Tổng Thống Xin Lỗi – Anne Khánh Vân

Bài đọc suy gẫm: Tổng Thống Xin Lỗi hay Chuyện Nước Mỹ, Chuyện Việt Nam của Anne Khánh Vân, người đoạt giải thưởng Viết Về Nước Mỹ về viết văn hay nhất trong năm -do Việt Báo Nam California tổ chức. Nhân dịp năm mới 2012.  Mười Sáu mời các bạn cùng chia xẻ với tác giả bài đọc lý thú này, cùng thân chúc các bạn đọc, thân hữu một năm gặt hái, bội thu từ những niềm tin của mình. Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

Chuyện Nước Mỹ – Chuyện Việt Nam


Anne Khánh Vân
Tác giả đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2007.  Sinh năm 1974 tại Saigon, tốt nghiệp kinh tế tại Pháp, Anne Khánh Vân hiện sống và làm việc cho một công ty quốc tế tại Virginia. Bài mới nhất của cô là những ghi nhận có nhiều chất thời sự.
***

“Cold beer, warm words” – “Bia lạnh để đưa lời ấm áp” là nhan đề của nhiều bài báo Mỹ hôm 30 tháng 7, 2009, tường thuật buổi gặp gỡ giữa Tổng thống Obama, giáo sư da màu nổi tiếng của đại học Harvard: Henry Louis Gates, và vị trung sĩ cảnh sát da trắng nhiều thâm niên và thành tích: James Crowley.  Sở dĩ phải đưa lời ấm áp là vì chính Tổng thống Obama lỡ lời.

Tổng Thống da màu Barack Obama (phải) , Phó Tổng Thống da trắng Joe Biden (trái, aó trắng)vui vẻ cụng ly với ông cò da trắng James Crowley (giữa, cà vạt đỏ) và ông giáo sư da màu Henry Louis Gates (trái,ngoài cùng).

Ông giáo sư da màu vừa bay từ bên Tầu về nhà. Ổ khoá cửa trước bị phá hư. Ông và người tài xế phải cạy cửa sổ trèo vô nhà. Một bà qua đường thấy khả nghi, mở cell phone gọi. Cảnh sát đến, ông giáo sư danh tiếng không chịu ra trình giấy, bị còng dẫn về bóp, nửa buổi rồi thả.
Chuyện chỉ có vậy nhưng truyền hình báo chí ầm ĩ.  Sau đó, trong một buổi gặp gỡ giới truyền thông, thình lình bị hỏi về chuyện này, Tổng Thống Obama lên án phía cảnh sát là “hành động ngu xuẩn” (acted stupidly) dù chính ông đã xác nhận chưa thật sự hiểu rõ chi tiết sự tình.
Nội vụ được làm rõ: Khi đến nhà giáo sư Gates, ông cò James Crowley không đi một mình mà còn hai ông cò đồng nghiệp: một ông gốc Phi châu và một ông gốc Mễ.  Biện pháp hành xử nghiệp vụ được thực hiện đúng luật. Và phía cảnh sát lên truyền hình, với đủ màu da đứng bên nhau, đòi Tổng Thống xin lỗi.
Chiều tối xong việc, ông cò James và bạn bè kéo nhau vô một quán bia.  Đang nhâm nhi thì điện thoại sở gọi: Hãy sẵn sàng. Mười phút nữa Tổng Thống sẽ điện thoại.  Tin được loan ra, cả quán bia cùng “wao” rồi yên lặng chờ đợi.  Đúng là Tổng Thống đích thân gọi, đích thân nhận lỗi lỡ lời và thăm hỏi.  Biết James đang trong quán bia, ông hẹn một chầu bia làm lành ở Bạch Ốc. Và màn “Beer Summit -Thượng Đỉnh Bia” thành hình.
Một chiều Thứ Năm đẹp trời, sau giờ làm việc, vị Tổng tư lệnh của quân lực Hoa Kỳ đóng vai “batender-in chief / tổng tư lệnh quầy rượu,” khui bia cho các vị khách.  “Chỉ có bia thôi. Không thượng đỉnh gì hết.”  Tổng Thống da màu Barack Obama nói, và cùng Phó Tổng Thống da trắng Joe Biden vui vẻ cụng ly với ông cò da trắng James Crowley và ông giáo sư da màu Henry Louis Gates.
Sau 40 phút “Cold beer, warm words”, vị “chủ xị” nói trước khi tiễn khách: “I have always believed that what brings us together is stronger than what pulls us apart.”  Tôi luôn tin là những cái mang chúng ta đến gần nhau mạnh hơn cái đẩy chúng ta tới chỗ chia rẽ.” Ông còn nhấn mạnh thêm rằng vụ bia lạnh đưa lời ấm áp này là bài học đáng giá (“teachable lesson”) nhắc nhớ mọi người, đặc biệt những người khác màu da –trong đó có chính ông– hãy nên biết lắng nghe nhau, cư xử tử tế với nhau và chớ vội vã trong hành động, lời nói.

Khi chia tay, ông cò Crowley và ông giáo Gates hẹn sẽ còn gặp lại để trò chuyện. Sau đó ông giáo sư Gates gửi tặng hoa hồng cho người phụ nữ đã gọi cảnh sát khi thấy ông cố tông cửa vào nhà. Bà ta chỉ vì muốn bảo vệ an toàn cho ngôi nhà của ông mà sau đó bị nhiều người trách móc “chỉ tại cú phone của bà mà to chuyện.”

Là một người dân mọn hay một vị Tổng thống, ai cũng là con người, ai cũng có những khuyết điểm, ai cũng có thể phạm sai lầm.  Điểm đáng chú ý ở đây không phải là ai đúng, ai sai, ai hay, ai dở… mà là sự thẳng thắn nhận sai và trực tiếp dàn xếp xin lỗi, dù người lỡ lời có là một Tổng thống.
Việc mời giáo sư Gates và cảnh sát Crowley vào Bạch Cung uống bia lạnh, nói lời ấm áp tượng trưng cho văn hóa Hoa Kỳ: Thẳng thắn và phục thiện.  Nhờ vậy, không chỉ riêng sự hiềm khích giữa hai cá nhân khác màu da được mau chóng hàn gắn, mà lòng dân cả nước được xoa dịu, củng cố.
Có phải chỉ ở Mỹ mới có những chuyện như thế này?  Có phải chỉ dân chúng Mỹ mới dám đòi Tổng thống phải xin lỗi nếu Tổng thống làm sai?  Và có phải chỉ ở Mỹ mới có ông Tổng thống đủ “dũng khí” nhìn nhận với dân chúng rằng điều mình nói là sai và mạnh dạn xin lỗi?
Còn Việt Nam hiện nay thì sao?  Chán vạn cái sai của lãnh đạo đã được dân chúng và cả báo chí truyền thông của chính chế độ đề cập tới. Hậu quả ra sao?  Chỉ là các biện pháp trù dập, đóng cửa, cất chức, đuổi việc, đi tù.
Tôi chỉ ngu ngơ nghĩ, nếu người lãnh đạo Việt Nam có được cái dám nghe và dám sửa những cái sai của họ, đất nước chúng ta sẽ dần dà biến mất sự giả dối, lường gạt lẫn nhau. Từ căn bản này, sự tin tưởng và kết hợp giữa người dân và các cấp chính phủ mới mong tạo được sức mạnh thực sự.  Ai có muốn ăn hiếp hay xâm lăng, cũng không dễ!

***

Không đầy một tuần sau vụ “cold beer, warm words,” ngày 4 tháng 8, thời sự nước Mỹ lại có thêm một chuyện đáng chú ý khác:

Truyền hình Mỹ thi nhau chiếu cảnh máy bay của cựu Tổng thống Bill Clinton vừa từ Bắc Hàn trở về California.  Ông đã thành công trong việc “ngoại giao” để cứu hai cô phóng viên Laura Ling và Euna Lee – bị bắt giam từ ngày 17 tháng 3 với tội trạng “xâm phạm lãnh thổ Bắc Hàn.”  Họ bị tuyên án 12 năm tù khổ sai.

Cựu Phó Tổng Thống Al Gore (đứng giữa Laura Ling – áo nâu và Euna Le – áo xám) đang phát biểu trong buổi họp báo cấp tốc ngay khi phi cơ vửa đáp xuống phi trường Burbank, California.  Góc trái là cựu Tổng Thống Bill Clinton, người thành công trong vai trò sứ giả ngoại giao.


Laura Ling và Euna Lee làm việc cho hãng truyền thông Current TV – được sáng lập và điều hành bởi cựu phó Tổng thống Al Gore.  Hai cô đến biên giới Trung Quốc và Bắc Hàn để tìm hiểu tệ nạn phụ nữ và trẻ em Bắc Hàn bỏ trốn sang Trung Quốc tìm miếng ăn, lỡ bước sao đó bị Bắc Hàn bắt nhốt, tuyên án 12 năm khổ sai.  Sau gần 5 tháng bị nhốt giam cách ly, hai phóng viên đã được trả lại tự do, trở về Mỹ.  Nếu cựu Tổng thống Clinton không sang kịp thì bất cứ giờ nào trong 2 ngày sau đó, hai cô phóng viên sẽ bị đưa đi thi hành bản án 12 năm tù khổ sai.  Họ đã bị khủng bố tinh thần và hoang mang, thấp thỏm chờ đợi… Cuối cùng họ cũng được đưa đi… nhưng không phải đến nhà tù khổ sai mà là một nơi khiến họ ngạc nhiên ứa nước mắt khi nhìn thấy cựu Tổng thống Clinton đứng chờ sẵn trong phòng. Ác mộng của họ được kết thúc.
Vụ hai nhà báo được cứu từ Bắc Hàn về làm tôi nhớ câu chuyện ly kỳ hấp dẫn của cô Jessica Lynch. Năm 2003, tại chiến trường Iraq, một đơn vị xe tăng Mỹ bị tấn công khi lạc đường.  Jessica Lynch là nữ chiến binh duy nhất còn sống sót trong chiếc xe tăng tiếp tế lương thực.  Toán tiếp tế của cô đã lạc đường và bị tấn công.

Cả một lực lượng đặc biệt với chiến lược và chuẩn bị vô cùng công phu đã bí mật đến cứu thoát cô Jessica Lynch sau 9 ngày bị bắt.  Tôi còn nhớ khi xem đoạn phim chiếu chi tiết cảnh toán biệt kích đến cứu Jessica Lynch, tôi đã xúc động và khâm phục người Mỹ ra sao.  Họ quý trọng từng tính mạng.  (Hình dưới Jessica Lynch)

 

Cựu Tổng thống Clinton đi Bắc Hàn chỉ với tư cách cá nhân, máy bay chở ông đi cũng chỉ là một máy tư nhân, được tài trợ bởi nhà sản xuất phim Hollywood giàu có: Steve Bing.

Điều đáng chú ý khác, là hai phóng viên được cứu cũng không phải là người Mỹ da trắng; Laura Ling gốc Trung Hoa, Euna Lee thì gốc Đại Hàn. Họ cũng như những người Mỹ gốc Việt chúng ta nói riêng, và nhiều dân tộc thiểu số lưu vong khác nói chung.
Thế mới rõ, một khi đã sống ở Mỹ, trở thành công dân Mỹ thì dù trắng, đỏ, đen hay vàng… mọi người dân đều được quý trọng.
Đâu cần cứ phải là người Mỹ gốc da trắng như cô Jessica Lynch bị bắt làm tù binh bên Iraq thì mới được quan tâm giải cứu.

