Cải lương ở VN đã Chết! – Nguyễn Phương

Soạn giả Nguyễn Phương

Bài đọc suy gẫm: Người cộng sản với chủ nghĩa Mac, Lê tài thiệt, những giá trị văn hóa quan trọng do tổ tiên ông cha ta trong thời cận đại, mới đây sáng lập ra nơi mặt nghệ thuật, ngoài giải trí, còn nhằm giúp cho phần đạo đức lẫn thăng hoa con người Việt Nam dần dần bị họ âm thầm tiêu diệt. Chúng ta sẽ thấy tiếc lắm vì nền Cải lương là 1 sáng tạo của người Việt miền nam, là đóng góp độc đáo cho nền ca kịch nước nhà, không phải chỉ ngày 1 ngày 2 mà có… Mời độc giả tham khảo qua biên soạn chi tiết của bác soạn giả Nguyễn Phương.

Sân khấu cải lương ở VN hiện nay ra sao?

Đoàn Kim Chung hát tết ở rạp Olympic

Các bạn nghệ sĩ cải lương ở Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Canada và vài bạn cải lương đàn em, đàn cháu ở VN điện thoại hoặc gởi email cho tôi thường nói: “Sân khấu cải lương ở Việt Nam đã chết. Bây giờ không còn đoàn hát cải lương hát đông khán giả như trước năm 1975. Báo Sân Khấu thành phố cho là vì thiếu đoàn kết mà nhiều năm qua, sàn diễn cải lương theo mô hình xã hội hóa không sống được. Bác nghĩ sao?”.

Ông NSND Trần Ngọc Giàu, Giám đốc Nhà Hát Trần Hữu Trang kiêm Hội Trưởng Hội Sân Khấu thành phố viết trên trang Web Cailuong: “Nỗi lo lớn của sân khấu truyền thống: Hiếm hoi sàn diễn dành cho sân khấu truyền thống, lác đác chương trình nghệ thuật sáng đèn, lớp kỳ cựu của làng sân khấu cải lương, hát bội ngày một thưa dần, thế hệ nối tiếp nghề tuy có song chưa thể là đội ngũ kế thừa đủ thực lực và tâm huyết… Đó là nỗi lo quá lớn của sân khấu truyền thống tại TPHCM”.

Trước khi nói chuyện sân khấu cải lương chết, tôi xin đề cập qua các danh từ của ông Trần Ngọc Giàu dùng để hiểu rõ tình hình sân khấu cải lương ở VN.

Cộng sản thường dùng danh từ mơ hồ, tránh né sự thật khi nói đến những việc họ làm có hại cho dân. Vì dụ họ nói cán bộ có hành động “tiêu cực” là nói cán bộ cộng sản “tham nhũng” cướp tài sản đất ruộng của dân, ức hiếp dân, ăn hối lộ, hành động “hủ hóa” là họ ăn chơi, sa đọa, lấy vợ bé là những cô người mẫu, cán bộ làm chủ những sòng bạc lớn, chủ các phòng tắm hơi sang trọng hợp thức hóa hoạt động của đĩ điếm, họ bàn chuyện ăn nhậu vui chơi để dân không nghĩ đến việc CS bán nước cho Trung Cộng… Dân nói đến thảm họa của sự đô hộ và diệt chủng của Tàu đối với VN, nói đến Hoàng Sa và Trường Sa là của VN thì bị Công An CS bắt, đánh đập, tù đày và ghép cho dân tội vi phạm điều luật 88 của Hiến Pháp …v..v..

Nói “sàn diễn” là rạp hát. “Sàn diễn thay đổi công năng” là rạp hát thay vì để cho các đoàn cải lương hát biến thành restaurant, tiệm bán sách, bán bánh Trung thu… “Sàn diễn cải lương theo mô hình xã hội hóa” là gánh hát của tư nhân.

Ông Trần Ngọc Giàu nói: Hiện nay hiếm có rạp hát dành cho Cải Lương và Hát Bội!

Xin nhắc cho ông Trần Ngọc Giàu nhớ: sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 tức cái ngày Miền Bắc đã xâm chiếm Miền Nam dưới danh từ ngụy tạo là “giải phóng”, Saigon Chợ Lớn và Gia Định có 39 rạp hát dành cho các đoàn hát Cải Lương và Hát Bội, phân chia ra ở mỗi quận vài ba rạp để cho dân ở trong các quận đó tiện đường đi đến rạp xem hát.

Quận Nhứt và quận Nhì có các rạp: 1/Nhà hát thành phố (Quốc Hội cũ) 2/Rạp Norodom sau đổi tên Rạp Thống Nhất) 3/Rạp Nguyễn Văn Hảo, 4/Rạp Thành Xương, 5/Rạp Hưng Đạo, 6/Rạp Aristo, 7/Rạp Long Phụng (đường Gia Long), 8/Rạp Kinh Thành (Cầu Ông Lãnh), 9/Đình Cầu Quan (Hát Hồ Quảng) 10/Rạp Quốc Thanh, 11/Rạp Thanh Bình, 12/Rạp Quốc Tế, 13/Rạp đình Nhơn Hòa (Cầu Muối)

Quận 3: 14/Rạp Đại Đồng, 15/Rạp Long Vân, 16/Rạp Olympic; 17/Rạp Minh Châu, 18/Rạp Hòa Bình, 19/đình Hòa Hưng (Hát bội);

Quận 4: 20/Đình Lý Nhơn (Hát Bội),

Quận 5: 21/Đình Tân Kiểng(Cải lương – Hát bội ), 22/Rạp Oscar, 23/Rạp Kinh Thành Q.5 (gần chợ Kim Biên), 24/Rạp Thủ Đô, 25/Rạp Đại Quang (Hát Quảng, đường Tổng Đốc Phương) 26/Rạp Hào Huê đường Nguyễn Tri Phương, 27/Rạp Lao Động B, 28/Rạp Cẩm Vân; 29/đình Minh Phụng (Cải lương-Hát bội) , 30/đình Xóm Củi (Cải lương-Hát bội ), 31/đình Bình Tiên (chợ Cây Gõ) (Hát bội ) 32/Rạp Cây Gõ (đường Cây Gõ) (Cải lương)

Dakao: 33/đình Phú Hòa (Hát bội), 34/Rạp Đại Đồng(Dakao), 35/Rạp Cao Đồng Hưng, 36/Chùa Dọn Bàn (Hát bội), 37/Chùa Phú Nhuận (Hát bội), 38/Rạp Cẩm Vân (sau đổi tên Rạp Phú Nhuận) 39/Rạp Kinh Đô Dakao (Cải lương);

