Du Sinh, Lao Động, và Lấy Chồng Ngoại – Lâm Văn Bé

Địa Danh Sài Gòn được các em du sinh dùng lại trong 1 khúc phim ngắn.
 http://youtu.be/mfW8UmP3qc
Bài đọc suy gẫm:  Du Sinh, Lao Động, và Lấy Chồng Ngoại của tác giả Lâm Văn Bé.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

  Vẫn biết Việt Nam hôm nay có quá nhiều chuyện kỳ dị mà nói mãi không hết, nhưng hai mẫu tin tháng bảy nầy có tầm ảnh hưởng tác hại đến uy tín các cộng đồng người Việt hải ngoại, đó là hiện tượng du học sinh và người lao động xuất khẩu Việt Nam.

Trước tiên là đoạn vidéo dài 3 phút phổ biến trên YouTube quay lại hình ảnh và đối đáp của 5 sinh viên tự nhận là du sinh tại Nhật đã dùng Iphone4 và Nokia N95 để tranh nhau đập nước đá trong một bửa tiệc. Những tiếng cười phụ họa, tiếng khích động đã phơi bày một cảnh tượng lố bịch, vô ý thức của đám sinh viên con ông cháu cha và tư bản đỏ đang du hí trên đất người với nhãn hiệu du sinh. Cái vidéo đã gây phẫn nộ trong giới truyền thông và dân chúng nước Nhật, vốn là quốc gia nổi tiếng về điện tử và là một dân tộc có tinh thần tự trọng cao, trong khi đó, trên các mạng điện tử ở Việt Nam, có người thản nhiên bình luận là «họ muốn làm gì thì làm, là việc riêng của họ, miễn là không ảnh hưởng đến ai». Đó là cái triết lý sống của chế độ cộng sản hôm nay, làm xấu mà không biết xấu hổ.

Chuyện thứ hai là bài viết của tiến sĩ Daniel Silverstone, chuyên viên về ngành tội phạm ở đại học London Metropolitan gởi cho đài BBC ngày 26/7/2011 có tựa là: Nạn cần sa và người Việt ở Anh.

Sau đây là vài trích đoạn bài viết: «… Trong 10 năm qua, có khi hàng ngàn người Việt di dân lao động bất hợp pháp đến Anh từ Đông Âu (nhiều nhất từ Tiệp khắc, Đông Đức) và cả từ Việt Nam dưới dạng du khách rồi ở lại, chủ yếu là từ Hải Phòng, nhất là từ hai quận Thủy Nguyên và Kiến Thủy. Chi phí hành trình do những tổ chức đưa người lậu từ VN sang Anh thay đổi tùy theo thời điểm, thường từ 15,000 đến 17,000 bảng Anh. Chuyến đi có thể bằng giấy tờ giả mạo, xuất ngoại bằng phi cơ đến thẳng nước Anh, hoặc đến một quốc gia Đông Âu rồi sau đó dùng đường bộ nhập cảnh bất hợp pháp vào nước Anh. Những người mới đến được cộng đồng gọi là người rơm. Họ làm tất cả mọi việc bất hợp pháp, từ thợ điện câu trộm đường dây vào nhà đến việc sản xuất cần sa, kể cả việc sử dụng thiếu niên như nô lệ trẻ con có khi chỉ 13 tuổi. Những người làm vườn nầy được trả lương hàng tuần hay chia lợi nhuận sau khi thu hoạch. Mùa thu họạch đầu tiên xem như để trang trải các chi phí đầu tư, các mùa sau là tiền lời, mỗi mùa thường 8 tuần. Các người chủ mưu dùng lợi nhuận thu được đầu tư vào các dịch vụ khác nhau và nhiều nơi khác nhau như lập tiệm ăn, tiệm móng tay hay gởi tiền về VN qua các ngỏ chính thức và phi pháp. Trong 10 năm qua, nhiều tội phạm giàu có đã thay đổi từ kẻ làm vườn trở thành chủ xí nghiệp. Họ lại bắt đầu một quá trình nhập cư mới bằng cách đưa gia đình, bạn bè vào làm việc trong các cơ sở kinh doanh của họ… Căn cứ theo báo chí, tội phạm người Việt hiện nay đã nở rộ và họ đã gia tăng không ngừng việc trồng cần sa đến nổi Vương Quốc Anh hiện nay nổi tiếng là quốc gia sản xuất cần sa ròng …»


Từ hai bản tin trên, chúng tôi thử nhận định vài nét đặc trưng về diện mạo của du học sinh và lao động xuất khẩu Việt Nam, hai đặc sản của chế độ cộng sản mà báo chí thế giới thường xuyên đề cập đến những điều tệ hại, làm xấu hổ người Việt trong nước, nhất là các cộng đồng người Việt tỵ nạn vốn được các quốc gia định cư nể trọng.

Phần I: Du học sinh


1.1. Những quốc gia được sinh viên Việt Nam ưa thích xuất ngoại du học

Tháng 3 năm 2009, Viện Giáo Dục Quốc Tế (IIE=Institute of International Education), một cơ quan giáo dục phi lợi nhuận, đã làm một cuộc khảo sát trực tuyến trên hơn 700 học sinh, sinh viên ở VN để tìm hiểu thái độ và nhận thức của họ về các quốc gia mà họ dự định xuất ngoại du học. Số người được hỏi gồm 55% ở vùng TP Hồ Chí Minh, 37% ở vùng Hà Nội và 8% ở vùng Đà Nẵng.

Những câu hỏi về những lý do đi du học như: nâng cao kiến thức và khả năng ngôn ngữ (đặc biệt tiếng Anh), đạt được cấp bằng nước ngoài để hổ trợ cho việc tìm kiếm việc làm, học tập được kinh nghiệm kỹ thuật và văn hóa nước ngoài. Về những trở ngại dự phóng cho việc du học, những câu hỏi gồm có: chi phí, tìm kiếm thông tin chính xác nơi du học, xin visa, ngôn ngữ và văn hóa khác biệt, khoảng cách từ gia đình đến nơi du học.Từ những câu hỏi trên, kết quả tổng quát như sau (theo thứ tự)

Nước xin đi

Lựa chọn 1

Lựa chọn 2

Hoa Kỳ 81.8 % 10.4%
Úc 7.7% 30.7%
Anh 5% 20.8%
Canada 1.1% 7.4%
Singapore 0.9% 13.5%
Pháp 0.7% 2.4%
Thụy Điển 0.7% 1.1%
Hòa Lan 0.7% 0.9%
Nhật Bản 0.4% 3.9%
Thụy Sĩ 0.4% 0.6%

Trong lựa chọn 1, Hoa Kỳ là niềm mơ ước của hơn 80% học sinh, sinh viên, kế đó là Úc và Anh, tất cả đều là quốc gia Anh thoại. Nếu không đạt được ý muốn như trên, chọn lựa 2 của họ là Úc, kế đến là Anh và Singapore. Điểm lưu ý là trong chọn lựa 2, đa số sinh viên miền Bắc chọn Anh quốc và miền Nam chọn Canada.

Khi đề cập đến ấn tượng vể những quốc gia được ưa thích liên quan đến phẩm chất giáo dục cao, trình độ khoa học kỹ thuật tân tiến, kết quả theo thứ tự là Hoa Kỳ (68%), kế đến là Úc, Anh, Singapore và Pháp. Về những ấn tượng bất lợi, Hoa Kỳ bị xem là quốc gia nguy hiểm về bạo lực xã hội, trong khi Anh, Pháp là không thân thiện (ý nói kỳ thị) với nước ngoài.

Từ các yếu tố trên, bảng xếp hạng sau cùng về việc học sinh, sinh viên Việt Nam chọn nơi để du học theo thứ tự như sau: Úc, Singapore, Hoa Kỳ, Pháp, Anh. (Attitudes and perceptions of prospective international students from Vietnam , Feb. 2010).

1.2. Có bao nhiêu du học sinh Việt Nam

Thật khó mà có một con số thống kê chính xác, bởi lẽ không cơ quan thẩm quyền nào của Việt Nam công bố một thống kê giống nhau. Các thống kê VN thường dựa vào các tin tức của các cơ quan giáo dục quốc tế, các tòa lãnh sự các nước rồi vẽ vời thêm. «Bộ Giáo Dục và Đào Tạo VN cho biết có độ 100,000 học sinh và sinh viên du học ở hải ngoại, trong đó 90% là du học tự túc và 10% du học với học bổng của nhà cầm quyền VN và các nước. Bộ Giáo Dục chỉ quản trị số sinh viên do Bộ cấp phát học bổng độ 5,000 người. Chúng tôi ước định thống kê như trên căn cứ vào số visas do các cơ quan ngoại giao các nước cấp phát và tin tức của các cơ quan ngoại giao VN ở các nước, các hiệp hội sinh viên quốc tế, nhưng phương pháp nầy thực sự không chính xác và chúng tôi đang nghiên cứu một cơ chế tập trung tất cả thông tin về người du học… »(Nam Phương. Les études à l’étranger sont en vogue, đăng trong «Le courrier du Vietnam» ngày 14/8/2011).

 Úc. Úc là quốc gia được học sinh, sinh viên Việt Nam ưa thích hàng đầu để xuất ngoại. Giá học phí và sinh hoạt không cao so với Bắc Mỹ và Tây Âu, điều nầy thích hợp với các sinh viên tự túc, các trường học đủ loại thích hợp với các trình độ kiến thức và sinh ngữ, thường sinh viên bậc trung và kém vẫn có thể được chấp nhận sau các lớp dự bị. Úc lại là quốc gia tương đối gần Việt Nam, thích hợp cho các du sinh giàu đi về VN vào những ngày lễ, và nhất là tiện lợi cho các «đại gia», các tay tham nhũng thường xuyên chuyển tiền ăn cướp và lường gạt trong những chuyến đi thăm con em. Là quốc gia trù phú nhưng thưa dân, chánh sách di dân rộng rãi của nhà cầm quyền Úc cho phép thân nhân những sinh viên hậu đại học có thể đi theo và làm việc trên đất Úc, đó là cửa ngỏ di cư hợp pháp cho những «tu nghiệp sinh» thuộc giai cấp lãnh đạo. Ngoài ra, trong số du học sinh đến Úc còn có rất nhiều học sinh trung học và học nghề, họ có thể xin định cư ở Úc sau khi tốt nghiệp nếu làm việc trong số 181 nghề mà nước Úc đang cần. Để thu hút sinh viên VN, nước Úc đã cấp nhiều học bổng cho du sinh VN (4,000 trong năm 2010). Đó là những lý do chính yếu khiến Úc là đất hứa cho du học sinh Việt Nam. Theo Tổ chức Giáo Dục Quốc Tế Úc (AEI =Australian Education International) trực thuộc nhà cầm quyền Úc, số du sinh Việt Nam tăng nhanh trong những năm gần đây. Năm 2010, số du học sinh Việt Nam tại Úc là 25,788 người, tăng 8,8% so với năm 2009, đứng hạng 4 trong số du học sinh các nước tại Úc.

– Hoa Kỳ. Theo Viện Giáo Dục Quốc Tế IIE với sự hổ trợ của US Department of State’s Bureau of Educational Affairs, trong báo cáo Open Doors 2010 thì năm 2000, tổng số du sinh tại Hoa kỳ là 2,022 người, năm 2009/10 tăng lên đến 13,122 người. Như vậy, trong vòng 10 năm, số du sinh VN tại Hoa Kỳ đã tăng gấp 6 lần và trong số sinh viên năm 2009/10 có 18,7% là du sinh cấp cao học và tiến sĩ mà đa số được các học bổng của nhà cầm quyền Hoa Kỳ (Vietnam Education Foundation, Ford Foundation, Fulbright…) hay của nhà cầm quyền VN trong các chương trình đào tạo hậu đại học.

Việc gia tăng sinh viên VN tại Mỹ, không phải chỉ phát xuất từ sự mơ ước của người Việt mà còn từ sự toan tính của chính người Mỹ, vừa để thu hút chất xám của các phần tử ưu tú Việt Nam, vừa để thu góp tài sản tẩu tán của tập đoàn đảng viên tham những. Michael Michalak, đại sứ Mỹ tại Hànội, trong điện thư gởi về Bộ ngoại giao ngày 24/2/2010 đã viết: «… Sứ quán tích cực tìm cách áp dụng các chuẩn mực giáo dục của Hoa Kỳ trong các đại học VN để gây ảnh hưởng đến thế hệ lãnh đạo kế tiếp, gia tăng số người tốt nghiệp có kỹ năng để làm việc cho các công ty Mỹ ở VN và để hiện đại hóa Bộ Giáo Dục-Đào Tạo bị nhiều người xem là hệ thống giáo dục đổ vỡ, Quỹ Giáo Dục VN (Vietnam Education Foundation) đến năm 2010 đã đưa 306 người sang học ở 70 đại học Mỹ đa số là học tiến sĩ khoa học… » (Wikileads. Giáo Dục Mỹ ở VN,bbc.co.uk ngày 28/8/2011)

Tuy số lượng sinh viên gia tăng, nhưng vì khả năng sinh ngữ cũng như kiến thức tổng quát kém, đa số sinh viên chọn các trường đại học cộng đồng (2 năm), dễ học, nhanh chóng về nước có cấp bằng Mỹ quốc, hành trang cho việc thăng tiến dễ dàng trong một quốc gia chống Mỹ nhưng «háo» Mỹ. Hơn phân nửa số du sinh ở Mỹ tập trung tại 3 tiểu bang Texas, Washington, California. (Vietnamese market for educational and training / US Commercial Service. Vietnam , March 2010),

Điều cần ghi nhận là thống kê trên cho biết số người ghi danh nhập học chớ không cho biết số người tốt nghiệp, bởi lẽ từ năm 1995 đến năm 2010, Hoa Kỳ đã cấp gần 300,000 visas cho người Việt không định cư trong đó có khoảng 40,000 visas cấp cho thanh thiếu niên du học. Trong số visa không định cư có bao nhiêu là công nhân xuất khẩu, du khách ở lại bất hợp pháp, và trong số visa du học có bao nhiêu là du học trá hình để du hí sau khi đóng tiền ghi danh nhập học, không kể số du sinh bỏ học vì học không nổi hay bị đuổi vì hạnh kiểm.

– Pháp. Tuy số sinh viên du học tại Pháp ít hơn so với Hoa Kỳ và Úc, và tuy sự quan trọng của tiếng Pháp trong nền giáo dục ở Việt Nam hiện nay chỉ còn ngang hàng với tiếng Đại Hàn, tiếng Nhật, và cấp bằng Pháp ít còn được trọng vọng trong chế độ cộng sản, du học ở Pháp vẫn là ước vọng của nhiều sinh viên có khả năng bởi lẽ học tập ở Pháp đòi hỏi nhiều thử thách, không phải chỉ sinh ngữ mà còn về kiến thức. Đa số du sinh đến Pháp thuộc bậc hậu đại học (Cao học, Tiến Sĩ) hay tu nghiệp ngắn hạn. Năm 2009/10, Pháp đã tiếp nhận 6,295 du học sinh trong đó có 5,160 (82%) ghi danh học đại học, đứng hạng 9 trong số các du học sinh các nước tại Pháp. Tổng số sinh viên VN taị Pháp như sau:

Bằng cấp

2006-07

2007-08

2008-09

2009-10

Cử Nhân (L) 2,355 2,239 2,267 2,295
Cao học (M) 1,655 1,632 2,083 2,078
Tiến sĩ (D) 553 627 681 787
Tổng số 4,563 4,498 5,031 5,160

Trong niên học 2009-10, số sinh viên các ngành học và các cấp như sau:

Bằng cấp

Luật, chính trị học

Kinh tế, xã hội học

Văn chương, nhân văn

Khoa học

Y, Nha, Dược

Cử nhân 43 1,436 304 466 46
Cao học 121 928 208 616 205
Tiến sĩ 40 73 98 556 20
Tổng số 204 2,437 610 1,638 271

(Nguồn : resources.campusfrance.org/ Rapports d’activités 2010).