Lời của cựu phó Tổng thống Gore khi phái đoàn của cựu Tổng thống Clinton về đến Mỹ cùng hai phóng viên, rất đáng để ý, “It speaks well of our country that when two American citizens are in harm’s way, that so many people will just put things aside and just go to work to make sure that this has had a happy ending.” Đã có rất nhiều người sẵn sàng bỏ việc của họ sang một bên, góp công sức và thời gian vào việc cứu thoát hai phóng viên gặp nạn, để bảo đảm một hồi cuối có hậu.

Thấy sự quan tâm của nước Mỹ, người Mỹ dành cho những công dân của họ, không khỏi liên tưởng đến số phận bất hạnh của người dân trong nước.  Những người dân lương thiện không làm gì phạm pháp, chỉ vì yêu dân yêu nước mà nói sự thật thì đều bị đàn áp.  Hết người này đến lượt khác bị đối đãi tệ hại.
Nhiều sự việc cho thấy là trước khi phải thương lượng gì đó với Tây phương, nhà nước Việt Nam thường mở một cuộc đàn áp lớn, bắt giam cả lô người.  Để rồi khi vào thương lượng, bị yêu cầu phải thả tù chính trị và cải thiện nhân quyền trong nước… họ sẽ “tỏ thiện chí” bằng cách thả mấy người bị bắt.  Kết quả là nhờ vậy mà sẽ được “tưởng thưởng”.  Màn này thường được diễn đi diễn lại và đạt kết quả, giúp Việt Nam được Mỹ mở rào cản cho gia nhập WTO, đạt được nhiều thoả thuận thương mại với Mỹ.
Điều này thật chẳng khác nào hành hung đày đọa dã man chính con đẻ của mình để mè nheo hàng xóm.

Thời tôi còn bé xíu, gần nhà tôi có ông láng giềng nghiện rượu có tật hay đánh đập con cái dã man. Nghe lũ trẻ của ông ta kêu khóc, cha mẹ ở các nhà xung quanh sốt ruột quá phải chạy sang can. Có người còn nài nỉ ông đừng đánh con ông nữa, họ sẽ mua rượu ông uống.  Từ đó, cứ hễ thèm rượu thì ông hàng xóm lại mang con ra đánh đập.  Chuyện bi hài này hiện đang được phóng lớn lên kích thước lãnh đạo cả nước Việt Nam.  Đọa đày hành hạ người dân của chính đất nước mình để để có chuyện thương lượng trả giá với quốc tế.

Nước Mỹ không phải là mẹ ruột mà chỉ là “mẹ nuôi” của hàng trăm triệu đứa con lạc loài từ hàng trăm nòi giống khác nhau, trong đó có dân gốc Việt.  Vậy mà bà mẹ nuôi ấy đã cưu mang và thương yêu các con dù không phải là ruột rà của bà.
Mỗi khi xảy ra điều gì bất công với dân Việt trong nước thì người Việt hải ngoại thường hô hào và kêu gọi “mẹ nuôi Mỹ” giúp đỡ.  Nhưng dù mẹ nuôi Mỹ có tốt bụng, và những đứa con Việt Nam sống xa quê hương có “xót ruột” cho đồng bào trong nước mà hô hào, biểu tình đòi hỏi thì cũng vẫn không đủ.
Chính người dân Việt trong nước phải tự ý thức mà đấu tranh cho nhu cầu và quyền lợi chính đáng của họ.

***

Hôm Micheal Jackson chết, chỉ vài ngày rất nhanh sau đó, chưa thấy báo chí Mỹ đăng tải hình ảnh dân Mỹ khóc… thì đã có một bài viết “Mưa và nước mắt trong buổi tưởng niệm Micheal tại Việt Nam,” với khá nhiều hình ảnh các em Việt Nam khóc lóc, bưng hình, đốt nến, kéo đi thành đoàn dài… Y như một đám tang lớn được chính thức tổ chức cho Micheal Jackson tại công viên Thống Nhất Hà Nội.

Là ông hoàng nhạc Rock, Micheal Jackson đáng được nhớ đến cho những đóng góp xuất sắc của ông.  Nhưng hình ảnh các em bé Việt bị bắt đi tập họp ôm nhau khóc Micheal Jackson chỉ là trò dựng cảnh, đóng kịch, để chụp hình lòe thiên hạ, chứ chẳng thật chút nào.

Phải chăng báo chí người lớn tại Việt Nam cần màn khóc giả này để lấp liếm đủ thứ chuyện thật sự đáng khóc:
– Trung Quốc xây đập chận nước ở thượng nguồn sông Cửu Long. Vựa lúa miền Nam ở đồng bằng Cửu Long phía hạ nguồn đang bị đe dọa tiêu vong. Lúa má, mùa màng, lưới cá dân miền Nam rồi sẽ ra sao?
– Trung Quốc sang Việt Nam khai thác quặng Bô-Xít ở Tây Nguyên sẽ gây thiệt hại nặng nề đến môi sinh.  Hàng trăm công trình xây dựng căn bản tại Việt Nam, kể cả con đường huyết mạch nhất của đất nước, đang được giao cho nhà thầu Trung Quốc. Báo Việt Nam chính thức loan tin có 35,000 công nhân Trung Quốc đã chính thức vào Việt Nam. Thực tế không kiểm soát nổi có thể cả trăm ngàn. Họ đang thiết lập ngay trong nội địa Việt Nam nhiều căn cứ, lãnh địa.
– Lãnh thổ Việt Nam, cả đất đai lẫn biển cả đang bị mang dâng cho Trung Quốc. Gần đây nhất, ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ, thuyền cá dân Việt bị “tầu lạ” húc chìm, không thấy nhà nước nào lên tiếng.  Trong khi ấy dân biểu tình đòi bảo vệ đất nước thì bị dẹp bỏ, bắt bớ.
“First class society is built only by first class citizens.”  Một xã hội, một đất nước hảo hạng phải được xây dựng và bảo vệ bằng những công dân hảo hạng.  Điều đó hầu như là chân lý trong lịch sử nhân loại.
Nhưng một đất nước sẽ không thể nào sống còn, cường thịnh nếu mọi cố gắng từ nhân dân đều bị chính cái chính phủ của họ dập tắt.  Nếu không có sự tự nỗ lực từ phía chính phủ thì dù người dân mọn, dân-hoàn-chỉnh, hay dân-hảo-hạng có cố gắng bao nhiêu cũng bằng thừa.
Winston Churchill, một vị lãnh đạo tài ba của thế giới đã căn dặn hậu thế rằng, “The healthy citizens are the greatest asset of any country can have.”

Phải quý dân và vì dân mới bảo vệ được biên cương, dân tộc, và tài nguyên.  Không bất cứ một cá nhân nào, dù là tài thánh, có thể cứu được đất nước chúng ta nếu lãnh đạo đất nước chỉ dùng dân như một thứ “con tin”, như miếng mồi, để mua lấy quyền lực cho họ.

 

Hình từ các báo trong nước đăng về biến cố Michael Jackson tại Việt Nam. (Xem thêm ở đây).

Khi tôi viết bài này, có tin Thượng nghị sĩ Jim Webb, chủ tịch Uỷ Ban Đông Á-Thái Bình Dương của Thượng Viện Hoa Kỳ đang viếng thăm các nước trong vùng Đông Nam Á: Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt và Cambuchia để chuẩn bị một số dự án cho tương lai.  TNS Jim Webb đã hội kiến tổng thống độc tài Miến Điện Than Shwe.  Hai vấn đề được nêu ra là xin trả tự do cho cựu chiến binh Yettaw và Aung San Suu Kyi.
TNS Jim Webb đã được chấp thuận giải cứu Yettaw, và được đồng ý một cuộc gặp gở thăm hỏi vị nữ anh hùng đấu tranh cho dân chủ Miến Điện Aung San Suu Kyi.  Cựu chiến binh Yettaw sẽ được mang ra khỏi Miến Điện sáng chu nhật 16-08.
Thượng nghị sĩ Jim Webb vốn rất thân thiện và có nhiều kỷ niệm với Việt Nam đặc biệt vùng đất cũng như người dân xứ Quảng (cũng là xứ sở của số ngư dân đang bị Trung Quốc bắt giam). Nhưng sự cố gắng của TNS Jim Webb nói riêng và Hoa Kỳ nói chung cũng sẽ chỉ kết quả nếu có sự nỗ lực thật sự từ phía người dân và chính quyền Việt Nam.
Liệu đến bao giờ nước Việt mới có được một chính quyền biết kết hợp với sức mạnh dân tộc để tự cứu chính mình?
Anne Khánh Vân

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Anne Khánh Vân Blog Spot 


Advertisements

Noel Không Chúa – Tạ Phong Tần

Vòng hoa Giáng Sinh trước Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ Trong Chiến Tranh Việt Nam tại Washington. (The VietNam Memorial Christmas Tree in Washington DC.)

Bài đọc suy gẫm:  Nhân dịp Noel về, Blog Mười Sáu xin thân chúc quý bạn đọc mùa Giáng Sinh an lành. Đồng thời mời gọi tất cả chúng ta cùng suy gẫm với “Noel Không Có Thiên Chúa tại Việt Nam” của Tạ Phong Tần. Chị hiện lại đang bị tà quyền  bắt giam vô cớ từ nhiều tháng nay. Với những nhận định tinh tế và bài viết sắc bén này chị chỉ ra những mưu đồ thầm kín của người cộng sản trong lãnh vực tôn giáo. Tức biến những ngày lễ quan trọng của các tôn giáo thành những ngày lễ hội, trở thành những dịp để ăn chơi, xa hoa, quên đi mục đích, ý nghĩa chính của ngày lễ.  Hình ảnh “hoành tráng” về Noel tại Sài Gòn-Hà Nội chỉ có tính cách minh họa.

Trong tất cả những bài báo có nội dung viết về lễ Noel không có bài nào chứa cụm từ “Thiên chúa’, “Chúa Hài đồng”, “Giê-su”, nói gì đến tên “Giu-se” hay “Maria”. Thật không có gì bi hài hơn khi viết bài về lễ Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta) nhưng lại không có Thiên chúa trong bài báo.

Linh mục Phêrô Nguyễn Quang Duy – Chánh xứ Giáo xứ Mẹ Hằng Cứu Giúp (nhà thờ Kỳ Đồng) cho biết Ngài lấy làm buồn khi thấy Noel không còn nét riêng mà dần dần trở thành một kiểu lễ hội bình thường như tất cả những lễ hội đang được tổ chức rầm rộ ngày một nhiều ở Việt Nam. Người ta lợi dụng lễ Giáng sinh như một cái cớ để lao vào để ăn chơi, để hưởng thụ, để kinh doanh, rồi sau đó, không ít thiếu nữ trẻ đã phải vào bệnh viện giải quyết cái thai ngoài ý muốn – kết quả của “một chút kỷ niệm đêm Noel năm ngoái”.
Nếu không chính mình đến nhà thờ Công giáo tham dự lễ Noel, mà chỉ đọc tất cả những bài viết trên báo “lề phải” ở Việt Nam, người đọc sẽ thấy người Việt Nam mừng ngày Thiên chúa giáng sinh bằng một lễ hội… không có Thiên chúa.

Lễ Noel có nguồn gốc từ câu chuyện Chúa Giê-su giáng sinh làm người. Trước đó, ngôn sứ đã gặp bà Maria và loan báo: “Này đây, trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là ‘Thiên Chúa ở cùng chúng ta’ ”. Noel là cách gọi tắt của từ Emmanuel mà ra. Để đón mừng ngày Thiên chúa giáng sinh, người Ki-tô hữu lại chuẩn bị trang hoàng nhà cửa, làm hang đá mô tả cảnh chúa Hài đồng ra đời, thật đẹp, thật lộng lẫy, tổ chức những nghi lễ trang trọng mừng Chúa hiện diện giữa loài người. Lâu ngày, lễ Noel không còn là ngày lễ riêng của Ki-tô hữu, mà đã trở thành một ngày hội vui vẻ của toàn thế giới, tất cả mọi người có đạo hay không có đạo cũng đều tham gia.

