Người Phương Tây Kinh Hoàng – Trần Hưng

Bài đọc suy gẫm: Người Phương Tây Kinh Hoàng hay sự thờ ơ vô cảm của người Trung Quốc khiến thế giới sững sờ.  Bài của tác giả Trần Hưng. Hình ảnh minh họa (bé Duyệt Duyệt lúc còn sống).

*

Những năm gần đây, khi truyền thông quốc tế liên tiếp đưa những bản tin phản ánh thực trạng xã hội Trung Quốc, không ít người đã sững sờ và kinh ngạc trước sự thờ ơ vô cảm đáng sợ đang diễn ra từng ngày trên đất nước này.

Khuyến khích người có ý định tự tử mau chóng tìm đến cái chết

Ngày 20/6 vừa qua, mạng xã hội Trung Quốc lan truyền đoạn video quay lại cảnh một cô gái ngồi ở cửa sổ tầng 8 của một tòa nhà và có ý định nhảy xuống dưới tự tử. Đám đông xung quanh chứng kiến cảnh này không ít người hô hào: “Sao còn chưa nhảy xuống?”, “Nếu muốn nhảy thì làm nhanh lên!”

Trong khi lính cứu hỏa xuất hiện để tìm cách cứu cô gái, thì chính những người khuyến khích cô gái mau chóng chảy xuống lại tìm cách ngăn chặn lính cứu hỏa. Sau 4 tiếng ngồi ngoài cửa sổ, cô gái được một người lính cứu hỏa tiến đến gần và đề nghị cô nắm lấy tay anh để anh kéo ra, nhưng cô gái nói: “Cảm ơn, nhưng tôi phải đi”rồi nhảy xuống.

Khi cô gái chạm đất, đám đông chứng kiến cảnh này cười lớn và vỗ tay mặc dù cô gái trẻ đã chết tại chỗ. Trước khi chết, cô đã buộc tội giáo viên của mình lạm dụng tình dục và mong muốn đòi lại công bằng. Thế nhưng, phía nhà trường chỉ đơn giản yêu cầu giáo viên xin lỗi cô và tiếp tục được phép giảng dạy. Phía cảnh sát cũng không kết tội vì cho rằng sự việc không thực sự nghiêm trọng và cũng không đủ bằng chứng.

Sự thờ ơ của một xã hội vô cảm khiến cô gái tìm đến cái chết. Đáng sợ hơn nữa là trong 4 tiếng ngồi bên cửa sổ, cô gái cảm nhận được rằng không có một ai luyến tiếc hay thông cảm với mình, những người chứng kiến sự việc thậm chí còn khuyến khích cô nhanh chóng nhảy xuống.

Tiếp đó, ngày 23/6 tại thành phố Sán Đầu, tỉnh Quảng Đông, một người đàn ông 33 tuổi chuẩn bị nhảy lầu. Anh này đứng ngay mé ngoài trên tầng 11 của một tòa nhà, nhiều người nhìn thấy cảnh tượng đã tụm lại xem và hò hét, có người tận mắt chứng kiến đã chụp ảnh lại. Tại hiện trường có một bộ phận người thậm chí còn ngồi ghế để chờ “xem kịch hay”.

Sau đó không lâu, đến ngày 26/6, một cô gái ở thành phố Nam Thông, tỉnh Giang Tô đã leo lên ban công một tòa nhà với ý định nhảy xuống. Rất nhiều người chứng kiến xung quanh hò reo “Nhảy đi, nhảy đi!” Nhiều người thậm chí còn dùng đèn có độ sáng mạnh chiếu vào cô gái để khiêu khích cô nhảy xuống. May mắn thay, khi nhân viên cứu hộ xuất hiện và khuyên can, cô gái đã bỏ ý định tự tử.

Tối ngày 26/6, một cô gái ở Giang Tô đã leo ra ban công của một tòa nhà và định nhảy lầu tự tử, ở bên dưới có nhiều người vây quanh và hò hét “nhảy đi, nhảy đi” (Ảnh từ Weibo)

Đó chỉ là 3 trường hợp xảy ra trong trong vòng chưa đầy một tuần lễ hồi tháng 6/2018. Những sự việc tương tự như vậy hiện đang diễn ra khắp tại Trung Quốc, giống như từng nét vẽ tô điểm thêm vào bức tranh của một xã hội hoàn toàn vô cảm và thờ ơ.

18 người thờ ơ bỏ mặc đứa trẻ bị xe cán

Sự thờ ơ của người dân sống trong xã hội Trung Quốc trên thực tế không chỉ diễn ra trong một vài năm gần đây. Ngày 13/10/2011 tại thành phố Phật Sơn, tỉnh Quảng Đông đã xảy ra một vụ tai nạn gây chấn động Trung Quốc và lan ra khắp thế giới. Bé Duyệt Duyệt 2 tuổi, vì mải chơi gần cửa hàng của cha mẹ mình đã vô tình chạy xuống phố và bị một chiếc xe ô tô cán qua người.

Video cho thấy sự thờ ơ và vô cảm của xã hội đối với bé Duyệt Duyệt

Đoạn video của phía an ninh cho thấy, lái xe dừng lại một lúc như cảm thấy mình vừa cán qua đứa trẻ, nhưng chiếc xe lại đi tiếp và chèn lên đứa trẻ thêm một lần nữa bằng bánh xe sau. Điều đáng nói là 18 người đi qua đường nhìn thấy đứa trẻ bị xe cán nhưng đều bỏ mặc không ai đoái hoài tới. Đứa trẻ thậm chí còn bị một chiếc xe tải thứ hai cán qua người, rất lâu sau đó mới có một người phụ nữ nhặt rác tốt bụng nhìn thấy và cứu bé.  Tuy nhiên, chỉ sau 8 ngày nằm viện, bé Duyệt Duyệt cũng không qua khỏi nguy kịch.

Đoạn video này nhanh chóng truyền khắp các trang mạng xã hội Trung Quốc rồi lan ra toàn thế giới, trong đó có cả Việt Nam. Nhiều người đều sững sờ không tin ở mắt mình, họ không thể tượng tượng nổi tại sao người Trung Quốc lại có thể thờ ơ vô cảm đến mức độ đáng sợ như vậy!

Khi sự việc mới xảy ra, cư dân mạng Trung Quốc cũng bình luận không ngớt về vụ việc và lên án những con người vô cảm. Nhưng không ai ngờ được rằng, chỉ một tuần sau đó, một vụ tai nạn tương tự đã diễn ra, và lần này người lái xe cố tình đâm tiếp cho đứa trẻ chết hẳn.

Cố tình cán tiếp qua người cho chết hẳn

Sự việc xảy ra vào ngày 20/10/2011 ở Lô Châu, Tứ Xuyên. Bé trai 5 tuổi Xiong Maoke đang đi bộ trên đường đến trường thì bị một chiếc xe tải đâm phải. Những dân làng chứng kiến vụ tai nạn cho hay, chiếc xe tải sau khi đâm vào Xiong và cán lên cậu bé, đã lùi ra sau rồi lại lao lên, cán qua lại trên người bé Xiong, kéo lê thi thể bé thêm khoảng 10m. Một số người qua đường kể lại, tài xế xe tải nhảy ra khỏi cabin sau khi đâm vào cậu bé không hề hỏi han xem tình trạng cậu bé ra sao mà lại buông ra một câu lạnh tới ghê người: “Tôi sẽ phải trả bao nhiêu tiền bồi thường?

Người Trung Quốc

Mẹ của Xiong Maoke ngồi thất thần cạnh thi thể em đang mắc kẹt dưới bánh xe tải (trong vòng tròn đỏ). Ảnh: Lzep.cn

Dù đã có nhân chứng xác nhận, nhưng cảnh sát sau khi điều tra lại kết luận rằng không có chứng cớ cho thấy bé Xiong bị cán hai lần. Các chuyên gia y tế kết luận cậu bé tử vong do tổn thương nghiêm trọng ở não.

Sự việc lái xe sau khi gây tai nạn lại còn muốn cán tiếp qua người nạn nhân cho chết hẳn ở Trung Quốc đã trở nên phổ biến đến mức người Trung Quốc ai cũng biết điều này. Các camera an ninh ở Trung Quốc cũng thường xuyên thấy cảnh lái xe sau khi gây tai nạn thì lùi lại rồi tiến lên cán thêm một lần nữa qua người nạn nhân. Không ít người có suy nghĩ rằng trả tiền bồi thường cho nạn nhân chết trong tai nạn còn rẻ hơn nhiều so với việc chi trả viện phí nếu nạn nhân chỉ bị thương. Chính vì thế, ngày 30/6/2013 một phụ nữ bị xe bồn đâm, người phụ nữ này khi nằm dưới gầm xe đã hoảng loạn hét lớn lên:  “Xin đừng cán chết tôi!” (Theo mô tả của người đi đường).

Người Trung Quốc

Người phụ nữ bị đâm dưới gầm xe hoảng loạn xin tài xế tha chết. (Ảnh từ internet)

Truyền thông thế giới cũng từng đưa tin về việc lái xe cố tình cán chết người. Hàng loạt đầu báo nước ngoài như Business Insider, National Post hay Malay Mail Online đã dẫn lại bài gốc đăng trên tạp chí Slate về việc cán qua người tới chết ở Trung Quốc. Bài báo gốc có tiêu đề “Cán tới chết” (Driven to kill), các báo khác lấy lại đặt tiêu đề là  “Lý do điên rồ vì sao tài xế Trung Quốc cố tình giết người đi bộ mà họ đâm phải“, “Tại sao nhiều tài xế ở Trung Quốc cố tình giết người đi bộ họ đâm trúng“, “Tài xế ở Trung Quốc sẽ chèn lên bạn hai lần… để đảm bảo bạn đã chết“.

Người phương Tây khi đọc những bài báo này cảm thấy hết sức kinh hoàng, không sao tưởng tượng nổi người dân Trung Quốc ngày nay lại có thể vô nhân tính đến như vậy. Tuy nhiên, câu chuyện này dường như có nét tương đồng với một số sự việc diễn ra tại Việt Nam trong một vài năm qua, và điều này  hẳn khiến chúng ta phải suy ngẫm.

Chẳng hạn, năm 2008, dư luận cả nước sục sôi trước sự việc tài xế Đặng Hữu Anh Tuấn đã lạnh lùng cho xe container cán liên tục 3 lần qua người một nữ sinh 15 tuổi bất chấp việc nữ sinh trẻ này này vùng vẫy kêu cứu dưới bánh xe và sự can ngăn của người đi đường. Khi anh trai của nữ sinh chắn trước xe container để tránh không cho xe tiến lên cán thêm vào người em gái, lái xe vẫn tiếp tục lao lên húc đổ chiếc xe máy, bánh xe tải tiếp tục cán ngang người cô gái. Đến khi nạn nhân được cứu và đưa vào bệnh viện thì cũng không qua khỏi.

Tối hôm 3/5/2014, anh Lê Ngọc Hoàng chở em gái Lê Thị Minh Tâm bằng xe máy ra bến xe TP Buôn Ma Thuột đã bị một chiếc xe ô tô chạy cùng chiều tông mạnh. Hai người trên xe máy văng mạnh xuống đường, thấy vậy tài xế ô tô đã quay xe lại cán nạn nhân lần nữa rồi bỏ trốn. Vụ tai nạn khiến cô em gái chết tại chỗ, anh Hoàng bị thương nặng.

Vào ngày 2/5 tại Hải Phòng, một chiếc xe ô tô 4 chỗ va chạm với một sinh viên, một phụ nữ trên xe đã lớn tiếng với sinh viên. Khi lực lượng chức năng đến yêu cầu đưa nạn nhân đến bệnh viện thì người phụ nữ này cho rằng “mạng người không quan trọng”. Video ghi lại sự việc này đã được đưa lên Facebook khiến nhiều người bất bình trước hành xử của người phụ nữ này. Sau đó đã xác định được người phụ nữ này là Chánh văn phòng Đảng ủy Khu kinh tế Hải Phòng.

Những câu hỏi đầy nhức nhối

Vì sao lái xe phải cán qua người cho đến chết hẳn, luật pháp đứng về phía ai?

Trong tiếng Trung có một châm ngôn dành cho hiện tượng này: “Đâm tới chết còn hơn là đâm bị thương“. Việc này được lý giải là bởi theo luật thì việc gây tai nạn chết người phải bồi thường  30.000 đến 50.000 nhân dân tệ.

Trong khi đó nếu nạn nhân không chết mà bị thương, thì người gây tai nạn sẽ phải trả chi phí chăm sóc đến 400.000 nhân dân tệ cho 2~3 năm chăm sóc đầu tiên.

Và điều kỳ lạ nữa là cảnh sát điều tra thường có kết luận không hề có việc cán qua người lần hai bất chấp có nhân chứng. Ví như ở Tứ Xuyên, một chiếc xe tải đâm phải một đứa bé. Khi đứa bé bị ngã đến choáng váng đó cố chạy đến nhặt chiếc ô bị văng ra, các nhân chứng đều khẳng định nhìn thấy chiếc xe lùi lại rồi bất ngờ tiến đến chèn tiếp qua người đứa bé lần nữa khiến em thiệt mạng.

Qua điều tra, cảnh sát  tuyên bố rằng xe tải không hề lùi, chưa từng đâm đứa trẻ lần thứ 2, và bánh xe không chèn lên nạn nhân bất chấp việc có nhiều người chứng kiến sự việc đã ghi lại lời khai làm chứng. Thậm chí một website còn đăng lại hình ảnh thi thể cậu bé nằm dưới bánh trước của xe tải.

Có lẽ, tiền đã khiến người ta đánh mất nhân tính và bất chấp tất cả. Cho dù bị quay lại video cố ý chèn nạn nhân tới chết, lái xe cũng không sợ, bởi lý do chi phí bỏ ra để bồi thường vẫn ít hơn trường hợp nạn nhân bị thương và phải chi trả phí chăm sóc y tế.

Vì sao đạo đức người Trung Quốc trở nên bại hoại?

Một người lấy nickname là 60sunsetred đã bình luận trên mạng xã hội rằng: “Người Trung Quốc đã đạt tới ngưỡng vô đạo đức nhất của họ.”

Câu chuyện về Trung Quốc khiến nhiều người phương Tây phải kinh hoàng không sao tưởng tượng được. Nhiều người biết đến Trung Quốc là một dân tộc có bề dày văn hóa tôn vinh các giá trị “Nhân, lễ, nghĩa trí, tín”, vậy điều gì đã khiến người Trung Quốc ngày nay biến dị đến mức độ này?

Người Trung Quốc cổ xưa có tín ngưỡng vào Thần Phật, kính ngưỡng “Thiên địa quân thân sư” (tức trời đất, vua, cha mẹ và thầy), luôn giữ vững chuẩn mực đạo đức, ước thúc bản thân theo các giá trị truyền thống “Nhân, lễ, nghĩa trí, tín” của Nho gia. Văn hóa truyền thông Trung Quốc tin rằng làm điều thiện có thiện báo, làm điều ác gặp ác báo và người ta đều hành xử theo đạo lý đó.

Kể từ khi ĐCSTQ thành lập, chính quyền đã tuyên dương Thuyết vô Thần và đấu tranh. Những tư tưởng này ban đầu vốn không được người Trung Quốc chấp nhận, bởi lẽ nó đi ngược lại văn hóa cổ truyền vốn đã có bề dày suốt 5.000 năm của dân tộc

Chính vì thế mà Mao Trạch Đông đã phát động Cách mạng Văn hóa (1966 – 1976) nhằm tiêu diệt hoàn toàn nền văn hóa truyền thống dân tộc, phát động phong trào “Phá tứ cựu” gồm: “Cựu tư tưởng, cựu văn hóa, cựu phong tục, cựu tập quán”. Từ đó, Trung Quốc đã quay lưng với văn hóa truyền thống dân tộc, cắt đứt liên hệ với trời và đất; khiến “người đấu với người, người đấu với trời, người đấu với đất“.

Từ tháng 8/1966, ngọn lửa điên cuồng của “Phá tứ cựu” đã đốt cháy toàn bộ di sản tinh hoa của đất nước. Những di sản này bị khép vào tội là những vật thể của “chế độ phong kiến, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xét lại” nên phải tiêu hủy. Các đền chùa, danh thắng cổ tích, đạo quán, tượng Phật, thư pháp, mỹ thuật hội họa đều bị đập phá tiêu hủy.

Người Trung Quốc

Đề tự “Thanh Hoa Viên” trong miếu thờ Đại học Thanh Hoa bị đập nát. (Ảnh từ zhengjian.org)

Người Trung Quốc

Cố cung bị Hồng vệ binh sửa thành “huyết lệ cung”. Ảnh từ zhengjian.org)Người Trung Quốc

Miếu Khổng Tử bị thiêu rụi. (Ảnh từ zhengjian.org)

Người Trung Quốc

Hồng vệ binh tại nơi giảng kinh ở đền Jokhang, Tây Tạng. (Ảnh từ zhengjian.org)

Văn hóa là linh hồn của dân tộc, sự phát triển văn hóa định ra nền văn minh của một đất nước. Sự phá hủy hoàn toàn văn hóa của một dân tộc dẫn tới sự tiêu vong của dân tộc đó. Chính vì thế mà sau khi Cách mạng Văn hóa phá hủy văn hóa dân tộc, cắt liên hệ với trời đất, thì đạo đức người Trung Quốc càng ngày càng tuột trên dốc lớn, khiến người với người trở nên thờ ơ vô cảm, hoàn toàn mất đi nhân tính.

