Xuất Khẩu Cô Dâu – Trúc Giang MN

 Có con chim đa đa nó đậu cành đa
Sao không lấy chồng gần mà đi lấy chồng xa
Có con chim đa đa hót lời nỉ non
Sao em nỡ lấy chồng từ khi tuổi còn son
Để con chim đa đa ngậm ngùi đành bay xa 

Nhạc :  Võ Đông Điền

Bài đọc suy gẫm: Xuất Khẩu Cô Dâu hay Cháu Ngoan Bác Hồ Thích Lấy Chồng Ngoại của tác gỉa Trúc Giang MN.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

1* Cháu ngoan bác Hồ thích lấy chồng ngoại

Tâm sự của một cô dâu Hàn Quốc: ..chúng tôi bị nhìn ngắm, thậm chí còn bị sờ mó như một món hàng. Tôi có quyền nghĩ đây là cơ thể của tôi, tôi nhịn nhục để được thay đổi cuộc đời, nhiều người cứ tưởng rằng cơ thể của tôi thuộc về sở hữu của dân tộc VN. Thế nên, họ đùng đùng nổi giận khi cơ thể của tôi bị người khác dòm ngó, chọn lựa…chúng tôi được sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được”. (Trần Thị Nguyên)

Cháu ngoan bác Hồ thích lấy chồng ngoại.

Thật vậy, các cháu đã được giáo dục đào tạo dưới mái trường XHCN, trên cơ sở “học tập, lao động, chiến đấu theo gương đạo đức của bác Hồ vĩ đại”

Chính các cháu thuộc thế hệ “quàng khăn đỏ”, đạt danh hiệu “Cháu Ngoan Bác Hồ”, đã từng sinh hoạt trong đội, đoàn để rèn luyện lý tưởng Cộng sản.

Thế là cả một phong trào vùng lên làm cuộc” cách mạng đổi đời”. Cuộc đổi đời lần thứ nhất đưa đến cảnh đồng bào cả nước ăn bo bo dài dài, cuộc đổi đời lần nầy, với hàng trăm ngàn cháu ngoan của bác, đã nhận chìm nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam, con cháu Bà Trưng, bà Triệu, xuống tận bùn đen dưới chân của những thằng bần cố nông Đài Loan, Đại Hàn.

Đó là hình ảnh của từng đợt, hàng hàng lớp lớp, thiếu nữ VN, hàng chục, hàng trăm người trần truồng như nhộng, xếp hàng phô trương thân thể để cho mấy thằng mạt rệp Đài Loan, Đại Hàn sờ mó, ngắm nghía, móc ngoặt để chọn vợ như người ta lựa mua món đồ chơi hay mua nô lệ của những thế kỷ trước.

Văn hoá truyền thống ngàn năm của dân tộc là “nghèo cho sạch, rách cho thơm” thế mà thời đại Hồ Chí Minh chả còn cái gì là sạch, là thơm cả.

Cũng chả trách được ai, vì chính bác đã chà đạp nhân phẩm phụ nữ, xem phụ nữ như một món đồ chơi để giải quyết sinh lý, chơi chán rồi chuyền xuống cho đàn em hưởng xái nhì, trước khi đem thủ tiêu để chọn món đồ chơi khác. Con rơi, con rớt cả đàn, thì còn trách được ai nữa?

2* Hôn nhân dị tính không có gì đáng trách cả

Hôn nhân phải được đặt trên cơ sở tình yêu, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và có mục đich chung là xây dựng hạnh phúc gia đình. Bất cứ người Việt Nam nào, nam hay nữ, kết hôn với người khác chủng tộc như Đài Loan, Đại Hàn, Trung Quốc, Mả Lai … nếu đặt trên cơ sở nầy, thì không có gì đáng phiền trách cả.

Những người đàn ông Đài Loan, Đại Hàn đa số là nông dân, ít học, quá lứa, nghèo rớt mồng tơi…không có khả năng cưới vợ bản xứ, cho nên đi tìm đến thị trường rẻ tiền, ế hàng để làm vua, làm chúa, làm ông trời con, đối với phụ nữ VN. Điều nầy, tự bản chất của nó, đã hạ danh dự và nhân phẩm của phụ nữ VN, một thứ đồ chơi rẻ tiền. Thanh niên VN phải bưng khai trầu rượu, cung kính dâng lên cha mẹ vợ để xin cưới con gái, trái lại, mấy thằng nông dân Đài Loan, Hàn quốc chỉ tung ra vài ba triệu đồng VN để mua vợ. Cha mẹ vợ và chàng rể chưa được gặp mặt nhau lần nào trước khi đám cưới. Ngay cả vợ cũng chưa có đủ thời gian để nhớ rõ mặt mũi chồng ra sao, trong đầu óc chỉ biết đến những con số về tiền bạc mà thôi.

Cái nhục nhã nhất chưa từng có trong lịch sử VN bốn ngàn năm, là việc các cô gái trần truồng đứng xếp hàng với hy vọng được chấm, và được về làm dâu xứ người.

3* Những lý do đổ vở
Lý do thứ nhất là sự thất vọng.
Những đàn ông nước ngoài được các tổ chức và các ông mai bà mối giới thiệu hàng, nào là gái VN có thân hình đẹp, siêng năng, chịu khó, chiều chồng hết mực…Những thiếu nữ VN thì được cho biết là, chú rể là chủ nông trại, chủ đồn điền, các bà vợ chỉ ở nhà xem phim Hàn quốc, làm đẹp, mỗi tháng chồng cho 300 đô gởi về VN, tha hồ mà mua sắm quần áo hàng hiệu…
Thực tế thì trái lại, làm thất vọng cả hai bên. Giấc mơ đổi đời tiêu tan theo mây khói. Chàng rể thì nợ vay cưới vợ không trả nổi. Ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán khác nhau thì làm sao mà hiểu nhau để hợp nhau mà tạo dựng hạnh phúc gia đình.
Ở không được, về VN không được, cho nên bi kịch xảy ra.
4* Đài Loan khó, Hàn Quốc dễ
4.1. Đài Loan khó
Theo số liệu của Đài Loan, thì từ thập niên 1990 đã có 100,000 cô dâu VN. Đến năm 2004, chính phủ Đài Loan thắt chặt dịch vụ môi giới, sau những loạt các ông chồng đánh đập, tra tấn và cầm tù các người vợ VN. Quy chế mới bắt buộc những cặp Đài – Việt phải trình diện khi đăng ký kết hôn và phải trải qua các vòng kiểm tra về ngôn ngữ, hiểu biết văn hoá, hiểu biết nhau, về chênh lệch tuổi tác và tình trạng sức khỏe.
4.2. Hàn quốc dễ hơn
Cùng lúc đó, chính sách hôn nhân của Hàn quốc đã mở ra nhiều cơ hội tìm vợ cho đàn ông nông thôn hoặc những người quá lứa, cao tuổi, mà không có khả năng cưới vợ người Hàn quốc. Nắm lấy cơ hội nầy, những tổ chức và cá nhân làm nghề môi giới VN đã chuyển sang thị trường Hàn quốc.
Từ năm 2004 đến 2006, số cặp hôn nhân của năm sau tăng gấp đôi năm trước. Cao điểm vào năm 2006, với 10,130 cặp Hàn-Việt kết hôn.
Các cô gái VN chỉ cần biết OK bằng cách gật đầu là xong ngay. Đương nhiên là phải có thông dịch viên để bàn các chi tiết của đám cưới, chủ yếu là về tiền bạc.
Trước kia, Đài Loan yêu cầu các cô gái phải còn trinh, nhưng đàn ông Đại Hàn thì không quan tâm nhiều đến cái ngàn vàng ấy.
Vì không chú trọng đến chữ trinh, cho nên nhiều người vợ trẻ VN đã bỏ chồng đi làm dâu xứ củ sâm.
Thường thì báo chí chỉ đăng những vụ bố ráp bắt những tổ chức môi giới bất hợp pháp và một vài trường hợp hy hữu về những thảm cảnh của cô dâu VN ở xứ người, vì thế làn sóng gái Việt mơ có chồng Đại Hàn vẫn tiếp tục gia tăng. Hàn quốc hiện có 137,000 cô dâu người nước ngoài.

 

 

 

 

 

 

 

Lớp học ngôn ngữ và nấu thức ăn của người Đại Hàn

5* Bi kịch ở Đài Loan
5.1. Vợ Việt bị hành hạ dã man

Xem mắt, sờ mó. kiểm tra hôm trước, đám cưới hôm sau. Cha mẹ vợ chưa một lần gặp mặt và biết tên chú rể. Thân gái 12 bến nước, toàn là bến dơ.
Theo bản tin của tờ báo Quả Táo, Đài Loan và tờ Newspaper (Singapore) thì ở Đài Loan đang xảy ra một vụ án gây phẩn nộ, mà nạn nhân bị hành hạ, đoạ đày còn khổ hơn 12 kiểu khổ hình tra tấn dã man của thời đại các bạo chúa ngày xưa.
Nạn nhân là một cô dâu VN tên Đoàn Nhật Linh, 20 tuổi.
Vào tháng 4 năm 2002, cô Linh theo chồng là Liu Cheng Chi (Lưu Chánh Kỳ) 39 tuổi, về Đài Loan với gương mặt tươi cười rạng rỡ vì gia đình được nở mặt nở mày với bà con, láng giềng. Chú rể không những có nhiều tiền mà còn bảnh trai nữa.
Cô không biết rằng chuyến đi định mệnh đó bắt đầu cho một cuộc sống tủi nhục và đau khổ của đời cô.
Thực tế thì, chồng của Nhật Linh vẫn còn sống chung với người vợ cũ tên là Lin Lee Zhu (Lâm Lệ Như) 34 tuổi. Lưu Chánh Kỳ và Lâm Lệ Như đã có một đứa con gái, nhưng vì Lệ Như không có thể sinh con được nữa, mà Chánh Kỳ thì muốn có đứa con trai để nối dõi tông đường, cặp vợ chồng nầy thực hiện một cuộc ly hôn giả, để Chánh Kỳ sang VN cưới vợ về, hy vọng sẽ có con trai và có người giúp việc không công.  Hàng đêm, Lưu cùng 2 vợ ngủ chung một giường. Ban ngày, Nhật Linh phải làm việc như một Osin để phục vụ cho cả nhà. Đêm thì, Linh bị vợ chồng Lưu cưỡng bách chơi trò dâm loạn ba người trên cùng một giường.
Ba tháng sau, vợ chồng Lưu bắt đầu hành hạ Nhật Linh bằng các cực hình.
Tất cả giấy tờ của Nhật Linh, từ hộ chiếu đến giấy cư trú bị Lưu cất giữ và cấm không cho liên lạc với bất cứ ai. Bị giam trong phòng, mỗi ngày một bữa ăn và một lần đi vệ sinh.
Vì ăn chơi trác táng, Lưu bị nhiễm trùng đường tiểu, hắn nghi ngờ Nhật Linh lây bịnh cho hắn, nên vợ chồng thẳng tay dùng các hình thức tra tấn dã man, cưỡng bức Nhật Linh phải ký giấy thú nhận đã từng làm gái mãi dâm, đã bị bịnh và đã truyền bịnh cho hắn.
Linh thường bị trói, bị lấy kim đâm vào 10 đầu ngón tay, rồi nhúng những ngón tay rỉ máu vào nước muối. Hắn còn dùng gậy đánh đập dã man, dùng dao chém vào lưng, rạch thành những vết thương ngang dọc. Thậm chí, còn bắt cô nhắm mắt rồi lấy ná thun bắn vào mắt.  Suốt 7 tháng liên tục bị hành hạ, từ một cô gái thanh xuân tràn đầy sức sống, cô gầy gộc chỉ còn da bọc xương, từ 48 kg còn 20 Kg.
Tháng 2 năm 2003, Nhật Linh không còn đi đứng nổi, trên người đầy vết thương rướm máu, vợ chồng Lưu Chánh Kỳ sợ Linh chết, cả hai khiêng cô lên xe, chở đến một bãi vắng, thuộc khu nhà máy phát điện ở Đài Trung (Đài Loan) rồi vất cô xuống.
Sức tàn lực kiệt, nhưng bản năng sinh tồn và những uất hận dồn nén, cô lê lết đến một quán ăn gần đó để xin ăn.  Cảnh sát được báo tin, đưa Linh vào bịnh viện cấp cứu.  Sau một năm điều trị và chăm sóc đặc biệt, Nhật Linh đã bình phục.  Nhật Linh thuật lại:
“Sau 7 ngày liên tục, em bị bỏ đói, đến 11 giờ trưa hôm đó, ông ta lấy kéo xởn tóc em, sau đó lôi em lên xe, chở đến một cánh đồng vắng, bỏ em xuống và đưa em một chai thuốc và nói “Uống để chết nhanh, không đau”, rồi hắn hái lá cây cho em ăn. Khoảng hai giờ sau, ông ta quay lại, thấy em nằm im, tưởng em đã chết. Ông ấy lấy lá cây xoá dấu bánh xe rồi bỏ đi.
Em lết đến một quán ăn gần đó, xin cơm của một người phụ nữ rửa chén. Bà ấy cho em một vắt mì, 2 trái quít một lon coca và một cái áo khoát vào người. Em ngồi ăn ngoài đường, khách qua lại tưởng là người ăn xin, họ cho em tất cả 50 đồng Đài Loan. Và em ngất xỉu. Khi tĩnh dậy thì mới biết đang ở bịnh viện.  Trước cơ quan điều tra, vợ chồng Lưu Chánh Kỳ phủ nhận hoàn toàn những hành vi phạm tội, mà còn giả bịnh tâm thần để chạy tội.  Công tố viện đã khởi tố Lưu Chánh Kỳ và Lâm Lệ Như về tội “ngược đãi người khác như nô lệ” với bản án 7 năm tù.
Bà Võ Thị Nguyên, mẹ của Nhật Linh, đang sống ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng nói:”Tôi hối hận lắm. Con đang học lớp 9, bắt con nghỉ học để lấy chồng ngoại, tưởng vậy là thương con, nào ngờ, mẹ đã hại con. Ngày cưới, tôi thấy trong giấy, chú rể ghi tiền cưới là 10 triệu, nhưng trong phong bì chỉ còn có 4.4 triệu, trả tiền thuê xe, thì chỉ còn 4 triệu”.  Rốt cuộc, cũng chỉ vì tiền.
5.2. Giết vợ Việt để lãnh tiền bảo hiểm
Ngày 27-5-2007, toà án Đài Loan đã kêu án tù chung thân Lý Thái An đã cấu kết với em trai là Lý Song Toàn, giết người vợ VN là Trần Thị Hồng Sâm để lấy tiền bảo hiểm nhân mạng.
Tóm tắt sự việc:  Lý Thái An đã mua bảo hiểm nhân mạng cho vợ VN là Trần Thị Hồng Sâm với giá là
75 triệu tệ Đài Loan (Hơn 2 triệu đôla Mỹ).  Thái An dàn cảnh đưa vợ đi bằng đường xe lửa và cho em trai là Lý Song Toàn phá hoại làm cho xe lửa bị trật đường rầy, gây ra tai nạn.
Hồng Sâm được đưa vào bịnh viện Fan Liao vì bị thương nhẹ. Tại bịnh viện, Lý Song Toàn đã bí mật chích một loại nọc rắn độc làm cho Hồng Sâm bị xuất huyết nội và tử vong.
Dựa vào lời khai của y tá, vào những báo cáo của 4 viện Đại học y khoa, của bác sĩ giảo nghiệm tử thi chuyên môn đã kết luận là Trần Thị Hồng Sâm chết vì chất độc chớ không phải do tai nạn gây ra.
Y tá khai rằng Lý Song Toàn cứ lãng vãng bên cạnh bà Hồng Sâm, mặc dù y tá đã yêu cầu anh ta đi ra ngoài. Một nhân chứng là Huang Fu Lai, khai rằng Lý Thái An đã sửa soạn âm mưu từ 6 tháng trước và đã rủ ông tham gia để chia tiền, nhưng ông từ chối.
Sau đó, Huang Fu Lai bị kết án 4 năm tù treo.  Lý Song Toàn đã tự tử một nghày sau khi bị truy tố chủ mưu giết người.  Người vợ đầu tiên của Lý Thái An cũng là cô dâu Việt Nam đã chết một cách mờ ám. Trần Thị Hồng Sâm là vợ thứ ba.
5.3. Bị điên vì lấy chồng Đài Loan
Bẳng đi 2 năm không liện lạc, ngày nọ, gia đình chồng dẫn cô dâu về VN trả lại cho nhà gái. Từ một cô gái xinh đẹp, Hà biến thành một người xấu xí, già nua, không nói với ai một lời, cô co rúm vào một góc phòng nét sợ hải hiện trên nét mặt.
Ở làng quê, xã Trung Nhất, huyện Thốt Nốt, Cần Thơ, Hà được xem là cô gái may mắn hơn những cô khác, là Hà được có tấm chồng ở Đài Bắc, thương vợ hết mực, có cơ nghiệp ổn định.
Hà được đưa vào bịnh viện tâm thần Cần Thơ. Ở bịnh viện nầy, có không ít những cô dâu có chồng ngoại cũng bị tâm thần như Hà. Trong đó, có cô dâu tên Màu.
Bà mẹ Màu còn nhớ rõ, sau một đám cưới tập thể được tổ chức gấp rút ở Sài Gòn, người môi giới đưa cho bà 1 triệu đồng là tiền của gia đình chú rể, sau khi trừ đi các chi phí.  21 ngày sau, bà nhận được điện thoại bảo lên sân bay Tân Sơn Nhất đón con.  Lúc tĩnh táo, Màu còn nhớ, chồng lớn hơn cô 20 tuổi, làm nghề gì không biết mà ra đi từ sáng sớm, tối mịt mới về nhà.
Màu ở chung với mẹ chồng và người anh chồng làm nghề ăn xin, mình đầy ghẻ lở. Mỗi bữa ăn, mẹ chồng buộc cô phải uống một thứ thuốc gì màu đen, mùi hăng hắc. Cô không uống thì bị một trận đòn chí tử.
Người vợ cũng không thấy rõ mặt chồng mình. Cô bị nhốt suốt ngày trong phòng. Màu sống 21 ngày như thế và đâm ra hoảng loạn, phát điên.
Gia đình trở nên nghèo túng hơn kể từ khi Màu trở về. Mỗi tháng phải mua 300,000 tiền thuốc cho Màu.
Năm 2003, tưởng rằng con gái hết bịnh, gia đình tháo dây xích buộc chân cô. Một đêm, cô bỏ đi, bảo là lên Cần Thơ làm ăn. Sau đó, người nhà tìm thấy Màu đi lạc ở Đồng Tháp.  8 tháng sau, Màu sanh ra một đứa con không cha. Gia đình đã nghèo mà còn bị rách nát hơn. Đó là hậu quả của một cuộc đổi đời. Biết trách ai đây?
Một ông Đài Loan cưới 2 vợ VN trong 4 ngày.
Hồi tháng tư năm 2004, một người Đài Loan tên Lin Ming Wei nhập cảnh VN với lý do du lịch. Nhưng sau đó, ông nhờ người mai mối tên Huỳnh Thị Nga, trong vòng 4 ngày đã nhanh chóng làm lễ cưới không hôn thú với 2 cô gái VN, cả hai đều 21 tuổi ở huyện Phong Điền, Cần Thơ.
Bị phát hiện, ông Lin Ming Wei bị phạt 10 triệu đồng vì lý do có hành động không đúng với mục đich nhập cảnh.
Câu chuyện gái Việt lấy chồng ngoại kể hoài không hết được.  Không hiểu phụ nữ VN ở thế hệ nầy nghĩ gì về hôn nhân?  Không hiểu các bậc cha mẹ ở thời đại nầy nghĩ sao về hạnh phúc của con gái?
Đạo đức VN đã đến thời kỳ thật sự bị phá sản!
6* Bi kịch ở Hàn Quốc
6.1. Cái chết của Thạch Thị Hoàng Ngọc

