Hoà Hợp Hòa Giải, Tư Cách Gì? – TS. Nguyễn Quang Hiệp

Sách viết về sắc lệnh của người Công Giáo lên án chủ nghĩa Mác xít vô thần.

Bài đọc suy gẫm:  Hoà Hợp Hòa Giải? hay bài phân tách về ý nghĩa sâu sắc trong thư góp ý của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam của tác giả TS. Nguyễn Quang Hiệp.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
            ‘’Lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm nền tảng tư tưởng cho việc tổ chức và điều hành xã hội Việt-Nam‘’.  Câu nói này là NÉT SON của bức thư góp ý.  Câu nói này đã nói lên sự đòan kết, sự thông minh sâu sắc của HĐ Giám Mục Việt-Nam.

THƯ CỦA HỘI  ĐỒNG GIÁM  MỤC VIỆTNAM GỬI ỦY BAN DỰ THẢO SỬA ĐỔI  HIẾN-PHÁP NĂM  1992.  NHẬN ĐỊNH VÀ GÓP Ý SỬA ĐỔI HIẾN-PHÁP.

Trừ đoạn mở đầu và đoạn kết  luận rất ngắn gọn: – đọan mở đầu nói đến lý do nhận định và góp ý trong việc sửa đổi hiến pháp; đọan  kết luận ước mong mọi người tích cực góp phần vào việc điều chỉnh hiến pháp – bức thư gồm ba đoạn chính:

Đọan  1:  Nói về quyền con người. ‘’Quyền con người là những quyền gắn liền với phẩm giá, do đó là những quyền phổ quát, bất khả xâm phạm và bất khả nhượng‘’. ‘’Quyền con người đã được chính thức nhìn nhận trong Tuyên Ngôn Quốc Tế vế quyền con người  (10.12.1948).‘’

Đọan  2:  Nói về quyền làm chủ của nhân dân. ‘’Quyền bính chính trị cần thiết để điều hành xã hội, nhưng  chủ thể của quyền bính chính trị phải là chính nhân dân xét như một tòan thể trong đất nước‘’.

Đọan  3:  Đề cập tới việc thi hành quyền  bính chính trị. ‘’ Quyền bính chính trị mà nhân dân  trao cho nhà cầm quyền được phân chia thành quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Để những quyền bính này được thi hành cách đúng đắn và hiệu qủa, cần có sự đôc lập chính đáng của mỗi bên và vì công  ích của tòan xã hội‘’.

Đọc qua thư của HĐ Giám Mục nêu trên, người ta thấy rằng những nhận định và góp ý của HĐ rất tích cực trong việc tạo lập một hiến pháp dân chủ pháp trị thông thường hiện nay.  Hiểu thư của HĐ Giám Mục theo cách hiểu như trên  dường như chưa đầy đủ, bởi vì người ta còn chưa đi vào được ý nghĩa sâu sắc của bức thư nhận định và góp ý này. Vậy đâu là ý nghĩa sâu sắc đó?

Chúng tôi cho rằng ý nghĩa sâu sắc đó nằm trong  số (2) của đọan 1:  ‘’Lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm nền tảng tư tưởng cho việc tổ chức và điều hành xã hội Việt-Nam‘’.  Câu nói này có một sức mạnh vô địch vì nó hàm chứa trong đó một chân lý nền tảng của triết học và thần học. Chân lý này

1)  ĐÁNH BẠI VÀ TUYỆT DIỆT CHỦ NGHĨA  MÁC-LÊ-NIN VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆTNAM;

Hệ  luận của chân lý này là:
2) Loại  bỏ mọi ý thức hệ  trong việc tổ chức và điều hành xã hội Việt-Nam;
3) Không chấp nhận bất cứ hình thức hòa hợp hòa giải nào với chủ nghĩa Mác-Lê và cộng sản Viêt-Nam.

I-       TUYỆT DIỆT CHỦ NGHĨA MÁC-LÊ VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT-NAM KHÔNG KHOAN NHƯỢNG.

Để hiểu chân lý nền tảng này,  người ta không thể không trở về thời kỳ Giáo Hội Thiên-Chúa đưa ra những sắc lệnh kết án chủ nghĩa cộng sản vô thần Mác.

Giáo Hội La-Mã, rất sớm, đã đưa ra những lời kết án chủ nghĩa Mác-xít. Đức Giáo Hòang Lêon XIII (1878-1903) đã đưa ra những lời kết án đầu tiên và tổng quát đối với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trong sắc lệnh ‘’Quod apostolici mu -neris‘’ (28  decembre 1878).  (Acta  Apostolicae  Sedis,  Lêon 13, vol. I, tr. 46).
Đức Giáo Hòang Pie XI (1922-1939) công bố một lọat các sắc lệnh lên án chủ nghĩa Mác-xít; một trong những sắc lệnh quan trọng là sắc lệnh ‘’Divini Redemptoris‘’ ngày 19 tháng  3 năm 1937. (Traduction française publiée aux Editions Spes,  Paris, 1937).

Đức Giáo Hòang Lêon XIII (1878-1903)
 
   Đức Giáo Hòang Pie XI (1922-1939).
Năm 1949, Đức Giáo Hòang Pie XII ban hành săc lệnh của Tòa Thánh thi hành kỷ luật đối với những giáo dân có những  hành động nào đó liên hệ với chủ nghĩa cộng sản.
Phần lớn các văn kiện của Giáo Hội và nhất là sắc lệnh ‘’Di –vini Redemptoris‘’ liên hệ đến chủ nghĩa cộng sản đang  bành  trướng hiện thời. Những sắc lệnh này đương nhiên  nhắm vào chủ nghĩa cộng sản của Lê-nin.Nhưng săc lệnh ‘’Divini Redem –ptoris cũng nhắm vào chính lý thuyết của  Mác, bởi vì chủ nghĩa cộng sản của Lê-nin chỉ là con đẻ của chủ nghĩa Mác. Những quy luật của DUY VẬT SỬ QUAN do Mác để lại đã được cộng sản Nga duy trì và giải thích một cách trung thực. (Divini Redemptoris, tr. 17).

  Pope Pier XII (1876- 1958)

Giáo Hội giải thích rằng lý thuyết của Mác xác nhận CHỈ CÓ MỘT THỰC TẠI tồn tại, đó là VẬT CHẤT với những sức mạnh MÙ QUÁNG của nó: cây cỏ, động vật, và con người chỉ là kết quả của sự TIẾN HÓA của vật chất (Ibid., tr. 17).  Những giải thích của Giáo Hội rất chính xác,bởi vì duy vật biện chứng của Mác cuối cùng thích hợp với một biện chứng về thiên nhiên mà những nét chính đã được nêu rõ ở trên; mặt khác,duy vật biện chứng đích thực nhất không thể nào thóat tránh  khỏi duy nhiên và rồi không ngần ngại tuyên bố là duy vật biện chứng này đồng nhất với nhân bản chủ nghĩa.

Người ta cũng dễ dàng nhận ra‘’Divini Redemptoris‘’ cũng đang đề cập đến quan niệm của chủ nghĩa Mác-xít về xã hội. Sắc Lệnh cho rằng chủ nghĩa Mác-xít đang chủ trương xã hội không là gì khác hơn là một hình thức của VẬT CHẤT  TIẾN HÓA theo những định luật của nó; và xã hội đó thiết yếu hướng về tổng hợp cuối cùng, đó là một xã hội vô giai cấp, xuyên qua những cuộc đấu tranh không ngừng của các lực lượng khác nhau (Ibid., tr. 17-18.). Bản văn ‘’Divini Redempto –ris‘’ cũng nói về chủ trương của chủ nghĩa Mác-xít coi XÃ HỘI như là một hiện tượng PHỤ THUỘC CỦA VẬT CHẤT; chủ trương này phù hợp với một ĐỊNH MỆNH THUYẾT VỀ LỊCH SỬ, tuân theo những định luật của thiên nhiên.

Với Giáo Hội, đó là một vô thần chủ nghĩa: đã không còn chỗ đứng cho ‘’Ý tưởng về Thiên-Chúa‘’ (Idée de Dieu).(Ibid., tr. 19).  Duy vật lịch sử đối nghịch với quan niệm của Giáo Hội về tinh thần: nó không chấp nhận sự khác biệt giữa vật chất  và tinh thần, giữa thân xác và linh hồn. (n’admet pas de  different-ce spécifique entre matière et l’esprit, entre le corps et l’âme).(Ibid., tr. 19). Giáo Hội cũng cho thấy chủ nghĩa Mác-xít chối bỏ sự khác biệt giữa vật chất và tinh thần, bởi vì thực sự chủ nghĩa ấy đã không thấy được sự khác biệt nào nơi vận động biện chứng của thiên nhiên. Cuối cùng thì chủ nghĩa Mác-xít đã không chấp nhận sự hiện hữu của linh hồn và chối bỏ niềm hy vọng vào đời sống khác

Qua những phê phán và kết án chủ nghĩa Mác-Lê-nin  của Giáo Hội La-Mã trong các Sắc Lệnh, nhất là săc lệnh ‘’Divini Redemptoris‘’, người ta thấy Giáo Hội muốn  dậy cho những người Mác-xít biết rằng: nơi con người chúng ta có hai thực thể khác biệt nhau: một thực thể là vật chất và một thực thể khác là tinh thần. Đây chính là chân lý nền tảng mà chúng tôi muốn nói tới ở trên.

