Một Tấm Lòng Vàng – Võ Trang

Bài đọc suy gẫm:  Tấm Lòng Vàng hay “Hai Quê Hương Trong Một Tâm Hồn” của tác giả Võ Trang. Chuyện nói lên sự biết ơn của một người tị nạn cộng sản đối với quê hương thứ hai đồng thời cũng “mang trong lòng một mối “hận” người Mỹ đã bỏ rơi đất nước mình…”.  Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

 

Hai Quê Hương Trong Một Tâm Hồn

Tác giả : Võ Trang

***

Con đường freeway vắng lặng uốn mình về bên phải trước khi đổ vào một vịnh nhỏ xinh xắn. Xa xa, một chiếc tàu sắc vô danh chìm nữa mình trong bể nước cạn… Bremerton, cái thành phố nhỏ và mưa nhiều ở miền cực Bắc của nước Mỹ này là nơi tôi một mình xa nhà đi nhận nhiêm sở lần đầu tiên 23 năm về trước.”Đi bất cứ nơi đâu lúc đất nước đang cần… .” Tôi bật cười với bài hát mang âm điệu lơ lớ này của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản HCM. Thuở ấy tất cả chúng tôi đều phải luôn luôn biểu hiện tinh thần “xung kích” cho đến phút cuối trước khi …  lên tàu!. Nhưng sau khi ra trường ở Mỹ tôi thật sự chấp nhận đi bất cứ nơi đâu vì gia đình đang cần. Một vợ 2 con, sau 2 lần thi thử và không được nhận trở lại trường Y, tôi quyết định nhanh chóng học lại cho được một mảnh bằng 4 năm như là điều kiện tối thiểu cho những loại người không có khiếu thương mại và sống chủ đích vào chút vốn liếng văn hóa…  Từ một sinh viên Y-Khoa dang dở, ra trường là kỹ sư điện, rồi làm việc như một kỹ sư viết software, cuộc đời dạy cho tôi biết mềm dẻo thật sự, biết quí những gì mình còn có chứ không phải theo đuôi để được thăng tiến trong nghề! Cơ quan tôi làm việc nằm dọc theo bờ biển, được thiết lập từ năm 1913 với cái tên rất dài: Naval Undersea Warfare Engineering Station. Những phòng làm việc nhìn thẳng ra đại dương, những căn nhà gạch, xây theo kiến trúc Âu Châu, lẫn mình trong cây lá của cái tiểu bang tự hào bao giờ cũng xanh tươi (Washington State, The Evergreen State) không mang chút không khí chiến tranh nào cả. Bãi cỏ rộng trước cao ốc chính của sở là nơi các loài chim, nhất là loài ngỗng trời nghỉ chân trên đường di trú xuống miền nam vào mùa đông. Tôi để ý đến loài chim này vì tính chung thủy của nó – như một người bạn chỉ cho tôi những con đi lẻ loi trong đàn. Đó là những con mất vợ hay chồng, thường là vì những người đi săn ở đây bắn chết, nhưng chúng sẽ sống như vậy, không tái lập gia đình(“). Vào năm đầu(1986), tôi không thấy người Việt làm cho cơ quan này, và tôi là người Việt-Nam duy nhất trong Department of Data Processing ở đây. Công việc đầu tiên để lại cho tôi những ấn tượng thật đẹp về cái đất nước này. Vị chủ nhiệm bộ môn (Department Head) là người sắp xếp phiên họp hàng tháng. Mỗi lần như thế, ông thường đề cử một nhân viên để thuyết trình về một đề tài nào đó bên cạnh những thành quả của công việc. Có khi là cách thiết lập các trụ chuyển tiếp tín hiệu vô tuyến. Có lần thuyết trình viên nói về những hình dáng qui chiếu của vật thể trong không gian 3 chiều trên mặt phẳng. Có lần vị Division Head của tôi nói về cách chọn ly để uống những loại rượu Vang khác nhau…  Thật thú vị trong một cơ quan chế tạo thủy lôi (Torpedo) cao cấp như thế này lại có những đề tài chẳng dính líu gì đến nghề nghiệp cả.Lần thuyết trình của tôi là đề tài về chính chuyến vượt biên 2 lần của mình. Câu chuyện khá bình thường vẫn làm cho nhiều phụ nữ Mỹ đỏ mắt…  Cái đất nước giàu có và thanh bình này làm cho người Mỹ rất nhạy cảm và giàu lòng nhân ái. Từ đó, tôi hình như được “ưu đãi” trong việc chọn lựa những projects tôi thích, được lấy trước ngày nghỉ (advanced annual leave) để bay về thăm nhà, ít nhất một tháng một lần, vì toàn bộ gia đình tôi vẫn ở lại San Diego sau hơn cả một năm tôi nhận nhiệm sở.Không thuyết phục được mẹ tôi di chuyển lên đây, mọi cố gắng là để trở về với đại gia đình. Gợi ý thuyên chuyển tôi về lại một Detachment ở San Diego của vị Department Head đã nhiều lần bị vị chủ nhiệm dân sự (Technical Director) bác bỏ với lý do đơn giản: “nếu không thích thì tại sao lại nhân việc””. Tôi có dàn xếp để đưa gia đình lên nhưng vợ tôi cuối cùng, sau gần một năm thử thách, cũng phải biểu lộ những nỗi buồn vì cuộc sống vắng lặng và mưa nhiều ở đây. Ngày xưa Huế mưa cũng nhiều nên cá nhân tôi không có khó chịu gì về vấn đề này cả. Về mùa đông, tuyết nhiều khi xuống bất ngờ…  Từ cửa sổ nhìn ra, có khi giống như những đóa hoa trắng xuống từ trời…  rất đẹp! Vị Department Head có gợi ý muốn gặp mẹ tôi để hỏi một câu trực tiếp “tại sao bà không chịu cho tôi làm việc ở đây (“)”Tôi biết là không thể được nhưng vẫn sắp xếp cho họ gặp mặt…  Ngay cả chính tôi cũng không hiểu hết những tâm tình của mẹ mình. Là vợ của một quân nhân muốn theo chồng, mẹ tôi đã theo ba tôi “phiêu bạt” nhiều nơi trên miền Nam Việt-Nam từ thời tôi còn rất nhỏ. Nhưng sau khi ba tôi bị thảm sát thì bà không còn muốn dời đổi cuộc sống nhiều nữa. Bà không bao giờ có ý rời bỏ quê hương – và bây giờ bà không bao giờ muốn trở lại, dù chỉ để du lịch. Nhiều khi tôi đã nghĩ bà chỉ là một cánh hoa Chùm Gửi. Có lẽ những thương tích trong cuộc đời, những mất mát đã khiến bà bảo thủ với cái còn lại và tạo áp lực buộc tôi trở về…  Cuối cùng, trong một buổi lễ phát thưởng cho những cá nhân đã đóng góp tích cực cho ngày Độc-Lập của Hoa Kỳ năm 1988 tôi nói với vị Department Head rằng “Thánh kinh có nói: có gõ thì của sẽ mở. Tại sao tôi đã gõ nhiều lần mà cửa vẫn đóng””. Sau 2 tháng chuẩn bị, dù biết tôi chỉ mới có 2 năm kinh nghiêm, vị Department Head đã gởi tôi về coi việc thiết lập một hệ thống liên lạc bằng Satellite từ San Diego ra quần đảo San Clemente -bằng chính budget của Department để tránh những chống đối của các bộ phận liên hệ khác trong sở- sau khi trang bị cho tôi tất cả những huấn luyện cần thiết và cả một “contract” để giúp tôi khi cần. Ông cũng đã nói chuyện và thỏa thuận với vị chủ nhiệm ở San Diego để thu nhận tôi sau một năm chứng tỏ khả năng. Tất cả được chuẩn bị cho một chuyến đi không trở lại cũng như chỉ để ông mất một nhân viên sau khi đã tốn nhiều công sức đào tạo! Tôi có thể tìm ở đâu một tấm lòng vàng như thế này” Một năm sau, tôi chính thức trở thành nhân viên cơ hữu ở San Diego. Toàn bộ số tiền trợ cấp ăn, ở cho công tác, dù tôi có trình với Department là tôi ở với gia đình, đã giúp rất nhiều trong việc đặt cọc mua một căn nhà nhỏ ở San Diego, đánh dấu bước đầu định cư vững chắc nhờ những mối tình người vô vụ lợi khó quên… Tuy may mắn được làm lại cuộc đời trên đất nước này, tôi vẫn thường mang trong lòng một mối “hận” người Mỹ đã bỏ rơi đất nước mình, đưa đến bao thảm cảnh cho cả triệu người vượt biển. Thỉnh thoảng lời phát biểu của vị cựu Tổng Thống Mỹ Gerald Ford vẫn dội lại trong tôi một tiềm thức mà tôi cố quên…  “chúng ta không thể thắng một cuộc chiến đã qua rồi (we cannot win a war which is over)”, một ngày trước khi vị Tổng Thống VNCH chính thức đầu hàng. Nói theo kiểu nhà văn Nguyễn Ngọc Ngạn thì đây là loại văn chương …  “huề tiền”. Nhưng cái nhức nhối của câu nói đối với tôi là chữ “chúng ta”. Chúng ta là ai” – ở đây hiển nhiên là nước Mỹ, và đây là cuộc chiến của người Mỹ và miền Bắc Việt-Nam” Trong bài diễn văn đọc tại Đại-Hội đảng Cộng-Hòa, để yểm trợ cho ứng cử viên Tổng Thống Bush (cha), cựu Tổng Thống Mỹ Reagan có nói: “Tôi cứ nghe những người (trong đảng) Dân Chủ nói rằng chúng ta phải làm như thế này, như thế nọ…  mà tự hỏi chúng ta là ai””Sự tương tranh trong suy nghĩ để lại mặc cảm “mình ăn cơm của người mà lại phụ người”. Có lần nói chuyện về cuộc chiến vùng vịnh và những sắp đặt để làm lý do cho cuộc tiến quân, tôi đã cho rằng dù đó là sự thật thì những người Mỹ như ông Perot (một ứng cử viên độc lập) cũng không nên công khai chỉ trích như thế trên đài truyền hình. Nhưng vị chủ nhiệm của tôi đã nghe không rõ và nhạo báng câu nói của tôi với một đồng nghiệp khác rằng… “hắn ta nói đó không phải là những sắp đặt, thật vậy sao”” Câu nói của ông ta cũng như những tranh luận công khai đã giúp đánh tan mặc cảm từ lâu tôi giữ trong lòng. Ông ta là người Mỹ 100% nhưng không nhất thiết lúc nào cũng phải “tung hô” những quyết định của vị lãnh đạo mình. Thế thì một người Mỹ nhập tịch như tôi tại sao phải chấp nhận những sự kiện một cách mù quáng” – Đó là tự do, đó là cái đẹp của xứ sở này mà lẽ ra tôi phải học từ lâu. Trong chế độ độc tài, “nhất trí” là sức mạnh, là sự an toàn cho tập đoàn lãnh đạo, và nếu cần thì sẽ dùng bạo lực để buộc người ta tin về cái chính nghĩa của mình. Ngược lại, trong xứ sở tự do, người ta chấp nhận đối lập như là một nhân tố của phát triển. Có lần tôi nghe một bài thuyết giảng về lòng tự tin mà thỉnh thoảng vẫn suy nghĩ hoài…  “một con chó nhe răng, sủa bạo thật ra là vì sợ hãi””Trong khi lý thuyết về cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội loài người tất yếu dẫn đến Chủ Nghĩa Cộng Sản đã không còn thuyết phục được ai thì bên kia bờ đại dương, quê hương khốn khổ của tôi vẫn ì ạch tiến lên thiên đường ảo tưởng này.