– Anh và Canada. Vương quốc Anh đã thu nhận sinh viên VN trước khi Cộng Sản VN và Mỹ thiết lập bang giao. Số sinh viên tăng nhiều sau chánh sách mở cửa trong 2 thập niên qua nhưng từ đầu năm 2010, Anh quốc đã siết chặt hơn luật du học và di dân nên số du học sinh đến Anh giảm bớt, số du học sinh và di dân bất hợp pháp dưới dạng du học bị trục xuất càng lúc càng nhiều. Có khoảng 5,000 du học sinh VN tại Anh tập trung phần lớn ở khu Hackney, Peckham, Southward, Brixton. Trong số các quốc gia Tây Phương,

Canada là quốc gia có ít nhất du học sinh VN. Chánh sách du học khe khắc, giá sinh hoạt cao và tổ chức trường học của Canada không thuận lợi cho các du học sinh có học lực trung bình, Canada không có những giáo trình riêng biệt dành cho sinh viên ngoại quốc, du học sinh không thể đến các campus Canada để du hí hay tìm chồng, đó là những yếu tố chính yếu khiến Canada không có hấp lực với sinh viên VN. Năm 2008, Canada tiếp nhận chỉ có 586 du học sinh VN. Gần đây, nhà cầm quyền áp dụng vài biện pháp cởi mở hơn như cho phụ huynh đến thăm con em, cho sinh viên tốt nghiệp có thể ở lại làm việc một só ngành nghề để hy vọng số du học sinh đạt được 1000. Năm 2008, số du sinh VN ở các tỉnh bang của Canada như sau: Ontario: 232, Colombie-Britannique: 132, Alberta: 105, Québec: 79, Manitoba: 19, Saskatchewan: 9, Miền Đông Bắc: 10. (Le marché de l’éducation internationale du VN – Octobre 2009/ Affaires étrangères et commerce international Canada).

Trung cộng và các quốc gia khác ở châu Á. Trung cộng là thị trường cho sinh viên muốn xuất ngoại nhưng có nguồn tài chánh giới hạn bởi lẽ học phí và chi phí chỉ rất thấp, chỉ bằng ¼ so với Anh Mỹ (khoảng 7,000$ một năm), nhưng thời gian học tập để có bằng cử nhân kéo dài 4-5 năm vì phải trải qua ít nhất một năm học tiếng Trung cộng. Đa số du học sinh đến Trung cộng học thương mại, canh nông, y học cổ truyền, và kỹ thuật chế biến. Có độ 12,500 sinh viên VN tại Trung cộng, đứng hạng 4 trong số các du sinh tại Trung cộng (sau Hàn quốc, Nhựt, Hoa Kỳ) và 500 du sinh ở Đài Loan, Singapore là nơi gần nhất VN nhưng có chương trình dạy tiếng Anh nên Singapore là thị trường tốt nhất cho du sinh nghèo vì chi phí ít, và cho du sinh giàu để đến ăn chơi, cuối tuần về VN mà vẫn có «bằng ngoại». Năm 2010, có độ 7,000 du sinh VN ở Singapore.

Chuyện du học ở VN hiện đang lên cơn sốt nên đi du học ở đâu cũng được miễn là có nhãn hiệu du học sinh để nở mặt nở mày với hàng họ và dễ làm ăn. Hàn Quốc đã có đến 1,900 sinh viên VN trong làn sóng phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc. Ấn độ, Phi luật Tân, Mả Lai Á, Thái Lan, thậm chí Miên và Lào cũng mở cửa thị trường du học VN bằng cách cấp học bổng để khai thác thị trường béo bở nầy. Duy chỉ có Nhật Bản, mặc dù là quốc gia hậu kỹ nghệ nhưng ít sinh viên VN thích đến du học vì đại học Nhật chỉ dạy bằng tiếng Nhật và kỹ luật trường học nghiêm minh. Theo Asahi, cơ quan giáo dục quốc tế Nhật, năm 2010, Nhật đón nhận 3,597 sinh viên Việt Nam.

Các quốc gia khác ở Âu châu ngoài Anh và Pháp. Du học ở Liên Sô và các quốc gia Đông Âu đã sụt giảm sau khi Liên Sô sụp đổ và sau khi VN đã bình thường hóa ngoại giao với Hoa Kỳ. Tổng số sinh viên VN ở Nga, Tiệp khắc, Slovaquie, Roumanie độ 6,000.Tại các quốc gia Bắc Âu (Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Hòa Lan) Thụy Sĩ, Đức số sinh viên VN vài trăm tại mỗi nước.

Tính chung, tổng số du sinh VN tại hơn 40 quốc gia trên thế giới vào năm 2009 độ 90,000 người.

1.3. Diện mạo của du sinh Việt Nam

 

 Du học sinh Việt Nam được huấn luyên tại Đức.


Tùy theo gia cảnh, mục tiêu và cung cách, du học sinh Việt Nam có thể nhận diện qua 3 loại : du sinh du học, du sinh du hí và du sinh địch vận.

– Du sinh du học

Đó là những du học sinh có khả năng, có tư cách, muốn tìm học những kiến thức về khoa học kỹ thuật và văn hóa ở xứ người để cải thiện đời sống kinh tế cá nhân và vận mệnh đất nước. Đa số họ là sinh viên tự túc, xuất thân từ những gia đình khá giả hay trung lưu, nhưng không có quyền thế. Cha mẹ họ phải hy sinh cho họ để mong họ có một tương lai tươi sáng hơn và nếu có thể được, thoát khỏi cái xã hội mafia cộng sản.

Tại đất người, ngoài những giờ chuyên cần học tập, đôi khi họ phải đi làm lao động thêm để phụ vào số tiền cấp dưỡng của cha mẹ chắt chiu gởi nuôi họ. Sau khi tốt nghiệp, họ trở về mang theo kiến thức học tập ở xứ người để phục vụ đất nước, nhưng nếu cha mẹ họ không có liên hệ với quyền lực, số phần họ cũng chẳng mấy gì khả quan. Một số khác tìm cách ở lại trên đất nước mà họ đã du học để lập nghiệp mà theo ước đoán, số du học sinh không hồi hương nhiều hơn số du học sinh hồi hương.


Theo một khảo sát rộng rãi của công ty nhân sự SDH trên 350 sinh viên du học đã và sẽ về nước làm việc, sinh viên đã tốt nghiệp và sẽ ở lại nước sở tại làm việc, và sinh viên sẽ tốt nghiệp chưa có ý định ở lại hay về, kết quả là cho biết có 64% người quyết định ở lại nước sở tại để sinh sống. Lý do: chế độ lương thưởng tại VN không tương xứng với công sức và tiền bạc đã đầu tư trong quá trình học tập ở nước ngoài, môi trường và điều kiện làm việc không thích ứng với kiến thức đã thu thập, không được đối xử bình đẳng khi người lãnh đạo và đồng nghiệp là những người tốt nghiệp từ các đại học Đông Âu hay đảng viên thiếu khả năng. Đối với một quốc gia còn nghèo như VN mà phải chi viện hơn 1,5 tỷ mỹ kim hàng năm cho 90,000 du học sinh nhưng số người trở về chỉ chưa đến phân nửa thì quả tình chuyện chảy máu chất xám VN thực đáng quan ngại. (83% du học sinh về nước không hài lòng với lương thưởng. http://www. 
amec.com.vn ngày 15 /4/2010).

– Du sinh du hí

Đó là những du sinh con ông cháu cha, mà trong nước gọi là đám 4C (con cháu các cụ) và con em các tư bản đỏ, làm giàu nhờ làm ăn với bạo quyền cộng sản. Đa số đám du sinh nầy là những học sinh dốt về kiến thức lẫn sinh ngữ, lêu lỏng, thiếu tư cách, xuất ngoại bằng văn bằng giả hay thế lực của ông cha, cốt ra nước ngoài để du hí và có chứng chỉ ghi danh nhập học tại đại học nước ngoài để ăn trên ngồi trước khi trở về nước. Tại nước ngoài, họ là những phần tử bất hảo, vung vít tiền bạc để ăn chơi, có tác phong bất xứng, tạo ác cảm cho người dân sở tại. Họ «xuất khẩu» những thói hư tật xấu của ông cha như ăn cắp trong siêu thị, lường gạt khi đi xe bus (dùng thẻ cũ), thô tục trong cung cách xã giao (không xếp hàng, không nhường chỗ ưu tiên cho người già, người phế tật, chửi thề, nới năng ồn ào trước đám đông… ), ăn mặc trang sức lố bịch, tiêu xài theo lối vung tiền qua cửa sổ để chứng tỏ giàu sang (đơn vị tiền tệ của họ là một «giấy» tức tờ giấy 100 dollars). Thái độ xấc láo của họ nhiều khi tạo nên những cuộc xung đột đẫm máu với các băng đảng, ngay cả đối với những công dân bình thường cũng «xốn mắt» trước tác phong mất dạy của đám sinh viên nầy. Ngoài ra, đám du học sinh nầy còn là bình phong để cha mẹ họ thuộc giai cấp lãnh đạo cộng sản tẩu tán tài sản một cách hợp pháp ra nước ngoài mỗi lần đi thăm con em, mà những chuyến đi đi về về như đi chợ. Thông thường, sinh viên du học chỉ ở cấp đại học, nhưng với những tay tham nhũng và tư bản đỏ, họ đưa con ra nước ngoài ngay từ cấp trung học, có khi từ tiểu học (như ở Canada) dưới dạng du học sinh và họ mua nhà đất cho con em họ ở, chuẩn bị cho một cuộc định cư cư về sau. Bảng thống kê sau đây cho thấy tỷ lệ số du sinh học trung học, học trường dạy nghề và học Anh ngữ chiếm hơn phân nửa trong tổng số du sinh Việt Nam.

Tỷ lệ du học sinh Việt Nam theo cấp học niên khóa 2006-07 tại vài quốc gia

Quốc gia

Đại học

Trung học

Học Anh ngữ

Học nghề

Hoa Kỳ 68% 22% 6% 4%
Anh 43% 34% 20% 3%
Úc 42% 31% 16% 11%
Canada* 11% 60% 27% 2%

*Chú thích về Canada: trong 60% học sinh Trung học có 21% học CEGEP và 3% học cấp tiểu học. (nguồn: Le marché de l’éducation internationale du VN).

Ngoài việc «trồng» người dưới dạng gởi con em du học, những tư bản đỏ và bọn tham nhũng còn tìm cách làm sui với các gia đình ở ngoại quốc để rửa tiền mà họ đã cướp giựt ở VN (một trong những sui gia nổi tiếng là Thủ Tướng cộng sản Nguyễn Tấn Dũng và «tên ngụy» Nguyễn Bang). Họ chỉ cần áp dụng phương pháp cổ điển của mafia. Gia đình họ ở nước ngoài thành lập các công ty ở VN, tiền vốn không từ nước ngoài đưa vào mà từ tiền của các tay tham nhũng trong nước bỏ ra đầu tư. Họ khai gian thương vụ, thổi phồng lợi nhuận khổng lồ để chuyển ngân hợp pháp ra các ngân hàng nước ngoài qua các thương vụ. Khi cần ra ngoại quốc để trốn, để định cư, thì dâu rể, con cháu họ sẽ đứng ra bảo lảnh họ dưới dạng đoàn tụ gia đình hay họ di dân dưới dạng kinh doanh. Những cuộc hôn nhân nầy lại còn có tác dụng thêm bạn bớt thù trong cộng đồng người Việt di tản, tạo ấn tượng tốt đẹp cho dân chúng và nhà cầm quyền các quốc gia có người Việt di tản về chính sách đoàn kết, cởi mở của chế độ cộng sản đối với kẻ thù khi xưa. Tính lưu manh, qũy quyệt của cộng sản quả là siêu việt.

Nghĩ ra thì cộng đồng người Việt tỵ nạn đã phải trả giá bằng nửa triệu sinh linh bỏ mạng trên biển khơi để tránh bạo quyền cộng sản thì hôm nay, chính bạo quyền ấy, sau khi đã vơ vét tài sản trên một đất nước VN nghèo khổ, lại ngang nhiên mang tài sản ăn cướp ấy để đến sống vương vả trên những vùng đất mà những nạn nhân của họ trong 36 năm qua đã phải đổ mồ hôi nước mắt để tạo dựng lại lúc giữa đời người.

– Du sinh địch vận

Đó là 5,000 du sinh con ông cháu cha và những công chức, công an giả dạng là «tu nghiệp sinh» đi học với học bổng của nhà nước. Họ đi học nhưng họ phải làm công tác địch vận theo nghị quyết 36 của đảng. Họ len lỏi trong các hội đoàn, các campus đại học, sử dụng các chiến thuật địch vận thời chiến tranh để tuyên truyền, khủng bố, khuynh đảo các cộng đồng người Việt. Trong đại học, họ khôn khéo lập các hiệp hội sinh viên, tuân hành các chỉ thị của tòa đại sứ để lôi cuốn các sinh viên con em người Việt tỵ nạn, vốn có tinh thần cởi mở nhưng lại ngây thơ trước các mưu chước thâm độc tâm lý chiến cộng sản. Đám du sinh địch vận nầy lại được sự hổ trợ của đám sinh viên du hí, bởi lẽ chúng phải bảo vệ tập đoàn cầm quyền của cha ông chúng. Chúng cũng có tác phong côn đồ ngang ngược khi cần đối phó với cộng đồng di tản chống đối chúng.Đám đông thầm lặng người Việt tỵ nạn ngao ngán trước viễn cảnh đã trốn cộng sản mà vẫn chưa được yên thân

Phần 2: Lao động xuất khẩu

 

 

 

 

 

 

 

 


2.1- Có bao nhiêu người lao động xuất khẩu

Chính sách xuất khẩu lao động được áp dụng từ năm 1980 khi cộng sản VN muốn giải tỏa nạn thất nghiệp trầm trọng trong nước đồng thời dùng người lao động xuất khẩu để trả nợ cho các quốc gia anh em khối cộng sản đã giúp VN trong thời chiến tranh và các quốc gia thân hữu như Irak, Arabie Séoudite, Koweit, Qatar…

Trong thời gian từ 1980-1990, có khoảng nửa triệu người trong đó có khoảng 70,000 sinh viên, nghiên cứu sinh, và khoảng 300,000 người lao động được nhà cầm quyền gởi di Liên Sô, Đông Đức, Tiệp khắc, Bulgarie và khoảng 100,000 người đến các nước Trung cộng, Cuba, Mông Cổ, Bắc Hàn để học tập và làm việc. Tiền lương của nhân công được chia làm ba: một đóng cho nước chủ, một gởi về cho gia đình và một phát cho công nhân. Các công việc phần lớn là công việc người địa phương từ chối: đổ rác, thợ mỏ, phu khuân vác, làm cầu đường, ống dẩn dầu ở Sibérie. Các phụ nữ thường làm nghề may, giúp việc nhà (oshin). Nhưng không bao lâu sau đó, các chế độ cộng sản đã lần lượt sụp đổ, các quốc gia chủ hủy bỏ hợp đồng và cho hồi hương công nhân VN, nhưng đa số công nhân trốn ở lại. Thảm cảnh của công nhân bắt đầu từ đó với cảnh đối xử bất công của dân chúng và chánh quyền địa phương. Thất nghiệp đã đưa đến phạm pháp, tạo thêm ác cảm cho người bản xứ.