Đúng thế, người ta không thể chối bỏ sự khác biệt giữa vật chất và tinh thần, giữa thân xác và linh hồn.  Chính vì Mác không chấp nhận thực thể tinh thấn, trái lại chỉ đề cao vai trò của thực thể vật chất nơi con người,  nên hệ thống triết học của Mác sụp đổ.

Những giáo huấn của Giáo Hội rất phù hợp với bản chất của con người, nên đã được lý trí  con người chấp nhận.  Sự phân biệt hai thực thể vật chất và tinh thần nơi con người  đã là nền tảng cho những suy tư của triết học của các triết gia.

Lịch sử triết học Tây Phương đã là những minh chứng cho chân lý nền tảng này của Giáo Hội. Mới hơn cả với hiện tượng học của Husserl và Heidegger chẳng hạn, thì vấn đề phân biệt thực thể tinh thần và thực thể vật chất nơi con  người càng  trở nên rõ rệt. Con người, nếu chỉ với thân xác của mình (thực thể vật chất), không thể có tri thức về thế giới, về sự vật; cái làm cho con người tri thức được vật thể, đó là cái thuộc thực thể tinh thần:  đó là lý trí, đó là hữu thể của triết học Tây Phương.  Ngày nay, cái làm cho con người tri thức sự vật chính là Hữu-Thể như  Heidegger đã chứng tỏ.

Vấn đề phân biệt thực thể vật chất và thực thể tinh thần nơi con người không phải chỉ ở Tây Phương, mà ngay cả ở Đông Phương chúng ta cũng có sự phân biệt đó. Cái mà Tây Phương gọi là Hữu-Thể, thì Đông Phương chúng ta gọi là  ĐẠO.  Điều này chính Heidegger đã xác nhận khi ông so sánh Hữu-Thể với từ ngữ Tạo của Lão-Tử. Thực ra từ ngữ TAO và ĐẠO chỉ  là một, bởi vì chúng nói lên cùng một ý nghĩa là Hữu-Thể của Tây Phương. Người Tầu dùng tiếng TAO, còn Việt-Nam chúng ta dùng tiếng ĐẠO để nói về Hữu-Thể.

Với quan niệm của Tây Phương, con người tri thứ sự vật là nhờ sự soi sáng của Hữu-Thể. Với Đông Phương chúng ta, con người biết sự vật là nhờ ánh sáng của ĐẠO.

Dân tộc Việt-Nam gọi ĐẠO đó là thế giới sống của họ. Thế giới này là thế giới vô cùng rộng lớn  bao gồm Trời, Đất, Thần Thánh và Con Người. Dân tộc ta là dân tộc thông minh không thua kém bất cứ dân tộc nào trên thế giới. Dân tộc ta đặc biệt có tinh thần TỰ DO và TỰ CHỦ rất cao.

Với thế giới sống tự do, cởi mở, với tinh thần tự do, tự chủ, cộng với những trí tuệ thông minh của dân tộc, cha ông chúng ta đã lập một quốc gia riêng biệt hơn 4000 năm.Cha ông chúng ta sống hài hòa với nhau, nuôi dậy con cháu bảo vệ tổ tiên, bảo vệ giang sơn để bảo đảm tự do và độc lập dân tộc.

Với trí thông minh và tinh thần tự do truyền thống, dân tộc ta đã tạo ra một lịch sử vẻ vang cho dân tộc. Cha ông chúng ta cũng đã tạo được một nền văn học, nghệ thuật riêng biệt, đồng thời có một ngôn ngữ riêng theo cách suy tư riêng của dân tộc.

Nhưng điểm độc đáo riêng của dân tộc là chúng ta có một thế giới sống cởi mở, sẵn sang đón nhận những cái hay cái đẹp của người khác. Chúng ta biết đón nhận những tư tưởng cao đẹp, phong phú của Khổng Mạnh, Lão; chúng ta cũng tiếp thu lòng từ bi hỉ xả của Đạo Phật.  Khi Thiên Chúa Giáo được giảng dậy ở Việt Nam, tâm tình Đạo của người dân Việt như  những mảnh đất phì nhiêu đón nhận những hạt giống  tin mừng của Thiên Chúa.

Cho nên HĐ Giám Mục Việt-Nam đồng lòng tuyên bố như sau: ‘’Lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm nền tảng tư tưởng cho việc tổ chức và điều hành xã hội Việt-Nam‘’. Câu  nói này  là NÉT SON của bức thư góp ý. Câu nói này đã nói lên sự đòan kết, sự thông minh sâu săc của HĐ Giám Mục Việt-Nam.  Câu nói này là một bạt tai vào mặt đảng cộng sản Việt-Nam hiện hành. Cái tát tai này giống như cái tát tai của cố Giám Mục đáng kính Lê-Hữu-Từ thẳng thắn chống lại Hồ-Chí-Minh.  Đúng vậy, họ Hồ là tên đồ tể bán nước, hại  dân, đã du nhập một ý thức hệ ác độc và rât sai lầm vào Việt-Nam. Thực ra ông đâu có đủ trình độ để hiểu triết học Mác. Do đó làm gì có cái gọi là tư tưởng Hồ-Chi-Minh. Bọn cộng sản đàn em họ Hồ như  Trường-Chinh, Phạm-Văn-Đồng cũng chỉ lấy tài liệu sai lầm ở Nga đem về học: duy vật biện chứng của Mác đã bị hiểu sai lạc từ Engels, rồi Lê-nin, Stalin. Ngay bọn cộng sản Việt-Nam hiện thời cũng chẳng còn hiểu lý thuyết cộng sản là gì.

Đức Cố Giám Mục Lê Hữu Từ nổi tiếng với chiến khu Phát Diệm, vừa chống cộng vừa chống Pháp và dẫn dắt đồng bào miền bắc vô nam lánh nạn cộng sản vô thần.

Theo Mác, kinh tế là nền tảng, là hạ tầng kiến trúc, khi kinh tế thay đổi thì thượng tấng kiến trúc tất yếu phải thay đổi. Nay kinh tế cộng sản trở thành kinh tế tư bản, nhưng cộng sản Việt Nam vẫn duy trì cơ chế thương tầng của cộng sản. Bất kỳ cộng sản lấy lý do gì để bào chữa,thì chúng cũng không gột rửa sạch được cái lý do ngu dốt không hiểu cộng sản.
Đảng cộng sản Việt Nam đã gây ra chiến  tranh huynh đệ tương tàn, tiêu hao hàng triệu thanh niên ưu  tú  của đất nước. Độc ác nhất là cộng sản gây thù địch, thù hận trong lòng dân tộc. Chúng thà đi khúm núm với bọn Tầu nhưng lại để cho chính người Việt bị hải tặc hãm hiếp, giết chết ngòai biển khơi. Hàng triệu người vượt biên chết trên rừng, ngòai  biển, chúng im hơi lặng tiếng như không nhìn thấy.