Sau hơn 30 năm phát triển Chủ Nghĩa Xã Hội, khoảng cách tiến bộ so với các nước trong vùng cũng như trên toàn thế giới ngày càng xa. Cái độ dốc (tangent) của đường biểu diễn về tốc độ phát triển của Xã Hội Chủ Nghĩa khi so với Tư Bản, cái phương trình toán học bậc nhất mà các Lý Thuyết Gia Cộng Sản Việt-Nam tự đặt lấy hệ số đã được chứng minh bằng sự chênh lệch một trời một vực giữa mức sống của tầng lớp lãnh đạo ăn trên ngồi trước đại diện cho giai cấp Công Nhân của họ với lợi tức trung bình 3 đồng Mỹ Kim một ngày. Người ta cứ tiếp tục vỗ về chính mình về những thành tựu khi so sánh với các nước nghèo đói ở Phi Châu, độc tài ở Nepal…  có cần tiếp tục phát triển như thế đến 4, 5 chục năm nữa như ở Liên Sô để tự phát giác rằng “it dosen’t work!””… 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Để thuyết phục dân chúng chấp nhận sự mặc nhiên cai trị của họ, những người lãnh đạo cộng sản khuyên nhủ người dân nên quên đi quá khứ mà hướng về tương lai của một quê hương giàu mạnh nhưng không quên mở một dấu ngoặc quê hương phải gắn liền với Chủ Nghĩa Xã Hội cũng như phát triển một nền Kinh Tế Thị Trường nhưng phải định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa(“). Nếu thật sự “để hướng về tương lai” thì người ta không nên mãi sống với quá khứ “oai hùng” – vì sự thành tựu trong quá khứ không phải lúc nào cũng là nền tảng cho tương lai, khi mà những yêu cầu phát triển đã đòi hỏi phải thay đổi. Dù đã dành tất cả công lao về phần mình thì trận Đại Thắng Mùa Xuân cũng không còn giúp gì được cho giới lãnh đạo CSVN trong việc phát triển quê hương ngày nay nữa, nếu không nói là cái giá phải trả có khi còn tệ hại hơn cả cái cái thu hoạch, như giờ đây lịch sử đã cho người ta có đủ dữ kiện để phê phán. Ở đây, trong hào quang chiến thắng vùng Vịnh – và dù người dân Mỹ vẫn coi Tổng Thống Bush (cha) như một anh hùng, họ vẫn không chấp nhận cho ông tại chức thêm một nhiệm kỳ nữa, vì ông đã từ chối thay đổi – như trong một lời tuyên bố “bất cẩn” về cơn sốt của nền kinh tế Hoa Kỳ vào lúc bấy giờ: “There is nothing wrong with that!”. Ở Việt-Nam, những người lãnh đạo khó lãnh hội được tinh thần dân chủ như thế này để cho phép người dân có quyền bầu cử trực tiếp cấp lãnh đạo của mình. Trong một chế độ mà bạo lực là lý lẽ cuối cùng thì thật là khó để giải thích được cái tính đại hùng đại lực của lòng từ bi… Giờ đây, những người lãnh đạo Việt-Nam có thể yên tâm hơn với niềm tin rằng sẽ không có một cuộc cách mạng đẫm máu nào có thể xảy ra để lật đổ họ được nữa, ngoại trừ những cuộc chiến với chính những người “anh em” XHCN của mình. Nhưng có lẻ họ không hiểu rằng trong lịch sử phát triển của loài người, những phù phiếm ngôn ngữ, những vai trò lãnh đạo rồi cũng chỉ là thoáng chốc – và có thể là không mấy hãnh diện cũng như khi con người nhìn lại cả ngàn năm của chế độ nô lệ, phong kiến – và cả mấy trăm năm của chế độ thuộc địa, đế quốc! 

 

Thấm thoát gần 30 năm đã trôi qua, kể từ ngày tôi mang danh hiệu thuyền nhân. Một số rất ít những người tôi có dịp gặp và biết đã cố quên đi quá khứ này để chỉ nhận mình là một người Mỹ gốc Việt hay gốc Á Châu…  Nhưng ngay cả những đứa con, cháu theo tôi vượt biên ngày xưa hầu như đều có một khái niệm mơ hồ về cái quê huơng này. Có lẽ quê hương không phải là những lý luận mà là một phần đời – cái mà chúng nó không có. Có người trở về du lịch Việt-Nam để thấy quê hương là những bãi biển dài thoải mái, là những nhà hàng sang trọng có thiếu nữ sắp hàng đứng chào từ ngoài đường vào, là những vũ trường với âm thanh và ánh sáng tiêu chuẩn quốc tế ăn chơi. Có người đến Việt-Nam để bắt đầu xây dựng những công trình nhân đạo từ những đứa trẻ lạc loài bên cạnh những đống rác thành phố… Ở tại đây, trong một xã hội có tiếu chuẩn vật chất rất cao, trong một quốc gia mà quyền tự do ngôn luận là quyền tối thượng trong những quyền căn bản của con người cũng không phải là không có tệ nạn. Phải chăng lich sử loài người không dành đặc biệt cho một dân tộc nào cả”Tôi nghe đức Đạt Lai Lạt Ma có lần giảng rằng con người trước khi đến cái riêng thì phải có cái chung chẳng hạn như “trước khi là người Tây Tạng thì tôi phải là một con người… “” Tôi thà chọn là một con người không biên giới – và cám ơn cái xứ sở này đã dành cho những người như chúng tôi tất cả sự tự do và tôn trọng nhân phẩm.

 

VÕ TRANG

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

 

Links:

 

VB- Viết Về Nước Mỹ

Advertisements

Mượn Ảo, Đánh Thật – Trúc Giang

Bài đọc suy gẫm:  Mượn Ảo, Đánh Thật hay “Có phải là nội công ngoại kích?” của tác giả Trúc Giang.

Hình ảnh minh họa:  Cuộc biểu tình phản đối nhật báo Người Việt đăng bài nhục mạ, phỉ báng quân dân cán chính VNCH. do Thiếu Tá Liên Thành, cựu trưởng ty Cảnh Sát Quốc Gia – Huế, nguyên Chủ Tịch Ủy Ban Truy Tầm Tội Ác Cộng Sản (UBTTTACS) tổ chức trước khuôn viên đối diện báo Người Việt (NV). Hình ảnh do Khối Kỹ Thuật UBTTTACS cung cấp.

Trúc Giang-Có phải là nội công ngoại kích?

Trúc Giang

Có phải là nội công ngoại kích?


1* Mở bài

Nội công ngoại kích là hợp đồng tác chiến từ trong đánh ra, từ ngoài đánh vào, nhịp nhàng hỗ trợ nhau, cùng một mục đích, một mặt trận.

Mặt trận hiện tại là cả bên trong và bên ngoài Việt Nam, đều không ngừng chống độc tài để cho có một nước Việt Nam dân chủ, tự do theo tiêu chuẩn thực sự của quốc tế, chớ không phải bằng những khẩu hiệu trống rổng, lừa bịp như từ trước đến hiện nay.
Đã hơn 37 năm qua, người Việt tỵ nạn CS vẫn kiên trì đấu tranh chống chế độ độc tài CSVN. Việt Cộng trong nước nhức nhối, phản công bằng Nghị Quyết 36, do những tên tay sai nằm vùng, lợi dụng các thứ tự do để công khai và hợp pháp thực hiện.

2* Báo Người Việt: đánh nhà văn Trần Mạnh Hảo trong nước

Báo Người Việt Online đã đánh nhà văn bất đồng chính kiến trong nước là Trần Mạnh Hảo.

Trích lời phát biểu của Trần Mạnh Hảo:

“Báo Người Việt “ của Đỗ Ngọc Yến không công bằng với chúng tôi ( TMH). Bằng chứng là, ngày 9-5-2005, mở mạng Internet, vào mục “Diễn Đàn” của báo điện tử “Người Việt –online”, có in bài : “Chân tướng Trần Mạnh Hảo” của Nguyễn Thái Lai ( kẻ ngụy danh trong nước “?”). Bài báo vô cớ bịa chuyện bôi nhọ danh dự của chúng tôi này được “Người Việt online” in làm 2 kỳ với đường ‘link’ sau :

http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=23366&z=12

2.1. Vài nét về Trần Mạnh Hảo

Trần Mạnh Hảo là nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình chuyên nghiệp trong nước. Sinh năm 1947 tại Nam Định. Năm 14 tuổi đã có thơ đăng báo, thuộc gia đình Thiên Chúa Giáo. Đã từng là đảng viên CSVN. Năm 1989, khi viết cuốn “Ly Thân” thì bị khai trừ ra khỏi đảng. Được hội viên bầu vào Hội Nhà Văn VN. Từ 1974 đến 2004, đã xuất bản 15 tập thơ, 4 tiểu thuyết, 5 tập lý luận và phê bình văn học, 3 tập chuyện thiếu nhi.

2.1.1. Góp ý với Đảng nên bị đánh tơi bời

Trước Đại Hội X của Đảng CSVN, vì muốn chứng tỏ ra có tinh thần dân chủ, đảng kêu gọi người dân góp ý về Dự Thảo Báo Cáo Chính Trị sẽ đọc ở Đại Hội, và Trần Mạnh Hảo đã viết 2 bài góp ý. Vì lời lẻ thẳng thắn, nói sự thật, làm mất lòng đảng, nên bị trù dập, khủng bố dưới nhiều hình thức từ tinh thần đến vật chất. Bị Hội Nhà Văn trục xuất, nhà nước bao vây kinh tế. Nhiều tờ báo cùng nhau mở chiến dịch đấu tố, nhiều người gọi phone chửi bới, đe dọa…

Tóm tắt những điểm chính của hai bản góp ý như sau:
“Khi đảng còn độc quyền chân lý thì mọi góp ý đều hoá trò đùa, vô ích”.

1. Bản Dự Thảo Báo Cáo còn nhiều chỗ sai tiếng Việt. Câu văn lộn xộn, lủng củng đại tối nghĩa, thiếu mệnh đề, do trình độ kém của người viết. Vì viết sai nên biến đảng trở thành phản động vì chống lại nguyên tắc khách quan

2. Bản Dự Thảo còn nhiều chỗ thiếu trung thực, tổng cộng có 8 cái thiếu trung thực được chứng minh. Bản Dự Thảo có 3 cái sai trầm trọng: sai về chủ nghĩa Mác Lênin, sai chủ nghĩa Mác. Bản Dự thảo Báo cáo chống lại Hiến Pháp.

3. Nói chung là CNCS là cái sai trầm trọng. Khi đảng độc quyền chân lý, thì mọi góp ý chỉ là lừa bịp, bởi vì không được trả lời, mà bị ném vào sọt rác, rồi lại trù dập người góp ý dám nói thật và thẳng thắn.

2.1.2. Trần Mạnh Hảo ký tên vào Bản Tuyên Ngôn Dân Chủ năm 2006

Trích một phần trong Bản Tuyên Ngôn: “Bất hạnh thay, là cho đến nay mà dân tộc VN còn bị cai trị bởi chế độ toàn trị CS. Bởi thế, hư hỏng lương tâm, tồi tệ nhân cách, bế tắc giáo dục, gian dối thông tin, tùy tiện luật pháp, hỗn loạn xã hội, cán bộ lộng quyền, tham nhũng”. (ngưng trích)

Chửi đảng như thế nên bị trù dập, cô lập, khủng bố. Một chiến dịch đấu tố được báo chí trong nước và báo tay sai ngoài nước đánh phá.

2.2. Trần Mạnh Hảo tố cáo báo Người Việt bịa 14 chuyện bôi nhọ danh dự

Dưới tựa đề “Chân Tướng Trần Mạnh Hảo” của tác giả Nguyễn Thái Lai nào đó, trên mục “Diễn Đàn” của báo Người Việt Online ngày 9-5-2005, đã bịa ra 14 chuyện bôi nhọ danh dự Trần Mạnh Hảo.

Trần Mạnh Hảo viết bài trả lời yêu cầu báo Người Việt đăng tải để làm sáng tỏ vấn đề, xin trích nguyên văn như sau:

“Chúng tôi còn có thể kể ra đây cả chục điều bịa đặt khác của ông Nguyễn Thái Lai nào đó. Một người đàng hoàng, tử tế, dám đương đầu với sự thật và lẽ phải, thì sao lại phải “đổi tên” đi mà viết cái “thư nặc danh” dài dòng nhằm bịa chuyện nói xấu người khác như thế ? , Nguyễn Thái Lai như con dơi sợ ánh ngày, đã tìm được một góc xa là báo ‘Người Việt online” hải ngoại, để vu vạ bôi nhọ người khác.

Chúng tôi đã viết bài trả lời báo “Người Việt online” và Nguyễn Thái Lai, với tiêu đề : “ KHI BÁO “NGƯỜI VIỆT ONLINE” DÙNG MỘT “NGƯỜI ẢO” ĐỂ ĐÁNH MỘT NGƯỜI THẬT : NGUYỄN THÁI LAI, ÔNG LÀ AI? SAO LẠI NÚP VÀO XÓ TỐI ĐỂ NÉM ĐÁ GIẤU TAY THẾ ?”. Ngày14-5-2005, chúng tôi đã gửi bài viết này tới tòa soạn báo “Người Việt online” theo hai email sau : news và nvonline đề nghị đăng tải để rộng đường dư luận theo luật báo chí của các tờ “báo văn minh”. Thư và bài của chúng tôi gửi, toà soạn NV online đã nhận được, vì nếu không nhận được hay sai địa chỉ, đường truyền internet sẽ hiển thị ngay. Ngay sau khi nhận được bài trả lời của chúng tôi, toà soạn NV online ngay lập tức, xóa hết bài của Nguyễn Thái Lai đang nằm trên mục “Diễn đàn” theo kiểu xóa dấu vết, xóa vật chứng, xóa hiện trường, tạo hiện trường giả kiểu : làm gì có bài Nguyễn Thái Lai trên tờ báo của chúng tôi. Đây là hành vi không trung thực của Người Việt online. Hàng chục bạn bè của chúng tôi trên thế giới đã email bài báo đăng 2 kỳ trên “NV online” của Nguyễn Thái Lai về cho chúng tôi. Và trang web : VĂN HOÁ & GIÁO DỤC của anh Trần Hữu Dũng đã “post” bài của Nguyễn Thái Lai trên “NV online” lên trang nhà để rộng đường dư luận.

Đợi 4 ngày không thấy “NV online” hồi âm, chúng tôi lại viết một thư khác và gửi tiếp bài báo của mình tới toà soạn “NV online”, nhưng cho tới nay vẫn không nhận được hồi âm, làm như báo “Người Việt” của Đỗ Ngọc Yến đã bị sóng thần cuốn mất ra biển vậy !

Chúng tôi đành phải nhờ trang web : www.giaodiem.com ‘post’ bài trả lời Nguyễn Thái Lai và “NV online” của chúng tôi lên mạng “Phật giáo & Dân tộc” này.

Xin quý độc giả có thể xem bài trả lời của chúng tôi khi vào mạng Giao Điểm, với đường ‘link’ như sau :

http://www.giaodiem.com/mluc/mluc/_III05/505_tmh_nviet.htm .

