QUY LUẬT


QUY LUẬT ĐẤU TRANH

 

Đỗ Thông Minh

 

Luận bàn về:

–     Hiện Tượng – Bản Chất – Quy Luật

–     Tương Quan Ta – Địch

–     Tư Bản – Cộng Sản

–     Chính Đề – Phản Đề (Cần Ga – Cần Thắng)

–     Quy Luật Xã Hội

–     Sức Mạnh Đến Từ Đâu? (Tam Cúc – Tứ Sắc – Cờ Tướng)

–     Trí Lương Tri – Cách Vật Trí Tri

–     Phương Hướng Đấu Tranh: Dân Chủ – Bất Bạo Động

–     Cách Mạng Và Đoàn Kết.

12 QUY LUẬT CĂN BẢN KHÁC

Đề tài này là một vấn đề rất lớn, bao gồm vừa triết lý, vừa thực tiễn,

nhưng ở đây chúng tôi xin mạo muội chỉ nêu lên một vài nét khái lược thôi.

Hiện Tượng – Bản Chất – Quy Luật

Tại sao lại nói đến quy luật? Có quy luật đấu tranh thật sao? Những điều chúng ta thấy đang xảy ra chung quanh thường là “hiện tượng”, mặt nổi của “bản chất”, hiện tượng có thể biến hóa tuỳ hoàn cảnh, không gian, thời gian như con bạch tuộc (mực ma), nhưng bản chất hầu như không đổi. Vậy thì cái gì chi phối bản chất? Xin thưa đó chính là “quy luật”. Vì vậy, thay vì tìm hiểu và phản ứng với từng hiện tượng, chúng ta tìm ra những quy luật căn bản chi phối, tức “công thức hóa” đi, thì dễ nắm vững nguyên lý của sự vật, cũng như dễ điều hướng công cuộc đấu tranh hơn. Tóm lại, để hiểu rõ ngọn nguồn, chúng tôi xin được đề cập tới một số quy luật căn bản.

 

Hiện tượng                                                             Bản chất                    Quy luật

1- Trong khoa học tự nhiên:

Có 9, rồi 9, rồi 9, rồi 9…                         Tính Nhân                Cửu Chương (Như: 9×9=81)

Hình tròn, hình trụ, hình cầu…                Vòng tròn               Chu vi = Đường kính x Pi (兀)

(Hằng số Pi: 3, 1415926535…)

Vật bay, vật rơi                                 Sức hút của quả đất       Trọng lực: 1 (mặt trăng: 1/6)

(Vượt tỷ suất này thì bay,

không vượt thì rơi, chứ không

phải nặng hay nhẹ)

Vật nổi, vật chìm                            Sức đẩy của nước                 Sức đẩy Archimétre: 1/ cm2

(Dưới tỷ suất này thì nổi,

trên thì chìm, chứ không

phải nặng hay nhẹ)

2- Trong khoa học nhân văn (xã hội):

Anh, chị, tôi, mọi người               Con người                      Quyền mưu cầu hạnh phúc

(Nhân Quyền, Dân Quyền)

Tự do ứng cử và bầu cử                 Dân Chủ                         Quyết định theo đa số

(Vẫn tôn trọng thiểu số)

Tóm lại, khi đi vào quy luật thì giải quyết vấn đề nhanh gọn và đúng hướng.

 

Tương Quan Ta Và Địch:  Ta Là Ai? Địch Là Ai?

Cuộc đấu tranh xa xưa của từng cá nhân để có ăn, để sinh tồn hầu như đã được giải quyết. Với những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật, con người đã phần nào làm chủ được môi trường sống của mình, tạo dựng cuộc sống khá ổn định về vật chất.

Nhưng khi người ta tạm đầy đủ về vật chất thì tinh thần tự lập cũng gia tăng, có nhu cầu học hỏi để theo kịp đà tiến của xã hội và nhất là tự do tư duy và hành động để có cuộc sống tinh thần phong phú hơn và phạm vi hoạt động được khai phóng hơn.

Cuộc đấu tranh hiện đại, cho tới hôm nay và còn đang tiếp tục, mang ý nghĩa khác hơn, cao cả hơn, là muốn đưa dân tộc, đất nước đi lên, có tầm vóc sánh vai với thế giới. Cuộc đấu tranh này là cuộc đấu tranh giải phóng khỏi những câu thúc do người áp đặt lên người. Người áp đặt đó thường là một tập đoàn bất chính, tập đoàn ác… ngay bên trong lòng dân tộc hay đến từ bên ngoài dưới hình thức xâm lăng, thực dân, ủy nhiệm hay theo lối thực dân mới là chi phối bằng kinh tế.

Riêng trường hợp lịch sử Việt Nam, là lịch sử liên tục chống nội thù và ngoại xâm, đặc biệt lịch sử cận đại là lịch sử chống lại sự tàn ác của thực dân và sai lầm của công sản. Khởi đi từ những phong trào Văn Thân, Cần Vương cuối thế kỷ 19, rồi vận động toàn quốc của phong trào Đông Du, Duy Tân đầu thế kỷ 20…đến nay, cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền cho dân tộc vẫn tiếp tục như một khát vọng và càng lúc càng mãnh liệt.

Ta phải nêu cao ngọn cờ chính nghĩa, đứng về và tranh đấu cho phía thiện chống lại phía ác. Vậy thì làm sao phân biệt thiện – ác? Phải lấy lương tri là sự hiểu biết đúng đắn để phân biệt thiện ác. Nói như thế để thấy rằng dù muốn cũng không dễ phân định rõ ràng biên giới để nhận diện, vì có thể trong thiện có ác và trong ác có thiện, giống hệt như quan niệm của triết học Đông Phương “Dương trung hữu âm căn, âm trung hữu dương căn.” (陽中有陰根、陰中有陽根: Trong dương có mầm âm, trong âm có mầm dương. Nên khi vẽ lưỡng nghi thường có thêm vòng tròn nhỏ trong âm-dương), chưa kể thiện có thể biến thành ác hay ngược lại. Do đó, dù đứng về phía thiện cũng phải thường xuyên cảnh giác, không được chủ quan, lơ là rồi suy đồi mất đạo đức, mà ngược lại phải duy trì và củng cố tư thế, vì không hẳn cứ có điểm xuất phát tốt là mãi mãi tốt.

Ai cũng rõ câu nói của người xưa: “Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng.”. Vậy làm sao để biết địch và biết ta, ta và địch mạnh yếu ở những điểm nào, kẻ địch dù đang rất mạnh vẫn có những điểm yếu, phải biết khai thác và tấn công vào điểm yếu ấy. Điểm mạnh của phía thiện là “chính nghĩa”, do đó phải được xiển dương rộng để thu phục dư luận, nhưng cũng có điểm yếu là sự “sợ hãi” trước bạo lực. Điểm mạnh của phía ác là “bạo lực”, nhưng điểm yếu là “phi nghĩa”, dối trá nên che dấu và sợ sự thật. Ai cũng nói: “Chính nghĩa tất thắng”, chứ có ai nói “gian tà tất thắng” bao giờ!

Nhà cách mạng Nguyễn An Ninh (1900-1943, năm 1918 du học Pháp, trong 3 năm lấy 3 bằng Cử Nhân, trong nhóm Ngũ Long với cụ Phan Châu Trinh, năm 1922 về nước, đi diễn thuyết về “Chung đúc một nền học thức cho dân An Nam”, “Cao Vọng Thanh Niên” và sát cánh đấu tranh cùng giai cấp công nhân ở Nam Kỳ, bị kết án và bắt giam nhiều lần, mất khi đang bị lưu đầy tại Côn Lôn… được coi là thần tượng của thanh niên thời đó) lập tờ báo La Cloche Fêlée (Chuông Rè), viết bằng tiếng Pháp, số ra mắt ngày 10/12/1923, đã viết: “Kẻ chiến thắng chỉ có sức mạnh vật chất, kẻ chiến bại bị bó tay có thể dùng sức mạnh tinh thần mà chống lại… Con người sanh ra là có Tự Do, mặc dầu đặt trong hoàn cảnh nô lệ, vẫn còn quyền Tự Do…”. Và cụ cũng từng nói: “Tự Do không thể van xin mà có được, Tự Do phải giành lấy mới có.”.

Vì vậy, tương quan lực lượng không dựa trên guồng máy nhà cầm quyền, quân đội hay công an, cảnh sát mà dựa trên chính nghĩa, dựa trên lòng dân. Bằng chứng là các phong trào quần chúng ở Phi Luật Tân, Thái Lan, Triều Tiên, Tiệp Khắc, Ba Lan, Ukraine… với tay không đã nổi lên, biểu tình lật đổ nhà cầm quyền đã thành công.

Chính nghĩa hay lương tri là bản năng của con người, nên người ta thường vốn tự nhiên mà nhận thức và đứng lên đòi hỏi, nhưng cũng thường hành động tự phát theo cảm tính. Đâu đâu cũng thấy người Việt trăn trở hay ngồi bàn tán chuyện đất nước, nhưng khi đi vào hành động thì nhiều người lảng ra hay lúng túng về phương thức, không biết phải bắt tay làm việc sao cho hữu hiệu. Ai cũng biết cuộc đấu tranh này rất trường kỳ và rất gian khổ, nhưng rất ít người khi đấu tranh có học tập đầy đủ lý thuyết và hành động ra sao. Phải nỗ lực học tập các lý thuyết và hành động như:

1-   Học tập nắm vững lịch sử, các chủ thuyết đang chi phối xã hội, đường lối hoạt động… ra sao.

