Bán Đứng Đồng Minh – Bùi Anh Trinh

 Bài đọc suy gẫm: Bán Đứng Đồng Minh hay Cần trả lại sự thật cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, tác giả Bùi Anh Trinh. 
 
 
Cần trả lại sự thật cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu 30-4-2019
Bùi Anh Trinh
Cần trả lại sự thật cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau 30/4/1975 Mỹ mở chiến dịch đổ tội làm mất nước cho Tổng Thống Thiệu để cho người ta không oán hận Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Giờ đây đã 44 năm trôi qua, nếu người Mỹ không lên tiếng giải oan cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thì cũng nên trả lại sự thật cho lịch sử.


 

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho tới trước khi chết Ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng Ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm.

Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường Việt Nam, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau.

Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời.

Hai chữ “Bỏ Rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ông tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ Rơi Đồng Minh” khác với “Phản Bội Đồng Minh”. Bỏ Rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mõi quá thì tôi không giúp nữa. Còn Phản Bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ Bỏ Rơi VNCH còn hơn là nhận Phản Bội VNCH.

Năm 1968 anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt.


 

 
Đến năm 1972 ông bị đày đi VN vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại Việt Nam là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm.

Sau biến cố 1975 Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại VN trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi Việt Nam. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ.

CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval..

Theo Frank Snepp thì mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp Định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết Hiệp Định, Tổng Thống Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại VN thay Bunker. Frank Snepp mô tả vai trò của Đại sứ Martin: “Mỹ buộc phải bỏ khỏi Việt Nam trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. (Trang 75, nguyên văn: “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept”). Như vậy màn kịch bỏ rơi Việt Nam đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973.

Năm 1974 giữa năm, Tổng Thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc Hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc Hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ.

Tuy nhiên ông đã tính lầm, Quốc Hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc Hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

Vì vậy Quốc Hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với LX, TQ và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và cả Hà Nội.

Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh Ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc Hội. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc Hội sẽ không còn cớ để truy xét.

Sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước Cộng Sản vào cuối năm 1974 (Đạo luật Jackson-Vanik). Sự trở mặt của Quốc Hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại Tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm Miền Nam, Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí..

Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp Định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp Định Geneve 1954.

Nhìn bề mặt của Hiệp Định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977 Tổng Thống Jimmy Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp Định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp Định Paris 1973. Vào tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon & Phạm Văn Đồng.

Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỉ USD và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỉ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi VN thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế.


 

Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissinger và đến cuối năm 1974, Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp Định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào, suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không (sic).

Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại nhưng Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức, trong 5 năm nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại.

*(Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi Miền Nam là 5,88%)

Bắt đầu từ năm 1975 Đại Tướng Cao Văn Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse” và hai mươi năm sau, 2003 The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Đại Tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” (Tài liệu của Ngũ Giác Đài: Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136).

Năm 1974 tháng Giêng, theo tài liệu của CIA: “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 95).

Tướng John Murray là Tư Lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.. Ông đến Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đô la nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

Năm 1974 cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Đại Tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), Tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận) và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2 và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Năm 1974 tháng 5, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch của VNCH) thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “Cắt Đất Theo Lượng Viện Trợ” của Murray nằm trên bàn của Tổng Thống Thiệu vào tháng 5 năm 1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến (tối kiến) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực Tổng Thống đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó Ông không thể lên tiếng thanh minh.

Năm 1974, ngày 24-12: Theo hồi ký của Đại Tá Phạm Bá Hoa “Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10; một buổi tiệc mừng Giáng Sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong BTTM”. Khách tham dự gồm có Tướng Smith (Chỉ Huy Trưởng cơ quan quân sự HK tại VN; Tướng Quân Y Phạm Hà Thanh; Tướng Công Binh Nguyễn Văn Chức; Đại Tá Phạm Kỳ Loan (Tổng Cục Phó Tiếp Vận); Đại Tá Phạm Bá Hoa (Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận); Đại Tá Pelosky (Phụ Tá của Tướng Smith); Trung Tá Nguyễn Đình Bá (Chánh Văn Phòng của Tướng Khuyên)..

Tướng Smith tiết lộ rằng: “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu đollar để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không ai phản đối, kể cả Tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật.

Như vậy là kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch.