Các trang web Văn hoá & Giáo dục của anh Trần Hữu Dũng, trang web ‘Trái tim Việt Nam-online” …đã nối mạng bài báo trả lời tờ “NV online” của chúng tôi, nhưng dứt khoát ông Đỗ Ngọc Yến và đồng bọn vẫn cứ im như thóc theo bài “ngậm miệng ăn tiền”.

Nhiều bạn bè trong nước và hải ngoại viết thư về chia sẻ với chúng tôi, đều nhất nhất lên án tờ “Người Việt online” của Đỗ Ngọc Yến-Đỗ Tăng Bí là tờ báo “mọi rợ”, thậm chí có vị còn gọi nó là tờ báo “lưu manh”, chuyên hò hét đòi tự do báo chí trong nước nhưng chính mình lại là tờ báo xâm phạm tự do báo chí nhất. Rồi bạn bè, có nhiều vị là luật sư trong và ngoài nước khuyên tôi nên kiện tờ “Người Việt online” của Đỗ Ngọc Yến ra toà về tội vô cớ bôi nhọ danh dự người khác một cách “dối trá, bịp bợm”. Các vị luật sư bạn bè này nói họ sẽ giúp TMH tối đa. Chúng tôi đang cân nhắc xem có nên kiện ông Đỗ Ngọc Yến ra toà hay không ? Nhưng nhiều bạn trong nước khuyên, khi ông đang mặc áo quần trắng muốt, vô ý đi qua một con trâu lấm bùn, đuôi trâu quệt vào làm áo ông lấm hết, ông có quay lại cãi nhau hay đòi đi kiện con trâu hay không ? Thôi, cầm bằng như vụ Nguyễn Thái Lai- NV online là chuyện xui của TMH, cũng giống như ông vừa đi qua một “con trâu lấm bùn” vậy, lấm hết áo quần xong thì giặt đi, đối thoại với “trâu bò” mà làm gì …

Nay chúng tôi viết bài báo này nhằm :

Cực lực lên án ông Đỗ Ngọc Yến đã dùng tờ “Người Việt online” làm sân chơi cho Nguyễn Thái Lai vô cớ bôi nhọ danh dự của chúng tôi.

Tố cáo trước dư luận trong và ngoài nước, rằng : nhật báo Người Việt của Đỗ Ngọc Yến là tờ báo không đàng hoàng tử tế, không cho một người bị hại, bị bôi nhọ vu cáo trên chính tờ “NV online” là chúng tôi được trả lời. Từ đó, có thể kết luận, đây là một “tờ báo dối trá” và “chống lại tự do ngôn luận”.

Chúng tôi một lần nữa, đề nghị ông Đỗ Ngọc Yến và toà soạn nhật báo NGƯỜI VIỆT+NGƯỜI VIỆT ONLINE” phải có lời xin lỗi chúng tôi trên báo của quý vị, và đăng bài trả lời Nguyễn Thái Lai của chúng tôi lên chính tờ báo quý vị đã dùng kẻ nặc danh này để bôi nhọ chúng tôi.

Sài Gòn chủ nhật 5-6-2005” (hết trích)

Báo Người Việt đã “sơ xuất” và bị chửi nặng nề tơi bời hoa lá, nhưng vẫn tiếp tục con đường “sơ xuất” đều đều. Hết chối cãi và ngụy biện được nữa. Đã hứa, rồi lại hứa, nên chả ai tin.

Thiếu Tá CSQG Liên Thành phát biểu.  Hình dưới:  Một người tị nạn cs. đến từ Paris- France chia sẻ tuy ở xa nhưng cũng biết về tờ báo NV tại California- Hoa Kỳ đã nhiều lần xin lỗi cộng đồng.

3* Báo Người Việt phỉ báng và nhục mạ Việt Nam Cộng Hoà

Từ việc triển lãm lăng Hồ Chí Minh, đến mạ lỵ lá cờ VNCH bị chà đạp trong cái chậu nước dơ, rồi “VNCH là bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ”. Đó là tấn công nội bộ người tỵ nạn ở Hoa Kỳ.

Nhưng thâm sâu và ác hiểm không lường là “ngoại kích”, tức là từ ngoài đánh vào. Vậy đánh ai trong nước? VC trong nước đang có phong trào đánh phá, bắt bớ giam cầm những người Công giáo, chiếm đất nhà thờ, đập gãy tay tượng Đức Mẹ, đánh gãy cổ Chúa Giê Su. Thì tờ Người Việt tung tin, các Linh Mục Công giáo được Pháp huấn luyện làm gián điệp cho Pháp, rồi Pháp chuyền lại cho VNCH, và VNCH lại chuyển một số cho CIA.

Trong ngoài hợp đồng tác chiến nhuần nhuyễn có bài bản, mà LS Nguyễn Xuân Nghĩa kết luận là nó nằm trong sách lược của VC trong nước. Thật không sai chút nào.

Đề nghị quý vị binh vực cho báo Người Việt nhìn lại toàn bộ, trước sau, của báo Người Việt để biết rõ hơn về tờ báo nầy.

4* Những người binh vực cho tờ báo Người Việt

Thông qua báo chí và những bản tin, thì những người binh vực cho tờ báo Người Việt trong việc nhục mạ “VNCH là bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ”, được ghi nhận như sau: nhà báo tự do Bùi Văn Phú, cựu dân biểu, cựu bộ trưởng Võ Long Triều, LS Đỗ Thái Nhiên, và nhà báo Trần Đông Đức, chủ bút tờ Người Việt Đông Bắc.

2.1. Binh vực của nhà báo tự do Bùi Văn Phú

Bùi Văn Phú cho rằng tờ báo Người Việt đã làm đúng chức năng của mình, nhưng vì sợ biểu tình nên phải xin lỗi.

Trích nguyên văn như sau:

“Là một tờ báo lớn (Người Việt) đã làm đúng chức năng thông tin khi cho những quan điểm trái nghịch được thể hiện”.

Ông Bùi Văn Phú cho rằng: “Trong nền dân chủ pháp trị, tự do báo chí không thể giới hạn. Việc đưa ra những quan điểm trái nghịch nhau là phản ảnh sinh hoạt tự do báo chí trong một xã hội dân chủ. Việc báo Người Việt đuổi nhân viên, cho thấy, không vững tin và can đảm trong việc thể hiện quyền tự do báo chí” (ngưng trích) . Tóm lại, báo NV sợ biểu tình.

Nhận xét.

Qua những câu trích trên, có thể hiểu Bùi Văn Phú cho rằng, những hành vi của báo NV, từ việc đăng bài thơ ca ngợi các lãnh tụ VC, đến hình cái chậu rửa chân có hình lá cờ VNCH, cho đến việc mạ lỵ “VNCH là bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ”, đó là những ý kiến trái nghịch phải được tôn trọng.

Đã có nhiều phản biện chống lại quan điểm của Bùi Văn Phú, chứng minh báo NV đã lạm dụng tự do chống lại cộng đồng mà tờ báo đã và đang sống bằng những đồng tiền của cộng đồng.

2.2. Binh vực của ông Võ Long Triều

Ông Võ Long Triều, cựu dân biểu, cựu bộ trưởng VNCH, đã xác nhận báo NV đã tuyên truyền cho VC, như sau : “Tiếc thay, ngày nay chính người bạn đó (chỉ Vũ Quí Hạo Nhiên) tự ý tròng cái “mủ tai bèo” Cộng Sản vào đầu báo Người Việt”. Ông Triều chỉ trích: “Chính ông Đỗ Quý Toàn, bút hiệu Ngô Nhân Dụng, bao che cho người bạn của anh ta”. Thế nhưng, Võ Long Triều binh vực cho Đỗ Ngọc Yến và Phan Huy Đạt như sau: “Tôi buồn vì thấy ba lần báo NV vấp phải cùng một lỗi lầm cực kỳ nghiêm trọng, khiến cho tôi có cảm giác các anh phản bội chính mình, phản bội “chủ trương mà Đỗ Ngọc Yến luôn luôn tâm sự, bàn thảo với tôi, ngay cả những ngày cuối cùng khi anh còn tĩnh táo, là “đấu tranh xoá bỏ chế độ Cộng Sản”.

“Những người đó, tôi “không gọi họ là nằm vùng”, tôi “không nói họ bị cộng sản mua chuộc”, mà tôi chắc chắn rằng tư tưởng gọi là “thức thời” hay “thiên tả” của họ, có mục đích làm lợi cho Cộng Sản”.

“Tôi xem anh (Phan Huy Đạt) là người bạn thừa hiểu biết, nhưng vì quá tế nhị, nể nang bạn bè, nên phải gánh chịu búa rìu dư luận một cách đáng tiếc”.

Tóm lại, Võ Long Triều cho rằng Đỗ Ngọc Yến chủ trương “đấu tranh xoá bỏ chế độ CS” qua những lời tâm sự của ông Yến. Và Phan Huy Đạt là người quá tế nhị, nể nang bạn bè, chớ không có chủ trương tuyên truyền cho VC để đánh phá, hạ nhục VNCH. Và những người “vi phạm” không phải là nằm vùng, không phải bị mua chuộc, mà do ý thức “thức thời” và “thiên tả”.

2.3. Binh vực của LS Đỗ Thái Nhiên

– “Ban Biên Tập báo NV gồm những cây bút thượng thặng, chuyên nghiệp, dồi dào kinh nghiệm làm báo.

– Báo NV không hề vi phạm luật pháp.

– Người phụ trách đã “hiểu sai” ý nghĩa của đa nguyên trong chế độ dân chủ đa nguyên”.

3* Những cái sai của Trần Đông Đức trong bản Kiến Nghị

1. Cái sai thứ 1 của Trần Đông Đức

Trần Đông Đức cho rằng việc làm của Vũ Quí Hạo Nhiên (VQHN) là do “sơ xuất”. Sơ xuất có nghĩa là thiếu cẩn thận, nên để xảy ra điều đáng tiếc.

Binh vực việc nhục mạ VNCH do “sơ xuất” là sai.

Trích nguyên văn cái sai:

“Mấy hôm nay, chuyện ký giả Vũ Quí Hạo Nhiên của báo Người Việt, vì bị “sơ xuất” trong vấn đề biên tập mà bị mất chức và mất việc” (TĐĐ)

Cho rằng do “sơ xuất” là sai, vì đây không phải là lần đầu tiên mà VQHN tuyên truyền đánh phá và nhục mạ VNCH. Lần thứ nhất là lá cờ VNCH trong cái chậu rửa chân. Lần thứ hai là mạ lỵ VNCH bằng cụm từ “VNCH là bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ”. Chính Võ Long Triều cũng xác nhận “chính người bạn đó đã tự ý tròng “cái mủ tai bèo Cộng Sản” vào đầu tờ NV”

Lời binh vực trắng trợn nầy hoàn toàn sai, bởi vì, đó là những cây viết thượng thặng, chuyên nghiệp, dồi dào kinh nghiệm báo chí, mà “sơ xuất” nhiều lần cùng một mục đích đánh phá và mạ lỵ VNCH. Không phải sơ xuất nhỏ, mà là sơ xuất động trời, khiến cho bị đuổi việc.

Nhiều lần “sơ xuất” chỉ có một mục đích phỉ báng và mạ lỵ VNCH.

Phỉ báng. (Libel) Là những phát biểu bêu xấu, nhục mạ có thể trông thấy được dưới hình thức văn bản, ấn loát, hình ảnh, phim ảnh.

Mạ lỵ (Slander) Là những lời lẻ bêu xấu, nhục mạ, đã phát ra từ cửa miệng có người nghe được. Phỉ báng và mạ lỵ là tình trạng lạm dụng quyền tự do ngôn luận.

Qua hai định nghĩa trên, báo NV đã lạm dụng quyền tự do ngôn luận, là một điều không lương thiện, thường gọi là bất lương.

2. Cái sai thứ 2 của Trần Đông Đức

Binh vực. Cho rằng dụng ý đưa cái chậu có lá cờ VNCH vào báo Xuân năm 2008 là hoàn toàn lương thiện.

Trích cái sai:

“Dụng ý của anh hoàn toàn lương thiện khi biên tập bài nầy”.

Cái sai rõ ràng nằm ở chỗ dụng ý “lương thiện”. Hình như chỉ có một mình Trần Đông Đức cho rằng đó là có ý lương thiện. Nếu cho nó là lương thiện thì tại sao không để hình của Hồ Chí Minh vào cái bàn cầu chứa cứt? Và khi làm như vậy, thì bọn VC có cho là lương thiện hay không?  Lời binh vực nầy quá trơ trẽn.

Nói về ý nghĩa, một người VN tỵ nạn CS, hoặc một tờ báo, treo cờ VNCH trước toà soạn, trương biểu ngữ “đấu tranh xoá bỏ chế độ độc tài Cộng Sản”, sống nhờ vào những đồng tiền của người tỵ nạn, tuyên bố “Chúng tôi tiếp tục cùng toàn thể đồng bào, đấu tranh xoá bỏ chế độ Cộng Sản độc tài, xây dựng một nước VN dân chủ tự do” (Trích trong lá thư xin lỗi ngày 12-7-2012).

3. Cái sai thứ 3 và 4 của Trần Đông Đức

Cái sai nằm ở chỗ, cho rằng việc đăng lại tấm, hình là phổ biến rộng rãi “bức hình ô nhục”.

