Người May Mắn Sống Sót – Nguyễn Hữu Phước

RƠI TRÊN ĐẤT ĐỊCH - Nguyễn Hữu Phước

Bài đọc suy gẫm: Người May Mắn Sống Sót hay “Rơi trên đất địch” là câu chuyện thật xảy ra trong chiến tranh Việt Nam được tác giả Nguyễn Hữu Phước phóng tác theo nguyệt san nổi tiếng một thời Reader’s Digest.

RƠI TRÊN ĐẤT ĐỊCH – Nguyễn Hữu Phước

Trong cuộc chiến chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam trước đây, bên cạnh những chiến tích hào hùng, những tấm gương can đảm của người quân nhân QLVNCH, chúng ta cũng không thể không nói đến sự chiến đấu của người bạn đồng minh.

Họ là những quân nhân đã vượt ngàn dặm để chiến đấu tại một vùng đất xa lạ chỉ vì lý tưởng bảo vệ tự do. Có những người ra đi để rồi không bao giờ trở lại, nhưng cũng có người may mắn sống sót. Và một trong những người may mắn nhất phải là Đại úy Locher của Không lực Hoa Kỳ.


Maj. Robert Lodge (left) and Capt. Roger Locher (right) in the cockpit of their F-4D, seen earlier in 1972:
the team already had two MiG-kills to their credit when they clashed with MiG-19s and MiG-21s on the morning of May 10, 1972.

Sau đây mời quý bạn theo dõi câu chuyện về Đại úy Roger Locher, một sĩ quan phi hành, kiêm chuyên viên vũ khí, đã từng tham dự nhiều phi vụ trên không phận Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam.

Locher thường bay trên loại phi cơ phản lực F-4 Phantom và đã hạ được nhiều phản lực MiG của địch trước khi chính phi cơ của anh bị bắn hạ trên không phận Bắc Việt. Anh tìm cách lẩn trốn và sau 23 ngày đã được toán cấp cứu bốc ra khỏi miền Bắc một cách an toàn. Tên tuổi của Locher được ghi lại với một kỹ lục trong cuộc chiến Việt Nam: Sống sót và được cứu thoát sau 23 ngày kẹt trong lòng địch.

*****

Trong khi đang đu đưa với chiếc dù lơ lửng trên bầu trời phía Tây Bắc, cách Hà Nội 40 dặm, Đại úy Locher vẫn chưa thể tin đó là sự thật: mình bị bắn rơi. Tương tự như những người đi bay khác, anh không bao giờ nghĩ rằng chuyện đó có thể xảy ra cho mình.

Nhưng nó đã xảy ra. Một cảm giác nghẹt thở vì sự sợ hãi, bơ vơ đến càng lúc càng rõ rệt. Hai chiếc MiG màu bạc bóng loáng lướt qua phía trên Locher ở cao độ 10,000 bộ. Rồi những đám rừng cây hiện lờ mờ phía dưới. Anh đáp xuyên qua những ngọn cây và cuối cùng đôi bốt đã chạm đất…

Roger Locher là một sĩ quan trẻ mới 25 tuổi, vóc dáng cao lớn. Anh cất cánh vào sáng ngày 10 tháng 5 năm 1972 từ một căn cứ không quân bên Thái Lan. Mục tiêu: Hà Nội. Nhiệm vụ: ngăn chận và tiêu diệt các phi cơ MiG của địch trước khi chúng có thể tấn công các oanh tạc cơ của Hoa Kỳ.
Đây là phi vụ thứ 407 của Locher. Anh ngồi ghế sau của chiếc chiến đấu cơ phản lực F-4 Phantom hai chỗ ngồi, có nhiệm vụ điều khiển hệ thống vũ khí gồm các loại hỏa tiển, đại bác và bom. Trước đó không lâu, Locher đã bắn hạ được hai chiến đấu cơ MiG-21 của không quân Bắc Việt.

Lúc này, trước mặt Locher về phía Tây Hà Nội, một chiếc MiG đang nhào xuống một chiếc Phantom. Anh khai hỏa hai hỏa tiển không-đối-không, chiếc MiG bốc cháy. Thêm hai chiếc MiG nữa bị các Phantom của Hoa Kỳ bắn hạ trước khi người phi công lái chiếc Phantom của Locher thét lên : Chúng mình bị trúng đạn rồi !

Khi ngọn lửa đã lan dần và chiếc Phantom không còn kiểm soát được nữa, lao đi vùn vụt, Locher hét lên : Tôi sắp sửa rời phi cơ. Rồi anh kéo mạnh cần máy tống, sau một tiếng ‘ bụp’ khô khan, thân người anh bị bắn văng ra không gian và anh ngất đi vài giây đông hồ…

Sau khi chạm đất, Locher đã hoàn toàn tĩnh táo. Anh biết chắc hai chiếc MiG vừa bay ngang đã liên lạc vô tuyến thông báo cho các lực lượng dưới đất biết về vị trí của mình. Cái dù của Locher bị vướng trên những cành cây mà anh không thể kéo ra được sẽ khiến địch xác định được vị trí một cách dễ dàng. Locher vội vã tháo dù ra khỏi người và bắt đầu di chuyển một cách khó nhọc, tiến lên phía sườn núi. Anh cẩn thận không để lại một dấu vết sau những bước chân của mình.

Khoảng mười phút sau, Locher thở thật khó khăn, cảm thấy chóng mặt, đôi chân mềm tựa như cao-su, hai bàn chân lạnh ngắt. Anh nghĩ thầm ‘ Mình bị shock. Hãy dừng lại. Bình tĩnh. Hãy bắt bộ óc mình hoạt động’. Rồi anh bò sâu vào cánh rừng đầy cây lá rậm rạp và nằm rạp xuống theo tư thế đôi chân cao hơn đầu.

Nghĩ đến tình trạng nguy hiểm hiện tại, Locher biết rằng mọi việc đang diễn ra một cách tệ hại. Vị trí anh đang ở quá xa về hướng Bắc. Điểm gần nhất mà anh có thể dùng máy liên lạc cấp cứu loại bỏ túi với các phi cơ bạn đang bay trên bầu trời là 90 dặm về phía Nam. Locher tính toán : 90 dặm ! Tìm cách lẩn trốn và bám chặt theo sườn núi, làm sao đi bộ ít nhất hai dặm trong một ngày, trong vòng 45 ngày, không lương thực và trên một địa thế hoàn toàn xa lạ. Nhưng bắt buộc phải cố gắng. Nếu kẻ thù có bắt được mình thì cũng thể để chúng bắt được một cách dễ dàng!

Locher lấy bình nước từ trong áo cấp cứu mặc trên người và từ từ uống hết một nửa, sửa lại cái nón lưới chống muỗi đội trên đầu, rồi với một cái địa bàn cầm tay và bản đồ hướng dẫn, anh thận trọng khởi hành về hướng Tây Nam. Sau mỗi bước chân, anh phải xem xét lại để xóa bỏ mọi dấu vết của đôi giày bốt, của những cành cây nhỏ bị đạp gẩy và tất cả những dấu vết khác có thể làm lộ tung tích của mình.

Tới trưa, đang đi bỗng Locher khựng lại, chết điếng. Từ phía trước mặt có những tiếng réo gọi nhau và những tiếng la hét như giận dữ tiến thẳng về phía anh. Anh vội vã bò sâu vào một bụi cây và nằm yên, trong lúc bọn người lùng sục tiến đến càng lúc càng gần.

Locher bỗng nhớ lại thời niên thiếu của mình ở vùng quê Sabetha, tiểu bang Akansas, nơi mà anh thường chơi trò giả làm vịt trời trốn trong bụi lau, cố gắng ẩn náu, để người thợ săn đang đến gần không thể phát giác. Locher nhủ thầm: Hãy thở thật nhẹ, đừng đầu hàng…Mồ hôi đổ ướt lưng, anh thầm cầu nguyện. Mũi anh có thể ngữi thấy cả mùi thuốc lá của những người đang sục sạo chung quanh. Có lúc tiếng chân người bước qua sát chổ anh đang ẩn nấp…

Ngày kế tiếp, sự việc trên lại tái diễn. Nhưng lần này, ngoài tiếng người la hét, Locher còn nghe thấy tiếng súng nổ. Anh nghĩ thầm : Họ đang tìm cách làm mình phải rời khỏi chổ ẩn nấp, giống như xua đuổi một con vịt trời bay ra khỏi bụi để bắn. Mình phải nằm yên. Họ có đạp lên mình mới mong tìm thấy…
Kẻ thù đã suýt chút nữa thì làm được viêc đó : Locher nghe thấy tiếng cành lá bị nghiền nát bởi bước chân người, sau đó hai người đàn ông với súng tiểu liên trên tay tiến tới cách chỗ anh chỉ có vài mét và…ngồi xuống nghỉ mệt. Một lúc sau, họ bỏ đi. Tiếp theo là một sự yên lặng rất đáng nghi ngờ. Họ bỏ đi thật hay gài bẩy chờ con chim bay ra khỏi cành? Locher quyết định tiếp tục nằm im tại chổ cho đến hết ngày, thỉnh thoảng chỉ dám duổi nhẹ chân tay, để cho các bắp thịt đỡ mỏi.

Sang ngày thứ ba, Locher thử mở cái máy liên lạc dò tìm tần số cấp cứu và anh đã bắt được đối thoại của những phi công đang bay tìm kiếm một nhân viên phi hành vừa bị bắn rơi. Nhân viên này báo cáo rằng kẻ thù đang theo đuổi ông ta, đã rất gần và yêu cầu nên oanh tạc vị trí của mình. Ông ta đã chọn lựa cái chết hơn là bị cầm tù!…

Tín hiệu yếu dần, Locher tắt máy liên lạc. Sau đó anh nghe thấy tiếng nói chuyện của những tên cộng sản đang đi truy lùng mình, cách chỗ anh ẩn nấp khoảng 200 thước… Cái gì thế này ? Locher vừa thắc mắc tự hỏi vừa tìm cách tống khứ những con vắt đang lợi dụng tình thế ngặt nghèo này để tấn công cổ và cườm tay của anh. Rồi Locher nghĩ thầm : Trong ba ngày qua mình đã không đi đưọc quá một dặm. Có thể mình sẽ không thoát khỏi nơi này. Nhưng thôi, cứ hãy cố gắng xem mình sẽ trì hoãn bao lâu cái kết cuộc không thể nào tránh né được.

Sang ngày thứ tư, mặc dù phải bước đi một cách mệt nhọc, Locher vẫn kiên trì men theo sườn núi, lên xuống hết ngọn đồi này tới ngọn đồi khác. Nước không thành vấn đề. Trời mưa cách đêm, và vào buổi sáng anh phải hong quần áo cho khô, cẩn thận tránh không để cho giầy và vớ bị hôi thối.

Nhưng Locher không có lương thực. Anh đã thử ba loại trái cây rừng. Lúc đầu gậm nhấm một chút ít, rồi chờ khoảng nửa giờ xem phản ứng cơ thể ra sao. Kết quả, anh thấy những loại trái cây này không có hại. Nhưng số lượng tìm được cũng chẳng bao nhiêu…

Locher có thể cảm thấy sức lực trong người mình sa sút một cách rõ rệt theo từng ngày. Điều này rất dễ dàng đưa đến sự chấp nhận đầu hàng. Không, nhất định không. Locher tự nhủ mỗi ngày. Hãy để cho kẻ thù phải khổ công tìm kiếm mình !

Ngày thứ 12, sau khi trời hừng sáng, Locher tìm thấy một con đường mòn khá tốt dẫn về hướng Nam. Đối với Locher, con đường này thật tuyệt hảo, vì anh không còn phải dùng sức nhiều như khi đi xuyên rừng. Bất chợt, Locher nghe thấy nhều giọng nói đang tiến gần về phía mình. Những đứa trẻ chăn trâu đang lùa trâu về phía cánh đồng cỏ. Locher vội nhào vào một bụi rậm, bò đi cách đường mòn vài thước và nằm im. Nhưng những con trâu đã dừng lại gặm cỏ bên vệ đường, có con chỉ cách chổ chàng nằm vài thước. Thời gian trôi qua một cách chậm chạp, hành hạ Locher trong khi anh nằm im giờ này qua giờ khác.

Mãi tới gần hoàng hôn, Locher mới nghe thấy tiếng bọn trẻ gọi nhau, anh nghĩ : chúng bắt đầu lùa trâu về làng! Anh nghe thấy tiếng thở hồng hộc của từng con trâu và tiếng roi của bọn trẻ quất trên lưng những con vật để thúc chúng đi về. Một con trâu giận dữ khịt mũi, đạp chân vào một cành cây sát chỗ Locher nằm, khiến cành cây này đập mạnh vào mắt cá chân. Anh há hốc miệng vì đau, nhưng cố giữ không cho âm thanh thoát ra. Sau khi con trâu đi qua, lại tới đúa bé dẩm lên cành cây hồi nãy, khiến nó đập xuống đùi Locher. Cuối cùng là sự im lặng.

Sau khi trời tối, Locher lén đi bọc vòng quanh làng và tiến lên phía sườn núi để do xét tình hình chung quanh. Rồi anh lấy lá cây xếp thành một cái giường để ngủ. Thỉnh thoảng anh lại thức giấc, để tống khứ những con vắt đang hút máu mình. Mỗi con để lại một vết đau. Sau đó một trận mưa đổ xuống.
Trời sáng, Locher vừa sưởi nắng cho khô quần áo, vừa nghiên cứu cẩn thận lại bản đồ, rồi đi tới một kết luận kinh hoàng…là trong 12 ngày qua, anh chưa đi được quá 10 dặm đường chim bay! Nếu vẫn còn ở khu vực phía Bắc quá xa này, anh không có hy vọng được cứu thoát. Phải tiếp tục đi về phía Nam. Nhưng từ đây ra đồng bằng sông Hồng, với bề rộng chừng 20 dặm, khó lòng mà tìm được nơi trú ẩn khi hữu sự.

Không biết phải giải quyết ra sao, Locher đành ở lại vị trí ẩn náu của mình. Ngôi làng trải dài khoảng 500 mét dưới chân núi, và Locher có thể nghe thấy tiếng kẻng hàng ngày. Kẻng báo thức buổi sáng, kẻng đi làm, kẻng nghỉ giải lao, kẻng ăn trưa.v.v…

Ngày lại ngày trôi qua. Tới ngày thứ 20, Locher biết mình đã phí công sức. Anh sờ xuống đôi mông và cảm thấy chỉ còn da bọc xương. Đầu óc anh trống rỗng và chỉ còn nghĩ tới miếng ăn. Chỉ có hai giải pháp : một, nằm chết đói ở đây, hai, là đi xuống đồng bằng tìm cách lấy trộm thực phẩm.

Nhưng Locher cũng biết rằng, sau khi anh bắt đầu vượt qua cái thung lũng trống trải để xuống đồng bằng thì hầu như nắm chắc trong tay việc bị bắt làm tù binh. Locher nghĩ tới viễn tượng khủng khiếp khi bị giam cầm và xác định quyết tâm sẽ tự hành xử một cách danh dự, không để trở thành tù binh của địch. Thượng đế đã ban cho anh hai mươi lăm năm tự do và anh đã tận hưởng.

Vào tối ngày thứ 21, sau khi quyết định sẽ đi xuống đồng bằng vào trước rạng đông ngày hôm sau, Locher cảm thấy tâm hồn mình bình thản. Anh nhìn lên vần trăng vàng từ từ trôi ngang bầu trời, hít thở mùi vị tươi mát của không khí và thưởng thức sự cô quạnh của mình : anh vẫn còn tự do…

Một cơn mưa dài và nặng hạt làm Locher tĩnh giấc vào buổi sáng ngày thứ 22. Thì ra anh ngủ quên ! Mặt trời đã lên cao. Locher tức giận với chính mình. Dù đã có quyết định tự hành xử, nhưng anh không thể liều mạng một cách vô lý, đi ngang qua làng vào giữa thanh thiên bạch nhật. Thế là lại thêm một ngày chờ đợi và chiến đấu với đàn muỗi rừng…

Locher vừa thiếp đi thì chợt tĩnh vì những tiếng đạn. Anh nhìn thấy cả ánh chớp của những hỏa tiển địa-không được bắn lên từ ngôi làng kế cận, cách chỗ anh khoảng 8 dặm. Địch đang bắn lên các phi cơ Mỹ. Không chậm trể một giây, Locher vội vã nhấn nút máy liên lạc cấp cứu và nói : Bất cứ phi cơ Mỹ nào nghe tên OYSTER ONE BRAVO xin trả lời. (Oyster=tên hiệu anh trong phi vụ ; One=phi cơ dẫn đầu ; Bravo=ghế sau)

Sau đó, Locher nhấn nút nhận tín hiệu và nghe thấy tiếng người trả lời : Go ahead, Oyster One Bravo

” Ê anh bạn, tôi bị bắn hạ ở đây đã hơn 22 ngày. Chuyển tin dùm tôi vẫn bình an”
“Sẽ chuyển và tiếp tục liên lạc”
Mười phút sau, Locher nghe tiếng trả lời:
“Toán cấp cứu trên đường đến”

Toán cấp cứu đến liền sau đó nhưng đã bị các phi cơ MiG và đủ loại phòng không của địch đẩy lui. Locher tin tưởng một cách tuyệt đối rằng những người bạn của mình sẽ trở lại vào sáng hôm sau, và chắc chắn họ sẽ được địch ‘đón tiếp nồng hậu’.

Thực vậy, suốt buổi chiều và tối, Locher nghe thấy tiếng xe chở bộ đội tới và tiếng phi cơ MiG đáp xuống một phi trường gần đó. Như vậy, địch cũng đoán biết những gì sẽ xảy ra vào ngày hôm sau. Locher lo lắng không biết sự việc rồi đây sẽ ra sao…

Buổi sáng ngày thứ 23, kể từ ngày Đại úy Roger Locher bị bắn rơi, một lực lượng 38 phi cơ Mỹ gồm chiến đấu cơ, oanh tạc cơ phản lực, khu trục cánh quạt, trực thăng cấp cứu và phi cơ tiếp tế nhiên liệu trên không, cất cánh từ Thái Lan tới Bắc Việt để cứu người bị nạn. Đầu tiên, hai phi cơ mở tần số liên lạc với Locher và xử dụng các máy móc điện tử để xác định vị trí của anh. Một phi công nói qua máy: “Chúng tôi đã biết anh đang ở đâu rồi. Bây giờ anh cứ đúng tại chỗ, chúng tôi sắp kéo anh ra khỏi nơi này”


Captain Roger Locher returns to Udorn Air Force Base in Thailand, greeted by General John W. Vogt, Seven Air Force Commander.
Locher was retrieved from behind enemy lines only 60 miles (97 km) from Hanoi after 23 days evading capture.

Bên dưới mặt đất, Locher lạnh và run rẩy: “Xin Thượng đế bảo vệ họ, đừng để ai bị bắn rơi vì con”.
Khoảng 30 phút sau, hai trực thăng xuất hiện. Trong khi Locher làm dấu hiệu xác định vị trí của mình bằng kính phản chiếu, một trong hai chiếc bay về phía anh, chiếc còn lại chờ đợi tiếp cứu trong trường hợp khẩn cấp. Phía trên, các chiến đấu cơ vần vũ, gầm thét uy hiếp tinh thần địch.

Chiếc trực thăng dừng lại, lơ lửng phía trên vị trí của Locher khoảng 15 mét và thả xuống một ‘penetrator’ (dụng cụ có hình trái thủy lôi, có trọng lượng vừa đủ để làm xuyên thủng những tàng cây che phủ vị trí Locher đang ẩn nấp).

Tiếng súng liên thanh đồng loạt bắn ra từ ngôi làng dưới chân núi, nhưng sau đó đã vội im tiếng, vì bị trực thăng võ trang trả đũa.

Locher nhào về phia penetrator. Anh nhanh nhẹn kéo dây an toàn từ penetrator ra nịt vào người, và banh ba càng ngồi hình mỏ neo ra ngồi vào. Sau đó anh dơ ngón tay ra hiệu…

Trong khoảnh khắc, Locher đã được kéo lên và đưa vào trong thân trực thăng. Lực lượng cấp cứu trở về căn cứ. Một số MiG của địch bay lượn ở xa xa, hậm hực chứng kiến mà không dám lại gần, vì biết không thể địch lại lực lượng hùng hậu của Mỹ.

Về phần Đại úy Roger Locher, chuyến bay về Thái Lan phải là chuyến bay hạnh phúc nhất đời. Lúc đó anh không thể biết mình đã sút đi gần 15 kí-lô sau 23 ngày hoạn nạn, anh cũng không biết rằng mình là người sống sót lâu nhất trong số các phi công lâm nạn và đã được cứu thoát trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, và dĩ nhiên, anh cũng không thể biết rằng, cuộc cấp cứu anh là cuộc cấp cứu vào sâu trong lãnh thổ địch nhất và tất cả đã trở về an toàn.

Anh chỉ biết có một điều là mình đã được bạn bè cứu thoát. Họ đã liều chết để cứu anh. Bây giờ, ngồi trên phi cơ, họ luôn miệng cười đùa như thể đã quên mất việc mình vừa đi vào đất địch. Họ không cho Locher một dịp may nào để nói một lời cảm ơn. Anh chỉ biết nhìn họ với đôi mắt mở to, với nụ cười dễ thương, và những giọt lệ từ khóe mắt tràn ra, rồi từ từ lăn xuống bộ râu rậm của mình…

Nguyễn Hữu Phước
LTUC Xuân 93

https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/vn/item/113-roi-tren-d-t-d-ch-nguy-n-h-u-phu-c

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

Links:

Nguồn Email.

Advertisements

Nước Mỹ có xấu hổ? – Kim Thanh

Bài đọc suy gẫm: Nước Mỹ có xấu hổ? hay Phnom Penh, Ngày ấy còn đâu của tác giả Kim Thanh, câu truyện thú vị về thân phận người dân của một nước nhược tiểu. Ảnh minh họa: Cựu Tổng thống VNCH, Trần Văn Hương.
 
 

PHNOM PENH, NGÀY ẤY CÒN ĐÂU?

Giữa tháng 7 năm 1971, tôi đang dẫn một trung đội tăng phái hành quân theo chiến dịch Phượng Hoàng tại một quận lỵ thuộc Tiểu khu Khánh Hòa thì nhận được lệnh của Bộ Tổng Tham Mưu về Sài Gòn trình diện. Đối với một sĩ quan cấp nhỏ, trung úy như tôi, đó là một tin vui lớn. Không cần biết về làm gì. Ít nhất được xa chiến trường một thời gian.

Về Sài Gòn, tôi được Bộ Tổng Tham Mưu cho biết phải đi Phnom Penh làm thông dịch viên Pháp ngữ cho Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự. Từ ngày VNCH đưa quân sang xứ Chùa Tháp, nhiệm vụ của Phái Đoàn, như tên gọi, rất cần thiết trong việc liên lạc giữa hai quân đội bạn. Nhận sự vụ lệnh, tôi nghĩ đến nỗi thất vọng của ba mẹ tôi luôn mong ước tôi được làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu, nhàn hơn, thọ hơn chăng. Cam Bốt, lúc ấy, cũng đang tơi bời khói lửa.

I. Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự:
Ở chơi Sài Gòn ba ngày, tôi đi Phnom Penh bằng C47, chuyến bay đặc biệt chở đồ tiếp tế cho Phái Đoàn. Hơn một giờ sau, đến phi trường Pochengton. Trời nóng không thua gì Sài Gòn. Một thiếu úy còn trẻ, kém tôi độ vài tuổi, mặt mày trắng trẻo, mang súng ru-lô xệ ngang hông như cao-bồi Texas thứ… giả, trên mép gắn hờ điếu thuốc chưa đốt kiểu James Dean, một chân gác, nhịp nhịp, trên cây cản phía đầu xe jeep trắng, mang bảng số ẩn tế. Một tốp quân nhân, trong số có một thượng sĩ già, bước xuống máy bay, lên xe. Thấy tôi còn đứng lóng ngóng, anh thiếu úy không chào, chỉ hất hàm hỏi, “ông về Phái Đoàn hả, lên luôn, mắc cỡ gì nữa”. Dĩ nhiên, tôi thấy khó chịu, nhưng tự nhủ, đừng nóng, sẽ tính sau. Một chiếc xe dân sự khác chở đầy vật dụng đem xuống từ máy bay.