Noel – Hà Nội.



Hình chụp bên trong nhà thờ thì vắng vẻ dù bài viết có tựa đề “Rộn Ràng Ðón Giáng Sinh” của báo điện tử VietnamNet. Người thì đầy ngập đường phố và bên ngoài nhà thờ. Nhưng Thánh lễ Giáng Sinh ở khắp nơi, giáo dân và cả người không phải giáo dân cũng đến dự lễ ngồi chật cứng trong nhà thờ và tràn ra tận ngoài đường ở khắp nơi. (Hình: VietnamNet)

 

 

 

 

Đặc điểm chung của tất cả những bài báo viết về lễ Noel trong nước là thông tin người người đổ xô ra đường để xem những thứ ở ngoài đường (chớ không phải đến các nhà thờ). Tại 3 thành phố lớn nhất nước thì thành phố nào cũng kẹt xe trầm trọng. Ở Hà Nội người ta chen nhau để xem hoa đăng “do các nghệ nhân Việt Nam và Trung Quốc phối hợp thực hiện” dẫn đến tắc đường, và sau đó thì xung quanh hồ Gươm ngập tràn rác ơi là rác đủ các loại. Ở Sài Gòn cũng kẹt xe hàng loạt vì người dân muốn “tận mắt chứng kiến sự kiện “thành phố tuyết” độc nhất vô nhị từ trước tới nay”, “để bán các loại quà Giáng sinh rất dễ thương dành cho trẻ em và giới teen”. Ở Đà Nẵng, người ta tranh nhau mua quà, tặng quà dẫn đến “cháy quà” lưu niệm, tranh nhau xem “Thiên đường ánh sáng” dài khoảng nửa cây số trên phố Lê Duẩn, xem “14 vòm cong trang trí hàng trăm ngôi sao, đèn pháo hoa, đèn chùm… cùng các hiệu ứng ánh sáng được lập trình kỹ lưỡng khiến rất nhiều người đi đường phải xuýt xoa”.

Báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Vietnamnet còn có những bài nói về lễ Noel của người Việt trong nước. “Từ 19h, nhiều ngả đường tại các thành phố lớn đã chật kín người và xe. Các địa điểm quan trọng trong đêm Noel như những nhà thờ lớn, các điểm vui chơi giải trí, các khu vực trung tâm ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP.HCM là những nơi nhộn nhịp nhất”. “Nhiều bạn trẻ sau khi chen chúc ở các trung tâm thương mại trên đường Lê Lợi đã tìm đến khu vực tòa nhà Bitexco Financial Tower cao 68 tầng làm nơi chụp ảnh lưu niệm”, “Vui nhộn nhất phải kể đến có lẽ là Cung văn hóa Lao Động trên đường Nguyễn Thi Minh Khai, quận 1. Nơi đây đang có Hội chợ mùa đông thu hút nhiều gia đình đến vui chơi giải trí. Ngay sát mặt đường đơn vị tổ chức đã cho nhân viên của Hội chợ trong vai ông giả Noel, các nhân vật phim hoạt hình vẫy tay chào đón người qua đường. Nhiều em nhỏ được bố mẹ chở đi chơi phố khi thấy cảnh tượng này đã ríu rít đòi xuống chụp hình và bắt tay với ông già Noel tạo ra một khung cảnh vui nhộn và đầm ấm của không khí Noel Sài thành”.

Các báo khác như Lao Động, Dân Trí,… chỉ có bài viết mô tả Noel ở tận đẩu tận đâu các nước khác trên thế giới thật là chi tiết, ngay cả tình tiết một người đàn ông ở Anh muốn… cưới cây thông Noel cũng không bỏ qua.

Dưới ngòi bút của các nhà báo “lề phải”, lễ Noel đơn giản chỉ là vui chơi, giải trí, mua sắm, ăn uống, chỉ là ông già Noel mặc bộ quần áo trắng đỏ, râu tóc trắng cỡi xe tuần lộc đi phát quà, không cần biết ông Noel là ai và tại sao ông lại phải (có nhiệm vụ) mỗi năm đến ngày này tháng này đi phát quà. Một kiểu người có nghĩa vụ “cho” còn con người thản nhiên “nhận” không hề băn khoăn, không hề ái náy về cái sự “nhận vô tư” của mình.

Không biết vô tình hay cố ý mà Vietnamnet đăng hai bức ảnh bên trong nhà thờ vắng ngắt (không rõ nhà thờ ở đâu vì báo không chú thích) cùng một loạt những bức ảnh đường phố đông nghẹt người vui chơi, ăn uống, bày tiệc hẳn ra giữa bãi cỏ ngồi ăn.

Noel cũng là dịp để người ta tống khứ hàng ế dưới cái tên “hàng khuyến mãi”, hàng “sale off” giảm giá từ 30% đến 50% nhưng giá đã giảm rồi mà người mua bắt thang vẫn chưa thể trèo tới.

Noel- Đường Tự Do, Sài Gòn


Báo Tiền Phong (25/12/2010) giật cái tít “Noel: bí chỗ chơi, ‘cháy’ nhà nghỉ”. “Những nơi còn phòng thỏa sức nâng giá gấp ba, bốn so với ngày thường. Một phòng qua đêm có giá 400 – 500 nghìn. Tiến, nhân viên một nhà nghỉ trên đường Trần Duy Hưng ra vẻ chiều lòng khách: “Bốn trăm một phòng qua đêm là giá hữu nghị nhất rồi đó anh. Đi khắp cả đường này cũng không có đâu”. Hai, ba giờ sáng, trên nhiều ngã đường Hà thành vẫn khá nhộn nhịp cảnh người đi chơi, kẻ đi tìm chốn nghỉ. Có mặt đường Hoàng Quốc Việt, dễ bắt gặp cảnh các đôi, các nhóm dừng xe trước các nhà nghỉ, rồi nhanh chóng đi phóng xe đi luôn vì hết phòng”. Người đọc hiểu ngay 9 tháng sau báo này sẽ có bài mới tiếp theo chủ đề: Bệnh viện ‘cháy’ giường…

Hay Vietnamnet thì có bài “Hì hục tìm nhà nghỉ đêm Noel” nội dung tương tự bài của báo Tiền Phong, nhưng nhân vật trong bài là người khác. Tác giả bài viết còn dẫn chứng: “Anh P.T.L một kỹ sư xây dựng than phiền, đi chơi đêm Noel xong mà không thuê được nhà nghỉ ưng ý thì coi như mùa giáng sinh đó tan tành và hết ý nghĩa”.

Bài “Nô nức đón Noel” trên trang báo SGGP hơn 1.000 chữ mô tả về hoạt động mua sắm và các “gói khuyến mãi”, có cả mỹ phẩm, giày dép, dịch vụ chăm sóc sắc đẹp…

“Độc đáo” nhất là bài “Tưng bừng đêm Noel” (Thanh Niên ngày 25/12/2010) có 541 chữ, trong đó chiếm hết 206 chữ nói về hoạt động của lãnh đạo đảng CSVN, Nhà nước, MTTQ Việt Nam đi làm nhiệm vụ “chúc mừng các giáo phận nhân dịp Giáng sinh” rồi, tức là chiếm một nửa số chữ bài báo (không tính tít bài và sapô).

Trong tất cả những bài báo có nội dung viết về lễ Noel không có bài nào chứa cụm từ “Thiên chúa’, “Chúa Hài đồng”, “Giê-su”, nói gì đến tên “Giu-se” hay “Maria”. Thật không có gì bi hài hơn khi viết bài về lễ Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta) nhưng lại không có Thiên chúa trong bài báo.

Vòng hoa Giáng Sinh được treo bán tại Sài Gòn với giá gần trăm đô la mỹ. 🙂

 Người Việt Nam tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ trang trí cây thông Giáng Sinh nơi Bức Tường Tưởng Niệm các quân nhân Mỹ hy sinh vì Tự Do trong chiến tranh Việt Nam. Washington DC.  Link: about.com

 

Linh mục Phêrô Nguyễn Quang Duy – Chánh xứ Giáo xứ Mẹ Hằng Cứu Giúp (nhà thờ Kỳ Đồng) cho biết Ngài lấy làm buồn khi thấy Noel không còn nét riêng mà dần dần trở thành một kiểu lễ hội bình thường như tất cả những lễ hội đang được tổ chức rầm rộ ngày một nhiều ở Việt Nam. Người ta lợi dụng lễ Giáng sinh như một cái cớ để lao vào để ăn chơi, để hưởng thụ, để kinh doanh, rồi sau đó, không ít thiếu nữ trẻ đã phải vào bệnh viện giải quyết cái thai ngoài ý muốn – kết quả của “một chút kỷ niệm đêm Noel năm ngoái”.

Thông điệp mà lễ Noel theo tinh thần Tin Mừng đem đến cho mọi người là những bài học làm người (tuy cũ nhưng không bao giờ lỗi thời) mà chúng ta phải học suốt đời, trong đó, lễ Noel là một dịp ôn lại bài học cũ, bài học nhân từ, vị tha, khoan dung từ Thánh Giu-se, bài học yêu thương, nhẫn nhịn, vâng phục từ Mẹ Maria, bài học quên mình hy sinh, phục vụ, chịu thương khó vì người khác của Chúa Giê-su… không được nhấn mạnh, đề cao. Các giá trị tinh thần của ngày lễ Noel không được xem trọng. Theo Linh mục Nguyễn Quang Duy, “Người ta đang trần tục hóa lễ Giáng sinh”.  


Tạ Phong Tần 

 


 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Nhà Báo Tự Do Blog


Lộ Rõ Tim Đen – Alf. Hoàng Gia Bảo

 

Bài đọc suy gẫm:  Lộ Rõ Tim Đen hay Đôi lời cần nói về bài báo “Lộ rõ tim đen” của tác giả Alf. Hoàng Gia Bảo. Hình ảnh minh họa:  Đồng bào tại Koeln, Cộng Hòa Liên Bang Đức hiệp thông với Thái Hà và hình ảnh, tên tuổi (slide show) các thanh niên Công Giáo bị cộng sản bắt giam vô cớ.

 

 

Nhưng cho dù có giỏi che giấu cỡ nào thì sự thật vẫn luôn là sự thật và thực tế là khoảng chục năm trở lại đây, nhờ thông tin trung thực từ mạng internet dân chúng VN đã ngày càng nhận rõ ý đồ lợi dụng hiến pháp của CSVN để hạn chế nhiều quyền căn bản của người dân, và đã có rất nhiều tiếng nói đòi hủy bỏ chúng ngay từ trong nội bộ đảng này. 

Tờ Hà Nội Mới vừa có bài “lộ rõ tim đen” đề cập dến việc giáo xứ Thái Hà tổ chức đi khiếu kiện đông người hôm 2/12.

Bài báo là công sức ‘động não’ của cả tập thể ‘nhóm phóng viên’, theo đó việc khiếu kiện tranh chấp đòi lại bệnh viện Đống Đa của Thái Hà không phải do bức xúc về nhu cầu tôn giáo, mà nhằm giúp “những thế lực thù địch bên ngoài chỉ chờ cơ hội để gây ra một sự cố nào đó, rồi lấy cớ vu khống, tạo cơ hội cho những hành động can thiệp, lật đổ?” và họ gọi đó là “lộ rõ tim đen”!