Cái giỏi cái hay của bọn cộng sản Việt-Nam từ Hồ-Chí-Minh đến nay là bán nước là đi vay nợ. Vay nợ càng nhiều  mà không trả được thì khó tránh một cuộc chiến mất nước vớiTầu.
Nhìn thấy quốc gia bị điều hành bởi một ý thức hệ sai lầm là một việc vô cùng nguy hiểm.Kinh nghiệm về ý thức hệ cộng sản và nhìn thấy sự thất bại của các quốc gia bi thống trị bởi  ý thức hệ trong lịch sử nhân loại, HĐ Giám Mục nhắc nhở dân tộc của mình là: hãy ‘’Lấy truyền thống văn hóa  dân tộc làm nền tảng tư tưởng cho việc tổ chức và điều hành xã hội  Việt-Nam‘’. Điều nhắc nhở này rất đúng,  rất khôn ngoan, bởi vì đứng về mặt tư tưởng để nói, thì bất cứ ý thức hệ nào hay chủ nghĩa nào cũng đều bất tòan hay chỉ nói lên MỘT KHÍA CẠNH CỦA THỰC TẠI MÀ THÔI.
Chính con đường ĐẠO học của dân tộc  mới là cao siêu vượt trên mọi ý thức hệ. Tại sao? Con người, nhât là con người Việt-Nam luôn luôn yêu chuộng tự do,bởi vì đó là bản chất của con người. Với Heidegger thì tự do là nền tảng của siêu việt tính nơi con người. Với siêu việt tính, con người mở thông  lộ đi vào Hữu-Thể, nghĩa là đi vào ĐẠO, nghe tiếng gọi của Hữu –Thể, trả lời cho Hữu-Thể, cư ngụ trong vùng tự do của  Hữu-Thể và rồi canh giữ chân lý Hữu-Thể.  Như vậy tìm về bản chất của con người là tìm về chân lý Hữu-Thể. Đó cũng là con đường ĐẠO HỌC của dân tộc. Nơi ĐẠO đó chúng ta thấy được chân lý, thấy được tự do, sự công chính, sự yêu thương nơi ta và nơi tha nhân, chúng ta cũng thấy được lòng từ bi hỉ xả của con người, chúng ta hiểu được cái gì là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, và cảm được sự huyền bí, an vui của ĐẠO.
Nói tóm lại, đời sống đạo là đời sống tốt đẹp cho mỗi người và cho mọi người trong dân tộc Việt-Nam. Đời sống  ĐẠO đó cao siêu và vượt qua mọi ý thức hệ,  dù ý thức hệ được hiểu theo nghĩa xấu hay nghĩa tốt. Ý thức hệ cộng sản thực sự đã tan rã, dù cộng sản Việt-Nam cố bám víu  lấy những  cơ chế rỗng tuếch của chúng không còn nội dung.

II-     NẾU ĐỜI SỐNG ĐẠO LÀ NỀN TẢNG CỦA NỀN VĂN HÓA DÂN TỘC, THÌ NÓ CŨNG PHẢI LÀ NỀN TẢNG CHO VIỆC TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH XÃ HỘI VIỆT-NAM.

Từ khi cách mạng cộng sản của Lê-nin thành công tại Liên-Sô và ý thức hệ Mác-xít được áp dụng  tại  nước  này, thì các quốc gia theo thể chế dân chủ hay quân chủ cũng bị bó  buộc ở vào thế phòng bị, bởi vì Lê-nin đã nhanh  chóng  bành trướng chủ nghĩa Mác-xít qua các nước lân bang.  Cách cai trị quốc gia bằng một học thuyết rõ rệt có hệ thống xuyên qua các cuộc đấu tranh giai cấp gay gắt đẫm máu quả là một chiêu thức  mới trong chính trị. Các nhà chính trị hay các đảng  phái  chính trị trong các quốc gia bối rối không biết làm sao  đối  phó  những họat động chính trị được lý thuyết triết học, kinh tế…,chính trị, khoa học hậu thuẫn.
Trường hợp Việt Nam là một thí dụ điển hình.  Sau khi Thực dân Pháp chiếm trọn Việt-Nam 1884, đặt bộ máy cai trị  của Pháp trên tòan lãnh thổ, thì từ lúc đó, các lãnh tụ của các đảng phái chỉ có chung một đối tượng là thực dân Pháp và có chung một mục đích là giải phóng quê hương khỏi tay ngọai bang cai trị. Nhưng cho tới năm 1927 thì tình hình chính  trị các đảng phái ở Việt-Nam bất đầu biến chuyển.
Năm1927 Nguyễn-Ái-Quốc cầm đầu cuộc nổi dậy tại Nghệ An, nhưng thất bại. Sau đó ông ta thành lập  Đảng Lao Động, cũng gọi là đảng cộng sản, lấy chủ thuyết Mác-Lê-nin làm nguyên tắc tổ chức xã hội. Đảng cộng sản bắt đầu  họat động, sau khi đã được tổ chức thực chặt chẽ và sắt máu.

Sau khi Pháp đầu hàng Nhật tại Đông Dương, Nhật trao chủ quyền quốc gia lại cho Việt-Nam.Bảo Đại giao cho TrầnTrọng -Kim thành lập chính phủ đầu tiên của nước Việt-Nam độc lập theo chính thể quân chủ lập hiến.
Nhưng không bao lâu, Nhật đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện, Việt-Nam Cách Mệnh Đồng-Minh-Hội, gọi tắt là Việt-Minh đảo chính: Hồ-Chí-Minh nắm quyền hành. Trong chính phủ Việt-Minh lúc đó có Nguyễn-Hải-Thần tham dự với chức phó chủ tich; Hùynh-Thúc-Kháng làm Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ; Nguyễn-Tường-Tam làm Bộ Trưởng Bộ Ngọai Giao.
Nhưng không bao lâu Nguyễn-Hải-Thần sang Trung-Hoa vì thấy các lãnh tụ quốc gia chống lại Việt-Minh. Hùynh-Thúc-Kháng tham dự chính phủ Việt-Minh được một năm thì chết. Nguyễn Tường-Tam thì bỏ trốn sang Trung  Hoa không bao lâu.

Vào những năm 1946-1949, có nhiều những cuộc ám sát, thủ tiêu. Những người bị ám sát thủ tiêu hay mất tích là những lãnh tụ của các đảng phái quốc gia. Nói như vậy người ta rất dễ hiểu thủ phạm là ai. Nhượng-Tống bị ám sát chính trị năm 1949. Trương-Tử-Anh bị mất tích ở Hà-Đông năm 1946.  Phạm –Qùynh bị thủ tiêu tại Huế năm 1945. Tạ-Thu-Thâu bị giết  tại Quảng-Ngãi năm 1946.

Hình ảnh một số lãnh tụ nhân tài của đất nước bị việt cộng thủ tiêu. Nhượng Tống, Tạ Thu Thâu, Trương Tử Anh.

 
Trước tình hình chính trị còn lại độc đảng như vậy, các lãnh tụ của các đảng phái còn lại hay các lãnh tụ của các đảng  phái mới thường xuyên bị ám ảnh bởi chiêu thức chính trị của cộng sản. Người ta thường nghĩ rằng nếu muốn chống lại  cộng  sản, cần phải nghĩ ra được một chiêu thức chính trị mới có thể phá giải chiêu thức chính trị của cộng sản. Muốn có chiêu thức chính trị mới này, người ta cần đưa ra một lý thuyết kinh tế chính trị mới, một học thuyết triết học mới.., nghĩa là phải nghĩ ra một ý thức hệ mới.  Thời kỳ chia đôi đất nước sau 1954, chính phủ của Tổng Thống Diệm cũng đã xử dụng học thuyết Nhân Vị để chống lại chủ nghĩa vô thần và vô nhân của cộng sản. Ngày nay, ngay cả các đảng phái người Việt chống cộng tại hải ngọai cũng còn ấp ủ trong lòng ý tưởng thiết lập một ý thức hệ chống cộng.
Chúng ta chỉ cần theo con đường ĐẠO HỌC của dân tộc là đầy đủ, mà không cần phải theo bất cứ ý thức hệ hay chủ nghĩa nào, vì tất cả mọi chủ nghĩa hay ý thức hệ đều bất tòan, bởi vì chúng chỉ là một cái nhìn thiếu sót về thế giới, về thực tại.

Chúng ta biết rằng tự do xuất hữu ra đó hướng về chân lý ĐẠO đó là bản chất của con người. Làm chính  trị  là vì BẢN CHẤT TỰ DO của con người chứ không phải vì ý thức hệ hay vì chủ nghĩa nào. Làm chính trị là làm sao tạo môi trường tốt nhất cho tự do con người xuất lộ và nẩy nở. Tự do là lý tưởng, siêu việt trên mọi ý thức hệ và mọi chủ nghĩa.  Xin hãy bỏ ý định nghĩ ra hay tìm kiếm cho ra một ý thức hệ hay một chủ nghĩa nào khác thay thế cho chủ nghĩa Mác-xít đã tan rã.

Có lẽ giải pháp tốt đẹp nhất chính là đề  nghị của HĐ Giám Mục Việt-Nam: ‘’LẤY TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC LÀM NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CHO VIỆC TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH XÃ HỘI VIỆT-NAM‘’.

Một hệ luận khác được rút ra từ chân lý nền tảng  trên đây của HĐ Giám Mục Việt-Nam là chúng ta không thể chấp nhận vấn đề hòa hợp hay hòa giải với chủ nghĩa cộng sản.

III-    KHÔNG CÓ HÒA HỢP HAY HÒA GIẢI VỚI CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN.