Năm 1975, ngày 7-1: Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là: “Nhà Trắng nói rằng: Tổng Thống Ford không có ý vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc Hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam” (Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại VN”(trang 146).

Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch tiến chiếm miền Nam: “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” (Hoàng Văn Thái, trang 172).

Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ. 

Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu là để Quốc Hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự cho VNCH.

-Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại Giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “Lấy Có” cho Cam Bốt: “Chính Phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”. (Frank Snepp, Decent Interval, trang 175). *(Nguyên văn: “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster”).

– Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại Giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông: “Hãy làm mọi cách để Quốc Hội tiếp tục duy trì viện trợ (Lấy Có) cho Cam Bốt và Việt Nam. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” (Frank Snepp, Decent Interval trang 176). *(Nguyên Văn: Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be).

Hai ngày sau khi Kissinger nói câu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột.

Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn Gạo và không còn Đạn (Tài Liệu The Final Collapse của Đại Tướng Cao Văn Viên). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết Gạo và Đạn trước tháng Sáu năm 1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng Quân Đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội.

Năm 1975 ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên “Ngày 11-3 Tổng Thống Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại Dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975”. Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của Tổng Thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như Tổng Thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”

*“… Tổng Thống Thiệu phác họa sơ: …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cộng Sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi gía…Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại…” (Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131).

“Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào … . Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” (trang 132).

Henry Kissinger viết trong hồi ký của ông:
“Cho đến hôm nay tôi kính trọng ông Thiệu như là một gương hào hùng của một kẻ dám chiến đấu cho nền tự do dân tộc của ông, một kẻ sau này đã chiến bại bởi những hoàn cảnh ngoài tầm tay cá nhân ông, đất nước ông và ngay cả ngoài vòng quyết định của chúng ta…” ( Henry Kissinger, Years of Upheaval, 1981, Bản dịch của Xuân Khuê)

Kissinger là người mà T.T. Nguyễn Văn Thiệu ghét cay ghét đắng cho tới khi xuống mồ. Trong khi ngược lại, Kissinger cũng làm ra vẻ ghét cay ghét đắng T.T. Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mà báo chí và nhân dân Mỹ luôn luôn nguyền rủa là cản trở và phá hoại hòa bình.

Tuy nhiên cuối cùng, khi mà hòa bình đã đạt được bằng cái giá phản bội dân tộc Việt Nam, Kissinger mới bình tâm thú thực cảm nghĩ của ông ta về người anh hùng lãnh đạo đất nước Việt Nam trong thời gian gay cấn nhất của lịch sử. Kissinger nói :

“… Sau khi ngưng bắn, quân đội chúng ta sẽ rút về bên kia bán cầu, còn dân tộc của ông vẫn còn cảnh một đội quân tiếp tục hy sinh cho những hy vọng mong manh của nền độc lập tại Đông Dương. Chúng ta đã chắc rằng biện pháp của chúng ta sẽ kềm hãm tham vọng của Hà Nội. Nhưng mắt của ông T.T. Thiệu chỉ quan ngại vào những điều mong manh về sau này…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).

Kissinger cũng thú thực là vì không còn cách lựa chọn nào khác cho nên Mỹ đành phải hy sinh Nam Việt Nam, và cũng vì vậy mà Kissinger đành phải đóng vai làm kẻ thù của T..T. Nguyễn Văn Thiệu nhưng tự sâu xa trong đáy lòng, Kissinger khâm phục T.T. Thiệu :

“…Như là một phép lạ phát xuất từ lòng dũng cảm, ông Thiệu đã cố gắng lèo lái quốc gia trong giai đoạn cam go này, chiến đấu chống lại quân thù cố tâm xâm lấn và làm an tâm đồng minh nào chưa thông hiểu ông …

… Về riêng tư tuy tôi dành ít cảm tình về ông T.T. Thiệu nhưng tôi rất kính nể ông vì ông là một người kiên tâm chiến đấu trong nỗi cô đơn ghê gớm ( nguyên văn: terrible loneliness ) sau cuộc rút quân của Hoa kỳ. Ông chấp nhận những cảm tình và thông hiểu ít ỏi dành cho ông. Chuyện đó không làm phẩm chất của ông hao mòn đi…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).