Cô dâu Việt Nam Thạch Thị Hoàng Ngọc (xấu số) và chồng người Đại Hàn Yang Du Hyo.

Chuyện cô gái Việt lấy chồng ngoại không có gì lạ. Chuyện cô dâu Việt bị hành hạ cũng không có gì lạ vì nó xảy ra hà rầm như cơm bữa.
Chuyện lạ ở đây là câu chuyện thương tâm của một cô gái Việt mới 20 tuổi.
Cuộc mặc cả xảy ra trong 30 phút và sau đó là cuộc hôn nhân vội vã mà hai bên chưa kịp nhớ rõ mặt nhau, bất chấp quá khứ và hiện tại, cho dù người chồng bị khuyết tật hay bịnh tâm thần cũng mặc.
Ngày 9-7-2010, cô dâu VN tên Thạch Thị Hoàng Ngọc, chỉ sau một tuần đặt chân trên đất nhà chồng ở xứ Củ Sâm, thì một tin buồn bay đến tận vùng quê hẻo lánh thuộc huyện Cờ Đỏ, Cần Thơ, tin buồn làm cho gia đình và chòm xóm đều bàng hoàng không ít. Dân chúng huyện Cờ Đỏ xôn xao trước cái chết của người con gái trẻ và ngoan hiền.
Ông Thạch Sang cho biết, Ngọc là đứa con hiếu thảo, vì gia đình quá nghèo nên phải bấm bụng cho con đi, mong cho con được hạnh phúc.
Chị của Ngọc thì lấy chồng Đài Loan, em út thì đang làm thủ tục dể đi lấy chồng Đài.
Trước khi cưới, chú rể có đưa 3.8 triệu, nhưng trừ các chi phí chỉ còn 1.8 triệu. Và sau đó, chú rể Jang Du Hyo có đưa thêm 500 đô la Mỹ.
Tờ Korea Times đưa tin là sở cảnh sát cho biết một phụ nữ VN được tìm thấy đã chết trong nhà chồng vào ngày 8-7-2010.
Cô Thạch Thị Hoàng Ngọc đến Đại Hàn vào ngày 1-7-2010, không biết tiếng Hàn, cũng không biết ông chồng có tiền sử bịnh tâm thần. 5 ngày trước khi đi VN để đón cô dâu, thì Jang đã phải vào bịnh viện. 5 năm trước, Jang đã tấn công cha mẹ mình. Jang đã vào bịnh viện 57 lần để điều trị bịnh tâm thần phân liệt của mình.
Cái chết của cô Thạch Thị Hoàng Ngọc đã dấy lên nhiều nguồn dư luận khác nhau ở Hàn Quốc.
Khi ông bà Thạch Sang đến Hàn Quốc, thì một nghị sĩ là ông Han Sun Kyo đã cùng ông bà đưa xác cô Hoàng Ngọc về quê an táng.
Hội những người Hàn ở Sài Gòn quyên góp được số tiền 20,000 đô la để giúp đở gia đình nạn nhân.
Tờ Chosun Ilbo cho biết là gia đình cô Hoàng Ngọc được bồi thường 25,000 đô la.
Tổng thống Lee Myung-bak đã đích thân xin lỗi gia đình nạn nhân trong bài phát biểu trên đài phát thanh quốc gia.
Toà án Busan đã kết án 12 năm tù cho chú rể Jang Du Hyo. 3 người môi giới bị phạt một năm tù giam.
Sau đó, Đại Hàn đã ban hành những luật lệ mới về việc hôn nhân với người ngoại quốc.
6.2. Cái chết của cô dâu Kim Đồng
Ông Phạm Hữu Chí, tham tán ngoại giao ở Hàn quốc cho biết, thi thể của cô Lê Thị Kim Đồng đã được hoả táng.  Không có bằng chứng pháp lý để truy cứu hình sự. Và toà Đại sứ VN ở Hàn Quốc yêu cầu cảnh sát mở cuộc điều tra. Ngày giờ đưa tro cốt về VN chưa được xác định. Hội Hàn Kiều cũng đã chuyển số tiền 88 triệu đồng VN quyên góp cho gia đình cô Kim Đồng ở Cần Thơ. Cô Kim Đồng thiệt mạng sau một cuộc tẩu thoát ra khỏi nhà chồng không thành.


 Người dân giơ các tấm biển lên án vụ cô dâu Việt bị chồng Hàn tâm thần sát hại, trước cửa Ủy ban Nhân quyền quốc gia ở Seoul, hôm 20/7. Ảnh: Yonhap.

6.3. Cái chết của cô dâu Huỳnh Mai.
Ngày 15-8-2007, cô Huỳnh Mai, 20 tuổi, đã bị chồng Đại Hàn đánh gảy 18 cái xương sườn, bỏ chết dưới hầm nhà chồng, đã làn chấn động dư luận ở Hàn quốc và cả thế giới nữa.
Lễ trao hài cốt diễn ra tại Sài Gòn. Số tiền quyên góp ủng hộ gia đình Huỳnh Mai gồm 5,000 đô la của tổ chức Thiện Nguyện Nam Hàn, 500 đôla của các cô dâu Việt thương cảm người bạn xấu số. Hội Hàn Kiều ủng hộ 77 triệu đồng VN
Đại diện hội Hàn Kiều cho biết, một dự án xây Nhà Văn Hoá Đại Hàn để phục vụ các cô dâu lấy chồng Hàn, sẽ tập trung một tháng để đào tạo kiến thức về văn hoá xã hội, phong tục tập quán Hàn quốc trước khi về nhà chồng.
Cũng được biết là người chồng của Hỳnh Mai đã bị bắt và sẽ đưa ra toà, mà mức án giết người cao nhất là tù chung thân.
6.4. Cô dâu nhảy lầu tự tử
Trần Thị Lan, 22 tuổi, quê ở quận Cái Răng, Cần Thơ. Làm đám cưới với Ha Jang Su, 36 tuổi. Lên máy bay về nhà chồng ngày 11-2-2008.
Lan ở nhà chồng chưa đầy một tháng. Cô đã nhảy từ từng lầu thứ 14 tự tử, đúng vào buổi chiều 30 Tết. Nhà gái có nhận 2 triệu trong ngày cưới.
7* Tâm sự của một cô dâu Hàn Quốc

Ngày 8-12-2010
“Tôi là một trong 40,000 cô dâu Việt trên xứ Hàn.
Dù trong hay ngoài nước, chúng tôi cũng bị báo chí và dư luận lên án “Ô nhục”, “Món hàng mất giá” khinh rẻ, là những từ ngữ thuờng dùng để nói về chúng tôi.
Tôi và nhiều cô dâu khác, không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng chúng tôi cũng còn khá hơn những chàng trai trong làng. Tôi rất sợ hãi khi nghĩ đến mình sẽ về sống chung với những thanh niên ít học, rượu chè, cờ bạc, thô lỗ người VN…Tôi cũng không muốn gia đình tôi, với thanh niên trong làng, mãi mãi là một túp lều mà cả đời lao động cũng không có thể làm cho nó khang trang hơn được.  Ai sẽ cứu vớt chúng tôi?  Lấy chồng Hàn quốc, tôi ngộ ra nhiều điều.  Dù cách thức đi đến hôn nhân không tốt, nhưng trong thâm tâm của người chồng, người vợ đều mong muốn được yêu thương.
Trước khi được chấm, chúng tôi bị nhìn ngắm, thậm chí còn bị sờ mó như một món hàng.
Tôi có quyền nghĩ đây là cơ thể của tôi, tôi nhịn nhục để được thay đổi cuộc đời. Nhưng trái lại, nhiều người cứ tưởng rằng cơ thể của tôi thuộc về sở hữu của toàn thể dân tộc VN vậy. Thế nên, họ đùng đùng nổi giận khi cơ thể của tôi bị người khác dòm ngó, chọn lựa.
Thế nhưng, nếu như khi cuộc đời của tôi bị vùi dập bởi thanh niên đồng hương  (rượu chè, cờ bạc, thô lỗ) thì mọi người xem đó là chuyện bình thường.
Tôi nghĩ rằng chỉ có 10% cô dâu gặp khó khăn và chừng 200 trường hợp nguy hiểm trong tổng số 150,000 lấy chồng Hàn Quốc hay Đài Loan.
Người Hàn quốc hay Đài Loan không kỳ thị chúng tôi, con cái được no ấm, học hành và có tương lai tươi sáng. Đặc biệt là chúng tôi được sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được”. (Trần Thị Nguyên)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

8* Những vụ tìm chồng vẫn tiếp diễn
Trong năm 2009, đã có 7,249 đám cưới Hàn-Việt xảy ra tại VN. Các cô gái vẫn chưa từ bỏ cái mộng làm dâu xứ Kim chi.
Ngày 19-7-2008
Tại khách sạn Diệu Quyên, Phường 9 quận Gò Vấp, 120 cô gái VN xếp hàng cho 7 hoàng tử Đại Hàn chọn vợ.
Ngày 8-12-2008
Ở Quận 8 Sàigòn, 161 thiếu nữ và 7 đàn ông Đại Hàn bị cảnh sát ập vào bắt tại trận khi các cô đang mặc thời trang của bà Evà.
Ngày 12-2-2009
Tại một ngôi nhà ở quận Bình Chánh, 35 cô gái đang chào hàng cho một ông khách Nam Hàn tên Lee Won Ju, 38 tuổi chọn vợ.
Ngày 7-7-2009
51 cô gái Việt đang được ông tơ bà nguyệt xe duyên cho các hoàng tử Nam Hàn, tại căn nhà số 479/21/11 Hương Lộ 2 Phường Bình Trị Đông, quận Tân Bình thì bị bắt. Những cô gái được tái giáo dục rồi trả về địa phương.
Ngày 26-8-2010
Tại khách sạn Tân Bình, 17 cô gái từ 18 đến 30 đang trình diễn cho các chú Củ Sâm chọn vợ.