Khi bức tường Bá Linh sụp đổ tháng 11/1989, tại Đông Đức có 59,000 lao động xuất khẩu và du sinh VN tập trung tại các thành phố như Karl-Marx-Satadt, Đông Berlin và Leipzig. Sau khi nước Đức được thống nhứt, chính phủ Đức tìm cách giảm bớt số lao động xuất khẩu nầy bằng cách cấp cho mỗi người 3,000 mark để hồi hương. Khoảng phân nửa số người chịu về VN, nhưng những người lao động xuất khẩu ở những nước Đông Âu và Liên Sô lại kéo sang Đức để xin tỵ nạn hay cư trú bất hợp pháp. Trong suốt thập niên 90, chính phủ Đức dùng nhiều biện pháp đưa những người nhập cư bất hợp pháp nầy về VN, nhưng họ không đi mà nhà cầm quyền VN cũng không nhận. Năm 2004, có đến 40,000 người VN cư trú bất hợp pháp trên nước Đức. Họ sống ngoài vòng pháp luật, lập băng đảng, buôn bán thuốc lá lậu và cần sa là những trọng tội đối với nước Đức. Không nói được tiếng Đức, không hội nhập, đa số sống phạm pháp, lại có quan điểm chính trị cộng sản nên số người dân Việt nầy hoàn toàn đối nghịch với cộng đồng người Việt di tản.

Kể từ năm 1990, khi tham nhũng trở thành phổ quát, chính sách xuất khẩu lao động thay đổi theo lối ăn chia với các tổ chức tuyển dụng người xuất khẩu mà các người đứng đầu không ai khác hơn là bè đảng các lãnh đạo thế lực. nhà cầm quyền phụ trách tìm kiếm các hợp đồng với các quốc gia cần nhân công rồi giao cho các công ty tư vấn tuyển dụng nhân công. Đó là chính sách tham nhũng vừa hàng dọc vừa hàng ngang, các công ty tuyển dụng tung hoành bóc lột, lường gạt người dân nghèo phải bán nhà bán ruộng để đóng tiền lệ phí cắt cổ cho các công ty để đi lao động nước ngoài hy vọng thoát được cảnh nghèo đói, nhưng chính sách đem con bỏ chợ của các công ty tư vấn thực chất là các tổ chức buôn bán người, làm giàu trên xương máu của người nghèo trước sự bao che của nhà nước.

Theo số liệu của Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao Động-Thương Binh và Xã hội), từ năm 2001 đến 2011, VN đã gởi 739,710 lao động VN làm việc tại hơn 40 quốc gia trên thế giới, tính trung bình mỗi năm có khoảng 70,000 người. Thu nhập của người lao động xuất khẩu thường từ 6 đến 10 lần cao hơn so với những người cùng làm một công việc trong nước và mỗi năm họ gởi về nước khoảng 1,7 đến 2 tỷ mỹ kim. (Nguyễn Cảnh Toàn. Bước đầu nghiên cứu cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Tạp chí Khoa Học Xã hội VN số 1(44) 2011).

2.2- Diện mạo của người lao động xuất khẩu

Người lao động xuất khẩu ra nước ngoài có hai dạng: ra đi hợp pháp dưới sự quản lý của các công ty tuyển dụng, ra đi bất hợp pháp hay ở lại bất hợp pháp sau khi khế ước làm việc chấm dứt. Ngoài ra, những phụ nữ ra đi lấy chồng Hàn Quốc, Trung cộng, Đài Loan, thực chất cũng là một hình thức xuất khẩu lao động.

– Người lao động xuất khẩu theo hợp đồng

Từ năm 1990, chánh sách tham nhũng và vô trách nhiệm của nhà nước cộng sản đã làm nở rộ các loại công ty môi giới lao động nước ngoài, phát triển từ thành phố đến nông thôn. Đó là một sách lược tham nhũng toàn bộ, chia phần từ trung ương đến địa phương. Những người muốn đi lao động không phải là những người tứ cố vô thân mà phải có chút ít tài sản. Họ hay thân nhân họ phải bán nhà, bán đất hay thế chấp tài sản cho ngân hàng (danh từ sổ đỏ dùng để chỉ tiền nợ ngân hàng với tài sản thế chấp) để đóng tiền lệ phí cho cơ quan tuyển dụng. Theo những văn kiện của nhà cầm quyền, tiền lệ phí nầy không được hơn một tháng tiền lương, nhưng thực tế, những công ty môi giới khuynh đảo thị trường bởi người dân nghèo quá đông, mật ít ruồi nhiều, nên họ bày ra đủ thứ lệ phí, thường từ 5,000 đến 15,000 mỹ kim tùy theo nơi đến làm việc và thời gian của hợp đồng. Thử tưởng tượng tiền lương của một giáo chức, sau khi khấu trừ mọi thứ đóng góp cho nhà nước chỉ còn lại độ 30 mỹ kim mỗi tháng thì số tiền lệ phí như trên quả là một tài sản khổng lồ. Với những hợp đồng bảo đảm tiền lương tại nước ngoài trên 1,000 mỹ kim hàng tháng, điều kiện làm việc thuận lợi, nhiều gia đình nghèo tranh nhau đi tìm số đỏ với sổ đỏ. Người lao động xuất khẩu đong đưa với vận may nếu hợp đồng được tôn trọng, hy vọng trả được hết nợ và có chút vốn khi trở về nước. Nhưng thế giới cộng sản là thế giới của lừa đão, những công ty tư vấn lường gạt dân nghèo với những viễn cảnh tốt đẹp để vơ vét lệ phí đủ loại, đưa người ra nước ngoài rồi phủi tay, hành xử theo lối đem con bỏ chợ. Những người đi lao động ở Nga, ở Trung Đông bị áp bức, làm việc trong những điều kiện tồi tệ, không được trả lương theo như hợp đồng, hay bị hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn, bơ vơ nơi xứ người không biết liên lạc với ai. Một lời thán oán trong muôn một của một người lao động xuất khẩu tại nước Nga: «Ba tháng không có lương, đấu tranh thì bị chủ dọa đuổi, gọi điện thoại về hỏi công ty xuất khẩu thì được bảo: chờ hết suy thoái chủ sẽ trả lương, muốn bỏ về thì tự túc mua vé mà về… »

Viện Nghiên Cứu Phát Triển Xã Hội Việt Nam hợp tác với trường đại học Western Ontario (Canada) đã thực hiện một cuộc khảo sát về người lao động xuất khẩu VN tại 4 quốc gia ở Châu Á (Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan và Mã Lai) trong giai đoạn 2000-2009 đã công bố kết quả ngày 15 tháng 3 năm 2010 như sau: «… chỉ có 33% người XKLĐ trả hết nợ trước khi về nước, trung bình muốn trả hết nợ vay mượn phải làm việc 18 tháng, 36% người bị tổn thương sức khỏe và tâm lý vì môi trường và điều kiện làm việc, 26% người không được trả lương như mong đợi và 8% bị hành hạ về mặt thể chất. Nhiều người bị hủy giao kèo hay không chịu nổi sự bốc lột phải trở về nước, gánh thêm nợ nần. Một tỷ lệ quan trọng không thấy có sự cải thiện về mặt kinh tế sau khi đi XKLĐ, thậm chí tình trạng còn tồi tệ hơn: 40,1% hài lòng vì số thu nhập tăng lên, 51,1% không thấy có sự thay đổi tích cực nào, 8,8% bị mắc nợ nhiều hơn….» (Đi xuất khẩu lao động để mưu sinh. baomoi.com, ngày 15/5/2010).

Chánh sách xuất khẩu lao động của nhà cầm quyền cộng sản phơi bày bản chất vô nhân đạo và vô trách nhiệm. Những công ty môi giới là những công ty quốc doanh hay phe nhóm của cấp lãnh đạo đã lợi dụng sự nghèo đói của người dân, nhẩn tâm bốc lột người nghèo rồi vô trách nhiệm đưa đám người nầy ra nước ngoài phải tự phấn đấu với bao nhiêu cam go không chuẩn bị. Chánh sách tham nhũng bất lương nầy không giải quyết trọn vẹn được nạn thất nghiệp và nghèo đói triền miên trong nước mà còn lại tạo nên một hiểm họa ở ngoài nước bằng cách xuất cảng một khối người Việt sống bất hợp pháp và phạm pháp tại nhiều quốc gia trên thế giới.

– Người xuất khẩu lao động bất hợp pháp

Đa số người XKLĐ là nông dân, công nhân ít học, vì nghèo đói phải đi lao động nước ngoài hy vọng sẽ thoát khỏi cảnh nghèo đói. Không am tường ngôn ngữ xứ người, không thích nghi với điều kiện sống và làm việc, không biết thông tin khi gặp bất công, bất trắc, người XKLĐ quả thực làm cuộc phiêu lưu lớn khi đặt niềm tin vào các công ty môi giới mà đa số chỉ là nhóm người bất lương được nhà nước bao che. Ngoài ra, nếu đa số người XKLĐ là nạn nhân của các công ty từ trong nước đến ngoài nước, nhưng trong nhiều trường hợp, chính họ cũng lại là tác nhân của những khốn khổ của họ. Chỉ đan kể một số trường hợp phổ quát: không tuân hành luật lệ xứ người, không tuân hành hợp đồng, tác phong bất xứng (gây gổ, trộm cắp). Tại Hàn Quốc, theo tin tức của chính Bộ Lao Động, 32% người XKLĐ Việt Nam đòi đổi nghề khi đến Đại Hàn, 8,750 người ở lại bất hợp pháp sau khi hết hợp đồng (trên 60,000 XKLĐ), có người bỏ trốn ngay khi vừa đến phi trường, đến nổi Hàn Quốc phải ngưng không nhận XKLĐ Việt Nam. (các bản tin tháng 8, 2011).

Tại Mã Lai, nhà cầm quyền phải ân xá cho 13,000 người Việt XKLĐ ở lậu, tại Arabie Séoudite, tài xế XKLĐ đình công viện lẽ thời tiết quá nóng đến 45 độ mà xe vận tải không có máy điều hòa không khí (trước khi đi, họ đã biết sẽ làm việc trong vùng khí hậu sa mạc và xe vận tải ở VN có chiếc nào có máy điều hòa không khí?).

Tại Moscou, cảnh sát Nga dẹp các xưởng may «chui», bắt giữ 500 người Việt XKLĐ ở lại bất hợp pháp thì họ quay lại tố cáo chủ nhân bắt họ làm việc như người nô lệ. Thì ra, người XKLĐ Việt Nam cũng mưu chước không kém gì những công ty môi giới và công ty mướn người lao động. Một thống kê của Bộ Lao Động, Thương-Binh Xã hội ước lượng có khoảng 50,000 người XKLĐ bất hợp pháp trên thế giới, nhiều nhất tại Á Châu và các quốc gia Đông Âu.

Ngoài những người XKLĐ ở lại bất hợp pháp, nhiều quốc gia trên thế giới đang phải đối diện với tình trạng người Việt định cư bất hợp pháp, do nhập cư lậu và người đi với visa du lịch rồi ở lại sau khi hết hạn, tổ chức các hoạt động phạm pháp như trồng cần sa, mãi dâm, tập hợp thành băng đảng chém giết nhau, gây rối loạn trật tự công cộng.

Số người di cư nầy được các tổ chức mafia VN đưa bằng đường bộ đến Nga, phần lớn qua ngả Trung cộng. Một số ở lại Nga sống bằng nghề buôn bán lẻ ở các chợ trời, may quần áo hay các nghề lao động linh tinh.

Tháng 6/2009, chính phủ Nga đóng cửa chợ Vòm (Cherkizovsky), nơi có 6,000 thương buôn người Việt tập trung các hàng lậu thuế từ Trung cộng.

Ngoài nước Nga, tại Ba Lan, Tiệp Khắc, Đông Đức (cũ), mỗi nơi hàng có chục ngàn người Việt sống ngoài vòng pháp luật, gồm những người XKLĐ không về nước và những người nhập cảnh lậu. Dariusz Loranty, cảnh sát trưởng ở Warsaw đã nói với Ulricht Adrian, ký giả của đài truyền hình Đức ARD như sau:

«… Dân VN không bao giờ chết, chưa hề thấy đám tang người Việt. Một ngày kia, chúng tôi thấy một xác người Việt bị mafia thủ tiêu quăng trong ven rừng ở Warsaw. Một người Việt nào đó mới đến bất hợp pháp sẽ mang tên người chết mà không ai kiểm soát được. Với chúng tôi, người Việt Nam nào cũng giống nhau không phân biệt được. Bọn mafia còn giết người đồng hương thiếu nợ lấy các bộ phận đem bán… » (Ulricht Adrian. Wo Warschau vietnamesisch ist- DCV online dịch).

Món nợ mà ông cảnh sát trưởng Warsaw nói là món nợ từ 10,000 đến 15,000 mỹ kim mà người di cư lậu phải mượn của bọn mafia VN trước khi lên đường, một món nợ quá lớn phải trả suốt đời. Cách trả nợ nhanh nhứt là tham gia vào các tổ chức trồng cần sa, buôn ma túy. Ba Lan hiện nay là trung tâm sản xuất cần sa lớn nhất ở Đông Âu mà các người cầm đầu đường dây đa số là người Việt.

Người rừng Téteghem


 

Để tránh sự cạnh tranh, một số di dân lậu được tổ chức đưa qua Đức, Pháp và điểm đến sau cùng là Vương Quốc Anh, bởi tại đó luật pháp liên quan đến ma túy có phần nhẹ hơn các nơi khác. Muốn đến Anh, những người nầy tập trung ở miền Bắc nước Pháp, trốn trong rừng Téteghem, Grande Synthe, từ đó họ chờ đến đêm để «nhảy bãi» qua cảng Pas de Calais để sang Anh. Có khi họ phải chờ hàng tuần, hàng tháng trong những khu rừng lạnh lẽo nầy. Họ vứt bỏ tất cả giấy tờ, hình ảnh để khi cảnh sát bắt họ không biết lý lịch, xuất xứ của họ, do đó người Anh gọi họ là «người rơm». Những người rơm nầy đang hoành hành Vương Quốc Anh. Nick Thorpe, phóng viên đài BBC trong bài EU’s biggest crackdown on Vietnamese illegal migrants ngày 26/6/2010 đã viết : «… người Việt định cư hợp pháp ở Anh khoảng 30,000 nhưng số người bất hợp pháp lên đến 35,000».

Hình từ Sunday Times, em bé bị bọn buôn người bắt trông coi cần sa, hình bên Lê Quang Nhật bị chính quyền Odessa – Ukraina bắt về tội trồng cần sa quy mô.



