Huyền thoại Nelson Mandela – Thùy Dương

Ông Mandela nhậm chức Tổng thống Nam Phi năm 1994.

Thùy Dương

Hãy tưởng tượng bạn lớn lên ở một đất nước mà uống nước nhầm vòi cũng có thể bị tống giam; nơi mà bạn làm việc như hàng xóm nhưng chỉ vì màu da nên lương cả năm không bằng lương một tuần của anh ta; một đất nước mà chính phủ coi thường tổ tiên và lối sống của bạn. Đó chính là đất nước của Nelson Mandela, vị tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi. Lớn lên dưới chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid hà khắc, thay vì cúi đầu trước sự bất công, Mandela đã trở thành một chiến binh quả cảm trong cuộc chiến giải phóng đất nước khỏi ách phân biệt chủng tộc. Trong cả quãng đời hoạt động của mình, ông đã trở thành một nhà lãnh đạo được cả thế giới tôn vinh là “Người anh hùng vì tự do”.

Làng Mvezo - nơi Mandela chào đời.

Cậu bé Rolihlahla Mandela sinh ngày 18/7/1918 trong ngôi làng Mvezo bé nhỏ trên bờ sông Mbashe ở Transkei, Nam Phi. Rolihlahla trong ngôn ngữ của người Bantu da đen ở Nam Phi có nghĩa đen là “kéo cành cây”, nhưng thông thường được hiểu là “người gây rắc rối”.

Cha của cậu bé Mandela là người đứng đầu bộ lạc ở Mvezo đồng thời là cố vấn của các trưởng tộc, nhưng mất cả hai chức tước và tài sản do không được lòng chính quyền thuộc địa. Lúc đó, Mandela mới vừa lọt lòng và đã buộc phải theo cả nhà đến ở làng Qunu, một ngôi làng còn nhỏ hơn nằm ở phía bắc Mvezo. Qunu chỉ có mấy trăm người, co cụm trong một thung lũng hẹp đầy cỏ cây, không có đường đi lại, chỉ có những con đường nhỏ nối các đồng cỏ với nhau.

Cả nhà Mandela phải sống trong ba cái lều vách trát bằng bùn, nhìn từ xa như những cái tổ ong. Trong ba cái lều, một dùng để nấu ăn, một để ngủ và một để làm nhà kho. Lối vào duy nhất là cái cửa thấp đến mức ra vào phải cúi khom người. Như những người cùng làng, gia đình Mandela phải lấy nước từ sông suối, ăn những thứ rẻ tiền như ngô, kê, bí ngô, đậu được nấu ngoài trời. Những gia đình giàu hơn còn mua được trà, cà phê và đường – những thứ xa xỉ ngoại lai với phần lớn người Qunu. Phụ nữ và trẻ con trong làng đều khoác trên mình những cái chăn nhuộm màu đất, chỉ vài người Thiên chúa giáo trong làng mặc những thứ quần áo “tây” hơn.

Ngay từ khi còn bé, phần lớn thời gian cậu bé Mandela dành để lang thang trên thảo nguyên, đánh lộn với lũ trẻ con cùng làng rồi tối đến lại ăn chung ngủ chung với những đứa trẻ đó. Mới lên 5 nhưng Mandela đã phải đi chăn cừu, chăn bê trên cánh đồng và cậu bé lấy đó làm thú vui. Trong lúc cừu và bê mải miết gặm cỏ, Mandela biết cách bắn chim bằng súng cao su, lấy mật ong và quả rừng, đào các loại rễ cây ăn được, uống dòng sữa ấm ngọt trực tiếp từ bò cái, bơi lội thỏa thích trong dòng suối trong mát lạnh. Sau những ngày chơi đùa mệt lả, Mandela về với túp lều nơi mẹ đang nấu ăn tối.

Cuộc sống của cậu bé Mandela được nhào nặn, vây quanh bởi phong tục, nghi lễ và những điều cấm kỵ. Con trai theo con đường mà cha đã dọn sẵn, con gái theo dấu chân của mẹ.

Mandela trở thành người đầu tiên trong gia đình được đến trường học. Ngày đầu tiên đi học, theo phong tục thời bấy giờ, cô giáo Mandela đã đặt cho cậu cái tên mới Nelson, theo người châu Âu – những người đã đặt chân đến Nam Phi từ thế kỷ 18 và chiếm mảnh đất này làm thuộc địa. Thay vì khoác một cái chăn như hàng ngày, Mandela lần đầu được mặc quần, một cái quần của cha được sửa lại.

Khi Mandela 9 tuổi, cha cậu chết vì bệnh phổi. Từ đó, cuộc đời cậu bé đột ngột thay đổi. Mandela được tù trưởng Jongintaba Dalindyebo nhận nuôi để tỏ lòng biết ơn người cha quá cố của cậu, người đã từng tiến cử ông làm tù trưởng.

Mandela nhanh chóng phải rời bỏ cuộc sống vô tư lự ở làng Qunu, thậm chí còn sợ rằng cậu sẽ không bao giờ được nhìn thấy ngôi làng của mình. Cậu được đưa đến Mqhekezweni, thủ phủ tỉnh Thembuland – nơi có dinh thự của tù trưởng. Dù trong lòng vẫn vấn vương làng cũ nhưng Mandela nhanh chóng thích nghi với môi trường mới và phức tạp hơn ở Mqhekezweni. Ở đây, Mandela có địa vị và được đối xử như hai người con của tù trưởng Jongintaba là Justice và Nomafu.

Hàng ngày, Mandela đến trường học bên cạnh dinh thự, học tiếng Anh, lịch sử và địa lý. Trong chính khoảng thời gian này, Mandela đã tỏ ra quan tâm đến lịch sử châu Phi, những câu chuyện được các tù trưởng mang đến mỗi khi bàn việc tại dinh thự của cha nuôi. Cậu biết rằng người châu Phi đã sống khá yên bình cho đến khi người da trắng xuất hiện.

Theo lời các tù trưởng, trẻ con Nam Phi từng sống như anh em một nhà nhưng chính người da trắng đã phá vỡ mối quan hệ đó. Trong khi người da đen chia sẻ đất đai, không khí, nước uống với người da trắng thì người da trắng lại vơ hết về cho mình.

Khi 16 tuổi, Mandela tham gia nghi lễ truyền thống cắt bao quy đầu của người châu Phi cùng 25 cậu bé khác để đánh dấu thời điểm cậu chính thức trở thành một người lớn, một người đàn ông thực thụ. Nghi lễ này không chỉ là một ca phẫu thuật mà còn là một nghi lễ rất tỉ mỉ. Theo truyền thống châu Phi, một người đàn ông chưa trải qua nghi lễ này không thể thừa kế tài sản của cha, kết hôn hay tham gia các nghi lễ của bộ tộc.

Tâm trạng háo hức, vui mừng xen lẫn hồi hộp của Mandelan chợt chùng xuống khi tù trưởng Meligqili lên phát biểu trước “những người đàn ông mới lớn” rằng họ bị bắt làm nô lệ trong chính quê hương của mình, rằng mảnh đất của họ bị người da trắng xâm chiến, rằng họ sẽ không bao giờ có quyền làm chủ chính bản thân mình. Vị tù trưởng than vãn rằng những thanh niên trẻ chỉ lãng phí thời gian nếu họ chỉ sống và làm những nhiệm vụ vô hồn cho người da trắng. Về sau, Mandela thừa nhận rằng cậu không hoàn toàn hiểu những lời của tù trưởng, nhưng chính những lời đó lại hình thành trong cậu lòng quyết tâm mang về độc lập cho Nam Phi.

Mandela theo học trường nội trú Clarkebury của Hội giám lý và tìm thấy niềm đam mê học hành và tiến bộ rất nhanh. Năm 1939, Mandela vào học trường Đại học College of Fort Hare, trường đại học duy nhất dành cho người da đen ở Nam Phi bấy giờ. Fort Hare được coi như trường Oxford hay Harvard của Nam Phi, thu hút rất nhiều học giả từ mọi nơi ở vùng tiểu Sahara.

Ngay từ năm đầu đại học, Mandela đã tập trung học để trở thành một phiên dịch viên hoặc một thư ký – những nghề được coi là tốt nhất đối với một người da đen thời bấy giờ. Năm thứ hai, Mandela được bầu vào Hội đồng đại diện sinh viên (SRC).

Từ lâu, sinh viên vốn không hài lòng với đồ ăn ở trường và việc SRC không có thực quyền gì. Phần lớn sinh viên đã tuyên bố tẩy chay SRC nếu yêu cầu của họ không được đáp ứng. Cùng quan điểm với đa số sinh viên, Mandela đã từ bỏ vị trí trong SRC, bị hiệu trưởng coi là bất hợp tác và đã trục xuất khỏi trường trong cả năm còn lại. Ông chỉ cho Mandela quay lại nếu chịu vào SRC. Lúc về nhà, cha nuôi của Mandela đã nổi giận, buộc anh phải nhận lỗi và quay lại trường vào mùa thu.

Chiến đấu không mệt mỏi

Mandela năm 1937

Vài tuần sau khi Nelson Mandela về nhà, tù trưởng Jongintaba (Regent) thông báo rằng ông đã sắp xếp một cuộc hôn nhân cho cậu con trai nuôi. Vị cha nuôi muốn đảm bảo rằng cuộc đời Mandela sẽ được lên kế hoạch đúng đắn và theo phong tục của bộ tộc, ông có quyền sắp đặt hôn nhân cho Mandela.

Quá sốc trước thông tin này, với cảm giác bị mắc kẹt và cho rằng mình không còn lựa chọn nào khác, Mandela đã bỏ nhà trốn đến thành phố Johannesburg. Chàng thanh niên làm đủ mọi việc, từ bảo vệ cho đến thư ký trong khi vẫn hoàn thành nốt bằng cử nhân từ xa. Sau đó, anh đã ghi danh vào trường Đại học Witwatersrand ở Johannesburg để học luật.

Thời kỳ đó, Nam Phi chìm trong chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid hà khắc. Apartheid trong tiếng Hà Lan nghĩa là tách biệt, dùng để chỉ hệ thống phân biệt chủng tộc ở Nam Phi giữa thiểu số người da trắng và phần đông người da đen trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Chế độ này trở thành chính sách phát triển chính thức của Nam Phi từ năm 1948 khi đảng Quốc gia lên nắm quyền.

Kể từ năm đó, hàng loạt đạo luật Apartheid đã ra đời. Theo những đạo luật này, người da đen đa số bị đối xử khác hẳn với người da trắng thiểu số. Người da đen không được kinh doanh hay hành nghề ở những khu vực dành riêng cho người da trắng trừ khi có phép. Các cơ sở giao thông và dân sự đều được phân chia rõ ràng. Xe buýt có loại dành cho người da trắng và người da đen. Điểm chờ xe buýt cũng riêng biệt. Tàu hỏa, bệnh viện, xe cứu hỏa dành cho người da trắng cũng tốt hơn dành cho người da đen. Hồ bơi công cộng, cầu đi bộ, chỗ đỗ xe, sân vườn, công viên, nhà vệ sinh công cộng, rạp chiếu phim… tất cả đều có biển chỉ dẫn “Dành cho người da đen” hoặc “Chỉ dành cho người da trắng”.

Không chỉ trong hoạt động xã hội, người da đen còn bị phân biệt đối xử và bị kỳ thị trong các hoạt động kinh tế, chính trị. Lương của người da trắng cao hơn rất nhiều người da đen. Người da đen bị ngăn cấm thành lập các liên đoàn thương mại và phải ở trong các khu nhà tập trung ổ chuột nghèo nàn, bị kiểm soát ngặt nghèo trong các ngành khai mỏ, nông trại, nhà máy…ở Nam Phi.

Chứng kiến cảnh bất công đó, Mandela sớm trở thành một người hoạt động tích cực trong phong trào chống chủ nghĩa Apartheid rồi gia nhập phong trào Đại hội Dân tộc Phi (ANC) năm 1942. Trong lòng ANC, một nhóm người châu Phi trẻ đã đoàn kết với nhau, gọi mình là Liên đoàn thanh niên của ANC (ANC Youth League) với mục tiêu biến ANC thành một phong trào quần chúng rộng rãi, tận dụng sức mạnh của hàng triệu nông dân và người lao động vốn không có tiếng nói dưới chế độ do người da trắng cầm quyền. Điều đặc biệt là, Liên đoàn thanh niên ANC cho rằng những biện pháp cũ của ANC là “kiến nghị lịch sự” không có hiệu quả.

Mandela tại Văn phòng luật Mandela & Tambo ở Johannesburg năm 1952.

Năm 1949, ANC chính thức áp dụng các phương pháp của Liên đoàn thanh niên gồm tẩy chay, đình công, bất hợp tác và bất phục tùng nhằm đạt được quyền công dân toàn diện, phân phối lại đất đai, quyền công đoàn, giáo dục bắt buộc và miễn phí cho mọi trẻ em.

Trong suốt 20 năm, Mandela đã chỉ đạo những hoạt động hòa bình, phi bạo lực chống lại chính phủ Nam Phi và chính sách phân biệt chủng tộc, nổi bật là hai chiến dịch năm 1952 và 1955.

Ông còn thành lập công ty luật Mandela & Tambo cùng với Oliver Tambo – một sinh viên ưu tú mà ông đã quen khi học ở trường Fort Hare. Công ty của ông cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý miễn phí và giá rẻ cho những người da đen.

Năm 1956, Mandela và 150 người khác bị bắt và kết tội phản quốc vì các hoạt động chính trị của họ nhưng về sau được tuyên trắng án. Trong lúc đó, ANC gặp nhiều thách thức từ một nhóm gồm các nhà hoạt động người da đen – những người cho rằng biện pháp hòa bình của ANC là không có hiệu quả. Nhóm này tách ra khỏi ANC và điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến ANC, làm mất đi một lực lượng hỗ trợ đáng kể.

Khi chính phủ Nam Phi cấm ANC hoạt động, Mandela đành phải rút vào bí mật. Một cuộc sống bí mật đòi hỏi ông phải cực kỳ cảnh giác, mọi hành động đều phải có kế hoạch, kể cả những việc nhỏ. Mandela đã rút ra được một điều rằng không tin bất kỳ điều gì nếu bạn là một người da đen ở Nam Phi, đặc biệt là khi bạn có một cuộc sống bí mật.

Trong thời gian này, Mandela đã trở thành một sinh vật của bóng đêm. Ông ẩn mình ban ngày và chỉ làm việc khi trời tối. Mọi công việc của ông chủ yếu ở Johannesburg nhưng ông cũng phải đi ra ngoài nếu cần thiết. Dù là người thích giao du nhưng ông thậm chí thích ở một mình hơn để có thể suy nghĩ, lên kế hoạch hành động. Tuy nhiên, có những lúc Mandela cảm thấy cực kỳ cô đơn và nhớ gia đình.

Cuộc sống bí mật đã khiến Mandela học được cách “vô hình”. Ông biết cách bước vào một căn phòng mà không bị ai chú ý. Ông không cắt tóc hay cạo râu và phần lớn thường đóng giả làm lái xe, đầu bếp hay người làm vườn. Ông thường mặc một bộ quần áo màu xanh da trời, kèm một cái mũ của người lái xe. Đóng giả một lái xe rất thuận tiện vì ông có thể đi lại và giả vờ đang lái xe cho ông chủ.

Có lúc Mandela đi cùng người Hồi giáo ở Cape, có lúc đi cùng công nhân đồn điền mía ở Natal, khi lại đồng hành cùng công nhân nhà máy ở cảng Elizabeth. Mandela đến rất nhiều thành phố khác nhau ở Nam Phi để tham gia các cuộc họp bí mật ban đêm. Ông thoắt ẩn thoắt hiện khiến cảnh sát rất tức giận.

Bản thân Mandela chưa bao giờ là một người lính, chưa bao giờ ra trận, chưa bao giờ chĩa súng vào kẻ thù nhưng lại được giao nhiệm vụ xây dựng một đội quân. Đó chính là một nhóm vũ trang của ANC có tên Umkhonto we Sizwe hay còn gọi là MK. Mandela sáng lập nhóm này để chuyên dùng các chiến thuật du kích và phá hoại nhằm chấm dứt chủ nghĩa Apartheid. Mandela đã không còn tin vào các biện pháp đấu tranh hòa bình như trước. Giờ đây, ông cho rằng phải đấu tranh bằng bạo lực mới có thể làm nên chuyện.

Ngày 26/6/1961 là Ngày Tự do của Nam Phi. Mandela đã gửi một bức thư cho báo chí, kêu gọi tổ chức một hội nghị hiến pháp toàn quốc. Ông tuyên bố nếu chính phủ không tổ chức hội nghị này, sẽ có một chiến dịch bất hợp tác trên quy mô toàn quốc. Mandela kêu gọi người dân: “Tôi sẽ sát cánh cùng các bạn chiến đấu chống lại chính phủ từng bước, cho đến khi giành chiến thắng. Các bạn sẽ làm gì? Các bạn có đến với chúng tôi hay sẽ hợp tác với chính phủ để đàn áp nguyện vọng và đòi hỏi của chính người dân nước bạn? Các bạn sẽ yên lặng và thờ ơ trong một vấn đề sống còn với người dân của chúng ta? Về phần tôi, tôi đã có lựa chọn của mình. Tôi sẽ không rời Nam Phi cũng sẽ không đầu hàng. Chỉ trải qua gian khó, hi sinh và hành động quân sự chúng ta mới giành được tự do. Cuộc đấu tranh này là cuộc đời tôi. Tôi sẽ tiếp tục chiến đấu vì tự do cho đến ngày cuối cùng”.

Những thời khắc đen tối

Năm 1961, Mandela “đạo diễn” một cuộc đình công của công nhân toàn quốc trong 3 ngày. Ông đã bị bắt ngay năm sau đó vì đóng vai trò lãnh đạo trong cuộc đình công và bị kết án 5 năm tù. Năm 1963, ông lại bị đưa ra xét xử. Lần này, ông và 10 thủ lĩnh ANC bị kết án tù chung thân vì các tội danh liên quan đến chính trị.

Mandela khâu áo trong sân nhà tù năm 1966.

Trong suốt 27 năm bị tù đày, Mandela bị giam trên đảo Robben tới 18 năm. Những năm tháng này là khoảng thời gian đen tối trong cuộc đời của Mandela. Ông từng viết: “Trong tù, bạn phải đối mặt với thời gian. Không có gì khủng khiếp hơn điều này”.

Bị giam trong phòng nhỏ hẹp, lấy sàn nhà là giường, phải lao động khổ sai, chỉ được tiếp một khách mỗi năm trong 30 phút, chỉ được viết và nhận một bức thư trong 6 tháng, nhưng cuộc sống tù đày trên đảo Robben đã trở thành môi trường tôi luyện Mandela. Bằng sự thông minh, tinh thần quyết chiến, Mandela đã đóng vai trò lãnh đạo bạn tù, trở thành ông chủ trong chính nhà tù của mình.

Phòng giam của Mandela trên đảo Robben.

Một ngày tù của ông diễn ra như thế này: Ông và các tù nhân khác bị cai ngục đánh thức lúc 5 giờ 30 sáng nhưng mãi đến 6 giờ 45 mới được ra khỏi phòng giam sau khi đã lau phòng, gấp thảm và chăn. Tù nhân không có nước máy, không có nhà vệ sinh trong phòng giam. Thay vào đó là một cái xô vệ sinh bằng sắt đường kính khoảng 25 cm, có nắp đậy bằng sứ và lõm ở giữa để đựng nước dùng khi cạo râu, rửa mặt, rửa tay.

Khi được ra khỏi phòng giam, việc đầu tiên họ làm là đổ và rửa xô. Điều thú vị nhất trong khi làm việc này là có cơ hội để trao đổi với bạn tù vài tiếng, tất nhiên là phải khẽ khàng và nhanh chóng vì cai ngục không thích tù nhân lề mề.

Sau đó đến giờ ăn sáng. Trong vài tháng đầu tiên ở tù, Mandela và các tù nhân được các tù nhân thường mang bữa sáng đến tận phòng giam. Bữa sáng gồm cháo ngô đặc, ngũ cốc được đổ vào bát và đẩy qua chấn song phòng giam. Cũng giống như mọi thứ khác trong tù, khẩu phần ăn cũng có sự phân biệt đối xử. Nói chung, người da màu và người da đỏ được ăn ngon hơn một chút so với người châu Phi. Gọi là ngon hơn nhưng thực ra không có gì khác nhau đáng kể giữa một loại thức ăn có mùi vị khó chịu và một loại không thể ăn được.

Sau vài tháng đầu, tù nhân sẽ ăn ở khu vực sân. Trong bữa sáng, mỗi người được uống một cốc đựng một thứ dung dịch gọi là cà phê, nhưng thực tế đó là ngô nghiền rang cháy đen và pha với nước nóng.

Giữa bữa sáng, Mandela và các bạn tù có thể bị cai ngục bắt ngừng ăn, ra ngoài phòng giam để kiểm tra. Nếu ba khuy áo khoác kaki không được cài ngay ngắn, nếu không bỏ mũ xuống khi cai ngục đi qua, nếu không dọn phòng giam sạch sẽ, họ sẽ bị coi là vi phạm luật lệ nhà tù và bị phạt dưới hình thức giam biệt lập hoặc cắt bữa ăn.

Sau bữa ăn, tù nhân phải lao động khổ sai, phần lớn là đập đá trong sân nhà tù đến tận trưa mà không được nghỉ. Ăn trưa xong, họ phải làm việc đến tận 4 giờ chiều, rồi điểm danh, dọn dẹp, tắm táp bằng nước lạnh bất kể thời tiết.

Chính xác lúc 4 giờ 30 chiều, sẽ có một tiếng gõ lớn trên cánh cửa gỗ cuối hành lang báo hiệu bữa ăn tối sắp được đưa vào. Bữa tối là cháo ngô đặc, đôi khi được thả cà rốt hoặc bắp cải hay củ cải đường nhưng tù nhân thường phải tìm kỹ mới thấy. Tù nhân phải ăn cùng một loại đến hàng tuần, đến khi cà rốt và bắp cải đã héo mốc và họ chán đến tận cổ. Đôi khi họ được một mẩu thịt nhỏ trong bát cháo, nhưng phần lớn là sụn.

Những thứ mà Mandela và các tù nhân khác phải nếm thậm chí còn không đạt tiêu chuẩn của nhà tù. Nguyên do là các tù nhân làm nhiệm vụ nấu ăn thường giữ lại những thức ăn ngon nhất cho họ và bạn bè họ. Họ cũng nhặt riêng những thứ ngon để đút lót cai ngục.

Đúng 8 giờ tối, cai ngục đêm sẽ vào trong hành lang, khóa trái cửa lại và đưa chìa khóa qua một cái lỗ nhỏ cho cai ngục khác ở bên ngoài. Cai ngục này sẽ đi đi lại lại dọc hành lang ra lệnh cho tù nhân ngủ. Những ai đang dở học hành sẽ được đọc đến tận 10 hoặc 11 giờ. Một ngày tù tội đã kết thúc. Với Mandela, ông phải trải qua 18 năm đằng đẵng như thế.

Chế độ nhà tù Apartheid khắc nghiệt đến mức Mandela thậm chí không được phép dự đám tang khi mẹ đẻ và con trai cả qua đời. Trong thời gian đen tối trong tù, Mandela bị bệnh lao và do là một tù nhân chính trị da đen, ông chỉ được chữa trị ở mức thấp nhất. Tuy nhiên, trước khi ra tù, Mandela đã học xong bằng cử nhân luật trường Đại học Luân Đôn theo chương trình học từ xa.

Trong một cuốn hồi ký năm 1981, điệp viên tình báo Nam Phi Gordon Winter tiết lộ rằng chính phủ Nam Phi âm mưu sắp xếp cho Mandela vượt ngục để định bắn chết ông trong lúc ông bị bắt lại. Tuy nhiên, âm mưu này đã bị tình báo Anh phá tan.

Năm 1982, Mandela và các thủ lĩnh ANC bị đưa tới nhà tù Pollsmoor để tiện liên lạc với chính phủ Nam Phi. Năm 1985, Tổng thống P.W. Botha đã đề xuất thả tự do cho Mandela với điều kiện ông từ bỏ cuộc đấu tranh vũ trang. Tuy nhiên, người tù da đen thẳng thừng bác bỏ đề nghị.

Trong khi Mandela và các thủ lĩnh khác của ANC bị tù đày hoặc phải sống lưu vong, thanh niên da đen Nam Phi đã làm mọi cách để chống lại nhà cầm quyền da trắng thiểu số. Họ coi Mandela là một biểu tượng không khuất phục trong cuộc phản kháng của người da đen.

Năm 1980, dưới sự lãnh đạo của ông Tambo, người từng chung văn phòng luật với Mandela và đang sống lưu vong, ANC đã phát động một chiến dịch quốc tế chống chế độ Apartheid và khéo léo hướng chiến dịch tới một mục tiêu duy nhất là đòi thả ông Mandela. Chiến dịch lên tới đỉnh điểm năm 1988 tại sân vận động Wembley ở Luân Đôn (Anh) khi khoảng 72.000 người và hàng triệu người xem TV trên toàn thế giới đã cùng hô vang “Hãy thả Nelson Mandela”.

Phong trào có sức mạnh lớn đến mức các lãnh đạo thế giới đã siết chặt lệnh trừng phạt chính quyền Nam Phi. Áp lực trong nước và quốc tế ngày càng lớn và đã có kết quả. Ngày 11/2/1990, Tổng thống Frederik Willem de Klerk đã ra lệnh thả Mandela, đồng thời tuyên bố bỏ lệnh cấm ANC, dỡ bỏ hạn chế đối với các nhóm chính trị và hủy hành quyết.

Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi

Sau khi được thả tự do, ông Nelson Mandela ngay lập tức kêu gọi các cường quốc không giảm áp lực với chính phủ Nam Phi để đòi cải cách hiến pháp. Một mặt, ông tuyên bố cam kết hướng tới hòa bình, mặt khác ông khẳng định cuộc đấu tranh vũ trang của ANC sẽ tiếp tục cho đến khi nào người da đen chiếm đa số ở Nam Phi được quyền bầu cử.

Năm 1991, ông Mandela được bầu làm chủ tịch đảng ANC, còn người bạn thân thiết và đồng nghiệp Oliver Tambo được bầu làm chủ tịch quốc gia. Mandela tiếp tục đàm phán với Tổng thống de Klerk về cuộc bầu cử đa sắc tộc đầu tiên ở Nam Phi. Người Nam Phi da trắng sẵn sàng chia sẻ quyền lực, tuy nhiên, nhiều người da đen muốn chuyển giao quyền lực hoàn toàn. Quá trình đàm phán thường xuyên căng thẳng và nhuốm màu bạo lực. Với cái tài của mình, Mandela đã phải cân bằng giữa một bên là áp lực chính trị và một bên là các cuộc đàm phán căng như dây đàn.

Nhờ nỗ lực hủy bỏ chế độ Apartheid, ông Mandela và Tổng thống de Klerk cùng được trao giải Nobel Hòa bình năm 1993. Nỗ lực của họ đã có kết quả khi ngày 27/4/1994, Nam Phi tổ chức cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên. Nelson Mandela đã nhậm chức tổng thống ngày 10/5/1994, trở thành tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi, trong khi ông de Klerk đảm nhiệm chức phó tổng thống.

Trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông Mandela đã thực hiện chuyển giao chế độ cầm quyền từ tay người da trắng thiểu số sang người da đen đa số. Ông đã tận dụng niềm đam mê thể thao của người Nam Phi để thúc đẩy hòa giải giữa người da đen và da trắng, khuyến khích người da đen ủng hộ đội bóng rugby quốc gia từng bị ghét bỏ. Tổng thống Mandela cũng có công lớn trong vực dậy nền kinh tế Nam Phi đang trên bờ sụp đổ.

Kể từ khi hết nhiệm kỳ tổng thống năm 1999, ông Mandela trở thành đại sứ cấp cao nhất của Nam Phi, đi đầu trong chiến dịch chống HIV/AIDS và giúp Nam Phi giành quyền đăng cai World Cup năm 2010. Ông cũng tham gia vào đàm phán hòa bình ở CHDC Cônggô, Burunđi và các nước khác ở châu Phi.

Năm 2004, ông Mandela rút lui khỏi công chúng để dành nhiều thời gian hơn cho gia đình – thứ mà ông đã phải hi sinh để theo đuổi tham vọng chính trị của mình. Trong mối quan hệ với vợ mình, bà Winnie Madikizela, ông Madela đã cảm thấy cực kỳ có lỗi vì những gì mà vợ ông đã phải chịu đựng, ông hối tiếc vì đã không có thời gian chăm lo cho gia đình. Tuy nhiên, với một “chiến binh” như Mandela, vợ và gia đình luôn xếp thứ hai sau tình yêu lớn ông dành cho ANC và cuộc đấu tranh tự do.

Bà Winnie kết hôn với ông Mandela đúng vào thời điểm quan trọng trong cuộc đấu tranh giành tự do ở Nam Phi. Cùng chung lý tưởng với ANC và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa Apartheid, hai vợ chồng ông không thể tận hưởng một cuộc sống gia đình bình thường. Dù chịu nhiều áp lực nhưng tình yêu mà hai người dành cho nhau tiếp tục lớn dần.

Trong gần 20 năm sống đời tù nhân trên đảo Robben, đối với ông Mandela, Winnie là trụ cột hỗ trợ và niềm an ủi không thể thiếu. Bà chấp nhận gánh nặng nuôi dạy con cái một mình. Bà chịu đựng những cuộc khủng bố từ chính phủ da trắng và không bao giờ ngừng tin tưởng vào cuộc đấu tranh giành tự do của chồng. Sự ngoan cường của Winnie đã củng cố tình yêu, sự tôn trọng của ông Mandela và khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ.

Tuy nhiên, căng thẳng nảy sinh do những khác biệt giữa ông Mandela và vợ đã khiến họ đi đến quyết định chia tay. Ông nói rằng quyết định chia tay không phải xuất phát từ việc bà Winnie ngoại tình.

Trong cuốn tự truyện, ông Mandela viết: “Có lẽ tôi bị lóa mắt trước một số điều nhất định vì phải chịu nỗi đau khi không thể hoàn thành vai trò của một người chồng với vợ tôi và người cha với các con tôi. Tôi cho rằng cuộc sống của vợ tôi khi tôi ở trong tù còn khó khăn hơn tôi, sự trở về của tôi cũng khó khăn với cô ấy hơn là với tôi. Cô ấy đã lấy một người mà người đó sẽ sớm rời bỏ cô ấy; người đàn ông đó trở thành thần thoại, và rồi thần thoại đó trở về nhà và xét cho cùng lại chỉ là một người đàn ông bình thường.

Ông Mandela và ông Klerk nhận giải thưởng Nobel Hòa bình ngày 10/12/1993.

Như tôi về sau đã nói trong đám cưới của con gái Zindzi, dường như số mệnh của những người đấu tranh cho tự do là phải có cuộc sống cá nhân bất ổn. Khi cuộc đời của bạn là đấu tranh, giống như cuộc đời tôi, hầu như không còn chỗ cho gia đình. Đó luôn là hối tiếc lớn nhất của tôi và là phần đau đớn nhất trong lựa chọn của tôi”.

