Chiến Thuật Câu Giờ – Nguyễn Gia Tiến

Ca nhạc sĩ Việt Khang (hình từ BLog HLTL)

Bài đọc suy gẫm:   Nhân chuyện người Việt tại Hoa Kỳ ào ạt ký Thỉnh Nguyện Thư do đài SBTN – Nhạc sĩ Trúc Hồ và TS. Nguyễn Đình Thắng (Mạch Sống) phát động, yêu cầu chính quyền Obama phải dùng biện pháp kinh tế để chế tài tà quyền việt cộng qua việc chúng bắt giam Nhạc Sĩ Việt Khang vì anh viết 2 bản nhạc “Việt Nam Tôi Đâu?” và “Anh Là Ai?“đồng thời yêu cầu phải trả tự do cho  Lm. Nguyễn Văn Lý, Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Bs. Nguyễn Đan Quế, Blogger Điếu Cày, và những người bị giam cầm vì đấu tranh cho dân chủ trong nước.  Trong một thời gian kỷ lục đã lên gần đến 1 trăm nghìn chữ ký.  Bạch Ốc lập tức có hồi đáp  và cho biết sẽ tiếp đón và lắng nghe những nguyện vọng của các cử tri, công dân Mỹ gốc Việt ngay sau khi vượt qua số 25,000 (chỉ trong 3ngày đầu). Ước mong sắp tới chúng ta sẽ thấy được chiến dịch phát động ký TNT trên khắp các châu lục với các chính quyền sở tại (Canada đã vào cuộc, đang bắt đầu tiếp nối chiến dịch Thỉnh Nguyện Thư ). Blog 16 xin hân hạnh trích đăng bài viết Câu Giờ hay “Vỗ béo” rồi làm thịt của tác giả Nguyễn Gia Tiến.  Hình ảnh minh họa:  Đông đảo đồng bào tại Nam California ngày 25 tháng 2, 2012 biểu tình trên phố Bolsa, phản đối việt cộng vi phạm nhân quyền và cổ động mọi giới, kể cả người bản xứ, yểm trợ và ký Thỉnh Nguyện Thư.

“VỖ BÉO” RỒI “Làm thịt” !


Nguyễn Gia Tiến

Nhân vụ Thương ước Mỹ-Việt Cộng được ký kết vừa qua, một số người ở Hải ngoại hiện nay cổ võ cho việc “đem Kinh tế  về thay đổi Cộng Sản”. Họ đã quên những kinh nghiệm đau thương của một số Việt kiều đã từng về Việt Nam làm ăn cả từ mười năm nay.

Tư Bản Việt Kiều được”Vỗ béo rồi Làm thịt” !

Cách đây vài tháng, Cộng Ðồng Hải Ngoại sôi nổi về vụ một thương gia “làm ăn lớn” tại Sài Gòn là Hoàng Vi Ðắc trốn sang Mỹ, sau khi bị Việt Cộng  trấn lột, “bỏ của chạy lấy người.” Ðây không phải là trường hợp đầu tiên.

Mười năm trước, khối Liên Sô xụp đổ, CSVN mất chỗ dựa. Lâm vào ngõ bí, và để sống còn, cực chẳng đã Hà Nội bắt buộc phải “mở cửa”, để thu hút ngoại tệ của Tư Bản và Việt kiều. Cộng Sản “mở cửa” chỉ để tránh sự dồn ép muốn bùng nổ, do tình trạng nghèo khổ cùng cực trong toàn dân, chỉ để có tiền nuôi dưỡng bộ máy trấn áp Công an Quân đội, chỗ dựa duy nhất cho chế độ kìm kẹp. Như bất cứ hành động nào của VC, sự “mở cửa” hoàn toàn không phải vì lợi ích dân tộc, mà chỉ để tìm lối thoát cho bạo quyển. Những năm đầu thập niên 90, sau vụ “mở cửa”, không ít Tư Bản nước ngoài, ngây thơ tưởng Việt Nam sẽ là một ” Eldorado ” mới, nhào vào đầu tư. Rút cục sau vài năm đều thua lỗ, “ôm đầu máu” rút ra vì tình trạng vô luật pháp, không làm ăn nổi với sự tham nhũng, tráo trở của VC. Cũng thời gian này, một số Việt Kiều nhẹ dạ, tiêu biểu là Nguyễn Trung Trực từ Úc, Trịnh Vĩnh Bình từ Hòa Lan, đem hàng triệu dollars về “kinh doanh”. Làm ăn khấm khá được vài năm, có lúc đã được báo chí quốc tế bình luận, cho đây là điển hình về sự thành công, hợp tác, của Việt kiều. Nhưng rồi rút cục, tất cả đều tiền mất tật mang, tài sản bị tịch thâu và nằm tù, do bất cứ một tội trạng nào mà VC có thể tưởng tượng ra !  Trường hợp thương gia Hoàng Vi Ðắc vừa qua cũng lại thêm một thí dụ điển hình về những “con thiêu thân” Việt kiều.

Thật ra, trong việc bòn rút, ăn chặn tiền đầu tư, VC nhắm vào đám Tư Bản nước ngoài là chính, còn tiền bạc của “tư bản Việt kiều” chúng chỉ coi là thứ “tép riu”, không đáng kể.

Vừa qua Thương ước Mỹ-Việt Cộng đã được ký kết, nhưng những gì xảy ra trong quá khứ cho phép tiên đoán tương lai . Người ta có thể dự trù sự việc sẽ diễn ra như sau :

1) Ðối với tư bản Mỹ vào làm ăn, nhất là những thứ “gộc” như Nike, Coca Cola …, tiền bạc sẽ được chuyển  khỏi Việt Nam dễ dàng hơn, VC không dám ăn chặn như trước. Lợi nhuận sẽ tăng thêm vì  thuế nhập vào Mỹ giảm xuống đối với hàng sản xuất từ Việt Nam. Còn phía VC, đang xính vính kiệt quệ vì Tư bản các nước rút hết mấy năm gần đây, nay với Thương ước, chúng hy vọng dụ dỗ họ trở lại. Ðám đầu xỏ Mafia Ðỏ và lớp người “ăn theo”sống bám quanh, lại có dịp chấm mút. Bộ máy kìm kẹp Công An , mà nay phải nuôi dưỡng bằng đôla chứ không thể “cho ăn” lý thuyết xuông, lại được hà hơi tiếp sức để giữ vững chế độ. Rút cục đại bộ phận dân đen, thấp cổ bé miệng, vẫn bị bóc lột, sống lê lết bên lề các đô thị và miền quê như hiện nay. Ðây là bằng chứng sau hơn 10 năm “đổi mới”, với cơ man tiền bạc của Tư Bản ngoại quốc đổ vào, đa số nhân dân vẫn nghèo mạt rệp, tiền bạc chỉ rơi vào túi Tư bản Ðỏ. Bởi vì dưới chế độ VC, không hề có vấn đề kinh doanh lành mạnh theo đúng nghĩa, hầu cải thiện xã hội. Tất cả chỉ là nền “kinh tế” của sự mánh mung móc ngoặc, chộp giựt ăn cắp, được nâng cấp lên hàng quốc sách.

Ngoài ra, mặc dầu lần này Thương Ước được ký kết, nhưng như thường lệ, khi áp dụng điều khoản nào bất lợi, đe dọa sự toàn trị của chúng là VC tìm cách xoay xở, trì trệ, ù lì. Kinh nghiệm trong quá khứ cho thấy VC không tôn trọng bất cứ thỏa ước nào, nhất là bây giờ chúng càng rảnh tay khi không có đạo luật Nhân Quyền kèm theo Thương ước.

2) Ðối với Việt kiều đem tiền về “đầu tư”, VC sẽ chẳng thèm đếm xỉa đến quốc tịch Mỹ, vẫn coi là người Việt Nam. Vì chỉ là “Mỹ giấy” chứ không phải Mỹ thiệt, sẽ không được Thương ước và Chính phủ Mỹ tận tình bảo vệ, VC sẽ giở trò biến hóa luật pháp, muốn “bỏ tù” lúc nào cũng được. Thành thử nếu Việt kiều về làm ăn “cò con, hốt bạc cắc” rồi chạy, thì may ra có thể thoát, ôm được chút tiền còm bỏ túi . Còn muốn làm ăn lâu dài, đại qui mô, thì sẽ được VC “vỗ béo” cho tới một ngày nào đó, chúng cảm thấy “con mòng” đã khá nặng ký, là chúng đem ra “làm thịt“. Sự việc xảy ra cho các “đại thương gia” Hoàng Vi Ðắc, Nguyễn Trung Trực, Trịnh Vĩnh Bình…kể trên là những kinh nghiệm.

Thực ra bài bản của CSVN không thay đổi từ 1945. Chúng chỉ biến dạng với thời gian. Thời 45-46, Hồ Chí Minh phát động “tuần lễ vàng” để trấn lột . Trong chiến tranh, CS “cải cách ruộng đất” để cướp không tài sản của dân quê. Về tiếp thu Hà Nội 1954, CS cải tạo các thương gia . Chiếm được Saigon năm 75, chúng”đánh Tư sản”…

Ngày nay Việt Nam hết Tư sản thì CS dụ Việt kiều về, để vỗ béo dần dần thành Tư sản…rồi …vân vân và vân vân !

Ta thấy Lịch sử là một chuỗi bài học. Lịch sử sẽ vô ích nếu những bài học không được rút ra.

VC không thể bị đánh đổ ?

Nhiều người cho rằng, CSVN, cũng như Trung Cộng, Bắc Hàn, không thể bị đánh đổ, và cần dùng kinh tế để thay đổi dần dần. Họ lập luận rằng nếu không bị chống đối, CSVN cũng sẽ “tiến bộ” như Trung Cộng. Nếu bị bao vây, CSVN sẽ “đóng cửa, rút cầu”, trở lại một thể chế cô lập, bưng bít như Bắc Hàn.

Nhận định này sai lầm. Tình hình Việt Nam có những nét đặc thù, không như Bắc Hàn, mà cũng chẳng giống Trung Cộng.

Trước hết Bắc Hàn chưa bị Kinh Tế Tư Bản làm “ô nhiễm”, trong khi VC đã dấn thân vào một tiến trình không thể đảo ngược. VC đã nếm mùi “tiện nghi Tư bản”,  bộ máy kìm kẹp Công An cần được nuôi dưỡng bằng tiền bạc, sự bịp bợm bằng lý thuyết đã bị hóa giải bằng Truyền thông, Thông tin. Toàn dân cũng không dễ dàng chấp nhận quay về “ăn khoai sắn”, và sẽ vùng lên. Hà Nội dư biết con đường “kinh tế thị trường” sẽ khai tử chế độ toàn trị của chúng, nên một mặt chúng ra sức vơ vét, thủ lợi, một mặt trì trệ mọi cải cách để dò từng bước theo gót quan thày Trung Cộng.

Nhưng so với Trung Cộng, Hà Nội không có được cái khôn ngoan, cái bản lãnh, của Bắc kinh. Ngoài ra, Trung Cộng, với khối dân  hơn 1 tỷ người, vẫn còn bị CS nhồi sọ từ hơn nửa thế kỷ, sẽ ù lì, khó xoay vần hơn. Tại Việt Nam, dân không đông, lại có kinh nghiệm về Dân Chủ Tự Do ở Miền Nam trước 75, sự bịp bợm của CS đã hoàn toàn tan rã.  Cho nên, không như Trung Cộng và Bắc Hàn, Việt Nam có những điều kiện thuận lợi hơn  để lật đổ CS.

Có người nhận xét rằng Hải ngoại nên ngưng chống Cộng, vì không bao giờ đủ sức “về giải phóng quê hương”. Lập luận này cũng sai lầm và đầy dụng ý. Bởi vì người có ý thức không hề bao giờ vỗ ngực, khẳng định nói Hải Ngoại đóng vai chủ chốt để về giải thể CS. Việc giải thể CS sẽ xuất phát từ trong nước. Hải ngoại trước sau nếu có, chỉ yểm trợ, góp sức vào cuộc đấu tranh chung tạo áp lực từ mọi phía, trong cũng như ngoài nước, đối với bạo quyền.

Các chế độ độc tài, nhất là độc tài CS, không khi nào tự nó có thiện chí cải tổ vì lợi ích dân tộc. Nó chỉ tạm thời lui bước, cải cách dối trá khi bị đe dọa xụp đổ do sức ép từ mọi phía. Sự xụp đổ của CS Liên Sô là một bằng chứng. Nó chịu sức ép từ bên trong vì kinh tế thất bại, gây bất mãn triền miên trong nhân dân. Nó chịu sức ép từ bên ngoài, vì sự bao vây của Khối Tự Do về kinh tế, với Nato về quân sự, với chiến dịch Thông tin, Truyền thông, hóa giải sự bưng bít, lừa bịp, sau bức màn sắt. Sức ép của sự chống đối khắp nơi, năm này qua năm khác, rồi khởi sự chỉ từ một cuộc tranh chấp địa phương của Công đoàn Ðoàn Kết Ba Lan , đã bùng lên, ảnh hưởng lan tràn khắp Ðông Âu. Khi các sức ép dồn dập lên tới  cực điểm, thì chỉ cần một  “sai lầm nhỏ” (faux pas) về chiến lược của bạo quyền, là gây rạn nứt giây truyền không thể đảo ngược, xô đẩy dẫn đến xụp đổ. Quan sát sự xụp đổ của Liên Sô, Ðông Âu…và gần đây nhất của Milosevic, cho thấy, khi chịu áp lực nặng nề  kéo dài, cả từ trong lẫn ngoài, CS luôn luôn khởi sự bùng nổ ra từ bên trong (implosion), mà vai trò chủ động trong sự xụp đổ lại chính là giới trẻ sống và lớn lên trong xã hội CS, thường được coi là “tổ chức chặt chẽ”.