9* Thị trường Serbia
Ngày 8-9-2008, ông Zeljko Vasiljevic, bộ trưởng Xã Hội Serbia thông báo là hiện nay đang có 250,000 thanh niên độc thân tại các ngôi làng vùng quê xa xôi hẻo lánh, họ là những nông dân nghèo, ít học, đang có nhu cầu cưới vợ. Chính phủ đang tìm sức sống cho những vùng quê xa xôi nầy. Ông muốn tìm vợ cho họ ở Cam Bốt và VN, bởi vì phụ nữ ở 2 nước nầy biết làm ruộng.
Các ông tơ bà nguyệt VN đang ngắm nghía thị trường nầy.
10* Kết luận
Ai đã gây ra những thảm cảnh thương đau nầy cho những cô gái trẻ Việt Nam?
Chính là Việt Cộng!.
Trước hết, chương trình xuất khẩu cô dâu nầy do đảng và nhà nước CSVN thực hiện để giải quyết nạn thất nghiệp, để xoá đói giảm nghèo.
Kế đến là nhà nước đã tạo ra cái hố khoảng cách giàu nghèo quá to lớn, đưa nông dân đến tình trạng te tua rách nát, nghèo đói. Bần cùng sanh đạo tặc.
Sau cùng là chế độ nầy đã làm cho đạo đức dân tộc bị suy đồi đến cùng cực, băng hoại và phá sản.
Đó là sự thất bại của chế độ giáo dục, nói rộng ra là thất bại của “sự nghiệp xây dựng CNXH”. Bởi vì, muốn có CNXH, thì phải có con người XHCN. Đó là những người làm chủ tập thể, mình vì mọi người, mọi người vì mình. Khắc phục khó khăn, phát huy sang kiến, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, nhưng ngoài Trung Cộng ra.
Các cháu bác Hồ phải học tập, lao đông, chiến đấu, noi theo gương đạo đức của bác.
Chiến đấu của các cháu ngoan luôn luôn ở vị thế bại trận, là bao giờ cũng nằm dưới mấy thằng bần cố nông ngoại bang. Hơn nữa, theo gương đạo đức của bác thì tiêu tùng, cháy túi.
Lời tâm sự của một cô dâu ngoại “Chúng tôi đang sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được” (Trần Thị Nguyên)
Một chứng minh cụ thể là các Cháu Ngoan bác Hồ đã được giáo dục, tào tạo dưới mái trường XHCN, trau dồi lý tưởng Cộng sản, thế mà còn phô trương thân thể để chạy thoát ra khỏi chế độ, dù phải chịu nhục nhã, một liều, ba bảy cũng liều, thân gái 12 bến nước toàn là bến dơ.
Trúc Giang

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

 

   The

 

Links:

Chính Luận

Advertisements

Kẻ Khóc Người Mừng – Nguyễn Văn Thạnh

Huh, tình trạng nan giải đây???


Bài đọc suy gẫm:  Kẻ Khóc Người Mừng hay Cái chết của một Tổng thống của tác giNguyễn Văn Thạnh. Bài viết dồi dào về kiến thức, xin các bạncùng chuyển nhau tham khảoHình ảnh chỉ có tính minh họa.

 

Hình Tổng thống Hugo – Chavez của Venezuela được vẽ khắp nơi trên đường phố.

Cái chết của một Tổng thống:

Như vậy, dù là một tổng thống đầy quyền lực đến mức có thể sửa hiến pháp để bãi bỏ qui định giới hạn thời gian cầm quyền nhưng ông đã không thoát khỏi qui luật của tạo hóa. Ông đã qua đời ở tuổi 58 vào hôm 5.3, sau thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư, giai đoạn cuối bị liệt nửa người. Ông đã trải qua 4 lần phẫu thuật vì ung thư kể từ tháng 6. 2011 đến nay. Đau yếu đến vậy nhưng ông nhất quyết không trao chức tổng thống cho người khác lãnh đạo đất nước. Ông là Hugo Chavez- tổng thống Venezuela trong suốt 14 năm, kể từ năm 1998, có lẽ là trọn đời nếu ông không bị căn bệnh quái ác này.

Cái chết của ông làm nhiều Venezuela đổ ra đường thương khóc tương tự như dân Triều Tiên đã khóc khi lãnh tụ Kim Jong Il chết. Lãnh đạo nhiều nước gửi điện chia buồn và cử người đến dự lễ tang ông. Trong khi đó, một số người đấu tranh cho dân chủ lại vui mừng trước tin này, xem đó như một cơ hội cho quá trình dân chủ hóa, tôn trọng nhân quyền ở Venezuela.

Tổng thống Hugo Chavez-nhân vật tự phong là cách mạng và theo xã hội chủ nghĩa đã giành được ủng hộ của người nghèo trong nước. Nhưng các nhà chỉ trích nói ông không biết quản lý kinh tế và độc tài.

Thông tin về Venezuela và Tổng thống Hugo Chavez:

Chúng ta có thể tóm tắt như sau (xem thêm link liên hệ của tác giả ở cuối bài) :

Venezuela là một quốc gia ở Nam Mỹ diện tích gần 1 triệu Km2 (gấp 3 lần nước ta) với dân số 28 triệu người (thua ta 3 lần), là nước có sinh hoạt chính trị dân chủ từ năm 1958. Đất nước này rất giàu tài nguyên thiên nhiên, có một nguồn dự trữ dầu mỏ và khí đốt to lớn. Hiện nay, Venezuela là một trong 10 nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới (thứ 4). Dầu mỏ được phát hiện tại Venezuela đã mang lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế đất nước, thu nhập quốc dân được nâng cao. Từ thập niên 1950 đến thập niên 1980, Venezuela là một trong những cường quốc kinh tế tại Mỹ Latinh. Thu nhập bình quân của nước này gia tăng nhanh chóng đã thu hút rất nhiều lao động từ khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên khi giá dầu thế giới giảm mạnh trong thập niên 1980, nền kinh tế Venezuela đã bị một phen điêu đứng, đói nghèo gia tăng đến mức 49% năm 1998, bất ổn xã hội và nạn tham nhũng trầm trọng

Hugo Chavez xuất thân từ địa vị thấp kém, chịu cảnh bần cùng, sự đau khổ, đôi khi không có bất kỳ thứ gì để ăn. Lớn lên ông là một quân nhân có tinh thần dân tộc và hướng đến người nghèo. Ông được truyền cảm hứng từ ý tưởng của tướng Velasco (Tổng thống cánh tả Peru) rằng quân đội phải hành động vì lợi ích của các tầng lớp lao động khi giai cấp thống trị tham nhũng. Khi đất nước lâm vào nghèo đói do khủng hoảng kinh tế và tham nhũng, ông đã thực hiện đảo chính năm 1992 nhưng thất bại phải đi tù. Hành động này gây tiếng vang rất lớn trong tầng lớp dân nghèo, điều này giúp ông đắc cử tổng thống qua bầu cử năm 1998.

Nắm quyền tổng thống, ông đã lãnh đạo đất nước Venezuela theo đường lối cánh tả với học thuyết của chủ nghĩa Bolivar và chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21 cho châu Mỹ. Ông quốc hữu hóa một loạt ngành kinh tế then chốt, đứng đầu là ngành công nghiệp dầu mỏ, ngành kinh tế đóng góp nhiều nhất cho kinh tế Venezuela, tới 1/3 GDP, 80% giá trị xuất khẩu và hơn một nửa ngân sách nhà nước. Ngoài ra ông còn quốc hữu hóa tài sản của các tập đoàn Cargill Inc., Gruma SAB và hãng bán lẻ của Pháp là Casino Guichard Perrachon nhằm kiểm soát các chuỗi sản xuất và phân phối thực phẩm. Từng bước ông quốc hữu hóa các ngành truyền hình, báo chí, điện thoại, năng lượng,….Ông trao các chức vụ lãnh đạo công ty nhà nước cho các thành viên đảng cầm quyền của mình nắm giữ.

Ông thực hiện trợ cấp xã hội trên qui mô lớn, duy trì giá xăng ở mức dưới 0,1 USD/gallon (tương đương hơn 500 VND/lít), trợ cấp miễn phí giáo dục, y tế, nhà ở. Các chương trình kinh tế xã hội này đã làm giảm đáng kể tỷ lệ đói nghèo, theo số liệu của chính phủ từ mức 49% năm 1998 xuống còn 12,3% năm 2007. Bí quyết để thành công là do giá dầu đã tăng cao khi ông nắm quyền, từ 10 USD/thùng lên 100 USD/thùng (10 lần) nên ông có nguồn tài chính dồi dào để tài trợ cho các chương trình trên.

Ông mạnh mẽ lên tiếng chống Mỹ và bọn nhà giàu, thiết lập liên minh với các chính phủ cộng sản của Fidel Castro và sau đó là Raúl Castro tại Cuba và các chính phủ xã hội của Evo Morales tại Bolivia, Rafael Correa tại Ecuador và Daniel Ortega tại Nicaragua, ông cũng xúc tiến quan hệ ngoại giao với những quốc gia chống Mỹ như Belarus hay Iran thậm chí là Bắc Hàn, kết thân với các nước Trung Quốc, Libi, Syria, Việt Nam. Ông cung cấp dầu giá rẻ và viện trợ cho một loạt nước đồng minh, nổi nhất trong đó là Cuba. Vì điều này ông đã tạo ra được một đồng minh chống Mỹ xung quanh mình.

Mặc dù các chính sách của Chavez làm phật lòng nhiều người, số người vẫn ủng hộ ông cũng không phải ít. Ông chinh phục được trái tim của người nghèo trong nước.

Các chương trình kinh tế XHCN của ông gây ra nhiều hệ quả nghiêm trọng cho đất nước: tỷ lệ lạm phát đã tăng 30,9% năm 2008 và tăng 25,1% trong năm 2009, cao nhất trên toàn khu vực châu Mỹ. Kinh tế trì trệ, tăng trưởng âm 2,9% trong năm 2009. Đầu tư tư nhân và nước ngoài sụt giảm nghiêm trọng do lo ngại các vụ quốc hữu hóa.

Đi đôi với tình trạng lạm phát cao nhất nhì thế giới, đất nước này còn mất kiểm soát đối với tội phạm khiến cho Venezuela đang có tỷ lệ tội phạm cao nhất thế giới.

Đô thị hóa nhanh và mất cân bằng nghiêm trọng trong phân bố dân cư. Khoảng 85% dân số Venezuela sống tập trung tại các đô thị miền bắc, nhất là thủ đô Caracas. Venezuela là một trong những nước có tỉ lệ dân cư sống tại thành thị cao nhất Nam Mỹ.

Hugo Chavez cũng không diệt trừ được tham nhũng. Bằng cách cho giới quân sự quản lý bộ máy ngân sách cồng kềnh, ông Chavez đã tạo điều kiện cho tham nhũng lan rộng ngay trong giới quân sự. Điển hình như công ty nhà nước Fonden được thành lập năm 2005, đến nay nó đã ngốn hết 100 tỷ USD tiền bán dầu của Venezuela, rất nhiều tiền trong số trên bị lãng phí và tham nhũng. Các thể chế mới không đem lại điều gì ngoài việc đẻ ra một loạt chức sắc bất tài do ông chỉ định. Ngoài ra Venezuela là nước bị thâm thụt trong chi tiêu công rất cao, lên đến 12% GDP/năm tài khóa. Đồng tiền liên tục phải phá giá làm cho cuộc sống người dân ngày càng khó khăn.

Tuy có bầu cử tự do, có nhiều đảng phái tham gia nhưng với truyền thông khổng lồ do nhà nước nắm và các chương trình xã hội có lợi cho dân nghèo, ông luôn đắc cử tổng thống trong các cuộc bầu cử. Nhiều lãnh tụ đối lập bị ông tống giam với cáo buộc tham nhũng. Dù có nhiều cuộc biểu tình phản đối, thậm chí đảo chính nhưng vẫn không làm lung lay chiếc ghế quyền lực của ông. Ông đã tiếp tục vượt qua cuộc bầu cử Tổng thống năm 2012 để đắc cử nhiệm kỳ thứ 3 liên tiếp và sẽ nắm quyền tới năm 2019, mặc dù ông phát hiện bị bệnh ung thư phải điều trị trước đó và sức khỏe ngày càng tồi tệ. Ông chết mà chưa kịp tuyên thệ nhận chức nhiệm kỳ mới vì sức khỏe quá yếu, có lúc bị tê liệt nửa người. Khi ông chết, phó tổng thổng là người cùng đảng đã lên tổng thống và đảng ông đã quyết định 7 ngày quốc tang và ướp xác ông như những lãnh tụ: Lenin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành,…

 Cuộc bầu cử đầy gay cấn trong năm 2012 tại thủ đô Caracas, Venezuela.

Trong khi các thành viên trong đảng và chính phủ (đảng ông nắm phần lớn) bận rộn quốc tang, lên kế hoạch ướp xác, đám đông người nghèo khóc thương và rầm rộ đi viếng thì những người trí thức của đất nước có cái nhìn khác. “Chúng tôi không cực đoan tới mức nói rằng ông ấy không làm được bất cứ điều gì, nhưng khi xem xét tất cả những vấn đề trên tầm vĩ mô, anh sẽ thấy chúng tôi đang phải sống trong một tình trạng tồi tệ”, Eduardo Perez, một luật sư 44 tuổi nói. Hay Oscar-nhà kinh tế 23 tuổi nói rằng, anh coi Chavez, vị lãnh tụ của phần đông người dân Venezuela, về mặt chính trị, chính là người đã phân tách đất nước ra làm nhiều mảnh.

Những bài học được rút ra:

Tổng thống Chavez chết, một số tiếc thương, một số vui mừng nhưng ít người suy nghĩ, phân tích để rút ra bài học từ cuộc đời, từ hành động của ông dù cuộc đời ông gây ra nhiều tranh cãi tốt-xấu. Nếu chúng ta chịu khó rút ra các bài học từ thành công và thất bại của các chính trị gia, chúng ta sẽ tránh được rất nhiều sai lầm, vì như Henry Hazlitt, tác giả cuốn sách kinh tế kinh điển “hiểu kinh tế qua một bài học” đã nói “rất nhiều sáng kiến hiện nay được mang ra thực hiện, thực chất là lặp lại sai lầm của quá khứ”.  Chúng ta thử rút ra một số bài học từ cuộc đời ông :

Bài học về người hùng của dân nghèo: Hugo Chavez đã thu phục được trái tim tầng lớp dân nghèo. Với tầng lớp dân chúng thấp cổ bé họng này, bất cứ ai đứng ra cải thiện cuộc sống của họ dù bằng cách nào (hợp lí hoặc ko hợp lí) đều là người hùng. Lịch sử thời đại phong kiến cho ta nhiều người hùng như vậy, không ít quân vương xây dựng đế chế quyền lực cho mình bằng những cuộc khởi nghĩa với khẩu hiệu cướp của người giàu chia cho dân nghèo, thậm chí nếu một tên cướp nhưng hành động với khẩu hiệu đó cũng được dân nghèo xem như người hùng. Họ đâu biết rằng con đường thoát nghèo đó của họ sớm đi đến đường cụt như vinh quang của những anh hùng cướp của vậy. Số phận của người nghèo chỉ được giải phóng đúng qui luật kinh tế chứ không bao giờ qua người hùng như vậy được. Người hùng dân tộc phải là người hiểu biết, mang lại nền chính trị dân chủ để phát triển kinh tế chứ không chỉ dùng quyền lực để chia.

Điều này cũng cho thấy tại sao tư tưởng XHCN có sức hấp dẫn ở các quốc gia nghèo, nơi có trình độ dân trí thấp. Đáng buồn là nước VN ta nằm trong số đó !  Qua đây lý giải phần nào lý do vì sao nhiều người còn say mê lý tưởng của Đảng, cho nó là tốt đẹp, chỉ người thực hiện là sai. Họ cố đi tìm người có đạo đức để thực hiện, đâu biết rằng CNXH đã sai về nguyên lý.

