó không còn… cứng nữa) khỏi ổ máy v.v… Tôi chỉ cần họ biết đánh văn bản trên computer thôi, vậy là đủ. Vì vậy tôi không dám múa rìu qua mắt thợ (ở Việt Nam rất nhiều bạn trẻ rất giỏi về computer), tôi chỉ đẩy cái laptop của tôi đang xài cho anh chị ứng viên đang phỏng vấn xin việc, và nhỏ nhẹ … nhờ “em gõ dùm cho tôi chừng 10 câu, một bài ca, bài thơ hay bất cứ cái gì mà em thuộc”.

Tôi tin rằng chỉ cần nhìn người nào dạo chừng 2 câu trên bàn phím thôi chứ đừng nói gì đến 10 câu là tôi có thể biết được khả năng đánh máy của họ như thế nào rồi chứ cần gì nhìn cái bằng cấp ghi là một phút mấy chữ.

Vậy mà các bạn có biết chuyện gì xảy ra không? Thiệt là không tưởng tượng được trong 12 người dự phỏng vấn với Word, Excel, Power Point thứ gì họ cũng có bằng cấp chứng chỉ, với chú thích đạt yêu cầu loại “khá”, nhưng khi cần gõ máy thì họ nhìn cái bàn keyboard như nhìn cây “thiên ma cầm” trong phim chưởng vậy. Dấu chấm, dấu phẩy, xuống dòng v.v… Họ chăm chú tìm trên bàn phím như thầy pháp tìm bùa lỗ bang.

Đó là chưa kể trong buổi phỏng vấn này tôi đã khám phá thêm vài “bí kiếp” tuyển dụng chắc là khá “đại trà” ở trong nước. Nếu như các cô chân dài có lợi điểm dùng ngoại hình để đánh bại đối thủ khi đi xin việc thì phía các anh cũng biết tận dụng thủ tục “đầu tiên” (tiền đâu) để lót tay người phỏng vấn.

Hôm đó tôi thực hiện buổi phỏng vấn với riêng từng người, và trong phòng riêng khi chỉ có “sếp” và người xin việc thì đã có hai ứng viên nam, một mạnh dạn đẩy cái bao thơ (tiền) về phía tôi với câu chào mở đầu “Sếp cho em gửi các cháu ăn quà..” , còn anh thứ nhì đã quên luôn mục đích của anh đến gặp tôi là để phỏng vấn xin việc làm, anh thân thiện đến bất ngờ, cứ nằn nì rủ rê tôi (như rủ bạn anh vậy) chiều tan việc đi uống bia với anh. Anh giới thiệu là “có biết có cái quán mới mở ở Tân Định toàn “hàng” (nữ tiếp viên) chiến đấu không hà… sẵn sàng phục vụ từ A đến Z”

Còn phía “chân dài” các nàng cũng không lép vế, không phải ai cũng vậy nhưng một vài nàng đã biểu diễn vài “chiêu” thật ngoạn mục. Các nàng gọi “sếp” bằng anh xưng em ngọt như mía lùi. Đứng lên ngồi xuống luôn thể hiện kiểu cách y như đang đi thi hoa hậu. Có một nàng trong nhóm xin việc hôm đó, cứ chống tay lên cầm mà nhìn ông “sếp” đang phỏng vấn mình cười cười mỉm mỉm thiệt là đẹp mê hồn làm cho tim tôi nhảy muốn rớt ra ngoài luôn.

Còn chết người hơn nữa là cái cách của nàng này nhìn người đang phỏng vấn nàng, là tôi đây, y chang như trong tiểu thuyết ba xu của Mỹ gọi là nhìn kiểu “love at first sight”, còn tiếng Việt mình các nhà văn trữ tình cũng diễn tả đó là “tiếng sét ái tình” hay “yêu ngay lần đầu” gì đó… Kể luôn cụ Nguyễn Du thi nhân đại tài của nhà mình năm xưa cũng đưa kiểu nhìn này vô tác phẩm Đoạn trường tân thanh của cụ. Đó là “Người đâu gặp gỡ làm chi, trăm năm biết có duyên gì hay không…”