Chúng tôi đương nhiên có những lý do vững chắc để có thể quả quyết rằng chúng ta không nên hòa hợp hay hòa giải với cộng sản.
Trước khi nói đến những lý do khiến không nên hòa giải và hòa hợp với cộng sản, chúng tôi chỉ muốn nhắc nhở một điều mà binh thư thường nói: ‘’tri bỉ tri kỷ bách chiến bách  thắng‘’. Nếu muốn trăm trận trăm thắng thì phải biết người biết mình trước đã.
Nếu người ta điểm mặt một số những người trong một vài đảng phái chống cộng hải ngọai và một số những ông tiến sĩ, luật sư, bác sĩ, tự đứng ra giao du với Việt Cộng để hòa hợp, hòa giải với chúng, thì chúng ta phải nghi ngờ ngay là những người này có thực sự am hiểu lý thuyết và tổ chức xã hội của cộng sản hay không? Chúng tôi dùng từ ngữ am hiểu ở đây với ý nghĩa là sự hiểu biết ấy đã được thử thách qua đời sống  thực tiễn bao gồm lý thuyết và thực hành. Các ông muốn hòa hợp hòa giải, nhưng các ông đã từng học triết học của Mác, kinh tế chính trị, triết lý chính trị… của Mác chưa và học được bao nhiêu năm? Ở quốc nội, người ta không hòa hợp hòa giải với cộng sản, các ông ở hải ngọai, với tư cách gì mà dám  đứng  ra giao du hòa hợp với hòa giải với cộng sản.

Những triết gia lớn như Hegel, Marx, Huserl…họ là  những thiên tài. Những người dậy triết học  Hegel,  Marx hàng mấy chục năm cũng chưa dám nói là mình hiểu  Hegel, Marx.  Như vậy có phải các ông là những thiên tài không cần học cũng hiểu các thiên tài như Hegel, Marx.
Xin các ngài chủ trương hòa hợp hòa giải  hãy trở về với môn học chuyên môn của mình, đừng tự  đứng ra  múa may quay cuồng nhằm kiếm chút canh cặn cơm thừa của cộng sản. Các ngài tưởng có thể kiếm chút địa vị sau này. Xin lỗi cộng sản chúng chỉ coi các ngài như những con chó ghẻ ngồi  dưới  chân bàn ăn của chúng. Xin đừng chơi với lửa. Trotski và Staline là hai đệ tử mà Lê-nin ưa thích. Trotski là người sáng lập và chỉ huy 18 đạo Hồng Quân Liên-Sô cũng bị Staline đưa đi đầy bằng cách dẫn độ đẩy ra khỏi biên giới Liên-Sô,  chỉ vì bị cái tội không hiểu biện chứng duy vật. Trotski sang trú ngụ tại Mexico, Staline cho người qua Mexico giết chết Trotski bằng búa.

Con quỷ khát máu SítaLin trong thời gian cầm quyền tại Nga đã sát hại nhiều chục triệu người. Hình dưới: ký án tử hình cho 40 nghìn đồng chí bất đồng chính kiến, và tượng hắn bị hạ bệ sau khi khối cộng sản Liên Sô tan rã.
Sit1956hungary.jpg picture by nhacyeuem
Chúng tôi muốn đưa ra những lý do tại sao chúng ta không thể hòa hợp và hòa giải với cộng sản Việt-Nam bao lâu chúng còn duy trì lý thuyết Mác-Lê-nin và bám chặt lấy các cơ chế tỏ chức xã hội của chúng.  Những lý do này là những lý do chúng tôi đã học được từ những sắc lệnh của Giáo Hội La Mã và cũng học được từ Bức Thư góp ý của HĐ Giám Mục Việt-Nam.

Chúng tôi tin tưởng vào Giáo Hội của Chúa,  trong đó có HĐ Giám Mục Việt-Nam. Trong Giáo Hội của Chúa có biết bao Thiên Tài luôn bảo vệ Giáo Hội. Chúa Thánh Linh luôn họat động trong Giáo Hội, soi sáng và hướng dẫn Giáo Hội. Karl Marx chỉ là hạt cát đem so với các thiên tài của Giáo Hội.
Cộng Sản Việt-Nam chỉ giỏi liếm gót giầy Tầu Cộng và giết hại đồng bào của mình.
Chúng tôi chỉ nhắc lại đây những lý do chính tại sao chúng ta không hòa giải và hòa hợp với cộng sản.
Theo Sắc Lệnh ‘’Divini Redemptoris‘’ 1937  do Đức Giáo Hòang Pie XI, thì sai lầm to lớn nhât  là  Duy Vật thuyết của Mác. Duy vật sử quan của Mác chỉ công nhận thực thể vật chất và chối bỏ thực thể tinh thần. Con người và xã hội  con người chỉ là kết quả của sự tiến hóa của vật chất. Đây là vô thần chủ nghĩa,vì nó không có chỗ đứng cho‘’Ý tưởng về Thiên Chúa‘’. Nó không chấp nhận sự khác biệt giữa vật chất và tinh thần, giữa thân xác và linh hồn. Như vậy, tự bản chất, cộng sản chủ nghĩa là phản tôn giáo. ‘’Divini Redemptoris‘’ cũng lên án chủ thuyết ‘’cách  mạng bạo tàn‘’ (révolution violente) là cái phát sinh từ ‘’khía cạnh biện chứng của duy vật chủ nghĩa‘’ của những người cộng  sản (l’aspect dialectique du matérialisme); đồng thời những người cộng sản đã biến việc đấu tranh giai câp thành một nguyên tắc hành động (un principe d’action).
Sắc lệnh cũng xác nhận rằng chủ nghĩa cộng sản ‘’đã  tước đọat mất quyền tự do nơi con   người,  nguyên tắc tinh thần hướng dẫn luân lý‘’ (dépouille l’homme de sa liberté,  principe spirituelle de la conduite morale).
Chủ nghĩa cộng sản không nhìn nhận nơi cá nhân bất cứ quyền tự nhiên nào thuộc về con người, khi đem cá nhân đặt trước tập thể; con người trong chủ nghĩa cộng sản ‘’chỉ  là một cơ quan của hệ thống‘’ (n’est plus qu’un rouage du system).
Chủ nghĩa cộng sản không thừa nhận ở cá nhân‘’bất kỳ quyền tư hữu nào‘’(aucun droit de propriété) về các tài nguyên thiên nhiên hay về các phương tiện sản xuất‘’.
Cuối cùng Sắc lệnh lên án ‘’CHUYÊN CHÍNH VÔ SẢN‘’ (DICTATURE  DU PROLÉTARIAT): một chế độ bạo lực được biện giải bởi chỉ mục đích của mình, khiến cho QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ CỦA CHẾ ĐỘ KHÔNG THỂ ĐƯỢC THỪA NHẬN.
Lá thư góp ý của HĐ Giám Mục Việt-Nam là một bản văn cực lực lên án chế độ bạo tàn vô luân lý đạo đức. Bản văn  triệt để chống chủ nghĩa vô thần cộng sản. Bản văn cũng triệt  để chống chủ nghĩa phi nhân cộng sản bởi vì nó tước  đọat  những quyền phổ quát, bất khả xâm phạm và bất khả nhượng đã được nhìn nhận trong Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người.  Chính vì duy vật, nên cộng sản coi con người chỉ là một thứ sinh  vật.
Chủ nghĩa vô thần và phi nhân là một hình thức chối bỏ bản chất con người, bởi vì con người chỉ là con người  thực sự khi nó tự do vượt quá bản thân để tiếp thông với Đấng cao cả,đứng trong chân lý. Bản văn cũng đòi quyền làm chủ đất nước của nhân dân và quyền thi hành quyền bính chính trị.

Tóm lại Sắc Lệnh ‘’Divini Redemptoris‘’ và lá thư góp ý của HĐ Giám Mục Việt-Nam cùng một chủ trương  hòan tòan chối bỏ sự hiện hữu của chủ nghĩa Mác-Lê-nin trong xã hội con người. Điều đó có nghĩa là chủ nghĩa cộng sản Mác-Lê-nin phải bị giải thể. Lý thuyết và cơ chế tổ chức của đảng cộng sản này phải bị hủy bỏ, chứ không phải chỉ thay đổi  tên đảng là đủ. Các nước như cộng sản Đông Âu chẳng hạn nay không còn theo lý thuyết hay tổ chức cộng sản.
Có thể có những vị không theo Thiên Chúa Giáo cho rằng chúng tôi chủ quan khi chúng tôi dùng những bằng chứng được rút ra từ Giáo quyền La-Mã, bởi vì Giáo Quyền La-Mã Không bao gồm mọi người trên thế giới trong đó.
Thực ra chúng tôi không chủ quan trong vấn đề này là vì các bản Sắc Lênh ‘’Divini Redemptoris‘’ và thư ‘’Góp Ý‘’ của HĐ Giám Mục Việt-Nam không chỉ bảo vệ đức tin của các tín hữu Ki-Tô Giáo mà còn bảo vệ bản chất của con người nói chung. Chẳng hạn thư ‘’Góp Ý‘’ của HĐ Giám Mục Việt-Nam đòi quyền con người là đòi hỏi cho mọi người Việt-Nam chứ không phải chỉ cho giáo dân công giáo Việt Nam.  Thí dụ: tự do tôn giáo cho mọi người, tự do báo chí cho mọi người…
Một trong những điểm ưu tư của những người  chống cộng sản ở Việt Nam, nhất là các nhà chính trị và những lãnh tụ  của các đảng phái chính trị không cộng sản yêu nước, là sau khi đã hủy trừ đảng cộng sản người ta phải theo  đường  lối  lý  thuyết nào để xây dựng đất nước? Chúng tôi cho rằng đề  nghị  gợi ý của HĐ Giám Mục: ‘’Lấy truyền thống văn hóa dân tộc làm nền tảng tư tưởng cho việc tổ chức và điều hành xã hội Việt-Nam‘’ là tốt nhất.