Xe chạy bon bon trên những đường phố vắng, và đặc biệt rất sạch, có những hàng cây thẳng tắp hai bên đường cành lá sum suê, và những vườn hoa rực rỡ sắc màu. Vừa lái, anh thiếu úy tự giới thiệu, Nguyễn An Hòa, và sau này, tôi biết thêm anh là con của Trung tướng Nguyễn Văn Mạnh, Tham mưu trưởng Liên quân, ở trong Phái Đoàn, giữ một chức mà chính anh gọi đùa là “trưởng ban cà nhỏng”, muốn làm gì thì làm.

Sau hơn nửa giờ, đến trụ sở Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự, một building đồ sộ trên đường Norodom. Tôi được đưa thẳng lên lầu hai trình diện Trưởng phái đoàn, Đại tá Tô Văn Kiểm. Ông dáng gầy, tầm thước, rất ít nói, nét mặt khắc khổ, nhưng hiền lành, đôi mắt biểu lộ một tấm lòng nhân hậu. Lần đầu gặp ông, tôi thấy có cảm tình ngay và an tâm. Rồi ông dẫn tôi đến một phòng lớn, toàn là sĩ quan cấp tá đang ngồi làm việc, và giới thiệu:

– Trung úy Nguyễn Kim Quý, thông dịch viên mới của Phái Đoàn.
Có đủ các Phòng Ban, các ngành Hải, Lục, Không quân. Tôi còn nhớ bên Hải quân có Thiếu tá trẻ tên Khôi (quên họ), Không quân có Trung tá phi công già Trịnh Hảo (Văn?) Tâm. Có Trung tá Nguyễn Kiên Hùng, TQLC, người hùng trong vụ đảo chánh cụ Diệm năm 1960, ở phòng 2 hay 4. Đặc biệt có Trung tá Nguyễn Văn Nam, trưởng phòng 5, chồng của nghệ sĩ Mộng Tuyền, dáng dấp hào hoa phong nhã. Trung  tá Nam bước đến vỗ vai tôi, bắt tay, thân mật, nói liền một câu tiếng Pháp, giọng khàn khàn:

– Bienvenu, mon frère!
Dân CTCT có khác, tôi khen thầm. Đại tá trưởng Phái Đoàn cho tôi nghỉ ba hôm, để quen nước quen cái. Ngủ trong dãy phòng sĩ quan cấp úy, gồm các phi công, sĩ quan hải quân, và bộ binh biệt phái công tác ngắn hạn, nghĩa là mới thấy đã biến đâu mất. Ăn tại “phạn xá”, dành cho sĩ quan cơ hữu, nghĩa là làm việc thường trực tại Phái Đoàn. Mỗi người góp tiền hàng tháng cho hai binh sĩ “hỏa đầu quân” đi chợ và nấu ăn chung.

Nguyễn An Hòa đưa tôi đi thăm một vòng building: phòng truyền tin, tiếp liệu, nhà bếp, nhà tắm, phòng ngủ của các hạ sĩ quan, binh sĩ. Tất cả đều chào đón tôi vui vẻ, niềm nở. Phòng Y tế có một bác sĩ và một y tá. Y sĩ trưởng là Thiếu tá Trương Kim Thành rất cởi mở, dễ mến. Sau này, khi rảnh việc, tôi hay mò đến phòng Y tế không phải để xin thuốc, vì lúc ấy còn trẻ đâu cần, nhưng để tán gẫu với anh về đủ chuyện, kể cả văn chương, nghề của tôi, và chữa bệnh hoa liễu, nghề của… chàng.

Tôi được chia văn phòng với Thiếu tá Son Sanjivith, sĩ quan liên lạc của quân đội Cam Bốt tại Phái Đoàn VNCH, sáng đến chiều đi, luôn mặc quân phục kaki vàng ủi thẳng nếp, mang cấp bậc trên cầu vai như lon Pháp, đeo kính trắng, dáng dấp quan văn hơn quan võ. Son Sanjivith nói anh là con của cựu Thủ tướng Cam Bốt Sơn Ngọc Thành – thủ tướng năm 1945 và 1972, bị ám sát hụt, đày về Việt Nam, rồi sau 1975 bị Việt cộng bắt và chết trong khám Chí Hòa năm 1977– và cháu của chính trị gia Sơn Ngọc Minh. Tôi cũng không hỏi thêm. Anh không nói được tiếng Việt. Buổi sáng đầu tiên tôi vào nhận việc, anh pha cà-phê mời tôi uống, nói chuyện bù khú với nhau gần một giờ xài nhiều tiếng lóng Pháp, cười thích thú, bên khung cửa sổ, nhìn xuống con đường phía sau, song song với đại lộ Norodom. Rồi ai về bàn nấy. Anh ngồi cuối phòng, còn tôi gần cửa ra vào.

Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự không có thông dịch viên khá lâu, vì người tiền nhiệm của tôi, mãn hạn ba tháng, chưa có ai thay, nên giấy tờ ứ đọng. Giấy tờ không có gì “mật”, cũng thường thôi, của quân đội – đôi khi của chính phủ– Cam Bốt, viết bằng tiếng Pháp, gửi Phái Đoàn, nhờ chuyển cho Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn. Trước khi đến bàn thông dịch viên, văn thư đã được đọc bởi Đại tá Kiểm. Thư nào cần dịch ra tiếng Việt, và ngược lại, ông ghi “à traduire”. Thư trả lời, ông viết bằng tiếng Việt, mặc dù rất giỏi Pháp ngữ, cũng như các trưởng phòng, nhưng ông muốn có một bản dịch do một “chuyên viên” chính thức chịu trách nhiệm. Đôi khi ông gợi ý cho tôi trả lời thẳng bằng tiếng Pháp những bức thư không quan trọng. Ông rất hài lòng về những bản dịch của tôi, khen tôi trước các sĩ quan khác, và để tưởng thưởng, ông cho phép tôi, sau khi nộp bản dịch trong ngày, được đi chơi tùy thích, không phải ngồi “làm cảnh” ở văn phòng. Tôi thầm cám ơn Thượng Đế cho tôi thêm một vị chỉ huy quá tốt, giữa những vị chỉ huy quá tốt khác trong suốt đời lính.

Được phép, nhưng tôi lại không ra ngoài, thích ở văn phòng đọc sách, trừ khi Hòa đến rủ. Mà Hòa thì khoái đi lắm. Đúng hơn, khoái đi với tôi, có lẽ vì đồng trang lứa, đồng cấp úy, có lẽ vì tôi dễ tính, lôi đi đâu cũng được. Quen nhau, tôi thấy Hòa là một người bạn tốt, thẳng thắn, dễ thương, không bao giờ nói hoặc chơi xấu ai, dù bề ngoài có vẻ ngang tàng, bất cần của một công tử Con Ông Cháu Cha. Bên ly rượu, giữa hai làn khói thuốc, Hòa thường tâm sự về cuộc đời, ái tình, sự nghiệp của mình, và tôi được biết anh rất đắt đào, trong số có một ca sĩ cải lương trẻ đang lên mà anh xem như bồ ruột – đôi lúc dự tính “rước em dzìa dzinh luôn”, anh vui miệng kể.

Ra phố, Hòa và tôi diện áo quần dân sự, nhưng không quên lận lưng cây súng, juste dans le cas où… Hòa thường khoe cây mini-Colt dẹp, đẹp, nhỏ xíu, như cái hộp quẹt ga, tôi không chắc bắn có chết ai không. Ngoài những chiều Chúa Nhật dự thánh lễ tại nhà thờ Chánh tòa, nơi gặp gỡ của thành phần thượng lưu Cam Bốt cũng như ngoại quốc, nhất là Pháp, tôi xuống phố, một mình hay với Hòa, cũng chỉ để vào những tiệm ăn Tây, gần trụ sở Phái Đoàn gọi món poulet à la marengo hay civet au lapin, nhấm nháp vài ly rượu vang Bordeaux chánh hiệu. Hoặc lòng vòng quanh Chợ Trung ương (Marché Central) gần đại lộ Monivong và de Gaulle, ăn hủ tiếu Nam Vang – gọi là chính gốc Nam Vang, mà dở tệ hơn mì gói trụng nước sôi. Hoặc lượn trước cửa Lycée Preah Norodom, ngắm các tiểu thư mặc đồng phục váy màu xanh đậm, mặt hoa da phấn, ríu rít tan trường, mà lòng bồi hồi tưởng nhớ những bóng hình xưa cũ. Đôi khi Thiếu tá Son Sanjivith mời về nhà dùng cơm. Vợ anh là người Cam Bốt, xinh đẹp, quý phái, lịch sự. Đáp lễ, thỉnh thoảng tôi mời hai vợ chồng đi ăn những tiệm họ chọn. Theo lời khuyên của anh, tôi tránh vào những bars rượu, có bia ôm dĩ nhiên, vì người Miên, nhất là lính Miên hành quân trở về, súng ống đầy mình, không ưa Việt Nam. Một lần, lỡ bước vô, Hòa và tôi bị họ nhìn với cặp mắt cú vọ, khiêu khích, như chúng tôi đã nhìn lính Mỹ trong các quán bars ở Sài Gòn. Ngồi uống bia kiểu đó mất hứng và mất sướng. Ôm em trong tay mà hồi hộp không biết ăn đạn lúc nào.

Thỉnh thoảng, Trung tá Nguyễn Văn Nam cũng rủ tôi đi chơi riêng với ông. Khi thì ông gặp một người Miên lai môi giới hỏi mua chiếc xe Mustang rẻ, đem về Việt Nam miễn thuế, bắt tôi ngồi bên để ông lái thử xem máy chạy có tốt không. Khi thì đến ăn tối tại nhà một chị Việt Kiều quen ông. Khi thì đi thăm Chùa Prasat Prak, còn gọi là Chùa Bạc Chùa Vàng (sàn lót bằng hàng ngàn mảnh bạc và có một tượng Phật khổng lồ đúc vàng), hay vào hoàng cung lộng lẫy son vàng, mái lầu cong vút, bất ngờ nhìn thấy công chúa Bopha Devi, con vua Sihanouk, nguyên trưởng đoàn múa ballet hoàng gia, năm ấy 28 tuổi, ba đời chồng, đẹp mê hồn, bị giam lỏng cùng với gia đình và nhiều mỹ nữ.

Ngoài lương căn bản trong quân đội, do đơn vị gốc giữ hộ, các sĩ quan Phái Đoàn được lãnh thêm tiền phụ cấp công tác hàng tháng bằng đô la xanh. Tôi cấp nhỏ, độc thân, lãnh khoảng $180, đổi ra tiền riel, vật giá lại rẻ, cũng đủ xài hết tháng, một cách đế vương, có khi còn dư chút đỉnh.

Ban đêm, Phái Đoàn tự lo an ninh. Tất cả sĩ quan luân phiên trực trại, tuần tra bên trong tường building cùng với hai binh sĩ trang bị M16 và lựu đạn. Buổi sáng, nếu không có chuyện gì, ghi vào sổ “rien à signaler”, vô sự. Một vài đêm cuối tuần, không biết làm gì để giết thời gian, các sĩ quan, chờ cho Đại tá Kiểm đi ngủ, gầy sòng phé đánh giải trí. Tôi và Hòa được rủ tham gia. Ai không chơi, ngồi ngoài chầu rìa, tình nguyện đóng vai “thầy bàn”. Tôi mang danh “thầy cúng”, vì thua triền miên. Trung tá Nam đánh rất bạo, mới nước thứ hai đã tố xả láng, tapis (Mỹ gọi là “all in”) liền, thua hết tiền, đứng dậy, tỉnh queo, nhưng thường thường ông thắng, vì đa số nhát, không dám bắt dù đoán ông tháu cáy. Một đêm, đang sát phạt, Đại tá Kiểm bất thần xuất hiện. Ông ghét cay ghét đắng cờ bạc, nên la mắng tận tình, từ cấp trung tá trở xuống, ai nấy ngồi yên, chịu trận. Nhưng qua hôm sau, ông vui vẻ trở lại, coi như không có chuyện gì xảy ra. Những trận phé chui, vì thế, vẫn tiếp diễn trong hồi hộp.

Nói lại công việc dịch. Thực ra, lúc đầu, tôi cũng vất vả với những danh từ quân sự và khuôn mẫu xã giao, cả Việt lẫn Pháp, mặc dù nội dung không có gì khó khăn, gây cấn. Vài lá thư thường xuyên than phiền về việc làm của một, hai đơn vị QLVNCH trong làng xã gần biên giới. Vài thư chia sẻ tin tức quân sự, báo cáo, tổng kết công tác phối hợp. Một số ít thư qua lại mang tính cách ngoại giao như mừng Ngày Quân Lực VNCH, chia buồn vụ Tướng Đỗ Cao Trí tử nạn, hoặc, ngược lại, những lễ lớn của quân đội Cam Bốt. Son Sanjivith cho tôi một quyển cẩm nang về cách viết công văn bằng tiếng Pháp với những câu xã giao có sẵn. Cứ thế mà ráp vào. Sau hai tuần, tôi quen, và bất kỳ văn thư dài ngắn, tôi chỉ đăm chiêu suy nghĩ một hồi, gõ máy chữ (lúc ấy chưa có computer) hai mươi phút là xong. Rồi thay đồ dân sự. Tự do như gió.

Đôi khi tôi đến sân tennis, gần phi trường Pochengton, múa vài đường banh cho giãn gân cốt, kiểu trưởng giả học làm sang, chứ không mong ăn cái giải gì. Nhờ vậy, một ngày đẹp trời, nhân đi xem một trận đấu quốc tế tôi được gặp tại đó một bạn JECU (Thanh Sinh Công Đại Học) cũ, xinh đẹp, vô cùng dễ thương, Yvette Trương Tấn Trung, cựu sinh viên Dược Sài Gòn. Tha hương ngộ cố tri là một trong tứ… vui. Cả hai hết sức ngạc nhiên, ôm chào nhau mà miệng cùng lúc hỏi nhau một câu giống y chang: “Mais qu’est-ce que tu fais ici?” (Nhưng mà toa làm gì ở đây?). Yvette lấy chồng người Cam Bốt, bạn học trường Dược ở Paris, về Phnom Penh mở một tiệm thuốc Tây, cũng gần đó. Hỏi thăm nhau nhiều chuyện mới, ôn lại nhiều kỷ niệm cũ. Yvette ghi địa chỉ và số điện thoại mời “toa hôm nào đến nhà tụi này chơi.” Tôi hứa, rồi lại quên, cho đến ngày trở về Việt Nam, lên phi trường Pochengton, mới sực nhớ, nhưng trễ quá, không làm được gì nữa. Sau 1975, thỉnh thoảng tôi tự hỏi không biết Yvette và chồng con có thoát được nạn Khmer Đỏ. Năm 1988, tôi ở Paris, tìm trong niên giám điện thoại tên Yvette Trương. May quá, gọi được. Tôi nói, xin lỗi đã không đến thăm ở Phnom Penh và mừng vì Yvette và gia đình trở lại Pháp trước 1975. Lúc ấy, tại Paris, Yvette làm trong một hãng bào chế thuốc.

Một hôm, bà Mộng Tuyền qua Phnom Penh thăm chồng. Thực sự, tôi chỉ nghe tên bà, chứ chưa hề diện kiến dung nhan và cũng chẳng biết bà hát tân nhạc hay cổ nhạc nữa. Quả thật, danh bất hư truyền. Bà rất đẹp, nước da trắng như trứng gà bóc, lại lịch thiệp, gọi tôi bằng “chú” (em). Nhân dịp, Trung tá Nguyễn Văn Nam rủ tôi cùng đi với ông bà, và vài sĩ quan khác, thăm trại Việt Kiều Phnom Penh, gần bến tàu, dưới quyền kiểm soát của chính phủ Miên. Năm 1970, sau khi Lon Nol, với sự trợ giúp của hoàng tử Sirik Matak lật đổ vua Sihanouk (Sirik Matak thuộc dòng chính, đáng lẽ lên ngôi vua, nhưng Pháp chọn Sihanouk, nên rất hận ông này), những người Việt Nam, dù sinh trưởng tại Cam Bốt đã lâu đời, đều bị bắt giết dã man trong thảm nạn “cáp duồng”. VNCH phản ứng chậm, và hàng ngàn người đã chết, như báo chí Việt Nam thời ấy tường thuật. Một số được hồi hương. Một số đang chờ tàu hải quân chở về Việt Nam, như trại tập trung Việt kiều mà chúng tôi đến thăm. Xem như đi công tác CTCT và sợ bị “cáp duồng” bất tử, chúng tôi được lệnh mặc quân phục và mang theo hai cây M16.

Trại nằm trong khuôn viên một ngôi chùa lớn, trên một sân rộng, có hàng dây kẽm gai vây quanh và rải rác cả trăm lều vải. Hầu hết là những gia đình, đầy trẻ em nheo nhóc, làm ruộng hoặc đánh cá, không nói hoặc nói ít tiếng Việt. Da ngăm đen, trông không khác người Miên, tay chân khẳng khiu vì thiếu dinh dưỡng. Cảnh sống quá thảm thương. Tôi bước theo ông bà Trung tá Nam và Thiếu tá Khôi Hải quân, thăm hỏi một số đồng bào. Một cô trẻ đẹp, khoảng mười tám, da trắng, môi thắm tự nhiên, ngồi một mình buồn bã ở một góc lều. Chúng tôi dừng lại. Thấy tôi, cô nghẹn ngào khóc:

– Anh cứu em với.
– ?
– Cả gia đình em ở Kompong Thom bị giết chết hết. Em chạy trốn được xuống đây. Em chưa có chồng, anh lấy em đi, em mới thoát được chỗ này.
Tôi biết cô nói thật, và có thể với nhiều người khác, vì quá tuyệt vọng. Trung tá Nam nhìn tôi, rồi nhìn cô, an ủi:
– Tàu Hải quân sắp lên đón đồng bào về Việt Nam. Cô đừng lo.
Còn tôi móc bóp, tặng cô một trăm riel, tương đương năm đô. Cô lắc đầu, không lấy, khóc nức nở thành tiếng. Tôi đặt số tiền dưới chân cô, chào và đi thẳng. Viết đến đây, tôi thầm hỏi, cô giờ này ở đâu, còn sống hay đã chết, hỡi cô gái tị nạn không biết tên, nạn nhân của chiến tranh ngu ngốc và độc ác của loài người –một Barbara trong thơ của Prévert?

II. Soriya :
“Sweet Helen, make me immortal with a kiss”
(Christopher Marlowe, XVIth c., Faust)
“You gods […] ought to be ashamed of yourselves! You are always jealous…”
(lời Calypso nói với thần Hermès, trong The Odyssey của Homère, quyển V)

Tòa đại sứ VNCH gần Phái Đoàn Liên Lạc Quân Sự, trên đường Norodom, nếu tôi nhớ không lầm. Tôi chỉ đến hai lần. Lần đầu vào đầu tháng tám, 1971, khi ông Đại sứ Trần Văn Phước mở một tối tiếp tân, tôi không nhớ nhân dịp lễ nào. Cả Phái Đoàn được mời tham dự. Đèn hoa treo rực rỡ, sáng trưng. Có một số đại diện đồng minh, như Mỹ, hay Lào, Nhật, Thái Lan, Miến Điện… Ăn theo kiểu self-service, rượu vang và champagne uống thả giàn. Một cô Cam Bốt, tay cầm ly rượu, tay cầm đĩa thức ăn, đến bàn tôi, xin ngồi cùng. Và tự giới thiệu, Soriya, thư ký đả tự của Tòa đại sứ Việt Nam. Cô nói tiếng Pháp lưu loát, giọng trong vắt. Trong câu chuyện, cô hỏi tôi có phải là Trung úy thông dịch viên, nghe danh Trung úy lâu rồi, hôm nay mới được làm quen, v.v… Cô dáng cao gầy, nước da bánh mật, có chiếc răng khểnh xinh xinh, nhưng lúc ấy rượu vào, lại được ngồi cạnh người đẹp, tôi thấy cô quyến rũ khác thường, còn hơn cả tiên nữ giáng trần. Lòng lâng lâng yêu đời, tôi bắt đầu trổ tài tán dóc, nghĩa là nói nhiều, nói dai, nói diễu hơn thường lệ. Cô kể, em quê ở Battambang, học tới Bac II, rồi đi làm, hôm nào mời anh đi về quê em chơi… C’est promis? – C’est promis. Tôi hứa đại.

Lần thứ hai tôi đến Tòa đại sứ, mười ngày sau. Tìm gặp Soriya, một buổi trưa, không hẹn trước. Cô đang đánh máy, thấy tôi, vội vàng chạy ra cửa, ôm hôn theo kiểu Đầm, mỗi má hai chiếc. Tôi mời cô tối ra phố ăn cơm. Trong tiệm, một lúc nào đó, tôi nói:

– Tên em đẹp quá. Soriya có nghĩa gì vậy?
– Mặt trời. Mặt trời sưởi ấm những trái tim lẻ loi. Anh có tin là em cô đơn?
Tôi siết nhẹ tay cô:
– Có. Bien sûr. Người ta không nói dối khi nói mình cô đơn. On ne ment pas quand on dit qu’on est seul. Hình như câu đó của James Jones trong Tant qu’il y aura des hommes.
Rồi bỗng cô ngập ngừng, hỏi:
– Sao anh lại chọn nghề này, em muốn nói, nghề lính, bắn giết nhau, hay ho gì?
Tôi nhìn sâu vào mắt cô, để tìm xem có ẩn ý nào không, rồi chậm rãi trả lời:
– Trong lúc đất nước chiến tranh, tôi không có sự chọn lựa. Đi lính càng không phải là một chọn lựa. Có lẽ tại số. Trước khi biệt phái sang đây, tôi là lính chiến, đã bắn và bị bắn trả. Huề. Có một điều bí mật tôi muốn chia sẻ với em mà em chưa được học từ bài học philo hay littérature nào. Đó là loài người chúng ta thường bị ganh tị bởi những vị thần linh bất tử…
Cô im lặng, chưa hiểu. Sau một hớp rượu, tôi tiếp:
– Tôi đọc ở đâu đó, trong L’Iliade hay L’Odyssée của Homère, tôi không nhớ chắc, rằng các vị thần linh trong thần thoại vì là bất tử nên thường hay ganh tị với loài người, ils nous envient, tu sais, bởi chúng ta ai cũng phải chết một ngày, sớm hay chậm hơn, mười năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Cho nên, mỗi một ngày trần thế của chúng ta, của em, của tôi trở thành đẹp vô ngần, quý giá hơn cả ngọc ngà, châu báu. Cũng trong L’Iliade, có đoạn viết rằng các vị thần đứng đầu là Zeus, tức Jupiter, chia làm hai phe trong cuộc chiến giữa thành Troie và Hy Lạp. Họ thèm được đánh nhau như loài ngưòi. Tôi suy diễn, thèm được chết như loài người. Vois-tu, Soriya, les dieux qui sont immortels et ceux qui se croient immortels n’ont pas le lugubre plaisir, ou plutôt l’agréable malheur, d’être condamnés à mourir, à attendre la mort à chaque instant… comme nous tous, comme moi, comme toi, d’ailleurs. Thần linh bất tử không có cái diễm phúc bi thảm, nỗi đau thương dịu dàng được chết, được chờ đợi cái chết đến, từng phút, từng giây, không có thảm kịch bị án phải chết bất cứ lúc nào, như kiếp người mong manh. Như những người lính xông pha ngoài chiến địa… Không bao giờ tôi thấy đời đẹp, và em đẹp hơn là lúc này, khi biết đâu ngày mai ta không còn thấy nhau nữa. Em hiểu tôi chứ?
Soriya suy nghĩ, trầm ngâm, hồi lâu, rồi nói:
– Em hiểu và biết thêm nhiều điều lạ. Merci, mon cher ami.
Trước khi chia tay, cô lại nhắc chuyện đi thăm Battambang. Promis? – Promis. Tôi lại hứa.

Mãn hạn ba tháng, tôi xin Đại tá Tô Văn Kiểm cho về Việt Nam, mặc dù ông – và cả Nguyễn An Hòa và Trung tá Nguyễn Văn Nam– cố thuyết phục tôi tiếp tục làm việc tại Phái Đoàn, thậm chí đề nghị cho nghỉ phép một tháng với gia đình, rồi trở lại cũng được. Mặc dù rất nhiều người thích qua Phnom Penh, thay chỗ của tôi. Tôi cũng không hiểu tại sao muốn về Việt Nam, trong khi không có vợ con, người yêu để mà vướng bận. Có lẽ vì chán khung cảnh thành phố hàng ngày đơn điệu, trống rỗng, và thấy nhớ núi rừng và mùi hương cau, hương bưởi của những ngày hành quân qua các thôn nghèo và cánh đồng cằn cỗi, những trẻ em và phụ nữ bị thương vì mìn Việt cộng. Không còn ước mơ được làm việc tại Bộ Tổng Tham Mưu Sài Gòn nữa.