Má ơi! Cũng may là “sếp” (dỏm) này chưa được công ty cho tiêu chuẩn tuyển thư ký riêng cho mình nên đành vừa tụng kinh vừa ngó lơ chỗ khác để tránh ánh mắt “ba đào dị nịch nhân” đắm đuối đến làm người ta chết chìm được của cô em chân dài đi xin việc hôm đó…

Kết quả có 8 ứng viên trong số 12 đơn có đủ các loại văn bằng chuyên môn về “phần cứng phần mềm” nhưng không gõ được vài dòng chữ cho liền lạc bằng keyboard…

Phần tiếng Anh cũng vậy, như đã nói, tôi vốn hơi “ớn ợn” với trình độ tiếng Anh của mấy trung tâm ngoại ngữ trong nước nên cũng chẳng dám hỏi han gì nhiều mà chỉ yêu cầu các ứng đơn “xin bạn kể cho tôi nghe bằng tiếng Anh, sáng giờ bạn làm gì. Thí dụ bạn thức dậy lúc mấy giờ, ăn sáng món gì, bạn đi bằng cách gì đến đây, bạn có thể chỉ đường cho tôi đi từ đây ra hồ… con rùa hay không””

Chỉ đơn giản vậy thôi. Tôi nghĩ rằng nếu anh chị nào đó có thể nói được cho tôi nghe chừng năm ba câu thôi thì tôi có thể nhắm mắt mà phê đại mấy chữ “đạt yêu cầu” vô phần tiếng Anh của họ cái cho rồi.

Nhưng tiếc thay! Cũng như phần vi tính, phần tiếng Anh cũng hầu như không ai thể hiện được điều gì như trình độ của các bằng cấp hay chứng chỉ mà họ có. Cuối cùng chỉ có 3 anh chị giọng nói tuy chưa được hay lắm, nhưng khả năng Anh ngữ của các anh chị này cho tôi tin là họ có học thật chứ không phải loại có bằng thật mà học dỏm.

Ngài Thứ trưởng Y-tế nước CHXHCNVN bị uýnh tơi tả vì chức thiệt mà bằng giả,  Blog Khai Trí đòi hỏi giùm cho hơn 80 triệu dân, vì sức khỏe và sinh mệnh của họ có thể bị ảnh hưởng bởi chất lượng “tri thức” của ông, rất cần ông trả lời trên báo chí. Riêng Web Hà Tĩnh Mình Thương còn đưa ra danh sách các quan đỏ nào đang xài bằng gỉả.  Ôi nhân tài như lá mùa thu ở nước ta!  Mùa “Thương Khó” của các đại gia…

Thì ra, sau buổi phỏng vấn tôi mới hiểu tại sao các hồ sơ xin việc lại có nhiều sự đồng bộ như vậy. Rất nhiều các loại chứng chỉ ngoại ngữ, chứng chỉ vi tính được các trung tâm đào tạo “bán” cho người xin việc như người ta bán một cần thiết phải có trong đơn xin việc chứ không cần chất lượng của bằng cấp hay chứng chỉ đó. Rất nhiều TTĐT ở trong nước chỉ cần có học viên ghi danh, có đóng đủ học phí là có chứng chỉ, không nhất thiết là phải có học hay khảo sát (thi) đạt yêu cầu…

Điều này đã làm cho trình độ của các chủ nhân của bằng cấp chứng chỉ thành đồng bộ, và đã làm cho rất nhiều người tuyển chọn phải lấy những tiêu chí không liên quan đến chuyên môn để mà chọn lựa như “ngoại hình”, “điện nước”, “”bao thơ” v.v…Trong đó mém chút nữa là cũng có tôi luôn.

Hôm đó nếu không kịp nhớ lại tôi vừa tự mình ký bản án chung thân với một “tiger” biết nói tiếng người, bây giờ đang làm mẹ của 2 đứa con gái tôi, thì tôi đã tuyển cô nàng “love at first sight” kia vô công ty chỗ tôi đang làm rồi.