Chủ nghĩa xã hội tại sao hấp dẫn dân nghèo và là tai họa cho dân nghèo đến thế !  Bí mật nào ở đây ?  Bí mật là do cơ chế vận hành đã thỏa mãn lòng tham của tất cả các bên, hậu quả thì cả xã hội chịu và người chịu nhiều nhất là ngườinghèo và vấn đề là ai cũng nghĩ mình ko chịu, mình được lợi. Ta thấy người lãnh đạo làm cho cái bánh to hơn, dù không công bằng nhưng mọi người được miếng lớn hơn thì khó, còn dùng sức mạnh để cố chia đều cái bánh ngày càng nhỏ thì dễ hơn. Thật ra trong quá trình chia đó người nghèo tưởng công bằng nhưng không, người cầm dao để cắt chia luôn được miếng to hơn. Chỉ có điều người dân không thấy điều này. Sự thiếu hiểu biết của con người rất nguy hiểm, có thể lôi nhau cùng xuống địa ngục mà không biết.

Hugo cho ta thấy bí mật của những tranh cãi quanh công tội của các chính trị gia theo chủ thuyết XHCN hoặc độc tài :

Tất cả những chính trị gia theo chủ thuyết CNXH đều để lại di sản tranh cãi vì sự mâu thuẫn giữa lý tưởng, chủ trương tốt đẹp hướng đến người nghèo, hướng đến công bằng dân chủ với thực tế trái ngược hoàn toàn.

Từ Đông sang Tây : Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Jong Il, Gaddafi, Mubarack,… tại sao khi một nhà độc tài chết đi luôn có kẻ khóc, người mừng?

Tại sao khi một nhà độc tài tại vị luôn có kẻ tung hô, người oán thán? Dù là một nhà độc tài khét tiếng thế nào đi nữa, ông ta cũng không thể là kẻ hưởng thụ một mình, ông ta phải làm lợi cho một nhóm người nào đó trong xã hội và gây thiệt hại cho phần còn lại. Nếu nắm hệ thống truyền thông thì tay chân phe nhóm của lãnh tụ có thể dễ dàng cho thế giới thấy lãnh tụ của họ được lòng dân thế nào ?  Nhưng đó chỉ là một nửa của sự thật.

Bài học về khủng hoảng và xử lý khủng hoảng trong nền kinh tế: Venezuela từng có giai đoạn là nước có nền chính trị dân chủ, nền kinh tế tự do, phát triển thịnh vượng. Tuy nhiên khi giá dầu giảm trong thập niên 1980 đã gây ra khủng hoảng kinh tế. Chính cuộc khủng hoảng này đã đưa Chavez lên nắm quyền để giúp đất nước thoát khỏi bế tắc theo hướng kinh tế XHCN. Trong nền kinh tế tư nhân tự do (nhiều người còn gọi là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa) không tránh khỏi bị khủng hoảng. Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng có rất nhiều nhưng chung qui lại là luật chế tài chưa đi kịp với nền kinh tế: gian lận trong tín dụng, đầu cơ, lạm phát, sụp đổ thị trưởng chứng khoán, độc quyền, lũng đoạn kinh tế, vay mượn quá mức,…..Khi khủng hoảng xảy ra thì kinh tế suy thoái, xã hội rối loạn, đói nghèo, bất công,…thậm chí là chiến tranh. Quan trọng là việc xử lý khủng hoảng, việc này có thể đưa đến sự phát triển, củng cố nền dân chủ hoặc đưa đến độc tài toàn trị, kinh tế lâm vào khó khăn ngày càng không có lối thoát.

Những năm 1997-1998 các nền kinh tế mới nổi như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan,…lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, nhiều tổ hợp kinh tế lớn sụp đổ, để lại gánh nợ nần lên đến hàng chục tỷ đôla. Điển hình như tập đoàn Deawoo Hàn Quốc, gánh nợ lên đến 75 tỷ USD, rất nhiều trong số đó là kết quả của việc gian lận tài chính, chủ tịch tập đoàn là Kim Woo Choong bỏ trốn. Xã hội rối loạn vì kinh tế khó khăn, nghèo đói. Tinh thần chống tư bản, chống đối nhà giàu, chống đối bọn “bóc lột” lên rất cao. Tuy nhiên chính phủ Hàn Quốc đã sáng suốt trong việc xử lý khủng hoảng. Một mặt chính phủ đứng ra bảo lãnh các khoản nợ, hoặc hỗ trợ sát nhập để các công ty tiếp tục hoạt động, một mặt hoàn thiện chế tài luật pháp. Điều quan trọng là HQ kiên trì nền kinh tế tư nhân. Quá trình xử lý theo hướng này tốn rất nhiều thời gian, kết quả chậm chạp, chịu nhiều sức ép từ công luận. Tuy nhiên chính điều này mà ngày nay HQ có những thương hiệu toàn cầu như Samsung, Huyndai, LG,….cạnh tranh sắc bén trên trị trường quốc tế (không biết điều gì sẽ xảy ra nếu HQ quốc hữu hóa hết các tập đoàn này rồi giao cho quan chức điều hành?). Ngày nay HQ có nền kinh tế năng động trong một nền dân chủ ngày càng hoàn thiện.

Rõ ràng, nếu Venezuela kiên trì nền kinh tế tư nhân tự do, với nguồn tiền dồi dào thu được từ việc bán dầu mỏ, chính phủ cho các công ty tư nhân vay để làm ăn (hoặc chi xây dựng đất nước theo hướng tư nhân đấu thầu), đi đôi với việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, có lẽ Venezuela đã thịnh vượng.

Một hướng xử lý khủng hoảng khác hay được các nước áp dụng đó là chính phủ tăng cường can thiệp thị trường để nhanh chóng ổn định: quốc hữu hóa, xây dựng doanh nghiệp nhà nước, kiểm soát giá theo lệnh hành chính, phân phối theo lệnh chính phủ, thực hiện kinh tế kế hoạch hóa,… Cách này tất nhiên là có kết quả nhanh chóng, làm hài lòng quần chúng trong trạng thái khó khăn do khủng hoảng, bị kích động chống người giàu, chống bóc lột, chống tư bản.

Federik August Hayek.

Cách này còn được các quan chức ưa chuộng vì được nhúng tay vào bầu sữa ngân sách, được điều khiển nền kinh tế quốc dân trực tiếp, tất nhiên là kèm theo nhiều lợi lộc. Tuy nhiên cách này tất yếu đưa đến “lợi ích nhóm”, hiệu quả kinh tế ngày càng kém, nền dân chủ bị xói mòn, nạn tham nhũng bùng phát.  Điều này xảy ra đúng qui luật kinh tế mà Hayek đã nêu trong cuốn Đường Về Nô Lệ, nó chỉ cho ta thấy rõ là khi nhà nước nắm kinh tế, lên kế hoạch hóa thì quyền lực tất yếu phải ngày càng tập trung vào tay quan chức, truyền thông tuyên truyền phải hoạt động hết công sức, dối trá, đàn áp là tất yếu và người dân sẽ trở thành nô lệ vì trong thể chế như vậy chống lại chính quyền sẽ phải chết từ từ vì đói (vụ nhà báo Nguyễn Đắc Kiên bị mất việc là một minh họa). Xã hội ngày càng đi vào suy thoái, chuyên chế, đói nghèo, tham nhũng, bất công.

Federik August Hayek, người Áo đoạt giải thưởng Nobel 1974 về Economic Science.  (Link)

Nước ta có bài học to lớn từ việc mất tự do kinh tế. Thời bao cấp, tự do kinh tế của người dân gần như số 0. Khi đó dù có lương tri người ta cũng không dám lên tiếng, vì nhà cầm quyền chỉ cần cắt phiếu gạo hay không cấp ruộng là nắm chắc chết đói, cả gia đình trở nên khốn khổ. Văn nghệ sĩ, trí thức, nhà báo, nhà quay phim,….tất tần tật đều do nhà nước bao cấp kinh tế, trong hoàn cảnh đó dù có khuyến khích phát biểu, cũng không ai dám mở miệng nói điều khó nghe với chính quyền. Nhiều hội đoàn sinh ra cũng chỉ để làm cảnh vì chẳng ai có động lực để đấu tranh.

Đây là một bài học vô cùng quí báu cho VN ta hiện nay, chúng ta đang dần thoát khỏi chuyên chế độc đảng thì gặp khủng hoảng, hiện nay nếu để chính phủ ngày càng can thiệp sâu vào thị trường với mục tiêu ổn định, làm đẹp các chỉ số tăng trưởng. Các hành vi như độc quyền nhà nước về vàng, khống chế ngân hàng, ổn định giá cả theo mệnh lệnh hành chính (nhân danh bình ổn giá), can thiệp thị trường chứng khoán, tăng cường chỉ đạo của chính phủ trong nền kinh tế, tăng cường đầu tư công để thay thế tư nhân nhằm làm đẹp chỉ số tăng trưởng, tăng cường kiểm soát các mặt hàng chiến lược như: xăng, dầu điện….

Chính phủ có xu hướng làm thay thị trường thay vì hoàn thành các thiết chế luật pháp, hoàn thiện dân chủ để kinh tế phục hồi, phát triển theo qui luật cạnh tranh của thị trường. Tùy theo cách chúng ta xử lý khủng hoảng mà chúng ta thoát ra khỏi nạn chuyên chế, đi đến dân chủ thịnh vượng hay quay lại chốn cũ.

Kinh tế thị trường là một hệ thống tự động, nó chỉ hoạt động tốt nhất trong thể chế dân chủ, nếu chúng ta ra sức can thiệp dù với mong muốn xã hội tốt hơn thì mọi chuyện lại trở nên tồi tệ hơn.

Cuộc đời Hugo Chavez để lại cho ta bài học đáng suy ngẫm về mối quan hệ giữa hai loại người trong xã hội: người giàu và người nghèo. Đây là mối quan hệ đầy sóng gió bao đời nay của nhân loại. Dù dân tộc nào, thời đại nào, xã hội nào, người giàu và người nghèo chưa bao giờ sống chung hòa hợp với nhau. Nguồn cơn cho mối quan hệ sóng gió đó là sự hiểu lầm tai hại. Lớp người nghèo đã cho rằng chính người giàu là nguyên nhân cho sự khốn khó của họ, chính người giàu tham lam đã bóc lột họ, làm cho họ nghèo khó. Sự hiểu lầm đó được nâng lên thành chủ thuyết đấu tranh của “thiên tài” Karl Marx, từ đây lịch sử nhân loại đã có một chương bi thảm với tên gọi đấu tranh giai cấp. Kết quả làm hàng trăm triệu nhân mạng ngã xuống trong khốn cùng oan ức nhưng lại không giải quyết được vấn đề gì cả.

Người ta đâu biết rằng, vấn đề người giàu và người nghèo là một vấn đề tất yếu như một đoàn tàu, luôn có đầu máy, toa đi đầu và những toa cuối cùng. Vấn đề là làm sao cho cả đoàn tàu chạy, dù là toa đi sau nhưng cũng tiến lên chứ không phải làm cho các toa bằng nhau rồi chết dí một chỗ. Thật ra trong quá trình làm giàu, người giàu bằng tài năng của mình đã phụng sự xã hội, người tài người giỏi xứng đáng được hưởng cuộc sống tốt hơn. Một thiên tài Bill Gates giúp ích cho xã hội rất lớn, ông hoàn toàn xứng đáng ở trong căn biệt thự 100 triệu đô với tiện nghi làm cho cuộc sống thoải mái nhất. Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh khốc liệt, tài sản người giàu không phải là tiền hay vàng tích trữ trong két mà nó được phân bố dưới các cơ xưởng sản xuất, kinh doanh, mang lại công ăn việc làm cho người lao động, mang lại sản phẩm ngày càng tốt hơn cho người tiêu dùng. Đâu đó người giàu trục lợi xã hội, làm tổn thương người nghèo là do sự thất bại của luật pháp, thất bại của thể chế, trong những thể chế không dân chủ thì vấn nạn này càng lớn. Do vậy để giải quyết vấn nạn mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo trong xã hội, không thể bằng cách đấu tranh tiêu diệt người giàu (đấu tranh giai cấp), tuyên truyền lòng căm thù, kỳ thị người giàu như cách Chavez, (ông là người lên án người giàu, lên án Mỹ với lời lẽ mạnh mẽ nhất-chính điều này làm cho người nghèo hả hê). Mà giải pháp là xây dựng thể chế dân chủ với nền kinh tế tự do, luật pháp hoàn thiện, nghiêm minh.

Hugo cho ta thấy lợi ích nhóm hình thành và phát triển như thế nào trong sinh hoạt chính trị: Cái gì làm con người có động lực để tranh giành nhau dữ dội nhất? Đó là quyền lợi, là miếng ăn, là bổng lộc. Nếu chính quyền không có khả năng ban phát những thứ đó thì con người chẳng tranh giành quyền lực làm gì.

Hugo Chavez đã tạo ra một lợi ích nhóm từ việc giao cho các thân tín điều khiển các công ty nhà nước. Rõ ràng chính sách kinh tế XHCN tất yếu dẫn đến “lợi ích nhóm” quây quanh chính phủ. Ở đâu có mật thì ở đó có ruồi, ở đâu có ban phát quyền lợi thì sẽ có xu nịnh quây quanh. Nếu không nắm quyền điều khiển các công ty quốc doanh thì Hugo Chavez cũng chỉ là một tổng thống chấp pháp bình thường. Để có thể duy trì được lợi ích của mình thì “nhóm lợi ích” bắt buộc phải tiếp tục con đường của ông, phát huy di sản ông để lại, do vậy không có gì khó hiểu khi hiện nay nhóm cầm quyền ở đây ra sức ca ngợi ông như một anh hùng, một vị thánh và họ đã quyết định ướp xác ông, biến ông thành một tượng đài bất tử như bao lãnh tụ vô sản khác.

Hiện nay, các lãnh đạo cấp cao hay đề cập đến “lợi ích nhóm” lũng đoạn, tàn phá đất nước nhưng chưa thấy việc chỉ ra “lợi ích nhóm” nó đến từ đâu, cơ chế hoạt động ra sao và tồn tại thế nào? Rõ ràng cái “lợi ích nhóm” nó được sinh ra từ cái đuôi định hướng XHCN mà nền kinh tế nước ta đang vận hành. Chính việc giao cho quan chức có quyền điều khiển việc kinh doanh, chính việc chi tiêu công là cái gốc của việc hình thành nên “lợi ích nhóm”. Chính việc chúng ta để các bộ quyền lực như quốc phòng, công an đi kinh doanh, nắm các công ty, các tập đoàn kinh tế đã tạo nên “lợi ích nhóm”. Chúng ta cần dứt khoát phá bỏ quyền điều khiển đồng tiền của quan chức, thực hiện nền kinh tế tự do thì mới giải quyết được “lợi ích nhóm”, cách giải quyết từ giáo dục đạo đức HCM cho cán bộ lãnh đạo là không bao giờ thành công.