Tôi không từ giã Soriya. Lời hứa đi thăm quê nàng bay theo mây khói. Mười ba năm sau, 1984, tại trại tỵ nạn Bataan, Philippines, chợt nhớ Soriya quay quắt, và ân hận vô vàn, tôi đến khu người Cam Bốt, tìm nàng và hỏi thăm tin tức. Soriya. Không ai biết. Không chừng, năm 1975, Soriya đã bị giết bởi bọn Khmer Đỏ, một người bảo tôi, vì là nhân viên của Tòa đại sứ VNCH. Battambang “quê em” mỗi ngày một xa lắc lơ, biết bao giờ đến được? Tôi bỗng nhớ lời tôi đã nói với nàng trong tiệm ăn năm xưa: “Những vị thần bất tử thường hay ganh tị chúng ta…”

Soriya có lẽ đã bị giết như hai triệu người Cam Bốt đồng hương. Như, có lẽ, Thiếu tá Son Sanjivith. Như, chắc chắn, Sirik Matak, cựu thủ tướng của họ.

III. Sirik Matak:
“My soul, do not seek immortal life, but exhaust the realm of the possible”
(Pindar, 518-438BC, Pythian Odes, III, 109)

Một hôm, Đại tá Kiểm bảo tôi ăn mặc chỉnh tề, lên chiếc xe Limousine hay Mercedes, tôi không nhớ, của Phái Đoàn, đi với ông đến dinh Hoàng thân Sirik Matak, quyền Thủ tướng trong thời gian Lon Nol chữa bệnh ở Hawaii. Để họp, ông giải thích, cùng với những nhân vật quan trọng khác. Tôi biết Đại tá Kiểm không cần sự thông dịch của tôi, mà không hiểu sao vẫn dẫn tôi theo, có lẽ vì lòng thương mến dành cho tôi, tôi chủ quan nghĩ như vậy. Trong khi các vị họp hành, bàn luận, tôi tìm chỗ ngồi phía dưới cùng, lắng nghe, quan sát.

Sirik Matak có nét mặt xương xương, người gầy, dong dỏng, vẻ thông minh, nhã nhặn, nói tiếng Pháp sành sỏi. Qua bài diễn văn ngắn của ông (tôi không nhớ chính xác câu nào, mà chỉ những allusions, liên tưởng xa xôi, bóng gió bằng ngôn ngữ ngoại giao, với những động từ chia ở mode conditionnel hay subjonctif, như nous ne croirions pas que…, tout nous aurait indiqué que…, quoi qu’on puisse en dire, nous aurions de bonnes raisons pour…) tôi đánh hơi cảm nhận nơi ông một sự hoài nghi về những lời cam kết và lòng trung thành của người Mỹ đối với Cam Bốt và sự dị ứng cá nhân đối với người Việt Nam, dù Quốc gia hay cộng sản. Nhưng ông nói rõ, ông cần sự hỗ trợ của Mỹ và Nam Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống Bắc Việt, đang được đỡ đầu bởi Trung cộng (lúc ấy có tòa đại sứ, hay lãnh sự, tại Phnom Penh). Đó là lần duy nhất tôi thấy ông. Từ đó, tôi không bao giờ nhớ đến Sirik Matak nữa.

Cho đến những năm gần đây, tên ông bỗng trở về trong ký ức. Quả vậy, cứ mỗi dịp tưởng niệm ngày 30/4, đồng hương lại đem đăng tải và dịch trên báo lá thư từ chối đi Mỹ của ông gửi đại sứ John Gunther Dean. Để tôn vinh ông như một anh hùng. Trong bức thư quá nổi tiếng ấy –mà nhà báo và bình luận gia chính trị Gabriel Schoenfeld xem như một trong những tài liệu quan trọng nhất của cả thời kỳ chiến tranh Việt Nam– có một nhóm chữ mà không ai dịch đúng, từ dịch giả Phạm Kim Vinh (trong Tháng 4 đen, Vietnam xuất bản, 1988) đến những bản dịch trên mạng, trong câu: “But mark it well that, if I shall die here on the spot and in my country that I love, it is too bad [tôi nhấn mạnh] because we are all born and must die one day”. Tiếng Pháp: “Mais, notez-le bien, si je meurs ici, dans mon pays que j’aime, tant pis, car nous sommes tous nés et nous devons mourir un jour” (Olivier Todd, Cruel Avril, nxb Robert Laffont, 1987, tr. 274).

Phạm Kim Vinh dịch nhóm từ ngữ too bad và tant pis thành: “cũng chẳng sao” (sđd, tr. 225). Chết cho quê hương mình yêu dấu đâu phải là chuyện nhỏ, mà “cũng chẳng sao” ư? Còn trên mạng thì được dịch: “đó là điều tệ hại”, hoặc tương tự. Chết cho đất nước như thế, tại sao lại là “điều tệ hại”? Chứng tỏ người ta không hiểu rõ tâm tư của tác giả, Sirik Matak, và lý do khiến ông, mặc dù nói cứng như vậy, vào phút chót đã chạy vào lãnh sự quán Pháp để rồi bị đẩy ra nộp giao cho bọn Khmer Đỏ và sau đó bị giết.

Quả vậy, too bad và tant pis, theo nghĩa thông thường và cảnh huống (contexte) của bức thư phải được dịch là “mặc kệ tôi”: “… Nếu tôi phải chết ngay tại đây, trên đất nước của tôi mà tôi yêu mến, thì cũng mặc kệ tôi, bởi vì tất cả chúng ta được sinh ra và phải chết một ngày…” “Mặc kệ tôi” hàm chứa một sự bất cần, và nhất là, ở đây, một sự uẩn ức, đối với đối tượng của bức thư, tức là chính phủ Mỹ – đã quyết định bỏ rơi Cam Bốt. Nghĩa là, tôi có chết thì cũng mặc kệ tôi, các người đừng thương tiếc làm gì, đừng nhỏ giọt nước mắt cá sấu, v.v… Điều này rất “người” (humain), nghĩa là hợp với tâm trạng chán chường, bất lực và ngôn từ bực bội của một nhà lãnh đạo một nước yếu đang thấy mình bị phản bội bởi một đồng minh mạnh hơn. Giận người đã đành, mà còn giận chính mình đã cả tin vào người Mỹ: “I have only committed the mistake of believing in you, the Americans”. Câu đó làm tôi nhớ bài diễn văn năm xưa của ông đã được nghe trong buổi họp. Ông đã đúng khi nghi ngờ người Mỹ. Người Mỹ đã phản bội ông, quốc gia của ông thật sự. Rõ ràng, trắng trợn. Cũng như đã phản bội kháng chiến quân Cuba năm 1961 trong vụ Bay of Pigs, Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963, Việt Nam Cộng Hòa năm 1975, quốc vương Shah của Iran năm 1979, và Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak, đồng minh lâu đời, tháng 2/2011… Ví dụ còn nhiều. Cũng vì vậy mà Sirik Matak mới từ chối đề nghị giúp đỡ ra đi bởi chính phủ Mỹ trong một lá thư riêng gửi cho dân  chúng Mỹ qua ông đại sứ Mỹ. Vấn đề chỉ là cá nhân giữa ông và Mỹ. Như thế, không có nghĩa, và không có đoạn nào ám chỉ, ông sẽ từ chối mọi sự giúp đỡ, nếu có, nếu cần, của những tòa đại sứ khác, chẳng hạn. Thế thôi. Có như vậy người ta mới hiểu tại sao ông đã xin tỵ nạn trong lãnh sự quán Pháp.

Phải công nhận bức thư của Sirik Matak, dù được viết trong bối cảnh nào, quả là tuyệt vời. Bức thư với giọng nhẹ nhàng, lịch sự mà vô cùng cay đắng, kiêu hãnh của một nhà lãnh đạo anh hùng, có khí phách, có trách nhiệm, không đào ngũ trước khi tai họa giáng xuống. Một bản cáo trạng hùng hồn về sự phản bội, qua những câu bình dị, nhưng làm nhức nhối tâm can.

Bức thư tuyệt vời, so với bài diễn văn của Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. Chúng ta, những người lớn tuổi, còn nhớ buổi tối 21/4/1975, trong giờ tổ quốc lâm nguy, ông đã lên TV, lúc thì đanh thép lúc thì nghẹn ngào, để tố cáo Mỹ như thế nào về việc cúp viện trợ cho Việt Nam, nghĩa là bỏ rơi Miền Nam, nào là “Hoa kỳ nuốt lời hứa. Bây giờ còn ai tin lời của người Mỹ?”, nào là “chúng ta không thương lượng với Mỹ để có vài triệu đô la giống như chúng ta đi trả giá ngoài chợ cá”, v.v… (xem các báo cũ Việt Nam và Mỹ như The New York Times, Los Angeles Times, v.v…). Đặc biệt, câu cuối cùng: “Tôi từ chức, nhưng tôi không đào ngũ. Tôi sẽ trở về với quân đội, chiến đấu sát cánh với các chiến hữu”. Năm ngày sau, ông rời khỏi Sài Gòn trong một chiếc Mercedes bịt kín, do một đoàn xe CIA hộ tống dưới quyền chỉ huy của Frank Snepp (cf George J. Church, “Saigon: The final 10 days”, Time Magazine, 4/24/1995), ra phi trường, có đại sứ Martin đứng chờ, để đi Taiwan trên chiếc máy bay C-130 sơn đen, với 15 tấn hành lý, và nếu ta tin lời Gabriel Kolko (The Guardian, Oct 2, 2001) “có hai va-li lớn đầy vàng”, hoặc David Lamb của tờ Los Angeles Times, “với số vàng trị giá 15 triệu dollars” (and USD 15 million in gold).

Một số phận, hai nhân vật. Bức thư của Thủ tướng Sirik Matak tuyệt vời, trên cả tuyệt vời. Cho nên đã được Henry Kissinger đọc cho Quốc Hội Mỹ, để họ nghe thấm thía thêm nỗi nhục nhã và hối hận, biết đâu! Cho nên được lưu trữ tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ như một tài liệu quan trọng, trong khi ở đó không có bức ảnh nào của ngũ tướng tuẫn tiết VNCH (tại sao, mặc dù vì niềm tự hào truyền thống không ai trong chúng ta đòi hỏi phải có?). Cho nên đã được người Việt tỵ nạn hàng năm đem ra đăng lại để tô rạng ngời thêm tấm gương dũng liệt của một lãnh tụ ngoại quốc, một đồng nạn nhân của sự tráo trở, phản trắc.

Nhưng, tiếp theo bức thư tuyệt mệnh ấy, vào ngày 17/4/1975, ông hoàng, cựu Thủ tướng Sirik Matak đã chạy vào lãnh sự quán Pháp, cùng với hai cận vệ – điều mà ít ai biết, chú ý hay còn nhớ – và những viên chức cao cấp của chế độ: Ung Boun Hor, chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, Long Boret, thủ tướng đương nhiệm, công chúa Mam Manivane, gốc Lào, vợ thứ sáu của Sihanouk, con gái, con rể, và hai cháu ngoại của bà, và nhiều người khác, không dưới 100. Dù không được mời. Dù bị xua đuổi thẳng thừng, thô bạo, và giao nộp cho Khmer Đỏ ba hôm sau, để tất cả bị giết sạch, kể cả đàn bà con nít, bởi loài thú hung hãn mang hình người.

Tấn thảm kịch này được kể lại, kèm theo hình ảnh, bởi nhiều nhân chứng, tác giả Pháp, Mỹ, Miên, từ Olivier Todd, François Bizet (Le Portail, La Table Ronde, 2000), đến Henry Kamm (Cambodia: Report from a Strickenland, Arcade Publishing, 1998), v.v…, và những ký giả quốc tế. Kể lại bởi những phiên tòa quốc tế xét xử bọn Khmer Đỏ. Và nhất là bởi vụ kiện được thụ lý từ tháng 4/2008 tại tòa án Créteil, Paris, do bà góa phụ Billon Ung Boun Hor, tác giả quyển Rouge barbare (Ed. Respublica, 2009), khởi tố chính phủ Pháp đã ra lệnh nộp chồng bà cho Khmer Đỏ – vụ án mà tất cả báo chí Pháp tường thuật, đang làm thức tỉnh và hổ thẹn lương tâm người Pháp, cũng như bức thư của Sirik Matak, từ 36 năm trước, đã làm thức tỉnh và hổ thẹn lương tâm người Mỹ.

Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975. Hình trong báo Newsweek, số ngày 19/5/1975, được luật sư của bà Billon Ung Boun Hor trưng ra trước tòa, để phản bác lập luận của chính phủ Pháp cho rằng những chính khách Cam Bốt tự nguyện rời khỏi Lãnh sự quán. Trích lại từ báo Thế Giới Ngày Nay (Kansas, chủ nhiệm Lê Hồng Long) số 207, tháng 7&8, 2010, trang 36.
Hoàng thân Ung Boun Hor, Chủ tịch Quốc Hội Cam Bốt, bị nhân viên Sứ quán Pháp đẩy ra cửa giao nộp cho Khmer Đỏ, ngày 20/4/1975. Hình trong báo Newsweek, số ngày 19/5/1975, được luật sư của bà Billon Ung Boun Hor trưng ra trước tòa, để phản bác lập luận của chính phủ Pháp cho rằng những chính khách Cam Bốt tự nguyện rời khỏi Lãnh sự quán. Trích lại từ báo Thế Giới Ngày Nay (Kansas, chủ nhiệm Lê Hồng Long) số 207, tháng 7&8, 2010, trang 36.
 

Chính phủ Pháp không xấu, nhưng trong vấn đề chính trị, thường phá bĩnh, chọc gậy bánh xe, ganh đua với người Mỹ, vì mặc cảm hay hội chứng de Gaulle – chịu ơn Mỹ, nhưng vẫn ghét Mỹ. Tại Việt Nam, người ta chưa quên hành động lăng xăng của ông Jean-Marie Mérillon và Tòa đại sứ Pháp ở Sài Gòn giữa Dương Văn Minh và MT Giải phóng Miền Nam và Bắc Việt trong những ngày cận kề 30/4, tự nguyện làm trung gian cho một chính phủ trung lập, để rồi bị Bắc Việt sau khi chiến thắng đuổi chạy có cờ. Thật ngây thơ, như muôn đời họ vẫn. Và riêng ở Phnom Penh, tháng 4, 1975, con cháu của những anh hùng Charlemagne, Jeanne d’Arc, và Napoléon đã quá hèn nhát, một cách độc ác, tồi tệ.
Nhưng thôi, có ai học được chữ ngờ? Tôi xin ngưng ở đây. Việc này hãy để công lý, lịch sử và thời gian xét xử, và không là chủ đích bài viết của tôi.

Điều tôi muốn bàn tiếp là tôi lấy làm tiếc, rất tiếc cho Sirik Matak – một người tôi đã thấy, đã nghe, đã đọc. Giá ông vẫn ngồi đó, tại bàn làm việc, và nhận phát đạn của Khmer Đỏ hay của chính mình! Bề nào thì cũng chết cho quê hương mà ông yêu dấu, như ông đã viết trong thư. Giá ông đừng chạy vào lãnh sự quán của Jean Dyrac! Để làm gì, nếu không mong bảo toàn sinh mạng và được cấp một trong 300 tờ hộ chiếu mà luật sư Patrick Baudoin của bà Billon Ung Boun Hor nói Jean Dyrac đã mang về Pháp còn trắng trơn? Như vậy, xin nhắc lại, việc Sirik Matak từ chối lời mời của John Dean chỉ là vấn đề cá nhân giữa ông và nước Mỹ. Từ chối lời mời của một đồng minh đầy quyền lực nhưng hai mặt, và gõ cửa một người bạn mình tưởng tử tế, nhưng quá hèn mạt, xua đuổi mình trong lúc hoạn nạn, hành động nào đúng hơn? Và trước khi bị giết, ông cựu thủ tướng có nghĩ rằng ông đã phạm một lỗi lầm nữa, đó là tin vào người Pháp, cũng như trước kia ông đã tin vào người Mỹ (chỉ cần đổi chữ the Americans thành les Français trong câu: “je n’ai commis qu’une erreur, ce fut de vous croire et de croire les Français”)?

Tôi không có ý phê phán Sirik Matak, vì tôi không là cái gì cả để dám xét đoán một vĩ nhân. Một lần nữa, tôi chỉ tiếc cho ông. Bức thư tuyệt diệu kia đã đưa ông lên ngôi vị anh hùng, héros, trong lòng tôi và dưới mắt hàng triệu người. Việc ông chạy lánh nạn tại lãnh sự quán Pháp đã đem ông xuống hàng mà tôi tạm gọi là “bán anh hùng”, demi-héros. “Bán anh hùng”, tức một nửa anh hùng, nhưng vẫn hơn người phàm tục, như tôi, như biết bao kẻ khác, gấp bội. Vẫn hơn những “đồng nghiệp” của ông bên kia dòng sông Mê Kông như Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và một số lỉnh (dấu hỏi) tướng Việt Nam… Vẫn hơn “đồng hương” Lon Nol lúc ấy còn tắm nắng trên bãi biển Hawaii, và Sihanouk đang mở yến tiệc linh đình tại Bắc kinh.

Tuy nhiên, cựu thủ tướng Sirik Matak có lẽ chưa biết gương tuẫn tiết của những anh hùng trong lịch sử Việt Nam cận đại: Võ Tánh, Ngô Tòng Châu, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu, đã không tìm đường thoát thân dù bị vây khốn, và quyết chết theo thành. Của Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ cố vấn Ngô Đình Nhu, dù nếu có phạm khuyết điểm gì đi nữa, đã tỏ ra là một nhà lãnh đạo cao cả, can trường, bằng cách khước từ lời Cabot Lodge mời đến một nơi an toàn (cf Thomas Boettcher, Vietnam, The Valor and the Sorrow, sđd) và cũng không chạy vào bất cứ tòa đại sứ nào, trên bước đường cùng, để rồi bị sát hại dã man mặc dầu đã đầu hàng (hai ông bị trói và xác bị đâm nát) bởi bọn phản tướng. Của năm vị tướng Tư lệnh của Quân Lực VNCH, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, đã tử tiết trong khi có đủ phương tiện ra đi. Của nhiều vị sĩ quan và quân dân cán chính vô danh khác đã âm thầm tự kết liễu đời mình. Hay, ít ra, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương, qua bài viết mới đây bởi sử gia Trần Gia Phụng (cf “Lịch sử phán xét”, Toronto, 29/1/2011, trên website):
“Trước khi Sài Gòn sụp đổ, ngày 28-4-1975, đại sứ Pháp cho người mời tổng thống Hương di tản. Tổng thống Hương trả lời: ‘Nếu trời hại, nước tôi mất, tôi xin thề là sẽ ở lại đây và mất theo nước mình.’

Sau đó, ngày 29-4-1975, đích thân đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin, cùng một viên tham vụ sứ quán nói tiếng Pháp, đến gặp và mời Trần Văn Hương ra đi. Hai bên nói chuyện bằng tiếng Pháp. Ông Hương trả lời: ‘Thưa Ngài Đại sứ, tôi biết tình trạng hiện nay rất là nguy hiểm. Đã đến đỗi như vậy, Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó. Nay ông Đại sứ đến mời tôi ly hương, tôi rất cảm ơn ông Đại sứ. Nhưng tôi đã suy nghĩ kỹ và dứt khoát ở lại với nước tôi. (…..)

Tôi là người lãnh đạo hàng đầu của họ, tôi tình nguyện ở lại để chia sẻ với họ một phần nào niềm đau khổ tủi nhục, nỗi thống khổ của người dân mất nước. Cảm ơn ông Đại sứ đã đến viếng tôi.’ Sau khi nghe Trần Văn Hương trả lời, trong đó có câu ‘Hoa Kỳ cũng có phần trách nhiệm trong đó’ (Les États Unis ont aussi leur part de responsabilité…), đại sứ Martin nhìn trân trân vào ông Hương, rồi ra đi mà chẳng bắt tay nhau.” (Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa 10 ngày cuối cùng, California: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 352-355).

Ảnh cụ Trần Văn Hương.

Những câu trên đầy khí tiết, quả cảm, kiêu hãnh, mặc dù chỉ qua lời người thứ ba kể lại, của cựu Tổng thống Trần Văn Hương cũng tuyệt vời, đâu thua gì bức thư của Hoàng tử Sirik Matak, cựu thủ tướng Cam Bốt?

Bởi vì, nếu biết, có thể Sirik Matak đã phải suy nghĩ rất nhiều trước khi chạy vào lãnh sự quán Pháp. Hoặc có thể ông không chạy đi đâu cả. Để qua đó, mãi mãi, hàng năm, cứ mỗi 30/4, khi đọc lại bức thư khẳng khái của ông, tôi và đồng hương và những thế hệ con cháu được hãnh diện trọn vẹn về ông.
Để qua đó, chúng tôi hy vọng thấy ông trong những miếu thờ tại một nơi nào trên đất Cam Bốt, cũng như các bậc đại anh hùng của tổ quốc chúng tôi trong những miếu thờ ở Việt Nam.

Các bậc đại anh hùng mang hình hài của nhân thế, khác với những vị thần linh Hy Lạp cổ xưa, dù đã trở thành bất tử sẽ không bao giờ ganh tị chúng ta, vì đã đạt đến diễm phúc bi thảm đợi chờ cái chết đến mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút – đặc ân mà chỉ loài người khả tử chúng ta mới được nhận lãnh.
Điều đó, tôi cũng sẽ nói thêm cho Soriya nghe, tiếp nối câu chuyện về thần linh năm nào dở dang, nếu một mai được gặp lại nàng ở kiếp này. Hay kiếp khác.

Portland, cho Tháng Tư Đen
KIM THANH

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

Links:

Nguồn Email.

 

Chuyện Của Cả Một Đời – Văn Quang

Bài đọc suy gẫm: Chuyện Của Cả Một Đời hay là truyện về “Cái Muỗng” cuà nhà văn Văn Quang, ôn lại một giai đoạn cay đắng của quân dân miền nam trong các trại tù  việtcộng sau khi mất nước. Hình ảnh chỉ là minh họa.

Nhà văn Văn Quang.

 

Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u. Ở Sơn La thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, chỉ còn lại những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời. Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị, rồi một thời gian sau, VN giam những người tù Thái Lan và trong chiến tranh đã có khi người ta dùng làm “công binh xưởng” chế tạo lựu đạn. Vì thế nên thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được một cái vỏ lựu đạn ở đâu đó quanh khu vực này. Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh vách đất, ngoại trừ một khu người ta gọi là khu “biệt kích” gồm vài căn nhà “xây dựng kiên cố” bằng gạch lợp tôn xi măng. Chúng tôi “được học tập cải tạo” trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại là khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích đã từng nhảy dù ra Bắc rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó. Muốn vào khu này phải qua hai lần cổng có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi “được giam” ở đây có vẻ như “cởi mở” hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày cho khỏi phải mở ra mở vào.

 

Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù là trong đói rét, thiếu thốn và trong những cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật và quy định riêng. Những ngày đầu người ta cấm luôn cả trà, cà phê, thậm chí cấm cả đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành “luật” thì luôn bị cấm và cấm ở bất cứ đâu. Cấm “mua bán đổi chác linh tinh”, cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi và cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng sắt như dao, kéo, muỗng nĩa… Tuy vậy có anh tù nào lại ngây thơ ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy. Mua bán đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày nhưng đó là những thứ đã được “cải biên” thành dao kéo mini nhỏ nhắn cho dễ cất giấu. Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu chứ không đến nỗi bị cùm một hoặc hai chân –tùy theo tội– đưa vào “thiên lao” tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.

Ngày qua ngày, cái “không khí êm ả” của trại giam trở nên phẳng lặng nhưng dĩ nhiên là không thể nào nói rằng đó là thứ “an tâm, hồ hởi phấn khởi” mà bất kỳ anh “trại viên” nào cũng cứ phải viết khi phải làm những “bản kiểm điểm”, mặc dù kể cả người viết và người đọc đều chẳng ai tin. Nhưng cái không khí ấy đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chuẩn bị gọi tên từng đội đi lao động để “một ngày lại vinh quang như mọi ngày” thì bỗng đâu toán lính gác trại tù sồng sộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía “quân thù”, mặt mũi “khẩn trương” rõ rệt. Họ sộc thẳng vào phòng giam trống hốc cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo bâng quơ. Chuyển trại hay có một ai đó trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi mà mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên “phòng thi đua”. Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ “quốc cấm” của trại đã quy định.