Trích cái sai:

“Nếu nói “loại hình nghệ thuật đó” là một sự xúc phạm về mặt hình ảnh của quốc kỳ VNCH, thì chính những người phản đối, đã in lại, in to, phóng lên, tô đồ, rồi trưng bày nơi công chúng, để cho “bức ảnh ô nhục” nầy được thêm phần phổ biến, thì chính những người biểu tình phản đối, đã chà đạp hình ảnh lá cờ VNCH nhiều hơn. Ví dụ. Khi ra đường nghe ai chửi tới bố mẹ mình bằng lời lẻ nặng nề tục tĩu, thì không ai lại dùng nguyên văn từ ngữ đó để nói đi nói lại nhiều lần bao giờ.” (ngưng trích)

Cái sai thứ 3 của Trần Đông Đức

Cái sai là, bức hình cái chậu rửa chân không thuộc loại hình nghệ thuật nào cả. Không có giá trị nghệ thuật và không có một chút xíu sáng tạo nào. Cái chậu kiểu đó, bây giờ đã lỗi thời, không còn ai xử dụng cả.

Đó là lấy tấm hình mà nhà sản xuất cái chậu đã in vào tờ hướng dẫn xử dụng, vẽ thêm 3 sọc đỏ, thời gian không quá 1 giờ. Hình trong tấm giấy hướng dẫn dụng cụ thương mại, không thuộc loại hình nghệ thuật nào cả.

Bà Dược sĩ Trần Thị Hồng Sương, đại biểu QH Việt Cộng ở đơn vị Cần Thơ, nêu nhận xét, tấm hình không có giá trị nghệ thuật nào cả. Ông Tổng thư ký tờ Việt Báo, một người có nhiều khả năng làm thơ, viết văn, thưởng thức và phê bình nghệ thuật cho rằng: “Tiểu phẩm chậu rửa chân có hình cờ vàng 3 sọc đỏ đó, chính là một ý tưởng ngầm, một thái độ, và thực ra, không có gì là nghệ thuật cả.”

Trong hàng chục, hàng trăm ngàn cái chậu do nhà sản xuất bán ra thị trường nghề nail, đã có hàng trăm ngàn tấm hình như thế, chỉ khác là, không có hình tượng trưng lá cờ VNCH mà thôi.

Cái sai thứ 4 của Trần Đông Đức:

Là những người phản đối đã chà đạp lá cờ VNCH khi cho in lại và phổ biến nó rộng rãi.

Trước hết, chính báo Người Việt đưa hình cái chậu rửa chân vào báo Xuân Mậu Tý 2008 để phổ biến rộng rãi là chà đạp lá cờ VNCH.

Cộng đồng tỵ nạn đã in ra, phổ biến tấm hình là nêu bằng chứng để cáo buộc, “nói có sách mách có chứng” để kẻ gian hết đường chối cãi. Trên thực tế, tấm hình được phổ biến đã có tác động mạnh mẽ, đã gây được sự phẩn nộ trong cộng đồng người Việt tỵ nạn, nên đã có biểu tình bày tỏ lập trường và phản đối.

Tác động rộng lớn hơn nữa là những phong trào “bảo vệ Cờ Vàng” ra đời, và Cờ Vàng đã được chính quyền nhiều tiểu bang, thành phố Hoa Kỳ, công nhận là biểu tượng của chính nghĩa trong công cuộc đấu tranh chống độc tài CộngSản trong nước và bọn tay sai ở ngoài nước.

Như vậy, lý luận của Trần Đông Đức thật sự là sai.

Trường hợp cho rằng cha mẹ bị chửi tục tĩu thì người con không nhắc lại nguyên văn những lời lẻ tục tĩu chỉ đúng một phần nhỏ trong chỗ riêng tư của cá nhân trong gia đình, nhưng về mặt công khai và luật pháp, thì cơ quan điều tra và toà án luôn luôn dùng những lời lẻ thật sự để xét xử và kết tội mạ lỵ, báo chí và cơ quan truyền thông khác cũng phải nêu rõ ràng chứng cớ.  Ví dụ nầy trật lất.

4. Cái sai thứ 5 của Trần Đông Đức:

Cho rằng những người phản đối đã xúc phạm những người làm nail.

Trích cái sai: “Về góc cạnh hiện thực xã hội, những người phản đối cũng quên đi một tâm lý quan trọng của rất nhiều người đang sống bằng “nghề móng tay, móng chân”. Nếu coi đó là một “dụng cụ hạ đẳng” thì tự thân người biểu tình đã xúc phạm biết bao nhiêu tầng lớp, bao nhiêu gia đình con em VN trong cộng đồng. Nếu tôi làm nghề móng tay thì nghe đến những câu mang tính chà đạp thân phận như thế thì trái tim và lòng tự tôn của tôi cũng khổ sở như những nhát dao đâm”.(ngưng trích)

Những câu tả oán có vẻ văn chương nhưng trật lất. Trật ở chỗ, không ai coi cái chậu là dụng cụ hạ đẳng cả. Người ta chỉ phản đối tấm hình có cờ vàng trong cái chậu mà thôi. Thử hỏi, có tiệm Nail nào xử dụng cái chậu có cờ vàng trong đó hay không? Do đó, Cờ Vàng không có ăn nhậu gì tới tiệm Nail cả.

Không có ai coi cái chậu rửa chân là dụng cụ hạ đẳng cả. Từ cái chậu, cái bàn cầu đều phải bỏ tiền mồ hôi lao động ra mua, rồi thường xuyên chăm sóc, lau chùi, giữ gìn cẩn thận, vì đó là tiền, là tài sản của mình. Chả có ai cho rằng tài sản của mình hoặc của người khác là dụng cụ hạ đẳng cả. Ông Trần Đông Đức lại ghi thêm một bàn trật lất.

Tôi chưa bao giờ nghe những người làm việc trong ngành thẩm mỹ nầy nói nghề của họ là làm “móng tay móng chân” cả. Thêm 2 chữ “móng chân” vào làm cho ý nghĩa khác đi.

Ông Trần Đông Đức nầy không thành công trong việc lôi kéo những người làm nail về phía những người nhục mạ Cờ Vàng. Chính tác giả tấm hình, hoạ sĩ Huỳnh Thủy Châu công nhận như sau: “Tôi là con cán bộ. Gia đình chồng tôi theo quốc gia không thích Cộng Sản. Dĩ nhiên lá Cờ Vàng 3 sọc đỏ là “Cờ Việt Nam” đối với mẹ chồng tôi” (Mẹ chồng làm nghề nail).  Kế ly gián hạ đẳng, không thuyết phục.

5. Cái sai thứ 6 của Trần Đông Đức:

Là dùng danh nghĩa anh linh tử sĩ, quân dân cán chính làm chuyện bao đồng, thoá mạ nhân cách người khác.

Trích cái sai: “Không phải ai bị quần chúng cay nghiệt cũng là bán rẻ lương tâm, Việt gian phản quốc. Điều nầy quý vị cộng đồng cần phải suy nghĩ và xét lại căn nguyên của vấn đề. Xin đừng dùng danh nghĩa của các anh linh tử sĩ Quân Dân Cán Chính VNCH, làm chuyện bao đồng, để rồi thoá mạ nhân cách của người khác” (ngưng trích)

Sự thật là, những người phản đối việc phỉ báng và mạ lỵ VNCH, họ chỉ dùng “danh nghĩa của chính họ”, bởi vì, Quân, Dân, Cán, Chính VNCH chính là những người đang sống, đang phản đối ở đây, và bao gồm những người đã hy sinh vì Tổ quốc trước kia.

Biểu tình bày tỏ ý chí và quyết tâm, không phải là làm việc “bao đồng”, vì bao đồng có nghĩa là “dông dài, lung tung nhiều thứ, không tập trung vào một điều gì cả, làm việc vô ích”

Về việc có bán rẻ, bán mắc lương tâm hay không, Việt gian phản quốc hay không, thì chính những người góp tay thi hành NQ 36 của VC tự hiểu lấy. Nhưng VC trong nước sẵn sàng chi tiền cho công tác tuyên truyền và đánh phá, trong các cộng đồng hải ngoại.

6. Cái sai thứ 7 của Trần Đông Đức:

Trần Đông Đức chửi cộng đồng: ký tên vì cảm tính, cảm xúc, tùy hứng, sa đà, luận điệu thô bạo, kết bè kết phái.

Trích nguyên văn, ngoài LS Nguyễn Xuân Nghĩa,

“Tôi cũng thấy những tên tuổi khác, vốn ôn hoà và biết chuyện, lại ký tên vào những văn thư lên án báo Người Việt một cách đầy cảm tính. Nếu quý vị cộng đồng không điều chỉnh cảm xúc, soi xét lương tri, mà tùy hứng sa đà theo những luận điệu thô bạo, quy chụp, kết bè kết phái, thì quý vị tự làm hoen ố tên tuổi và nghĩa khí của mình” (ngưng trích)

Trước hết, những từ ngữ cảm tính, cảm xúc, tùy hứng…chỉ ra rằng hành động vì “cảm tính”, trái ngược với lý tính”. Lý tính là dùng lý trí, dùng đầu óc, động não, để suy nghĩ, nhận định mà hành động. Trái lại, “cảm tính”, “Cảm xúc” là dùng tình cảm, thiếu suy nghĩ, mà đa số là hùa theo người khác, thiếu lương tri.

Trên đây chỉ là những điều chửi bới và ngụy biện, bởi vì, cộng động căn cứ vào sự thật, vào việc cụ thể là phỉ báng và mạ lỵ để bày tỏ ý kiến phản đối. Trần Đông Đức đã miệt thị cộng đồng, vì đánh giá quá thấp những việc làm đúng đắn của đa số những đoàn thể, tổ chức. Đã có hơn 74 đoàn thể và cá nhân ký tên bày tỏ ý kiến phản đối, trong đó gồm nhiều thân hào, nhân sĩ, đại diện các tập thể, chớ không phải là những người bình thường trong dân chúng.

Chỉ có một Trần Đông Đức lạc lỏng trong Người Việt Đông Bắc mà thôi, và nếu có đồng minh, thì đó là bạn thân VQHN mà đương sự hết lời ngụy biện binh vực bằng những luận điệu tầm bậy, trật lất, như đã chứng minh rất cụ thể trên đây. Bết quá!

7. Cái sai thứ 8 của Trần Đông Đức

Cộng đồng không còn tin tưởng vào lời xin lỗi và hứa hẹn.

Trích lời của Trần Đông Đức:

“Quý vị cộng đồng thử nghĩ lại xem, khi một người sa cơ thất thế, người ta đã tỏ lòng hối tiếc rồi – có một lời xin lỗi, có một ý nguyện khắc phục như trường hợp báo Người Việt thì coi như là người ta đã đặt địa vị và chính nghĩa của chúng ta lên cao biết bao nhiêu. Đổi lại, báo Người Việt lại bị mang tiếng hèn với một số độc giả vì sa thải ký giả quá vội vàng.” (ngưng trích)

Vụ việc phỉ báng, mạ lỵ VNCH đã được xác định là nằm trong sách lược của VC trong nước, thi hành việc tuyên truyền và đánh phá các cộng đồng người Việt tỵ nạn CS ở hải ngoại. Nó không phải là một “sơ xuất”, mà là một âm mưu, một ý đồ.

Đây không phải là lần đầu tiên xin lỗi và hứa hẹn, cho nên không còn được tin tưởng nữa.

Dùng ngụy biện để binh vực là sai.

8. Cái sai thứ 9 của Trần Đông Đức:

Trần Đông Đức mạ lỵ cộng đồng.

Trích:

“Những người đứng sau lưng “chi phối được cuộc họp” này chính là những thế lực xấu xa nhất đang lăm le thủ đoạn để mưu lợi”. (ngưng trích)

Cuộc họp ngày thứ ba 24-7-2012 tại Thư viện Việt Nam, do Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai, Ủy Ban Đặc Nhiệm Chống Tuyên Vận Cộng Sản, phối hợp với Liên Hội Cựu Chiến Sĩ, Tập Thể Chiến Sĩ Trung Tâm Tây Nam, và nhiều đoàn thể khác, cùng thân hào, nhân sĩ đã nhất trí tổ chức buổi họp, và được những đại diện các tổ chức trong cộng đồng hưởng ứng và tham dự, tổng số lên 200 người.

– Cho rằng có người đứng sau lưng chi phối là sai, như thế, là trực tiếp phỉ báng đại diện các cộng đồng. Trần Đông Đức không có bằng cớ để chứng minh lời nói.

– Việc báo Người Việt đăng bài mạ lỵ là có thật đã được tờ báo đó nhìn nhận.

– Những lời kêu gọi tẩy chay và những tuyên bố hưởng ứng xuất phát từ những quyết định sáng suốt của đại diện các đoàn thể, chớ không bị ai chi phối được cả.

– Tẩy chay là biện pháp duy nhất mà cộng đồng có thể thực hiện được đối với những kẻ tuyên truyền cho VC.

– Trần Đông Đức không nêu được bằng chứng ai đó đứng sau lưng chi phối bằng hành động cụ thể, nghĩa là nói suông, không có chứng cớ là nói mò, nói ẩu, ngụy biện.

9. Cái sai thứ 10 của Trần Đông Đức:

Cho rằng ông Ngô Kỷ và bà Đào Nương Hoàng Dược Thảo khởi động phong trào ném bùn, ném đá là sai.

Trích: “Được tiếp máu bởi nhu cầu cạng tranh, ông Ngô Kỷ và bà Hoàng Dược Thảo đang ra sức cấu kết khơi động phong trào ném bùn, ném đá nầy”. (ngưng trích)

Lời cáo buộc không nêu bằng chứng không có giá trị nào cả, vì nói ẩu.

