30-4 : Những Trận Đánh Cuối Cùng – Trọng Đạt

Sinh Vi Tướng, Tử Vi Thần.

Từ trái sang: Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, các tướng Lê Nguyên Vỹ,  Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai và  Phạm Văn Phú. (link tiểu sử)

Bài đọc suy gẫm:  30-4 : Những Trận Đánh Cuối Cùng, Sài Gòn Thất Thủ, tác giả Trọng Đạt tổng kết một số diễn biến và những trận đánh của những ngày cuối. Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

Nhân dịp tháng tư về với nhiều hoài niệm. Blog 16 xin mời quý bạn đọc nghe audio link: “32 Năm Người Mỹ và Tôi” do chính tác giả Trương Ngọc Bảo Xuân thực hiện, chứa đựng nhiều biến chuyển chính trị cho cả một thế hệ, một giai đoạn tang thương của đất nước liên quan đến người Việt và người Hoa Kỳ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

…Ngày 4-4-1975 Phan Rang và Phan Thiết được sáp nhập vào Quân khu 3. Tại Phan Rang lực lượng ta gồm 2 trung đoàn bộ binh 4 và 5 thuộc sư đoàn 2, 1 lữ đoàn Dù, 1 liên đoàn Biệt Động quân, 4 tiểu đoàn Địa phương quân, sư đoàn 6 Không quân, Hải quân gồm 2 khu trục hạm, một giang pháo hạm, một hải vận hạm… Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3 đóng tại Tháp Chàm.

Phan Rang phố xá vắng tanh, dân di tản về Phan Thiết rất nhiều, ngày 14-4 Việt Cộng tấn công tuyến phòng thủ Phan Rang tại phi trường, một tiểu đoàn Dù đụng độ Việt Cộng, địch bỏ xác cả 100 tên. Ngày 15-4 Phó Thủ tướng đặc trách Quốc phòng Trần văn Đôn và Tướng Toàn thị sát mặt trận. Khi phái đoàn vừa về thì Việt Cộng tấn công mạnh, địch tăng cường sư đoàn 325 và nhiều chiến xa. Quân đội VNCH phản công dữ dội nhưng không thể chống lại lực lượng quá đông của địch phải rút lui, trung đoàn 4 và 5 tan rã.

Khuya ngày 16-4 chỉ có 200 người thoát vòng vây, các sĩ quan thuộc Bộ tư lệnh tiền phương và và sư đoàn 6 không quân bị bắt hết, các đơn vị ta tại đây coi như tan rã, Việt Cộng chiếm được 40 máy bay tại Phan Rang.

Hai hôm sau ngày 18-4 Phan Thiết cũng bị lọt vào tay Cộng quân

Quân đoàn 4 BV gồm các đơn vị đã chiếm QK 2 theo Quốc lộ 1, Quốc lộ 20 tiến về Sài Gòn, gần giao điểm của hai Quốc lộ này là Xuân Lộc thuộc tỉnh Long khánh cách Sài Gòn 60 cây số, Xuân lộc giữ vị trí quan trọng bảo vệ phi trường Biên Hoà.

Phạm vi trách nhiệm của sư đoàn 18 là Long Khánh, phụ trách an ninh phía Bắc căn cứ Long Bình, Quốc lộ 15 và căn cứ Không quân Biên Hoà. CSBV huy động 4 sư đoàn thuộc Quân đoàn 4 đã bị sứt mẻ: sư đoàn 6 gồm 2300 người, sư đoàn 7 có 4100, sư đoàn 341, sư đoàn 1 gồm 3400 người sư đoàn 325 gồm5000 người, trung đoàn biệt lập 95B gồm 1200 người.

BV khi tấn công Xuân Lộc nhằm các mục tiêu.

-Tấn công tuyến phòng thủ then chốt phía đông như Xuân Lộc, Bà Rịa, Vũng Tầu.

– Kéo lực lượng Việt nam Cộng Hoà ra ngoài để tiêu diệt, mở cửa lớn để vào Sài Gòn.

-Thu hút lực lượng Việt Nam Cộng Hoà vào phía đông để đưa các lực lượng khác tới bắc và tây bắc Sài Gòn. Giữa tháng 3 sư đoàn 18 bắt được một số tù binh còn nhỏ tuổi, mới được đưa từ ngoài Bắc vào, lấy cung tù binh biết trước ý dịnh củaVC, sư đoàn 18 chuẩn bị sẵn sàng chờ địch. Bộ binh và pháo binh được đưa lên giữ các cao điểm quan trọng, gia đình binh sĩ được đưa về hậu cứ Biên Hoà.

Phù hiệu Sư Đoàn 18 Bộ Binh và Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, vị Tư Lệnh cuối cùng của sư doàn 18 BB.  Ông cũng là vị Tư Lệnh chiến trường của mặt trận Xuân Lộc.  Trong những ngày tháng Tư, chỉ huy Sư Đoàn 18 và các Lực Lượng bạn đánh một trận đánh để đời tại Long Khánh, Xuân Lộc.  Dù bị lép vế với số quân áp đảo của quân chủ lực cộng sản,  chiến thuật biển người, nhưng các chiến binh Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tham chiến đã anh dũng can trường, bẽ gãy mọi mưu toan tấn công của địch.  Xuân Lộc vẫn oai hùng đứng vững hiên ngang cho tới khi thay đổi chiến thuật.

Sáng 9-4 Việt Cộng pháo Xuân Lộc 4000 quả, cho hai tiểu đoàn đặc công đột nhập thị xã bị đẩy lui bỏ lại hằng trăm xác chết, dân bị trúng đạn nhiều người chết, địch pháo phi trường Biên Hoà. Ngày 11-4 tiểu đoàn 2/52 VNCH băng rừng tăng cường Xuân Lộc đã phục kích tiêu diệt một đoàn xe 30 chiếc , gần 100 tên VC bỏ xác. Quân đội VNCH kháng cự mãnh liệt tại Xuân Lộc, biệt đội kỹ thuật của ta bắt được điện báo VC và biết vị trí đóng quân của chúng để gọi máy bay oanh kích khiến thiệt hại của địch cao. Xuân Lộc tuy không phải là mục tiêu cuối cùng nhưng vẫn là mục tiêu chính, VC đưa thêm quân vào chiến trường, sáng ngày 16-4 Tướng Toàn cho lệnh thả 2 trái bom CBU (Daisy Cutter) tại Bắc Gầu Giây tiêu diệt nhiều đơn vị bộ binh, thiết giáp, pháo binh địch. Bị Việt Cộng tố cáo trên dư luận quốc tế nên Mỹ không dám cung cấp ngòi nổ, sự thực họ chỉ thử nghiệm vũ khí cũng như ngăn chận đà tiến quá nhanh của VC để dễ di tản khỏi VN.

Ngày 20-4 Tướng Toàn bay trực thăng vào Xuân Lộc gặp Tướng Đảo bàn kế hoạch lui binh, sư đoàn 18 rút lui vào lúc đêm vừa đánh vừa rút, giữ trật tự bình tĩnh, tối 20 trung đoàn 48 về đến Long Giao đặt pháo binh yểm trợ tổng quát cho cuộc lui binh, sau đó truyền tin, công binh, pháo binh, quân y… rút theo.

Sư đoàn 18 thiệt hại 30% quân số, Địa phương quân nghĩa quân bị thiệt hại nặng, VC chết 5000, 37 xe tăng bị bắn cháy. Sư đoàn 18 để 2500 quân ở ngoài và 2500 quân ở trong thị xã, VC pháo 2000 quả, đến tối sư đoàn 6 VC phải gom quân rút lui. Trân đánh kéo dài mấy ngày, VC đưa thêm vào mặt trận một sư đoàn nữa ngày 10 để tấn công thị xã nhưng vẫn bị đẩy lui. Địch pháo 2000 quả vào tuyến phòng thủ nhưng sư đoàn 18 vẫn đứng vững. Trước đấy sư đoàn này được coi như một sư đoàn loại dở, tệ thế nhưng đã đẩy lui nhiều đợt tấn công dữ dội của đối phương. Trong mấy ngày tấn công VC đã pháo 8000 quả vào Xuân Lộc nhưng sư đoàn 18 vẫn bám sát trận địa chiến đấu rất dũng mãnh không lùi một bước.

Sư đoàn 18 lui binh tốt đẹp cho thấy khuyết điểm của Quân đoàn 1 và 2.

– Thiếu chuẩn bị, không lập kế hoạch lui binh, không kiểm soát đôn đốc từ cấp chỉ huy.

– Gia đình binh sĩ, dân chúng di tản làm rối loạn hàng ngũ, sư đoàn 18 đã có kế hoạch cho di tản gia đình binh sĩ về Biên Hoà trước nên không sẩy ra hỗn loạn. Ngày 18-4 Ủy ban Quốc phòng Thượng viện Mỹ bác bỏ đề nghị viện trợ khẩn cấp cho VNCH của Tổng thống Ford.

Từ ngày 8-4 -1975 Lê Đức Thọ, người thực sự cầm đầu Bắc Việt chủ toạ phiên họp tại Lộc Ninh với các cán bộ thuộc Trung ương Cục miền Nam và Bộ Tổng tham mưu CS. Thọ tuyên bố thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch giải phóng Sài Gòn Chợ Lớn, Tư lệnh Đại Tướng Văn Tiến Dũng, Chính ủy Phạm Hùng, Phó Tư Lệnh Thượng Tướng Trần Văn Trà. Bộ Tư lệnh bàn kế hoạch đánh chiếm Bộ TTM, dinh Độc Lập, Bộ Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, Bộ Tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, Phi trường Tân Sơn Nhất.

Ngày 21-4, Nguyễn Văn thiệu từ chức Tổng thống tại dinh Độc lập để rồi mấy hôm sau ra khỏi nước.

Phó Tổng thống Trần văn Hương lên thay, trong khi ấy các nhà ngoại giao quốc tế ra sức vận động hai bên để tránh cho Sài Gòn khỏi trở thành bãi chiến trường. Mấy hôm sau Cộng quân bắn 4 trái hoả tiễn 120 ly vào Khánh Hội làm cháy mấy chục căn nhà. Đài BBC nói BV cảnh cáo chính phủ Trần Văn Hương phải bàn giao cho một chính quyền do họ chỉ định, người ta hiểu ngay đó là nhóm chính khách thứ ba do ông Dương Văn Minh lãnh đạo. Ngày 27-4 Quốc Hội nhóm họp để biểu quyết việc trao quyền cho Dương Văn Minh.

Trung tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Quân đoàn 3 QLVNCH tổ chức phòng thủ Thủ đô trên 5 tuyến chính với khoảng cách tới trung tâm thành phố xa hơn tầm pháo của đại bác 130 ly VC đồng thời bảo vệ các căn cứ quan trọng tại Biên Hoà, Củ chi, Lai Khê, Long Bình.

Phía tây bắc là tuyến Củ chi với sư đoàn 25 BB và hai liên đoàn 8, 9 Biệt động quân. Tuyến Bình Dương ở phía bắc với sư đoàn 5 BB. Tuyến Biên Hoà phía đông bắc với sư đoàn 18 BB và lực lượng Xung kích Quân đoàn 3. Tuyến Vũng tầu và Quốc lộ 15 do lữ đoàn 1 Dù cùng với một tiểu đoàn thuộc sư đoàn 3 BB và các đơn vị thiết giáp, Địa phương quân, nghĩa quân của tiểu khu Phước Tuy phụ trách. Tuyến Long An phía nam ngoài lực lượng địa phương quân, nghĩa quân cơ hữu còn có sư đoàn sư đoàn 22 BB phụ trách cộng với sự tăng cường của trung đoàn 12 thuộc sư đoàn 7 BB và trung đoàn 14 thuộc sư đoàn 9 BB và Liên đoàn 6 BĐQ.