2-   Học tập cung cách ăn nói, thể thức viết bài, vận động quần chúng, vận động thế giới, tổ chức một buổi họp, tổ chức một cuộc biểu tình… ra sao.

3-   Học tập tổ chức đấu tranh, phân chia hoạt động lớp lang, chiến lược, chiến thuật, mặt nổi mặt chìm, phối hợp trong ngoài… ra sao.

Vậy phải biết “dùng nhu thắng cương”, không chỉ bằng những quy luật mà còn phải tự biết vận dụng sáng kiến, đối ứng tùy hoàn cảnh.

Về sự sợ hãi, dân tộc Việt vốn có tinh thần “bất khuất” chống ngoại xâm và chống nội thù:

– Trong Thông Điệp Xuân Đinh Hợi 2007, Hòa Thượng Thích Quảng Độ đã viết: “Bằng đức tính Vô Úy – không sợ hãi- mà thực hiện tự do tín ngưỡng, bình đẳng tôn giáo và công bình xã hội, nhất tâm chận đứng mọi âm mưu biến tướng phân hóa, hãm hại Giáo Hội, hoàn thành chí nguyện phục vụ dân tộc và nhân loại.”.

– Linh Mục Nguyễn Văn Lý đã viết hẳn một bài Làm Sao Đ Thng S Hãi?” ngày 24/8/2005, phân tích cụ thể để mọi người hiểu và giữ vững tinh thần ấy thì sẽ vượt thắng, không còn lo yếu nữa.

– Ngày 26/2, Lê Thị Công Nhân, 28 tuổi, Luật Sư kiêm Phát Ngôn Nhân của đảng Thăng Tiến trước khi bị cưỡng bách gọi lên công an đã khẳng định trên diễn đàn Paltalk là không thỏa hiệp và không đầu hàng: “Tôi sẵn sàng tới nhiệm sở mới bất đắc dĩ là nhà tù, và đó vẫn chưa phải là điều tồi tệ nhất mà tôi sẵn sàng đón nhận.”. Theo cô: “Đảng Cộng Sản đã hết sức thành công trong việc làm cho dân tộc Việt Nam sống chìm trong nỗi sợ hãi hàng chục năm trời. … và muốn dìm đất nước VN trong tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về mặt kinh tế, lạc hậu về mặt văn hóa, kéo dài cho tới trọn đời con cháu chúng ta.”.

– Ngày 3/3, Linh Mục Nguyễn Văn Lợi nói chuyện trên diễn đàn Paltalk: “Chúng tôi nhất định không lùi bước, họ càng đàn áp thì chúng tôi càng quyết tâm hơn. Chúng tôi chấp nhận con đường gian khổ, chấp nhận tù tội, chấp nhận đòn thù và đó là giá chúng tôi phải trả để sống với lương tâm mình. Cộng Sản càng tàn bạo chừng nào, ngày tàn của Cộng Sản càng sớm chừng đó.”

Đức Giáo Hoàng John Paul II, dù ngài nhân từ tha thứ cho Mehmet Ali Ağca, là kẻ ám sát gây thương tích trầm trọng cho mình ngày 13/5/1981, nhưng khi đối đầu với Cộng Sản vẫn luôn nhấn mạnh: “Hãy can đảm, đừng sợ hãi, hãy hy vọng.”.

Và nhất là trong tương quan lực lượng, phải làm sao để gia tăng sức mạnh của ta? Vì chỉ khi nào ta mạnh hơn địch thì ta mới thắng.

Đấu tranh bạo động (riot, 暴動) thường huy động sức mạnh vật chất, ỷ lại và vội vã dùng nhiều loại vũ khí khác nhau một cách thô bạo, thì đấu tranh bất bạo động (non-riot, 不暴動) huy động sức mạnh tinh thần, không có nghĩa thụ động, mà ngược lại rất kiên trì và tích cực vận dụng: ý chí sắt đá, hiểu biết tình hình, nắm vững luật pháp, nhẫn nại chịu đựng, thanh thản tù đày… tin tưởng thành công.

Công cuộc đấu tranh này trải rất rộng về thời gian và không gian, và đôi khi pha trộn lẫn lộn giữa chính-tà, thiện-ác, nên từ góc độ cá nhân, và ngay cả tổ chức, chính đảng, đôi khi cũng bối rối, thậm chí có khi nhầm lẫn trong việc nhận diện kẻ thù, vì thiếu nhận định rõ ràng về quy luật và đường hướng đấu tranh.

Ở thời điểm hiện tại, khi chúng ta muốn nhìn lại quá khứ và đưa ra dự phóng hướng về tương lai để biết chiều biến thiên của lịch sử, biết hướng đi của ngọn trào, biết thời cơ mà tận dụng, thì đó là chúng ta đang đi vào khoa học nhân văn, tìm hiểu “biện chứng lịch sử”. Nói cho giản dị thì đó là “lộ đồ” biến thiên của xã hội. Nếu không xác định được lộ đồ một cách tương đối rõ rệt, thì tất nhiên người ta dễ bị phí sức, lạc đường, chán nản và đôi khi bỏ cuộc. Tất nhiên, công cuộc đấu tranh nương theo dòng lịch sử là biết thiên thời thì vẫn dễ đạt mục đích hơn là hùng hổ cắm đầu lội ngược dòng lịch sử.

Song song đó là phải vạch ra đường hướng xây dựng thay thế tốt hơn, nếu không cuộc đấu tranh trở thành vô nghĩa. Thay vì đường hướng xây dựng là: “Lấy tư tưởng Mác – Lê – Mao làm nền tảng và bạo lực, dối trá làm vật liệu xây dựng căn nhà Việt Nam.”, thì như ý của cụ Nguyễn Lộ Trạch và Phan Bội Châu, phải là: “Lấy chính đạo (đạo đức) Đông Phương làm nền tảng và khoa học, kỹ thuật Tây Phương làm vật liệu xây dựng căn nhà Việt Nam.”.

 

Chủ Nghĩa Tư Bản Bóc Lột?

Chủ nghĩa Tư Bản (資本主義, do người Nhật dịch từ tiếng Anh là “Capitalism”) phát sinh vào thế kỷ thứ 18, 19, dựa trên sự tiến bộ chung, nhất là khoa học kỹ thuật thời đó và tư tưởng của Adam Smith… Adam Smith (1723-1790) là một nhà kinh tế học kiêm triết gia người Anh, chủ trương tự do thương mại, được coi là người góp phần đẩy mạnh chủ nghĩa Tư Bản. Ông đã viết tác phẩm “Inquiry Into The Nature And Causes Of The Wealth Of Nations” (Nghiên Cứu Về Bản Chất Và Nguyên Nhân Tạo Ra Của Cải Của Các Quốc Gia), thường được gọi tắt là “Wealth Of Nations” (Quốc Phú Luận), bàn về công nghiệp và thương mại Âu Châu…

Chủ nghĩa Tư Bản là “Dùng tư sản kinh doanh thực nghiệp (như xây dựng nhà máy), lợi/tận dụng sức lao động của người khác để kiếm lợi.”. Tự ngay tên của nó là lấy vốn tức tiền làm gốc, nên chủ yếu là coi trọng đồng tiền, chỉ biết mưu cầu lợi nhuận riêng tư và đôi khi đã đi quá đà, đến độ bóc lột dã man là điều khó tránh. Nhiều người trong giới Tư Bản tuy tham lam, mưu tính làm giàu, đôi khi bất chính, nhưng chủ nghĩa này không có trực tiếp khuấy động căm thù, đấu tranh trong lòng xã hội và vẫn bị luật pháp chi phối.

Do nhu cầu phát triển kinh tế, thương mại, các cơ quan kim dung, tài chính từ ngân hàng đã được đẩy đi thêm một bước nữa tới hệ thống thị trường góp vốn là chứng khoán (Stock Market) hay mượn vốn qua giấy nợ là trái phiếu (Bond Market), rồi lại tiến xa vào thi trường đầu cơ mua trước, không phải mua hiện vật “lúa non” như người Hoa ở Việt Nam, mà chỉ đầu cơ trên “giấy tờ” một món hàng trong tương lai như vàng, ngoại tệ, các nguyên liệu, vật liệu khác… (Futures Market) theo kiểu “cá cặp” tức gấp bội lợi tức khoảng 10-100 lần mức lên xuống của thời giá, tạm gọi là thị trường “tiên vật” (先物 = Sakimono) theo cách gọi của người Nhật hay “kỳ hóa” (期貨) là cách gọi của người Hoa. Nói chung, thị trường chứng khoán được coi như đầu não các cơ quan tài chính của các quốc gia theo chủ nghĩa Tư Bản và là nhịp đập quả tim của nền kinh tế này.