 

 

Thật ra, đó cũng là cái cung cách mà ở những “trại cải tạo” thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh ra những “tiêu cực”. Bởi trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau làm một chuyện gì đó như tổ chức trốn trại hoặc có thể có những vụ xúi giục “tuyệt thực”, bàn bạc chống đối… Và nếu nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh “quản giáo”, sự hỗn hào của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng “đề cao cảnh giác”, lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi “mưu đồ”.

Các anh tù đừng có tưởng bở, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được một anh nào đó giấu những thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có những cuộc “kiểm điểm, phê bình” mà chúng tôi gọi là những “buổi tối ngồi đồng” để từ đó hy vọng lòi ra một vài cái “tội”. Đội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai “phê” thì cứ mặc, còn cãi là còn “ngồi đồng”. Đi làm suốt một ngày mệt mỏi đến thở không ra, tối về còn ngồi đồng, còn “phê bình” còn “kiểm thảo” thì chịu sao nổi. Nay “làm chưa xong” thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi. Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.

Thời điểm “căng” thì vào nhà kỷ luật đặc biệt nằm “treo một chân”, thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Và họ sẽ có những biện pháp an toàn như chuyển đổi năm bẩy anh từ đội này sang đội khác để phòng tránh những chuyện thông đồng, những tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh của trại tù.

Chung quy đó chỉ là một cách đào xới tung cái tinh thần “tưởng rằng yên ổn” của mấy anh “trại viên” còn tỏ ra cứng đầu, còn có mưu toan lôi kéo người này người kia vào trong phe mình để từ đó có những yêu sách hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Quả là mỗi lần như thế trại tù cũng rối tung lên và làm cho những anh yếu bóng vía thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn càng thêm rụt rè, chẳng biết tin vào ai được nữa. Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen và đối với một số người “chẳng có gì để mất” thì họ trơ như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được mà chết cũng chẳng sao.

Có lẽ tôi cũng đã học tập được cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng có gì để mất. Vợ con nhà cửa đều đã mất tất cả rồi, chẳng có gì phải lo. Đôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh rể ở Sàigòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ “caritas” như một số anh em ở trong trại tù rồi. Tức là những người chẳng có ai thăm nuôi.

Những bà vợ đau khổ với những gia đình đói rách lầm than, họ lo cho chính họ còn không xong thì lấy gì đi “thăm nuôi” người ở trong tù mà lại tù ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí có người còn vui mừng khi thấy vợ mình bước đi bước nữa với một anh nào đó đưa các con ra được nước ngoài. Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi thì những anh “mồ côi” không ai thăm nuôi trong trại tù mới chính là những anh hưởng trọn vẹn được cái “thú đau thương”.

Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy sồng sộc vào trại. Đó là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Đây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên trí rằng chẳng có gì để mất, chẳng có gì quan trọng.

Vào mùa đông cái thứ quan trọng nhất chỉ là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày, rau muống bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải và trồng cải thì lâu ăn và năng suất không cao, cho nên có được tí rau là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống xu hào, đó là thứ “thực phẩm cao cấp” nhất trong khu vườn rau của toàn đội. Những củ xu hào bắt đầu to hơn nắm tay nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt mà, tôi trông coi chúng vì cái công sức tôi bỏ ra hơn một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó mà tôi đã từng viết ra, ở đây không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy, để có cái mà thú vị và để có cái mà quên đi những thứ quanh mình.

Cứ như thế tôi tha hồ đặt tên từng luống xu hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ “lả lướt” như tôi đã gặp ở phòng trà tiệm khiêu vũ, có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò “nghịch ngầm” giữa vùng rừng núi âm u, hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong một hai ngày nữa. Bởi Tết đã đến, dù 12 luống xu hào còn non chưa đến ngày “thu hoạch” nhưng cần thức ăn trong ba ngày Tết nên họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn, chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.

 

Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao, kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia thì tôi vẫn nhởn nhơ vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm, nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo bo tương đối khá đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, nhưng những người bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói “Vừa ăn xong mà vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn”. Cái đói cứ lửng lơ mãi ngày này qua ngày khác, thế mới là khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo cái kiểu câu dầm, tức là lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói, đó là cách tự đánh lừa mình.

Tôi cũng “ăn dè hà tiện” nhưng tôi ăn bằng muỗng. Cái muỗng rất đặc biệt bằng inox hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi và luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia hai củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon Guigoz – một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng và nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù, nó có thể dùng “trăm công ngàn việc” từ đựng các loại thức ăn, thức uống đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, tắm rửa đánh răng, rửa mặt. Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó đã bị tịch thu trong buổi khám xét trại sáng nay.

Đây là thứ “gia bảo” tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm nay chưa hề lơi lỏng. Nó luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như cái nạng của một anh què, cái gậy của ông lão chín mươi, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.

 

Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là một “trại viên”, nhưng trước đây anh ta là cán bộ, “thoái hóa tiêu cực” sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ và quân nhân trong trại tù thường được gọi là “phạm binh phạm cán” tức là tội phạm thuộc binh sĩ hoặc cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng và thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.

Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán và nhận là người cùng quê. Một lần Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính, qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng “cậu huyện Nhụ nằm ở đó”.

Tôi hỏi anh có họ hàng thế nào với ông Huyện Nhụ, anh ta nói là cháu gọi ông Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam còn gia đình anh vốn là nông dân nên ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 75 làm chánh án ở tòa án Sài Gòn và tôi nghe nói là cũng có họ hàng với gia đình tôi, nhưng là họ xa. Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ. Sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống của cụ huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này đi “cải tạo” cụ mất ở trại này. Dực nói là trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh dò. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua lên vài cái, nhưng khi bánh dò mang lên thì cụ mất rồi.

Từ đó, đối với tôi, Dực có phần dễ chịu hơn. Nhưng dĩ nhiên cái khoảng cách giữa một bên là “ngụy” một bên là “cán” thì khó mà san lấp được…

Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa tôi không gặp được Dực. Cho đến hai hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết tôi mới gặp được Dực. Trong khi đó tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không. Họ nói còn để trong kho lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác. Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh tôi gửi vào. Rất may cho tôi là hắn cũng bị đau dạ dày. Mà cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó chỉ là tí mật ong trộn với nghệ nên không công hiệu. Tôi có thứ thuốc “cao cấp” hơn là Maalox, uống vào là cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ đàng hoàng, người ta ghét Mỹ nhưng thuốc của nó tốt thì cứ thích, có sao đâu.

Tôi gạ chuyện để xin lại cái muỗng. Dực trợn mắt:

– Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy mà trực trại nó biết thì tôi vào nhà đá.

Tôi nằn nì:

– Đấy là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe ba dấu, một cuốn tự điển. Nhưng tôi không cần, chỉ cần cái muỗng thôi.

Dực nhìn tôi nghi ngại:

– Hay là mày giấu tiền trong đó?

Dực hơn tôi hai tuổi nên hắn có gọi tôi bằng mày tôi cũng không tự ái, mà dù hắn có kém tôi vài ba tuổi mà lúc đó gọi tôi bằng mày tôi cũng cho qua luôn.

– Cái muỗng đặc và nhỏ như thế làm sao giấu tiền được?

Dực nửa đùa nửa thật:

– Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày chẳng làm được. Chưa biết chừng mày giấu cả cái máy quay phim trong đó cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim phải không?

– Đúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim chứ tôi biết cái cóc khô gì.

– Vậy sao mày chỉ đòi lấy cái muỗng, mày mua chuộc tao bằng hai vỉ thuốc đau dạ dầy, không bõ. Khéo không chết cả đám. Tao không chơi.

Tôi thất bại, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc. Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường, kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong ba ngày Tết cho ra vẻ “có văn hóa”. Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn tết ở phòng mà phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay dù biết rằng sẽ mất cái thú dự những ngày Tết với anh em trong phòng và mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi tự làm lấy.

Thế là tôi lại có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ rằng tôi có cái gì giấu trong đó. Tôi đành kể cho Dực nghe:

– Buổi sáng hôm tôi phải đi “học tập cải tạo”, vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng hàng ngày đưa vào túi xách. Đứa con gái của tôi, khi đó mới hơn ba tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách nào là quần áo, khăn mặt, thuốc men… nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng nó đang ăn và dặn: “con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại cho con đấy”.

Tôi ôm con gái gật đầu hứa khi về bố sẽ trả. Nhưng quả thật tôi vẫn nghĩ chẳng bao giờ tôi trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về vì có biết ngày nào về đâu mà hẹn!

Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt trong những bữa ăn, suốt trong những giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên qua cái muỗng đó. Tôi vẫn đánh lừa tôi rằng tôi đang được ăn bên con gái, bên những người thân. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy là một niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực, nhưng vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ, nhưng hắn vỗ vai tôi:

– Thôi được, nếu đã là như thế thì tôi giúp cậu. Tối nay, khi ngồi coi phòng đọc sách, tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua cho cậu ngồi ăn ở đó, trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên chìa khóa kho. Cậu mở cửa vào lấy, có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó mà vớ được thì ‘kỷ luật’ suốt cái Tết này đấy, chưa biết chừng suốt mùa xuân.

Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách “ăn trộm” này. Tối đó tôi mở khóa mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ nhà ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống hầm bà làng đủ thứ đồ dùng lặt vặt vừa bị thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó, quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.

 

 

 

 

 

Thôi thì đủ thứ, cái điếu cày được làm bằng những ống hỏa châu hoặc những cáng băng ca được cắt ngắn, chạm trổ rồng phượng, khắc gọt rất tinh vi. Những cái trâm cài đầu, những cái lược cho con gái hay cho người yêu, làm bằng nhôm được khắc những cái tên “Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường…” nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn cũng có hoa lá cành xinh xắn. Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.

 

Sách vở tiếng Anh tiếng Pháp và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái mà tôi kiếm được trước tiên lại là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì mà không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp vừa phải thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. Nhưng may quá, cái muỗng kia rồi, nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của “thằng chết tiệt” nào đó. Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó tôi có cảm tưởng như “con có ở xa hàng cây số thì bố cũng cứ nhận ra con như thường”.

Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng mà tôi đã quá thân thuộc như chính cái nét mặt con gái tôi khi nó “nhí nhảnh” đưa cái muỗng vào trong túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi rồi mai bố về. Ừ thì vui. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và trong nụ cười hồn nhiên của nó. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế mà hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối trên con đường về “khu biệt kích”. Thoát nạn! Cái Tết ấy tôi lại được vui chơi với cái muỗng của tôi, dù tôi đã phải hy sinh suốt ba ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì tôi cứ phải quanh quẩn trong cái “phòng đọc sách” chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi như chuyện được ăn một bữa cơm đúng là cơm chứ không phải khoai sắn hay bo bo. Nhưng quả là tôi thấy hạnh phúc dù ngồi thui thủi một mình. Tôi có cái muỗng rồi, còn cần gì vui chơi nữa. Đó chính là mùa xuân của tôi.

Nhưng không phải đó là một lần duy nhất tôi phải “cứu lấy” cái vật gia bảo của mình. Hai lần sau cũng tương tự, cũng bị tịch thu rồi cứu lại được cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là người bạn đồng minh đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua, người đồng minh đó đã “gan dạ” cuốn cờ chạy nhanh và chạy xa quá rồi. Thôi thì tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.

Một lần khác, tôi lội qua con suối sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi làm phải đi qua một con suối, gọi là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt dịu dàng trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn là nước từ những triền đồi vây quanh bốn hướng ào ạt đổ xuống, chỉ cần nửa giờ sau là con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn và mang theo những cành cây, những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi con suối trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng chọang làm đổ cái túi đồ đựng những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây tôi thuộc từng khe đá nên tôi không ngần ngại nhoài người xuống mò. Anh bạn nhảy dù, la lên:

– Bộ ông điên sao?

Tôi điên thật, hy vọng mình mò được. Nhưng nước chảy xiết quá tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù trẻ, què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi nên anh đi xa hơn một chút và khom người xuống, thò một tay ra cái khe hòn đá là tìm được lại cho tôi được cái muỗng. Đôi mắt anh rất tinh, anh mỉm cười:

– Tôi biết ông mất cái gì rồi.

Chuyện trớ trêu là hơn 12 năm sau, tôi đã trở về, nhưng chưa trả lại cái muỗng cho con tôi được vì mẹ con nó đã vượt biên, định cư ở nước ngoài. Hơn hai mươi năm, tôi chưa hề gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay là 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29 tháng 9-2002 vừa qua, cháu đã lập gia đình ở Miami Florida.

Nhận được thiệp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như không phải là vui hay buồn mà là một thứ cảm giác kỳ lạ cứ lơ lơ lửng lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được điều gì cả và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sàigòn, chính tay tôi gửi được tấm thiệp mừng con gái. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái tôi như lời hứa 27 năm về trước. Vật đó có thể thay cho sự có mặt của tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi chỉ nghĩ rằng gửi cho cháu để cháu hiểu rằng lúc nào tôi cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mới hôm qua hai bố con còn ở bên nhau. Tôi đi chơi đâu đó và hôm nay trở về. Nhưng cháu đã đi xa và tôi còn ở lại Sàigòn, nơi nó đã sinh ra. Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.

Nhưng vài hôm sau thì có một điều tôi biết rất rõ là từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố bà mẹ khi cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Nhưng đó chính là sợi dây vô hình nối liền mãi mãi tình thương yêu dù ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng người ta chỉ còn lại cái tình. Cái tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi lại mạnh mẽ và sâu sắc hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất cái thứ báu vật đó trên đời không gì có thể so sánh được.

Lẽ ra chuyện này tôi đã viết ngay từ tháng 9/2002 nhân dịp cháu lập gia đình. Nhưng tôi ngồi mãi trước computer, không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung. Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được ngoài việc cứ để cho nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Đúng là chuyện của người thì nhanh mà chuyện của mình thì nghẹn. Mãi đến hôm nay tôi mới ghi lại được những dòng chữ này, nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn vì nó là thứ chuyện của cả một đời hay là của muôn đời.

Văn Quang

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

The

Nguồn Email.


Bẻ cổ con “gà cồ” – Trần Thy Vân

Bài đọc suy gẫm: Bẻ cổ con “gà cồ” là Chương thứ 13 (Trận Hỏa Thiêu) trong truyện dài “Anh Hùng Bạt Mạng” của người chiến sĩ mũ nâu Trung Úy Trần Thy Vân. Ghi lại kỷ niệm hào hùng của ông và đại đội 1, tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân. Câu chuyện cho thấy tài chỉ huy gan dạ, đầy mưu mẹo khi chạm trán với Sư đoàn Sao Vàng việt cộng trong trận chiến Sa Huỳnh, Quảng Ngãi 1973.

TRẬN HOẢ THIÊU

Chọc thủng bức tường thép Sa Huỳnh không giết được một tên giặc, không thu một cây súng, còn bị thương một người do bắn nhầm, tôi tự ái vô cùng. Cấp trên thì chẳng hề biết đến sự gian khổ, toan tính chính xác, lòng can đảm của các đơn vị thuộc quyền, mà họ chỉ quen dựa vào chiến lợi phẩm như vũ khí. Nói một cách rộng lớn hơn, đơn vị đã tấn chiếm được bao nhiêu thành, bao nhiêu đất, mới gọi là thắng một cuộc chiến, chứ không đòi hỏi gì khác.

Tôi phải tìm cách moi gan kẻ thù mới hả dạ.

Vừa tải thương Nguyễn văn Châu qua Đại đội 2 BĐQ xong, thì trời đã xế bóng. Tôi lo tìm một điểm đóng quân đêm ngay giữa lòng đất địch bao la, nguy hiểm này. Nhìn về phía nam, kế đầm Nước Mặn, thấy có một đồn lính nửa ẩn nửa hiện dưới nắng chiều thoi thóp. Tôi dè dặt, chỉ cử ba tay Thám Báo xuất sắc, đem theo cái máy PRC25, tới gần quan sát. Một mặt, để ngừa bất trắc địch đè đánh tốp dọ thám, Đại đội dàn quân sẵn sàng tiếp cứu. Một lát Hạ sĩ Lê An thở hổn hển gọi lui:

– Trình Đại Bàng, đồn bỏ trống, không ai hết! Trên trụ cờ còn treo lá quốc kỳ…

Tôi ngạc nhiên:

– Còn lá quốc kỳ à? An nhắm Đại đội mình vào đóng quân vừa không?

– Dư sức Đại Bàng! Có đủ giao thông hào và mỗi góc một bunker lớn, y như đồn Quán Hồng ở Mộ Đức vậy.

Nghe Lê An tả, tôi càng rợn tóc gáy, buột miệng:

– Thấy mẹ rồi!…

An chặn hỏi:

– Cái gì “thấy mẹ”, Đại Bàng?

Tôi cười gượng:

– Thói quen của tao mà! Gặp rắc rối hay nói vậy. OK, đề phòng Việt Cộng và nằm tại chỗ chờ tao.

Lập tức tôi dàn hai trung đội tới nằm phục bên ngoài. Quả thật, đồn hình vuông tương đối rộng, xây bằng bao cát màu ô liu cũ mốc, u ám như cổ thành rêu phong của một triều đại xa xưa còn sót lại. Lạ, phe rút chạy, cả phe đánh chiếm, chẳng bên nào phá hủy căn cứ. Điều lạ hơn, trên trụ cột còn nguyên lá cờ vàng ba sọc đỏ, đã bạc màu, và dù trời đang có gió, vẫn xếp re rủ xuống, thiếu vẻ kiên cường ngạo nghễ. Lẽ nào quốc kỳ cũng bị bắt làm con tin, hay kẻ thù đang nằm im, toan giở trò dụ khị gì đây? Sự đa nghi của tôi có lý lắm!

Tôi bảo Trung đội Thuận nhấp liền một tràng đại liên cùng vài chục trái M79 vào quanh hệ thống phòng thủ để xem phản ứng. Kết quả, nơi thâm cung ấy vẫn im hơi lặng tiếng. Chắc đồn bỏ hoang nên cho Thám Báo phá cổng đột nhập trước, rồi trọn bộ đơn vị chiếm cứ an toàn.

Không hiểu sao hôm nay địch lại hiền khô, dành riêng cho tôi nhiều ưu đãi. Lý gì chúng quá khiếp đởm bỏ chạy để mũi tiến quân của tôi vào chỗ không người. Ngày xưa, các vị anh hùng Quang Trung, Lê Lợi trên đường chinh phạt còn có xác thù dưới vó ngựa cản ngăn, làm bẩn chân kia mà! Sa Huỳnh là đây, một vùng ma quái, kẻ thù cũng xuất quỉ nhập thần đâu kém mình. Cộng quân chẳng thể dại khờ không phòng thủ mặt tuyến phía tây, lại càng đần độn bỏ phí cái căn cứ này nơi mà được tạm dùng che bom đỡ đạn cho chúng?

Tôi rảo quanh quan sát một vòng từ trong ra ngoài đồn, rồi trèo lên nóc một bunker, thản nhiên ngồi ngắm bao quát phía nam. Đầm Nước Mặn xanh um và phẳng lặng như hồ thu giữa núi non trùng điệp. Dưới chân con dốc kế tôi, có khoảng mươi căn nhà lá lụp xụp, dựa lưng vào vách đồi, với năm ba chiếc thuyền nan kê mũi trên bãi cát óng ánh, trông thật thơ mộng. Xa xa, sát Quốc lộ 1, làng Sa Huỳnh chi chít mái tôn lẫn ngói, phất phới một rừng cờ nửa đỏ nửa xanh giữa là ngôi sao vàng, của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, một công cụ của Cộng Sản Bắc Việt. Tôi có cảm tưởng tôi như vừa lạc đến một đất nước xa lạ nào, không phải quê hương mình. Tôi nhìn lên trụ cờ lần nữa, lá quốc kỳ yêu dấu biểu tượng hồn thiêng sông núi không thể cô đơn, buồn rủ dưới bóng chiều tẻ nhạt…

Tôi kêu Hiệp đưa máy gọi BCH Tiểu đoàn:

– Sơn Linh, đây Việt Quốc!

– Dông Tố nghe!

Lâu ghê, nay tôi mới được tiếp chuyện với Đại úy Do:

– Tôi đang ở trong đồn Địa Phương Quân đã rút bỏ…

Do reo lên:

– Hay quá!…

– Hay cái gì?

– Việt Quốc trong đồn kế đầm Nước Mặn, phải không?

– Phải, Dông Tố!

Vị Tiểu đoàn phó như cởi tấc lòng:

– Sơn Linh mãi phân vân, chẳng biết giao ai đánh đồn đó. Đại đội Việt Quốc ở gần, nhưng quân số quá ít, nên không đề cập tới. Nếu dứt điểm được nó, mình bớt khó khăn. Cấp trên mấy ổng nghi Việt Cộng đóng chốt ở trổng. Thì ra, Việt Quốc đã chiếm cái đồn. OK, để tôi trình Sơn Linh gấp!…


Trung Úy Biệt Động Quân Trần Thy Vân và sách “Anh Hùng Bạt Mạng”. 

Tôi gác máy, lại ôm đầu nghĩ ngợi. Sự lý giải của Đại úy Do vô tình làm tôi thêm lo, vì cái nghi ngờ của cấp trên phù hợp với dự đoán của tôi. Chắc chắn địch sẽ phản công, không dùng bộ binh cũng pháo kích te tua, hay cả hai như tình huống ở căn cứ Jackson ngoài Huế, nếu Đại đội tôi ngủ đêm nay tại vị trí định mệnh này. Đường nào chúng cũng hốt. Lá cờ còn để nguyên bay phất phới hẳn phải có một ý nghĩa Cộng quân dụ mình vào mần thịt. Chúng dụ thật, không phải như chuyện Tàu ngày xưa, Khổng Minh thất thế, bày mưu mở toang cửa thành, rồi lấy đàn ra ngồi gãy, khiến cha con Tư Mã Ý hoảng sợ, vội bỏ ý định tấn đánh, quay đầu rút chạy.

Nhưng, vỏ quít dày móng tay nhọn. Tôi nảy ra kế hoạch trừ khử, kẻ bị diệt là chúng, liền “bày binh bố trận”, chơi một ván cờ, không ăn cũng huề, chứ thụ động thì 50 tay súng quá uể oải này ắt phải thua đậm bọn ma cà rồng khi màn đêm buông xuống.

Tính toán kỹ ra đáp số, tôi yên tâm, nhưng chưa vội tiết lộ lính biết ý định. Nói sớm tụi nó sợ, ăn không ngon, còn chê tôi liều mạng, đánh giặc chẳng bài bản. Tôi bảo Đại đội hãy tỉnh bơ nấu cơm chiều. Rồi, các ngọn lửa gỗ thông nghi ngút khói, cuồn cuộn bay cao, tỏ ý thách thức kẻ thù. Mặt khác, tôi cho một số anh em xuống bờ đầm kiếm nước uống, đồng thời mời hết đồng bào lên đây để tôi nói chuyện. Nửa tiếng sau, chừng 50 người, đa số già cả, trẻ em, tụ tập bên ngoài cổng. Nhìn họ ngơ ngác như mất hồn, không vui vẻ, cởi mở chút nào cả. Lạ, địch mới chiếm Sa Huỳnh chưa đầy tháng, mà dân chúng đã thất điên bát đảo, cá tôm sẵn trước mặt đành bó tay chịu đói. Trông dáng điệu tôi hiểu họ chẳng còn tin ai.

Mọi người vừa ngồi xuống, tôi ngỏ lời:

– Kính chào tất cả năm mới! Xin nhắn nhủ đồng bào đừng sợ sệt, chúng tôi, quân đội Quốc Gia, đến giải tỏa Sa Huỳnh, Việt Cộng đang tháo chạy. Tuy nhiên, vì trận đánh chưa chấm dứt, bà con nên di tản vào Đức Phổ vài hôm để tránh bom đạn sắp trút xuống đầu địch. Khi đi, hãy băng qua dãy đồi này rồi tụt dốc ở góc đá đằng sau kia để ra đường cho an toàn…

Họ im lặng. Tôi định dọ hỏi tình hình trong làng này nhưng thôi, vì biết chắc không ai dám hé môi. Tôi vờ ngây ngô nhấn mạnh một điều để bọn giao liên nằm vùng đang trà trộn, mà tôi vừa bắt gặp vài bộ mặt khinh khỉnh nhìn lén tôi, để về báo cáo với Cộng sản:

– Đêm nay chúng tôi trú đóng trên đồn này, bà con ở dưới xóm được phép thắp đèn và qua lại các nhà lân cận chơi, nhớ đừng đi xa sau 8 giờ tối…

Tôi nói như thiệt và còn tỏ vẻ hân hoan, nở nụ cười tự đắc, kiêu căng một cách ngu xuẩn:

– Thôi, đồng bào giải tán! Hẹn gặp ngày mai thanh bình!