Ông nói trong đám cưới đó: “Chúng tôi chứng kiến con cái trưởng thành mà không có sự dìu dắt của chúng tôi. Và khi chúng tôi ra khỏi tù, con tôi nói chúng con nghĩ rằng chúng con có một người bố và một ngày nào đó bố sẽ quay về. Nhưng thật thất vọng, bố chúng con về và ông ấy bỏ chúng con một mình vì giờ ông ấy đã là người cha của cả dân tộc”.

Ông Mandela kết luận: “Là cha của cả dân tộc là một vinh dự lớn lao, là một người cha của gia đình là một niềm vui lớn hơn. Nhưng đó là niềm vui mà đến nay tôi có quá ít”.

Vào sinh nhật thứ 80, Nelson Mandela kết hôn với bà Graca Machel, quả phụ của cựu Tổng thống Môdămbích. Ông vẫn tiếp tục đi khắp thế giới, gặp gỡ các lãnh đạo, tham gia hội nghị và giành được nhiều giải thưởng. Phần lớn công việc của ông liên quan đến Tổ chức Mandela, một quỹ từ thiện mà ông thành lập.

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

nghiencuulichsu.com

Advertisements

Sau Một Cuộc Bội Phản – Nguyễn Vy Khanh

Bài đọc suy gẫm: Sau Một Cuộc Bội Phản hay 40 năm sau một cuộc bội phản của tác giả Nguyễn Vy Khanh, cựu học sinh Pétrus Ký, hiện đang sống tại Montreal, Canada. Ông cho biết: “Với tư cách hậu sinh và nghiệp-dư nghiên cứu lịch-sử, chúng tôi xin có một số nhận xét về biến cố lịch-sử và chính-trị 1-11-1963 đã xảy ra 40 năm trước, mong độc giả xem đây là những góp ý hướng về tương lai hơn là tranh luận hơn thiệt và biên khảo lịch-sử”. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

 Để tưởng nhớ đến cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm…….

 

 Tưởng niệm Chí sĩ Ngô Đình Diệm tại Nam California.

1. Trước hết, cuộc đảo-chánh 1-11-1963 nói chung là một vụ bội-phản có tính toán và vì quyền lợi (1) phe nhóm cá nhân hơn là quốc-gia, của một số sĩ quan cao cấp trong đó phần lớn là thành phần đã được người Pháp đào tạo. Xảy ra như ở một số thuộc địa ở Phi châu mà tình trạng còn mãi đến nay! Cuộc đảo-chánh 1-11 thêm một lần chứng minh và làm nổi bật cái não trạng (mentality) phản trắc, hai lòng và cái não-trạng phục tùng ngoại bang của một số người Việt Nam. Ngay hai đảng viên Cần Lao đã phản là tướng Tôn Thất Ðính và Ðại Tá Ðỗ Mậu: ông Ðính, “con cưng của chế độ”, ngày 25-10 trước đảo-chánh, đã xin cải tổ chính phủ và cho ông chức Bộ Trưởng Nội Vụ nhưng bị từ chối (ông Trần Văn Ðôn thì mong được chức Bộ Trưởng Quốc-Phòng) ngoài ra ông mang thêm mặc cảm tấn công các chùa đêm 21-8-63 và bị ông Nhu khiển trách họp báo nói tiếng Pháp bồi và cho đi nghĩ Ðà-Lạt, còn Ðại Tá Ðỗ Mậu theo đảo chánh vì tức đã không được lên tướng trong khi bạn ông (cùng trình độ như ông) được đeo sao. Sau ngày 2-11-1963, lon tướng tá được gắn thoải mái, cả tự gắn, có người (Tướng Ðỗ Cao Trí) phải khiếu nại và rồi dù vừa mới lên lon chưa đầy tháng cũng được thêm một lon nữa! Thời Trịnh Nguyễn và phân tranh Gia Long – Tây Sơn được tái diễn trên mảnh đất nhiều ngàn năm văn hiến đó! Những não trạng đáng buồn đó, tiếc thay, hãy còn hiện diện sống động trong cộng đồng người Việt hải-ngoại!

2. Cuộc đảo-chánh này nay nhìn lại thấy rõ là một mưu đồ chống phá những nền tảng cùng tư tưởng dân-chủ của một nền Cộng Hoà (République) non nớt 9 năm. Cá nhân một số tướng tá đảo-chánh đã phản chủ, phản thầy, phản đảng trưởng, nhưng toàn thể những người liên hệ xa gần với đảo-chánh đã phản bội chính thể dân chủ. Chế độ TT Ngô Ðình Diệm vào 2, 3 năm cuối có thể bắt đầu mất lòng dân vì tỏ ra độc tài, đối lập bị tù, cả bị chết oan, đồng ý, nhưng đối lập ở Việt Nam ta cứ nhắm lật đổ chính quyền hợp pháp, cứ một sống một chết, mà không chấp nhận trò chơi dân chủ. Nếu tranh đấu chính-trị như ở các nước Tây phương thì đã không đưa đến những hậu quả đó. Vả lại tất cả những người bị chính quyền bắt (sinh viên, học sinh, phật tử, chính-trị gia, cả những người bị bắt sau vụ đảo-chánh 11-11-1960 chờ ra tòa) đều đã được Hội Ðồng Cách Mạng thả tự do – nhưng bắt tù lại một số cao cấp của chính quyền vừa bị đảo-chánh, có người sau sẽ bị xử tử! Xét về toàn bộ nguyên nhân đưa đến cuộc đảo-chánh 1-11, yếu tố tôn giáo chỉ là cái cớ, một cớ có tổ chức chứ không tự bộc phát và “pháp nạn” chỉ xảy ra ở một số nơi có đầu não phe Phật giáo chính-trị!

3. Nếu phải nói đến Chính Nghĩa, Chính Danh, thì nhìn chung, đã bị phe đảo-chánh và đồng minh Mỹ xem thường. 1-11-1963 là một cuộc đảo-chánh nghĩa là phá đổ Chánh đề phù Tà hoặc tạo-dựng một Chánh khác không thể Chánh bằng cái Chánh do dân chủ tạo nên, vì dù gì thì chính quyền Ðệ Nhất Cộng Hòa là một cơ cấu hợp hiến, hợp pháp và tương đối có chính nghĩa! Ngay sau khi chắc chắn anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm đã chết, chiều 2-11-1963, Ủy Ban Cách-mạng (2) đã ra Quyết nghị số 2 ngưng áp dụng Hiến Pháp 26-10-1956! Có người đổi “đảo-chánh” thành “cách-mạng” thì cũng chẳng thấy cách-mạng gì hơn vì cũng từng ấy nhân vật, từ Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ đến các tướng nhiều sao trong Hội đồng Cách-mạng đều do quân đội (và công an) thực dân Pháp đào luyện, và cũng chẳng có lý-thuyết cách-mạng gì mới! Những người làm đảo-chánh tự cho có chính-nghĩa dù không tôn trọng trật tự, dân chủ, cả những người làm đảo-chánh 11-11-1960 trước đó. Có người phê phán ông Ngô đình Diệm “lật lọng”, “phản” cựu hoàng Bảo Ðại là người đã bổ nhiệm ông làm Thủ Tướng, có người còn nhân danh phong hoá Nho Giáo hoặc dân tộc.

Chúng tôi nhìn thời đó như một thời Trịnh Nguyễn và Gia Long-Tây Sơn: thì Quang Trung cũng đã nhận lời vua Lê Hiển Tông phù Lê diệt Trịnh và còn được gả công chúa Ngọc-Hân cho, mà rồi sau quần thần vua Lê bị ông rượt sang Tàu. Thứ nữa sử cũng ghi rằng anh em Tây Sơn nhận phục tùng chúa Nguyễn, chỉ cốt lật đổ quyền thần Trương Phúc Loan thôi, mà rồi thành Phú Xuân đã bị anh em Tây Sơn đốt cháy, còn quần thần Chúa Nguyễn phải bỏ chạy vô Nam. Thứ nữa, thời điểm tháng 6 và 7 năm 1954 là lúc chiến-tranh Việt-Pháp lên cao độ, khủng hoảng chính-trị (chính-phủ Bửu Hội không được lâu), xã hội băng hoại và miền Nam thì thập nhị sứ quân. Cựu Hoàng Bảo Ðại dù là Quốc Trưởng nhưng không hề đụng việc, chỉ giải trí riêng với hậu thuẫn (và tiền bạc, bổng lộc) của các sứ quân. Bảo Ðại lại do người Pháp đặt ở chức quốc trưởng, nên trưng cầu dân ý và Hiến Pháp 26-10-1956 không phải là một bước đầu dân chủ đấy sao? Trong hoàn cảnh bất an hậu thế chiến và thuộc địa đó, làm Thủ Tướng đâu phải dễ (trước đó mấy năm thủ tướng BS Nguyễn Văn Thinh đã phải tự sát!). Chính những người pro-Bảo Ðại ở Pháp lúc đó đã nhận xét như LM Cao Văn Luận nhân chứng ghi lại trong hồi ký của ngài:” Bảo Ðại đưa ông Ngô đình Diệm về Việt Nam là để đốt cháy tương lai chính-trị của ông mà thôi!” (3). Thành quả và sự thực lịch-sử đã hiển nhiên, viết lịch-sử là đứng ở tổng thể và cân nhắc phải-trái, sao lại có người đi soi móc chi tiết thổi phồng cho to, mà lại làm một cách thiên vị hoặc giả dối, đạo đức giả ? Tiện đây chúng tôi xin mở dấu ngoặc nói thêm là đối với cuộc chiến-tranh vừa qua (1954-1975), giới viết lách trong nước và một phần ở hải-ngoại đã nhận ra rằng chẳng có chính nghĩa nào hết nếu xét cho cùng. Tất cả chỉ là cường điệu, và hai bên đều là công cụ cho những “lý-tưởng” đối chọi nhau. Và vì không có chính nghĩa (dù có chính-đáng) nên cũng đã chẳng có một chung cuộc theo nghĩa có bên thắng có phe thua. Nga, Trung quốc và Hoa-Kỳ chỉ ngưng … chơi vì kiệt quệ, vậy thôi! Phạm Kim Vinh, vốn khó tính, vẫn nhìn nhận “chính quyền Ngô đình Diệm là chính quyền duy nhất của người Việt quốc-gia tạo được chính danh, chính thống và chính nghĩa cho công cuộc chống Cộng của người Việt Nam” (4).

4. Ðể “hoàn thành” cuộc đảo-chánh, trong hai ngày 1 và 2-11-1963, những kẻ chủ mưu và thừa hành đã ám sát theo thứ tự thời gian: Ðại Tá Hồ Tấn Quyền Tư Lệnh Hải Quân trưa 1-11, Ðại Tá Lê Quang Tung Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt, và em ông là Thiếu Tá Lê Quang Triệu tối 1-11; Tổng Thống Ngô đình Diệm và em ông là Cố vấn Ngô đình Nhu sáng 2-11. Bốn người, anh em ông Tổng Thống và anh em ông Tung Triệu bị Ðại úy Nguyễn Văn Nhung cận vệ của Dương Văn Minh giết và bắn chết (Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa cùng với Ðại úy Nhung giết anh em Tổng Thống), Ðại Tá Quyền bị thuộc hạ phản thùng là Thiếu Tá Lực và Ðại úy Giang giết. Các sĩ quan khác không thuận theo đảo-chánh hoặc bị nghi ngờ thì bị giam ở bộ Tổng Tham mưu như Cao Văn Viên, Lê Nguyên Khang, Nguyễn Ngọc Khôi, Ðỗ Ngọc Nhận, v.v.

 

 

 

 

 

 

Đại tá Lê Quang Tung (trái), tư lệnh Lực lượng đặc biệt và Đại tá Hồ Tấn Quyền, tư lệnh Hải quân thời Đệ nhất Cộng Hòa.

Người trách nhiệm hàng đầu trong vụ ám sát anh em Tổng Thống là Trung Tường Dương Văn Minh. Các tướng thuộc Ủy Ban Cách-Mạng ở Sài-Gòn lúc đó như Trần Văn Ðôn (5), Tôn Thất Ðính (6) và đại tá Ðỗ Mậu (7), … hoặc ở xa như Tướng Khánh, Thi đều xác nhận điều này. Dù gì thì anh em Tổng-Thống Ngô Đình Diệm đã bị ám sát chết, do Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa hay Ðại úy Nguyễn Văn Nhung thừa hành thì Tướng Dương Văn Minh và Ủy Ban Cách-Mạng phải liên đới trách nhiệm trước lịch-sử, cũng như các Tướng Mai Hữu Xuân (“Mission accomplie!” chào trình Tướng Dương Văn Minh) và hai Ðại Tá Nguyễn Văn Quan và Dương Văn Lắm, … chỉ huy đoàn quân xa đi đón đã không làm tròn trách nhiệm, hoặc có chỉ huy mà như không hoặc đồng lõa vì sự đã rõ là hai ông Nghĩa và Nhung muốn làm gì thì làm (cả cho biết trước!). Ông Trần Văn Ðôn kết luận chuyện tìm kẻ chủ xướng đã tỏ đồng ý và khen “người nào đó ra lịnh giết nầy quả là một người thấy xa, ông ta không phải ngu dại khi làm việc đó” (8). Dĩ nhiên người Mỹ hài lòng vì tham vọng bành trướng chiến-tranh sẽ hết bị cản trở bởi vị nguyên thủ quốc-gia hợp hiến, đã mừng reo lên chiều ngày 2-11 khi đón hai ông Ðôn và Lê Văn Kim đại diện các tướng đảo-chánh: “C’est formidable! C’est magnifique! (Tuyệt vời!)” (9).

Vai-trò của Nguyễn Văn Nhung thì đã rõ (10), còn Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa thì nhiều nhân chứng từ sau 1963 đã ám chỉ ông tham gia việc giết anh em tổng-thống – cả hai đều ngồi chung xe thiết-giáp với anh em Tổng Thống. Theo Trần Văn Ðôn, ông Nghĩa đòi đi theo đoàn đón Tổng Thống và nói “Moa có nhiệm vụ” (11). Hoàng Văn Lạc (Biệt bộ Tham mưu phủ Tổng Thống lúc đảo-chánh) và Hà Mai-Việt trong Nam Việt-Nam 1954-1975: Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, xuất-bản năm 1990, buộc tội ông Nghĩa là đao phủ thủ thứ hai trong vụ ám sát Tổng Thống. Ðiều tra của ông bà Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức xuất-bản năm 1994 cũng đưa tới cùng kết luận đó (12) nhưng ông Nghĩa từ chối trả lời phỏng vấn sau khi qua Mỹ theo diện H.O. Năm 1996, ông Nghĩa cuối cùng lên tiếng, tự biện hộ cho rằng ông có biết Tướng Dương Văn Minh ra lệnh giết ông Nhu. Ngay sau đó, ông bà Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức viết bài vạch mười điểm sai lầm và ngụy biện của ông Nghĩa, cho biết thêm Ðại úy Phan Hòa Hiệp (sau lên Chuẩn Tướng) đã nói với hai soạn giả (cũng như với nhiều người khác như Ngô Ðình Châu (13)), rằng ông đã nghe ông Nghĩa nói sẽ giết anh em ông Diệm để trả thù cho Ðại úy Thiết Giáp Bùi Ngươn Ngãi bạn ông và cùng đảng viên Ðại-Việt bị tử thương trong ngày đảo-chánh (14). Ông Duệ thì chắc chắn về việc ông Nghĩa nhúng tay giết tổng-thống vì có hai nhân chứng thấy ông Nghĩa lau tay dính máu. Về sau ông Nghĩa làm Phụ thẩm tòa án cách-mạng xử tử ông Ngô đình Cẩn, vậy theo ông Duệ, ông Nghĩa đã dính máu ba anh em ông Tổng Thống (15)! Ông Huỳnh Văn Lang trong bộ hồi ký Nhân Chứng Một Chế Ðộ đã cho biết thêm một số chuyện: Ðại Tá Nguyễn Văn Quan có vai-trò trong cái chết của anh em Ngô đình Diệm, ông Quan thuộc đảng Ðại Việt và có thù cá nhân với ông Nhu (16). Thứ nữa, tướng Dương Văn Minh bất mãn bị lấy lại “chiến lợi phẩm” từ Bảy Viễn (17). Ông Nguyễn Hữu Duệ, lúc đảo-chánh là Thiếu Tá Tư Lệnh Phó cho Trung Tá Nguyễn Ngọc Khôi Lữ đoàn Phòng Vệ Tổng Thống Phủ, đã ghi lại trong Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm (18), rằng ông Quan đã chối với ông vai-trò trong vụ ám sát tổng-thống vì ông Quan chỉ tình cờ đi theo. Cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên trong Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng-Hòa trong lời Bạt viết thêm khi bản dịch xuất-bản (19), đã tiết lộ thêm ông suýt bị cách-mạng giết vào tối 1-11 sau khi Ðại úy Nhung đã đưa anh em Lê Quang Tung đi giết ở nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế.

Ông Ngô đình Cẩn (hình bên) đã vào tị nạn tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ nhưng họ lại giao ông cho hội đồng quân nhân cách mạng!

Ông Ngô đình Cẩn (hình bên) và Phan Quang Ðông thì bị “cách-mạng nối dài” xử tử ngày 9-5-1964 tức sáu tháng sau. Ông Cố Vấn Ngô đình Cẩn cả tin ở lời hứa của người Mỹ, đã vào trốn ở toà Lãnh Sự Mỹ ở Huế để cuối cùng bị đại sứ Henry Cabot Lodge giao lại cho những người vì họ ông phải … xin tị nạn, rồi khi có án tử thì Lodge (vờ) xin ân xá cho nạn nhân của y! Như vậy cái chết đến với ông vì một tướng Cần Lao phản bội khác vì muốn lấy lòng Phật Giáo nhưng lý do chính có thể vì không khai thác được tiền tưởng ông Cẩn và gia-đình gửi ở Thụy Si trong thực tế có thể không hề có (20)!

Ðảo-chánh 1-11-1963 cùng với những cái chết bi đát không những đối với người chết, với công lao và hành trạng của họ, mà còn bi đát cả đối với người sống, bởi vậy đã 40 năm qua, tang thương đã nhiều mà những cái chết đó vẫn còn ám ảnh nhiều người, Việt cũng như Mỹ, Pháp! Bà Anne Blair gọi là một “mối ám ảnh đeo đuổi dai dẵng lương tâm nước Mỹ, quần chúng và nhà lãnh đạo xứ này, tạo ra hội chứng Việt Nam / Vietnam Syndrome” (21). Người bản chất đã xấu càng tệ hơn bên cạnh con người thanh cao càng tỏ rạng hơn với thời gian!

5. Ðảo-chánh này đã có lợi cho kẻ thù nghịch là Hà-Nội và cho đồng minh Hoa-Kỳ. Hà-Nội từ sau đảo-chánh không còn phải đối đầu chính-trị với Ngô đình Diệm – một người yêu nước, thanh liêm mà nay chỉ phải đối đầu với tay sai, bù nhìn của thực dân Mỹ, lại tham nhũng, mất tư cách, gây “khoảng trống chính-trị khổng lồ” cho miền Nam thì dễ dàng quá xá! Cựu đảng viên cộng-sản Bùi Tín cho biết đảo-chánh đã gây thuận lợi cho mưu đồ thôn tính miền Nam của Hà-Nội, tháng 4-1964, chính Tướng Nguyễn Chí Thanh đã đích thân vào Nam điều khiển cuộc chiến đó (22)! Hoa-Kỳ thủ phạm và tòng phạm giết TT Ngô đình Diệm, Tổng Thống một quốc gia độc lập vừa là đồng minh, nay ai cũng biết là vì quyền lợi đế quốc kinh tế chứ chẳng vì lý thuyết cao quý gì cả! Lobby áp lực tư bản Mỹ đứng sau ba ông cố vấn “anti-Diem activists” của Tổng Thống Kennedy là tác-giả bức công điện định mạng Deptel 243 gửi cho Ðại Sứ “thực dân” Cabot Lodge, công điện bật đèn xanh cho vụ đảo-chánh! Còn chuyện Hoa-Kỳ giết lãnh tụ đồng minh, từ hơn 50 năm nay danh sách khá dài; khiến sau cái chết của Tổng Thống Diệm, một vị lãnh tụ ở A Châu là Ayoub Khan, Thủ Tường Pakistan, đã tuyên bố rằng làm đồng minh Hoa-Kỳ thật nguy hiểm, tốt hơn nên trung lập hoặc làm kẻ thù – sau này Kissinger cũng lập lại nhưng đạo đức giả vì tay ông ta nhúng chàm ở Chili, Việt Nam và nhiều nơi khác! Chính phủ Mỹ chứng minh với thế giới rằng khi họ cần thì là đồng minh, khi hết xử dụng được hoặc đụng chạm quyền lợi Mỹ thì ám sát, kể cả người đó là theo chủ nghĩa quốc gia hoặc cùng tôn giáo Thiên Chúa với người Mỹ. Và làm Ðại Sứ Mỹ ở đâu là hôm trước trình ủy nhiệm thư, hôm sau trở thành chuyên viên đảo-chánh!

6. Ðã là một thiết yếu có tính cách giai-đoạn, thành thử về trường kỳ đã là một sai lầm lớn. Các tài liệu được bạch hóa cũng như nhiều nghiên cứu, sách báo từ đó đã đi đến cùng một kết luận: tổng-thống Kennedy đã cho phép (chứ không phải “ra lệnh” – đây là cách hiểu lệnh theo ý của tùy tòng phụ tá ở Mỹ như … và ở Việt Nam như Lucien Conein, Henri C. Lodge). Nghiên cứu mới nhất của ký giả James Rosen tựa The Strong Man: John Mitchell, Nixon and Watergate về vụ Watwergate nhưng trở về một nguồn là vụ ám sát Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Cuốn sách Doubleday sẽ xuất bản tháng 8-2004 nhưng đã có một số bài báo tiết lộ một số chi tiết, như chuyện một cuộn băng được bạch-hoá ngày 28-2-2003 cho biết phó Tổng Thống Johnson đã xác nhận Tổng Thống Kennedy và ban tham mưu kể cả ông, không những đã bật đèn xanh mà còn “tổ chức và thi hành vụ thảm sát này” (“organized and executed it”) với lý do “tham nhũng / corrup”) (?), do đó đã “giết ông ta. Chúng ta đã họp với nhau và dùng một bọn giết mướn đáng nguyền rủa để làm việc này” (“So we killed him. We all got together and got a goddam bunch of thugs and assassinated him”! Xin để ý chữ dùng của phó tổng-thống Johnson để gọi những người phe đảo-chánh! Nhưng ông thêm một câu cho nhẹ tội đồng lõa: “Chúng ta đã giết ông ta vì cho rằng ông ta không tốt. Lúc đó tôi đã can đừng làm việc đó nhưng họ không nghe tôi và cứ thi hành” (“And I just pledge with them please don’t do it. But that is where it started and they knocked him off”). Trong Triangle of Death: The Shocking Truth About the Role of South Vietnam and the French Mafia in the Assassination of JFK , hai nhà báo Bradley O’Leary và L.E. Seymour cho rằng vụ ám sát Tổng Thống Kennedy là hậu quả của vụ ám sát anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm và do bàn tay của mafia gốc Pháp ở New Orleans LA và cả người Việt Nam. Dù những cố vấn và chóp bu toà Bạch ốc có chia ra hai phe bảo-thủ và tự-do, nhưng trách nhiệm lịch-sử đã đổ lên đầu tổng-thống Kennedy! Tổng Thống Kennedy 2 ngày sau, 4-11-1963, xúc động và tỏ ý hối tiếc vụ đảo-chánh và nhận trách nhiệm (23) nhưng vì muốn lấy phiếu cử tri nên ngày 20-11-1963 họp báo ở Hononulu đã tuyên bố sẽ rút quân về nếu thắng cử, và hai ngày sau thì ông bị ám sát ở Dallas, Phó Tổng Thống Johnson lên thay sẽ tha hồ đổ quân vào Việt Nam như tư bản Mỹ muốn!

Dĩ nhiên CIA cũng đã có một vai-trò quan trọng dù kín đáo hơn trong vụ ám sát hai anh em ông Tổng Thống Ngô đình Diệm (24). Ngoài ra, các thông tấn, báo chí nhất là New York Times từ 28-11-1962 đã “dám” cảnh cáo Tổng Thống Ngô đình Diệm nếu không nghe lời Mỹ, sẽ bị rớt đài (25). Các nhà báo Hoa-Kỳ như David Halberstam, Neil Sheehan, Malcolm Brownw, v.v… tìm liên hệ với báo chí Việt Nam đứng đầu là Bùi Diễm tờ Saigon Times để hoàn thành “chiến dịch” lật đổ Tổng Thống một nước đồng minh! Báo chí và truyền thông Hoa-Kỳ sau đó vẫn tiếp tục can dự vào chính-trị Việt Nam đưa đến biến cố 30-4-1975 khiến nhiều người đã kết luận là báo chí Mỹ đã thua cuộc chiến đó, vì vậy mà sau này quân đội Hoa-Kỳ đi đánh vùng Vịnh ở Trung đông đã giảm thiểu tối đa sự có mặt của giới truyền thông Mỹ!

7. Biến cố đảo-chánh này và những diễn biến chính-trị sau đó chứng tỏ vai-trò tệ hại của các chính đảng vốn nhập cảng từ Bắc vào với Hiệp định đình chiến 1954, đã không thật thích hợp với miền đất phía Nam. Các chính khách đó chỉ nhắm ghế bộ trưởng và quyền hành (thời kham khổ chiến đấu bí mật hay từ quần chúng nơi thôn quê hẻo lánh đã … xa lắc!). Rồi từ ngoại quốc về thẳng ghế phó thủ tướng, bộ trưởng, … rồi chạy theo người Mỹ vận động chức chưởng. Xuất hiện những Tân Ðại Việt, Phong Trào Cấp Tiến cùng với những biến mất vì ám sát của những Nguyễn Văn Bông, Trần Văn Văn, … Những Ðại Tá Nguyễn Văn Quan, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa đều là đảng viên Ðại Việt. Vai-trò của các đảng phái đặc biệt là Ðại-Việt Quan Lại tuy không là yếu tố quyết định nhưng góp phần phía chính trị lật đổ chế độ hợp hiến Ngô đình Diệm. Bùi Diễm khoe trong hồi ký và qua các tài liệu mật Pentagon cũng như các tài liệu nói chung, đã cho thấy ông đã đóng vai khá động, với tư cách nhà báo của Saigon Times và đồng thời đảng viên Ðại-Việt, đã làm “con thoi” của người Mỹ, ngay từ đảo-chánh 11-11-1960! Chính Ðạo từng hơn một lần gọi ông Diễm và Ðặng Văn Sung là “đảng viên Ðại-Việt thời cơ” (26). Ông Diễm từ 1960, nhất là sau vụ Caravelle, đã liên hệ cũng như “tường trình” vạch lá tìm sâu chế độ Ngô đình Diệm cho các nhà báo người Mỹ như Neil Sheehan, M. Brown, David Halberstam, v.v. (27). Họ Bùi và đảng Ðại-Việt vì tham vọng quyền lực chính-trị đã “tế thần” chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, qua connection Joseph Buttinger và thủ lãnh Nguyễn Tôn Hoàn đang ở Hoa-Kỳ lúc đó (chờ về … chấp chánh) làm lobby với chính quyền Kennedy. Các tướng lãnh đảo-chánh cũng như chỉnh lý và biểu dương lực lượng sau đó (1963-1965) đều rơi vào mê hồn trận của đảng Ðại-Việt, chi phối cho đến hoà đàm Paris và biến cố 30-4-1975 và cả sau đó ở hải-ngoại (28). Cũng không nên quên vai-trò của Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa trong cái chết của anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Nghĩa là đảng viên Ðại-Việt và từng tuyên bố trả thù cho đồng đảng bị tử trận ngày đảo-chánh. Sau ông lên đại tá và ra hải-ngoại được chất vấn vẫn chưa trả lời thỏa đáng.

8. Nhiều nhân-vật liên hệ và sự kiện, diễn biến chung quanh vụ đảo-chánh cũng như chế độ Ngô đình Diệm đã bị huyền thoại hóa, về gia tài gia đình họ Ngô – tiền của Tổng Thống Ngô đình Diệm gửi cha Toán Dòng Chúa Cứu Thế đã bị Tướng Trần Văn Minh cho người đến lấy, tiền của Cố Vấn Ngô đình Cẩn đã bị Tướng Ðỗ Cao Trí và Nguyễn Khánh lấy – ông này còn đòi thêm tiền ở Thụy Si nhưng có lẽ không có nên đã phó mạng ông Cẩn cho phe Phật giáo bạo động lấy lòng. Một vài sự vật và việc nhỏ nhoi khác cũng được thổi phồng, huyễn hóa cho lớn chuyện: nghiên mực Tức Mặc Hầu có người tình cờ thấy trong dinh Tổng thống, Vương Hồng Sển, một thư-ký thuộc địa (1923-43) lên đến Quản Thủ Viện Bảo Tàng Sài-Gòn (1947-1964), lại đi thắc mắc và tố ông Tổng Thống chiếm đoạt một nghiên mực (bằng suy luận) (29) – trong khi bao vàng bạc châu báu triều đình Huế đã dâng cho Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận đại diện Hồ Chí Minh buộc nhà Vua cuối cùng Triều Nguyễn thoái vị – thì chưa ai “dám” nói đến! Nghiên mực trong một căn phòng Tổng Thống mà vật dụng, trang hoàng chưa chắc đã hơn phòng ngũ của tài xế những ông tướng cùng thời, thì có gì đáng nói ? Nhưng, nhiều “khoa bảng, sử gia” dùng đó để kết luận về … con người Tổng Thống Ngô đình Diệm và phê cả chế độ!

9. Rồi chỉnh lý, biểu dương lực lượng và một số quả báo đã xảy ra cho những người liên hệ xa gần vụ đảo-chánh: TT Mỹ John F. Kennedy bị ám sát 3 tuần sau, ngày 22-11-1963, bốn tướng đảo-chánh (DV Minh, Xuân, Ðôn, Kim), Nguyễn Văn Nhung thiếu tá mới lên, Trần Văn Chương, … hoặc bộ mặt thật chẳng ra gì của họ! Về Dương Văn Minh, bà Tùng Long đã có nhận xét rất đáng kể khi Huỳnh Thành Vị mời bà vào nhóm Ba phe sau khi ông Minh ở Thái Lan về lại Việt Nam, bà đã từ chối lấy lý do không làm chính-trị mà nếu có làm cũng không bao giờ hợp tác với ông Minh với lý như sau: “Khi cờ đến tay mà còn không phất được thì bây giờ còn có cơ hội nào để làm nữa” (30). Bà Tùng Long lúc nhỏ ở gần nhà ông Minh ở đường Trương Công Ðịnh gần vườn Tao đàn, và học chung với các em gái ông Minh. Ðại Tướng Lê Văn Tỵ cũng từng phát biểu rằng tướng Big Minh chỉ “là một thùng phuy rỗng” (31).