Từ 18 pho tượng La Hán bị phá hủy…

Trong tác phẩm “Bao nhiêu di vật văn hóa đã bị đốt ” của Ding Shu đã mô tả rằng: “Có một đội sản xuất Chùa Bạch Mã ở gần ngôi chùa. Bí thư chi bộ Đảng đã chỉ đạo nông dân đến phá tan ngôi chùa trên danh nghĩa ‘cách mạng’. Những bức tượng 18 vị La Hán bằng đất sét hơn 1.000 năm tuổi được làm trong triều đại nhà Liêu (916-1126 sau Công Nguyên) đã bị phá hủy. Kinh Bối Diệp do một vị cao tăng người Ấn Độ mang đến Trung Quốc 2.000 năm trước đã bị đốt. Một vật quý hiếm, Ngựa ngọc bích, đã bị đập tan thành từng mảnh.”

… Đến 18 người phụ nữ bị lột quần áo và ném vào phòng giam tù nhân nam

Mười năm Cách mạng Văn hóa tưởng như đã khiến người Trung Quốc vĩnh viễn bị cướp đi cội nguồn dân tộc, mất đi tiêu chuẩn làm người. Thế nhưng bắt đầu từ năm 1992, một môn khí công đề cao giá trị đạo đức với nền tảng là nguyên lý “Chân Thiện Nhẫn” đã được truyền xuất ra, giúp người dân Trung Quốc như nhìn thấy lại tinh hoa giá trị cội nguồn văn hóa của dân tộc.

Đó là Pháp Luân Công, môn khí công cổ truyền của Trung Quốc bắt đầu phổ truyền từ năm 1992, đến năm 1999 đã có 100 triệu người theo tập. Những bài giảng khí công đề cao giá trị đạo đức với nền tảng “Chân Thiện Nhẫn” khiến người dân Trung Quốc cảm thấy như tìm lại được cội nguồn xa xưa, dần dần thay đổi quan niệm người Trung Quốc. Suốt 7 năm đầu khi Pháp Luân Công xuất hiện, truyền hình báo chí Trung Quốc có rất nhiều bản tin ca ngợi giá trị sức khỏe và đạo đức do môn khí công này mang lại.

Những giá trị mà Pháp Luân Công mang đến cho người dân lại trái ngược với học thuyết đấu tranh và vô thần, khiến ĐCSTQ quyết định đán áp môn tập này vào năm 1999. Truyền hình Trung Quốc mới hôm qua còn ca ngợi “Chân Thiện Nhẫn” thì hôm sau đã nói rằng “Chân Thiện Nhẫn” không có lợi gì cho Đảng.

Nhiều trại lao động được xây dựng nhằm giam giữ những người tập Pháp Luân Công kiên quyết không từ bỏ niềm tin của mình, trong đó Trại lao động Mã Tam Gia được truyền thông phương Tây nhắc đến nhiều nhất như là địa ngục trần gian thực sự.

Trong một báo cáo năm 2001 của Liên Hợp Quốc, một bài viết đặc biệt về bạo lực đối với phụ nữ đã viết: “Tháng 10/2000, cai ngục ở nhà tù Mã Tam Gia tại Thẩm Dương, tỉnh Liêu Ninh, bị cáo buộc đã lột truồng 18 nữ học viên Pháp Luân Đại Pháp [còn được gọi là Pháp Luân Công] và đẩy họ vào các nhà giam tội phạm nam giới bị kết án”.

Người Trung Quốc

Một bức hình khắc chạm (linogravure) bởi một học viên Pháp Luân miêu tả một cảnh tại Mã Tam Gia trong tháng 10 năm 2000, trong đó 18 nữ học viên Pháp Luân bị lột trần truồng và bị đẩy vào khám giam bọn tội phạm nam. (Ảnh từ Minghui.org)

Các viên chức không cho ai đến thăm và bao che cho tội phạm. Nhiều người trong số đó bị tra tấn đến chết, những người may mắn ra được khỏi nơi đây đã nói lại rằng: “Các vị không thể nào hình dung nổi sự tàn bạo và tà ác ở chỗ này…”

“Chân Thiện Nhẫn” bị đàn áp thì “giả ác bạo” sẽ lên ngôi; khi “nhân lễ nghĩa” không còn thì con người đối với nhau sẽ trở nên vô cảm, kết quả là …

Và sự vô cảm của 18 người qua đường

Bé Duyệt Duyệt 2 tuổi bị tai nạn ven đường, 18 người đi qua nhưng không một ai giúp đỡ khiến Duyệt Duyệt bị thêm một chiếc xe khác cán qua người. Khi người phụ nữ nhặt rác tốt bụng cứu và đưa đi cấp cứu, đến cuối cùng bé Duyệt Duyệt vẫn không qua khỏi.

Người ta đã tìm đến 18 người thơ ơ bỏ mặc đứa bé để hỏi, hãy nghe họ trả lời lý do họ lại không cứu đứa trẻ.

Người lái chiếc xe tải thứ hai cán qua người bé Duyệt Duyệt nói rằng: “Nếu nó chết, tôi có thể chỉ phải bồi thường 20.000 nhân dân tệ (2.000 USD). Nhưng nếu nó bị thương có khi tôi phải mất hàng trăm ngàn tệ”.

Còn người đàn ông lái chiếc xe tay ga qua đường nhìn thấy đứa trẻ nhưng thờ ơ bỏ đi  nói với phóng viên với nụ cười khó chịu trên mặt rằng: “Nó không phải cháu tôi. Sao tôi phải quan tâm?”

Sự thờ ơ vô cảm của những con người Trung Quốc ngày hôm nay chính là hậu quả của việc văn hóa dân tộc bị hủy mất, là kết quả của việc khi một lần nữa giá trị phổ quát “Chân Thiện Nhẫn” đưa con người về với đạo đức truyền thống bị đàn áp tàn bạo. Khi “Chân Thiện Nhẫn” không còn thì thay vào đó chỉ là giả dối, ác độc và bạo ngược. Đó cũng chính là hiện trạng của xã hội Trung Quốc ngày nay và không khó để hình dung điều gì sẽ xảy ra tiếp theo ở vùng đất từng là cái nôi của văn minh nhân loại này.

Trần Hưng

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

Links:

Nguồn Email.

Advertisements

Cải lương ở VN đã Chết! – Nguyễn Phương

Soạn giả Nguyễn Phương

Bài đọc suy gẫm: Người cộng sản với chủ nghĩa Mac, Lê tài thiệt, những giá trị văn hóa quan trọng do tổ tiên ông cha ta trong thời cận đại, mới đây sáng lập ra nơi mặt nghệ thuật, ngoài giải trí, còn nhằm giúp cho phần đạo đức lẫn thăng hoa con người Việt Nam dần dần bị họ âm thầm tiêu diệt. Chúng ta sẽ thấy tiếc lắm vì nền Cải lương là 1 sáng tạo của người Việt miền nam, là đóng góp độc đáo cho nền ca kịch nước nhà, không phải chỉ ngày 1 ngày 2 mà có… Mời độc giả tham khảo qua biên soạn chi tiết của bác soạn giả Nguyễn Phương.

Sân khấu cải lương ở VN hiện nay ra sao?

Đoàn Kim Chung hát tết ở rạp Olympic

Các bạn nghệ sĩ cải lương ở Hoa Kỳ, Pháp, Úc, Canada và vài bạn cải lương đàn em, đàn cháu ở VN điện thoại hoặc gởi email cho tôi thường nói: “Sân khấu cải lương ở Việt Nam đã chết. Bây giờ không còn đoàn hát cải lương hát đông khán giả như trước năm 1975. Báo Sân Khấu thành phố cho là vì thiếu đoàn kết mà nhiều năm qua, sàn diễn cải lương theo mô hình xã hội hóa không sống được. Bác nghĩ sao?”.

Ông NSND Trần Ngọc Giàu, Giám đốc Nhà Hát Trần Hữu Trang kiêm Hội Trưởng Hội Sân Khấu thành phố viết trên trang Web Cailuong: “Nỗi lo lớn của sân khấu truyền thống: Hiếm hoi sàn diễn dành cho sân khấu truyền thống, lác đác chương trình nghệ thuật sáng đèn, lớp kỳ cựu của làng sân khấu cải lương, hát bội ngày một thưa dần, thế hệ nối tiếp nghề tuy có song chưa thể là đội ngũ kế thừa đủ thực lực và tâm huyết… Đó là nỗi lo quá lớn của sân khấu truyền thống tại TPHCM”.

Trước khi nói chuyện sân khấu cải lương chết, tôi xin đề cập qua các danh từ của ông Trần Ngọc Giàu dùng để hiểu rõ tình hình sân khấu cải lương ở VN.

Cộng sản thường dùng danh từ mơ hồ, tránh né sự thật khi nói đến những việc họ làm có hại cho dân. Vì dụ họ nói cán bộ có hành động “tiêu cực” là nói cán bộ cộng sản “tham nhũng” cướp tài sản đất ruộng của dân, ức hiếp dân, ăn hối lộ, hành động “hủ hóa” là họ ăn chơi, sa đọa, lấy vợ bé là những cô người mẫu, cán bộ làm chủ những sòng bạc lớn, chủ các phòng tắm hơi sang trọng hợp thức hóa hoạt động của đĩ điếm, họ bàn chuyện ăn nhậu vui chơi để dân không nghĩ đến việc CS bán nước cho Trung Cộng… Dân nói đến thảm họa của sự đô hộ và diệt chủng của Tàu đối với VN, nói đến Hoàng Sa và Trường Sa là của VN thì bị Công An CS bắt, đánh đập, tù đày và ghép cho dân tội vi phạm điều luật 88 của Hiến Pháp …v..v..

Nói “sàn diễn” là rạp hát. “Sàn diễn thay đổi công năng” là rạp hát thay vì để cho các đoàn cải lương hát biến thành restaurant, tiệm bán sách, bán bánh Trung thu… “Sàn diễn cải lương theo mô hình xã hội hóa” là gánh hát của tư nhân.

Ông Trần Ngọc Giàu nói: Hiện nay hiếm có rạp hát dành cho Cải Lương và Hát Bội!

Xin nhắc cho ông Trần Ngọc Giàu nhớ: sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 tức cái ngày Miền Bắc đã xâm chiếm Miền Nam dưới danh từ ngụy tạo là “giải phóng”, Saigon Chợ Lớn và Gia Định có 39 rạp hát dành cho các đoàn hát Cải Lương và Hát Bội, phân chia ra ở mỗi quận vài ba rạp để cho dân ở trong các quận đó tiện đường đi đến rạp xem hát.

Quận Nhứt và quận Nhì có các rạp: 1/Nhà hát thành phố (Quốc Hội cũ) 2/Rạp Norodom sau đổi tên Rạp Thống Nhất) 3/Rạp Nguyễn Văn Hảo, 4/Rạp Thành Xương, 5/Rạp Hưng Đạo, 6/Rạp Aristo, 7/Rạp Long Phụng (đường Gia Long), 8/Rạp Kinh Thành (Cầu Ông Lãnh), 9/Đình Cầu Quan (Hát Hồ Quảng) 10/Rạp Quốc Thanh, 11/Rạp Thanh Bình, 12/Rạp Quốc Tế, 13/Rạp đình Nhơn Hòa (Cầu Muối)

Quận 3: 14/Rạp Đại Đồng, 15/Rạp Long Vân, 16/Rạp Olympic; 17/Rạp Minh Châu, 18/Rạp Hòa Bình, 19/đình Hòa Hưng (Hát bội);

Quận 4: 20/Đình Lý Nhơn (Hát Bội),

Quận 5: 21/Đình Tân Kiểng(Cải lương – Hát bội ), 22/Rạp Oscar, 23/Rạp Kinh Thành Q.5 (gần chợ Kim Biên), 24/Rạp Thủ Đô, 25/Rạp Đại Quang (Hát Quảng, đường Tổng Đốc Phương) 26/Rạp Hào Huê đường Nguyễn Tri Phương, 27/Rạp Lao Động B, 28/Rạp Cẩm Vân; 29/đình Minh Phụng (Cải lương-Hát bội) , 30/đình Xóm Củi (Cải lương-Hát bội ), 31/đình Bình Tiên (chợ Cây Gõ) (Hát bội ) 32/Rạp Cây Gõ (đường Cây Gõ) (Cải lương)

Dakao: 33/đình Phú Hòa (Hát bội), 34/Rạp Đại Đồng(Dakao), 35/Rạp Cao Đồng Hưng, 36/Chùa Dọn Bàn (Hát bội), 37/Chùa Phú Nhuận (Hát bội), 38/Rạp Cẩm Vân (sau đổi tên Rạp Phú Nhuận) 39/Rạp Kinh Đô Dakao (Cải lương);

Ở mỗi tỉnh có một hay hai rạp hát dành cho Cải Lương và Hát Bội: tỉnh Mỹ tho có rạp hát Thầy Năm Tú và rạp Viễn Trường; Bến Tre có rạp Lạc Thành; CầnThơ có rạp Minh Châu, rạp Hậu Giang; Bạc Liêu có rạp Chung Bá, Sóc Trăng có rạp Nguyễn Văn Kiểng, rạp Hòa An; Long Xuyên có rạp Minh Hiển, Biên Hòa có rạp Biên Hùng; Phan Thiết có rạp Thất Ngàn; Nha Trang có rạp Tân Quang; Huế có rạp Thuận Hóa; Quy Nhơn có rạp Qui Nhơn; Đà Nẵng có rạp Hai Bà Trưng. Đây là những rạp hát lớn, ngoài ra còn nhiều rạp hát ở các quận, huyện, tôi không nhớ hết dù đã có nhiều lần tôi theo đoàn Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Phước Chung đến hát ở đó.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chánh phủ mới tịch thu tất cả các rạp hát của tư nhân, đưa cán bộ đảng viên xuống làm Trưởng rạp, chỉ trong vòng 5 năm, chỉ còn rạp Hưng Đạo là còn cho các đoàn Văn Công, đoàn hát Trần Hữu Trang và các đoàn hát Ttập thể sử dụng. Các rạp hát khác đóng cửa bỏ phế cho chuột bọ ở, một số rạp hát được Sở VHTT thay đổi “Công Năng” nghĩa là rạp hát không phải để cho đoàn hát hát mà biến thành restaurant để làm tiệc cưới hoặc tiệc tùng của các chức sắc của Đảng bộ thành phố hay các đại gia tư bản đỏ (Rạp Quốc Thanh). Rạp Lao Động A ở Nancy thành casino cờ bạc, chơi số quây roulette; Rạp Cao Đồng Hưng Gia Định thành Nhà bán sách Gia Định, rạp Cây Gõ thành Nhà bán sách Cây Gõ, Rạp Quốc Thái (Phú Lâm) thành tiệm bán bánh Trung Thu, Rạp Nguyễn Văn Hảo trở thành Nhà Hát Kịch Nhân Dân (dành cho Thoại Kịch và Tấu Hài)

Rạp Hát Hưng Đạo bị phá bỏ năm 2010 để xây thành rạp hát mới dưới danh nghĩa làm cho to lớn hơn, hoành tráng hơn, hiện đại hơn cái rạp Hưng Đạo cũ của ông chủ tư bản Nguyễn Thành Niệm. Ngày 18 tháng 4 năm 2015, hoàng thành việc xây cất rạp Hưng Đạo mới trên cái nền rạp Hưng Đạo cũ, khi bàn giao cho Nhà hát Trần Hữu Trang quản lý rạp mới thì Nhà hát Trần Hữu Trang không thu nhận vì rạp mới cất tốn kém tới hơn 132 tỉ đồng mà kết quả rạp mới lại nhỏ hơn rạp cũ, sân khấu làm bằng ciment không thuận tiện và nguy hiểm cho nghệ sĩ khi hát cải lương. Dàn đèn, dàn âm thanh mua mắc tiền nhưng không phù hạp với sân khấu hát Cải lương. Ghế khán giả chỉ có hơn sáu trăm, ít hơn phân nửa so với rạp cũ, đoàn hát nào mướn rạp mới đó hát, số thu không đủ tiền để trả tiền rạp, tiền dàn dựng, tranh cảnh, tiền lương nghệ sĩ. Nhà thầu phải sửa lại sân khấu, chỗ để đèn, âm thanh và bàn giao vào năm 2017, nhưng rồi rạp hát vẫn không có đoàn nào dám mướn vì hát ở đó, nhứt định thua lỗ vốn cả bạc tỉ đồng trong vài suất diễn. Tịch thu rạp hát, phá nát rạp hát, thay đổi công năng của rạp hát là chủ trương và hành động của Đảng, vậy mà ông Giám đốc Nhà Hát Trần Hữu Trang, đảng viên CS, chuyên viên của nhà nước lại kêu gào là thành phố hơn 9 triệu dân mà không có rạp hát cho đoàn cải lương của chánh phủ diễn!

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Chánh phủ CS giải tán hơn 60 đoàn hát Cải lương và các tổ chức Đại Nhạc Hội ở Saigon, ở Tiền Giang, Hậu Giang và các tỉnh miền Trung.