Kiểu lập luận ‘diễn biến hòa bình’ chẳng lạ gì đối với nhiều người vì tờ HNM vốn đã quá nhiều tai tiếng về cách đưa tin gian dối, là nơi những ‘chú vẹt’ phóng viên đang ngày ngày lập đi lập lại không biết mệt mỏi giáo điều ‘nhìn đâu cũng thấy kẻ thù’ của chủ nghĩa cộng sản đã bị nhân loại quẳng vào sọt rác hơn 20  năm qua!

 

Còn gì để lộ?

Sau hơn nửa thế kỷ phải chung sống với quá nhiều tai ương do nhà cầm quyền CSVN gây ra. Giờ đây, giữa nhóm thiểu số vẫn xưng mình là đại diện cho ‘nhà nước nhân dân’ và đại đa số người dân còn lại đều đã quá rõ về ruột gan nhau. Đi đến bất cứ đâu, sự nằm lòng câu nói “đừng tin những gì cộng sản nói…“ trong dân chúng cho thấy phần nào thực tế này.

Tuy nhiên lời khẳng định về sự chán ghét nhà cầm quyền của bài viết này không dựa vào câu nói bất hủ của ông cố tổng thống Thiệu nêu trên nhưng còn hơn thế, đó là từ chính miệng ông cựu chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết “bỏ điều 4 hiến pháp là tự sát!” mà khi mới thoạt nghe lần đầu cứ ngỡ ông ta nói đùa. Thế nhưng sự thật không phải vậy. Đây là lời nghiêm túc của ông ta trong buổi sinh hoạt cuối tháng 8/2007 với các giới chức Quân ủy trung ương tại Hà nội.

Sau đó ngày 18/9/2007 khi nói chuyện với Binh chủng Phòng không ông Triết vẫn nhắc lại ý này khi thuyết phục quân đội đừng nghe người ta “nói ngã nói nghiêng” mà chao đảo đòi bỏ điều 4 Hiến pháp.

Nhắc lại điều này để chúng ta thấy rằng giới lãnh đạo đảng CSVN hiện đã biết rất rõ đại đa số dân chúng VN ngày nay không còn muốn đảng CSVN tiếp tục cai trị họ nữa. 

Lời ‘tự thú’ này có nghĩa nếu một cuộc thăm dò hay trưng cầu ý dân về quyền lãnh đạo đất nước được tổ chức một cách công khai minh bạch vào lúc này, đảng CSVN biết chắc họ sẽ bị loại khỏi cuộc chơi ngay từ vòng đầu.

Nhưng không phải đợi cho đến khi ông Triết nói ra thì đảng CSVN mới biết họ đang bị dân chúng oán ghét. Mà đã từ rất lâu, vì sợ bị dân chúng nổi lên lật đổ nên đã phải tìm cách phòng vệ.

 


 

Bản thân từng đi “cướp chính quyền” nên đảng CSVN hiểu rất rõ, không có biện pháp ngăn chận ‘nguy cơ’ để tuột mất quyền cai trị hữu hiệu cho bằng họ được quyền thẳng tay bắt bớ bỏ tù bất cứ ai manh nha chống đối.

Chính vì vậy mà các điều 4, điều 79, 88 v.v…. cùng không biết bao luật phi lý khác như nghị định 23/QH/2003 về quản lý đất đai theo thời gian đã lần lượt ra đời để đối phó với dân chúng.

Những điều luật ‘quái gở’ này chắc chắn sau này sẽ còn được lịch sử nhắc đến nhiều cùng với quốc hội ‘bù nhìn’, vì đã giúp cho đảng CSVN thêm vây thêm cánh, gây ra bao thống khổ cho người dân

Nhưng cho dù có giỏi che giấu cỡ nào thì sự thật vẫn luôn là sự thật và thực tế là khoảng chục năm trở lại đây, nhờ thông tin trung thực từ mạng internet dân chúng VN đã ngày càng nhận rõ ý đồ lợi dụng hiến pháp của CSVN để hạn chế nhiều quyền căn bản của người dân, và đã có rất nhiều tiếng nói đòi hủy bỏ chúng ngay từ trong nội bộ đảng này.

Chính vì lẽ đó mà ông Triết đã chẳng cần úp mở khi nói thẳng “bỏ điều 4 hiến pháp là tự sát!” dẫu sao qua đó cho thấy ông ta rất am hiểu tình thế: cái gọi là ‘chính quyền nhân dân’ hiện chẳng còn được nhân dân ưa, và ngược lại, chính quyền cũng vậy, sẵn sàng thẳng tay với người dân.

Cho nên chẳng phải vô cớ khi thời gian gần đây dân lành bị chính quyền bắt bớ giam cầm vô cớ ngang nhiên đánh chết trong đồn ngày một nhìều, nhưng đồng thời, hiện tượng công an lực lượng bảo vệ chủ chốt của chế độ cũng bị dân chúng hành hung ngày một tăng.

Đã không còn ưa nhau nữa chuyện ghét bỏ là đương nhiên. Vấn đề là cách thể hiện cái ‘sự ghét’ của mỗi bên ra sao?

Trong vụ Thái Hà nói riêng và với cộng đồng công giáo nói chung. Trong khi nhà cầm quyền biết sai nhưng vẫn chẳng chịu sửa, ‘mượn’ tài sản giáo hội nhiều nơi nhưng chẳng chịu trả khiến Thái Hà phải đi đòi, khiến vì lo lắng bị ‘lật đổ’ mà nhà cầm quyền phải nhẫn tâm đi làm những chuyện hết sức mất nhân tính, như cho ngươì xông lên bàn thánh, hành hung tu sĩ giáo dân v.v… thì kỳ diệu thay, trong các thánh lễ của ‘nạn nhân’ Thái Hà cùng nhiều nhà thờ khác vẫn vang lên những lời cầu nguyện “xin cho các nhà lãnh đạo VN được sáng suốt…” mà chẳng phải xin cho chế độ này nhanh sụp đổ!

 

 

Thái độ bình thản này của các cha DCCT và giáo dân Thái Hà so với nỗi sợ hãi ‘bị lật đổ’ cùng những hành vi tồi tệ của nhà cầm quyền khi Đời – Đạo chẳng còn ưa nhau, như vậy rõ ràng là khác nhau một trời một vực!

Nhìn vào riêng cách cư xử này thôi cũng đã đủ nhận ra đằng sau lá đơn và việc khiếu nại của Thái Hà hôm 2/12 chẳng có gì hơn là mong đi tìm cho bằng được Công Lý và Sự Thật.

Ngược lại, chính cái ý nghĩ ‘tự sát’ của ông Triết khi thấy ‘gót chân Achille’ Điều 4 của đảng đã bị phát hiện, những hành động hốt hoảng thi công giữa đêm khuya của chính quyền Hà Nội trong vụ bệnh viện Đống Đa, việc chận đánh bắt bớ tu sĩ giáo dân dọc đường v.v… mới đúng là thái độ của kẻ đang sống trong sự sợ hãi khi nhận ra việc làm xấu xa mình đang bị “lộ rõ tim đen”.

Sài Gòn 5/12/2011

 

Alf. Hoàng Gia Bảo


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Nữ Vương Công Lý

Hỏi Là Trả Lời Blog Spot


“Chỉ Có Người Mỹ Bại Trận”? – Phạm Hoài Nam

Vòng hoa cho các anh hùng tử sĩ Nam, Bắc quân mỗi dịp Noel về tại nghĩa trang Arlington National – Washington D.C. Hoa Kỳ.

Bài đọc suy gẫm:   “Chỉ Có Người Mỹ Bại Trận” ? tức “Xây dựng lòng yêu nước từ bài họccủa người Mỹ và người Nhật” của Phạm Hoài Nam. Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

Ai cũng biết chỉ có lòng yêu nước mới có thể giúp cho dân tộc VN thoát ra khỏi bế tắc hiện nay và để được sống đúng với nhân phẩm con người. 

Sự khác biệt về giàu nghèo, có hãnh diện về đất nước của mình hay không – chủ yếu là do lòng yêu nước mà ra.  Cũng vì lòng yêu nước mà từ đầu thế kỷ 18, đã có những phong trào trí thức người Nhật tìm cách thoát khỏi quỹ đạo văn hóa của người Trung Hoa, đứng đầu là hai nhà tư tưởng Ogyo Sorai và Motoori Norinaga.

Lòng yêu nước đã thúc đẩy người Nhật đi khắp bốn phương học hỏi những tinh hoa của thế giới trở về tạo ra cuộc cách mạng Minh Trị Duy Tân để bắt kịp các nước Tây Phương và thoát được thân phận nô lệ.

-Lòng yêu nước đã khiến cho người Nhật phải biết nhẫn nhục chịu đựng, cố gắng làm việc để vươn lên từ đống tro tàn.

-Lòng yêu nước đã thúc đẩy người Nhật đồng lòng chung sức đương đầu trong cơn khốn khó như cuộc động đất vừa mới xảy ra tại Sendai vào đầu năm nay.

-Lòng yêu nước đã nhắc nhở người Nhật phải luôn luôn gìn giữ thể diện dân tộc…

Và chính lòng yêu nước đã tạo ra một nước Nhật vĩ đại…

Sự khác biệt giữa đất nước chúng ta và nước Nhật cũng chính từ sự khác biệt về lòng yêu nước. Cùng là một nước ở Á Châu, diện tích, dân số, tài nguyên gần như nhau nhưng một nước thì giàu có và được cả thế giới kính nể, còn nước kia thì ngược lại…

Làm sao để xây dựng lại lòng yêu nước? Đây là câu hỏi mà những ai còn có chút quan tâm đến đất nước đều phải ưu tư suy nghĩ.

Trước khi trả lời câu hỏi đó, thiết nghĩ chúng ta phải đặt câu hỏi: tại sao lòng yêu nước của người Việt Nam suy sụp?. Phải chăng nó phát xuất từ hệ lụy của một nền văn hóa yếu kém, những chế độ chính trị khắt nghiệt, những chính sách cai trị thất nhân tâm và những đổ vỡ liên tục của niềm tin!!!.

Lòng yêu nước và niềm hãnh diện dân tộc có mối liên hệ mật thiết với nhau. Người ta không thể hãnh diện về những gì mà mình không yêu thương và cũng rất ít ai có thể yêu thương những gì mà mình không hãnh diện.

Người Việt Nam ngày nay không còn mấy ai hãnh diện về đất nước và dân tộc của mình, ngoài những yếu tố nêu trên, có thể vì trong chính con người Việt Nam của chúng ta, theo quan điểm của người viết, đã thiếu sót một phẩm cách vô cùng cần thiết – đó là tinh thần hào hiệp mã thượng.

Hãy nhìn lại suốt chiều dài lịch sử của đất nước, chúng ta có được bao nhiên tấm gương của tinh thần này, chúng ta chỉ có lập rồi phá chớ không có tiếp nối, và sau mỗi lần lật đổ một triều đại hay một chế độ là những cuộc giết hại công thần, thanh trừng đẫm máu, những sự trả thù tàn bạo, “nhổ cỏ phải nhổ cho tận gốc” chưa đủ mà có khi còn phải “tru di tam tộc” và nó tiếp tục như thế từ đời này sang đời khác.

Tinh thần hào hiệp mã thượng không phải chỉ thiếu sót ở người lãnh đạo mà càng rõ nét hơn trong những sinh họat tập thể của người Việt Nam, càng đứng trước những thử thách thì khuyết điểm này của người Việt Nam càng hiện ra rõ hơn.

Trong phạm vi ngắn gọn của bài viết này, người viết chỉ có tham vọng rất khiêm tốn là hy vọng rằng qua bài học về lòng yêu nước của người Mỹ và Nhật chúng ta có thể rút được vài điểm nào đó để tìm cách xây dựng lại lòng yêu nước của người Việt Nam.