Ở mỗi tỉnh có một hay hai rạp hát dành cho Cải Lương và Hát Bội: tỉnh Mỹ tho có rạp hát Thầy Năm Tú và rạp Viễn Trường; Bến Tre có rạp Lạc Thành; CầnThơ có rạp Minh Châu, rạp Hậu Giang; Bạc Liêu có rạp Chung Bá, Sóc Trăng có rạp Nguyễn Văn Kiểng, rạp Hòa An; Long Xuyên có rạp Minh Hiển, Biên Hòa có rạp Biên Hùng; Phan Thiết có rạp Thất Ngàn; Nha Trang có rạp Tân Quang; Huế có rạp Thuận Hóa; Quy Nhơn có rạp Qui Nhơn; Đà Nẵng có rạp Hai Bà Trưng. Đây là những rạp hát lớn, ngoài ra còn nhiều rạp hát ở các quận, huyện, tôi không nhớ hết dù đã có nhiều lần tôi theo đoàn Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Phước Chung đến hát ở đó.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chánh phủ mới tịch thu tất cả các rạp hát của tư nhân, đưa cán bộ đảng viên xuống làm Trưởng rạp, chỉ trong vòng 5 năm, chỉ còn rạp Hưng Đạo là còn cho các đoàn Văn Công, đoàn hát Trần Hữu Trang và các đoàn hát Ttập thể sử dụng. Các rạp hát khác đóng cửa bỏ phế cho chuột bọ ở, một số rạp hát được Sở VHTT thay đổi “Công Năng” nghĩa là rạp hát không phải để cho đoàn hát hát mà biến thành restaurant để làm tiệc cưới hoặc tiệc tùng của các chức sắc của Đảng bộ thành phố hay các đại gia tư bản đỏ (Rạp Quốc Thanh). Rạp Lao Động A ở Nancy thành casino cờ bạc, chơi số quây roulette; Rạp Cao Đồng Hưng Gia Định thành Nhà bán sách Gia Định, rạp Cây Gõ thành Nhà bán sách Cây Gõ, Rạp Quốc Thái (Phú Lâm) thành tiệm bán bánh Trung Thu, Rạp Nguyễn Văn Hảo trở thành Nhà Hát Kịch Nhân Dân (dành cho Thoại Kịch và Tấu Hài)

Rạp Hát Hưng Đạo bị phá bỏ năm 2010 để xây thành rạp hát mới dưới danh nghĩa làm cho to lớn hơn, hoành tráng hơn, hiện đại hơn cái rạp Hưng Đạo cũ của ông chủ tư bản Nguyễn Thành Niệm. Ngày 18 tháng 4 năm 2015, hoàng thành việc xây cất rạp Hưng Đạo mới trên cái nền rạp Hưng Đạo cũ, khi bàn giao cho Nhà hát Trần Hữu Trang quản lý rạp mới thì Nhà hát Trần Hữu Trang không thu nhận vì rạp mới cất tốn kém tới hơn 132 tỉ đồng mà kết quả rạp mới lại nhỏ hơn rạp cũ, sân khấu làm bằng ciment không thuận tiện và nguy hiểm cho nghệ sĩ khi hát cải lương. Dàn đèn, dàn âm thanh mua mắc tiền nhưng không phù hạp với sân khấu hát Cải lương. Ghế khán giả chỉ có hơn sáu trăm, ít hơn phân nửa so với rạp cũ, đoàn hát nào mướn rạp mới đó hát, số thu không đủ tiền để trả tiền rạp, tiền dàn dựng, tranh cảnh, tiền lương nghệ sĩ. Nhà thầu phải sửa lại sân khấu, chỗ để đèn, âm thanh và bàn giao vào năm 2017, nhưng rồi rạp hát vẫn không có đoàn nào dám mướn vì hát ở đó, nhứt định thua lỗ vốn cả bạc tỉ đồng trong vài suất diễn. Tịch thu rạp hát, phá nát rạp hát, thay đổi công năng của rạp hát là chủ trương và hành động của Đảng, vậy mà ông Giám đốc Nhà Hát Trần Hữu Trang, đảng viên CS, chuyên viên của nhà nước lại kêu gào là thành phố hơn 9 triệu dân mà không có rạp hát cho đoàn cải lương của chánh phủ diễn!

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chánh phủ CS giải tán hơn 60 đoàn hát Cải lương và các tổ chức Đại Nhạc Hội ở Saigon, ở Tiền Giang, Hậu Giang và các tỉnh miền Trung.

Giải tán 17 gánh Hát bội: gánh Tấn Thành Ban của ông bầu Trần Khiêm Cung ở đình Cầu Muối, gánh Vĩnh Xuân Ban của bầu Thắng – Minh Tơ ở đình Cầu Quan, gánh Phước Thành Ban của ông Bầu Xá ở đình Bến Củi, gánh Tấn Thành Ban B của bà Bầu đào Tư Châu ở đình Minh Phụng, gánh hát bội Bầu Xáng ở Chùa Dọn Bàn Tân Định, gánh Vĩnh Tân Ban của Bầu Hai Nhỏ ở Chùa Ông Phú Nhuận, gánh Nghĩa Thành Ban của Bầu Biện Dực ở đình Hòa Hưng, gánh Hoa Xuân Bầu Mười Vàng ở đình Phú Hòa Dakao, gánh hát bội Bình Tiên của Bầu Tư Bông ở đình Bình Tiên Cây Gõ, Gánh hát bội Bầu Bà Năm Lượm ở đình Thủ Đức, gánh hát Bội Thắng Tam của Bầu Hai Điểm Vũng Tàu, gánh Hàm Luông của Bầu Ngọc Ẩn – Bến Tre, Gánh hát bội của Bầu Ba Kiên – Mỹ Tho, gánh hát bội ở Miễu Kim Liên của bầu Bảy Tồn Chợ Cũ – Mỹ Tho, gánh hát bội Quy Nhơn – Bình Định… Giải tán 7 ban thoại kịch (Ban kịch Thẩm Thúy Hằng, Ban kịch Túy Hồng, Ban kịch Kim Cương, Ban kịch Phương Nam, Ban kịch Vũ Đức Duy, Ban kịch Tân Dân Nam, Ban Thép Súng).

Thành lập ra đoàn Văn Công thành phố, 3 đoàn Văn Công tên Nhà hát Trần Hữu Trang 1, 2 , 3, ba đoàn cải lương tập thể Saigon 1, 2 , 3, hai đoàn cải lương tuồng cổ Minh Tơ, Huỳnh Long… Mỗi tỉnh thành lập một đoàn Văn Công. Tất cả các đoàn Văn Công, đoàn cải lương tập thể đều do cán bộ đảng viên của Sở Văn Hóa & Thông Tin làm trưởng đoàn.