Phần nầy, Trúc Giang tôi nhường lời phản biện lại cho ông Ngô Kỷ, vì ông luôn luôn nói có sách, mách có chứng, luôn nêu bằng cớ để nhận xét và kết luận. Hơn nữa, tôi rất khoái nghe phản biện của ông Ngô Kỷ.

Buổi họp của 74 đại diện các tổ chức, đoàn thể nhất trí nêu lên 13 điểm hài tội báo Người Việt và 4 điểm yêu cầu NV thực hiện. Đó không phải là việc “ném bùn, ném đá”.

10. Cái sai thứ 11 của Trần Đông Đức:

Cái sai trầm trọng là “Sự nghiệp chống Cộng nuôi con”.

Trích: “”Sự nghiệp chống Cộng nuôi con” của Đào Nương chính là sự sĩ nhục to lớn nhất cho hàng ngũ Quân Dân Cán Chính VNCH. Nếu quý vị còn lương tri hãy suy xét điều nầy”.(ngưng trích)

Cái sai là: Hành động chống Cộng và việc nuôi con là 2 việc khác nhau, nó không ăn nhậu gì với nhau cả. Ghép nối 2 việc hoàn toàn khác biệt nhau là có ý đồ xấu.

Trước hết, việc nuôi con, nuôi gia đình là bổn phận, là thiên chức của cha mẹ, của cả nhân loại trên thế gian nầy.

Còn việc chống Cộng là hành vi chính trị chống chế độ Cộng Sản độc tài trong nước. Đó là chính nghĩa vì đấu tranh cho dân tộc VN, một nước VN không còn độc tài.

Những người chống Cộng ở Mỹ, ai ai cũng nuôi con cả, (nếu có con). Đặc biệt là những ký giả, phóng viên, nhà báo, họ chống Cộng bằng phương tiện mà họ có trong tay.

4* Kết luận

Nhìn vào toàn bộ vấn đề từ trong nước, ngoài nước, trước kia và hiện nay, thì báo Người Việt không còn đường nào chối cãi được cả. Tại sao lại xoá bài bịa chuyện bôi nhọ Trần Mạnh Hảo?

Nhưng cái chiêu thâm sâu bí hiểm nhất mà ít ai thấy, đó là mạ lỵ bôi nhọ các Linh Mục trong bài báo ngày 9-7-2012, cũng giống như mạ lỵ nhà văn Trần Mạnh Hảo trước kia vậy.

Tóm lại, báo Người Việt “đánh” nhà văn bất đồng chính kiến Trần Mạnh Hảo trong nước, trùng hợp với chiến dịch báo nhà nước khủng bố TMH.

Trùng hợp thứ hai, là VC trong nước đã và đang đánh Công giáo, từ vụ Thái Hà đến Con Cuông, thì báo Người Việt lại tung bài đánh các Linh Mục Công giáo ngày 9-7-2012.

Một sự trùng hợp đáng nghi ngờ. Có phải nội công ngoại kích không?

Còn trong trường hợp Trần Đông Đức, trong bản “Kiến Nghị gởi Cộng đồng Nam Cali” ký ngày 31-7-2012, có quá nhiều cái sai, không có bằng cớ chứng minh lời nói của mình, nên xem như nói suông, ngụy biện.

Không phải Trúc Giang tôi “vạch lá tìm sâu, bới lông tìm vết”, bởi vì, “nếu không có” những con sâu ẩn nấp dưới lá để phá hại mùa màng, “nếu không có” những vết ung mũ làm nhức nhối cơ thể, thì cho dù có đốt đuốc đi tìm đến tết Congo cũng không thấy được gì cả.

Những câu trích chẳng qua là làm bằng chứng của việc nói có sách, mách có chứng của Trúc Giang tôi mà thôi.

Trúc Giang
Minnesota ngày 10-8-2012

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

 

Links:


Chúng Tôi Muốn Tự Do

FB- Trường Hoàng Sa (Hình ảnh)



“Back To The Future” – Đào Nương

 Anh rót cho khéo nhé

Kẻo trúng nhằm nhà tôi

Nhà tôi ở cuối thôn Đoài

Có giàn thiên lý có người tôi thương.(thơ Yên Thao)

Bài đọc suy gẫm:  “Back To The Future” hay Việt Nam Cộng Hòa, biết mới tiếc của tác giả Đào Nương, báo Sài Gòn Nhỏ.

Hình ảnh minh họa: Lễ khai mạc Đại Nhạc Hội Thương Binh – “Cám Ơn Anh” kỳ 6, do các hội đoàn phối hợp tổ chức trong ngày Chủ Nhật 12, tháng 8 năm 2012 tại trường trung học Bolsa Grande, Little Sài Gòn, Nam California – Hoa Kỳ.



VNCH, biết mới tiếc…

Đào Nương

Sau 36 năm Miền Nam rơi vào tay cộng sản, ngày nay không chỉ những người sinh sống tại Miền Nam Việt Nam trước đây, không công nhận lá cờ đỏ sao vàng của đảng cộng sản Việt Nam mà ngay cả những người trong nước cũng không tôn trọng lá cờ này mặc dù đó là lá cờ đang tung bay khắp lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Người Việt hải ngoại tôn trọng lá cờ vàng ba sọc đỏ, không chỉ thuần túy vì đó là lá cờ của Việt Nam Cộng Hoa, của chính phủ Miền Nam Việt Nam mà vì đó là một biểu tượng cho một quốc gia mà đáng lẽ dân tộc Việt Nam phải có, một chính phủ tự do dân chủ, một nền kinh tế thịnh vượng, một xã hội công bằng bác ái mà lá cờ đỏ và cái chính phủ Việt gian cộng sản ngày nay tại Hà Nội sau 36 năm làm chủ đất nước đã chứng minh những điều ngược lại.

Dĩ nhiên, lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ mà những người sinh sống tại Miền Bắc không quen mắt, không chấp nhận dù họ có thù ghét chế độ cộng sản mà họ đang sinh sống đến tận xương tủy. Người ta không thể chấp nhận một biểu tượng mà người ta không biết, không hiểu, không có những kỷ niệm đẹp, không hy sinh xương máu để bảo vệ nó. Nhất là khi chỉ một sớm, một chiều, những người Việt Nam không chấp nhận Cộng Sản đã mang theo lá cờ vàng trên đường lưu vong, dù phải trải qua những nơi địa ngục trần gian là những nhà tù của cộng sản, và đã phải để lại sau lưng quê hương yêu dấu, mảnh vườn nhỏ, mái nhà ấm cúng, con sông hiền hoà, sau khi đã được chứng kiến chủ nghĩa xã hội cộng sản tiêu biểu cho văn hoá, đạo đức, luân lý Việt Nam phân hoá dần dần trước mắt. Việt Nam Cộng Hoà mặc dù là một xã hội chưa hoàn bị nhưng đã hình thành được mọi cơ cấu của một xã hội văn minh, công bình và dân chủ. Người Việt sống tại Miền Bắc đói khổ, đã phải hy sinh mọi thứ cho nhu cầu chiến tranh theo sự tuyên truyền của cộng sản nên có thể nói hầu hết đều không biết gì về Việt Nam Cộng Hoà.

Việt Nam Cộng Hòa không phải là Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ… mà là xã hội Miền Nam Việt Nam xây dựng trên căn bản  giáo dục. Đó là những cô bé, cậu bé đến trường mỗi buổi sáng, mặc đồng phục với nét mặt tinh anh trong sáng của tuổi thơ. Đó là những cô nữ sinh áo trắng dễ thương và ngoan ngoãn, thuần hậu trong gia đình. Đó là những thầy, cô giáo sống và hãnh diện với thiên chức của một bậc thầy và được mọi người trong xã hội kính trọng. Trước 1975 Việt Nam Cộng Hoà đã đào tạo nhiều chuyên viên với tiêu chuẩn quốc tế, văn bằng của VNCH được chính phủ Hoa Kỳ, Pháp và nhiều quốc gia khác công nhận tương đương hoặc gần tương đương. Nghề thầy do đó không phải là một thứ… “chuột chạy cùng đường mới vào sư phạm” như ngày nay. Nhưng trong ký ức của tuổi trẻ miền Nam Việt Nam thì Việt Nam Cộng Hoà là những con đường ngợp bóng lá me, các nam sinh đi theo nữ sinh mỗi khi tan học nhưng không dám có một cử chỉ sàm sỡ, một lời nói vô lễ. Phải nhắc đến điều này vì những kỷ niệm đẹp của thời thiếu niên thường ghi sâu trong ký ức người ta suốt đời:

Lời ru nào níu được

Lúc những cánh me xanh

Bay mềm con lộ nhớ

Em sau khung cửa đạn soi

Sách ngăn tầm mắt đời ngoài lộ cao

Khi không lòng bỗng dạt dào

Sông tôi cạn nước nguồn nào bỗng đi

(Bài cho người trong vườn dược thảo, thơ Du Tử Lê)

 

Cuộc chiến càng thảm khốc thì lại có biết bao thanh niên theo tiếng gọi của núi sông lên đường nhập ngũ để bảo vệ một hậu phương bình yên trong đó có cha, có mẹ, có anh, có em, có cái gia đình nhỏ bé của mình. Đó là lý tưởng. Đó là những chàng trai anh hùng của thế hệ. Hàng trăm ngàn bài hát, bài thơ đã được viết ra trong giai đoạn này và cho đến nay vẫn còn là nguồn cảm hứng bất tận cho toàn nước Việt Nam thống nhất. Nó chính là “nhạc vàng” của văn hoá Việt:

Anh rót cho khéo nhé

Kẻo trúng nhằm nhà tôi

Nhà tôi ở cuối thôn Đoài

Có giàn thiên lý có người tôi thương. (Thơ Yên Thao)

Hay

Năm năm rồi đi biệt

Đường xưa chưa lối về

Thương người em năm cũ

Thương goá phụ bên song (Thơ Phạm Văn Bình)

 

Hình ảnh của những tân sinh viên sĩ quan trong quân phục đại lễ ngày tốt nghiệp ở Đà Lạt, ở Nha Trang, ở Thủ Đức là những hình ảnh tinh anh của dân tộc Việt, không phải là hình ảnh của “nợ máu với nhân dân” sau ngày 1975 đâu. Họ đã chọn binh nghiệp để bảo vệ từng tấc đất của quê hương đang bị dày xéo vì bom đạn gây ra bởi bọn lãnh tụ cộng sản vô thần. Bây giờ sau 36 năm nhìn lại, nhìn thế hệ thanh niên tan rã mệt mỏi, tương lai không lối thoát của Việt Nam thời cộng sản mà thương cho họ không biết là bao nhiêu. Thương tuổi thơ của những người không lý tưởng, chỉ nắm “cái đuôi của đảng cộng sản Việt Nam” mà nhìn ra thế giới bên ngoài và trở thành một thế hệ “vô cảm” đến rợn người. Đời sống chỉ còn là sự tranh đua để đạt được điạ vị trong đảng vì quyền đi với tiền. Bằng được mua bằng tiền chứ không cần học để có kiến thức. Trong một quốc gia nghèo đói vào hàng nhất thế giới nhưng có hàng nửa triệu “tiến sĩ ma” làm trò cười cho thế giới.

Xã hội Việt Nam Cộng Hoà trước 1975 không phải là hoàn toàn trong sạch, không có bóng dáng của tham nhũng nhưng tham nhũng không phải là một chính sách để cai trị nước như đảng cộng sản Việt Nam ngày nay. Người dân Miền Nam sống hiền hoà trong tôn ti trật tự,  trong đời sống hàng ngày, họ không phải đối đầu với cảnh sát, công an. Không phải bất cứ khi nào có việc liên hệ với chính quyền thì phải trả tiền cho công an từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương. Khi vào bệnh viện, không có việc đút lót tiền thì mới có được giường nằm. Trẻ con học giỏi thì được xếp hạng cao, được cho đi du học dù là con nhà nghèo. Sĩ quan đánh trận oai hùng, gan dạ thì được thăng thưởng. Nhà cháy thì được cứu hỏa chữa cháy chứ không phải trả tiền mới được chữa cháy.

Về chính trị, Việt Nam Cộng Hoà là một nước dân chủ tự do thực sự mặc dù cũng có những  khuyết điểm. Trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam, chính phủ công nhận đối lập, cho biểu tình chống đối tự do nên từ những năm 1965 đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ, chống Thiệu Kỳ, chống tham nhũng thoải mái của sinh viên học sinh, của nhân  dân. Có những ông giáo sư đại học nhận mình là thành phần thứ ba, theo chủ thuyết xã hội chứ không phải là chủ thuyết Mác Lê công khai ra báo, viết sách, viết luận án đại học lên án chính phủ, lên án chiến tranh, nhưng lại ve vãn cộng sản vì lý luận ấu trĩ rằng chính phủ Miền Nam bị Mỹ giựt dây, muốn chấm dứt chiến tranh thì phải nói chuyện với Hà Nội. Kinh tế thương mại tự do không bị chính phủ kiềm chế, về an ninh xã hội người dân được luật pháp bảo vệ, cảnh sát công an ức hiếp nhân dân bị truy tố ra trước pháp luật ngay.