Ngày 22-10-1972 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nổi giận khi Kissinger ép buộc ông phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp định đình chiến mà Kissinger đã cùng Lê Đức Thọ soạn thảo tại Paris. Ông khuyến cáo Kissinger :

“Tôi không đồng ý về việc một số nhân viên của quý vị đi nói khắp Sài Gòn là tôi đã ký. Tôi chưa ký kết gì cả. Tôi không phản đối hòa bình nhưng tôi chưa nhận được một trả lời thỏa đáng nào của quý vị cho nên tôi sẽ không ký”.

Kissinger mất bình tỉnh với tuyên bố của Tổng thống Thiệu, ông nói ông đã thành công ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và Paris mà bây giờ ông phải thất bại tại Sài Gòn : “Nếu ngài không ký, chúng tôi sẽ xúc tiến một mình”.

Tới phiên Thiệu nổi giận, ông buộc tội Kissinger là thông đồng với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để bán đứng Miền Nam. Hồi ký của Kissinger ghi lại lời lẽ của Thiệu:

“Là một quân nhân thì lúc nào cũng phải chiến đấu, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức khi HK yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức… … Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã đòi tôi từ chức, vì như vậy là nhục; cho nên tôi đã làm như tự mình chọn lấy quyết định đó…” (Kissinger, White House Years, trang 1385).

Kissinger đáp lại : “Tôi cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của ngài qua lời phát biểu vừa rồi. Tuy nhiên, là một người Hoa Kỳ, tôi không khỏi phiền lòng khi ngài cho rằng chúng tôi thông đồng với Liên Xô và Trung Quốc.

Làm sao ngài có thể nghĩ như vậy được trong khi quyết định ngày 8-5 của Tổng thống Nixon ( Thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt ) đã liều cả tương lai chính trị của mình để giúp quý ngài. Chúng tôi điều đình với Liên Xô và Trung Quốc là để làm áp lực, buộc họ phải làm áp lực với Hà Nội… Nếu như chúng tôi muốn bán đứng quý ngài thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó…”( Kissinger, White House Years, trang 1385, 1386 ).

Rồi tới phiên Đại sứ Bunker mất bình tỉnh : “Vậy thì thưa Tổng thống, lập trường chót của ngài là không ký, có phải không?”

T.T. Thiệu đáp : “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi. Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho Tổng thống Nixon biết như thế. Xin quý vị trở lại Washington và nói với Tổng thống Nixon rằng tôi cần được trả lời”.

Tổng thống Thiệu chỉ tay vào bản đồ Việt Nam rồi nói : “Có gì quan trọng khi Hoa Kỳ để mất một quốc gia nhỏ bé như Nam Việt Nam? Chúng tôi không hơn gì một chấm nhỏ trên bản đồ của thế giới đối với các ông… … Nhưng đối với chúng tôi, đó là một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết.

Đối với chúng tôi, đặt bút ký vào một hiệp ước tương đương với sự đầu hàng là chấp nhận một bản án tử hình, vì cuộc sống không có tự do là sự chết. Không, nó còn tệ hơn là sự chết” ( Larry Berman; No Peace, No Honor; trích từ Văn khố Bộ ngoại giao HK, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 230 ).

Sau 1975 thì người Mỹ muốn lái sự oán hận mất nước của nhân dân Miền Nam vào ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu và quân đội VNCH để quên đi hành động “bán đứng đồng minh” của Mỹ *( Lời của ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu nói thẳng vào mặt Kissinger năm 1972 ). Họ vận động các phương tiện truyền thông tiếng Việt tại hải ngoại kết án ông Thiệu làm cho mất nước. Họ kết án quân đội VNCH hèn nhát, tham nhũng v.v,… Họ dập tắt tiếng nói thanh minh của ông Thiệu và của những quân nhân VNCH. Họ thuê bọn vô lại biến phong trào chống Cọng sản tại hải ngoại thành những trò thối tha vô liêm sỉ….!

Hằng năm cứ vào mùa tháng Tư thì các phương tiện truyền thông tiếng Việt như RFA, BBC, …lại rộn lên những luận điệu kêu gọi hòa hợp hòa giải giữa chế độ CSVN và những người đã bị đuổi chạy ra nước ngoài. Họ coi những người rượt đuổi và những người bị đuổi đều tội lỗi như nhau.