Nhưng Tư Bản là một chủ nghĩa thực tế, thực lợi về kinh doanh, không phải là một chủ thuyết đúng nghĩa với lý tưởng cao cả nào, nên không có một nền tảng triết lý và không vẽ ra một biện chứng lịch sử biện minh cho “chính nghĩa” của mình. Chủ nghĩa này cũng không có cao vọng điên cuồng bao trùm mọi mặt của xã hội, và hầu như không có chính sách cưỡng chế nào, nên con người trong xã hội theo chủ nghĩa này dù không mãn nguyện nhưng vẫn có thể hưởng nhiều tự do, vẫn có thể mưu cầu hạnh phúc cá nhân ở mức độ nào đó. Vì được tự do mưu cầu lợi nhuận trong khuôn khổ luật pháp nên mọi người đều cố gắng, sức cạnh tranh rất cao, thúc đẩy xã hội thăng tiến nhanh. Càng ngày con người trong xã hội này càng được luật pháp bảo vệ chặt chẽ hơn và người ta có nhiều cơ hội vươn lên hơn.

Nhưng chủ nghĩa Tư Bản cũng đặc biệt được sinh ra trong bầu không khí mà tư tưởng tự do, dân chủ, bình đẳng của Voltaire, J. J. Rousseau, Montesquieu… bắt đầu được đề cao, đó là thời đặt nặng vấn đề xã hội, phúc lợi chung… Chủ nghĩa này vì vậy cũng đã bị kiềm chế ít nhiều, không thể tự tung tự tác. Chính chủ nghĩa Dân Chủ đã chỉ ra những sai lầm hay bắt buộc giới Tư Bản phải tự hạn chế, tự điều chỉnh cho thích hợp hơn với nhu cầu của xã hội, của đại đa số người nghèo.

Tóm lại Tư Bản có Dân Chủ kềm nên tự điều chỉnh để tồn tại, không cần bạo lực và xương máu.

 

Chủ Nghĩa Cộng Sản Gian Dối Chỗ Nào?

Chủ nghĩa Cộng Sản (共産主義, do người Nhật đặt ra) đã ra đời vì không vừa lòng với sự thay đổi bị cho là nửa vời của chủ nghĩa Tư Bản, chủ trương kêu gọi đấu tranh giai cấp triệt để, dùng bạo lực tước đoạt các tư liệu (phương tiện) sản xuất của Tư Bản… Chủ nghĩa Cộng Sản cho rằng tư liệu sản xuất sẽ thuộc của chung, mọi người sẽ “làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu”, nên tuy nguyên tiếng Anh là “Communism”, đáng lẽ phải dịch là “Chủ nghĩa Cộng Đồng”, nhưng vì người ta đã chú trọng đến tư liệu sản xuất mà gọi là “Chủ nghĩa Cộng Sản”.

Lý luận căn bản của chủ nghĩa Cộng Sản nêu ra biện chứng lịch sử, cho rằng nhân loại xây dựng xã hội đi theo các giai đoạn:

1-   Cộng Sản Nguyên Thủy.

2-   Nô Lệ.

3-   Phong Kiến.

4-   Tư Bản.

5-   Cộng Sản (hiện đại, mà Xã Hội là giai đoạn quá độ tức chuyển tiếp).

Sự phân chia và biến chuyển của xã hội được cho là tùy thuộc vào hạ tầng cơ sở là kinh tế, hạ tầng này quyết định thượng tầng chính trị. Họ cho rằng Georg W. F. Hegal, người Đức (1770-1831), nói thượng tầng quyết định hạ tầng là đã vẽ ra một “kim tự tháp ngược”. (Về điểm này của Marx-Engles, trong năm 2006, nhà văn Trần Mạnh Hảo đã nêu lên câu hỏi mà nhà nước CSVN không trả lời được, là nay hạ tầng kinh tế đa thành phần, tại sao thượng tầng chính trị vẫn độc đảng mà không đa nguyên?). Cụ thể là các tư liệu sản xuất, từ săn bắn, lên máy xay lúa bằng gió, máy nổ… và lực lượng lao động chân tay là thành phần tiên phong góp sức cho công cuộc xây dựng và thay đổi thể chế này.

Chủ nghĩa Cộng Sản đề cao lao động chân tay mà bài bác lao động trí thức, nhưng bị mâu thuẫn ngay trong lý luận khi cho rằng “Chỉ có con người mới có lao động.”, mà lại “Do lao động mà khỉ biến thành người.”. Chỉ có người mới có lao động vậy làm sao khỉ lại lao động để biến thành người? Ai cũng thấy loài khỉ vốn có hàm lớn vì phải cắn xé nhiều trong động tác ăn, tứ chi lớn vì vất vả kiếm ăn…, nói chung là vận dụng chân tay nhiều, trong khi bộ óc nhỏ vì suy nghĩ hạn hẹp, thường là hành động theo thói quen chứ hầu như không có sáng kiến, còn ở con người thì ngược lại. Điều ấy cho thấy chủ nghĩa Cộng Sản đã nói ngược, suy luận phản khoa học, cố tình bóp méo để biện minh cho một tiền đề đã đưa ra chẳng khác nào cảnh đặt cái cầy trước con trâu. Những người chủ trương đề cao lao động chân tay một cách cực đoan và thiên lệch, thực ra chỉ nhằm kích động giới lao động này vùng lên mà thôi. Không ai phủ nhận vai trò của lao động tay chân hay cơ bắp, nhưng thực tế rõ ràng giới này càng ngày càng yếu thế trước lao động trí thức hay trí óc.

Phải kết luận là chính tư duy ngày càng vượt trội của con người mới là động cơ chính yếu thúc đẩy xã hội tiến bộ. Pascal, một triết gia Tây Phương đã nói: “Con người là cây sậy biết tư duy.”. Có thể Marx và Engels có lòng thương người lao động chân tay bị Tư Bản bóc lột, muốn giúp họ đấu tranh, nhưng do chủ trương cực đoan “Cứu cánh biện minh cho phương tiện” nên thiếu tìm hiểu, hay cố tình bất chấp sự thật, đưa ra những lý luận lừa mị, đem lại hậu quả tai hại khôn lường cho mãi đến tận ngày nay. Và để thực hiện lý tưởng của mình, những người theo chủ nghĩa Cộng Sản lại đi sâu vào sai lầm khi xây dựng thể chế độc tài toàn trị, bóp nghẹt mọi tự do căn bản của người dân, trong khi đó lại giành tự do hầu như tuyệt đối cho giới lãnh đạo.

Kết quả một số người trong giới lao động chân tay tin theo, khiến chủ nghĩa Cộng Sản đã giết hại hàng trăm triệu người khác trong thế kỷ 20, để rồi trong xã hội mới mà họ góp phần dựng nên thì họ vẫn là thành phần phải gánh chịu nhiều thiệt thòi, không bao giờ tới “thiên đường” như được hứa hẹn. Và khi họ đả phá các giai cấp khác, nhất là giai cấp trí thức, họ chỉ có thể xây dựng một xã hội nghèo nàn về tư duy, yếu kém về mọi mặt… Tóm lại, mục tiêu đầy lý tưởng mà người ta gọi là “tạo dựng thiên đường ở trần gian” của chủ nghĩa Cộng Sản là muốn đem lại phúc lợi cho con người, nhưng hiện thực thì trái lại, là sắt máu, giả dối và lầm than.

Trong khi đó, như trường hợp Việt Nam…, nhóm quyền thế đã vừa bóc lột, vừa chia chác tài sản quốc gia, tiến nhanh chóng một cách kỷ lục trong việc hình thành giai cấp “Tư Bản Đỏ” mà cựu Tổng Thư Ký đảng Cộng Sản Ý từng tố giác, không cần thông qua giai đoạn “Tiểu Tư Sản”. Điều này giống như kiểu đòi tiến tới chủ nghĩa xã hội mà không thông qua gia đoạn Tư Bản vậy, vừa hụt hẫng, vừa nghịch lý, khi những người Cộng Sản ra sức đả kích Tư Bản kịch liệt xong lại bắt chước làm! Những nghịch lý này không thể tồn tại mãi, nên nếu họ không sửa đổi, cứ bám víu vào cơ chế mà đục khoét thì tất yếu nó phải sụp đổ.

Tóm lại Cộng Sản với Độc Tài hỗ trợ càng lún sâu trong sai lầm và đi đến tự sụp đổ.

Chủ nghĩa Cộng Sản đã phát triển dựa trên người nghèo và thường ít học. Nay những người có chức quyền như ở Việt Nam đều giàu có và hiểu biết hơn, thì chính họ, nếu thức tỉnh cũng sẽ là thành phần đóng góp vào việc thay đổi cơ chế cũ. Chỉ cần họ can đảm hơn một chút, như những người ở Nga và Đông Âu, là họ có thể thoát khỏi cơn mê sảng lâu nay. Hãy sớm đưa xã hội Việt Nam trở lại con đường bình thường, phục hồi các truyền thống văn hoá cao đẹp của dân tộc, kết hợp với những tiến bộ của nhân loại, mạnh mẽ vươn lên, hội nhập với thế giới.