10. Trong số những người trung thành với chế độ Ngô đình Diệm, đã có những người nhìn thấy trục trặc của chế độ do đó đã lên tiếng, ra tay, nhưng không được đáp ứng và do đó phải chịu trả giá bản thân: BS Trần Kim Tuyến, ông Nguyễn Văn Châu. V.v. Sau đảo-chánh 11-11-1960 của các sĩ quan như Vương Văn Ðông, Nguyễn Chánh Thi và có bàn tay của một số chính khách, một số người thân tín của chế độ đã nhìn thấy cần cải cách, thay đổi. Một lực lượng đối lập dân chủ được hình thành, Phong Trào Ðại Ðoàn Kết, từ đầu năm 1961 đã có một số đề nghị cải cách trong đó đề nghị lập chức Thủ Tướng và giao cho BS Phan Huy Quát là bộ mặt chính-trị tương đối thanh liêm và có tầm cỡ. Nhưng ông cố vấn Sài-Gòn không cùng ý kiến, do đó ông Châu mất chức, phải đi D.C. làm tùy viên quân sự từ tháng 9-1962, ông Tuyến làm Tổng Lãnh Sự ở Ai cập nhưng chưa nhận nhiệm sở thì đảo-chánh đã xảy ra. Cuộc đảo-chánh 1-11-1963 xảy ra thì tình hình Việt Nam về chính-trị, quân sự đã khác với thời đảo-chánh 11-11-1960: ba năm sau, người Mỹ thao túng mạnh mẽ hơn và các vị trung thành với chế độ đã bị ly tán, không có quân hoặc quyền hành như trước! Ông Châu bị ông Nguyễn Ngọc Khôi trách đem quân ủy vào làm yếu quân đội (32). Còn ông Nguyễn Hữu Duệ thì đưa ra sự kiện trước đảo-chánh, khi “đại tá Tung được lệnh cô lập ông Mậu để dằn mặt những người mưu toan” nhưng ông trung tá Châu “nhảy bổ vào trình diện tổng-thống khóc lóc than phiền là ông Nhu bây giờ hết tin anh em, đã đẩy ông đi xa , nay còn anh Mậu theo cụ từ bao lâu nay mà cũng ra lệnh bắt (…) Nếu ông Châu đừng xía vô việc này thì ông Mậu bị bắt, như vậy các tướng sẽ không dám làm đảo-chánh, tôi hỏi thêm ông Châu. Việc này có thể đúng, ông trả lời” (33)! Ông Duệ hỏi ông Châu chỉ vài ngày sau đảo-chánh. Theo Trần Văn Ðôn và nhiều người thì ông Ðỗ Mậu theo đảo-chánh vì sợ hơn là chủ động theo!

11. Vụ hiệp thương hoặc cố vấn Ngô đình Nhu tiếp xúc với đại diện Hà-Nội (Phạm Hùng, và có thể cả Trần Ðộ theo như lời ông Tôn Thất Thiện (34)) trước nay vẫn được dùng như một luận cứ để bênh vực … Mỹ và nhóm tướng lãnh đảo-chánh! Chính ông Ngô đình Nhu trong một số buổi học tập chính-trị đã kể – chứ không giấu diếm như nhiều người lầm tưởng để khiến CIA Mỹ phải rình rập! Chính Ðạo Vũ Ngự Chiêu nhiều lần nhưng nhất là trong Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975, đã chứng minh “hành động “ve vãn” Cộng-Sản của anh em Diệm-Nhu (…), yếu tố “phiến Cọng” này mới thực sự mang lại sự sụp đổ của đệ Nhất Cộng Hòa (1956-1963) mà không phải cuộc tranh đấu của Phật Giáo, hay cái gọi là “bảo vệ chủ quyền quốc-gia”, “quốc thể”, “nền độc lập” như nhiều người tưởng nghĩ” (35). Một số người để biện hộ cho những hành vi phản bội, phá đổ miền Nam đã lấy lý do ông Nhu nói chuyện với miền Bắc mà họ gọi là “thỏa hiệp với Cọng, xé bỏ Hiến pháp” như Ðỗ Mậu từng ngụy biện (36), vì rồi cũng chính ông Mậu mấy năm trước khi chết đã viết Tâm Thư (1995) và về lại trong nước và đã có những thái độ, lời nói rất khả nghi! Lịch-sử chưa phê phán, chính mình đã tự lột mặt nạ! Giả dụ chuyện đó (cũng như chuyện cành đào chủ tịch họ Hồ miền Bắc gửi cho Tổng Thống miền Nam) có thật và thành công, thiển nghĩ nhiều triệu người Việt, Nam và Bắc, đã không phải hy sinh, nằm xuống hoặc mất tích, thương tật, v.v. và hôm nay cũng chẳng có ai phải bàn cãi chuyện chất độc Orange đã thiêu hủy, gây thương tật cho thiên nhiên, môi trường sống ở Việt Nam cũng như những quái thai trong các ống thí nghiệm của Nhà Nước Hà-Nội! Và biết đâu miền Nam đã trở thành Nam Hàn! V.v. Ừ nhỉ, thế thì cái diaspora Việt Nam hải-ngoại làm sao giải thích? * Vấn-đề nghiên cứu về biến cố, người trẻ sau này sẽ gặp nhiều khó khắn cũng như dễ dàng (37). Xin tham khảo chính văn, đừng nghe kể lại dù người đó là khoa bảng hay có tiếng; nhãn “linh mục, pháp danh” cựu này cựu kia, với một thiểu số có khi còn nguy hại hơn tài liệu và chứng giám của một tù nhân hay lính quèn! Có thật sự tham khảo mới có thể có nhận định, phán đoán chính đáng, công bằng. Hãy tập bỏ lý luận vì người cùng phe, vì danh tiếng người nào đó, nếu muốn tránh hời hợt và trở thành trò xiếc!

Muốn nghiêm chỉnh nghiên cứu và phê phán cuộc đảo-chánh 1-11-1963, thiển nghĩ không thể không làm (thêm) những việc sau đây: – Nghiên cứu lý thuyết chính-trị Nhân Vị của ông Ngô đình Nhu. Thuyết này không từ trên trời rơi xuống, có thông hiểu nó và con người chủ trì ra nó Ðông Tây tổng hợp và có cái nhìn viễn kiến – cũng như muốn hiểu Trung cộng không thể không tham khảo những gì Mao Trạch Ðông đã viết từ những thập niên 1930, 40. Chính đảng trong chính quyền mà có lý thuyết nghiêm túc dĩ nhiên là cần thiết, băng đảng mới là nguy hại! – Nghiên cứu lại những lý-thuyết chống Cộng của ông Nhu cũng như của các người khác, của những thời 1954, 1960, 1963, v.v. so với sau đó cho đến 30-4-1975. – Khách quan tìm hiểu những thực hiện của chế độ Ðệ Nhất Cộng Hoà như chính sách dinh điền, khu trù mật, ấp-chiến-lược, v.v. Cũng tránh thiên-kiến, cảm tính là những điều khó tránh cho những người có liên hệ xa gần đến các biến cố, và tránh những tổng quát hóa đơn sơ như kết luận kiểu “Ngô đình Diệm tạo nên thời đại hoàng kim của Ki-tô giáo” (38) trong khi thực tế phức tạp nhiều! – Một khía cạnh khác cũng đáng kể nhưng ít ai đi sâu vào: vai-trò ông Cố Vấn miền Trung Ngô đình Cẩn. Ông Cẩn liên hệ tốt đẹp với giáo hội Phật giáo ở Huế cũng như với Thích Trí Quang. Nhạy bén và biết hành xử chính-trị, trong vụ khủng hoảng Phật giáo mùa Hè 1963, ông đã mời được các vị lãnh đạo Phật giáo đến nhà ông ngày 7-5-1963 và đã nói như sau khi tiễn họ ra cửa: “Một trò Ơn chết mà chết cả một chính phủ, huống chi của một tôn giáo lớn nhất mà bị triệt hạ ngang như thế!” (39). Giáo sư Nguyễn Văn Trung trong tập bản thảo “Vẽ Ðường Cho Hươu Chạy” đã tổng kết về những sự kiện lịch-sử chưa ai nói đến về ông Ngô đình Cẩn. Giáo sư đưa ra ánh sáng hai điểm qua hai tài liệu Bội Phản Hay Chân Chính, hồi ký tập thể của một số cựu tù nhân của Ðội Công Tác Ðặc Biệt Miền Trung và bài viết của luật sư Võ Văn Quan đăng trên Thế Giới Ngày Nay cuối năm 1992 – ông Quan là người từng biện hộ cho ông Ngô đình Cẩn: thứ nhất, ông Cẩn không phải là thủ phạm hay có dính líu đến vụ đàn áp Phật giáo, ngược lại ông còn ủng hộ cuộc “đấu tranh” đó và chống lại hai ông anh ở Sài-Gòn đã nghe lời TGM Ngô Ðình Thục. Thứ nữa, cách ông Cẩn chống Cộng làm cho cộng-sản Hà-Nội sợ và đã đem lại an ninh cho miền Trung vốn rất xáo động. Trích đoạn đã được đăng trên tờ Ngày Nay Houston (40) nói đến “thành tích chống Cộng của Mật vụ Ngô đình Cẩn-Dương Văn Hiếu thật diệu kỳ, siêu tổ chức”; và tù cộng-sản ở nhà tù ông Cẩn ra đều bị Hà-Nội nghi ngờ và không được tin dùng nữa! Ngoài ra, ông Trung còn đưa ra lý lẽ tại sao thượng tọa Thích Trí Quang muốn xử tử ông Ngô đình Cẩn: chỉ để bịt miệng thế gian là chế độ Ngô đình Diệm đàn áp Phật giáo trong khi thực tế ngược lại. Thích Trí Quang cộng tác với ông Cẩn lúc đầu là để trá hàng, lợi dụng ông Cẩn, và cuối cùng TT Quang đã để cho cộng-sản Hà-Nội lợi dụng ông! Cái chết của ông Cẩn là một sỉ nhục và ông đã khẳng khái tỏ ra khinh miệt kẻ gian khi không chịu bịt mặt!

Về các tài liệu, hồi ký của bên người miền Nam, quốc gia đã đành, mà cũng nên xem qua tiếng nói, nhân chứng phía người cộng sản Việt Nam và cựu đảng viên cộng-sản. Nếu lướt qua những tài liệu chúng tôi đã tham-khảo về biến cố đảo-chánh 1-11, xin lược lại đây một số ý kiến: một số người (Nguyễn Mạnh Quang,…). không tham khảo nguyên bản, chỉ lập lại lời người khác, hoặc trích lời dịch từ những nguyên bản tiếng ngoại ngữ có thể bất khả tín. Người khác, như Trần Ngọc Ninh (40 Năm Sau (41)), một cựu ủy viên tương đương Bộ Trưởng của miền Nam, 40 năm sau đảo-chánh mà không cập nhật tài liệu và khám phá mới, đọc ông cứ như mới viết sau đảo-chánh thời cao trào Phật giáo hoặc suýt gây thánh chiến với Công giáo. Người khác nữa thì nhầm lẫn nhân sự: một ông ở Úc (42) lầm Nguyễn Văn Châu với Nguyễn Hữu Châu, người khác ghi Trần Văn Châu khi nói tới Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý không biết ông ta muốn nói Trần Văn Trung hay Nguyễn Văn Châu vì cả hai đều giữ chức đó, ông Trung trước, ông Châu kế nhiệm.

Tài-liệu hoặc tác giả có thể tin hoặc giúp ích cho nghiên cứu về biến cố có: LM Cao Văn Luận (Bên Giòng Lịch-Sử, 2 ấn bản khác nhau, 1972 & 1983 ở hải-ngoại), Hoàng Lạc & Hà Mai-Việt (Nam Việt-Nam 1954-1975: những sự thật chưa hề nhắc tới. 1990), Nguyễn Trân (Công Và Tội: những sự thật lịch sử; hồi-ký lịch sử chính trị miền Nam 1945-1975. 1992); Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức (Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô đình Diệm. 1994, một điều tra lịch-sử khá khách quan (43); bản dịch ra tiếng Anh: President Ngô Dình Diêm and the US: his overthrow and assassination. 2001), Phan Văn Lưu (Biến Cố Chính-Trị Việt Nam Hiện Ðại. 1994), Vĩnh Phúc (Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm. 1998), Minh Võ (Ngô Ðình Diệm: Lời Khen Tiếng Chê. 1998), Huỳnh Văn Lang (Nhân Chứng Một Chế Ðộ, 3 tập), Nguyễn Hữu Duệ (Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô đình Diệm. 2003),… Cũng như những ấn phẩm xuất-bản trong nước trước 1975 như của Lê Tử Hùng, Ðỗ Thọ, Lương Khải Minh và Cao Vị Hoàng, Minh Hùng Nguyễn Văn Bảo, v.v.

Phía tác-giả ngoại quốc, trước hết phải kể đến những tài liệu giải mật của Pentagon (44), của chính quyền Hoa-Kỳ, Bản tường trình của Phái đoàn điều tra LHQ (công bố ngày 13-12-1963 chứ không bị chìm xuồng như một đôi người viết (45)), B. S. N. Murti (Vietnam divided; the unfinished struggle, 1960, tb 1964), Dennis J. Duncanson (Government and Revolution in Vietnam. 1968), Marguerite Higgins (Our Vietnam Nightmare, 1965), R. Shaplen (The Lost Revolution. 1965), Ellen J. Hammer (A Death in November: America in Vietnam, 1963. 1987), Frederick Nolting (From Trust to Tragedy: the political memoirs of Frederick Nolting, Kennedy’s ambassador to Diem’s Vietnam. 1988), Anne E. Blair (Lodge in Vietnam: a Patriot Abroad. 1995), Francis X. Winters (The Year of the Hare: America in Vietnam, January 25, 1963-February 15, 1964; xuất-bản 1997, từ tài liệu giải mật Foreign Relations of the U.S. 1961-1984),

Những tài-liệu hoặc tác giả sau dùng được nhưng đề cao cảnh giác: Bùi Diễm (In the Jaws of History. 1987; Gọng Kìm Của Lịch-Sử. 2000); Trần Văn Ðôn (Our Endless War: inside Vietnam. 1978; Việt Nam Nhân Chứng. 1989), Nguyễn Cao Kỳ (How we lost the Vietnam War. 1976; Buddha’s Child: my Fight to Save Vietnam. 2002), Phạm Văn Liễu. Trả Ta Sông Núi. Tập 1&2, 2002-, Nguyễn Ngọc Khôi (“Những sai lầm của Ðệ Nhất Cộng Hòa” (46)), Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Ðỗ Mậu (1986), Việt Nam: Một Trời Tâm Sự (1987) của Nguyễn Chánh Thi, 20 Năm Binh Nghiệp, tức Nghĩa Biển Tình Sông. 1998) của Tôn Thất Ðính – đều là những biện hộ không khéo hoặc quá đánh bóng cá nhân, Những bịa đặt, xuyên tạc của những Ðệ Nhất Phu Nhân của Hoàng Trọng Miên, Ðảng Cần Lao (1971) của Chu Bằng Lĩnh tức Mặc Thu, Việt Nam Ðệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (1998) của Nguyễn Mạnh Quang, Những Bí ẩn Lịch-sử Dưới Chế độ Ngô đình Diệm, Những Con Thò Lò Chính-Trị … và tương cận của Lê Trọng Văn, những bài viết và ấn-phẩm của nhóm Giao Ðiểm ở Cali và ở trong nước, cả cuốn Sáu Tháng Pháp Nạn của Vũ Văn Mẫu, cựu ngoại trưởng đã cạo đầu từ chức nhân biến cố Phật Giáo 22-8-1963 và cũng là thủ tướng hai ngày (28-4-1975) của tổng-thống cộng-hòa cuối cùng Dương Văn Minh, đã viết cuốn này lúc còn ở trong nước và in ronéo năm 1984, đến 2003, TT Thích Mãn Giác viết tựa và nhóm Giao Ðiểm in lại ở Nam California. Ngoài ra có những tài liệu, hồi ký khác có thể xử dụng về xa gần biến cố đảo-chánh hoặc con người: Nhị Lang (Phong Trào Trình Minh Thế. 1984), Văn Bia (Ðời Một Phóng Viên Và Những Ngày Chung Sống Với Chí Sĩ Ngô Ðình Diệm, 2001 (47)), Vương Văn Ðông (Binh Biến 11-11-60. 2000), Nguyên Vũ (Chính Ðạo, Vũ Ngự Chiêu) có nhiều tài liệu sử và biên thuật đáng kể và khá tinh tế sử dụng văn liệu, nhưng nếu ông nén cảm tính (dù ông đã ghi là “tâm bút” cho ít nhất hai cuốn Paris Xuân 1996 và Ngàn Năm Soi Mặt), khi sử-liệu-hóa lịch-sử thì giá trị khách quan và khoa học sẽ rõ hơn và thuyết phục được giới trẻ. Những ám ảnh thường thấy trong toàn bộ các biên khảo của ông về chế độ đệ nhất cộng hòa, đó là ngày sinh của tổng-thống Diệm thời mà giấy tờ hộ tịch chưa như sau này, đó là đánh giá cao hoặc cả tin những người Hoa-Kỳ, Pháp (48), v.v. trong mục-đích hạ giá các nhân vật người Việt, đó là mặc cảm về quyền lực của giáo hội Công giáo, đó là không khai thác những văn khố hoặc sự kiện có lợi cho chế độ đó, đó là quá đề cao các đảng phái khác khi phê phán đảng Cần Lao và chế độ, thiếu so sánh và căn cứ trên những sự kiện lịch-sử đã xảy ra, riêng vụ đảo-chánh, ông lý luận như bênh phe đảo-chánh (tại sao anh em Tổng Thống vào trốn ở nhà Mã Tuyên, “một địa điểm đầy nghi hoặc” (49) – nhưng vụ ám sát đã xảy ra khi anh em tổng-thống đã bị bắt và đang bị đưa về bộ chỉ huy đảo-chánh! Còn giả thuyết nếu xin đại sứ Hoa-Kỳ C. Lodge bảo vệ đưa ra khỏi nước thì kết quả chắc gì đã khác hậu quả đã xảy ra với ông Cẩn: giao kẻ xin tị nạn cho phe … giết người (!). Khi kết luận, thiển nghĩ Chính Ðạo không công bằng khi núp sau luật nhân quả (nhưng ai đủ thẩm quyền để xét luật nhân quả?) để xem rất nhẹ tội kẻ chủ mưu giết anh em tổng-thống Diệm hơn là lời nói và cái ông gọi là “vỗ tay” của bà Trần Lệ Xuân khi bà nói đến các vị sư tự thiêu BBQ: sự tự thiêu dù sao cũng có phần nào nghi vấn, trong khi lời nói dù quá lố hoặc được hiểu là thêm dầu vô lửa hay vỗ tay cũng không phải là chính hành động … giết người rồi chối tội sau khi đã nhận tiền ngoại bang và chia chác tiền của chiếm được!

Nhiều luận án ở các đại học Pháp, Mỹ và Úc đã nghiên cứu nghiêm túc một số biến cố hoặc cả chân dung chính-trị miền Nam thời này, về chế độ đệ nhất cộng-hoà, về vai trò một số đảng phái ở miền Nam, và đã có những cái nhìn theo tôi là can đảm, trung thực, công bằng và khoa học. Ở Pháp có rất nhiều luận án từ cao học đến tiến sĩ không thể kể dài dòng ở đây, ở Úc là nơi đang lên về nghiên cứu các vấn-đề Việt Nam từ chính-trị đến văn-học có những luận án tiến sĩ đại học Monash xin kể sau: The Miracle of Vietnam: the Establishment and Consolidation of Ngo Ðinh Diem ‘s Regime, 1954-1959 của Nguyễn Ngọc Tân, The Budhish Crises in Vietnam 1963-1966 của Phan Văn Lưu, v.v.

Ngoài ra cũng nên tìm hiểu thái độ cũng như những phát biểu của những người từng được chế độ đệ nhất cộng hoà cho đi du học, xem họ trung hoặc phản ra sao, cũng như nghiên cứu trường hợp những vị trí thức, khoa bảng hoặc thời cơ, “bảo hoàng hơn vua” để nịnh chế độ ra sao cũng như “tác phẩm” và thái độ của họ sau đó thế nào. Cũng như những người bỏ đạo gốc để theo đạo mới nịnh chế độ để tiến thân, rồi sau đảo-chánh, bỏ đạo mới! Và cả những người cao cấp nằm vùng, gián điệp nhị, tam trùng, v.v. Từ đó có thể có thêm những kết luận khác, về cái tâm địa khốn-cùng của con người chẳng hạn!

Gần đây, một sinh viên tiến-sĩ người Mỹ đã gây ngạc nhiên cho tôi khi anh gặp tôi vì muốn tìm hiểu rõ hơn vai trò của ông Nguyễn Văn Châu cũng như một số người khác liên hệ và chỉ ở những ngày trước sau vụ đảo-chánh 1-11. Một trí thức người Việt tốt nghiệp ở Nga cũng hỏi thăm tôi như vậy! Nghĩa là có người vẫn đi tìm sự thực lịch-sử, việc tôi vẫn và tiếp tục theo dõi! Ngoài ra mới đây, hai ngày 24-25 tháng 10-2003, một cuộc hội thảo về biến cố đảo-chánh 1-11 đã được Vietnam Center thuộc đại học Texas Technology ở Lubbock tổ chức. Cựu đảng viên cộng-sản Bùi Tín đã có bài tham luận đã kết luận như sau về Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đại Tá Lê Quang Tung Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt, như Đại Tá Hồ Tấn Quyền chỉ huy Hải Quân, đều bị đảo chánh giết, sinh mạng ông như ngọn đèn dầu trước bão táp bất nhân, phải nhiều lần ra phi trường ông mới được thoát trở về Hoa-Thịnh-đốn rồi bị nghĩ giã-hạn không lương. Thoát đạn vài vị tướng như nghe nói là TTÐ từng phải “nhịn nhục” ông trong quá khứ. Chán đồng minh Mỹ, ông đi Pháp, đổi sang nghề dạy học cũng như đi học lại. Sau Cao học, ông làm tiếp luận án tiến sĩ, có sang Canada và trở thành khách bộ Ngoại giao Mỹ muà hè 1984 khi đến D.C. nghiên cứu tài liệu. Chúng tôi lúc đó hành nghề thủ-thư ở thư viện Quốc hội Québec, đã phụ tìm giúp ông nhiều tài liệu của Anh nhất là của Sir R. Thompson, Dennis J. Duncanson, của Phi-Luật-Tân, (55)… Ông mất vì bệnh tại miền Nam nước Pháp tháng 8-1985, hết còn có thể trả lời, bạch hóa một số hồi ký và nghi vấn về vụ đảo-chánh và vai-trò của ông trong quá-khứ! *

Từ năm 1962, nội bộ anh em và gia-đình Tổng Thống Ngô đình Diệm đã có những dấu hiệu rạn nứt, có thể bất đồng về một số quyết định chính-trị. Tổng Thống bắt đầu hết thích hợp thời thế (như chọn người dòng dõi, biết chắc gốc gác), vả lại ông quá nhân từ và tin người – dùng người do Pháp đào tạo hoặc quá khứ khả nghi, cuối cùng là vì sống theo tinh thần Nho giáo quyền huynh thế phụ mà ông đã không ngăn cản những sai trái của ông anh tổng giám mục và vợ chồng ông em cố vấn có con trai nối dõi. Hai ông cố vấn có lúc hai đường lối và nhân sự có khi không hẳn như nhau, đưa đến việc nghi ngờ và xa lánh những người thân tin từ đầu như ông trung tá NV Châu, bs Trần Kim Tuyến. Cả hai ông cố vấn đã dùng người đầu thú, chiêu hồi rất gentlemen, phần lớn thu phục người, nhưng có khi bị phản (Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Ngọc Thảo, v.v.). Ba năm trước đó, sau vụ đảo-chánh 11-11-1960, ông Trung Tá Châu là Thư ký Ủy Ban Nhân dân Chống Ðảo-Chánh, các sĩ quan trung thành lúc đó nhiều hơn là người có ý phản. Ba năm sau, tình hình chính-trị và nhân sự đã thay đổi nhiều. Những cán bộ của Ngô đình Cẩn hiệu nghiệm ở miền Trung nhưng bớt ở Sài-Gòn vì không còn đồng thuận có trước đó và ê-kíp thu hẹp hơn trước (56). Chế độ sau 9 năm cầm quyền, với nhân tình đảo điên, với những quá đà và chia rẽ nội bộ, thế nào ngày cuối cũng đến, dù có hay không vụ đảo-chánh 1-11-1963. Nhưng nếu đến với nhiều lá phiếu thật của dân và không phải xảy ra những vụ giết người hèn nhát (anh em Diệm Nhu đã bị trói tay), bất công (ông Ngô đình Cẩn ra đầu thú, thù hận và chính-trị đã xử thay vì công lý xử), thì lịch-sử đã bước đi ngã khác! Tổng-thống Ngô đình Diệm dù có một số khuyết điểm (tinh thần gia tộc mạnh, nghe nịnh hót, xa dân, …) đã hành xử lúc bình sinh và rồi tuẫn tiết như một nhà Nho, chứng tỏ khí tiết của một người quốc-gia yêu nước chân thành, trong khi đối lập và những kẻ phản dân chủ chạy theo tiền và ngoại bang. Có thể lúc về nước năm 1954 ông được sự ủng hộ của ngoại bang, nhưng đã tỏ ra có tài điều khiển khiến kéo dài được 9 năm. Ông không thật sự thiên vị đạo Công giáo và nếu có chăng là do những người tâng công hoặc lạm dụng, cả TGM Ngô Ðình Thục anh ông. (Năm 1959, tổng-thống Diệm được giải Leadership Magsaysay $15,000 đô nhưng ông đã chuyển cho đức Ðạt Lai Lạt Ma qua lãnh sự ở New Delhi). Kết luận như ông Minh Võ: “Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một lãnh tụ xứng đáng của miền Nam” (57). LM Cao Văn Luận lúc gần cuối đời đã phê phán như sau: “Sự thanh toán ông Diệm và chế độ ông Diệm phải chăng là một sai lầm tai hại cho đất nước Việt Nam. Những hỗn loạn chính-trị, những thất bại quân sự sau ngày 1-11-1963 đã trả lời cho câu hỏi đó” (58).

Cuộc đảo-chánh 1-11-1963 đã mở cửa cho cuộc chiến-tranh toàn diện, huynh đệ bị hy-sinh cho lý tưởng cường điệu của hai phe chiến-tranh lạnh, quốc-cộng trở nên lằn ranh hằn sâu lên tâm trí và thân xác con người Việt Nam cho đến hôm nay. Biến cố đó đã mở toang cho thú-tính tung hoành, cho thói tính vô-chính-phủ lên ngôi! Hậu quả này, nay đã rửa sạch, đã trả nợ xong chưa ? Một điều chắc chắn là thời gian 40 năm đã cắt nghĩa nhiều sự kiện, hành động, cũng như cho thấy bộ mặt thật của một số người (Nguyễn đình Thuần, Phan Quang Ðán, Bùi Diễm, TV Ðôn, TT Ðính, Ðỗ Mậu (59), v.v.).

Một nhận xét khác, từ biến cố 1-11, từ khi có quân có súng có “OK” của quan thầy cả tự ý nhân danh Chính nghĩa, để làm loạn, đảo-chánh, chỉnh lý, biểu dương lực lượng – mà năm 1964 là năm trăm hoa đua nở nhất, nhiều người làm chính-trị mỗi lúc một đưa Chính nghĩa ra làm ngáo ộp. Và xuất cảng ra đến hải-ngoại từ sau 1975. Chính nghĩa vốn là cái cao quý, hệ trọng cho cả một dân tộc, đã bị con người ta hễ có chuyện là lôi ra. Trục trặc phe nhóm, cá nhân, buôn bán bảo hiểm, làm ăn không như ý, thế là lại lôi Chính nghĩa ra. Thế mà cũng có thể lôi kéo, quyên góp được tiền bạc của nhiều người – thì cứ xem như là một cách chống Cộng hay chống nằm vùng, chao đảo hoặc để lương tâm được … yên ổn! Dĩ nhiên có những lúc mà Chính nghĩa đã được xử dụng đúng chỗ trong hơn 28 năm qua – phần lớn toàn mạo danh, thậm xưng, làm bạc giả!

Trong bài này, hậu sinh chúng tôi trong việc tìm hiểu lịch-sử, chỉ nói đến sự phản trắc một cơ cấu dân chủ, hợp pháp, hợp hiến – Tổng Thống Ngô đình Diệm là người đại diện được dân cử. Hội đồng Cách-mạng cũng chỉ là một thiểu số của một cơ cấu là quân đội, hơn nữa các ủy viên đứng đầu phần lớn đã đi lính cho Pháp thời Pháp thuộc. Còn Quân đội Việt Nam Cộng Hoà so với bộ đội miền Bắc nói chung anh hùng và nhiều bậc đáng kính hơn! Tai hại về lâu dài của vụ đảo-chánh phản bội, là đã làm yếu các chế độ sau đó vì vẫn xây trên nền không-dân-chủ, và di hại hơn nữa vì chứng đã thành bệnh khi ra đến hải-ngoại: não trạng phản bội, chia rẽ, không tôn trọng dân chủ, cứ nhìn Văn Bút hải-ngoại, các cơ cấu cộng đồng Atlanta, Nam Cali và Bắc Cali đều chia làm 2 với thủ lãnh khác nhau, rồi các cựu tù binh, tị nạn chính-trị, ngay cựu học sinh cũng thành nhiều hội mà danh xưng chỉ là một trò … chơi chữ!

Bài học nếu có cho thế hệ tương lai theo tôi là hãy quên quá-khứ nhưng hãy công bình với lịch-sử xét xử công tội cố gắng khách quan. Chân lý và công lý phải là những mục đích cần có trong việc tìm cho ra những nguyên nhân của não trạng tinh thần và chính-trị người Việt Nam đã khiến cho nước Việt và con người Việt phải như hôm nay, tìm cho ra sự thực từ những khúc mắc chính-trị, gián điệp, tuyên truyền, v.v. Và thoát khỏi tâm địa thời thuộc địa và cả tư duy hậu thuộc địa!

Tóm, tất cả người Việt chúng ta đều là nạn nhân của chính-trị nội bộ Hoa-Kỳ, của truyền thông và báo chí Hoa-Kỳ, của các cường quốc nói chung, của chiến-tranh lạnh, nhưng chúng ta cũng là nạn nhân chính chúng ta mà trong chúng ta kẻ nhiều tội nhất là những kẻ tự xưng là người của Mỹ, của Pháp, của Cộng sản quốc tế,…!