Hugo cho ta thấy thế nào là một nền dân chủ trọn vẹn. Trên website bộ ngoại giao Hoa Kỳ trong phần định nghĩa về dân chủ có liệt kê Venezuela là một nước dân chủ. Nhiều người lâu nay cho rằng dân chủ là phải đa đảng, phải có bầu cử tự do, có báo chí tư nhân,….Tuy nhiên điều đó vẫn chưa làm nên nền dân chủ trọn vẹn. Nền dân chủ chỉ trọn vẹn khi các điều trên kết hợp với nền kinh tế tư nhân. Chính nền kinh tế tư nhân là cái gốc của nền dân chủ. Các nước như Ấn Độ (trước cải cách kinh tế) hay Nga dù có được bầu cử tự do nhưng nền dân chủ không trọn vẹn do nhà nước chi phối nền kinh tế (kinh tế nhà nước có tỷ lệ cao) nên vẫn không giàu có, thịnh vượng. Nhiều lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở nước ta chú trọng đến tự do trong bầu cử mà quên đi tranh đấu cho nền kinh tế tư nhân, điều này thật là thiếu sót.
Hugo cho ta bài học là làm thế nào một nền độc tài chuyên chế có thể nảy nở trên nền xã hội dân chủ? Đó là con đường chính phủ thâu tóm kinh tế thông qua chính sách quốc hữu hóa, can thiệp giá cả. Bài học này đã được Hitler sử dụng để thâu tóm quyền lực nước Đức, biến nước Đức thành một đế chế chuyên chế Phát xít đáng sợ, mặc dù Hitler là chính trị gia lên nắm quyền qua bầu cử dân chủ và khi đó nước Đức có bản hiến pháp rất dân chủ. Bài học cho ta thấy là một bản hiến pháp đẹp chưa có gì để bảo đảm cho nền dân chủ cả; khi nắm quyền chuyên chế thì người ta có thể tảng lờ, bóp méo hoặc sửa lại hiến pháp. Cuối cùng vẫn là kinh tế tự do mới là nền tảng của dân chủ.

Trong một nền dân chủ, để tránh giới chính trị thâu tóm quyền lực, nảy nở độc tài thì người dân phải chặn sự thâu tóm kinh tế. Sự thâu tóm bắt đầu bằng hành động can thiệp giá cả, quốc hữu hóa, tăng đầu tư công, thành lập doanh nghiệp nhà nước, tăng trợ cấp.

Hugo cũng cho ta thấy rằng kinh tế và chính trị như hai đường ray nâng đỡ con tàu xã hội, nó phải luôn đi đôi với nhau. Kinh tế tự do (tư nhân) thì đi với đường ray chính trị dân chủ pháp quyền. Kinh tế nhà nước thì tất yếu đi với đường ray chính trị mất dân chủ, chuyên quyền. Đây là qui luật tất yếu, nếu ta thay một trong hai thanh ray thì thanh kia tất yếu phải đến để hệ thống có thể hoạt động được.

Hiện tượng phát sinh độc tài trong một đất nước có nền dân chủ vững chắc, có hiến pháp đa nguyên, có nhiều đảng phái hoạt động, có bầu cử tự do,….cho ta nhiều bài học sâu sắc cần rút ra cho đất nước. Bài học ta có thể rút ra ở đây là với quyền lực chính trị được giao, nếu để chính quyền thâu tóm nền kinh tế thì sẽ tạo nên siêu quyền lực và tạo nên mầm móng của độc tài. Tôi không biết lý do vì sao những người lập pháp, những nhà chính trị điều hành đất nước lại giao quá nhiều quyền lực vào tay thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến vậy. Ông vừa là người hành pháp, vừa là người nắm hàng ngàn công ty xí nghiệp nhà nước, nắm các mặt hàng thiết yếu của cả xã hội như điện, nước, xăng, dầu, viễn thông, ngân hàng,….. Ông vừa có quyền ký phong tướng tá cho các bộ quyền lực như công an, quân đội; vừa có quyền ban phát bổng lộc cho thuộc cấp thông qua các công ty quốc doanh. Chính điều này đã tạo nên một thủ tướng siêu quyền lực chưa từng thấy ở Việt Nam.

Hugo cho ta thấy một vấn đề của thời đại chúng ta, thời đại của chính trị phổ thông đầu phiếu. Quyền lực chính trị và ý chí người dân được xây dựng qua những phiếu bầu, đây là hình thức dân chủ trong sinh hoạt chính trị mà con người phải tốn nhiều công sức, xương máu mới có được. Nhiều người cho rằng đây là hình thức tối ưu để biết ý nguyện người dân và cuối cùng đưa đến quốc thái dân an, thịnh vượng. Tuy nhiên nếu phân tích kỹ và quan sát từ Venezuela ta thấy cơ chế này có một điểm yếu chết người. Trong việc phổ thông đầu phiếu thì lá phiếu của một gã ăn mày có quyền lực như nhau với một lá phiếu của một chuyên gia. Đây là một việc nguy hiểm, vì như nhà bác học thiên tài Einstein đã nói “không thể chống lại được thế lực của kẻ ngu, vì chúng quá đông”. Chúng ta tin tưởng vào sự sáng suốt của số đông. Tuy nhiên trong một xã hội, người u tối, thiếu hiểu biết luôn nhiều hơn người hiểu biết và điều đặc biệt là trong đám đông nghèo khó thì họ sẽ ủng hộ bất cứ chính trị gia nào hứa cải thiện cuộc sống cho họ dù cải thiện bằng con đường nào thì họ ít quan tâm hay không hiểu qui luật kinh tế thị trường. Vấn nạn này đang xảy ra khắp nơi, ở cả các xứ dân chủ cao như Mỹ, Pháp hay Thái Lan. Nhiều cư tri Pháp, Mỹ đã bầu cho tổng thống vì ông hứa tăng trợ cấp phúc lợi xã hội, tăng chi tiêu công, làm cho chỉ số thất nghiệp, tăng trưởng đẹp. Nhiều nông dân Thái đã bỏ phiếu để bầu cho bà thủ tưởng trẻ Yingluck Shinawatra vì lời hứa tăng giá gạo 20% từ tiền ngân sách,…..ít ai biết rằng chính phủ chỉ có thể lấy tiền ngân sách hoặc vay mượn để thỏa mãn các đòi hỏi đó của cử tri và sớm muộn gì nợ công và sụp đổ kinh tế là điều tất yếu. Tôi cho rằng đây là một vấn nạn của thời đại, nếu con người không tìm ra giải pháp cho vấn đề này thì khủng hoảng kinh tế vì nợ công, lạm phát và vấn nạn chính mị dân sẽ tàn phá sự ổn định, thịnh vượng của nhân loại. Đặc biệt nếu kinh tế sụp đổ trên diện rộng thì sẽ xuất hiện chuyên chế độc tài như cuộc đại khủng hoảng 1930 (vì khi khủng hoảng, xã hội có xu hướng ủng hộ quyền lực, ủng hộ sự kiểm soát kinh tế của nhà nước để mau chóng vãn hồi trật tự như những bài học khủng hoảng trước).
Chúng ta thấy rằng trong nền chính trị hiện đại việc hạn chế quyền bầu cử là không thể được. Do vậy chỉ còn cách là phải nâng cao hiểu biết của dân chúng, đặc biệt là kiến thức về kinh tế. Dân chúng rất ít người hiểu biết thấu đáo về tự do kinh tế, về kinh tế thị trường, về giá cả và lợi nhuận. Công chúng có xu hướng bài xích lợi nhuận, dìm giá hàng hóa. Ủng hộ chính phủ can thiệp vào thị trường, nhất là vấn đề giá cả, ủng hộ không giới hạn lý tưởng nhà nước phúc lợi, ủng hộ đầu tư, chi tiêu công. Đây rõ ràng là những nguy cơ dẫn đến thâu tóm kinh tế của quyền lực chính trị. Một khi kinh tế bị thâu tóm thì tự do sẽ bị cầm tù. Tự do kinh tế là mạch máu của các loại tự do.

Nếu ai đã nghiên cứu về cuộc đời và tư tưởng của Hayek, đều biết rằng ông là một chiến sĩ đấu tranh âm thầm để bảo vệ nền tự do đích thực. Ông đã cứu nền văn minh châu Âu không bị lạc lối vào chuyên chế. Ông đã viết cuốn “đường về nô lệ”, một cuốn sách có tiếng vang lớn ở Mỹ và châu Âu để cảnh báo nạn thâu tóm kinh tế của nhà nước. Ông đã thành lập hội Mont Pelerin ở châu Âu, giúp thành lập một câu lạc bộ tự do kinh tế ở Anh, giao lưu với trường phái kinh tế tự do ở Mỹ. Chính tư tưởng của ông đã tạo nền tảng hiểu biết về tự do kinh tế cho phương Tây và giúp họ thay đổi đường lối kinh tế bao cấp sau thế chiến 2. Hai chính trị gia huyền thoại là bà đầm thép Margaret Thatcher-thủ tướng nước Anh-đã bẻ lái con tàu kinh tế nước Anh để đoạn tuyệt với chủ nghĩa xã hội Fabian, và tổng thống nước Mỹ Ronald Reagan đã tìm lại nền kinh tế tự do đích thực cho nước Mỹ cũng là nhờ hấp thu tư tưởng của Hayek. Hayek có vai trò lớn đến mức nhiều người cho rằng thế kỷ 20 là thế kỷ của ông. (Tham khảo sách Friedrich Hayek – Cuộc đời và sự nghiệp)

 

Việt Nam chúng ta học được gì từ vấn đề này? Rõ ràng tư tưởng là nền tảng của xã hội, tư tưởng đúng thì xã hội phát triển, tư tưởng sai thì xã hội lẩn quẩn, bế tắc. Để có thể kiến tạo nền dân chủ vững chắc, chúng ta cần phải có nền kinh tế tự do. Để có nền kinh tế tự do thì dân chúng phải hiểu biết rõ về nó. Nếu chúng ta chỉ đấu tranh để hướng đến tự do chính trị thôi thì không đủ (Ấn Độ có trên 50 năm chính trị tự do, nhưng nền kinh tế theo chủ thuyết xã hội Fabian nên bế tắc, lẩn quẩn). Tôi rất lo lắng khi biết rất nhiều nhà đấu tranh dân chủ lại cổ xúy cho mô hình doanh nghiệp nhà nước. Họ cho rằng nó phụng sự xã hội mà không có lòng tham lợi nhuận để bóc lột, vấn đề là cần quan chức có tâm, có đạo đức tốt điều hành. Hay khi hỏi 100 người dân thì có đến quá nửa nghĩ xấu về doanh nghiệp tư nhân và có thiện cảm với doanh nghiệp nhà nước. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta thành lập một viện tự do kinh tế (qui mô học thuật) để truyền bá hiểu biết về kinh tế thị trường, về hệ thống giá, về lợi nhuận, cung cầu, về quản lý nhà nước trong nền kinh tế tự do,….Tôi cho rằng đây là vấn đề khai trí vững chắc như Fukuzawa Yukichi đã làm với nước Nhật. Suy cho cùng một đất nước chỉ giàu khi kinh tế mạnh. Kinh tế đúng thì mọi điều còn lại phải đúng theo. Tất cả mọi thiết chế quyền lực chính trị cũng nhằm mục đích là để việc làm ăn thuận lợị. (các bạn cùng quan điểm vui lòng liên hệ thanhhemo@gmail.com)

Hugo Chavez cho ta bài học về vấn đề liên minh quốc tế. Khi ông thực hiện các biện pháp kinh tế phi thị trường như quốc hữu hóa, kiểm soát giá cả, ….làm cho các nước có nền kinh tế tự do như Mỹ, Châu Âu, Nhật, ….không thể làm ăn và cũng không thể làm bạn được. Tất yếu Venezuale phải làm bạn với các nước có nền kinh tế phi thị trường và nền chính trị mất dân chủ như: Triều Tiên, Cuba, Libi (thời Gaddafi), Iran, Trung Quốc,….Trong cuộc sống, con người kết bạn với nhau cũng là nhằm để làm ăn tốt hơn, trên thế giới các quốc gia liên minh với nhau cũng vì quyền lợi. Khi lợi ích khác nhau, không hợp tác được thì hết là bạn của nhau. Đây cũng là lý do vì sao các nước có nền chính trị phi dân chủ, nền kinh tế phi thị trường thường là đồng minh của nhau. Ngoài ra để có sự ủng hộ của dân chúng, lãnh đạo những nước này thường lên gân chống Mỹ nhất, họ khai thác những cái gì xấu xa từ xã hội Mỹ, từ nền kinh tế tự do để cho rằng đường mình đi là văn minh, là hiện đại, là tất yếu của nhân loại. Mặt khác để lời lên án có tính tuyên truyền cao, họ ra sức bưng bít thông tin, cấm đoán mạng internet. Đây cũng là bài học cho Việt Nam, nếu chúng ta không tăng cường cải cách kinh tế tự do, chính trị dân chủ thì chúng ta sẽ đứng trong nhóm bạn có thuộc tính còn lại của thế giới và đói nghèo là tất yếu.

Sức mạnh của Hugo Chavez dựa trên nguồn dầu dồi dào của đất nước, bằng cách bán dầu giá rẻ hay viện trợ cho các nước nghèo, chính quyền chuyên chế như Cuba, ông đã chinh phục được họ, ông nhận được từ họ sự tung hô (Rõ ràng anh có tiền, anh ban phát kinh tế thì anh chinh phục được khối người). Và ông là một bài học cho thực trạng vung vãi lợi ích quốc gia để mua đồng minh ở các nhà lãnh đạo, điều này rất dễ xảy ra nếu quyền lực không được kiểm soát hoặc lãnh tụ thâu tóm cả hai quyền lực chính trị và kinh tế. Khi quốc dân không kiểm soát được quyền lực nguyên thủ thì họ hoàn toàn có thể vung vít quyền lợi đất nước để mua chuộc đồng minh. Việc này giải thích tại sao các vị tổng bí thư nước ta có thể mang vài ngàn tấn gạo cho tặng đồng minh mà không cần sự biểu quyết của quốc hội, trong khi bao con em chúng ta còn phải bẫy chuột để ăn vì đói. Đồng bào các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An còn nạn đói hoàng hành.

Hugo để lại cho ta bài học về vai trò đích thực của người lãnh đạo.

Người lãnh đạo muốn đi vào hàng vĩ nhân của dân tộc như Washington phải là người kiến tạo ra xã hội vận hành trên những nguyên lý đúng. Dù chưa hoàn hảo nhưng nó vẫn vận hành tốt khi họ chết để hướng đến xã hội văn minh chứ không phải là người dùng uy tín, ảnh hưởng, đạo đức của mình để vận hành xã hội, để rồi khi mình chết đi để lại một xã hội bệ rạc, lộn xộn và mất phương hướng. Một nhà lãnh đạo giỏi là phải thiết lập được một thiết chế dân chủ bền vững để quốc gia vẫn phát triển ngay cả khi mình qua đời chứ không phải là sự tung hô đương thời.

Đám đông, nhân dân có thể bị lừa dối, bị làm mờ mắt trong các lợi lộc trước mắt. Tuy nhiên theo thời gian, chỉ có lãnh đạo nào đem lại sự thịnh vượng, sự phát triển đích thực cho dân tộc mới được ngưỡng mộ, kính trọng. Các chiêu thức tuyên truyền, các hình thức “công bằng” màu mè rồi cũng đi vào sọt rác của lịch sử. Một đất nước không bao giờ có phúc nếu chỉ có ngày càng “công bằng” trong nghèo khó hơn và dân chủ mất dần.
Làm chính trị không chỉ lòng nhiệt tình, trái tim quả cảm, yêu thương người nghèo. Điều đó là chưa đủ, nó còn đòi hỏi sự hiểu biết thấu đáo vấn đề như một nhà khoa học. Như nhà khoa học phải hiểu các thuộc tính của vật chất, nhà chính trị phải hiểu xã hội, phải biết các thuộc tính của con người; phải hiểu kinh tế thị trường và các thuộc tính của nó. Nếu thiếu hiểu biết hai lĩnh vực trên mà nhiệt tình thì cuối cùng chỉ có phá hoại.