Tất cả vẫn dáng điệu bơ phờ, lần lượt dìu nhau xuống con dốc hãm đứng. Xong, tôi mời hết các thẩm quyền tới bàn gấp công việc:

– Báo các anh biết tình hình thấy vậy, chứ không êm đâu. Có thể đêm nay địch phản công chúng ta. Đừng ngán. Lát nữa khi trời bắt đầu tối, Đại đội bí mật, âm thầm kéo hết ra ngoài kia nằm…

Tôi đưa tay chỉ một ngọn đồi thấp, tương đối bằng phẳng, ở hướng đông bắc 200 thước:

– Đại đội đóng quanh nơi đó. Trung đội Trung sĩ Thuận bố trí thủ mặt nam, Trung đội 2 nối tiếp giữ phía tây, còn lại thì toán Thám Báo lẫn Bộ Chỉ Huy. Hai người đào chung một hố cá nhân, chớ căng lều võng, cũng đừng trải poncho, hãy nằm đất, và dĩ nhiên không được hút thuốc. Tuyệt đối thi hành.

Trung sĩ Thuận nêu câu hỏi:

– Sao không lui về gần Đại đội 2?

– Anh có nhớ kỳ hành quân ở xã Đức Lương? Đại đội mới đến đầu làng đóng quân thì ngay tối đó liền bị đánh. Hôm sau mình thọc sâu vào họng chúng lại yên. Nhưng tùy trường hợp, chứ không nhất thiết phải làm như vậy. Đặc biệt tình thế này chúng ta lui là chết, và liệu ngày mai vác mặt tới được không, hay bị rượt chạy tóe khói? Giờ đây có thể mình đang lọt kế, hãy kịp lấy độc khử độc, gậy ông đập lưng ông, chơi ngược lại nhử địch tối nay đến công đồn vì tưởng Đại đội trong này, rồi mình sẽ nướng chúng hết. Kiếm cách làm ăn chứ Thuận!

Thấy tôi cười, người Hạ sĩ quan đã từng gian khổ, bị thương hai lần ở mặt trận Hạ Lào và mùa hè đỏ lửa Quảng Trị, cũng cười theo.

Tôi nói với Trung sĩ Nhật:

– Khi có lệnh Thám Báo ra trước giữ đồi. Trong lúc chờ di chuyển, anh em tiếp tục đốt lửa, đồng thời chuẩn bị gọn gàng, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, đề phòng bị pháo kích.

Hiệp vừa xách cái máy PRC25 đến:

– Đại Bàng, Dông Tố gặp.

Tôi cầm ống liên hợp:

– Nghe Dông Tố!

– Sao chưa báo cáo các vị trí tiền đồn?

– Quân số đâu nữa tiền đồn?

Đại úy Do ngạc nhiên:

– Bộ ở trổng hết à?

– Không. Tôi có kế hoạch mới chưa trình BCH Tiểu đoàn. Tiện thể xin báo, lát nữa Đại đội sẽ nằm tại XY…

– Để tôi coi bản đồ… Cũng kế bên đồn, sao ra ngoài?

Tôi đáp nhanh:

– Ở trổng cho chết à? Tôi nghĩ tối nay chắc chắn Việt Cộng sẽ hốt gọn bọn tôi…

Giọng Do hơi gắt, chưa tin sự việc:

– Việt Quốc hay nói sảng lắm!

– Không sảng đâu. Hồi chiều tụ họpï dân, tôi đã đoán biết. Dông Tố xin pháo binh hãy lập sẵn yếu tố tác xạ TOT (Time On Target), mỗi khẩu vài chục quả bắn trùm xuống đồn này khi có lời yêu cầu khẩn cấp.

– Cần soi sáng không?

– Khỏi, soi sáng lộ vị trí tôi.

– OK, lúc nào move out thì báo.

Trời đã nhá nhem, lính vừa cơm nước xong, lệnh cho toán Thám Báo bắt đầu men theo đường trũng đến điểm ấn định. Một lát, Đại đội đã lần lượt lén rút ra hết và cứ hai người đào chung một hố cá nhân. Các vũ khí dàn sẵn, ba cây đại liên thì đặt ba hướng, đạn dược tập trung đầy đủ. Tất cả đâu vào đó, mọi người nằm im phăng phắc như mèo rình chuột.

Bỗng một trái hỏa châu bùng nổ, sáng rực cả bầu trời lẫn mặt đất phía bắc, nơi các Đại đội cùng BCH Tiểu đoàn đóng, làm giật mình.

Nghe tiếng máy xì xì, Hiệp nhấc ống liên hợp:

– Đáp nhận Sơn Linh!

Hiệp trình lại:

– Trển nhắc mình canh gác cẩn thận.

– Cả lũ mình thức hết, có ai dám ngủ đâu mà bảo cẩn thận. Chắc đêm nay tao cũng làm lính ngồi gác tới sáng luôn. Ghiền thuốc quá, Hiệp ơi!

Hiệp nhe hai hàm răng trắng phếu cười:

– Đại Bàng xuống nằm chúi dưới hố, em phủ kín poncho cho hút.

– Mày làm như tao là con mèo.

– Ghiền thì phải dzậy chớ!

– Thôi, ráng nhịn! Tao cũng phải tuyệt đối thi hành chính cái lệnh của tao cấm. Nhưng mà…Hiệp biết không, những lúc căng thẳng thần kinh lại thiếu điếu Capstan hay Ruby, đầu óc tao nó rối bù lên, tụi bay dễ chết như điên chứ đâu phải giỡn. Bởi vậy, mỗi lần đụng trận trước hết tao phải đốt điếu thuốc hít một hơi…

Ầm… ầm… ầm… các quả đạn cối 82 bỗng nổ dồn dập, tóe lửa ngay giữa đồn. Quả thật, cái gì đến đã đến, Cộng quân bắt đầu đánh, mở đợt tiền pháo dữ dội. Tiếp theo, B40, AK và các thứ bộc phá dộng vào vang rền, nhất là hai mặt tây, nam. Vì đã được dặn trước nên lính nằm im gườm súng, không bắn vu vơ. Bên trong không một tiếng súng phản ứng, hẳn Biệt Động chết đâu hết rồi. Chắc địch mừng lắm!

Hiệp trình:

– Đại Bàng, Sơn Linh phó hỏi mình có muốn soi sáng.

– Tao đã bảo không! Đưa máy đây!

Tôi bóp ống liên hợp:

– Sơn Linh, Việt Cộng đang tấn công mạnh như dự đoán, nói pháo binh chuẩn bị TOT, chúng sắp xung phong…

– Tọa độ của anh tại XY… chính xác chứ?

– Chính xác. Bắn TOT, chúng đã thổi còi tràn vô, bắn!

Ầm… ầm… ầm… Cả khu đồn rực đỏ cơ hồ như núi lửa, âm thanh đại bác chát chúa liên hồi, và đạn tản gần vị trí Đại đội có mấy chục mét, thật nguy hiểm. Bây giờ chịu, mọi người chỉ còn nằm rạp xuống, không thể kêu stop được. TOT chẳng biết họ đáp ứng bao nhiêu, chắc phải hàng trăm quả rót một mạch.

Hẳn bọn chỉ huy của Trung đoàn 141/2 Cộng Sản Bắc Việt tưởng Biệt Động Quân này đã tan nát, không ai sống sót, nên “ngụy” mở trận pháo “chùm” để tận diệt hết.

TOT chấm dứt, trước mặt cả một khối lửa bốc cháy nổ lách tách với tiếng đùng đùng của thủ pháo địch chưa sử dụng, lấn át các âm động rẫy chết, mà thường những kẻ sinh bắc tử nam phải gào lên giống con thú lúc trúng thương.

Thiếu tá Hoàng Phổ gọi:

– Việt Quốc, Việt Quốc, thế nào?

Đúng lúc Binh nhất Vinh bò quanh một vòng phòng tuyến xem xét tình hình anh em, trở lại cho hay mọi người đều bình an, tôi thở phào:

– Vô sự, còn Việt Cộng chắc tiêu hết. Tuy nhiên, Sơn Linh cứ cho pháo binh tiếp tục bắn lai rai, ngừa địch đến quan sát, hay kéo xác đồng bọn, và để chúng nghĩ rằng đơn vị tôi cũng đã cùng chung số phận.

– OK, nhớ mai lục soát sớm.

Tôi bảo lính cẩn thận hơn, vẫn nằm im, trừ khi bị tấn công.

Tờ mờ sáng, Đại đội dè dặt vào đồn. Một cảnh tượng hãi hùng. Địch chết không thể đếm được bao nhiêu vì xác nát bét, vung vãi khắp nơi. Súng ống 22 cây đều cháy đen cong nòng, lính chê dơ không muốn nhặt.

Vừa trình xong kết quả TOT lên Bộ Chỉ Huy lớn, Hiệp đưa máy tôi. Bất ngờ một giọng trầm trầm của Trung tá Liên đoàn trưởng Trần Kim Đại lại gọi thẳng xuống tôi qua tần số nội bộ Tiểu đoàn 21 Biệt Động Quân:

– Nghe báo tốt lắm, tôi khen anh! Chúng ta còn một quãng đường dài nữa, cố gắng!

Vị chỉ huy cánh quân Biệt Động nỗ lực chính tái chiếm Sa Huỳnh nói có bấy nhiêu thôi. Ông chỉ nhấn mạnh: “Còn một quãng đường dài nữa”. Tức còn lắm chông gai, khốc liệt, chứ không phải là đoạn đường xa về không gian. Ở đây mới khởi đầu một trận chiến gian nan, đẫm máu.

Thiếu tá Phổ xen vô:

– Việt Quốc còn đầu máy?

– Còn!

– Ở tại chỗ, cho người đi lui nhận supply.

– Không được đâu! Cho Đại đội ra ngoài, trong này máu và thịt người bầy nhầy, tanh hôi lắm!

– Rồi, trở lại vị trí đêm qua.

Một trung đội lui phía sau nhận lãnh lương thực, đạn dược do thiết vận xa tải tới góc khu đồi. Một lát, lính vừa đem hàng vào thì các tiếng súng đủ loại lại vang rền phía đông bắc.

Tôi chụp máy:

– Dông Tố, Dông Tố!

– Nghe!

– Đơn vị nào đụng vậy?

– Hai Đại đội 3 và 4 đánh lên ngọn đồi mé biển. Coi chừng Việt Cộng chạy qua bên Việt Quốc!

Tiếp theo, ngay trước mặt tôi, về hướng đông, lại có tràng liên thanh rất lớn và nghe khác lạ, đạn thì bay vèo vèo, chạm đâu nổ lại đó tóe lửa giữa hai Đại đội BĐQ của Trần Quang Giảng và Đỗ văn Nai. Kịp nhận ra đó là súng Phòng Không 12ly8 địch từng sử dụng trong trận chiến Hạ Lào 1971, tôi vội hối anh em:

– Tất cả thu gọn lương thực tiếp tế, tản thưa ra gấp! Phòng Không Việt Cộng xuất hiện! Thám Báo chiếm ngay ngọn đồi phía biển!

Hai Trung đội 1, 2 cũng tự động dàn tới nằm ngang hai bên hông Thám Báo, đối diện dải núi cao nhất trước mặt, nơi cây 12ly8 đang bị pháo binh từ Đức Phổ dập xuống. Toán đại liên của Hạ sĩ Đợi bố trí thủ mặt sau.

– Việt Quốc, Việt Quốc, đây Sơn Linh!

– Nghe Sơn Linh.

– Anh có nghe con “gà cồ” nó gáy không?

Thấy mẹ, Hoàng Phổ lên giọng hỏi, tôi ớn lạnh. Chắc bố sai tôi đánh hốt cây Phòng Không rồi. Tôi giả vờ ngần ngừ:

– … Có… Sơn Linh…

– Bóp họng nó cho tôi!

– Nó gáy xa lắm!

Hoàng Phổ đãi đưa:

– Xa gì, cách anh mấy trăm mét thôi! Sơn Linh trưởng bảo chỉ có anh mới thừa sức bẻ cổ nó. Thi hành!

– Để xem…

Dứt máy, tôi lủi lẹ đến nằm giữa toán Thám Báo, nhìn qua triền núi mé biển chưa thấy con “gà cồ” ở đâu. Để Trung đội 2 của Trung sĩ Hơn tại chỗ, còn tất cả lom khom tới thêm một ngọn đồi nữa. Địch phát hiện quay nòng súng 12ly8 khạc một tràng trực xạ vào Đại đội, đạn chạm các cây dương liễu nổ lại lung tung xanh lè. Thật may không trúng ai. Nhờ vậy tôi mới thấy ổ súng trên dốc núi lốc chốc đá, cách tôi một thung lũng là khoảnh ruộng khô cằn bằng sân đá banh. Muốn tiến sát lính phải băng qua đó rất nguy, trống rỗng, không một vật che đỡ.

Khẩu Phòng Không như cái gai nhọn, nằm ở một vị trí thật tuyệt vời, có thể khống chế cả trực thăng đổ quân xuống. Nếu dập được nó thì Tiểu đoàn 21 Biệt Động này thực sự làm chủ, kiểm soát toàn vùng mạn bắc đầm Nước Mặn Sa Huỳnh. Con gà vẫn tự đắc, say mê vỗ cánh gáy, như anh võ sĩ hạng nặng, tả xung hữu đột trên đài, khi quay qua tôi phía tây, lúc nhắm các đơn vị hướng bắc, tha hồ siết cò. Các đầu đạn hiểm độc, gai con mắt.

Tôi mời các thẩm quyền lại nằm chụm đầu bàn cách bẻ cổ con gà cồ cho ông Hoàng Phổ hầm rô ti.

– Sao Nhật, nhắm chơi nổi không? Thuận và Hơn nữa?

Nghe hỏi mặt ai cũng xanh lè như đầu đạn 12ly8 nổ.

– Em nghĩ phải nhào vô ba mặt mới được…

– Ừ, Nhật mày nói trúng ý tao. Bây giờ thế này, mình gồm ba mũi tấn công. Trung đội 1 Thuận đi vòng doi đất bên phải, toán Thám Báo và BCH bọc trái, còn Trung đội 2 của Hơn từ đây tấn ngang qua, nhớ bám sát các bờ ruộng. Mỗi mũi có thể đụng mấy cái chốt địch liên hoàn bảo vệ khẩu phòng không. Tùy trường hợp mà linh động hoặc triệt nó hoặc lách qua. Đặc biệt hai mũi trái và phải, hãy kiểm soát tầm đạn xa, vòng cầu, kẻo bắn nhầm nhau. Trung sĩ Hơn giữa cũng vậy, phân định roõ ràng chung quanh mục tiêu để khỏi lầm lẫn. Khi chúng ta vây hãm, công thật nhanh, chơi lựu đạn tối đa như mình từng làm. Rồi, chặng đường của Thuận hơi xa, kín đáo vọt trước ngay. Thám Báo chuẩn bị. Tất cả thi hành!

Tôi gọi máy lên BCH Tiểu đoàn:

– Sơn Linh!

Thiếu tá Hoàng Phổ:

– Nghe!

– Tôi bắt đầu đó, pháo binh chỉ rót trên đỉnh cao phía đông “con gà cồ”, ba mặt kia đều có lính tôi.

– Tốt lắm, mọi yểm trợ sẵn sàng…

Không đợi Thiếu tá Liên đoàn phó dứt câu, tôi vứt ống liên hợp qua Hiệp, vội chạy theo Thám Báo vừa biến dạng xuống khe đồi. Trung đội 1 chưa gì đã chạm địch, B40 ở góc bờ đông bắc đầm Nước Mặn bắn rạt đám lính Thuận, cát bụi mù mịt.

– Thiên Nga, Thiên Nga, đây Mười!…

– Tao thấy rồi, khỏi nói, tụi bê bối sau lưng, hãy vọt nhanh ra khỏi tầm đạn. Thám Báo bên trái đã tới sát chân núi “con gà cồ”. Còn Trung đội 2 dàn ngang tắp xuống bờ ruộng, mau!

Thấy cây Phòng Không chúi nòng bắn quay cuồng lính của Hơn, tôi đẩy thằng Văn, mang máy nội bộ, áp vào tảng đá:

– Hai Mươi, đây Thiên Nga!

Dũng truyền tin thở hổn hển:

– Nghe Đại Bàng! Con gà nó “gáy” dữ quá!

– Nói thẩm quyền cho tất cả nằm cặp bờ ruộng tránh đạn, rồi quạt đại liên, cả 72 lên. Trung đội Thuận tiến lẹ, chần chừ sẽ chết hết!

“Gà cồ” 12ly8, đại liên phòng không rất lợi hại trên chiến trường Việt Nam.

Súng tứ bề nổ rân, không còn phân biệt được của bạn hay thù. Địch bắt đầu pháo 82ly xuống khu đồi sau lưng. May, Đại đội đã rời khỏi. Thám Báo nhanh như sóc, vừa bắn túi bụi vừa chiếm từng mô đất để tránh 12ly8 trực xạ. Hạ sĩ Đợi ở Bộ Chỉ Huy kẹp hông cây đại liên khạc liên hồi xuống cái chốt trước mặt, nơi chòm đá, Trung đội 2 của Hơn không thể thấy. Các tràng M60 làm đám lính Biệt Động đang loi nhoi dưới thung lũng lên tinh thần, vụt đứng dậy lao nhanh vào chân đồi, dù Cộng quân bắn ra xối xả.

Dũng kêu to:

– Thiên Nga! Thiên Nga! Hai Mươi bị thương một…

Thấy một số lính Trung đội 2 còn chới với giữa cánh đồng, tôi hét:

– Bỏ nó đó! Tất cả nhào vô thanh toán cái chốt!

Trong lúc toán Thám Báo tấn lên, mấy tay súng BCH xúm bắn M79 và M16 xuống triền đồi cứu nguy thằng Hai Mươi. Ở mặt nam, Trung đội 1 Thuận mỗi lúc một áp sát mục tiêu. Tụi nó may mắn, không còn gặp sự cản mũi nào, vì bọc hậu đánh ra. Tầm đạn Phòng Không của địch dường như đã bị giới hạn bởi đá núi nhấp nhô, không thể quét sát đất hai bên hông. Nó chỉ còn mổ được hướng tây, nhưng đạn đều bay bổng trên đầu Trung đội 2 cố bám trụ dưới chân đồi. Hình như Hơn đang vùng vẫy trước cái chốt sau cùng bảo vệ cây Phòng Không.

Tôi thúc Trung đội 1:

– Mười nghe không?

– Nghe Đại Bàng!

– Nói đại liên dập ngay bọn bê bối cản mũi thằng Hai.

– Đại liên còn kẹt yểm trợ phía trước…

– Bảo thẩm quyền mày thi hành lệnh tao gấp!

– Đáp nhận!

Trung sĩ Thuận vào máy:

– Cây M60 đang áp đảo ổ súng cho tụi nhỏ bò tới…

Tôi hét:

– Bọn M16 đâu không dùng, hả? Anh có thấy không, Trung đội 2 bị AK, B40 của cái chốt dưới thấp bắn chặn, không phải cây 12ly8 nữa. Lính của Hơn đang lâm nguy, hiểu chưa?

– Đáp hiểu!

Toán Thám Báo bắt đầu giở ngon sở trường đánh bằng lựu đạn nổ vang trời. Con gà cồ đã thành con gà nuốt dây thun, im re. Trung đội 2 báo:

– Thiên Nga, Thiên Nga!

– Nghe, Dũng!

– Lấy được một B40 và hai AK.

– Tốt lắm Dũng! Bám liền các tảng đá…

Tiếng Thìn mang máy Trung đội 1 xen vô:

– Thiên Nga, đây Mười!

– Nói!

– Việt Cộng trên đỉnh núi bắn xuống, Đại Bàng!

– OK, để tao kêu pháo binh.

Hiệp đưa ống liên hợp BCH Tiểu đoàn:

– Sơn Linh, Sơn Linh!

– Nghe Việt Quốc.

– Xin pháo binh bắn gấp đỉnh “con gà”.

– Quan sát đi!

Những Thiên thần mũ nâu trong trận đánh cuối cùng ngày 30-4-1975 tại Phú Lâm dưới ống kính ký giả Pháp.

 

 Thấy một trái khói trắng tỏa lên, tôi rống to:

– Cho đạn nổ luôn, tình trạng này còn dùng khói?

Đại úy Do:

– Mẹ… tại thằng đề lô. Rồi, sẽ chơi nổ.

– Bộ khói nữa à? Gần túm cổ con gà rồi, Dông Tố!

Tôi giục Thám Báo:

– Chuẩn bị xung phong, Nhật! Văn bảo Mười và Hai Mươi vây chặt mục tiêu, nhưng đừng bắn, lưu ý lại phía sau lưng, để Thám Báo hốt cây Phòng Không. Đại bác đã rót trên cao, hãy nhào vô, Nhật! Lệnh tắp vô, chậm là tao cho bay chết luôn!…

Toán Thám Báo rất thiện nghệ, bảy con mãnh hổ như điên cuồng áp sát ném lựu đạn tung cả đá núi chung quanh ổ súng, thịt người vỡ vụn. Trước sự việc diễn ra trong giờ phút sinh tử, hai Trung đội tự động đồng loạt quay súng bắn rạt ngược dốc núi ngừa địch tràn xuống giải vây. Tôi ra lệnh Trung đội 2 tức tốc kéo qua cùng Trung đội 1 lập thành một phòng tuyến hình cánh cung về hướng nam phòng thủ.

Thình lình Hạ sĩ Nguyễn Đợi kêu to:

– Đại Bàng, Đại Bàng, lấy khẩu Phòng Không rồi!

Hạ sĩ xạ thủ đại liên Đợi vừa nói vừa chống đế súng đứng nhìn tỉnh bơ như khách bàng quan khi Thám Báo nhảy xuống hầm cây 12ly8, dù thấy vui, phấn khởi, tôi vẫn bắn dọa mấy phát M16 dưới chân:

– Tại sao không bố trí đằng kia, hả?

Đợi vội ôm khẩu đại liên 60 co giò chạy lên sườn đồi. Bọn Nhật bao trọn cỗ súng. Bốn xác Việt Cộng với vũ khí cá nhân đều nát hết. Cây 12ly8 quá kềnh càng, gắn trên bộ chân cao hơn đầu người, dưới hố sâu hoáy. Thấy chắc ăn, tôi gọi báo Tiểu đoàn:

– Sơn Linh, Sơn Linh!

– Nghe Việt Quốc!

Bẻ cổ con “gà cồ” rồi!

Thiếu tá Hoàng Phổ reo lên:

– Hay quá, hay quá!…

Tiếp theo là Trung tá Trần Kim Đại như chờ sẵn đâu trong máy, ngỏ lời chào mừng Đại đội 1 Biệt Động Quân:

– Việt Quốc!

– Tôi nghe!

– Hoan nghênh!… “Trói gô” nó lại cho kỹ.

– Sơn Linh yên tâm, nó chết cứng rồi! Bộ giò đá dữ quá, bị lún sâu dưới đất, mấy thằng nhỏ phải dùng sẻng moi…

– Tốt lắm, đề phòng chung quanh.

– Đáp nhận Sơn Linh.

 Tác giả Trần Thy Vân (ngồi xe lăn) trong đại hội Biệt Động Quân tại miền nam, California 2010, link Blog Mười Sáu

Trung sĩ Nhật vừa tìm được mỏ lết và tụt vít trong túi dụng cụ treo vách hầm. Anh cùng hai người lính tháo rời nòng súng ra khỏi bộ chân, lôi lên mặt đất từng phần. Tôi bảo ráp lại và nạp một dây đạn để tôi “gáy” xuống mỏm đồi, ngay góc đông bắc đầm Nước Mặn, là vị trí Đại đội sẽ đóng quân đêm nay. Quả thật, tiếng nó gáy inh tai xen lẫn tiếng cười khoái chí của bọn lính bạt mạng vang cả núi phía đông vùng đất Sa Huỳnh.

Hiệp đưa ống liên hợp:

– Nghe!

Đại úy Nguyễn văn Do có vẻ lo ngại hỏi lớn:

– Tiếng súng ai đó, Việt Quốc?

Tôi cười:

– Của Việt Quốc! Tôi thọc lét thử “Con gà nuốt dây thun” coi nó còn cựa không, cũng để chuẩn bị lấy gậy ông đập lưng ông một phen nữa!