Tóm lại, để thanh toán các chế độ cực quyền, giải pháp duy nhất vẫn là gây sức ép trong ngoài, toàn diện và liên tục, không có gì khác hơn.  Ðối với CSVN, sự chống đối của người Việt Hải ngoại là khôn ngoan, là ý thức được sự cần thiết phải tiếp tay tạo sức ép. Cộng đồng Hải ngoại không vỗ ngực tự nhận là ” chủ lực” của cuộc đấu tranh, nhưng cũng không thể chối bỏ phần đóng góp của mình.

Kinh Tế trước, Dân Chủ sau ?

Hà Nội thấu hiểu cái viễn ảnh đáng lo ngại này nên đã ra tay trấn áp ngay từ trứng nước mọi mầm mống chống đối . VC ngoài miệng lên tiếng tố cáo “diễn biến hoà bình”, nhưng trong thâm tâm chúng không mong gì hơn là tình hình biến chuyển theo chiều hướng này, để chúng có thể “câu giờ”.  CS “hoãn binh” bằng khẩu hiệu “Kinh tế trước, Dân chủ sau” mà một vài cái loa ở Hải ngoại thường lên tiếng phụ họa. Bọn đầu xỏ Mafia Ðỏ sẽ có thời gian tẩu tán ra nước ngoài của cải, tài sản ăn cắp được, truyền ngôi lại cho con cháu, và tránh sự xụp đổ đột ngột, mà hậu quả chắc chắn là con đường dẫn chúng ra Pháp đình hoặc Pháp trường. Ngoài ra, nếu thời cơ đưa đẩy, thuận lợi, CS sẽ trì trệ, xoay sở để “tại vị” thêm vài thập niên nữa.

Lập luận cho rằng ở Việt Nam cần “nâng Dân trí lên đã, Dân chủ sau”, là ngụy biện. Như trên đã nói, hàng chục triệu dân Miền Nam, trước 75, đã sống và hiểu thế nào là Dân Chủ Tự Do tương đối ở Miền Nam. Họ đã và đang tiếp tục “hủ hóa” tất cả nhân dân Miền Bắc.

Người Việt Nam từ lúc sinh ra  tất cả đều là ca sĩ, hình ảnh  đồng bào già trẻ tham dự cùng cất tiếng ca đầy nghiêm khắc hỏi bạo quyền việt cộng “Anh Là Ai? sao làm tay sai cho Tàu?”

Bố đờn, con cũng đờn keyboard, me và chị Hai cùng anh Ba hợp ca “Việt Nam Tôi Đâu?”  Nhạc Việt Khang hay ở chỗ toàn”câu hỏi”nhưng thật ra là 1 bản cáo trạng lên án bọn hèn với gặc, ác với dân, buôn bán đất đai lãnh thổ cho giặc Tàu.

Hai bà cụ có mặt từ sớm.

Kinh nghiệm phát triển” kinh tế không cần Dân chủ “đã thấy ở Trung Cộng (TC). Có người đề cao kinh tế TC làm mô hình, mẫu mực, và hy vọng Việt Cộng sẽ đạt tới, nếu để chúng “tự ý thay đổi”. Trước hết, cần khẳng định  TC là “bực thày”của Hà Nội, với sự khôn ngoan mà VC chẳng bao giờ có được. Cũng chính vì sự “u tối, kém cỏi” của VC so với TC, mà ta hy vọng chúng sẽ “xập tiệm” sớm hơn quan thày TC, mặc dầu VC luôn luôn cố gắng dập khuôn từng bước theo quan thày để sinh tồn. Sau nữa, phải chăng TC hiện nay là mẫu mực cho Việt Nam trong tương lai vài chục năm tới ? TC với thành tích đứng đầu thế giới về đàn áp sắt máu Nhân quyền, TC với nửa thế kỷ xây dựng kinh tế CS chỉ đem lại TSL 780 đôla (Tổng Sản Lượng/ đầu người), so với Ðài Loan 13.900 đôla ( gấp 18 lần TC !). (Việt Nam, được xếp hạng nghèo hơn Bắc Hàn và Bangladesh ( !), với TSL 370 đôla, đứng gần chót, ngang hàng với mấy nước Phi Châu ! Theo thống kê PNB/ habitant, Atlas économique mondial 2002, Nouvel Obsevateur) .

Trung Cộng như vậy sẽ là mẫu mực cho VN chăng? Tại sao không noi gương Ðài Loan ? mô hình của một sự phát triển kinh tế chỉ có được dưới một thể chế Dân chủ . Tại sao không tập trung nỗ lực, ưu tiên gạt bỏ trước hết thể chế độc tài CS, điều kiện tiên quyết cho mọi phát triển kinh tế ?

Nguyễn Gia Tiến -Zurich – Thụy Sĩ.

 

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Cosunam.ch

Blog Hỏi Là Trả Lời

Advertisements

Việt Nam có dân chủ? Còn Lâu – Phạm Văn Viêm

“Rốt cuộc còn lại một điều
Họ từng đã sống và từng dám chơi
Dám chơi là đã được rồi
Dầu vàng đặt cược mất toi bao lần…”

Bài đọc suy gẫm: “Việt Nam có dân chủ? Còn lâu” hay ” Một cuộc lùng bắt tại Đông Âu” – bài viết của một kỹ sư du học và “hợp tác lao động” tại Bulgaria tên Phạm Văn Viêm chỉ vì dịch cuốn sách “Chế Độ Phát Xít” của Tổng Thống J.Jeliev, mà ông đã bị cộng sản lùng bắt trên đất Bulgary mang về nước giam giữ và hiện tại rất cần người người khắp nơi gióng lên tiếng chuông báo động để can thiệp.  Câu hỏi rất hay được đặt ra là: khi con người phạm tội thì có luật pháp, khi chế độ phạm tội thì lấy ai để xử?” (Blog 12 bến nước).  Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

Phát xít và cộng sản giống nhau ở chỗ đâu đâu cũng có nạn nhân diệt chủng của chúng. Hình ảnh trại tù của phát xít Đức và lò thiêu xác người.

Tháng 6 năm ngoái 1990, tôi viết cho người yêu: “Nếu tháng 10 này anh vẫn chưa về, anh mong em hãy tự quyết định lấy cuộc đời mình”. Cho đến tận bây giờ tôi vẫn không giải thích nỗi vì cớ gì mà tôi lại chọn đúng tháng 10. Phải chăng linh tính đã báo trước sự kiện mà tôi sẽ kể cho bạn nghe sau đây?

Hồi đó chúng tôi mới chuyển đến Liên Hiệp Xây Dựng Varna (CMK). Tình hình “hợp tác lao động” Bun-Việt đang ở vào giai đoạn chót, chẳng còn gì là hấp dẫn nữa. Tôi mới sang Bulgarie được vài tháng, nhưng đã muốn xin về. Tôi đã nói chuyện này với giám đốc CMK Vlado. Ông hứa sẽ giúp đỡ, nếu có đợt giảm biên.

Sự kiện xảy ra vào ngày 23-10-1990 đã làm thay đổi mọi dự định của tôi. Hôm trước tôi vừa đọc xong truyện Vanga (truyện về một bà tiên tri người Bun, hiện đang sống tại thành phố Petrich). Đối với tôi câu chuyện thật hấp dẫn. Vài năm gần đây tôi vẫn có linh cảm về một thế giới phi vật chất xung quanh mà ta không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Những con chó nghe được âm thanh ở tần số cao, mà tai của chúng ta không hề cảm thấy. Biết đâu con mắt của chúng ta cũng như vậy? Những cái mà chúng ta không nhìn thấy, không nghe thấy, thì không có nghĩa rằng chúng không tồn tại, mà chỉ đơn giản là ta không cảm giác được sự tồn tại của chúng.

Tôi gần bị những mẫu chuyện trong bộ sách thôi miên. Tôi còn nhớ, lúc đó tôi đang ngồi ngoài ban công. Buổi sáng mùa thu vắng lặng và se lạnh. Cả tầng hình như chỉ còn lại mình tôi. Anh em trong đội đi làm hết. Tôi có việc phải đưa một người đi khám bệnh, nên không vào nhà máy. Khi tôi đang đọc những trang cuối cùng, thì một con bọ dừa nhỏ xíu, co cái vòi dài, bay đến, đậu trên mặt sách. Tôi vốn tôn trọng mọi sự sống, dù nhỏ nhoi, nên chăm chú quan sát vị khách tí hon. Tôi có cảm giác là con vật cũng đang nhìn tôi như thế. Nó lúc lắc cái vòi dài, còn tôi hiểu đó là lời chào. Tôi chào lại và thầm nhắc một câu hỏi: “Anh bạn muốn nói với tôi điều gì chăng? Như loay hoay như tìm phương hướng. Rồi nó đứng im, cái vòi giơ cao hẳn lên, vẩy về một hướng xác định, như có ý bảo: “Hướng này này”, 3 lần nó làm như thế, cái vòi đều chỉ về một hướng như trước. Sau đó con bọ cất cánh bay đi, nhưng nó va phải mặt kính, ngã sống soài trên sàn ban công. Tôi nhặt con bọ lên, thả ra ngoài. Lần này thì nó bay đi được. Tôi kinh hãi, đánh dấu cái hướng con bọ chỉ trên trang sách rồi vội lấy bản đồ ra so. Cái hướng dó trùng lập hoàn toàn với hướng từ Varna đi Petrich! Bên tai tôi văng vẳng như tiếng người bảo: “Hãy đến với ta!” Tôi nhìn quanh: không có ai cả, căn phòng hình như vắng lặng hơn lúc thường. Tôi rùng mình, một cảm giác ớn lạnh xuyên suốt từ đầu đến chân. Tôi đã quyết định là làm theo tiếng nói vô hình đó, sẽ đi chuyến tàu tối từ Varna. Và chắc chắn là tôi đã làm như thế, nếu như không có chuyện tài chính: lúc đó trong túi tôi chỉ còn vài đồng bạc, phải 4 ngày nữa mới có lương, còn đi vay thì ngại … Chiều hôm đó tôi như dứt được cơn mê. Thậm chí còn cười mình là nông nổi. Tuy nhiên, tôi vẫn định là lĩnh lương xong sẽ cố gắng dến thăm bà Vanga, nhân thể qua Sofia hỏi thăm có nhà xuất bản nào nhận in bản dịch “Chế độ Phát Xít”. Tôi đã trả giá đắt cho việc trì hoãn này.

Đêm hôm đó giấc ngủ đến với tôi một cách khó khăn, lòng nôn nao, nóng như có lửa đốt. Bên ngoài gió lạnh gầm rú, như có ma quỷ nô đùa. “Có điều gì đó không lành”- tôi tự bảo.

Sáng ngày 23-10-1990, khi tôi đang mơ màng thì nghe tiếng gõ cửa gấp gáp. Tôi vùng dậy, mắt nhắm mắt mở đi ra phía cửa, hỏi: “Ai gọi đấy?” Có giọng xứ Nghệ pha Bắc cười đáp: “Ngủ gì ghê thế?” Té ra là anh Nghĩa, đội trưởng – bí thư đảng bộ. Tôi loay hoay tìm chìa khóa và hỏi: “Có việc gì đây?” Một giọng xứ Nghệ đặc sệt ồm ồm trả lời: “Viêm, mở cửa ra!” Tôi nhận ra giọng của đơn vị trưởng, đảng viên Hân.

Tôi mở cửa, 2 người ập vào phòng. Hân bảo tôi:

– Mặc quần áo khẩn trương! Có sứ quán hỏi chuyện thằng Hồng và thằng Tuấn.

Hồng và Tuấn là 2 người trong đội của tôi. Mấy hôm trước có tin 2 người này cùng mấy người khác nữa bị công an biên phòng Bulgarie bắt ở biên giới vì định vượt biên.

Tôi bảo 2 người: “Sao sớm thế!” và liếc nhìn đồng hồ, mới hơn 6 giờ sáng.

Tôi mặc vội quần áo. Đang buộc dở dây giày thì 4 người nữa ập vào phòng. Tôi biết 2 người: Đề, trưởng vùng – đảng ủy viên, và Ngọc, bí thư chi bộ. Một người nữa tôi quen mặt nhưng không biết tên, sau đó mới rõ là bí thư đảng ủy Cường (Cường bạc). Người cuối cùng tôi chưa gặp mặt bao giờ.