Hiện nay người có lòng nhiệt tình ái quốc và có hiểu biết căn bản các qui luật của xã hội, của nền kinh tế không phải là nhiều. Một người trong số đó là doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức, anh đã cảnh báo khủng hoảng kinh tế cách đây 5-6 năm khi mà xã hội đang thời kỳ hoàng kim. Anh không phải cảnh báo mò mẫn, các bài viết của anh có tính logic của qui luật dẫn đến sự tất yếu. Đáng tiếc là đất nước ta không sử dụng được người tài như anh. Nghiệt ngã hơn nữa là anh và bạn hữu (anh Long, anh Định) phải ngồi tù vì những cảnh báo của mình. Để có thể dẫn dắt xã hội tiến lên, chúng ta rất cần những người am hiểu xã hội, am hiểu kinh tế, do vậy việc vận động, kêu gọi trả tự do cho anh Thức lúc này là rất quan trọng.

Hugo Chavez để lại cho ta một bài học để trả lời câu hỏi “thế nào là một nền chính trị thực, thế nào là một nền chính trị mị dân”. Chính trị thực tuy nó không đẹp, không lý tưởng bằng chính trị mị dân nhưng nó mang lại điều tốt đẹp cho quốc dân trong tương lai, nó hướng đến công bằng, dân chủ gần với hiện thực cuộc sống. Chính trị mị dân rất đẹp, làm say lòng người vì lý tưởng, vì lời hứa nhưng về lâu dài nó lại hại nước, hại dân.

Trong nền chính trị mị dân, chính trị gia hay dùng truyền thông nhấn mạnh thành tích ngắn hạn để đánh bóng tên tuổi, chạy theo bề nổi hơn là thực chất. Và trong nền chính trị mị dân, chính trị gia hay hướng đến bênh vực đối tượng nghèo khó bất chất qui luật kinh tế để dành sự ủng hộ cử tri (vì số này đông) hơn là có giải pháp thấu đáo cho cả xã hội. (Thái Lan là một bài học khi nước này mất hàng tỷ đôla trợ giá gạo cho nông dân, làm rối loạn nền sản xuất lúa gạo trong tương lai).

Venezuela cho ta bài học đáng suy ngẫm về sự mất cân đối nghiêm trọng giữa đô thị và nông thôn

Venezuela là một quốc gia có sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa thành thị và nông thôn. Với sự đầu tư của chính phủ tập trung vào các đô thị, làm nơi đây phát triển, có công ăn việc làm nên đã thu hút dân nông thôn đồ về đô thị. Đô thị có hạ tầng dịch vụ về giáo dục, y tế, đường xá tốt hơn hẳn nông thôn nên có mức sống cao hơn, ai cũng muốn về đây để sống. Với nguồn tiền do chính phủ chi thì những quan chức ở gần thủ đô tạo mối quan hệ tốt hơn nên được đầu tư nhiều hơn. Và nguồn tiền đầu tư từ chính phủ thì ít tính đến yếu tố thu hồi vốn, do vậy nó được chi ở nơi có khả năng lên dự án hợp lòng lãnh đạo nhất, bất chất chi phí là bao nhiêu và hiệu quả kinh tế như thế nào. Ngoài Venezuela, ở các nước có sự chi phối đầu tư từ tiền chính phủ đều có sự mất căn bằng giống như vậy, điển hình là Trung Quốc, Việt Nam,…Đặc biệt một quốc gia nghèo như Triều Tiên  cũng có thủ đô Bình Nhưỡng với nhà cao tầng, công viên, tàu điện ngầm,….rất hiện đại nhưng phần còn lại của đất nước gần như không có gì.

Hàng ngày, thấy hàng triệu người ở hai thành lớn là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh vật vã giữa lòng đường trong giờ cao điểm để nhích từng xí một, nhiều em nhỏ vẻ mặt bơ phờ mệt mỏi trong cái nắng, cái bụi hoặc trong cơn mưa, tôi tự nghĩ, tại sao cuộc sống con người nơi đây khổ thế?  Tại sao họ lại bám vào cái thành phố để sống trong cảnh mệt mỏi thế này? Và tôi biết họ phải bám vào nơi đây để sống vì về quê không có việc gì để làm. Mặc khác ở TP thì được nhà nước đầu tư những công trình phúc lợi như bệnh viện, công viên, trường học ,…tốt hơn nông thôn nên khi đau yếu, học hành cũng tiện lợi hơn, do vậy dân thích sống ở đây hơn. Tắc đường buộc chính phủ phải đầu tư nhiều tiền để mở đường, để xây cầu. Một lượng tiền rất lớn đổ vào công trình hạ tầng, có những đoạn đường dài chỉ gần 1km tiêu tốn gần ngàn tỷ đồng. Chính điều này làm cho cạn kiệt nguồn vốn đầu tư nơi khác, mặc khác ở Hà Nội có công ăn việc làm nên thu hút dân tỉnh lẻ lên. Chưa nói là nhiều công trình chưa cần thiết nhưng do gần trung ương nên dễ dàng được duyệt, như câu chuyện sửa sang vỉa hè (vỉa hè thành phố thì nay sửa, mai thay mới trong khi một cây cầu cho con em ở vùng xa thì không xây). Dân bị hút lên thành phố để sống, để tìm việc làm lại gây tắt đường, nhà nước lại phải đầu tư. Cái vòng tròn lẩn quẩn này làm cho các đô thị lớn phình ra và chật cứng, trong khi các nơi khác thì không có cơ sở làm ăn, nguồn tiền không có để đầu tư và lợi thế kinh tế nhờ số đông không thể hình thành ở nông thôn. Rõ ràng nếu tư bản di chuyển tự do trong tay tư nhân thì sẽ không đầu tư một lượng tiền lớn vào những nơi như vậy, dòng tiền sẽ phân tán, đi về những nơi có khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn.

Đồng ý rằng, nước nào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đều xảy ra quá trình đô thị hóa, bị nạn mất cân bằng giữa đô thị và nông thôn. Tuy nhiên để đến mức quá lớn như ở nước ta còn có nguyên nhân là dòng tiền do nhà nước kiểm soát. Nhà nước đã điều một dòng tiền cực lớn trong xã hội bất chấp hiệu quả đồng vốn và kéo theo nhiều hệ quả.

Quyền lực chính trị tác động đến kinh tế làm cho nó hoạt động bất chấp qui luật thị trường sẽ tạo ra nhiều hệ quả to lớn cho xã hội. Khi xưa quyền lực chính trị kết hợp với tem phiếu (kinh tế bao cấp) đã đẩy hàng triệu người dân phải rời bỏ thành phố để đi đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa theo chương trình kinh tế mới (nếu không đi thì nhà nước không cấp phiếu gạo, đói thì phải đi), hoặc bất chấp sóng dữ để vượt biên. Ngày nay quyền lực chính trị kết hợp với nguồn tiền ngân sách nhà nước đã làm cho các đô thị phình to trong chật chội, tắt đường kinh niên; trong khi nông thôn thì xác xơ.

Rõ ràng trong nền kinh tế XHCN với đặc điểm là sự đầu tư lớn từ nhà nước và một tỷ trọng lớn doanh nghiệp quốc doanh không chỉ gây ra hậu họa “lợi ích nhóm”, tham nhũng, bè phái, chính trị mất dân chủ mà còn là nguyên nhân gây ra sự mất căn bằng nghiêm trọng giữa đô thị và nông thôn. Điều này là mệt mỏi cho tất cả chúng ta.

Kết thúc:

Tôi viết bài này một phần để tưởng nhớ đến ông Hugo Chavez như một con người giàu nhiệt huyết muốn đất nước Venezuela công bằng và giàu có nhưng ông đã thất bại và để lại di sản nặng nề cho đất nước là kinh tế yếu kém, tệ tham nhũng và lợi ích nhóm khổng lồ thao túng quốc gia; và đồng thời cũng là lời nhắn gửi đến tất cả những người lãnh đạo là hãy hiểu cuộc sống, hãy hiểu kinh tế để có thể mang lại điều tốt đẹp cho nhân dân, cho đất nước, lòng nhiệt huyết không là chưa đủ.

Và lời cuối cùng tôi muốn nhắn gửi đến tất cả chúng ta là “kinh tế tự do là cái nền cho mọi sự tốt đẹp, kinh tế nhà nước là cái gốc mọi sự tồi bại trong xã hội ”.

Nguyễn Văn Thạnh

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

 

   The

 

Links: 

Nguồn Email  (maiquyusa)

Các links liên quan trong bài viết:

http://vnexpress.net/gl/the-gioi/phan-tich/2013/03/vi-sao-nguoi-venezuela-yeu-men-chavez-1/

http://ttxva.org/giai-ma-hugo-chavez/

http://vi.wikipedia.org/wiki/Venezuela

http://vi.wikipedia.org/wiki/Hugo_Ch%C3%A1vez

http://www.tin247.com/nguoi_giau_venezuela_khong_khoc_cho_chavez-35-20130310121942366.html


Con Bò Vi Phạm Luật – Phạm Lưu Vũ

Bài đọc suy gẫm: Bài viết về “Đám Mổ Bò” của tác giả Phạm Lưu Vũ lột trần bản chất của bọn cường quyền ác bá, đầy nhan nhản trong xã hội Việt Nam từ xưa tới nay.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Tác phẩm “Bắt cóc Europa”,  Rembrandt, 1632. Trong tranh, thần Zeus hóa thành con bò bắt đi Europa, đám bạn gái của Europa đang kêu gào thảm thiết trên bờ, còn lính canh thì ngơ ngác nhìn theo, không kịp phản ứng. Hình dưới là bức tượng về tích Europa và Zeus, đặt trước Trụ sở chính của EU ở Bỉ. chính nhờ nàng mà Châu Âu có tên Europe đấy thôi, nên giờ người ta dựng tượng, và khắc hình nàng lên tiền xu.

Đám mổ bò

Phạm Lưu Vũ

Đúng cái xóc thứ tám mươi mốt, lão Sướng choàng tỉnh. Nằm trong xe, lão với tay vớ sợi dây thừng, giật mũi cho con bò dừng lại rồi trèo xuống khỏi thùng xe. Lão dắt con bò cùng chiếc xe tới một gốc cây bên kia đường, cột lại tử tế, đoạn bước sang quán mụ cả Nẫm, hỏi mua gói thuốc lào.

Mặt trời đã lên nửa con sào, dân làng đi làm đồng hết, tưởng trong quán không có ai. Té ra có cả mấy người đang ngồi lố nhố trên chiếc phản kê phía trong quán. Lão Sướng hơi giật mình nhận ra những gương mặt quen thuộc, vội cất tiếng: “chào các ông ạ”. Người ngồi trong cùng, dựa lưng vào tường, quay mặt ra phía ngoài là Tưởng – Bí thư. Hai bên là Dần, Chấn – trưởng, phó công an xã. Chấn còn là cháu họ của lão, gọi lão bằng chú. Một người ngồi quay lưng ra cửa quán, không cần nhìn mặt, lão Sướng cũng nhận ra đó là Lý – chủ tịch. Bốn người không ai để ý đến lão. Hình như họ đang mải đang chơi bài.

Mụ cả Nẫm đưa cho lão Sướng gói thuốc lào và nhận từ tay lão tờ giấy bạc lẻ, nhàu nát còn ấm hơi người. Chiếc ti vi treo trong quán vọng ra từng tràng những tiếng hò reo náo nhiệt. Đang có tường thuật bóng đá của giải ngoại hạng Anh. Lão Sướng quay người chui ra khỏi quán, bước về phía chiếc xe, loay hoay mở nút sợi dây thừng. Phía trong quán, chủ tịch Lý vừa quật một quân bài xuống chiếu, vừa hỏi bí thư Tưởng:

– Thế nào bí thư ? Trận này tôi bắt Ác – se – nan, chấp một trái đấy.

Bí thư Tưởng đang nhìn hút theo con bò của lão Sướng, buột miệng nói:

– Được thôi, thì tôi bắt Chen – xi vậy.

Chủ tịch Lý hỏi tiếp.

– Nhai gà, vịt mãi cũng chán mồm. Tuần trước đánh cược con chó nhà lão Cử, anh em được bữa cờ tây ra trò. Trận này bí thư cược gì nào ?

Vẫn mải nhìn con bò cùng lão Sướng đang thong thả rời khỏi tầm mắt, bí thư Tưởng lại buột miệng nói:

– Cược con bò kia của lão Sướng. Chắc không ?

Chủ tịch Lý ngoái đầu nhìn cái phần mông núng nính của con bò vừa đi khuất, nuốt nước bọt đánh ực một cái, cũng buột miệng reo lên:

– Ối Trời! Được con bò ấy mà thịt thì tuyệt hảo. Chắc quá. Nào – bắt tay. Thằng Dần và thằng Chấn chứng kiến nhé. Phen này có thịt bò ngon chén rồi.

Trưởng, phó công an xã Dần, Chấn thấy vụ cá cược có mùi hấp dẫn, lập tức hưởng ứng. Bốn người hỉ hả bắt tay nhau. Mụ cả Nẫm cũng xen vào:

– Tôi đăng kí toàn bộ bạc nhạc đấy nhé, với lại bốn cái cẳng. Bấy nhiêu làm phở chín cũng bán được cả tuần chứ không ít…

Trưởng công an Dần nhanh nhảu ngắt lời mụ:

– Bạc nhạc thì được. Song bốn cẳng thì mụ đừng có mà nằm mơ. Cái đó để anh em vất vả chúng nó nhậu.

Phó công an Chấn tỏ ra hăng hái:

– Em xin chịu trách nhiệm về bộ da. Bộ da ấy tha hồ lành lặn, chắc chắn chất lượng cao. Bọn thuộc da Vĩnh Cửu trên huyện cứ gọi là lác mắt hột. Cái này bán mới được giá. Năm ngoái ta kiếm được năm bộ cả da trâu lẫn da bò, mang bán cho họ thành ra quen biết từ đó đến nay, lại học được chút kiến thức xem da các kiểu.

Bí thư Tưởng gật gù:

– Lâu lắm không được ăn thịt của giống bò tuyền ăn cỏ. Cái thứ thịt bò nuôi bằng thức ăn tăng trọng bây giờ ăn như thịt giả. Thịt tái kiểu gì mà nhợt nhạt, rũ rượi như thịt thằng chết trôi, nước máu chảy ra ều ễu. Thịt ấy nếu không dai ngoách thì cũng bở như đất vách, ăn tuyệt chẳng thấy cái mùi gây gây, béo ngậy đặc trưng của bò đâu.

Chủ tịch Lý nịnh khéo:

– Cả xã đều kính nể kiến thức về bò của bí thư. Đến như mấy anh lãnh đạo huyện, được nghe cái lý luận phân tích về bò của bí thư còn thèm rỏ rãi mà bảo: “Loại bò ấy chỉ có ở thời bao cấp, thuở còn hợp tác xã. Chứ thời này, kiếm đâu ra thứ thịt bò ăn tuyền cỏ ấy mà xơi…”

Bí thư Tưởng được thể, bèn tiếp tục bài giảng:

– Các ông nên biết, thịt loại bò ăn tuyền cỏ này tươi rất lâu. Cứ móc cả tảng mà treo lên xà nhà, để đến tận ngày hôm sau, các cơ trong tảng thịt vẫn còn giật giật, giật giật… Sờ tay vào có cảm giác nó dính dính, hút hút, mặt thịt đỏ sậm, lóng lánh ánh kim. Phía bên dưới tuyệt không một giọt nước máu nào nhỏ xuống. Thịt ấy thái mỏng, ngang thớ mà tái thì tuyệt cú, ăn vừa ngọt vừa giòn, cứ như thể nó tan ra trong miệng. Tảng càng lớn, tươi càng lâu. Thịt tươi hút nước vào nên vừa khô vừa dính, đến khi nào tiết nước máu ra là hết tươi. Thịt bò kị nhất cắt vụn, cắt vụn không tươi lâu. Phải ăn đến đâu, xẻo đến đấy mà thái. Nếu tay chân, dao thớt cứ sạch khô, không hề dây một giọt máu nào, thì thịt như thế mới đạt tiêu chuẩn.