Từ năm 1975 đến năm 1986 (năm đánh dấu lệnh Cởi Trói Văn Nghệ Sĩ của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh) các đoàn hát văn công và tập thể của nhà nước hát những tuồng cải lương xã hội trước năm 1975 dưới danh nghĩa “Chữa Cháy” trong khi chờ kịch bản mới và một số kịch của miền Bắc đưa vô ép các soạn giả miền Nam chuyển thể thành Cải Lương như các tuồng Tấm Lòng của Biển, Con Tấm con Cám, Khoai Lang Dương Ngọc, Bên Cầu Dệt Lụa.

Kịch miền Bắc do soạn giả Saigon chuyển thể Cải Lương: Một Cuộc Giải Phẫu, Quán Hương Tràm, Người Ven Đô, Nghêu Sò Ốc Hến, Hùm Thiêng Yên Thế, Đường Về Núi Lam, Tiếng Trống Mê Linh, Thái Hậu Dương Vân Nga, Thanh Gươm và Nữ Tướng, Lá Chắn Biên Thùy…

Sau 30 tháng 4 năm 1975, trên 60 soạn giả cải lương nổi danh của Miên Nam, cuộc sống đang khá giả nhờ số tiền bản quyền tuồng cải lương và được hưởng lương thường trực của đoàn hát cấp cho hàng tháng, bỗng bị lịnh cấm hành nghề 10 năm do Chánh phủ “Giải Phóng” ban hành. Ngày “Giải Phóng” là ngày 60 soạn giả cải lương bị giải phóng khỏi cái nghề sinh sống của mình, bị thất nghiệp và mất hết mọi nguồn thu!

Đây là những soạn giả bị cướp miếng cơm manh áo sau cái tháng tư đen: Năm Châu, Tư Chơi, Năm Nở, Giáo Út, Duy Lân, Bảy Cao, Trần Văn May, Tư Thới, Thanh Cao, Quang Phục, Vinh Sang, Lâm Tồn, Hà Triều, Hoa Phượng, Thiếu Linh, Thành Phát, Lê Khanh, Mộc Linh, Nguyễn Phương, Hà Huy Hà, Hoàng Khâm, Viễn Châu, Ngọc Huyền Lan – Nguyễn Ang Ca, Hoài Ngọc, Yên Lang, Yên Hà, Yên Trang, Yến Linh, Bầu Long (Ngọc Huyền Quân), Ngọc Văn, Thể Hà Vân, Hoàng Việt, Loan Thảo, Yên Ba, Phan Hương, Ngọc Điệp, Bạch Diệp, Minh Nguyên, Hoàng Lan, Nguyễn Đạt, Nguyễn Huỳnh, Mai Quân, Phương Ngọc, Nhị Kiều, Tám Vân, Văn Giai, Yên Sơn, Thu An, Lê Trí, Tuấn Khanh, Tấn An, Thái Thụy Phong, Quy Sắc, Vân An, Thế Châu, Trương Vũ, Nguyễn Liêu, Phong Anh, Hoài Linh, Hoàng Kinh…

Từ tháng 4 /1975 đến năm 1986, tên của 60 soạn giả kể trên không có xuất hiện trên Báo Sân Khấu và trên các tuồng cải lương ở rạp hát. Sau khi được cởi trói, các soạn giả đó hoặc già quá, mất sức khỏe hoặc chết, số còn lại cũng không thể sáng tác khi không có tự do tư tưởng, khi phải sáng tác tuồng theo “định hướng chánh trị của đảng Cộng Sản”.

Hơn bốn mươi năm cai trị miền Nam, Cộng Sản miền Bắc vẫn không “cải tạo” được đầu óc tự do tư tưởng của soạn giả miền Nam nên họ tiêu diệt hết số soạn giả đó. Đảng không đào tạo được những tay bồi bút cho ra hồn nên ông Cán bộ Giám Đốc Nhà Hát Trần Hữu Trang mới than không có soạn giả, không có tuồng hay, sân khấu cải lương chết là phải!

Đoàn hát Xã Hội Hóa là đoàn hát tư nhân bỏ tiền ra kinh doanh. Họ tùy theo vở tuồng nào thì mời nghệ sĩ nào từng diễn vở tuồng đó, kết hợp lại dưới bảng hiệu đoàn cải lương “xã hội hóa” để xin phép hát, mướn rạp và đăng quảng cáo. Khi hát xong vở tuồng đó, nếu có tuồng khác (những tuồng nổi tiếng của các soạn giả trước năm 1975) số diễn viên hát vở trước nếu phù hợp cho vở diễn sau thì tiếp tục ở lại cộng tác với nhau để diễn. Nghệ sĩ nào không có vai hát phù hợp thì đi kiếm đoàn xã hội hóa khác để cộng tác. Không giống như các đoàn hát trước năm 1975, dù không có vai tuồng, vẫn được lãnh lương của Bầu gánh khi nghệ sĩ đó chưa hết contrat với đoàn hát. Vì tính chất gán ghép tạm bợ theo từng vở tuồng nên nghệ sĩ không mất công nhiều để tập tuồng và học tuồng, họ cũng không gắng bó với đoàn xã hội hóa. Nếu có đoàn xã hội hóa nào mời với số lương cao hơn, họ vẫn bỏ đoàn đang cộng tác để chạy theo đoàn có lợi nhuận nhiều hơn. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho nghệ thuật ca hát các đoàn xã hội hóa không được bình ổn và tăng tiến như các đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lý Hương hay Kim Chưởng, Kim Chung ngày trước. Các đạo diễn miền Bắc và đao diễn được đào tạo sau 1975 tùy tiện theo sở thích của mình hoặc do sự hiểu biết hạn chế về nghệ thuật hát cải lương nên họ đã làm cho sân khấu cải lương trở thành một nghệ thuật “Tả pí lù!”:

– Họ dựng những cảnh xuất quân với các nghệ sĩ Cưỡi ngựa theo lối hát bội với cây roi ngựa và lối cưỡi ngựa của đoàn Văn Công khi ca bài “Ngựa phi đường xa”, tay giả gò cương, tay vun roi ngựa quất phía sau, hai chân mở rộng, mình nhúng nhảy như đang ngồi trên lưng ngựa (tuồng Chiếc Áo Thiên Nga, tuồng Kiều ở lớp Từ Hải ra quân đánh với Hồ Tôn Hiến, lớp ra quân trong tuồng Câu Thơ Yên Ngựa…)

– Vọng cổ có xen vô hát Chầu Văn, Hát Chèo.

– Vọng cổ hòa duyên cùng ca Opéra. (Mỵ Châu ca một câu vọng cổ, một nữ nghệ sĩ khác hoá trang làm hồn của Mỵ Châu ca Opéra để diễn tả nội tâm của Mỵ Châu,)

– Dàn nhạc Giao hưởng hòa tấu cùng Ban Cổ nhạc.