Năm tuyến phòng thủ chính của ta cũng trùng với 5 hướng tấn công của năm quân đoàn địch: Hướng tây nam là đoàn 232, Tư lệnh trung tướng Lê đức Anh với các sư đoàn 3, 5, 8, 9 BB và 27 đặc công và 4 trung đoàn độc lập 16, 24, 88, 71 và trung đoàn phòng không tiến từ sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa. Quân đoàn 3, Tư lệnh thiếu Tướng Vũ Lăng gồm các sư đoàn 10, 316, 320 và 968 tiến về phía Tây Ninh. Phía bắc là quân đoàn 1, Tư lệnh là Thiếu Tướng Nguyễn Hoà gồm các sư đoàn 312, 320B và 308 từ Lộc Ninh và Phước Long tiến về khu tập trung ở phía nam sông Bé. Quân đoàn 4, Tư lệnh Thiếu tướng Hoàng Cầm gồm các sư đoàn 6, 7 và 341 sau khi chiếm Xuân Lộc đang tiến về Trảng Bom. Mũi sau cùng là quân đoàn 2 , Tư lệnh thiếu tướng Nguyễn Hữu An gồm các sư đoàn 3 Sao vàng, 304, 324B, và 325 tiến đánh Long Thành, Vũng Tầu, Phước Lễ.

Kế hoạch BV như sau: Hướng tây bắc quân đoàn 3 và địa phương quân Tây ninh, Củ chi, các lực lượng đặc công biệt động, tăng pháo tiến đánh căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt sư đoàn 25 từ Củ chi đến Trảng bàng rồi tiến đánh Tân sơn nhất, phối hợp với quân đoàn 1 đánh Bộ Tổng tham mưu sau đó tiến về Dinh Độc Lập. Hướng bắc quân đoàn 1 cùng các lực lượng đặc công, pháo binh, hoả tiễn.. bao vây căn cứ Bình Dương, Bến Cát rồi đánh BTTM, BTL các binh chủng Gò gấp rồi tiến về dinh Độc Lập. Hướng đông quân đoàn 4 tiến đánh Biên Hoà, phi trường BH rồi tiến vào quận 1 SG. Hướng Đông nam quân đoàn 2 đánh Bà Rịa, Vũng Tầu.. để chặn đường rút lui của VNCH, chiếm căn cứ Nươc Trong, Long thành, pháo kích phi trường TSN, chiếm Long bình. Hướng tây, tây nam đoàn 232 chiếm Hậu nghĩa, rồi tiến đánh Biệt Khu Thủ Đô.

Quân đội VNCH như chúng ta đã biết từ cuối tháng 3-1975 đã mất gần một nửa lực lượng chủ lực. Tại Quân khu 3 ta chỉ còn 3 sư đoàn 25, 5, 18 và các đơn vị di tản từ miền Trung về với quân số thiếu hụt, tổng cộng gần 6 sư đoàn để đối đầu với khoảng 20 sư đoàn BV. Lực lượng hai bên như sau.

“Về tương quan lực lượng giữa hai bên thì QLVNCH chỉ có 6 sư đoàn để bảo vệ thủ đô chống lại một lực lượng đông đảo với quân số gần 20 sư đoàn CSBV. Ba sư đoàn 7, 9 và 21 BB thuộc quân đoàn IV QLVNCH không thể dùng để tiếp ứng do điều kiện an ninh lãnh thổ của vùng đồng bằng sông Cửu Long. CS cũng đã xác nhận cán cân lực lượng trong chiến dịch này như sau:

Ta: 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4, và 232 bao gồm 15 sư đoàn bộ binh, 5 lữ đoàn bộ binh biệt lập, 4 trung đoàn tăng thiết giáp và 6 trung đoàn đặc công. Quân số tổng cộng khoảng 280 ngàn với 400 xe tăng và 420 pháo.

Địch: 5 sư đoàn bộ binh 5, 18, 22 và 25, sư đoàn TQLC, 2 lữ đoàn Dù, lữ đoàn 3 Kỵ binh và 4 liên đoàn Biệt động quân. Quân số tổng cộng khoảng 240 ngàn với 625 xe tăng thiết giáp và 400 pháo”

Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập.

Quân số của BV gồm 280 ngàn người trong đó đa số là thành phần tác chiến, lính VC không có lương nên không có các đơn vị hành chánh tài chánh, chúng cũng không có cứu thương y tế, bác sĩ, y tá… nên nói chung thực lực địch đông đảo hơn ta nhiều.

Quân số của VNCH là 240 ngàn nhưng trong đó chỉ có khoảng sáu chục ngàn là lính nhà nghề, còn lại là địa phương quân, nghĩa quân và các thành phần không chiến đấu. BV có đầy đủ đạn dược trong khi ta gặp khó khăn về tiếp liệu, lực lượng hai bên trên thực tế chênh lệch, ưu thế quân sự về phía địch.

Bắt đầu từ 26-4-1975 VC đã bắt đầu tấn công vào Trường Thiết Giáp Long Thành, căn cứ Nước Trong , đặc công tấn công Tân cảng , cầu xa lộ, đài ra đa Phú Lâm nhưng thất bại bị đẩy lui.

Sáng ngày 27-4 sư đoàn 3 BV tấn công chiếm Phước Lễ, Lữ đoàn Dù rút về Vũng Tầu, sư đoàn 18 được lệnh lui về giữ Trảng Bom. Phía tây các căn cứ dọc theo Vàm Cỏ Đông lần lượt bị VC chiếm, chúng pháo phi trường Biên Hoà dữ dội, sư đoàn 3 Không quân phải di về Tân sơn nhất và Cần thơ. Phía tây nam đoàn 232 cắt quốc lộ 4 nhiều nơi để chận viện binh từ quân khu 4, phía bắc quân đoàn 1 BV tiến về Thủ Đầu Một, phía tây bắc quân đoàn 3 BV cắt quốc lộ 1 và 21 để chặn đường rút của sư đoàn 25 BB.

Chiều ngày 28-4 Tướng Dương Văn Minh tuyên thệ nhậm chức Tổng thống tại dinh Độc Lập, chừng một tiếng sau, phi công nằm vùng trung úy Nguyễn Thành Trung hướng dẫn năm phi cơ A-37 của ta do Việt Cộng chiếm được ném bom phi trường Tân Sơn Nhất rung chuyển cả trời đất khiến dân chúng Đô thành hốt hoảng. Tối hôm ấy BTL Quân đoàn 3 di chuyển từ Biên Hoà về Gò Vấp.

Người phi công chiến đấu cuối cùng. Hình dưới:  Phi Cơ AC-119K của Không Lực VNCH bị rớt trong ngày 29-4-1975.

30-4 Binh sĩ VNCH ngăn địch trên cầu xa lộ (Tân Cảng)

Từ 4 giờ sáng ngày 29-4 BTTM, phi trường Tân Sơn nhất, BTL Hải quân bị pháo kích dữ dội. Cộng quân chiếm được Nhơn Trạch đặt hai khẩu 130 ly pháo 300 quả vào Tân Sơn Nhất gây nhiều thiệt hại nặng, các bãi đậu phi cơ, bồn chứa nhiên liệu, kho đạn bị trúng pháo kích gây nhiều đám cháy lớn. Sư đoàn 325 BV chiếm Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, tiến về Cát Lái. Sư đoàn 304 chiếm căn cứ Nước Trong.

Trong khi ấy Dương văn Minh cử ba người sứ giả đến trại Đê Vít tại Tân Sơn Nhất để thương thuyết ngưng bắn với phái đoàn Quân sự VC nhưng bị Đại tá Võ Đông Giang bác bỏ.

Tại Biên Hòa sư đoàn 18 cùng với lực lượng xung kích Quân đoàn 3, Lữ đoàn 4 Dù và 469 TQLC … vẫn giữ được phòng tuyến. Buổi chiều Bộ Tư lệnh Hải quân và Không quân di tản. Một liên đoàn BĐQ tại Bến Tranh Bắc Mỹ Tho được lệnh trực thăng vận về Cần Đước ngăn chận Việt Cộng trên liên tỉnh lộ 5A nhưng không có trực thăng, do đó Chợ Lớn được coi như bỏ ngỏ. Đến tối Cộng quân đụng độ với các chiến đoàn 315, 322 tại hai hướng đông bắc thành phố. Trung tướng Vĩnh Lộc, tân Tổng tham mưu trưởng lệnh cho sư đoàn 18 BB về giữ khu vực nằm giũa Thủ Đức và nghĩa trang Quân đội.

Phía bắc, căn cứ Lai Khê của sư đoàn 5 bị địch pháo kích dữ dội, quận Bến Cát bị tấn công.

Phía tây 2 liên đoàn 8, 9 BĐQ bị thiệt hại nặng , VC bỏ xác cả trăm tên cùng 18 xe tăng bị bắn cháy, quốc lộ 1 giữa Sài Gòn và Củ Chi bị gián đoạn.

Sư đoàn 22 BB vẫn làm chủ được tình hình phía nam, mặc dù bị VC tấn công.

Chiều 29-4 toà Đại sứ Mỹ bắt đầu di tản bằng trực thăng, sau 19 giờ bay liên tục 80 trực thăng đã chở đi được hơn 1,000 người Mỹ và khoảng 6,000 người Việt Nam ra ngoài hạm đội.

Ngày 30-4 một trung đoàn BV giao tranh ác liệt với quân Dù tại Ngã Tư Bẩy Hiền và Lăng Cha Cả, VC bị thiệt hại nặng tới 50% quân số. Địch tấn công trại Hoàng Hoa Thám, BTL không quân, căn cứ sư đoàn 25 BB VNCH thất thủ, chuẩn Tướng Lý Tòng Bá bị bắt.

 Mặt trận Ngã Tư Bảy Hiền,  Tổng Tham Mưu, những chiến sĩ Biệt Kích 81 Dù bắn cháy xe tăng cộng sản ngay tại cổng Phi Long (cổng vô phi trường Tân Sơn Nhất), Lăng Cha Cả.  Hình dưới:  Các chiến sĩ binh chủng Biệt Động Quân được điều động trấn giữ tại mặt trận Phú Lâm.

 

Cộng quân xâm nhập Ngã Tư Bẩy Hiền, trong vòng 15 phút có 6 chiến xa bị liên đoàn 81 Biệt Cách Dù bắn hạ, địch bị chận đánh tơi bời phải rút khỏi ngã tư Bẩy Hiền.

Theo Tướng Hoàng Lạc, ông Dương Văn Minh lại cử người tới Tân Sơn Nhất để thương thuyết với VC xem có vớt vát được tí nào không nhưng họ vẫn một mực đòi phải buông súng đầu hàng nếu không chúng sẽ bắn phá dữ dội thành phố. Sài Gòn bây giờ đang nằm trong tầm pháo của quân thù. Tướng Dương Văn Minh phần vì thấy phòng tuyến của ta đã sụp đổ dưới các trận tấn công, pháo kích của địch, chúng đã vào sát thành phố không hy vọng cứu vãn được tình thế. Lúc 10 giờ 30, trên đài phát thanh, ông tân Tổng thống kêu gọi các cấp chỉ huy, binh sĩ QĐVNCH ngưng bắn giao nạp vũ khí cho các đơn vị Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam để tránh đổ máu vô ích. Khi ấy tiếng súng trận khắp nơi đều đã im bặt.

Dương Văn Minh tuyên bố ngưng bắn thì Lê Đức Thọ ban lệnh cho các quân đoàn BV không chấp nhận đình chiến “cứ tiến thẳng vào Sài Gòn tước vũ khí và bắt quân ngụy đầu hàng không điều kiện.” Cộng quân tiến vào Thủ Đô đang bỏ ngỏ làm bốn ngả: Cánh thứ nhất từ Long Khánh theo xa lộ Biên Hoà, thứ hai từ Củ Chi qua Ngã Tư Bẩy Hiền, thứ ba từ Long An kéo lên qua ngả Phú Lâm Chợ Lớn, cánh cuối cùng từ Bình Dương theo xa lộ Đại Hàn vào Hàng Xanh.