Đơn vị trưởng Hân mời người lạ mặt ngồi xuống cái ghế độc nhất trong phòng và giới thiệu:

– Đây là anh Kim, bí thư thứ 3 của Đại sứ quán.

Tôi đã từng nghe tiếng người này. Anh ta là đội trưởng đội an ninh. Tôi ngó nhìn nhà chức trách quan trọng: da ngăm đen, môi thâm, mắt một mí, con ngươi đục ngầu, sắc mặt u ám. Một kẻ nham hiểm – tôi thầm kết luận.

– Thế này, anh Viêm nhé! – Người tên Kim hằng giọng nói – Chúng tôi vừa ở chỗ anh Hồng đến. Anh Hồng khai là anh tổ chức vượt biên, vì vậy chúng tôi đề nghị anh cho được khám nhà.

Anh ta nhấn mạnh 2 chữ “đề nghị” như có ý bảo: “Nói thế cho nó lịch sự thôi, chú mày ạ!”

Tôi cãi:

– Tôi không có tổ chức vượt biên. Còn khám nhà thì mời các anh cứ tự nhiên.

Tôi không lạ gì những hành động phi pháp của các “nhân viên an ninh”, nên cũng không buồn hỏi lệnh khám nhà. Họ cần gì đến lệnh! Họ lại có tới 6 người, ai nấy đều “đằng đằng sát khí”, nhất là bí thư đảng ủy Cường, mặt trắng dã, môi mím chặt, hằn học. Khuôn mặt anh quá nghiêm trang, đến mức tôi suýt phì cười. Chống cự hay hạch sách thật vô ích. Thôi thì “mời” cho lịch sự. Vả lại tôi vẫn nghĩ là tôi không liên quan gì đến chuyện vượt biên của Hồng và họ sẽ không tìm được gì cả.

Tôi đã lầm. Đó chỉ là cái cớ để họ khám nhà, còn nguyên nhân thực sự là việc tôi dịch “Chế độ Phát Xít”, có kẻ nào đã tố giác.

Thật ra tôi đã dịch tác phẩm này một cách công khai, không hề giấu diếm. Anh em trong đội đều biết tôi đánh máy chữ đến tận khuya.

Chẳng lâu la gì họ đã tìm ra được cái họ cần: 2 cuốn sách “Chế độ Phát Xít” nguyên bản, bản dịch viết tay, 2 bản dịch tiếng Việt đã đánh máy cẩn thận, vài lá thư của người yêu của tôi. Và thậm chí cả những tờ giấy nháp mà tôi viết lung tung, không ra đầu ra đũa gì cả, đến tôi cũng khó mà đọc, có lẽ họ nghi là “tài liệu mật”.

Tuy nhiên, bí thư Kim vẫn yêu cầu các đệ tử của mình kiểm tra kỹ hơn lần nữa, trong khi anh tranh thủ “tâm sự” với tôi. Anh hỏi bằng một giọng thật nhẹ nhàng, “thân tình”:

– Viêm quê ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa phải không?

– Vâng – Tôi đáp.

– Mình cũng là người Thanh Hóa – anh nói ra chiều thông cảm.

Trên phương diện “đồng hương”, tôi chỉ khâm phục những người Nghệ Tĩnh, họ quý nhau thực sự. Nhưng người Thanh Hóa không có được đặc tính này, tuy rằng chúng tôi “xóm giềng” với những người Nghệ Tĩnh. Tôi chẳng mảy may xúc động trước tình quê hương của nhân vật quan trọng này, tuy vậy tôi cũng hỏi anh:

– Anh ở huyện nào ạ?

– Mình ở Đông Sơn – Anh đáp.

Anh cầm bản đánh máy “Chế độ Phát Xít” xoay xoay trên tay, nhìn tôi với ánh mắt của con rắn đang thương hại con mồi mà nó sắp nuốt tươi, anh bảo:

– Làm thế này chắc là vất vả lắm nhỉ! Chắc là phải thức đêm, thức hôm?

Tôi bảo anh là tôi chỉ dịch và đánh máy chủ yếu vào ban ngày, còn ban đêm thì nhiều lắm đến 12 giờ, rằng tôi không hề giấu diếm việc làm của mình.

Anh quay lại nhắc nhở các đệ tử:

– Các anh nhớ kiểm tra thật kỹ cho tôi!

Các đệ tử sốt sắng làm việc. Quần áo, sách vở, chăn đệm của tôi đều bị bới tung. Cũng may cho họ là tôi không có mấy đồ đạc. Bí thư đảng ủy Cường còn bươi cả các sọt rác sau nhà, mà hình như đã rất lâu tôi quên không đổ. Giá tôi biết trước được là anh chịu khó ngửi cả cái mùi không lấy gì làm mát mẻ đó, thì chắc đã dọn vệ sinh trước để khỏi thất lễ. Đề khôn ngoan hơn, anh chỉ lởn vởn nơi này nơi kia, tránh những chỗ “bẩn thỉu”. Quả là có học cũng có khác.

Chừng hơn 1 tiếng đồng hồ “làm việc cần mẫn”, lần giở từng trang sách, lục tung túi áo, túi quần, “kiểm tra” từng kẽ hở trên nền nhà, nhưng họ không tìm được gì hơn. Có gì đâu mà tìm!

Bí thư Kim chỉ các “tang vật” trên bàn, bảo:

– Chúng tôi sẽ thu những thứ này. Đề nghị anh Hân lập biên bản.

Tôi định hỏi lý do tại sao lại thu, nhưng chợt nghĩ có hỏi cũng vô ích, tốt nhất là im lặng. Tôi chỉ bảo:

– Đề nghị các anh đừng thu những lá thư của người yêu tôi, vì đấy là chuyện riêng tư của mỗi người.

Kim ra hiệu. Bí thư chi bộ Ngọc mở các lá thư, lướt đọc một cách tự nhiên, cứ như chính lá thư gửi cho anh ta vậy. Không hiểu anh có tìm được điều gì “quan trọng” không, nhưng anh đã làm hiệu cho Kim.

Tôi bảo họ:

– Tôi nói vậy thôi. Nếu các anh tôn trọng thì đừng thu, còn nếu không thì tùy.

Họ không hiểu ý tôi, hoặc cố tình giả vờ không hiểu. Trong biên bản ghi chú: “Anh Viêm có xin lại những lá thư của người yêu, nhưng sau khi xem xét, ban kiểm tra vẫn quyết định thu.”

Bí thư Kim hỏi tôi:

– Anh có ân hận gì với những việc anh làm không?

Thật là một câu hỏi ngớ ngẩn! – Tôi thoáng nghĩ, nhưng vẫn bình tĩnh bảo anh:

– Không – Và hỏi lại anh – Tại sao tôi phải ân hận?

Anh không trả lời, quay sang bảo Hân:

– Anh ghi vào biên bản cho tôi!

– Ghi thế nào? – Hân hỏi.

– Ghi thế này: Anh Kim hỏi anh Viêm có ân hận gì về những việc đã làm không? anh Viêm trả lời là không.

Thật rõ ràng đến tận chân tơ kẽ tóc! Biên bản được đọc lại cho tất cả mọi người cùng nghe. Bí thư Kim bảo tôi ký. Tôi ký, sau đó cả “phái đoàn” lần lượt ký.

Kim đứng dậy khỏi ghế. Anh suy nghĩ giây lát rồi bảo: “Thế này, anh chuẩn bị theo tôi lên sứ quán!”

Tôi nhã nhặn hỏi:

– Bao giờ thì đi anh?

– Chưa biết được, để tôi còn chuẩn bị – Kim đáp, và nói thêm:

– Đề nghị anh Nghĩa và anh Ngọc ở lại đây với anh Viêm!

“Lịch sự quá!” – Tôi nghĩ. Sau đó họ ra khỏi phòng, mang theo các “tang vật”. “Trụ sở” của họ ở tầng 5, phòng Hân.

Còn lại 3 người, Nghĩa có vẻ như thương tôi. Trong các đội trưởng ở nhà máy này, tôi và anh thân nhau hơn cả, dù anh hơn tuổi tôi rất nhiều. Anh ái ngại bảo tôi:

– Chuẩn bị nhanh lên, “ông ấy” sẽ bắt taxi đi luôn đến Sofia đấy. Mang ít áo ấm đi, trên Sofia rét hơn ở đây. Đồ đạc để tí nữa tôi mang về phòng giữ hộ cho. Đi biết bao giờ mới về?

“Có thể không bao giờ còn về – tôi nghĩ thầm – cũng là cái số. Giá đêm qua đi Sofia thì có thể đã thoát khỏi chuyện này rồi”.

Tôi thay quần áo. Lòng buồn khôn tả. Thật là tai bay vạ gió, chưa làm nên tích sự gì thì đã bị bắt! Tôi buộc chặt dây giày, nghĩ cách trốn. Nửa đùa nửa thật, tôi cười bảo Nghĩa và Ngọc:

– Xin các anh cho em đi rửa cái mặt cho sạch sẽ.

Quả tình là tôi chưa kịp đánh răng, rửa mặt trước khi các nhà chức trách thi hành công vụ. Nghĩa bảo tôi:

– Đi đi!

Tôi lấy bàn chải, khăn mặt. Định mặc thêm cái áo khoác ngoài, nhưng sợ các “quý anh” sinh nghi, nên thôi. Tôi mở cửa phòng, đi về phía nhà tắm. Liếc về phía sau, thấy Ngọc đã lẽo đẽo đi theo, cách tôi vài mét.

Tôi đánh răng, rửa mặt xong, quay ra vẫn thấy Ngọc đứng cạnh cửa nhà tắm. Tôi đi trước, anh theo sau. Tôi bèn nhanh trí rẽ vào toa-lét cạnh đấy. Thì cũng phải đi… một cái chứ! Trước khi vào, tôi quay lại nhìn Ngọc cười cợt, cố ý bảo: “Đứng cạnh người đi, đẹp mắt chưa!” Hình như anh hiểu điều đó, vì tôi thấy anh cúi xuống, có vẻ như thẹn. Tôi vẫn xếp anh vào loại không đến nỗi nào.

Nhưng tôi chỉ đi … “nhẹ” thôi. Tôi ra khỏi toa-lét, giả vờ đi về phía phòng ở. Lần này Ngọc đi trước tôi. Tôi mừng thầm: “Quý anh” mà tinh ý đi sau tôi thì hỏng bét!

Tôi cố tình đi chậm lại để kéo dài khoảng cách giữa tôi và “đối tượng”. Ngọc không hiểu ý, vả lại hình như anh xấu hổ với việc “canh phòng” vừa rồi. Anh đi nhanh về phía phòng tôi ở. Tôi bước qua vị trí cầu thang vài bước, thì Ngọc đã đến trước cửa phòng tôi. Anh mở cửa đi vào, nhưng vẫn cẩn thận ngoái lại nhìn xem tôi đã đến đâu. Chừng như đã chắc chắn là tôi không thể “biến” được, anh khép hờ cửa lại, cho tôi vào sau. Chỉ chờ có thế. Tôi quay người và nhảy 3, 4 bậc thang một, phi mạnh xuống dưới (tôi sống ở tầng 8).

Một kế hoạch rất nhanh vụt thoáng trong đầu tôi. Tôi không thể núp vào các phòng có người Việt sống, vì sẽ dễ dàng bị bắt lại. Tôi vừa đến đây có vài tháng, hầu như không quen biết anh em các đội khác, còn đội tôi thì ở hết trên tầng 8. Thấy tôi “biến”, các “quý anh” nhất định sẽ lùng sục tất cả các tầng và trước sau cũng phát hiện ra. Tôi cũng không thể thoát theo cửa chính của khu nhà vào lúc này, vì họ từng đã là những “anh bộ đội cụ Hồ” dày dặn. Vả lại họ có thể dùng xe của sứ quán đuổi theo. Khi đó thì dù tôi có cánh cũng khó mà bay thoát. Vậy là đành nấp lại trong khu nhà này, chờ thời cơ thuận tiện.

Nhưng nấp vào đâu? Tầng 3 có bộ phận thiết kế của xí nghiệp làm việc. Tôi có quen vài người trong đó, thậm chí đã nhờ họ giải thích cho một số từ trong khi dịch bộ “Chế độ Phát Xít”. Tôi chạy vào đó, nhưng thật không may. Còn sớm quá, chưa có ai đến làm việc, tất cả các cửa đều đóng, đành lánh tạm vào toa-lét vậy.

Tôi đứng ở chỗ nấp chừng 20 phút. Thời gian dài lê thê, thật hồi hộp. Chỉ sợ có người vào toa-lét hay các “quý anh” tìm đến. Rồi có tiếng khóa cửa lách cách, tiếng người Bun trò chuyện với nhau. Tôi hiểu những người trong ban thiết kế nhà máy đã đến làm việc.

Tôi rời chỗ nấp, bước nhanh qua hành lang. Không có người nào đứng ở hành lang cả! Thật may mắn, vì tôi phải giữ bí mật tuyệt đối. Tôi gõ cửa phòng 309, mở cửa bước vào sau khi nghe rõ tiếng “Đa” của người bên trong.