Xã hội Miền Nam tự do tạo môi trường để tinh anh phát tiết trên mọi phương diện. Ngày nay, sau 36 năm nhìn lại, đảng cộng sản Việt Nam vẫn không biết rằng khi giam hãm, đầy đọa hàng triệu người sống ở Miền Nam có liên hệ với chính quyền đem nhốt vào ngục tù, họ đã hủy diệt đi hầu hết những nhân tài về mọi mặt của đất nước, những trí thức khoa bảng mà có thể vài trăm năm sau, Việt Nam chưa thể có lại. Miền Nam Việt Nam không chỉ “sản xuất” có hai “thiên tài” là Trịnh Công Sơn và Bùi Giáng đâu. Nhưng Việt cộng chỉ “chấp nhận’ có hai người này vì một anh thì trốn lính, sống hèn mọn trong sự che chở bao dung của chính phủ Miền Nam tôn trọng nghệ sĩ, còn người kia thì mang bệnh tâm thần. Cứ đếm lại số sách đã được xuất bản tại Miền Nam trong 20 năm từ 1954 đến 1975, từ khoa học đến chính trị, từ truyện ngắn, truyện dài, thơ văn đến âm nhạc rồi so sánh với 60 năm cộng sản CAI TRỊ Việt Nam thì sẽ hiểu.

Do đó, so với xã hội Việt Nam dưới thời Việt gian cộng sản thì xã hội Việt Nam Cộng Hoà là thiên đường, là con đường mà Việt Nam cần nhiều thập niên mới “back to the future” được. Những người Việt Nam sống tại Miền Nam trước 1975, biết rõ điều này. Lá cờ vàng và danh hiệu Việt Nam Cộng Hoà vì sao vẫn được họ sùng kính dù Việt Nam Cộng Hoà đã mất đi phần đất cuối cùng đã 36 năm.

*

Vì không được sống, không được trưởng thành, không được hoạt động chính trị, văn hoá hay sống đời quân ngũ của xã hội Miền Nam nên không có gì ngạc nhiên khi những người trí thức Cộng Sản thù ghét bọn cầm quyền cộng sản vì đã hất cẳng họ, đã đẩy họ ra khỏi nước, rồi vì  hậm hực nên suốt ngày ngồi viết những điều phản đối bọn cầm quyền cộng sản nhưng vẫn vinh danh bác Hồ và “kẻ cả” xem cộng đồng Người Việt hải ngoại là những kẻ bại trận, lá cờ vàng là vô nghĩa nên không muốn đoàn kết để lật đổ chế độ độc tài cộng sản mà họ là một thành phần cốt cán trước đây. Sống nơi xứ sở tự do này, chúng ta nên tôn trọng họ. Thái độ không muốn đứng chung trong hàng ngũ với Người Việt quốc gia cũng là một điều dễ hiểu: bối cảnh lịch sử do đảng cộng sản Việt Nam từ 60 năm qua đã chia dân tộc và đất nước Việt Nam ra thành nhiều khối: trí thức, công nhân, cộng sản, quốc gia, vv…vv… Điều khó hiểu là những người cán bộ đảng trung kiên bị thất sủng như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín, ông Vũ Thư Hiên thường viết bài dạy Người Việt quốc gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà chống cộng trong khi họ nhìn thấy trước mắt, cái đảng tạo ra họ, cho họ một vị thế, một tên tuổi, chính cái đảng đó đang làm tan rã đất nước và con người Việt Nam. Cái đảng bất nhân đó đang chia 85 triệu Người Việt ra làm hai khối: đại đa số quần chúng bình dân, không có phương tiện về an sinh xã hội, không có giáo dục, sống đời nô lệ phục vụ cho một thiểu số cán bộ tham ô mà ngôn ngữ Việt cộng gọi là “quan tham”. Cái đảng bất nhân đó đang đưa đất nước đến cái họa diệt vong trong tay Tàu Cộng.

 Nhóm hậu duệ trong màn hoạt cảnh “tấn công và truy lùng địch” đặc sắc được đồng bào hoan nghênh, cổ võ. 

Nhóm phóng viên chiến trường và các bloggers cũng chuẩn bị… tiến công 🙂

 

Sau 1975, Người Việt Quốc Gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà vì thất thế nên chúng gọi là “ngụy”, đày ải quân dân cán chính trong rừng già để chết dần chết mòn, gia đình ly tán, con cái thất học, nên bằng mọi cách Người Việt Quốc Gia phải ra đi và bằng ý chí cương cường quật khởi cuả dân tộc Việt Nam, khối Người Việt Tự Do, những công dân cuả Việt Nam Cộng Hoà đã chọn thế giới làm lãnh thổ, phát triển tài lực và trí tuệ, ngăn chận được sự tuyên truyền và bành trướng của bọn Việt gian cộng sản khắp nơi. Có mà nằm mơ, người ta cũng không thể nghĩ rằng những công dân Việt Nam Cộng Hòa trong điều kiện sinh sống dù lưu vong, dù trong lao tù cộng sản đã giữ vững được ý chí chống cộng đến thế. Thế hệ thứ hai của cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản, của những công dân của Việt Nam Cộng Hòa vẫn giữ được nguyên vẹn đạo đức và luân lý của Việt Nam. Trong mọi gia đình, những đứa trẻ không nói rành tiếng Việt hay nói tiếng Việt với giọng ngọng nghịu của người bản xứ nhưng đều là những đưá trẻ ngoan ngoãn vì chúng biết rằng cha mẹ chúng phải lưu vong, phải hy sinh nhiều để chúng được lớn lên ở một đất nước tự do, có cơ hội để phát triển trí tuệ, những điều chúng sẽ không có được nếu sống dưới một chế độ cộng sản, như Việt Nam cộng sản ngày nay, như Cuba, như Bắc Hàn, hay ngay cả Trung cộng…

Nhưng những người như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín đâu phải là ngụy. Các ông này là những “trí thức cộng sản” lớn lên trong lòng chế độ. Đáng lẽ các ông đừng hèn, hãy ở lại Việt Nam, hãy kêu gọi nổi dậy, hãy dẫn dắt toàn dân chống lại cái đảng cướp đã tạo ra các ông, hãy cho toàn dân biết ‘chúng” đã đi sai… đường cách mạng. “Con đường Bác đi” cuả các ông không lẽ lại là con đường… bi đát, đưa hàng trăm ngàn gái Việt ra hải ngoại lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan, làm mãi dâm mới có cơm ăn? “Con đường Bác đi” không lẽ lại là con đường dâng nước Việt cho Tàu? Các ông hãy can đảm đứng dưới ngọn cờ do các ông lựa chọn miễn là các ông bảo vệ được dân, được đất nước khỏi rơi vào tay giặc là được. Hãy hành động như các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã làm trước khi bị tước súng vì một thế cờ chính trị thế giới: họ đã đứng lên, đã anh dũng hy sinh, đã chống lại áp bức của chính quyền để bảo vệ dân, bảo vệ từng tấc đất Miền Nam để rồi đảng các ông đã lừa gạt dân Miền Bắc, đưa họ vào Nam, đem sinh mạng làm bia đỡ đạn để “giải phóng” một Miền Nam trù phú, một xã hội tôn ti trật tự, đạo đức văn hoá, luân lý cần được bảo tồn.

Mới đây có một bài viết của một người thuộc thế hệ trẻ có tựa đề “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” do diễn đàn danchimviẹt.info (BBT: Trong bài, tác giả viết .com) phổ biến với lời toà soạn như sau:

(Trích)

LTS: Trong công cuộc đấu tranh dân chủ hóa VN hôm nay, tìm hiểu tư duy của lớp người trẻ không tham dự vào cuộc chiến quốc-cộng trước kia – mà sẽ là chủ lực cách mạng nay mai – là một điều cần thiết. ĐCV chọn đăng bài viết của tác giả Tiên Sa trên mạng xã hội facebook cũng nằm trong tinh thần đó. Mời bạn đọc cùng suy tư và chia sẻ. (hết trích)

Nội dung bài viết của người bạn trẻ này cũng như nội dung bài viết của ông cán bộ già thất sủng Nguyễn Minh Cần giống nhau ở chỗ: cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền cộng sản chưa xảy ra nhưng họ đã sợ lá cờ vàng và chế độ Việt Nam cộng hoà được tái lập ở Việt Nam… sau 36 năm bỏ chạy. Đào Nương tôi không tin đây là bài viết của một người viết trẻ ở hải ngoại. Thật ra, tháng 4, 1975, Người Việt Miền Nam đã quá mệt mỏi với một cuộc chiến không lối thoát giữa hai ý thức hệ tự do và cộng sản. Cái thành trì bảo vệ thế giới tự do đã không còn đứng vững sau khi tổng thống Hoa Kỳ Nixon qua gặp Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Giữa một bên chiến đấu với viện trợ có điều kiện và một bên được viện trợ vô điều kiện của khối cộng sản, sự chiến thắng khó lòng ở về phía VNCH. Khi buông súng năm 1975, Người Việt Miền Nam đã muốn “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” để hai miền cùng nhau xây nước và dựng nước chứ. Nhưng việc gì đã xãy ra sau đó, chắc Ban Biên Tập của Đàn Chim Việt, nơi phát tán những bài viết của ông Nguyễn Minh Cần và “người bạn trẻ” Tiên Sa chắc đã biết rõ hơn ai hết: hàng triệu quân dân cán chính Miền Nam bị đầy vào lò “cải tạo”, gia đình họ bị đẩy đi vùng kinh tế mới, cướp nhà, cướp cuả, con cái họ không được đến trường. Cho đến ngày nay, những người sinh sống tại Miền Nam vẫn còn là những công dân hạng hai trên đất nước mình. Vì nghĩ rằng “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” nên hàng triệu người Miền Nam đã buông súng, xếp hàng đi tù cải tạo vì nghĩ rằng một giai đoạn chiến tranh tương tàn đã đi qua, đi trình diện một tháng rồi về sống đời công dân của một quốc gia độc lập và thống nhất. Chuyện gì đã xy ra cho họ, cho những người sinh sống tại Miền Nam sau 1975?

Không lẽ ngày nay, trong công cuộc cứu nước, khi không còn ở vị thế cầm quyền thì những công dân của Việt Nam Cộng Hoà không thể là một tiếng nói đối lập với cái chính quyền vô nhân đang cai trị đất nước Việt Nam hay sao? Chúng ta sẽ đấu tranh để những người dân của đất nước Việt Nam dân chủ và tự do có quyền lựa chọn cho họ một đảng phái cầm quyền, họ sẽ biểu quyết về một lá cờ tượng trưng cho đất nước. Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay có 3 triệu đảng viên hầu hết là bọn thất học, tham ô. Cứ nhìn vào xã hội Việt Nam ngày nay thì thấy rõ. Cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản ở nước ngoài có 3 triệu người nhưng đồng thời họ cũng là công dân của những quốc gia tự do và dân chủ. Việc họ phải sống lưu vong ở hải ngoại không phải là một việc trốn chạy hèn nhát mà là hậu quả tất nhiên cuả một cuộc chiến tương tàn có kẻ thua, người thắng. Khi họ tập hợp để nói lên tiếng nói của Người Việt không chấp nhận chế độ cộng sản, một tiếng nói đối lập là một việc làm cần thiết khi Người Việt không thể làm được điều này ở quê hương. Tiếng nói đối lập này và lá cờ vàng trong giai đoạn này chắc hẳn là cần thiết cho công cuộc đấu tranh hơn là tiếng nói “lèm bèm” của những ông đảng viên thất sủng “chạy trốn” ra nước ngoài chứ?

Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh từ xa về yểm trợ đại hội.

Ca sĩ Dạ Lan, Phóng viên đài truyền hình 57.3 đang phỏng vấn các chị mang phù hiệu thuộc… Cục Chính Huấn?

Một vị Hải Quân Thiếu Tá và Nữ Hải Quân Trung Úy Y- Tá Hoa Kỳ,  gốc Việt (hiện dịch).

Anh trở về anh trở về…còn có 1 tay. (Nhạc nhái Kỷ Vật Cho Em – PD.)

Gớm ! Bé tí thế mà đã biết yêu màu áo lính.

 

 

Hy vọng bài viết này sẽ giải thích được phần nào tại sao Người Việt không cộng sản không thể  “Để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” được. Vì đó là tương lai của đất nước Việt Nam. Đừng bàn cãi trên những trang giấy hay trên những trang mạng điện tử. Thực tế chứng minh cho hành động. Trong 60 năm, đảng cộng sản Việt Nam đã tàn phá đất nước và con người Việt Nam đến tận cùng đáy vực, khi các ông “trí thức cộng sản” đủ hết hèn để la làng (nhưng cũng phải núp đàng sau cái xác còn thở của “đại tướng”) về cái hoạ mất nước mà cũng chỉ như tiếng rên trong lăng Ba Đình cuả cái xác thối rữa chưa chôn thì chúng ta có cần bàn cãi thêm về cờ vàng hay cờ đỏ không? Ngược lại, chỉ trong 36 năm, cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản đã “bành trướng” điạ bàn hoạt động khắp năm châu, những khu phố Việt Nam sầm uất, vững mạnh hơn các ChinaTown của người Tàu, mỗi năm cộng đồng Người Việt gửi về nuôi thân nhân hàng chục tỹ đô la. “Chạy trốn, thua trận” mà làm nên … nghiệp lớn như vậy trong khi bọn cộng sản Việt Nam thì co cụm lại trong các toà sứ quán, ra đường thì mắt la, mày lét sợ người dân bắt gặp. Lãnh tụ ngoại giao như tên Nguyễn Xuân Việt ở Jordanie thì hành xử như bọn đầu gấu, du đãng khiến thế giới phải bàng hoàng và người nữ công nhân 20 tuổi bị xúc phạm đã được Hoa Kỳ cho nhập cảnh vì lý do chính trị thì đủ hiểu.