Chúng tôi cho rằng câu trả lời này là một câu trả lời  hợp  lý nhất, sâu sắc nhất, cao siêu nhất phù hợp với  bản chất sống ĐẠO của người Việt-Nam. Truyền thống ĐẠO HỌC của dân tộc Việt-Nam siêu việt trên các ý thức hệ hiện tại và có thể có sau này.

Chúng ta đã đứng trong quan điểm của những người  chống cộng sản để nói về những người chủ trương hòa hợp và hòa giải với cộng sản, nhưng chúng ta chưa đứng trong quan điểm của những người cộng sản để nhìn những kẻ muốn hòa hợp và hòa giải với chúng.

Muốn hiểu cách đối xử của cộng sản đối với  những người muốn hợp tác với chúng, có lẽ cách hay nhất là xem lại ý niệm về vong thân và thâu hồi vong thân trong biện chứng pháp duy vật của chúng.

Một cách tổng quát, Mác hiểu ý niệm vong thân (Ẻntfremd-ung) như sau: vong thân là trạng thái của một hữu-thể đã ngọai phóng sự hữu riêng tư của mình thành một hữu thể khác, và bị ảo tưởng coi hữu thể đó như hòan tòan khác với  mình, tức là vừa xa lạ, vừa đối địch với mình. Thí dụ: người thợ làm ra sản phẩm (ngọai phóng mình vào sản phẩm), nhưng chủ lấy nó đi làm của riêng, người thợ bị vong thân vì sản phẩm của y trở thành xa lạ và đối địch với y. Mác nói rằng cộng sản phải giải phóng con người khỏi vong thân.
Nhưng chúng ta cần nhớ rằng, Mác khác với Hegel khi Mác quan niệm rằng vong thân là cái không thể  thu hồi được và triệt để phá bỏ hay hủy diệt. Thí dụ: vong thân tôn giáo không thể thu hồi mà phải hủy diệt; vì vậy mọi tôn giáo đều phải bị hủy diệt.
Thế rồi bằng con đường biện chứng duy vật Mác giải phóng con người khỏi các vong thân để tiến lên đạt được chính mình trong sự hòa hợp với nhiên giới và nhân giới. Con người đạt được chính mình là con người đạt thân hay con người cộngsản.
Trong tiến trình biện chứng đi lên hòa hợp với nhiên giới và nhân giới, những gì đứng ngòai con người, cản trở việc đi lên tổng hợp của con người đều bị thanh tóan hay hủy diệt.
Như vậy mấy người múa mỏ quay cuồng muốn hòa hợp và hòa giải với cộng sản, có hai trường hợp xẩy ra cho những người này: một là các anh phải trở thành cộng sản,  hai là các anh phải bị thanh tóan, vì các anh chỉ là kỳ đà cản mũi.

Tiến sĩ NGUYỄN QUANG HIỆP, Triết học

Oxnard, California, 25.05.2013

Nhóm phóng viên Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:
Thưcủa Hội đồng Giám mục Việt Nam 

Chúa Cứu Thế.com
Advertisements

Trận Tuyến Truyền Thông – Trần Quốc Kháng

Bài đọc suy gẫm:  Trận Tuyến Truyền Thông – Trần Quốc Kháng.  Đọc để thấy nguyên nhân mất nước có sự đóng góp phần lớn do truyền thông bịp bợm.  Trong thời đại internet hiện nay với hằng hà sa số tin tức nhanh chóng mỗi ngày chúng ta càng phải kỹ càng hơn nữa trong vấn đề gạn lọc.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Trận Tuyến Truyền Thông
Trần Quốc Kháng (1)
Chắc hẳn các bậc cao niên ở Hà Nội vẫn còn nhớ xảo kế Buôn Thần Bán Thánh hồi tháng 7 năm 1954?
‘Trong quẻ xâm này, Thánh dạy chớ có đi xa, nhất là đi về hướng Nam. Không nên đi tàu bay, hay tàu thủy … Năm nay mà đi xa thì dễ gặp sóng gió, hay tai nạn hiểm nghèo. Cần săn sóc mồ mả tổ tiên rồi cầu xin điều gì, sẽ được điều nấy’.
Vì tin vào lời ‘Thánh dạy’ trong quẻ xâm có nội dung đại cương như thế, một số khá đông dân cư ở Hà Nội, đã bỏ dự định vào Nam tỵ nạn Cộng Sản. Trong đó có thân nhân của chúng tôi. Hồi ấy, ít người biết VC đội lốt thầy tu, xâm nhập vào chùa chiền — như ở đền Quán Thánh, chùa Trấn Quốc và nhiều nơi khác — để thực hiện xảo kế Buôn Thần Bán Thánh kể trên. Hệ quả là nhiều nạn nhân bị nhiễm độc, rồi sa vào thảm cảnh, gia đình ly tán: Người tin theo lời ‘Thánh dạy’ trong quẻ xâm thì ở lại quê nha để ‘săn sóc mồ mả tổ tiên’. Kẻ sợ hãi Cộng Sản hơn là sợ ‘tai nạn hiểm nghèo’ thì nhất quyết, tìm đường trốn vào Nam tỵ nạn.
Thật ra, xảo kế nêu trên chỉ là trường hợp điển hình — trong muôn vàn trường hợp khác —cho thấy, tác hại do SÁCH LƯỢC tuyên truyền lừa bịp của Cộng Sản trên ‘Trận Tuyến Truyền Thông’ (TTTT).
Chúng tôi xin minh định, TTTT được hiểu theo nghĩa rộng, đó là lãnh vực Tâm Lý Chiến, bao gồm việc loan tin, hay phổ biến tác phẩm (văn thơ, nhạc kịch, phim ảnh, hội hoạv.v) qua nhiều phương tiện khác nhau, như Internet, đài phát thanh, đài truyền hình, sách báo, truyền đơn, băng video, đĩa DVD v.v. với CHỦ Ý tạo ảnh hưởng CÓ LỢI cho phía chủ trương và gây TAI HẠI cho phía đối kháng.
Ôn lại bài học lịch sử thời chiến tranh VN (1954-1975), nói khái quát thì Quân Đội VNCH và Hoa Kỳ không thua Cộng Sản trên chiến trường. Nhưng ngược lại, trên TTTT thì phía VNCH và Hoa Kỳ bị thảm bại: Cả hai quốc gia, nhất là Hoa Kỳ, chỉ chú trọng vào sức mạnh quân sự, nên không có kế hoạch nào hữu hiệu để làm SÁNG TỎ CHÍNH NGHĨA trong cuộc chiến chống lại CS Bắc Việt, làm tay sai cho Nga-Tàu, đánh chiếm miền Nam Tự Do.Vì vậy, dưluận quần chúng Mỹ mới ‘nhiễm độc’, NGỘ NHẬN cho rằng chính quyền Mỹ là ‘tội phạm chiến tranh’!
Chính Tổng Thống R. Nixon đã xác nhận sự thật này trong cuốn ‘No More Vietnams’. Ngay Chương 1 của cuốn sách (từ trang 9 đến trang 23), TT Nixon đã chứng minh, phía CS đã tung ra 22 HUYỀN THOẠI trên TTTT để lừa gạt quần chúng.
Hệ quả là phong trào Phản Chiến ở Mỹ lên cao, gây áp lực, khiến Quân Đội Mỹ phải rút lui khỏi chiến trường năm 1973. Không những thế, Quốc Hội Mỹ còn cắt đứt viện trợ cho VNCH. Quân Đội VNCH không đủ vũ khí để chiến đấu (1973-1975) thì đất nước sa vào ách nô lệ Mác-Lênin ngày 30-4-1975 là lẽ đương nhiên.