– Làm hết hồn, tưởng đâu địch còn con thứ hai. Thôi, chấm dứt “gáy”, cho lính dồn đạn lại!…

Trong lúc Đại đội lo thu dọn chiến trường và băng bó kỹ lại các vết thương của anh em, tôi cử vài người đi quanh vị trí lục soát các hốc đá, hầm hố, để tìm đạn 12ly8 địch chôn giấu, tích trữ đâu đây. Nhìn “con gà tuy đã nuốt dây thun”, tôi vẫn thấy cái dáng điệu kiêu xa cao xạ của nó, nên chưa vội trói gô…

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

 Bảo Vệ Cờ Vàng

Để Thay Lời Chúc Xuân


Ngọn Đèn Sáng – Hòa Mỹ

Hải Thượng Lãn Ông, Lê Hữu Trác (1720-1791) Wikipedia

Bài đọc suy gẫm: Ngọn Đèn Sáng tức  “Thầy Toại”, truyện ngắn có liên quan đến lịch sử của tác giả Hòa Mỹ.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

***

Thời sinh viên, Huy học toán và cư ngụ trong câu lạc bộ Phục Hưng. Suốt năm, Huy chỉ học phất phơ, phần lớn thì giờ lo dạy tư kiếm tiền nuôi thân và người anh đang học y khoa. Vì cô thế, không kiếm được giờ dạy ở các trường tư thục Sàigòn, mỗi tuần Huy phải đón xe đò đi Bình Dương dạy ba ngày. Thế mà trời thương, chó ngáp phải ruồi, mỗi năm Huy đều đỗ kỳ đầu ít nhất một chứng chỉ. Nhìn các anh học y khoa thức khuya, dậy sớm, suốt ngày chúi đầu vào sách vở, có anh chàng hộ pháp ngồi tụng mãi đến chiếc ghế phải mòn, Huy khâm phục sự kiên trì của họ. Vì thế sau này Huy không ngạc nhiên thấy họ làm giàu mau chóng. Nhưng người Huy khâm phục nhất là thầy Toại, mặc dầu chưa hề thấy mặt, nghĩa là “Văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình”.

Sinh viên y khoa xem thầy như thần tượng. Họ thêu dệt nhiều chuyện thần thoại về thầy. Họ thấp thỏm, run sợ khi thấy thầy cầm bảng “phong thần” đọc tên những người đậu vào những kỳ thi cuối năm. Thầy vừa là khoa trưởng, giáo sư thạc sĩ y khoa giải phẫu nổi tiếng, vừa là người thầy gương mẫu cho đàn em noi theo. Một giai thoại được nhiều người truyền tụng nhất là thầy đành tâm đánh hỏng người em ruột nhiều kỳ liên tiếp và cuối cùng phải bỏ y khoa, mặc dầu thầy dư khả năng cho đậu. Giữa thời buổi “một người làm quan, cả họ được nhờ” theo truyền thống, thầy đã vì lương tâm nghề nghiệp chống lại quan niệm sai trái ấy làm sao Huy không khâm phục được? Sau này khi trở lại học y khoa, thấy các đàn anh, bằng mọi giá đưa con em mình vào trường y và cho lên lớp đều đều mặc dầu không có khả năng, Huy lại càng khâm phục thầy Toại hơn nữa. Thầy đúng là một đóa sen…

Sau khi tốt nghiệp, Huy được một học bổng du học Mỹ. Người ta chỉ thông báo phải hoàn tất thủ tục trong vòng một tuần lễ. Huy biết họ đã có ứng viên thay thế mình. Họ cho Huy biết vì tuân hành theo quyết định chung của một buổi họp liên bộ. Việc khám sức khoẻ là gay go nhất vì lúc ấy chưa có bệnh viện Thanh Quan dành riêng cho công việc này. Huy phải đến bệnh viện Bình Dân. Bệnh nhân thì tràn ngập mà các bác sĩ thì làm việc từ tốn, khoan thai, 11 giờ sáng vẫn chưa thấy có mặt. Huy chắc chắn không thể nào hoàn tất mọi việc đúng thời hạn ngoại trừ phép lạ. Chạy tìm mấy anh sinh viên y khoa quen trong câu lạc bộ nhờ giúp đỡ, nhưng ai cũng lắc đầu chịu thua. Một anh xúi: “Mày gõ cửa đại phòng thầy Toại xin giúp thì may ra”. Bí quá, Huy đành làm theo mà tim đập liên hồi. Chàng đã gặp được thầy Toại, người mà chàng đã từng ngưỡng mộ như một thần tượng. Huy run run trình bày lý do mà cứ sợ thầy đúng theo nguyên tắc sẽ từ chối giúp đỡ. Không ngờ sau khi nghe xong, thầy cầm lấy hồ sơ, dở ra chăm chú xem môt lúc lâu rồi mỉm cười bảo :

– Anh là dân Quảng Nam à?

Huy gật đầu xác nhận :

– Dạ, con là dân nhà quê nghèo ở Quảng Nam vì thế con không quen biết ai để nhờ giúp đỡ nên mới mạo muội làm phiền đến thầy

Thầy lại cười bảo :

– Đất ngủ phụng tề phi nên mới sản xuất được những người đặc biệt như anh. Chỉ có ba năm mà anh đã lấy được hai bằng cử nhân giáo khoa toán và khoa hoc. Tôi đã từng học năm dự bị y khoa ở trường đại học khoa học nên biết giá trị của những bằng mà anh vừa đậu. Tôi có hai sinh viên nội trú giỏi nổi tiếng và rất thông minh. Mỗi người đều đậu được chứng chỉ toán học đại cương, nhưng sau đó thì thi hoài mà không đậu được những chứng chỉ cao hơn. Anh học có khó khăn lắm không?

Du thành thật trả lờI:

– Con chỉ gặp may. Con chỉ học phất phơ thôi. Hàng tuần con phải đi Bình dương dạy ba ngày dể kiếm tiền sống và giúp gia đình.

Thầy ân cần nắm tay Huy bảo:

– Anh đáng được giúp đỡ. Anh hãy đi theo tôi.

Chỉ trong vòng hai giờ, thầy đã đưa Huy đi làm hết các thử nghiệm và cuối cùng vào phòng quang tuyến, chính thầy xem phổi cho Huy mà không cần phải chụp phim.

Ngày hôm sau, Huy trở lại bệnh viện thì mọi thử nghiệm đã có kết quả và thầy đã ký tên xác nhận sức khoẻ của Huy tốt. Chàng bàng hoàng như sống trong mơ. Người thầy mà các đàn anh y khoa của chàng khâm phục và run sợ lại dễ dãi và tốt với chàng đến thế! Huy cảm ơn mà nước mắt lưng tròng. Thầy cũng cảm động không kém, rút trong túi quần ra một số tiền đưa cho Huy và bảo:

– Tôi biết anh nghèo và cô thế. Anh cầm lấy số tiền này để may quần áo lạnh. Quốc gia đang cần những người như anh. Ráng làm rạng danh dân tộc nơi xứ người và sống có tư cách. Chúc anh may mắn và mau trở về chung tay xây dựng quốc gia.

Huy thổn thức:

– Con xin cám ơn lòng tốt của thầy và xin ghi nhớ những điều thầy dạy để đền đáp phần nào những đặc ân thầy đã dành riêng cho con.

Thầy vỗ vai Huy:

– Đây là bổn phận của lớp đàn anh. Ơn huệ gì mà anh phải áy náy.

Giám đốc nha du học sửng sốt khi thấy Huy hoàn tất mọi thủ tục trước thời hạn nên đành phải để cho chàng xuất ngoại du học.

Hai năm sau, Huy trở về dạy tại trường đại học kỹ thuật Phú Thọ và đem hết khả năng đào tạo sinh viên như thầy mong đợi. Huy cũng thường ghé thăm thầy tại bệnh viện Bìnhdân để bàn luận thời sự và trao đổi ý kiến, học thêm những điều hay nơi thầy.

Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Phú Thọ (trước 1975)

Cuộc đảo chánh thất bại năm 1960 làm cho ông Nhu, cố vấn chính trị cho Tổng Thống Diệm nghĩ đến cần một người có văn hóa cao, có kỹ thuật vững, có tinh thần độc lập để không làm tay sai và có mặc cảm tự ti với người Mỹ, vừa có tinh thần chống cộng vững chắc để khỏi bị họ mua chuộc, làm giám đốc nha trung ương tình báo, một cơ quan hữu hiệu vừa chống cộng vừa bảo vệ chế độ cộng hòa. Huy được ông Nhu mời qua sự giớI thiệu và trung gian của ông Tổng giám đốc công vụ. Huy đã gặp thầy Toại và được thầy chỉ bảo:

– Chỉ có hai ông Diệm, Nhu mới đủ khả năng giữ cho miền Nam khỏi rơi vào tay cộng sản và không lệ thuộc quá đáng vào Mỹ. Tuy ông Diệm quan liêu, độc tài, nhưng biết dùng và kính trọng người có khả năng và tư cách. Bọn trí thức hèn hạ đã làm hư ông ta. Nếu có dịp, anh cứ nói thẳng là ông Diệm đừng để cho ông Thục, ông Cẩn, bà Nhu xen vào thao túng chính quyền, phải tạo cơ hội cho những người đối lập có tư cách tham chính và lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân thì mới mong đứng vững được.

Sau ba giờ nói chuyện, Huy nhận thấy ông Nhu là người thông minh, sâu sắc, có cái nhìn chính xác về tình hình chính trị trong và ngoài nước. Ông ta cũng là người chịu làm việc, yêu nước và thanh liêm. Chỉ tiếc một điều là muốn yên cửa, yên nhà, ông ta đã để cho bà Nhu làm nhiều điều sai trái, lộng quyền. Thêm vào đó vì thiếu giao tế và kiêu ngạo, ông ta không thông cảm được với giới trí thức miền Nam và đẩy họ vào thế đối kháng một mất, một còn. Trong khi đó thì phần lớn trí thức chỉ học giỏi chứ không có thực tài, vì quyền lợi cá nhân, vì tự ái, đã thù oán chế độ và xúi dục ngoại bang gây khó dễ làm cho tình thế trở nên bấp bênh và bi thảm.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm (giữa) và trí thức miền nam. Bộ trưởng Bộ Quốc Gia Giáo dục Nguyễn Đăng Trình (trái, vest đen). Linh mục Giáo sư Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học Huế (phải)

Theo lời thầy Toại dạy, Huy trình bày những ước vọng của mình như một điều kiện để cộng tác. Ông Nhu có vẻ buồn và suy nghĩ nhiều. Sau đó, chàng không gặp lại ông ta một lần nào nữa.

Biến cố Phật Giáo năm 1963 và những xáo trộn chính trị lôi cuốn sinh viên vào một trận cuồng phong mà nhiệt tâm tuổi trẻ thiếu sáng suốt dễ bị lợi dụng. Khi tình thế đã trở nên khẩn trương, sinh viên sẵn sàng xuống đường để ủng hộ Phật Giáo thì các khoa trưởng đồng lòng cùng nhau gặp ông Diệm để trình bày sự thật cho ông có cái nhìn chính xác hơn về tình trạng khẩn cấp mà quốc gia đang gặp phải. Đáng lẽ ông Giám đốc trường kỹ sư công nghệ phải tham gia phái đoàn này. Nhưng ông ta vừa kiêm thêm Tổng giám đốc hỏa xa và Quản trị viên Điện lực Việtnam nên né tránh và cử Huy thay thế. Lần đầu tiên Huy gặp được đông đủ các vị khoa bảng Việt Nam từ bộ trưởng giáo dục, viện trưởng, khoa trưởng, đến giám đốc các trường cao đẳng kỹ thuật. Tất cả tập họp trong phòng khách của dinh Gia Long vì dinh Độc Lập đang trùng tu vì bị bom của Nguyễn Văn Cử. Các vị khoa bảng ngạc nhiên khi thấy vẻ mặt non choặt của Huy hiện diện cùng với họ làm cho chàng thấy xấu hổ và tự ti. Chỉ có thầy Toại đến bắt tay và nhìn Huy với cặp mắt thân ái đầy khuyến khích.

Khi ông Diệm vào, Huy thấy không khí thay đổi đột ngột. Một vẻ trang nghiêm và sợ sệt đang bao phủ. Khi mọi người an tọa, Huy thấy ông Diệm hút thuốc liên hồi, vẻ mặt nghiêm trang với cái nhìn quyền uy và không có một mặc cảm tội lỗi nào. Cái nhìn của một người biết rằng mình chưa làm điều gì hại dân, hại nước và đem lại tư lợi cho riêng mình. Ông Bộ trưởng thay mặt mọi người trình bày mục đích buổi tiếp kiến. Sau đó mỗi khoa trưởng và giám đốc lần lượt trình bày tình trạng của trường mình. Phần lớn đều run sợ, nói năng lắp bắp, khác hẳn với giọng nói đầy tự tin và quyền uy của họ hàng ngày. Họ chỉ nói quanh co và kể lể công lao của họ trong việc ngăn chận sinh viên xuống đường và cuối cùng xin chỉ thị của Tổng Thống. Huy đâm ra thất vọng. Họ đến để tâng công chứ đâu có nghĩ gì về tình thế khó khăn của quốc gia lúc bấy giờ. Chắc họ sợ bị mất chức khi ông Diệm lật ngược được thế cờ như năm 1960 chăng? Nhìn họ Huy mới thấy cái hèn hạ của người trí thức khi bị công danh và tư lợi buộc chặt.

Đến phiên thầy Toại, thầy đứng thẳng, mắt nhìn thẳng ông Diệm, dõng dạc nói:

– Thưa Tổng Thống, tình hình đang nguy cấp. Việc bạo động của sinh viên đã ra khỏi tầm tay của chúng tôi rồi, một phần vì tuổi trẻ thiếu suy nghĩ chín chắn lại bồng bột, một phần vì chính quyền quá cứng nhắc và phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng. Nếu Tổng Thống không kịp thời có những nhượng bộ thích hợp thì chính quyền khó đứng vững trong cơn bảo táp này.

Cả phòng họp im lặng như tờ. Ông Diệm cau mày, nhưng cái nhìn vẫn kính trọng người đối diện. Ông nói:

– Cám ơn ông khoa trưởng đã nói thẳng và nói thật. Chúng tôi sẽ xét lại tình hình khẩn cấp để có những biện pháp thích hợp.

Cả phòng thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng ngàn cân. Khoái quá, Huy vỗ tay và mọi người bắt chước làm theo. Thực sự nếu miền Nam có được vài chục trí thức như thầy Toại thì gia đình họ Ngô đâu dám ngông cuồng tự đại để làm suy yếu chế độ và tạo dịp cho ngoại bang can thiệp vào nội tình nước ta. Sở dĩ mọi người đều run sợ trước ông Diệm vì họ không có tư cách. Khi chưa có quyền thì luồn cúi, xin xỏ, hoặc bất mãn, phản đối. Khi có quyền thì tham nhũng, thối nát, nịnh trên, nạt dưới. Bọn tướng lãnh giết hai ông Diệm, Nhu là một lũ người hèn hạ, ngu si nhất. Nếu họ cho hai ông ấy ra khỏi nước một thời gian để ăn năn những việc sai trái đã làm thì miền Nam khó bị cộng sản cưỡng chiếm sau này.

Sau ngày hai ông Diệm, Nhu bị giết, các khoa trưởng và giám đốc lại được mời họp. Lần này trong giảng đường của trường đại học sư phạm. Huy cũng được tham dự. Thấy họ vui vẻ, rạng rỡ khác hẳn với vẻ khúm núm, sợ sệt lúc gặp ông Diệm, Huy thấy buồn. Chàng thấm thía với câu bình luận của đài B.B.C vừa nghe đêm qua: “Miền Nam sẽ hỗn loạn triền miên sau khi ông Diệm chết”. Thực tế sau này đã chứng minh điều nhận xét trên là khôn ngoan và sâu sắc. Các khoa trưởng, giám đốc lại lần lượt lên diễn đàn tố cáo tội ác của Diệm, Nhu. Đến phiên thầy Toại, thầy hiên ngang nhìn thẳng vào đám đông dõng dạc nói:

– Chúng ta họp nhau hôm nay ở đây là để bàn về tương lai và ổn định lại việc học cho sinh viên, chứ không phải để tố cáo người đã chết. Họ làm sai, lịch sử sẽ phê phán. Chúng ta không dư thì giờ để bàn những việc chưa đáng phải làm và thực sự chúng ta chưa đủ tư cách để làm công việc ấy.

Cả hội trường sửng sốt, nhất là ông tướng mang hai sao đang ngồi chủ tọa. Họ không ngờ người khẳng khái bất bình với chính quyền trước mặt ông Diệm, nay lại đi bênh vực cho ông ấy. Khoái quá, Huy đứng dậy vỗ tay ầm ĩ, nhưng chỉ có vài người phụ họa. Ông tướng cau mày nhìn Huy . Huy biết rõ ông tướng này làm đại tá an ninh quân đội thời ông Diệm. Ông ta chỉ đậu bằng tiểu học và làm đội khố xanh trong dinh tuần vũ của ông Diệm ở Phan Thiết khi xưa. Khi ông Diệm làm thủ tướng rồi tổng thống thì ông ta đã cúc cung tận tụy phục vụ nên mới lên được đại tá. Thế mà ông ta chưa bằng lòng với cấp bực của mình nên xin lên tướng. Ông Diệm đã coi ông ta như con cháu trong nhà nên nhỏ nhẹ bảo : “Từ nay cấp bậc tướng chỉ dành cho những sĩ quan trẻ có học vấn cao, hiểu biết rộng thì tương lai quốc gia mới khá hơn được, con hãy bằng lòng với cấp bực đại tá đi“ Thế là ông ta bất mãn và kết hợp với mấy ông tướng bất tài khác làm loạn, giết người đã từng thương yêu và nâng đỡ mình hết lòng.

Tháng sau, Huy nhận được giấy trình diện nhập ngũ. Huy biết rõ mấy ông tướng cầm quyền ghét và muốn hành hạ chàng. Huy nhớ lại lúc chàng nói thẳng và đặt điều kiện với ông Nhu, ông ta không bằng lòng nhưng không thù vặt như mấy ông tướng đang cầm quyền.

Chín tháng lăn lóc trong quân trường, chàng học được nhiều điều mà điều hay nhất là Huy nhận ra được khả năng chịu đựng vô biên của con người và thông cảm hoàn toàn nỗi nhọc nhằn mà người lính phải chịu trong cuộc huynh đệ tương tàn dai dẳng mà đảng cộng sản Việtnam là thủ phạm. Chàng có cái hãnh diện là đã không hèn hạ chạy chọt trốn lính. Chàng vẫn luôn luôn noi gương thầy Toại là thà chịu cực chứ không nịnh nọt mấy ông lớn lon để xin xỏ ơn huệ. Huy được đổi về làm giáo sư văn hóa cho trường Võ Bị Quốc gia Đàlạt sau hai năm làm sĩ quan địa phương quân đóng đồn ở Bình Định. Ba năm làm giáo sư, chàng vẫn tâm niệm lời dạy của thầy Toại là đem hết khả năng đào tạo sinh viên. Rất tiếc miền Nam mất quá sớm. Nếu còn đứng vững đến ngày hôm nay, chàng chắc chắn những sĩ quan Võ Bị được đào tạo văn võ song toàn, trong một ngôi trường hiện đại nhất Đông Nam Á, có cái nhìn rộng rãi, sâu sắc, không có mặc cảm dốt nát như các tướng tá đàn anh, sẽ điều khiển quốc gia một cách hoàn hảo. Chàng cũng được hãnh diện khi nghe nhiều người khen ngợi tài đức và lòng dũng cảm của các sĩ quan Võ Bị sau này.

 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam

Khi được biệt phái về trường đại học kỹ thuật Phú Thọ, chàng ghi tên học y khoa. Bệnh viện Bìnhdân vẫn còn đó với các kỷ niệm thân thiết xưa, nhưng đã có nhiều thay đổi từ hình thức đến tinh thần. Bệnh viện được xây cất đồ sộ, khang trang với các phòng thí nghiệm và giải phẫu tối tân. Nhân sự cũng thay đổi nhiều. Thầy Toại vẫn còn đó, nhưng không còn làm khoa trưởng nữa. Thầy chỉ giữ một căn phòng nhỏ, khiêm nhường làm văn phòng và dạy vài giờ cho những năm cuối. Phần lớn thì giờ thầy làm việc cho phòng giải phẫu của bệnh viện Saint Paul do các sơ điều khiển. Huy không dám hỏi thầy về những biến cố đã xảy ra vì sợ chạm đến vết thương sâu kín trong tâm hồn thầy. Nhưng điều Huy cảm nhận được là thầy đã thiếu khả năng thích ứng. Thầy đã được đào tạo trong không khí thân tình của nền y khoa Pháp và chứng kiến sự can thiệp thô bạo của Mỹ vào chủ quyền Việtnam khi cho phép mấy ông tướng vô học làm loạn. Chính những điều ấy đã làm cho thầy ngần ngại khi Mỹ muốn viện trợ xây cất một trung tâm y khoa hiện đại cho viện đại học Sàigòn và thầy đã bị bánh xe tiến hóa đẩy ra bên lề. Thực sự, thầy chưa thấy được cái dã tâm của người Pháp. Theo Huy thì Mỹ hay Pháp đều như nhau. Một đàng tinh tế, tình cảm hơn. Một đàng thực tế, thô bạo hơn. Nếu chúng ta biết đoàn kết, có tinh thần đồng đội, tinh thần độc lập, thì lợi dụng được sự giúp đỡ của họ một cách khôn ngoan, đôi bên cùng có lợi mà không lệ thuộc quá đáng vào họ. Nếu chúng ta chia rẽ, tư lợi, xu nịnh, nô lệ, thì sẽ bị khuynh đảo để thực hiện những mưu đồ của họ. Nhiều người bất đồng ý kiến đã bỏ đi Pháp, nhưng thầy vẫn ở lại. Huy thương sự thiếu thích ứng của thầy, nhưng kính phục lòng can đảm và yêu nước nơi thầy. Thầy hỏi Huy:

– Tại sao anh trở lại học y khoa? Muốn làm giàu phải không?

Huy trả lời:

– Con học tây y là để bổ túc cho cái thiếu sót của đông y và muốn hiểu rõ bệnh nhân đã được tây y chữa trị như thế nào để thích ứng. Y khoa chỉ là nghề tay trái. Giáo dục mới là môi trường con có nhiều khả năng và đam mê.

Thầy hỏi Huy về đông y. Huy đã đem những tao ngộ kỳ thú và những kết quả lạ lùng kể cho thầy nghe với ước mong thầy thấy nền y khoa Mỹ dẫu có tiến bộ đến đâu đi nữa cũng không giải quyết được hết nỗi đau khổ của con người nhất là về mặt tinh thần để thầy thấy được cái hay ho của đông y và bớt chua chát về những cứng nhắc và thiếu thích ứng trong quá khứ.

Sau nhiều buổi thăm viếng và bàn luận, Huy thấy thầy vui hơn, lắng nghe những kinh nghịêm đau thương của người bạn trẻ và thấy mình vẫn còn gặp nhiều may mắn. Cuối cùng thầy kết luận:

– Thật kỳ lạ, anh là một người chỉ tin vào thực nghiệm mà lại đam mê chuyện siêu hình. Anh nói đúng. Cuộc đời có nhiều cái huyền diệu lắm mà kiến thức chuyên môn của mình không thể cắt nghĩa hết được. Tôi đã hố khi quá coi trọng cái chuyên môn của mình mà xem thường cái hay của người khác.

 Đại học Y-Khoa Sài Gòn (trước 1975)

Từ đó, Huy thấy thầy vui hơn và thường tham dự vào những buổi giải phẫu biểu diễn của các phái đoàn y khoa Mỹ. Thầy đứng lẫn lộn trong đám sinh viên, cặp mắt đầy thương yêu và kính phục những bác sĩ Mỹ và những đàn em của thầy được họ đào tạo. Huy thấy trong mắt thầy một niềm luyến tiếc và một vẻ kiêu hãnh. Thầy luyến tiếc quãng ngày huy hoàng xưa và những khó khăn gặp phải khi không thích ứng nhanh với hoàn cảnh. Thầy kiêu hãnh vì đã đem hết tâm hồn đào tạo lớp đàn em nên người hữu dụng đang góp sức xây dựng quốc gia. Huy thương nhất khi thấy đôi bàn tay thầy âm thầm làm y những động tác mà các bác sĩ giải phẫu đang làm. Có lẽ thầy còn muốn học những kỹ thuật mới chăng? Chắc thầy buồn lắm khi thấy mình đã già và không còn khả năng theo kịp các tiến bộ vượt bực của y khoa hiện đại? Xin thầy yên tâm. Những đàn em có lương tâm và yêu nghề được thầy đào tạo đã tiếp nối một cách thông minh và tận tâm con đường dang dở của thầy. Riêng Huy, chàng tự nghĩ:

– Đời ta tuy gặp nhiều khổ nạn, nhưng ta cố gắng noi gương thầy Toại, ngang nhiên nói thật, nói thẳng những sai trái của người khác trong tinh thần xây dựng, thương yêu và khiêm nhường nhận những khuyết điểm người khác phê bình mà sửa đổi.