Trong khi đó cuộc chiến Nam Bắc Hàn cũng giống hệt như cuộc chiến Việt Nam. Nhưng ngày nay RFA, BBC… nói cho con cháu Nam Hàn rằng năm 1950 quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 38 đánh chiếm Nam Hàn. Quân đội Mỹ đã giúp nhân dân Nam Hàn đẩy lui quân Bắc Hàn về Bắc. Tội lỗi đều là phía Bắc Hàn chứ phía Nam Hàn không có lỗi.

Nhưng đối với cuộc chiến Việt Nam thì quân Bắc Việt cũng tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Miền Nam nhưng Mỹ lại nói : Phía CSVN và phía VNCH đều có lỗi cho nên Mỹ đứng giữa không biết giúp bên nào !! Cho tới nay cũng chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái.

Cũng vì chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái cho nên cho tới nay danh dự của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa được phục hồi. Người Mỹ vẫn muốn con cháu Việt Nam nhìn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu như là một kẻ luôn luôn cản trở và phá hoại hòa bình. 
Bùi Anh Trinh

 
 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Văn Tuyển

 

 

Người May Mắn Sống Sót – Nguyễn Hữu Phước

RƠI TRÊN ĐẤT ĐỊCH - Nguyễn Hữu Phước

Bài đọc suy gẫm: Người May Mắn Sống Sót hay “Rơi trên đất địch” là câu chuyện thật xảy ra trong chiến tranh Việt Nam được tác giả Nguyễn Hữu Phước phóng tác theo nguyệt san nổi tiếng một thời Reader’s Digest.

RƠI TRÊN ĐẤT ĐỊCH – Nguyễn Hữu Phước

Trong cuộc chiến chống lại sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản tại Việt Nam trước đây, bên cạnh những chiến tích hào hùng, những tấm gương can đảm của người quân nhân QLVNCH, chúng ta cũng không thể không nói đến sự chiến đấu của người bạn đồng minh.

Họ là những quân nhân đã vượt ngàn dặm để chiến đấu tại một vùng đất xa lạ chỉ vì lý tưởng bảo vệ tự do. Có những người ra đi để rồi không bao giờ trở lại, nhưng cũng có người may mắn sống sót. Và một trong những người may mắn nhất phải là Đại úy Locher của Không lực Hoa Kỳ.


Maj. Robert Lodge (left) and Capt. Roger Locher (right) in the cockpit of their F-4D, seen earlier in 1972:
the team already had two MiG-kills to their credit when they clashed with MiG-19s and MiG-21s on the morning of May 10, 1972.

Sau đây mời quý bạn theo dõi câu chuyện về Đại úy Roger Locher, một sĩ quan phi hành, kiêm chuyên viên vũ khí, đã từng tham dự nhiều phi vụ trên không phận Bắc Việt trong chiến tranh Việt Nam.

Locher thường bay trên loại phi cơ phản lực F-4 Phantom và đã hạ được nhiều phản lực MiG của địch trước khi chính phi cơ của anh bị bắn hạ trên không phận Bắc Việt. Anh tìm cách lẩn trốn và sau 23 ngày đã được toán cấp cứu bốc ra khỏi miền Bắc một cách an toàn. Tên tuổi của Locher được ghi lại với một kỹ lục trong cuộc chiến Việt Nam: Sống sót và được cứu thoát sau 23 ngày kẹt trong lòng địch.

*****

Trong khi đang đu đưa với chiếc dù lơ lửng trên bầu trời phía Tây Bắc, cách Hà Nội 40 dặm, Đại úy Locher vẫn chưa thể tin đó là sự thật: mình bị bắn rơi. Tương tự như những người đi bay khác, anh không bao giờ nghĩ rằng chuyện đó có thể xảy ra cho mình.