Trước kinh nghiệm xương máu nêu trên, nhiều người cầm bút như chúng tôi mới đặt trọng tâm vào việc viết sách báo để góp phần trên TTTT: Nêu cao Chính Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, nung nấu ý chí đấu tranh, vạch trần tội ác và xảo kế của CS Mác-Lênin. Đến nay, cuốn Ebook TTTT này được thành hình không ngoài chủ đích ấy.
***
Tuyển Tập Tham Luận& Bình
Luận Thời Sự (*)
Free downloads for personal,
educational or academic uses, but NOT
for trade or commercial purposes. (1)
 
Hàng chục năm trước đây, khi bàn luận về việc sử dụng CHỮ NGHĨA trên TTTT (qua bản tin, lời bình luận, hay trong sách báo v.v.), triết gia Eric Hoffer (1902-1983) đã nêu lên nhận định sâu sắc:
“We know that words cannot move mountains, but they can move the multitude; and men are more ready to fight and die for a word than for anything else. Words shape thought, stir feeling, and beget action; they kill and revive, corrupt and cure.
The ‘men-of-words’ priests, prophets, intellectuals have played a more decisive role in history than military leaders, statesmen, and businessmen”.
Xin lược dịch: “Chúng ta biết chữ nghĩa không thể di chuyểnđược núi đồi, nhưng có thể lay chuyển được cả biển người. Và số người sẵn sàng chiến đấu và chết vì chữ nghĩa nhiều hơn vì chuyện khác. Chữ nghĩa uốn nắn tư tưởng, khơi dậy nguồn xúc cảm và phát sinh ra hành động. Chữ nghĩa huỷ diệt và làm sống lại; làm hư hỏng và chữa trị.
Những‘người của chữ nghĩa’ chẳng hạn như các vị Linh Mục, các nhà Tiên Tri, các vịTrí Thức, thường giữ vai trò quyết định trong lịch sử nhiều hơn là các cấp lãnhđạo quân đội, hay các chính trị gia và thương gia”.
Tương tự như vậy, khi bàn luận vềsức mạnh của chữ nghĩa, người VN thường nhắc đến lời nói của cổ nhân:
‘Nhất ngôn hưng quốc. Nhất ngôn táng quốc’. Có nghĩa là: ‘Một lời nói làm đất nước thịnh vượng. Một lời nói khiến đất nước suy vong’.
 
Triết gia Eric Hoffer người Hoa Kỳ và tác phẩm “The True Believer”

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Điển hình trong lịch sử VN là lời nói ‘hưng quốc’ của Trần Thủ Độ và ngược lại là lời nói ‘táng quốc’ của Trần Nhật Hiệu. Thiết tưởng, đây là bài học Tâm Lý Chiến, cần được lưu tâm hàngđầu trên TTTT.
Thật vậy. Năm 1257, trong lúc quân Mông Cổ tiến quân như vũ bão, đánh chiếm VN lần Thứ Nhất, vua Trần Thái Tông cùng quần thần phải rút lui về sông Thiên Mạc. KhiVua ngựthuyền đến hỏi quan Đại Thần là Trần Nhật Hiệu về kế hoạch chống giặc thì ông ta dùng tay vạch trên mặt nước hai chữ ‘nhập Tống’ — ngụ ý khuyên Vua chạy ra nước ngoài. Rõ ràng, vì khiếp nhược trước sức mạnh của giặc thù, Trần Nhật Hiệu chủ bại, ngỏ lời ‘táng quốc’.
Nhưng đến khi vua Thái Tông hỏi Thái Sư là Trần Thủ Độthì nhà vua nhận thấy lòng son sắt của bậc lão thần, quyết tâm chống giặc đến cùng:
‘Đầu tôi chưa rơi xuống đất thì xin bệ hạ đừng lo’!
Nhờ lời ‘hưng quốc’ ấy của Trần Thủ Độ, vua Trần Thái Tông vững tâm, lãnh đạo quân dân chuyển bại thành thắng —đánh tan quân Mông Cổ.
Thế rồi sau đó 26 năm, quân Mông Cổ lại sang xâm lăng VN Lần Thứ Hai (1283-1285). Thế giặc lần này mạnh hơn lần trước. Hưng Đạo Vương nhận thấy bất lợi, nên phải rút quân khỏi Lạng Sơn. Thấy vậy, vua Trần Nhân Tông liền gọi Hưng Đạo về Hải Dương để cùng Ngài, bàn việc chống quân Mông Cổ.
‘Thế giặc lớn như vậy, chống với nó e dân sự sẽ tàn hại, hay là hàng chúng để cứu lấy dân’?
Hưng Đạo Vương khẳng khái trả lời nhà vua:
‘Bệ Hạ vì lòng thương dân mà nghĩ như vậy, nhưng còn tôn miếu xã tắc thì sao? Nếu Bệ Hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi trước đã”.
Nhờ lời ‘hưng quốc’ nêu trên, vua Trần Nhân Tông vững tâm và quân dân VN đoàn kết, đánh tan quân Mông Cổ Lần Thứ Hai.
Như vậy thì quả thật, sức mạnh của chữ nghĩa đã góp phần không nhỏ trong lãnh vực tâm lý, quyết định việc thành bại trong cuộc chiến. Nói cách khác, đó là vấn đề Tâm Lý Chiến. Chủ đích là động viên tinh thần chống giặc, hoặc ngược lại là làm băng hoại tinh thần tranhđấu.
Tuy nhiên, đối với CS thì bất kể thời bình hay thời chiến, chúng luôn luôn sử dụng chữ nghĩa mỹ miều để lừa bịp dân chúng: Thường xuyên thêu dệt huyền thoại và đánh bóng lãnh tụ; thường xuyên cưỡng từ đoạt lý để nguỵ tạo ‘chính nghĩa’; thường xuyên tung ra bánh vẽ để xoa dịu khổ đau, hay lòng căm phẫn của dân chúng v.v.
Chính ông ‘Hoàng Đế Đỏ’ Mikhail Gorbachev, cựu Chủ Tịch Liên Bang Sô-Viết sau khi cải tà quy chính, đã xác nhận trước cử toạ trong buổi thuyết trình hôm 18-3-2002 tại trường Columbia University Hoa Kỳ — về đề tài ‘Nước Nga, Hiện Tại Và Tương Lai’:
‘Chế độ Cộng Sản mà tôi phục vụ gần cả đời người, toàn là tuyên truyền lừa bịp. Người Cộng Sản chúng tôi dựa vào những điều gian dối để che dấu sự thật (relied on lies to hide the fact)……
‘Trong khi Liên Bang Sô-Viết, càng ngày càng tụt hậu, ở phía sau các nước Tư Bản Tây Phương rất xa thì người Cộng Sản rao rêu là ‘Chú nghĩa Tư Bản đang sa vào thảm trạng phá sản, còn chủ nghĩa Cộng Sản đang phát triển tốt đẹp’. Điều ấy, hoàn toàn là luận điệu tuyên truyền lừa bịp quần chúng’.
Trong cuốn ‘Sách Lược Xâm Lăng Của CS’ do ông Minh Võ biên soạn, trên trang 112 có đoạn đã viết nguyên văn:
‘Nhưng công tác mà CSQT chú ý hơn cả và cũng gây ảnh-hưởng tai-hại nhất cho thế-giới tự-do là công-tác tuyên-truyền’…..
‘Đểlàm công-tác này, CS đã sử dụng những phương-tiện, nhân-sự và tài-chính khổng-lồ mà chi phí hàng năm, theo nữ sĩ Suzane Labin, lên tới 2 tỷ Mỹ-Kim. Số người phục-vụ cho công- tác này lên tới 500 ngàn’.
Nhìn lại sự thật trong lịch sử cậnđại (1945-2012), ai cũng thấy: Hàng chục triệu người Việt, liên tục bị Hồ Chí Minh và đảng CSVN lừa bịp. Nào là chiêu bài ‘đánh Pháp chống Mỹ cứu nước’. Nào là chiêu bài ‘cách mạng, giải phóng dân tộc’. Nào là chiêu bài ‘hoà hợp hoà giải. Nào là mỹ từ ‘dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh’ v.v.
Trên thực tế, rõ ràng nhất là sau khi đất nước thống nhất dưới ÁCH NÔ LỆ MÁC-LÊNIN, cụm từ mỹ miều ‘Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc’ đã hiện nguyên hình là ba cái ‘bánh vẽ vĩ đại’ mà ‘Bác và Đảng’ đã tung ra để nhử mồi quần chúng.
Không những CSVN lừa bịp đồng bào VN mà chúng còn cấu kết với Mỹ Cộng và bọn truyền thông bất chính để lừa bịp dân chúng Hoa Kỳ. Trên trang 111 của cuốn eBook ‘How the Americong Won the War in Vietnam’, Tiến Sĩ Roger Canfield đã nêu lên hậu quả do quỷ kế tuyên truyền của Cộng Sản Hà Nội và bọn Mỹ Cộng gây ra:
Hanoi’s propaganda was so successful that the U.S. was summarily judged as the immoral actor in the Viet Nam War and Hanoi often could confidently count in its order of battle ABC, CBS, and NBC, the New York Times, the Washington Postand the Los Angeles Times, and the university faculties of Harvard, Cornell, Columbia and many more.Propaganda and psychological warfare multiplied the effectiveness of Hanoi’s ruthless Communist leaders, decades-bloodied troops, and, of course, the NVA’s fine Soviet tanks and artillery and terrorized Vietnamese civilians”.
Xin lược dịch: Việc tuyên truyền của [Cộng Sản] Hà Nội đã thành công, khiến dư luận lên án, nói tóm lược thì ‘Hoa Kỳ là kẻ vô luân trong chiến tranh VN và Hà Nội thường tự tin trong việc ‘đặt hàng’ trên mặt trận truyền thông qua các đài truyền hình ABC, CBS, và NBC; báo the New York Times,the Washington Post và the Los Angeles Times; cùng các phân khoa của các trường đại học Harvard, Cornell , Columbia và nhiều trường khác. Việc tuyên truyền và chiến tranh tâm lý đã gia tăng hiệu lực bội phần [giúp cho] bọn lãnh đạo tàn ác của CS Hà Nội, bọn binh lính [VC miền Nam] khát máu trong nhiều thập niên, và dĩ nhiên, giúp cho Bộ Đội Bắc Việt, sử dụng xe tăng và đại pháo tối tân của Sô-Viết tàn sát dân chúng VN”.
Thật ra, trước đây nhiều năm, Tổng Thống Mỹ Richard Nixon đã minh định, chiến tranh VN (1954-1975) là cuộc chiến có nhiều gian dối nhất trong lịch sử Mỹ(Vietnam is the most lied-about war in our nation’s history). Chỉ vì giới truyền thông thiên tả đã loan tin lươn lẹo làm nhiều người ngộ nhận, nên gây ra thảm họa khốc liệt.
Trên trang 111 của cuốn ‘Real Peace No More Vietnams’, TT Richard Nixonđã viết: ‘No event in American history is more misunderstood than the Vietnam War. It was misreported then and it is misremembered now. Rarely have so many people been so wrong about so much. Never have the consequences of their misunderstanding been so tragic’.
Xin lược dịch: “Không biến cố nào trong lịch sử Mỹ bị [nhiều người] hiểu lầm bằng chiến tranh VN. Nó đã bị [giới truyền thông] trình bầy lươn lẹo để rồi, bây giờ [chuyện gian dối ấy] chìm vào lãng quên. Điều hiếm hoi [trong lịch sử] là có quá nhiều người lầm lẫn mà lại lầm lẫn quá nhiều. Chưa bao giờ có những hậu quả [tại hại] của chuyện lầm lẫn trầm trọng như vậy”.
Trong đoạn kế tiếp, TT Nixon còn cho biết, có trên 1200 cuốn sách và hàng ngàn tài liệu khác xuất bản ở Mỹ, xoay quanh chủ đề Viet Nam với nỗ lực, thêu dệt ẢO TƯỞNG, khiến nhiều người hiểu sai sự thật về chiến tranh VN; hiểu sai về ‘Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam’; hiểu sai về quốc tặc Hồ Chí Minh; hiểu sai sự thật về TT Ngô Đình Điệm cùng nền Đệ Nhất và Đệ Nhị VNCH. Hệ quả là Chính Nghĩa và quyền Tự Vệ của VNCH bị lu mờ trong cuộc chiến chống lại CS Bắc Việt — đánh chiếm miền Nam Tự Do.
Như phần trên đã nêu lên, càng ngày phong trào phản chiến ở Mỹ càng lên cao. Mỗi tuần, có hàng trăm ngàn người rầm rộ biểu tỉnh,đòi hỏi chính phủ Hoa Kỳ chấm dứt chiến tranh. Nhưng họ không hề đòi hỏi CS Bắc Việt từ bỏ ý đồ đánh chiếm miền Nam TựDo. Nhiều nhân vật nổi tiếng như Dr Martin Luther King, Dr. Spock, tài tử Jane Fonda, ca sĩ Joan Baez và Nghị Sĩ John Kerry v.v đã góp phần không nhỏ, chống lại NGHĨA HIỆP của Hoa Kỳ — gởi quân tham chiến và viện trợ cho VNCH.