Dĩ nhiên, ở đâu, xã hội nào thì cũng gồm đủ con gà, con công, con phụng… đừng nhìn vào đàn gà của cộng đồng Việt Nam hải ngoại rồi kết luận tất cả chỉ là một đàn gà mà lầm to. Nhưng có một điều có thể coi như là chân lý “không thay đổi” dù bên này hay bên kia bờ Thái Bình Dương: đảng viên cộng sản thì anh nào cũng hèn, cứ phải dựa vào nhau để sống còn, để được làm “quan tham” bóc lột dân lành. Chúng đoàn kết theo đúng tôn chỉ  “tranh đấu đến cùng với kẻ thù, chỉ hoà gii với nội bộ”. Trong khi nếu vì tương lai dân tộc thì phải tìm cách liên kết mọi người với nhau chứ. Ra đến hải ngoại vẫn còn sợ lá cờ vàng nhưng tiền bạc của cờ vàng thì đưa lên mặt mà hít hà. Khinh bọn “thất trận, giặc ngụy” bỏ chạy, nhưng lại sợ chúng nó trở thành một thế chính trị đối lập trở về nhưng vẫn ra chính sách ve vãn Việt kiều.  Chơi với cái đầu “ngụy” thì không dám chơi chỉ muốn chơi với các “khúc ruột thừa” của họ?

Việt Nam Cộng Hoà phải sống mãi trong lòng người Việt không cộng sản là vì thế! Vì không muốn nhận sự nhục nhã là công dân của một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, muốn bảo vệ ngư dân cũng phải xin phép “thằng” Tàu cộng!

Chúng ta hãy hành động. Tự cứu mình và cứu những người khác nữa. Vì tương lai, xin tất cả hãy tìm cách liên kết với nhau trong tình dân tộc.

© Đào Nương

Nguồn: Tuần Báo Saigon Nhỏ số ra ngày 11 tháng 3, 2011.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

 

Links:

Chúng Tôi Muốn Tự Do


Quỉ Nhập Tràng – Chu Chi Nam

“Một lâu đài to lớn kia cũng chỉ bắt đầu được xây dựng với những viên đá, viên gạch nhỏ bé lúc ban đầu. Một cuộc hành trình vạn dặm cũng bắt đầu bởi bước khởi hành đầu tiên.” Chu Chi Nam.

 

 Bài đọc suy gẫm:  Quỉ Nhập Tràng hay “Di Hại Của Chế Độ cộng sản về Vật Chất và Tinh Thần” của tác giả Chu Chi Nam.
Ngày hôm nay qua quyển Hắc thư của Chủ nghĩa cộng sản ( Le Livre noire du Communisme), qua Tượng đài Kỷ niệm những Nạn nhân của chế độ cộng sản, qua Tòa án Quốc tế xử chế độ diệt chủng Pol Pot, người ta chỉ nghĩ đến những thiệt hại vật chất của chế độ cộng sản, mà người ta ít nghĩ đến những thiệt hại tinh thần.
Thực ra những thiệt hại tinh thần vô cùng lớn lao, không biết đến bao giờ chấm dứt, nhất là những nước còn sống dưới chế độ cộng sản như Trung cộng, Việt nam, Bắc Hàn và Cu ba.
Chúng ta hãy sơ lược về di hại cả vật chất, lẫn tinh thần của chế độ cộng sản, và cùng suy nghĩ làm thế nào để chấm dứt những di hại này.

I ) Sơ lược di hại về vật chất

Di hại vật chất, đó là đi theo lời huấn dạy vừa sai lầm vừa không tưởng của Marx, nghĩ rằng người ta có thể bãi bõ quyền tư hữu, nhưng thực tế quyền tư hữu chỉ có thể chuyển nhượng, đảng cộng sản, sau khi dùng bạo lực cướp chính quyền, đã phát động phong trào « Đánh tư bản mại sản », tước hết quyền tư hữu của dân, rồi trao vào tay một thiểu số đảng đoàn cán bộ.
Những cuộc đánh tư bản mại sản này làm cho đại đa số dân trở nên nghèo khổ, rồi chuyển nhượng tài sản của dân vào tay cán bộ, làm cho họ trở nên những ông tư bản đỏ giàu nứt đố đổ vách, như chúng ta chứng kiến ngày hôm nay.

Không những thế, nó còn làm cho cả trăm triệu người chết oan uổng, vì chính sách : «  Trí phú hào, đào tận gốc, trốc tận rễ. », giết chết giai tầng sĩ phu trí thức, xương sống của một xã hội, làm cho xã hội trở nên què quặt. Trong khi đó thì ruộng vườn nhà cửa bị xung công, tạo nên cảnh : «  Cha chung không ai khóc, nhà chung không người chăm xóc, ruộng chung không ai cày.
Theo một nhóm sử gia Pháp, các ông Stéphane Courtois, Nicolac Werth, Jean louis Panné, André Paczkowski, Karel Bartosek, Jean louis Margolin, trong quyển «  Le Livre noir du Communisme « Hắc Thư về chủ nghĩa cộng sản) (  nhà xuất bản Laffont – 1997), thì nạn nhân của chế độ cộng sản được chia ra như sau :

–    Liên sô : 20 triệu người.
–    Trung cộng, 65 triệu.
–    Việt Nam, 1 triệu.
–    Bắc Hàn, 2 triệu.
–    Căm bốt, 2 triệu.
–    Đông Âu, 1 triệu.
–    Châu Mỹ La ting, 150 000.
–    Phi châu, 1,7 triệu.
–    A phú hãn, 1,5 triệu.

–    Phong trào cộng sản quốc tế và những đảng cộng sản không nắm chính quyền, mấy chục ngàn người.
Thực ra con số này là con số quá ít, chúng ta cứ lấy trường hợp Việt Nam, ngoài những người chết vì bị đấu tố trong cải cách ruộng đất, trong cuộc tấn công Tết Mậu thân 1968, còn biết bao nhiêu thế hệ bị chết oan uổng bởi chiến tranh đánh vào miền Nam, do cộng sản chủ mưu, núp dưới danh hiệu «  Giải phóng « , nhưng thực tế là muốn nhuộm đỏ miền Nam, theo kế hoặch của cộng sản Nga Tàu.
Con số 20 triệu ở Nga, nhiều nhà sử gia cũng cho là ít, họ ước đoán là khoảng 35 tới 40 triệu.
Đối với Tàu cũng vậy, theo 2 nhà sử gia Jung Chang và Jon Halliday, trong quyển Mao ( nhà xuất bản Gaillimard – Paris – 2 006), thì con số phải lên ít nhất là 70 triệu.

Cải Cách Ruộng Đất ở ngoài bắc 1954 – vết nhơ trong lịch sử Việt Nam… điệu người bị cho là địa chủ ra trường “Đấu”

Bắt đầu “Đấu”… nhiều chuyện rất khôi hài “cái thằng kia, mày dám phát gạo cứu đói cho cả nhà tao rồi bắt tao phải chăn trâu cả đời  cho mày…”

Tòa án “nhân dân” ra phán quyết.

Tử hình giữa phạm trường.

 Thi hành chính sách”Cải Cách Ruộng Đất”.  Ở bên tàu ông, Mao cho ra ma hơn 10 triệu người. Phía Việt Nam khoảng từ 1 cho đến 2 trăm ngàn người bị giết.  Theo báo cáo của Bộ chính trị đảng cộng sản VN tháng 10 năm 1956 thì riêng tổng số đảng viên bị “xử trí” lên tới 84.000 người. Nguồn Wikipedia .
Một trong những người ý thức rõ sự tai hại của chế độ cộng sản, ta phải nói đến ông Boris Eltsine, Ủy Viên Bộ Chính trị, Tổng thống nước Nga sau này. Trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ đầu, vào năm 1992, ông có nói :
«  Vào đầu thế kỷ 20, nước Nga đang ở chung một con tàu cùng với thế giới, nước Nga không phải là đầu tàu, nhưng cũng ở trong những toa tàu hạng nhất. Thế rồi nước Nga nghĩ rằng mình có thể có một đường lối phát triển riêng biệt, đã tách khỏi đoàn tàu. Không dè nước Nga bị dậm chân tại chỗ. Ngày hôm nay về phát triển nước Nga bị tụt hậu hàng nửa thế kỷ, nếu không muốn nói là hàng thế kỷ. »
Ở đây vì lý do chính trị, ông không nói rõ, nhưng ai cũng hiểu ông ám chỉ thủ phạm là Lénine, Đảng cộng sản Liên sô và Đệ Tam quốc tế Cộng sản.
Thực vậy Lénine không hiểu sai lầm của lý thuyết Marx, nghĩ rằng đây là thần dược, không những thực hiện ở nước mình, mà còn tìm cách xuất cảng ra nước ngoài.
Lúc đầu là qua các nước tây âu, nhưng thất bại như vụ nổi dậy ở Đức qua phong trào Spartakus, một phần do phe cực tả của Đảng Dân chủ Xã hội Đức, tách ra khỏi đảng, nổi lên ở Berlin, vào tháng 1/1919 ; trước đó ở Hung gia lợi, đảng Xã hội, liên hiệp với đảng Cộng sản, dưới sự lãnh đạo bởi Béla Kun, nổi lên vào tháng 3/1918 ; nhưng cũng thất bại.
Xuất cảng sang phía tây không thành, Lénine tìm cách xuất cảng sang đông.
Vào năm 1923,  tại Đại Hội Đệ Tam quốc tế Cộng sản, với sự có mặt cuối cùng của Lénine, ông đã tuyên bố : «  Chế độ cộng sản đi qua cửa ngõ New Delhi, Bắc Kinh, Moscou, rồi mới tới Paris, Luân đôn. »
Chính vì vậy mà có Hiệp ước thân thiện Lénine – Tôn dật Tiên vào cùng năm, rồi ông mở ra trường Đông phương sau này, lúc đầu mang tên trường Tôn dật Tiên.
Con vi trùng độc hại cộng sản bắt đầu tràn sang Á châu. Giới trí thức tả phương đông, đặc biệt là của 2 nước Tàu và Việt Nam, cũng cho rằng lý thuyết Marx là thần dược, không ngần ngại chấp nhận, chạy theo và áp dụng, trong đó chúng ta phải kể Trần độc Tú, Lý đại Siêu, 2 người được coi là sáng lập viên của Đảng Cộng sản Tàu, tiếp theo là Lưu thiếu Kỳ, Mao trạch Đông, Đặng tiểu Bình. Ở Việt Nam phải kể Hồ chí Minh, Trần phú, Lê hồng Phong, Nguyễn thị Minh Khai, Lê Duẫn.
Trong những người trí thức và lãnh đạo chính trị sáng suốt ở Việt nam, người ta thấy có cụ Phan bội Châu, và ở bên tàu, có tướng Tưởng giới Thạch.
Cụ Phan bội Châu,(hình bên) vào những năm đầu của thập niêm 20, cụ đã được những người của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản tiếp xúc, chiêu dụ cụ vào tổ chức, nhưng cụ từ chối. Cụ có nói :
«  Tôi chẳng duy tâm, cũng không duy vật, tôi chỉ duy dân. »
Tướng Tưởng giới Thạch cũng vậy. Sau Hiệp ước thân thiện Tôn dật Tiên – Lénine, ông đã được họ Tôn, vì lúc đó ông là tay em, gửi sang Liên Sô học. Nhưng ông không ở lâu để học, mà ông về nước ngay.
Người ta hỏi : «  Tại sao Tướng quân không ở đấy để học ? « Ông trả lời : « Ở đấy không có gì để tôi học. » Sau đó ông nói thêm :
«  Một con người không có xương sống thì suốt đời chỉ nằm hay bò. Xương sống của một xã hội là giai tầng trung lưu và sĩ phú trí thức. Nay cộng sản chủ trương tiêu diệt 2 giai tầng này, chỉ làm cho xã hội đó trở nên què quặt. Không tiến nổi. »

Về sau này, vào những năm 30 và 40, trong trận chiến với Nhật và tiêu diệt cộng sản, ông đã tuyên bố : «  Cộng sản như bệnh trong xương tủy. Nhật bản như bệnh ngoài da. Vì vậy phải chủ trương diệt cộng sản trước. Trước sau Nhật bản sẽ thua vì Đại Chiến. »
Tuy nhiên, câu nói này quả thật là đúng, quả thật là nhìn xa, trông rộng, như chúng ta ý thức ngày hôm nay. Tuy nhiên vào lúc đó có nhiều người hiểu lầm ông. Đây cũng là một trong những nguyên do chính, khiến ông bị thua bởi Mao trạch Đông.  Hình bên: Tướng Tưởng giới Thạch

I I  Sơ lược di hại về tinh thần

Di hại về tinh thần, đó là cũng theo lời huấn dạy của Marx, để tạo dựng một nền văn hóa, văn minh mới, thì phải phá hủy tất cả những gì thuộc về văn hóa, văn minh cũ, đi đến chỗ phá đền đài, phá chùa, phá nhà thờ. Những giá trị nhân bản cổ truyền, dạy dỗ con người trở nên thực sự là người, bị chà đạp, đổ xuống sông, xuống biển một sớm, một chiều, con người không phải là con người, mà trở về đời sống cầm thú, xúc vật, mạnh được, yếu thua. Cộng thêm với quan niệm duy vật hiểu theo nghĩa thấp hèn của nó và quan niệm bạo động lịch sử, con người ngay cả bố con, vợ chồng, bạn bè không còn như xưa nữa, mà sẵn sàng giết nhau, hại nhau vì một vài trăm $, như chúng ta thấy hiện nay ở Việt Nam và Trung Cộng.