Theo báo Sài Gòn Giải Phóng năm 1976 nhân ngày kỷ niệm chiến thắng 30-4, VC cho biết đoàn quân vào dinh Độc Lập trước nhất là cánh từ Long An , họ có chụp hình những chiếc xe lội nước PT-76 vào sân dinh và bộ đội thiết giáp VC trên xe nhẩy xuống. Theo tài liệu của ký giả ngoại quốc hoặc do lời kể của các viên chức chính phủ trong dinh Độc Lập thì cánh quân từ Biên Hoà cùng với các xe T-54 đã tiến chiếm dinh Độc Lập trước tiên.

Báo VC năm 1976 cho biết người đi đầu là một viên đại uý, được các viên chức tiếp đón tại cửa vào, y hỏi thăm đường lên lầu rồi vội kéo cờ vàng của ta xuống để treo cờ Mặt trận lên để chứng tỏ giang sơn này, đất nước này đã hoàn toàn thuộc về CS. Trong số các sĩ quan BV vào tiếp thu dinh Độc Lập sau đó, người cấp bậc cao nhất là một Đại tá ký giả chiến trường (journaliste de guerre), các tài liệu Mỹ (Vietnam, A History; The World Almanac Of The Vietnam War) đều nói tên người này là Bùi Tín. Báo chí VC năm 76 đăng tấm hình ngày 30-4-1975 tại dinh Độc Lập, Dương Văn Minh nói với viên Đại Tá VC bước vào dinh.

“Chúng tôi chờ các ông đến để bàn giao quyền hành.”

Viên Đại tá VC (không thấy nói tên) người to lớn nắm tay trợn mắt la lối dữ tợn trước ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu nguyên văn.

“Các ông còn cái gì nữa để mà bàn giao, các ông phải đầu hàng vô điều kiện”.

Rồi hống hách bắt Tướng Dương Văn Minh phải lên đài phát thanh tuyên bố đầu hàng. Bùi Tín nói láo hoàn toàn, trong khi ấy Quân khu 4 vẫn còn nguyên vẹn với hơn 200 ngàn địa phương quân và ba sư đoàn BB chủ lực. Vì là một bọn nhà quê, VC không biết một tí gì về nghi lễ quốc tế của chiến tranh, quân sự. Khi tiếp thu một cuộc đầu hàng tại mặt trận, nếu là cấp bậc thấp hơn phải chào người cấp bậc cao dù kẻ ấy thua trận, kế đó bắt họ ký giấy đầu hàng không thể chửi bới vô phép như vậy. Theo lời kể của cựu dân biểu Lý Quí Chung thì cả những tên sĩ quan cấp úy BV khi mới vào dinh cũng quát tháo những người cầm đầu chính phủ và gọi họ bằng anh.

“Các anh phải hàng hết.”

Chúng ta thấy rõ các thanh niên xuất thân từ một xã hội bán khai lạc hậu như miền Bắc chỉ là những người thiếu giáo dục.

Sau khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì các mặt trận quanh Sài gòn đều im tiếng súng chỉ còn một vài trận lẻ tẻ như tại Hố Nai, bốn tiếng sau lệnh đầu hàng, Thiếu Uý Tư, Biệt kích Dù và năm người lính thân tín dùng súng chống chiến xa M-72 phục kích bắn cháy, lật một xe Jeep, một T-54, 2 xe Molotova… rồi chạy thoát hết. Khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng thì Tướng Phạm Văn Phú Tư lệnh Quân đoàn 2 và Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư lệnh sư đoàn 5 tự sát.

 Một vị sĩ quan với nhiều suy tư sau khi  nghe lịnh đầu hàng của tướng Dương Văn Minh qua radio.  Hình bên: Cảnh trong sân Dinh Độc Lập sau khi việt cộng vào.

Quân khu 4 vẫn còn nguyên vẹn, Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam không cho giật sập cầu Long An như Tỉnh trưởng đề nghị. Theo lời kể của Trung úy Lê Ngọc Danh, sĩ quan tùy viên của Tướng Nam thì, trước khi tự sát ông đã thắp nhang lễ vái trước bàn thờ Phật. Thiếu Tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh phó tự sát chiều tối 30-4, hôm sau 1-5 Tướng Nam cũng tự sát lúc 7 giờ rưỡi sáng, Chuẩn tướng Trần Văn Hai tư lệnh sư đoàn 7 cũng tự vẫn.

Thực ra rất nhiều người quyên sinh trước ngày tàn của chế độ, của đất nước như thiếu tá Đặng Sĩ Vinh thuộc BTL Cảnh sát Quốc gia tự sát lúc 2 giờ chiều 30-4 cùng vợ và 7 người con tại nhà riêng. Trung tá Vũ đình Duy, Trung tá Nguyễn Văn Hoàn thuộc Đơn vị 101 tự sát… Các quân nhân Biệt kích Dù cũng như nhiều binh chủng khác đã mở lựu đạn tự tử vì chán chường thất vọng khi thấy đất nước lọt vào tay quân thù. Ngoài ra còn nhiều người tự sát ngoài mặt trận như Trung tá Nguyễn Hữu Thống trung đoàn trưởng trung đoàn 42 (sư đoàn 22) khi tầu Hải quân vào Qui Nhơn cứu đám tàn quân của sư đoàn cuối tháng 3-75 , Trung tá Thống từ chối di tản ở lại tự sát. Đại Tá Lê Cầu, Trung đoàn trưởng trung đoàn 47 (sư đoàn 22) cũng tự sát ngoài mặt trận khi không còn lối thoát.

Tháng 4 năm 2006 một cựu sĩ quan tham mưu của Quân đoàn 4 tiết lộ ngày 30-4-1975 họ đã dự định hành quân qua Miên sang Thái Lan hoặc ra Phú Quốc lập phòng tuyến chống lại CS, cũng có người cho rằng Quân khu 4 chờ chính phủ Sài Gòn dời xuống để tiếp tục chiến đấu nhưng ông Dương Văn Minh lại đầu hàng địch. Theo lời kể của Trung uý Danh, tuỳ viên của Tướng Nam thì ông là người nhân ái, sùng đạo Phật không muốn đổ máu, ông hay lễ bái trước bàn thờ Phật tại văn phòng.

“Là một tư lệnh Quân đoàn, đã nắm trong tay nhiều đơn vị trung thành, tướng Nguyễn Khoa Nam có thể ra lệnh tiếp tục chiến đấu, nhưng là vị tướng có lòng nhân ái, không muốn binh sĩ và đồng bào đổ máu vô ích, ông không cho phá cầu, ông không muốn có người chết thêm.”

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Bút ký của Trung úy Lê Ngọc Danh.

 Di tản tại Bến Bạch Đằng.  Sau ngày 30-4, đất nước toàn bộ rơi vào tay cộng sản.  Những cuộc vượt biên, vượt biển kinh hoàng, liều chết đi tìm Tự Do của người dân Việt Nam cũng bắt đầu.

 

Nhận xét về Tướng Dương Văn Minh nhiều người hồi đó cũng như bây giờ chỉ trích chê bai ông là kẻ đầu hàng địch, dâng nước cho Việt Cộng, nhưng cũng có nhiều người đồng ý với quyết định củaTướng Minh cho rằng tiếp tục chiến đấu sẽ chỉ gây thêm tang tóc đổ máu cho quân dân một cách vô ích không hy vọng gì cứu vãn tình thế. Sau khi ra định cư tại Hải ngoại, Đại Tướng Dương Văn Minh đã trả lời phỏng vấn:

“Tôi không cứu được nước nhưng tôi phải cứu dân”.

Nhiều người bỏ nước chạy trước khi Sài Gòn thất thủ cả tuần hoặc hai ba tuần lễ nhưng nay cũng vẫn lớn tiếng chê bai Tướng Minh đầu hàng phản bội!.

Quyết định đầu hàng của Dương Văn Minh có thể coi là hợp tình huống vì dù tiếp tục chiến đấu anh dũng cũng vẫn thua, tuy nhiên sau này ông lại chấp nhận để Việt Cộng phục hồi quyền công dân cho mình và đi bầu Quốc Hội VC thì thật là thiếu tự trọng, một người cấp bậc Đại Tướng bốn sao như ông không thể hèn nhát như vậy được. Trong khi có những Tướng lãnh, quân nhân… tự sát để giữ danh dự cho QĐVNCH thì lại có những nhà quân sự, công chức cao cấp hèn nhát bỏ chạy và rồi sau đó còn huyênh hoang tuyên bố chỉ trích người này người nọ.

Việt Cộng bắt đầu mở chiến dịch tấn công Sài Gòn từ 26-4- 1975, bốn ngày sau phòng tuyến của ta đã hoàn toàn sụp đổ. Trước khi Dương Văn Minh lên làm Tổng Thống người ta đã đoán biết công việc của ông chỉ là để đầu hàng. Một viên chức hành chánh thân cận của ông Trần Văn Hương sau này tiết lộ hồi đó ông Hương cho biết người ta đã sắp đặt sẵn để ông Thiệu bàn giao cho ông Hương rồi ông Hương bàn giao cho ông Minh, ngay cả việc Dương Văn Minh yêu cầu cơ quan Tuỳ viên quân sự DAO Mỹ rút lui cũng là do người ta sắp đặt cả. Khi Dương Văn Minh đang làm lễ bàn giao ngày 28-4 thì đài BBC đã nói.

“Hôm nay tại Sài Gòn ông Dương Văn Minh được cử giữ chức vụ Quyền Tổng thống do ông Trần Văn Hương trao lại để chuẩn bị cho một cuộc đầu hàng.”

Như thế mọi việc đã được sắp đặt cả, tất cả chỉ là một tấn tuồng hề chính trị. Nhiều người không tin tưởng ông Dương văn Minh, họ cho rằng sau cuộc đảo chính 1-11-1963, cờ đã đến tay mà ông không phất được thì chẳng bao giờ thành công. Khi hai Tướng Thiệu và Khiêm ra đi hôm 24-4, quân dân đều thất vọng lớn, ai nấy thừa hiểu số phận của miền Nam như thế nào, lại nữa hai hôm sau đó, Tổng Thống Trần Văn Hương hiệu triệu đồng bào về tình hình vô cùng bi đát của đất nước, ông đã khóc lóc trên làn sóng điện về viễn ảnh “cái núi xương sông máu của thành phố Sài Gòn” khiến cho quân dân ai nấy mất hết tinh thần.

Phần thì ta không đủ lực lượng để chống lại gần 20 sư đoàn Cộng quân, phần vì đạn dược thiếu hụt do cắt quân viện, lại nữa trong hàng lãnh đạo nhiều người bỏ trốn như ngày 28-4 các ông Tổng tham mưu trưởng, Tư lệnh quân đoàn 3 và nhiều ông lớn khác đã “tẩu vi thượng sách”, cha chung không ai khóc… Đài BBC Luân Đôn cũng tuyên truyền phá hoại khiến binh sĩ thất vọng chán chường, tinh thần chiến đấu của quân ta không còn nữa. Lực lượng phòng thủ dần dần rã ngũ, một số đơn vị can đảm chiến đấu tới cùng nhưng dù tinh thần chiến đấu cao tới đâu cũng không thể địch nổi lực lượng quá đông đảo và hoả lực hùng hậu của quân thù.