Nguyễn Vy Khanh

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Giòng Sông Cũ

 

Chú Thích:

1. Số tiền 3 triệu đồng Việt Nam tức 42,000 Mỹ kim do Lucien Conein đưa đến bộ Tổng Tham mưu cho các tướng đảo-chánh. X. Nguyên Vũ. Ngàn Năm Soi Mặt: tâm bút (Houston: Văn Hóa, 2002), tr. 114; Ðỗ Mậu. Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Mission Hills CA: Quê Hương, tb 1987), tr. 816; v.v…
2. Hội đồng Quân nhân Cách-mạng chỉ thành lập từ ngày 3-11-1963.
3. Cao Văn Luận. Bên Giòng Lịch-Sử 1940-1965 (Sài-Gòn: Trí Dũng, 1972; Sống Mới tái bản, s.d.), tr. 256.
4. Phạm Kim Vinh. Việt Nam Tự Do Từ Ngô Ðình Diệm Ðến Lưu Vong. Tủ Sách PKV, 1987.
5. Trần Văn Ðôn. Việt Nam Nhân-Chứng (Los Alamitos CA: Xuân Thu, 198?), tr. 249.
6. Tôn Thất Ðính. 20 Năm Binh Nghiệp, tức Nghĩa Biển Tình Sông (San Jose CA: TB Chánh Ðạo, 1998), tr. 455.
7. Ðỗ Mậu. Sđd, tr. 789.
8. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 250.
9. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 238.
10. Trần Văn Ðôn kể Nhung đã khoe với con trai ông con dao găm lịch-sử (Sđd, tr. 236-8).
11. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 236. Ngô Ðình Châu xác nhận điều này trong Những Ngày Cuối Cùng Của Ðệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam (s.l.: Holly Graphics, 1999), tr. 19.
12. Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức. Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng-Thống Ngô đình Diệm (San José CA: Quang Vinh, Kim Loan & Quang Hieu, 1994), tr. 532.
13. Ngô Ðình Châu. Sđd, tr. 41. Ông Ngô Ðình Châu đã hỏi trung sĩ trưởng chiến xa M-113 chở anh em tổng-thống Diệm.
14. Diễn Ðàn Phụ Nữ, 148, 1996, tr. 59.
15. Nguyễn Hữu Duệ. Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng-Thống Ngô đình Diệm (Tác-giả xuất-bản, CA 2003), tr. 170-171.
16. Huỳnh Văn Lang. Nhân Chứng Một Chế Ðộ (Tác-giả xuất-bản, 2000), tập 3, tr. 256-8.
17. Tập 2, tr. 70. Lại có tin ông DV Minh không nộp đủ, giấu đi một thùng phuy vàng (X. Nguyên Vũ. NNSM, Sđd, tr. 13).
18. Nguyễn Hữu Duệ. Sđd, tr. 74 & 78. Ông Quan trước khi chết đã xin trở lại đạo Công giáo do TGM Nguyễn Văn Bình rửa tội, điều ông muốbn từ trước đảo-chánh nhưng không làm vì sợ hiểu lầm hoặc giống những người khác!
19. Tr. 258. Nguyễn Kỳ Phong dịch, Vietnam Bibliography ở Centreville VA xuất-bản, 2003. Nguyên bản tiếng Anh xuất-bản năm 1985. Trong Bốn Mươi Năm Văn-Học Chiến-tranh (Ðại Nam, 1997, tr. 140), chúng tôi có trách là các tướng sang Hoa-Kỳ viết report và study xuất-bản hạn chế cho bộ Quốc phòng Mỹ mà quên đồng bào người Việt, nay có bản dịch này nằm trong số những tài liệu đó.
20. Trong nước cũng làm một cuộc kỷ niệm 40 năm “cách-mạng 1-11-1963 thành công”, Nguyễn Ðắc Xuân làm một cuộc “tham quan” dinh Gia Long và nhân đó tiết lộ tướng Dương Văn Minh đã “nạt nộ tướng Ðôn “André! Giờ này mà anh còn muốn phản tôi hả? Nhung đưa súng đây”. Tướng Ðôn sợ quá muốn xỉu luôn! “ (Bốn Mươi Năm Nhìn Lại, tuyển tập 1963-2003. Garden Grove CA: Giao Ðiểm, 2003). Chuyện tướng Ðôn chiều ngày 1-11 điện thoại với tổng-thống Diệm đã có người nói đến, nhưng việc ttướng Minh giựt điện thoại và câu nói “lịch-sử” trên thì chưa, chúng tôi ghi lại với dè dặt vì chưa biết! Xuân kể theo lời KTS Nguyễn Hữu Ðống mà theo ông là “người đại diện dân sự độc nhất có mặt bên cạnh tướng DV Minh lúc ấy”(?).
21. Anne Blair. Lodge in Vietnam. New Haven: Yale University Press, 1995, tr. 190.
22. Bùi Tín. “Nhân vật lịch-sử Ngô đình Diệm và hậu quả cuộc đảo-chánh 1-11, 63”, Ngày Nay, 513, 15-10-2003, tr. A5 & B6.
23. Theo cuộn băng 37 tiếng đồng hồ tàng trữ ở JFK Library (Boston) được giải mật ngày 24-11-1998.
24. X. David Antonel et al. Les Complots de la CIA. Paris: Stock, 1976 (Chương “Un suicide accidentel” – lấy lại lời tuyên bố với báo chí của tướng Trần Tử Oai, ủy viên báo chí, nghe theo lời dặn của tướng Trần Văn Ðôn).
25. Trích theo F X Winters. Sđd, tr. 183. Trong khi đó, tờ New York Herald Tribune thì bênh vực chế độ Ngô đình Diệm!
26. Chính Ðạo. Tôn Giáo Và Chính-Trị: Phật Giáo, 1963-1967. Houston: Văn Hóa, 1994, trích theo bản cập nhật 2003 (phần C. Thay đổi đại sứ Mỹ).
27. X. Marguerite Higgins. Our Vietnam Nightmare, 1965; Ellen J. Hammer . A Death in November: America in Vietnam, 1963. 1987; Nguyễn Ngọc Tân. “The Miracle of Vietnam: the Establishment and Consolidation of Ngo Ðinh Diem ‘s Regime, 1954-1959”. Ph. D. Thesis, Monash University.
28. X. Nghiên cứu của chúng tôi về các vận động chính-trị của người Việt hải-ngoại 1975-2005, sẽ công bố hoặc xuất-bản.
29. Bách Khoa SG, 1969, đăng lại trong hồi ký Hơn Nửa Ðời Hư.
30. Bà Tùng Long. Hồi-Ký (Saigon: NXB Trẻ, 2003), tr. 221.
31. Nguyễn Văn Châu ghi nhận trong Ngô Ðình Diệm Và Nổ Lực Hoà Bình Dang Dở (Los Alamitos CA: Xuân Thu, 1989), tr. 95.
32. “Những sai lầm của Ðệ Nhất Cộng Hòa”. Thời Báo Toronto 202, 11-11-1993; 203, 18-11-1993 (cùng đăng trên một số báo khác). Ông Khôi tư lệnh Lữ đoàn Phòng vệ Tổng-thống phủ lúc xảy ra đảo-chánh 1-11, trong bài viết ông tỏ ra mặc cảm, ghen tương với nhiều người khác lên lon lên chức hơn ông và ông muốn đính chính chối từ liên hệ của ông với chế độ. Ông phê bình ông NV Châu đem đảng Cần lao vào quân đội làm mất hiệu lực và làm mất miền Nam (?). Phê phán ngây thơ vì chiến-tranh một sống một còn với guồng máy cộng-sản, đáng ra còn phải đi xa hơn, nếu không triệt để tổ chức lại quân đội quốc gia thì cũng phải cô lập hoặc cho làm bàn giấy tất cả những phần tử do Pháp đào luyện hoặc quá-khứ khả nghi (MH Xuân, TT Ðính, DV Minh, Ðỗ Mậu, …) là chuyện khả thể ngay cả trong các xã hội dân chủ như Hoa-Kỳ, Pháp.
33. Sđd, tr. 97.
34. X. Vĩnh Phúc. Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm. (Westminter CA: Văn Nghệ, 1998), tr. 337.

35. Chính Ðạo. “Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975” (chưa xuất-bản, bản Internet ở trang giaodiem.com).
36. Ðó cũng là nội dung của cả chương XVI, sđd.
37. Một người nghiên cứu trẻ, Nguyễn Kỳ Phong, tác-giả bộ Người Mỹ và Chiến-tranh Việt Nam (Centreville VA: Vietnam Bibliography, 2001) từng bị chính trị gia Nhị Lang phê phán quá dựa theo tài liệu của Mỹ. X. “Trở lại vụ án 47 năm trước: ai giết tướng Trình Minh Thế?”. Văn Nghệ Tiền Phong, 636, 16-7-2002, tr. 24+.
38. Chính Ðạo. Tôn Giáo Và Chính-Trị: Phật Giáo, 1963-1967. Houston: Văn Hóa, 1994, trích theo bản cập nhật 2003.
39. Hải Triều Âm, 2, 30-4-1964, tr. 5. Trích lại từ Lê Cung. “Tìm hiểu những sự kiện đầu tiên trong phong trào Phật giáo miền Nam 1963”. Nghiên Cứu Lịch-Sử, 4, 1994, tr. 10. Chú thêm: Vụ trò Ơn bị giết khiến học sinh biểu tình và làm rớt chính phủ thời đó!
40. Ngày Nay, 374, 15-9-1997, tr. A5-6.
41. Ðã đăng trên trang Internet Vietpage.com ngày 6-9-2003.
42. ST. “Dân-tộc Việt Nam hai lần bị lường gạt”. Bên Kia Bờ Ðại Dương, 45, 6-2002.
43. Dĩ nhiên bị một số người bênh nhóm tướng lãnh “cách-mạng”, chế độ sau đó và bênh nhóm Phật giáo bạo động, chỉ trích. Nhưng khác Vĩnh Phúc, hai tác-giả này đã phỏng vấn hoặc khiến một số người trong cuộc phải lên tiếng, cả sau khi đã xuất-bản như với trung tá Dương Hiếu Nghĩa (X. Diễn Ðàn Phụ Nữ 148, 1996, tr. 59).
44. The Pentagon Papers: as published by the New York times, The Pentagon history was obtained by Neil Sheehan. Written by Neil Sheehan [and others]. New York, Quadrangle Books [1971]. 810 p.
45. Report of the UN Fact Finding Mission to South Vietnam. Washington D.C.: Government Printing Office, 1964. 254 tr.
46. Bđd. Thời Báo Toronto 202, 11-11-1993; 203, 18-11-1993.
47. Methuen MA: Lê Hồng, 2001. Chúng tôi đã có lời viết Tựa cho tập Hồi ký này.
48. Thí dụ không tin lời học giả Trần Trọng Kim (VNSL) mà tin báo cáo của Khâm sứ Pháp về việc đào mã lãnh tụ Cần Vương Phan Ðình Phùng. Chính Ðạo. Sđd, chú 51. Ðể viết tiểu sử Ngô Ðình Diệm, theo lời ông Nguyên Vũ, đã “sử dụng cơ bản là tập tiểu sử chính phủ Diệm do cơ quan an ninh Pháp thành lập ngày 5/7/1954 hiện vẫn còn chưa giải mật” (HCM con người & huyền thoại, tập III: 1947-1969).
49. Nguyên Vũ. NNSM. Sđd, tr. 135.
50. Bùi Tín. Bđd. Ngày Nay, tr. A5.
51. X. Trương Phú Thứ. Văn Nghệ Tiền-Phong, 643, 1-11-2002, tr. 8.
52. Hoặc nói rằng ông Châu về dự lễ mở tay linh mục của người em ông (X. Nguyễn Hữu Duệ, Sđd, tr. 97) – thật ra đã xảy ra năm 1960.
53. X. Nghiên Cứu Lịch-Sử, 48, 3-1963, tr. 6.
54. Trong số có ông Ðỗ Mậu (X. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 203), nhưng ông Mậu không nói đến trong hồi ký của ông. Người duy nhất trong số đó còn sống là ông NN Khôi.
55. Ghi lại vài tài liệu còn nhớ: Dennis J. Duncanson: Lessons of Vietnam: three interpretive essays, 1971; Indo-China, the conflict analysed, Conflict Studies 39, 1973, v.v.; Robert Thompson: Defeating Communist insurgency: experiences from Malaya and Vietnam. 1966; “Vietnam: the human cost of communism”. Worldview Nov 1972; No exit from Vietnam. 1969; Peace is not at hand. 1974; v.v. Ngoài ra, nói đến tài liệu, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ còn giữ cuộn băng ông trả lời phỏng vấn của nhà báo Neil Sheehan năm 1974 (X. Prof. Nguyen Van Chau, Oct. 24, 1974, my study, Wash., D.C. [sound recording]. 1974; Call no: RYB 6636-6637 (Recording made or collected by Neil Sheehan in preparation for the writing of his book A bright shining lie: John Paul Vann and America in Vietnam).
56. Nhà văn Nguyên Sa trong Hồi Ký (Irvine CA: Ðời, 1998) đã viết lại sự hữu hiệu của công an miền Trung ở Sài-Gòn (tr. 271+).
57. Minh Võ. Sđd, tr. 286.
58. Cao Văn Luận. Bên Giòng Lịch-Sử Việt Nam, 1940-1975 (Sacramento, CA: Tantu Research, c1983), tr. 6.
59. Ông Tôn Thất Ðính và Ðỗ Mậu là hai người bị phê phán nặng nề nhất, riêng ông Ðính ít ra đã có những lời “thú lỗi” dù tập thể ở đoạn cuối cuốn hồi ký: “cuộc hành quân 1-11-63 không phải là một thành công mà chính là một thảm bại lớn lao đối với lịch-sử” (Sđd, tr. 455). Hãy so với đa ngôn nhưng lời rỗng của Ðỗ Mậu: “ý nghĩa thực sự của ngày 1-11-63 là giải thoát. Trên mặt lịch-sử, nó chấm dứt những bế tắc của thế và thời để khai mở một giòng sinh mệnh mới; trên mặt dân-tộc, nó chấm dứt một giai đoạn trì trệ và đen tối để dân-tộc lại trở về với chức năng của chủ nhân đất nước (!)… “ (Sđd, tr. 791).


Để con giúp bác – Từ thức

Bài đọc suy gẫm: Để con giúp bác tức “Một ngày rất lạ” của tác giả Từ Thức. Hình ảnh chỉ là minh hoạ.

 

Hình trên: Đại sứ Pháp ăn phở vỉa hè tại Hà Nội, và một quán phở, “Phở …Sướng”

Ông NP Trọng, với nụ cười nhân hậu, cương nghị của một lãnh tụ lớn, tuyên bố : để toàn dân góp phần vào việc chống ngoại xâm, đảng Cộng Sản  tự giải tán. Ông nói đất nước là đất nước chung, không phải của một đảng phái nào cả. Bắt gần 100 triệu người đi theo một đảng mafia là dẫn dân tộc vào tử địa…

MỘT NGÀY RẤT LẠ
Từ Thức

Một buổi sáng chủ nhật, nắng rực rỡ, trời xanh và sạch như thủy tinh, mát mẻ. Y xách chiếc xe gắn máy ra đường , bà vợ chạy theo . ‘’ Anh phơi đầu trần, lại đau cho mà coi ’’. Bà vợ cằn cỗi, nhăn nhó mọi ngày, dịu dàng chụp lên đầu y cái mũ vải, với nụ cười thật tươi . Y bắt gặp nụ cười đám cưới năm nào.
Y buột miệng ‘’ Cám ơn em ‘’, ngạc nhiên không biết ba chữ rất lạ, kỳ cục ấy, không biết ở đâu rơi xuống. Bình thường, người ta chỉ dấm dẳn, gây gổ, cằn nhằn, đay nghiến nhau về chuyện tiền bạc, ăn uống. Đề tài trao đổi luẩn quẩn chung quanh cái dạ dầy. Những lời âu yếm, những câu tử tế nó trốn đâu đó , sâu trong tiềm thức, hôm nay tự nhiên bò ra.
Y cao hứng, huýt sáo một bản nhạc vàng tình tứ, tưởng đã quên, lơ đãng vượt qua đèn đỏ, ở một ngã tư.
Một viên cảnh sát giao thông dơ tay chặn y lại.

Y ngừng xe, lập cập kiếm giấy tờ, lập cập vuốt thẳng mấy tờ giấy bạc vợ đưa cho , để đong gạo và mua chai nước mắm, kẹp vào giữa mớ giấy tờ. Đau xót, giã từ tờ giấy bạc.
Viên cảnh sát trẻ đưa tay lên trán, lễ phép chào y, như cảnh sát Tây chào dân, trên TV.
Anh ta coi giấy tờ, đưa lại y mấy tờ giấy bạc : ‘’ Tiền bạc, coi chừng. Để lung tung, rơi mất lúc nào không hay ‘’. Và hỏi, thân thiện như một người bạn: anh có biết đã vượt đèn đỏ ?
Bình thường, trước khi thương lượng giá cả với cảnh sát, y chối biến, mang trời đất, thánh thần, Phật Chuá, ra chứng giám cho mình là công dân gương mẫu, không bao giờ vi phạm luật giao thông.
Y ngạc nhiên thấy mình trả lời : tôi vui quá, không để ý.
Viên cảnh sát trả lại anh giấy tờ, vẫn nụ cười trên môi : ‘’ thôi được. Nhưng lần sau, nên cẩn thận. Không nên vui quá, gây tai nạn’’. Anh lý nhí nói cám ơn. Viên cảnh sát lễ độ giơ tay chào : chúc anh một ngày vui.
Y ghé quán phở quen, kêu một ly cà phê đen, không dám nhìn chủ quán. Ông ta vẫn nhăn nhó  mỗi lần y tới, chỉ kêu một ly cà phê đen. Y đã nghe nhiều lần ông ta bô bô nói với vợ : ĐM, lại đến ngồi ăn vạ. Bình thường, người ta chửi khách như chửi ăn mày.
Ông chủ quán, bình thường râu ria, tóc tai xồm xoàm, quần áo xốc xếch, dơ bẩn vì bụi và mỡ bò, hôm nay sạch sẽ, sáng sủa như một đồng xu mới, mặt mũi hồng hào, hỏi :
-Hôm nay có thịt tươi, bánh mới . Anh làm một bát nhé ?
Y lúng túng. Y thèm phở, kể cả phở bột ngọt , thịt thiu, bánh vữa, , nhưng chỉ uống cà phê để ngửi mùi phở. Ông chủ đi guốc trong bụng khách, tươi cười :
-Đừng ngại chuyện tiền bạc. Hôm nay nhà hàng mời khách. Chỗ anh em với nhau cả.
Y không ngờ ông chủ quán cũng có óc khôi hài. Y đã thấy hai vợ chồng ông ta xỉ vả, xỉa xói một thằng nhỏ đói quá, kêu phở ăn xong mới thú thực không đủ tiền trả. Ông ta đấm mặt nó máu mê đầm đià, nắm tóc, lôi ra khỏi tiệm, đá đít thằng nhỏ ngã vập đầu trên viả hè. Trước sự bàng quan của khách hàng, cúi đầu ăn uống. Không nhìn thấy gì, không nghe gì, không nói gì là nhân sinh quan của dân tộc này.
Nhưng ông chủ quán không dỡn chơi, ông ta trở lại với một tô phở nóng, thơm ngào ngạt , đặt trên một cái đĩa, rất sang. Rau xanh, ớt đỏ, Y không tưởng tượng nổi người ta có thể trình bày tô phở đẹp như một tác phẩm nghệ thuật. Bình thường, ông chủ quán quẳng một tô phở nước dùng đục ngầu, lổn ngổn những thịt, những mỡ, những bánh phở, trên vành bát còn in dấu tay đen thui, đầy mỡ của bà chủ, ông chủ. Như người ta ấn dấu tay làm giấy tờ.
Trong góc cuối tiệm ăn, vài người  châu đầu, mắt dán vào màn ảnh TV, coi ông Nguyễn Phú Trọng.
Ông  Trọng tuyên bố qua nụ cười nhân hậu, nhưng cương nghị của một lãnh tụ lớn : Để toàn dân góp phần vào việc xây dựng lại đất nước, chống ngoại xâm, đảng Cộng Sản tuyên bố tự giải tán. VN sẽ trở thành một quốc gia dân chủ đích thực. Ông Trọng nói đất nước là đất nước chung, không phải của một đảng phái nào cả. Bắt gần 100 triệu người đi  theo một đảng mafia là dẫn dận tộc vào tử địa.
Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Nguyễn văn Đài, Trần thị Nga, Anh Ba Sám và hàng trăm tù nhân lương tâm vừa được trả tự do, vòng hoa quành cổ, vui vẻ trả lời phỏng vấn trước sự reo hò, hoan nghênh của dân chúng hai bên đường . Bộ trưởng Nội vụ nói, tay quàng vai Nguyễn Ngọc Như Quỳnh và Trần huỳnh Duy Thức : ‘’ Tôi hãnh diện đứng bên cạnh các anh chị. Các anh chị là lương tâm của dân tộc này Đất nước còn tới hôm nay là nhờ những người như anh chị ‘’
Trên một đài khác, cựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố cống hiến 95% gia sản khổng lồ của gia đình vào việc chung.
Ông nói : giống như Bill Gates, Warren Buffet , tôi nghĩ 5% gia sản của mình cũng đủ sống. Phần còn lại xã hội đã cho, tôi trả lại cho xã hội. Quốc gia đang khó khăn, mỗi người phải ghé lưng đóng góp. Bơi lội trong tiền bạc, xa xỉ giữa một biển nghèo đói là một chuyện bất nhân, khả ố.
Một chủ tịch Xã nói : Tôi sẽ mở cửa căn biệt thự 15 phòng , xây được nhờ nuôi heo , thối móng tay lao động và tiết kiệm, cho đồng bào không nhà cửa có nơi trú ngụ.
Một lãnh tụ tối cao tuyên bố sẽ bán ngôi nhà mạ vàng, bàn ghế bằng vàng để xây trường học. Ông nói lãnh tụ không thể nhẫn tâm ngồi ngự trên ghế vàng trong khi giáo chức lãnh lương chết đói, học sinh đu dây, lội suối tới những trường học giột nát.

 

 

 

 

 

 

 

Tỷ phú Warrent Buffets và sách về tài chánh, Tổng thống Donald Trump và tỷ phú Bill Gates (dưới)

Chủ tịch nước Trần Đại Quang, sức khỏe rất đáng quan ngại, công bố di chúc  yêu cầu khi ông qua đời hãy làm đám tang một cách kín đáo, đơn giản. Ông viết : tôi, cũng như các đồng chí, chưa làm được gì cho dân cho nước, không nên bày đặt làm đại tang, quốc táng cho thiên hạ thị phi. Tôi chỉ cần một ngôi mộ hai thước vuông như một người dân thường; để đất cho dân cày cấy, kiếm nồi cơm, hạt gạo, để tiền xây cầu cho các cháu khỏi đu dây lội sóng tới trường
Một đại gia, không dấu được sự xúc động, đem bán đấu giá chiếc xe Mercedes mới và một trong những biệt thự nguy nga ở Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, lấy tiền mở một quán cơm miễn phí cho người nghèo, cho trẻ em đói, theo kiểu ‘’Restaurants du Cœur ‘’ của Tây. Ông nói sống xa xỉ giữa cái biển nghèo đói là một điều đáng hổ thẹn, nhưng có gì đáng hãnh diện, vênh váo như ông vẫn sống cho tới hôm nay. Nghĩ lại, ông ta thấy mình trơ trẽn, thô bỉ.
Một cán bộ cao cấp nói, hai mắt ươn ướt : ‘’Trước đây, nhiều đồng bào, vì yêu thương người của Đảng, đã tự hiến nhà cửa, vườn ruộng. Tôi đã bàn với vợ con : chúng tôi xin trả lại tất cả cho nhân dân. Chúng tôi sẽ ống thanh đạm, lấy việc phục vụ dân làm vui.’’
Kiến trúc sư Khánh Casa sẽ dành những ngày còn lại và gia sản để tranh đấu cho bình đẳng nam nữ, cho nhân phẩm phụ nữ. Ông nói một dân tộc đốn mạt là một dân tộc trong đó người hành hạ người, đàn ông đánh đập đàn bà. Khánh Casa trước đây đã nổi tiếng vì tát tai, đập mặt một nữ nhân viên bán hàng không làm ông hài lòng.
Tại Đồng Tâm, cán bộ, công an cởi trần giúp dân dựng già, dọn vườn trong không khí của một ngày hội. Không khí của những ngày kháng chiến chống Pháp ngày xưa.
Tin tức các nơi về dồn dập.
Ban quản lý các BOT cho hay đã gỡ các trạm thâu tiền mãi lộ. Thông cáo nói : chúng tôi đã thâu quá số tiền đã bỏ ra kinh doanh, ngày nay đường xá là của dân, của nước.
Người ta biến những trạm thu tiền thành những trạm phân phát đồ giải khát, sách báo cho người lái xe. Đó là những thư viện bỏ túi, người ta đến lấy những cuốn sách người khác tặng, và để lại những cuốn mình đã đọc. Trao đổi kiến thức, gởi nhau những bài thơ, những cái đẹp, những giấc mơ.
Hãng Formosa bị đóng cửa, những người liên hệ các cấp sẽ bị đưa ra xét xử.
Bà Nguyễn Thị Kim Tiến từ chức sau khi đã thành khẩn xin lỗi nạn nhân thuốc giả. Các nạn nhân thuốc giả sẽ được nhà nước lo chu đáo. Dân chúng thỉnh cầu bà bộ trưởng ở lại, nhưng bà Tiến nhất định từ chức. ‘’ Phục vụ dân phải có tinh thần trách nhiệm, bà nói. Chúng ta sẽ để lại cho lớp trẻ bài học gì, nếu chúng ta trốn tránh trách nhiệm ? ‘’

Hàng hoá độc hại của Tàu bị dân tẩy chay, nhà nước tịch thu, chất như núi ngoài đường, đốt không kịp. Nông dân hân hoan, hết phải đổ xuống sông những hoa quả, rau trái đã đổ mồ hôi sản xuất. Một nông dân nói : sống được bằng ruộng đất, chúng tôi sẽ hết lòng giữ đất. Người Tàu dù tiền rừng, bạc biển cũng không tới đây mua đưọc một thước đất của ông cha chúng tôi để lại.
Thủ tướng chính phủ ra đón những chuyến bay đầu tiên tới các nước láng giềng chở về nước phụ nữ Việt bi gởi đi bán dâm. Chính phủ sẽ lo việc huấn nghệ, kiếm công ăn việc làm cho họ. Thủ Tướng nói đi tới nước nào cũng thấy đàn bà Việt Nam bán thân để sống là một cái tát vào mặt một dân tộc còn đôi chút tự trọng.
Bộ nội vụ cho hay vừa mở một cơ sở mới, gọi là ‘’ Đồ Lượm Được ‘’, theo khuôn mẫu ‘’Objets Trouvés ‘’ của Tây Mỹ, để thiên hạ mang tới những thứ lỉnh kỉnh, tiền bạc lượm được ngoài đường.
Mới mở cửa, người ta đã xếp hàng dài, mang tới một núi những iPhone, máy hình, máy quay phim, ví tiền. Trong ba tháng, sở hữu chủ có thể tới lấy, nếu không tiền bạc, vật dụng sẽ trao cho những hội đoàn từ thiện mọc ra như nấm ở mỗi góc đường.
Người ta không khỏi nghĩ đến chuyện xẩy ra ở Nhật. Một ông triệu phú vô danh Nhật, nghĩ đã hưởng thụ đủ, muốn có một thú vui khác : tạo thú vui cho người khác. Mỗi ngày, ông ta đặt một phong bì ở một nơi công cộng, tiệm ăn, rạp hát, trên xe đò, xe lửa. Trong mỗi phong bì một số tiền lớn và một câu nhắn : ‘’Hãy thực hiện chuyện bạn vẫn mong muốn ; chúc bạn một ngày vui.’’ Nhiều người mang những phong bì tới nộp cảnh sát, trao tiền cho những văn phòng giữ đồ lượm được.
Tại một công viên, y thấy một nhóm đàn ông ngồi đan áo, cười đùa như vỡ chợ. Đó là những công an, đan áo giúp nạn nhân bão lụt. Một anh nói : bây giờ dân không bị cướp đất, cướp nhà nữa, không còn bạo loạn. Thiên hạ cũng chẳng còn ai ẩu đả nhau. Đạp lên người khác không còn là một thú vui. Trộm cướp không còn. Công an, cảnh sát ngồi chơi cũng chán, phải bày chuyện làm. Có chuyện gì ý nghĩa hơn là giúp đồng bào thiếu may mắn hơn mình ? Chúng tôi khám phá ra mình đan áo không thua gì phụ nữ.
Trong một góc khác ở công viên, những đám học sinh, sinh viên tụ tập, chuẩn bị di cứu lụt miền Trung, cười đuà như vỡ chợ. Những tiệm quần áo H&M, Mango, Gap ngồi vêu chờ khách. Tuổi trẻ nào cũng là tuổi trẻ, đầy lý tưởng và lòng vị tha. Họ xếp hàng chầu chực trước những tiệm H&M, Gap vì không ai khuyến khích, nếu không cấm đoán những hành động có ý nghĩa.
Ngoài biển, Trung Quốc gỡ các dàn khoan và rút khỏi Trường Sa, Hoàng Sa . Đại sứ Trung Quốc ở VN khuyến cáo Bắc Kinh : toàn dân VN đoàn kết. Rất khó, nếu không nói không thể , thôn tính một dân tộc đoàn kết, một lòng giữ nước. Cái giá phải trả sẽ rất đắt. Cách hay nhất là đối xử với họ như một quốc gia độc lập, một dân tộc có tư cách, đáng kính trọng. Từ nay, không thể tiếp tục đối xử chính quyền VN như tôi tớ, phải coi họ như những người có liêm sỉ.
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh tuyên bố bổn phận của quân đội là giữ nước, không phải làm ăn, buôn bán, xây khách sạn, khai thác siêu thị. Ông nói từ nay quân đội sẽ đổ tới giọt máu cuối cùng để giữ từng thước đất của ông cha để lại.
Trước đây, ông Thanh nói ‘’ tôi thấy lo lắng lắm, không biết ta tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ tới người già đều có khuynh hướng ghét Trung Quốc. Ai tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng cái đó rất nguy hiểm cho dân tộc ‘’.
Hôm nay, ông ta không thấy ‘’cái đó’’ nguy hiểm, trái lại, là cái may mắn, cái hy vọng cuối cùng của dân tộc. Cũng chính ông ta ( bộ trưởng quốc phòng ! ) đã tuyên bố : ‘’ quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc trên các mặt đang phát triển tốt đẹp. Chỉ có…vấn đề tranh chấp chủ quyền ở biển Đông ‘’, nhưng đó là hôm qua, là chuyện quá khứ.
Quốc Hội triệu tập phiên họp khẩn cấp để xét lại những thỏa ước về biên giới, lãnh thổ, những giao kèo bán đảo, bán rừng, thuê đất ký kết với người Trung Hoa. Được dân ca ngợi, bà chủ tịch quốc hội khiêm nhượng trả lời: chúng tôi chỉ làm bổn phận của những người đại diện dân. Lúc nào chúng tôi cũng tự hỏi những người dân cử đã làm gì cho đất nước ?
Khắp nơi, từ Nam ra Bắc, thiên hạ tràn ra đường như trẩy hội. Những thiếu nữ thướt tha trong áo dài muôn mầu bên cạnh những đàn ‘’ trẻ con đi hát đồng dao ngoài đường ‘’ .
Y ra khỏi tiệm ăn, bụng no, đầu óc thảnh thơi..  Y thấy yêu mọi người, muốn ôm hôn bà chủ quán hôi mùi mỡ bò, nước mắm. Nghĩ tới tựa một cuốn sách trước đây không hiểu tại sao bị đốt : ‘’ Ở một nơi ai cũng yêu nhau ‘’.
Y muốn ôm hôn bà chủ khách sạn bên cạnh. Bà ta đang mua trái cây, mặt mũi phúc hậu. Cô bán hàng đưa thối lại tiền lẻ, bà tươi cười : ‘’ em giữ lại, mua quà cho các cháu.’’ Cô bán trái cây lí nhí cám ơn, cố cầm nước mắt. Y đã thấy, những hôm trước, cũng người đàn bà đó, chủ mấy cái khách sạn và một dẫy nhà mặt tiền do ông chồng cán bộ cao cấp vồ được, đứng mà cả từng đồng khi mua trái cây. Cô bán hàng van lạy : giá đó, con không bán được đâu bác, bác mua giúp cháu nuôi con. Bà chủ khách sạn mặt lạnh, đanh ác : không bán thì mang về ăn, thiếu gì người bán.
Trên lề đường, một bà cụ già muốn qua bên kia nhưng không sao qua được. Mỗi lần đặt chân xuống đường, một biển xe gắn máy tràn tới, như những con quái vật chồm tới, nuốt sống bà già. Y lại gần, nói :
-Để con giúp bác.
Y nắm tay bà già tóc bạc phơ . Cái biển xe gắn máy ngưng lại, ngoan ngoãn nhường cho hai người,một già một trẻ, ung dung qua đường. Người ta có cảm tưởng ở Tokyo giờ tan sở, hàng triệu người ra đường nhưng không ai chen lấn ,  cãi vã, dành dựt. Người ta sống với nụ cười, những câu cám ơn, xin lỗi.
Bà già móm mém cám ơn, móm mém hỏi :
-Con là Việt kiều về thăm nhà hả ?
Y nói không phải , và hỏi tại sao. Bà già nói bởi vì ngày nay người trong nước đã quên lễ độ, quên kính trọng người già cả, quên giúp đỡ người khác, quên tử tế, chỉ biết chụp dựt .
Y cười : bác lầm rồi, bác thấy không ?
Bà già cũng cười, nhe hàm răng chỉ còn hai vợ chồng cái răng cửa : ‘’ lần đầu, bác thấy vui khi biết mình lầm ‘’.