Quan Hệ “Chính Đề” Và “Phản Đề”

Tư Bản và Cộng Sản là hai đứa con song sinh của Tây Phương, có thể ví như chiếc xe hơi với một bên là “cần ga”, một bên là “cần thắng”… Từ ước mong tiến bộ, người ta đã cố công làm những động cơ ngày càng mạnh hơn, nhưng ngay khi đó, người ta cũng nhận ra phải có cái thắng, nếu không, xe đụng vào người khác hay lao xuống hố và người lái xe cũng có thể mất mạng!

Tư Bản, ví như cần ga, là “chính đề”, sau thời gian đầu đi quá đà đã xuất hiện Cộng Sản, ví như cần thắng, là “phản đề”. Nhưng phải nhớ là có “chính đề” mới có “phản đề” (trong vũ trụ tự nhiên cũng có “vật chất” (matter = 物質) và “phản vật chất” (antimatter = 反物質)), không thể lẫn lộn vai trò của hai thứ cần đó, nhất là khi đòi lấy cần thắng thay cho cần ga, lấy Cộng Sản thay cho Tư Bản là lấy cái bóng thay cho vật… Như ai ai cũng đã thấy, khi cần thắng thay cho cần ga thì chiếc xe không thể nào chạy được nữa, dù người ta có ý thức cách mạng cao độ đến đâu, có nỗ lực đến đâu, có chém giết đến đâu, tuyên truyền đến đâu thì thực tế không thể chối cãi, cũng vẫn là tụt hậu. Từ lý luận căn bản sai lầm, những người theo chủ nghĩa Cộng Sản lại tiếp tục xa rời thực tế và phản khoa học khi điên cuồng làm việc thay thế này bằng bạo lực, chém giết. Sau suốt thế kỷ 20 mê sảng như vậy, nhiều quốc gia theo chủ nghĩa này đã thức tỉnh và chế độ Cộng Sản đã thực sự tự sụp đổ chứ không phải do bị tấn công từ bên ngoài, một số rất ít quốc gia còn lại cuối cùng cũng đã phải “Đổi mới hay là chết.” như Cộng Sản Việt Nam năm 1986, mà “mới” ở đây thực ra là “cũ”, vì họ quay trở lại theo Tư Bản.

Theo ông Lech Walesa, Chủ Tịch Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan: “Cộng Sản là con đường dài nhất để đi từ Tư Bản đến Tư Bản.”. Mà đây là thứ Tư Bản tụt hậu hàng 30, 50 năm, hay cả 100 năm, và giai cấp cầm quyền vươn lên bằng đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, bóc lột hơn cả Tư Bản ơ ở  thế kỷ 18, 19. Thường người ta kinh doanh rồi giầu có, còn giai cấp thống trị của chế độ Cộng Sản thành “Tư Bản Đỏ” với tốc độ kỷ lục, họ giầu có rồi mới kinh doanh để che giấu và đánh lạc hướng về tài sản kếch xù vơ vét được. Do đó mọi hy sinh cho chủ nghĩa Cộng Sản rõ ràng đều trở thành vô ích!

Một người khác cũng đã nói đại ý:

“Biến cố lớn nhất trong thế kỷ 20 của nhân loại là sự ra đời và tan rã của chủ nghĩa Cộng Sản.”.

Quy Luật Nào Chi Phối Sự Chuyển Biến Xã Hội?

Người ta được sinh ra trong thế gian này, dù muốn dù không, đương nhiên chịu sự chi phối của hai tác động chính là những quy luật tự nhiên và nhân văn. Khoa học tự nhiên có những đối tượng cụ thể và chính xác, khoa học nhân văn thường có tính trừu tượng và mơ hồ.

Trong khoa học tự nhiên, 1+1=2, nhưng trong khoa học nhân văn thì 1 hạnh phúc cộng 1 hạnh phúc không nhất thiết là 2 hạnh phúc, vì khái niệm hạnh phúc trừu tượng nên không thể nói là thành gấp 2 về số lượng được… Hay 1 cái bánh chia cho 10 người thì mỗi người được 1/10 cái bánh, nhưng 1 ý kiến chia sẻ cho 10 người thì mỗi người vẫn được 1 ý kiến, mà người đưa ra ý kiến vẫn không bị mất gì cả.

Lương Tri ÷ Nhiều Người Lương Tri × Nhiều Người

Nên nếu như có lương tri (良知, tri thức tốt, đắc dụng), thì có một điều nghịch lý là càng CHIA sẻ lại thành càng NHÂN lên, càng lớn mạnh hơn, sức mạnh của tư tưởng chính là ở chỗ đó, khác vật chất ở chỗ đó. Nói cách khác, nguồn năng lượng (energy) thường mai một theo với thời gian trôi qua và với không gian rộng mở, nhưng nếu là “năng lượng hữu ích” thì sẽ ngược lại, tăng theo cấp số nhân, hầu như vô hạn, đó chính là sức mạnh. Vì vậy, để thúc đẩy mọi trào lưu đều phải có những tư tưởng đúng và biết cách tận dụng việc vận động rộng rãi.

Có người đã hỏi làm sao để phân biệt “lương tri”“bất lương tri”?

Lý lẽ có nhiều bậc:

– Luận Lý (logic, 論理): Suy xét, là cái lẽ người ta đưa ra để biện minh… Nên có nhiều lý lẽ khác nhau, như trong xã hội phải dùng luật pháp hay khoa học để phân xử.

– Công Lý (justice, right, 公理): Đạo lý công bằng, hay nói cách khác là cái lẽ của một số đông nào đó, nên có thể ở đây là công lý, nhưng nơi khác là phi công lý.

– Chân Lý (truth, 真理): Cái lẽ chân thực, có tự nhiên, không phải do người ta tự đặt ra được. Người ta thường nói: “Thượng Đế là chân lý.” hay như Thánh Gandhi nói ngược lại “Chân lý là Thượng Đế.”. Do đó Chân Lý là một thực tại khách quan, có giá trị vượt không gian và thời gian.

Lương Tri và rồi tận cùng là Trí Lương Tri (致良知, tức nhân đức hay nhân đức lớn), coi như tiến gần tới Chân Lý, tức là “Ý Trời”. Vậy làm sao để biết được Ý Trời? Xin thưa: “Ý Dân là Ý Trời.”. Nói cho cùng, tất cả đều là những khái niệm thuộc khoa học nhân văn, không thể có mực thước cụ thể, tùy tri thức, trí thức hay bản lĩnh của từng người mà tự nhận định. Nhưng với những nhân vật như cụ Phan Bội Châu (1867-1940), Phan Châu Trinh (1872-1926) hay Mahamat Gandhi (Cam Địa, người Ấn, 1869-1948)… là những người trí thức siêu việt, dấn thân trọn vẹn bằng tấm lòng chân thật, thì hẳn là người có lương tri và tin cậy được.

Tuy nhiên hai bộ môn khoa học này có những điểm giống nhau, nếu nắm vững những điểm này có thể biết rõ những quy luật chi phối xã hội, bởi mọi con người luôn bị chi phối bởi hai phạm trù tự nhiên và nhân văn.

1- Tính bất dịch và biến dịch: Tức tính cố định và thay đổi liên tục dưới hình thức tiệm tiến hay đột biến.

Tính bất dịch như “có sinh tất có tử, có thành tất có hoại”, mỗi ngày mặt trời mọc, trọng lực quả đất, vạn vật hấp dẫn, nguyên tử quay quanh nhân, những nguyên lý trong vật lý, hoá học… nhưng xét cho cùng lý, hàng chục tỷ năm trước, trước khi có Thái Dương Hệ, trước khi có vụ “Nổ Lớn” (Big Bang) thì có gì đâu, và với thời gian những nguyên lý này cũng từ từ thay đổi nên cũng chỉ bất dịch một cách tương đối thôi. Còn trạng thái của vật chất thì càng dễ thay đổi hơn, từ cái được coi như “hạt cơ bản” là từng vi lạp tử trong hàng trăm vi lạp tử trong nhân nguyên tử, biến đổi liên tục giữa trạng thái vật chất và năng lượng chứ không ở trạng thái cố định. Không có hai vật thể cố định, thì nói khác đi là không bao giờ có hai cái tuyệt đối giống nhau.

Còn tư duy của con người thường khác nhau, đa số đồng ý với quan niệm: của Nho Giáo là “Nhân chi sơ tính bản thiện.”, nhưng phái Pháp Gia cho rằng “Nhân chi sơ tính bản ác.”, còn phái Vương Dương Minh cho rằng “Thể của tâm không thiện – không ác”, và thường thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh. Lòng “nhân ái” (仁愛)… tưởng là bản năng bất biến nhưng rồi cũng có kẻ “phi nhân” (非人), và quan niệm cụ thể về nhân ái hay cách thể hiện vẫn thay đổi. Tóm lại, các quy luật tự nhiên có thể không thay đổi, nhưng dù thuộc bản chất thì ngay trong cái gọi là quy luật xã hội, vẫn có thể thay đổi. Nên dù là Tư Bản hay Cộng Sản đều có thay đổi, nếu không kịp thay đổi để thích ứng như tiến hóa luận của Charles Robert Darwin (1809-1882, Nhà Tự Nhiên Học người Anh) đã nêu ra, còn gọi là “Darwin Xã Hội”, thì sẽ bị đào thải, tiêu diệt.