Sau khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, Quân khu 4 vẫn còn nguyên vẹn 3 sư đoàn chủ lực và hơn 200 ngàn địa phương quân, một lực lượng đông đảo chiếm 40% tổng số ĐPQ toàn quốc. Điều này cho ta thấy rõ sự bố trí lực lượng của ta sai lầm và phí phạm. Tháng 3-1975, trong khi vùng 1, 2 bị Cộng quân tấn công vây hãm tơi bời ta vẫn không chịu rút bớt quân từ Vùng 4 lên yểm trợ tuyến đầu và cuối tháng 4-1975 khi Sài Gòn như người bệnh nhân hấp hối cũng vẫn không chịu dốc quân từ vùng 4 lên đánh xả láng một ván bài chót.

Trận đánh cuối cùng đã kết thúc cuộc chiến tranh Đông Dương chỉ kéo dài có mấy ngày từ 26-4 cho tới 30-4 -1975, cũng vào ngày này 30 năm trước đó, năm 1945 tại Bá Linh quân Đức đầu hàng Nga. Sài Gòn tái diễn lịch sử nước Đức Thế Chiến Thứ Hai, có khác chăng tại Bá Linh giới lãnh đạo không bỏ trốn và ép buộc quân đội của họ chiến đấu tới người lính cuối cùng.

Kể từ ngày Cộng quân đánh chiếm quận Đức Lập 9-3-1975 và Ban Mê Thuột 10-3 để mở đầu cuộc Tổng công kích cho tới 30-4-1975, ngày kết thúc chỉ vỏn vẹn có năm mươi mấy ngày. Võ Nguyên Giáp ra lệnh tấn công quân Pháp tại Hà Nội nửa đêm 19-12-1946 là ngày khởi đầu cuộc chiến tranh dài nhất của thế kỷ đến trưa ngày 30-4-1975 là ngày kết thúc tính ra đã gần 30 năm.

Theo thời gian những bí mật dần dần được tiết lộ, trận chiến mất nước 1975 đã được sắp đạt sẵn y như một vở tuồng hề, Việt Nam đã trở thành bãi chiến trường tan nát vì bom đạn, tệ hại hơn thế nữa, nó đã trở thành món hàng mua bán đổi chác giữa các thế lực siêu cường.

Trọng Đạt

 

Tài Liệu Tham Khảo

Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.

Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Đại Nam, 2000.

Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975, Cali 1988.

Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Cali 1987.

Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc (Người Mỹ Và Chiến Tranh Việt nam 1945-1975) Tiếng Quê Hương 2006.

Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy, Hứa Chấn Minh xuất bản, 2005.

Văn Tiến Dũng: Đại Thắng Mùa Xuân, nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 2005.

Đinh Văn Thiên: Một Số Trận Đánh Trước Cửa Ngõ Sài Gòn, nhà xuất bản Quân Đôi Nhân Dân, Hà Nội 2005.

Dương Đình Lập, Trần Minh Cao: Cuộc Tổng Tiến Công và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975, nhà xuất bản tổng hợp TPHCM 2005.

Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975, Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1991.

Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South Vietnam, Sphinx publishing 1986.

The World Almanac Of The VietNam War: John S.Bowman, General editor, A Bison book.

Stanley Karnov: Vietnam – A History, Penguin books 1991.

Marilyn B Young, John J. Fitzgerald, A.Tom Grunfeld: The Vietnam War, A History In Documents, Oxford University press 2002.

Lâm Lễ Trinh: Tổng Thống Hai Ngày Dương Văn Minh, Người Việt Dallas 30-6-2005.

Trần Việt Đại Hưng: Một Bí Ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam 1975, Sài Gòn Nhỏ Dallas 2002.

Lữ Lan: Cuộc Chiến 30 Năm NHìn Lại Từ Đầu, Sài Gòn Nhỏ Dallas 28-4-2006.

Lê Quang Lưỡng: Thiên Thần Mũ Đỏ Ai Còn Ai Mất, Người Việt Dallas 7-10-2005.

NgườiMỹ Và Chiến Tranh Việt Nam, Người Việt Dallas 21-6-2006.

Lâm Lễ Trinh: Mạn Đàm Với Đại Tướng Cao Văn Viên, Về Nguồn, Thuỷ Hoa Trang 2006.

Hồ Đinh: Cơn Phẫn Nộ Cuối Cùng Của Một Quân Đội Bị Phản Bội, Người Việt Dallas 23-12-2005.

Lewis Sorley, Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, Trần Đỗ Cung dịch, Người Việt Dallas 22-11-2006.

Cao Văn Viên: Tuyến Đầu Vùng Một Thất Thủ, Thằng Mõ Sacramento, số cuối tháng 4-2006.

Mường Giang: Tiểu Khu Bình Thuận Và Tháng 4-1975 Đẫm Máu Và Nước Mắt, Sài Gòn Nhỏ Dallas cuối tháng 4-2005.

Hồ Đinh: Sư Đoàn 18 Bộ Binh Và Những Ngày Tử Chiến Tại Xuân Lộc, Sài Gòn Nhỏ Dallas cuối tháng 4-2005.

Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (RVNAF 1968-1975, Bill Laurie) , Nguyễn Tiến Việt dịch, Con Ong Việt số 71, tháng 5 -2006.

Trần Trung Đạo: 30 Năm Nhìn lại, Con Ong Việt số 60, tháng 5-2005.

Hải Triều, Trung Nghĩa: Bán Tiểu Đội Biệt Cách Dù & Trận Đánh Chớp Nhoáng Sau Lệnh Đầu Hàng 30-4-75, Sài Gòn Nhỏ, cuối tháng 4-2006.

Nguyễn Văn Lục: Đi Tìm Thời Gian Đánh Mất, 30-4-1975, 30-4-1976, 30-4-2007, Sài Gòn Nhỏ Dallas, 6-4-2007.

Lê Ngọc Danh: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, (bút ký của sĩ quan tuỳ viên Tướng Nguyễn Khoa Nam), Bút Việt 28-4-2006.

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

OngVoVe

Advertisements

Ta sẽ mong ước điều gì? – KH.

Bài đọc suy gẫm: Ta sẽ mong ước điều gì? hay Thỉnh Nguyện Thư (TNT) của tác giả KH. từ Việt Nam.  Hình ảnh từ các nguồn trên Net chỉ có tính cách minh họa.  Trước khi vào truyện, 16 thân mời các bạn ghé thăm trang Thỉnh Nguyện Thư để cùng nhau ký kiến nghị nhằm yêu cầu chính giới thẩm quyền tại Liên Bang Úc Châu yểm trợ Nhân Quyền Cho Việt Nam. Vì đây là một TNT mở rộng nên không chỉ giới hạn cho Người Việt ở Úc hay Người Việt trên khắp thế giới mà là cho tất cả mọi công dân của các quốc gia trên thế giới kể cả những đồng bào tại Việt Nam yêu chuộng hoà bình, Tự do, Dân chủ và đặc biệt quan tâm đến vấn đề Nhân Quyền.

Ghi chú: Xin quý vị hãy đọc kỹ nội dung (mục đích) của TNT trước khi ký vào để minh định rằng chúng ta tự nguyện ký vào TNT này vì tấm lòng và sự quan tâm của chính chúng ta.

Ngày đầu tiên tôi nhận được Email của BPSOS là thứ ba ngày 7 tháng 2 năm 2012 nói về phát động chiến dịch ký Thỉnh Nguyện Thư  vào trang mạng Tòa Bạch Ốc . Chưa biết rỏ cách gửi chử ký như thế nào, tôi đã vội vàng chuyển lời kêu gọi ấy đến tất cả những người thân quen. Sau đó được biết “Chỉ có những người đang sống ở Hoa Kỳ mới ký được Thỉnh Nguyện Thư”. Tôi lại chuyển đến tất cà bạn bè người quen đang ở Hoa Kỳ với một câu “Hãy ký vào đây đi, để cứu lấy Việt Nam trong đó có KH”
Một người đàn ông, làm quen với tôi trên mạng, anh là sinh viên Vạn Hạnh năm xưa, thư đi thư lại hằng ngày nên có vẻ thân, đòi một ngày nào đó về Việt Nam sẽ đưa tôi đi chơi đó đây, hỏi tôi: “Đang thiếu tình yêu có thích được yêu không?” Tôi trả lời:
“Là người Công giáo thì: Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân ly”
Thế nhưng anh vẫn không nản lòng, vẫn chát hằng ngày với tôi, vì mới định cư ở Mỹ hơn một năm, và đang thất nghiệp. Qua thư đi thư lại tôi viết cho anh như thế này:
“Tôi hiểu hoàn cảnh của anh rồi. Ở Việt Nam anh là Giáo sư, rồi bỏ nghề Dạy đi làm kinh doanh. Giáo sư đi làm kinh doanh thì chắc phải có chức vị cao. Đang kinh doanh thì phải bỏ dở, đi Mỹ theo diện con bảo lãnh và như thế qua Mỹ anh nữa thầy nữa thợ, chẳng có việc gì làm được, công việc ở Mỹ phải bắt đầu từ bước thấp nhất như phục vụ, rửa chén bát cho các nhà hàng, nói chung là những công việc thấp kém nhất của những người không có trình độ, nhưng anh thì tự ái làm sao lại phải đi làm những nghề thấp kém đó, nên thất nghiệp cả năm nay chứ gì?”
Anh trả lời: “Ừ mình phải có liêm sỉ, có tự ái chư.ù”
“Nói thật với anh, vì anh vào nước Mỹ trong hoàn cảnh đi định cư do con cái có cơ ngơi rồi bảo lãnh qua Mỹ để báo hiếu nó khác. Còn anh đi Mỹ theo diện tị nạn, thì anh có là ông Tướng hay ông Tổng Thống của Việt Nam đi nữa, anh cũng phải làm để sống, để lo cho gia đình. Nhất là khi con cái anh còn trong tuổi ăn, tuổi học. Chẳng có gì là xấu hổ, là mất thể diện cả, chỉ là làm những công việc đúng với khả năng mình, để kiếm tiền lo cho gia đình, cho con cái thôi. Rồi mỗi ngày mình mỗi tiến dần lên thôi, không phải mãi là cu li, khi mình cũng có trình độ và hiểu biết đâu thua kém gì ai …”
Tính tôi vẫn thế, hay nói thật lòng, tưởng anh giận rồi ngưng liên lạc luôn. Ai dè anh vẫn tiếp tục Chát…
Anh cũng là người được tôi chuyển “Thư kêu gọi ký Thỉnh Nguyện Thư” vì anh đang ở Mỹ. Tôi muốn anh ký TNT. Tôi tin anh là người hiểu biết, dù gì thì trước năm 75 anh cũng là Sinh viên Trường Vạn Hạnh. Tôi tin tất cả những người đã sống từ Vĩ tuyến 17 đi dần vào Nam, đều biết so sánh giữa hai chế độ, trước năm 75 và sau năm 75 khác nhau như thế nào? Chẳng cần phải nói dài dòng, họ cũng hiểu nhân dân Việt Nam đang sống cảnh đời như thế nào? Và mình có trách nhiệm gì với dân tộc mình, với đồng bào mình, khi mình đang sống trong một đất nước tự do, ấm no, hạnh phúc? còn Quê hương mình thì cứ mãi lầm than, khốn khổ, mất tự do, mất lòng tin, mất nhân cách…
Ai cũng có bổn phận nghĩ về Quê Hương mình, giúp đỡ quê hương mình, bằng cách này hay cách khác … Mà cũng chẳng ai đòi hỏi gì nhiều, không mất tiền, mất sức, mà vẫn giúp được Quê hương, giúp được bà con, bạn bè, người thương yêu đang còn lại trên Quê hương bằng một chữ ký mang tên mình. Nhẹ nhàng vậy thôi…
Thế mà một sáng ngủ dậy tôi nhận được email của anh, chỉ một lời vắn tắt, lạnh lùng: “I am not political”
Anh không đồng ý ký TNT, tôi thất vọng quá, sao người ta có thể lạnh lùng như thế với đồng bào của họ nhỉ?
Tôi trả lời “Tôi hiểu rồi” và từ đó cắt luôn liên lạc.
Một anh bạn khác rất thân trong gia đình trả lời: ‘Đây là sự vận động của nhóm theo đảng Dân Chủ mồi chài trước khi bầu cử đó KH, đừng tin họ, nhất là người Mỹ”.
Đọc lá thư của anh bạn mà buồn vô kể, tại sao anh lại suy đoán lung tung như thế? Anh bảo đừng tin người Mỹ vậy mà anh đang ở Mỹ, và là người Mỹ gốc Việt đã nhiều năm, anh nói như thế có ý gì?
Tôi trả lời thư anh:

“Anh ơi! Sự đời nó vẫn tréo ngoe thế đấy.
Cũng như anh nói đừng tin Mỹ, mà anh thì đang ở Mỹ .
So sánh giữa Mỹ và VN hay TQ thì Mỹ vẫn hơn nhiều
Vì thế trước mắt hãy giúp tụi em, những người dân không ra đi được,
Và cầu mong thỉnh nguyện thư này sẽ là những ngọn đèn nhỏ trở thành những ngọn đuốc lớn đã xô ngã bức Tường Berlin năm xưa, hay như Liên xô và các nước khác, từ bỏ chế độ cộng sản mà không hề có tiếng súng.
Ngày đó sẽ ra sao anh nhỉ? Huy hoàng và hạnh phúc biết bao!
Đừng nghĩ gì xa vời mà hãy làm đi anh ạ.
Khi xô ngã được CS, mình sẽ tính tiếp
Chúc anh luôn vui, mạnh.
KH

Thư tôi gửi đi không hiểu có làm anh suy nghĩ gì không? Nhưng anh vẫn không cho chữ ký vào TNT.