Thế thì, có lẽ các bạn đang thắc mắc là bộ mấy ông chủ tuyển dụng nhân sự hoặc các sếp phỏng vấn nào cũng nhận bao thơ hay “tiếng sét ái tình” (như tôi) và để cho mấy cái bằng dỏm “lướt” đi một cách dễ dàng vậy sao?

Không hẳn là vậy, nhưng sự thật thì cũng có rất nhiều sếp không có trình độ (vi tính hay tiếng Anh) như các loại bằng cấp chứng chỉ thể hiện, nên không có khả năng khảo sát chất lượng thật của người “đã học” các loại bằng cấp này là học thiệt hay học dỏm.

Chuyện này cho đến hôm nay vẫn còn khá phổ biến ở nước mình. Đó là những bằng dỏm và bằng giả, bằng cách nào đó, đã len lỏi vào lực lượng nhân sự của tất cả mọi vị trí trong đủ các loại ngành nghề ở phía chính quyền lẫn tư nhân, và được chấp nhận y như bằng… thiệt.

Xin mở ngoặc ở chỗ này để quý bạn đọc ở nước ngoài hiểu thêm, ở nước mình bây giờ người ta phân biệt hai chữ “bằng dỏm” và “bằng giả” là hai loại khác nhau. Việc này đã được một “cao nhân” sử dụng bằng dỏm (hay giả) tự định nghĩa một cách rõ ràng cách đây cũng khá lâu. Đó là vị Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên, một tỉnh nằm cạnh Nha Trang ở đâu đó ngoài miền Trung.

Nếu tôi nhớ không lầm là năm 98 hay 99 gì đó. Khi bị báo chí phanh phui là bằng cấp ông này đang sử dụng, là một cần thiết cho chức vụ Chủ tịch mà ông đang làm – hình như là bằng tốt nghiệp phổ thông lớp 12 thì phải – là bằng giả. Ông chủ tịch của mình đã “nổi dóa” đăng đàn mở họp báo lớn tiếng ong óng cãi lại là:

“Tôi công nhận tôi không có học mà có bằng là vi phạm, nhưng bằng này là bằng thật chứ không phải bằng giả. Con dấu thật, chữ ký thật do Giám đốc sở giáo dục tỉnh Đồng Nai cấp đàng hoàng (không tin hỏi ổng coi!) sao lại gọi là giả được”.

Sự việc được “khui” thêm ra là 2 ông chức sắc ở tỉnh Phú Yên và tỉnh Đồng Nai đó đã áp dụng tính ưu việt của nền “kinh tế đối lưu” trong thời bao cấp trước đây. Lúc còn bao cấp người ta ít khi xài tiền, mà là dùng hàng hóa để trao đổi (như thời… đồ đá vậy). Ông Phú Yên có biển, có rừng nên cho ông Sở Giáo Dục Đồng Nai ít gỗ vụn để xây nhà, xây dư thì bán đi cho người ta làm củi chụm cũng được mà. Có… vài ngàn mét khối thôi chứ mấy.

Ngược lại ông Đồng Nai có cái Sở Giáo Dục hàng năm “búng” ra cả vài chục ngàn cái bằng trung học phổ thông thì tiếc gì không “búng” cho bạn mình một cái. Bằng thiệt, chữ ký thiệt đàng hoàng ai dám bảo là bằng… giả đâu.

Bó tay luôn phải không quý vị! Lúc đó báo chí trong nước đã bầu cho câu nói của ông Chủ tịch Phú Yên là “câu nói hay nhất trong năm” của quan chức nước mình. Và (có lẽ) từ đó chữ “bằng dỏm” được ra đời để chỉ loại bằng có con dấu thiệt, chữ ký thiệt, có lưu chiếu vào sổ bộ thiệt đàng hoàng, nhưng chủ nhân của nó không cần do học (thiệt) mà có. Và cũng từ đó trong lý lịch của một số quan chức trong phần trình độ văn hóa học vấn, nhiều vị khai tốt nghiệp cử nhân kinh tế, cử nhân luật v.v… Có vị cẩn thận hơn đã mở ngoặc đóng ngoặc mấy chữ (có học thiệt) để chú thích phân biệt với các loại bằng, cũng thiệt y như của họ, nhưng là học dỏm.