Giải tán 17 gánh Hát bội: gánh Tấn Thành Ban của ông bầu Trần Khiêm Cung ở đình Cầu Muối, gánh Vĩnh Xuân Ban của bầu Thắng – Minh Tơ ở đình Cầu Quan, gánh Phước Thành Ban của ông Bầu Xá ở đình Bến Củi, gánh Tấn Thành Ban B của bà Bầu đào Tư Châu ở đình Minh Phụng, gánh hát bội Bầu Xáng ở Chùa Dọn Bàn Tân Định, gánh Vĩnh Tân Ban của Bầu Hai Nhỏ ở Chùa Ông Phú Nhuận, gánh Nghĩa Thành Ban của Bầu Biện Dực ở đình Hòa Hưng, gánh Hoa Xuân Bầu Mười Vàng ở đình Phú Hòa Dakao, gánh hát bội Bình Tiên của Bầu Tư Bông ở đình Bình Tiên Cây Gõ, Gánh hát bội Bầu Bà Năm Lượm ở đình Thủ Đức, gánh hát Bội Thắng Tam của Bầu Hai Điểm Vũng Tàu, gánh Hàm Luông của Bầu Ngọc Ẩn – Bến Tre, Gánh hát bội của Bầu Ba Kiên – Mỹ Tho, gánh hát bội ở Miễu Kim Liên của bầu Bảy Tồn Chợ Cũ – Mỹ Tho, gánh hát bội Quy Nhơn – Bình Định… Giải tán 7 ban thoại kịch (Ban kịch Thẩm Thúy Hằng, Ban kịch Túy Hồng, Ban kịch Kim Cương, Ban kịch Phương Nam, Ban kịch Vũ Đức Duy, Ban kịch Tân Dân Nam, Ban Thép Súng).

Thành lập ra đoàn Văn Công thành phố, 3 đoàn Văn Công tên Nhà hát Trần Hữu Trang 1, 2 , 3, ba đoàn cải lương tập thể Saigon 1, 2 , 3, hai đoàn cải lương tuồng cổ Minh Tơ, Huỳnh Long… Mỗi tỉnh thành lập một đoàn Văn Công. Tất cả các đoàn Văn Công, đoàn cải lương tập thể đều do cán bộ đảng viên của Sở Văn Hóa & Thông Tin làm trưởng đoàn.

Từ năm 1975 đến năm 1986 (năm đánh dấu lệnh Cởi Trói Văn Nghệ Sĩ của Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh) các đoàn hát văn công và tập thể của nhà nước hát những tuồng cải lương xã hội trước năm 1975 dưới danh nghĩa “Chữa Cháy” trong khi chờ kịch bản mới và một số kịch của miền Bắc đưa vô ép các soạn giả miền Nam chuyển thể thành Cải Lương như các tuồng Tấm Lòng của Biển, Con Tấm con Cám, Khoai Lang Dương Ngọc, Bên Cầu Dệt Lụa.

Kịch miền Bắc do soạn giả Saigon chuyển thể Cải Lương: Một Cuộc Giải Phẫu, Quán Hương Tràm, Người Ven Đô, Nghêu Sò Ốc Hến, Hùm Thiêng Yên Thế, Đường Về Núi Lam, Tiếng Trống Mê Linh, Thái Hậu Dương Vân Nga, Thanh Gươm và Nữ Tướng, Lá Chắn Biên Thùy…

Sau 30 tháng 4 năm 1975, trên 60 soạn giả cải lương nổi danh của Miên Nam, cuộc sống đang khá giả nhờ số tiền bản quyền tuồng cải lương và được hưởng lương thường trực của đoàn hát cấp cho hàng tháng, bỗng bị lịnh cấm hành nghề 10 năm do Chánh phủ “Giải Phóng” ban hành. Ngày “Giải Phóng” là ngày 60 soạn giả cải lương bị giải phóng khỏi cái nghề sinh sống của mình, bị thất nghiệp và mất hết mọi nguồn thu!

Đây là những soạn giả bị cướp miếng cơm manh áo sau cái tháng tư đen: Năm Châu, Tư Chơi, Năm Nở, Giáo Út, Duy Lân, Bảy Cao, Trần Văn May, Tư Thới, Thanh Cao, Quang Phục, Vinh Sang, Lâm Tồn, Hà Triều, Hoa Phượng, Thiếu Linh, Thành Phát, Lê Khanh, Mộc Linh, Nguyễn Phương, Hà Huy Hà, Hoàng Khâm, Viễn Châu, Ngọc Huyền Lan – Nguyễn Ang Ca, Hoài Ngọc, Yên Lang, Yên Hà, Yên Trang, Yến Linh, Bầu Long (Ngọc Huyền Quân), Ngọc Văn, Thể Hà Vân, Hoàng Việt, Loan Thảo, Yên Ba, Phan Hương, Ngọc Điệp, Bạch Diệp, Minh Nguyên, Hoàng Lan, Nguyễn Đạt, Nguyễn Huỳnh, Mai Quân, Phương Ngọc, Nhị Kiều, Tám Vân, Văn Giai, Yên Sơn, Thu An, Lê Trí, Tuấn Khanh, Tấn An, Thái Thụy Phong, Quy Sắc, Vân An, Thế Châu, Trương Vũ, Nguyễn Liêu, Phong Anh, Hoài Linh, Hoàng Kinh…

Từ tháng 4 /1975 đến năm 1986, tên của 60 soạn giả kể trên không có xuất hiện trên Báo Sân Khấu và trên các tuồng cải lương ở rạp hát. Sau khi được cởi trói, các soạn giả đó hoặc già quá, mất sức khỏe hoặc chết, số còn lại cũng không thể sáng tác khi không có tự do tư tưởng, khi phải sáng tác tuồng theo “định hướng chánh trị của đảng Cộng Sản”.

Hơn bốn mươi năm cai trị miền Nam, Cộng Sản miền Bắc vẫn không “cải tạo” được đầu óc tự do tư tưởng của soạn giả miền Nam nên họ tiêu diệt hết số soạn giả đó. Đảng không đào tạo được những tay bồi bút cho ra hồn nên ông Cán bộ Giám Đốc Nhà Hát Trần Hữu Trang mới than không có soạn giả, không có tuồng hay, sân khấu cải lương chết là phải!

Đoàn hát Xã Hội Hóa là đoàn hát tư nhân bỏ tiền ra kinh doanh. Họ tùy theo vở tuồng nào thì mời nghệ sĩ nào từng diễn vở tuồng đó, kết hợp lại dưới bảng hiệu đoàn cải lương “xã hội hóa” để xin phép hát, mướn rạp và đăng quảng cáo. Khi hát xong vở tuồng đó, nếu có tuồng khác (những tuồng nổi tiếng của các soạn giả trước năm 1975) số diễn viên hát vở trước nếu phù hợp cho vở diễn sau thì tiếp tục ở lại cộng tác với nhau để diễn. Nghệ sĩ nào không có vai hát phù hợp thì đi kiếm đoàn xã hội hóa khác để cộng tác. Không giống như các đoàn hát trước năm 1975, dù không có vai tuồng, vẫn được lãnh lương của Bầu gánh khi nghệ sĩ đó chưa hết contrat với đoàn hát. Vì tính chất gán ghép tạm bợ theo từng vở tuồng nên nghệ sĩ không mất công nhiều để tập tuồng và học tuồng, họ cũng không gắng bó với đoàn xã hội hóa. Nếu có đoàn xã hội hóa nào mời với số lương cao hơn, họ vẫn bỏ đoàn đang cộng tác để chạy theo đoàn có lợi nhuận nhiều hơn. Đây là một trong những nguyên nhân làm cho nghệ thuật ca hát các đoàn xã hội hóa không được bình ổn và tăng tiến như các đoàn hát Thanh Minh Thanh Nga, Dạ Lý Hương hay Kim Chưởng, Kim Chung ngày trước. Các đạo diễn miền Bắc và đao diễn được đào tạo sau 1975 tùy tiện theo sở thích của mình hoặc do sự hiểu biết hạn chế về nghệ thuật hát cải lương nên họ đã làm cho sân khấu cải lương trở thành một nghệ thuật “Tả pí lù!”:

– Họ dựng những cảnh xuất quân với các nghệ sĩ Cưỡi ngựa theo lối hát bội với cây roi ngựa và lối cưỡi ngựa của đoàn Văn Công khi ca bài “Ngựa phi đường xa”, tay giả gò cương, tay vun roi ngựa quất phía sau, hai chân mở rộng, mình nhúng nhảy như đang ngồi trên lưng ngựa (tuồng Chiếc Áo Thiên Nga, tuồng Kiều ở lớp Từ Hải ra quân đánh với Hồ Tôn Hiến, lớp ra quân trong tuồng Câu Thơ Yên Ngựa…)

– Vọng cổ có xen vô hát Chầu Văn, Hát Chèo.

– Vọng cổ hòa duyên cùng ca Opéra. (Mỵ Châu ca một câu vọng cổ, một nữ nghệ sĩ khác hoá trang làm hồn của Mỵ Châu ca Opéra để diễn tả nội tâm của Mỵ Châu,)

– Dàn nhạc Giao hưởng hòa tấu cùng Ban Cổ nhạc.

– Ca vọng cổ có hợp xướng. Ca Vọng cổ có dàn múa múa chạy quanh mình ca sĩ chánh.

– Hát Cải lương hoành tráng, sân khấu rộng 900 thước vuông nên nghệ sĩ và phụ diễn phải thật đông, bao quanh múa bên cạnh nghệ sĩ chính. Trong tuồng Kim Vân Kiều có 40 ni cô tụng kinh trong lớp Kiều tự vận ở sông Tiền đường. – Nội dung đa só tuồng cải lương do cán bộ sáng tác đa số nhắm vào cuộc tình ngang trái do giàu nghèo cách biệt, nông dân bị địa chủ, hội đồng thời Pháp thuộc bóc lột (Đánh Địa chủ, Phong Kiến)

– Những chuyện cán bộ tham nhũng, ức hiếp dân, cướp ruộng đất của nông dân, những tội ác của Tàu Cộng, đầu độc thức ăn, mua bán nội tạng những người dân bị lường gạt, chưa có soạn giả nào dám sáng tác,

TPHCM rộng lớn với hơn 90 triệu dân, đường sá chằng chịt, cứ mỗi lần nước lớn (gọi là triều cường), mưa to thì hàng chục con đường biến thành hàng chục con sông trong thành phố. Xe hơi, xe gắn máy đều bị ngập nước, chết máy, đi lại khó khăn. Dân ở lại trong nhà lo tát nước dơ đang tràn ngập trong nhà ngoài ngõ. Việc làm ăn, sinh hoạt bình thường cũng bị ngưng trệ, làm sao mà đi đến rạp hát được để xem hát?

Ngoài cái khó khăn về việc di chuyển, về công ăn việc làm bị ngưng trệ, người dân kiếm tiền để sinh sống khó khăn, người ta cũng giảm bớt chi tiêu trong việc xem hát giải trí,

Và nhất là đi xem hát chỉ có nghĩa là đến rạp hát để nghe Đảng và Nhà Nước mượn giọng ca tiếng hát của nghệ sĩ chuyển đạt đường lối chính trị đến tai của dân thôi.

Ông chủ tịch Hội Nghệ sĩ nhắc nhở “định hướng chính trị” mà nghệ sĩ nào cũng phải theo như Nghị Quyết sau đây: “Nghị quyết số 23- NQ/TW của Bộ Chính Trị về tiếp tục xây dựng và phát triển Văn Học Nghệ Thuật trong thời kỳ mới được ban hành: Nghị Quyết khẳng định và xác lập tính chiến đấu của văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng… Bên cạnh đó, nghị

quyết cũng khẳng định các Hội văn học nghệ thuật, các đơn vị nghệ thuật là một tổ chức chính rị – xã hội – nghề nghiệp, có định hướng, được đầu tư kinh phí để hoạt động…” Qua Nghị Quyết của Trung Ương Đảng, ông chủ tịch Hội Nghệ sĩ nhắc nhở mọi nghệ sĩ phải nhớ nghệ sĩ là chiến sĩ tức là công cụ của Đảng để thực hiện nghị quyết của Đảng, hát ca những sáng tác có định hướng chính trị để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng và chánh phủ. Các nghệ sĩ phải nhớ là chánh phủ có đầu tư kinh phí cho các nghệ sĩ. Ăn lương Chúa thì phải múa theo lịnh của Chúa!

Cải lương không có rạp hát, không tuồng hát hấp dẫn, không có đoàn hát đàng hoàng, không có khán giả cũng không sao cả. Nghệ sĩ là công nhơn viên, lãnh lương chánh phủ, tuồng không hay, không khán giả xem thì vẫn phải hát, vì đã lãnh lương của Đảng và chánh phủ rồi. Các bạn hãy yên chí, hùa theo Đảng dễ làm giàu lắm, mà không hùa theo đóm ăn tàn cũng không được vì các bạn vẫn bị cùm tay, cùm chân như hồi trước khi ông Nguyễn Văn Linh tuyên bố Cởi Trói cho Văn Nghệ Sĩ.

 

10/2017

Nguyễn Phương

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

 

 

Links:

 http://thoibao.com/san-khau-cai-luong-o-vn-hien-nay-ra-sao/


Quê Hương Già Nua – Alan Phan, Ph.D

Happy Holidays

Bài đọc suy gẫm: Nhân mùa Giáng Sinh, Blog Mười Sáu thân chúc quý bạn đọc hưởng mùa Noel trọn vẹn.  Bài đọc cho những ngày lễ nghĩ có nhiều điều suy gẫm cho các bạn trẻ dưới cái nhìn của một người Việt rất thành công về mặt kinh doanh (xem chi tiết cuối bài). Quê Hương Già Nua hay “Sao Quê Hương Mình Già Nua đến Vậy?” tác giả Alan Phan nhận định về thực trạng của giới trẻ tại Việt Nam hiện nay và chia sẻ những lời khuyên hữu ích của ông. Hình ảnh chỉ là minh họa.

Các nhà đầu tư thế giới thường nghĩ về Việt Nam như một quốc gia trẻ trung, đang lên và chứa nhiều tiềm năng nhất trong số các thị trường mới nổi. Họ ấn tượng với con số tăng trưởng về dân số, về sự kiện là 58% người VN dưới tuổi 25, và theo nhãn quan của người Âu Mỹ, đây là phân khúc sáng tạo và cầu tiến nhất của bất cứ xã hội nào. Họ tìm đến VN mong những đột phá kỳ diệu và một vận hành năng động kiểu thung lũng Silicon (trung tâm IT của Mỹ ở phía nam San Francisco). Sau vài năm tung tiền mua tiềm năng và cơ hội, họ thường thất vọng và âm thầm bỏ đi. Tại sao?

Những giả thuyết ngây thơ

Họ đã không lầm về những số liệu tạo nên hình ảnh đó. Tuy nhiên, sự phân tích và biện giải về logic của họ vướng phải vài giả thuyết và tiền đề không chính xác. Một người có số tuổi còn trẻ không có nghĩa là sự suy nghĩ và vận hành của người đó cũng phải trẻ trung như số tuổi, nhất là khi họ lớn lên trong một xã hội khép kín, ít tiếp xúc với thế giới.

Tôi còn nhớ một đai gia IT nổi tiếng cũng đã từng kết luân trong một buổi hội thảo về kinh tế là số người sử dụng điện thoại di động ở VN đã tăng trưởng ấn tượng 36% mỗi năm trong 5 năm qua và lên đến 68 triệu người hay khoảng 80% dân số. Kết luận của anh chuyên gia trẻ này là tương lai về công nghệ thông tin của VN phải sáng ngời và sẽ vượt trội các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines…

Đây là những kết luận ngây thơ về thực tại của xã hội. Một người trẻ suốt ngày la cà quán cà phê hay quán nhậu sẽ không đóng góp gì về sáng tạo hay năng động; cũng như vài ba anh chị nông dân với điện thoai cầm tay không thay đổi gì về cuộc diện của nông thôn ngày nay (nông dân vẫn chiếm đến 64% của dân số xứ này).

Tôi thích câu nói (không biết của ai): Tất cả bắt đầu bằng suy nghĩ (tư duy). Suy nghĩ tạo nên hành động, hành động liên tục biến thành thói quen và thói quen tạo nên định mệnh. Định mệnh của cá nhân phát sinh từ tư duy cá nhân, định mệnh tập thể đúc kết bởi suy nghĩ của tập thể.

Tư duy, thói quen và định mệnh

Quên đi góc nhìn cá nhân, hãy tự suy nghĩ về tư duy thời thượng của xã hội này và từ đó, ta có thể nhận thức được những hành xử và thói quen của người dân VN. Bắt đầu từ tầng cấp lãnh đạo về kinh tế, giáo dục và xã hội đến lớp người dân kém may mắn đang bị cơn lũ của thời thế cuốn trôi; tôi không nghĩ là một ai có thể lạc quan và thỏa mãn với sự khám phá.

Những thói quen xấu về chụp giựt, tham lam, mánh mung, dối trá, liều lĩnh, sĩ diện… vẫn nhiều gấp chục lần các hành xử đạo đức, cẩn trọng, trách nhiệm, danh dự và hy sinh. Dĩ nhiên, đây là một nhận định chủ quan, sau một lục lọi rất phiến diện trên báo chí, truyền hình và diễn đàn Internet. Nhưng tôi nghĩ là rất nhiều người VN sẽ đồng ý với nhận định này.

Tôi nghĩ lý do chính yếu của những thói quen tệ hại này là bắt nguồn từ một tư duy già cỗi, nông cạn và nhiều mặc cảm. Tôi có cảm giác là ngay cả những bạn trẻ doanh nhân và sinh viên mà tôi thường tiếp xúc vẫn còn sống trong một thời đại cách đây 100 năm, dưới thời Pháp thuộc. Thực tình, nhiều bậc trí giả đã lo ngại là so với thời cũ, chúng ta đã đi thụt lùi về đạo đức xã hội và hành xử văn minh.

Nhà văn miền nam Sơn Nam

Tôi thường khuyên các bạn trẻ hãy đọc lại những tiểu thuyết của thời Pháp thuộc trước 1945. Họ sẽ thấy đời sống và các vấn nạn của một nông dân trong truyện của Sơn Nam vẫn không khác gì mấy so với một nông dân qua lời kể của Nguyễn Ngọc Tư.