Tôi chợt nhớ đến tựa bài giảng mà các Cha Giáo phận Sài Gòn đang rất quan tâm “Vô Cảm”. Các Cha nói rằng đã đến lúc phải báo động khẩn là con người đã quá “Vô cảm” với nhau. Tin tức trên Mạng cho thấy đúng như vậy.
Một thanh niên bị xe tải đâm nát nửa thân, nhiều người xúm lại xem rồi bỏ đi mặc nạn nhân kêu cứu;
Một bệnh nhân chết vì bác sĩ yêu cầu phải có tiền mới cấp cứu… Sự thờ ơ với nỗi đau người khác dường như thành “chuyện thường ngày ở huyện”.
Xã hội đang lên án căn bệnh vô cảm của con người – căn bệnh được coi như hệ quả của đời sống hiện đại. Nhưng đáng lên án hơn nữa chính là những người sung sướng trên nỗi đau của đồng loại. Mời đọc thêm tin này:

 Hôi của: kẻ khóc – người cười.

Quốc lộ 1A ngày 14/4 tắc đến 7 tiếng đồng hồ vì một xe dưa hấu bị lật, hàng trăm người đổ xô tranh nhau “hôi” dưa. Từ người già đến người trẻ, học sinh đến người đi làm đều tranh thủ dừng lại mang về cho mình ít nhất một quả. Những người có ý thức nhắc nhở thì nhận được câu nói: “Không nhặt thì trước sau người ta cũng phải thuê xe khác đến chở”. Người nhặt thì vui vẻ cười đùa, chủ xe thì méo xệch mặt xót xa.

Có cảnh người đi đường bị cướp giật giỏ tiền. Tiền bay tung tóe, người đi đường thi nhau nhặt bỏ vào túi mình, không còn biết ai là người bị mất của, họ cứ nhặt như của vô thừa nhận một cách “vô cảm” như thế giữa  đường phố Sài Gòn.

Theo báo trong nước, có đến cả nghìn người xông vào hôi dưa hấu làm quốc lộ 1A tắc 7 tiếng đồng hồ.  Hình dưới: Một người đàn ông bị hơn 30 người nhào vô hôi của sau khi bị 2 tên cướp giựt rách gói tiền. Link ZingVN

Còn rất nhiều chuyện “Vô cảm” ở nhiều khía cạnh khác nhau mà  mọi người cũng đã rỏ trên các báo Việt Nam .
Tôi cứ ngỡ xã hội Việt Nam sau nhiều năm dưới chế độ cộng sản, họ đã chai lì với lòng trắc ẩn, họ đã sống quá tệ bạc với nhau. Thế mà, những người đã xa lìa thế giới cộng sản, đã có một cuộc sống tự do, sung sướng, vẫn không thương đến những kẻ khổ hơn mình, vẫn không thấy mình có trách nhiệm gì với quê hương xa lắc của mình.
Trong một bài giảng vị LM nói rằng: “Vẫn biết là chúng ta đang ở trong một xã hội mà sự lừa bịp tràn lan khắp nơi, từ kẻ nghèo hèn cho đến kẻ sang giàu, cũng rơi vào tình trạng như thế. Nhưng nếu ta dè dặt quá, coi chừng chúng ta lại không có lòng từ tâm với kẻ khốn cùng. Một người giáo dân hỏi Cha: “Thưa Cha bây giờ họ giã bộ nghèo đói đi ăn xin nhiều lắm, thưa Cha có nên cho họ không hay là chúng ta cho để bị lừa?” Cha trả lời: “Con cứ cho, khi thấy họ đáng cho, không vì nghi ngờ mà không giúp cho người cần được giúp đỡ…”.
Mà quả thật, nếu chúng ta cứ nhất tâm đề phòng, nghi ngờ này nọ, thì vô tình chúng ta trở thành người “Vô cảm” lúc nào không hay biết.
Như anh bạn tôi đang nghi ngờ. Nghi ngờ Việt cộng, nghi ngờ Mỹ, nghi ngờ những người kêu gọi ký Thỉnh Nguyện Thư, nghi ngờ cả cho những người ký TNT, mối nghi ngờ này lan đến nhiều người … Cứ vậy, rồi ai  còn ý chí để làm việc, khi kẻ không muốn cứu cứ bàn ra, nói toàn điều bất lợi cho người bỏ cả tâm huyết ra làm việc?

Có sự chiến đấu nào mà không mất mát, không khó khăn, hay không đổ máu … Mà sao chúng ta còn làm kỳ đà cản mũi, còn làm nhụt lòng người chiến sĩ, như thế không thấy hổ thẹn với lương tâm sao?
Thử cứ đặt mình vào địa vị những kẻ bị bắt bớ, bị đánh đập, bị tra khảo vô cớ như LM Nguyễn Văn Lý, HT Thích Quãng Độ, BS Nguyễn Đan Quế, Điếu Cày,  Nhạc sĩ Việt Khang, như các Sinh viên Công Giáo …Ta sẽ mong ước điều gì?

Đồng bào tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ yểm trợ TNT cho Tự Do, Nhân Quyền Việt Nam trước Tòa Bạch Ốc trong tháng 3 năm 2012.

Có thể cũng vì như thế mà suốt 37 năm những người Việt tự do không làm sao cứu được Đất Nước mình?
Chỉ cần một Thỉnh Nguyện Thư  năm mươi ngàn chử ký là đạt kỷ lục, là buộc chính quyền Mỹ, Anh, Pháp, Canada, Úc… hay những nước có tiếng nói mạnh mẽ trên chính trường quốc tế, sẽ can thiệp giúp đỡ theo Thỉnh Nguyện Thư của những người gốc Việt. Thế mà hơn hai triệu người đi tìm tự do, không đồng lòng giúp cho đồng bào mình cũng hưởng được tự do như mình, trong suốt 37 năm .
Để Đất Nước mình mỗi ngày mỗi nguy ngập, suy thoái, có khả năng mất Nước . Còn đồng bào mình thì mỗi ngày mỗi đi dần vào vòng lao lý, con đường tội lỗi, cha mẹ không dạy được con, con giết cha, đánh chưởi mẹ, chồng giết vợ, vợ đốt chồng … con cái sẽ ra sao? Một xã hội như thế sẽ đi về đâu?
37 năm, ba thế hệ xem như hư nát bỏ đi rồi. Tương lai sẽ về đâu? Một đàn con, một xã hội, không có ai răn dạy điều hay lẽ phải, mà chỉ thấy để lại những gương mù, gương xấu, … toàn để lại những sự khiếp đảm không còn tính người. Chúng nó sẽ sống ra sao? Bàn tay nào sẽ đưa chúng đi? Hay là lại để chúng bước vào vết xe cũ? Và thật, chỉ có một con đường độc nhất như thế để đi mà thôi …
Như thế mà quý vị chưa muốn cứu sao? Như thế mà quý vị chưa đau lòng, chưa nát tan lồng ngực sao?
Là người đang sống ở Việt Nam, tôi vô cùng biết ơn  những người đề nghị ký Thỉnh Nguyện Thư, và càng biết ơn hơn những người đã bỏ tiền bạc, công sức, từ những nơi xa xôi đến Washington vào Nhà Trắng, để cùng nói lên tâm nguyện cứu lấy dân tộc, cứu lấy Đất Nước với chính quyền Mỹ.
Chúng tôi nhìn hình ảnh quý vị vào Nhà trắng mà  lòng cảm động nước mắt lưng tròng.
Viết sau Thỉnh Nguyện Thư thành công bước đầu
Tháng Ba, 37 năm mất Đà Nẵng
K.H.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

VB – Viết Về Nước Mỹ

 Trang Thỉnh Nguyện Thư


Sức Mạnh Nhân Dân – Thiện Chí Nhân

Biểu tình với nhiều chục ngàn người tại Tahrir Square in Cairo, Ai Cập – February 11, 2011. 

Sức Mạnh Nhân Dân hay MỘT GIẢI PHÁP CHO VẤN ĐỀ VIỆT NAM

Tác Giả : Thiện Chí Nhân

(Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa)

 

I- NHỮNG CHUYỆN QUAN TRỌNG TRONG LỊCH SỬ VIỆT NAM.

Tại Việt Nam người làm chính trị phải biết 2 chuyện quan trọng sau đây. Nếu không biết, nhà chính trị là người lạc hậu.

1.1- Nhân dân:

Hai chữ “nhân dân” hay cụ thể hơn là cái khối người Việt bất mãn chế độ thuộc địa áp bức, bóc lột, đối xử bất công. Cái khối nầy có một sức mạnh vô địch trong chiến đấu.

Trong chiến đấu, bên nào vận dụng được nhân dân sẽ thắng trận. Trong chiến tranh giữa Đại Việt và quân Nguyên (Mông Cổ – Tàu) trong thế kỷ 13, vua quan nhà Trần và vị Tổng Tư Lệnh Trần Hưng Đạo đã vận dụng được sức mạnh của nhân dân để thắng quân Nguyên. Thời ấy quân Nguyên rất thiện chiến, có sức mạnh lấy hết nước Tàu và chinh phục kéo dài từ Trung Á đến nước Nga, các nước trên con đường Tây tiến, không có nước nào chống cự được.

Vào thế kỷ 15, vua Lê Lợi nhờ sự phụ tá chiến lược của Ông Nguyễn Trải đã vận dụng được sức mạnh của nhân dân Đại Việt. Sau 10 năm chiến đấu cam go, toàn bộ quân Minh chiếm đóng Đại Việt đã đầu hàng vua Lê Lợi.  Thời đó nhà Minh là đệ nhứt siêu cường trong thế giới văn minh, dân số đông hơn toàn bộ dân Âu Châu; khoa học kỹ thuật tiến bộ, hạm đội nhà Minh do đô đốc Trịnh Hoà chỉ huy đã đi đến Phi Châu để cho thế giới thấy sự hùng mạnh và văn minh của Trung Hoa. Bên Âu Châu không có nước nào có hạm đội hùng mạnh như thế.  Nước Tàu lại ở sát nách Đại Việt. Thế mà nhân dân Đại Việt đã làm được sự kỳ diệu khiến cho nước nhỏ thắng nước lớn, nước yếu thắng nước mạnh.