 Tháng 7/2012 tàu bệnh viện USNS Mercy của hải quân Mỹ đến Nghệ An mang theo 1.200 thành viên quân sự và dân sự của nhiều quốc gia để thực hiện sứ mệnh nhân đạo. Đây là lần thứ 3 tàu Mercy đến Việt Nam trong chương trình “Hợp tác Thái Bình Dương”. Sĩ quan Mỹ cùng với các nước khác đã hỗ trợ tỉnh Nghệ An nâng cấp và cải tạo các cơ sở hạ tầng y tế, tổ chức khám chữa bệnh cho người dân và động vật. Ảnh: Nguyễn Khoa

 
Vì thế, chàng rất buồn khi thấy báo chí luôn khen ngợi người Việt mình thông minh, cần mẫn, can đảm, bất khuất mà không đề cập đến những tính xấu căn bản như: thiếu tự tin, chia rẽ, ích kỷ, nô lệ, kiêu ngạo, vọng ngoại làm mất hết những đức tính tốt trên và sẵn sàng làm tay sai cho ngoại bang để dày xéo nhân dân mà thụ hưởng tư lợi. Đó có phải là một tính tốt và khôn ngoan sợ mất lòng người khác chăng? Huy cho rằng đó là một thiếu sót quan trọng của người cầm bút chỉ nhìn thấy mặt phải mà không dám nhìn mặt trái của mọi vấn đề hay cố ý không nhìn đến. Nếu mọi người Việt nhất là giớI trí thức đều nhìn bất cứ vấn đề nào dưới hai mặt phải trái khác nhau và sẵn sàng chấp nhận ý kiến chung mặc dầu trái với ước muốn của mình và cố thích ứng với hoàn cảnh thì tương lai đất nước sẽ tươi sáng biết bao nhiêu! Còn nếu vẫn cứ cho rằng mình luôn thông minh và dùng cái thông minh ấy để bịp người khác thì muôn đời dân tộc chẳng bao giờ ngóc đầu lên nổi.

Gần đây ông thiếu tướng chủ tọa buổi họp năm xưa không biết nhờ cơ duyên nào mà bỏ công ra viết một quyển sách chứng minh gia đình họ Ngô và cộng đồng Công giáo đã làm hại quốc gia, dân tộc với những lý luận tinh vi và những bằng cớ xác đáng. Ông ta không hề nhắc đến những đóng góp tốt đẹp của người Công giáo cho xứ sở cũng như những cái tốt và xấu của cộng đồng Phật giáo vào tiến trình đau thương của dân tộc trong mấy chục năm qua. Chỉ đậu được bằng tiểu học mà ông ta đã viết được như vậy thì quả thật là một người thông minh nếu không nhờ kẻ khác viết giúp. Ông ta đã bóp méo sự thật một cách khôn ngoan và có thủ đoạn để biện minh cho công việc mình đã làm nhưng không ngờ đến tác dụng tai hại làm chia rẽ dân tộc. Những kẻ nào có dã tâm gây nên sự kỳ thị tôn giáo tại nước ta đều có tội nặng với lịch sử. Chỉ vì muốn biện minh cho việc làm sai trái của mình trong quá khứ, ông ta đã làm một việc nguy hại lâu dài cho dân tộc là đầu độc thế hệ trẻ bằng những cái nhìn mất quân bình, không công bằng và đầy ác ý. Ông ta đã làm giống y như Hồ Chí Minh lý luận Công giáo là nguyên nhân đưa đến sự xâm lăng của Pháp vào Việt Nam và chỉ có cộng sản đệ tam mới là sức mạnh duy nhất lật được ách đô hộ của họ. Trong thâm tâm, ông ta vẫn hiểu rằng tiến trình lịch sử đi tìm thuộc địa và sự tự kiêu, bế môn, tỏa cảng của các vua triều Nguyễn đã đưa đến thảm họa xâm lăng. Cũng như sau thế chiến thứ hai việc nổi dậy của các dân tộc bị trị để dành lấy độc lập là điều tất nhiên mà không cần phải có đảng cộng sản lãnh đạo như các nước khác đã làm. Chính những lý luận khôn ngoan, một chiều, đầy dụng ý ấy của ông Hồ đã bịp được dân tộc ta và đẩy họ vào một cuộc nội chiến triền miên trong hơn ba mươi năm, giết hại không biết bao nhiêu nhân tài, tàn phá không biết bao nhiêu di sản quí báu mà tiền nhân đã khổ công gầy dựng, để cuối cùng có được một nước Việt Nam thống nhất nhưng rách nát, nghèo đói, lạc hậu, đau thương nhất thế giới. Vì thế dân tộc ta cần có những nhà trí thức yêu nước thật tình và có can đảm nói thẳng, nói thật giống như thầy Toại vậy. Chắc chắn sau vài năm áp dụng chủ nghĩa cộng sản vào Việt nam, Hồ Chí Minh đã thấy những sai lầm nghiêm trọng, nhưng ông ta không đủ can đảm nói ra sự thật vì sợ chết. Do đó người anh hùng không phải là kẻ dẫm lên sự đau thương của dân tộc để tạo được những kỳ công cho thế giới khâm phục mà là người dám hy sinh mạng sống của mình vì hạnh phúc của nhân dân và nói lên những sai lầm của chính mình đã phạm.

Sở dĩ đảng cộng sản đã đưa dân tộc ta đến tình trạng bi thảm ngày nay chỉ vì họ đã áp dụng sai những nguyên tắc căn bản trong việc xây dựng tổ quốc. Họ đã nhìn mọi hiện tượng, mọi sự việc một mặt, một chiều trong khi mọi đảng viên đều sống hai mặt, một mặt thật âm thầm ăn năn, đau khổ với chính mình và một mặt giả đạo đức, gương mẫu để bịp đảng và mọi người chung quanh. Đáng lý ra họ phải chân thật với chính mình và mọi người, nghĩa là chỉ có một mặt chân thật mà thôi. Nhưng khi xét người, xét việc thì họ phải nhìn kỹ hai mặt phải trái thì mới có thái độ đúng đắn được. Họ lại quá cứng nhắc trong giáo điều vì thế không thích ứng được với tình hình chính trị và kinh tế thay đổi quá nhanh hiện nay.

Cách đây không lâu có một phong trào “phục hưng tinh thần Ngô Đình Diệm” bừng dậy rầm rộ. Nhiều người mời Huy tham gia. Noi gương thầy Toại, Huy nói thẳng:

– Ông Diệm chỉ có được cái thanh liêm và yêu nước. Ngoài ra còn có quá nhiều khuyết điểm trầm trọng như quan liêu, độc tài, gia đình trị. Tôi thấy không cần thiết phải làm phục hưng tinh thần đó. Nếu vẫn còn yêu mến ông Diệm thì các anh hãy tự làm cho mình tốt đi và người ngoài sẽ thấy được cái ưu điểm ấy mà kính phục ông ta. Còn nếu các anh vẫn xấu mà tự nhận là đồ đệ ông Diệm là các anh đã chôn vùi tên tuổi của ông ta vậy.

Tuy thầy Toại là một gương sáng cho Huy, nhưng không vì thế mà Huy xem thầy là thần tượng như khi còn trẻ và bắt chước thầy trên mọi phương diện và cúi đầu ca tụng thầy một cách mù quáng như bao nhiêu đồ đệ Hồ Chí Minh đã làm. Huy chỉ trích sự thiếu khả năng thích ứng và tính cứng nhắc của thầy. Chính vì thế mà nửa cuộc đời còn lại thầy sống trong cô đơn, hối tiếc vì không đóng góp được gì nhiều cho quốc gia, dân tộc.

Sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm, thầy Toại vẫn còn ở lại trong nước. Huy đến thăm thầy sau hai năm cải tạo, thầy buồn rầu nói :

– Chắc anh nghe nhiều người đồn rằng tôi đang chạy theo cộng sản để kiếm tư lợi. Ý kiến anh thế nào?

Thấy vẻ mặt đau khổ của thầy khi nói điều trên, Huy biết là thầy đã bị bọn cộng sản lợi dụng. Họ muốn chứng tỏ cho thế giới biết là họ vẫn tôn trọng giới trí thức. Thêm vào đó họ đang cần thầy vì bác sĩ Tôn Thất Tùng được họ trọng dụng cũng phải khen ngợi sự tài giỏi của thầy trong quá khứ. Trong khi đó thì giới trí thức bị kẹt lại thấy thầy được cộng sản trọng dụng nên ghen tị, chê trách. Huy an ủi thầy :

– Con hiểu được tình cảnh khó xử của thầy. Chỉ cần lương tâm thầy bình an là được. Làm sao thầy có thể làm vừa lòng mọi người khi họ chỉ thấy một mặt của sự việc. Con tin ở tư cách của thầy. Nếu thầy không mềm dẻo một chút trong hoàn cảnh khó khăn đầy oan trái này thì thầy dễ bị áp huyết cao và đứt mạch máu não lắm.

Thầy buồn rầu thú nhận :

– Tôi cũng muốn bắt chước anh xem thường dư luận. Nhưng khi thấy tia nhìn khinh bỉ của đồng nghiệp thì lòng tôi đau xót khôn cùng. Ý muốn của tôi là được suốt đời phục vụ cho sức khỏe của nhân dân, đào tạo cho quốc gia một đội ngũ bác sĩ giỏi chuyên môn, giàu lòng bác ái trước nổi khổ đau mênh mông của dân tộc, sống và chết trên quê hương thân yêu này. Thế mà gặp toàn cảnh ngang trái, oan khiên. Tôi khâm phục anh tuy gặp toàn những bất công và khổ đau trong cuộc sống so với bạn bè chung quanh mà vẫn vui cười như không. Chỉ có hồn thiên sông núi uy linh của đất địa linh nhân kiệt mới sinh ra được những ngườI như anh. Cám ơn lời khuyên của anh. Tôi sẽ cố gắng bắt chước anh, nhưng chắc là khó lắm. Anh định làm gì trong tương lai?

Huy cười bảo :

– Con vừa vượt ngục ra. Đối với chế độ này con là một tội phạm nguy hiểm nhất thì làm được gì cho nhân dân. Nếu con không bị bắt lại để chết dần mòn trong lao tù là may rồi. Con chỉ còn một con đường duy nhất là vượt biên mà thôi.

Đúng như điều tiên đoán của Huy, vài năm sau thầy đã bị đứt mạch máu não và bán thân bất toại. Huy thương cho sự thiếu thích ứng của thầy mà không biết làm sao cứu giúp. Thầy đã sống những ngày đau khổ nhất trước chứng bệnh nan y. Huy đã viết thư thăm hỏi, an ủi và khuyến khích thầy thường xuyên. Vài năm sau, Huy được tin thầy đi Mỹ theo diện đoàn tụ. Huy biết thầy đau lòng lắm khi có quyết định trên vì thầy luôn muốn sống và chết trên quê hương thân yêu. Trong quá khứ thầy đã từ chối biết bao nhiêu cơ hội sống giàu sang trên xứ người, thế mà bây giờ thầy phải chấp nhận quyết định đau đớn ấy. Huy hiểu rằng thầy đã khinh tởm chế độ cộng sản đến mức nào!

Khi định cư tại Canada, với thông minh và trí nhớ ngoại hạng, Huy dễ dàng trở lại nghề bác sĩ vừa có danh, vừa có tiền, nhưng chàng đã không làm. Chàng thấy đông y bổ túc được phần nào cái thiếu sót của tây y. Nhờ kiến thức tây y, chàng hiểu rõ bệnh nhân đã được tây y chữa trị như thế nào và có cái gì khiếm khuyết để bệnh không lành mà tìm cách chữa trị. Chàng vui thích khi thấy mình đã giải quyết được nhiều trường hợp mà tây y bó tay và giúp ích được nhiều cho dân bản xứ đã hào hiệp cưu mang gia đình chàng trong một xứ sở tự do và thanh bình. Chàng đã chứng minh được cho họ thấy cái huyền diệu và cao đẹp của đông phương mà họ đang thiếu. Chàng vui mừng thấy mình có can đảm khước từ vinh hoa, phú quí và chọn cho mình một con đường độc đáo để truyền bá cái tinh hoa của dân tộc ta. Có một điều càng ngày Huy càng nhận rõ là tinh thần càng thăng hoa, cuộc sống càng đơn sơ, thanh đạm, tấm lòng càng rộng mở để hoàn toàn thông cảm được với nỗi khổ đau của người khác bằng tất cả con tim và tình thương thì việc chữa trị đông y càng phong phú, hiệu quả và chính xác.

Vừa hưởng được mọi tiện nghi của đời sống vật chất hiện đại mà không bị trói buộc, vừa có phong cách trầm tĩnh và thoát tục của đông phương, Huy thấy mình có khả năng thích ứng hơn thầy Toại nhiều. Dẫu sao thì trong tâm hồn Huy tư cách thanh cao của thầy Toại vẫn là ngọn đèn sáng giúp cho chàng có đủ can đảm ngang nhiên nói thẳng, nói thật những điều sai trái người khác biết mà không dám nói.

Hoà Mỹ

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

pvbhoamy@Wordpress.com

tranmuoisau@Blogspot.com


Hai Bà Cãi Nhau – Huyền Thoại

Hình cầu treo San Francisco nổi tiếng nhất thế giới

 ***

If you’re going to San Francisco
Be sure to wear some flowers in your hair
If you’re going to San Francisco
You’re gonna meet “some” gentle people there…

Bản nhạc nổi tiếng về “San Francisco (Be Sure to Wear Flowers in Your Hair)”viết bởi John Phillips của Ban Nhạc The”Ba Má”-The Mamas & the Papas, ca sĩ là  Scott McKenzie.  You Tube link

Bài đọc suy gẫm: …Hai Bà Cãi Nhau nơi đậu xe… hay “Hạt Bụi Trong Mắt” của Tác giả Huyền Thoại.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Huyền Thoại là bút hiệu mới của Thịnh Hương, tác giả đã nhận giải danh dự Viết Về Nước Mỹ, được nhiều bạn đọc  rất quí mến. Bài mới viết của cô kể chuyện là chuyện đậu xe và bị một bà Mỹ vịt bầu gây lộn, mắng “You bitch! Go back to where you belong!” Để coi, tác giả của chúng ta đáp lễ…

***********************************************

Tôi sống ở Pleasanton, một thành phố tương đối mới mẻ ở vùng Đông Hồ (East Bay), miền bắc California. Theo cái gia tài tiếng Anh học đại của tôi, “bay” là một cái vịnh, chứ không phải hồ (lake), nhưng tôi vẫn thấy thích “Đông Hồ” hơn là “Đông Vịnh”, vì Đông Hồ nghe có vẻ nhẹ nhàng và… thơ mộng hơn.

Mấy năm trước một chị bạn của tôi từ Minneapolis sang chơi. Lúc đó là đầu mùa xuân, hoa lá ở Pleasanton vừa đâm chồi nảy lộc, nắng vàng bắt đầu sưởi ấm cỏ cây, chị bạn tôi thích lắm, khen nức nở: ” Pleasanton là ton of pleasant!”. Vâng, “ton of pleasant” vào mùa xuân, nhưng khi tháng tám trở lại, thì &ôi sao mà nóng thế! Nhiệt độ có ngày lên tới cả trăm độ F chứ chẳng chơi! Nhưng dù có nắng cỡ nào cũng chẳng bằng tiểu bang Texas, nơi nhiều người trong giòng họ tôi hiện cư ngụ.

Sơ đồ hệ thống xe lửa điện tại Vịnh San Francisco.

Ở Pleasanton, nhưng cái job của tôi lại nằm tuốt bên San Francisco, nên mỗi ngày tôi phải mất hai tiếng đồng hồ “commute” giữa nhà và cái nồi cơm. Hai tiếng đồng hồ cũng là nhờ hệ thống xe BART, chứ nếu lái xe “chăm phần chăm” thì tệ nhất cũng phải mất bốn tiếng, hai chiều! Từ nhà, tôi lái xe tới bến xe BART, khoảng 7 miles, trả một đồng parking, gần năm đồng tiền vé, rồi leo thang lên thềm ga chờ xe tới. Vào giờ dân chúng đi làm và tan sở, gọi là peak hours, cứ mười lăm phút có một chuyến xe. Ngoài ra, cứ hai mươi phút có một chuyến, bắt đầu từ 4 giờ sáng đến 12 giờ 15 đêm. Vào các ngày lễ lớm như July 4th, Christmas và New Year, giờ giấc được nới rộng thêm một chút.

Bước vào xe, kiếm chỗ ngồi, tôi lấy sách ra đọc, một “xa xí phẩm” mà tôi ít được hưởng ở nhà, vì nào là nấu nướng cho đấng phu quân kén ăn, nào là chăm sóc cho một mãnh vườn nho nhỏ xinh xinh! Trong lúc đọc sách tôi thường bị những tiếng reo của cell phones chung quanh làm phiền. Nhiều người sao mà lắm chuyện nói, từ lúc bước vào xe đến lúc tới bến họ nói không ngừng! Vừa xong chuyện với người này, lại thấy gọi ngưòi khác, hoặc người khác gọi! Liên tu bất tận. Có nhiều người không nói chuyện cell phone, mà lúi húi chúi đầu vào computer, gõ gõ, bấm bấm. Rõ là nghiện internet tới chỉ!

BART là chữ viết tắt của Bay Area Rapid Transit, xử dụng những toa xe hình thức như xe lửa, chạy bằng điện và được điều khiển bởi một hệ thống điện tử từ trung tâm. Người ” tài xế” xe BART , được gọi là conductor, ngồi quan sát những diễn biến và báo cáo về tổng đài để xin điều chỉnh hoặc xoay trở trong những trường hợp bất thường. Dao mới bắt đầu dùng xe BART đi làm tôi cũng hơi&ơn ớn khi xe chui vào đường hẩm hình ống nằm dưới nước, nối liền các tỉnh của Đông Hồ với San Francisco và phi trường quốc tế SFO. Nhưng may thay, qua hai ba lần động đất, những tuyến xe BART chẳng hề bị hư hao, và cái ống tube nằm sâu dưới vịnh vẫn an toàn , chẳng hề hấn chi. Trong khi đó, cầu thì gẫy, xa lộ thì sập!

 

Thường thường tôi lái xe đến bến đậu xe khoảng sáu giờ rưỡi sáng, vì sau giờ đó, có rất ít chổ đậu xe. Có vài lần đi sau 7 giờ, tôi chạy tới chạy lui, chạy lên chạy xuống bảy tám vòng, đỏ mắt khô môi mà không kiếm được chỗ đậu. Đành phải lái xe ra ngoài phố, đậu lề đường, đi bộ trở lái bến xe, mỏi chận, mòn cả giầy dép. Bởi vậy, dù công việc không bắt buộc phải vào sở đúng giờ giấc nhất định, tôi cũng luôn luôn đúng giờ.

Đêm qua tự nhiên tôi bị mất ngủ không biết lý do. Sợ ông chồng mất ngủ theo vì bà vợ trăn qua, trở lại, tôi bèn&len lén ôm gối chăn ra nằm ngoài family room, ba giờ sáng mới nhắm mắt ngủ được. Sáu giờ sáng ông chồng dậy đi làm. Nghe ổng đánh răng súc miệng om xòm, tôi giật mình, dây luôn. Ra tới bến xe BART là 7giờ 20. Biết là không dễ gì còn chỗ đậu xe, nhưng tôi cũng ráng cầu may, lái thẳng xuống những dãy trong tận cùng. Ô kìa, có lẽ hôm nay ông trời đi vắng hay nhiều người call sick mà tôi chợt nhìn thấy hai chỗ trống liền nhau ngay trước mặt. Đang chuẩn bị cho xe vào chỗ trống trước xe thì từ phía tay phải tôi một chiếc xe Cavalier ào ào phóng tới và lu ngay vào chỗ tôi đã chọn. Có lẽ người lái xe đó không thấy cái parking spot kế cạnh vì bị chiếc xe truck che khuất, hay dù có thấy, nhưng bà ta không thích đậu kế bên một chiếc xe to lớn kềnh càng nên lựa đúng cái parking spot ngay trước mũi xe tôi. Vì đem xe vào gấp quá nên bà đậu méo xẹo, méo đến độ không thể nào méo hơn. Biết thế nào bà ta cũng phải de xe đậu lại cho ngay ngắn nên tôi từ từ đưa xe mình vào cái parking spot kế bên. Phãi vô ngay thôi, vì chỉ cần chậm mấy giây, biết đâu lại có kẻ đến sau nó giành mất cái chỗ đậu xe trong những giây phút nóng bỏng như thế này thì lại tức phát ách lên được!

Vừa đậu xe xong, chưa kịp tắt máy thì cái bà Mỹ trắng lái xe Cavalier đó bấm còi inh ỏi. Tưởng bà ta cần gíup chuyện gì, tôi nhấn nút hạ cửa sổ mở rồi hỏi:

– Do you need help? (Bà cần giúp gì cưa?)

Xe tôi là xe SUV, xe bà lại thấp nên tôi phải cúi xuống để nghe bà trả lời. Bà chẳng vặn cửa sổ xuống mà trợn trừng nhìn tôi, miệng tía lia những gì tôi chẳng nghe được. Nhìn vẻ mặt giận giữ của bà ta, tôi hơi ngạc nhiên, không hiểu mình đã làm gì đến nỗi người đàn bà to béo kia hung hăng đến thế, nhưng tôi cũng tỉnh bơ, trỏ vào hai tai và lắc đầu trả lời:

– I don’t hear a thing!

Bà phảy tay, quay mặt đi, ra điều “không nghe thì thôi!”

Tôi thu gom xách tay, khăn quàng và áo lạnh, đủng đỉnh xuống xe rồi bấm chìa khóa tự động. Lúc đó bà Mỹ mập đã de xe lại ngay ngắn. Bà ta đến trước mặt tôi, quát lên:

– Didn’t you see that I was trying to back up”

Dựa vào vẻ tức tối của bà, tôi xin dịch: “Bộ mi không không thấy là ta đang định de xe ra hả””. Tôi bực mình lắm lắm vì cái vẻ trịch thượng và lời lẽ vô lý của mụ, nhưng cũng ráng giữ giọng bình thường:

– Tôi thấy chứ! Nhưng bà có vấn đề gì với tôi vậy”

– Vấn đề gì” Vấn đề gì hả” Đáng lý mi phải de xe lại cho ta lui ra chứ! Mi bắt ta phải chờ mi hết vài phút, bây giờ ta trễ mẹ nó chuyến xe rồi. Có nghĩa là ta đi làm trể hết hai chục phút. Đó, vấn đề là đó đó!

Tôi tức quá, cãi lý:

– Tại sao tôi lại phải de xe cho bà lui ra” Trong khi bà de tới de lui, lỡ có ai đến chiếm chỗ của tôi thì sao” Bà thật là vô lý! Việc bà đậu xe méo mó hay đi làm trễ đâu có phải là lỗi tại tôi!

– Mi nghĩ mi là ai” Mi đậu xe chình ình giữa đường đi, làm sao ta vào cho ngay ngắn được, hả”

– Tại bà hấp tấp, tại bà chạy mau cho nên mới phải de đi de lại.

Bà mập phóng cho tôi một cái nhìn nảy lửa:

– Bao nhiêu chỗ ngoài kia sao mi không đậu, lại cứ phải đậu chỗ này” Về học lại cách lái xe đi nghe chưa! Đồ ngu!

Tôi sùng quá, nổi quạu:

– Chỗ này là chỗ chung, bà có quyền gì mà nói” Thế sao bà không đi chỗ khác mà đậu, lại còn phải hạch sách tôi” Bà mới là người cần phải đi học lại, chứ không phải tôi à nghe! Tôi đậu có một phát là xe ngay ngắn, còn bà, de tới de lui mà còn lớn lối! Ai ngu, bà hay tôi”

Mụ gầm lên như cọp trúng đạn:

– You bitch! Go back to where you belong! (Đồ chó! Cút về xứ mày đi!)

Vừa nghe xong mấy tiếng này, tự ai dân tộc của tôi ùn ùn nổi dây. Tôi chạy đến cản không cho bà ta bỏ đi:

– Ê, bà nói ai là chó” Bà đuổi ai” Nghe này, bà sinh sống ở đây ra sao, tôi chẳng kém bà (I belong here as much as you do!). Ngoại trừ bà là con cháu người da đỏ, còn không, thì bà củng như tôi, cũng đến từ một nơi nào đó! Đúng không” Nếu bà am hiểu lịch sử, bà phải biết vì sao người Mỹ đến Việt Nam, và tại sao người Việt Nam có mặt bên Mỹ. Không phải là tự dưng người ta đến đây dành ăn !