– Ca vọng cổ có hợp xướng. Ca Vọng cổ có dàn múa múa chạy quanh mình ca sĩ chánh.

– Hát Cải lương hoành tráng, sân khấu rộng 900 thước vuông nên nghệ sĩ và phụ diễn phải thật đông, bao quanh múa bên cạnh nghệ sĩ chính. Trong tuồng Kim Vân Kiều có 40 ni cô tụng kinh trong lớp Kiều tự vận ở sông Tiền đường. – Nội dung đa só tuồng cải lương do cán bộ sáng tác đa số nhắm vào cuộc tình ngang trái do giàu nghèo cách biệt, nông dân bị địa chủ, hội đồng thời Pháp thuộc bóc lột (Đánh Địa chủ, Phong Kiến)

– Những chuyện cán bộ tham nhũng, ức hiếp dân, cướp ruộng đất của nông dân, những tội ác của Tàu Cộng, đầu độc thức ăn, mua bán nội tạng những người dân bị lường gạt, chưa có soạn giả nào dám sáng tác,

TPHCM rộng lớn với hơn 90 triệu dân, đường sá chằng chịt, cứ mỗi lần nước lớn (gọi là triều cường), mưa to thì hàng chục con đường biến thành hàng chục con sông trong thành phố. Xe hơi, xe gắn máy đều bị ngập nước, chết máy, đi lại khó khăn. Dân ở lại trong nhà lo tát nước dơ đang tràn ngập trong nhà ngoài ngõ. Việc làm ăn, sinh hoạt bình thường cũng bị ngưng trệ, làm sao mà đi đến rạp hát được để xem hát?

Ngoài cái khó khăn về việc di chuyển, về công ăn việc làm bị ngưng trệ, người dân kiếm tiền để sinh sống khó khăn, người ta cũng giảm bớt chi tiêu trong việc xem hát giải trí,

Và nhất là đi xem hát chỉ có nghĩa là đến rạp hát để nghe Đảng và Nhà Nước mượn giọng ca tiếng hát của nghệ sĩ chuyển đạt đường lối chính trị đến tai của dân thôi.

Ông chủ tịch Hội Nghệ sĩ nhắc nhở “định hướng chính trị” mà nghệ sĩ nào cũng phải theo như Nghị Quyết sau đây: “Nghị quyết số 23- NQ/TW của Bộ Chính Trị về tiếp tục xây dựng và phát triển Văn Học Nghệ Thuật trong thời kỳ mới được ban hành: Nghị Quyết khẳng định và xác lập tính chiến đấu của văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng… Bên cạnh đó, nghị

quyết cũng khẳng định các Hội văn học nghệ thuật, các đơn vị nghệ thuật là một tổ chức chính rị – xã hội – nghề nghiệp, có định hướng, được đầu tư kinh phí để hoạt động…” Qua Nghị Quyết của Trung Ương Đảng, ông chủ tịch Hội Nghệ sĩ nhắc nhở mọi nghệ sĩ phải nhớ nghệ sĩ là chiến sĩ tức là công cụ của Đảng để thực hiện nghị quyết của Đảng, hát ca những sáng tác có định hướng chính trị để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và chánh phủ. Các nghệ sĩ phải nhớ là chánh phủ có đầu tư kinh phí cho các nghệ sĩ. Ăn lương Chúa thì phải múa theo lịnh của Chúa!

Cải lương không có rạp hát, không tuồng hát hấp dẫn, không có đoàn hát đàng hoàng, không có khán giả cũng không sao cả. Nghệ sĩ là công nhơn viên, lãnh lương chánh phủ, tuồng không hay, không khán giả xem thì vẫn phải hát, vì đã lãnh lương của Đảng và chánh phủ rồi. Các bạn hãy yên chí, hùa theo Đảng dễ làm giàu lắm, mà không hùa theo đóm ăn tàn cũng không được vì các bạn vẫn bị cùm tay, cùm chân như hồi trước khi ông Nguyễn Văn Linh tuyên bố Cởi Trói cho Văn Nghệ Sĩ.

 

10/2017

Nguyễn Phương

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

 

 

Links:

 http://thoibao.com/san-khau-cai-luong-o-vn-hien-nay-ra-sao/

Advertisements

Đốt sách – Nguyễn Ngọc Chính

Bài đọc suy gẫm: Tác giả Nguyễn Ngọc Chính viết về “Đốt sách” sau tháng 4 năm 1975, khi cộng sản chiếm được miền nam Việt Nam. Ông góp nhặt và đúc kết lại nhiều chuyện trong thời mà ông gọi là “Thời điêu linh” của đất nước, dân tộc dưới ách độc tài toàn trị. Đây cũng là một sử liệu giá trị mà tác giả đóng góp cho giai đoạn này.

Góp nhặt buồn vui thời điêu linh: Đốt sách

“Nơi nào người ta đốt sách thì họ sẽ kết thúc bằng việc đốt sinh mạng con người”.

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, thừa tướng Lý Tư đã đề nghị dẹp bỏ tự do ngôn luận để thống nhất chính kiến và tư tưởng. Lý Tư chỉ trích giới trí thức dùng ‘sự dối trá’ qua sách vở để tạo phản trong quần chúng.

Chủ trương Đốt sách, Chôn nho (Phần thư, Khanh nho) của Tần Thủy Hoàng được thực hiện từ năm 213 trước Công nguyên. Qua đó, tất cả những kinh điển từ thời Chư tử Bách gia (trừ sách Pháp gia, trường phái của Lý Tư) đều bị đốt sạch. Lý Tư còn đề nghị đốt tất cả thi, thư, sách vở, trừ những quyển được viết vào thời nhà Tần. Sách trong lĩnh vực triết lý và thi ca, trừ những sách của Bác sĩ (cố vấn nhà vua) đều bị đốt. Những nho sinh dùng sử sách để chỉ trích chính quyền đều bị hành hình. Những ai dựa vào chế độ cũ để phê phán chế độ mới sẽ bị xử tội chém ngang lưng.

Lý Tư tấu: “Thần xin rằng sử sách không phải do Tần ghi chép đều bị đem đốt. Ngoại trừ quan chức không phải là tiến sĩ thì trong thiên hạ không ai được phép cất giữ Thi, Thư, sách của Bách gia, tất cả đều phải đem đốt. Nếu dám dùng những lời ngụ ngôn trong Thi, Thư thì chém bêu đầu ở chợ. Lấy xưa mà chê nay thì giết cả họ. Quan lại thấy mà không tố cáo sẽ bị coi là đồng phạm. Nay lệnh trong ba mươi ngày mà không đem đốt, sẽ bị xăm mặt và bắt đi xây dựng trường thành”.