2- Nhân-quả: Điều này thì ai cũng rõ, cũng như “có lửa – có khói”, “có vay – có trả” vậy. Sự biến hóa nhân-quả diễn ra liên tục không ngừng, nên quả này lại là nhân của quả sau, và thêm một điều nữa là tương quan nhân-quả: “nhân nào quả nấy”. Do đó, không thể vội vàng, chỉ mong quả mà không cố công tạo nhân, hoặc vội vàng tạo nhân không tốt mà mong quả tốt được.

Nhân-quả có thể xẩy ra nhãn tiền, có thể xẩy ra từ từ. Và đây còn là một bài học lớn mang ý nghĩa đạo đức, răn đời nữa, là gieo nhân lành thì được quả lành, gieo nhân ác thì lãnh quả ác.

3- Cùng tắc biến: Không có trạng thái bất biến, mà mọi sự vật tới cùng sẽ thay đổi, còn thay đổi thế nào là chuyện khác. Chuyện gì khi tới cùng cũng sẽ biến đổi, hướng hạ thì bị tiêu diệt hay hướng thượng thì thăng hoa lên. Như khi ấp trứng gà có trống, tới ngày 21, vì lý do gì đó mà gà con không chui ra được nên bị chết, hay bình thường thì đục vỏ chui ra và sống. Ở đây, cũng có “tiệm tiến” là sự thay đổi từ từ mỗi ngày một chút trong suốt 21 ngày, còn “đột biến” là khi gà con đục vỏ chui ra. Đột biến không phải đột nhiên mà có, đó chỉ là kết quả, tức bước cuối cùng của tiệm tiến.

Phân biệt rõ hai trạng thái này để không nóng lòng mà rơi vào tình trạng “dục tốc bất đạt” hay bỏ lỡ thời cơ thành “trì hoãn bất thành”, rồi hoang mang khi thấy các hiện tượng xảy ra lúc thế này, lúc thế kia. Trong khoa học tự nhiên, có những điều thuộc bất dịch tương đối, như không thể gia tăng ôn độ để con gà nở sớm từ ngày ấp thứ 10, 15, cũng không thể để ôn độ thấp hơn nhu cầu để kéo dài việc ấp thành 25, 30 ngày… Cả hai trường hợp, gà con đều chết, chết non hay chết già. Thậm chí, gà con đang đục vỏ chui ra, nếu ai đó nóng lòng, tiếp tay bóc vỏ giúp cho nó ra sớm vài giờ thôi, gà con cũng sẽ chết. Tương tự, nếu nóng lòng, chưa chuẩn bị đầy đủ, có thể công cuộc “cách mạng bị đẻ non”, công trình bao ngày vun bồi sẽ tan tành. Tóm lại là không nên nóng vội, cũng không nên chậm trễ, làm sao để biết đúng lúc thì đó là cái khó của vận động đấu tranh chính trị, cách mạng xã hội, đòi hỏi những người lãnh đạo phải có bản lãnh…

4- Cực tắc phản: Trong khoa học tự nhiên và khoa học nhân văn, có một quy luật bất biến, đó là mọi diễn biến đều đi theo hình sin (~, hình sóng) đều hoặc không đều về biên độ và trường độ, nên khi lên cao hay xuống thấp đến cực thì sẽ đổi chiều. Như quỹ đạo của mọi vật thể hay biểu đồ chỉ số chứng khoán thường xuyên lên xuống vậy. Biết điều này để thấy rằng mọi sự rồi sẽ thay đổi, kể cả đổi chiều, như từ bất lợi sang thuận lợi hay ngược lại, chứ không phải cứ thế mãi.

Sức Mạnh Đến Từ Đâu?

Tại sao có người thì tầm thường, có người thì tài ba? Ai muốn hành động cũng cần sức mạnh, sức mạnh có được hay không là do có biết khai thác tiềm năng nội ngoại để nhân rộng ra hay không? Xin được diễn tả bằng công thức sau:

Sức Mạnh = Tri Thức (Không Gian + Thời Gian)

Sức mạnh đến từ ý chí, lương tri, tri thức nhân với không gian và thời gian, đó là một công thức đơn giản mà chắc ai cũng biết. Dù có tài năng, nhưng trong một không gian và thời gian hạn hẹp thì không thể phát huy trọn vẹn thành sức mạnh tối đa được. Vì vậy, không gian và thời gian chính là môi trường phát huy sức mạnh. Ở đây chúng tôi mới chỉ nói về nguyên tắc, còn về phương pháp làm sao để đạt được mục tiêu là chuyện sau, như cần phải có tự do đi lại, tự do truyền bá, tự do hành động… thì mới phát huy sức mạnh được.

Như những phát hiện về hằng số Pi, trọng lực, sức đẩy của nước, lượng giác, nguyên tử, điện tử, lượng tử… hay các sáng kiến về chất nổ TNT, thẻ tín dụng, máy hình, TV, Liên Mạng (Internet)… hay các khái niệm về Tự Do, Dân Chủ, Dân Quyền, Nhân Quyền… khi nhân rộng với không gian và thời gian đã thành sức mạnh vạn năng, góp phần thúc đẩy xã hội tiến bộ vượt bực.

Lương tri là bản năng của con người, ai cũng có, nhưng mức độ khác nhau tùy theo nhận thức hay tri thức, nhưng cũng đôi khi do tham vọng hay hoàn cảnh mà bị mờ tối đi. Muốn có tri thức thì không gì khác hơn là có tâm hồn khai phóng, học hỏi từ trường sở, sách vở và nhất là ngoài đời để có tầm nhìn toàn diện, xác thực…

Người ta nói “đi tranh đấu, đi làm cách mạng”, chứ không ai nói “đứng hay ngồi tranh đấu, đứng hay ngồi làm cách mạng” kiểu “chính trị sa-lông” cả. Yếu tố “đi” rất quan trọng, có đi thì sức mạnh sẽ gia tăng gấp bội. Đi theo nghĩa thông thường là chính mình phải lên đường, nhưng trong ý nghĩa đi để chia sẻ, trao đổi, truyền đạt tư duy rộng rãi thì ngày nay, trong thời đại truyền thông phát triển, nhất là có Liên Mạng (Internet), việc lợi dụng những phương tiện này cũng là “một cách đi truyền bá, vận động” rất tiện lợi. Sự truyền đạt bằng nhiều phương cách các tư tưởng thức thời, đáp ứng đúng nguyện vọng của đại đa số người trong xã hội có thể tạo nên những làn sóng vận động lớn.

Nhân đây xin được bàn về nguyên lý của các bộ bài Tam Cúc, Tứ Sắc và Cờ Tướng.

Phụ nữ người Bắc hay chơi Tam Cúc, người Nam hay chơi Tứ Sắc, mỗi lần chơi cần 3 hay 4 người. Nguyên lý của hai bộ bài này giống nhau ở chỗ dựa vào “thế” (勢), tức quân lớn ăn quân nhỏ, theo thứ tự từ trên xuống dưới là “Tướng (将), Sĩ (士), Tượng (象), Xa/Xe (車), Pháo (砲), Mã (馬), Tốt (卒)”, trừ trường hợp quân nhỏ có đôi, ba, bốn thì mới ăn quân lẻ lớn hơn.

Cờ Tướng thì phái nam và đôi khi phái nữ ở cả Nam và Bắc thường chơi, mỗi lần chơi chỉ cần 2 người, tuy cũng có đúng bằng đó tên như vậy, nhưng nguyên lý thì khác, dựa vào “lực” (力), biểu hiện bằng sự di động (動), con cờ nào càng di chuyển được nhiều thì càng mạnh. Con “Xa” di chuyển được nhiều nhất nên mạnh nhất, nếu con “Xa” mà để cho con “Tốt” ăn là tại không biết tận dụng sức mạnh sẵn có. Con “Tướng” thường là mạnh vì có “thế” cao nhất, nhưng lại chỉ quanh quẩn trong cung với 2 con “Sĩ” và hầu như chỉ chờ bị chiếu nên kể như yếu nhất, cần đến biết bao nhiêu con cờ khác bảo vệ, tức chỉ có thế mà không có lực.

Do đó, bài Tam Cúc và Tứ Sắc có thể nói là gần với thể chế phong kiến, trật tự trên dưới của xã hội xưa, ai sinh ra mang thân phận nào thì phải chấp nhận chứ không thể cải số mệnh được. Còn Cờ Tướng gần với xã hội tự do biến hóa phức tạp hôm nay, nhất là bất kể thân phận, ai cũng có thể vươn lên, miễn là có lương tri và tri thức mà di động nhiều, hoạt động nhiều thì có nhiều yếu tố thuận lợi để trở thành mạnh. Mạnh không có nghĩa là bạo lực, mà có thể nổi bật trên nhiều lãnh vực như về trí tuệ, chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, tài chính…

Tóm lại, mỗi người đấu tranh hãy đừng mơ ước làm một quân “Tướng” trong bài Tam Cúc, Tứ Sắc hay một con “Tướng” trong bàn Cờ Tướng, mà hãy là một con “Xa” trong bàn cờ ấy. Nếu có là con “Tốt” thì cũng hãy mạnh dạn là con “Tốt sang sông”, có thể ăn cả con “Tướng” của địch, đem lại chiến thắng cuối cùng.