Còn loại bằng giả khác với bằng dỏm vừa kể là bằng giả không có con dấu thiệt, không có chữ ký thiệt, không có lưu chiếu. Người có được (bằng giả) là do in ấn nháy hiệu cho giống y thiệt, rồi lấy củ khoai tây tự khắc thành con dấu giả, nháy theo dấu thiệt, như đồng hồ nháy hiệu vậy, hoặc cạo sửa từ bằng thiệt của người khác rồi bỏ đại (mẹ) tên mình vô.

Như vậy thì người xài bằng giả và bằng dỏm về hình thức thì khác nhau, nhưng có một điểm giống nhau là cả hai không ai cần phải đi học (thiệt) để có bằng.

Ngày nay ở nước mình, sự kiện bằng dỏm & và bằng giả không chỉ ở những loại “lôm côm” như mấy cái chứng chỉ vi tính hay bằng B, bằng C của tiếng Anh để đi xin việc, hoặc bằng tốt nghiệp trung học phổ thông như ông chủ tịch Phú Yên năm xưa mà còn “leo cao” hơn đến các bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ, Giáo sư v.v… đã không còn là chuyện hiếm thấy…

Bằng dỏm và giả với học vị càng cao thì người sử dụng nó, thường là có chức quyền hay tiền, nên càng dễ đạt được yếu tố “tiêu cực” lúc dự tuyển bổ nhiệm vào các chức vụ cao (đa số là viên chức, công chức cấp cao của nhà nước), hoặc là vì bằng ở loại học vị cao nên nơi nhận (việc) cho các loại bằng cấp này, vì không có trình độ khảo sát nên đã dễ dàng để bằng dỏm hay giả biến thành bằng… thiệt.

Trong tháng (7-2010) vừa qua, chắc quý bạn đọc cũng đã biết rồi, báo chí trong nước lại lùm xùm lu xa bu thêm hai bằng Tiến sĩ “dỏm” do không học mà có, mà lại còn ác liệt hơn nữa, các bằng Tiến sĩ dỏm kỳ này ngoài chuyện có chữ ký thật, con dấu thật nhưng lại được mấy trường đại học “không có thật” (trường ma) cấp.

Không biết các chủ nhân của hai bằng Tiến sĩ này có mạnh miệng cãi là “bằng của tui là bằng thật có con dấu thật, chữ ký thật chỉ do trường… dỏm cấp mà thôi nên không thể gọi là bằng giả được…” như ông Phú Yên năm xưa hay không.

Hai bằng Tiến sĩ mà báo chí mới phanh phui kỳ này. Một là của ông Giám đốc Sở “Văn hóa & Du lịch” Phú Thọ, và bằng thứ hai là của ông Phó bí thư Tỉnh ủy tỉnh Yên Bái.

Theo báo chí trong nước thì ông “Sở văn hóa” Phú Thọ có bằng Tiến sĩ được đào tạo ở nước ngoài, nghĩa là phải học bằng tiếng Anh, mà khả năng tiếng Anh của ông thì lại “xem xem” với mấy anh xin việc mà tôi phỏng vấn lúc trước.

Nghĩa là ông không kể được bằng tiếng Anh hồi sáng này ông ăn sáng món gì, tối hôm qua ông đi bia ôm ở quán nào, có vụ… A đến Z với mấy cô tiếp viên ở đó không… chứ đừng nói gì đến việc ông làm luận án khoa học bằng tiếng Anh để được cấp bằng Tiến sĩ…

Và ông Phó Yên Bái thì còn “thần đồng” hơn nữa, từ lúc ông có quyết định lãnh tiền của nhà nước hỗ trợ cho ông đi học cho đến lúc ông “khè” cái bằng Tiến sĩ ra cho thiên hạ ớn chơi chỉ có… 6 tháng.

Chuyện mà báo chí trong nước thấy đáng nói là cả hai bằng Tiến sĩ này đều có giá “học phí” (dù chẳng cần đi học) là 17,000 đô Mỹ để có. Cả hai đều nằm trong tiêu chuẩn sử dụng tiền “quỹ hổ trợ” của nhà nước dành cho cán bộ hiếu học muốn nâng cao trình độ để lấy cái bằng này.