Mùa xuân năm 1940, 22 ngàn sĩ quan Balan bị SítaLin, và một số tên trùm cộng sản Nga ra lệnh xử bắn tập thể tại rừng Katyl. Hình các ngôi mộ được khai quật lại để điều tra.

Năm 2010, quốc hội Nga đã ra nghị quyết về vụ thảm sát Katyl với mục tiêu “loại bỏ sự gian trá về Katyl”.  Hình Tổng Thống Medvedev và Thủ Tướng Nga Putin đang cúi đầu trước đài  tưởng niệm với vòng hoa muộn màng. Link Diêt Chủng

Trong phòng chỉ có một người đàn ông, tôi biết tên anh. Tôi chào X , anh chào lại và mời tôi ngồi. Tôi ngồi xuống ghế, từ tốn trình bày hoàn cảnh. X là một trong những người đã từng giúp tôi dịch bộ “Chế độ Phát Xít” nên anh hiểu ngay ra vấn đề. Tôi không phải giải thích nhiều. Tuy nhiên, anh rất ngạc nhiên hỏi tôi: “Tại sao Đảng Cộng Sản Việt Nam lại hành động phi pháp và ngớ ngẩn như vậy?”

Lát sau, một người nữa đến làm việc. Phòng này có 2 người. Chúng tôi làm quen với nhau, vì tôi chưa biết người ấy. Anh thật đẹp trai, tên là R. Anh là kỹ sư công nghệ dân dụng, cùng nghề với tôi, nghĩa là chúng tôi cùng học một trường. Anh học sau tôi 2 năm. X nói tóm tắt hoàn cảnh của tôi với R. Anh nhìn tôi thông cảm, pha chút ái ngại.

Tôi ngồi trong phòng nói chuyện tầm phào với 2 người. Mỗi khi có ai gõ cửa, tôi lại nấp vào trong cái tủ đứng. Vì vậy ngoài R và X, không ai biết tôi ở đây. Tương đối ổn – tôi nghĩ – các “quý anh” chắc không thể ngờ tôi trốn trong này. Vả lại đây là nơi làm việc của người bản xứ, họ không dám tự tiện xông vào. (Sau này tôi được những người trong đội kể lại là khi thấy tôi biến mất, các “quý anh” nháo nhác đi tìm. Họ lùng sục khắp các khu nhà. Kim, Cường, Đệ còn đánh xe tức tốc đến khu sinh viên, vì nghi tôi “tẩu” sang đó. Bản thân Ngọc phải ngồi canh một cái tủ bị khóa đến tận chiều, vì cho rằng tôi ở phía trong. Họ không dám phá tủ, vì sợ anh em vu cáo cho là ăn cắp).

Bây giờ tôi mới thực sự lo lắng. Trốn đi đâu? Sống thế nào? Trong túi tôi lúc này chỉ có vỏn vẹn 15 Lêva, không đủ mua một vé tàu đi Sofia. Những người bạn Bungari cùng học thời sinh viên thì đã lang bạt khắp nơi. Tôi không có tin tức gì về họ. Còn một vài anh bạn người Việt sống rải rác ở các thành phố của đất nước này. Nhưng đi đến những chỗ đó thì không xong, chẵng khác nào “lạy ông tôi ở bụi này”. Vả lại có thể vì tôi mà họ phải liên lụy, tôi không muốn như thế.

R. bảo tôi: “Tại sao anh không đến thẳng Phủ Tổng Thống xin bảo trợ? “Chế độ Phát Xít” là tác phẩm của Tổng Thống Z. Zhelev, ông ta chắc sẽ giúp anh”

Tôi ngần ngại, vì ý thức được rằng mình chỉ là một kẻ vô danh. Đến một nơi tôn nghiêm như thế với mục đích cầu cạnh theo kiểu ăn vạ, thì thật không đẹp chút nào. Vả lại chắc gì họ đã tin những việc tôi làm. Tôi không có bằng chứng gì cả. Biết đâu họ chẳng sẽ nghĩ tôi là kẻ điên rồ!

Nhưng suy đi tính lại vẫn không còn tìm được cách nào hơn. Thôi thì đã liều, ba bảy cũng liều, cùng lắm là chết. Nếu họ không đồng ý cho tôi sống tỵ nạn, tôi sẽ tìm một cánh rừng nào đó để … chết cho khỏi phiền hà đến người đời! Nào ai biết cuộc đời ta sẽ kéo dài bao nhiêu! Thà chết còn hơn để “quý anh” tóm được, đưa về “nghỉ mát” trong các nhà đá, các trại tập trung.

Buổi trưa, X mua thức ăn cho tôi. Tôi gửi tiền, nhưng anh nhất định không nhận. Nhìn qua cửa sổ, thỉnh thoảng vẫn thấy bóng các “quý anh” lảng vảng quanh khu nhà. X và R hỏi tôi kế hoạch “phá vòng vây”. Tôi bảo họ: “Đêm xuống, tôi sẽ có cách thoát”. Khoảng 4 giờ chiều, X về trước. Anh bắt tay tôi: “Chúc may mắn!” Tôi cảm ơn anh và bảo: “Tôi sẽ không bao giờ quên ơn anh”.

Một lát sau R đi ra ngoài. Khi anh trở lại, tôi mới rõ là anh đi mua thức ăn cho tôi: cả bữa chiều và cả thức ăn dự trữ cho tôi mang theo.

Anh đun nước chè, mở hộp thịt, cắt bánh mì, rồi bảo tôi dùng bữa. Xong anh lục ví tiền của mình, đưa hết số tiền còn lại trong ví cho tôi, bảo:

– “Tôi không mang theo nhiều tiền, ở đây chỉ còn 13 đồng, anh cầm lấy mà mua vé tàu”.

Tôi cảm động đến suýt ứa nước mắt, vì không ngờ lại được đối xử tốt như vậy. Thế là tôi có 28 đồng, thừa tiền mua vé đi Sofia.

Trước khi ra về, anh bảo tôi: “Anh phải cẩn thận. Chúc may mắn”. Tôi chào anh, khóa trái cửa lại. Chỉ còn lại một mình trong căn phòng xa lạ. Hoàng hôn dần buông sau dãy núi xa. Không gian vắng lặng, thoảng hoặc mới có người qua lại phía sau nhà.

Rồi màn đêm phủ trên vạn vật. Thành phố lên đèn. Phía ngoài vẫn thấy bóng các “quý anh” lảng vảng. Kế hoạch phá vòng vây hình thành trong đầu tôi. Tất nhiên là phải chờ lúc bất ngờ nhất, khi các “quý anh” đã chán việc canh phòng và đã ngon giấc. Bên ngoài lạnh lắm, tôi hy vọng là dù với tinh thần Cộng Sản các “quý anh” cũng không dại gì đứng mãi bên ngoài để chết rét. Họ sẽ cho là tôi đã cao chạy xa bay. Và một giấc ngủ trong chăn ấm sẽ mạnh hơn cái tinh thần Cộng Sản nửa vời. Trong phòng này chỉ có 2 lối thoát: qua cửa ra vào và qua ban công. Tôi ngẫm nghĩ cả hai phương án để chọn cái tối ưu. Phương án nào cũng có ưu, có nhược. Nếu đi qua cửa ra vào, tôi sẽ không thể theo lối cầu thang thoát ra cửa chính, vì ban đêm cửa này bị khóa. Như vậy tôi chỉ còn có thể đi theo hành lang phía đông, mở cánh cửa sổ ở đây và nhảy xuống khu trường học một tầng kề đấy. Hồi chiều, R đã quan sát và chỉ cho tôi lối đi này. Anh cho rằng đây là lối thoát duy nhất, nhưng anh bảo: Từ tầng 3 đến mái khu một tầng còn rất cao, hơn 3 mét, phía dưới lại có nhiều mảnh kính vỡ, nhảy xuống đó rất nguy hiểm.

Phương án thứ hai là dùng dây buộc vào thành lan can để tụt xuống đất. Lối này tương đối an toàn, nếu các “quý anh” nhỡ may có nhìn thấy qua cửa sổ, thì khi họ xuống được dưới đất, chắc chắn tôi cũng đã cao chạy xa bay. Ban đêm họ khó mà lùa được tôi và lối này không có đường xe chạy, họ không thể dùng ô tô để đuổi theo… Nhưng tôi lại không có dây nhợ gì cả. Trong phòng này không có gì có thể làm dây, trừ tấm phong che bằng vải mỏng. Nhưng tôi không thể sử dụng nó cho mục đích của mình, vì như thế thật là không phải đối với những chủ nhân tốt bụng của căn phòng này. Tôi quyết định xé cái áo đang mặc trong mình, buộc lại làm dây. Nhưng có mỗi một cái áo mà làm thành sợi dây dài gần 5 mét thì thật mong manh. Tôi thở dài nhìn sợi dây yếu ớt vừa tạo ra. “Chọn làm phương án phụ thôi” – tôi thầm bảo và buộc chặt nó vào chân lan can.

Thời gian dần trôi. Bên ngoài mỗi lúc một lạnh hơn. Các “quý anh” đã thôi không lảng vảng nữa. Có lẽ họ đã đi ngủ, hoặc chỉ còn đứng trong nhà nhìn qua cửa sổ canh chừng. Tuy nhiên, vẫn phải chờ lúc thuận tiện nhất. Chỉ cần sơ xuất hay vội vàng là công sức và hy vọng sẽ tan thành mây khói. Tôi quyết dịnh sẽ hành động vào tầm ba – bốn giờ sáng, khi con người ta đang ngon giấc nhất.

Tôi nằm xuống nền nhà, định chợp mắt một lát, nhưng không tài nào ngủ được. Tiếng bước chân đi lại ngoài hành lang nghe rõ mồn một trong đêm vắng. Rồi tiếng động lắng dần, mọi người đi ngủ hết. Không gian như được trải rộng, mênh mông. Cả thế giới chỉ có một mình tôi đang thức! Tôi ngồi dậy quỳ trên nền nhà, tập trung tư tưởng vào một điểm vô hình, lắng nghe nhịp thở đều đều của thời gian. Cô đơn quá! Cả hai phương án thoát thân đều nguy hiểm. Tôi cầu nguyện.

Đây là lần thứ 2 tôi cầu xin Đức Chúa Trời một cách thành kính nhất mà tôi có thể! Trước đây đã có một lần chúng tôi bị lâm vào cảnh dở sống dở chết dở, và tôi đã cầu nguyện. Tôi cầu Đức Chúa Giêsu, không phải vì tôi có sẵn đức tin, mà vì tôi chỉ biết rõ nhất về Người. Tôi có nghe nói về Đức Phật, về đạo Hồi, v.v… nhưng chưa đọc về những tôn giáo này. Tân Ước là cuốn kinh thánh duy nhất mà tôi đã đọc qua một cách tình cờ. Mẹ tôi theo Phật giáo, nhưng chỉ theo chứ không hiểu gì, còn cha tôi không có đạo. Tôi ở giữa, không ra duy tâm mà cũng không ra duy vật. Tuy nhiên, ngày nhỏ theo mẹ đi chùa, tôi có cảm giác rờn rợn thế nào đấy. Nhà chùa âm u và buồn tẻ quá. Còn sau này mỗi khi có dịp bước vào nhà thờ, tôi thấy ấm lòng và dễ cảm nhận hơn. Nơi đây cao ráo, thanh thoát, mà vẫn có gì đó thật linh thiêng, thật khó tả. Lần đó tôi đã thoát nạn một cách ngẫu nhiên. Nhưng sau đấy tôi vẫn giữ tâm trạng bán tính bán nghi, vừa cho là “quý nhân phù trợ”, vừa nghĩ có thể do may mắn.

Giờ đây tôi lại cầu xin Đức Chúa Giêsu. Ta có thể làm gì khác hơn là cầu Chúa của lòng ta, khi đứng trước bước đường cùng? Tôi cầu thế này: “Chúa ơi, hãy cứu con thoát khỏi cảnh này, dù con đầy tội lỗi”. Quả là tôi đầy tội lỗi và đã phạm muôn vàn lời răn của Chúa. Tôi nhắc đi nhắc lại nhiều lần lời cầu nguyện, cho tới khi có cảm giác là nó đã thấu đấng thần linh. Bất chợt bên tai tôi văng vẳng như có tiếng người bảo: “Trước đây ngươi đã nói Chúa không chỉ là lòng tốt. Tại sao giờ lại xin cứu giúp?” Tôi giật mình, quả tình cách đây một vài tháng tôi có viết cho người yêu: “Cuộc đời này cần có Chúa, nếu không nó sẽ hết sức vô nghĩa. Nhưng theo anh, Chúa không đơn giản chỉ là lòng tốt”. Tôi lẩm nhẩm trong đầu: “Chúa ơi, con chỉ là một kẻ ngu si, nông nổi như mọi người đời, tránh sao khỏi suy nghĩ và hành động sai lầm”. Bên tai tôi lại âm vang giọng nói uy quyền: “Ngươi phải nhớ, Chúa, đó là lòng tốt!”… Tôi làm dấu thánh giá, cảm thấy lòng thanh thản, yên tâm hơn, dù lối thoát vẫn không rõ ràng.