 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Ông Lâm Hoàng Mạnh, một người Việt ở Anh đã viết một bài dài về người rơm đăng trong Talawas blog ngày 3/10/2010 có những đoạn như sau: «… Ngày 18/8/2010, tờ Metro London đăng tin theo báo cáo, năm 2009 cảnh sát đã bắt được 6,866 vụ trồng cần sa, tăng 30% so với năm 2008 là 4,951 vụ. Như vậy, chỉ trong 2 năm 2008-2009, số trại trồng cỏ bị phát hiện 12,000 vụ do người Việt điều khiển, có nghĩa trung bình mỗi tuần cảnh sát bắt gần 140 vụ, mỗi ngày 20 vụ trồng cần sa. Chưa kể những trang trại chưa bị phát hiện, con số trang trại cần sa của người Việt tại Anh phải hàng vạn… Hầu như báo chí tuần nào cũng đăng tin người Việt bị bắt vì trồng cần sa và nhập cảnh bất hợp pháp. Lang thang khu Hackney, Woolwich, Southward, Lewisham, Brixton… gặp rất nhiều người Việt rơm, họ nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, công khai nói chuyện trồng cỏ bằng tiếng (Việt) lóng…

Hàng năm, số tiền thu được do việc trồng cần sa của các băng đảng người Việt ở Anh lên tới hàng triệu bảng Anh đã được rửa bằng còn đường chánh ngạch cũng như tiểu ngạch để đầu tư vào bất động sản và khu công nghiệp ở VN. Những đồng tiền kiều hối nầy đã giúp nhà cầm quyền VN tăng trưởng GDP hàng năm. Thập niên 1990, từ vài trăm triệu, đến năm 2008, kiều hối đã tăng lên 8 tỷ. Kiều hối gửi về ngoài đồng tiền sạch (xuất khẩu lao động, trợ giúp thân nhân) còn có rất nhiều tiền bẩn do người rơm rửa tiền. Chúng ta thử làm phép tính cộng trừ nhân chia sẽ rõ: 8 tỷ mỹ kim do nhà cầm quyền VN công bố chia đều cho 3 triệu người VN hải ngoại, từ trẻ sơ sinh đến người già gần đất xa trời, bình quân mỗi người Việt gửi về VN gần 3,000 mỹ kim. Tiền ở đâu ra mà Việt kiều gửi về cho thân nhân tiêu xài mỗi năm 3,000 mỹ kim tức 60 triệu đồng VN nếu trong đó không có tiền bẩn khổng lồ của những kẻ tội phạm… »


Người rơm không phải chỉ có ở Anh mà tràn lan khắp nơi có cộng đồng người Việt. Tại Ba Lan, tên lóng là người xù, tại Đức là người đầu đen, tại Canada, Úc là người trồng cỏ. Michael L. Gray, ký giả người Canadien, cư ngụ ở Ottawa, có viết một bài khảo sát khá chi tiết về kỹ nghệ trồng cỏ ở Anh và Canada tựa là The Canadian connection: Why do Vietnamese grow so much dope? (
http://www.michaelgray.ca).

Sau đây là phỏng dịch vài đoạn chính yếu: «… Có khoảng 75% ngưởi trồng cần sa ở Anh là người VN, và hầu hết họ là những người nhập cư gần đây. Rất nhiều công nhân chăm sóc cây nầy là thiếu niên do những băng nhóm buôn thuốc phiện đưa đến từ VN. Thiếu niên là đối tượng dễ dàng quản lý vì tiên công rẻ mạt, thêm vào đó chúng không bị xét xử với các tội hình sự theo luật khi bị bắt, ít lâu sau chúng tiếp tục làm trở lại và chúng không thể bị trục xuất về VN, vì theo đạo luật năm 2004 cấm trục xuất thiếu niên… Lợi nhuận thật khủng khiếp. Một ngôi nhà trồng cây nầy có thể kiếm được nửa triệu mỹ kim một năm… Lý do của sự phát triển trồng cần sa vì sự thay đổi đạo luật năm 2004, đưa cần sa từ hạng B xuống hạng C, có nghĩa là người phạm pháp sẽ không bị tội hình sự nếu trồng một số lượng nhỏ. Đó là lý do khiến các ngôi nhà VN biến thành nông trại cần sa.Bây giờ, tôi tiếp tục đi đến thành phố tươi đẹp Vancouver ở bờ biển phía Tây của đất nước tôi. Từ giữa thập niên 1990, người VN hầu như làm bá chủ kỹ nghệ trồng cần sa ở Vancouver và các vùng lân cận ở tỉnh British Columbia. Đây không phải là một thành tích nhỏ, bởi việc sản xuất marijuana đại qui mô trước đó được thống lãnh bởi nhóm Hells Angels Motocycle Club, khét tiếng với việc sử dụng bạo lực để chống lại đối thủ. Tại sao các băng đảng VN lại thống trị nhanh như vậy? Để trả lời câu hỏi nầy, tôi nghĩ cần xét qua lịch sử lập cư của người Việt ở Canada. Trong những năm sau 1975, Canada cũng như nhiều quốc gia Tây Phương khác tiếp nhận hàng chục ngàn người Việt đến từ miền Nam, phần lớn là giới có học, có nghề tốt. Họ cư trú tại các đô thị lớn như Montréal, Toronto, Ottawa hay những đô thị nhỏ hơn như Edmonton, Vancouver. Nói chung, thế hệ những người nhập cư đầu tiên nầy sống rất tốt ở Canada … Vancouver là cái đích của những người tỵ nạn từ trại Hồng Kông, ra đi từ miền Bắc VN. Trại tỵ nạn Hồng Kông là một nơi khủng khiếp, cai quản bởi các băng nhóm bạo lực và khi đến Vancouver, những người nhập cư mới nầy không nghề, không học thức phải làm việc cho các băng đảng. Sống trong nền kinh tế tập trung những năm 1980 ở VN, nơi mà mọi người đều vi phạm luật pháp để sinh tồn, và những điều kiện sống khắc nghiệt ở trại tỵ nạn Hồng Kong đã khiến những người Việt mới nhập cư nầy có tính liều lĩnh, gan dạ, quyết tâm thành công với mọi giá. Chỉ trong vài năm, những băng nhóm VN đã đuổi nhóm Hells Angels ra khỏi Vancouver, khiến cảnh sát Vancouver phải gọi các băng đảng VN là những tội phạm gan lỳ nhất từ trước đến nay ở Canada (the most tenacious, extraordinarily focused criminals ever introduced in Canada).

Một báo cáo của cơ quan chống ma túy Mỹ năm 2000 cho biết năm 1998 có 2,351 vụ trồng cần sa bị khám phá ở British Columbia, một năm sau tăng lên đến 30%, tức 3,279 vụ và năm 1998 có 2,600 kg cần sa nhập vào Mỹ qua ngả British Columbia bị bắt. Marijuana biến chế ở British Columbia có phẩm chất cao, «BC Bud» là loại cần sa hảo hạng mà người Mỹ ưa thích nhất. Các «hạt giống làm vườn», sách dạy trồng cần sa cho cả nước cũng phát xuất từ đây. Và việc trồng cần sa lần lần phát triển khắp Canada. Những đánh giá gần đây cho biết trị giá thương mại của cần sa ở British Columbia khoảng 6,5 tỷ mỹ kim, đứng hạng nhì sau dầu khí… »


Người Việt trồng cần sa và buôn ma túy hiện nay ở khắp nơi trên thế giới. Ngoài Ba Lan-Hung gia Lợi ở Đông Âu, Anh ở Tây Âu, Canada ở Bắc Mỹ cỏn phải kể thêm hệ thống ở Úc – Tân Tây Lan.

Ngày 23 tháng 11 năm 2010, một cuộc bố ráp chưa từng có trong lịch sử ở tiểu bang Victoria (Úc), huy động 630 nhân viên công lực gồm cảnh sát, nhân viên quan thuế, di trú, để lục soát 68 căn nhà của người Việt rải rác trên toàn tiểu bang Victoria, đặc biệt chung quanh thành phố Melbourne để khám phá được 8,000 cây cần sa đang chờ thu hoạch, một số lượng lớn bạch phiến và 22 triệu Úc kim tiền mặt. Theo các cơ quan truyền thông và cảnh sát Úc, đây là những tổ chức tội phạm có liên hệ chặt chẻ với VN. Số tiền buôn lậu cần sa, bạch phiến chuyển về VN mỗi năm khoảng 400 triệu Úc kim. Chẳng những họ hoạt động ở Úc mà còn ở Tân Tây Lan. Đa số những tội phạm đến Úc bất hợp pháp đến từ Hải Phòng bằng các visas giả do nhà nước VN cung cấp dưới dạng du học hay du lịch.

 

Phần 3- Phụ nữ kết hôn với chồng «ngoại»

  Chuyện hôn nhân dị chủng trên thế giới hôm nay là chuyện bình thường, do đó khi nói đến hiện tượng lấy chồng «ngoại» trong bối cảnh Việt Nam phải hiểu là chuyện mua bán phụ nữ Việt Nam để làm vợ người Trung cộng và Hàn Quốc. Theo thống kê của Bộ Tư Pháp, từ năm 1995 đến năm 2010, VN có hơn 250,000 nguời VN kết hôn với người nước ngoài trong đó có khoảng 100,000 người kết hôn với người Đài Loan, 30,000 với người Trung cộng và 40,000 với người Hàn Quốc.

Phụ nữ kết hôn với nguời «ngoại» phần lớn là những người nghèo, trình độ văn hóa thấp, 79% cư ngụ ở TP Hồ chí Minh và 13 tỉnh miền đồng bằng sông Cửu Long.(* Chú thích Tin Paris : TẠI SAO ??. Phải chăng đó là chính sách của nhà nước BỎ ĐÓI dân Miền Nam , và nuôi dưỡng tội ác để dân Miền Nam KHÔNG CÒN THỜI GIỜ  chống đối chế độ Mafia CS ).  Hãy nhìn những cô gái trẻ thơ, cởi hết quần áo đứng thành hàng dài để người Đài Loan, người Hàn Quốc chọn lựa. Tờ Trung hoa Thời Báo ở Đài Loan công khai đăng quảng cáo như thời buôn bán nô lệ: Cô dâu VN, giá bán 18 vạn Đài tệ. Bảo đảm là gái trinh, nếu không trả tiền lại.

Tại Hàn Quốc, các công ty môi giới rao hàng: Người chưa vợ, góa vợ hoặc khuyết tật đều có thể tìm cô dâu Việt. Tại Singapore, 3 cô gái VN được trưng bày trong trung tâm thương mại Golden Mile Complex làm cho Hội Phụ Nữ Singapore xúc động và bất bình. Đó là vài bản tin trong hàng trăm bản tin khi mở đọc trên Internet. Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Bộ trưởng bộ Lao Động – Thương Binh và Xã hội đã xác nhận:

«Phong trào phụ nữ VN lấy chồng nước ngoài vì mục đích kinh tế, nhất là những cuộc hôn nhân qua môi giới bất hợp pháp thường dẫn đến đổ vỡ, có tác động rất lớn đến xã hội. Nhiều người nước ngoài cấu kết với một số cò mồi, môi giới VN hình thành những đường dây buôn bán người xuyên quốc gia. Nhiều cô gái đã vở mộng vì lấy phải người chồng nghèo khó hoặc bị môi giới lừa đảo, bị bốc lột sức lao động, bị lạm dụng tình dục, bị hành hạ đánh đập, thậm chí dẩn đến cái chết ở xứ người… »


Báo Tuổi Trẻ online ngày 22/2/2010 đưới nhan đề: Nhiều phụ nữ bị bán sang Trung cộng, kể rõ cả số thông kê của nhà cầm quyền:

«Trong nước có 255 địa bàn trọng điểm, 89 tuyến trọng điểm về buôn bán phụ nữ và trẻ em. Tình trạng buôn bán phụ nữ diễn ra trên đường bộ, đường thủy và đường hàng không, trong đó buôn bán phụ nữ sang Trung cộng chiếm khoảng 65%. Các nạn nhân thường bị bán với mục đích làm gái mãi dâm, lấy chồng hoặc bốc lột lao động… »


Trong bản Báo cáo Tệ nạn buôn người năm 2010 ở Việt Nam (Trafficking in persons Report 2010-Vietnam) do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thực hiện trong khuôn khổ của Cao Ủy tỵ nạn Liên Hiệp Quốc đã có những nhận định và chỉ trích nghiêm khắc đối với nhà cầm quyền VN về việc bảo vệ người lao động xuất khẩu và phụ nữ.

 
Hình các thiếu nữ Việt Nam ngồi chờ thi tuyển lấy chồng xứ Hàn

 
Sau đây là một trong những đoạn chính yếu:

«VN là một quốc gia có nhiều người đi làm việc ở nước ngoài do các công ty tuyển dụng trực thuộc nhà nước và tư nhân để gởi người đi làm việc ở Mã Lai, Đài Loan, Hàn Quốc, Trung cộng, Nhựt Bổn, Thái Lan, Indonésia, Anh, Serbie, Nga và Trung Đông. Các công ty xuất khẩu lao động đòi hỏi những lệ phí vượt quá qui định, nhiều khi dến 10,000 mỹ kim khiến công nhân mắc nợ cao nhất trong số các người Á châu đi lao động nước ngoài. Các công ty luờng gạt công nhân xuất khẩu bằng cách chỉ cho công nhân xem hợp đồng trước khi lên phi cơ hoặc cho công nhân ký tên trên các hợp đồng viết bằng ngoại ngữ mà công nhân không hiểu. Khi đến các quốc gia tuyển dụng, công nhân bị cưỡng bức làm việc với các điều kiện và lương bỗng không như hợp đồng, bị đánh đập hành hạ. Các phụ nữ đi lao động hay đi lấy chồng được đưa tới Trung cộng, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kông, Macao bị cưỡng bức lao động, hay mãi dâm hay cả hai. Các trẻ em bị bán cho các nhả thổ qua ngã biên giới Cambốt, Lào, Trung cộng … Mặc dù nhà cầm quyền thúc đẩy gia tăng xuất khẩu lao động để giải quyết nạn thất nghiệp, giảm nghèo, thu ngoại tệ, nhưng nhà cầm quyền không có biện pháp tích cực nào để trừng phạt những công ty xuất khẩu lao động và bảo vệ quyền lợi của người XKLĐ. nhà cầm quyền cũng công nhận có tệ nạn buôn bán phụ nữ và trẻ em nhưng không có biện pháp hình sự nghiêm khắc nào đối với các người phạm pháp các đường dây buôn người. Trong những nhận định trên, VN được xếp vào danh sách Theo dõi loại 2 (Watch 2).


Chú thích:

loại 1: tôn trọng các luật lệ;
loại 2: luật lệ lỏng lẻo,
loại 3: tuyệt đối không tôn trọng.

(dịch từ: Trafficking in persons report 2010 – Vietnam / US States Deparment ( http://www.unhcr.org).

Thay lời kết

Những tệ trạng xấu xa của VN trong nước và ngoài nước không sao nói hết. Trang giấy có hạn, chúng tôi phải dừng lại để nhờ đến lời nói của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt thay cho lời kết. Trong một buổi nói chuyện với Ủy Ban Nhân Dân Thành phố Hà Nội ngày 20 tháng 9 năm 2008, Đức Tổng Giám Mục đã phát biểu: «Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam, đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm, chúng tôi muốn đất nước mình mạnh lên. Làm sao như người Nhật cầm cái hộ chiếu là đi qua mọi nơi, không ai xem xét gì, người Hàn Quốc bây giờ cũng thế. Chúng tôi mong đất nước mình được thực sự tốt đẹp để đi đâu chúng ta cũng được nể trọng… ». Ước vọng của Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt cũng là ước vọng của 90 triệu người Việt trong nước và 3 triệu người Việt tỵ nạn, mong sao cho cái chế độ mafia đã đưa đất nước đến chỗ tụt hậu, nghèo khổ, xã hội vô đạo, vô cảm sớm cáo chung.