Năm 212 TCN, Tần Thuỷ Hoàng phát hiện ở Hàm Dương có một số nho sinh đã từng bình phẩm về mình liền hạ lệnh bắt để thẩm vấn. Các nho sinh không chịu nổi tra khảo, lại khai ra thêm một loạt người khác. Tần Thuỷ Hoàng hạ lệnh đem tất cả trên 460 nho sinh đó chôn sống ngoài thành Hàm Dương. Đốt sách, chôn Nho là hành vi được người đời sau coi là tàn bạo nhất của Tần Thủy Hoàng. Đó cũng là tội danh hàng ngàn năm sau vẫn còn ghi nhớ. Không riêng gì người Hán mà cả nhân loại lên án.

Trong thâm tâm, Tần Thủy Hoàng cũng như Lý Tư đều biết rất rõ, lệnh đốt sách không thể nào xóa sạch những tư tưởng trong đầu óc dân chúng, những cuốn sách ‘khó đốt’ nhất là nằm trong tinh thần con người. Như vậy, việc đốt sách thực tế chỉ là một thủ đoạn chứ không tạo được tác dụng triệt để trong việc xóa sạch vết tích văn hóa-chính trị như mong muốn.

***

Việt Nam vốn tự hào là quốc gia có hơn 4000 năm văn hiến, nhưng sách vở của người xưa để lại thì rất ít. Nguyên nhân chính là vì quân nhà Minh bên Tàu đã ra lệnh hủy hết sách vở ngay trong những ngày đầu đô hộ nước ta để dễ bề cai trị. Sau này, cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Hoa từ năm 1953 đến 1966 cũng đã gây nhiều ảnh hưởng đến miền Bắc. Do đó, xét về mặt lịch sử, Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kỳ sách vở bị tiêu hủy cho phù hợp với những thay đổi qua các giai đoạn chính trị.

Trên thực tế, tại miền Bắc, ngay sau khi tiếp quản Hà Nội, việc kiểm duyệt sách báo, bài viết trước khi đem phổ biến ra công chúng đã được thực hiện ngay từ năm 1954. Đối với các loại sách báo đã in ra từ trước 1954 dưới thời Pháp thuộc cũng đã bị đốt. Thế cho nên, việc đốt sách tại miền Nam năm 1975 chỉ là rập khuôn của chính sách cũ năm 1954.

Hồi ký của Một người Hà Nội ghi lại sự kiện đốt sách năm 1954 khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc: “Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách!

Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường”.

***

Tại miền Nam, trong thời điêu linh ngay sau ngày 30/4/1975, việc đốt sách được thể hiện qua chiến dịch Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động. Tự bản thân khẩu hiệu trong chiến dịch đã nêu rõ 2 mục đích: (1) về chính trị, bài trừ các luồng tư tưởng phản động chống đối chế độ và (2) về văn hóa, xóa bỏ hình thức được coi là ‘đồi trụy theo hình thức tư bản’.

Một trong những việc làm cấp thiết của chính quyền mới khi miền Nam sụp đổ là niêm phong, tịch thu sách tại các thư viện. Những tác phẩm của nhà in, nhà xuất bản và nhà sách lớn tại Sài Gòn như Khai Trí, Sống Mới, Độc Lập, Đồng Nai, Nam Cường, Trí Đăng… đều bị niêm phong và cấm lưu hành.

Xuống đường Bài trừ Văn hóa Đồi trụy & Phản động trong thời điêu linh

Đội ngũ những người cầm bút miền Nam phải nói là rất đông và bao gồm nhiều lãnh vực. Về triết học phương Tây có Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Trần Bích Lan… Triết Đông có Nguyễn Đăng Thục, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Khắc Kham, Nghiêm Toản, Kim Định, Nhất Hạnh…

Phần biên khảo có Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Lê Ngọc Trụ, Lê Văn Đức, Lê Văn Lý, Trương Văn Chình, Đào Văn Tập, Phạm Thế Ngũ, Vương Hồng Sển, Thanh Lãng, Nguyễn Ngu Í, Nguyễn Văn Xuân, Lê Tuyên, Đoàn Thêm, Hoàng Văn Chí, Nguyễn Bạt Tụy, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Văn Sâm…

Về thi ca có Nguyên Sa, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Viên Linh, Hoàng Trúc Ly, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Du Tử Lê…. Phê bình văn học có Tam Ích, Cao Huy Khanh, Lê Huy Oanh, Đỗ Long Vân, Đặng Tiến, Uyên Thao, Huỳnh Phan Anh…

Đông đảo nhất là văn chương với Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Bình Nguyên Lộc, Mặc Thu, Mặc Đỗ, Thanh Nam, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Vinh, Phan Du, Đỗ Tấn, Nguyễn Mạnh Côn, Sơn Nam, Võ Hồng, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Đình Toàn, Chu Tử, Viên Linh, Duyên Anh, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Vũ Hạnh, Y Uyên, Cung Tích Biền, Duy Lam, Thế Uyên, Lê Tất Điều, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang, Nguyễn Thụy Long, Phan Lạc Tiếp, Thế Nguyên, Thế Phong, Diễm Châu, Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế Vinh…

Toàn bộ sách ấn hành tại miền Nam của những tác giả nêu trên (còn một số người nữa mà người viết bài này không thể nhớ hết) đều bị ‘đánh đồng’ là tàn dư Mỹ-Ngụy, văn hóa nô dịch, phản động và đồi trụy. Các cấp chính quyền từ phường, xã, quận, huyện, thành phố ra chỉ thị tập trung tất cả các loại sách vở, từ tiểu thuyết, biên khảo cho đến sách giáo khoa để hỏa thiêu.

Không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn. Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc. Tại các cửa hàng kinh doanh, sách báo bị thu gom để thiêu hủy, coi như đốt cháy cả cơ nghiệp lẫn con người những cá nhân có liên quan. Tất nhiên, những người có sách bị đốt cũng có phản ứng quyết liệt. Trong hồi ký Viết trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long ghi lại một diễn biến trong vụ đốt sách năm 1975:

Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhâp tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu, có kẻ mạng vong. Những chú nhỏ miệng còn hôi sữa, những cô bé chưa ráo máu đầu là nạn nhân vô tội. Trên cánh tay còn đeo tấm băng đỏ, quả thật súng đạn vô tình! Cả chủ tiệm cũng mạng vong”.

Nguyễn Thụy Long là cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học nổi tiếng với câu “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Những tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Long như Loan mắt nhung, Kinh nước đen cũng gian truân không kém cuộc đời của tác giả, chúng được xếp vào loại ‘văn hóa nô dịch’ nên phải lên giàn hỏa.

Năm 1975, Duyên Anh (Vũ Mộng Long) bị chính quyền mới coi như ‘một trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của miền Nam’ với hơn 50 tác phẩm văn chương, trong đó nổi bật có Luật hè phố, Dzũng Đakao, Điệu ru nước mắt, Vẻ buồn tỉnh lỵ, Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy. Chế độ mới cấm ông viết lách và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung.