Tôi chợp mắt được một lát trên sàn lạnh. Có tiếng động cơ ô tô vang đến. Tôi giật mình tỉnh dậy, nhìn qua cửa sổ về phía đường cái: xe ô tô buýt. Có nghĩa là lúc này đã gần 5 giờ sáng. Phải hành động gấp.

Tôi tra chìa khóa vào ổ, định mở cửa, nhưng không tài nào mở được. Tôi thử một lần, hai lần, ba lần, vẫn thế! Cứ như đây không phải là chìa khóa của ổ khóa này vậy. Thật quái lạ! Hồi chiều tôi đã mở thử một vài lần rồi kia mà!

Trên đường xe cộ qua lại mỗi lúc một nhiều. Không còn chờ được nữa, đành phải theo phương án phụ vậy.

Một số hình ảnh năm Mậu Thân cộng sản Việt Nam thảm sát đồng bào vô tội tại Huế qua các báo chí ngoại quốc. Các nhân chứng, tài liệu đầy.  Bao giờ thì họ mới nhận tội như người Nga? Link Blog16

Tôi mở cửa hướng ban công. Gió hây hây thổi. Sương đêm giá lạnh. Tôi nhìn sợi dây mỏng manh trên tay, nhìn độ cao chóng mặt. Từ tầng ba đến mặt đất cao khoảng hơn 7 mét, lòng ngao ngán. Nhưng còn cách nào đâu. Lạy Chúa! Tôi làm dấu thánh giá. Một, hai, ba! Lấy hết can đảm, tôi bám dây, tụt xuống. Tôi đã tụt xuống ngang sàn tầng 2. Chỉ còn vài sải tay nữa là tôi đã ở vị trí an toàn. Bỗng tay tôi nhẹ hỗng. “Dây đứt”!” – tôi thoáng nghĩ, miệng kêu: “Chúa ơi!”.

Tôi rơi xuống đất nhẹ một cách không ngờ và đã mừng thầm trong một giây ngắn ngủi. Nhưng khi nghiêng vai để giữ thăng bằng và đứng thẳng dậy, tôi bỗng nghe tiếng “rắc” khô khan nơi cổ chân trái.

Không hề thấy cảm giác đau, nhưng rõ ràng là chân trái tôi lết đi hết sức khó khăn. Cần phải nhanh chóng biến khỏi nơi này. Tôi tập tễnh bước đi, men theo bức tường về phía hàng rào trước mặt. Hàng rào này thấp, tôi leo qua tương đối dễ dàng. Nếu chân tôi không gãy, tôi có thể chạy qua khu vườn này, sau đó đi men theo bờ tường của khu nhà máy điện là ra được đến đường cái. Nhưng tôi không chạy được, mà lối này đèn sáng rực. Chỉ cần một “quý anh” “lo việc nước”, không ngủ được, đứng trên nhà nhìn xuống là tôi sẽ bị phát hiện và không thể nào thoát với cái chân tập tễnh này. Đành phải vượt qua hàng rào bên trái, qua khu trường máy vậy. Tôi chưa đi lối này bao giờ, mà chỉ mới nhìn từ trên tầng cao xuống. Lối này phải qua nhiều hàng rào, nhưng ở đây ít bóng điện hơn, an toàn hơn.

Tôi leo lên hàng rào sắt. Hàng rào này khá cao. Chân tôi lúc này đã bắt đầu đau. Nhưng tôi đã vượt được hàng rào, bước lần đi dưới các bóng cây. Tôi sa xuống một rãnh nước. Rãnh nước này không sâu lắm. Giá chân tôi không gãy thì chắc tôi đã giữ được thăng bằng khỏi bị ngã sống soài. Tôi lồm cồm bò dậy, tiếp tục lần đi. Lại một hàng rào sắt. Lúc này tôi leo trèo đã rất khó khăn. Mỗi khi sử dụng đến bàn chân trái tim tôi co thắt lại. Đau ghê gớm, cứ như có ngàn mũi kim đâm vào tủy xương nơi cổ chân trái vậy. Đành phải cắn răng chịu: một là chịu đau, hai là đứng lại để bị bắt. Tôi chọn cách thứ nhất, rồi tôi cũng vượt qua được hàng rào. Lại tập tễnh lần đi, trên mặt đất thì không đau như khi trèo hàng rào. Lại tiếp tục một hàng rào, rồi lại hàng rào nữa, trán tôi vã mồ hôi, cổ chân đau đớn.

Nhưng rồi tôi cũng vượt được hàng rào sau cùng. Từ đây đến đường cái còn hơn 500 mét, nhưng đã dễ dàng hơn vì chỉ cần đi theo một lối con bên bờ con suối cạn. Chân bước mỗi lúc khó khăn, nhưng tôi vẫn lết được.

Vậy là không còn có thể đi Sofia – tôi nghĩ – ta có thể làm gì ở Sofia với cái chân gãy này? Tôi quyết định sẽ đi về Tolbukhin. Đội tôi làm việc ở thành phố này 3 tháng trước khi chuyển đến Varna. Ở đó tôi có một anh bạn người Bun, tuy không thân lắm. Tôi hy vọng anh sẽ giúp tôi, hoặc ít ra tôi có thể nương náu vài tuần.

Tôi leo lên một chiếc xe buýt. Không cần nhìn số xe – tất cả xe buýt chạy tuyến này đều qua trung tâm thành phố. Tôi định xuống đó, mua vé ô tô đi Abela, rồi từ đó đi Tolbukhin, thay vì từ bến chính tại Varna, vì biết đâu các “quý anh” chẳng cho người đứng canh tại các bến xe, bến tàu. Bến xe đi Abela là bến “xe xép”, ít ai để ý.

Xe dừng ở trung tâm. Tôi bước xuống. Nhưng Chúa ơi, sao thế này? Tôi không thể bước được nữa! Mỗi khi đến lượt chân trái làm trụ để bước đi, để chỉ chực ngã. Đau ghê gớm, thậm chí chỉ cần nhấc nhẹ bàn chân phải lên là đã không chịu nổi.

Tôi dùng chân phải nhảy lò cò đến bên một ghế đá. Hồi bé tôi chơi chọi gà vào loại khá. Nhưng tôi thuận chân trái. Giá mà gãy chân phải thì tôi đã nhảy lò cò không đến nỗi nào! Tôi ngồi xuống ghế đá để thở, vì kiểu đi bằng một chân này thật dễ mệt. Tôi nhìn cái chân trái tội nghiệp của mình, lắc đầu: hết phương cách.

Trên hè đường đã có nhiều người qua lại. Phía đông bình minh đã ửng hồng, mặc dù nơi đây vẫn còn tranh tối tranh sáng.

“Không còn đi Tolbukhin được nữa. Với cái chân đau này ta chỉ còn có thể ngồi một chỗ mà thôi. Sáng ra là các “quý anh” có thể đến rước đi ngay” – tôi nghĩ, lòng buồn khôn tả.

Nhưng trước mặt tôi là nhà thờ trung tâm của thành phố Varna, sừng sững uy nghiêm giữa đất trời. Trong buổi sáng ảm đạm đó, nhà thờ quả như một tia hy vọng duy nhất còn sót lại của cuộc đời tôi. Tôi chợt nghĩ: “Hay là Đức Chúa lòng lành đã dẫn tôi đến đây?” Tôi không biết. Nhưng rõ ràng là tôi không còn có thể tự đi khỏi vị trí này.

Tôi nhảy cò cò, men theo đường, vòng về phía cửa chính của nhà thờ. Tôi gõ cửa và chờ đợi, nhưng vẫn không có ai trả lời. Lại gõ, lại chờ đợi, vẫn không có dấu hiệu gì khả quan. Thật ngao ngán!

Trời mỗi lúc một sáng dần. Lúc này đã có thể nhìn tương đối rõ mặt khách qua đường. Tôi hết kiên nhẫn, lấy hết sức đấm mạnh một hồi vào cánh cửa lim. Tay tôi đau ê ẩm, mà bên trong vẫn im lặng như không có người. Tôi bảo thầm: “Chúa ơi, Chúa bỏ con mất rồi!”. Hết hy vọng, chỉ suýt nữa là tôi phát khóc. Bỗng tôi như nghe văng vẳng một giọng nói bên tai: “Hãy gõ cửa ngôi nhà bên trái”.

Bên trái cách nơi tôi đang đứng 15 mét có một ngôi nhà. Nhưng tôi không biết đó là nhà ai ở. Tôi lại nhảy cò cò về hướng đó. Tôi ấn vào tất cả các nốt bấm chuông điện phía ngoài, bên cạnh cửa. Vẫn không có ai mở cửa, tôi thất vọng ê chề. Nhưng chừng 5 phút sau thì có một người đàn ông đi đường đến bảo tôi: “Có người gọi anh đằng kia!”. Ông ta chỉ tay về phía một cánh cổng sắt cách đó một đoạn.

Tôi lại nhảy cò cò đến đó. Phía sau cổng sắt, một bà già phúc hậu hỏi tôi bằng một giọng thật êm ái:

– Tại sao anh lại bấm chuông?

Tôi trình bày vắn tắt hoàn cảnh, nhưng bà già không hiểu. Bà không hề biết gì về tác phẩm “Chế độ Phát Xít”. Bà nhìn tôi nghi hoặc. Dễ thường bà nghĩ tôi là một tên lưu manh, bị đánh què chân trong khi làm “phi vụ” cũng nên. Tôi bảo bà:

– Nếu bà không cho tôi vào nhà, người ta sẽ bắt tôi. Mong bà hãy vì Chúa mà làm điều thiện.

Bà thoáng ngần ngại, nhưng rồi bà bảo: “Hãy đi lại đằng kia, ta sẽ mở cửa cho anh”.

Khi tôi đã vào trong nhà, bà già bảo tôi tháo giày, đặt bàn chân trái lên một cái chai. Bà nói như thế sẽ đỡ đau hơn.

Rồi bà bảo tôi kể lại tình tiết mọi chuyện cho bà nghe. Tôi kể, lần này thì bà hiểu tôi hơn, mặc dù vẫn không biết “Chế độ Phát Xít” là như thế nào. Bà chỉ hiểu là tôi đang gặp nguy hiểm và cần người giúp đỡ, và tôi không phải là kẻ lưu manh. Tôi nói với bà là tôi đã gõ cửa nhà thờ, nhưng không có ai mở cửa. Bà bảo rằng ban đêm không có ai ở đó cả, và rằng ngôi nhà này cũng thuộc của nhà thờ, bà là người phục dịch, ở đây cũng có một vị linh mục nhưng ông ta đang ngủ. Bà định đánh thức vị linh mục ngay lúc đó. Tôi can bà, vì còn sớm. Vả lại ngồi đây là tôi yên tâm lắm rồi.

Bà tên là Mariana.

Đoạn Kết

Từ hôm đó đến nay nửa năm đã trôi qua, cả một mùa thu lá vàng và một mùa đông tuyết lạnh. Những ngày xuân tươi trẻ đã đến với xứ này. Tôi đã sống với tình thương yêu trong các gia đình những người con của Chúa. Họ đã dành cho tôi nơi ở tốt nhất, trong nhà của họ, ngồi cùng bàn ăn, cho tôi quần áo mặc, chữa chạy vết thương cho tôi dù Bungari đang ở vào thời kỳ đói kém và khó khăn nhất. Chân tôi đã khỏi, tôi đã đi lại và chạy nhảy bình thường. Tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn vô hạn của tôi đối với những người Bun, bình dị, khiêm nhường, đã coi tôi – một người Việt Nam xa lạ, lạc lõng, đang bị những phần tử Cộng Sản bảo thủ vô cớ săn đuổi – như người thân thiết của họ. Nhưng tôi thấy lời nói lúc này thật vô nghĩa và không thể nào diễn tả được hết lòng tôi. Bên tai tôi âm vang giọng nói uy quyền: “Con hãy sống vì lòng tốt. Đó là cách cám ơn tốt nhất!”.