Lâm Văn Bé

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

 

 The

 

Links:

TinParis.net

You Tube Du Học Sinh

Advertisements

Cái Ghế Của Thợ Uốn Tóc – Nguyễn Văn Lục

Tiết Trực Tâm Hư

Bài Đọc Suy Gẫm:  Nhân Lễ Giỗ 50 năm Tưởng Niệm Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một đời vì nước vì dân được Người Việt Hải Ngoại tổ chức khắp nơi trên thế giới, blog Mười Sáu tuyển đăng bài “Cái Ghế Của Thợ Uốn Tóc” – câu chuyện tác giả Nguyễn Văn Lục mạn đàm với tác giả Vĩnh Phúc, nhân dịp cựu nhà báo BBC – Vĩnh Phúc cho tái bản cuốn: “Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Độ Ngô Đình Diệm”)Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

 

 

Lễ Nhậm Chức Tổng  Thống của Ông Diệm 1954

…..

Nguyễn Văn Lục (NVL): Nay thì xin đi vào chính nội dung cuốn sách của ông. So ra với lần xuất bản trước, 1998, lần này dày hơn đến 100 trang. Điều gì đã thêm vào như thế?

Vĩnh Phúc (VP):Thêm vào vì mình không hài lòng với lần xuất bản đầu tiên, thấy cần tìm kiếm thêm nhân chứng. Chẳng hạn tìm hiểu thêm con người của ông Ngô Đình Cẩn. Ông có cướp đoạt tài sản của người ta không, có cho bộ hạ khủng bố đối lập không? Những nhân chứng mới như Nguyễn Tường Bá, Nguyễn Tường Thiết, cháu và con trai Nhất Linh giúp soi sáng thêm về chủ tâm quyên sinh của ông Nhất Linh để phản đối chế độ? Ngoài ra còn những nhận xét, đánh giá quý báu của cụ Võ Như Nguyện, một nhân vật theo rất sát với ông Ngô Đình Khôi rồi ông Diệm. Cuộc phỏng vấn cụ Võ Như Nguyện quả thực hữu ích, vì nó củng cố thêm cho những điều tôi đã trình bày trong lần xuất bản đầu tiên.

Nhưng thích thú không kém là những lời của nhân chứng cựu đại úy tùy viên Lê Châu Lộc. Nhờ Lê Châu Lộc ta hiểu thêm “ con người “ Ngô Đình Diệm như thế nào trong những hoàn cảnh cay nghiệt của vai trò một tổng thống, thấu hiểu được những cá tính con người ông ấy và nhất là cái cõi riêng tư, những nỗi niềm trăn trở và cô đơn của ông ấy.

Nhà văn, nhà viết sử làm sao đạt được cái cõi riêng ấy để hiểu được một con người?

NVL: Tôi cũng nhìn ra được điều ấy, khi đọc những phần nhận xét của Lê Châu Lộc. Đó là những thứ tư liệu ròng mà không dễ có được. Đỗ Thọ cũng viết về ông Diệm, nhưng để tình cảm lấn lướt nhiều quá. Người đọc bị ngộp. Cảm thấy không tự nhiên.

Nhưng đâu là huyền thoại và sự thật về con người Ngô Đình Diệm?

VP: Theo tôi thì giá đọc được chính bài viết thì vẫn hơn là những điều tôi nói ra đây. Nhưng về cá nhân ông ấy, tôi nghĩ ông là người có đạo đức và về phương diện chính trị, ông là người có lòng với đất nước, với dân tộc, trước ông và sau ông, thật cũng khó có người sánh bì.

NVL: Ông có nghĩ rằng, những ý kiến của ông về ông Diệm sẽ có một số người phản đối, thậm chí coi ông Diệm là thứ độc tài ác ôn, gia đình trị, ba đời Gia tô bán nước, làm tay sai cho giặc?

VP: Chính vì còn có những người nghĩ như thế nên mới có vấn đề cần giải trừ những huyền thoại và những sự thật về con người ấy. Với lại không ai cấm họ nói viết ra như thế, với điều kiện họ đưa ra được bằng cớ khả tín Vâng, vấn đề là nói sao cũng được, miễn là có bằng cớ khả tín.

NVL: Nói chuyện bằng cớ, thưa ông, đã có lần ông chủ bút báo ĐT gửi cho tôi một bức hình gia đình ông Diệm và hỏi xem tôi nghĩ gì? Hình ảnh một già đình quan lại thuộc hàng Thượng thư triều đình ba đời làm tay sai cho Pháp mà như thế sao?

VP: Vâng, bức hình mà ông nói chính là bức hình thứ nhất ở trang 305 trong sách của tôi, do cựu trung úy Nguyễn Minh Bảo lấy đựơc trong phòng ông Diệm trong cuộc đảo chính 1/11/63. Theo tôi, bức hình nói lên tất cả. Trông rõ cái cảnh nghèo khó, thanh bạch của gia đình ông ấy. Ông Diệm, ông Thục đi chân đất, quần áo nhếch nhác lôi thôi như bất cứ một gia đình nông dân nghèo túng nào.

 

Nhưng ông nói thật hay nói đùa đấy? Lấy đâu ra ba đời làm tay sai cho Pháp, mà ông Diệm làm tay sai cho Pháp hồi nào?

NVL: Có thể là tại vì ông Diệm có lý tưởng và nhờ ông sống độc thân, không bị ràng buộc vào gia đình nên ông mới hết lòng với dân, với nước.

VP: Có thể lắm và chắc cũng không thể không nghĩ tới điều đó. Có vợ con thì nó khác.

NVL: Ông có nghĩ rằng khi đọc sách của ông, sẽ có người nghĩ rằng, ôi cha Vĩnh Phúc này là tên Bắc kỳ, công giáo di cư, Hố Nai?

VP: Cười, cứ để họ hiểu lầm. Người như ông Diệm còn không thiếu kẻ hiểu lầm, thì phần tôi có nghĩa lý gì.

NVL: Phần tôi, tôi đặc biệt chú trọng đoạn Lê Châu Lộc, tùy viên của ông Diệm kể buổi sáng hôm ấy ông Diệm phải tiếp kiến đô đốc Felt tại Đàlạt. Ông có nhận xét gì về buổi gặp gỡ lịch sử này?

VP: Ông tinh ý lắm, nêu dẫn đoạn ông Diệm gặp đô đốc Felt là điểm thắt nút mối bang giao hợp tác giữa chính phủ Mỹ và ông Diệm trong suốt 9 năm. Buổi sáng hôm ấy, ông Diệm nôn nóng khác thường, tức giận đạp đổ ghế vì sĩ quan tùy viên tới chậm. Cái tức giận tùy viên chỉ là cái cớ thôi. Cái chính là lá bài sắp lật ngửa. Và tôi nghĩ rằng: Ván bài lương tâm và trả giá giữa người Mỹ và ông Diệm nằm ở buổi tiêp kiến hôm đó trước khi ông Diệm bị thảm sát. Đó là bản chúc thư giã từ sau 9 năm cầm quyền, một lần chót nói lên cái quan điểm khác biệt giữa người Mỹ và ông Diệm. Những kẻ viết sử sau này thường bác bỏ luận cứ này để biện hộ cho việc lật đổ ông ấy.

Không có người Mỹ, cuộc đảo chánh đó không có cơ thành tựu.

VP: Vừa rồi, ông đang hỏi tôi về con người ông Diệm. Tôi chưa nói hết, thì đấy, con người ấy có thể khoan dung ngay cả đối với kẻ thù. Nhưng cũng con người đó có thể nóng như lửa, mặt đỏ gay, hầm hầm, giộng ba toong thình thình trên sàn máy bay vì thấy treo cờ Vatican, vứt hồ sơ vào mặt ông Nhu mà không cho tùy viên lượm lại. Nhưng chỉ trong chốc lát, ông tổng thống nguôi giận.

Nhưng ngược lại, ông lại tỏ ra rất bình tĩnh khi dinh độc lập bị ném bom. Lê Châu Lộc nhận thấy ông Diệm vẫn ngồi đọc sách một cách bình thản hỏi: “Cái chi đó ?” “ Dạ người ta bỏ bom mình”. “ Thế à, mà ai bỏ bom vậy? “

Theo Lê Châu Lộc, Làm tùy viên cho ông Diệm là khổ lắm. Theo ông đi kinh lý tối ngày, bất kể thì giờ, bất kể ngày đêm. Bằng máy bay, bằng trực thăng, bẵng xe, bằng xuồng, “ thăm dân cho biết sự tình”. Có lần phải kê ghế bố mà ngủ trong khi bên dưới lõng bõng nước. Những chuyến đi vất vả và nguy hiểm như thế cũng không làm ông Tổng Thống nản lòng, vì ông muốn đến tận nơi hẻo lánh nhất, hoàn cảnh khó khăn nhất để đem lại nguồn an ủi cho binh sĩ.

Thử hỏi sau này có anh lãnh đạo nào làm được như thế không?

 Hình Tổng Thống Ngô Đình Diệm ngủ ngon lành trên láng tre ọp ẹp trong 1 lần đi kinh lý.

NVL: Tôi cũng nghĩ như vậy. Có ông lãnh đạo nào bỏ ra vài lần thăm dân, thăm trường học trong suốt những năm về sau này? Chữ kinh lý, tôi nghĩ là chữ đặc quyền dùng cho ông Diệm. Sau này chữ đó không còn có trong tự điển nữa .. Vậy mà thời ông Diệm, ciné chỉ chiếu những chuyện gì đâu.

VP: Ông nhắc tôi mới nhớ. Tôi còn nhớ hồi đó, ciné hát xong bài chào cờ là hát bài suy tôn Ngô Thổng thống. Đáng nhẽ phải bỏ tù cái thằng cha nào đã nghĩ ra cái bài hát thối tha: Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng Thống. Bài đó giết ông Diệm từng ngày, từng giờ không cần gươm giáo đấy. Vứt bài hát đó vào cầu tiêu và chiếu lên hình ảnh ông Tổng Thống đi bốt, lội bùn, sắn quần lên tới đầu gối thì còn gì đẹp bằng nữa?[1]

NVL: Vâng, quả đúng như vậy.

VP: Nay thì đến lúc tôi hỏi ngược lại ông: Đọc lần tái bản này ông thấy thế nào ?

NVL: Phải nói bản cũ, tôi đọc nhiều lần, mỗi lần muốn viết điều gì về chế độ Ngô Đình Diệm. Tôi đều dở ra tham khảo. Nhưng chê trước đã. Thật ra, không phải chê mà ấm ức.

Thứ nhất, cuốn sách không có cái nhìn tổng thể lớp lang về chế độ ấy. Nó thiếu văn mạch của những chuỗi sự kiện nối tiếp nhau. Nó nêu ra đó rồi để cho độc giả tùy ý chọn lựa thái độ. Quả là có rộng lượng và tôn trọng độc giả. Sự kiện từng mảnh của chế độ ấy như chính ông nói với tôi, như đống gạch. Có viên lành lặn, viên vỡ. Rồi ông bày hàng ra, ông đẩy cái trách nhiệm đánh giá cho các nhà sử học, cho người đọc. Mà như chúng ta biết đấy. Nhà sử học nào đã làm được công việc ấy? Trong khi đó, đáng nhẽ là trách nhiệm của ông phải làm?

Thứ hai, về phương pháp làm việc, ông đã chọn cách viết chỉ dựa trên nhân chứng, một thứ Oral History, rất khả tín, thời thượng. Phải chăng, đó là lối làm việc theo thói quen từ BBC của ông? Nhưng lối viết nêu dẫn nhân chứng lại rất áp đảo, trấn áp người đọc. Chẳng hạn khi chính Lê Châu Lộc nói rằng, ông Diệm nghe tin phi công Phạm Phú Quốc ở trong tù bị bọn công an hành hạ đến nơi đến chốn. Ông Diệm không an tâm sai Lê Châu Lộc đến nhà giam xem thử. Lê Châu Lộc bắt Phạm Phú Quốc dơ tay cho xem có bị thương tích không. Không có. Chỉ nêu sự việc: Một người đã ném bom tính giết mình, đã không bị đưa ra tòa, không bị cho đi mò tôm là may, lại còn thăm hỏi. Chuỗi sự kiện đó dẫn đưa tới việc phải thừa nhận: Ông Diệm là người tốt. Không lạ gì, sau đó, Phạm Phú Quốc đã viết thư xin lỗi ông Diệm.

Tôi chỉ nói, lối viết đó có tác dụng thuyết phục, vì nó vượt lý luận, bịt miệng những ai muốn nói khác, muốn bôi nhọ.

Ở trên, tôi nói ấm ức, vì ông không xử dụng tài liệu. Ông cũng đã nêu ra những lý do khi ông cho rằng những hồi ký, những sách viết về chế độ ấy do các nhà văn, nhà chính trị, nhà báo viết bố láo, bố lếu, bóp méo lịch sử cho dù dùng tài liệu ngoại quốc viết cũng tào lao, rất là bôi bác. Nói chung là như thế.

Nhưng này, ông chê người ta viết bố láo, bố lếu. Vậy có thể nào ông cho biết đích danh một tác giả hay một cuốn sách viết bôi bảc?

VP: Cái này thì xin ông tha cho. Tôi chỉ nói được là nhiều lắm, tôi tránh nói ra. Độc giả đọc họ là biết rồi. Sau khi anh em ông Diệm bị giết, nhiều người đã viết quá sai sự thật chỉ nhằm mục đích câu độc giả. Sau 1975, cũng thế. Ngay cả những bầy tôi, sau này viết về chủ mình, cũng phản bội, viết bôi bác, nói trắng ra đen. Theo tôi, viết như thế không xứng đáng một người cầm bút.

Chính vì vậy, tôi chọn lựa không xử dụng tài liệu của bất cứ ai.

NVL: Chọn lựa như thế, đúng ra là chọn lựa tư cách là một nhà báo hay nhà sử?

VP: Nhà báo thì cung cấp thông tin, dữ kiện. Còn nhà sử cung cấp kiến thức. Nói như thế thì ông biết tôi là nhà gì rồi?

NVL: Cũng đúng, nhưng tôi xin bổ túc, Trần Trọng Kim kiến thức sử đâu có bao nhiêu, nhưng sự trung thực thì lồng lộng mà kẻ hậu bối chỉ biết cúi đầu khâm phục.

VP:Tôi cũng không nghĩ gì khác ông. Chúng ta cùng nói chung một thứ ngôn ngữ: Sự can đảm và lòng trung thực. Đó là những đức tính cần có của một người cầm bút.

NVL: Khi ông dùng chữ bày tôi viết về chủ mình thì gián tiếp người đọc như tôi cũng hiểu bầy tôi là ai rồi ?

VP: Ấy chớ, xin ông đừng diễn dịch xa quá.

NVL: Trong biến cố Phật giáo, mặc dầu ông đã cố gắng phỏng vấn một số người như cụ Quách Tòng Đức, TT Thích Tâm Châu và ngay cả ông Đặng Sỹ v.v.. Phần trả lời của TT Tâm Châu chưa đầy đủ lắm. Phải nói về vai trò của TT ấy như thế nào, vai trò của TT Trí Quang có tính cách quyết định về đường lối đâu tranh chống chính quyền? Nguyên đo đưa đến sự đổ vỡ đến tách ra thành hai khối Phật giáo ? Phần ông Đặng Sỹ thì tránh né trả lời. Chính tôi cũng liên lạc với ông được hai lần, nhưng ông cứ khất lần. Rất tiếc nay người nhà ông báo cho tôi biết ông mới qua đời. Thế là một dấu mốc lịch sử bị đứt quãng. Nhưng tôi vẫn thấy còn cần đào sâu thêm nữa để có thể khai thông một số vấn đề chưa sáng tỏ như vụ nổ đài phát thanh Huế v.v… Những người như đại úy Minh, văn phòng cố vấn chỉ đạo của ông Cẩn có thể đóng góp cho rõ thêm vai trò ông Cẩn và đặc biệt TT Trí Quang, sau 1975, ông rút vào bóng tối một cách khó hiểu như có điều gì không tiện nói. Im lặng ở đây là vàng. Ông cần lên tiếng và nên lên tiếng. Ông nghĩ thế nào về vấn đề này?