Nhưng nó đã xảy ra. Một cảm giác nghẹt thở vì sự sợ hãi, bơ vơ đến càng lúc càng rõ rệt. Hai chiếc MiG màu bạc bóng loáng lướt qua phía trên Locher ở cao độ 10,000 bộ. Rồi những đám rừng cây hiện lờ mờ phía dưới. Anh đáp xuyên qua những ngọn cây và cuối cùng đôi bốt đã chạm đất…

Roger Locher là một sĩ quan trẻ mới 25 tuổi, vóc dáng cao lớn. Anh cất cánh vào sáng ngày 10 tháng 5 năm 1972 từ một căn cứ không quân bên Thái Lan. Mục tiêu: Hà Nội. Nhiệm vụ: ngăn chận và tiêu diệt các phi cơ MiG của địch trước khi chúng có thể tấn công các oanh tạc cơ của Hoa Kỳ.
Đây là phi vụ thứ 407 của Locher. Anh ngồi ghế sau của chiếc chiến đấu cơ phản lực F-4 Phantom hai chỗ ngồi, có nhiệm vụ điều khiển hệ thống vũ khí gồm các loại hỏa tiển, đại bác và bom. Trước đó không lâu, Locher đã bắn hạ được hai chiến đấu cơ MiG-21 của không quân Bắc Việt.

Lúc này, trước mặt Locher về phía Tây Hà Nội, một chiếc MiG đang nhào xuống một chiếc Phantom. Anh khai hỏa hai hỏa tiển không-đối-không, chiếc MiG bốc cháy. Thêm hai chiếc MiG nữa bị các Phantom của Hoa Kỳ bắn hạ trước khi người phi công lái chiếc Phantom của Locher thét lên : Chúng mình bị trúng đạn rồi !

Khi ngọn lửa đã lan dần và chiếc Phantom không còn kiểm soát được nữa, lao đi vùn vụt, Locher hét lên : Tôi sắp sửa rời phi cơ. Rồi anh kéo mạnh cần máy tống, sau một tiếng ‘ bụp’ khô khan, thân người anh bị bắn văng ra không gian và anh ngất đi vài giây đông hồ…

Sau khi chạm đất, Locher đã hoàn toàn tĩnh táo. Anh biết chắc hai chiếc MiG vừa bay ngang đã liên lạc vô tuyến thông báo cho các lực lượng dưới đất biết về vị trí của mình. Cái dù của Locher bị vướng trên những cành cây mà anh không thể kéo ra được sẽ khiến địch xác định được vị trí một cách dễ dàng. Locher vội vã tháo dù ra khỏi người và bắt đầu di chuyển một cách khó nhọc, tiến lên phía sườn núi. Anh cẩn thận không để lại một dấu vết sau những bước chân của mình.

Khoảng mười phút sau, Locher thở thật khó khăn, cảm thấy chóng mặt, đôi chân mềm tựa như cao-su, hai bàn chân lạnh ngắt. Anh nghĩ thầm ‘ Mình bị shock. Hãy dừng lại. Bình tĩnh. Hãy bắt bộ óc mình hoạt động’. Rồi anh bò sâu vào cánh rừng đầy cây lá rậm rạp và nằm rạp xuống theo tư thế đôi chân cao hơn đầu.

Nghĩ đến tình trạng nguy hiểm hiện tại, Locher biết rằng mọi việc đang diễn ra một cách tệ hại. Vị trí anh đang ở quá xa về hướng Bắc. Điểm gần nhất mà anh có thể dùng máy liên lạc cấp cứu loại bỏ túi với các phi cơ bạn đang bay trên bầu trời là 90 dặm về phía Nam. Locher tính toán : 90 dặm ! Tìm cách lẩn trốn và bám chặt theo sườn núi, làm sao đi bộ ít nhất hai dặm trong một ngày, trong vòng 45 ngày, không lương thực và trên một địa thế hoàn toàn xa lạ. Nhưng bắt buộc phải cố gắng. Nếu kẻ thù có bắt được mình thì cũng thể để chúng bắt được một cách dễ dàng!

Locher lấy bình nước từ trong áo cấp cứu mặc trên người và từ từ uống hết một nửa, sửa lại cái nón lưới chống muỗi đội trên đầu, rồi với một cái địa bàn cầm tay và bản đồ hướng dẫn, anh thận trọng khởi hành về hướng Tây Nam. Sau mỗi bước chân, anh phải xem xét lại để xóa bỏ mọi dấu vết của đôi giày bốt, của những cành cây nhỏ bị đạp gẩy và tất cả những dấu vết khác có thể làm lộ tung tích của mình.

Tới trưa, đang đi bỗng Locher khựng lại, chết điếng. Từ phía trước mặt có những tiếng réo gọi nhau và những tiếng la hét như giận dữ tiến thẳng về phía anh. Anh vội vã bò sâu vào một bụi cây và nằm yên, trong lúc bọn người lùng sục tiến đến càng lúc càng gần.