Chuyện phái nữ thích chơi Tam Cúc, Tứ Sắc và phái nam thích chơi Cờ Tướng cũng thể hiện rõ cá tính khác nhau giữa hai phái. Phái nữ thường thích chơi Tam Cúc, Tứ Sắc vì tính thích sự đơn giản, chọn cái dễ dàng, chấp nhận nề nếp.., còn phái nam thường thích chơi Cờ Tướng vì tính thích sự phức tạp, chọn cái khó khăn, chấp nhận xông pha…

Tam Cúc hay Tứ Sắc do quy luật hạn hẹp, thường không thể hiện được đầy đủ việc vận dụng tri thức biến thành sức mạnh, dù người chơi có giỏi đến mấy thì cũng chỉ có một số nước tính giới hạn. Nhưng với Cớ Tướng, tri thức của người chơi cộng với việc đi con cờ có thể thể hiện tối đa việc vận dụng tri thức biến thành sức mạnh khôn lường và hầu như không bao giờ có hai cuộc cờ giống hệt nhau. Phải chăng vì vậy người ta hay ví thế sự cuộc đời với cuộc cờ hơn là ván bài thì hẳn cũng có lý do khá xác đáng của nó.

Trí Lương Tri Và Cách Vật Trí Tri

Tại sao lại nói tới lương tri? Vì lương tri là kim chỉ nam định hướng, không thể lên đường đấu tranh mà không biết đi về đâu. Do trí lương tri (致良知), tức tận cùng của lương tri là cái tối thiện, giúp người ta có bản năng hướng thượng và đi đúng đường, đi tìm sự khai phóng tâm hồn cũng như tự do trong cuộc sống, đó chính là động cơ thúc đẩy xã hội ngày nay. Mọi thế lực ác, phản xã hội đều sợ cái “trí lương tri” này. Đó là ý trời, là ý dân, là tâm. Và Tâm sáng được là nhờ “cách vật trí tri” (格物致知), bởi có biết đúng mới hành xử đúng được.

Còn cách vật trí tri gọi tắt là “cách trí”, là “Tìm cứu cái nguyên lý của sự vật mà suy ra cái tri thức cùng cực.”. Nói giản dị là “Tìm tòi cái nguyên lý của sự vật để hiểu biết tường tận sự việc.” hay “Nghiên cứu kỹ lưỡng sự vật để biết phải làm như thế nào là tốt nhất.”.

Vào thế kỷ 15, ông Vương Dương Minh, cha đẻ của chủ trương “Tri hành hợp nhất” (知行合一) đã nói:

Không thiện, không ác là cái thể của tâm.

Có thiện, có ác là cái động của ý.

Biết thiện, biết ác là lương tri.

Làm thiện, bỏ ác là cách vật.

 

Theo Lênin thì “Sự nhiệt thành đi đôi với ngu dốt thành phá hoại.”, vậy thì “Sự nhiệt thành đi đôi với hiểu biết tường tận thành sức mạnh xây dựng vạn năng.”.

Chúng tôi đã có bài viết về Cách Vật Trí Tri và bài Con Đường Dân Chủ khá dài phổ biến trong năm 2006, 2007 nói lên những sự việc này.

Phương Hướng Đấu Tranh

            Với chí lương tri dẫn đường, sẽ giúp chúng ta định hướng tốt nhất trong việc đi theo trào lưu chung của nhân loại hiện nay là Tự Do – Dân Chủ. Tự Do – Dân Chủ tuy ra đời đã khá lâu, nhưng là một khái niệm vửa đơn giản vừa phức tạp, đã được giải thích và áp dụng theo nhiều cách khác nhau nên đôi khi cũng làm dư luận lúng túng không biết phải hiểu thế nào cho đúng.

Theo ý niệm của từ, thì Tự Do là từ được người Nhật dịch chữ “Freedom”, chữ Hán (自由) viết tượng hình là bình rượu tự đổ ra lênh láng, được coi như muốn làm gì thì làm, là mở bung ra và Dân Chủ là từ dịch chữ “Democracy”, chữ Hán (民主) viết rõ là “Người dân làm chủ (đất nước)” (để đối lại với Quân Chủ (君主) là vua làm chủ trước đó), và thể hiện bằng cách tập hợp ý kiến chung, biến thành luật lệ để tránh những lạm dụng Tự Do mà đi đến lấn át nhau nên có ít nhiều câu thúc, đóng bớt lại. Nên về mặt định chế là Tổng Thống Chế, Đại Nghị Chế…, nhưng có thể tóm gọn: “Dân Chủ là tập hợp những tư tưởng và nguyên tắc về Tự Do.” Như bầu cử, quyết định theo đa số nhưng vẫn tôn trọng thiểu số… Một trong những yếu tính quan trọng nhất của Dân Chủ chính là Bất Bạo Động, mọi người được tự do phát biểu hay biểu tình, tự do vận động, dùng lá phiếu… nhưng cấm bạo động, đó là hiện thực trong các xã hội Dân Chủ Âu, Mỹ, Nhật… ngày nay.

Để đạt được mục tiêu Tự Do – Dân Chủ, phải chọn phương hướng đấu tranh nào? Phải biết tuỳ thời mà bạo động hay bất bạo động. Nhưng căn bản là phải tôn trọng sinh mạng con người, không thể nhân danh hạnh phúc của con người để đi giết người bừa bãi! Hồi đầu thế kỷ 20, khi chống Pháp, cụ Phan Bội Châu đã chủ trương bạo động, trong khi cụ Phan Châu Trinh chủ trương bất bạo động.

Trong vụ Trung Kỳ Dân Biến 4/1908, dân chúng nổi lên xin giảm xâu, sưu, thuế từ Quảng Nam lan ra khắp miền Trung và vài nơi ở miền Bắc, với hàng trăm ngàn người tham gia trong tinh thần bất bạo động. Ban đầu, vì bất bạo động nên Nam Triều và nhà cầm quyền Pháp chỉ biết đánh dập bằng roi vọt, nhưng nói chung là lúng túng không biết phải đối phó ra sao. Nhưng khi khí thế lên cao, có một số người quá khích bắt đầu có hành vi bạo động, đã tìm bắt giết và làm bị thương một vài quan lại gian ác Việt Nam, nên khi đoàn biểu tình khoảng 8.000 người kéo tới bao vây phủ Điện Bàn ép quan Tri Phủ cùng lên Tòa Sứ của Pháp, thì Pháp đã nhất định ra tay đàn áp, bắn giết, dân chúng phải bỏ chạy. Ở Quảng Ngãi cũng bị đàn áp bằng võ lực như vậy, khiến hàng chục người thiệt mạng, cuộc biểu tình bị dẹp tan. Từ đó Pháp tung ra cuộc “khủng bố trắng”, bắt hàng ngàn người cầm đầu và hầu hết các lãnh tụ Phong Trào Duy Tân, một số người bị tử hình hay bị đưa đi lưu đầy ở Côn Lôn… Vụ dân biến kéo dài được khoảng 3 tháng thì chấm dứt.

Sau năm 1975, trong không khí phẫn uất cao độ, một số tổ chức ở trong và ngoài nước cũng đã chủ trương bạo động qua hình thức vũ trang kháng chiến, nhưng hình thức đấu tranh này đều đã thất bại. Nên trào lưu đấu tranh này coi như đã chấm dứt vào đầu thập niên 90 và từ đó tới nay hầu như các hoạt động đấu tranh đều đã đi vào con đường bất bạo động.

Nói chung bạo động là bộc phát mạnh mẽ nhưng nhất thời, nên nếu có phải bạo động thì đó chỉ là chẳng đặng đừng mà thôi. Bất bạo động mới là tâm ý thực sự của con người, có thể phát huy sức mạnh tiềm tàng này thành vô song, không gây đổ vỡ, tang tóc, hợp với đại đa số, với lòng người hơn. Cách mạng là việc làm vô cùng gian nan, cũng vô cùng thiêng liêng cao cả vì liên hệ trực tiếp đến toàn thể dân tộc hay nhân loại, do đó, dù có cơ hội tiến hành cũng phải thật thận trọng. Kinh nghiệm cho thấy có nhiều cuộc cách mạng đã nổ ra trong máu lửa cuồng nhiệt vô ích, thiếu tính xây dựng. Quan niệm cực đoan “Vấn mục đích, bất vấn thủ đoạn.” có thể giúp thành công nhất thời nhưng nếu dùng nhiều thủ đoạn bất chính thì sẽ có di họa lớn về sau, do đó, căn bản là phải tận dụng dùng phương tiện tốt để đạt cứu cánh tốt. (Xin xem thêm bài “Bạo Động Hay Bất Bạo Động?” của cùng tác giả.