Vượt biển sang Pháp, Duyên Anh tiếp tục viết và cho xuất bản gần hai mươi tác phẩm, trong đó có Un Russe à SaigonLa colline de Fanta do nhà Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều, nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư Đại học Sorbonne, coi Duyên Anh là ‘nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia’.

Đầu năm 1997, Duyên Anh từ trần tại Pháp. Dù muốn dù không, nhiều người ngậm ngùi nghĩ đến tác giả của truyện ngắn đọc đến mủi lòng, có tựa đề là Con sáo của em tôi đăng trên Chỉ Đạo năm 1956. Những truyện ngắn, truyện dài thật trong sáng của tuổi ô mai như Dưới dàn hoa thiên lý hoặc du côn du đãng như Dzũng Dakao… Tất cả lần lượt được hóa kiếp bằng ngọn lửa.

Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng xuất bản sau năm 1975 có đoạn viết:

“… Một số người như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống Cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ.

Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống Cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa Cộng Sản…

Họ cho văn nghệ là sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện để đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là ‘viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ’, Doãn Quốc Sĩ coi mình như một ‘viên kim cương, răng Cộng Sản không sao nhá được’…”

Trong vụ án được mệnh danh là Nhũng tên Biệt kích Cầm bút năm 1986, một số nhà văn ra tòa tại Sài Gòn với tội ‘gián điệp’. Chính quyền mới muốn dựng một vụ án điển hình để đe dọa các nhà văn miền Nam nhưng bất thành vì áp lực từ bên ngoài. Theo kịch bản được dàn dựng, họ muốn xử Doãn Quốc Sĩ mức án tử hình hay chung thân, Hoàng Hải Thủy (từ chung thân đến 20 năm),  Dương Hùng Cường (18 năm), Lý Thụy Ý (15 năm), Nguyễn Thị Nhạn (12 năm), Hiếu Chân Nguyễn Hoạt (10 năm) và  Khuất Duy Trác cùng Trần Ngọc Tự (8 năm).

Tính ra Hoàng Hải Thủy (còn có bút danh Công tử Hà Đông, Con trai bà Cả Đọi…) ngồi tù ngót nghét 10 năm sau đó tìm đường vượt biên sang Mỹ. Tác phẩm của ông gồm đủ thể loại: tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên các báo, truyện phóng tác, bình luận, phiếm luận… Bây giờ tuy đã già nhưng vẫn còn viết rất hăng ở Rừng Phong (Virginia) trên blog http://hoanghaithuy.wordpress.com/.

Những nhà văn như Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long thường sinh sống bằng nghề viết báo bên cạnh việc viết văn. Trong lãnh vực báo chí, Sài Gòn vẫn được coi là trung tâm của báo chí với những nhật báo lớn đã xuất hiện từ lâu như tờ Thần Chung (sau đổi thành Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai), Sài Gòn Mới của bà Bút Trà… Khi người Bắc di cư vào Nam có thêm tờ Tự Do, tiếp đến là Ngôn Luận. Đó là những nhật báo lớn có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Hoạt động báo chí ở Saigòn càng ngày càng phát triển, theo Vũ Bằng, đến tháng 12/1963, ở Sài Gòn có tới 44 tờ báo ra hàng ngày.

Nhật báo Tiếng Chuông

Một đặc điểm của văn học miền Nam là việc hình thành các nhóm văn học. Nhóm Quan Điểm do Vũ Khắc Khoan thành lập với Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ. Quan Điểm (cũng là tên nhà xuất bản do Mặc Đỗ điều hành) được người đương thời gọi là nhóm ‘trí thức tiểu tư sản’, bởi tác phẩm của họ, trong những ngày đầu chia cắt đất nước sau hiệp định Genève, thường có những nhân vật mang nỗi hoang mang, trăn trở của người trí thức tiểu tư sản trước ngã ba đường: theo bên này, bên kia, hay đứng ngoài thời cuộc?

Theo Trần Thanh Hiệp, nhóm Sáng Tạo là một nhóm sinh viên hoạt động trong Tổng hội sinh viên Hà Nội, trước 1954, gồm bốn người: Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và Trần Thanh Hiệp. Di cư vào Sài Gòn, họ tiếp tục hoạt động văn nghệ với tuần báo Dân Chủ (do Trần Thanh Hiệp và Thanh Tâm Tuyền phụ trách), rồi tờ Người Việt (tiền thân của tờ Sáng Tạo). Sau đó Mai Thảo gia nhập nhóm với truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, rồi đến Lữ Hồ, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Quách Thoại.

Trên tạp chí Sáng Tạo, ngoài những tên tuổi kể trên người ta còn thấy Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, họa sĩ Thái Tuấn. Sáng Tạo số đầu ra tháng 10/1956 và tạm ngưng ở số 27 (tháng 12/58). Sáng Tạo bộ mới chỉ đến số 7 (tháng 3/62).

Tạp chí Sáng Tạo (1958)

Nhóm Bách Khoa ra đời tháng 1/1957 và sống đến ngày Sài Gòn sụp đổ. Bách Khoa là nguyệt san văn học nghệ thuật có tuổi thọ dài nhất với 426 số. Bách Khoa do Huỳnh Văn Lang điều hành trong những năm đầu. Đến 1963, khi Ngô Đình Diệm đổ, Huỳnh Văn Lang bị bắt, bị tù, nên giao hẳn cho Lê Ngộ Châu.

Bách Khoa quy tụ được nhiều tầng lớp nhà văn khác nhau thuộc mọi lứa tuổi. Những cây bút nổi tiếng cộng tác thường xuyên với Bách Khoa là Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, Nguyễn Ngu Ý, Vũ Hạnh, Võ Hồng, Đoàn Thêm, Nguyễn Văn Xuân, Bình Nguyên Lộc…. Theo Võ Phiến, trong thời kỳ cực thịnh, tức là khoảng 1959-1963, mỗi số Bách Khoa bán được 4500 đến 5000 bản.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tạp chí Bách Khoa (1962)

Đắt khách nhất là tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng, ra đời ngày 1/1964 và sống đến 1975. Văn do Trần Phong Giao trông nom trong 10 năm đầu, đến 1974 chuyển lại cho Mai Thảo. Văn cũng quy tụ được nhiều nhà văn ở nhiều lứa tuổi thuộc nhiều khuynh hướng, từ Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền đến Thế Uyên, Nguyễn Mạnh Côn, Bình Nguyên Lộc… Văn đặc biệt quan tâm đến việc dịch thuật và giới thiệu văn học nước ngoài. Trần Phong Giao cũng là một dịch giả nổi tiếng, còn có thêm Trần Thiện Đạo, sống ở Paris, dịch và viết về những phong trào văn học đang thịnh hành ở Pháp.