Locher bỗng nhớ lại thời niên thiếu của mình ở vùng quê Sabetha, tiểu bang Akansas, nơi mà anh thường chơi trò giả làm vịt trời trốn trong bụi lau, cố gắng ẩn náu, để người thợ săn đang đến gần không thể phát giác. Locher nhủ thầm: Hãy thở thật nhẹ, đừng đầu hàng…Mồ hôi đổ ướt lưng, anh thầm cầu nguyện. Mũi anh có thể ngữi thấy cả mùi thuốc lá của những người đang sục sạo chung quanh. Có lúc tiếng chân người bước qua sát chổ anh đang ẩn nấp…

Ngày kế tiếp, sự việc trên lại tái diễn. Nhưng lần này, ngoài tiếng người la hét, Locher còn nghe thấy tiếng súng nổ. Anh nghĩ thầm : Họ đang tìm cách làm mình phải rời khỏi chổ ẩn nấp, giống như xua đuổi một con vịt trời bay ra khỏi bụi để bắn. Mình phải nằm yên. Họ có đạp lên mình mới mong tìm thấy…
Kẻ thù đã suýt chút nữa thì làm được viêc đó : Locher nghe thấy tiếng cành lá bị nghiền nát bởi bước chân người, sau đó hai người đàn ông với súng tiểu liên trên tay tiến tới cách chỗ anh chỉ có vài mét và…ngồi xuống nghỉ mệt. Một lúc sau, họ bỏ đi. Tiếp theo là một sự yên lặng rất đáng nghi ngờ. Họ bỏ đi thật hay gài bẩy chờ con chim bay ra khỏi cành? Locher quyết định tiếp tục nằm im tại chổ cho đến hết ngày, thỉnh thoảng chỉ dám duổi nhẹ chân tay, để cho các bắp thịt đỡ mỏi.

Sang ngày thứ ba, Locher thử mở cái máy liên lạc dò tìm tần số cấp cứu và anh đã bắt được đối thoại của những phi công đang bay tìm kiếm một nhân viên phi hành vừa bị bắn rơi. Nhân viên này báo cáo rằng kẻ thù đang theo đuổi ông ta, đã rất gần và yêu cầu nên oanh tạc vị trí của mình. Ông ta đã chọn lựa cái chết hơn là bị cầm tù!…

Tín hiệu yếu dần, Locher tắt máy liên lạc. Sau đó anh nghe thấy tiếng nói chuyện của những tên cộng sản đang đi truy lùng mình, cách chỗ anh ẩn nấp khoảng 200 thước… Cái gì thế này ? Locher vừa thắc mắc tự hỏi vừa tìm cách tống khứ những con vắt đang lợi dụng tình thế ngặt nghèo này để tấn công cổ và cườm tay của anh. Rồi Locher nghĩ thầm : Trong ba ngày qua mình đã không đi đưọc quá một dặm. Có thể mình sẽ không thoát khỏi nơi này. Nhưng thôi, cứ hãy cố gắng xem mình sẽ trì hoãn bao lâu cái kết cuộc không thể nào tránh né được.

Sang ngày thứ tư, mặc dù phải bước đi một cách mệt nhọc, Locher vẫn kiên trì men theo sườn núi, lên xuống hết ngọn đồi này tới ngọn đồi khác. Nước không thành vấn đề. Trời mưa cách đêm, và vào buổi sáng anh phải hong quần áo cho khô, cẩn thận tránh không để cho giầy và vớ bị hôi thối.

Nhưng Locher không có lương thực. Anh đã thử ba loại trái cây rừng. Lúc đầu gậm nhấm một chút ít, rồi chờ khoảng nửa giờ xem phản ứng cơ thể ra sao. Kết quả, anh thấy những loại trái cây này không có hại. Nhưng số lượng tìm được cũng chẳng bao nhiêu…

Locher có thể cảm thấy sức lực trong người mình sa sút một cách rõ rệt theo từng ngày. Điều này rất dễ dàng đưa đến sự chấp nhận đầu hàng. Không, nhất định không. Locher tự nhủ mỗi ngày. Hãy để cho kẻ thù phải khổ công tìm kiếm mình !