 Giúp … các thanh niên ngoại quốc qua đường.

Về nhà, y tưởng lạc vào nhà người khác. Thay vì quần áo, rác rưởi ngổn ngang, một căn phòng gọn ghẽ, ngăn nắp. Và những bình hoa rực rỡ những mầu sắc. Y có lúc đã quên những bông hoa, đã quên tất cả những gì không nhậu được. Cô vợ nói hoa của bà hàng xóm tặng.
-Tưởng bà ấy thù ghét mình sau vụ chửi nhau vì mất gà năm ngoái, ai ngờ bà ấy dễ thương quá
Y ân hận, nghĩ có lần đã muốn mua thuốc bả chó , lẻn vào trộn vại gạo bà ta để trong bếp :
-Bà ấy vui là phải, cô vợ nói tiếp. Hôm nay đi khám bệnh, không biết có tới lượt mình không, hay lại chờ suốt buổi rồi mang bệnh về. Đã bán sạch đồ đạc trong nhà, nhưng tiền bạc không bằng cái móng chân thiên hạ. Y tá nó cũng không thèm tiếp, nói gì tới bác sĩ. Ai ngờ ai cũng tử tế, tiếp đón niềm nở, khám bịnh tận tình. Đưa tiền, ông bác sĩ cười : đây là nhà thương công, nhà thương của dân, do dân đóng thuế, tiền bạc gì. Cô y tá cũng nhất định từ chối : bác giữ tiền, lo chuyện ăn uống cho đầy đủ, bệnh tật mà thiếu bổ dưỡng là hại lắm.
Y nói thảo nào bà ấy tử tế với mình, nghĩ tới một câu không biết nghe ở đâu nhưng vẫn nghĩ là rởm : hãy tử tế với mọi người, mọi người sẽ tử tế với bạn, cuộc đời sẽ dễ chịu hơn . Xã hội sẽ đáng sống hơn.
Y mở la de, phưỡn bụng coi TV. Ông bộ trưởng Giáo dục tuyên bố từ nay trường học sẽ không dạy tư tưởng Hồ Chí Minh nữa. Ông nói dân tộc ta đã trưởng thành. Mỗi người có thể tự suy nghĩ, không cần Bác nghĩ dùm, cái gì cũng phải hỏi bác. Ông nói không thể tưởng tượng một dân tộc 92 triệu người, chỉ có một người suy nghĩ, chỉ có một người có quyền suy nghĩ. Anh nào nghĩ khác là đi ngồi tù, hay bị một đám côn đồ xúm lại đánh hôi, thân tàn ma dại. Sức mạnh của một dân tộc là chất xám. Tiêu diệt chất xám, bỏ tù sự thông minh, giam cầm óc sáng tạo, có dân tộc nào nào đần độn, quái dị đến thế ?
Y đang thú vị với bài diễn văn của ông bộ trưởng thì bị bà vợ đánh thức dậy.
Người đàn bà mặt mũi cằn cỗi như một trái táo khô, cằn nhằn :
-Đéo mẹ, sướng quá nhỉ, nằm ngủ thẳng cẳng, mơ cái gì, hết cười lại vỗ tay như thằng điên. Không dậy đi đong gạo thì tối nay ăn cám à ? ( 1 )

Từ Thức ( Paris, tháng 9/2017 )
( 1 ) Tôi viết bài này, sau khi nghe một ông bạn tâm sự, giữa hai ly rượu đỏ : ‘’ tôi mong dân mình được sống như thiên hạ, dù chỉ một ngày. ’’

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Từ Thức Paris


Người May Mắn Sống Sót – Nguyễn Hữu Phước

RƠI TRÊN ĐẤT ĐỊCH - Nguyễn Hữu Phước

Bài đọc suy gẫm: Người May Mắn Sống Sót hay “Rơi trên đất địch” là câu chuyện thật xảy ra trong chiến tranh Việt Nam được tác giả Nguyễn Hữu Phước phóng tác theo nguyệt san nổi tiếng một thời Reader’s Digest.

RƠI TRÊN ĐẤT ĐỊCH – Nguyễn Hữu Phước

Trong cuộc chiến chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam trước đây, bên cạnh những chiến tích hào hùng, những tấm gương can đảm của người quân nhân QLVNCH, chúng ta cũng không thể không nói đến sự chiến đấu của người bạn đồng minh.

Họ là những quân nhân đã vượt ngàn dặm để chiến đấu tại một vùng đất xa lạ chỉ vì lý tưởng bảo vệ tự do. Có những người ra đi để rồi không bao giờ trở lại, nhưng cũng có người may mắn sống sót. Và một trong những người may mắn nhất phải là Đại úy Locher của Không lực Hoa Kỳ.


Maj. Robert Lodge (left) and Capt. Roger Locher (right) in the cockpit of their F-4D, seen earlier in 1972:
the team already had two MiG-kills to their credit when they clashed with MiG-19s and MiG-21s on the morning of May 10, 1972.

Sau đây mời quý bạn theo dõi câu chuyện về Đại úy Roger Locher, một sĩ quan phi hành, kiêm chuyên viên vũ khí, đã từng tham dự nhiều phi vụ trên không phận Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam.

Locher thường bay trên loại phi cơ phản lực F-4 Phantom và đã hạ được nhiều phản lực MiG của địch trước khi chính phi cơ của anh bị bắn hạ trên không phận Bắc Việt. Anh tìm cách lẩn trốn và sau 23 ngày đã được toán cấp cứu bốc ra khỏi miền Bắc một cách an toàn. Tên tuổi của Locher được ghi lại với một kỹ lục trong cuộc chiến Việt Nam: Sống sót và được cứu thoát sau 23 ngày kẹt trong lòng địch.

*****

Trong khi đang đu đưa với chiếc dù lơ lửng trên bầu trời phía Tây Bắc, cách Hà Nội 40 dặm, Đại úy Locher vẫn chưa thể tin đó là sự thật: mình bị bắn rơi. Tương tự như những người đi bay khác, anh không bao giờ nghĩ rằng chuyện đó có thể xảy ra cho mình.

Nhưng nó đã xảy ra. Một cảm giác nghẹt thở vì sự sợ hãi, bơ vơ đến càng lúc càng rõ rệt. Hai chiếc MiG màu bạc bóng loáng lướt qua phía trên Locher ở cao độ 10,000 bộ. Rồi những đám rừng cây hiện lờ mờ phía dưới. Anh đáp xuyên qua những ngọn cây và cuối cùng đôi bốt đã chạm đất…

Roger Locher là một sĩ quan trẻ mới 25 tuổi, vóc dáng cao lớn. Anh cất cánh vào sáng ngày 10 tháng 5 năm 1972 từ một căn cứ không quân bên Thái Lan. Mục tiêu: Hà Nội. Nhiệm vụ: ngăn chận và tiêu diệt các phi cơ MiG của địch trước khi chúng có thể tấn công các oanh tạc cơ của Hoa Kỳ.
Đây là phi vụ thứ 407 của Locher. Anh ngồi ghế sau của chiếc chiến đấu cơ phản lực F-4 Phantom hai chỗ ngồi, có nhiệm vụ điều khiển hệ thống vũ khí gồm các loại hỏa tiển, đại bác và bom. Trước đó không lâu, Locher đã bắn hạ được hai chiến đấu cơ MiG-21 của không quân Bắc Việt.

Lúc này, trước mặt Locher về phía Tây Hà Nội, một chiếc MiG đang nhào xuống một chiếc Phantom. Anh khai hỏa hai hỏa tiển không-đối-không, chiếc MiG bốc cháy. Thêm hai chiếc MiG nữa bị các Phantom của Hoa Kỳ bắn hạ trước khi người phi công lái chiếc Phantom của Locher thét lên : Chúng mình bị trúng đạn rồi !

Khi ngọn lửa đã lan dần và chiếc Phantom không còn kiểm soát được nữa, lao đi vùn vụt, Locher hét lên : Tôi sắp sửa rời phi cơ. Rồi anh kéo mạnh cần máy tống, sau một tiếng ‘ bụp’ khô khan, thân người anh bị bắn văng ra không gian và anh ngất đi vài giây đông hồ…

Sau khi chạm đất, Locher đã hoàn toàn tĩnh táo. Anh biết chắc hai chiếc MiG vừa bay ngang đã liên lạc vô tuyến thông báo cho các lực lượng dưới đất biết về vị trí của mình. Cái dù của Locher bị vướng trên những cành cây mà anh không thể kéo ra được sẽ khiến địch xác định được vị trí một cách dễ dàng. Locher vội vã tháo dù ra khỏi người và bắt đầu di chuyển một cách khó nhọc, tiến lên phía sườn núi. Anh cẩn thận không để lại một dấu vết sau những bước chân của mình.

Khoảng mười phút sau, Locher thở thật khó khăn, cảm thấy chóng mặt, đôi chân mềm tựa như cao-su, hai bàn chân lạnh ngắt. Anh nghĩ thầm ‘ Mình bị shock. Hãy dừng lại. Bình tĩnh. Hãy bắt bộ óc mình hoạt động’. Rồi anh bò sâu vào cánh rừng đầy cây lá rậm rạp và nằm rạp xuống theo tư thế đôi chân cao hơn đầu.

Nghĩ đến tình trạng nguy hiểm hiện tại, Locher biết rằng mọi việc đang diễn ra một cách tệ hại. Vị trí anh đang ở quá xa về hướng Bắc. Điểm gần nhất mà anh có thể dùng máy liên lạc cấp cứu loại bỏ túi với các phi cơ bạn đang bay trên bầu trời là 90 dặm về phía Nam. Locher tính toán : 90 dặm ! Tìm cách lẩn trốn và bám chặt theo sườn núi, làm sao đi bộ ít nhất hai dặm trong một ngày, trong vòng 45 ngày, không lương thực và trên một địa thế hoàn toàn xa lạ. Nhưng bắt buộc phải cố gắng. Nếu kẻ thù có bắt được mình thì cũng thể để chúng bắt được một cách dễ dàng!

Locher lấy bình nước từ trong áo cấp cứu mặc trên người và từ từ uống hết một nửa, sửa lại cái nón lưới chống muỗi đội trên đầu, rồi với một cái địa bàn cầm tay và bản đồ hướng dẫn, anh thận trọng khởi hành về hướng Tây Nam. Sau mỗi bước chân, anh phải xem xét lại để xóa bỏ mọi dấu vết của đôi giày bốt, của những cành cây nhỏ bị đạp gẩy và tất cả những dấu vết khác có thể làm lộ tung tích của mình.

Tới trưa, đang đi bỗng Locher khựng lại, chết điếng. Từ phía trước mặt có những tiếng réo gọi nhau và những tiếng la hét như giận dữ tiến thẳng về phía anh. Anh vội vã bò sâu vào một bụi cây và nằm yên, trong lúc bọn người lùng sục tiến đến càng lúc càng gần.

Locher bỗng nhớ lại thời niên thiếu của mình ở vùng quê Sabetha, tiểu bang Akansas, nơi mà anh thường chơi trò giả làm vịt trời trốn trong bụi lau, cố gắng ẩn náu, để người thợ săn đang đến gần không thể phát giác. Locher nhủ thầm: Hãy thở thật nhẹ, đừng đầu hàng…Mồ hôi đổ ướt lưng, anh thầm cầu nguyện. Mũi anh có thể ngữi thấy cả mùi thuốc lá của những người đang sục sạo chung quanh. Có lúc tiếng chân người bước qua sát chổ anh đang ẩn nấp…

Ngày kế tiếp, sự việc trên lại tái diễn. Nhưng lần này, ngoài tiếng người la hét, Locher còn nghe thấy tiếng súng nổ. Anh nghĩ thầm : Họ đang tìm cách làm mình phải rời khỏi chổ ẩn nấp, giống như xua đuổi một con vịt trời bay ra khỏi bụi để bắn. Mình phải nằm yên. Họ có đạp lên mình mới mong tìm thấy…
Kẻ thù đã suýt chút nữa thì làm được viêc đó : Locher nghe thấy tiếng cành lá bị nghiền nát bởi bước chân người, sau đó hai người đàn ông với súng tiểu liên trên tay tiến tới cách chỗ anh chỉ có vài mét và…ngồi xuống nghỉ mệt. Một lúc sau, họ bỏ đi. Tiếp theo là một sự yên lặng rất đáng nghi ngờ. Họ bỏ đi thật hay gài bẩy chờ con chim bay ra khỏi cành? Locher quyết định tiếp tục nằm im tại chổ cho đến hết ngày, thỉnh thoảng chỉ dám duổi nhẹ chân tay, để cho các bắp thịt đỡ mỏi.

Sang ngày thứ ba, Locher thử mở cái máy liên lạc dò tìm tần số cấp cứu và anh đã bắt được đối thoại của những phi công đang bay tìm kiếm một nhân viên phi hành vừa bị bắn rơi. Nhân viên này báo cáo rằng kẻ thù đang theo đuổi ông ta, đã rất gần và yêu cầu nên oanh tạc vị trí của mình. Ông ta đã chọn lựa cái chết hơn là bị cầm tù!…

Tín hiệu yếu dần, Locher tắt máy liên lạc. Sau đó anh nghe thấy tiếng nói chuyện của những tên cộng sản đang đi truy lùng mình, cách chỗ anh ẩn nấp khoảng 200 thước… Cái gì thế này ? Locher vừa thắc mắc tự hỏi vừa tìm cách tống khứ những con vắt đang lợi dụng tình thế ngặt nghèo này để tấn công cổ và cườm tay của anh. Rồi Locher nghĩ thầm : Trong ba ngày qua mình đã không đi đưọc quá một dặm. Có thể mình sẽ không thoát khỏi nơi này. Nhưng thôi, cứ hãy cố gắng xem mình sẽ trì hoãn bao lâu cái kết cuộc không thể nào tránh né được.

Sang ngày thứ tư, mặc dù phải bước đi một cách mệt nhọc, Locher vẫn kiên trì men theo sườn núi, lên xuống hết ngọn đồi này tới ngọn đồi khác. Nước không thành vấn đề. Trời mưa cách đêm, và vào buổi sáng anh phải hong quần áo cho khô, cẩn thận tránh không để cho giầy và vớ bị hôi thối.

Nhưng Locher không có lương thực. Anh đã thử ba loại trái cây rừng. Lúc đầu gậm nhấm một chút ít, rồi chờ khoảng nửa giờ xem phản ứng cơ thể ra sao. Kết quả, anh thấy những loại trái cây này không có hại. Nhưng số lượng tìm được cũng chẳng bao nhiêu…

Locher có thể cảm thấy sức lực trong người mình sa sút một cách rõ rệt theo từng ngày. Điều này rất dễ dàng đưa đến sự chấp nhận đầu hàng. Không, nhất định không. Locher tự nhủ mỗi ngày. Hãy để cho kẻ thù phải khổ công tìm kiếm mình !

Ngày thứ 12, sau khi trời hừng sáng, Locher tìm thấy một con đường mòn khá tốt dẫn về hướng Nam. Đối với Locher, con đường này thật tuyệt hảo, vì anh không còn phải dùng sức nhiều như khi đi xuyên rừng. Bất chợt, Locher nghe thấy nhều giọng nói đang tiến gần về phía mình. Những đứa trẻ chăn trâu đang lùa trâu về phía cánh đồng cỏ. Locher vội nhào vào một bụi rậm, bò đi cách đường mòn vài thước và nằm im. Nhưng những con trâu đã dừng lại gặm cỏ bên vệ đường, có con chỉ cách chổ chàng nằm vài thước. Thời gian trôi qua một cách chậm chạp, hành hạ Locher trong khi anh nằm im giờ này qua giờ khác.

Mãi tới gần hoàng hôn, Locher mới nghe thấy tiếng bọn trẻ gọi nhau, anh nghĩ : chúng bắt đầu lùa trâu về làng! Anh nghe thấy tiếng thở hồng hộc của từng con trâu và tiếng roi của bọn trẻ quất trên lưng những con vật để thúc chúng đi về. Một con trâu giận dữ khịt mũi, đạp chân vào một cành cây sát chỗ Locher nằm, khiến cành cây này đập mạnh vào mắt cá chân. Anh há hốc miệng vì đau, nhưng cố giữ không cho âm thanh thoát ra. Sau khi con trâu đi qua, lại tới đúa bé dẩm lên cành cây hồi nãy, khiến nó đập xuống đùi Locher. Cuối cùng là sự im lặng.

Sau khi trời tối, Locher lén đi bọc vòng quanh làng và tiến lên phía sườn núi để do xét tình hình chung quanh. Rồi anh lấy lá cây xếp thành một cái giường để ngủ. Thỉnh thoảng anh lại thức giấc, để tống khứ những con vắt đang hút máu mình. Mỗi con để lại một vết đau. Sau đó một trận mưa đổ xuống.
Trời sáng, Locher vừa sưởi nắng cho khô quần áo, vừa nghiên cứu cẩn thận lại bản đồ, rồi đi tới một kết luận kinh hoàng…là trong 12 ngày qua, anh chưa đi được quá 10 dặm đường chim bay! Nếu vẫn còn ở khu vực phía Bắc quá xa này, anh không có hy vọng được cứu thoát. Phải tiếp tục đi về phía Nam. Nhưng từ đây ra đồng bằng sông Hồng, với bề rộng chừng 20 dặm, khó lòng mà tìm được nơi trú ẩn khi hữu sự.

Không biết phải giải quyết ra sao, Locher đành ở lại vị trí ẩn náu của mình. Ngôi làng trải dài khoảng 500 mét dưới chân núi, và Locher có thể nghe thấy tiếng kẻng hàng ngày. Kẻng báo thức buổi sáng, kẻng đi làm, kẻng nghỉ giải lao, kẻng ăn trưa.v.v…

Ngày lại ngày trôi qua. Tới ngày thứ 20, Locher biết mình đã phí công sức. Anh sờ xuống đôi mông và cảm thấy chỉ còn da bọc xương. Đầu óc anh trống rỗng và chỉ còn nghĩ tới miếng ăn. Chỉ có hai giải pháp : một, nằm chết đói ở đây, hai, là đi xuống đồng bằng tìm cách lấy trộm thực phẩm.

Nhưng Locher cũng biết rằng, sau khi anh bắt đầu vượt qua cái thung lũng trống trải để xuống đồng bằng thì hầu như nắm chắc trong tay việc bị bắt làm tù binh. Locher nghĩ tới viễn tượng khủng khiếp khi bị giam cầm và xác định quyết tâm sẽ tự hành xử một cách danh dự, không để trở thành tù binh của địch. Thượng đế đã ban cho anh hai mươi lăm năm tự do và anh đã tận hưởng.

Vào tối ngày thứ 21, sau khi quyết định sẽ đi xuống đồng bằng vào trước rạng đông ngày hôm sau, Locher cảm thấy tâm hồn mình bình thản. Anh nhìn lên vần trăng vàng từ từ trôi ngang bầu trời, hít thở mùi vị tươi mát của không khí và thưởng thức sự cô quạnh của mình : anh vẫn còn tự do…

Một cơn mưa dài và nặng hạt làm Locher tĩnh giấc vào buổi sáng ngày thứ 22. Thì ra anh ngủ quên ! Mặt trời đã lên cao. Locher tức giận với chính mình. Dù đã có quyết định tự hành xử, nhưng anh không thể liều mạng một cách vô lý, đi ngang qua làng vào giữa thanh thiên bạch nhật. Thế là lại thêm một ngày chờ đợi và chiến đấu với đàn muỗi rừng…

Locher vừa thiếp đi thì chợt tĩnh vì những tiếng đạn. Anh nhìn thấy cả ánh chớp của những hỏa tiển địa-không được bắn lên từ ngôi làng kế cận, cách chỗ anh khoảng 8 dặm. Địch đang bắn lên các phi cơ Mỹ. Không chậm trể một giây, Locher vội vã nhấn nút máy liên lạc cấp cứu và nói : Bất cứ phi cơ Mỹ nào nghe tên OYSTER ONE BRAVO xin trả lời. (Oyster=tên hiệu anh trong phi vụ ; One=phi cơ dẫn đầu ; Bravo=ghế sau)

Sau đó, Locher nhấn nút nhận tín hiệu và nghe thấy tiếng người trả lời : Go ahead, Oyster One Bravo

” Ê anh bạn, tôi bị bắn hạ ở đây đã hơn 22 ngày. Chuyển tin dùm tôi vẫn bình an”
“Sẽ chuyển và tiếp tục liên lạc”
Mười phút sau, Locher nghe tiếng trả lời:
“Toán cấp cứu trên đường đến”

Toán cấp cứu đến liền sau đó nhưng đã bị các phi cơ MiG và đủ loại phòng không của địch đẩy lui. Locher tin tưởng một cách tuyệt đối rằng những người bạn của mình sẽ trở lại vào sáng hôm sau, và chắc chắn họ sẽ được địch ‘đón tiếp nồng hậu’.

Thực vậy, suốt buổi chiều và tối, Locher nghe thấy tiếng xe chở bộ đội tới và tiếng phi cơ MiG đáp xuống một phi trường gần đó. Như vậy, địch cũng đoán biết những gì sẽ xảy ra vào ngày hôm sau. Locher lo lắng không biết sự việc rồi đây sẽ ra sao…

Buổi sáng ngày thứ 23, kể từ ngày Đại úy Roger Locher bị bắn rơi, một lực lượng 38 phi cơ Mỹ gồm chiến đấu cơ, oanh tạc cơ phản lực, khu trục cánh quạt, trực thăng cấp cứu và phi cơ tiếp tế nhiên liệu trên không, cất cánh từ Thái Lan tới Bắc Việt để cứu người bị nạn. Đầu tiên, hai phi cơ mở tần số liên lạc với Locher và xử dụng các máy móc điện tử để xác định vị trí của anh. Một phi công nói qua máy: “Chúng tôi đã biết anh đang ở đâu rồi. Bây giờ anh cứ đúng tại chỗ, chúng tôi sắp kéo anh ra khỏi nơi này”


Captain Roger Locher returns to Udorn Air Force Base in Thailand, greeted by General John W. Vogt, Seven Air Force Commander.
Locher was retrieved from behind enemy lines only 60 miles (97 km) from Hanoi after 23 days evading capture.

Bên dưới mặt đất, Locher lạnh và run rẩy: “Xin Thượng đế bảo vệ họ, đừng để ai bị bắn rơi vì con”.
Khoảng 30 phút sau, hai trực thăng xuất hiện. Trong khi Locher làm dấu hiệu xác định vị trí của mình bằng kính phản chiếu, một trong hai chiếc bay về phía anh, chiếc còn lại chờ đợi tiếp cứu trong trường hợp khẩn cấp. Phía trên, các chiến đấu cơ vần vũ, gầm thét uy hiếp tinh thần địch.

Chiếc trực thăng dừng lại, lơ lửng phía trên vị trí của Locher khoảng 15 mét và thả xuống một ‘penetrator’ (dụng cụ có hình trái thủy lôi, có trọng lượng vừa đủ để làm xuyên thủng những tàng cây che phủ vị trí Locher đang ẩn nấp).

Tiếng súng liên thanh đồng loạt bắn ra từ ngôi làng dưới chân núi, nhưng sau đó đã vội im tiếng, vì bị trực thăng võ trang trả đũa.

Locher nhào về phia penetrator. Anh nhanh nhẹn kéo dây an toàn từ penetrator ra nịt vào người, và banh ba càng ngồi hình mỏ neo ra ngồi vào. Sau đó anh dơ ngón tay ra hiệu…

Trong khoảnh khắc, Locher đã được kéo lên và đưa vào trong thân trực thăng. Lực lượng cấp cứu trở về căn cứ. Một số MiG của địch bay lượn ở xa xa, hậm hực chứng kiến mà không dám lại gần, vì biết không thể địch lại lực lượng hùng hậu của Mỹ.

Về phần Đại úy Roger Locher, chuyến bay về Thái Lan phải là chuyến bay hạnh phúc nhất đời. Lúc đó anh không thể biết mình đã sút đi gần 15 kí-lô sau 23 ngày hoạn nạn, anh cũng không biết rằng mình là người sống sót lâu nhất trong số các phi công lâm nạn và đã được cứu thoát trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, và dĩ nhiên, anh cũng không thể biết rằng, cuộc cấp cứu anh là cuộc cấp cứu vào sâu trong lãnh thổ địch nhất và tất cả đã trở về an toàn.

Anh chỉ biết có một điều là mình đã được bạn bè cứu thoát. Họ đã liều chết để cứu anh. Bây giờ, ngồi trên phi cơ, họ luôn miệng cười đùa như thể đã quên mất việc mình vừa đi vào đất địch. Họ không cho Locher một dịp may nào để nói một lời cảm ơn. Anh chỉ biết nhìn họ với đôi mắt mở to, với nụ cười dễ thương, và những giọt lệ từ khóe mắt tràn ra, rồi từ từ lăn xuống bộ râu rậm của mình…

Nguyễn Hữu Phước
LTUC Xuân 93

https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/vn/item/113-roi-tren-d-t-d-ch-nguy-n-h-u-phu-c

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

Links:

Nguồn Email.


Người Phương Tây Kinh Hoàng – Trần Hưng

Bài đọc suy gẫm: Người Phương Tây Kinh Hoàng hay sự thờ ơ vô cảm của người Trung Quốc khiến thế giới sững sờ.  Bài của tác giả Trần Hưng. Hình ảnh minh họa (bé Duyệt Duyệt lúc còn sống).

*

Những năm gần đây, khi truyền thông quốc tế liên tiếp đưa những bản tin phản ánh thực trạng xã hội Trung Quốc, không ít người đã sững sờ và kinh ngạc trước sự thờ ơ vô cảm đáng sợ đang diễn ra từng ngày trên đất nước này.

Khuyến khích người có ý định tự tử mau chóng tìm đến cái chết

Ngày 20/6 vừa qua, mạng xã hội Trung Quốc lan truyền đoạn video quay lại cảnh một cô gái ngồi ở cửa sổ tầng 8 của một tòa nhà và có ý định nhảy xuống dưới tự tử. Đám đông xung quanh chứng kiến cảnh này không ít người hô hào: “Sao còn chưa nhảy xuống?”, “Nếu muốn nhảy thì làm nhanh lên!”

Trong khi lính cứu hỏa xuất hiện để tìm cách cứu cô gái, thì chính những người khuyến khích cô gái mau chóng chảy xuống lại tìm cách ngăn chặn lính cứu hỏa. Sau 4 tiếng ngồi ngoài cửa sổ, cô gái được một người lính cứu hỏa tiến đến gần và đề nghị cô nắm lấy tay anh để anh kéo ra, nhưng cô gái nói: “Cảm ơn, nhưng tôi phải đi”rồi nhảy xuống.

Khi cô gái chạm đất, đám đông chứng kiến cảnh này cười lớn và vỗ tay mặc dù cô gái trẻ đã chết tại chỗ. Trước khi chết, cô đã buộc tội giáo viên của mình lạm dụng tình dục và mong muốn đòi lại công bằng. Thế nhưng, phía nhà trường chỉ đơn giản yêu cầu giáo viên xin lỗi cô và tiếp tục được phép giảng dạy. Phía cảnh sát cũng không kết tội vì cho rằng sự việc không thực sự nghiêm trọng và cũng không đủ bằng chứng.

Sự thờ ơ của một xã hội vô cảm khiến cô gái tìm đến cái chết. Đáng sợ hơn nữa là trong 4 tiếng ngồi bên cửa sổ, cô gái cảm nhận được rằng không có một ai luyến tiếc hay thông cảm với mình, những người chứng kiến sự việc thậm chí còn khuyến khích cô nhanh chóng nhảy xuống.

Tiếp đó, ngày 23/6 tại thành phố Sán Đầu, tỉnh Quảng Đông, một người đàn ông 33 tuổi chuẩn bị nhảy lầu. Anh này đứng ngay mé ngoài trên tầng 11 của một tòa nhà, nhiều người nhìn thấy cảnh tượng đã tụm lại xem và hò hét, có người tận mắt chứng kiến đã chụp ảnh lại. Tại hiện trường có một bộ phận người thậm chí còn ngồi ghế để chờ “xem kịch hay”.

Sau đó không lâu, đến ngày 26/6, một cô gái ở thành phố Nam Thông, tỉnh Giang Tô đã leo lên ban công một tòa nhà với ý định nhảy xuống. Rất nhiều người chứng kiến xung quanh hò reo “Nhảy đi, nhảy đi!” Nhiều người thậm chí còn dùng đèn có độ sáng mạnh chiếu vào cô gái để khiêu khích cô nhảy xuống. May mắn thay, khi nhân viên cứu hộ xuất hiện và khuyên can, cô gái đã bỏ ý định tự tử.

Tối ngày 26/6, một cô gái ở Giang Tô đã leo ra ban công của một tòa nhà và định nhảy lầu tự tử, ở bên dưới có nhiều người vây quanh và hò hét “nhảy đi, nhảy đi” (Ảnh từ Weibo)

Đó chỉ là 3 trường hợp xảy ra trong trong vòng chưa đầy một tuần lễ hồi tháng 6/2018. Những sự việc tương tự như vậy hiện đang diễn ra khắp tại Trung Quốc, giống như từng nét vẽ tô điểm thêm vào bức tranh của một xã hội hoàn toàn vô cảm và thờ ơ.