     Bài học từ lòng yêu nước của người Mỹ

A. Cách đối xử giữa người thắng trận và người bại trận sau cuộc Nội chiến

Nước Mỹ chỉ mới lập quốc được có 235 năm, một đất nước rất trẻ so với nhiều nước khác trên thế giới trong đó có nước VN, nhưng người Mỹ có cả ngàn lý do để họ hãnh diện về đất nước của mình. Từ những người đầu tiên viết ra bản hiến pháp xác nhận một chính quyền thật sự vì dân và do dân, trong đó quyền tự do là quyền thiêng liêng không thể tước đoạt, cho đến vị Tổng thống đầu tiên George Washington, mặc dầu có công lãnh đạo dành lại độc lập từ người Anh, nhưng vẫn một mực làm đúng 2 nhiệm kỳ như hiến pháp đã quy định, cho đến một Abraham Lincoln cam đảm bãi bỏ chế độ nô lệ dù phải trả giá bằng cuộc nội chiến, cho đến một Franklin Roosevelt chấp nhận mọi thử thách đứng về phía chính nghĩa để chống lại chế độ Phát xít cho dù chiến tranh xảy ra bên kia bờ Đại Tây Dương, cho đến một Ronald Reagan quyết tâm khôi phục lại lòng tự tin của người Mỹ sau cuộc chiến VN bằng lòng yêu nước mãnh liệt của mình…. Và vô số những tấm gương khác, từ đủ mọi thành phần trong xã hội. Trong bất cứ thời đại nào, người Mỹ không bao giờ thiếu những con người giàu lòng nhân ái như John Rockefeller, như Bill Gate, như Warren Buffett, như Steve Jobs (vừa mới qua đời)… Họ là những người vượt qua khỏi biên giới hạn hẹp của quốc gia, của màu da chủng tộc, chủ nghĩa…để nghĩ đến nỗi bất hạnh của người nghèo khổ trên toàn thế giới.

Trong lịch sử của nước Mỹ, biến cố gây ấn tượng mãnh liệt nhất, có lẽ là cách mà tổ tiên của họ đã đối xử với nhau sau cuộc Nội chiến Nam-Bắc chấm dứt vào năm 1865.

Vào ngày 7/5/1975, có nghĩa là chỉ có 1 tuần sau khi quân đội Miền Bắc chiếm được Miền Nam, trong lễ ăn mừng chiến thắng tướng Trần Văn Trà đã nói trước mặt mọi người: “Trong cuộc chiến này, cả Miền Bắc và Miền Nam đều chiến thắng, chỉ có người Mỹ bại trận”.

Không biết vô tình hay chủ ý, câu nói này tương tự như lời phát biểu của Tướng Ulysses Grant sau khi tướng Lee tuyên bố đầu hàng và Tướng Grant đã ghi lại trong quyển hồi ký của mình “Personel Memoir of U. S. Grant”: “Trong cuộc chiến này, chỉ có nước Mỹ chiến thắng, chớ không có ai thắng ai thua. ”

Hai câu nói hình thức gần giống nhau nhưng ý nghĩa lại khác nhau hoàn toàn: Tướng Grant nói thật lòng mình để xoa dịu nỗi đau khổ của người bại trận sau cuộc nội chiến kéo dài bốn năm. Trái lại câu nói của tướng Trần Văn Trà là câu nói mị dân, nằm trong mục đích tuyên truyền của chế độ để gạt tất cả những quân dân cán chính của VNCH, tin vào chính sách “khoan hồng của Đảng”, tin rằng chỉ có 10 ngày “học tập”, nhưng sau đó ra đi không biết ngày trở lại và mãi đến hôm nay sự trả thù như thế vẫn chưa chấm dứt.

Tướng Robert Lee đang ký văn bản đầu hàng, hình dưới là 2 vị tướng bắt tay nhau với lòng kính trọng.

Có một điểm đặc biệt là trong cách thể hiện lòng yêu nước của người Mỹ đều có chan chứa tinh thần hào hiệp mã thượng.  Nói về tinh thần hào hiệp mã thượng của người Mỹ, cựu thủ tướng Tony Blair của Anh, trong quyển hồi ký “The Journey” mới xuất bản gần đây đã viết như sau:

“Trong phẩm cách của người Mỹ có tinh thần mã thượng hào hiệp, được hun đúc qua nhiều thế kỷ, phát xuất từ tinh thần khai phá biên cương để lập nghiệp, và nhiều đợt di cư của các sắc dân khắp thế giới đổ về đây, từ cuộc chiến đấu để dành độc lập, đến cuộc nội chiến, từ nhiều biến cố lịch sử, cũng như những sự kiện tình cờ. Tất cả đã làm thành một nước Mỹ vĩ đại.

Cái tinh mã thượng hào hiệp này, không có nghĩa là người Mỹ tử tế hay thành công hơn những dân tộc khác. Nó chính là cảm nghĩ của họ về đất nước của mình. Chính lòng nhiệt tình đối với xứ sở đã phá bỏ được những ngăn cách về màu da, giai cấp, tôn giáo hay quá trình trưởng thành. Lý tưởng của người Mỹ là những giá trị đạo đức mà họ ấp ủ. Lý tưởng này gồm có tự do cá nhân, tôn trọng luật pháp, dân chủ. Nó cũng nằm trong quá trình thành đạt của mỗi cá nhân: hễ giỏi là được trọng dụng, phải tự làm lấy và nếu siêng năng chịu khó tất sẽ thành công. Song có lẽ điểm quan trọng nhất phải nói là mọi người Mỹ đều ao ước duy trì cho được những giá trị trên và ráng bảo vệ những giá trị đó. Họ coi những giá trị đó là ưu tiên hàng đầu cho cá nhân mình, sau đó là cho đất nước. Chính những giá trị đạo đức này giúp cho nước Mỹ cương quyết sẵn sàng đương đầu với khó khăn thử thách. Vì những lý tưởng đó mà binh lính Mỹ chấp nhận hy sinh. Vì nó mà mọi người Mỹ, dù giàu sang hay nghèo hèn đều sẵn sàng đứng nghiêm trang chào khi bản quốc ca “The Star-spangled Banner” được trỗi lên. Dĩ nhiên là những lý tưởng đó không phải lúc nào cũng thực hiện được, song mọi người Mỹ đều cố gắng thực thi cho bằng được. ”(1)

Nếu cuộc nội chiến Quốc-Cộng vừa qua đã để lại hệ lụy phân hóa kéo dài đến ngày hôm nay, thì sau cuộc Nội chiến Nam-Bắc Mỹ đã làm cho người Mỹ yêu nước hơn, đoàn kết hơn và hãnh diện về đất nước của mình nhiều hơn.

Họ hãnh diện không phải chỉ vì bãi bỏ được chế độ nô lệ, đúng với nguyện vọng mà tổ tiên họ đã đề ra trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng”, mà còn hãnh diện vì tinh thần hào hiệp mã thượng được thể hiện bởi người chiến thắng lẫn người chiến bại sau khi cuộc chiến kết thúc.

Không có một hình ảnh nào đẹp hơn hình ảnh tướng Robert E. Lee gặp tướng Ulysses S. Grant tại Thị Xã Appamatox, thuộc tiểu bang Virginia ngày 9 tháng 4 năm 1864.

Ulysses S. Grant (trái) và Tướng Robert E. Lee

Trước đó một ngày, tướng Lee chỉ còn trông chờ vào chiến thắng của một tướng trẻ can trường, để hy vọng tìm cách xoay chuyển được tình thế, nhưng khi hay tin tướng Gordon đã bị đánh bại, mọi hy vọng của Tướng Lee coi như tiêu tan. Quân của tướng Lee tại tiểu bang Virginia đang bị bao vây tứ phía, tiến không được mà lùi cũng không xong. Binh sĩ đã kiệt sức, lương thực đã cạn, đạn dược đã hết và nguồn tiếp tế cũng bị cắt đứt. Trong tình huống đó ông không còn chọn lựa nào khác là phải triệu tập bộ Tham mưu và nói thật ngắn gọn: “Tôi sẽ đến gặp tướng Grant, cho dù điều đó quá nhục nhã đối với tôi” (nguyên văn câu nói của ông: I will go and see General Grant and I would rather die a thousand deaths). Ngay lập tức ông đích thân soạn một lá thư gởi tướng Grant để yêu cầu sắp xếp một buổi gặp mặt càng sớm càng tốt vì ông không muốn hy sinh thêm bất cứ một sinh mạng nào nữa. Tại địa điểm hẹn gặp nhau, tướng Lee đến trước bằng ngựa với một sĩ quan tùy viên, hiên ngang trong trong bộ quân phục màu xanh dương, bên hông mang kiếm, thể hiện khí phách của người anh hùng dù bại trận vẫn không khuất phục. Khoảng nửa giờ sau tướng Grant, đại diện cho quân đội chiến thắng Miền Bắc tới. Ông mặc quân phục như một người lính bình thường, giày và quần vẫn còn dính bùn, không đeo kiếm. Hai người chào nhau, và tướng Grant tiếp tướng Lee thân mật như giữa một người Mỹ với một người Mỹ, chớ không phải giữa một người chiến thắng với kẻ chiến bại. Với ông làm nhục một người bại trận dù với bất cứ lý do gì cũng là làm nhục nước Mỹ. Sau này ông thú nhận là lúc đầu ông phải nói chuyện dài dòng với tướng Lee, nhắc lại những kỷ niệm xưa khi hai người cùng chiến đấu chung với nhau trong trận chiến Mexico, lý do là vì ông rất ngần ngại và thực sự hổ thẹn khi phải nói với Tướng Lee về chuyện đầu hàng. Cuối cùng chính tướng Lee là người đã nêu ra mục đích của buổi gặp mặt, và yêu cầu tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện đầu hàng. Thật sự thì văn kiện đầu hàng Tướng Grant đã soạn sẵn trước khi đến điểm hẹn và tự tay trao cho tướng Lee xem lại. Đọc qua xong, lần đầu tiên gương mặc của tướng Lee tươi hẳn lên khi biết rằng binh sĩ dưới quyền ông được trở về nguyên quán sinh sống như một người dân bình thường, không phải chịu bất cứ một hình thức trả thù nào. Ông nói: “Điều này có một tác động rất tốt đối với tất cả mọi người, đặc biệt là sẽ giúp rất nhiều cho người của chúng tôi. “

Tuy nhiên ông có thêm 2 yêu cầu:

1/ Cho phép binh sĩ của ông được mang ngựa, lừa về quê quán để sử dụng trong nông trại, vì không giống như quân đội miền Bắc, đây là tài sản của riêng họ mang theo khi gia nhập quân đội.

2/ Ông đang giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc và không còn lương thực cho họ, ngay cả binh sĩ của ông cũng đang đói.

Cả hai yêu cầu này của tướng Lee đều được tướng Grant đồng ý ngay lập tức. Riêng yêu cầu thứ hai, tướng Grant ra lệnh cung cấp ngay cho các tù binh và binh sĩ miền Nam 25, 000 khẩu phần ăn.

Tướng Grant hỏi: “Như vậy, đủ chưa?”

Tướng Lee trả lời: “Thưa đại tướng, như vậy là quá đủ. “

Nói xong tướng Lee đứng dậy bắt tay tướng Grant, nghiêng người chào mọi người rồi bước ra khỏi phòng họp. Bên ngoài hội trường các sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đang có mặt đều đưa tay kính cẩn chào vị tướng bại trận.