Chuyện của hai ông Tiến sĩ dỏm ở Phú Thọ và Yên Bái lấy tiền nhà nước, không đi học mà vẫn có bằng dường như đã làm ức lòng đến hai ông Tiến sĩ (thiệt) đang làm việc tại các đại học và viện nghiên cứu của Úc đó là Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Văn Tuấn (Sydney) và Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc (Melbourne)

Giáo sư Tuấn qua bài viết “Thêm bằng chứng về bằng giả trường dỏm” cho rằng ông Phó bí thư Yên Bái bị (trường dỏm) lừa gạt, hay là ông sẵn sàng (để cho) bị lừa gạt khi tốn 17 ngàn để lấy cái bằng ở một trường đại học không có thật, và cái bằng đó chỉ là một tấm giấy lộn chứ không có giá trị gì hết.

Và ở một bài khác “Bằng tiến sĩ dỏm giá 17,000 đô – Hãi” Ông Tuấn cho biết lý do người sử dụng bằng dỏm (ở trong nước) không chỉ mục đích lòe thiên hạ cho oai mà còn là một nhu cầu cho chức quyền.

Đồng lúc đó Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc cũng viết 2 bài “Bằng giả và bằng dỏm” và “Tiến sĩ dỏm ở Việt Nam”

Ông Quốc cho là xài bằng giả để lòe thiên hạ cho sướng thì vấn đề chỉ là tâm lý và đạo đức chứ không liên quan đến pháp luật, chính quyền không can thiệp nhưng nếu sử dụng cái bằng dỏm hay giả ấy để mưu lợi thì lại khác. Ví dụ để xin dạy trong các trường học hoặc để thăng quan tiến chức như ông Phó bí thư Yên Bái thì: Nó trở thành một hành động lừa bịp…

Và cũng cùng lúc này tờ báo mạng TuanVietnam.net ở trong nước cũng có bài châm biếm sự giải trình của chính chủ nhân cái bằng Tiến sĩ dỏm không biết tiếng Anh là ông Giám đốc Sở văn hóa Phú Thọ.

Cũng như ông Chủ tịch Phú Yên năm xưa. Ông giám đốc Sở Phú Thọ này cũng đăng đàn họp báo, ông đến tận tòa soạn báo TuầnViệtNam.Net, nhờ tiếng nói của tờ báo này để giải trình qua hình thức phỏng vấn hỏi đáp về việc ông tốn 17,000 đô để “học” cái bằng Tiến sĩ ở nước ngoài mà không cần biết một chữ tiếng Anh

Trong bài hỏi đáp của TuầnViệtNam.net ông Giám Đốc Sở Phú Thọ này hé lộ me mé ra là còn đến… 10 quan chức khác cũng có bằng Tiến sĩ ở cùng trường “dởm” với ông. Mấy ông học bằng cách “online” (hàm thụ từ xa qua mạng) và nơi dạy không yêu cầu người học phải biết tiếng Anh. Ông khai những người khác (cũng là quan chức nhà nước ở Phú Thọ và Hà Nội) cũng học cùng “lò” nơi ông học, cũng được cấp bằng như ông, nhưng người ta không ai bị gì cả, còn ông chỉ là…

“Tại tôi không may thôi!”

Đúng là “pó toàn thân” luôn chứ không thèm “pó tay” nữa với chuyện “quê nhà xứ huyện” của nước mình phải không quý vị? Dùng tiền của nhà nước (là tiền của dân) “mua” một bằng cấp là một “tấm giấy lộn không giá trị gi hết” để “thăng quan tiến chức” và “mưu lợi” cho cá nhân mình. Khi bị đổ bể đối với mấy ông không là “một hành động lừa bịp” mà chỉ là “Tại tôi không may thôi!”

Không biết câu nói này có nên bầu là “câu nói hay nhất trong năm” của quan chức mình lần nữa không các pác nhẩy!

Phương “N”

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

X-Cafe

Blog Khai Trí

Hà Tĩnh Mình Thương

Blogger Nguyễn Văn Tuấn

Blogger AnhBaSG