18 người thờ ơ bỏ mặc đứa trẻ bị xe cán

Sự thờ ơ của người dân sống trong xã hội Trung Quốc trên thực tế không chỉ diễn ra trong một vài năm gần đây. Ngày 13/10/2011 tại thành phố Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông đã xảy ra một vụ tai nạn gây chấn động Trung Quốc và lan ra khắp thế giới. Bé Duyệt Duyệt 2 tuổi, vì mải chơi gần cửa hàng của cha mẹ mình đã vô tình chạy xuống phố và bị một chiếc xe ô tô cán qua người.

Video cho thấy sự thờ ơ và vô cảm của xã hội đối với bé Duyệt Duyệt

Đoạn video của phía an ninh cho thấy, lái xe dừng lại một lúc như cảm thấy mình vừa cán qua đứa trẻ, nhưng chiếc xe lại đi tiếp và chèn lên đứa trẻ thêm một lần nữa bằng bánh xe sau. Điều đáng nói là 18 người đi qua đường nhìn thấy đứa trẻ bị xe cán nhưng đều bỏ mặc không ai đoái hoài tới. Đứa trẻ thậm chí còn bị một chiếc xe tải thứ hai cán qua người, rất lâu sau đó mới có một người phụ nữ nhặt rác tốt bụng nhìn thấy và cứu bé.  Tuy nhiên, chỉ sau 8 ngày nằm viện, bé Duyệt Duyệt cũng không qua khỏi nguy kịch.

Đoạn video này nhanh chóng truyền khắp các trang mạng xã hội Trung Quốc rồi lan ra toàn thế giới, trong đó có cả Việt Nam. Nhiều người đều sững sờ không tin ở mắt mình, họ không thể tượng tượng nổi tại sao người Trung Quốc lại có thể thờ ơ vô cảm đến mức độ đáng sợ như vậy!

Khi sự việc mới xảy ra, cư dân mạng Trung Quốc cũng bình luận không ngớt về vụ việc và lên án những con người vô cảm. Nhưng không ai ngờ được rằng, chỉ một tuần sau đó, một vụ tai nạn tương tự đã diễn ra, và lần này người lái xe cố tình đâm tiếp cho đứa trẻ chết hẳn.

Cố tình cán tiếp qua người cho chết hẳn

Sự việc xảy ra vào ngày 20/10/2011 ở Lô Châu, Tứ Xuyên. Bé trai 5 tuổi Xiong Maoke đang đi bộ trên đường đến trường thì bị một chiếc xe tải đâm phải. Những dân làng chứng kiến vụ tai nạn cho hay, chiếc xe tải sau khi đâm vào Xiong và cán lên cậu bé, đã lùi ra sau rồi lại lao lên, cán qua lại trên người bé Xiong, kéo lê thi thể bé thêm khoảng 10m. Một số người qua đường kể lại, tài xế xe tải nhảy ra khỏi cabin sau khi đâm vào cậu bé không hề hỏi han xem tình trạng cậu bé ra sao mà lại buông ra một câu lạnh tới ghê người: “Tôi sẽ phải trả bao nhiêu tiền bồi thường?

Người Trung Quốc

Mẹ của Xiong Maoke ngồi thất thần cạnh thi thể em đang mắc kẹt dưới bánh xe tải (trong vòng tròn đỏ). Ảnh: Lzep.cn

Dù đã có nhân chứng xác nhận, nhưng cảnh sát sau khi điều tra lại kết luận rằng không có chứng cớ cho thấy bé Xiong bị cán hai lần. Các chuyên gia y tế kết luận cậu bé tử vong do tổn thương nghiêm trọng ở não.

Sự việc lái xe sau khi gây tai nạn lại còn muốn cán tiếp qua người nạn nhân cho chết hẳn ở Trung Quốc đã trở nên phổ biến đến mức người Trung Quốc ai cũng biết điều này. Các camera an ninh ở Trung Quốc cũng thường xuyên thấy cảnh lái xe sau khi gây tai nạn thì lùi lại rồi tiến lên cán thêm một lần nữa qua người nạn nhân. Không ít người có suy nghĩ rằng trả tiền bồi thường cho nạn nhân chết trong tai nạn còn rẻ hơn nhiều so với việc chi trả viện phí nếu nạn nhân chỉ bị thương. Chính vì thế, ngày 30/6/2013 một phụ nữ bị xe bồn đâm, người phụ nữ này khi nằm dưới gầm xe đã hoảng loạn hét lớn lên:  “Xin đừng cán chết tôi!” (Theo mô tả của người đi đường).

Người Trung Quốc

Người phụ nữ bị đâm dưới gầm xe hoảng loạn xin tài xế tha chết. (Ảnh từ internet)

Truyền thông thế giới cũng từng đưa tin về việc lái xe cố tình cán chết người. Hàng loạt đầu báo nước ngoài như Business Insider, National Post hay Malay Mail Online đã dẫn lại bài gốc đăng trên tạp chí Slate về việc cán qua người tới chết ở Trung Quốc. Bài báo gốc có tiêu đề “Cán tới chết” (Driven to kill), các báo khác lấy lại đặt tiêu đề là  “Lý do điên rồ vì sao tài xế Trung Quốc cố tình giết người đi bộ mà họ đâm phải“, “Tại sao nhiều tài xế ở Trung Quốc cố tình giết người đi bộ họ đâm trúng“, “Tài xế ở Trung Quốc sẽ chèn lên bạn hai lần… để đảm bảo bạn đã chết“.

Người phương Tây khi đọc những bài báo này cảm thấy hết sức kinh hoàng, không sao tưởng tượng nổi người dân Trung Quốc ngày nay lại có thể vô nhân tính đến như vậy. Tuy nhiên, câu chuyện này dường như có nét tương đồng với một số sự việc diễn ra tại Việt Nam trong một vài năm qua, và điều này  hẳn khiến chúng ta phải suy ngẫm.

Chẳng hạn, năm 2008, dư luận cả nước sục sôi trước sự việc tài xế Đặng Hữu Anh Tuấn đã lạnh lùng cho xe container cán liên tục 3 lần qua người một nữ sinh 15 tuổi bất chấp việc nữ sinh trẻ này này vùng vẫy kêu cứu dưới bánh xe và sự can ngăn của người đi đường. Khi anh trai của nữ sinh chắn trước xe container để tránh không cho xe tiến lên cán thêm vào người em gái, lái xe vẫn tiếp tục lao lên húc đổ chiếc xe máy, bánh xe tải tiếp tục cán ngang người cô gái. Đến khi nạn nhân được cứu và đưa vào bệnh viện thì cũng không qua khỏi.

Tối hôm 3/5/2014, anh Lê Ngọc Hoàng chở em gái Lê Thị Minh Tâm bằng xe máy ra bến xe TP Buôn Ma Thuột đã bị một chiếc xe ô tô chạy cùng chiều tông mạnh. Hai người trên xe máy văng mạnh xuống đường, thấy vậy tài xế ô tô đã quay xe lại cán nạn nhân lần nữa rồi bỏ trốn. Vụ tai nạn khiến cô em gái chết tại chỗ, anh Hoàng bị thương nặng.

Vào ngày 2/5 tại Hải Phòng, một chiếc xe ô tô 4 chỗ va chạm với một sinh viên, một phụ nữ trên xe đã lớn tiếng với sinh viên. Khi lực lượng chức năng đến yêu cầu đưa nạn nhân đến bệnh viện thì người phụ nữ này cho rằng “mạng người không quan trọng”. Video ghi lại sự việc này đã được đưa lên Facebook khiến nhiều người bất bình trước hành xử của người phụ nữ này. Sau đó đã xác định được người phụ nữ này là Chánh văn phòng Đảng ủy Khu kinh tế Hải Phòng.

Những câu hỏi đầy nhức nhối

Vì sao lái xe phải cán qua người cho đến chết hẳn, luật pháp đứng về phía ai?

Trong tiếng Trung có một châm ngôn dành cho hiện tượng này: “Đâm tới chết còn hơn là đâm bị thương“. Việc này được lý giải là bởi theo luật thì việc gây tai nạn chết người phải bồi thường  30.000 đến 50.000 nhân dân tệ.

Trong khi đó nếu nạn nhân không chết mà bị thương, thì người gây tai nạn sẽ phải trả chi phí chăm sóc đến 400.000 nhân dân tệ cho 2~3 năm chăm sóc đầu tiên.

Và điều kỳ lạ nữa là cảnh sát điều tra thường có kết luận không hề có việc cán qua người lần hai bất chấp có nhân chứng. Ví như ở Tứ Xuyên, một chiếc xe tải đâm phải một đứa bé. Khi đứa bé bị ngã đến choáng váng đó cố chạy đến nhặt chiếc ô bị văng ra, các nhân chứng đều khẳng định nhìn thấy chiếc xe lùi lại rồi bất ngờ tiến đến chèn tiếp qua người đứa bé lần nữa khiến em thiệt mạng.

Qua điều tra, cảnh sát  tuyên bố rằng xe tải không hề lùi, chưa từng đâm đứa trẻ lần thứ 2, và bánh xe không chèn lên nạn nhân bất chấp việc có nhiều người chứng kiến sự việc đã ghi lại lời khai làm chứng. Thậm chí một website còn đăng lại hình ảnh thi thể cậu bé nằm dưới bánh trước của xe tải.

Có lẽ, tiền đã khiến người ta đánh mất nhân tính và bất chấp tất cả. Cho dù bị quay lại video cố ý chèn nạn nhân tới chết, lái xe cũng không sợ, bởi lý do chi phí bỏ ra để bồi thường vẫn ít hơn trường hợp nạn nhân bị thương và phải chi trả phí chăm sóc y tế.

Vì sao đạo đức người Trung Quốc trở nên bại hoại?

Một người lấy nickname là 60sunsetred đã bình luận trên mạng xã hội rằng: “Người Trung Quốc đã đạt tới ngưỡng vô đạo đức nhất của họ.”

Câu chuyện về Trung Quốc khiến nhiều người phương Tây phải kinh hoàng không sao tưởng tượng được. Nhiều người biết đến Trung Quốc là một dân tộc có bề dày văn hóa tôn vinh các giá trị “Nhân, lễ, nghĩa trí, tín”, vậy điều gì đã khiến người Trung Quốc ngày nay biến dị đến mức độ này?

Người Trung Quốc cổ xưa có tín ngưỡng vào Thần Phật, kính ngưỡng “Thiên địa quân thân sư” (tức trời đất, vua, cha mẹ và thầy), luôn giữ vững chuẩn mực đạo đức, ước thúc bản thân theo các giá trị truyền thống “Nhân, lễ, nghĩa trí, tín” của Nho gia. Văn hóa truyền thông Trung Quốc tin rằng làm điều thiện có thiện báo, làm điều ác gặp ác báo và người ta đều hành xử theo đạo lý đó.

Kể từ khi ĐCSTQ thành lập, chính quyền đã tuyên dương Thuyết vô Thần và đấu tranh. Những tư tưởng này ban đầu vốn không được người Trung Quốc chấp nhận, bởi lẽ nó đi ngược lại văn hóa cổ truyền vốn đã có bề dày suốt 5.000 năm của dân tộc

Chính vì thế mà Mao Trạch Đông đã phát động Cách mạng Văn hóa (1966 – 1976) nhằm tiêu diệt hoàn toàn nền văn hóa truyền thống dân tộc, phát động phong trào “Phá tứ cựu” gồm: “Cựu tư tưởng, cựu văn hóa, cựu phong tục, cựu tập quán”. Từ đó, Trung Quốc đã quay lưng với văn hóa truyền thống dân tộc, cắt đứt liên hệ với trời và đất; khiến “người đấu với người, người đấu với trời, người đấu với đất“.

Từ tháng 8/1966, ngọn lửa điên cuồng của “Phá tứ cựu” đã đốt cháy toàn bộ di sản tinh hoa của đất nước. Những di sản này bị khép vào tội là những vật thể của “chế độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xét lại” nên phải tiêu hủy. Các đền chùa, danh thắng cổ tích, đạo quán, tượng Phật, thư pháp, mỹ thuật hội họa đều bị đập phá tiêu hủy.

Người Trung Quốc

Đề tự “Thanh Hoa Viên” trong miếu thờ Đại học Thanh Hoa bị đập nát. (Ảnh từ zhengjian.org)

Người Trung Quốc

Cố cung bị Hồng vệ binh sửa thành “huyết lệ cung”. Ảnh từ zhengjian.org)Người Trung Quốc

Miếu Khổng Tử bị thiêu rụi. (Ảnh từ zhengjian.org)

Người Trung Quốc

Hồng vệ binh tại nơi giảng kinh ở đền Jokhang, Tây Tạng. (Ảnh từ zhengjian.org)

Văn hóa là linh hồn của dân tộc, sự phát triển văn hóa định ra nền văn minh của một đất nước. Sự phá hủy hoàn toàn văn hóa của một dân tộc dẫn tới sự tiêu vong của dân tộc đó. Chính vì thế mà sau khi Cách mạng Văn hóa phá hủy văn hóa dân tộc, cắt liên hệ với trời đất, thì đạo đức người Trung Quốc càng ngày càng tuột trên dốc lớn, khiến người với người trở nên thờ ơ vô cảm, hoàn toàn mất đi nhân tính.

Từ 18 pho tượng La Hán bị phá hủy…

Trong tác phẩm “Bao nhiêu di vật văn hóa đã bị đốt ” của Ding Shu đã mô tả rằng: “Có một đội sản xuất Chùa Bạch Mã ở gần ngôi chùa. Bí thư chi bộ Đảng đã chỉ đạo nông dân đến phá tan ngôi chùa trên danh nghĩa ‘cách mạng’. Những bức tượng 18 vị La Hán bằng đất sét hơn 1.000 năm tuổi được làm trong triều đại nhà Liêu (916-1126 sau Công Nguyên) đã bị phá hủy. Kinh Bối Diệp do một vị cao tăng người Ấn Độ mang đến Trung Quốc 2.000 năm trước đã bị đốt. Một vật quý hiếm, Ngựa ngọc bích, đã bị đập tan thành từng mảnh.”

… Đến 18 người phụ nữ bị lột quần áo và ném vào phòng giam tù nhân nam

Mười năm Cách mạng Văn hóa tưởng như đã khiến người Trung Quốc vĩnh viễn bị cướp đi cội nguồn dân tộc, mất đi tiêu chuẩn làm người. Thế nhưng bắt đầu từ năm 1992, một môn khí công đề cao giá trị đạo đức với nền tảng là nguyên lý “Chân Thiện Nhẫn” đã được truyền xuất ra, giúp người dân Trung Quốc như nhìn thấy lại tinh hoa giá trị cội nguồn văn hóa của dân tộc.

Đó là Pháp Luân Công, môn khí công cổ truyền của Trung Quốc bắt đầu phổ truyền từ năm 1992, đến năm 1999 đã có 100 triệu người theo tập. Những bài giảng khí công đề cao giá trị đạo đức với nền tảng “Chân Thiện Nhẫn” khiến người dân Trung Quốc cảm thấy như tìm lại được cội nguồn xa xưa, dần dần thay đổi quan niệm người Trung Quốc. Suốt 7 năm đầu khi Pháp Luân Công xuất hiện, truyền hình báo chí Trung Quốc có rất nhiều bản tin ca ngợi giá trị sức khỏe và đạo đức do môn khí công này mang lại.

Những giá trị mà Pháp Luân Công mang đến cho người dân lại trái ngược với học thuyết đấu tranh và vô thần, khiến ĐCSTQ quyết định đán áp môn tập này vào năm 1999. Truyền hình Trung Quốc mới hôm qua còn ca ngợi “Chân Thiện Nhẫn” thì hôm sau đã nói rằng “Chân Thiện Nhẫn” không có lợi gì cho Đảng.

Nhiều trại lao động được xây dựng nhằm giam giữ những người tập Pháp Luân Công kiên quyết không từ bỏ niềm tin của mình, trong đó Trại lao động Mã Tam Gia được truyền thông phương Tây nhắc đến nhiều nhất như là địa ngục trần gian thực sự.

Trong một báo cáo năm 2001 của Liên Hợp Quốc, một bài viết đặc biệt về bạo lực đối với phụ nữ đã viết: “Tháng 10/2000, cai ngục ở nhà tù Mã Tam Gia tại Thẩm Dương, tỉnh Liêu Ninh, bị cáo buộc đã lột truồng 18 nữ học viên Pháp Luân Đại Pháp [còn được gọi là Pháp Luân Công] và đẩy họ vào các nhà giam tội phạm nam giới bị kết án”.

Người Trung Quốc

Một bức hình khắc chạm (linogravure) bởi một học viên Pháp Luân miêu tả một cảnh tại Mã Tam Gia trong tháng 10 năm 2000, trong đó 18 nữ học viên Pháp Luân bị lột trần truồng và bị đẩy vào khám giam bọn tội phạm nam. (Ảnh từ Minghui.org)

Các viên chức không cho ai đến thăm và bao che cho tội phạm. Nhiều người trong số đó bị tra tấn đến chết, những người may mắn ra được khỏi nơi đây đã nói lại rằng: “Các vị không thể nào hình dung nổi sự tàn bạo và tà ác ở chỗ này…”

“Chân Thiện Nhẫn” bị đàn áp thì “giả ác bạo” sẽ lên ngôi; khi “nhân lễ nghĩa” không còn thì con người đối với nhau sẽ trở nên vô cảm, kết quả là …

Và sự vô cảm của 18 người qua đường

Bé Duyệt Duyệt 2 tuổi bị tai nạn ven đường, 18 người đi qua nhưng không một ai giúp đỡ khiến Duyệt Duyệt bị thêm một chiếc xe khác cán qua người. Khi người phụ nữ nhặt rác tốt bụng cứu và đưa đi cấp cứu, đến cuối cùng bé Duyệt Duyệt vẫn không qua khỏi.

Người ta đã tìm đến 18 người thơ ơ bỏ mặc đứa bé để hỏi, hãy nghe họ trả lời lý do họ lại không cứu đứa trẻ.

Người lái chiếc xe tải thứ hai cán qua người bé Duyệt Duyệt nói rằng: “Nếu nó chết, tôi có thể chỉ phải bồi thường 20.000 nhân dân tệ (2.000 USD). Nhưng nếu nó bị thương có khi tôi phải mất hàng trăm ngàn tệ”.

Còn người đàn ông lái chiếc xe tay ga qua đường nhìn thấy đứa trẻ nhưng thờ ơ bỏ đi  nói với phóng viên với nụ cười khó chịu trên mặt rằng: “Nó không phải cháu tôi. Sao tôi phải quan tâm?”

Sự thờ ơ vô cảm của những con người Trung Quốc ngày hôm nay chính là hậu quả của việc văn hóa dân tộc bị hủy mất, là kết quả của việc khi một lần nữa giá trị phổ quát “Chân Thiện Nhẫn” đưa con người về với đạo đức truyền thống bị đàn áp tàn bạo. Khi “Chân Thiện Nhẫn” không còn thì thay vào đó chỉ là giả dối, ác độc và bạo ngược. Đó cũng chính là hiện trạng của xã hội Trung Quốc ngày nay và không khó để hình dung điều gì sẽ xảy ra tiếp theo ở vùng đất từng là cái nôi của văn minh nhân loại này.

Trần Hưng

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

Links:

Nguồn Email.


Chỉ Thu Lượm Súng Đạn – Trần Kim Bằng

1Bài đọc suy gẫm:  Chỉ Thu Lượm Súng Đạn hay bài Hồi ký về Trận đánh tại chi khu Thiện Giáo, tháng tư năm 1975.  Tác giả Trần Kim Bằng ghi lại theo lời kể của Anh Ba, người hùng Phan Thiết, Bình Thuận. Hình ảnh chỉ là minh họa. 

Link từ Việt Báo online:
https://vietbao.com/a279704/hoi-ky-tran-danh-tai-chi-khu-thien-giao-thang-4-1975

Link audio you tube: https://youtu.be/U8_qUCcVnxo

2

Sau hồi ký “Vượt biên đường bộ”, 2015, Bằng được ủy thác, vinh dự góp tay viết về trận đánh tại quận Thiện Giáo, thuộc tỉnh Bình Thuận trong tháng 4 năm 1975 theo lời kể của một vị sĩ quan Quân Lực – Việt Nam Cộng Hòa (QL- VNCH).

Bài viết được trình bày qua hình thức hồi ký. Tác giả cho biết sau nhiều đề nghị từ các anh em đồng đội từng sát cánh chiến đấu, các con cháu, luôn yêu cầu ông nên kể lại. Ngoài mục đích di sản cho thế hệ sau về những chiến thắng oai hùng của cha ông trong công việc gìn giữ, bảo vệ đất nước, chống lại sự xâm lược của cộng sản (cs.) vô thần, ông còn mong như đóng góp nhỏ trong việc phản bác những lời nói vô trách nhiệm của cựu Tổng thống Hoa Kỳ, George W. Bush (Junior)* khi cho rằng QL – VNCH không chịu chiến đấu, thay vì ông ta nhìn nhận để miền nam tự do rơi vào tay cộng sản đa phần là do các chính trị gia Mỹ. Phát biểu nông cạn thực đáng trách của ông Bush tạo ra những bực bội cho nhiều người lính của chúng ta, dù cuộc chiến đã tàn từ lâu.

Cá nhân ông và các đồng đội đã hy sinh tuổi thanh xuân, chiến đấu hết mình cho tới khi miền nam thân yêu bị bức tử, vận nước chấm dứt.

Câu truyện đồng thời cũng ước mong như những đóa hoa thơm, thân thương gởi đến các chiến sĩ Địa Phương Quân – Nghĩa Quân (ĐPQ & NQ) của QL – VNCH trên mọi miền giới tuyến, đã nhiều phen đóng góp xương máu cho đất nước… nhưng luôn bị lãng quên, ít được đề cập tới.

 

*

– Về chiến thắng Thiện Giáo, dẫu muộn màng, nên được kể và ghi lại trong trang sử liệu đấu tranh can trường của QL-VNCH. Trận chiến này ngoài ĐPQ & NQ thuộc tiểu khu Bình Thuận, còn có thêm ít binh lính từ các binh chủng khác như Nhảy Dù, Biệt Động Quân, TQLC, … di tản về sát nhập chung, tình nguyện chiến đấu. Ở vào thời điểm khi vùng 1, vùng 2 tan rã, tình hình nhiều tuyệt vọng. Chi khu TG. cho gia đình binh sĩ, vợ con quân nhân các cấp di tản trước, riêng các chiến binh, những người chồng, người cha ở lại sẵn sàng chờ địch tới. Dù biết có thể phải hy sinh bản thân, mọi người quyết bảo vệ vùng trách nhiệm được giao phó. Nghĩ lại, thật hãnh diện. Theo nhận xét của người viết, mặc dù ngoài 80, nhưng với trí nhớ minh mẫn, nhiều chi tiết tường thuật rõ ràng vì chính ông là người tham chiến, giữ trọng trách chỉ huy trưởng lực lượng phòng thủ chi khu. Ông cho hay TĐ 230/ĐPQ được tiểu khu Phan Thiết bố trí ngăn địch tại tuyến đầu tức chi khu Thiện Giáo và cuộc đụng độ nặng cuối cùng nổ ra trong tháng tư, chống trả lại 2 trung đoàn việt cộng, trận đánh rất ác liệt và kéo dài khoảng 3 ngày. Với quân số chỉ hơn 1 tiểu đoàn, các chiến sĩ ĐPQ & NQ đã anh dũng, chặn đứng, đẩy lui nhiều đợt tiền pháo hậu xung của địch, và rất may mắn chỉ một vài người bị thương nhẹ, cả tiểu đoàn hầu như vô sự. Chiến thắng đầy tự hào cuối đời binh nghiệp này cũng đã được ghi lại trong trí nhớ của nhiều người dân Bình Thuận. Ông “Anh Ba”, ở cương vị chỉ huy trưởng chiến trường, mặt trận Thiện Giáo, cung cấp thêm nhiều chi tiết về trận đánh này.

– Tiểu sử về U-80, “Anh Ba”, tức Đại úy Mai Vi Thành, nguyên quán Sa Châu, huyện giao Thủy, Nam Định, xuất thân khóa 4 Đồng Đế, ra trường ông phục vụ tại các đơn vị tác chiến quân khu II. Qua nhiều thăng trầm, vào thời điểm trước tháng tư 1975, vì là lính trận chuyên nghiệp, được giao lại quyền Tiểu đoàn trưởng (TĐT)- TĐ 230/ĐPQ kiêm Xử Lý Thường Vụ Chi khu trưởng Thiện Giáo. Sau khi tan hàng 30-4, vc. thù dai, liệt ông vào thành phần “ác ôn”, và chuyển giao ông ra bắc, ở tù qua các trại như Hoàng Liên Sơn, số 5 Thanh Hóa… từ 1975- 1982, vượt biên định cư Hoa Kỳ 1983. (See note update)

–  Anh Ba cũng là con nuôi cũa Chuẩn Tướng Trần văn Hai, Tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh, QL – VNCH, vị tướng công chính thanh liêm, người đã tuẫn tiết trong ngày 30-4-1975 tại bản doanh, căn cứ Đồng Tâm, Mỹ Tho.

*

Vào truyện…

Giọt mưa Cali rớt vào ký ức
Lăn hồn ta về với núi với rừng
Gặp lại anh em tháng ngày thao thức
Hể hả cười… cùng khói lửa rưng rưng

Thơ Trạch Gầm (Theo mưa đến thăm cà phê lính)

Trận đánh Thiện Giáo (TG.) tháng 4, 1975.

Khoảng đầu tháng 4, 1975, sau khi Ban Mê Thuật thất thủ, quân đoàn 2 hầu như tan rã và sát nhập vào quân đoàn 3 theo lịnh Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Mục tiêu quân sự của Hà Nội đã quá rõ ràng, cánh quân Duyên Hải, Trung đoàn 18 thuộc Quân đoàn 2 cộng sản đang tạo áp lực, chuẩn bị tấn công Phan Rang từ phía đông bắc, sau đó dọc theo đường Quốc lộ (QL) số 1 tiếp tục hành quân về phía Nam, với mục tiêu kế tiếp tiến vào địa bàn tỉnh Bình Thuận, xuống chiếm lấy tiểu khu Phan Thiết. Tuy nhiên vì tình hình dân chúng từ vùng I và II bắt đầu di tản ngày càng đông trên quốc lộ 1, có thể không hẳn thuận lợi về mặt chiến thuật nên địch mở thêm mặt trận từ hướng tây, phía bắc tiểu khu Phan Thiết, nhằm khai thông đường tỉnh lộ 8. Nỗ lực ở mặt này, thì bằng mọi giá, phải dứt điểm Chi khu Thiện Giáo, vì đây là cứ điểm phòng thủ quan trọng để vào Phan Thiết. Cùng lúc, nơi mặt tây nam, tiến đánh Định Quán, rồi từ QL. 20 để vào mặt trận lớn hơn là tiểu khu Long Khánh, vòng đai phía bắc, nơi sư đoàn 18 BB của tướng Lê Minh Đảo phòng ngự, bảo vệ cửa ngõ Sài Gòn. Riêng mũi tấn công vô Thiện Giáo, vì là mặt trận then chốt, hầu như địch tập trung toàn lực lượng vũ trang quân khu 6 trên các cao nguyên Lâm Đồng, Bảo Lộc đưa xuống đồng bằng, đem vào trận.

Trận đánh tại chi khu TG. bắt đầu lúc 3 giờ sáng, khoảng ngày 11, 12 tháng 4 năm 1975, và trong 3 ngày giao tranh, với nhiều đợt tấn công biển người, việt cộng (vc.) đều bị chặn đứng và đánh cho tan tác trên các cứ điểm, có thể nói là thảm bại, thiệt hại nặng mặc dù quân số và vũ khí vượt trội gấp 5, 7 lần. Ghìm được chân lực lượng lớn của địch tại đây là niềm tự hào, của tiểu đoàn 230/ĐPQ & NQ, cùng tất cả quân dân cán chính thuộc chi khu TG. Nhưng khi đất nước lâm nguy, lãnh thổ hỗn loạn, rồi miền nam bị bức tử! chiến thắng này lại ở giai đoạn gần… đứt phim, nên theo dòng thời gian đi vào quên lãng, hầu như không ai nhắc tới, chỉ được truyền thông để ý đến cách hời hợt, chung chung sau này.

*

Thiện Giáo nằm trên tỉnh lộ 8, phía Tây Nam sát mật khu Tam giác, phía đông là quốc lộ 1 và mật khu Lê Hồng Phong, tây bắc có dãy Trường Sơn và mật khu Đăng Gia, phía nam là thị xã Phan Thiết. Quận TG. có hơn mười xã như Tân An, Bình An, Hòa Tân, Tân Thành… ngoài 1 xã hay khu trù mật của người bắc di cư với tinh thần chống cộng cao được thành lập từ thời Tổng thống Diệm, thì tất cả những xã khác đều là vùng xôi đậu. Chi khu Thiện Giáo, theo tầm nhìn chiến thuật là cứ điểm quan trọng, cái gai phải nhổ của vc. để tràn xuống phía nam, nên không bao giờ yên ổn, nơi đây với nhiều trận đánh đẫm máu liên miên của cả hai phía, lớn có, nhỏ có, không ngưng nghỉ. Có câu:” Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”, cọp thì không thấy nhưng ma quỷ là bọn giặc du kích thì đầy, chúng từ các mật khu luôn ra uy hiếp, quấy rối, giành dân, có nơi một vài xã, vc. đã thành lập được cả cơ sở nằm vùng. Nhiều đời quận trưởng TG. đã bị tử nạn bởi phục kích, bị pháo, đánh lén, đánh úp**.  Thiện Giáo hiền hòa, nhỏ bé, nhưng như một khiêu khích quá hiển nhiên, lộ liễu với các anh mật khu bao quanh nên thường bị đặc công quấy rối. Vấn đề an ninh thiệt ớn óc! Bởi vậy, cầm sự vụ lệnh trong tay về bình định quận TG. vị chỉ huy cần có mưu lược tài trí. Có lẽ chỉ có 2 loại người: loại to gan, lớn mật, và loại sau, thê thảm hơn, bị… đì.

*

Lực Lượng và phối trí:  VNCH. (khoảng 1,200 quân)

TĐ 230/ĐPQ có 5 Đại đội (ĐĐ) cơ hữu. gồm 1 ĐĐ chỉ huy công vụ, 4 ĐĐ tác chiến và 2 ĐĐ biệt lập (tăng phái), thêm 7 trung đội nghĩa quân. Ghi chú thêm về NQ. của tiểu khu Phan Thiết, đặc biệt chi khu TG. là trong khoảng thời gian dài 20 năm ròng rã, sống mái với việt cộng để bảo vệ địa phương của họ, những người lính nghĩa quân nơi đây dạn dày kinh nghiệm và rất thiện chiến, họ đã nhiều phen gây tổn thất nặng cho đối phương, ghi nhiều chiến công.

1 trung đội Cảnh sát dã chiến.