Tháng trước tôi gặp một người quen tên là H, anh bảo tôi: “Hôm nọ sứ quán cử bọn em đi lùng bắt anh. Họ nói: “Hắn (tức tôi) là phản động, nếu bắt được hắn thì riêng tiền thuê xe taxi hết một vài nghìn đối với sứ quán không có nghĩa gì, cứ lên đây thanh toán…” Bọn em đi vì nhiệm vụ nhưng lương tâm thì không nỡ nào. Nếu có gặp, cũng chỉ bảo anh trốn cho kỹ hơn thôi…”

Thật như có phép mầu! Tôi đang là người bình thường, đang vui buồn cùng các bạn, không làm gì nên tội, vậy mà đánh đùng một cái trở thành “phản động”. Lỗi chỉ vì dịch bộ “Chế độ Phát Xít”. Nhưng đây là tác phẩm lên án tội ác của các chế độ phát xít và vạch trần bản chất vô nhân đạo của chúng! Những người Cộng Sản Việt Nam bảo thủ lại đi bao che và bênh vực cho bọn Phát Xít thì kể cũng kỳ quặc. Hay là quả đúng như lời nói đầu của tác giả cho tác phẩm này, rằng: “… Mặc dù trong tác phẩm không làm những so sánh không cần thiết, nhưng trên cơ sở tài liệu sử dụng và phương pháp xây dựng, người đọc tự nhận ra một sự thật kinh hoàng rằng giữa chế độ Quốc Xã và Cộng Sản không chỉ là không có những khác biệt đáng kể, mà giá có những điểm như thế thì điều đó chỉ không có lợi cho chế độ Cộng Sản”. Cổ nhân nói “Nàng Tây Thi nước Việt, ai khéo chê cũng không che lấp được cái đẹp. Nàng Vô Diệm nước Tề, ai khéo khen cũng không che lấp được cái xấu”. Cứ cho là với việc dịch bộ “Chế độ Phát Xít” tôi có ý đồ bôi nhọ chế độ đi nữa, nhưng nếu chế độ ta thực sự tốt đẹp thì việc gì những người Cộng Sản bảo thủ phải lo ngại? Sự thật tồn tại khách quan, không phụ thuộc vào những lời khen chê.

Hành động của những phần tử Cộng Sản bảo thủ, đối với cá nhân tôi và biết bao người có tư tưởng tự do khác, cho thấy một điều, rằng cái “dân chủ” hiện tại ở VN chỉ là đồ rởm, chỉ là lời tuyên truyền. Những việc làm của họ mâu thuẫn hoàn toàn với miệng lưỡi ngọt ngào, chà đạp thô bạo và vô liêm sĩ lên nhân quyền, đạo lý. Không rõ những kẻ mặt người này có bao giờ để mắt tới Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền, hoặc có đôi chút khái niệm nào về những quyền như thế không?

Hiện nay tôi được biết là mọi thư từ của tôi đều được “đồng chí bí thư đảng ủy” (Cường bạc) thu nhận và mở đọc một cách tự nhiên. Nhưng thôi, nói làm gì đến những kẻ không hiểu thế nào là xấu hổ.

Nghe đâu “nhà” đã điện sang, lệnh cho sứ quán phải tìm bắt và đưa tôi về nước, “nếu không sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm!”. Một lần tôi đem chuyện này nói với một anh bạn Bungari. Anh bèn vào nhà trong lấy ra một khẩu súng săn đã cưa ngắn nòng và một túi đạn. Anh đưa súng đạn cho tôi và bảo:

– Tôi tặng anh. Anh hãy bắn tan xác những kẻ nào định bắt anh!

Tôi bảo anh:

– Nhưng Chúa có 3 điều cấm kỵ cơ bản: không nói dối, không ăn trộm và không giết người. Vả lại những người đó không có lỗi, lỗi do bọn chóp bu. Họ chỉ làm theo lệnh.

– Đừng hiểu sai lời Chúa. Chúa chỉ bảo anh đừng giết người, chứ không bảo anh đừng giết những kẻ định giết anh, vì những kẻ định giết ta thì không còn là người nữa.

Tôi từ chối không nhận súng, đạn. Anh nhìn tôi chăm chú, rồi kết luận:

– Còn lâu Việt Nam có dân chủ!

Tôi không rõ là anh bạn người Bun nghĩ gì khi nói vậy. Dù sao tôi cũng thật cảm động trước “sự quan tâm” của “nhà” và của sứ quán. Nhưng xin phép là tôi sẽ về muộn hơn chút đỉnh.

Hiện nay nhân dân Việt Nam ít nhiều vẫn đang là lò than hồng cho “nhà” ngồi trên sưởi ấm. Nhưng chẳng bao lâu nữa lò than này sẽ cháy bùng thành ngọn lửa và thiêu “nhà” ra tro bụi nếu “nhà” vẫn khư khư bám giữ những chính sách phản động quan liêu, phi dân chủ, ăn chơi phè phỡn và sa đọa trên lưng những người dân lành.

Phạm Văn Viêm, Bulgary.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

X-cafevn.org

Dân Kêu

Chế Độ Phát Xít

Blog 12 bến nước

You Tube Phát Xít cấu kết Cộng Sản


Con Sán Lải – Chu Chi Nam

Bài đọc suy gẫm: Con Sán Lải –  Dựa vào lịch sử, tác giả Chu Chi Nam đã đưa ra nhận định, phân tách sâu sắc về những lúng túng và ứng xử vụng về của đảng cộng sản Trung Quốc từ xưa tới nay nơi mặt ý thức hệ. Ghi chú:  Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

VÌ KHÔNG DỰA TRÊN MỘT NỀN TẢNG TRIẾT LÝ VỮNG CHẮC, CHÍNH QUYỀN TRUNG CỘNG KHÔNG THỂ CÓ MỘT ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ, NGOẠI GIAO HỢP LÝ, HỢP THỜI VÀ ĐÁNG TIN CẬY

Một nhà tư tưởng đã nói : «  Tất cả đến từ triết lý. » Câu này đúng không những đúng cho mỗi cá nhân con người, mà đúng cho cả chính quyền của một quốc gia dân tộc.
Thật vậy, một người có một triết lý sống vững chắc, thì lúc đó họ mới có thể suy nghĩ, hướng dẫn hành động của mình phù hợp với triết lý sống đó. Họ mới trở thành hợp lý với chính mình, hợp lý với những người chung quanh và mới có thể gây được niềm tin : Niềm tin tự chính bản thân và niềm tin đến từ người chung quanh.
Đối với chính quyền của một quốc gia, dân tộc, nếu không có một triết sáng tỏ, rõ ràng, vững chắc, thì họ không thể hành động hợp lý, minh bạch rõ ràng, tất nhiên không thể gây được niềm tin cho chính dân họ, mà còn không gây được niềm tin với những nước, dân tộc khác.
Chính vì vậy mà có một nhà nghiên cứu về chính trị ngoại giao của Á châu, đặc biệt là của Trung cộng có viết :
«  Chừng nào chính quyền Trung cộng không dựa trên một nền tảng triết học vững vàng, hợp lý, sáng tỏ, thì đường lối chính trị, ngoại giao của Trung cộng không hợp thời và đáng tin cậy. «
Chúng ta hãy cùng nhau xem xét vấn đề trên.

Triết lý, triết học là gì

Triết học là môn học nghiên cứu về vũ trụ và đời sống của vạn vật.
Triết lý là lý luận sâu xa, tất yếu phải có của mọi sự vật, mọi nguyên tắc, mọi lý do trên đời.
Theo Tây phương, chữ  « philosophie « gồm 2 chữ: “ philo “ là yêu thích « ; «  sophie « là sự khéo léo, khôn ngoan, biết cách sống, cách cư xử ( la sagesse) ; còn có nghĩa là sự hiểu biết ( le savoir ).
Nhà triết học ( le philosophe) là người có sự khôn ngoan, khéo léo, hiểu biết, có cái nhìn cao thượng và khóang đạt ( de hauteur de l’âme et de détachement ) ; là người thích suy nghĩ, luôn đặt những câu hỏi về con người, về vũ trụ và về cuộc sống.
Không cần đi sâu vào sách vở, những ai, vào tuổi đời đã quá nửa đời người, chúng ta hãy suy ngẫm bản thân chúng ta, xét người, xét việc chung quanh, theo như Khổng Tử nói : «  Tận kỳ tâm, tri kỳ tính, ắt tri thiên «  ( Suy nghĩ cái tâm của chính mình, thì sẽ biết tính mình và tất biết việc trời đất ), chúng nhận thấy rằng : những ai có một triết lý sống vững vàng, sáng tỏ, thì họ biết rõ họ muốn cái gì, làm cái gì, và điều họ muốn, họ làm có đúng hay không. Từ đó họ ung dung tự tại, tự tin, không mâu thuẫn với chính mình, hành xử khéo léo, hợp tình, hợp lý, gây được niềm tin đối với người.
Trái lại, người nào không có một triết lý sống vững vàng, nay thế này, mai thế khác, không biết rõ mình muốn gì, làm cái gì, đầy mâu thuẫn, không tự tin với chính mình, tất nhiên từ đó, không thể gây niềm tin với người.
Điều này không những đúng với cá nhân mà còn đúng với cả một chính quyền.
Một chính quyền hành động mà không dựa trên một nền tảng triết lý rõ ràng, không biết mình muốn cái gì, hành động cái gì, và điều mình muốn, mình hành động có đúng hay không, từ đó đi đến chỗ không gây được niềm tin trong dân, tất nhiên không thể có sự hỗ trợ của dân, và tất nhiên không thể nào có được một đường lối ngoại giao được sự tín nhiệm của những nước khác.

Từ điểm này, chúng ta xét chính quyền Trung cộng, hay nói đúng hơn Đảng Cộng sản, từ ngày thành lập cho tới ngày hôm nay.  

 Từ những sản phẩm độc hại bị tẩy chay cho đến thay đổi nhãn hiệu sang “Made in RPC” (Made in People’s  Republic of China)

1 ) Từ năm 1921 tới năm 1949

Đảng Cộng sản Tàu được thành lập năm 1921, tại Thượng Hải. Hai người quan trọng, mặc dầu buổi họp thành lập ban đầu vắng mặt, nhưng được mọi người tôn lên làm Chủ tịch và Phó Chủ tịch là Trần độc Tú ( Chen Duxiu) và Lý đại Siêu ( Li Daizhao).
Trần độc Tú ( 1879 – 1942) : Người theo Tây học, Pháp học thì đúng hơn ngay từ lúc đầu. Con một vi đại quan quân sự vùng Mãn châu. Sau khi bố chết thì được ông nội nuôi nấng. Sau đó tới Hàng châu học nghề đóng tàu và dạy tiếng Pháp. Ông hoạt động chính trị cách mạng từ thời thanh niên. Sau phải trốn sang Nhật ( từ năm 1900 tới 1902), tại đây ông có học trường Sư phạm và đại hoc Wesada. Trở về nước năm 1903, ông dạy học ở một trường cao đẳng ở tỉnh An Huy. Từ năm 1907 tới 1910, người ta mất dấu tín về ông. Có giả thuyết cho rằng ông sang Pháp học đóng tàu. Ông không theo Tôn dật Tiên, vì ông chỉ trích chính sách bài người Mãn châu của ông này. Sau Cách mạng Tân Hợi 1911, ông đặc trách về giáo dục của tỉnh An Huy. Năm 1915, ông thành lập tờ báo Thanh Niên, có ảnh hưởng rất mạnh trong giới trí thức và sinh viên học sinh lúc bấy giờ. Tờ báo này có phụ đề bằng tiếng Pháp ( La Jeunesse), điều này chứng tỏ ông hoàn toàn theo tư tưởng Tây phương, chống lại tư tưởng của Khổng, theo như nội dung tờ báo, và có Pháp học.
Ông đóng một vai trò quan trọng trong Phong trào Sinh viên, học sinh biểu tình vào ngày 4/5/1919. Hai năm sau, Đảng cộng sản được thành lập (1921), ông được bầu làm chủ tịch.
Sau cuộc nổi dậy của cộng sản ở Thượng Hải bị thất bại vào năm 1927 bởi sự đàn áp của Tưởng giới Thạnh. Ông bị chỉ trích trong đảng và mất chức Chủ tịch, ít lâu sau bị trục xuất ra khỏi Đảng, sau đó ông theo Đệ Tứ quốc tế Cộng sản của Trotski, bị Tưởng bắt và chết năm 1942.