VP: Thật ra những người như ông Ngô Đình Nhu đáng nhẽ phải để lại những Mémoires thì đỡ cho chúng ta biết bao nhiêu. Hình như các người làm chính trị ở Việt Nam không có thói quen viết nhật ký. Tôi cũng nghĩ đến trường hợp TT Thích Trí Quang nhưng quá khó gặp. Cả TT Hộ Giác một khuôn mặt đấu tranh nổi bật thời đó hiện còn sống ở Mỹ, tôi cũng cố tìm cách tiếp xúc nhiều lần mà không đựơc. Tôi sẽ đặc biệt lưu tâm đến trường hợp này trong lần tái bản sau.

Tồng Thống Ngô Đình Diệm tiếp các tăng sư Phật Giáo tại Dinh Gia Long.

NVL: Tôi xin góp ý thêm về vấn đề tài liệu. Tôi được biết là TT Trí Quang có viết về biến cố Phật giáo 63, gần như không phổ biến. Cho dù có được phổ biến, với lối viết Oral History của ông, dĩ nhiên ông sẽ không xử dụng. Thật tiếc. Cũng vậy, tôi thấy có những tài liệu từ phía C.S như của cán bộ Cộng Sản Mười Hương chẳng hạn. Rất là hữu dụng, một cái nhìn từ phía bên kia, đưa ra một quan điểm đánh giá hoàn toàn trái ngược với phía VNCH. Mười Hương viết về thân phận những cán bộ nằm vùng bị chính quyền VNCH bắt, sau 1975 lại bị CS nghi ngờ không xử dụng. Mười Hương đã nhận xét về kẻ thù số 1, không đợi trời chung là ông Ngô Đình Cẩn như thế nào, trong đó đánh giá rất cao vai trò ông Cẩn trong việc tiễu trừ CS nằm vùng. Đọc Mười Hương để thấy rằng kể cả ông Diệm, ông Nhu cho đến người dân miền Nam, nhất là miền Trung đã đánh giá quá thấp con người Ngô Đình Cẩn.

 Luật Sư Võ Văn Quan thăm ông Ngô Đình Cẩn tại Khám Chí Hoà.

Một cán bộ Cộng Sản thứ gộc như Mười Hương đánh giá cao Ngô Đình Cẩn thì cũng là điều để chúng ta suy nghĩ chứ. Cũng như luật sư Quan rất khinh ghét ông Cẩn, nhưng lúc biện hộ cho Ngô Đình Cẩn, nhận ra con người ấy đáng nể, đáng kính, đáng thương và đã khóc khi nghe Ngô Đình Cẩn bị lên án Tử hình và đã viết hồi ký về vụ án này.

Hình bên: Bút tích của Ông Cẩn cám ơn LS. Quan.  Ông Cẩn không vô tích sự đến như thế, ông không ngu dốt đến như thế. Cách hành xử của ông có thể do lối dùng người không chính thống, không hành chánh, nhưng hiệu quả thì có. Miền Trung yên áng một phần nhờ ông Cẩn. Quét sạch bọn Cộng Sản nằm vùng do một tay ông.. Đối với Phật giáo, thử hỏi ai là người bao che ông Thích Trí Quang, ai tiến cử các TT Trí Quang, Thiện Minh gọi là “ đồng chí” Trí Quang, Thiện Minh như chính ông đã viết trong sách trang 76. Ai khuyến cáo các tướng vùng phải giúp đỡ các khuôn hội Phật Giáo, ai giúp đỡ tiền bạc sửa chữa Từ Đàm, ai đã ngăn chặn việc hạ cờ Phật giáo sau khi người dân Huế đã lỡ treo rồi mới có lệnh nhắc nhở từ Saigon ? Vâng ai?

Tôi phải nói rằng, Ngô Đình Cẩn nhạy bén chính trị, dù ít học đã làm chính trị theo bản năng. Chưa chắc gì ông đã thích Phật giáo, nhưng đã biết cách thức hành xử thế nào đối với cái nôi Phật giáo miền Trung mà công giáo chỉ vỏn vẹn có 4%.

Vậy mà con người ấy theo tôi đã bị đời khinh rẻ, bị oán hận, bị gán ghép nhiều thứ, bị chính những người mà mình hết lòng giúp đỡ hận oán nhất.

Tôi thì không. Khẳng định là không, vì hiểu một con người không hẳn là dễ.

Lịch sử còn đó để thấy điều tôi nói cần được suy nghĩ lại. Có thể chính ông cũng không đồng ý, bởi vì ông chỉ chú ý nhiều đến ông Diệm, ông Nhu, nhất là ông Tuyến.

Cười.

Dám ông cũng bất công lắm.

Nay thì phải nói một điều. Cuốn sách của ông viết, tất cả giá trị nó nằm trong tinh thần muốn tôn trọng sự thật. Thấy trắng nói trắng, thấy đen nói đen. Đọc là thấy. Nhiều lần trong lúc nói chuyện, ông cũng nhấn mạnh tới điều này và chỉ điều này thôi. Như trong lời mở đầu, ông tặng vợ con và không quên tặng những người yêu sự thật.

Hy vọng là tôi có trong số những người ấy.

Cùng cười.

NVL: Nay cuộc đàm đạo giữa tôi và ông có thể hướng vào nhân vật chính của cuốn sách: Con người ông Diệm với tất cả cái xấu, cái tốt, cái bất cập, cái sai trái khuyết điểm, cái bị vu oan, cái bị người đời oán ghét, nguyền rủa.

Theo ông, ông nghĩ gì về ông Diệm?

VP: Trước hết, mình không phải là người ở cạnh ông Diệm để có thể đưa ra những nhận xét trực tiếp về ông ấy. Nhưng qua những người đã từng sát cánh với ông Diệm thì phải nhìn nhận như sau:

Ông Diệm là một người đạo đức, sống như một nhà tu hành, không có tham vọng vật chất và thật sự có lòng yêu nước, thương dân. Ông tự tin vào lương tâm trong sáng của mình nên muốn bắt mọi người phải nghe theo. Cứ như Lê Châu Lộc, tùy viên của ông Diệm kể lại thì hằng ngày, ông xem lễ vào sáng sớm. Nếu không có lễ thì cầu nguyện. Ông quỳ gối giang hai tay ra, cầu nguyện. Sau đó, tắm rửa, thay đồ, rồi làm việc.

NVL: Thế thì đi tu cho rồi

VP: Xưa nay người ta chỉ làm được một việc nếu muốn giỏi. Không thể vừa đi tu vừa làm chính trị.. Được việc này thì hỏng việc kia. Làm chính trị, mà đạo đức như nhà tu, không biết lừa lọc tráo trở thủ đoạn nên mới bị phản và mất mạng. Nhưng cũng phải nói anh em ông Diệm có óc “ tỵ quyền”, nghĩa là bảo vệ quyền thế của mình.

Những Bùi Văn Thinh, Lê Quang Luật, Trần Văn Tuyên, Trần Văn Lý… đều không được dùng chỉ vì tỏ ra nổi quá. Năm 1996, ông Như Phong kể lại với tôi rằng, ông Lê Quang Luật đã đưa ra nhận xét:”anh em nhà ấy họ chỉ nghĩ tới họ trước “. Rồi nặng tình họ hàng quá. Thấy anh em làm bậy mà không dám ngăn cản vì quá nể nang. Ví dụ để cho ông Cẩn, bà Nhu lộng hành. Để ông Thục tổ chức lễ Ngân khánh linh đình, với ông Chủ tịch Quốc hội Trương Vĩnh Lễ làm chủ tịch ban tổ chức…

Riêng về buổi lễ tổ chức mừng Ngân khánh Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, tôi xin nói rõ thêm .

Có một chi tiết về ông Ngô Đình Nhu, xin nói ra đây. Thứ nhất, tôi được nghe kể lại từ một người bạn dạy đại học Huế cho biết rằng, theo cha Luận kể lại, khi được biết có việc tổ chức lễ Ngân khánh ông Ngô Đình Thục. Ông Nhu rất khó chịu và không dám nói thẳng ra, ông bèn kêu Linh Mục Cao Văn Luận, viện trưởng viện đại học Huế vào Sàigòn gấp. LM Luận vội vào và không biết có chuyện gì. Ông Nhu cho cha Luận hay nhờ cha Luận, nói với Đức cha hủy bỏ việc tổ chức lễ Ngân khánh, hoặc làm một cách khiêm tốn, nho nhỏ thôi. Dĩ nhiên chẳng ai nghe và bọn bầy tôi đã tổ chức rềnh rang buổi lễ ấy đến chướng mắt mọi người. Những kẻ nịnh thần chính là những kẻ giết chết gia đình họ Ngô. Ông Nhu là người chống giáo trị –anti –clérical– theo nghĩa đạo ra đạo, đời ra đời tách biệt nhau. Nhưng mình ông làm được gì?

NVL: Theo tôi thì chế độ Ngô Đình Diệm bị rất nhiều người thù hận. Sau cái chết của họ và cho đến bây giờ, qua sách vở, qua những hồi ký, qua những tiếp xúc với giới Phật tử.- Xin lỗi ông nhé – hình như sự oán hận đó vẫn còn. Theo ông, điều gì đã làm cho người ta oán hận đến như thế và về phần những người như ông Diệm, ông đối xử ra sao với Phật giáo? Có chính sách tiêu diệt người Phật giáo hay không? Có những sách vở tài liệu đưa ra con số 300 ngàn người bị tù đầy hoặc bị ám hại?

VP: Người nào đưa ra con số 300 ngàn người thì cứ đưa ra bằng cớ, nhưng người ở đâu mà lắm thế? Người nào còn nghi ngờ, xin làm ơn cho biết có bao nhiêu, mấy trăm, mấy ngàn? Có những trường hợp cấp dưới nó làm mà ông Tổng Thống, ông Nhu có thể không biết, xin cũng cứ nêu ra, cụ thể là những nhân vật đối lập như ông A hay ông B v.v…

Riêng tôi, với tư cách người cầm bút, tôn trọng sự thật, tôi biết có những người chủ tâm ám sát ông Diệm như cụ Hà Thúc Ký, phi công Phạm Phú Quốc và tên Cộng Sản Hà Minh Trí. Vậy mà họ được đối xử đàng hoàng. Ngay ở các nước dân chủ Tây Phương, tội ám sát người sẽ bị xử ra sao? Nhất là ám sát một Tổng thống?

Hà Minh Trí ám sát hụt ông Diệm ở Ban Mê Thuột, chỉ bị tù, sau 1975 được thả. Một mật vụ thời ấy cho tôi biết họ đề nghị đẩy tên Hà Minh Trí từ trên lầu xuống cho chết, rồi bảo là là tai nạn. Ông Nhu không cho, bảo cứ giam lại.

Cụ Hà Thúc Ký, nay ở bang Maryland. Chính tôi đã phỏng vấn cụ và cụ cười kể rằng:” Hồi xưa tôi định ám sát ông Diệm. Nhà tôi ở đường Công Lý, gần trường Quốc Anh, tôi chủ tâm đào một đường hầm ra đến đường Công Lý, cách khoảng 50 thước và chôn 20 kg chất nổ rồi chờ xe ông Diệm đi qua, sẽ giật mìn để ám sát ông Diệm”. Tôi hỏi rằng khi cụ bị bắt họ đối xử ra sao. Cụ trả lời :

– Lạ nhất là không bao giờ họ đánh đập.Tôi lúc nào cũng nghĩ rằng hễ bị ông Diệm bắt là bị giết liền chứ không thể sống được, vì tôi làm cho ổng mệt lắm.

Còn ông Phạm Phú Quốc thì theo lời tôi phỏng vấn ông Lê Châu Lộc, ông cho biết như sau. Một đêm Tổng Thống Diệm gọi Lê Châu Lộc hỏi:. “Anh có nghe cái đó không? (Nghe Quốc bị tra tấn dã man không)

– Dạ không

– Thấy báo cáo vậy. Xuống thăm nó nghe. Coi có vậy không, về cho tôi biết.

Lê Châu Lộc đi gặp Phạm Phú Quốc theo lệnh Tổng Thống:

– Tổng thống sai tôi tới, hỏi xem anh có bị hành hạ không .

– Không có.

– Anh dơ tay tôi coi, anh có bị rút móng tay không?

– Không, nhưng tôi có viết một lá thư, nhờ anh đem về được không?

– Tôi không có nhiệm vụ đó. Anh để mấy người điều tra họ lo chuyện đó.

Cũng theo Lê Châu Lộc, chính ông Võ Văn Hải là người đưa ông Nguyễn Chánh Thi ra máy bay để trốn sang Nam vang. Nếu không có lệnh của ông Diệm, liệu ông Hải có dám làm chuyện này không ?

NVL: Nhưng còn những trường hợp các ông Tạ Chí Diệp, Nguyễn Bảo Toàn, Hồ Hán Sơn, Vũ Tam Anh thì sao? Họ bị giết, bị thủ tiêu ?

VP: Phải nhìn nhận, đây là vết đen của chế độ Ngô Đình Diệm. Ông Hà Thúc Ký kể rằng đảng viên Đại việt bị tra tấn hay bị thủ tiêu. Nhưng cần lưu ý là những vụ này đều xảy ra vào cuối triều Ngô Đình Diệm, năm 1963, lúc mà ông Tuyến đã bị cho ra rìa và do đó đám mật vụ công an lộng hành dưới quyền Đại tá Nguyễn Văn Y, Tổng giám đốc Cảnh sát công an, và Nguyễn Văn Hay, Dương Văn Hiếu làm phó tổng giám đốc. Theo ông Cao Xuân Vỹ , ông có hỏi Đại tá Nguyễn Văn Hay khi ông này vào trình hồ sơ cho ông Diệm. Ông Diệm phê:”Thanh toán cho xong.” Tụi bộ hạ là Khưu Văn Hai và đàn em hiểu thanh toán là đem giết. Thế là Nguyễn Bảo Toàn và Tạ Chí Diệp bị giết oan. Còn Hồ Hán Sơn thì Trần Kim Tuyến cho là các phe của Cao Đài diệt nhau. Ông Cao Xuân Vỹ cũng có lần hỏi thẳng ông Ngô Đình Nhu về vụ Tạ Chí Diệp, ông Nhu bảo Accident.

NVL: Xin ngắt lời ông một chút. Tôi nhận thấy chế độ hành chánh thời ông Diệm quá tập trung về dinh Độc Lập. Chẳng hạn một chuyện treo cờ Phật giáo cũng phải trình TT, đáng nhẽ tỉnh trưởng phải lo chuyện này. Nhất nhất chuyện gì từ tướng vùng đến các bộ trưởng đều đợi lệnh TT. Ông Nhu trở thành thứ Thủ tướng bất đắc dĩ.

VP: Nhận xét của ông, nhiều người cũng nghĩ như thế.

NVL: Lại còn những tiếng đồn về lãnh chúa miền Trung với những vụ thủ tiêu người nữa .