 

Tác giả Nguyễn Ngọc Tư (trên, trái) và 1 cảnh quay trong phim “Cánh Đồng Bất Tận” với  tài tử Dustin Nguyễn, Đỗ Hải Yến.

Bâng khuâng và thách thức của những gia đình trung lưu qua các câu chuyên của Khái Hưng rất gần gũi với những mẫu chuyện ngắn của nhiều tác giả trẻ hiện nay. Ngay cả những tên trọc phú, cơ hội và láu lỉnh trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng cũng mang đậm nét hình ảnh của những Xuân Tóc Đỏ ngày nay trong xã hội.

Nhà văn Khái Hưng và tác phẩm giá trị văn học “Anh Phải Sống”

 

 

 

 

 Nhà văn Vũ Trọng Phụng (dưới) với tác phẩm nổi tiếng “Số Đỏ” nhiều lần tái bản.

 

 

 

 

 

 

 

 

Ôm lấy quá khứ ở thế kỷ 21

Tóm lại, tôi có cảm tưởng chúng ta vẫn sống và vẫn tranh đấu, suy nghĩ trong môi trường cả 100 năm trước. Những mặc cảm thua kém với các ông chủ da trắng vẫn ám ảnh các bạn trẻ ngày nay. Chúng ta vẫn bàn cãi về những triết thuyết mà phần lớn nhân loại đã bỏ vào sọt rác. Trong lãnh vực kinh doanh, phần lớn các doanh nhân vẫn cho rằng bất động sản và khoáng sản là căn bản của mọi tài sản. Sản xuất gia công và chế biến nông sản vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong kim ngạch xuất khẩu. Một doanh nhân Trung Quốc đã mỉa mai với tôi khi đến thăm một khu công nghiệp của VN, “Họ đang cố học và làm những gì chúng tôi đang muốn quên”.

Tôi đang ở tuổi 66. May mắn cho tôi, nền kinh tế toàn cầu đã thay đổi khác hẳn thời Pháp thuộc. Tôi không cần phải dùng tay chân để lao động, cạnh tranh với tuổi trẻ. Kinh doanh bây giờ đòi hỏi một sáng tạo chỉ đến từ trí tuệ và tư duy đổi mới. Thân thể tôi dù bị hao mòn (xương khớp lỏng lẻo, tai mắt nhấp nhem..). nhưng trí óc tôi và tinh thần vẫn trẻ hơn bao giờ hết. Thêm vào đó, nó không bị phân tâm bởi những hóc môn (hormones) về đàn bà hay những thứ lăng nhăng khác như các bạn trẻ. Do đó, hiệu năng và công suất của sự suy nghĩ trở nên bén nhậy hơn.

Người Mỹ có câu, “Những con chó già không bao giờ thay đổi” (old dogs never change). Do đó, tôi thường không thích trò chuyện với những người trên 40, nhất là những đại trí giả. Nhưng tôi thất vọng vô cùng khi về lại VN và gặp toàn những ông cụ non mới trên 20 tuổi đời: Nhút nhát, cầu an, thụ động, chỉ biết ăn nhậu, và đua đòi theo thời thế. Họ sống như các ông già đã về hưu, họ nói năng như một con vẹt, lập đi lập lại những giáo điều, khẩu hiệu đã hiện diện hơn trăm năm. Họ làm việc như một con ngựa bị bịt kín đôi mắt để chỉ nhìn thấy con đường một chiều trước mắt.

Nhiều người đỗ lỗi cho những thế hệ trứơc và văn hóa gia đình đã kềm kẹp và làm cho thế hệ trẻ này hay ỷ lại và hư hỏng. Cha mẹ vẫn giữ thói quen sắp đặt và quyết định cho các con đã trưởng thành (ngay khi chúng vào tuổi 30, 40..) về những cuộc hôn nhân, công việc làm, ngay cả nhà cửa và cách sinh họat. Hậu quả là một thế hệ đáng lẽ phải tự lập và lo tạo tương lai cho mình theo ý thích lại cuối đầu nghe và làm theo những tư duy đã lỗi thời và tụt hậu.

Trong khi thế giới đang hồi sinh với thế hệ trẻ tự tin tràn đầy năng lực cho những thử thách của thế kỷ 21, thì người trẻ VN đang lần mò trong bóng tối của quá khứ, với sự khuyền khích của các nhóm muốn giữ quyền lực và bổng lộc. Tôi tự hỏi, sao quê hương mình … già nua nhanh như vậy? Những nhiệt huyết đam mê của tuổi thanh niên bây giờ chỉ dành cho những trận đá bóng của Châu Âu? Tôi nhìn vào những nghèo khó của dân mình so với láng giềng chỉ là một tình trạng tạm thời. Nhưng tôi lo cho cái tư duy già cỗi của tuổi trẻ sẽ giữ chân VN thêm nhiều thập niên nữa. Cái bẫy thu nhập trung bình to lớn và khó khăn hơn mọi ước tính.

T/S Alan Phan là Chủ Tịch Quỹ Đầu Tư Viasa tại Hong Kong và Shanghai. Du học Mỹ từ năm 1963, ông đã làm việc tại nhiều công ty đa quốc gia ở Wall Street và phát triển công ty Hartcourt của mình thành một tập đoàn niêm yết trên sàn Mỹ với thị giá hơn 700 triệu dollars. Ông sống và làm việc tại Trung Quốc từ 1999. T/S Phan tốt nghiệp BS tại Penn State (Mỹ), MBA tại American Intercontinental (Mỹ), Ph.D tại Sussex (Anh) và DBA tại Southern Cross (Úc). Email của ông là aphan@asiamail.com và Web site cá nhân là http://www.gocnhinalan.com.

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Góc Nhìn Alan


Xuất Khẩu Cô Dâu – Trúc Giang MN

 Có con chim đa đa nó đậu cành đa
Sao không lấy chồng gần mà đi lấy chồng xa
Có con chim đa đa hót lời nỉ non
Sao em nỡ lấy chồng từ khi tuổi còn son
Để con chim đa đa ngậm ngùi đành bay xa 

Nhạc :  Võ Đông Điền

Bài đọc suy gẫm: Xuất Khẩu Cô Dâu hay Cháu Ngoan Bác Hồ Thích Lấy Chồng Ngoại của tác gỉa Trúc Giang MN.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

1* Cháu ngoan bác Hồ thích lấy chồng ngoại

Tâm sự của một cô dâu Hàn Quốc: ..chúng tôi bị nhìn ngắm, thậm chí còn bị sờ mó như một món hàng. Tôi có quyền nghĩ đây là cơ thể của tôi, tôi nhịn nhục để được thay đổi cuộc đời, nhiều người cứ tưởng rằng cơ thể của tôi thuộc về sở hữu của dân tộc VN. Thế nên, họ đùng đùng nổi giận khi cơ thể của tôi bị người khác dòm ngó, chọn lựa…chúng tôi được sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được”. (Trần Thị Nguyên)

Cháu ngoan bác Hồ thích lấy chồng ngoại.

Thật vậy, các cháu đã được giáo dục đào tạo dưới mái trường XHCN, trên cơ sở “học tập, lao động, chiến đấu theo gương đạo đức của bác Hồ vĩ đại”

Chính các cháu thuộc thế hệ “quàng khăn đỏ”, đạt danh hiệu “Cháu Ngoan Bác Hồ”, đã từng sinh hoạt trong đội, đoàn để rèn luyện lý tưởng Cộng sản.

Thế là cả một phong trào vùng lên làm cuộc” cách mạng đổi đời”. Cuộc đổi đời lần thứ nhất đưa đến cảnh đồng bào cả nước ăn bo bo dài dài, cuộc đổi đời lần nầy, với hàng trăm ngàn cháu ngoan của bác, đã nhận chìm nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam, con cháu Bà Trưng, bà Triệu, xuống tận bùn đen dưới chân của những thằng bần cố nông Đài Loan, Đại Hàn.

Đó là hình ảnh của từng đợt, hàng hàng lớp lớp, thiếu nữ VN, hàng chục, hàng trăm người trần truồng như nhộng, xếp hàng phô trương thân thể để cho mấy thằng mạt rệp Đài Loan, Đại Hàn sờ mó, ngắm nghía, móc ngoặt để chọn vợ như người ta lựa mua món đồ chơi hay mua nô lệ của những thế kỷ trước.

Văn hoá truyền thống ngàn năm của dân tộc là “nghèo cho sạch, rách cho thơm” thế mà thời đại Hồ Chí Minh chả còn cái gì là sạch, là thơm cả.

Cũng chả trách được ai, vì chính bác đã chà đạp nhân phẩm phụ nữ, xem phụ nữ như một món đồ chơi để giải quyết sinh lý, chơi chán rồi chuyền xuống cho đàn em hưởng xái nhì, trước khi đem thủ tiêu để chọn món đồ chơi khác. Con rơi, con rớt cả đàn, thì còn trách được ai nữa?

2* Hôn nhân dị tính không có gì đáng trách cả

Hôn nhân phải được đặt trên cơ sở tình yêu, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và có mục đich chung là xây dựng hạnh phúc gia đình. Bất cứ người Việt Nam nào, nam hay nữ, kết hôn với người khác chủng tộc như Đài Loan, Đại Hàn, Trung Quốc, Mả Lai … nếu đặt trên cơ sở nầy, thì không có gì đáng phiền trách cả.

Những người đàn ông Đài Loan, Đại Hàn đa số là nông dân, ít học, quá lứa, nghèo rớt mồng tơi…không có khả năng cưới vợ bản xứ, cho nên đi tìm đến thị trường rẻ tiền, ế hàng để làm vua, làm chúa, làm ông trời con, đối với phụ nữ VN. Điều nầy, tự bản chất của nó, đã hạ danh dự và nhân phẩm của phụ nữ VN, một thứ đồ chơi rẻ tiền. Thanh niên VN phải bưng khai trầu rượu, cung kính dâng lên cha mẹ vợ để xin cưới con gái, trái lại, mấy thằng nông dân Đài Loan, Hàn quốc chỉ tung ra vài ba triệu đồng VN để mua vợ. Cha mẹ vợ và chàng rể chưa được gặp mặt nhau lần nào trước khi đám cưới. Ngay cả vợ cũng chưa có đủ thời gian để nhớ rõ mặt mũi chồng ra sao, trong đầu óc chỉ biết đến những con số về tiền bạc mà thôi.

Cái nhục nhã nhất chưa từng có trong lịch sử VN bốn ngàn năm, là việc các cô gái trần truồng đứng xếp hàng với hy vọng được chấm, và được về làm dâu xứ người.

3* Những lý do đổ vở
Lý do thứ nhất là sự thất vọng.
Những đàn ông nước ngoài được các tổ chức và các ông mai bà mối giới thiệu hàng, nào là gái VN có thân hình đẹp, siêng năng, chịu khó, chiều chồng hết mực…Những thiếu nữ VN thì được cho biết là, chú rể là chủ nông trại, chủ đồn điền, các bà vợ chỉ ở nhà xem phim Hàn quốc, làm đẹp, mỗi tháng chồng cho 300 đô gởi về VN, tha hồ mà mua sắm quần áo hàng hiệu…
Thực tế thì trái lại, làm thất vọng cả hai bên. Giấc mơ đổi đời tiêu tan theo mây khói. Chàng rể thì nợ vay cưới vợ không trả nổi. Ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán khác nhau thì làm sao mà hiểu nhau để hợp nhau mà tạo dựng hạnh phúc gia đình.
Ở không được, về VN không được, cho nên bi kịch xảy ra.
4* Đài Loan khó, Hàn Quốc dễ
4.1. Đài Loan khó
Theo số liệu của Đài Loan, thì từ thập niên 1990 đã có 100,000 cô dâu VN. Đến năm 2004, chính phủ Đài Loan thắt chặt dịch vụ môi giới, sau những loạt các ông chồng đánh đập, tra tấn và cầm tù các người vợ VN. Quy chế mới bắt buộc những cặp Đài – Việt phải trình diện khi đăng ký kết hôn và phải trải qua các vòng kiểm tra về ngôn ngữ, hiểu biết văn hoá, hiểu biết nhau, về chênh lệch tuổi tác và tình trạng sức khỏe.
4.2. Hàn quốc dễ hơn
Cùng lúc đó, chính sách hôn nhân của Hàn quốc đã mở ra nhiều cơ hội tìm vợ cho đàn ông nông thôn hoặc những người quá lứa, cao tuổi, mà không có khả năng cưới vợ người Hàn quốc. Nắm lấy cơ hội nầy, những tổ chức và cá nhân làm nghề môi giới VN đã chuyển sang thị trường Hàn quốc.
Từ năm 2004 đến 2006, số cặp hôn nhân của năm sau tăng gấp đôi năm trước. Cao điểm vào năm 2006, với 10,130 cặp Hàn-Việt kết hôn.
Các cô gái VN chỉ cần biết OK bằng cách gật đầu là xong ngay. Đương nhiên là phải có thông dịch viên để bàn các chi tiết của đám cưới, chủ yếu là về tiền bạc.
Trước kia, Đài Loan yêu cầu các cô gái phải còn trinh, nhưng đàn ông Đại Hàn thì không quan tâm nhiều đến cái ngàn vàng ấy.
Vì không chú trọng đến chữ trinh, cho nên nhiều người vợ trẻ VN đã bỏ chồng đi làm dâu xứ củ sâm.
Thường thì báo chí chỉ đăng những vụ bố ráp bắt những tổ chức môi giới bất hợp pháp và một vài trường hợp hy hữu về những thảm cảnh của cô dâu VN ở xứ người, vì thế làn sóng gái Việt mơ có chồng Đại Hàn vẫn tiếp tục gia tăng. Hàn quốc hiện có 137,000 cô dâu người nước ngoài.

 

 

 

 

 

 

 