Thời hiện đại, Hồ Chí Minh đã biết rõ sức mạnh của nhân dân.  Với thủ đoạn thiên phú, Hồ Chí Minh cướp được chánh nghĩa, nhờ vậy Hồ vận dụng được sức mạnh của nhân dân trong chiến tranh chống Pháp trước, sau chống Mỹ.  Sau cùng 2 siêu cường nầy đành chịu thua, rút quân về nước. Khi đặt tên cho quân đội, Hồ gọi là “quân đội nhân dân”. Người biết chiến lược đã thấy rõ Hồ biết vận dụng sức mạnh của dân tộc Việt Nam để thắng địch mạnh hơn CS quá nhiều.

1.2- Vấn đề sở hữu chủ ruộng đất của nông dân:

Đây là vấn đề nóng bỏng nhất thường gây sự loạn trong các nước đa số là nông dân không có đất để canh tác.  Ở Pháp, Nga, Tàu,  nông dân không có đất là động cơ phát sanh cách mạng ở Pháp, Nga, Tàu. Ở Việt Nam, năm 1428, vua Lê Lợi vừa lên ngôi, với sự cố vấn khôn ngoan của thiên tài chiến lược Nguyễn Trải đã ban hành chánh sách Quân Điền.  Theo chánh sách nầy, mỗi người dân Đại Việt trẻ cũng như già, quan đại thần đến dân thường mỗi ngưòi đều được cấp đồng đều một mảnh đất vừa đủ để canh tác và sống nhờ vào đó trọn năm.  Chánh sách khôn ngoan nầy có 2 cái lợi: loại bỏ mầm móng rối loạn của nông dân không có đất và giúp cho người Việt có công ăn việc làm đủ sống nên đất nước được an cư lạc nghiệp.

Thời hiện đại,  bọn cầm đầu CS, sau khi Hồ Chí Minh chết, vì quá tham lam và ngu xuẩn để tuột khỏi tay sức mạnh vô địch là nhân dân và lại ngồi trên thùng thuốc súng khi để cho cán bộ hạ tầng cướp đất của nông dân.  Vấn đề dân oan càng ngày càng trở thành ung nhọt gây nhức nhối cho đám lãnh đạo CS.

II- TẠI SAO CÁCH MẠNG LÀ SỰ CHỌN LỰA CHIẾN LƯỢC ĐÚNG ĐẮN NHẤT.

2.1- Đảng CS cầm quyền từ 1945 đến nay.  Đảng viên CS đã hưởng đủ thứ lợi lộc do quyền lực mang lại.  Cho đến ngày nay, không có một chỉ dấu nhỏ mọng, có giá trị chính xác cho thấy CS chấp nhận từ bỏ quyền lực trước cái núi khó khăn đặt ra cho bọn chúng.

Tình trạng quyết tâm nắm giữ quyền lực bằng mọi giá của CSVN chứng nhận sự nhận định của tổ sư CS là Lénine rất xác đáng. Lénine nói: “Giai cấp thống trị ở mọi thời đại không chấp nhận dễ dàng từ bỏ quyền lực dù họ đang ở thế yếu chăng nữa, trừ phi quần chúng dùng bạo lực Cách Mạng thách thức và lật đổ địa vị thống trị ấy.!”

Như vậy chỉ có Cách Mạng bắt buộc CSVN từ bỏ quyền lực.

2.2- Cách Mạng đáp ứng lại sự thôi thúc của lịch sử:

Qua thế kỷ 21, Cách Mạng là giai đoạn chót của tiến trình Cách Mạng dân tộc thời hiện đại.

Cách Mạng dân tộc khởi đầu năm 1862 khi thực dân Pháp chiếm 3 tỉnh miền đông Nam Kỳ.  Từ thời điểm đó đến nay, Cách Mạng dân tộc diễn tiến dưới nhiều hình thức khi võ lực, khi chính trị, khi văn hoá.  Có những khi lực lượng Cách Mạng bị thực dân đập tan tành thì Cách Mạng tạm thời ngừng nghỉ nhưng dân tộc Việt Nam không bao giờ bỏ cuộc luôn trong Cách Mạng dân tộc.

Tên tuổi các vị anh hùng Cách Mạng dân tộc đã hy sinh mạng sống cho chánh nghĩa vẫn luôn luôn được dân Việt tôn sùng như các vị: Nguyễn Trung Trực (hy sinh 1968), Phạm Hồng Thái (hy sinh vào đầu thế kỷ 20), Nguyễn Thái Học (hy sinh 1930), Trần Văn Bá (hy sinh 1985) v.v..

Lễ Tưởng niệm anh hùng Nguyễn Trung Trực hàng năm tại hải ngoại.

2.3- Hai cơ may ngàn năm một thuở cho Cách Mạng dân tộc:

– Thứ nhất: CSVN đã mất “nhân dân”, cái lực lượng vô địch đã giúp cho CS thắng tất cả các địch thủ hùng mạnh từ 1945 đến nay.  Muốn dẹp CS chỉ có cách làm Cách Mạng như tổ sư Lénine của CS đã dạy.  Không thể ra mặt tranh đấu công khai đòi dân chủ, nhân quyền như các nhà dân chủ trong nước bị CS đàn áp thô bạo mà quốc tế chỉ phản đối lấy lệ, và sức ép về nhân quyền như tất cả các nước dân chủ lớn trên thế giới chỉ làm CS bĩu môi chớ không bắt buộc chúng thay đổi chế độ.  Chỉ có phát động Cách Mạng nhờ lợi dụng cái khối nhân dân bất mãn khi tập hợp được mới có đủ sức mạnh lật đổ chế độ CS.

– Thứ nhì: Sau khi nắm quyền trên toàn quốc sau 30-04-1975, CS vì quá tham lam và ngu xuẩn lại ngồi trên thùng thuốc súng là sự hận thù của bao nhiêu triệu dân oan bị bọn CS cướp đất, cướp nhà. Số dân oan trên toàn quốc là lực lượng chủ công của Cách Mạng khi thời cơ đến.

2.4- Những yếu tố xã hội thuận lợi cho Cách Mạng:

2.4.1: Hoàn cảnh Cách Mạng trong xã hội hay là xã hội Loạn:

Theo một quy luật trong xã hội học, trong tất cả các quốc gia đều có hố phân cách giàu và nghèo.  Tuy nhiên khi cái hố đó sâu rộng quá mức (đến điểm cực đại) thì cái Loạn diễn ra trong xã hội.

Căn cứ vào tin tức do báo chí trong nước đã được chánh quyền kiểm soát gắt gao, người quan sát thấy quá nhiều “nhà giàu mới” trong nước.  Một trong số giàu nầy là một phụ nữ làm chủ một xí nghiệp địa ốc mới mua 1 chiếc xe Rolls Royce đời mới được chở bằng phi cơ về Việt Nam, giá chiếc xe với thuế cao hơn 1 triệu đô la.

Theo báo trong nước, kể từ năm 2007, hiện có khoảng 30 chiếc xe Roll-Royces tại Việt Nam, tuy nhiên mốt mới của đại gia là thi đua nhau tậu trực thăng, máy bay, chiếc cao nhứt khoảng …14 triệu đô la.  

Bên cạnh cuộc sống xa hoa đế vương của bọn nhà giàu mới, Việt Nam lại có quá nhiều người nghèo với lợi tức kiếm được hằng tháng quá sức ít, vượt qua sự tưởng tượng phong phú nhất.  Báo Thời Luận (ngày 17-7-1998, Los Angelos) đăng một bài lấy từ báo Tuổi Trẻ (1998 Sài Gòn).  Một phóng viên của báo nầy viết bài phóng sự về cuộc sống tại xã Quế Minh, một xã giáp ranh với Đồng Phú, thị trấn huyện lỵ của huyện Quế Sơn tỉnh Quảng Nam.  Theo lời chủ tịch xã Nguyễn Phước Thọ nói với phóng viên là xã có đa số gia đình nghèo cùng cực, làm quần quật mà đói kém triền miên.  Mức sống của dân Quế Minh theo chủ tịch Thọ cho biết không vượt quá 150000 đồng /1 năm cho mỗi đầu người nghĩa là khoảng 12000 đồng/1tháng. Nếu tính ra giá đô la năm đó thì dân xã Quế Minh mỗi người có lợi tức 1 đô la 20 xu mỗi tháng.  Không biết với số tiền đó, một người dân xã Quế Minh mua được bao nhiêu gạo, bao nhiêu vật dụng khác!

Phóng viên còn nói thêm số xã nghèo như xã Quế Minh còn nhiều ở miền Trung. Hiện nay, 10 năm sau theo lời khoe khoang của CS, chúng đã thành công rực rỡ trong công tác xoá đói giảm nghèo, được bọn tư bản quốc tế phụ hoạ khen lấy khen để.  Cho rằng lợi tức của dân Quế Minh tăng 10 lần đến năm 2008, thì mỗi tháng dân Quế Minh cũng chỉ kiếm được 12 đô la tức là mỗi ngày kiếm được 40 xu Mỹ.

Sự cách biết giàu nghèo đã đến thật gần điểm cực đại đúng như quy luật, xã hội Việt Nam hiện nay là xã hội Loạn. Những chỉ dấu của Loạn là cán bộ nhà nước không tuân thủ pháp luật.  Về phía dân, dân cũng không tôn trọng luật pháp.  Một chuyện nhỏ về sự không tôn trọng luật pháp như chạy xe ngoài đường.  Hệ quả của Loạn là giới xã hội đen theo kiểu Năm Cam mọc nhan nhản, hoành hoành hà hiếp dân lành, tệ nạn xã hội (mãi dâm, ma túy, cờ bạc, rượu chè, trộm cướp, ăn mày…) càng ngày càng trầm trọng.

Tình trạng này, trên 2000 năm trước, Ông Mạnh Tử có nói: “Thượng vô đạo quỹ, hạ vô pháp thủ, quốc chi tổn giả, hạn dã” nghĩa là “người trên không có niềm tin vào đạo lý nào, kẻ dưới không bị pháp luật ràng buộc thì chế độ khó tồn tại.”

2.4.2:  Chế độ thối nát:

Lénine có dạy thêm cho bọn CS: “muốn cho một chế độ sụp đổ hãy để nó đến tận cùng của sự thối nát.”

Khi nhìn thực trạng xã hội của nước CHXHCN Việt Nam hiện nay, mụt ung nhọt tham nhũng lan tràn từ cao xuống thấp. Ở trong mọi lãnh vực sinh hoạt trong xã hội, bọn cầm đầu CS đã nhiều lần báo động về nguy cơ cho chế độ là “tham nhũng”. Tên Tổng Bí Thư nào, Thủ Tướng nào cũng tuyên bố sẽ thẳng tay triệt tiêu tham nhũng, càng thẳng tay triệt tiêu, tham nhũng càng tăng gia thêm.  Ngoài tham nhũng, chỉ dấu sự thối nát của chế độ có thêm một chỉ dấu nữa là sự nghèo đói của đa số dân chúng.  Cái biển người nghèo cộng thêm đói, nghèo quá phải bán con làm nô lệ tình dục, bán cả đứa bé còn trong bụng mẹ chưa sanh. Dân oan đòi công lý cả chục năm không hề được giải quyết.  Người nghiện ma túy năm sau nhiều hơn năm trước. Gái mãi dâm đầy đường. Trộm cướp, lường gạt quá sức nhiều. Dân nghèo đau ốm không có tiền đi thầy thuốc. Bé con nhà nghèo bỏ học đi bươi rác để kiếm gạo. Nguyên một làng từ Bắc, Trung vào Sài Gòn đi ăn mày.