 


Biểu tình phản chiến tại Mỹ do báo chí và bọn thân cộng giựt giây, xuyên tạc thời Tổng Thống Richard Nixon 1970.
 
Trong thời gian này, có khoảng 200 tổ chức chống chiến tranh ở nước Mỹ. Có khoảng 60% thanh niên Mỹ trốn quân dịch. Trong đó có 75 ngàn người, kể cả cựu TT Bill Clinton, đã sang các nước khác để hoạt động chống chiến tranh VN.
Như phần trên đã nêu lên, sự kiện này chứng tỏ, VNCH và Hoa Kỳ không có kế hoạch nào hữu hiệu để làm SÁNG TỎ CHÍNH NGHĨA trong cuộc chiến chống lại CS Bắc Việt, làm tay sai cho Nga-Tàu, đánh chiếm miền Nam TựDo. Ngược lại còn bị kẻ thù bôi nhọ. Hậu quả tai hại là Hoa Kỳ phải rút lui khỏi chiến trường và cắt đứt viện trợ cho VNCH.
Thảm cảnh nước mất nhà tan xẩy ra hồi Tháng Tư Đen 1975 là chuyện không thể tránh khỏi. Đây là bài học lịch sử OAN KHIẾN cho Chính Nghĩa; OAN KHIẾN cho VNCH và Dân Chúng VN; OAN KHIÊN cho Quân Đội Hoa Kỳ thi hành nghĩa vụ ‘HIỆP SĨ’, ngăn chặn THẢM HỌA CS tràn vào miền Nam Tự Do.
Từ đó đến nay, hàng chục năm trời đã trôi qua. Trên TTTT quốc nội và hải ngoại, CSVN vẫn tiếp tục giả nhân giả nghĩa để lừa già dối trẻ. Nghị Quyết 36 của CSVN là chứng cớ rõ ràng nhất cho thấy ý đồ của chúng muốn khống chế Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn CS — được nguỵ trang với nhiều cụm từ ‘hoa lá cành’ khác nhau.
Mặc dù chủ nghĩa CS, thực sự chỉ là chỉ THẢM HỌA cho Nhân Loại và hoàn toàn, đã bị phá sản. Mặc dù ĐẾ QUỐC ĐỎ là Liên Bang Sô-Viếtđã tan rã. Nhưng hàng ngàn cuốn sách — kể cả những cuốn hồi ký ba láp, cùng tài liệu bóp méo sự thật lịch sử — vẫn còn nguyên trong các thư viện, hoặc trong văn khố ở các nước Âu Mỹ.
Chẳng hạn như cuốn phim ‘Vietnam: A Television History’ —có nhiều đoạn chắp nối ‘kịch ảnh’, hay tài liệu tuyên truyền của CS, nhưng vẫnđược đài PBS ở Mỹ trình chiếu! Lộ liễu nhất là đoạn Hồ Chí Minh diễn trò ‘thân thiện’ với dân chúng qua màn kịch cười nói với mấy cháu ‘nhi đồng’ — ở bên cạnhđống rơm trong khi cô thư ký mang công văn cho gã xem.
Hàng ngàn tài liệu như trên, tác dụng như những hang ổ VIRUS, có thể làm cho nhiều người chưa có kinh nghiệm, hay thiếu suy nghĩ, rất dễ dàng bị nhiễm độc tuyên truyền của CS.
 