1 đoàn cán bộ Xây Dựng Nông Thôn (lực lượng áo đen)

Khoảng gần 2 trăm binh sĩ từ các binh chủng khác từ vùng I & II di tản về sát nhập chung đưa quân số lên 1,400 (See note update)

Chỉ huy trưởng mặt trận là Tiểu đoàn trưởng (TĐT) – Tiểu đoàn (TĐ) 230/ĐPQ kiêm xử lý thường vụ chi khu trưởng chi khu Thiện Giáo, Đại úy Mai Vi Thành, tức Thành Râu, tuy nhiên các chiến hữu và dân chúng Phan Thiết hầu như ai biết ông, đều thân thương gọi “Anh Ba”. Anh Ba vốn là cựu TĐT- TĐ 202/ĐPQ đóng tại Cây Táo, trên Quốc lộ 1, nhưng theo yêu cầu của các binh sĩ TĐ 230, được tiểu khu điều động về thế người tiền nhiệm là Thiếu Tá Thổ Thiêm, người gốc Chàm, một vị đức độ, can đảm, chỉ huy giỏi, nhưng phải giải ngũ sau 3 lần lưu ngũ.

–  Tiể đoàn phó 230/ĐPQ là Đại úy Trần Đăng Thiệt, vì 230 phải chuyển sang phòng ngự, bảo vệ khu vực nên ngoài các Đại đội trưởng, phó, tương đối còn đầy đủ nhân sự các phòng ban 1,2,3,4,5 và truyền tin.

Phía địch: Theo nhiều tin tình báo ở thời điểm này, tuy không đủ thời gian kiểm chứng chính xác, nhưng qua khai thác tù binh được biết, quân số ước lượng vào khoảng 2 trung đoàn của lực lượng vũ trang quân khu 6, hơn 5,000 quân? Với toàn bộ du kích miền cao nguyên 2 tỉnh Tuyên Đức, Lâm Đồng, trong đó Trung đoàn 812 là nỗ lực chính, và 1 trung đoàn tân lập, được điều động vào trận nhằm dứt điểm quận Thiện Giáo, xóa sổ TĐ 230. Ngoài pháo binh với đầy đủ đạn dược tiếp vận từ mật khu, loại xe tăng V100 được ngụy trang thành T54 khá đe dọa tâm lý, mặc dù sau đó người lính ĐPQ – NQ. TĐ 230 đã chứng tỏ cho thấy dù địch có xe tăng nhưng cũng không làm khó được họ.

Phối hợp: Chi khu Thiện Giáo phối hợp hàng ngang với chi khu Định Quán, địa đầu của tỉnh Xuân Lộc. Địch tấn công Định Quán cùng lúc với chi khu TG. Thiếu Tá Lê văn Chánh, cũng là người bạn thân của anh Ba, nắm quận trưởng kiêm chi khu trưởng Định Quán đã anh dũng tử trận. Việt cộng dùng pháo 100 ly trên xe tăng T59, bắn trực xạ vào hầm chỉ huy sau khi chúng loa gọi nhưng ông thà chết không hàng. Thiếu Tá Chánh hy sinh lúc đang liên lạc vô tuyến với trưởng chi khu TG.

 

So Do Phong Thu TG

 

* Lúc 3 giờ sáng khoảng ngày11, 12. Với quyết tâm “giải phóng” TG. hay cứ điểm Ma Lâm, vc. mở màn bằng trận pháo mù mịt vào tất cả mọi vị trí, công sự các đại đội, đặc biệt quả pháo 155 ly đầu tiên rót vào bộ chỉ huy tiểu đoàn, được báo cáo là chui xuống gầm xe của anh Ba nhưng… không nổ. Sau cơn mưa pháo, địch tổ chức nhiều đợt tấn công biển người, chúng vừa phát loa kêu gọi đầu hàng, vừa ồ ạt đánh vào từ mọi mặt đông tây nam bắc nhằm cắt rời các đại đội ra, không tiếp ứng được nhau. Mặt tây bắc của Đại đội 2 (ĐĐ2) do Trung úy Sanh trách nhiệm chịu áp lực nặng nhất bởi vị trí phòng thủ nằm án ngữ nơi trục giao thông chính của liên tỉnh lộ 8, tuy nhiên, như 1 phép lạ, quân trú phòng vẫn đứng vững sau nhiều phen bị cường tập. Vc. sau mỗi đợt pháo luôn cố gắng tràn ngập nhưng lần nào cũng “chém vè”, phải rút ra với tổn thất không ít về nhân mạng, và cho đến khi tàn cuộc vẫn không chiếm được các cứ điểm. Trong lửa cháy lẫn mùi thuốc súng khét lẹt… Anh Ba nhận định với các ban về những tuyên truyền láo từ chính trị viên cs. nhồi vào đầu cán binh của họ, như tinh thần hốt hoảng, lo sợ, mất bình tĩnh của các chiến sĩ ĐPQ & NQ, QL – VNCH sẽ tiếp tục tháo chạy khi nghe tin “quân giải phóng” đến, đã không xảy ra giống như ở ngoài vùng 1, 2. Ông cười cho biết, chúng đâu ngờ quân dân Bình Thuận của chi khu TG từ quan đến lính, đã rất tỉnh táo, kỷ luật, súng đạn đầy đủ, nghiêm chỉnh chờ sẵn. Địch vào đến đâu bị đốn ngã như sung tới đó. Chiếc tank đầu tiên của vc. nhằm uy hiếp tinh thần bị người lính ĐPQ dùng M72 bắn cháy được thông báo cho nhau làm nức lòng mọi người”.

Nhiều người dân TG., sau này kể lại trận đánh tháng tư vẫn hả hê, cho đây là 1 trận thắng lớn, để đời của các chiến sĩ ĐPQ – NQ của QL – VNCH, vốn bị chế diễu là lính “Địa…phao câu”, lính… vườn.

Anh Ba cho biết trận TG, với quyết tâm cao độ, ai cũng kiên cường, thà chết để bảo vệ khu vực trách nhiệm của mình cách thần kỳ, mọi người đã anh dũng chống trả, bẻ gãy mọi mưu toan, và đứng vững sau nhiều xung phong cảm tử của địch. Chiến thắng này cho thấy người lính ĐPQ và NQ của chi khu Thiện Giáo xứng đáng được nhận huân chương tiêu biểu, vinh danh cho truyền thống bảo vệ làng xã trên toàn lãnh thổ.

Trận đánh kéo dài cho tới ngày thứ 3, dù tất cả những vị trí, công sự hư hại nặng nhưng người lính ĐPQ & NQ, QL – VNCH tinh thần vẫn cương quyết một lòng, điềm tĩnh tử thủ khi giờ phút thứ 25 đang cận kề.

Tin từ các nơi gọi về…

– Trình Đại bàng, tụi nó chết la liệt, nhiều lắm, có thâu lượm chiến lợi phẩm không?

– , trang bị ngược lại cho mình.

Sau nhiều vô vọng liên lạc về bộ chỉ huy tiểu khu, cuối cùng Anh Ba cũng được biết dân tị nạn từ phía bắc đã về tới thị xã Phan Thiết? toàn bộ tiểu khu Phan thiết với 6 tiểu đoàn đã di tản chiến thuật? Bằng tàu hải quân, một số ra đảo Phú Quý, số khác về Vũng Tàu. Một trung sĩ trước khi cúp máy cho biết không còn bất cứ giới chức nào để ra lệnh, dĩ nhiên không tiếp vận, không yểm trợ, và thẩm quyền phải tự xoay sở lấy…  Cánh quân của TĐ. 230/ĐPQ như vậy đã chiến đấu đơn độc ngay trên đầu tuyến, “nhất kiếm trấn ải” trực diện với quân số vượt trội hơn nhiều lần của cs., để làm chậm bước tiến địch?

Đơn độc nhưng lẫm liệt, hào hùng!

Trung đoi truong nghia quan, Khiet nguyen Hình: Mội vị trung đội trưởng Địa phương quân.

Thời điểm ngày cuối, vc. sau nhiều lần tấn công thất bại, với tổn thất nặng nề, chúng ngưng tấn công, đánh giặc nước miếng! vác loa réo liên tục, yêu cầu, đích danh tên người chỉ huy “anh Ba” và các binh sĩ “ngụy”: ”các anh đã bị bao vây, mau buông súng, trở về với … nhân dân, cách mạng sẽ khoan hồng!” (sic).

Kinh nghiệm cho ông biết chúng đang tập họp, chỉnh đốn hàng ngũ, bổ xung cho 1 đợt cảm tử mới, nhất quyết dứt điểm?

Trong khi giao tranh, ban 4 nhận lệnh tổng kết đạn dược, cho biết trang bị cho 1 người chỉ còn giới hạn không đủ để bảo vệ chính mình. Tình hình bi đát, sớm muộn sẽ bị tràn ngập? Anh Ba đã ra lệnh cho 4,5 mũi thăm dò để thoát ra, hầu hết đều bị khóa! lúc này chung quanh chi khu TG. việt cộng đông như đàn kiến, áp lực dày đặc từ mọi hướng. Tuy vậy, cuối cùng, một toán trinh sát cũng tìm được sinh lộ cho toàn quân. Trong âm thầm, tất cả các đại đội được lệnh len lỏi, triệt thoái về phía đông, băng ngang qua QL.1, xâm nhập thẳng vào… mật khu Lê Hồng Phong của địch. Ông đã binh pháp đúng, “tìm đường sống nơi tuyệt lộ”, có cách nào tuyệt vời hơn để dưỡng sức cả nghìn quân ngoài chính mật khu của việt cộng, sự tiên đoán chính xác sau khi thẩm định các tin tức tình báo về việc lực lượng cộng sản đã hối hả rời khỏi mật khu Lê Hồng Phong, dốc toàn lực nam tiến, nương rẫy vắng bóng, chúng để lại mọi thứ hầu như nguyên vẹn, người lính tìm được ít lương khô dán mác tàu cộng, đủ để nuôi quân ta được khoảng…1 ngày.

Đạn dược và thực phẩm luôn là thứ cần thiết nhất.

Sau đó, tất cả mọi người được lệnh rời khỏi mật khu, theo đường chim bay, tiếp tục triệt thoái về phía nam.

Giải tán: Khoảng 2 ngày sau đoàn quân về tới tiểu khu Phan thiết, anh Ba bàn bạc với các cấp chỉ huy tiểu đoàn và đi đến quyết định cuối cùng. Trưa ngày 18 tháng 4 ông ra lệnh cho mọi người buông súng, tan hàng, ai về nhà nấy. Lý do, hết lương thực, đạn dược.

Đoạn kết: Sau ngày 30-04-1975, truyền đơn rải từ quận Hàm Thuận, Phan Thiết xuống tới Khu rừng lá ở Hàm Tân, cây số 25 tỉnh Bình Tuy, vào đến Ngã ba Dầu Giây thuộc tỉnh Long Khánh, kêu gọi đồng bào và các cựu quân nhân đầu quân, tìm vào chiến khu “Rừng Lá” để kháng chiến, tiếp tục chiến đấu chống cs. Tờ truyền đơn ký tên Đại tá Ngô Tấn Nghĩa và Đại úy Mai Vi Thành như một xác tín nhằm kêu gọi phục quốc. Dù thật hay giả hoặc phản gián, những tờ truyền đơn này đã trực tiếp vinh danh “Anh Ba”, người hùng Bình Thuận, người đã gây cho du kích cộng sản nhiều khiếp đảm, kinh hoàng qua trận đánh cuối cùng tại Thiện Giáo. *** Anh Ba còn cho biết thêm, khi TĐ 230/ĐPQ về tới Phan Thiết, việc đầu tiên là tìm đến kho đạn của tiểu khu để bổ xung vũ khí, trang bị… trong đầu ông đã hình thành một tuyến phòng thủ mới, chuẩn bị ngăn địch vào thị xã, nhưng khốn thay, cả kho đạn cũng đã được di tản? Ông bất lực, ngao ngán nhìn thị xã Phan Thiết lúc đó coi như đã hoàn toàn bỏ ngỏ, và địch thì vẫn chưa vô tới! Thiệt tình!

Sau khi toàn quân ”giải tán”. Anh Ba và mấy người anh em thân thương, tìm ra phía biển…

Mai về đâu mảnh cơ đồ,
Các Anh gian khổ cam go giữ gìn?

Thơ Ý Nga (Trận tàn, ta vẫn chưa thua) 

 

Ghi lại theo lời tường thuật của “Anh Ba”, Tiểu đoàn trưởng – TĐ 230 Địa phương quân, Đại úy Mai Vi Thành. Ở vào tuổi này, ông chỉ mong lớp con cháu, hậu duệ luôn nhớ đến cha ông, một lần kia đã chiến đấu kiêu hùng để bảo vệ miền nam thân yêu. Mỗi năm, khi tháng tư về, dành đôi phút, cùng nhau tưởng niệm đến những chiến sĩ VNCH đã “vị quốc vong thân”, những đồng bào đã hy sinh vì lý tưởng Tự Do, được vậy là quý lắm.

 

Tháng tư, mùa quốc hận, 2018.

 

Trần Kim Bằng

 

Chú thích:

* Cựu Tổng thống Bush phát biểu trong một cuộc phỏng vấn.

** Như đã nói, các vị được chỉ định về nắm quận trưởng TG. thời gian này đều… rét vì 3,4 vị tiền nhiệm TG. khi về nhậm chức đều bị tử thương hay hy sinh ngay khi còn tại vị. Thiện Giáo với nhiều làng xã xôi đậu nên địch biết mọi chuyện phía ta, chúng có sẵn “đề lô” trong dân và pháo từ bên kia sông cứ rót vào bộ chỉ huy chi khu quận, sau đó rê chạy, các quận trưởng cựu hay mới về TG. tuổi thọ chỉ là may mắn. Quận trưởng quanh năm uống cà phê…dưới hầm. Anh Ba vốn gốc tác chiến nên coi đây là chuyện nhỏ, ông chỉ thị cho 2 trung đội trinh sát và tình báo giả dạng du kích vc., vác AK lẻn qua bên kia sông trà trộn chung với chúng, vài ngày là giải quyết xong vụ nổ pháo chạy. Khi ông về xử lý thường vụ chi khu TG. thế cho Thiếu Tá Nguyễn văn Lợi (bị thương vì pháo địch, về dưỡng thương ở Tổng Y viện Cộng Hòa), chỉ cần vài tuần là bình định, yên ổn.

*** Điểm qua sách báo việt cộng về trận Thiện Giáo, chỉ thấy có 1 bài vinh danh 1 người đại đội trưởng vc. đánh thắng trận nào đó rất chung chung ở khu 6, Phan Thiết, và thậm chí không nhắc đến tên Thiện Giáo trong những bài viết. Một số chi tiết về lực lượng, tên gọi (quân đoàn, khu…) cộng sản được tham khảo và trích từ báo SGGP cũ, nguồn VTV, nhưng hiện nay các nguồn link gốc của họ đã hết xử dụng được.

Note update: Hiệu đính thêm phần tiểu sử nguyên quán Sa Châu… và các binh chủng di tản về sát nhập chung nơi quân số, phần lực lượng, phối trí VNCH.

–  Bản họa đồ vị trí đóng quân của ta và các mũi tấn công của địch.

–  Hình ảnh internet (minh họa): Các chiến sĩ xây dựng nông thôn, và 2 người sĩ quan Địa Phương Quân (dưới).

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:

https://trankimbang.wordpress.com/2018/04/05/hoi-ky-tran-danh-tai-chi-khu-thien-giao-thang-4-1975-tran-kim-bang/

Nước Mỹ có xấu hổ? – Kim Thanh

Bài đọc suy gẫm: Nước Mỹ có xấu hổ? hay Phnom Penh, Ngày ấy còn đâu của tác giả Kim Thanh, câu truyện thú vị về thân phận người dân của một nước nhược tiểu. Ảnh minh họa: Cựu Tổng thống VNCH, Trần Văn Hương.
 
 

PHNOM PENH, NGÀY ẤY CÒN ĐÂU?

Giữa tháng 7 năm 1971, tôi đang dẫn một trung đội tăng phái hành quân theo chiến dịch Phượng Hoàng tại một quận lỵ thuộc Tiểu khu Khánh Hòa thì nhận được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu về Sài Gòn trình diện. Đối với một sĩ quan cấp nhỏ, trung úy như tôi, đó là một tin vui lớn. Không cần biết về làm gì. Ít nhất được xa chiến trường một thời gian.

Về Sài Gòn, tôi được Bộ Tổng Tham Mưu cho biết phải đi Phnom Penh làm thông dịch viên Pháp ngữ cho Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự. Từ ngày VNCH đưa quân sang xứ Chùa Tháp, nhiệm vụ của Phái Đoàn, như tên gọi, rất cần thiết trong việc liên lạc giữa hai quân đội bạn. Nhận sự vụ lệnh, tôi nghĩ đến nỗi thất vọng của ba mẹ tôi luôn mong ước tôi được làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu, nhàn hơn, thọ hơn chăng. Cam Bốt, lúc ấy, cũng đang tơi bời khói lửa.

I. Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự:
Ở chơi Sài Gòn ba ngày, tôi đi Phnom Penh bằng C47, chuyến bay đặc biệt chở đồ tiếp tế cho Phái Đoàn. Hơn một giờ sau, đến phi trường Pochengton. Trời nóng không thua gì Sài Gòn. Một thiếu úy còn trẻ, kém tôi độ vài tuổi, mặt mày trắng trẻo, mang súng ru-lô xệ ngang hông như cao-bồi Texas thứ… giả, trên mép gắn hờ điếu thuốc chưa đốt kiểu James Dean, một chân gác, nhịp nhịp, trên cây cản phía đầu xe jeep trắng, mang bảng số ẩn tế. Một tốp quân nhân, trong số có một thượng sĩ già, bước xuống máy bay, lên xe. Thấy tôi còn đứng lóng ngóng, anh thiếu úy không chào, chỉ hất hàm hỏi, “ông về Phái Đoàn hả, lên luôn, mắc cỡ gì nữa”. Dĩ nhiên, tôi thấy khó chịu, nhưng tự nhủ, đừng nóng, sẽ tính sau. Một chiếc xe dân sự khác chở đầy vật dụng đem xuống từ máy bay.

Xe chạy bon bon trên những đường phố vắng, và đặc biệt rất sạch, có những hàng cây thẳng tắp hai bên đường cành lá sum suê, và những vườn hoa rực rỡ sắc màu. Vừa lái, anh thiếu úy tự giới thiệu, Nguyễn An Hòa, và sau này, tôi biết thêm anh là con của Trung tướng Nguyễn Văn Mạnh, Tham mưu trưởng Liên quân, ở trong Phái Đoàn, giữ một chức mà chính anh gọi đùa là “trưởng ban cà nhỏng”, muốn làm gì thì làm.

Sau hơn nửa giờ, đến trụ sở Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự, một building đồ sộ trên đường Norodom. Tôi được đưa thẳng lên lầu hai trình diện Trưởng phái đoàn, Đại tá Tô Văn Kiểm. Ông dáng gầy, tầm thước, rất ít nói, nét mặt khắc khổ, nhưng hiền lành, đôi mắt biểu lộ một tấm lòng nhân hậu. Lần đầu gặp ông, tôi thấy có cảm tình ngay và an tâm. Rồi ông dẫn tôi đến một phòng lớn, toàn là sĩ quan cấp tá đang ngồi làm việc, và giới thiệu:

– Trung úy Nguyễn Kim Quý, thông dịch viên mới của Phái Đoàn.
Có đủ các Phòng Ban, các ngành Hải, Lục, Không quân. Tôi còn nhớ bên Hải quân có Thiếu tá trẻ tên Khôi (quên họ), Không quân có Trung tá phi công già Trịnh Hảo (Văn?) Tâm. Có Trung tá Nguyễn Kiên Hùng, TQLC, người hùng trong vụ đảo chánh cụ Diệm năm 1960, ở phòng 2 hay 4. Đặc biệt có Trung tá Nguyễn Văn Nam, trưởng phòng 5, chồng của nghệ sĩ Mộng Tuyền, dáng dấp hào hoa phong nhã. Trung  tá Nam bước đến vỗ vai tôi, bắt tay, thân mật, nói liền một câu tiếng Pháp, giọng khàn khàn:

– Bienvenu, mon frère!
Dân CTCT có khác, tôi khen thầm. Đại tá trưởng Phái Đoàn cho tôi nghỉ ba hôm, để quen nước quen cái. Ngủ trong dãy phòng sĩ quan cấp úy, gồm các phi công, sĩ quan hải quân, và bộ binh biệt phái công tác ngắn hạn, nghĩa là mới thấy đã biến đâu mất. Ăn tại “phạn xá”, dành cho sĩ quan cơ hữu, nghĩa là làm việc thường trực tại Phái Đoàn. Mỗi người góp tiền hàng tháng cho hai binh sĩ “hỏa đầu quân” đi chợ và nấu ăn chung.

Nguyễn An Hòa đưa tôi đi thăm một vòng building: phòng truyền tin, tiếp liệu, nhà bếp, nhà tắm, phòng ngủ của các hạ sĩ quan, binh sĩ. Tất cả đều chào đón tôi vui vẻ, niềm nở. Phòng Y tế có một bác sĩ và một y tá. Y sĩ trưởng là Thiếu tá Trương Kim Thành rất cởi mở, dễ mến. Sau này, khi rảnh việc, tôi hay mò đến phòng Y tế không phải để xin thuốc, vì lúc ấy còn trẻ đâu cần, nhưng để tán gẫu với anh về đủ chuyện, kể cả văn chương, nghề của tôi, và chữa bệnh hoa liễu, nghề của… chàng.

Tôi được chia văn phòng với Thiếu tá Son Sanjivith, sĩ quan liên lạc của quân đội Cam Bốt tại Phái Đoàn VNCH, sáng đến chiều đi, luôn mặc quân phục kaki vàng ủi thẳng nếp, mang cấp bậc trên cầu vai như lon Pháp, đeo kính trắng, dáng dấp quan văn hơn quan võ. Son Sanjivith nói anh là con của cựu Thủ tướng Cam Bốt Sơn Ngọc Thành – thủ tướng năm 1945 và 1972, bị ám sát hụt, đày về Việt Nam, rồi sau 1975 bị Việt cộng bắt và chết trong khám Chí Hòa năm 1977– và cháu của chính trị gia Sơn Ngọc Minh. Tôi cũng không hỏi thêm. Anh không nói được tiếng Việt. Buổi sáng đầu tiên tôi vào nhận việc, anh pha cà-phê mời tôi uống, nói chuyện bù khú với nhau gần một giờ xài nhiều tiếng lóng Pháp, cười thích thú, bên khung cửa sổ, nhìn xuống con đường phía sau, song song với đại lộ Norodom. Rồi ai về bàn nấy. Anh ngồi cuối phòng, còn tôi gần cửa ra vào.

Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự không có thông dịch viên khá lâu, vì người tiền nhiệm của tôi, mãn hạn ba tháng, chưa có ai thay, nên giấy tờ ứ đọng. Giấy tờ không có gì “mật”, cũng thường thôi, của quân đội – đôi khi của chính phủ– Cam Bốt, viết bằng tiếng Pháp, gửi Phái Đoàn, nhờ chuyển cho Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn. Trước khi đến bàn thông dịch viên, văn thư đã được đọc bởi Đại tá Kiểm. Thư nào cần dịch ra tiếng Việt, và ngược lại, ông ghi “à traduire”. Thư trả lời, ông viết bằng tiếng Việt, mặc dù rất giỏi Pháp ngữ, cũng như các trưởng phòng, nhưng ông muốn có một bản dịch do một “chuyên viên” chính thức chịu trách nhiệm. Đôi khi ông gợi ý cho tôi trả lời thẳng bằng tiếng Pháp những bức thư không quan trọng. Ông rất hài lòng về những bản dịch của tôi, khen tôi trước các sĩ quan khác, và để tưởng thưởng, ông cho phép tôi, sau khi nộp bản dịch trong ngày, được đi chơi tùy thích, không phải ngồi “làm cảnh” ở văn phòng. Tôi thầm cám ơn Thượng Đế cho tôi thêm một vị chỉ huy quá tốt, giữa những vị chỉ huy quá tốt khác trong suốt đời lính.

Được phép, nhưng tôi lại không ra ngoài, thích ở văn phòng đọc sách, trừ khi Hòa đến rủ. Mà Hòa thì khoái đi lắm. Đúng hơn, khoái đi với tôi, có lẽ vì đồng trang lứa, đồng cấp úy, có lẽ vì tôi dễ tính, lôi đi đâu cũng được. Quen nhau, tôi thấy Hòa là một người bạn tốt, thẳng thắn, dễ thương, không bao giờ nói hoặc chơi xấu ai, dù bề ngoài có vẻ ngang tàng, bất cần của một công tử Con Ông Cháu Cha. Bên ly rượu, giữa hai làn khói thuốc, Hòa thường tâm sự về cuộc đời, ái tình, sự nghiệp của mình, và tôi được biết anh rất đắt đào, trong số có một ca sĩ cải lương trẻ đang lên mà anh xem như bồ ruột – đôi lúc dự tính “rước em dzìa dzinh luôn”, anh vui miệng kể.

Ra phố, Hòa và tôi diện áo quần dân sự, nhưng không quên lận lưng cây súng, juste dans le cas où… Hòa thường khoe cây mini-Colt dẹp, đẹp, nhỏ xíu, như cái hộp quẹt ga, tôi không chắc bắn có chết ai không. Ngoài những chiều Chúa Nhật dự thánh lễ tại nhà thờ Chánh tòa, nơi gặp gỡ của thành phần thượng lưu Cam Bốt cũng như ngoại quốc, nhất là Pháp, tôi xuống phố, một mình hay với Hòa, cũng chỉ để vào những tiệm ăn Tây, gần trụ sở Phái Đoàn gọi món poulet à la marengo hay civet au lapin, nhấm nháp vài ly rượu vang Bordeaux chánh hiệu. Hoặc lòng vòng quanh Chợ Trung ương (Marché Central) gần đại lộ Monivong và de Gaulle, ăn hủ tiếu Nam Vang – gọi là chính gốc Nam Vang, mà dở tệ hơn mì gói trụng nước sôi. Hoặc lượn trước cửa Lycée Preah Norodom, ngắm các tiểu thư mặc đồng phục váy màu xanh đậm, mặt hoa da phấn, ríu rít tan trường, mà lòng bồi hồi tưởng nhớ những bóng hình xưa cũ. Đôi khi Thiếu tá Son Sanjivith mời về nhà dùng cơm. Vợ anh là người Cam Bốt, xinh đẹp, quý phái, lịch sự. Đáp lễ, thỉnh thoảng tôi mời hai vợ chồng đi ăn những tiệm họ chọn. Theo lời khuyên của anh, tôi tránh vào những bars rượu, có bia ôm dĩ nhiên, vì người Miên, nhất là lính Miên hành quân trở về, súng ống đầy mình, không ưa Việt Nam. Một lần, lỡ bước vô, Hòa và tôi bị họ nhìn với cặp mắt cú vọ, khiêu khích, như chúng tôi đã nhìn lính Mỹ trong các quán bars ở Sài Gòn. Ngồi uống bia kiểu đó mất hứng và mất sướng. Ôm em trong tay mà hồi hộp không biết ăn đạn lúc nào.

Thỉnh thoảng, Trung tá Nguyễn Văn Nam cũng rủ tôi đi chơi riêng với ông. Khi thì ông gặp một người Miên lai môi giới hỏi mua chiếc xe Mustang rẻ, đem về Việt Nam miễn thuế, bắt tôi ngồi bên để ông lái thử xem máy chạy có tốt không. Khi thì đến ăn tối tại nhà một chị Việt Kiều quen ông. Khi thì đi thăm Chùa Prasat Prak, còn gọi là Chùa Bạc Chùa Vàng (sàn lót bằng hàng ngàn mảnh bạc và có một tượng Phật khổng lồ đúc vàng), hay vào hoàng cung lộng lẫy son vàng, mái lầu cong vút, bất ngờ nhìn thấy công chúa Bopha Devi, con vua Sihanouk, nguyên trưởng đoàn múa ballet hoàng gia, năm ấy 28 tuổi, ba đời chồng, đẹp mê hồn, bị giam lỏng cùng với gia đình và nhiều mỹ nữ.

Ngoài lương căn bản trong quân đội, do đơn vị gốc giữ hộ, các sĩ quan Phái Đoàn được lãnh thêm tiền phụ cấp công tác hàng tháng bằng đô la xanh. Tôi cấp nhỏ, độc thân, lãnh khoảng $180, đổi ra tiền riel, vật giá lại rẻ, cũng đủ xài hết tháng, một cách đế vương, có khi còn dư chút đỉnh.

Ban đêm, Phái Đoàn tự lo an ninh. Tất cả sĩ quan luân phiên trực trại, tuần tra bên trong tường building cùng với hai binh sĩ trang bị M16 và lựu đạn. Buổi sáng, nếu không có chuyện gì, ghi vào sổ “rien à signaler”, vô sự. Một vài đêm cuối tuần, không biết làm gì để giết thời gian, các sĩ quan, chờ cho Đại tá Kiểm đi ngủ, gầy sòng phé đánh giải trí. Tôi và Hòa được rủ tham gia. Ai không chơi, ngồi ngoài chầu rìa, tình nguyện đóng vai “thầy bàn”. Tôi mang danh “thầy cúng”, vì thua triền miên. Trung tá Nam đánh rất bạo, mới nước thứ hai đã tố xả láng, tapis (Mỹ gọi là “all in”) liền, thua hết tiền, đứng dậy, tỉnh queo, nhưng thường thường ông thắng, vì đa số nhát, không dám bắt dù đoán ông tháu cáy. Một đêm, đang sát phạt, Đại tá Kiểm bất thần xuất hiện. Ông ghét cay ghét đắng cờ bạc, nên la mắng tận tình, từ cấp trung tá trở xuống, ai nấy ngồi yên, chịu trận. Nhưng qua hôm sau, ông vui vẻ trở lại, coi như không có chuyện gì xảy ra. Những trận phé chui, vì thế, vẫn tiếp diễn trong hồi hộp.

Nói lại công việc dịch. Thực ra, lúc đầu, tôi cũng vất vả với những danh từ quân sự và khuôn mẫu xã giao, cả Việt lẫn Pháp, mặc dù nội dung không có gì khó khăn, gây cấn. Vài lá thư thường xuyên than phiền về việc làm của một, hai đơn vị QLVNCH trong làng xã gần biên giới. Vài thư chia sẻ tin tức quân sự, báo cáo, tổng kết công tác phối hợp. Một số ít thư qua lại mang tính cách ngoại giao như mừng Ngày Quân Lực VNCH, chia buồn vụ Tướng Đỗ Cao Trí tử nạn, hoặc, ngược lại, những lễ lớn của quân đội Cam Bốt. Son Sanjivith cho tôi một quyển cẩm nang về cách viết công văn bằng tiếng Pháp với những câu xã giao có sẵn. Cứ thế mà ráp vào. Sau hai tuần, tôi quen, và bất kỳ văn thư dài ngắn, tôi chỉ đăm chiêu suy nghĩ một hồi, gõ máy chữ (lúc ấy chưa có computer) hai mươi phút là xong. Rồi thay đồ dân sự. Tự do như gió.