Trên đường trở về doanh trại, các binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ ngưỡng mộ, có người đã bật khóc, tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến doanh trại, trước mặt nhiều sĩ quan và binh sĩ đang chờ đợi, tướng Lee nói: “Tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Các anh em hãy trở về quê quán bây giờ và nếu sống được như những công dân tốt như các anh em đã từng chiến đấu như những chiến sĩ thì các anh em sẽ thành công. Tôi luôn luôn hãnh diện vì các anh em. Chào tạm biệt. Thượng đế phù trợ cho tất cả. ” (Boys, I have done my best for you. Go home now. And if you make as good citizens as you have soldiers, you will do well. I shall always be proud of you. Goodbye. And God bless you all. )

Tin đầu hàng của tướng Lee lan ra nhanh chóng, tiếng súng của binh sĩ Miền Bắc vang lên khắp nơi để reo mừng chiến thắng. Ngay lập tức tướng Grant ra lệnh phải ngưng ngay tức khắc: “Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Chiến tranh đã chấm dứt. Họ là đồng bào của chúng ta, chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ. ”

Theo điều kiện trong văn kiện đầu hàng, ngày 12 tháng 4 là ngày quân đội Miền Nam sẽ nộp súng ống và cờ xí cho quân đội Miền Bắc. Tướng Grant giao việc này cho Đại tá Joshua Chamberlain phụ trách. Còn phía Miền Nam thì tướng Gordon nhận trách nhiệm. Ngày hôm ấy đã xảy ra một cảnh tượng hết sức cảm động. Khi các binh sĩ Miền Nam đi theo đội ngũ tới địa điểm để giao súng ống và cờ xí, Đại tá Chamberlain đã ra lệnh binh sĩ của mình đứng nghiêm chào các anh hùng bại trận đang đi ngang qua để bày tỏ lòng kính trọng. Sau này tướng Gordon đã ghi lại như sau: “Trong giây phút đó, không hề có một tiếng kèn hay tiếng trống, không một tiếng reo mừng, không một lời nói, không cả một tiếng thì thầm, không một cử động, nhưng là một sự tĩnh lặng khủng khiếp, mọi nhịp thở như ngừng lại và như thể họ đang nhìn những hồn tử sĩ đi qua” và ông gọi Chamberlain là “người sĩ quan hào hiệp nhất của quân đội Miền Bắc. ”

Sau 4 năm nội chiến đã làm 620 ngàn người thiệt mạng và hàng triệu người bị thương, các đô thị ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ bị tàn phá nặng nề và đương nhiên cũng không khỏi những đắng cay của người bại trận. Nhưng những người lãnh đạo của bên thắng trận lẫn bên bại trận đều lấy tình dân tộc, sự bao dung rộng lượng và lòng hào hiệp để đối xử với nhau. Chính điều này đã làm cho người Mỹ vô cùng hãnh diện về xứ sở của mình.

Sau cuộc chiến, những người lãnh đạo kế tiếp của nước Mỹ vẫn làm theo tinh thần của tướng Lee và tướng Grant, họ không bao giờ bàn đến đến chuyện ai đúng ai sai, ai chính nghĩa, ai không chính nghĩa, mà chỉ nghĩ đến làm sao để hàn gắn lại vết thương của chiến tranh và xây dựng lại đất nước. Các nghĩa trang dành cho liệt sĩ bắt đầu được dựng lên ở hai miền đất nước, bên nào bên đó tự lo lấy, xấu đẹp tùy sức.

Ngày nay khi viếng thăm Nghĩa Trang Arlington ở thủ đô Washington DC, chúng ta sẽ thấy khu nghĩa trang dành cho binh sĩ Miền Bắc và Miền Nam đều trang nghiêm giống nhau và trong tất cả các bảo tàng viện khắp nước Mỹ, hình ảnh quân đội hai bên được trưng bày trân trọng như nhau, để nhắc nhở người Mỹ xem đó như một bài học cho các thế hệ mai sau.

Trên nóc Tòa Quốc Hội Hoa Kỳ hiện nay có một bức tượng phụ nữ cao 10 mét – tượng trưng cho hình ảnh bà mẹ của Miền Nam có con hy sinh trong cuộc nội chiến.

Bốn năm sau cuộc nội chiến, tướng Grant đắc cử tổng thống và làm 2 nhiệm kỳ (1869-1877), còn tướng Lee vẫn tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ liên bang.

Tướng Lee dù là tướng bại trận, không giữ được chức vụ cao như tướng Grant, nhưng bù lại, càng về cuối đời, tình cảm và lòng kính trọng của người Mỹ dành cho ông càng tăng lên, có thể nói còn cao hơn cả tướng Grant. Ngày nay tượng đài của tướng Lee có mặt nhiều nơi trên nước Mỹ và Robert Lee là tên đường quen thuộc trên một đất nước luôn luôn cố gắng lấy “lòng bao dung xóa bỏ hận thù”.

Nhận xét về con người của tướng Lee, sử gia Benjamin Harvey Hill đã viết như sau:

“Tướng Lee là một đối thủ không có thù hận; một người bạn không phản bội, một người lính không tàn ác, một nạn nhân không than khóc. Một sĩ quan không sa đọa, một công dân không làm điều sai trái, một láng giềng không chỉ trích, một người Công giáo không đạo đức giả, một con người không thủ đoạn. Ông là một Caesar không có tham vọng, một Frederick không có chuyên quyền, một Napoleon không ích kỷ và một Washington không có phần thưởng. “

(General Robert Lee is a foe without hate; a friend without treachery; a soldier without cruelty; a victor without oppression, and a victim without murmuring. He was a public officer without vices; a private citizen without wrong; a neighbour without reproach; a Christian without hypocrisy, and a man without guile. He was a Caesar, without his ambition; Frederick, without his tyranny; Napoleon, without his selfishness, and Washington, without his reward)

Thật khó có người nào được lời khen như thế, nhưng đó là con người thật của Robert Lee. Với những người lãnh đạo như thế đương nhiên quốc gia họ phải hùng mạnh.

Tưởng cũng nên nhắc lại là khi cuộc nội chiến vừa mới xảy ra, tướng Lee được đề cử chỉ huy quân đội Miền Bắc nhưng ông đã từ chối và gia nhập quân đội Miền Nam, vì ông nói rằng ông không thể phản bội lại cái nơi mà ông đã sinh ra và lớn lên.

B. Cách đối xử của người Mỹ với cựu thù Nhật Bản sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Quả bom nguyên tử thả xuống đất Nhật Bản năm 1945.

Tướng Grant và Tướng Lee đối xử với nhau hết sức tử tế sau cuộc chiến, có thể giải thích vì là người cùng một nước, cùng hấp thụ một nền văn hóa, cùng một màu da, cùng một ngôn ngữ, và cùng nghĩ đến tương lai của đất nước Hoa Kỳ, nhưng đến trường hợp người Mỹ đối xử tử tế không kém đối người Nhật sau Đệ Nhị Thế Chiến thì chắc chắn không phải vì những lý do nêu trên. Người Mỹ hành xử như thế chỉ vì lòng hào hiệp mã thượng cố hữu mà họ đã hấp thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác và đã ăn sâu vào máu xương. Trong lúc đó, người Nhật dù bại trận nhưng vẫn không để mất tinh thần võ sĩ đạo samurai, lòng yêu nước và lòng tự trọng của dân tộc.

Trước khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng, Nhật và Mỹ vẫn còn là hai nước kẻ thù không đội trời chung. Trong 4 năm chiến tranh ác liệt tại Thái Bình Dương, đã làm cho người Mỹ hy sinh khoảng 360, 000 binh sĩ và nhiều vết thương khác, nhưng điều đó không làm cho họ nuôi mối thù với người Nhật sau khi chiến tranh chấm dứt.

Hai quả bom nguyên tử rớt xuống Hiroshima và Nagasaki đã làm cho 150, 000 người chết ngay lập tức, nhưng không vì thế mà người Nhật nuôi mối căm hờn. Trái lại cả người Mỹ và người Nhật cùng hợp tác để xây dựng lại một nước Nhật từ đống tro tàn.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên chiến hạm Missouri, đại diện của các nước Đồng Minh và chính phủ Nhật Bản chính thức ký văn kiện đầu hàng.

Sau khi ký xong, đại diện của Đồng Minh là tướng MacArthur đọc bài diễn văn ngắn gọn, nhưng chứa đựng tất cả tinh thần cao thượng của người Mỹ, ông kết bài diễn văn như sau: “Đây là hy vọng thiết tha nhất của tôi, và thật sự cũng là hy vọng của toàn thể nhân lọai, rằng từ sự kiện trang nghiêm này một thế giới tốt đẹp hơn sẽ hiện ra từ máu và sự chém giết nhau trong quá khứ – một thế giới sẽ phục sự cho nhân phẩm con người và để hòan thành ước nguyện cao cả nhất cho Tự do, Lòng bao dung và Sự công bằng. ”.

(It is my earnest hope, and indeed the hope of all mankind, that from this solemn occasion a better world shall emerge out of the blood and carnage of the past – a world dedicated to the dignity of man and the fulfillment of his most cherished wish for freedom, tolerance and justice).

MacArthur không phải chỉ nói như thế để xoa dịu nỗi đau khổ của người Nhật lúc đó, hay vì phép lịch sự của một nhà ngoại giao, mà ông nói thật lòng mình. Gần 6 năm cai trị nước Nhật đã chứng minh rằng ông không phải chỉ làm có thế, mà còn làm nhiều hơn thế nữa. Ông đã giúp cho nước Nhật vượt qua được cơn khốn khó, trở thành một quốc gia độc lập, tự do, dân chủ và đặt nền tảng cho một cường quốc kinh tế sau này.

Tướng MacArthur thay mặt cho người Mỹ cai trị từ ngày 15/8/1945 cho đến ngày 11/ 4/1951 với tư cách là Tổng Tư Lệnh Tối Cao của các lực lượng Đồng Minh (the Supreme Commander of the Allied Powers), nói là lực lượng Đồng Minh nhưng thật sự là chỉ có quân đội Mỹ. Ngay sau khi đặt chân đến Tokyo, MacArthur ra lệnh cho các binh sĩ dưới quyền ông không được trả thù người Nhật vì bất cứ lý do gì và ưu tiên hàng đầu của ông phải lo cho người dân Nhật qua khỏi cơn đói rách do các hậu quả của chiến tranh.

Việc chọn lựa tướng Tướng MacArthur trong vai trò này là một quyết định sáng suốt của Tổng Thống Truman và là một may mắn cho người Nhật. Trong số tướng lãnh của Mỹ lúc bấy giờ, MacArthur là người có hiểu biết nhiều nhất về văn hóa Nhật Bản, cuộc đời binh nghiệp của ông trải qua phần lớn ở Á Châu. Chính yếu tố này giúp ông dễ dàng thực hiện các cải tổ cần thiết cho nước Nhật và được người Nhật kính trọng mặc dầu truyền thống của Nhật Bản khó có thể chấp nhận ngoại quốc cai trị mình.

Thành phố Hisroshima trước và sau khi bị hứng chịu trái bom nguyên tử. Cột nấm khói sau khi nổ bốc cao tới 18 Km.

MacArthur là một trong những danh tướng lỗi lạc nhất trong lịch sử của nước Mỹ. Ông tốt nghiệp thủ khoa của trường Võ Bị West Point và cho đến ngày nay chỉ có 2 người tốt nghiệp cao điểm hơn ông. Ông tham gia cả ba trận chiến lớn: Đệ Nhất Thế Chiến, Đệ Nhị Thế Chiến và Cuộc Chiến Cao Ly. Trong bất cứ hoàn cảnh nào ông đều thể hiện là người chỉ huy can trường và bản lãnh, nhưng quan trọng hơn thế nữa ông còn là một người Mỹ kiểu mẫu, một người Mỹ mang lý tưởng của tinh thần hào hiệp, cho dù đối với kẻ thù.