Lý đại Siêu (Li Daizhao), cũng là người theo Tây học. Sau đó ông nghiên cứu về chủ nghĩa Marx. Ông làm quản thủ thư viện Đại học Bắc kinh, là cha vợ (đầu ) của Mao và đã đưa Mao vào làm việc chung với mình.
Câu nói nổi tiếng của ông : « Ở những nước bị trị, đấu tranh giai cấp đồng nghĩa với đấu tranh giành độc lập « .
Phải công nhận rằng từ năm 1921 tới 1949, Đảng Cộng sản Tàu dựa rõ ràng trên lý thuyết Mác Lê Staline. Những người như Trần độc Tú, Lý đại Siêu và ngay cả Mao lúc đầu đều tin tưởng cuồng nhiệt lý thuyết trên. Tiếc rằng lý thuyết này chỉ là một cái gì cặn bã của nền văn hóa Tây phương. Ông Domenach, một nhà rất am tường về lịch sử, văn hóa, triết học Tàu, có nói rằng những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Tàu không đủ trình độ để thấu hiểu cái hay cái dở của văn hóa Tây phương, cũng như cái hay cái dở của văn hóa Đông phương, đã chối bỏ tất cả những cái hay của văn hóa Đông phương, vội vã nhập cảng cái cặn bã của văn hóa Tây phương là chủ nghĩa Mác. Giới trí thức Tây phương họ đã ý thức điều này, như ông Pierre Joseph Proudhon, người đã từng bút chiến với Marx, đã nói : «  Chủ nghĩa của Marx, nếu được áp dụng, thì nó trở thành con sán lãi của xã hội. » Sau gần 100 năm thực hiện, chúng ta thấy lời nói trên quả là đúng, vì ở bất cứ xã hội cộng sản nào cũng bị mắc vào nạn tham nhũng hối lộ. Thêm vào đó, đảng cộng sản quả là con sán lãi, là một chính quyền thứ nhì, ăn lương và bổng lộc hơn cả chính quyền chính thức, mà lương và bổng lộc đó là đến từ thuế, lấy từ dân.
Ở đây tôi không thể đi sâu vào việc phê bình chủ nghĩa Marx Lénine Staline.
Ngay cả tập tài liệu mang tựa đề  «  Le Matérialisme dialectique et le Matérialisme historique «  ( Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật sử quan ), được Staline viết vào tháng 9 năm 1938 và được những người cộng sản coi như Kinh Thánh, điển hình là nếu ai theo dõi lịch sử và hình ảnh của Đảng cộng sản Tàu, thì đều thấy hình ảnh Mao ngồi trước nhà, ở trụ sở vùng Diên An, cầm tập tài liệu mang tên tiếng Pháp này.
Nhiều người cho rằng đây là một tập tài liệu mang tính chất khoa học, nhưng thực tế chẳng khoa học một chút gì, chỉ là những cái phủ nhận và xác nhận vô căn cứ ( affirmation gratuite). Có dịp tôi sẽ phê bình rõ tập tài liệu này. Ở đây tôi chỉ đưa ra một vài dẫn chứng.
Như Staline viết :
«  Contraire à la métaphysique, la dialectique regarde la nature non comme état de repos et d’immobilisme, de stagnation et d’immuabibité, mais comme un état de mouvement et de changement perpétuels, de renouvellement et de développement incessants, où toujours quelque chose nait et se développe, quelque chose se désagrère et disparaît «  J. Staline – Les Questions du Lénisme – trang 787 – Nhà xuất bản Norman Béthume – Paris 1969).
( Trái với siêu hình, biện chứng pháp nhìn vạn vật không ở trạng thái tĩnh và bất động, mà như một trạng thái động và phát triển không ngừng, nơi đó lúc nào cũng có một cái gì đó sinh ra và phát triển, cái gì đó tan rã và biến mất.)
Nguyên ở đây Staline dùng chữ siêu hình để chỉ tất cả những triết lý, triết học khác với triết học duy vật biện chứng là cách vơ đũa cả nắm ; và có chắc rằng những triết học đó nhìn thế giới trong một trạng thái tĩnh hay không. Điều này chưa chứng minh mà đã quyết đoán ( affirmation gratuite ). Quyển sách của Staline có giá trị tuyên truyền, quảng cáo như quảng cáo dầu cù là, «  Hàng tôi tốt nhất, tất cả hàng khác đều dở. Mại vô !  Triết lý duy vật biện chứng và duy vật sử quan là hay nhất. Tất cả triết lý khác là bỏ đi. Hãy theo chúng tôi ! « ,  hơn là một quyển có giá trị về khoa học và triết học.
Và còn nhiều đoạn văn tư tưởng khác mang cùng một lỗi này.
Theo khoa học, để kết luận một vấn đề, thì phải có đủ nguyên nhân ắt có và đủ, đây mới có nguyên nhân ắt có, thế mà Staline đã vội kết luận. Không có một tý gì là khoa học, tuy nhiên vẫn nghĩ mình là khoa học.
Trở về với Đảng Cộng sản Tàu, là trong thời gian đấu tranh cướp chính quyền, đảng này đã dựa rõ ràng, minh bạch, trên một lý thuyết chính trị, trái sai chưa cần nói tới.

2)  Từ năm 1949 đến 1963

Thời gian đầu nắm chính quyền tới lúc tranh chấp Nga – Hoa bùng nổ. Trong thời gian này triết lý chính trị lúc ban đầu đã bắt đầu đi trật hướng.
Trật hướng ở chỗ không còn «  Tình huynh đệ cộng sản «  nữa, trong việc Trung cộng gửi quân sang chiếm Tây Tạng và việc tranh chấp Nga – Hoa.
Trung cộng tố cáo Liên Sô là đi theo chủ nghĩa xét lại ( révisionnisme), không theo chủ nghĩa chính thống của Marx. Nhưng xét cho cùng thì cả 2 nước, từ thời Lénine đã đi theo chủ nghĩa xét lại. Theo Marx thì cách mạng cộng sản chỉ có thể xẩy ra ở những nước có một nền kỹ nghệ phát triển cao, vì chỉ ở nơi đây mới có giai cấp vô sản. Trong khi đó thì Lénine làm cách mạng cộng sản trong một nước nửa kỹ nghệ, nửa canh nông. Mao làm cách mạng cộng sản ở một nước hoàn toàn canh nông. Nhất là chiến lược «  Lấy nông thôn bao vây thành thị «  của Mao là dựa vào nông dân để làm cách mạng, hoàn toàn trái với Marx.
Trên phương diện tranh luận lý thuyết, Đảng Cộng sản Tàu đã gửi một Phái đoàn hùng hậu, dẫn đầu bởi Đặng tiểu Bình, Thư Ký thứ nhất của Đảng, gồm có Lưu thiếu Kỳ, Chủ tịch nhà nước, Chu ân Lai, Thủ tướng chánh phủ, sang Moscou, vào tháng 10 năm 1963, để tranh luận với Liên Sô, trong kỳ họp Đại hội Đảng của nước này. Những luận điệu do Đặng tiểu Bình đưa ra, và về sau ông thường nhắc lại, đó là «  Chỉ có chân lý thật khi nào được kiểm chứng bởi thực tế, thực tiễn. » Đây chỉ là quan điểm của chủ nghĩa duy thực tế, duy kinh nghiệm hạ cấp. Về khoa học ai cũng biết nếu lấy con mắt bình thường làm sao chúng ta có thể thấy được vi trùng hay các hành tinh cách trái đất cả tỷ cây số. Vì vậy chủ nghĩa duy kinh nghiệm, duy trực giác thật là hạn chế. Chính Tôn Tử của người Tàu đã nói :
«  Cho nên nhắc được cái lông mùa thu, không phải là nhiều sức, trông thấy mặt trời, mặt trăng không phải là sáng mắt, nghe thấy tiếng sấm, tiếng sét không phải là sỏi tai… Cho nên sự thắng của người thiện chiến không có tiếng khôn ngoan, không có cái công mạnh mẽ » ( Tôn Ngô Binh pháp – Ngô văn Triện dịch – trang 74+75).
Có những chân lý không kiểm chứng được bằng thực tế, thực tiễn. Như chân lý toán học, một khoa học có tính khoa học nhất trong những khoa học, mà cuối đời Marx công nhận và bỏ công ra nghiên cứu.
Thật vậy, chúng ta lấy một phương trình : f(x) = 2x. Phương trình này, chân lý này đúng với bất cứ giá trị nào của X, đi từ cực tiểu tới cực đại. Trên đời này không có con số nào nói lên được cực tiểu và cực đại. Cũng như trong hình học, vòng tròn được định nhĩa là tổng số những điểm cách đều một điểm cố định là trung tâm. Ở trên đời này không có một cái vòng tròn nào mà có thể kiểm chứng, kiểm nghiệm được với định nghĩa trên, vì vòng tròn nào, nếu tính theo sai số cao nhất, cũng là «  méo «  so với định nghĩa trên.
Cũng như câu nói cũng của họ Đặng : «  Kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa « , mà Trung cộng và Cộng sản Việt Nam ngày hôm nay thường nhắc tới.
Câu này mâu thuẫn, vì kinh tế thị trường là kinh tế tự do, tư nhân, không bị chỉ huy, không thuộc về nhà nước. Còn kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa là kinh tế quốc doanh, không có tự do và do nhà nước chủ động.

3)  Từ năm 1963 tới năm 1972
Đây là khoảng thời gian có những biến cố quan trọng về chính trị quốc nội cũng như quốc ngoại. Đó là Cách mạng Hồng Vệ Binh, tranh chấp Nga – Hoa tới mức cao điểm và việc Trung cộng bắt tay với Mỹ.
Cách mạng Hồng vệ binh có mang một phần triết lý ý thức hệ, đó là chủ trương cách mạng cộng sản triệt để và đấu tranh giai cấp đến cùng, mà sự thể hiện của nó sau này rõ ràng nhất là cuộc diệt chủng của tập đoàn Pol Pot, đã giết hơn 2 triệu dân trên tổng số hơn 5 triệu dân Căm bốt. Nhưng lý do chính của cuộc cách mạng này là cuộc tranh giành quyền hành giữa phe Mao trạch Đông và phe Lưu thiếu Kỳ, Đặng tiểu Bình và Chu ân Lai.
Ai cũng biết kế hoặch Đại Nhảy vọt, chủ trương bởi Mao, vào cuối những năm 50, đầu thập niên 60, bị thất bại. Thực tế Mao bị loại bỏ  ra ngoài quyền hành. Quyền hành ở Tàu lúc bấy giờ thuộc về bộ ba Lưu – Đặng – Chu. Sau đó Mao dùng chiến lược «  Hạ tầng ép thượng tầng « . Hạ tầng đây là sinh viên học sinh với sự yểm trợ của quân đội. Đó là ý nghĩa chính của cuộc cách mạng Hồng vệ binh. Nhưng cuộc cách mạng này đã đi quá lố, chính Mao về sau cũng không thể chấp nhận. Những sinh viên học sinh theo cách mạng đã hành xử như kiểu Soljennytsine nói : «  Cộng sản là những người đến từ một hành tinh khác với mục đích duy nhất là phá hủy tất, chém giết tất những cái gì thuộc về hành tinh con người « .
Về ngoại giao, 2 sự kiện nổi bật của thời gian này, đó là cuộc tranh chấp Nga Hoa đi đến cao điểm, có lúc người ta nghĩ có cuộc chiến tranh lớn giữa Liên Sô và Trung cộng. Lợi dụng tình thế, Hoa kỳ đã nhảy vào, khai thác sự chia rẽ này, đi đến việc bắt tay giữa Trung cộng và Hoa Kỳ năm 1972.
Cuộc gặp gỡ này có rất nhiều nguyên do, nhưng trong đó có 2 nguyên do chính :
Thứ nhất, cả 2 nước Liên Sô và Trung cộng, mặc dầu nói đến «  Tình huynh đệ cộng sản «  , nhưng trên thực tế cả 2 nước đều là đế quốc, nước nào cũng muốn làm chủ phong trào cộng sản quốc tế. Vì vậy đi đến tranh chấp và nước nào cũng ngụy biện, tố cáo nước kia là theo chủ nghĩa xét lại. Nhưng cả 2 đều xét lại tư tưởng của Marx từ lâu.
Lý do thứ 2, đó là đến từ đầu óc giản tiện ( simpliste), nếu không nói là suy nghĩ một chiều, không suy đi, tính lại của giới lãnh đạo cộng sản Tàu, bắt đầu từ Mao, cho tới ngày hôm nay. Thú dụ điển hình : Mao nghĩ rằng chim chóc phá hoại mùa màng, nay phát động phong trào giết chim, bắt dân già trẻ lớn bé phải đi giết chim. Hậu quả, chim không còn, sâu bọ sinh sản, phá hoại mùa màng. Mao đơn giản nghĩ rằng một nước kỹ nghệ là một nước có tổng sản lượng sản xuất sắt thép cao, bắt mọi gia đình phải làm lò luyện thép, ngay cả lò luyện bỏ túi « nhỏ, mang nồi niêu xong chảo nấu chảy thành sắt. Sau đó sắt thép luyện ra thiếu phẩm chất, nay làm lại nồi niêu xong chảo cũng không xong. Vận động dân làm những việc vô bổ. Cũng như Mao đơn giản nghĩ rằng một cường quốc phải là một quốc gia có bom nguyên tử. Đây là một trong những lý do đưa đến tranh chấp Nga – Hoa, vì Nga không chịu giúp Trung cộng làm bom nguyên tử. Lợi dụng tình thế này, một cách gián tiếp, theo như một giả thuyết, Hoa Kỳ nhảy vào giúp Trung cộng làm bom nguyên tử, bằng cách để cho 2 nhà bác học nguyên tử Hoa Kỳ, gốc Tàu, trốn về Trung Cộng.
Nhiều người hoan hô tinh thần thực tế của Trung cộng trong việc bắt tay với Hoa Kỳ. Tôi không chối cãi. Nhưng theo tôi, trên nguyên tắc triết lý căn bản, triết lý chính trị, thì có điều sai trái. Đó là, về ngoại giao, trước đó thì Trung cộng chửi Hoa Kỳ với tất cả mọi ngôn từ, nào là «  Hoa Kỳ, thế giới của sự bóc lột, của tội ác « , nào là « Hoa kỳ, con hổ giấy « , nay một sớm một chiều đổi giọng, làm như vậy không những dân không biết tin vào đâu, mà ngay cả những quốc gia trên thế giới cũng nghi ngờ chính quyền Trung cộng. Hành động đó, trên thực tế có nghĩa là từ bỏ triết học duy vật biện chứng, duy vật sử quan, mặc dầu ngay cho tới ngày hôm nay giới lãnh đạo Trung cộng vẫn hô hào là trung thành với « triết lý nền tảng này ».