Tạp chí Văn

Tạp chí Văn hoá Ngày nay của Nhất Linh ra đời ngày 17/6/1958, được 11 số thì đình bản. Nguyễn Thị Vinh tiếp tục chủ trương tiếp các tờ Tân Phong, Đông Phương, theo chiều hướng Văn hoá Ngày nay.

Tạp chí Đại học, tờ báo của Viện đại học Huế do Linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng, làm chủ nhiệm, ra đời năm 1958 ở Huế, và sống đến năm 1964. Trên Đại học, xuất hiện những bài đầu tiên của Nguyễn Văn Trung, người sau này có ảnh hưởng lớn đến thế hệ sinh viên và trí thức.

Về các nhóm, Viên Linh trong cuốn Chiêu niệm văn chương, cho biết: “Các nhà văn xuất hiện thường xuyên, trên nhật báo, qua các nhà xuất bản, nhất là trên các báo định kỳ, và thành từng nhóm. Lý lịch văn chương và sắc thái địa phương của họ rất tương đồng, tùy theo nhóm tạp chí trên đó họ góp mặt”.

Đa số các nhà văn miền Nam qui tụ trên các tờ tuần báo Đời Mới, Nhân Loại, và nhật báo như Tiếng Chuông, Sàigon Mới (Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Kiên Giang, Lưu Nghi, Thẩm Thệ Hà, Trang Thế Hy…). Các nhà văn gốc miền Trung xuất hiện trên tờ Văn Nghệ Mới, Bách Khoa (Võ Thu Tịnh, Nguyễn Văn Xuân, Võ Phiến, Đỗ Tấn, Vũ Hạnh, Bùi Giáng, Võ Hồng, Nguyễn Thị Hoàng); các nhà văn ‘di cư’ có mặt trên các tờ Đất Đứng, Sáng Tạo, và trên các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận (Đỗ Thúc Vịnh, Nguyễn Hoạt, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền) hay Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn), Hiện Đại (Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca). Tờ Chỉ Đạo, Phụng Sự, Tiền Tuyến quy tụ các nhà văn quân đội hay quân nhân đồng hoá như Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Thu, Thanh Nam, Phan Nhật Nam, Thảo Trường…

Nhật báo Tiền Tuyến

Khuynh hướng Phật giáo có các tờ Tư Tưởng, Vạn Hạnh với Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Hữu Hiệu; khuynh hướng Thiên chúa giáo La mã có Hành Trình, Đối Diện với Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Diễm Châu, Thế Nguyên. Mặc dù khi đó đảng Cộng Sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, song các nhà văn theo Cộng Sản như Nguyễn Ngọc Lương, Minh Quân, Vũ Hạnh vẫn tạo được diễn đàn riêng trên Tin Văn hay hiện diện trong tổ chức Văn Bút dưới thời linh mục Thanh Lãng làm chủ tịch.

Những tờ như Văn, Phổ Thông, Văn Học, qui tụ các nhà văn không có lập trường chính trị rõ rệt, họ thuần túy làm văn thơ cổ điển như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Nguyễn Vỹ, Bùi Khánh Đản, hay văn nghệ thời đại, sinh hoạt thành phố như Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng. Những tờ về nghệ thuật hay về phụ nữ quy tụ các nhà văn như Tùng Long, An Khê, Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang…

Về giới cầm bút sau 1963, Nguyễn Văn Trung viết: “Giới cầm bút sau 1963, họ là những người hồi 1954 trên dưới mười tuổi theo gia đình vào Nam hoặc sinh trưởng và lớn lên ở miền Nam hầu hết có tú tài và tốt nghiệp đại học. Số lượng giới trẻ cầm bút này càng ngày càng đông đảo theo đà thành lập các đại học ở các tỉnh Huế, Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Long Xuyên, Tây Ninh và các đại học tư ở Sàigòn như Vạn Hạnh, Minh Đức…

Những nhà văn trẻ đã trưởng thành về tuổi đời và nhận thức sau 1963, trong hoàn cảnh nhiều xáo trộn chính trị-xã hội, chiến tranh mở rộng với sự can thiệp ồ ạt của quân đội nước ngoài. Thời cuộc và chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến họ vì bị động viên hay quân dịch… Do đó, họ có lối nhìn thời cuộc đất nước và nghệ thuật văn học khác hẳn với lối nhìn của những đàn anh viết từ trước 1963… Thơ văn giới trẻ viết sau 1963 thường theo một xu hướng chung, phản ánh vũ trụ Kafka, như tên đặt cho một số đặc biệt về thơ văn của Hành Trình, hoặc phản ánh thân phận những nhân vật Việt Nam tương tự những nhân vật trong tiểu thuyết Giờ thứ hai mươi lăm của Gheorghiu.

Nhờ hệ thống báo chí phát triển, quần chúng độc giả bao gồm nhiều thành phần trong khi các nhà văn nổi tiếng như Mai Thảo, Bình Nguyên Lộc, Túy Hồng, Nhã Ca, Duyên Anh, Chu Tử, Thanh Nam… đều sống bằng ngòi bút một cách dư giả. Họ là những người viết chuyên nghiệp, thậm chí nhiều nhà văn có nhà xuất bản riêng.

Nguyễn Hiến Lê trong 30 năm biên khảo và dịch thuật đã viết được 100 quyển sách trước 1975, và 20 cuốn thời gian sau đó. Nguyễn Văn Trung, ngoài lượng sách về triết học, văn học, in trước 1975, trong những công trình sau 1975, có bộ Lục Châu Học, nghiên cứu về văn học miền Lục tỉnh Nam Kỳ. Những nhà văn như Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo… cũng đều có những số lượng tiểu thuyết trên dưới 30 cuốn. Về sáng tác, số lượng tỷ lệ nghịch với chất lượng và đó là cái giá mà nhà văn phải trả.

Về đối tượng độc giả, có thể nói, lớp trẻ ‘bụi đời’ thích đọc Duyên Anh, lớp sống vũ bão thích Chu Tử. Phụ nữ thích Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca vì họ phản ảnh đời sống người phụ nữ tân tiến. Lớp trí thức thích cách đặt vấn đề của Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng. Lớp trẻ lãng mạn giao thời thích đọc Mai Thảo. Tuy nhiên, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu là những tác giả đòi hỏi người đọc một trình độ trí thức cao. Quần chúng bình dân thích Lê Xuyên, Tùng Long… Học sinh trường Tây đọc văn chương ngoại quốc qua tiếng Pháp, tiếng Anh. Học sinh trường Việt đọc các tác phẩm ngoại quốc qua bản dịch hoặc phóng tác.