VP: Cái này tôi chỉ có thể viết lại theo lời cụ Võ Như Nguyện thôi. Theo cụ Nguyện, ông Cẩn là người có máu tham lam, tham nhỏ thì rồi đến lúc tham lớn. Chẳng hạn như việc mua lại khách sạn Morin? Mua bằng gì ? Khách sạn này do ông Nguyễn Văn Yến làm chủ. Ông bị bắt giam đến nỗi chết trong tù Phần tôi — Vĩnh Phúc — tôi vẫn còn thắc mắc là có phải ông Yến chết là do mật vụ ông Cẩn đánh cho chết không? Rồi đến nhà thầu khoán Phương cũng bị chết. Tiền đâu mà ông Cẩn mua khách sạn Thuận Hóa? Chủ Hotel Embassy trong Sàigòn để tên Lê Văn Hiệp. Cái Hotel Maxim ở Paris cũng để tên Lê Văn Hiệp nhưng thực sự là của ông. Còn đất đai ngoài miền Trung thì để tên Lê Trọng Quát.

NVL: Trong vụ xử Phan Quang Đông ngày 26/3/64, tòa án cách mạng họp ở Huế đã xét xử Phan Quang Đông về các tội cố sát, bắt giam trái phép, sách thủ tiền bạc và lũng đoạn kinh tế. Các tội đó liên hệ đến 19 nạn nhân từ 26/10/55 – 1/11/63. Vào Năm 1963, gia đình ông Yến đã đệ đơn TT Diệm cứu xét. Ông Diệm giao cho ông Đỗ Mậu, cục trưởng an ninh quân đội. Ông này sợ liên lụy lại trao cho đại úy Phạm Bá Thích ở Huế. Cuộc điều tra kết quả ra sao thì không ai được biết. Nhưng chắc chắn đã đưa đến cái chết của Phan Quang Đông. Ở Sàigòn thì vào ngày 25/6/64, Dương Văn Hiếu Nguyễn Thiện Dzai và Nguyễn Tư Thái bị kết án khổ sai chung thân và Phan Khanh 10 năm khổ sai.

VP : Người ta bảo Phan Quang Đông phải chết, cũng như Đặng Sỹ phải lãnh án tù, vì các tướng đảo chính muốn làm vừa lòng một số nhà lãnh đạo Phật giáo quá khích.

 Các tướng lãnh dưới thời Tổng Thống Diệm, đa số là Phật Tử, chỉ có 2 người theo đạo Công Giáo là ông Huỳnh Văn Cao và Đề Đốc Hồ Tấn Quyền, như vậy TT. Diêm kỳ thị Phật Giáo ở chỗ nào?

NVL: Đây là câu hỏi mấu chốt, câu hỏi có thể còn gây tranh luận, là đầu mối cho việc lật đổ ông Diệm hay ít ra là cái cớ cho việc lật đổ ông: ông Diệm, ông Nhu có kỳ thị Phật giáo hay không?

VP: Câu hỏi coi vậy không khó để trả lời. Nếu tôi làm chính trị thì ngay cho dù tôi có đố kỵ với Phật giáo, tôi vẫn tỏ ra thân thiện với Phật giáo. Ông Diệm, ông Nhu đủ khôn ngoan để làm việc đó. Vấn đề là cấp dưới như tỉnh trưởng, quận trưởng làm bậy mà ông Tổng thống không thể kiểm soát hết được, theo như nhận xét của Hòa thượng Thích Tâm Châu. Nhưng, Ông Diệm không phải là loại người đóng kịch giỏi đến như thế?

NVL: Đóng kịch hay chắc phải dành cho ông Nguyễn Khánh, Trần Văn Đôn?

VP: Không, ông Hồ đóng hay hơn chứ. Khánh, Đôn sao bì được. Khánh phải gọi là diễu dở.

Theo lời kể của Lê Châu Lộc, chính TT Quảng Liên, Hiệu trưởng trường Bồ Đề gần chợ Cầu Muối đã được ông Diệm cho xuất ngoại du học, và chính ông Diệm đã tặng Đức Đạt Lai Lạt Ma 10 ngàn đô-la để giúp người tỵ nạn Tây Tạng.

Phần cụ Võ Như Nguyện, lúc còn làm Chủ tịch Uỷ ban Nội vụ Quốc Hội, đã đưa các TT Trí Thủ, Thiện Minh, Trí Quang vào gặp Tổng thống Diệm để xin đổi tên Hội Phật giáo Thừa Thiên thành Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Ngày hôm sau ông Diệm ký liền.

Còn chuyện này không kém quan trọng: Xưa nay, người ta thường bảo các ông Diệm Nhu ra lệnh tấn công chùa, gọi là kế hoạch “nước lũ”. Việc đem lực lượng cảnh sát tấn công chùa là một quyết định vụng về của chế độ. Đã đành có nhiều tướng lãnh mà đứng đầu là Tôn Thất Đính, đề nghị tấn công chùa. Nhưng trách nhiệm người lãnh đạo vẫn là ông Tổng Thống. Sự sáng suốt, sự khôn ngoan của người lãnh đạo để đâu? Hay cũng bảo rằng đằng sau chuyện này có bàn tay người Mỹ?

Tôi đã hỏi ba người, ở 3 tư thế khác nhau:

NVL: Xin cắt ngang ông một lần nữa về cách thức của ông khi chọn người để phỏng vấn. Sự chọn lựa có chủ đích của ông giúp nâng mức độ khả tín của cuốn sách. Ngoài ông Trần Kim Tuyến là điều cần thiết cho sự hình thành cuốn sách này không tránh được. Những tên tuổi khác đã không có mặt như Lâm Lễ Trinh, Đỗ Mậu là một sự không có mặt có ý nghĩa? Tuy nhiên, có một người mà tôi nghĩ rằng nên được phỏng vấn lắm. Đó là cụ Đoàn Thêm. Tôi biết chút ít về con người cụ Đoàn Thêm. Cụ là người làm việc bên cạnh ông Diệm, nhưng không ưa tính nết ông Diệm, nếu không nói là ghét và đố kỵ. Nhưng qua những ghi chép trong: Việc Từng Ngày, người ta thấy cụ nhận xét chi li, tỉ mỉ và khá là CÔNG BẰNG đối với ông Diệm. Thật sự không cần ca tụng hay nịnh ông Diệm như một số sách đã viết. Theo tôi, chỉ cần viết công bằng, viết trung thực cũng đủ rồi. Rất tiếc là nay cụ Đoàn Thêm cũng đã mất rồi.

VP: Cám ơn hảo ý của ông trong những nhận xét về các nhân vật được phỏng vấn, ông đã nói trúng ý tôi. Riêng cụ Đoàn Thêm tôi đã cố thử xin phỏng vấn nhưng khó lắm, vì cụ dè dặt. Nay rất tiếc cụ dã qua đời. Bây giờ xin trưng dẫn ý kiến của ba người đó.

Ông Cao Xuân Vỹ: “Việc tấn công chùa là do đề nghị của các tướng. Ông Nhu nói với tôi thế này: Phải giải quyết vụ Phật giáo cho xong, không thì anh em binh sĩ ngoài tiền tuyến không an tâm. Sau đó, tôi có hỏi các tướng, các ông chối hết. Nhưng mấy anh em ấy họp nói rằng, chính Tôn Thất Đính chủ trì phiên họp. Nhưng đứng ra hành động là Lực lượng đặc biệt và Cảnh sát.”

Ông Cao Xuân Vỹ cũng có mặt ở chùa Xá Lợi, lúc chùa bị tấn công. Chắc hẳn những điều ông nói là đúng.

Cụ Quách Tòng Đức: Có lẽ với vai trò của cụ là Đổng lý văn phòng phủ Tổng thống, cụ cũng có thể biết được tường tận vụ khủng hoảng Phật giáo. Nhà cụ lại ở ngay cạnh chùa Xá Lợi nên cũng thấy cuộc tấn công chùa. Đây là những câu tôi hỏi cụ: “Có đàn áp Phật giáo hay không?” “ Không có đàn áp Phật giáo. Chính phủ giúp xây chùa Xá Lợi và nhiều chùa khác. Ông Diệm vốn biết nhược điểm của mình là người Thiên Chúa, ông cố giữ quân bình. “ Ai ra lệnh tấn công chùa?” “ Lúc đó ra lệnh miệng thôi à. Tấn công chùa là Cảnh sát, không phải quân đội. Tôi ở ngay bên, các chùa cũng để loa rầm rộ lắm. Nghe họ hô những khẩu hiệu ghê lắm. Xem thường chính phủ lắm”. “ Có vài tướng đề nghị đánh chùa?” “ Chắc là các tướng như tướng Đính có ý kiến đánh vào các chùa. Tôi thấy khi có vụ Phật giáo rồi, cụ Diệm buồn. Tôi đoán thấy ông hơi chán nản. Phật giáo làm quá rồi, ổng không muốn làm việc nữa. Một số công việc tôi trình lên. Ổng nói đưa cho ông Nhu. Tôi không thấy ông Nhu có tham vọng thay ông Diệm. Không thấy gì “.

Hòa Thượng Tâm Châu: Theo Ông Cao Xuân Vỹ :” Ông Tâm Châu không biết gì cả, vừa là nạn nhân, vừa là anh hùng”.Tôi đã hỏi Hòa thượng Tâm Châu như sau:

– Theo Hòa Thượng, Tổng thống Diệm và ông Nhu có kỳ thị Phật giáo không?

– Thực ra đối với TT Diệm khi đó tôi có gặp thì biết, ngài là người nho học. Ngài có tinh thần dân chủ hơn. Còn vấn đề kỳ thị, thì tôi không dám nói có hay không có. Chắc chắn thì tôi nói thẳng thắn ở cấp trên thì đương nhiên hiểu biết rộng hơn cấp thừa hành dưới, hoặc là chẳng hạn bị ảnh hưởng của Tổng giám mục Ngô Đình Thục là người vẫn muốn làm sao tôn giáo mình phát triển, nên tìm phương thức.. Có thể người dưới làm những cái nó sinh ra chuyện không tốt. Tôi tin tưởng là cấp trên không đến nỗi nào.

– Hồi đó sự phát triển Phật giáo nói chung, mà điển hình là sự phát triển các chùa chiền, có gì trở ngại không?

– Thực ra không có gì trở ngại. Nó chỉ có vấn đề trong sự bình thường chỗ nào làm chùa mà xin phép thì được xét thôi. Chung chung không có gì cả.

– Không bị trở ngại?

– Chỗ nào thì tôi không biết chứ trong Sàigòn thì tôi không thấy.Tôi thực sự không thấy.

– Hôm cảnh sát tấn công chùa, Thầy đang ở đâu?

– Tôi đang ở chùa Xá Lợi. Tôi cũng bị bắt, bị giam, nhưng không biết là giam ở đâu. Giam cho đến ngày 2/11/1963 mới được về.

– Thầy có bị hành hung không?

– Đánh đập thì không có.

– Phong trào tranh đấu Phật giáo có bị ảnh hưởng của Cộng Sản không?

– Dạ không. Không có. Ở miền Trung thì tôi không biết, nhưng trong Nam thì tôi không thấy có vấn đề Cộng Sản. Về sau mới có chứ lúc ấy không có gì .

– Riêng thầy, Cộng sản có cho người liên lạc không?

– Tôi không bao giờ có, tôi chống Cộng từ Bắc.

– Thầy nghĩ sao về thầy Trí Quang? Người ta nói thầy Trí Quang thiên Cộng?

– Tôi không được gặp thầy Trí Quang nhiều. Ngài ở ngoài Trung. ChỈ nói thẳng thắn cái cao vọng của cụ ấy nặng hơn, chứ còn Cộng Sản thì không biết sao cả.

VP: Cần nói thêm là ngoài một số viên chức chính phủ làm bậy để lấy điểm, còn một số cha di cư lợi dụng tên tuổi ông Diệm để trục lợi.

NVL: Có thể ông cho biết một vài trường hợp cụ thể.

VP: Thì như ông Cha Khai, đi đâu cũng lấy danh nghĩa người của Tổng Thống . Ông Diệm đã gọi vào và từ đấy, ông không còn được héo lánh đến dinh Độc Lập như trước nữa.

NVL: Còn một người nữa không thể không nói đến. Bà Ngô Đình Nhu. Nếu Thượng Tọa Trí Quang có thể làm rung chuyển nước Mỹ thì Bà Nhu có thể làm lung lay chế độ? Ông đồng ý chứ?

VP: Đồng ý một nửa. Câu hỏi của ông có tính gài bẫy, trả lời cũng chết, không trả lời cũng chết

NVL: Tôi có cảm tưởng ông có vẻ ghét, khinh thường bà Nhu về những ngôn ngữ, cử chỉ xấc xược của bà ấy. Mặt khác, tôi lại có cảm tưởng ông biện hộ, bênh vực bà ấy. Chẳng hạn, trong sách ông cố tình chứng minh rằng bà ấy không kinh tài, không tham nhũng, hối lộ? Điều đó có mâu thuẫn không?

VP: Không có gì là mâu thuẫn cả. Ghét là một chuyện. Ghét tính nết, không ưa. Nhưng ông cho phép tôi dùng lại chữ của ông đã dùng, tôi phải CÔNG BẰNG với bà ấy. Theo tôi, bà là nạn nhân bị bôi nhọ một cách thô bỉ nhất thời ông Diệm.

NVL: Xin cho vài tỉ dụ cụ thể.

VP: Nó hạ cấp đến chả muốn nói ra đây như ghế khoái lạc, phòng bà Nhu bốn phía lắp gương, ngủ với ông Diệm, giữa thanh thiên bạch nhật ngồi trên lòng ông Diệm, ỏn ẻn bá vai bá cổ.

NVL: Tôi nghĩ rằng, đối với Hà nội khi họ bôi bẩn bà Nhu, nó không còn chỉ nhằm vào cá nhân bà Nhu và chế độ ấy nữa, nó vượt lên trên những bôi nhọ cá nhân. Nó trở thành chính sách, đường lối của nhà cầm quyền Hà nội bấy giờ nhằm bôi xấu miền Nam.

 Bà Ngô Đình Nhu trong một cuộc tập bắn súng.

Họ dùng những sách báo bôi bẩn chế độ miền Nam để tuyên truyền chống lại miền Nam. Miền Nam đã để sơ hở về điều này. Ở miền Nam thì Cộng Sản khuynh đảo, thổi phồng bịa đặt để gây rối loạn. Ở ngoài Bắc thì ngược lại bưng bít, ém nhẹm và xuyên tạc miền Nam.

Điều đó cho thấy Cộng Sản chỉ có thể tồn tại bằng sự che đậy, gian trá và lừa đảo.

Đồng thời, nó cảnh báo chúng ta phải cảnh giác một số những cây viết ngoài nước, một số diễn đàn điện tử đang tuyên truyền cổ võ làm tay sai cho Cộng Sản.

Tôi cũng xin được phép bạch hóa một vài tác giả mà ông vẫn muốn né tránh, không tiện hài tên họ ra. Đã đến cái thời điểm phải đưa tên họ ra rồi. Đó là những tác giả như ông Mặc Thu, Lê Trọng Văn ( cán bộ Cộng Sản ) Nguyễn Đắc Xuân ( cán bộ Cộng sản ) Hoàng Trọng Miên.

VP: Trước đây, tôi đã không thể nào mường tượng nổi ảnh hưởng tai hại của những cuốn sách do họ viết. Bởi vì, miền Nam có tự do viết, ngay cả bôi nhọ. Người đọc tự mình phải biết chọn lựa đọc và chọn thế đứng của mình.