Những chuyện kể trên có phải đã chứng minh là sự thối nát của chế độ CS đã đến tận cùng chưa? Trong tình trạng đó, nếu Cách Mạng bùng nổ, CS khó phản ứng lại hữu hiệu để tồn tại.

III- LÀM SAO CHO CÁCH MẠNG BÙNG NỔ

Muốn cho CM bùng nổ phải thực hiện 2 điều:

1- Phải có những người ở Việt Nam quyết tâm làm CM.

Những người này phải có những đức tánh sau đây:

– Một sự kiên nhẫn vô bờ.

– Không bao giờ nôn nóng.  Tuyệt đối tránh đương đầu trực diện với CS để bị chúng nó vô hiệu hoá hành động.

– Phải có một ngụy tích căn cước (cover identity). Người này là người bình thường không bao giờ nói chuyện chính trị, chỉ lo làm việc kiếm cơm nuôi gia đình.

– Rình rập CS như mèo rình chuột.  Khi thấy sơ hở của chúng, dầu nhỏ thế mấy cũng khai thác về tâm lý chiến.

2- Phải có một chiến lược đúng đắn và khả thi.

Chiến lược này căn cứ trên thực trạng Việt Nam hiện nay đã nói trong mục I và II . Đặc điểm của chiến lược nầy là vận dụng cái lực vô địch của dân tộc Việt Nam gọi là “nhân dân” để khi tập hợp đông đảo tạo thành một sức mạnh vạn năng, áp đảo tất cả phương tiện đàn áp của chính quyền để lật đổ chế độ CS độc tài toàn trị.

Cái lực “nhân dân” hiện tại ở trong tình trạng tiềm lực (potential). Phải có những chiến thuật thích đáng mới biến tiềm lực thành thực lực (real). Cốt lõi của chiến thuật nầy là tạo sự biến chuyển của đa số nhân dân theo các bước công tác:

– Bước đầu : nhắm vào khối người quá sợ Công An CS.  Những người nầy thờ ơ với chính trị.

– Bước thứ nhì : làm cho dân bớt sợ và lưu tâm đến chính trị.

– Bước thứ ba : hết sợ – Bất mãn.

– Bước chót : từ bất mãn qua căm thù, quyết tâm lật đổ chế độ CS.

 Để thực thi sự biến chuyển tư tưởng, phải vận dụng tâm lý chiến trong 3 hình thức:

 – Tuyên truyền trắng,

– Tuyên truyền xám

– Tuyên truyền đen.

 Võ khí sử dụng trong tâm lý chiến là truyền thông dưới đủ mọi hình thức từ tối tân (internet, đài truyền hình, đài truyền thanh, điện thoại di động, báo chí ..) đến thô sơ (truyền đơn trao tay, tuyên truyền rỉ tai). Trong các hình thức truyền thông, internet và điện thoại di động hết sức ích lợi khi đến giai đoạn tập hợp số đông xuống đường tổng nổi dậy. Sự chuyển biến tư tưởng dài hạn nhờ các phương tiện truyền thông khác nhưng tuyên truyền rỉ tai có tác dụng tâm lý lớn lao.

Ngoại trừ các bài viết về dân chủ và nhân quyền cho giới trí thức đọc, còn chú trọng khai thác khía cạnh lố bịch của CS do sự dốt nát nên dân chúng chế diễu, khinh dễ.

Tất cả giai tầng xã hội, mỗi giai tầng cần được tiếp nhận luận điệu CM thích hợp với quyền lợi của họ.  Sau đây tất cả phe chống Cộng trong và ngoài nước sử dụng những luận điệu sau đây:

– Giai tầng trí thức: các bạn trí thức trong chế độ XHCN được CS bề ngoài giả vờ đề cao, nhưng bên trong CS xem trí thức hệt như Mao Trạch Đông đã xem “giá trị của trí thức không hơn cục phân”. Sau vụ Hoàng Sa, Trường Sa, CS lòi bộ mặt bán nước, tay sai của thiên triều Bắc Kinh, các người trí thức nỡ lòng nào ngồi nhìn đất nước dần dần trở thành một tỉnh hay huyện của “thiên triều”?

– Giai tầng sinh viên: trong lúc sinh viên ở các nước độc tài trên thế giới đều là nồng cốt của phong trào Tổng Nổi Dậy như ở Nam Dương, sinh viên Việt Nam chỉ mê mải tranh thủ mảnh bằng đại học để làm cần câu cơm. Dù có bằng đại học, các bạn cũng sẽ không được sử dụng đúng mức. Sự thất nghiệp chời đợi sinh viên tốt nghiệp.  Để không hổ thẹn với tiền nhân anh hùng và để có tương lai tươi sáng cho bản thân, các bạn phải đứng lên nhận lấy vai trò chủ động cho CM như sinh viên Nam Dương, Georgia, Ukraina, Tiệp Khắc để lật đổ chế độ thối nát CS vừa bất tài vừa tham nhũng.

 Cách mạng nhung tại Tiệp Khắc 1989.

https://i1.wp.com/cache.daylife.com/imageserve/0aWsfSnaXj21m/610x.jpg

Biểu tình Ai Cập 2011. Cách mạng nào mà không tốn xương máu, theo tin từ Cairo,  hơn 3 trăm người thiệt mạng và hơn ngàn người bị thương.

Sau khi giải thích cặn kẽ, anh sinh viên đã thuyết phục được chú “bộ đội” lái tăng quay về với chính nghĩa, hình chú ” đội “cùng quỳ xuống chung với các bạn sinh viên trẻ đấu tranh, cầu nguyện cho đất nước mau thoát ách bạo tàn Mubarak:)

Cách mạng thành công một phần lớn cũng nhờ mạng Face-Book. Cám ơn, cám ơn:)

– Giai tầng dân oan: các bạn đừng trông đợi bọn CS ban phát công lý, trả lại cho các bạn đất và nhà đã bị cán bộ CS cướp đoạt trắng trợn.  Các bạn đã thấy dân oan sống đoạ đày trong vườn hoa Mai Xuân Thưởng, có người đã chờ đợi hơn 10 năm nhưng CS không bao giờ đoái thương giải quyết chuyện oan ức của các bạn.  Chỉ có tập hợp lại thật đông, xuống đường thì CS mới chịu trả lại đất.

– Giai tầng lao động: CS đã cấu kết với tư bản ngoại quốc để bóc lột đến tận xương tủy các bạn.  Công sức mồ hôi của các bạn đổ ra chỉ đổi lấy số lương chết đói. CS còn nhẫn tâm để cho bọn tư bản đối xử với các bạn như với súc vật.  Bây giờ vật giá gia tăng làm sao sống được với tiền lương chết đói. Chỉ có xuống đường, tổng nổi dậy lật đổ chế độ tay sai của tư bản ngoại quốc, cuộc sống của các bạn mới tốt đẹp, tiền lương tương xứng với công sức các bạn bỏ ra được nhà nước tương lai bênh vực.

– Giai tầng đông đảo người nghèo, thất nghiệp, bán hàng rong, đạp xích-lô trong các thành phố lớn: các bạn đã thấy chế độ CS chỉ lo cho phe đảng của chúng và bọn nịnh bợ chúng nên hiện nay bọn chúng quá giàu vì hút máu mủ của dân. Tiền thuế quá cao mà toàn dân è cổ ra đóng, nếu dùng tiền đó để cải thiện số phận các bạn thì các bạn đâu phải chịu đựng cảnh nghèo khổ cùng cực như bây giờ. Phần lớn tiền thuế đều bị bọn tham nhũng CS ăn mất.  Các bạn đã bị CS bỏ rơi nên quá nghèo, làm quần quật vẫn không có đủ cơm ăn, không nhà ở, đau không có tiền mua thuốc, con cái các bạn không được đi học nhu con nhà gìàu . Các bạn đừng cam phận tôi đòi của CS mà chịu đói khát, ở nhà ổ chuột trong lúc bọn chúng ở nhà cao cửa rộng, đi xe bóng lộn, sống đế vương, một bữa tiệc của chúng có thể cho một gia đình đông người của các bạn đủ sống 3 năm.

Không! Đừng chịu mãi cảnh bất công ấy.  Phải tập hợp cho đông xuống đường tổng nổi dậy. Số phận hẩm hiu của các bạn sẽ chấm dứt khi CS đã bị lật đổ.

Giai tầng Công An: Các bạn đừng dại dột nghe lời cấp trên đàn áp dân đòi Công Lý.  Một ngày nào đó, dân xuống đường tổng nổi dậy thành công, cấp trên của các bạn thừa phương tiện chạy trốn ra nước ngoài với cái núi đô-la, chỉ còn các bạn ở lại để chết thay cho họ – những kẻ đã ra lệnh cho các bạn đàn áp dân .

Giai tầng Bộ Đội: Các bạn cứ nhìn đời sống các tướng lãnh cao cấp để so sánh với đời sống của các bạn. Đừng ngư dại đàn áp Cách Mạng đòi một đời sống tốt đẹp cho toàn dân trong đó có các bạn và gia đình các bạn.  Hãy quay súng lại bắn vào đầu  bọn chỉ huy hèn mạt, không dám chống lại Tàu Cộng chiếm Hoàng Sa, Trường Sa và chúng chỉ biết làm giàu trên xương máu của các bạn .

IV- KẾT LUẬN

Trên đây là những gợi ý cho các đoàn thể chống Cộng nếu có người ở trong nước nên làm những chuyện nói trên thì sự thay đổi chế độ chắc chắn sẽ xảy ra khi thời cơ đến.

 ::: Thiện Chí Nhân :::

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Bảo Vệ Cờ Vàng

 


Đáp Lời Sông Núi – Nhật Báo Viễn Đông

Bài đọc suy gẫm: Đáp Lời Sông Núi – tức đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi, ký giả Võ Long Triều của  nhật báo Viễn Đông phỏng vấn nhà báo Ngô Đức Diễm, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ kiêm Phát Ngôn Nhân, Hội Đồng Điều Hợp Trung ương của Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc, và cũng là giám đốc đài ĐLSN.

Hình ảnh minh họa:  Buổi ra mắt đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi tại Nam California và tại Melbourne, Australia.

Đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi
Võ Long Triều (Viễn Đông)

FAIRFIELD, Úc Đại Lợi – Khởi đi từ Chủ Nhật 15-5-2011, đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi, do Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ quốc chủ trương, sẽ phát về Việt Nam từ 9 giờ 30 đến 10 giờ tối, giờ Việt Nam, mỗi đêm, trên tần số trung bình AM 1503kHz. Đây là tần số trước đây Đài BBC thuê để phát thanh từ 9 giờ 30 đến 9 giờ 45 tối cho đến tháng 3-2011. Giám Đốc của đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi là ông Ngô Quốc Sĩ , tức nhà báo Ngô Đức Diễm, Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ kiêm Phát Ngôn Nhân, Hội Đồng Điều Hợp Trung ương của Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ Quốc. Sau khi thu xong buổi phát thanh đầu tiên, ông Ngô Quốc Sĩ đã dành cho nhật báo Viễn Đông một cuộc phỏng vấn.

Viễn Đông: Trong buổi phát thanh đầu tiên của đài Đáp Lời Sông Núi, với vai trò một người chủ chốt trong đài, xin cho biết ông kỳ vọng điều gì?

Ô. Ngô Quốc Sĩ: Trước hết, xin cám ơn quý báo đã dành cho Ngô Quốc Sĩ buổi phỏng vấn đặc biệt này. Xin trân trọng kính chào quý độc giả thân thương

Hôm nay, buổi phát thanh đầu tiên của Đái Phát Thanh Đáp Lời Sông Núi, tiếng nói đấu tranh hướng về quốc nội do Lực Lượng Dân Tộc Cứu Nguy Tổ quốc thực hiện, với tư cách Giám Đốc đài, chúng tôi xin bày tỏ hy vọng rằng, đài phát thanh sẽ được đồng bào trong nước đón nghe, truyền tải tiếng nói “sự thật” này đến bạn bè thân nhân, nhất là các cán bộ đảng viên cộng sản, để mọi người nhận chân được tình trạng lâm nguy của Tổ quốc trước đại họa ngoại xâm và chính sách cai trị tàn ác của nội thù là Đảng Cộng Sản Việt Nam.
   Ra mắt tại Nam California, thành phần chủ tọa đoàn. 