Lớp học ngôn ngữ và nấu thức ăn của người Đại Hàn

5* Bi kịch ở Đài Loan
5.1. Vợ Việt bị hành hạ dã man

Xem mắt, sờ mó. kiểm tra hôm trước, đám cưới hôm sau. Cha mẹ vợ chưa một lần gặp mặt và biết tên chú rể. Thân gái 12 bến nước, toàn là bến dơ.
Theo bản tin của tờ báo Quả Táo, Đài Loan và tờ Newspaper (Singapore) thì ở Đài Loan đang xảy ra một vụ án gây phẩn nộ, mà nạn nhân bị hành hạ, đoạ đày còn khổ hơn 12 kiểu khổ hình tra tấn dã man của thời đại các bạo chúa ngày xưa.
Nạn nhân là một cô dâu VN tên Đoàn Nhật Linh, 20 tuổi.
Vào tháng 4 năm 2002, cô Linh theo chồng là Liu Cheng Chi (Lưu Chánh Kỳ) 39 tuổi, về Đài Loan với gương mặt tươi cười rạng rỡ vì gia đình được nở mặt nở mày với bà con, láng giềng. Chú rể không những có nhiều tiền mà còn bảnh trai nữa.
Cô không biết rằng chuyến đi định mệnh đó bắt đầu cho một cuộc sống tủi nhục và đau khổ của đời cô.
Thực tế thì, chồng của Nhật Linh vẫn còn sống chung với người vợ cũ tên là Lin Lee Zhu (Lâm Lệ Như) 34 tuổi. Lưu Chánh Kỳ và Lâm Lệ Như đã có một đứa con gái, nhưng vì Lệ Như không có thể sinh con được nữa, mà Chánh Kỳ thì muốn có đứa con trai để nối dõi tông đường, cặp vợ chồng nầy thực hiện một cuộc ly hôn giả, để Chánh Kỳ sang VN cưới vợ về, hy vọng sẽ có con trai và có người giúp việc không công.  Hàng đêm, Lưu cùng 2 vợ ngủ chung một giường. Ban ngày, Nhật Linh phải làm việc như một Osin để phục vụ cho cả nhà. Đêm thì, Linh bị vợ chồng Lưu cưỡng bách chơi trò dâm loạn ba người trên cùng một giường.
Ba tháng sau, vợ chồng Lưu bắt đầu hành hạ Nhật Linh bằng các cực hình.
Tất cả giấy tờ của Nhật Linh, từ hộ chiếu đến giấy cư trú bị Lưu cất giữ và cấm không cho liên lạc với bất cứ ai. Bị giam trong phòng, mỗi ngày một bữa ăn và một lần đi vệ sinh.
Vì ăn chơi trác táng, Lưu bị nhiễm trùng đường tiểu, hắn nghi ngờ Nhật Linh lây bịnh cho hắn, nên vợ chồng thẳng tay dùng các hình thức tra tấn dã man, cưỡng bức Nhật Linh phải ký giấy thú nhận đã từng làm gái mãi dâm, đã bị bịnh và đã truyền bịnh cho hắn.
Linh thường bị trói, bị lấy kim đâm vào 10 đầu ngón tay, rồi nhúng những ngón tay rỉ máu vào nước muối. Hắn còn dùng gậy đánh đập dã man, dùng dao chém vào lưng, rạch thành những vết thương ngang dọc. Thậm chí, còn bắt cô nhắm mắt rồi lấy ná thun bắn vào mắt.  Suốt 7 tháng liên tục bị hành hạ, từ một cô gái thanh xuân tràn đầy sức sống, cô gầy gộc chỉ còn da bọc xương, từ 48 kg còn 20 Kg.
Tháng 2 năm 2003, Nhật Linh không còn đi đứng nổi, trên người đầy vết thương rướm máu, vợ chồng Lưu Chánh Kỳ sợ Linh chết, cả hai khiêng cô lên xe, chở đến một bãi vắng, thuộc khu nhà máy phát điện ở Đài Trung (Đài Loan) rồi vất cô xuống.
Sức tàn lực kiệt, nhưng bản năng sinh tồn và những uất hận dồn nén, cô lê lết đến một quán ăn gần đó để xin ăn.  Cảnh sát được báo tin, đưa Linh vào bịnh viện cấp cứu.  Sau một năm điều trị và chăm sóc đặc biệt, Nhật Linh đã bình phục.  Nhật Linh thuật lại:
“Sau 7 ngày liên tục, em bị bỏ đói, đến 11 giờ trưa hôm đó, ông ta lấy kéo xởn tóc em, sau đó lôi em lên xe, chở đến một cánh đồng vắng, bỏ em xuống và đưa em một chai thuốc và nói “Uống để chết nhanh, không đau”, rồi hắn hái lá cây cho em ăn. Khoảng hai giờ sau, ông ta quay lại, thấy em nằm im, tưởng em đã chết. Ông ấy lấy lá cây xoá dấu bánh xe rồi bỏ đi.
Em lết đến một quán ăn gần đó, xin cơm của một người phụ nữ rửa chén. Bà ấy cho em một vắt mì, 2 trái quít một lon coca và một cái áo khoát vào người. Em ngồi ăn ngoài đường, khách qua lại tưởng là người ăn xin, họ cho em tất cả 50 đồng Đài Loan. Và em ngất xỉu. Khi tĩnh dậy thì mới biết đang ở bịnh viện.  Trước cơ quan điều tra, vợ chồng Lưu Chánh Kỳ phủ nhận hoàn toàn những hành vi phạm tội, mà còn giả bịnh tâm thần để chạy tội.  Công tố viện đã khởi tố Lưu Chánh Kỳ và Lâm Lệ Như về tội “ngược đãi người khác như nô lệ” với bản án 7 năm tù.
Bà Võ Thị Nguyên, mẹ của Nhật Linh, đang sống ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng nói:”Tôi hối hận lắm. Con đang học lớp 9, bắt con nghỉ học để lấy chồng ngoại, tưởng vậy là thương con, nào ngờ, mẹ đã hại con. Ngày cưới, tôi thấy trong giấy, chú rể ghi tiền cưới là 10 triệu, nhưng trong phong bì chỉ còn có 4.4 triệu, trả tiền thuê xe, thì chỉ còn 4 triệu”.  Rốt cuộc, cũng chỉ vì tiền.
5.2. Giết vợ Việt để lãnh tiền bảo hiểm
Ngày 27-5-2007, toà án Đài Loan đã kêu án tù chung thân Lý Thái An đã cấu kết với em trai là Lý Song Toàn, giết người vợ VN là Trần Thị Hồng Sâm để lấy tiền bảo hiểm nhân mạng.
Tóm tắt sự việc:  Lý Thái An đã mua bảo hiểm nhân mạng cho vợ VN là Trần Thị Hồng Sâm với giá là
75 triệu tệ Đài Loan (Hơn 2 triệu đôla Mỹ).  Thái An dàn cảnh đưa vợ đi bằng đường xe lửa và cho em trai là Lý Song Toàn phá hoại làm cho xe lửa bị trật đường rầy, gây ra tai nạn.
Hồng Sâm được đưa vào bịnh viện Fan Liao vì bị thương nhẹ. Tại bịnh viện, Lý Song Toàn đã bí mật chích một loại nọc rắn độc làm cho Hồng Sâm bị xuất huyết nội và tử vong.
Dựa vào lời khai của y tá, vào những báo cáo của 4 viện Đại học y khoa, của bác sĩ giảo nghiệm tử thi chuyên môn đã kết luận là Trần Thị Hồng Sâm chết vì chất độc chớ không phải do tai nạn gây ra.
Y tá khai rằng Lý Song Toàn cứ lãng vãng bên cạnh bà Hồng Sâm, mặc dù y tá đã yêu cầu anh ta đi ra ngoài. Một nhân chứng là Huang Fu Lai, khai rằng Lý Thái An đã sửa soạn âm mưu từ 6 tháng trước và đã rủ ông tham gia để chia tiền, nhưng ông từ chối.
Sau đó, Huang Fu Lai bị kết án 4 năm tù treo.  Lý Song Toàn đã tự tử một nghày sau khi bị truy tố chủ mưu giết người.  Người vợ đầu tiên của Lý Thái An cũng là cô dâu Việt Nam đã chết một cách mờ ám. Trần Thị Hồng Sâm là vợ thứ ba.
5.3. Bị điên vì lấy chồng Đài Loan
Bẳng đi 2 năm không liện lạc, ngày nọ, gia đình chồng dẫn cô dâu về VN trả lại cho nhà gái. Từ một cô gái xinh đẹp, Hà biến thành một người xấu xí, già nua, không nói với ai một lời, cô co rúm vào một góc phòng nét sợ hải hiện trên nét mặt.
Ở làng quê, xã Trung Nhất, huyện Thốt Nốt, Cần Thơ, Hà được xem là cô gái may mắn hơn những cô khác, là Hà được có tấm chồng ở Đài Bắc, thương vợ hết mực, có cơ nghiệp ổn định.
Hà được đưa vào bịnh viện tâm thần Cần Thơ. Ở bịnh viện nầy, có không ít những cô dâu có chồng ngoại cũng bị tâm thần như Hà. Trong đó, có cô dâu tên Màu.
Bà mẹ Màu còn nhớ rõ, sau một đám cưới tập thể được tổ chức gấp rút ở Sài Gòn, người môi giới đưa cho bà 1 triệu đồng là tiền của gia đình chú rể, sau khi trừ đi các chi phí.  21 ngày sau, bà nhận được điện thoại bảo lên sân bay Tân Sơn Nhất đón con.  Lúc tĩnh táo, Màu còn nhớ, chồng lớn hơn cô 20 tuổi, làm nghề gì không biết mà ra đi từ sáng sớm, tối mịt mới về nhà.
Màu ở chung với mẹ chồng và người anh chồng làm nghề ăn xin, mình đầy ghẻ lở. Mỗi bữa ăn, mẹ chồng buộc cô phải uống một thứ thuốc gì màu đen, mùi hăng hắc. Cô không uống thì bị một trận đòn chí tử.
Người vợ cũng không thấy rõ mặt chồng mình. Cô bị nhốt suốt ngày trong phòng. Màu sống 21 ngày như thế và đâm ra hoảng loạn, phát điên.
Gia đình trở nên nghèo túng hơn kể từ khi Màu trở về. Mỗi tháng phải mua 300,000 tiền thuốc cho Màu.
Năm 2003, tưởng rằng con gái hết bịnh, gia đình tháo dây xích buộc chân cô. Một đêm, cô bỏ đi, bảo là lên Cần Thơ làm ăn. Sau đó, người nhà tìm thấy Màu đi lạc ở Đồng Tháp.  8 tháng sau, Màu sanh ra một đứa con không cha. Gia đình đã nghèo mà còn bị rách nát hơn. Đó là hậu quả của một cuộc đổi đời. Biết trách ai đây?
Một ông Đài Loan cưới 2 vợ VN trong 4 ngày.
Hồi tháng tư năm 2004, một người Đài Loan tên Lin Ming Wei nhập cảnh VN với lý do du lịch. Nhưng sau đó, ông nhờ người mai mối tên Huỳnh Thị Nga, trong vòng 4 ngày đã nhanh chóng làm lễ cưới không hôn thú với 2 cô gái VN, cả hai đều 21 tuổi ở huyện Phong Điền, Cần Thơ.
Bị phát hiện, ông Lin Ming Wei bị phạt 10 triệu đồng vì lý do có hành động không đúng với mục đich nhập cảnh.
Câu chuyện gái Việt lấy chồng ngoại kể hoài không hết được.  Không hiểu phụ nữ VN ở thế hệ nầy nghĩ gì về hôn nhân?  Không hiểu các bậc cha mẹ ở thời đại nầy nghĩ sao về hạnh phúc của con gái?
Đạo đức VN đã đến thời kỳ thật sự bị phá sản!
6* Bi kịch ở Hàn Quốc
6.1. Cái chết của Thạch Thị Hoàng Ngọc

Cô dâu Việt Nam Thạch Thị Hoàng Ngọc (xấu số) và chồng người Đại Hàn Yang Du Hyo.

Chuyện cô gái Việt lấy chồng ngoại không có gì lạ. Chuyện cô dâu Việt bị hành hạ cũng không có gì lạ vì nó xảy ra hà rầm như cơm bữa.
Chuyện lạ ở đây là câu chuyện thương tâm của một cô gái Việt mới 20 tuổi.
Cuộc mặc cả xảy ra trong 30 phút và sau đó là cuộc hôn nhân vội vã mà hai bên chưa kịp nhớ rõ mặt nhau, bất chấp quá khứ và hiện tại, cho dù người chồng bị khuyết tật hay bịnh tâm thần cũng mặc.
Ngày 9-7-2010, cô dâu VN tên Thạch Thị Hoàng Ngọc, chỉ sau một tuần đặt chân trên đất nhà chồng ở xứ Củ Sâm, thì một tin buồn bay đến tận vùng quê hẻo lánh thuộc huyện Cờ Đỏ, Cần Thơ, tin buồn làm cho gia đình và chòm xóm đều bàng hoàng không ít. Dân chúng huyện Cờ Đỏ xôn xao trước cái chết của người con gái trẻ và ngoan hiền.
Ông Thạch Sang cho biết, Ngọc là đứa con hiếu thảo, vì gia đình quá nghèo nên phải bấm bụng cho con đi, mong cho con được hạnh phúc.
Chị của Ngọc thì lấy chồng Đài Loan, em út thì đang làm thủ tục dể đi lấy chồng Đài.
Trước khi cưới, chú rể có đưa 3.8 triệu, nhưng trừ các chi phí chỉ còn 1.8 triệu. Và sau đó, chú rể Jang Du Hyo có đưa thêm 500 đô la Mỹ.
Tờ Korea Times đưa tin là sở cảnh sát cho biết một phụ nữ VN được tìm thấy đã chết trong nhà chồng vào ngày 8-7-2010.
Cô Thạch Thị Hoàng Ngọc đến Đại Hàn vào ngày 1-7-2010, không biết tiếng Hàn, cũng không biết ông chồng có tiền sử bịnh tâm thần. 5 ngày trước khi đi VN để đón cô dâu, thì Jang đã phải vào bịnh viện. 5 năm trước, Jang đã tấn công cha mẹ mình. Jang đã vào bịnh viện 57 lần để điều trị bịnh tâm thần phân liệt của mình.
Cái chết của cô Thạch Thị Hoàng Ngọc đã dấy lên nhiều nguồn dư luận khác nhau ở Hàn Quốc.
Khi ông bà Thạch Sang đến Hàn Quốc, thì một nghị sĩ là ông Han Sun Kyo đã cùng ông bà đưa xác cô Hoàng Ngọc về quê an táng.
Hội những người Hàn ở Sài Gòn quyên góp được số tiền 20,000 đô la để giúp đở gia đình nạn nhân.
Tờ Chosun Ilbo cho biết là gia đình cô Hoàng Ngọc được bồi thường 25,000 đô la.
Tổng thống Lee Myung-bak đã đích thân xin lỗi gia đình nạn nhân trong bài phát biểu trên đài phát thanh quốc gia.
Toà án Busan đã kết án 12 năm tù cho chú rể Jang Du Hyo. 3 người môi giới bị phạt một năm tù giam.
Sau đó, Đại Hàn đã ban hành những luật lệ mới về việc hôn nhân với người ngoại quốc.
6.2. Cái chết của cô dâu Kim Đồng
Ông Phạm Hữu Chí, tham tán ngoại giao ở Hàn quốc cho biết, thi thể của cô Lê Thị Kim Đồng đã được hoả táng.  Không có bằng chứng pháp lý để truy cứu hình sự. Và toà Đại sứ VN ở Hàn Quốc yêu cầu cảnh sát mở cuộc điều tra. Ngày giờ đưa tro cốt về VN chưa được xác định. Hội Hàn Kiều cũng đã chuyển số tiền 88 triệu đồng VN quyên góp cho gia đình cô Kim Đồng ở Cần Thơ. Cô Kim Đồng thiệt mạng sau một cuộc tẩu thoát ra khỏi nhà chồng không thành.


 Người dân giơ các tấm biển lên án vụ cô dâu Việt bị chồng Hàn tâm thần sát hại, trước cửa Ủy ban Nhân quyền quốc gia ở Seoul, hôm 20/7. Ảnh: Yonhap.

6.3. Cái chết của cô dâu Huỳnh Mai.
Ngày 15-8-2007, cô Huỳnh Mai, 20 tuổi, đã bị chồng Đại Hàn đánh gảy 18 cái xương sườn, bỏ chết dưới hầm nhà chồng, đã làn chấn động dư luận ở Hàn quốc và cả thế giới nữa.
Lễ trao hài cốt diễn ra tại Sài Gòn. Số tiền quyên góp ủng hộ gia đình Huỳnh Mai gồm 5,000 đô la của tổ chức Thiện Nguyện Nam Hàn, 500 đôla của các cô dâu Việt thương cảm người bạn xấu số. Hội Hàn Kiều ủng hộ 77 triệu đồng VN
Đại diện hội Hàn Kiều cho biết, một dự án xây Nhà Văn Hoá Đại Hàn để phục vụ các cô dâu lấy chồng Hàn, sẽ tập trung một tháng để đào tạo kiến thức về văn hoá xã hội, phong tục tập quán Hàn quốc trước khi về nhà chồng.
Cũng được biết là người chồng của Hỳnh Mai đã bị bắt và sẽ đưa ra toà, mà mức án giết người cao nhất là tù chung thân.
6.4. Cô dâu nhảy lầu tự tử
Trần Thị Lan, 22 tuổi, quê ở quận Cái Răng, Cần Thơ. Làm đám cưới với Ha Jang Su, 36 tuổi. Lên máy bay về nhà chồng ngày 11-2-2008.
Lan ở nhà chồng chưa đầy một tháng. Cô đã nhảy từ từng lầu thứ 14 tự tử, đúng vào buổi chiều 30 Tết. Nhà gái có nhận 2 triệu trong ngày cưới.
7* Tâm sự của một cô dâu Hàn Quốc

Ngày 8-12-2010
“Tôi là một trong 40,000 cô dâu Việt trên xứ Hàn.
Dù trong hay ngoài nước, chúng tôi cũng bị báo chí và dư luận lên án “Ô nhục”, “Món hàng mất giá” khinh rẻ, là những từ ngữ thuờng dùng để nói về chúng tôi.
Tôi và nhiều cô dâu khác, không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng chúng tôi cũng còn khá hơn những chàng trai trong làng. Tôi rất sợ hãi khi nghĩ đến mình sẽ về sống chung với những thanh niên ít học, rượu chè, cờ bạc, thô lỗ người VN…Tôi cũng không muốn gia đình tôi, với thanh niên trong làng, mãi mãi là một túp lều mà cả đời lao động cũng không có thể làm cho nó khang trang hơn được.  Ai sẽ cứu vớt chúng tôi?  Lấy chồng Hàn quốc, tôi ngộ ra nhiều điều.  Dù cách thức đi đến hôn nhân không tốt, nhưng trong thâm tâm của người chồng, người vợ đều mong muốn được yêu thương.
Trước khi được chấm, chúng tôi bị nhìn ngắm, thậm chí còn bị sờ mó như một món hàng.
Tôi có quyền nghĩ đây là cơ thể của tôi, tôi nhịn nhục để được thay đổi cuộc đời. Nhưng trái lại, nhiều người cứ tưởng rằng cơ thể của tôi thuộc về sở hữu của toàn thể dân tộc VN vậy. Thế nên, họ đùng đùng nổi giận khi cơ thể của tôi bị người khác dòm ngó, chọn lựa.
Thế nhưng, nếu như khi cuộc đời của tôi bị vùi dập bởi thanh niên đồng hương  (rượu chè, cờ bạc, thô lỗ) thì mọi người xem đó là chuyện bình thường.
Tôi nghĩ rằng chỉ có 10% cô dâu gặp khó khăn và chừng 200 trường hợp nguy hiểm trong tổng số 150,000 lấy chồng Hàn Quốc hay Đài Loan.
Người Hàn quốc hay Đài Loan không kỳ thị chúng tôi, con cái được no ấm, học hành và có tương lai tươi sáng. Đặc biệt là chúng tôi được sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được”. (Trần Thị Nguyên)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

8* Những vụ tìm chồng vẫn tiếp diễn
Trong năm 2009, đã có 7,249 đám cưới Hàn-Việt xảy ra tại VN. Các cô gái vẫn chưa từ bỏ cái mộng làm dâu xứ Kim chi.
Ngày 19-7-2008
Tại khách sạn Diệu Quyên, Phường 9 quận Gò Vấp, 120 cô gái VN xếp hàng cho 7 hoàng tử Đại Hàn chọn vợ.
Ngày 8-12-2008
Ở Quận 8 Sàigòn, 161 thiếu nữ và 7 đàn ông Đại Hàn bị cảnh sát ập vào bắt tại trận khi các cô đang mặc thời trang của bà Evà.
Ngày 12-2-2009
Tại một ngôi nhà ở quận Bình Chánh, 35 cô gái đang chào hàng cho một ông khách Nam Hàn tên Lee Won Ju, 38 tuổi chọn vợ.
Ngày 7-7-2009
51 cô gái Việt đang được ông tơ bà nguyệt xe duyên cho các hoàng tử Nam Hàn, tại căn nhà số 479/21/11 Hương Lộ 2 Phường Bình Trị Đông, quận Tân Bình thì bị bắt. Những cô gái được tái giáo dục rồi trả về địa phương.
Ngày 26-8-2010
Tại khách sạn Tân Bình, 17 cô gái từ 18 đến 30 đang trình diễn cho các chú Củ Sâm chọn vợ.