Mọi người vừa nghe vừa thèm đến nóng cả mặt. Chủ tịch Lý bái phục:

– Vậy bất luận ai thắng cược, thì hai quả mông cứ xin nhường nhà bí thư. Nhà tôi xin tảng vai vậy. Bắp biếc chia cho cánh Công an, Mặt trận. Đầu, đuôi chia Hội phụ nữ… Riêng bộ lòng đánh chén tại chỗ.

Bí thư Tưởng tỏ ra khiêm tốn:

– Được cái mông ấy thì nhà tôi chỉ cần một quả cũng thừa mứa ra rồi. Quả mông kia đem biếu các anh lãnh đạo huyện, các anh ấy cũng rất thèm xơi loại thịt bò thời bao cấp như thế này. Ăn những thứ thời bao cấp hiện đang là một cái mốt ẩm thực. vả lại các ông quên là lâu nay ta chẳng “nói năng” gì, huyện đang có “vấn đề” với ban lãnh đạo xã ta à. Liệu có “yên” vị mà mơ thịt bò ăn cỏ được mãi không ?

Trưởng công an Dần hớn hở vừa quật đánh đét một quân bài xuống chiếu, vừa nói:

– Nhất trí với ý kiến của cả chủ tịch lẫn bí thư. Vậy xin bí thư cho phương hướng giải quyết, đồng thời quyết định ngày ạ.

Bí thư Tưởng kết luận.

– Cái ấy giao cho bên công an, dân phòng các anh lo, triển khai ngay ngày mai càng tốt, không nên hoãn sự sung sướng lại. Nhớ lên kế hoạch thật chu đáo, phải làm sao cho nhân dân luôn tâm phục, khẩu phục mới được…

Bất ngờ phó công an Chấn lại tỏ ra ngập ngừng:

– Em thấy có chỗ hơi khó. Trận trước, con chó của lão Cử thì ta vu cho là chó dại, bắt giết thịt thì được rồi. Nhưng còn con bò này… chả lẽ bảo nó là bò điên ?

Trưởng công an Dần lập tức ngắt lời:

– Chú bởi thật thà nên kém sáng kiến. Chú không biết lão Sướng chuyên trị ngủ trong xe, mặc cho con bò tự kéo về làng hay sao ? Thế thì có khó gì, bò cũng phải chấp hành luật lệ giao thông chứ… Thôi! Chú vì có họ với lão Sướng nên việc ấy để anh giải quyết. Cứ làm đúng tinh thần chỉ đạo của bí thư là được rồi.

 Bò hỏi: ” Sao, còn muốn chơi tiếp không?” –  yên nào, để suy nghĩ đã.

Lão Sướng đánh chiếc xe bò vào tận trong làng, nhà lão ở cuối xóm Con Chó. Làng xóm vắng tanh vì người lớn ra đồng, trẻ con đi học, chỉ có những ông già, bà lão ở nhà. Về đến nhà, lão tháo con bò ra khỏi xe, dắt nó ra sau vườn, cột dưới gốc một cây nhãn, quẳng cho nó một ôm cỏ rồi rửa ráy chân tay, vào nhà chuẩn bị đánh một giấc ngủ bù đến trưa. Trước khi đi ngủ, lão không quên kéo một điếu thuốc lào theo thói quen. Sáng nay, lúc ra khỏi chợ lão mới nhớ ra rằng gói thuốc trong người đã hết, nên mới phải dừng lại mua ở quán mụ cả Nẫm.

Ngày nào cũng vậy, cứ ba giờ sáng là lão Sướng thức dậy, đánh chiếc xe bò của mình chở hàng cho mấy bà thầu rau, quả trong làng lên chợ Huyện bán. Chợ cách làng năm sáu cây số, chiếc xe phải đi mất gần hai tiếng. Quãng đường đầy những ổ voi, ổ bò mà lão đã thuộc nằm lòng. Từ làng lên tới chợ có đúng tám mươi mốt cái ổ voi như thế. Mỗi khi lăn bánh qua, chiếc xe bị quăng bên này, quật bên kia như muốn hất mọi thứ đang cõng trên lưng xuống đường. Lão gọi đó là những cái xóc. Tám mươi mốt ổ voi là tám mươi mốt cái xóc. Lúc đi trời còn tối, gặp những cái xóc ấy lão phải để ý giữ cho hàng hoá khỏi rơi, miệng nhắc mấy bà hàng rau đi bộ theo phải cẩn thận kẻo bước hụt. Lúc quay về thì nhẹ nhàng xe không, vả lại trời đã sáng. Lão cứ việc khoanh tròn trong thùng xe mà thiu thiu ngủ, mặc kệ cho con bò kéo chiếc xe đi. Lão ngủ trong xe rất tài, ngủ mà vẫn không quên, vẫn đếm được chính xác từng cái xóc trong giấc mơ màng. Tới đúng cái xóc thứ tám mươi mốt là lão tỉnh dậy, nắm sợi dây thừng vắt vắt cho con bò rẽ vào trong làng. Trăm ngày như một, không bao giờ lão ngủ quên trong xe. Con bò và chiếc xe là nguồn sống chính của nhà lão gồm bà vợ già, mắt mũi kèm nhèm và hai đứa con dâu dở người đã mấy chục năm nay, suốt ngày thờ thẫn, lúc lên cơn thì xé quần xé áo, lăn lộn cả ra vườn. Chồng chúng nó chết trong chiến tranh, một thằng được công nhận liệt sĩ. Chính nhờ món tiền tuất liệt sĩ ấy của nó mà lão sắm được con bò, sắm từ hồi nó còn là một con bê mới đẻ. Một thằng bị ngưới ta làm thất lạc giấy tờ thành ra mất trắng, chả có danh hiệu với tiêu chuẩn tiêu chiếc gì.

Lão Sướng chưa kịp đi ngủ thì có tiếng gọi to tướng của một anh dân phòng ngoài ngõ, mời lão lên ngay trụ sở dân phòng của xóm để làm việc. Lão Sướng giật thót người. Có việc gì mà phải lên trụ sở dân phòng? Xưa nay nhà lão ăn ở tử tế, chẳng phiền hà đến ai. Hai đứa con dâu dở hơi chỉ suốt ngày tự nhăn nhở với nhau quanh vườn, rủ nhau điên những cái điên hiền lành như bùn đất. Cả con bò cũng được lão đích thân chăn dắt, không để phá lúa hay hoa màu của nhà nào. Càng nghĩ không ra, lão Sướng càng sốt ruột, đành vội vã chạy tới trụ sở dân phòng.

Trụ sở dân phòng trấn ngay đầu xóm. Đó là một căn phòng ba mét nhân ba mét trơ trọi, đội mái tôn nhọn hoắt như cái chóp nón. Đẳng – trưởng xóm đang ngồi sau một cái bàn gỗ bọc phoọc – mi – ca trắng lở lói, hai bên là hai anh dân phòng mặt non choẹt, ngồi im như pho tượng. Trưởng xóm một tay giở quyển sổ, tay kia lăm lăm chiếc máy tính nhỏ, bảo lão Sướng:

– Tôi mời ông đến nộp bổ sung phí giao thông đường làng. Nhà ông còn mấy suất chưa đóng.

Lão Sướng giật nẩy người, ngớ ra.

– Tôi đã đóng đầy đủ cả quý rồi kia mà. Bây giờ mới đầu tháng tư?

Trưởng xóm ôn tồn giải thích:

– Xã mới có điều chỉnh, không như những năm trước chỉ thu theo đầu người. Từ năm nay, phí giao thông áp dụng cả với vật nuôi và phương tiện cho công bằng, có danh mục đóng dấu đỏ kèm theo đây. Con bò nhà ông bốn chân, thu bằng hai suất người. Chiếc xe cũng hai suất, tổng cộng tám suất. Mỗi suất cân rưỡi thóc một tháng, trừ số đã đóng theo cách tính như mọi năm, vị chi là…

– Các anh biết thừa đấy, hai đứa con dâu dở người nhà tôi có bao giờ thò mặt ra đường đâu. Thế mà cũng phải đóng phí giao thông. – Lão Sướng nhăn nhó.

– Mặc kệ, ai bảo các bà ấy cũng là người. – Trưởng xóm lý luận.

Như chợt nhớ ra điều gì, lão Sướng vội vàng thắc mắc:

– Còn con bò, tôi tưởng phí giao thông đã tính trong thuế đồng rồi cơ mà?

– Thuế đồng thực ra mới chỉ tính trên số diện tích cỏ nó gặm hàng năm. – Trưởng xóm kiên trì giải thích – Nuôi bò, nuôi trâu kể từ năm nay còn phải đóng phí môi trường, bởi nó hay ỉa rơi vãi trên đường. Phí môi trường của bò mười lăm cân thóc một năm.

– Nó ỉa đến đâu, tôi nhặt đến đấy. Chứ có khiến ai phải ngửi hộ đâu. – lão Sướng cố cãi.

– Đề nghị ông ăn nói cho cẩn thận. – Trưởng xóm nhắc nhở rồi tiếp tục mớ lý luận của mình – Lấy gì đảm bảo rằng ông nhặt sạch trăm phần trăm, không sót lại mẩu phân nào trên đường? Thế còn nó đái rong thì sao? Dễ thường ông cũng hứng được chắc.

Lão Sướng hết cách cãi, đành lần túi móc ra một nắm giấy bạc lẻ, vừa đưa cho trưởng xóm, vừa năn nỉ:

– Tôi chỉ còn ngần này, chắc chưa đủ. Còn thiếu bao nhiêu, các anh thư cho đến chiều, để tôi hỏi vay trước mấy bà hàng rau.

– Được thôi! – Trưởng xóm dễ dãi – nhưng ông nhớ tự giác đấy, đừng để chúng tôi phải gọi.

Từ trụ sở dân phòng ra về, trong lòng lão Sướng cứ có cái gì tức anh ách. Lão chẳng lạ gì cả tam đại nhà cái thằng Đẳng – trưởng xóm kia. Nó ngày bé cũng là thằng ăn cắp ăn trộm, học hành dốt đặc cán mai, sở dĩ được làm trưởng xóm là nhờ trên người ta tưởng nhớ đến bố nó. Bố nó còn ít hơn lão mấy tuổi, ngày trước cũng làm chức trưởng xóm trưởng thôn gì đấy. Bỗng một hôm, dân làng phát hiện bố nó treo cổ tự tử ở ngay cây đa đầu làng. Chẳng ai hiểu vì cái gì mà khiến lão phải quyên sinh. Lục trong túi lão, người ta chỉ thấy một mẩu giấy nhỏ ghi vỏn vẹn năm chữ với một cái dấu ba chấm: “Vì nhân dân quên mình…”. Lá thư tuyệt mệnh ngắn ngủi ấy của lão ta làm cho mọi người nhức đầu, nghĩ mãi không ra. Ai cần lão phải quên mình theo kiểu ấy cơ chứ. Về sau, dân làng rỉ tai nhau truyền đi một cách giải thích khác xem ra cũng có lý. Té ra trước đó, lão ta ứng cử hội đồng nhân dân xã nhưng bị trượt, dân quên không bầu lão…

Lão Sướng vừa về đến nhà thì bà Cổn ở xóm Con Lợn tìm đến có việc. Bà bảo:

– Biết bác ngày nào cũng lên chợ Huyện, tôi sang gửi bác ngày mai mua hộ mấy cái nón rộng vành về đội ban đêm.

Lão Sướng tròn mắt ngạc nhiên:

– Sao lại phải đội nón ban đêm, sợ phải gió à ?

Bà Cổn chép miệng:

– Nào ai sợ phải gió phải giếc gì. Ma quỷ còn chả sợ nữa là.

– Thế thì đội nón làm gì? – Lão Sướng rõ ràng chưa hiểu.

Bà Cổn nhả miếng trầu ra cầm trên tay, thong thả giải thích:

– Chả là dạo này, tối tối các ông ấy hay tụ tập chè chén trong nhà mụ Goá Len ở xóm Con Mèo. Mấy lần rồi, chẳng hiểu say xỉn đến mức nào mà lúc về ngang ngõ nhà tôi, các ông ấy phát rồ rủ nhau trèo lên cây nhãn nhà lão Trạch, mỗi ông leo ra một chạc cây rồi ỉa đái đầy cả xuống đường, có tay còn nôn thốc, nôn tháo nữa. Bà cháu tôi đi về qua bị dây hết cả quần áo. Xóm Gà, xóm Vịt cũng có mấy người từng bị cứt rơi xuống đầu như thế. Thành ra bây giờ, ban đêm có việc ra đường ai cũng phải đội nón. Nào ai biết các ông ấy đang phát rồ trên cái cây nào để mà đề phòng…

– Thế sao lúc ấy bà không mắng cho họ một trận – lão Sướng bảo.

Bà Cổn nhìn lão như nhìn một người ngoài hành tinh:

– Bác biết họ là ai rồi mà còn dám nói thế à. Tức mấy cũng phải ngậm trong miệng. Lôi thôi họ nhân đà say, sai người bắt giải về uỷ ban thì có mà khốn. Nói thế thôi, chứ chẳng ai lại đi chấp những người say làm gì.

Thì ra là vậy. Lão Sướng biết ngay việc này đầu têu ở cái anh bí thư Tưởng. Lão biết anh ta từ hồi còn nhỏ, hắn có thói quen hay ỉa trên cây, rất mê ỉa trên cây. Nhà anh ta có cây sung lả ra bờ ao, cả nhà quanh năm trèo lên cây sung ấy ỉa xuống ao để nuôi cá. Sau này lớn lên, anh ta ra gánh vác việc làng, việc xã, thói quen ấy dần dần không còn. Song con người ta không biết thế nào mà nói trước được. Nhất là những lúc say xỉn, không làm chủ được ý nghĩ của mình nữa thì cái bản năng xưa nó lại trỗi dậy chưa biết chừng. Còn những tay kia, chắc là a dua, nịnh nọt anh bí thư cho có hội, có phường vậy thôi.

Bà Cổn về lâu rồi mà lão Sướng cứ suy nghĩ vẩn vả mãi về cái vụ dân làng phải đội nón đi đêm kia. Liên hệ với việc phải đóng phí môi trường của con bò, trong đầu lão chợt bật lên một ý nghĩ phản kháng ngầm rất chi là… hả lòng hả dạ. Rằng cứ theo như ý nghĩa của cái phí môi trường kia, thì đáng lẽ bọn họ phải đóng mỗi người bằng ba bốn suất con bò nhà lão… Song đó chỉ là ý nghĩ thôi, thế cũng đủ hả lắm rồi, đố bao giờ lão dám nói ra mồm.