Hợp ca “Anh Vẫn Sống” do Ban Tù Ca – Nghệ sĩ Xuân Điềm đóng góp trong phần văn nghệ.


Viễn Đông: Xin ông giới thiệu thành phần Ban Phát Thanh.

Ô. Ngô Quốc Sĩ: Xin thưa rằng, chúng tôi là một tổ chức đấu tranh, không phải là những người làm truyền thong chuyên nghiệp, nên thành phần Ban Phát Thanh gồm những anh chị em có thiện chí khắp nơi, người tại Mỹ, người tại Úc, người tại Âu Châu, làm việc chặt chẽ trong hai ban: Ban Biên Tập và Ban Kỹ Thuật, dưới sự điều hợp của một Giám Đốc Đài và một Phụ Tá đặc trách nội bộ. Nhờ kỹ thuật điện toán hôm nay, việc điều hành “remote” không đến nỗi khó khăn lắm. Còn các bài viết, thì hẳn nhiên, có các cây viết nòng cốt trong nội bộ Lực Lượng, nhưng chứng tôi đã lien lạc và đón nhận sự cộng tác của các cây viết được nhiều người ưa chuộng khắp nơi, từ Nhật, Pháp, Đức, Canada, Úc, Cộng Hòa Nga, kể cả những cây viết dân chủ trong nước.

Viễn Đông: Xin ông cho biết chủ trương của đài.

Ô. Ngô Quốc Sĩ: Đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi là tiếng nói của một tổ chức đấu tranh, hẳn nhiên phải nhằm mục tiêu đấu tranh nhằm giải thể chế độ cộng sản độc tài toàn trị tại Việt Nam. Là một vũ khí truyền thông hiện đại, chúng tôi chủ trương đấu tranh ôn hòa, nhưng quyết liệt và hữu hiệu. Chúng tôi làm truyền thông chứ không làm tuyên truyền như cộng sản, nên chúng tôi luôn luôn chủ trương tôn trọng sự thật, khám phá sự thật và phơi bày sự thật cho quần chúng nhận định và lựa chọn thái độ và hành xử một cách thích hợp, đồng thời phế bỏ những huyền thoại nhằm đánh bóng lãnh tụ và chế độ. Ngoài việc phơi bày sự thật, chúng tôi còn nỗ lực vận động quần chúng, can đảm vượt qua sự sợ hãi, đứng lên đòi lại quyền làm chủ đất nước và vận mạng của chính mình.

Viễn Đông: Nội dung chương trình phát thanh mỗi ngày gồm những gì? Đài có phóng viên, thông tín viên những nơi nào?


Ô. Ngô Quốc Sĩ: Chúng tôi phát thanh mỗi ngày nửa giờ, mỗi tuần 7 ngày. Các tiết mục trong tuần có ngày giống nhau, như tin tức, quan điểm và bình luận. Nhưng sẽ có những tiết mục đặc biệt như phỏng vấn, hội luận văn hóa và đời sống, diễn đàn tuổi trẻ. Tiết mục đáng để ý nhất là các lá thư như Lá Thư Đông Kinh, Lá Thư Mạc Tư Khoa, Lá Thư Hoa Thịnh Đốn, Lá Thư Paris, Lá Thư Úc Châu, do các cây viết được nhiều người biết tới, và có thể được phát đi qua giọng đọc của chính họ. Còn phóng viên và thông tín viên, thì hiện nay, đã có sự tham gia của các than hữu khắp nơi, như Nhật Bản, Cộng Hòa Nga, Đức quốc, Pháp, Gia Nã Đại và Việt Nam.

Viễn Đông: Làm sao quý vị đo được phản ứng của thính giả ở Việt Nam?

Ô. Ngô Quốc Sĩ: Hẳn nhiên, để tự lượng giá, chúng tôi phải tìm phương thức đo lường phản ứng của thính giả. Phải nói ngay rằng, với chủ trương bưng bít của công sản Việt Nam, người dân trong nước khó mà nghe công khai tiếng nói dân chủ của đài Đáp Lời Sông Núi. Việc kiểm chứng phản ứng, vì thế hẳn nhiên là khó khăn. Nhưng anh em của chúng tôi trong nước, nhất là các chiến sĩ trong nước, và ngay cả đồng bào trong nước có thể giúp chúng tôi đo lường phần nào phản ứng đó. Số lượng điện thoại từ trong nước trong mấy ngày vừa qua khi tin phát sóng được loan đi, chúng tôi cảm thấy thật phấn khởi và tin tưởng

Viễn Đông: Quý ông có tin mình sẽ quảng bá được rộng rãi chương trình phát thanh cho thính giả Việt Nam như BBC?

Ô. Ngô Quốc Sĩ: So sánh với BBC thì phải nói là khó. Nhưng xin thưa rằng, BBC là của người ngoại quốc, còn Đáp Lời Sông Núi là của người Việt Nam. Hơn nữa, BBC phản ảnh quan điểm của người Anh và nhằm phục vụ quyền lợi chính phủ Anh, trong khi Đáp Lời Sông Núi sẽ phản ảnh quan điểm của người Việt tự do và phục vụ quyền lợi của dân tộc Việt, nên có thể được đón nhận nhiều hơn. Dẫu sao, cũng cần thời gian để quảng bá và thử nghiệm. Điều mong mỏi là mỗi người Việt hải ngoại sẽ đưa tin cho thân bạn bè trong nước về tiếng nói dân chủ này. Những người về du lịch Việt Nam hay thăm nhà cũng có thể nghe đài, rỉ tai giúp phổ biến tiếng nói đấu tranh này.

Ra mắt Đài Phát Thanh Đáp Lời Sông Núi tại Melbourne- Úc Châu.

Linh mục Nguyễn Hữu Lễ phát biểu:
“Tôi đến đây để xin tiền, nhưng không xin tiền để cất nhà thờ, không, tôi không xin tiền cất nhà thờ bởi vì việc cất nhà thờ không quan trọng bằng đưa dân tộc tôi thoát khỏi ách độc tài CS.”

Cô Thuỷ Tiên, một Tiến Sĩ trẻ về ngành dược học, là giáo viên thiện nguyện của trường Việt ngữ Trương Vĩnh Ký, ngoài ra cô còn là một vỏ sư Thiếu Lâm Tự – một người con gái Việt Nam văn vỏ song toàn,vừa có tài và có tâm, mặc dầu cô không biết một tí gì về cây cảnh bonsai nhưng mua đấu giá cây bonsai (do ông bà Nguyễn Thế Thái hiến tặng) với giá $1700.00 để lấy tiền sung vào quỹ .Hoan hô.

Nhưng cảm động nhất là em Bùi Xuân Cường (11 tuổi học lớp 5) đã đem số tiền $200 để góp sức “Đáp Lời Sông Núi”, đó là một số tiền lớn mà em đã dành dụm bao lâu nay – một việc làm thật đáng ca ngợi!

Viễn Đông: Tiếng Việt dung trên các đài phát thanh về Việt Nam phần lớn là ngôn ngữ đang dùng ở Việt Nam. Đài Đáp Lời Sông Núi có theo con đường đó không?

Ô. Ngô Quốc Sĩ: Phải nói đây là một vấn đề rất tế nhị. Chúng tôi được biết, một số chương trình phát thanh Việt Ngữ hướng về Việt Nam, cũng như một số tờ báo và trang mạng đã bị phê bình lên án, vì sử dụng một số ngôn ngữ đang thông dụng tại Việt Nam. Rút kinh nghiệm đó, chúng tôi sẽ rất cẩn thận trong các bài viết, bài đọc cũng như phỏng vấn. Hẳn nhiên, nên tránh những từ ngữ quá dị ứng, nhưng cũng không vì thế mà loại bỏ tất cả. Nhất là có những từ ngữ trước kia chúng ta đã dùng, nay cộng sản dùng lại thì không sao. Nói chung, phải lựa chọn cẩn thận để không quá dị ứng với người Việt hải ngoại nhưng cũng không quá chói tai người Việt trong nước.

Viễn Đông: Hiện nay tình trạng tài chánh của đài Đáp Lời Sông Núi thế nào? Liệu đài có thể tồn tại lâu dài không?

Ô. Ngô Quốc Sĩ: Đây là câu hỏi thực tế nhất và cũng khó trả lời nhất. Xin thưa ngay rằng, đài VOI có chính phủ Mỹ tài trợ. Đài RFI có chính phủ Pháp tài trợ. Đài Á Châu Tự Do RFA cũng nhận tài trợ từ chính phủ Hoa Kỳ. Đài BBC trước đây cũng do chính phủ Anh tài trợ. Còn đài Đáp Lời Sông Núi, trong nhhững ngày đầu chỉ do anh chị em đoàn viên Lực Lượng “rút ruột tang bồng” trang trải chi phí. Chúng tôi cũng rất hoan hỉ đón nhận sự yểm trợ tích cực của một số mạnh thường quân thân hữu. Trong tương lai, khi đã quảng bá rộng rãi, hy vọng sẽ đón nhận được sự trợ giúp của cộng đồng để nuôi dưỡng đài. Như thế, sự tồn tại bao lâu còn tùy thuộc vào khả năng đóng góp của anh chị em đoàn viên, của các mạnh thường quân đứng ra bảo trợ và nhất là của cộng đồng người Việt khắp nơi.

Theo tin từ Việt Vùng Vịnh tại San Francisco, Hoa Kỳ.  Một lần kia trang nhà của đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi bị tấn công (hacked) phá hoại, không thể vào để nghe các buổi phát thanh hoặc đọc các tài liệu. Tuy nhiên Ban Kỹ Thuật của Đài đã cấp thời thiết lập và nối kết Đài vào các địa chỉ sau để thính giả có thể truy cập:

http://www.radiodaploisongnui.com/, và http://www.lldtcntq.org/.

Các buổi phát thanh của Đài cũng được website thân hữu Đối Thoại loan tải, địa chỉ:

http://www.webdoithoai.net/.


Viễn Đông: Theo ông, đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi sẽ cung cấp những điều gì bổ ích cho thính giả Việt Nam?

Ô. Ngô Quốc Sĩ: Hẳn nhiên, với tư cách Giám Đốc đài, chúng tôi hằng mong Đài Phát Thanh Đáp Lời Sông Núi sẽ là món ăn tinh thần cho tất cả những ai còn tha thiết với tiền đồ Tổ Quốc và hạnh phúc của Dân Tộc. Người Việt trong nước sẽ tìm thấy nơi đài Đáp Lời Sông Núi những gì họ muốn biết, họ muốn nghe, để khỏi phải nghe những gì nhà nước cộng sản muốn cho họ nghe, muốn cho họ biết qua chủ trương tuyên truyền của Đảng CS. Điều mong mỏi cấp thiết nhất là tiếng nói đấu tranh của đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi sẽ nhen nhúm những bếp than hồng, đốt lên những ngọn lửa, chuẩn bị cho cơn bão lửa dân chủ tại Việt Nam.

Viễn Đông: Xin cán ơn ông Ngô Quốc Sĩ.

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Theo X-cafe.org

Việt Vùng Vịnh

 Đàn Chim Viêt

 Lyhuong.net

Đài Phát Thanh Đáp Lời Sông Núi

Hỏi Là Trả Lời

Blog Mười Sáu – Rađio