Bà vịt bầu ngúng nguẩy quay đi sau khi ném vào mặt tôi một cái nhìn tóe lửa. Vừa đi, bà vừa lôi trong túi áo ra chiếc cell phone và gọi ai đó. Có thể bà gọi sở làm, cho biết bà sẽ đến trễ. Có thể bà gọi người nhà bà ra phá xe tôi. Nghĩ vậy tôi hơi lo. Nhưng làm sao bây giờ” Không lẻ lại đem xe đi chỗ khác” Mà chắc gì đã kiếm ra chỗ” Lại nữa, làm như thế thì… hèn quá! Tại sao mình lại lo sợ viễn vông như vậy”.

 

Để… hạ hỏa, mời quý vị xem vài tấm hình cầu Oakland Bay Bridge.  Thực ra cầu này không có yểu điệu thục nữ như Cầu San Francisco nhưng thuộc loại “Quân Tử …hai hàng:) 2 hàng là vì cầu có 2 tầng xe chạy cả 2 chiều ngược xuôi, mỗi chiều có tới 6 lằn (lanes).  Đây là cây cầu có thể nói  quan trọng về mặt kinh tế  bận rộn nhất Hoa Kỳ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Ỡ bến xe BART luôn luôn có cảnh sát canh chừng. Thôi thì đành phó mặc cho… số phận đẩy đưa! Có gì thì đã có bảo hiểm. Trả tiền bảo hiểm bao năm, họ chẳng bao giờ tốn đồng xu nào vì tôi. Nếu sự thật có phũ phàng như tôi sợ, thì& cũng là dịp họ&trả nợ cho tôi!

Trong lúc người đàn bà hung dữ lấy cell phone ra khỏi túi áo, hình như có vật gì rớt ra và văng xuống đường. Lúc đi ngang, tôi lượm lên xem. Thì ra đó là cái bọc nhựa hình chữ nhật nho nhỏ, trong đó có thẻ nhân viên và bằng lái của bà ta. Tôi nghĩ bụng, “Cho mày chết nhé! Lát nữa không có thẻ mà vô sở, lúc về không có bằng lái, rủi bị cảnh sát thổi thì ráng mà lãnh đủ nghe con!”. Tôi thầm nghĩ, vứt bà nó vào thùng rác, cho mụ khốn khổ, cho mụ đáng đời. Đang vui sướng vì có cơ hội trả thù thì hình ảnh ông bà bảo trợ lại nhảy múa trước mắt làm lòng tôi chùn xuống.

Hơn 30 năm trước, gia đình tôi, gồm hai vợ chồng và hai đứa con, được ông bà York nhận bảo lãnh đem ra khõi trại tị nạn. Ba tháng đầu. ông bà nuôi gia đình tôi trong nhà, ngày ba bữa đầy đủ. Sau khi xin cho chúng tôi được tiền trợ cấp, họ mướn cho chúng tôi một căn nhà trong khu low-income, nhưng rất an toàn. Ông York khuyên vợ chồng tôi:

– Lãnh trợ cấp để mình lấy đà tập đi. Thoát khỏi welfare sớm chừng ào hay chừng đó. Nếu cứ bám vào welfare, mình khó làm lên sự nghiệp.

Với sự giúp đỡ của ông bà trong vấn đề di chuyển, học lái xe và tiếng Anh, gia đình tôi ổn định rất mau. Ông bà cho vợ chồng tôi mượn tiền mua xe second-hand, chẳng tính tiền lời. Từ đó đến nay, ông bà là một phần của gia đình chúng tôi. Lễ tết, sinh nhật hay bất cứ dịp gì cũng đều cùng nhau chia xẻ. Một thời gian sau khi hai con ra trường và có việc đàng hoàng, chúng tôi gom tiền mua nhà. Hôm đến ăn mừng tân gia, ông bà cho biết đang chuẫn bi đi du lịch Châu Âu, chúng tôi liền đề nghị biếu ông bà tiền vé. Ông cười hiền lành:

– Cám ơn anh chị và các cháu có lòng tốt, nhưng xin đừng bận tâm cho vợ chồng tôi. Chúng tôi đã chuẩn bị đầy đủ cho chuyến du lịch này từ ba năm nay, nên chẳng thiếu thốn gì hết.

Tôi thay mặt cho cả nhà, giải thích:

– Không phải chúng tôi nghĩ ông bà thiếu thốn, nhưng đây chỉ là một dịp cho chúng tôi được đền đáp phần nào công ơn của ông bà trong nhiều năm nay.

Bà York nắm tay tôi, gật đầu:

– We understand, and we appreciate your thought, but&

Ông York tiếp lời vợ:

– Nếu muốn trả ơn cho vợ chồng chúng tôi, cách tốt nhất là anh chị và hai cháu ” PAY IT FORWARD”, làm ơn cho người khác. Mình làm ơn cho ai, đừng mong họ đền ơn. Hãy mong họ tiếp tục làm ơn cho người khác. Thế giới này nhờ đó may ra mới có hòa bình và hạnh phúc.

 

Hình chụp thành phố du lịch nổi tiếng San Francisco nhìn từ phía cầu Golden Gate.

 

Tôi quyết định rượt theo bà vịt bầu trước khi bà vô cổng. Vì nếu không gặp bà hôm nay thì sẽ hơi mất công, cả cho tôi, lẫn cho bà. Khi đã đi ngang hàng với bà, tôi lên tiếng. ” Excuse me, you…”

Quay sang thấy tôi, bà đứng phắt lại, la lên:

– What do you want from me” Are you stalking me” Are you harassing me” I am calling the police! (Mi muồn gì” Mi theo ám ta hả” Mi quấy nhiễu ta phải không” Ta gọi cảnh sát cho mà coi!)

Nghe bà la thét lớn như vậy, nhiều người dừng chân, trố mắt nhìn thăm dò. Có vài người nhìn tôi với ánh mắt khó chịu hoặc khinh bỉ. Vừa xấu hổ, vừa giận, tôi la lớn:

– Phải đó, bà gọi cảnh sát đi, gọi ngay bây giờ đi! Gọi cảnh sát, để tôi được nói với họ là bà lái xe dở hơn tôi nên bà ghét tôi. Gọi họ để tôi nói cho họ biết bà gọi tôi là đồ chó và đuổi tôi cút xéo về xứ, để họ biết bà là kẻ kỳ thị cỡ nào! Gọi đi, gọi cảnh sát để tôi nói cho họ biết sau khi bà nhục mạ tôi, bà đánh rớt vài món đồ cá nhân, tôi nhặt được đem lại cho bà, để bị bà kết tội quấy nhiễu. Gọi đi! Gọi đi!

Bà ta giằng phắt lấy cái bọc plastic trong tay tôi, vừa quay đi vừa nói:

– Forget the police. I don’t have time. I am late for work! (Quên chuyện Cảnh sát đi, tôi không có thì giờ, tôi bị trễ làm rồi!)

Mấy người bàng quang hồi nãy nhìn tôi với cái nhìn “dirty look” (nhìn xấu xa) thì giờ đây lắc đầu, bảo tôi:

– Cái bà đó kỳ khôi thiệt! Không biết nói câu cám ơn!

Tôi nhếch mếp cười buồn, nói nhỏ: “That’s alright. It’s fine with me.” (Không sao, tôi ổn mà)

Hôm đó ngồi trên xe BART tới sở làm tôi cảm thấy buồn man mác. Hơn ba mươi năm lìa bỏ quê ra đi, tôi đã trở lại ba lần. Cả ba lần, không lần nào tôi tìm được quê hương ngày xưa. Tất nhiên tôi không buồn vì những thay đổi ngoại cảnh. Ở đâu cũng vậy, nhiều khi những thay đỗi môi trường lại trở nên cần thiết. Không ai muốn mãi một quê hương nghèo nàn, rách nát, chậm tiến. Nhưng những thay đổi tôi thấy là những điều làm tâm tư tôi rướm máu. Những buổi tối đi chơi tôi thấy những tấm thân trẻ thơ sớm trở thành đàn bà. Tôi đã trở nên người lạ ngay trên quê hương của mình. Tôi như người ngoại quốc trong nơi mình sinh ra và lớn lên. Mỗi lúc ở khách sạn, tôi phải giao nộp passport cho người ta giữ. một điều chẳng bao giờ xảy ra tại những nước trên thế giới mà tôi đã có dịp tới thăm.

Bà vịt bầu bảo tôi “go back to where you belong”. Tôi belong nơi này, tôi đã chọn nơi này, dù sự chọn lựa chẳng khởi đầu bằng tự nguyện. Ở đây, tinh thần tôi thoải mái, vật chất tôi đầy đủ. Dù thỉnh thoảng người ta xúc phạm tự ái, làm tủi thân kẻ tha hương tìm lẽ sống. Dẫu vậy, những lần buồn phiền này chẳng thường xuyên. Cứ như những hạt hụi thỉnh thoảng rơi vào mắt làm mình khó chịu trong giây lát. Rồi xong. Rồi đâu lại vào đó. Tôi nghĩ vậy, và cái hình ảnh xấu xí của bà vịt bầu không làm tôi khó thở nữa.

Huyền Thoại

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

 

 The

 

Links:


VB-VVNM


Ta sẽ mong ước điều gì? – KH.

Bài đọc suy gẫm: Ta sẽ mong ước điều gì? hay Thỉnh Nguyện Thư (TNT) của tác giả KH. từ Việt Nam.  Hình ảnh từ các nguồn trên Net chỉ có tính cách minh họa.  Trước khi vào truyện, 16 thân mời các bạn ghé thăm trang Thỉnh Nguyện Thư để cùng nhau ký kiến nghị nhằm yêu cầu chính giới thẩm quyền tại Liên Bang Úc Châu yểm trợ Nhân Quyền Cho Việt Nam. Vì đây là một TNT mở rộng nên không chỉ giới hạn cho Người Việt ở Úc hay Người Việt trên khắp thế giới mà là cho tất cả mọi công dân của các quốc gia trên thế giới kể cả những đồng bào tại Việt Nam yêu chuộng hoà bình, Tự do, Dân chủ và đặc biệt quan tâm đến vấn đề Nhân Quyền.

Ghi chú: Xin quý vị hãy đọc kỹ nội dung (mục đích) của TNT trước khi ký vào để minh định rằng chúng ta tự nguyện ký vào TNT này vì tấm lòng và sự quan tâm của chính chúng ta.

Ngày đầu tiên tôi nhận được Email của BPSOS là thứ ba ngày 7 tháng 2 năm 2012 nói về phát động chiến dịch ký Thỉnh Nguyện Thư  vào trang mạng Tòa Bạch Ốc . Chưa biết rỏ cách gửi chử ký như thế nào, tôi đã vội vàng chuyển lời kêu gọi ấy đến tất cả những người thân quen. Sau đó được biết “Chỉ có những người đang sống ở Hoa Kỳ mới ký được Thỉnh Nguyện Thư”. Tôi lại chuyển đến tất cà bạn bè người quen đang ở Hoa Kỳ với một câu “Hãy ký vào đây đi, để cứu lấy Việt Nam trong đó có KH”
Một người đàn ông, làm quen với tôi trên mạng, anh là sinh viên Vạn Hạnh năm xưa, thư đi thư lại hằng ngày nên có vẻ thân, đòi một ngày nào đó về Việt Nam sẽ đưa tôi đi chơi đó đây, hỏi tôi: “Đang thiếu tình yêu có thích được yêu không?” Tôi trả lời:
“Là người Công giáo thì: Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp loài người không được phân ly”
Thế nhưng anh vẫn không nản lòng, vẫn chát hằng ngày với tôi, vì mới định cư ở Mỹ hơn một năm, và đang thất nghiệp. Qua thư đi thư lại tôi viết cho anh như thế này:
“Tôi hiểu hoàn cảnh của anh rồi. Ở Việt Nam anh là Giáo sư, rồi bỏ nghề Dạy đi làm kinh doanh. Giáo sư đi làm kinh doanh thì chắc phải có chức vị cao. Đang kinh doanh thì phải bỏ dở, đi Mỹ theo diện con bảo lãnh và như thế qua Mỹ anh nữa thầy nữa thợ, chẳng có việc gì làm được, công việc ở Mỹ phải bắt đầu từ bước thấp nhất như phục vụ, rửa chén bát cho các nhà hàng, nói chung là những công việc thấp kém nhất của những người không có trình độ, nhưng anh thì tự ái làm sao lại phải đi làm những nghề thấp kém đó, nên thất nghiệp cả năm nay chứ gì?”
Anh trả lời: “Ừ mình phải có liêm sỉ, có tự ái chư.ù”
“Nói thật với anh, vì anh vào nước Mỹ trong hoàn cảnh đi định cư do con cái có cơ ngơi rồi bảo lãnh qua Mỹ để báo hiếu nó khác. Còn anh đi Mỹ theo diện tị nạn, thì anh có là ông Tướng hay ông Tổng Thống của Việt Nam đi nữa, anh cũng phải làm để sống, để lo cho gia đình. Nhất là khi con cái anh còn trong tuổi ăn, tuổi học. Chẳng có gì là xấu hổ, là mất thể diện cả, chỉ là làm những công việc đúng với khả năng mình, để kiếm tiền lo cho gia đình, cho con cái thôi. Rồi mỗi ngày mình mỗi tiến dần lên thôi, không phải mãi là cu li, khi mình cũng có trình độ và hiểu biết đâu thua kém gì ai …”
Tính tôi vẫn thế, hay nói thật lòng, tưởng anh giận rồi ngưng liên lạc luôn. Ai dè anh vẫn tiếp tục Chát…
Anh cũng là người được tôi chuyển “Thư kêu gọi ký Thỉnh Nguyện Thư” vì anh đang ở Mỹ. Tôi muốn anh ký TNT. Tôi tin anh là người hiểu biết, dù gì thì trước năm 75 anh cũng là Sinh viên Trường Vạn Hạnh. Tôi tin tất cả những người đã sống từ Vĩ tuyến 17 đi dần vào Nam, đều biết so sánh giữa hai chế độ, trước năm 75 và sau năm 75 khác nhau như thế nào? Chẳng cần phải nói dài dòng, họ cũng hiểu nhân dân Việt Nam đang sống cảnh đời như thế nào? Và mình có trách nhiệm gì với dân tộc mình, với đồng bào mình, khi mình đang sống trong một đất nước tự do, ấm no, hạnh phúc? còn Quê hương mình thì cứ mãi lầm than, khốn khổ, mất tự do, mất lòng tin, mất nhân cách…
Ai cũng có bổn phận nghĩ về Quê Hương mình, giúp đỡ quê hương mình, bằng cách này hay cách khác … Mà cũng chẳng ai đòi hỏi gì nhiều, không mất tiền, mất sức, mà vẫn giúp được Quê hương, giúp được bà con, bạn bè, người thương yêu đang còn lại trên Quê hương bằng một chữ ký mang tên mình. Nhẹ nhàng vậy thôi…
Thế mà một sáng ngủ dậy tôi nhận được email của anh, chỉ một lời vắn tắt, lạnh lùng: “I am not political”
Anh không đồng ý ký TNT, tôi thất vọng quá, sao người ta có thể lạnh lùng như thế với đồng bào của họ nhỉ?
Tôi trả lời “Tôi hiểu rồi” và từ đó cắt luôn liên lạc.
Một anh bạn khác rất thân trong gia đình trả lời: ‘Đây là sự vận động của nhóm theo đảng Dân Chủ mồi chài trước khi bầu cử đó KH, đừng tin họ, nhất là người Mỹ”.
Đọc lá thư của anh bạn mà buồn vô kể, tại sao anh lại suy đoán lung tung như thế? Anh bảo đừng tin người Mỹ vậy mà anh đang ở Mỹ, và là người Mỹ gốc Việt đã nhiều năm, anh nói như thế có ý gì?
Tôi trả lời thư anh:

“Anh ơi! Sự đời nó vẫn tréo ngoe thế đấy.
Cũng như anh nói đừng tin Mỹ, mà anh thì đang ở Mỹ .
So sánh giữa Mỹ và VN hay TQ thì Mỹ vẫn hơn nhiều
Vì thế trước mắt hãy giúp tụi em, những người dân không ra đi được,
Và cầu mong thỉnh nguyện thư này sẽ là những ngọn đèn nhỏ trở thành những ngọn đuốc lớn đã xô ngã bức Tường Berlin năm xưa, hay như Liên xô và các nước khác, từ bỏ chế độ cộng sản mà không hề có tiếng súng.
Ngày đó sẽ ra sao anh nhỉ? Huy hoàng và hạnh phúc biết bao!
Đừng nghĩ gì xa vời mà hãy làm đi anh ạ.
Khi xô ngã được CS, mình sẽ tính tiếp
Chúc anh luôn vui, mạnh.
KH

Thư tôi gửi đi không hiểu có làm anh suy nghĩ gì không? Nhưng anh vẫn không cho chữ ký vào TNT.

Tôi chợt nhớ đến tựa bài giảng mà các Cha Giáo phận Sài Gòn đang rất quan tâm “Vô Cảm”. Các Cha nói rằng đã đến lúc phải báo động khẩn là con người đã quá “Vô cảm” với nhau. Tin tức trên Mạng cho thấy đúng như vậy.
Một thanh niên bị xe tải đâm nát nửa thân, nhiều người xúm lại xem rồi bỏ đi mặc nạn nhân kêu cứu;
Một bệnh nhân chết vì bác sĩ yêu cầu phải có tiền mới cấp cứu… Sự thờ ơ với nỗi đau người khác dường như thành “chuyện thường ngày ở huyện”.
Xã hội đang lên án căn bệnh vô cảm của con người – căn bệnh được coi như hệ quả của đời sống hiện đại. Nhưng đáng lên án hơn nữa chính là những người sung sướng trên nỗi đau của đồng loại. Mời đọc thêm tin này:

 Hôi của: kẻ khóc – người cười.

Quốc lộ 1A ngày 14/4 tắc đến 7 tiếng đồng hồ vì một xe dưa hấu bị lật, hàng trăm người đổ xô tranh nhau “hôi” dưa. Từ người già đến người trẻ, học sinh đến người đi làm đều tranh thủ dừng lại mang về cho mình ít nhất một quả. Những người có ý thức nhắc nhở thì nhận được câu nói: “Không nhặt thì trước sau người ta cũng phải thuê xe khác đến chở”. Người nhặt thì vui vẻ cười đùa, chủ xe thì méo xệch mặt xót xa.

Có cảnh người đi đường bị cướp giật giỏ tiền. Tiền bay tung tóe, người đi đường thi nhau nhặt bỏ vào túi mình, không còn biết ai là người bị mất của, họ cứ nhặt như của vô thừa nhận một cách “vô cảm” như thế giữa  đường phố Sài Gòn.

Theo báo trong nước, có đến cả nghìn người xông vào hôi dưa hấu làm quốc lộ 1A tắc 7 tiếng đồng hồ.  Hình dưới: Một người đàn ông bị hơn 30 người nhào vô hôi của sau khi bị 2 tên cướp giựt rách gói tiền. Link ZingVN

Còn rất nhiều chuyện “Vô cảm” ở nhiều khía cạnh khác nhau mà  mọi người cũng đã rỏ trên các báo Việt Nam .
Tôi cứ ngỡ xã hội Việt Nam sau nhiều năm dưới chế độ cộng sản, họ đã chai lì với lòng trắc ẩn, họ đã sống quá tệ bạc với nhau. Thế mà, những người đã xa lìa thế giới cộng sản, đã có một cuộc sống tự do, sung sướng, vẫn không thương đến những kẻ khổ hơn mình, vẫn không thấy mình có trách nhiệm gì với quê hương xa lắc của mình.
Trong một bài giảng vị LM nói rằng: “Vẫn biết là chúng ta đang ở trong một xã hội mà sự lừa bịp tràn lan khắp nơi, từ kẻ nghèo hèn cho đến kẻ sang giàu, cũng rơi vào tình trạng như thế. Nhưng nếu ta dè dặt quá, coi chừng chúng ta lại không có lòng từ tâm với kẻ khốn cùng. Một người giáo dân hỏi Cha: “Thưa Cha bây giờ họ giã bộ nghèo đói đi ăn xin nhiều lắm, thưa Cha có nên cho họ không hay là chúng ta cho để bị lừa?” Cha trả lời: “Con cứ cho, khi thấy họ đáng cho, không vì nghi ngờ mà không giúp cho người cần được giúp đỡ…”.
Mà quả thật, nếu chúng ta cứ nhất tâm đề phòng, nghi ngờ này nọ, thì vô tình chúng ta trở thành người “Vô cảm” lúc nào không hay biết.
Như anh bạn tôi đang nghi ngờ. Nghi ngờ Việt cộng, nghi ngờ Mỹ, nghi ngờ những người kêu gọi ký Thỉnh Nguyện Thư, nghi ngờ cả cho những người ký TNT, mối nghi ngờ này lan đến nhiều người … Cứ vậy, rồi ai  còn ý chí để làm việc, khi kẻ không muốn cứu cứ bàn ra, nói toàn điều bất lợi cho người bỏ cả tâm huyết ra làm việc?

Có sự chiến đấu nào mà không mất mát, không khó khăn, hay không đổ máu … Mà sao chúng ta còn làm kỳ đà cản mũi, còn làm nhụt lòng người chiến sĩ, như thế không thấy hổ thẹn với lương tâm sao?
Thử cứ đặt mình vào địa vị những kẻ bị bắt bớ, bị đánh đập, bị tra khảo vô cớ như LM Nguyễn Văn Lý, HT Thích Quãng Độ, BS Nguyễn Đan Quế, Điếu Cày,  Nhạc sĩ Việt Khang, như các Sinh viên Công Giáo …Ta sẽ mong ước điều gì?

Đồng bào tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ yểm trợ TNT cho Tự Do, Nhân Quyền Việt Nam trước Tòa Bạch Ốc trong tháng 3 năm 2012.

Có thể cũng vì như thế mà suốt 37 năm những người Việt tự do không làm sao cứu được Đất Nước mình?
Chỉ cần một Thỉnh Nguyện Thư  năm mươi ngàn chử ký là đạt kỷ lục, là buộc chính quyền Mỹ, Anh, Pháp, Canada, Úc… hay những nước có tiếng nói mạnh mẽ trên chính trường quốc tế, sẽ can thiệp giúp đỡ theo Thỉnh Nguyện Thư của những người gốc Việt. Thế mà hơn hai triệu người đi tìm tự do, không đồng lòng giúp cho đồng bào mình cũng hưởng được tự do như mình, trong suốt 37 năm .
Để Đất Nước mình mỗi ngày mỗi nguy ngập, suy thoái, có khả năng mất Nước . Còn đồng bào mình thì mỗi ngày mỗi đi dần vào vòng lao lý, con đường tội lỗi, cha mẹ không dạy được con, con giết cha, đánh chưởi mẹ, chồng giết vợ, vợ đốt chồng … con cái sẽ ra sao? Một xã hội như thế sẽ đi về đâu?
37 năm, ba thế hệ xem như hư nát bỏ đi rồi. Tương lai sẽ về đâu? Một đàn con, một xã hội, không có ai răn dạy điều hay lẽ phải, mà chỉ thấy để lại những gương mù, gương xấu, … toàn để lại những sự khiếp đảm không còn tính người. Chúng nó sẽ sống ra sao? Bàn tay nào sẽ đưa chúng đi? Hay là lại để chúng bước vào vết xe cũ? Và thật, chỉ có một con đường độc nhất như thế để đi mà thôi …
Như thế mà quý vị chưa muốn cứu sao? Như thế mà quý vị chưa đau lòng, chưa nát tan lồng ngực sao?
Là người đang sống ở Việt Nam, tôi vô cùng biết ơn  những người đề nghị ký Thỉnh Nguyện Thư, và càng biết ơn hơn những người đã bỏ tiền bạc, công sức, từ những nơi xa xôi đến Washington vào Nhà Trắng, để cùng nói lên tâm nguyện cứu lấy dân tộc, cứu lấy Đất Nước với chính quyền Mỹ.
Chúng tôi nhìn hình ảnh quý vị vào Nhà trắng mà  lòng cảm động nước mắt lưng tròng.
Viết sau Thỉnh Nguyện Thư thành công bước đầu
Tháng Ba, 37 năm mất Đà Nẵng
K.H.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

VB – Viết Về Nước Mỹ

 Trang Thỉnh Nguyện Thư