Nhà văn Chu Tử qua Vũ Uyên Giang

Bộ sách Văn Học Việt Nam Nơi Miền Đất Mới của Nguyễn Q. Thắng xuất bản sau năm 1975 có đề cập tới 53 ‘văn gia’ của VNCH, mỗi người được tác giả gắn cho một nhãn hiệu. Chẳng hạn, Nguyễn Văn Trung là ‘nhà văn nhập cuộc’, Cao Xuân Hạo ‘nhà lập thuyết ngữ học’, Nguyễn Ngọc Lan ‘nhà văn Công giáo, nhà báo dấn thân’, Thanh Việt Thanh (?) ‘nhà văn cần cù’, Thế Uyên ‘nhà văn nhập cuộc’, Viên Linh ‘hoàng đế’, ‘nhà độc tài’ văn học’ (!?), Hồ Trường An ‘dược sĩ (?), nhà văn’…

Những nhà văn nữ như Nguyễn Thị Thụy Vũ được khoác cho cái nhãn ‘nhà văn nữ giầu tình dục’, Túy Hồng ‘nữ văn sĩ giầu tính nhục cảm’, Nguyễn Thị Hoàng ‘nhà văn trẻ của tình lụy’, Thu Vân (?) ‘nhà văn dùng tính dục để giải quyết vấn đề’…

 

 

 

Các nhà văn  nữ Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ và Nguyễn Thị Hoàng dưới mắt họa sĩ Chóe

 

Một điều không ai có thể phủ nhận là miền Nam trước khi có chiến dịch đốt sách năm 1975 rất phong phú về sách báo, từ sáng tác đến dịch thuật, từ chính luận đến phiếm luận. Điều chắc chắn là trong số các tác phẩm đó ‘có vàng’ nhưng cũng ‘có thau’. Người đọc đủ sáng suốt để lọc ra những gì với họ là tinh túy để giữ lại, hoặc dấu nếu cần.

Khi người Bắc di cư vào Nam năm 1954, họ rất ngạc nhiên khi thấy những người đạp xe xích lô đến buổi trưa, tìm chỗ mát nghỉ ngơi. Họ ngồi gác chân đọc nhật trình. Người bình dân miền Nam có truyền thống đọc sách báo mà ở ngoài Bắc không có. Ngay từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 miền Nam đã là vùng đất của tiểu thuyết và báo chí trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học.

Miền Nam vào những thập niên 60-70 lại có hiện tượng giao thoa giữa hai nền văn hóa Pháp và Mỹ với sự du nhập ồ ạt của các loại sách Livre de poche của Pháp và các loại sách soft cover của Mỹ. Giá sách nói chung tương đối rẻ vì mục đích chính là phổ biến văn hóa, thương mại chỉ là phụ.

Người đọc có thể tìm loại sách IC (Information & Culture) dưới hình thức sách bỏ túi (Livre de Poche) của Pháp bày bán tại các nhà sách Sài Gòn trước 1975 một cách dễ dàng. Nếu có chút vốn liếng về tiếng Pháp, người ta có thể tìm đọc những tác phẩm cổ điển của Platon, Homère hoặc các tác phẩm đương đại của Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Saint Exupéry, Francoise Sagan…

Quân đội Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền Nam, nhưng văn hoá Mỹ có vai trò áp đảo hay không? Theo giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, “Thời chiến tranh lạnh, với thế lưỡng cực trên thế giới, miền Nam nằm trong vùng ảnh hưởng Mỹ, và như vậy là có thêm tác nhân mới. Tuy nhiên, văn hoá Mỹ, theo gót đoàn quân viễn chinh, cũng chưa thể gọi là có ảnh hưởng gì sâu đậm. Ở lối sống, ở những giai tầng thấp thì có thể gọi là có ảnh hưởng một cách xô bồ, nhưng ở thượng tầng thì chưa”.

Hoa Kỳ thành lập cơ quan thông tin-văn hóa JUSPAO (Joint United States Public Affairs Office) và tạp chí Thế giới Tự do được phát hành miễn phí cho mục đích tuyên truyền. Đây là báo ảnh, được in ấn bằng phương tiện tối tân nên rất hấp dẫn người đọc.

Cũng có một nguồn cung cấp sách tiếng Anh hoàn toàn miễn phí nhưng rất ít người biết để đem về kệ sách riêng của mình. Đó là sách của Asia Foundation (Cơ quan Viện trợ Văn hóa Á Châu) một tổ chức phi mậu dịch, tặng không cho người đọc là quân nhân, công chức với số lượng hạn chế mỗi lần 5 quyển cách nhau 3 tháng.

Tôi là ‘khách hàng’ thường xuyên của Asia Foundation. Sách của Asia Foundation là loại sách viện trợ thuộc đủ mọi lĩnh vực, trên sách có đóng dấu bằng 2 thứ tiếng “Not for sale” và “Xin đừng bán”. Nếu gặp may, bạn có thể gặp những sách thuộc loại ‘quý, hiếm’.

Tôi còn giữ được một bộ 2 cuốn World Masterpieces (dày khoảng 3000 trang in lại những kiệt tác văn chương của thế giới qua các thời kỳ như Iliad của Homer, Don Quixote của Miguel de Cervantes, Hamlet của William Shakespeare, Thoughts (Les Pensées) của Blaise Pascal, Faust của Von Goethe, The Death of Iván Ilyich của Leo Tolstoy, Theseus (Thésée) của Andre Gide, Remembrance of  Things Past của Marcel Proust, No Exit của Jean-Paul Sartre…

Sách do Asia Foundation tặng

Một số sách xuất bản ở miền Nam trước 1975 nay đã được in lại, và càng ngày càng có một nhu cầu muốn tìm hiểu và phục hồi lại nền văn học đã mai một này. Hơn nữa, tên tuổi và tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng ở miền Nam đã xuất hiện khá nhiều trên Internet. Sau 1975, Từ điển văn học bộ mới cũng được phép in một số mục từ về Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng…

Chỉ tiếc một điều là một số sách báo xưa đã biến mất sau đại họa 1975 và chỉ còn lưu giữ rất hạn chế tại các thư viện tại hải ngoại dưới hình thức microfilm. Rồi người ta cũng quên đi ‘bữa tiệc BBQ’ nhưng vấn đề là những thế hệ sau này sẽ mất hẳn sợi dây liên lạc bằng sách báo với quá khứ.

Kết thúc bài viết này, tác giả xin mượn ý thơ của Vũ Đình Liên than thở cho thân phận ông đồ trước cảnh tàn lụi của nền nho học:

Năm nay đào lại nở

Không thấy sách báo xưa

Ngọn lửa nào năm cũ

Lạc về đâu bây giờ?

***

(Trích Hồi Ức Một Đời Người, Chương 6 – Thời điêu linh)

 Nguồn Email.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

 

 Links:

Nguyễn Ngọc Chính’s