 
 
 
 
Bà con chớ có tưởng bở, bộ phim Mỹ này đầy dẫy sự gian dối trong đó., một thời đã bị đồng bào tị nạn biểu tình phản đối.
Không những thế, từ nhiều năm qua, CSVN còn cho bọn VĂN NÔ đóng kịch ‘phản tỉnh, chống đảng’. Chúng thay phiên nhau, liên tục tung ra tác phẩm này, bài viết nọ. Nói chung, tất cả tác phẩm của chúng đều tiềm ẩn nọc độc, lẩn quẩn trong mấy điểm chính yếu, được tóm lược như sau:
1- Cổ xuý chiêu bài ‘Hoà Hợp Hoà Giải DÂN TỘC’ mà không hề nêu lên vấn đề cốt yếu: CSVN phải từ bỏ Mác-Lênin, trở về với Quốc Gia Dân Tộc. Rõ ràng, dã tâm của chúng là muốn đầu độc đồng bào tỵ nạn ở hải ngoại, chấp nhận cúi đầu sinh hoạt theo ‘luật rừng’ dưới ách đô hộ Mác-Lênin.
2- Gây phân hoá trong cộng đồng VN Tỵ Nạn — khởi sự là bất đồng ý kiến về tác phẩm của chúng, rồi sinh ra bất hoà với nhau.
3- Giảm thiểu, hoặc chạy tội cho Hồ Chí Minh và đồng đảng — đã mang thảm họa Mác-Lênin về VN dầy xéo quê cha đất tổ.
4- Ca tụng công lao HÃO HUYỀN của Hồ và đồng đảng trong 30 năm ‘đánh Pháp, chống Mỹ’.
Dù sao, sự thật lịch sử đã cho thấy, CSVN là bọn TỘI ĐỒ kinh hoàng nhất trong lịch sử cận đại (1945-2012). Chỉ vì dã tâm của Hồ Chí Minh và đồng đảng, làm tay sai cho Nga-Tàu, LỪA BỊP đồng bào qua chiêu bài ‘độc lập, tự do, hạnh phúc’ để đem thảm họa Mác-Lênin vào VN, nên VN mới trởthành bãi chiến trường thảm khốc giữa hai khối Tư Bản Âu Mỹ và khối CS Nga-Tàu (1945-1975). Chính Lê Duẩn, Tổng Bí Thư đảng CSVN, đã xác nhận sự thật nêu trên khi tuyên bố với đồng đảng năm 1976:
‘Chúng ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, đánh cho Trung Quốc…. và chúng ta đã thành công trong việc cắm lá cờ quốc tế Mác Lê trên toàn cõi Việt Nam’.
Như đã trình bầy từ phần mở đầu, trước những xảo kếthâm độc trên TTTT như vậy, đối với các thế hệ trẻ — kể cả những người có học vị hay khả năng chuyên môn cao, nhưng chưa có kinh nghiệm về CS —nếu không cẩn trọng thì rất dễ dàng bị nhiễmđộc. Nhất là các thanh thiếu niên ở trong nước, thường xuyên bị CS nhồi sọ ởhọc đường, chưa có dịp tìm hiểu sự thật về Hồ Chí Minh và đảng CSVN từ 1945 đến nay.
Tuy nhiên, đối với thành phần có TRÍ TUỆ, có LƯƠNG TRI, có TÌNH ĐỒNG BÀO thì CSVN KHÔNG THỂ NÀO ‘Trồng Người’ theo ý chúng mong muốn được. Điển hình như Blogger Huỳnh Thục Vi và hai nhạc sĩ trẻ Việt Khang (Võ Minh Trí) và Trần Vũ An Bình. Bỏ qua những chuyện khác để cô đọng vào việc đấu tranh của các đương sự hiện thời (2012), ai cũng thấy họ là những người yêu nước và can đảm. Qua 2 bài hát ‘VN Tôi Đâu’ và ‘Anh Là Ai’, Việt Khang đã nêu lên nhận định chính xác về hiện tình đất nước cùng THỰC CHẤT và TỘI ÁC của CSVN.
·“Việt Nam ơi… Thời gian quá nửa đời người….. Và ta đã tỏ tường rồi ….Giờ đây… Việt Nam còn hay đã mất…. Mà giặc Tàu ngang tàng trên quê hương ta….. Lòng nào làm ngơ trước ngoại xâm… Người người cùng nhau đứng lên đáp lời sông núi…..Già trẻ…. gái trai… giơ cao tay chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam“….
·” Anh là ai?…. Sao đang tâm làm tay sai cho Tàu ….Để ngàn năm ghi dấu…. Bàn tay nào nhuộm đầy máu đồng bào?….. Tôi không thể ngồi yên, khi nước Việt Namđang ngã nghiêng. Dân tộc tôi sắp phải đắm chìm một ngàn năm triền miên tăm tối…..”
Thiết tưởng, lời ca tiếng hát CHÂN THÀNH và THA THIẾT nêu trên đã phản ánh trung thực ý chí đấu tranh và suy tư sáng suốt của giới trẻ: Ngoài đảng CSVN, không ai có quyền lực ‘bán nước VN’ cho quân xâm lược Tàu Cộng. Ngoài đảng CSVN, không tổ chức nào có công an và bộ đội ‘làm tay sai cho Tàu’ — đánh đập, bắt giam, tra tấn, thủ tiêu những người yêu nước: ‘Bàn tay nhuộm đầy máu đồng bào’!
Mặc dù hai bài hát nêu trên bị VC ngăn cấm, nhưng chắc chắn, qua mạng lưới Internet, hoặc các phương tiện truyền thông khác, có hàng triệu người lắng nghe.
Khi cơ duyên lịch sử đến gần thì toàn dân sẽ vùng lên, xoá bỏ chế độ gian manh VC — đúng như kêu gọi của NS Việt Kháng:
“Già trẻ…. gái trai… giơ cao tay chống quân xâm lược, chống kẻ nhu nhược bán nước Việt Nam”.
 

 
     Tổng kết những phần trình bầy ở phần trên — từ trang sử oanh liệt thời Nhà Trần chống Quân Mông Cổ đến trang sử đen tối thời VNCH năm 1975 — quả thật, sức mạnh của chữ nghĩa góp phần không nhỏ trên TTTT. Đúng như triết gia Eric Hoffer đã nêu lên: Chữ nghĩa uốn nắn tư tưởng, khơi dậy nguồn xúc cảm và phát sinh ra hành động. Chữ nghĩa huỷ diệt và làm sống lại; làm hư hỏng và chữa trị.
Đây là động lực chính yếu, thúc đẩy nhiều người cầm bút như chúng tôi, viết sách báo từ nhiều năm qua để góp phần trên TTTT: Nêu cao Chính Nghĩa Quốc Gia Dân Tộc, nung nấu ý chí đấu tranh, vạch trần tội ác và xảo kế của CS Mác-Lênin. Đến nay, cuốn Ebook TTTT này được thành hình không ngoài chủ đích ấy.
 
San Ramon 27-12-2012
Trần Quốc Kháng
Rev 30-4-2013


Tuyển Tập Tham Luận& Bình
Luận Thời Sự (*)
Free downloads for personal,
educational or academic uses, but NOT
for trade or commercial purposes. (1)
****
Quý vị muốn nhận eBook‘Trận Tuyến Truyền Thông’
hoàn toàn miễn phí
xin viết email cho NXB LamSon
(NXBLamSon@Gmail.com).
Chúng tôi sẽ gởi toàn bộ
eBook TTTT đến Đ/C email của quý vị.
————————————————–
(*) Nhiều bài được viết trước năm 2012, nên phần thời sự có thể mất ‘thời gian tính’.  Tuy nhiên, phần chính yếu về XẢO KẾ, TỘI ÁC và THƯC CHẤT CỦA CSVN.  không có gì thay đổi – bất chấp không gian và thời gian.
(1) Copyright © by Trần Quốc Kháng Aka Đỗ Quốc Anh-Thư. All rights reserved. No part of the text in the eBook (Trận Tuyến Truyền Thông)may be reproduced, stored in a retrieval system, or transmitted, in any form or by any means, electronic, photocopying, recording, etc., without the prior written permission of Tran Quoc Khang AKA Đỗ Quốc Anh-Thư or NXB Lam Sơn (NXBHLamSon@GmailH.com).
Tác gỉa GIỮ BẢN QUYỀN tất cả các bài viết phổ biến trên Internet, hoặc báo chí ở hải ngoại.
1- Nếu quý vị đồng ý về bài viết này, xin vui lòng FWDđến các diễn đàn (Egroups), hoặc các địa chỉ Emails cá nhân. Chúng tôi gởi lời tri ân.
2- Nếu quý vị muốn phổ biến bài viết của chúng tôi trên Website,Đặc San, Tuần Báo, Nhật Báo v.v. Xin vui lòng liên lạc với chúng tôi qua địa chỉ Email: NXBLamSon@…,chúng tôi sẽ hoan hỷ phúc đáp.
3- Ngược lại, bất cứ cơ quan ngôn luận, hay cá nhân nào KHÔNG TÔN TRỌNG TÁC QUYỀN, tự ý lấy bài viết của chúng tôi sử dụng để ‘làm cảnh Chống Cộng’, hoặc có chủ đích mờ ám, sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước công luận và luật pháp. Điển hình như vài ba tuần báo ở Nam Bắc California và mấy trang Websites KHÔNG BIẾT TỰ TRỌNG, đã gây ra tệ trạng sai trái trầm trọng cho bài viết của chúng tôi. Nên buộc lòng chúng tôi phải có phản ứng, kể cả việc viết ghi chú này.

 

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Nguồn Email.