Cũng cần lưu ý Tự Do – Dân Chủ là một khái niệm nhân văn, nên không phải là một mục tiêu cố định, không phải khi đã đạt tới mức nào đó rồi thì thôi. Ngay cả các quốc gia được coi là có Tự Do – Dân Chủ cao độ vẫn phải tiếp tục cải thiện thường xuyên để thích ứng với nhu cầu khai phóng ngày một tăng cao của xã hội.

 

Cách Mạng Bản Thân Và Vấn Đề Đoàn Kết

1- Muốn có một xã hội mới tốt đẹp hơn thì con người phải có tư duy hướng thượng mới, phù hợp và tiến bộ làm kim chỉ nam. Tư duy mới không đơn giản chỉ nói là có ngay, quán tính văn hóa của con người rất mạnh mẽ, đã kềm hãm nhiều các ước muốn thay đổi. Do đó, phải mạnh dạn tự phá cái vỏ tư duy hạn hẹp hay cái cửa bế môn chính mình, mang tâm thức mới bước vào cuộc đấu tranh.

Khai phóng về tư duy, kiên trì tìm đến với những kiến thức mới, từ bỏ mặc cảm tự ty tôi không làm được gì, hay ngược lại tự cao tự đại chuyện gì cũng biết cũng phải có tôi mới làm được. Kiến thức là nguyên liệu xây dựng căn nhà lương tri, nhưng nếu thiếu tinh thần khai phóng thì có khi căn nhà ấy trở thành bức tường vây hãm chính mình.

Tự thoát ra khỏi không gian hạn hẹp quen thuộc là căn nhà hay địa phương, vươn rộng tới những nơi có đồng người Việt, mà bây giờ trải khắp cả quốc nội và quốc ngoại.

Mở rộng quỹ thời gian cá nhân cho những hoạt động, chứ không chỉ đấu tranh “cách mạng cuối tuần” và kiên trì hoạt động, vì sự liên tục, trường kỳ cũng chính là cách nhân rộng sức mạnh.

2- Muốn làm cách mạng tất yếu phải có tư tưởng cách mạng và lực lượng cách mạng. Không có cá nhân đơn phương làm cách mạng, nên các tư duy cần được chia sẻ, nhất là cần xuyên qua thử thách chứ không phải lý thuyết suông, rồi đúc kết thành một tư tưởng cách mạng.

Tự trang bị tư tưởng cách mạng bằng nào? Bằng cách tự rèn luyện tri thức, bằng cách vật trí tri, nâng tầm nhận thức hướng tới mức “trí lương tri”. Rồi từ tri phải tiến tới hành, tri hành phải hợp nhất, không thể nói mà không làm hay dối trá nói một đằng làm một nẻo. Hành bằng cách dấn thân, lên đường, đi khắp nơi và đi đường dài… để mở rộng công cuộc vận động cách mạng, để có lực lượng đông đảo người hưởng ứng và tham gia, đưa công cuộc đấu tranh chung sớm đi đến thành công. Điều quan trọng là đấu tranh cách mạng thì không thể chỉ biết đả phá mà phải biết thay thế cái cũ bằng cái mới tốt hơn.

Cuối cùng, có mọi thứ rồi mà rời rạc thì vẫn thất bại. Sức mạnh cá nhân chưa phải là sức mạnh của tập thể và không ai có thể làm cách mạng một mình. Có nhiều lý do để người ta kết đoàn với nhau, nhưng có thể nhiều lý do hơn để người ta chia rẽ nhau. Do đó, luôn luôn phải thận trọng trong hành xử, không bao giờ được quên rằng đoàn kết là sức mạnh. Sự chia rẽ xẩy ra khá thường xuyên trong hàng ngũ đấu tranh là bài học cần được nhắc nhở luôn luôn. Vì vậy, người đấu tranh còn cần phải mở rộng tâm tư, dung hòa hay ghi nhận những ý kiến dị biệt. Đất nước là của chung dân tộc, việc xây dựng là trách nhiệm của chung mọi người, không ai hay tổ chức, đảng phái nào có thể nhân danh bất cứ điều gì để độc quyền yêu nước được cả.

Trong lúc hăng say đấu tranh, nhiều người quá chú trọng đến kẻ thù và nóng vội đạt mục tiêu, dồn sức lo “địch vận” mà lơ là chuyện “dân vận”, tức ít để ý đến chuyện xây dựng lực lượng. Thế thì làm sao để gia tăng lực lượng, khi thời cơ tới thì lấy gì nắm bắt, nói chi đến chuyện tạo ra thời cơ và khai thác thời cơ? Ngược lại, đúng ra là phải chú trọng xây dựng nội lực trước khi nghĩ đến chuyện tấn công. Những người đấu tranh xưa và nay đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội như vụ Trung Kỳ Dân Biến 1908, Nga – Đông Âu Xụp Đổ đầu thập niên 90, Công Nhân Đình Công 2005-2006… vì chúng ta không nắm bắt được tình hình, chưa đi gần với quần chúng công nhân, nông dân, thiếu chuẩn bị lực lượng để hành động, chỉ biết bàn và lên tiếng? Đây là điểm yếu kém then chốt mà mọi tổ chức cần khắc phục.

Muốn đấu tranh, nhất là hướng dẫn cuộc đấu tranh cần phải nắm vững các yếu tố trên và nhiều nhiều nữa, nên đây là một việc làm gian nan, vạn nan. Nhiều người bỏ cả đời đi đấu tranh, hy sinh gian khổ biết bao, nếm đủ cảnh tù đày… mà vẫn không thành công. Do đó, người muốn cáng đáng việc này, trước tiên phải có nhân cách như người ta thường nói “có học phải có hạnh”, tức phải biết biến tri thức thành trí thức và lương tri, hơn thế nữa, phải có “đạo đức cách mạng”, tức vượt thắng chính mình, dấn thân hy sinh, làm gương sáng cho những người chung quanh… có thế thì mới thu hút được những người khác đi theo, đứng ra kết hợp được những người đồng tâm, đồng chí và quần chúng.

Về vấn đề đoàn kết sinh tử này, chúng tôi đã có bài “Tự Vấn 4: Kết Đoàn Mà Không Đoàn Kết?” viết trong năm 2006, 2007.

 

– – – – –

 

12 QUY LUẬT CĂN BẢN KHÁC

 

1-   Áp Bức – Đấu Tranh

Ở đâu có đàn áp, ở đó có đấu tranh (Lenin).

Sức ép càng lớn thì sức bật càng mạnh.

Một thanh gỗ bị uốn cong hay một lò so bị đè nén,

khi chưa bị ép thật lực thì chưa thấy gì xẩy ra,

nhưng nếu cứ ép mãi, ép mãi… tới lúc nó sẽ sinh ra sức bật ngược lại rất mạnh,

sự vùng dậy đấu tranh của dân chúng cũng vậy.

 

2-   Đấu Tranh – Xây Dựng

Đấu tranh mới chỉ là bước thứ nhất của tiến trình hai bước.

Đấu tranh chỉ có ý nghĩa khi bảo đảm xây dựng được xã hội mới tốt đẹp hơn.

Trong đấu tranh phải hạn chế tối đa những tổn thất.

Phải biết tự chế và rút kinh nghiệm từ nhiều cuộc đấu tranh bắt đầu vô cùng tàn bạo,

để rồi sau đó không biết phải xây dựng ra sao chỉ là đem đại họa đến cho dân tộc.

Xây dựng như cụ Nguyễn Lộ Trạch và Phan Bội Châu đã đề ra:

“Lấy chính đạo (đạo đức) Đông Phương làm nền tảng và khoa học kỹ thuật Tây Phương làm vật liệu xây dựng căn nhà Việt Nam.”.

 

3-   Bảo Thủ – Cấp Tiến

Người ta luôn đứng trước các mâu thuẫn nội tại giữa bảo thủ – cấp tiến,

truyền thống – canh tân, già – trẻ…, tức giữa cũ và mới.

Bảo thủ để duy trì cái đã và đang có, truyền thống dân tộc,

cấp tiến là tiến nhanh để đổi mới, canh tân theo kịp đà tiến hóa chung.

Phải sáng suốt trong việc điều hợp, dung hòa hai quan niệm trái ngược này,

để giữ được sự thống nhất và thăng bằng trong phát triển

như quan niệm trung dung, triết trung của Đông Phương.

4-   Chính Quân – Phù Quân

Lực lượng đấu tranh gồm 85 triệu người ngay trên địa bàn quốc nội là chính quân,

 giữ vai trò trực diện và chủ động

và 3 triệu người ở hải ngoại là phù quân,

giữ vai trò hỗ trợ về dư luận thế giới

và nhiều hậu thuẫn khác về nhân, tài, vật lực…

5-   Nội Lực – Ngoại Lực

Nội lực là lực của chính mình, phải biết rằng tiềm năng mỗi người và dân tộc rất lớn, nếu biết tận dụng thì không lo gì thiếu lực.

Ngoại lực là lực từ thế giới, nên vận dụng mà không nên ỷ lại,

kinh nghiệm cho thấy ỷ lại sẽ mất chủ quyền.

Nên hướng đến một nền ngoại giao đa phương để giữ thế độc lập

và thu hút yểm trợ từ nhiều phía,

bởi vì trong quan hệ quốc tế xưa nay không có đồng minh và kẻ thù vĩnh viễn.