4)   Từ  năm  1972 tới ngày hôm nay

Từ năm 1972 cho tới ngày hôm nay, có những biến cố quan trọng, đại để như sau : Mao chết năm 1976, Đặng thực sự nắm quyền năm 1978 và cuộc viếng thăm Hoa kỳ của ông vào cùng năm, chiến tranh biên giới Việt Hoa năm 1979, Biến cố Thiên An môn 1989. Sau đó Trung cộng công nhận cho Pháp Luân Công hoạt động, rồi lại cấm đoán và đàn áp. Ngày hôm nay thì Trung cộng, nửa muốn trở về tư tưởng Khổng Tử, nửa không.
Chúng ta cùng nhau đi vào từ từ, chi tiết của từng biến cố và nêu rõ sự thiếu vắng một nền triết lý căn bản để tựa lên của chính quyền Trung Cộng.
Trước đó, chiến tranh biên giới Nga Hoa, nay chiến tranh biên giới Việt Hoa chứng tỏ những lời nói «  Thế giới đại đồng cộng sản « , «  Tình huynh đệ xã hội chủ nghĩa, môi hở răng lạnh «  chỉ là những danh từ xuông, và chỉ có lợi cho Hoa kỳ. Như chúng ta đã biết, vào lúc này là đang ở thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Trong thời gian này Hoa kỳ dùng chiến lược Be Bờ của Paul Nitzé và Georges Kennan, gồm có 2 thời kỳ : thời kỳ phòng thủ, be bờ và thời kỳ tấn công. Phòng thủ từ cuối Thế Chiến thứ 2 cho tới năm 1972, qua cuộc gặp gỡ Mao Nixon ở Thượng hải. Tấn công từ 1972 tới khi chế độ cộng sản sụp đổ vào năm 1989, khi bức tường Bá linh bị phá vỡ. Có lợi cho Hoa kỳ, vì để tấn công, Hoa kỳ đã dùng chiến tranh tâm lý, mở thêm những đài phát thanh hướng về những nước cộng sản, và đồng thời nói lên cho dân trên thế giới biết rằng ý thức hệ cộng sản, chế độ cộng sản là sai lầm, không mang lại ấm no cho dân, mà chỉ mang lại nghèo đói và bất công ; không mang lại hòa bình, tình huynh đệ cộng sản, mà chỉ mang lại chiến tranh và chết chóc ; không phải môi hở, răng lạnh, mà răng cắn vào môi.
Về biến cố Thiên An Môn, ngày hôm nay chúng ta càng rõ, nhất là với quyển Nhật ký của Triệu tử Dương, đương kim Tổng bí thư đảng lúc bấy giờ. Nếu xét trên bình diện triết lý, ý thức hệ, thì đó là một ý định đặt lại giá trị của triết lý ý thức hệ Mác Lê, chủ trương độc khuynh, chỉ có một ý thức hệ, chủ trương độc đảng, chỉ có một đảng, mà muốn bắt kịp con tàu tiến bộ triết lý ý thức hệ thế giới, chủ trương đa khuynh, đa đảng.
Phong trào Thiên an môn thất bại, không phải là không có sự ủng hộ của dân và thanh niên, học sinh, sinh viên, công chức, mà là vì có sự cấu kết của một số cán bộ chóp bu, thượng tầng, tiêu biểu bới Đặng tiểu Bình, Lý Bằng, Dương thiệu Côn và một nhóm quân đội bảo thủ.

Biến cố Thiên An Môn tại Bắc Kinh năm 1981 – biến cố đánh dấu bước thụt lùi về Tự Do-Dân Chủ tuy nhiên cả thế giới sẽ nhớ mãi hình ảnh người thanh niên anh dũng cản đường xe tăng quân đội.

Theo ông Ruan Ming, người đã từ lâu trong Đoàn Thanh niên Cộng sản, là cộng sự viên đắc lực của Hồ diệu Bang, cựu Tổng bí Thư đảng, người đã từng viết bài diễn văn nổi tiếng cho Đặng tiểu Bình, vào kỳ họp Trung Ương lần thứ 3, của Đại hội thứ 11 của Đảng cộng sản Tàu, vào năm 1978 :
«  Trong cuộc diễn biến của Phong trào dân chủ 1989, tám mươi phần trăm cán bộ trung cấp của Đảng và của Chính quyền đều có cảm tình và ủng hộ Phong trào. Bảy mươi phần trăm Bộ trưởng và Thứ Trưởng cũng ủng hộ. Điều này chứng tỏ rất rõ vào ngày 15 và ngày 18, khi những nhân vật nổi tiếng của mọi tầng lớp bày tỏ công khai lập trường của họ, mong muốn rằng chính quyền công nhận lòng yêu nước của sinh viên, mong muốn chính quyền tiếp tục đối thoại với họ và không dùng phương pháp mạnh. Những người đầu tiên bày tỏ bất đồng trong việc dùng bạo lực quân đội, chính là ba vị Phó Chủ tịch quân sự của Ủy Ban Thường vụ của Quốc hội, cũng như 800 tướng về hưu đã chống đối việc dùng quân đội để đàn áp. » ( Ruan Ming – Deng XiaoPing – Chronique d’un empire : 1978-1990  – trang 258 – nhà xuất bản Philippe Picquier – Paris – 1992).
Cuộc đàn áp đẫm máu Thiên an Môn 1989, một lần nữa chứng tỏ triết lý bảo thủ quân chủ phong kiến rồi quân chủ tập trung tới quân chủ cộng sản, vì chế độ, ý thức hệ cộng sản, chỉ là mặt trái mặt phải của một đồng tiền quân chủ, mà đại diện chỉ là một thiểu số chóp bu, ngày xưa là vua và một thiểu số quan lại bảo thủ, ngày nay là Bộ Chính trị, thiểu số này rất phản động, không nghĩ đến quyền lợi của dân, làm bất cứ việc gì, với bất cứ giá nào, ngay cả giết sinh viên, học sinh, để bảo vệ chức quyền của mình. Chính ở điểm này tôi cho rằng, cho tới ngày hôm nay, mặc dù có sự tăng trưởng, nhưng tương lai nước Tàu vẫn còn bấp bênh. Đúng như lời ông François Mittérand, cự Tổng Thống Pháp, nói vào ngay sau Biến cố Thiên An Môn :
«  Một chính quyền dùng súng bắn vào sinh viên, học sinh, thì chẳng khác nào dùng súng bắn vào tương lai của mình. »
Một biến cố quan trọng trong thời gian từ 1972 cho tới ngày hôm nay, ngay sau biến cố Thiên an môn, là chính quyền Trung cộng cho phép Pháp Luân công hoạt động, sau đó lại cấm và bắt, bỏ tù những người theo triết lý này.
Pháp luân công là một triết lý sống đơn giản, thực tiễn, dựa trên những triết lý, tôn giáo, tư tưởng cổ truyền của Tàu. Theo đó con người phải sống lương thiện, ăn hiền, ở lành, không giết người, làm việc chi hại đến người, không nói dối, lừa gạt. Thêm vào đó, Pháp luân công cho rằng con người là tổng thể, là cái gì hòa hợp nhịp nhàng giữa thể xác và tinh thần. Chính vì vậy họ chủ trương cần phải có tập thể dục, hít thở điều hòa,  «  Một tinh thần tốt đẹp, luơng thiện trong một thân thể khỏe mạnh, quân bình. »
Triết lý này đã được phần lớn dân và cán bộ đảng, nhà nước đi theo. Nhưng chính vì vậy lại đe dọa triết lý Mác Lê Mao, nên chính quyền phải vội cấm đoán, rồi triệt hạ, bỏ tù những ai theo triết lý này, như chúng ta thấy ngày hôm nay.
Biến cố quan trọng nữa trong thời gian này là Chính quyền Trung cộng quyết định phục hồi tư tưởng Khổng học, đã cho thiết lập cả trăm viện nghiên cứu Khổng học tại trong và ngoài nước.

Tài tử  nổi tiếng của Hồng Kông Châu Nhuận Phát thủ vai Khổng Phu Tử. 

Điều này chứng tỏ rằng đã có những người trong Đảng ý thức rằng ý thức hệ, nền triêt lý Mác Lê Mao đã lỗi thời, phải thay thế bằng một ý thức hệ khác (1). Tuy nhiên cũng có người chống lại, vì ý thức hệ của Khổng Tử có thể nói là hoàn toàn trái ngược lại với ý thức hệ Mác Lê Mao. Chấp nhận cái này có nghĩa là triệt bỏ cái kia. Chính vì vậy, mà cách đây mấy tháng, vào tháng 8, tự nhiên bức tượng khổng lồ của Khổng Tử bị mất một cách âm thầm ở quảng trường Thiên An Môn ; nhưng một thời gian sau lại được dựng lại. Có giả thuyết cho rằng, vì có sự tranh chấp trong đảng, ở mức độ cao, nên mới có hiện tượng này, chứ dân thường làm sao dám làm và đâu có phương tiện để làm. Tôi nghiêng về giả thuyết này. Chẳng khác nào như việc đối xử với Pháp luân công.  Sự lúng túng đi tìm một triết lý căn bản, một ý thức hệ hợp lý, hợp thời hãy còn là một vấn đề nan giải cho chính quyền Trung cộng hiện nay.

Cách đây hơn 200 năm, Napoléon đã nói : «  Nước Tàu là một con hổ đang ngủ. Khi nó thức dậy thì thế giới sẽ rung chuyển ». Rồi vào những năm 70, một nhà trí thức Pháp, ông Alain Peyrefitte viết quyển sách mang tựa đề : «  Khi nước Tàu thức giấc … », đã trở thành sách bán chạy nhất vào thời bấy giờ. Nhất là gần đây qua bản tường trình của Quỹ Tiền tệ thế giới (FMI), theo đó sản lượng tính theo đầu người hàng năm, tính theo giá trị tiền tệ là 5 000$ ; nhưng tính theo khả thế mua bán, thì là hơn 7 000$, nhân với hơn 1,3 tỷ người, thì tổng sản lượng quốc gia là vào khoảng 10 000 tỷ ; và theo dự đoán của FMI, chỉ cần năm sau năm, thì tổng sản lượng của Trung cộng sẽ bắt kịp Hoa Kỳ và vượt Hoa Kỳ. Từ đó nhiều người liên tưởng đến hiện tượng quá khứ : Hoa Kỳ bắt kịp tổng sản lượng của Anh quốc vào đúng năm 1900, thế rồi liền sau đó Hoa Kỳ trở thành đại cường quốc trên nhiều lãnh vực, chiến thắng Đệ Nhất, Đệ Nhị Thế Chiến và Chiến Tranh Lạnh. Cũng từ đó nhiều người suy đoán là Trung Cộng sẽ trở thành đại cường quốc, sẽ tạo nên nhiều cuộc chiến tranh và làm lay chuyển thế giới.
Cái nhìn của tôi có đôi phần ngược lại. Theo tôi Trung cộng hiện nay mới chập chững bước vào nền văn minh thương mại, mà lại là một thứ thương mại rừng rú, làm mất niềm tin không những ngay với chính dân họ, mà còn mất niềm tin với nhiều quốc gia trên thế giới. Và với niềm tin thì người ta có thể làm nên bất cứ một cái gì, như một câu nói : «  Với niềm tin người ta có thể phá vỡ những thành trì hay cũng có thể xây dựng lên những thành trì. Không có niềm tin thì người ta không làm được gì cả. »
Thêm vào đó chính quyền Trung cộng vẫn bám lấy ý thức hệ cộng sản Mác Lê Mao, mặc dầu biết rõ ý thức hệ triết lý này đã lỗi thời.
Và theo tôi nghĩ, để có niềm tin cho một con người và ngay cả cho một chính quyền, một quốc gia, dân tộc, thì phải có một căn bản triết lý vững vàng, hợp thời. Giới lãnh đạo và ngay cả giới trí thức Trung cộng không đủ trình độ để tạo nên một triết lý ý thức hệ mới, muốn bỏ ý thức hệ của Marx không xong, muốn lấy ý thức hệ của Pháp Luân Công, của Khổng giáo, của Nho giáo cũng không được, vì trái với tư tưởng của Mao. Chính Mao đã nói : «  Khổng Tử chỉ là con chó giữ nhà cho chế độ phong kiến ; «
Trong tình trạng đó, mặc dầu kinh tế Tàu có phát triển gần đây, nhưng theo tôi nghĩ, thì con hổ Tàu chưa thực thức tỉnh, vì không có một triết lý hành động hợp lý, hợp thời, nói chi đến làm rung chuyển thế giới.

Paris ngày 18/12/2011

Chu chi Nam

(1)    Xin đọc thêm những bài «  Sự khác biệt giữa Khổng giáo và cộng sản.. « , cùng những bài viết về Trung cộng, trên : http://perso.orange.fr/chuchinam/

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Chu Chi Nam