9* Thị trường Serbia
Ngày 8-9-2008, ông Zeljko Vasiljevic, bộ trưởng Xã Hội Serbia thông báo là hiện nay đang có 250,000 thanh niên độc thân tại các ngôi làng vùng quê xa xôi hẻo lánh, họ là những nông dân nghèo, ít học, đang có nhu cầu cưới vợ. Chính phủ đang tìm sức sống cho những vùng quê xa xôi nầy. Ông muốn tìm vợ cho họ ở Cam Bốt và VN, bởi vì phụ nữ ở 2 nước nầy biết làm ruộng.
Các ông tơ bà nguyệt VN đang ngắm nghía thị trường nầy.
10* Kết luận
Ai đã gây ra những thảm cảnh thương đau nầy cho những cô gái trẻ Việt Nam?
Chính là Việt Cộng!.
Trước hết, chương trình xuất khẩu cô dâu nầy do đảng và nhà nước CSVN thực hiện để giải quyết nạn thất nghiệp, để xoá đói giảm nghèo.
Kế đến là nhà nước đã tạo ra cái hố khoảng cách giàu nghèo quá to lớn, đưa nông dân đến tình trạng te tua rách nát, nghèo đói. Bần cùng sanh đạo tặc.
Sau cùng là chế độ nầy đã làm cho đạo đức dân tộc bị suy đồi đến cùng cực, băng hoại và phá sản.
Đó là sự thất bại của chế độ giáo dục, nói rộng ra là thất bại của “sự nghiệp xây dựng CNXH”. Bởi vì, muốn có CNXH, thì phải có con người XHCN. Đó là những người làm chủ tập thể, mình vì mọi người, mọi người vì mình. Khắc phục khó khăn, phát huy sang kiến, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, nhưng ngoài Trung Cộng ra.
Các cháu bác Hồ phải học tập, lao đông, chiến đấu, noi theo gương đạo đức của bác.
Chiến đấu của các cháu ngoan luôn luôn ở vị thế bại trận, là bao giờ cũng nằm dưới mấy thằng bần cố nông ngoại bang. Hơn nữa, theo gương đạo đức của bác thì tiêu tùng, cháy túi.
Lời tâm sự của một cô dâu ngoại “Chúng tôi đang sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được” (Trần Thị Nguyên)
Một chứng minh cụ thể là các Cháu Ngoan bác Hồ đã được giáo dục, tào tạo dưới mái trường XHCN, trau dồi lý tưởng Cộng sản, thế mà còn phô trương thân thể để chạy thoát ra khỏi chế độ, dù phải chịu nhục nhã, một liều, ba bảy cũng liều, thân gái 12 bến nước toàn là bến dơ.
Trúc Giang

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

 

   The

 

Links:

Chính Luận


“Back To The Future” – Đào Nương

 Anh rót cho khéo nhé

Kẻo trúng nhằm nhà tôi

Nhà tôi ở cuối thôn Đoài

Có giàn thiên lý có người tôi thương.(thơ Yên Thao)

Bài đọc suy gẫm:  “Back To The Future” hay Việt Nam Cộng Hòa, biết mới tiếc của tác giả Đào Nương, báo Sài Gòn Nhỏ.

Hình ảnh minh họa: Lễ khai mạc Đại Nhạc Hội Thương Binh – “Cám Ơn Anh” kỳ 6, do các hội đoàn phối hợp tổ chức trong ngày Chủ Nhật 12, tháng 8 năm 2012 tại trường trung học Bolsa Grande, Little Sài Gòn, Nam California – Hoa Kỳ.



VNCH, biết mới tiếc…

Đào Nương

Sau 36 năm Miền Nam rơi vào tay cộng sản, ngày nay không chỉ những người sinh sống tại Miền Nam Việt Nam trước đây, không công nhận lá cờ đỏ sao vàng của đảng cộng sản Việt Nam mà ngay cả những người trong nước cũng không tôn trọng lá cờ này mặc dù đó là lá cờ đang tung bay khắp lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Người Việt hải ngoại tôn trọng lá cờ vàng ba sọc đỏ, không chỉ thuần túy vì đó là lá cờ của Việt Nam Cộng Hoa, của chính phủ Miền Nam Việt Nam mà vì đó là một biểu tượng cho một quốc gia mà đáng lẽ dân tộc Việt Nam phải có, một chính phủ tự do dân chủ, một nền kinh tế thịnh vượng, một xã hội công bằng bác ái mà lá cờ đỏ và cái chính phủ Việt gian cộng sản ngày nay tại Hà Nội sau 36 năm làm chủ đất nước đã chứng minh những điều ngược lại.

Dĩ nhiên, lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ mà những người sinh sống tại Miền Bắc không quen mắt, không chấp nhận dù họ có thù ghét chế độ cộng sản mà họ đang sinh sống đến tận xương tủy. Người ta không thể chấp nhận một biểu tượng mà người ta không biết, không hiểu, không có những kỷ niệm đẹp, không hy sinh xương máu để bảo vệ nó. Nhất là khi chỉ một sớm, một chiều, những người Việt Nam không chấp nhận Cộng Sản đã mang theo lá cờ vàng trên đường lưu vong, dù phải trải qua những nơi địa ngục trần gian là những nhà tù của cộng sản, và đã phải để lại sau lưng quê hương yêu dấu, mảnh vườn nhỏ, mái nhà ấm cúng, con sông hiền hoà, sau khi đã được chứng kiến chủ nghĩa xã hội cộng sản tiêu biểu cho văn hoá, đạo đức, luân lý Việt Nam phân hoá dần dần trước mắt. Việt Nam Cộng Hoà mặc dù là một xã hội chưa hoàn bị nhưng đã hình thành được mọi cơ cấu của một xã hội văn minh, công bình và dân chủ. Người Việt sống tại Miền Bắc đói khổ, đã phải hy sinh mọi thứ cho nhu cầu chiến tranh theo sự tuyên truyền của cộng sản nên có thể nói hầu hết đều không biết gì về Việt Nam Cộng Hoà.

Việt Nam Cộng Hòa không phải là Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ… mà là xã hội Miền Nam Việt Nam xây dựng trên căn bản  giáo dục. Đó là những cô bé, cậu bé đến trường mỗi buổi sáng, mặc đồng phục với nét mặt tinh anh trong sáng của tuổi thơ. Đó là những cô nữ sinh áo trắng dễ thương và ngoan ngoãn, thuần hậu trong gia đình. Đó là những thầy, cô giáo sống và hãnh diện với thiên chức của một bậc thầy và được mọi người trong xã hội kính trọng. Trước 1975 Việt Nam Cộng Hoà đã đào tạo nhiều chuyên viên với tiêu chuẩn quốc tế, văn bằng của VNCH được chính phủ Hoa Kỳ, Pháp và nhiều quốc gia khác công nhận tương đương hoặc gần tương đương. Nghề thầy do đó không phải là một thứ… “chuột chạy cùng đường mới vào sư phạm” như ngày nay. Nhưng trong ký ức của tuổi trẻ miền Nam Việt Nam thì Việt Nam Cộng Hoà là những con đường ngợp bóng lá me, các nam sinh đi theo nữ sinh mỗi khi tan học nhưng không dám có một cử chỉ sàm sỡ, một lời nói vô lễ. Phải nhắc đến điều này vì những kỷ niệm đẹp của thời thiếu niên thường ghi sâu trong ký ức người ta suốt đời:

Lời ru nào níu được

Lúc những cánh me xanh

Bay mềm con lộ nhớ

Em sau khung cửa đạn soi

Sách ngăn tầm mắt đời ngoài lộ cao

Khi không lòng bỗng dạt dào

Sông tôi cạn nước nguồn nào bỗng đi

(Bài cho người trong vườn dược thảo, thơ Du Tử Lê)

 

Cuộc chiến càng thảm khốc thì lại có biết bao thanh niên theo tiếng gọi của núi sông lên đường nhập ngũ để bảo vệ một hậu phương bình yên trong đó có cha, có mẹ, có anh, có em, có cái gia đình nhỏ bé của mình. Đó là lý tưởng. Đó là những chàng trai anh hùng của thế hệ. Hàng trăm ngàn bài hát, bài thơ đã được viết ra trong giai đoạn này và cho đến nay vẫn còn là nguồn cảm hứng bất tận cho toàn nước Việt Nam thống nhất. Nó chính là “nhạc vàng” của văn hoá Việt:

Anh rót cho khéo nhé

Kẻo trúng nhằm nhà tôi

Nhà tôi ở cuối thôn Đoài

Có giàn thiên lý có người tôi thương. (Thơ Yên Thao)

Hay

Năm năm rồi đi biệt

Đường xưa chưa lối về

Thương người em năm cũ

Thương goá phụ bên song (Thơ Phạm Văn Bình)

 

Hình ảnh của những tân sinh viên sĩ quan trong quân phục đại lễ ngày tốt nghiệp ở Đà Lạt, ở Nha Trang, ở Thủ Đức là những hình ảnh tinh anh của dân tộc Việt, không phải là hình ảnh của “nợ máu với nhân dân” sau ngày 1975 đâu. Họ đã chọn binh nghiệp để bảo vệ từng tấc đất của quê hương đang bị dày xéo vì bom đạn gây ra bởi bọn lãnh tụ cộng sản vô thần. Bây giờ sau 36 năm nhìn lại, nhìn thế hệ thanh niên tan rã mệt mỏi, tương lai không lối thoát của Việt Nam thời cộng sản mà thương cho họ không biết là bao nhiêu. Thương tuổi thơ của những người không lý tưởng, chỉ nắm “cái đuôi của đảng cộng sản Việt Nam” mà nhìn ra thế giới bên ngoài và trở thành một thế hệ “vô cảm” đến rợn người. Đời sống chỉ còn là sự tranh đua để đạt được điạ vị trong đảng vì quyền đi với tiền. Bằng được mua bằng tiền chứ không cần học để có kiến thức. Trong một quốc gia nghèo đói vào hàng nhất thế giới nhưng có hàng nửa triệu “tiến sĩ ma” làm trò cười cho thế giới.

Xã hội Việt Nam Cộng Hoà trước 1975 không phải là hoàn toàn trong sạch, không có bóng dáng của tham nhũng nhưng tham nhũng không phải là một chính sách để cai trị nước như đảng cộng sản Việt Nam ngày nay. Người dân Miền Nam sống hiền hoà trong tôn ti trật tự,  trong đời sống hàng ngày, họ không phải đối đầu với cảnh sát, công an. Không phải bất cứ khi nào có việc liên hệ với chính quyền thì phải trả tiền cho công an từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương. Khi vào bệnh viện, không có việc đút lót tiền thì mới có được giường nằm. Trẻ con học giỏi thì được xếp hạng cao, được cho đi du học dù là con nhà nghèo. Sĩ quan đánh trận oai hùng, gan dạ thì được thăng thưởng. Nhà cháy thì được cứu hỏa chữa cháy chứ không phải trả tiền mới được chữa cháy.

Về chính trị, Việt Nam Cộng Hoà là một nước dân chủ tự do thực sự mặc dù cũng có những  khuyết điểm. Trước 1975 tại Miền Nam Việt Nam, chính phủ công nhận đối lập, cho biểu tình chống đối tự do nên từ những năm 1965 đã có nhiều cuộc biểu tình chống Mỹ, chống Thiệu Kỳ, chống tham nhũng thoải mái của sinh viên học sinh, của nhân  dân. Có những ông giáo sư đại học nhận mình là thành phần thứ ba, theo chủ thuyết xã hội chứ không phải là chủ thuyết Mác Lê công khai ra báo, viết sách, viết luận án đại học lên án chính phủ, lên án chiến tranh, nhưng lại ve vãn cộng sản vì lý luận ấu trĩ rằng chính phủ Miền Nam bị Mỹ giựt dây, muốn chấm dứt chiến tranh thì phải nói chuyện với Hà Nội. Kinh tế thương mại tự do không bị chính phủ kiềm chế, về an ninh xã hội người dân được luật pháp bảo vệ, cảnh sát công an ức hiếp nhân dân bị truy tố ra trước pháp luật ngay.

Xã hội Miền Nam tự do tạo môi trường để tinh anh phát tiết trên mọi phương diện. Ngày nay, sau 36 năm nhìn lại, đảng cộng sản Việt Nam vẫn không biết rằng khi giam hãm, đầy đọa hàng triệu người sống ở Miền Nam có liên hệ với chính quyền đem nhốt vào ngục tù, họ đã hủy diệt đi hầu hết những nhân tài về mọi mặt của đất nước, những trí thức khoa bảng mà có thể vài trăm năm sau, Việt Nam chưa thể có lại. Miền Nam Việt Nam không chỉ “sản xuất” có hai “thiên tài” là Trịnh Công Sơn và Bùi Giáng đâu. Nhưng Việt cộng chỉ “chấp nhận’ có hai người này vì một anh thì trốn lính, sống hèn mọn trong sự che chở bao dung của chính phủ Miền Nam tôn trọng nghệ sĩ, còn người kia thì mang bệnh tâm thần. Cứ đếm lại số sách đã được xuất bản tại Miền Nam trong 20 năm từ 1954 đến 1975, từ khoa học đến chính trị, từ truyện ngắn, truyện dài, thơ văn đến âm nhạc rồi so sánh với 60 năm cộng sản CAI TRỊ Việt Nam thì sẽ hiểu.

Do đó, so với xã hội Việt Nam dưới thời Việt gian cộng sản thì xã hội Việt Nam Cộng Hoà là thiên đường, là con đường mà Việt Nam cần nhiều thập niên mới “back to the future” được. Những người Việt Nam sống tại Miền Nam trước 1975, biết rõ điều này. Lá cờ vàng và danh hiệu Việt Nam Cộng Hoà vì sao vẫn được họ sùng kính dù Việt Nam Cộng Hoà đã mất đi phần đất cuối cùng đã 36 năm.

*

Vì không được sống, không được trưởng thành, không được hoạt động chính trị, văn hoá hay sống đời quân ngũ của xã hội Miền Nam nên không có gì ngạc nhiên khi những người trí thức Cộng Sản thù ghét bọn cầm quyền cộng sản vì đã hất cẳng họ, đã đẩy họ ra khỏi nước, rồi vì  hậm hực nên suốt ngày ngồi viết những điều phản đối bọn cầm quyền cộng sản nhưng vẫn vinh danh bác Hồ và “kẻ cả” xem cộng đồng Người Việt hải ngoại là những kẻ bại trận, lá cờ vàng là vô nghĩa nên không muốn đoàn kết để lật đổ chế độ độc tài cộng sản mà họ là một thành phần cốt cán trước đây. Sống nơi xứ sở tự do này, chúng ta nên tôn trọng họ. Thái độ không muốn đứng chung trong hàng ngũ với Người Việt quốc gia cũng là một điều dễ hiểu: bối cảnh lịch sử do đảng cộng sản Việt Nam từ 60 năm qua đã chia dân tộc và đất nước Việt Nam ra thành nhiều khối: trí thức, công nhân, cộng sản, quốc gia, vv…vv… Điều khó hiểu là những người cán bộ đảng trung kiên bị thất sủng như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín, ông Vũ Thư Hiên thường viết bài dạy Người Việt quốc gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà chống cộng trong khi họ nhìn thấy trước mắt, cái đảng tạo ra họ, cho họ một vị thế, một tên tuổi, chính cái đảng đó đang làm tan rã đất nước và con người Việt Nam. Cái đảng bất nhân đó đang chia 85 triệu Người Việt ra làm hai khối: đại đa số quần chúng bình dân, không có phương tiện về an sinh xã hội, không có giáo dục, sống đời nô lệ phục vụ cho một thiểu số cán bộ tham ô mà ngôn ngữ Việt cộng gọi là “quan tham”. Cái đảng bất nhân đó đang đưa đất nước đến cái họa diệt vong trong tay Tàu Cộng.

 Nhóm hậu duệ trong màn hoạt cảnh “tấn công và truy lùng địch” đặc sắc được đồng bào hoan nghênh, cổ võ. 

Nhóm phóng viên chiến trường và các bloggers cũng chuẩn bị… tiến công 🙂

 

Sau 1975, Người Việt Quốc Gia, những công dân của Việt Nam Cộng Hoà vì thất thế nên chúng gọi là “ngụy”, đày ải quân dân cán chính trong rừng già để chết dần chết mòn, gia đình ly tán, con cái thất học, nên bằng mọi cách Người Việt Quốc Gia phải ra đi và bằng ý chí cương cường quật khởi cuả dân tộc Việt Nam, khối Người Việt Tự Do, những công dân cuả Việt Nam Cộng Hoà đã chọn thế giới làm lãnh thổ, phát triển tài lực và trí tuệ, ngăn chận được sự tuyên truyền và bành trướng của bọn Việt gian cộng sản khắp nơi. Có mà nằm mơ, người ta cũng không thể nghĩ rằng những công dân Việt Nam Cộng Hòa trong điều kiện sinh sống dù lưu vong, dù trong lao tù cộng sản đã giữ vững được ý chí chống cộng đến thế. Thế hệ thứ hai của cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản, của những công dân của Việt Nam Cộng Hòa vẫn giữ được nguyên vẹn đạo đức và luân lý của Việt Nam. Trong mọi gia đình, những đứa trẻ không nói rành tiếng Việt hay nói tiếng Việt với giọng ngọng nghịu của người bản xứ nhưng đều là những đưá trẻ ngoan ngoãn vì chúng biết rằng cha mẹ chúng phải lưu vong, phải hy sinh nhiều để chúng được lớn lên ở một đất nước tự do, có cơ hội để phát triển trí tuệ, những điều chúng sẽ không có được nếu sống dưới một chế độ cộng sản, như Việt Nam cộng sản ngày nay, như Cuba, như Bắc Hàn, hay ngay cả Trung cộng…

Nhưng những người như ông Nguyễn Minh Cần, ông Bùi Tín đâu phải là ngụy. Các ông này là những “trí thức cộng sản” lớn lên trong lòng chế độ. Đáng lẽ các ông đừng hèn, hãy ở lại Việt Nam, hãy kêu gọi nổi dậy, hãy dẫn dắt toàn dân chống lại cái đảng cướp đã tạo ra các ông, hãy cho toàn dân biết ‘chúng” đã đi sai… đường cách mạng. “Con đường Bác đi” cuả các ông không lẽ lại là con đường… bi đát, đưa hàng trăm ngàn gái Việt ra hải ngoại lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan, làm mãi dâm mới có cơm ăn? “Con đường Bác đi” không lẽ lại là con đường dâng nước Việt cho Tàu? Các ông hãy can đảm đứng dưới ngọn cờ do các ông lựa chọn miễn là các ông bảo vệ được dân, được đất nước khỏi rơi vào tay giặc là được. Hãy hành động như các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã làm trước khi bị tước súng vì một thế cờ chính trị thế giới: họ đã đứng lên, đã anh dũng hy sinh, đã chống lại áp bức của chính quyền để bảo vệ dân, bảo vệ từng tấc đất Miền Nam để rồi đảng các ông đã lừa gạt dân Miền Bắc, đưa họ vào Nam, đem sinh mạng làm bia đỡ đạn để “giải phóng” một Miền Nam trù phú, một xã hội tôn ti trật tự, đạo đức văn hoá, luân lý cần được bảo tồn.