 

6-   Yếu Điểm – Biểu Diện

Yếu điểm (điểm trọng yếu) là bản chất, là chính yếu, là cốt tủy,

còn biểu diện là hiện tượng, là thứ yếu, là bề ngoài.

Khi đấu tranh, để tiết kiệm nhân, tài, vật, lực… cần nhắm vào điểm hơn là diện.

Phải biết tạo ra và vận dụng thời cơ,

tránh điểm mạnh mà nhắm cơ hội tấn công vào điểm yếu của địch.

 

7- Trường Kỳ – Đoản Kỳ

Trong đấu tranh cần vạch rõ những mục tiêu trường kỳ và đoản kỳ.

Phải đạt được mục tiêu đoản kỳ để từng bước mở đường cho mục tiêu trường kỳ.

Đó là xây dựng thể chế Tự Do – Dân Chủ, đem lại phúc lợi cho dân tộc,

nâng cao đất nước ngang tầm thời đại.

Trường kỳ, kiên trì chính là sức mạnh, ai còn lại cuối cùng sẽ là người chiến thắng,

nếu có những hành động ngoạn mục mà chỉ đoản kỳ, nhất thời thôi

thì thành tích nếu có cũng dễ bị mai một đi.

 

8- Vô Hạn – Hữu Hạn

Phải biết đâu là vô hạn và hữu hạn trong sức mạnh của ta và của địch.

Vũ khí là vấn đề giới hạn nhất, cũng khó thủ đắc nhất.

Tài chính cũng giới hạn, việc thu góp lớn rất khó khăn.

Nhân lực ít giới hạn hơn nhưng phải kiên trì tranh thủ mới có.

Hiểu biết và sức người có hạn, nên có cao vọng, nhưng đừng ảo vọng, để rồi thất vọng.

Chính nghĩa là vũ khí tinh thần vô hạn, nếu biết vận dụng khai thác.

9- Tuyệt Đối Tương Đối

Giá trị dân tộc thì trường kỳ và tuyệt đối, mọi đấu tranh phải coi đó là mục tiêu tối hậu,

còn thể chế chỉ nhất thời và tương đối, mọi thể chế chỉ là phương tiện, giải pháp.

Danh Tướng Trần Hưng Đạo đã nói:

“Dân như nước,

Quân (vua) như thuyền.”

Nước đưa thuyền đi, nhưng nước cũng có thể làm lật thuyền.

10- Quyết Tâm – Khoan Dung

Đấu tranh đòi hỏi quyết tâm, quyết liệt, nhanh chóng nắm bắt thời cơ,

nếu không chuẩn bị, không có thực lực sẽ không dám nắm bắt, để lỡ thời cơ.

Nếu biết chuẩn bị năng lực đầy đủ và có quyết tâm, không thụ động chờ thời cơ,

khi chưa có thời cơ thì phải biết tạo ra thời cơ và vận dụng thời cơ ấy.

Quyết tâm hay cương quyết nhưng không cực đoan, không qúa khích.

Trong quá trình đấu tranh dù gặp nhiều gian nan, áp chế, hy sinh, mất mát…

vẫn không trả thù, không vung tay quá trán sát hại bừa bãi,

mà cần có lòng khoan dung, lấy trí nhân thay cường bạo, lấy đức trị cảm hóa địch.

11- Kết Đoàn – Đoàn Kết

Nhu cầu sinh tồn, phát triển và chia sẻ,

tự nhiên người ta kết đoàn với nhau tập hợp thành xã hội.

Khi có mục tiêu chung, cùng lý tưởng, để gia tăng sức mạnh và đạt mục tiêu chung, người ta tiến thêm một bước nữa là thành lập

hội đoàn, tổ chức, chính đảng, mặt trận…

hay trên một bình diện nhẹ nhàng nhưng rộng lớn hơn là phong trào.

Trong đấu tranh, thiếu đoàn kết nếu có là do chưa nắm vững đường lối chung

và nhất là sinh hoạt thiếu Dân Chủ.

12- Thiên Thời – Địa Lợi – Nhân Hòa

Cuối cùng, phải biết nắm bắt dòng lịch sử truyền thống đấu tranh hào hùng dân tộc,

kết hợp với trào lưu chung của nhân loại.

Phải biết nắm bắt lợi thế và thất thế của từng địa phương.

Phải biết nắm bắt lòng người, các tầng lớp xã hội đang trăn trở gì, mong muốn gì.

Kết hợp 3 yếu tố ấy là nắm bắt chìa khóa của thành công trong đấu tranh vận dụng.

– – – – –

“Tư tưởng muôn đời vẫn là tư tưởng,

tư tưởng chỉ biến thành sức mạnh khi đi đôi với hành động.”

ĐTM 2007

 

– – – – –

Anh Phạm Hoàng Tùng đã có góp ý như sau:

            Tình hình VN ngày nay cần có một đường hướng mới để thay đổi xã hội lạc hậu. Đường hướng mới này vừa mang mục tiêu tôn trọng tự do con người, sự hưng thịnh cho quốc gia đồng thời phải mang năng lực thực hiện chứ mục tiêu không chỉ là lý thuyết.

            Để thực hiện đường hướng mới này, phải có lý thuyết hợp lý – hữu dụng làm mục tiêu, vừa phải có con người, con người phải được tổ chức bởi nhận thức vì mục đích chung cao cả thật sự.

            Xã hội VN quốc nội hay ở hải ngoại đang thiếu vắng trầm trọng những nhân sự lèo lái đường hướng mới này vì những người đang ở vị trí “lèo lái” hiện nay thường thiếu nhân cách. Một là họ sa đọa vào chỗ tiền bạc bất chính, hai là rơi vào tình trạng tham quyền cho cá nhân hay đảng phái, ba là sử dụng bạo lực bất nhân làm phương tiện hành động cho tổ chức hay chính quyền.

Nhân sự lèo lái công cuộc vận động phục hưng quốc gia hiện nay phải tránh được ba sai lầm trầm trọng trên và phải có uy tín quy tụ được nhân tài khắp nơi hoạt động vì mục tiêu VN cường thịnh – tự do – nhân bản. Đây là khát vọng mãnh liệt nhất cho dân tộc VN ngày nay. Đây là cơ hội duy nhất hiện nay để cứu nguy dân tộc chúng ta.

 

– – – – –

 

Chủ nghĩa Cộng sản phi Nhân Quyền

(Hăy Vận Động cho Dự luật Nhân Quyền Việt Nam – HR 3096)

Vũ Hải Đăng- Đảng DCND

 

Ngày nay khi nói đến những nước Cộng sản là mọi người nghĩ ngay đến “Chế độ độc tài Đảng trị, nạn sùng bái cá nhân độc đoán chuyên quyền, nền chính trị đóng kín và bảo thủ, kinh tế kém phát triển, khoa học nghệ thuật bị bóp nghẹt, đất nước không có Tự do – Dân chủ. Đặc biệt là hiện tượng vi phạm Nhân quyền ở các nước này diễn ra phổ biến, nhưng lại được chính quyền giải thích là để bảo vệ tính nghiêm minh của luật pháp và phù hợp với chuẩn mực của mỗi quốc gia.” Thứ chuẩn mực và thứ luật pháp gì mà lạ vậy, như thế gọi là Chủ nghĩa Cộng sản hay sao?

Mác chưa bao giờ khẳng định về sự xuất hiện và tồn tại tất yếu của xă hội Cộng sản Chủ nghĩa, ông cũng chưa từng đưa ra chi tiết về con đường đi lên Chủ nghĩa Cộng sản. Qua những nghiên cứu của mình, Mác giải thích về những quy luật phát triển xă hội, ông chứng minh rằng tiến lên Chủ nghĩa Cộng sản là phù hợp quy luật. Trong tuyên ngôn của đảng Cộng sản, ông chỉ ra vai trò của đảng Cộng sản là đội tiền phong của giai cấp Công nhân, lãnh đạo họ thực hiện cuộc cách mạng vô sản, hướng tới mục tiêu cuối cùng và cao nhất là xây dựng Chủ nghĩa Cộng sản.

Đó là một xă hội ở trình độ phát triển cao, mọi cá nhân đều được tự do phát triển các khả năng của ḿnh, được nâng lên tầm vóc mới, xă hội không còn phân chia giai cấp, cách biệt giàu nghèo, vì vậy không còn bạo lực và bất công. Con người có thể tự quản xă hội và nhà nước sẽ tiêu vong, khi đó vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản cũng chấm dứt, không ai quản lý ai mà mọi người đều làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu, coi lao động là vinh quang…

Đây là lý tưởng Cộng sản, là ước mơ vươn tới một xă hội tốt đẹp trong tương lai. Một lần nữa phải nhấn mạnh rằng đây chỉ là lý tưởng của Mác và các nhà sáng lập chủ nghĩa Cộng sản khoa học, còn thực tiễn phải do kinh nghiệm và khoa học của loài người tìm ra. Không ai có thể khẳng định về sự xuất hiện và tồn tại tất yếu của xă hội Cộng sản chủ nghĩa, kể cả Mác…

Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2007



Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s