Lão Sướng ngủ bù một giấc đến giữa trưa thì thức dậy, cùng vợ con ăn qua loa mấy bát cơm dưa mắm rồi dắt bò ra cánh đồng chăn, vừa chăn, lão vừa tranh thủ cắt ít cỏ, hoặc vơ lá lảu về cho con bò ăn đêm. Không như những dân chuyên nuôi bò thịt, lão tuyệt đối không cho con bò của mình ăn thức ăn tăng trọng. Thứ ấy tuy có làm cho nó béo tốt, tăng cân. Nhưng chỉ là béo bệu, rất mau xuống sức, và nhất là không thể kéo nặng được. Chiều về, lão không quên tắm rửa, kì cọ cho toàn thân nó sạch óng dưới ráng chiều. Lão chăm chút cho con bò còn hơn cả bản thân lão. Những ngày mùa đông tháng giá, không đun nước tắm cho nó được thì lão tắm khan. Lão cẩn thận dùng bàn chải, chải kĩ từng xăng ti mét vuông mình mẩy xuống đến tận bốn chân con bò, không để một mẩu bùn đất hoặc một con ve nhỏ bé nào bám vào. Được chăm sóc kĩ càng như thế, con bò của lão lúc nào cũng khoẻ mạnh, béo mượt. Ai trông thấy nó cũng thích mắt, thèm thuồng.

Lão Sướng là người chỉ sướng ở mỗi cái tên. Đời lão đã gặp nhiều mất mát, nhất là mất đứt cả hai thằng con trai, đến nỗi vợ lão khóc lòa cả hai mắt. Hai đứa con dâu trời xui đất khiến thế nào, lại nhất tề rủ nhau cùng dở người để lão phải nuôi báo cô. May mà lão sắm được cỗ xe với con bò, lại có việc quanh năm thành ra ngày cũng kiếm được vài cân gạo, đủ cho bốn kiếp người với một kiếp bò đắp đổi lần hồi. Cuộc đời nhờ vào những cái tẻ nhạt đâm ra lại có vẻ yên bình, mặc dù sự mất mát đã biến thành những vết sẹo to lớn biết đi. Lão chẳng còn cái thú nào khác ngoài việc sáng nào cũng thiu thiu đếm những cái xóc trong giấc mơ từ chợ Huyện về làng. Một… Hai… Ba… Bốn… Năm… Tám mươi mốt cái lúc đi, lại tám mươi mốt cái lúc về… Cứ như thể trời đã khoán sẵn những cái xóc ấy cho số phận của lão. Mỗi lần chiếc xe lắc qua lắc lại, mài người lão mấy cái xuống sàn, chiếc máy đếm đâu đó trong đầu lão lại ghi nhớ cái số đếm ấy vào một giấc mơ nhẹ nhàng, tới đúng số tám mươi mốt là về đến làng…

 Cách đây vài tháng, cộng đồng mạng xôn xao vì hình chụp một chú bò rớt nước mắt trước khi lên bàn mổ.

 Có tiếng người quát tháo dưới đường làm lão Sướng giật mình, ra khỏi cơn mơ màng. Chiếc xe và con bò của lão đã đột ngột dừng lại, điều chưa từng xảy ra bao giờ. Lão ngủ quên chăng ? Không thể nào. Giấc mơ vừa rồi nhắc cho lão biết chắc chắn rằng vừa mới qua cái xóc thứ sáu mươi, còn hai mươi mốt cái xóc nữa mới về đến làng. Có chuyện gì vừa xảy ra. Lão vội vàng mắt nhắm mắt mở, lập cập trèo xuống khỏi thùng xe.

Sáu bảy người toàn công an, dân phòng đang quây quanh chiếc xe và con bò như vừa đội đất chui lên, dẫn đầu là Dần – trưởng công an xã.

– Con bò của ông vi phạm luật lệ giao thông, gây tai nạn nghiêm trọng. – Trưởng công an Dần vừa dõng dạc nói với lão Sướng, vừa chỉ tay sang phía vệ đường, rồi lại chỉ vào gầm chiếc xe.

Lão Sướng nhìn theo cánh tay chỉ của trưởng công an xã. Bấy giờ lão mới hoảng hồn khi thấy một người đang nằm thu lu, hai tay ôm đầu, cố rặn ra mấy tiếng rống như bò rống. Con bò thì vẫn im lặng, ngơ ngác không hiểu những con người hiện hữu đây đang làm cái trò gì. Sau lưng nó, một chiếc xe máy Trung Quốc nằm chắn ngang, vừa vặn chạm hai bánh của nó vào hai bánh của cỗ xe bò, khéo như có người khiêng đặt vào vậy.

Có cái gì không bình thường ở cái gã đang nằm rống bên vệ đường kia. Chẳng biết nó là con cái nhà ai? Lão Sướng tiến tới chỗ gã, định cúi xuống nâng nó dậy. Ngay lập tức, một bàn tay túm vai lão kéo lại:

– Yêu cầu ông không được động đến nạn nhân. Đây không phải việc của ông – tiếng một công an viên.

Lão Sướng còn chưa kịp có phản ứng gì thì trưởng công an Dần đã nhanh nhẹn phân công:

– Tính mạng nhân dân là quan trọng. Hai đồng chí khẩn trương chở nạn nhân đi trạm xá cấp cứu. Một đồng chí đo đạc, đánh dấu hiện trường. Còn lại theo tôi áp tải chủ xe cùng tang vật về trụ sở uỷ ban để giải quyết.

Cả người, xe và con bò cùng bị dong về trụ sở uỷ ban. Lão Sướng bị tống vào một căn phòng cuối dãy nhà ngang, có một công an viên ngồi canh ngoài cửa, chờ lập biên bản, khám nghiệm hiện trường. Hồi lâu sau, trưởng công an Dần cho dẫn lão lên, đặt trước mặt lão một xấp biên bản đã thảo sẵn. Trưởng công an xã vừa đọc, vừa giải thích vào tai lão:

– Theo kết quả khám nghiệm hiện trường, con bò của ông lưu thông lấn sang phần đường dành cho chiều ngược lại. Theo luật, ông bị phạt hai trăm ngàn đồng, giữ phương tiện (cả con bò và chiếc xe) hai mươi ngày. Đề nghị ông kí vào biên bản thay cho con bò.

Sự việc đã hai năm rõ mười. Lão Sướng có muốn cãi cũng không được, đành cầm bút nguệch ngoạc vào tờ biên bản, mặt mũi tái xanh như tàu lá. Trưởng công an xã chờ cho lão kí xong xuôi, mới nói tiếp:

– Riêng vụ tai nạn gây ra cho người và chiếc xe kia, chúng tôi còn chờ kết quả giám định phương tiện, xác minh thương tật thì mới tính toán được mức bồi thường. Vì vậy chúng tôi buộc phải giữ ông lại uỷ ban để chờ giải quyết.

Lão Sướng nghe đến đó thì hoảng lạnh cả sống lưng. Bấy giờ lý trí của lão mới có vẻ dần dần được khôi phục. Lão cất giọng xin xỏ:

Xin các ông chiếu cố hoàn cảnh tôi là gia đình liệt sĩ…

– Tôi biết, tôi biết! – Trưởng công an xã vội ngắt lời – Chính vì thế trong biên bản không ghi ông là người vi phạm luật giao thông, cũng không ghi ông là người gây ra tai nạn, mà tất cả là do con bò. Thậm chí lúc tai nạn xảy ra, ông còn đang ngủ khì nữa kìa. Có điều ông là chủ của con bò thì phải bồi thường thay cho nó là lẽ đương nhiên. Chúng tôi giải quyết bất cứ việc gì cũng nghĩ đến tình trước, lý sau…

Lão Sướng nhìn con bò đang bị buộc dưới trời nắng chang chang mà đứt từng khúc ruột. Khuôn mặt già nua, đầy nếp nhăn của lão ràn rụa nước mắt. Đến trưa thì bà vợ lòa của lão được báo đã mang cỏ lên cho con bò, mang cả cơm cho lão. Lão cố trệu trạo nhai, cố nghèn nghẹn nuốt những miếng cơm trộn lẫn nước mắt, nhơn nhớt như được chan bằng canh rau đay, rau mồng tơi.

Quá trưa thì Chấn – phó công an xã mò tới. Lão Sướng mừng rỡ như bắt được vàng, đầu lão loé lên một tia hy vọng. Lão vội vã thều thào:

– Cháu xem có cách nào cứu con bò, cứu chú với Chấn ơi !

Phó công an Chấn cố làm ra vẻ thiểu não, ngồi xuống bên lão bảo:

– Gay lắm chú ạ. Con bò lưu thông trái đường, phạt hai trăm thì chịu rồi, giữ hai mươi ngày thì cháu có thể xin giảm bớt được. Song còn cái vụ bồi thường kia, nghe nói bị gãy hai dẻ xương sườn. Chưa biết họ đòi bao nhiêu.

Khoảng giữa buổi chiều, trưởng công an Dần lại cho dẫn lão lên. Dần thông báo luôn:

– Báo để ông mừng. Tai nạn không gây nguy hiểm đến tính mạng. Nạn nhân chỉ bị gãy hai dẻ xương sườn. Chiếc xe cũng đã có kết quả giám định hư hỏng. Đây là yêu cầu bồi thường của người bị hại, công an chúng tôi để hai bên tự giải quyết với nhau. Nếu phía bên kia đồng ý bãi nại, chúng tôi sẽ cho ông về.

Lão Sướng ù cả tai khi nghe đến số tiền phải bồi thường. Năm triệu cho tiền thuốc men, bốn triệu sửa chữa chiếc xe máy Trung Quốc. Cộng cả tiền phạt là chín triệu hai. Đời lão chưa bao giờ có món tiền to đến thế, gần bằng ba con bò… Lão luống cuống đến mức lăn đùng ra khỏi ghế, chẳng biết phải trả lời thế nào. Trưởng công an xã hất hàm, hai công an viên phải túm lão dậy, dìu xuống căn phòng lúc nãy để lão nằm mà nghĩ cho bình tĩnh.

Xâm xẩm tối, phó công an Chấn đến dúi vào tay lão cái bánh bao rồi bảo:

– Cháu năn nỉ mãi, họ mới đồng ý không đòi tiền tiếc gì cả, chỉ phải đền con bò cho họ là xong xuôi chú ạ. Thôi thì cũng là cái vận cái hạn, đó là cái giá rẻ nhất, ngoài ra không còn cách nào khác. Chú cứ suy nghĩ đi. Nếu chịu mất con bò thì lập tức cháu bảo họ thả chú về nhà…

Mất con bò ? Lão Sướng chưa bao giờ dám nghĩ đến điều đó. Mất con bò là mất đứt nguồn sống duy nhất của cả nhà lão. Vợ chồng già và hai đứa báo cô kia chỉ còn cách dắt nhau lên chợ Huyện ăn xin. Lão đau quá, ân hận quá. Giá lão đừng có cái thú mơ màng đếm những cái xóc kia, mà điều khiển con bò cho cẩn thận. Từ nay, dù có muốn lão cũng không còn cơ hội được đếm những cái xóc ấy trong giấc mơ nữa rồi. Bò ơi! Con trai ơi! cha có lỗi với các con, có lỗi với số phận của cha, của cả ba người đàn bà đang sống kiếp đời thừa kia… Bây giờ còn biết làm thế nào ? Lão chợt nhớ hôm nọ ở chợ, có một bà già trỏ lão mà bảo: “ông năm nay cẩn thận kẻo gặp phải hạn to…”. Đời lão chẳng bao giờ tin vào sự bói toán, huống chi năm nay lão đã ngoài bẩy mươi, các cụ ngày trước bảo đó là cái tuổi hết trạch, quỷ thần đã tha rồi, còn phải kiêng kị gì nữa. Rốt cuộc lão vẫn gặp hạn ở cái xóc thứ sáu mươi…

Sáng sớm hôm sau, khi phó công an Chấn mở cửa phòng thì lão Sướng đã rũ ra như một tấm giẻ rách, khuôn mặt nhăn nhúm đen sạm lại, ngô nghê y hệt hai đứa con dâu lão lúc lên cơn. Biện pháp giữ người quả nhiên có tác dụng. Phó công an Chấn vồn vã:

– Chú đồng ý rồi chứ ? Vậy chú điểm chỉ vào tờ giấy này, rồi cháu bảo họ đưa chú về nhà.

Lão Sướng có còn con đường nào để mà chọn nữa đâu. Vả lại, lý trí của lão đã kịp chia tay với lão từ đêm hôm qua rồi. Một con bò, chứ mười con bò đối với lão bây giờ cũng thế. Sân uỷ ban hôm nay nhộn nhịp khác thường. Chính quyền, các ban ngành, đoàn thể… tề tựu không sót một ai. Tiếng trưởng công an Dần oang oang gọi người này, quát người kia, phân công công việc túi bụi. Bản thông báo về vụ tai nạn có kí tên, đóng dấu của trưởng công an xã dán la liệt khắp nơi. Con bò của lão Sướng đã được dắt ra cột ở giữa sân. Trước mặt nó là một chiếc búa tạ và một cái chậu to tổ bố. Có mấy người cởi trần trùng trục, bắp thịt cuồn cuộn đang huơ lên những con dao bầu sáng loáng.

Lão Sướng như người mộng du bước qua chỗ con bò. Nó bị bỏ đói suốt đêm qua, giờ đang cố rống lên những tiếng rống cuối cùng, những tiếng rống âm u đã bắt đầu nhuốm mùi tanh tanh của địa ngục. Lão cụp mắt, không dám nhìn thẳng vào nó nữa. Cứ như thế, lão lầm lũi bước đi, hai bên là hai anh dân phòng có nhiệm vụ hộ vệ lão về đến tận nhà. Đang đi, chợt nghe phía sau có một tiếng “bộp” khô khốc, ngay sau đó là một cái gì vừa đổ vật xuống. Tiếng rống đã im bặt. Đất dưới chân như bị rung lên, tiếng “bộp” kia vừa giáng vào gáy con bò, hay là giáng vào gáy lão. Lão Sướng tối sầm mắt lại, giơ hai tay lên trời rồi lảo đảo khuỵu xuống. Sau lưng lão, sân uỷ ban tưng bừng không khí đình đám, bấy giờ mới thực sự diễn ra một đám mổ bò.

Đám mổ bò hôm ấy náo nhiệt đến tận trưa. Sau khi chia phần đâu đấy, bộ lòng bò vĩ đại được chế biến tại chỗ cho những người lâu nay vất vả vì việc dân, việc xã liên hoan chè chén với nhau suốt cả buổi chiều, lại còn say sưa ca hát đến tận nửa đêm…

Mờ sáng hôm sau, trên con đường quen thuộc từ làng lên chợ Huyện, người ta thấy có bốn bóng người lầm lũi dắt nhau đi. Không ai khác, chính là lão Sướng, bà vợ lòa và hai đứa con dâu dở hơi. Bốn người cùng túm vào một đoạn dây thừng do lão Sướng nắm một đầu dây. Lão dẫn họ lên chợ để đổi sang kiếp ăn xin. Nhưng lão còn phải đếm lại một lần cuối cùng, không phải trong giấc mơ, lần lượt tám mươi mốt cái xóc này nữa, thì mới tới được cái đích ăn xin của kiếp mình, kiếp vợ lão, và hai đứa con dâu báo cô của lão…

Phạm Lưu Vũ

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

   The

 Links:

Văn Chương Việt

Soi