Ngày xưa, Tản Đà có câu: “ Văn minh Đông Á trời thâu sạch. Này lúc cương thường đảo ngược ru. “ Thực ra, với chế độ cộng sản, không những văn minh đông phương, mà cả văn minh tây phương, nước nào bị cai trị bởi cộng sản, đều lâm vào cảnh “ Cương thường đảo ngược “, từ vật chất đến tinh thần.
Thực vậy, chế độ cộng sản được dựng lên trên nền tảng lý thuyết không tưởng của Marx và Engels, cho rằng phải phá hủy tất để xây dựng thiên đàng cộng sản.
Từ đó, người cộng sản, khi cướp được chính quyền, có võ lực trong tay, không từ một hành động nào, từ chém giết, dối trá, lừa bịp, khủng bố, dọa nạt, mị dân đến chỗ mị chính bản thân mình, để thực hiện lời dạy của Marx.
Chế độ cộng sản là một chế độ độc tài toàn diện, cực quyền, nắm giữ, kiểm soát tất cả mọi sinh hoạt của đời sống con người, từ triết lý đến chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, công an, quân đội.
Vì vậy, họ đã dùng tất cả những thứ này, cộng thêm với những thủ đoạn ác ôn, côn đồ, hèn hạ, để thay đổi xã hội mà họ cai trị.

Vì vậy,

1- Chế độ cộng sản là một chế độ cai trị dân bằng cái loa, cái còng và cái súng, nên đã làm cho người dân, hoặc trở nên u mê, hoặc trở nên sợ hãi.

2- Từ đó chế độ cộng sản làm cho người dân trở nên hèn nhát, nhu nhược.

3- Và cũng từ đó chế độ cộng sản làm cho đạo đức băng hoại, kỷ cương suy đồi, nhất là với tư tưởng của Marx chủ trương phá hủy mọi nền văn hóa, văn minh cũ, để xây dựng lên một nền văn hóa, văn minh mới, qua quan niệm “ Tam Vô “ ( Vô tôn giáo, vô gia đình, vô tổ quốc), qua hành động “ Trí phú hào, đào tận gốc, trốc tận rễ.”

Thánh Gandhi (hình bên) có nói câu: 

“ Năm tội ác của một xã hội:

1) Làm chính trị không cần nguyên tắc.

2) Thịnh vượng không cần làm việc.

3) An nhàn không cần đạo lý.

4) Khoa học không cần nhân đạo.

5) Tín ngưỡng không cần hi sinh.”
Năm tội ác này áp dụng cho chế độ cộng sản quả thật không sai.
Nguyên do tại đâu?
–    Có thể nói nó bắt nguồn xa xưa từ Marx cho đến Lénine rồi tiếp theo giới lãnh đạo con cháu.
–    Marx chủ trương “ Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu “, “ Một xã hội an nhàn không cần đạo lý.”
–    Lénine chủ trương làm chính trị không cần nguyên tắc, miễn sao có lợi cho mình và cho đảng.
–    Rồi ngày hôm nay ở Việt Nam, phá thai bừa bãi, nhà thương thay vì cứu người  lại à  nơi tham ô, hối lộ; chùa, nhà thờ mọc lên như nấm với những “ông sư quốc doanh, linh mục quốc doanh”, đó chính là khoa học không cần nhân đạo và tín ngưỡng mà không cần hi sinh, hơn thế nữa lợi dụng tín ngưỡng để kiếm tiền.

Xã hội cộng sản quả thật là một xã hội loài người nhưng mất hết nhân tính, xã hội do loài quỉ đỏ cai trị.

Chính vì vậy mà ông Lê xuân Tá, Phó Trưởng Ban Khoa học và Kỹ thuật của Trung Ương Đảng Cộng sản Việt Nam trước đây có viết, vào thời điểm những chế độ cộng sản Liên sô và Đông Âu sụp đổ:
“ Sự ngu dốt và sự thấp hèn tự nó không đáng trách. Nhưng sự ngu dốt và thấp hèn mà được trao quyền lực và cấy vào vi trùng ghen tỵ, thì nó trở thành quỉ nhập tràng.
“ Và con quỉ này, nó ý thức rất rõ rằng cái đe dọa quyền và lợi của nó chính là sự hiểu biết, văn hóa và văn minh; nên nó đã đánh những thứ này một cách tàn bạo, không thương tiếc.
“ Nhưng chính vì nó là thấp hèn và ngu dốt, nên những thứ này đã trở thành những sạn thận, sỏi mật, trong lục phủ ngũ tạng của chế độ, làm cho chế độ không ai đánh mà tự chết.”
Tôi không đồng ý với câu kết luận này, vì chúng ta không thể ngồi chờ xung rụng.
Và từ đó,  một câu hỏi đến với chúng ta:
Làm thế nào để tiêu trừ những di hại của chế độ cộng sản. Câu hỏi này có thể được đặt ra dưới dạng một câu hỏi khác, đó là:
Tại sao cuộc cách mạng tự do, dân chủ, nhân quyền đã đến với Liên Sô, Đông Âu, rồi tràn sang Tunisie, Ai cập, Lybie, hiện đang ở Syrie và Miến Điện, thế mà vẫn chưa đến  Việt Nam. Làm thế nào để nó xẩy ra tại Việt Nam ?

Để trả lời câu hỏi này, có rất nhiều nguyên do, vì cách mạng là một biến cố chính trị và lịch sử rất to lớn. Ở đây tôi chỉ xin nêu ra một vài nguyên do chính đứng theo bình diện của người chủ trương cách mạng.

Chế độ cộng sản Việt Nam là một chế độ ác ôn, côn đồ, gian manh quỉ quyệt và đạo đức giả nhất trong những chế độ cộng sản thế giới. Ác ôn côn đồ vì chúng không chừa bất cứ thủ đoạn nào để hăm dọa, trấn áp những người tranh đấu vì tự do dân chủ, vì nhân quyền công lý. Chúng xử dụng những công an không còn tính người, chỉ biết “ còn đảng còn mình”; dùng những bọn giá áo túi cơm, mệnh danh “ quần chúng tự phát “ đả thương, quấy nhiễu những thành phần tranh đấu bất bạo động cho sự vẹn toàn lãnh thổ trước sự ngang ngược, bạo tàn của Bắc phương, tranh đấu cho một xã hội không còn cảnh người đàn áp người, người hành hạ người hơn loài lang sói.
Gian manh quỉ quyệt vì chúng là một chế độ bán nước hại dân, nhưng chúng đã núp dưới chiêu bài quốc gia, dân tộc, “Đuổi Pháp, đánh Mỹ “để lừa bịp dân tộc và cả toàn dư luận quốc tế. Ngay từ đầu khi thành lập đảng cộng sản Hồ chí Minh và bè lũ đã tự nguyện trung thành với Đệ tam Quốc tế Cộng sản, tự đưa dân tộc và đất nước trở thành con chốt hy sinh cho tham vọng bành trướng của Nga Tàu. Lê Duẫn, cựu bí thư của đảng cộng sản Việt Nam đã không ngượng miệng khi tuyên bố “ Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên sô”. Quỉ quyệt vì chúng đã biết rằng “Đánh rắn là phải đánh dập đầu “, vì vậy từ đầu chúng đã tìm mọi cách ám hại, thủ tiêu những người yêu nước không cùng chính kiến, không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản như các cụ Phan bội Châu, Lý Đông A, Trương tử Anh. Ngày nay chúng bắt bớ giam cầm hay quản thúc tại gia, cho công an canh giữ, cô lập những lãnh tụ đối lập, từ tôn giáo đến chính trị, như Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Linh mục Nguyễn văn Lý, bác sĩ Nguyễn đan Quế, luật sư Lê thị Công nhân và nhiều người khác.

Thêm vào đó chúng biết rằng làm việc gì cũng phải có niềm tin và tổ chức, nên chúng đã tìm cách chia rẽ, xâm nhập vào hàng ngũ chống cộng để xuyên tạc, tung tin thất thiệt, làm lay động niềm tin. Đồng thời chúng tìm cách kiểm soát, cô lập tối đa người này với người kia, vì không có liên lạc thì khó có thể tạo được niềm tin và tổ chức.

Chế độ cộng sản đã được thử nghiệm gần 1 thế kỷ nay, đã hoàn toàn thất bại, mang rất nhiều di hại về cả vật chất lẫn tinh thần cho bất cứ xã hội nào bị cai trị bởi nó. Điều này toàn thế giới đã thấy và dân Việt Nam ý thức rõ hơn ai hết, chỉ có một thiểu thiểu số đảng đoàn cán bộ, vì đặt quyền lợi cá nhân lên trên quyền lợi của quốc gia dân tộc nên mới cố bám víu vào quyền hành, cai trị dân bằng cái loa để mị dân, cái còng và cái súng để dọa nạt dân, làm cho dân sợ. Thêm vào đó chúng còn áp dụng chính sách giáo dục nhồi sọ, xuyên tạc sự thật, tôn thờ lãnh tụ, nhằm mục đích ngu dân, ngõ hầu kéo dài ngày sụp đổ của chế độ do chúng dựng lên.
Chính vì lẽ đó mà để làm cuộc cách mạng chống cộng sản ở Liên sô, những nhà trí thức Nga đã lấy câu châm ngôn làm kim chỉ nam: “ Sự thật nặng hơn quả địa cầu “,Đức Giáo hoàng Jean Paul II, vừa mới lên ngôi, về thăm Ba Lan, đã khuyên dân Ba lan: “Đừng sợ hãi và hãy hy vọng “. Ngày hôm nay, bạo quyền ở bất cứ nơi nào cũng không thể cấm đoán dân, nhất là giới trẻ tiếp cận với Internet, nên Ghonim, người chính trong cuộc cách mạng ở Ai Cập, đã nói: “Để làm cách mạng ngày hôm nay, chuyện chính là làm cho dân và nhất là giới trẻ tiếp xúc với Internet.”

 Năm 1979.  Đức Giáo Hoàng John Paul II kêu gọi giáo dân đừng sợ: Lời nói nổi tiếng của Ngài trước cả triệu người trên Quảng trường Chiến Thắng trong dịp hành hương về đất mẹ Ba Lan khi còn bị cộng sản cai trị vẫn luôn luôn hiện hữu: “Xin Chúa hãy hiển linh – để thay đổi diện mạo của mảnh đất này!” và “Các con đừng sợ hãi!”. Blog 16.  Hình dưới: Có thể nói từ cổ chí kim chưa có đám tang nào mà số người tham dự đông đảo lên tới hơn cả triệu người tràn ngập Rome để đưa tiễn Đức Giáo Hoàng John Paul II khi ngài mất.

Nói lên sự thật, dựng lại niềm tin, đó là công việc làm của mỗi người Việt ở quốc nội, cũng như ở hải ngoại, nên ý thức rõ để thực hiện. Nhưng đây là một công việc đòi hỏi sự kiên trì, đi chính từ bản thân, đến những người chung quanh, bắt đầu từ những người trong gia đình, có thể tin tưởng được, tạo cho họ niềm tin, rồi theo vết dầu loang, một truyền 2, rồi 2 truyền 4, cứ như thế kiên trì mà thực hiện.

Tất nhiên sau đó phải có kế hoặch và tổ chức. Bất cứ một tổ chức cách mạng chống bạo quyền, độc tài nào, thường cũng có 2 phần, hoàn toàn biệt lập nhau: phần nổi và phần chìm.
Phần nổi để thức tỉnh dân, để báo động với quốc tế rằng “Chúng tôi vẫn còn đây, vẫn kiên trì đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền “, nhiều khi cũng bị mất mát, hy sinh. Nhưng nhiều khi phải chịu. Phần chìm mới quan trọng, đây là cơ quan sửa soạn hạ tầng, để làm nên những đợi sóng ngầm, đợi đúng thời cơ, thì những đợt sóng này sẽ nổi lên cuốn đi những rác rưởi đã làm ngăn cản giòng lịch sử dân tộc, cuốn đi những tham quan, ô lại, bạo chúa, bạo quyền.

Khi chúng ta đã có tổ chức, có một  đường lối tranh đấu, trong hợp với lòng dân, ngoài hợp với trào lưu tiến bộ của nhân loại, đó là tranh đấu nhằm tạo dựng một nước Việt Nam Tự Do Dân Chủ, tôn trọng Nhân Quyền và Tiến Bộ thì chắc chắn chúng ta sẽ có sự hậu thuẫn của dân và sự ủng hộ của nhân dân và các nước yêu chuộng Tự Do và Công Lý trên thế giới.
Tạo dựng niềm tin, lòng cản đảm, tìm hiểu sự thật! Đầu tiên cho chính mình, sau đó cho người thứ nhì, rồi người thứ ba, rồi mỗi người cứ tiếp tục làm như thế !

Đừng nghĩ rằng không đi đến đâu cả, chỉ là công dã tràng. Nên nhớ: Một lâu đài to lớn kia cũng chỉ bắt đầu được xây dựng với những viên đá, viên gạch nhỏ bé lúc ban đầu. Một cuộc hành trình vạn dặm cũng bắt đầu bởi bước khởi hành đầu tiên. (1)

Paris ngày 22/07/2012

Chu chi Nam

(1)    Xin coi thêm những bài viết về Marx, trên http://perso.orang.fr/chuchinam/

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

 

Links:


http://perso.orang.fr/chuchinam/