Mới đây có một bài viết của một người thuộc thế hệ trẻ có tựa đề “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” do diễn đàn danchimviẹt.info (BBT: Trong bài, tác giả viết .com) phổ biến với lời toà soạn như sau:

(Trích)

LTS: Trong công cuộc đấu tranh dân chủ hóa VN hôm nay, tìm hiểu tư duy của lớp người trẻ không tham dự vào cuộc chiến quốc-cộng trước kia – mà sẽ là chủ lực cách mạng nay mai – là một điều cần thiết. ĐCV chọn đăng bài viết của tác giả Tiên Sa trên mạng xã hội facebook cũng nằm trong tinh thần đó. Mời bạn đọc cùng suy tư và chia sẻ. (hết trích)

Nội dung bài viết của người bạn trẻ này cũng như nội dung bài viết của ông cán bộ già thất sủng Nguyễn Minh Cần giống nhau ở chỗ: cuộc cách mạng lật đổ bạo quyền cộng sản chưa xảy ra nhưng họ đã sợ lá cờ vàng và chế độ Việt Nam cộng hoà được tái lập ở Việt Nam… sau 36 năm bỏ chạy. Đào Nương tôi không tin đây là bài viết của một người viết trẻ ở hải ngoại. Thật ra, tháng 4, 1975, Người Việt Miền Nam đã quá mệt mỏi với một cuộc chiến không lối thoát giữa hai ý thức hệ tự do và cộng sản. Cái thành trì bảo vệ thế giới tự do đã không còn đứng vững sau khi tổng thống Hoa Kỳ Nixon qua gặp Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Giữa một bên chiến đấu với viện trợ có điều kiện và một bên được viện trợ vô điều kiện của khối cộng sản, sự chiến thắng khó lòng ở về phía VNCH. Khi buông súng năm 1975, Người Việt Miền Nam đã muốn “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” để hai miền cùng nhau xây nước và dựng nước chứ. Nhưng việc gì đã xãy ra sau đó, chắc Ban Biên Tập của Đàn Chim Việt, nơi phát tán những bài viết của ông Nguyễn Minh Cần và “người bạn trẻ” Tiên Sa chắc đã biết rõ hơn ai hết: hàng triệu quân dân cán chính Miền Nam bị đầy vào lò “cải tạo”, gia đình họ bị đẩy đi vùng kinh tế mới, cướp nhà, cướp cuả, con cái họ không được đến trường. Cho đến ngày nay, những người sinh sống tại Miền Nam vẫn còn là những công dân hạng hai trên đất nước mình. Vì nghĩ rằng “Hãy để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” nên hàng triệu người Miền Nam đã buông súng, xếp hàng đi tù cải tạo vì nghĩ rằng một giai đoạn chiến tranh tương tàn đã đi qua, đi trình diện một tháng rồi về sống đời công dân của một quốc gia độc lập và thống nhất. Chuyện gì đã xy ra cho họ, cho những người sinh sống tại Miền Nam sau 1975?

Không lẽ ngày nay, trong công cuộc cứu nước, khi không còn ở vị thế cầm quyền thì những công dân của Việt Nam Cộng Hoà không thể là một tiếng nói đối lập với cái chính quyền vô nhân đang cai trị đất nước Việt Nam hay sao? Chúng ta sẽ đấu tranh để những người dân của đất nước Việt Nam dân chủ và tự do có quyền lựa chọn cho họ một đảng phái cầm quyền, họ sẽ biểu quyết về một lá cờ tượng trưng cho đất nước. Đảng cộng sản Việt Nam hiện nay có 3 triệu đảng viên hầu hết là bọn thất học, tham ô. Cứ nhìn vào xã hội Việt Nam ngày nay thì thấy rõ. Cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản ở nước ngoài có 3 triệu người nhưng đồng thời họ cũng là công dân của những quốc gia tự do và dân chủ. Việc họ phải sống lưu vong ở hải ngoại không phải là một việc trốn chạy hèn nhát mà là hậu quả tất nhiên cuả một cuộc chiến tương tàn có kẻ thua, người thắng. Khi họ tập hợp để nói lên tiếng nói của Người Việt không chấp nhận chế độ cộng sản, một tiếng nói đối lập là một việc làm cần thiết khi Người Việt không thể làm được điều này ở quê hương. Tiếng nói đối lập này và lá cờ vàng trong giai đoạn này chắc hẳn là cần thiết cho công cuộc đấu tranh hơn là tiếng nói “lèm bèm” của những ông đảng viên thất sủng “chạy trốn” ra nước ngoài chứ?

Khoa Học Gia Dương Nguyệt Ánh từ xa về yểm trợ đại hội.

Ca sĩ Dạ Lan, Phóng viên đài truyền hình 57.3 đang phỏng vấn các chị mang phù hiệu thuộc… Cục Chính Huấn?

Một vị Hải Quân Thiếu Tá và Nữ Hải Quân Trung Úy Y- Tá Hoa Kỳ,  gốc Việt (hiện dịch).

Anh trở về anh trở về…còn có 1 tay. (Nhạc nhái Kỷ Vật Cho Em – PD.)

Gớm ! Bé tí thế mà đã biết yêu màu áo lính.

 

 

Hy vọng bài viết này sẽ giải thích được phần nào tại sao Người Việt không cộng sản không thể  “Để cho Việt Nam Cộng Hòa lùi vào dĩ vãng một cách tự nhiên” được. Vì đó là tương lai của đất nước Việt Nam. Đừng bàn cãi trên những trang giấy hay trên những trang mạng điện tử. Thực tế chứng minh cho hành động. Trong 60 năm, đảng cộng sản Việt Nam đã tàn phá đất nước và con người Việt Nam đến tận cùng đáy vực, khi các ông “trí thức cộng sản” đủ hết hèn để la làng (nhưng cũng phải núp đàng sau cái xác còn thở của “đại tướng”) về cái hoạ mất nước mà cũng chỉ như tiếng rên trong lăng Ba Đình cuả cái xác thối rữa chưa chôn thì chúng ta có cần bàn cãi thêm về cờ vàng hay cờ đỏ không? Ngược lại, chỉ trong 36 năm, cộng đồng Người Việt tị nạn cộng sản đã “bành trướng” điạ bàn hoạt động khắp năm châu, những khu phố Việt Nam sầm uất, vững mạnh hơn các ChinaTown của người Tàu, mỗi năm cộng đồng Người Việt gửi về nuôi thân nhân hàng chục tỹ đô la. “Chạy trốn, thua trận” mà làm nên … nghiệp lớn như vậy trong khi bọn cộng sản Việt Nam thì co cụm lại trong các toà sứ quán, ra đường thì mắt la, mày lét sợ người dân bắt gặp. Lãnh tụ ngoại giao như tên Nguyễn Xuân Việt ở Jordanie thì hành xử như bọn đầu gấu, du đãng khiến thế giới phải bàng hoàng và người nữ công nhân 20 tuổi bị xúc phạm đã được Hoa Kỳ cho nhập cảnh vì lý do chính trị thì đủ hiểu.

Dĩ nhiên, ở đâu, xã hội nào thì cũng gồm đủ con gà, con công, con phụng… đừng nhìn vào đàn gà của cộng đồng Việt Nam hải ngoại rồi kết luận tất cả chỉ là một đàn gà mà lầm to. Nhưng có một điều có thể coi như là chân lý “không thay đổi” dù bên này hay bên kia bờ Thái Bình Dương: đảng viên cộng sản thì anh nào cũng hèn, cứ phải dựa vào nhau để sống còn, để được làm “quan tham” bóc lột dân lành. Chúng đoàn kết theo đúng tôn chỉ  “tranh đấu đến cùng với kẻ thù, chỉ hoà gii với nội bộ”. Trong khi nếu vì tương lai dân tộc thì phải tìm cách liên kết mọi người với nhau chứ. Ra đến hải ngoại vẫn còn sợ lá cờ vàng nhưng tiền bạc của cờ vàng thì đưa lên mặt mà hít hà. Khinh bọn “thất trận, giặc ngụy” bỏ chạy, nhưng lại sợ chúng nó trở thành một thế chính trị đối lập trở về nhưng vẫn ra chính sách ve vãn Việt kiều.  Chơi với cái đầu “ngụy” thì không dám chơi chỉ muốn chơi với các “khúc ruột thừa” của họ?

Việt Nam Cộng Hoà phải sống mãi trong lòng người Việt không cộng sản là vì thế! Vì không muốn nhận sự nhục nhã là công dân của một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, muốn bảo vệ ngư dân cũng phải xin phép “thằng” Tàu cộng!

Chúng ta hãy hành động. Tự cứu mình và cứu những người khác nữa. Vì tương lai, xin tất cả hãy tìm cách liên kết với nhau trong tình dân tộc.

© Đào Nương

Nguồn: Tuần Báo Saigon Nhỏ số ra ngày 11 tháng 3, 2011.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

 

Links:

Chúng Tôi Muốn Tự Do


Nó Tự Cắt Nó – Trương Duy Nhất

Bài đọc suy gẫm:  Blog Mười Sáu hân hạnh trích đăng bài viết đầy cay đắng “Nó Tự Cắt Nó”  hay “Sự Hèn Mạt Của Báo Chí”  của tác giả Trương Duy Nhất . Theo thiển ý, dưới ách cai trị cộng sản thì đây chỉ là chuyện bình thường, chuyện bắt 7 trăm tờ báo đồng thanh im tiếng hay tấn công các ký giả lề trái, đặt tường lửa , phá hoại (hack) các báo mạng nói lên sự thật cho ta thấy sự cuống cuồng chống đỡ trước khi… ngủm của tà quyền cộng sản trên đất nước Việt Nam.  Để giới thiệu thêm về nền báo chí hay truyền thông tại quốc nội. 16 xin mượn lời của một độc giả góp ý và lời kêu gọi của Blog Trường Hoàng Sa.  Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

-Là một người dân đang sinh sống tại VN, tôi cũng cần phải nói thật 1 điều đó là tôi chẳng đọc bài báo nào do báo chính thống đăng tải từ nhiều năm nay, gần đây cứ bật truyền hình từ trung ương đến địa phương là tôi ‘dựng cả da gà’. Vì sao thế? Vì tôi không thấy ở những phương tiện ấy phát ra những câu nói của những người ‘yêu nước thực sự’. Chỉ thấy những tiếng nói mang tính bênh vực, chụp mũ, phản cách mạng, toàn thấy những lời nói xáo rỗng tự khen…

Thử nghĩ xem, có thời đại nào như thời buổi ngày nay, có dạng truyền thông nào như ở VN… đến cả việc dân chúng xuống đường biểu tình chống TQ – một việc làm thật đậm đà truyền thống dân tộc, noi gương các vị anh hùng, cha ông, một việc làm thể hiện lòng rất mực yêu nước thì lại thấy báo chí, truyền thông làm ngơ!

 

 – Blog Trường Hoàng Sa “… Và đọc để thấy chúng ta nếu có phương tiện và thì giờ nên phụ giúp đồng bào mình một tay trong việc phổ biến rộng rãi tin tức báo chí ngược về VN.(qua email),  bởi đây cũng là một phương cách hữu hiệu ngăn chặn, giảm thiểu những tôi ác, bất công đầy dẫy trong xã hội vô thần cộng sãn mà con dân Việt Nam là những nạn nhân đang phải gánh chịu thảm hoạ”. 

*************************

  “Cái sợ cái hèn của người cầm bút, nhất là làm báo, nguy hiểm lắm. Rất vô thức, nhưng anh ta sẽ làm “lây nhiễm” cái sợ, cái hèn nhát cho đồng bào mình” (Nguyễn Chính, cựu phóng viên báo Đại Đoàn Kết).

Chưa khi nào báo chí hèn mạt như giai đoạn này. Nhớ vài năm trước, trong bữa nhậu nhân hội nghị tuyên giáo toàn quốc tại Đà Nẵng, một lão bá vai tôi buông câu rất hách “báo chí các cậu hèn bỏ mẹ!”

Tức. Một tay nó bóp dái, tay kia dán băng keo bịt miệng, thế mà vẫn lớn tiếng chê mình hèn. Định vung cho lão một đấm, nhưng nghĩ lại thấy lão nói đúng chứ đâu sai. Báo chí kiểu gì mà chỉ một cú điện thoại, một văn bản miệng đã răm rắp tự bịt miệng nhau.

Một cái lệnh miệng từ văn phòng UBND huyện Văn Giang (Hưng Yên) cũng khiến tất cả hơn 700 tòa báo câm lặng, không dám cử phóng viên đến đưa tin. Khi hai phóng viên của đài tiếng nói Việt Nam (VOV) bị đánh đập, trấn áp dã man, bị còng tay bắt giữ như tội phạm, thu máy ảnh, thu thẻ nhà báo, thẻ đảng, thẻ luật gia… nhưng không một tòa báo nào dám lên tiếng, kể cả cơ quan chủ quản của họ. Và bản thân 2 nhà báo bị đánh cũng không dám công khai lên tiếng.

Phải đợi đúng nửa tháng sau, trước sức ép dữ dội từ dư luận và sự mắng chửi từ các trang mạng lề trái, VOV mới miễn cưỡng đăng vài mẩu tin lên tiếng bảo vệ phóng viên của mình. Nhưng được vài hôm rồi im bẵng đến nay. Không còn nghe bất cứ một tòa báo nào nhắc lại chuyện này nữa. Câu chửi “Đ.M mày! Nhà báo cũng đánh cho chết mẹ mày đi” trong vụ trấn áp Văn Giang vẫn văng vẳng mãi như một nỗi ô nhục của nghề báo.

Chưa bao giờ báo chí lại sợ hãi đến vậy. Chưa bao giờ báo chí kỳ lạ như giai đoạn này, xa lánh, tránh né hầu hết các vấn đề nhạy cảm. Vì sao tránh, vì sao không đăng, vì sao không can dự? Vì đó là vấn đề “nhạy cảm”- Một lối chỉ đạo và bao biện phản tuyên truyền, thậm chí là… phản động! Nhạy cảm mới cần báo chí can dự. Không nhạy cảm thì viết để làm gì, tuyên truyền làm gì và can dự làm gì?

Ông Nguyễn Bắc Son, Bộ trưởng Thông tin- truyền thông kiêm Phó  ban Tuyên giáo trung ương có than một câu rằng báo chí giai đoạn này “thiếu vắng những cây bút giỏi, những bài báo hay, những cây bút chúng ta từng thấy trong lịch sử như Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà… hoặc những nhà báo rất đáng kính trọng như Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng…”

Vì sao?

Vì cái thời làm báo của Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà, Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng không bao giờ phải nơm nớp lo sợ những mệnh lệnh “nhạy cảm” như thời chúng tôi. Không có ban Tuyên giáo nào cấm cản những Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà, Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng lao vào điểm nóng, tránh điều “nhạy cảm”. Báo chí thời chúng tôi, không thiếu anh hào, nhưng không sản sinh ra nổi những Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà, Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng… bởi nhà báo không được phép lao vào những Dương Nội, Văn Giang, Vụ Bản… Bởi một cái lệnh miệng của văn phòng UBND huyện Văn Giang thôi cũng đã khiến tất cả các tòa báo câm lặng. Bởi tất tật các vấn đề “nhạy cảm” đều không được phép viết, không được phép đăng.

Khi nào còn những vòng siết “nhạy cảm” này, thì những mầm mống Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà, Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng sẽ bị bóp chết ngay từ những trang bản thảo.

Nhà báo/blogger Phan Văn Tú có một câu rất đau “trong đầu thằng nhà báo Việt nào hình như cũng có một cái kéo. Nó tự cắt nó trước khi bị người khác cắt”. Cái thói tự biên tập, tự ra lệnh, tự cột nhốt đã hình thành như một thói nết tệ hại trong làng báo.

Còn nhà báo Đào Tuấn, cây bút kỳ cựu của Đại Đoàn Kết, nay sang tờ Dân Việt thì chua chát rằng: “nhiều người cầm bút giờ còn bi kịch hơn khi hàng ngày phải viết những điều không giống với sự thật … Hàng ngày, dù không tin, nhưng vẫn phải viết ra một điều không thật– một cách khéo léo đến dối trá, để thuyết phục người đọc tin rằng đó là sự thật”.