Trong 5 năm rưỡi điều hành nước Nhật, MacArthur đã thực hiện những cải cách toàn diện về hành chánh, xã hội, giáo dục, cách thức bầu cử và điền địa (land reform)… Về phương diện kinh tế ông chủ trương một mô hình kinh tế tự do cạnh tranh giống như ở Mỹ và khuyến khích người Nhật tham gia vào thương trường để tạo ra một tầng lớp trung lưu.

Hiến pháp mà nước Nhật sử dụng cho đến ngày hôm nay là do MacArthur và bộ tham mưu soạn thảo. Hiến pháp mới này dựa Hệ thống của Anh (Westminster System). Trong đó những quyền tự do của con người được tôn trọng triệt để. Hiến pháp này cũng xác định là Nhật Hoàng chỉ là biểu tượng tinh thần giống như Vua hay Nữ Hoàng của Anh.

Trong thời gian từ 1945 đến 1951, với chương trình viện trợ Marshall, người Mỹ đã đổ vào nước Nhật hàng tỉ đô la, cộng với những ý kiến sáng suốt và những chương trình cải cách thiết thực của Tướng MacArthur – đã để lại một dấu ấn sâu đậm và ảnh hưởng lâu dài đối với nước Nhật. Nhờ vậy chỉ 25 năm sau chiến tranh nước Nhật trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì trên thế giới. Dĩ nhiên kết quả này phần lớn cũng do sự nỗ lực làm việc, sự hy sinh và tinh thần của dân tộc Nhật Bản.

 Hiroshima ngày nay.

Một quyết định sáng suốt khác của tướng MacArthur trong giai đoạn này là ông chống lại việc đưa Nhật Hoàng Hirohito ra Tòa Án Quốc Tế như một tội phạm chiến tranh sau khi chiến tranh chấm dứt. Bản án này nếu xảy ra sẽ từ chung thân tới tử hình.

Điều này không những chỉ gây một chấn động tâm lý mà còn là một sỉ nhục quá lớn đối với người Nhật. Nhật Hoàng là biểu tượng tinh thần của người Nhật. Phá vỡ biểu tượng này tức là phá vỡ kỹ cương truyền thống và cấu trúc xã hội của nước Nhật đã được gìn giữ liên tục trong suốt mấy ngàn năm.

Cuối cùng sau khi rời khỏi nước Nhật, tướng MacArthur chẳng những không bị oán ghét mà còn được dân Nhật xem như là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng nên một nước Nhật hiện đại.

Khi nắm quyền quản trị nước Nhật, MacArthur có tham vọng sẽ biến nước này trở thành một nước Mỹ lý tưởng, một nước Thụy Sĩ của Á Châu. Tham vọng này cuối cùng không thành công trọn vẹn vì người Nhật không muốn để mất hồn tính dân tộc của mình.

Một cuốn sách nghiên cứu công phu của học giả Sakaiya Taichi, có tựa là “12 người lập ra nước Nhật”. Theo tác giả, đó là 12 người có ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với nước Nhật và tác giả sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng của từng người từ 1 đến 12.

Đây là một cuốn sách rất có giá trị và cũng rất thích thú để đọc. Có điểm đặc biệt là trong 12 người này, không có một danh tướng có công đánh đuổi ngọai xăm, tạo những chiến tích lẫy lừng hay thống nhất đất nước. Cũng không có vị vua khai quốc công thần, ngay cả Minh Trị Thiên Hoàng (người có công lớn nhất trong cuộc Cách Mạnh Duy Tân) cũng không có tên.

12 người mà tác giả Sakaiya Taichi chọn là những người có công đóng góp về tôn giáo, tư tưởng, là những người đã làm thăng hoa giá trị tinh thần của người Nhật. Họ cũng là những đưa ra những quan niệm về chính trị, kinh tế và xã hội cho nước Nhật mà ảnh hưởng của họ vẫn còn tồn tại đến ngày hôm nay.

Trong số này chỉ có một vị tướng và là một người ngọai quốc duy nhất – đó là tướng MacArthur. Đứng thứ 10 trong số 12 người, với các tựa bài là “MacArthur: Thí nghiệm biến Nhật Bản thành một “nước Mỹ lý tưởng””.

Danh tướng Douglas Mc. Arthur , tư lệnh mặt trận phía nam Thái Bình Dương của Hoa Kỳ trong chiến tranh với người Nhật.

Tôi nghĩ rằng chọn lựa này vô tư và hợp lý và Tướng MacArthur rất xứng đáng được như thế.

Tác giả Sakaiya Taichi phân tích tất cả những cải cách của MacArthur đã ảnh hưởng đến nước Nhật và người Nhật như thế nào.

Trong đó cũng ghi lại lời nói của MacArthur: “Nhật Bản sẽ trở thành một nước như Mỹ, nhưng nước Mỹ ở đây không phải là nước Mỹ hiện bây giờ và một nước Mỹ lý tưởng”.

Cuối cùng tác giả kết luận như sau: “Trong dòng lịch sử Nhật Bản, đột nhiên xuất hiện nhân vật thống trị MacArthur từ nước ngòai đến, một người chưa có hiểu biết chính xác về Nhật Bản, nhưng đã ôm giấc mơ biến Nhật Bản thành một nước Mỹ lý tưởng.

Những tham vọng của MacArthur có cái đã thành công mỹ mãn, có cái đã đi quá trớn. Nhưng tựu trung, chúng đã để lại ảnh hưởng mãnh liệt trong xã hội Nhật Bản cho đến ngày hôm nay”.

Sau 6 năm giúp nhiệt tình, đến khi thấy rằng nước Nhật đã “đủ lông đủ cánh” vững vàng về cả 3 phương diện chính trị, kinh tế và xã hội, người Mỹ và người Nhật ký Hiệp Ước San Francisco ngày 8/9/1951 trao trả độc lập lại người Nhật.

Người Mỹ đã giúp người Nhật vượt qua được cơn khốn khổ và trở thành một quốc gia giàu mạnh, chỉ vì là đồng loại và không phải là thù địch. Đây là nghĩa cử quá cao quý của con người. Đất nước chúng ta cũng đã từng có những cơ hội tương tự nhưng đáng tiếc là chúng ta đã không biết tận dụng cơ hội đó giống như người Nhật, người Nam Hàn, người Đài Loan hay người Do Thái!

Phạm Hoài Nam

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Chúng Tôi Muốn Tự Do Blog


Aung San Suu Kyi, Cành Hoa Lan Sắt Thép – Tuấn Thảo

Bà Aung San Suu Kyi một lần kia đã nói:” Cha mẹ tôi đã phục vụ đất nước này và tôi cũng thế, dù có phải chết”.

Bài đọc suy gẫm:  Blog 16 hân hạnh giới thiệu bài viết của Tuấn Thảo.  Dựa trên kịch bản của tác giả người Anh Rebecca Frayn, đạo diễn nổi tiếng người Pháp Luc Besson đã chuyển thể lên màn ảnh lớn cuộc đời của bà Aung San Suu Kyi, người đoạt giải nhân quyền năm 2001 tại Norway (Nauy), với những hy sinh, đấu tranh không ngừng nghỉ cho quyền làm người trên quê hương của bà tại Miến Điện.  “The Lady” (tạm dịch”Người Đàn Bà Gan Lì”), do diễn viên đoạt nhiều giải về phim ảnh Á Châu- Dương Tử Quỳnh (Michelle Yeoh) thủ vai chính, đã diễn xuất rất thành công trong vai tả về cuộc đời chính trị của nhân vật nổi tiếng thế giới này.  Phim vừa được chiếu ra mắt liên hoan quốc tế đại hội điện ảnh tại Toronto, Canada.(xem trailer).  Ghi chú: Hình ảnh sưu tầm trên Net chỉ có tính cách minh họa.

Director Luc Besson và tài tử nổi tiếng Michelle Yeoh (Dương Tử Quỳnh) tại đại hội điện ảnh liên hoan quốc tế Toronto, Canada.

 Lời bàn:  Chính quyền mới của Miến Điện, tổng thống Thein Sein (sau khi tướng độc tài quân phiệtThan Shwe về hưu 2010) với những quyết định can đảm đứng đắn, thay đổi đột ngột trong thời gian gần đây như thả bà San Suu Kyi và nhiều nhà dân chủ đối lập, nhanh chóng dân chủ hóa đất nước, để thoát khỏi nanh vuốt Trung Quốc (con hổ giấy).  Phải chăng cũng là một bài học lớn cho Việt Nam. Mất đảng nhưng không mất nước.

 Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton (trái) thăm bà Aung San Suu Ky tại Burma tuần qua. (Associated Press, Saul Loeb / December 2, 2011).


The Lady, người đàn bà gan lì, cành hoa lan sắt thép.   
Tuấn Thảo
 
 
Aung San Suu Kyi, người đàn bà gan lì, biểu tượng của dân tộc Miến Điện kháng cự lại sự đàn áp của một chế độ độc tài quân phiệt. Từ khi được trao giải Nobel Hòa bình năm 1991, bà Aung San Suu Kyi trở thành hiện thân của phong trào đòi tự do và dân chủ, noi theo tấm gương đấu tranh bất bạo động của bậc tiền bối là Nelson Mandela và nhất là Thánh Gandhi.

Dựa trên kịch bản của tác giả người Anh Rebecca Frayn, đạo diễn nổi tiếng người Pháp Luc Besson đã chuyển thể cuộc đời của Aung San Suu Kyi lên màn ảnh lớn. Bộ phim The Lady với nữ diễn viên Dương Tử Quỳnh (Michelle Yeoh) trong vai chính, vừa được cho ra mắt khán giả Pháp trong tuần này. Bộ phim cũng từng được công chiếu lần đầu tiên vào tháng 9 năm 2011 trong khuôn khổ liên hoan quốc tế điện ảnh Toronto ở Canada.

Bà Aung San Suu Kyi và Dương Tử Quỳnh (Michelle Yeoh).

Trái với những thông tin loan tải trước đây trên mạng, theo đó đạo diễn Pháp Luc Besson đã ấp ủ dự án quay phim này từ nhiều năm qua, thật ra diễn viên Dương Tử Quỳnh mới là người đầu tiên được đọc kịch bản The Lady. Chính cô đã thuyết phục đạo diễn Luc Besson bấm máy thu hình. Bộ phim chủ yếu được quay tại Thái Lan, phần hậu kỳ được thực hiện tại Pháp, chỉ có một số màn ngoại cảnh là được thu lén tại Miến Điện. Để luồn lách sự kiểm duyệt, để thoát khỏi sự kiểm soát của công an, các nhân viên trong đoàn làm phim đã phải giả dạng làm du khách nước ngoài.

Ra đi không ngày mai, hành trình không trở lại.

Về nội dung bộ phim The Lady không kể lại toàn bộ cuộc đời của bà Aung San Suu Kyi, mà chỉ tập trung nói về giai đoạn từ những năm 1988 đến năm 1999, hai thời điểm định mệnh trong cuộc đời của người đàn bà gan lì. Vào tháng ba năm 1988, người thân trong gia đình báo tin cho Aung San Suu Kyi là thân mẫu của bà vừa đột qụy. Từ Anh Quốc, bà quyết định rời mái ấm gia đình, trở về Miến Điện để chăm sóc người mẹ đau yếu. Để trấn an chồng con, bà Aung San Suu Kyi nói rằng chuyến đi này chỉ kéo dài có vài tuần lễ, nhưng không ai ngờ rằng đó thật ra là một cuộc hành trình không có ngày trở lại.