Đôi khi tôi đến sân tennis, gần phi trường Pochengton, múa vài đường banh cho giãn gân cốt, kiểu trưởng giả học làm sang, chứ không mong ăn cái giải gì. Nhờ vậy, một ngày đẹp trời, nhân đi xem một trận đấu quốc tế tôi được gặp tại đó một bạn JECU (Thanh Sinh Công Đại Học) cũ, xinh đẹp, vô cùng dễ thương, Yvette Trương Tấn Trung, cựu sinh viên Dược Sài Gòn. Tha hương ngộ cố tri là một trong tứ… vui. Cả hai hết sức ngạc nhiên, ôm chào nhau mà miệng cùng lúc hỏi nhau một câu giống y chang: “Mais qu’est-ce que tu fais ici?” (Nhưng mà toa làm gì ở đây?). Yvette lấy chồng người Cam Bốt, bạn học trường Dược ở Paris, về Phnom Penh mở một tiệm thuốc Tây, cũng gần đó. Hỏi thăm nhau nhiều chuyện mới, ôn lại nhiều kỷ niệm cũ. Yvette ghi địa chỉ và số điện thoại mời “toa hôm nào đến nhà tụi này chơi.” Tôi hứa, rồi lại quên, cho đến ngày trở về Việt Nam, lên phi trường Pochengton, mới sực nhớ, nhưng trễ quá, không làm được gì nữa. Sau 1975, thỉnh thoảng tôi tự hỏi không biết Yvette và chồng con có thoát được nạn Khmer Đỏ. Năm 1988, tôi ở Paris, tìm trong niên giám điện thoại tên Yvette Trương. May quá, gọi được. Tôi nói, xin lỗi đã không đến thăm ở Phnom Penh và mừng vì Yvette và gia đình trở lại Pháp trước 1975. Lúc ấy, tại Paris, Yvette làm trong một hãng bào chế thuốc.

Một hôm, bà Mộng Tuyền qua Phnom Penh thăm chồng. Thực sự, tôi chỉ nghe tên bà, chứ chưa hề diện kiến dung nhan và cũng chẳng biết bà hát tân nhạc hay cổ nhạc nữa. Quả thật, danh bất hư truyền. Bà rất đẹp, nước da trắng như trứng gà bóc, lại lịch thiệp, gọi tôi bằng “chú” (em). Nhân dịp, Trung tá Nguyễn Văn Nam rủ tôi cùng đi với ông bà, và vài sĩ quan khác, thăm trại Việt Kiều Phnom Penh, gần bến tàu, dưới quyền kiểm soát của chính phủ Miên. Năm 1970, sau khi Lon Nol, với sự trợ giúp của hoàng tử Sirik Matak lật đổ vua Sihanouk (Sirik Matak thuộc dòng chính, đáng lẽ lên ngôi vua, nhưng Pháp chọn Sihanouk, nên rất hận ông này), những người Việt Nam, dù sinh trưởng tại Cam Bốt đã lâu đời, đều bị bắt giết dã man trong thảm nạn “cáp duồng”. VNCH phản ứng chậm, và hàng ngàn người đã chết, như báo chí Việt Nam thời ấy tường thuật. Một số được hồi hương. Một số đang chờ tàu hải quân chở về Việt Nam, như trại tập trung Việt kiều mà chúng tôi đến thăm. Xem như đi công tác CTCT và sợ bị “cáp duồng” bất tử, chúng tôi được lệnh mặc quân phục và mang theo hai cây M16.

Trại nằm trong khuôn viên một ngôi chùa lớn, trên một sân rộng, có hàng dây kẽm gai vây quanh và rải rác cả trăm lều vải. Hầu hết là những gia đình, đầy trẻ em nheo nhóc, làm ruộng hoặc đánh cá, không nói hoặc nói ít tiếng Việt. Da ngăm đen, trông không khác người Miên, tay chân khẳng khiu vì thiếu dinh dưỡng. Cảnh sống quá thảm thương. Tôi bước theo ông bà Trung tá Nam và Thiếu tá Khôi Hải quân, thăm hỏi một số đồng bào. Một cô trẻ đẹp, khoảng mười tám, da trắng, môi thắm tự nhiên, ngồi một mình buồn bã ở một góc lều. Chúng tôi dừng lại. Thấy tôi, cô nghẹn ngào khóc:

– Anh cứu em với.
– ?
– Cả gia đình em ở Kompong Thom bị giết chết hết. Em chạy trốn được xuống đây. Em chưa có chồng, anh lấy em đi, em mới thoát được chỗ này.
Tôi biết cô nói thật, và có thể với nhiều người khác, vì quá tuyệt vọng. Trung tá Nam nhìn tôi, rồi nhìn cô, an ủi:
– Tàu Hải quân sắp lên đón đồng bào về Việt Nam. Cô đừng lo.
Còn tôi móc bóp, tặng cô một trăm riel, tương đương năm đô. Cô lắc đầu, không lấy, khóc nức nở thành tiếng. Tôi đặt số tiền dưới chân cô, chào và đi thẳng. Viết đến đây, tôi thầm hỏi, cô giờ này ở đâu, còn sống hay đã chết, hỡi cô gái tị nạn không biết tên, nạn nhân của chiến tranh ngu ngốc và độc ác của loài người –một Barbara trong thơ của Prévert?

II. Soriya :
“Sweet Helen, make me immortal with a kiss”
(Christopher Marlowe, XVIth c., Faust)
“You gods […] ought to be ashamed of yourselves! You are always jealous…”
(lời Calypso nói với thần Hermès, trong The Odyssey của Homère, quyển V)

Tòa đại sứ VNCH gần Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự, trên đường Norodom, nếu tôi nhớ không lầm. Tôi chỉ đến hai lần. Lần đầu vào đầu tháng tám, 1971, khi ông Đại sứ Trần Văn Phước mở một tối tiếp tân, tôi không nhớ nhân dịp lễ nào. Cả Phái Đoàn được mời tham dự. Đèn hoa treo rực rỡ, sáng trưng. Có một số đại diện đồng minh, như Mỹ, hay Lào, Nhật, Thái Lan, Miến Điện… Ăn theo kiểu self-service, rượu vang và champagne uống thả giàn. Một cô Cam Bốt, tay cầm ly rượu, tay cầm đĩa thức ăn, đến bàn tôi, xin ngồi cùng. Và tự giới thiệu, Soriya, thư ký đả tự của Tòa đại sứ Việt Nam. Cô nói tiếng Pháp lưu loát, giọng trong vắt. Trong câu chuyện, cô hỏi tôi có phải là Trung úy thông dịch viên, nghe danh Trung úy lâu rồi, hôm nay mới được làm quen, v.v… Cô dáng cao gầy, nước da bánh mật, có chiếc răng khểnh xinh xinh, nhưng lúc ấy rượu vào, lại được ngồi cạnh người đẹp, tôi thấy cô quyến rũ khác thường, còn hơn cả tiên nữ giáng trần. Lòng lâng lâng yêu đời, tôi bắt đầu trổ tài tán dóc, nghĩa là nói nhiều, nói dai, nói diễu hơn thường lệ. Cô kể, em quê ở Battambang, học tới Bac II, rồi đi làm, hôm nào mời anh đi về quê em chơi… C’est promis? – C’est promis. Tôi hứa đại.

Lần thứ hai tôi đến Tòa đại sứ, mười ngày sau. Tìm gặp Soriya, một buổi trưa, không hẹn trước. Cô đang đánh máy, thấy tôi, vội vàng chạy ra cửa, ôm hôn theo kiểu Đầm, mỗi má hai chiếc. Tôi mời cô tối ra phố ăn cơm. Trong tiệm, một lúc nào đó, tôi nói:

– Tên em đẹp quá. Soriya có nghĩa gì vậy?
– Mặt trời. Mặt trời sưởi ấm những trái tim lẻ loi. Anh có tin là em cô đơn?
Tôi siết nhẹ tay cô:
– Có. Bien sûr. Người ta không nói dối khi nói mình cô đơn. On ne ment pas quand on dit qu’on est seul. Hình như câu đó của James Jones trong Tant qu’il y aura des hommes.
Rồi bỗng cô ngập ngừng, hỏi:
– Sao anh lại chọn nghề này, em muốn nói, nghề lính, bắn giết nhau, hay ho gì?
Tôi nhìn sâu vào mắt cô, để tìm xem có ẩn ý nào không, rồi chậm rãi trả lời:
– Trong lúc đất nước chiến tranh, tôi không có sự chọn lựa. Đi lính càng không phải là một chọn lựa. Có lẽ tại số. Trước khi biệt phái sang đây, tôi là lính chiến, đã bắn và bị bắn trả. Huề. Có một điều bí mật tôi muốn chia sẻ với em mà em chưa được học từ bài học philo hay littérature nào. Đó là loài người chúng ta thường bị ganh tị bởi những vị thần linh bất tử…
Cô im lặng, chưa hiểu. Sau một hớp rượu, tôi tiếp:
– Tôi đọc ở đâu đó, trong L’Iliade hay L’Odyssée của Homère, tôi không nhớ chắc, rằng các vị thần linh trong thần thoại vì là bất tử nên thường hay ganh tị với loài người, ils nous envient, tu sais, bởi chúng ta ai cũng phải chết một ngày, sớm hay chậm hơn, mười năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Cho nên, mỗi một ngày trần thế của chúng ta, của em, của tôi trở thành đẹp vô ngần, quý giá hơn cả ngọc ngà, châu báu. Cũng trong L’Iliade, có đoạn viết rằng các vị thần đứng đầu là Zeus, tức Jupiter, chia làm hai phe trong cuộc chiến giữa thành Troie và Hy Lạp. Họ thèm được đánh nhau như loài ngưòi. Tôi suy diễn, thèm được chết như loài người. Vois-tu, Soriya, les dieux qui sont immortels et ceux qui se croient immortels n’ont pas le lugubre plaisir, ou plutôt l’agréable malheur, d’être condamnés à mourir, à attendre la mort à chaque instant… comme nous tous, comme moi, comme toi, d’ailleurs. Thần linh bất tử không có cái diễm phúc bi thảm, nỗi đau thương dịu dàng được chết, được chờ đợi cái chết đến, từng phút, từng giây, không có thảm kịch bị án phải chết bất cứ lúc nào, như kiếp người mong manh. Như những người lính xông pha ngoài chiến địa… Không bao giờ tôi thấy đời đẹp, và em đẹp hơn là lúc này, khi biết đâu ngày mai ta không còn thấy nhau nữa. Em hiểu tôi chứ?
Soriya suy nghĩ, trầm ngâm, hồi lâu, rồi nói:
– Em hiểu và biết thêm nhiều điều lạ. Merci, mon cher ami.
Trước khi chia tay, cô lại nhắc chuyện đi thăm Battambang. Promis? – Promis. Tôi lại hứa.

Mãn hạn ba tháng, tôi xin Đại tá Tô Văn Kiểm cho về Việt Nam, mặc dù ông – và cả Nguyễn An Hòa và Trung tá Nguyễn Văn Nam– cố thuyết phục tôi tiếp tục làm việc tại Phái Đoàn, thậm chí đề nghị cho nghỉ phép một tháng với gia đình, rồi trở lại cũng được. Mặc dù rất nhiều người thích qua Phnom Penh, thay chỗ của tôi. Tôi cũng không hiểu tại sao muốn về Việt Nam, trong khi không có vợ con, người yêu để mà vướng bận. Có lẽ vì chán khung cảnh thành phố hàng ngày đơn điệu, trống rỗng, và thấy nhớ núi rừng và mùi hương cau, hương bưởi của những ngày hành quân qua các thôn nghèo và cánh đồng cằn cỗi, những trẻ em và phụ nữ bị thương vì mìn Việt cộng. Không còn ước mơ được làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn nữa.

Tôi không từ giã Soriya. Lời hứa đi thăm quê nàng bay theo mây khói. Mười ba năm sau, 1984, tại trại tỵ nạn Bataan, Philippines, chợt nhớ Soriya quay quắt, và ân hận vô vàn, tôi đến khu người Cam Bốt, tìm nàng và hỏi thăm tin tức. Soriya. Không ai biết. Không chừng, năm 1975, Soriya đã bị giết bởi bọn Khmer Đỏ, một người bảo tôi, vì là nhân viên của Tòa đại sứ VNCH. Battambang “quê em” mỗi ngày một xa lắc lơ, biết bao giờ đến được? Tôi bỗng nhớ lời tôi đã nói với nàng trong tiệm ăn năm xưa: “Những vị thần bất tử thường hay ganh tị chúng ta…”

Soriya có lẽ đã bị giết như hai triệu người Cam Bốt đồng hương. Như, có lẽ, Thiếu tá Son Sanjivith. Như, chắc chắn, Sirik Matak, cựu thủ tướng của họ.

III. Sirik Matak:
“My soul, do not seek immortal life, but exhaust the realm of the possible”
(Pindar, 518-438BC, Pythian Odes, III, 109)

Một hôm, Đại tá Kiểm bảo tôi ăn mặc chỉnh tề, lên chiếc xe Limousine hay Mercedes, tôi không nhớ, của Phái Đoàn, đi với ông đến dinh Hoàng thân Sirik Matak, quyền Thủ tướng trong thời gian Lon Nol chữa bệnh ở Hawaii. Để họp, ông giải thích, cùng với những nhân vật quan trọng khác. Tôi biết Đại tá Kiểm không cần sự thông dịch của tôi, mà không hiểu sao vẫn dẫn tôi theo, có lẽ vì lòng thương mến dành cho tôi, tôi chủ quan nghĩ như vậy. Trong khi các vị họp hành, bàn luận, tôi tìm chỗ ngồi phía dưới cùng, lắng nghe, quan sát.

Sirik Matak có nét mặt xương xương, người gầy, dong dỏng, vẻ thông minh, nhã nhặn, nói tiếng Pháp sành sỏi. Qua bài diễn văn ngắn của ông (tôi không nhớ chính xác câu nào, mà chỉ những allusions, liên tưởng xa xôi, bóng gió bằng ngôn ngữ ngoại giao, với những động từ chia ở mode conditionnel hay subjonctif, như nous ne croirions pas que…, tout nous aurait indiqué que…, quoi qu’on puisse en dire, nous aurions de bonnes raisons pour…) tôi đánh hơi cảm nhận nơi ông một sự hoài nghi về những lời cam kết và lòng trung thành của người Mỹ đối với Cam Bốt và sự dị ứng cá nhân đối với người Việt Nam, dù Quốc gia hay cộng sản. Nhưng ông nói rõ, ông cần sự hỗ trợ của Mỹ và Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống Bắc Việt, đang được đỡ đầu bởi Trung cộng (lúc ấy có tòa đại sứ, hay lãnh sự, tại Phnom Penh). Đó là lần duy nhất tôi thấy ông. Từ đó, tôi không bao giờ nhớ đến Sirik Matak nữa.

Cho đến những năm gần đây, tên ông bỗng trở về trong ký ức. Quả vậy, cứ mỗi dịp tưởng niệm ngày 30/4, đồng hương lại đem đăng tải và dịch trên báo lá thư từ chối đi Mỹ của ông gửi đại sứ John Gunther Dean. Để tôn vinh ông như một anh hùng. Trong bức thư quá nổi tiếng ấy –mà nhà báo và bình luận gia chính trị Gabriel Schoenfeld xem như một trong những tài liệu quan trọng nhất của cả thời kỳ chiến tranh Việt Nam– có một nhóm chữ mà không ai dịch đúng, từ dịch giả Phạm Kim Vinh (trong Tháng 4 đen, Vietnam xuất bản, 1988) đến những bản dịch trên mạng, trong câu: “But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad [tôi nhấn mạnh] because we are all born and must die one day”. Tiếng Pháp: “Mais, notez-le bien, si je meurs ici, dans mon pays que j’aime, tant pis, car nous sommes tous nés et nous devons mourir un jour” (Olivier Todd, Cruel Avril, nxb Robert Laffont, 1987, tr. 274).

Phạm Kim Vinh dịch nhóm từ ngữ too bad và tant pis thành: “cũng chẳng sao” (sđd, tr. 225). Chết cho quê hương mình yêu dấu đâu phải là chuyện nhỏ, mà “cũng chẳng sao” ư? Còn trên mạng thì được dịch: “đó là điều tệ hại”, hoặc tương tự. Chết cho đất nước như thế, tại sao lại là “điều tệ hại”? Chứng tỏ người ta không hiểu rõ tâm tư của tác giả, Sirik Matak, và lý do khiến ông, mặc dù nói cứng như vậy, vào phút chót đã chạy vào lãnh sự quán Pháp để rồi bị đẩy ra nộp giao cho bọn Khmer Đỏ và sau đó bị giết.

Quả vậy, too bad và tant pis, theo nghĩa thông thường và cảnh huống (contexte) của bức thư phải được dịch là “mặc kệ tôi”: “… Nếu tôi phải chết ngay tại đây, trên đất nước của tôi mà tôi yêu mến, thì cũng mặc kệ tôi, bởi vì tất cả chúng ta được sinh ra và phải chết một ngày…” “Mặc kệ tôi” hàm chứa một sự bất cần, và nhất là, ở đây, một sự uẩn ức, đối với đối tượng của bức thư, tức là chính phủ Mỹ – đã quyết định bỏ rơi Cam Bốt. Nghĩa là, tôi có chết thì cũng mặc kệ tôi, các người đừng thương tiếc làm gì, đừng nhỏ giọt nước mắt cá sấu, v.v… Điều này rất “người” (humain), nghĩa là hợp với tâm trạng chán chường, bất lực và ngôn từ bực bội của một nhà lãnh đạo một nước yếu đang thấy mình bị phản bội bởi một đồng minh mạnh hơn. Giận người đã đành, mà còn giận chính mình đã cả tin vào người Mỹ: “I have only committed the mistake of believing in you, the Americans”. Câu đó làm tôi nhớ bài diễn văn năm xưa của ông đã được nghe trong buổi họp. Ông đã đúng khi nghi ngờ người Mỹ. Người Mỹ đã phản bội ông, quốc gia của ông thật sự. Rõ ràng, trắng trợn. Cũng như đã phản bội kháng chiến quân Cuba năm 1961 trong vụ Bay of Pigs, Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, quốc vương Shah của Iran năm 1979, và Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak, đồng minh lâu đời, tháng 2/2011… Ví dụ còn nhiều. Cũng vì vậy mà Sirik Matak mới từ chối đề nghị giúp đỡ ra đi bởi chính phủ Mỹ trong một lá thư riêng gửi cho dân  chúng Mỹ qua ông đại sứ Mỹ. Vấn đề chỉ là cá nhân giữa ông và Mỹ. Như thế, không có nghĩa, và không có đoạn nào ám chỉ, ông sẽ từ chối mọi sự giúp đỡ, nếu có, nếu cần, của những tòa đại sứ khác, chẳng hạn. Thế thôi. Có như vậy người ta mới hiểu tại sao ông đã xin tỵ nạn trong lãnh sự quán Pháp.

Phải công nhận bức thư của Sirik Matak, dù được viết trong bối cảnh nào, quả là tuyệt vời. Bức thư với giọng nhẹ nhàng, lịch sự mà vô cùng cay đắng, kiêu hãnh của một nhà lãnh đạo anh hùng, có khí phách, có trách nhiệm, không đào ngũ trước khi tai họa giáng xuống. Một bản cáo trạng hùng hồn về sự phản bội, qua những câu bình dị, nhưng làm nhức nhối tâm can.

Bức thư tuyệt vời, so với bài diễn văn của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Chúng ta, những người lớn tuổi, còn nhớ buổi tối 21/4/1975, trong giờ tổ quốc lâm nguy, ông đã lên TV, lúc thì đanh thép lúc thì nghẹn ngào, để tố cáo Mỹ như thế nào về việc cúp viện trợ cho Việt Nam, nghĩa là bỏ rơi Miền Nam, nào là “Hoa kỳ nuốt lời hứa. Bây giờ còn ai tin lời của người Mỹ?”, nào là “chúng ta không thương lượng với Mỹ để có vài triệu đô la giống như chúng ta đi trả giá ngoài chợ cá”, v.v… (xem các báo cũ Việt Nam và Mỹ như The New York Times, Los Angeles Times, v.v…). Đặc biệt, câu cuối cùng: “Tôi từ chức, nhưng tôi không đào ngũ. Tôi sẽ trở về với quân đội, chiến đấu sát cánh với các chiến hữu”. Năm ngày sau, ông rời khỏi Sài Gòn trong một chiếc Mercedes bịt kín, do một đoàn xe CIA hộ tống dưới quyền chỉ huy của Frank Snepp (cf George J. Church, “Saigon: The final 10 days”, Time Magazine, 4/24/1995), ra phi trường, có đại sứ Martin đứng chờ, để đi Taiwan trên chiếc máy bay C-130 sơn đen, với 15 tấn hành lý, và nếu ta tin lời Gabriel Kolko (The Guardian, Oct 2, 2001) “có hai va-li lớn đầy vàng”, hoặc David Lamb của tờ Los Angeles Times, “với số vàng trị giá 15 triệu dollars” (and USD 15 million in gold).

Một số phận, hai nhân vật. Bức thư của Thủ tướng Sirik Matak tuyệt vời, trên cả tuyệt vời. Cho nên đã được Henry Kissinger đọc cho Quốc Hội Mỹ, để họ nghe thấm thía thêm nỗi nhục nhã và hối hận, biết đâu! Cho nên được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ như một tài liệu quan trọng, trong khi ở đó không có bức ảnh nào của ngũ tướng tuẫn tiết VNCH (tại sao, mặc dù vì niềm tự hào truyền thống không ai trong chúng ta đòi hỏi phải có?). Cho nên đã được người Việt tỵ nạn hàng năm đem ra đăng lại để tô rạng ngời thêm tấm gương dũng liệt của một lãnh tụ ngoại quốc, một đồng nạn nhân của sự tráo trở, phản trắc.

Nhưng, tiếp theo bức thư tuyệt mệnh ấy, vào ngày 17/4/1975, ông hoàng, cựu Thủ tướng Sirik Matak đã chạy vào lãnh sự quán Pháp, cùng với hai cận vệ – điều mà ít ai biết, chú ý hay còn nhớ – và những viên chức cao cấp của chế độ: Ung Boun Hor, chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, Long Boret, thủ tướng đương nhiệm, công chúa Mam Manivane, gốc Lào, vợ thứ sáu của Sihanouk, con gái, con rể, và hai cháu ngoại của bà, và nhiều người khác, không dưới 100. Dù không được mời. Dù bị xua đuổi thẳng thừng, thô bạo, và giao nộp cho Khmer Đỏ ba hôm sau, để tất cả bị giết sạch, kể cả đàn bà con nít, bởi loài thú hung hãn mang hình người.

Tấn thảm kịch này được kể lại, kèm theo hình ảnh, bởi nhiều nhân chứng, tác giả Pháp, Mỹ, Miên, từ Olivier Todd, François Bizet (Le Portail, La Table Ronde, 2000), đến Henry Kamm (Cambodia: Report from a Strickenland, Arcade Publishing, 1998), v.v…, và những ký giả quốc tế. Kể lại bởi những phiên tòa quốc tế xét xử bọn Khmer Đỏ. Và nhất là bởi vụ kiện được thụ lý từ tháng 4/2008 tại tòa án Créteil, Paris, do bà góa phụ Billon Ung Boun Hor, tác giả quyển Rouge barbare (Ed. Respublica, 2009), khởi tố chính phủ Pháp đã ra lệnh nộp chồng bà cho Khmer Đỏ – vụ án mà tất cả báo chí Pháp tường thuật, đang làm thức tỉnh và hổ thẹn lương tâm người Pháp, cũng như bức thư của Sirik Matak, từ 36 năm trước, đã làm thức tỉnh và hổ thẹn lương tâm người Mỹ.

Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975. Hình trong báo Newsweek, số ngày 19/5/1975, được luật sư của bà Billon Ung Boun Hor trưng ra trước tòa, để phản bác lập luận của chính phủ Pháp cho rằng những chính khách Cam Bốt tự nguyện rời khỏi Lãnh sự quán. Trích lại từ báo Thế Giới Ngày Nay (Kansas, chủ nhiệm Lê Hồng Long) số 207, tháng 7&8, 2010, trang 36.
Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975. Hình trong báo Newsweek, số ngày 19/5/1975, được luật sư của bà Billon Ung Boun Hor trưng ra trước tòa, để phản bác lập luận của chính phủ Pháp cho rằng những chính khách Cam Bốt tự nguyện rời khỏi Lãnh sự quán. Trích lại từ báo Thế Giới Ngày Nay (Kansas, chủ nhiệm Lê Hồng Long) số 207, tháng 7&8, 2010, trang 36.
 

Chính phủ Pháp không xấu, nhưng trong vấn đề chính trị, thường phá bĩnh, chọc gậy bánh xe, ganh đua với người Mỹ, vì mặc cảm hay hội chứng de Gaulle – chịu ơn Mỹ, nhưng vẫn ghét Mỹ. Tại Việt Nam, người ta chưa quên hành động lăng xăng của ông Jean-Marie Mérillon và Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn giữa Dương Văn Minh và MT Giải phóng Miền Nam và Bắc Việt trong những ngày cận kề 30/4, tự nguyện làm trung gian cho một chính phủ trung lập, để rồi bị Bắc Việt sau khi chiến thắng đuổi chạy có cờ. Thật ngây thơ, như muôn đời họ vẫn. Và riêng ở Phnom Penh, tháng 4, 1975, con cháu của những anh hùng Charlemagne, Jeanne d’Arc, và Napoléon đã quá hèn nhát, một cách độc ác, tồi tệ.
Nhưng thôi, có ai học được chữ ngờ? Tôi xin ngưng ở đây. Việc này hãy để công lý, lịch sử và thời gian xét xử, và không là chủ đích bài viết của tôi.

Điều tôi muốn bàn tiếp là tôi lấy làm tiếc, rất tiếc cho Sirik Matak – một người tôi đã thấy, đã nghe, đã đọc. Giá ông vẫn ngồi đó, tại bàn làm việc, và nhận phát đạn của Khmer Đỏ hay của chính mình! Bề nào thì cũng chết cho quê hương mà ông yêu dấu, như ông đã viết trong thư. Giá ông đừng chạy vào lãnh sự quán của Jean Dyrac! Để làm gì, nếu không mong bảo toàn sinh mạng và được cấp một trong 300 tờ hộ chiếu mà luật sư Patrick Baudoin của bà Billon Ung Boun Hor nói Jean Dyrac đã mang về Pháp còn trắng trơn? Như vậy, xin nhắc lại, việc Sirik Matak từ chối lời mời của John Dean chỉ là vấn đề cá nhân giữa ông và nước Mỹ. Từ chối lời mời của một đồng minh đầy quyền lực nhưng hai mặt, và gõ cửa một người bạn mình tưởng tử tế, nhưng quá hèn mạt, xua đuổi mình trong lúc hoạn nạn, hành động nào đúng hơn? Và trước khi bị giết, ông cựu thủ tướng có nghĩ rằng ông đã phạm một lỗi lầm nữa, đó là tin vào người Pháp, cũng như trước kia ông đã tin vào người Mỹ (chỉ cần đổi chữ the Americans thành les Français trong câu: “je n’ai commis qu’une erreur, ce fut de vous croire et de croire les Français”)?

Tôi không có ý phê phán Sirik Matak, vì tôi không là cái gì cả để dám xét đoán một vĩ nhân. Một lần nữa, tôi chỉ tiếc cho ông. Bức thư tuyệt diệu kia đã đưa ông lên ngôi vị anh hùng, héros, trong lòng tôi và dưới mắt hàng triệu người. Việc ông chạy lánh nạn tại lãnh sự quán Pháp đã đem ông xuống hàng mà tôi tạm gọi là “bán anh hùng”, demi-héros. “Bán anh hùng”, tức một nửa anh hùng, nhưng vẫn hơn người phàm tục, như tôi, như biết bao kẻ khác, gấp bội. Vẫn hơn những “đồng nghiệp” của ông bên kia dòng sông Mê Kông như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và một số lỉnh (dấu hỏi) tướng Việt Nam… Vẫn hơn “đồng hương” Lon Nol lúc ấy còn tắm nắng trên bãi biển Hawaii, và Sihanouk đang mở yến tiệc linh đình tại Bắc kinh.

Tuy nhiên, cựu thủ tướng Sirik Matak có lẽ chưa biết gương tuẫn tiết của những anh hùng trong lịch sử Việt Nam cận đại: Võ Tánh, Ngô Tòng Châu, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu, đã không tìm đường thoát thân dù bị vây khốn, và quyết chết theo thành. Của Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ cố vấn Ngô Đình Nhu, dù nếu có phạm khuyết điểm gì đi nữa, đã tỏ ra là một nhà lãnh đạo cao cả, can trường, bằng cách khước từ lời Cabot Lodge mời đến một nơi an toàn (cf Thomas Boettcher, Vietnam, The Valor and the Sorrow, sđd) và cũng không chạy vào bất cứ tòa đại sứ nào, trên bước đường cùng, để rồi bị sát hại dã man mặc dầu đã đầu hàng (hai ông bị trói và xác bị đâm nát) bởi bọn phản tướng. Của năm vị tướng Tư lệnh của Quân Lực VNCH, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, đã tử tiết trong khi có đủ phương tiện ra đi. Của nhiều vị sĩ quan và quân dân cán chính vô danh khác đã âm thầm tự kết liễu đời mình. Hay, ít ra, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương, qua bài viết mới đây bởi sử gia Trần Gia Phụng (cf “Lịch sử phán xét”, Toronto, 29/1/2011, trên website):
“Trước khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 28-4-1975, đại sứ Pháp cho người mời tổng thống Hương di tản. Tổng thống Hương trả lời: ‘Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.’

Sau đó, ngày 29-4-1975, đích thân đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, cùng một viên tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp, đến gặp và mời Trần Văn Hương ra đi. Hai bên nói chuyện bằng tiếng Pháp. Ông Hương trả lời: ‘Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. (…..)

Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.’ Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, trong đó có câu ‘Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó’ (Les États Unis ont aussi leur part de responsabilité…), đại sứ Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay nhau.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 352-355).

Ảnh cụ Trần Văn Hương.

Những câu trên đầy khí tiết, quả cảm, kiêu hãnh, mặc dù chỉ qua lời người thứ ba kể lại, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương cũng tuyệt vời, đâu thua gì bức thư của Hoàng tử Sirik Matak, cựu thủ tướng Cam Bốt?

Bởi vì, nếu biết, có thể Sirik Matak đã phải suy nghĩ rất nhiều trước khi chạy vào lãnh sự quán Pháp. Hoặc có thể ông không chạy đi đâu cả. Để qua đó, mãi mãi, hàng năm, cứ mỗi 30/4, khi đọc lại bức thư khẳng khái của ông, tôi và đồng hương và những thế hệ con cháu được hãnh diện trọn vẹn về ông.
Để qua đó, chúng tôi hy vọng thấy ông trong những miếu thờ tại một nơi nào trên đất Cam Bốt, cũng như các bậc đại anh hùng của tổ quốc chúng tôi trong những miếu thờ ở Việt Nam.

Các bậc đại anh hùng mang hình hài của nhân thế, khác với những vị thần linh Hy Lạp cổ xưa, dù đã trở thành bất tử sẽ không bao giờ ganh tị chúng ta, vì đã đạt đến diễm phúc bi thảm đợi chờ cái chết đến mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút – đặc ân mà chỉ loài người khả tử chúng ta mới được nhận lãnh.
Điều đó, tôi cũng sẽ nói thêm cho Soriya nghe, tiếp nối câu chuyện về thần linh năm nào dở dang, nếu một mai được gặp lại nàng ở kiếp này. Hay kiếp khác.

Portland, cho Tháng Tư Đen
KIM THANH

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

Links:

Nguồn Email.