Nhưng nay thì tôi đau xót nhìn nhận rằng, ảnh hưởng đó xâm nhập vào tim óc, lục phủ ngũ tạng của một số người một cách vô thức rồi. Chẳng hạn, sau biến cố 1/11/63, đợi đến năm 1964, chính quyền của mấy ông Tướng đã mang trưng bầy tại phòng Thông Tin Đô Thành một chiếc ghế được mênh danh là Ghế Khoái Lạc, biểu tượng sự sạ đọa của chính quyền Ngô Đình Diệm. Mà thực ra đó chỉ là cái ghế của thợ uốn tóc, có thể bấm cho lên xuống, ngả ra, xoay qua xoay lại, mà bà Nhu cho đem vào dinh Độc lập, vì bà không muốn ra ngoài làm tóc. Không biết khi bà Nhu ngồi trên ghế đó thì có cảm giác khoái lạc như có sóng trong bụng em không? Và cũng không biết rằng có ai đó, một phụ nữ, bất kể là ai đã ngồi thử để biết thực hư thế nào? Ghế khoái lạc thì có. Bà Nhu đã ngồi, đã khoái lạc. Chỉ rất tiếc sau đó đã không ai ngồi thử để minh chứng cho lời cáo buộc bà Nhu là sự thật?

NVL: Nhưng điều chắc chắn là nó thỏa mãn và đem lại sảng khoái cho hàng ngàn, hàng vạn người đọc cuốn sách Đệ Nhất phu nhân của Hoàng Trọng Miên mà trong thư viện VN chỗ tôi ở cũng bày ra vài cuốn.

Đến lượt ông Nguyễn Đắc Xuân viết một bài đăng trên Giao Điểm, theo ông Nguyễn Đắc Xuân, phái đoàn sinh viên của ông được các sĩ quan hướng dẫn cho biết, muốn vào phòng bà Nhu bắt buộc đi qua phòng ông Diệm. Ở đây ám chỉ sự thông đồng giữa bà Nhu và ông Diệm. Trong phòng bà Nhu thì chung quanh đều có lát gương bốn phía và được giải thích công dụng của chúng để làm gì? Một ám chỉ rất vô giáo dục?

VP:Tôi nghĩ, một cái dinh của một Tổng Thống không thể * lụi xụi *, phòng nọ sát phòng kia như cái tâm * lụi xụi * của Nguyễn Đắc Xuân được. Không biết dinh Gia Long thế nào, cho dù nó bằng nửa dinh Độc Lập đi, tôi xin mạn phép nói về sự bài trí trong dinh Độc Lập để độc giả tiện so sánh. Theo cụ Quách Tòng Đức, dinh Độc Lập có hai tầng, tầng dưới có hai phòng khánh tiết tráng lệ và có văn phòng cố vấn Ngô Đình Nhu, văn phòng Bộ trưởng phủ tổng thống, văn phòng đổng lý, văn phòng Tổng thơ ký phủ tổng thống và nhân viên. Tầng trên chia ra ba phần: phần giữa là hai phòng khánh tiết lớn, phía trái của hai phòng khánh tiết dành làm văn phòng và phòng ngủ của tổng thống, rồi phòng sĩ quan tùy viên. Phòng tổng thống Diệm trang trí sơ sài với cái giường nhỏ bằng gỗ, một bàn tròn và ba ghế da. Nơi đây, ông Diệm thường dùng cơm và tiếp bộ trưởng, tướng lãnh. Phía phải phòng khánh tiết là nơi cư ngụ của gia đình bà Nhu. Sự bài trí như thế có quy củ, có sự trang trọng đúng cái *protocole* của một dinh tổng thống. Có lẽ nào nó lùi xùi, lẹo tẹo, phòng bà Nhu dính sát phòng ông Diệm?

Phải khinh mình và khinh người đọc lắm mới dám viết như vậy.

Tôi nghĩ thêm rằng, trong đám sinh viên hơn hai chục người còn lại, rất có thể có những người khác đọc bài này sẽ không ngần ngại lên tiếng. Tôi hy vọng là như thế ? Có gì ghê gớm lắm đâu? Nếu quả thực bà Nhu là như thế thì bà chỉ là một thứ đàn bà dâm đãng? Trong thiên hạ, thiếu gì những người đàn bà như thế? Nếu có cũng chỉ là chuyện bình thường. Còn nếu quả thực bà không như thế thì những người còn có chút công tâm cần trả lại danh dự cho bà. Vả lại, một người không cần thông minh cũng có thể thấy rằng nếu là người dâm đãng thì bà Nhu phải tìm những người đàn ông khoẻ mạnh, đẹp trai, có vô số trong hàng sĩ quan hay công chức cao cấp. Cớ gì bà lại chọn ông anh chồng gần như một nhà tu, lùn tì, bụng phệ, buổi sáng chỉ thích ăn điểm tâm cháo trắng với cá kho?

NVL: Việc ông Nguyễn Đắc Xuân viết chỉ là chuyện nhỏ. Nhưng nó trở thành đại sự khi mới đây, tôi sửng sốt đến sợ hãi qua bài viết ngắn của ông Bùi Tín: Kết thúc cuộc đối thoại vô bổ, đăng trên Talawas, ra ngày 3/1/07 và lá thư của ông Nguyễn Trung Lương, cũng trên Talawas, đề ngày 10/1/97.

Chỉ trong vài dòng của ông Bùi Tín, tôi khám phá ra được sự tàn bạo, sự đê tiện, sự khốn nạn và bất hạnh cho những ai phải sống trong chế độ Cộng sản. Ông Bùi Tín viết như thế này:” Tôi đã tìm hiểu và suy nghĩ rất kỹ.. Không có chuyện ông Diệm tằng tịu với bà Lệ Xuân, ông Diệm không có vợ thật sự cũng không có con riêng, con hoang ..”

VP: Theo tôi, phải chăng kể từ cuối những năm 1950, ông Bùi Tín cũng như nhiều người khác ngoài Bắc đều tin là thật chuyện hủ hóa của bà Nhu với ông Diệm? Và ông Bùi Tín phải mất nhiều năm tháng, nhiều ám ảnh mới truy ra điều vu cáo ông Diệm là chuyện gian dối? Thì ra, trong suốt những năm tháng ấy, ông tin chuyện ông Diệm tằng tịu với bà em dâu là có thật?

NVL: Tôi tự hỏi đã có bao nhiêu người được như ông Bùi Tín, còn biết tra vấn, cất công tìm hiểu và sau đó có cái may mắn để truy tìm ra được sự thật? Trong khi đó, người trong Nam chỉ coi truyện đó như loại chuyện tiếu lâm tào lao xích đế?

Phải chăng người dân miền Bắc đã bị nhiễm độc, tuyên truyền đến nỗi có thể tin được một câu chuyện như thế?
VP: Tôi có đọc lá thư của ông Nguyễn Trung Lương gửi cho ông Bùi Tín. Ông Lương cho biết, vào cuối những năm 50, khi còn ngồi ghế nhà trường Hà nội, ông đã nghe và tin chắc thế: Ông Diệm ngủ với bà Nhu. Ông Lương còn cho biết thêm Hoài Thanh đã có lần tiết lộ bà Thụy An, dính líu đến Nhân Văn giai phẩm, thường ăn chơi với bọn trong Ủy Ban kiểm soát đình chiến như bọn Gia Nã Đại và bọn NVGP đã dùng Thụy An làm Mỹ nhân kế với những văn nghệ sĩ trẻ dại dột như Phùng Quán, Lê Đạt .. Hiện nay, ông Lê Đạt hay có mặt ở tòa báo Tia Sáng của Văn Thành chắc có thể lên tiếng cải chính? Câu chuyện về những hệ thống tuyên truyền rỉ tai, đầu độc dư luân, ngụy tạo, chụp mũ, bôi bẩn của chính quyền Cộng Sản còn tinh vi hơn thế nữa: đến cái độ mà người dân mất cảnh giác đến không phân biệt đâu là thật, đâu là giả nữa NVL: Nay đã đến lúc chúng ta phải tạm ngưng hai buổi trọn mạn đàm với ông. Tôi phải thú thực là trong suốt hai buổi mạn đàm đó, chúng ta có dịp trao đổi nhiều điều bổ ích. Còn quá nhiều chi tiết mặc dầu tôi đã thu vào băng, tôi cũng không tiện ghi hết ra đây. Có một số điều tôi đã ghi chú riêng về cảm tưởng của tôi về buổi mạn đàm này, tôi đã nói ở phần đầu xin khai triển thêm, xin được thưa với ông: – Thứ nhất, ông có một trí nhớ tuyệt vời. Trong hai ngày mạn đàm, tôi là người phần lớn ngồi nghe, ông là người nói. Ông đã nói liên miên trong suốt hai ngày làm việc, nói không ngưng nghỉ. Không một tờ giấy trước mặt. – Thứ hai, mặc dầu có cảm tưởng ông biện giải cho những sự thật về ông Diệm, tôi không tìm thấy nơi ông một chút xíu nào về một cảm tình quá độ, một partie-prise, ông vẫn gây cho tôi một cảm tưởng, biện hộ hẳn là có, nhưng vẫn thong dong thoải mái, vẫn có một thái độ khách quan chừng mực, trí thức và cẩn trọng. – Thứ ba, và đây có thể là điều quan trọng nhất, ông bằng mọi cách mọi giá tôn trọng sự thật như thái độ chọn lựa cân bằng các người được phỏng vấn. Chọn người được phỏng vấn ở nhiều góc độ khác nhau khiến cho sự kiện được nêu ra đạt được độ khả tín cao. Ông không có thói quen cường điệu hóa một sự việc, một biến cố, chủ quan cho rằng mình nắm được sự thật. Có những điều tôi đặt ra cho ông mà ông không nắm rõ, ông thẳng thắn thú nhận là điều này ông không biết rõ. – Thái độ lương thiện trí thức đó của một người cầm bút như ông với cuốn sách này: Cuốn Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Độ Ngô Đình Diệm sẽ giúp bạch hóa một số điều đã bị ngộ nhận theo tin đồn hoặc theo những luận điệu bôi bẩn, chụp mũ của một số người. Chẳng hạn hai ông Diệm Nhu không kỳ thị tôn giáo, không đàn áp, giết, hay giam cầm hằng vạn người đối lập. Ông Nhu không hút thuốc phiện. Ông Diệm không ăn cắp nghiên mực của vua Tự Đức theo lời tố cáo của Nguyễn Đắc Xuân, không giết Trịnh Minh Thế như lời tố cáo của Lê Trọng Văn. Nhất là ông Diệm không có chính sách đàn áp, giết hại người Phật Tử như biến cố Đài phát thanh. Và theo như lời nhận xét của ông Tuyến:” Mọi chuyện diễn ra như một định mệnh đã được an bài”. – Nói đúng ra, ông có lòng can đảm và sự trung thực. Cuốn sách của ông sau này sẽ là tài liệu tham khảo cho bất cứ ai muốn biết một số sự thật về chế Ngô Đình Diệm. Mong là cuốn sách sẽ được nhiều bạn đọc để biết sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm. Đặc biệt nhất là giới trẻ sau này.

Đồng bào thăm mộ Tổng Thống và các anh em của ông tại Việt Nam.
Xem toàn bộ bài này ở Link sau:
NgôThế Linh Tripot.com

 [1] Dưới thời Bộ trưởng thông tin Trần Chánh Thành, ông đã phát động sự hình thành Phong trào Cách Mạng Quốc Gia, đồng thời cho phổ biến bài hát trên trong các rạp ciné. Thoạt tiên là bài Quốc ca, tiếp đến là bài suy tôn Ngô tổng thống. Năm 1975, ông Thành tự tử bằng cách uống thuốc độc chết tại nhà. Trích Lâm Lễ Trinh, 9 năm bên cạnh TT Ngô Đình Diệm     Cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm   visited President Ngo Dinh Diem page.  Bài Thơ Nỗi Lòng – Chí Sĩ Ngô Ðình Diệm (Trần Việt Yên) Vấn Ðề NÐD được cử làm Thủ Tướng (HNT & TTNÐ) TT Ngô Ðình Diệm: Thử thách đầu tiên (HNT & TTNÐ) TT Ngô Ðình Diệm: Giai đoạn cực kỳ gây cấn (HNT & TTNÐ) TT Ngô Ðình Diệm: Tái thiết miền Nam (HNT & TTNÐ) Vòng Hoa Tưởng Nhớ (Trương Phú Thứ) Cái Chết của TT Ngô Ðình Diệm (Aladin Nguyen) Cuộc đảo chánh ám sát TT Ngô Ðình Diệm (Aladin Nguyen) Phỏng vấn hai cựu tướng Khiêm và Xuân Bài học từ một sự tuẫn tiết (TS Lâm Lễ Trinh) Bốn mươi năm ngậm ngùi (Trương Phu’ Thứ) Cầu nguyện với Cố TT Ngô Ðình Diệm (Phan Thiết) Về những đàn anh lớn (Nguyễn Tường Phong) Phản Tướng – Bọn ác ôn côn đồ (Tú Gàn) Những bí mật được tiết lộ sau 40 năm (Tú Gàn) Những Giờ Ðịnh Mệnh (Tú Gàn – Sài Gòn Nhỏ) Bốn mươi năm sau tỉnh hay mê (BS Nguyễn Tiến Cảnh ) CS nghĩ sao về Cố TT Ngô Ðình Diệm? (BS Tôn Thất Thiện) Nghĩa Biển Tình Sông – (Hoài cảm của Trần khắc Kính)     Sign Memorial guestbook   View President Ngo Dinh Diem guestbook        Việt Nam Cộng Hòa Muôn Năm   View and sign Guestbook   Xin vui lòng lưu bút tưởng niệm đến các vị Anh Hùng của QLVNCH  và các đồng bào nạn nhân đã bị cộng sản sát hại tại Huế. Please visit and sign our guestbook to honor the ARVN Heoes and to remember the thousands of civilians murdered in Hue City in 1968.   since Memorial Day 1999   Memorial homepage Sitemap Liberation – Giải Phóng   Tưởng Niệm CHT Sở Bắc Tiễn biệt Cố Đại Tá Ngô Thế Linh Biệt Hải – Sở Phòng Vệ Duyên Hải Nha Kỹ Thuật QLVNCH Lịch Sử Nha Kỹ Thuật Hoạt động của BK Sở Bắc tại Bắc Việt Paradise island (Cù Lao Chàm) Hoài cảm của T.70 Trường Võ Khoa Thủ Đức Oan hồn trên xứ Huế – Mậu Thân 1968 Tổng Thống Ngô Ðình Diệm Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu Tưởng niệm Cụ Trần Văn Hương  Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam Thiếu Tướng Phạm Văn Phú  Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng Chiến Dịch Vinh Danh Lá Cờ Vàng Thuyền Nhân Tỵ Nạn Cộng Sản 50 Năm Tội Ác Cộng Sản (html) A life for Freedom and Democracy TAPS – Colonel Ngô Thế Linh Sea Commandos – Coastal Security Strategic Technical Directorate History of Strategic Technical Directorate Paradise island (Cù Lao Chàm) Sacred Sword of the Patriots League Presidential Unit Citation for SOG An ARVN Hero by T.70 Thu Duc ARVN Military Officer Academy Viet Cong “Strategy of Terror” President Ngo Dinh Diem (54-63) President Nguyen Van Thieu (67-75) VN Coastal Raiders part 1, part 2, part3 The Lost Commandos (MACV-SOG) MACV-SOG Commandos (RT Idaho) Campaign for the Vietnamese Yellow Flag Boat People tragedy 50 Years of VN Communist Crimes Please bookmark this page, more pictures and articles will be added later. Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

 

 The

 

Links:

 

NgôThế Linh Tripot.com