Tại bệnh viện thành phố Rangoon, Aung San Suu Kyi chứng kiến tận mắt cảnh quân đội Miến Điện đàn áp đám đông biểu tình. Phong trào xuống đường đòi dân chủ đã bắt đầu từ tháng 5 năm 1988. Áp lực từ đường phố buộc tướng Ne Win, nhân vật số 1 của tập đoàn quân phiệt Miến Điện, phải từ chức. Thế nhưng, người lên thay thế ông (tướng Than Shwe) lại thuộc phe bảo thủ cứng rắn trong hàng ngũ quân đội. Chính quyền ra lệnh thẳng tay đàn áp người biểu tình. Quân đội không ngần ngại nã súng bắn vào đám đông, khiến hàng ngàn người bị thiệt mạng vào ngày 8 tháng 8 năm 1988, nên sự kiện này được gọi là “Biến cố 8888”.

Sau cuộc đàn áp đẫm máu, bà Aung San Suu Kyi quyết định dấn thân vào cuộc đấu tranh đòi dân chủ. Bà nối nghiệp thân phụ là tướng Aung San, được xem như là một vị anh hùng dân tộc vì ông đã đóng góp rất nhiều trong công cuộc giành độc lập cho Miến Điện. Noi gương người cha, Aung San Suu Kyi đứng lên lãnh đạo phong trào đối lập, bà sát cánh đấu tranh Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD), được thành lập vào ngày 24 tháng 9 năm 1988. Hơn một năm sau, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ thắng đậm nhân kỳ tổng tuyển cử tổ chức vào tháng 5 năm 1990, nhưng kết quả bầu cử bị chính quyền hoàn toàn phủ nhận.

Biểu tình lớn trên đất nước Burma với nhiều ngàn nhà sư xuống đường hổ trợ dân chúng trong năm 2007 nhưng cũng bị đàn áp thô bạo dẫn đến việc chính quyền Burma bị  hầu hết các nước trên thế giới Tây phương cấm vận triệt để.

 

Đối với giới lãnh đạo tập đoàn quân phiệt, Aung San Suu Kyi cánh chim đầu đàn của phong trào đối lập trở thành một đối thủ hết sức đáng gờm. Các tướng lãnh ra lệnh bằng mọi cách đè bẹp phong trào đấu tranh. Từ hình thức hù dọa, gây áp lực tinh thần cho đến việc bắt giữ, cầm tù hay giam lỏng, chính quyền chĩa mũi dùi vào Aung San Suu Kyi và các bạn hữu đồng hành. Càng bị trấn áp, bà lại càng gan lì. Một trong những màn biểu tượng của bộ phim là khi bà đứng trước một hàng lính giăng ngang chặn đường, các binh lính đã nộp đạn nhắm bắn, ngón tay sẵn sàng bấm cò. Thay vì hãi sợ thụt lùi, Aung San Suu Kyi lại bước tới phiá trước, bất kể các mũi súng đang dí vào mặt.

1988 – 1999 : Hai thời điểm định mệnh.

Trong phim, nếu như ngày 8 tháng 8 năm 1988 là cột mốc lịch sử đầu tiên, thì năm 1999 đánh dấu thời điểm quan trọng thứ nhì. Đó là năm mà giáo sư người Anh Michael Aris (do Daniel Thewlis thủ vai), chồng của bà Aung San Suu Kyi qua đời vì bệnh ung thư. Nổi danh là một chuyên gia về văn hoá Tây Tạng thuộc trường đại học Oxford, ông Michael Aris thành hôn với bà Aung San Suu Kyi vào năm 1972. Nhân vật người chồng chiếm một vị trí quan trọng ở trong bộ phim The Lady. Vì chính ông khuyên vợ đừng mềm lòng nản chí, đừng vì chuyện nhà mà quên chuyện nước, đừng hy sinh cuộc đấu tranh cho dân tộc, chỉ vì ích kỷ cá nhân hay hạnh phúc bản thân.

Vào năm 1997, giới bác sĩ chẩn đoán phát hiện ông Michael Aris bị bệnh ung thư. Dù đã nhiều năm xa cách, nhưng ông không nỡ đòi vợ trở về Anh Quốc để chăm sóc bệnh tình cho ông. Vào lúc đó, chính quyền Miến Điện sẵn sàng để cho bà Aung San Suu Kyi lên máy bay sang Luân Đôn, vì lý do gia đình. Hù dọa không xong mà giam cầm cũng vô hiệu quả, nên chính quyền mới chuyển sang hình thức mua chuộc, mặc cả tình cảm. Theo lời khuyên của chồng, bà Aung San Suu Kyi quyết định ở lại, vì bà thừa hiểu rằng chính quyền muốn tống bà ra khỏi Miến Điện : một khi về thăm chồng, bà sẽ không còn được trở lại quê cha.

Ông Michael Aris qua đời hai năm sau đó, để lại hai đứa con mồ côi. Aung San Suu Kyi tiếp tục bị giam lỏng, không được nhìn mặt chồng bà một lần cuối. Bà nói : ở một đất nước thật sự tự do, thì không có ai bị buộc phải có một sự chọn lựa đớn đau đến như vậy. Lựa chọn theo kiểu này thì chẳng thà không chọn lựa còn hơn. Bộ phim do khép lại vào thời điểm này, kết thúc một cách lưng chừng, bỏ lửng. Aung San Suu Kyi kiên trì đấu tranh mà vẫn chưa thấy tia ánh sáng hy vọng ở cuối đường hầm u tối. Nhưng từ người đàn bà sắt thép này lại lóe lên một vầng hào quang sáng ngời tuyệt đối. Cái chết của ông Michael Aris nói riêng và của những người đấu tranh với bà nói chung không trở nên vô nghĩa, mà lại thắp sáng thêm niềm tin của một tâm hồn bất khuất.

Bi kịch gia đình, thảm kịch quốc gia.

Bộ phim The Lady của đạo diễn Pháp Luc Besson có cả ưu điểm lẫn khuyết điểm. Ưu điểm đầu tiên là Luc Besson đã phần nào thay đổi phong cách làm phim của mình. Nổi tiếng là một người chuyên quay phim hành động, chuộng kỹ xảo và nhịp điệu dồn dập, đạo diễn Pháp lần này buộc phải tập trung vào các diễn biến nội tâm của hai nhân vật chính. Nhà làm phim xen kẻ khá tài tình các màn qua cận ảnh với thủ pháp các màn quay toàn cảnh, hàm ý Aung San Suu Kyi và vận mệnh dân tộc Miến Điện, tuy hai mà chỉ là một.

Một cách tương tự, các nhân vật Michael Aris và Aung San Suu Kyi là hai tâm hồn đồng nhất, khi thực sự là một nửa của nhau. Đó là những vai diễn bằng vàng, nếu không nói là để đời. Về điểm này, phải công nhận là Dương Tử Quỳnh nhập vai một cách xuất thần. Cô học tiếng Miến Điện, học từng động tác điệu bộ của Aung San Suu Kyi qua phóng sự truyền hình hay phim tài liệu cho thấy bà xuất hiện trước công chúng.

Tuy có nét mặt hao hao như Aung San Suu Kyi, nhưng Dương Tử Quỳnh lại còn nhịn ăn để gầy hẳn đi, làm cho nét tiều tụy hiện lên trên nhan sắc để có thể gần giống hơn nữa với vai diễn. Cô đã được dịp đến Miến Điện gặp bà Aung San Suu Kyi lần đầu tiên vào cuối năm 2010, trước khi đoàn làm phim chuẩn bị bấm máy thu hình tại Thái Lan. Sau chuyến đi này, Dương Tử Quỳnh bị đưa vào sổ đen, vì khi trở lại thăm bà Aung San Suu Kyi lần thứ nhì vào tháng 6 năm 2011 cô đã bị chặn lại tại sân bay, không được phép nhập cảnh, rồi bị trục xuất khỏi Miến Điện.

Diễn viên Dương Tử Quỳnh và đạo diễn Pháp Luc Besson đều cho biết là công chúng thường nhìn bà Aung San Suu Kyi như là một biểu tượng đấu tranh cho tự do và dân chủ, ngược lại ít ai biết đến chồng bà là giáo sư Michael Aris. Kịch bản của tác giả người Anh Rebecca Frayn, ngay từ đầu đã chọn quan hệ giữa hai vợ chồng làm điểm nhấn, trong những năm tháng đau khổ, những giây phút cam go. Theo cách đọc này, tình thương là động lực thôi thúc, duy trì ngọn lửa thiêng đối với nhà tranh đấu.

Theo Wikipedia, bà Aung San Suu Kyi  nhận được nhiều giải thưởng quốc tế, trong đó quan trọng nhất là giải thưởng Nobel về hòa bình trong năm 1991 trong khi bị quản thúc tại gia về những thành tích tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ trên đất nước Burma. (Bà ngồi tù 15 năm trong khoảng 20 năm qua, được thả ra ngày 13 tháng 11 năm 2010).  Hình trên: Các ký giả dành 1 phút tưởng niệm để hổ trợ bà Aung San Suu Kyi. Hình dưới:  Một số hình ảnh biểu tình quốc tế yểm trợ cho Tự Do Dân Chủ tại Miến Điện, với hình ảnh biểu tượng về bà, được mệnh danh là cành hoa lan sắt thép.

Hình dưới:  Đất nước hồi sinh, cả nước reo mừng khi bà Aung San Suu Kyi  được phóng thích.  

 

Phụ nữ gan lì, hoa lan sắt thép.

Vào những năm 1990, Aung San Suu Kyi từng viết về sự đấu tranh của bà trong quyển sách mang tựa đề “Freedom from Fear” (tạm dịch là Vượt lên sự sợ hãi). Nhưng lãnh đạo đối lập Miến Điện hầu như không bao giờ nói về đời tư hay tiết lộ chuyện gia đình. Kịch bản bộ phim The Lady khi tập trung nói về mối tình của cặp vợ chồng này buộc phải điền vào chỗ trống. Nhân vật Aung San Suu Kyi vì thế mà càng trở nên lãng mạn giống như tiểu thuyết.  Tác phẩm The Ladytuy gọi là phim tiểu sử (biopic), nhưng thật ra là một bộ phim tình cảm, có nhiều đoạn cảm động nhưng cũng có màn hơi cường điệu.Thông thường, một bộ phim theo thể loại này thường lồng tiểu sử vào lịch sử, kể một câu chuyện nhỏ để làm nổi bật câu chuyện lớn. Khuyết điểm của bộ phim The Lady là tác phẩm bị mất cân đối do đạo diễn Luc Besson tập trung quá nhiều vào mối tình của cặp vợ chồng Aung San Suu Kyi, mà chỉ nhìn lướt qua bức tranh toàn cảnh của đất nước Miến Điện. Điển hình là màn mở đầu bộ phim cho thấy cảnh ám sát thân phụ của Aung San Suu Kyi vào năm 1947, nhưng khán giả không biết vì lý do nào. Các sự kiện có thật thường chỉ được phác họa, cho nên khó có thể giúp cho người xem nắm bắt để hiểu rõ thêm về bề dày lịch sử.

Suy cho cùng, bộ phim The Lady nói về hai tấn bi kịch diễn ra cùng lúc : một bên là bi kịch gia đình bà Aung San Suu Kyi và một bên là bi kịch của dân tộc Miến Điện. Nếu cả hai vế bổ túc cho nhau, thì hẳn chắc là bộ phim The Lady sẽ càng có nhiều chiều sâu hơn nữa. Nhưng điều mà người xem có thể cảm nhận rõ nhất là nghị lực và ý chí của bà Aung San Suu Kyi : một vóc dáng mong manh mà bản lĩnh gan lì, một nhánh lan mềm mại nhưng cành hoa sắt thép.

Tuấn Thảo


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

RFi