 

Tiến Sĩ Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện trong một cuộc biểu tình chống tàu cộng xâm phạm chủ quyền lãnh hải Việt Nam. Ông cũng là Blogger (Blog Nguyễn Xuân Diện)  nổi tiếng của thông tin sự thật,  “lề trái” trong xã hội đen việt cộng làm chúng rất sợ hãi. Gần đây vì những thông tin phản biện xây dựng nhà máy điện hạt nhân nguy hiểm tại Việt Nam “chỉ khổ cho dân, lợi cho chúng” mà ông bị tên phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc ra văn bản tối mật yêu cầu xử lý (hình bên),  bước khởi đầu hèn hạ của chúng là cho đám thương binh trơ trẽn tấn công, bạo hành, chửi bới khiếm nhã tại viện Văn Học Hán Nôm. Hình từ Link You Tube một số tên côn đồ giả dạng tàn phế bày đặt tới “cửa Khổng sân Trình” nói chuyện hạt nhân:)


         Run sợ đến dối trá. Đến mức bao điểm nóng nhức nhối về đất đai vắng bóng nhà báo. Tại sao báo chí lại tránh né những Dương Nội, Văn Giang, Vụ Bản? Tại sao những tấm băng rôn, những vành khăn tang giữ đất nóng hực và nhức nhối tâm can lại không nên nổi “tác phẩm” nào? Tại sao lại cứ phải “viết ra một điều không thật– một cách khéo léo đến dối trá, để thuyết phục người đọc tin rằng đó là sự thật”?

Nhìn vào danh sách các tác phẩm đoạt giải báo chí quốc gia để thấy cái gì, điều gì được phản ánh qua báo chí? Ông Hữu Thọ, cựu trưởng ban Tư tưởng-văn hóa trung ương nhận xét về các tác phẩm đoạt giải: “Vẫn còn ít những bài điều tra sâu sát công phu mà tôi thường nói là đọc trên những bài báo thấy ít giọt mồ hôi quá. Những giọt mồ hôi vào trang giấy, nó cựa quậy, nó gây xúc động con người…”.

Với người cầm bút, phải hiểu lời nhận xét ấy không khác gì một câu… chửi!

Báo chí chưa bao giờ nhạt chán, hèn nhục đến vậy.

Việt Nam chưa cho phép báo chí tư nhân, không có báo đối lập. Nhưng không nên “đồng thuận” hóa tất tật trên 700 tờ báo hiện có đến mức thành một chiều, thành sợ hãi như thế thì báo chí chỉ còn là mấy tờ giấy dành để gói xôi vỉa hè. Báo chí phản biện, thậm chí phê phán, đối lập có lợi cho chính phủ hơn là báo chí ca tụng, minh họa chủ trương.

Bạn đọc ký tên “Hâm mộ đảng ta” viết một comment vào trang tôi rằng: Chưa thấy một chính phủ nào lại sử dụng một dàn truyền thông hùng hậu đến thế chỉ để ngợi ca chính mình, huy động dàn hợp xướng bằng mọi cách phải “tạo sự đồng thuận” với mọi sai đúng mà không chú ý đến vai trò phản biện của báo chí. Có thể nói sự đồng lõa, thỏa hiệp, tuyên truyền cho những quyết sách sai trái của chính quyền trong một thời gian quá dài vừa qua là một cái tội rất to của báo chí. Nếu chú ý đến vai trò phản biện thì hẳn các nhà cai quản đã có chính sách để lựa chọn đội ngũ thực tài, đủ bản lĩnh. Nhưng vì chỉ chú trọng đến mục đích tuyên truyền ngợi ca, tạo đồng thuận, và giải trí tầm thường nên ở Việt Nam, nếu không mù chữ thì ai cũng có thể làm nhà báo được.

Nhận định có vẻ hơi quá, cực đoan, nhưng đáng suy ngẫm.

Ngay cả lớp Tổng Biên tập hiện thời cũng là một đội ngũ quá hèn. Trước 75, báo chí có phong trào “ngày ký giả ăn mày”, đóng cửa xuống đường đấu tranh. Thời nay, có ông Tổng nào hoặc cỡ chục tờ báo một sớm mai đồng loạt phản ứng bằng những bản báo in “bị đục bỏ”, những tờ báo trắng để phản ứng? Có ông Tổng nào dám công khai chống lệnh, một cái lệnh cấm cản quen thuộc từ những cú điện thoại, những buổi giao ban mang tên “nhạy cảm” để ưỡn ngực hiên ngang bảo vệ quyền được thông tin?

 Hình từ internet: Ký giả trong ngày “xuống đường ăn mày” thời Việt Nam Cộng Hòa.

      Nói thật, dù sao tôi cũng không mê những Sóng Hồng, Thép Mới, Hoàng Tùng, Hồng Hà, Hữu Thọ, Hà Đăng, Đỗ Phượng như cách ông Nguyễn Bắc Son lấy làm “thần tượng”. Tôi mê và thèm ước những cái tên rất gần đây thôi như Võ Như Lanh, Kim Hạnh, Lê Văn Nuôi, Huỳnh Sơn Phước, Nguyễn Công Khế, Thế Thanh, Nam Đồng, Tống Văn Công… – Một thế hệ tổng biên tập tài năng rất gần với chúng tôi, nhưng không quá hèn nhục như bây giờ.

Chua và nhục đến mức các trang mạng lề trái cực đoan ví von mỉa mai hình ảnh nhà báo qua vụ Văn Giang rằng: bị đánh mà không dám “ẳng” lên một tiếng.

Lịch sử báo chí cách mạng Việt Nam chưa bao giờ nhạt chán, hèn nhục như lúc này. Tôi không nói quá đâu. Tự thân mỗi nhà báo, tôi tin ai cũng nhìn ra điều này.

Mà “cái sợ cái hèn của người cầm bút, nhất là làm báo, nguy hiểm lắm. Rất vô thức, nhưng anh ta sẽ làm “lây nhiễm” cái sợ, cái hèn nhát cho đồng bào mình” (Nguyễn Chính, cựu phóng viên báo Đại Đoàn Kết).

        Trương Duy Nhất

 

 Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Blog Trương Duy Nhất


Dòng Sử Việt Sẽ Không Ngừng – Chu Chi Nam

Nguoilinhsau36nam.jpg picture by nhacyeuem

Hình vẽ Hộ Tống Hạm Nhật Tảo trong trận hải chiến với Trung Cộng để bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa nhân dịp Hội Ái Hữu Hải Quân tổ chức Lễ Tưởng Niệm các Anh hùng, Liệt sĩ đã hy sinh trong trận đánh Hoàng Sa năm 1974 tại Nam California, Hoa Kỳ.

***

Bài đọc suy gẫm: Dòng Sử Việt Sẽ Không Ngừng tức “Quyết Đấu Tranh Để Cứu Quốc và tồn Chủng!” của tác giả Chu Chi Nam.

Hình ảnh minh họa:  Nhân kỷ niệm 1 năm, ngày mồng 5 tháng 6.   Ngày con dân Việt Nam xuống đường biểu tình chống bành trướng, bá quyền Trung Quốc .  Blog 16 xin trích đăng lại những hình ảnh chọn lọc từ các cuộc biểu tình trong năm 2011. Cũng trong năm này, đảng cộng sản lộ rõ mặt thái thú, tay sai cho Bắc Kinh khi đàn áp những người biểu tình vì yêu nước.

 Sài GònMột số viên chức cũ mới của nhà nước việt cộng cũng hăng say tham gia biểu tình. Người đứng bên góc phải (áo trắng) là Huỳnh Tấn Mẫm, sinh viên thiên tả, cựu chuyên viên biểu tình chống chánh phủ VNCH trước 1975.

 Trong ngày biểu tình 5/6/2011 tại Sài Gòn.  Một thanh niên có lẽ tên là Tuấn, mặc áo thung có in chữ” No China” bằng cách nào đó đã vượt qua được hàng rào ngựa sắt của công an, vào tận bên trong, đối diện với toà lãnh sự quán tàu cộng.  Anh đứng yên lặng, đầu hơi cúi xuống, hai tay giơ cao biểu ngữ phản đối Trung quốc xâm phạm lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam. .. cứ đứng im như vậy từ sáng cho tới chiều. Link

251678_229099807102165_100000064413286_997395_7601415_n.jpg

Tôi đã thấy trong tim anh rực lửa
Lửa tiên rồng thời Quốc Toản ra quân
Lửa hiên ngang bất khuất, đốt hung thần
Quân bán Nước: quên cội nguồn Dân tộc…
Huyen Thoai

Cô giáo (hình trên)  và nghệ sĩ yêu nước (hình dưới – Ca sĩ Khánh Linh ) tham gia biểu tình.

  Cô Trịnh Kim Tiến, có người cha thân yêu bị công an Hà Nội đánh chết rất oan ức cũng tham gia biểu tình.

  259678_10150207812588181_718643180_7283637_118027_o.jpg

Cháu bé nhìn chú công an hỏi:” chú ơi, chú có yêu nước không?” Các chú cúi gầm mặt xuống.

 

                    QUYẾT ĐẤU TRANH ĐỂ CỨU QUỐC VÀ TỒN CHỦNG – Chu chi Nam

Ngày mồng 5 tháng 6, ngày kỷ niệm một năm dân Việt xuống đường chống Trung cộng bành trướng, mỗi người Việt chúng ta, từ quốc nội tới hải ngoại, hãy tự nhủ :
Quyết đấu tranh để cứu quốc và tồn chủng !

Kể từ ngày vua Hùng dựng nước tới nay, đã gần 5,000 năm, trong đó có 1,000 năm Bắc thuộc và 100 năm Pháp thuộc, dân tộc Việt đã kiên cường vừa chống ngoại xâm vừa dựng quốc và kiến quốc.

Giang sơn gấm vóc từ ải Nam quan tới mũi Cà mâu, mà chúng ta có được ngày hôm nay, là chính nhờ tiền nhân chúng ta đã đổ biết bao xương máu, qua bao triều đại mới có được.

Nhưng giận thay bọn cộng sản, bắt đầu từ Hồ chí Minh, lại bán nước, dâng đất nhượng biển cho Trung cộng.

Vào những năm 50, khi sửa đường xe lửa ở biên giới Việt Hoa, Trung cộng đã tự động rời những cột mốc về phía nam, lấn đất Việt Nam; chính báo Nhân Dân của cộng sản thời đó có lên tiếng phản đối; nhưng chỉ là lấy lệ.

Rồi tiếp tục với công hàm của Phạm văn Đồng đề ngày 14/9/1958, trả lời công hàm của Chu ân Lai có đính kèm bản đồ nói là 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa là của Trung Cộng. Chính vì vậy mà Trung cộng đòi chủ quyền về 2 quần đảo này ; mặc dầu theo công pháp quốc tế, theo lịch sử và địa lý, thì 2 quần đảo này là hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam.

Việc dâng đất nhượng biển còn tiếp tục với Lê khả Phiêu, qua 2 Hiệp ước ký với Trung cộng vào năm 1999, dâng gần 1,000km2 vùng biên giới, trong đó có thác Bản Giốc và ải Nam quan; và Hiệp ước năm 2,000 dâng cho Trung cộng cả chục ngàn cây số vuông vùng biển.

Ngày hôm nay, thì Nông đức Mạnh, Nguyễn tấn Dũng cho Trung cộng thuê rừng sát vùng biên giới và cho Trung cộng khai thác bô xít ở cao nguyên Trung phần, xương sống về địa lý chiến lược Việt Nam, dọn đường cho Trung cộng đánh chiếm Việt Nam trong tương lai.

Hà Nội – Nhà Hát Lớn

 

Bản Tuyên Cáo quan trọng của những người biểu tình xướng lên trước quốc dân tại Nhà Hát Lớn Hà Nội trước các phóng viên quốc tế và một rừng Trái Tim Yêu Nước.  :” Chúng tôi, những người dân yêu nước Việt Nam quyết tâm làm tất cả, nguyện đem tất cả sức mình để chống lại các hành động xâm lấn hiếu chiến của nhà cầm quyền Trung Quốc, bảo vệ vững chắc chủ quyền đất, biển, đảo của Việt Nam.”  Đây chính ra là việc phải làm của tà quyền cộng sản nhưng chúng hèn nhát không dám làm, ngược lại …

Bờ Hồ – Tiếng vĩ cầm vi vút hòa theo nhịp đập yêu nước từ trong tim: ” Nhữ Đẳng Hành Khan Thủ Bại Hư…”

 
”Vì sao, vì ai?” biển biểu ngữ nội dung độc đáo này khiến bọn xấu có tịch rất ư là nhột nhạt.


 Bởi lẽ đó, những ai chủ trương chống sự bành trướng của phương bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, là hoàn toàn sai lầm.

Không những không bảo toàn được sự toàn vẹn lãnh thổ, mà còn mất đất, mất biển thêm.

Xưa kia Kiều công Tiễn, lợi dụng lúc đất nước mới thành lập, phải trái chưa tỏ, kỷ cương chưa vững, lòng người chưa định, tìm cách giết vua bán nước.
Lê chiêu Thống xem ngôi báu của mình hơn quyền lợi quốc gia, dân tộc, nhân lúc Bắc hà nhiễu loạn, đã dẫn quân ngoại bang về giày xéo quê hương.

Ngày nay Đảng Cộng sản chẳng khác chi Kiều công Tiễn, Lê chiêu Thống, đặt quyền lợi đảng đoàn lên trên quyền lợi quốc gia dân tộc, đã qụy lụy Bắc phương, dâng đất nhượng biển cho chúng, để giữ quyền.

Ngày xưa vua Hùng dựng nước. Ngày nay Cộng sản bán nước.

Nhưng dòng lịch sử Việt không ngừng ở đây.

Hành động của những kẻ buôn dân, bán nước, sẽ bị dân Việt kết án và tiêu diệt.

Chuyên chỉ xảy ra dưới nhà nước cs. . Yêu nước là trái phép. Bắt hết. Link

Công an phường Tràng Tiền lén lút bắt một người yêu nước đi trong đoàn biểu tình bị đồng bào phát giác.  Mọi người bèn quay trở lại bao vây đồn của bọn xấu, đồng loạt hô to “Thà người, thả người, thả người…”. “Được rồi, đừng la hét nữa, thả ngay, thả ngay, hiểu lầm thôi…”.  Qua chuyện này ta thấy chính nghĩa và lòng yêu nước toát ra sức mạnh làm bọn có những hành vi sai trái hoảng sợ…Link

Bạn thanh niên yêu nước này bị bắt sau khi đã rời đoàn biểu tình chừng 200m.  

“Tôi có tội gì? nếu yêu nước là có tội  thì phải bắt ngay những kẻ bán nước?”

  

Theo BBC-Anh Nguyễn Chí Đức bị tên Đại úycông an Minh, mặc thường phục đạp vào mặt khi đang bị bốn công an cầm tay cầm chân.

Ngày xưa Ngô quyền, Lý thường Kiệt, Trần hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ đã thay mặt cho uy quyền quốc gia dân tộc, không những trừng trị nghiêm ngặt kẻ nội thù, mà còn dạy những bài học đích đáng cho kẻ ngoại xâm.

Trần hưng Đạo và vua quan nhà Trần đã chứng minh hùng hồn là nếu quân dân đồng lòng thì có thể chiến thắng cả một kẻ thù hung bạo như đế quốc Mông cổ, không những có thể giữ vững nền độc lập, mà cả sự toàn vẹn lãnh thổ.

Hôm nay, ngày mồng 5 tháng 6, kỷ niệm một năm, ngày dân Việt xuống đường chống lại sự bành trướng của Trung cộng, mỗi người Việt trong chúng ta, từ quốc nội tới hải ngoại, lúc nào cũng mang sẵn dòng máu của những anh hùng đã từng đánh Tống, bình Chiêm, kháng Nguyên, bại Minh, đã từng dạy cho quân Thanh những bài học đích đáng, hãy quyết đấu tranh để tự cứu, cứu dân, cứu nước .


Những người yêu nước với biểu ngữ đang chuẩn bị diễn hành nhưng bị đàn áp ngay sau khi biểu dương khoảng 10 phút. Link

Giọt nước mắt em tôi tuôn rơi trước cảnh đối xử thô bạo đối với những người có lòng với đất nước.

Chị Bùi Thị Minh Hằng (một người yêu nước nồng nàn)  dù bị cưỡng bách lên xe vẫn đả đảo Trung Quốc xâm phạm chủ quyền tồ quốc. Link

Biểu ngữ ”Đằng giang tự cổ huyết do hồng!”. Link

Theo bóng cờ Bình Ngô, hỡi con cháu Lê Thuận Thiên, hãy can đảm vùng lên, cứu quốc và tồn chủng !
Nhới lời Thề Sát Thát, hỡi giống giòng Trần hưng Đạo, hãy bất khuất trổi dậy, tự chủ và tự cường !
Hồn Kinh Dương, Vạn thắng, Chi Lăng, Đống Đa hằng thức tỉnh.

Máu người Việt từng đánh Tống, bình Chiêm, kháng Nguyên, đuổi Minh, bại Thanh còn thôi thúc,
Ai là người còn xót thương máu xương Bãi Xậy, Yên thế, Thái Nguyên, Yên Bái,

Hãy vùng lên để rửa hận, rửa nhục ! Hãy tiến lên để giành quyền tự chủ !

Đừng để giống nòi còn mắc họa xiềng gông cộng sản !

Đừng để núi sông mãi mang vòng tủi hổ !

Paris ngày 03/06/2012

Chu chi Nam

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Nguồn Email

Blog Mười Sáu(hình ảnh)