Ngày thứ 12, sau khi trời hừng sáng, Locher tìm thấy một con đường mòn khá tốt dẫn về hướng Nam. Đối với Locher, con đường này thật tuyệt hảo, vì anh không còn phải dùng sức nhiều như khi đi xuyên rừng. Bất chợt, Locher nghe thấy nhều giọng nói đang tiến gần về phía mình. Những đứa trẻ chăn trâu đang lùa trâu về phía cánh đồng cỏ. Locher vội nhào vào một bụi rậm, bò đi cách đường mòn vài thước và nằm im. Nhưng những con trâu đã dừng lại gặm cỏ bên vệ đường, có con chỉ cách chổ chàng nằm vài thước. Thời gian trôi qua một cách chậm chạp, hành hạ Locher trong khi anh nằm im giờ này qua giờ khác.

Mãi tới gần hoàng hôn, Locher mới nghe thấy tiếng bọn trẻ gọi nhau, anh nghĩ : chúng bắt đầu lùa trâu về làng! Anh nghe thấy tiếng thở hồng hộc của từng con trâu và tiếng roi của bọn trẻ quất trên lưng những con vật để thúc chúng đi về. Một con trâu giận dữ khịt mũi, đạp chân vào một cành cây sát chỗ Locher nằm, khiến cành cây này đập mạnh vào mắt cá chân. Anh há hốc miệng vì đau, nhưng cố giữ không cho âm thanh thoát ra. Sau khi con trâu đi qua, lại tới đúa bé dẩm lên cành cây hồi nãy, khiến nó đập xuống đùi Locher. Cuối cùng là sự im lặng.

Sau khi trời tối, Locher lén đi bọc vòng quanh làng và tiến lên phía sườn núi để do xét tình hình chung quanh. Rồi anh lấy lá cây xếp thành một cái giường để ngủ. Thỉnh thoảng anh lại thức giấc, để tống khứ những con vắt đang hút máu mình. Mỗi con để lại một vết đau. Sau đó một trận mưa đổ xuống.
Trời sáng, Locher vừa sưởi nắng cho khô quần áo, vừa nghiên cứu cẩn thận lại bản đồ, rồi đi tới một kết luận kinh hoàng…là trong 12 ngày qua, anh chưa đi được quá 10 dặm đường chim bay! Nếu vẫn còn ở khu vực phía Bắc quá xa này, anh không có hy vọng được cứu thoát. Phải tiếp tục đi về phía Nam. Nhưng từ đây ra đồng bằng sông Hồng, với bề rộng chừng 20 dặm, khó lòng mà tìm được nơi trú ẩn khi hữu sự.

Không biết phải giải quyết ra sao, Locher đành ở lại vị trí ẩn náu của mình. Ngôi làng trải dài khoảng 500 mét dưới chân núi, và Locher có thể nghe thấy tiếng kẻng hàng ngày. Kẻng báo thức buổi sáng, kẻng đi làm, kẻng nghỉ giải lao, kẻng ăn trưa.v.v…

Ngày lại ngày trôi qua. Tới ngày thứ 20, Locher biết mình đã phí công sức. Anh sờ xuống đôi mông và cảm thấy chỉ còn da bọc xương. Đầu óc anh trống rỗng và chỉ còn nghĩ tới miếng ăn. Chỉ có hai giải pháp : một, nằm chết đói ở đây, hai, là đi xuống đồng bằng tìm cách lấy trộm thực phẩm.

Nhưng Locher cũng biết rằng, sau khi anh bắt đầu vượt qua cái thung lũng trống trải để xuống đồng bằng thì hầu như nắm chắc trong tay việc bị bắt làm tù binh. Locher nghĩ tới viễn tượng khủng khiếp khi bị giam cầm và xác định quyết tâm sẽ tự hành xử một cách danh dự, không để trở thành tù binh của địch. Thượng đế đã ban cho anh hai mươi lăm năm tự do và anh đã tận hưởng.

Vào tối ngày thứ 21, sau khi quyết định sẽ đi xuống đồng bằng vào trước rạng đông ngày hôm sau, Locher cảm thấy tâm hồn mình bình thản. Anh nhìn lên vần trăng vàng từ từ trôi ngang bầu trời, hít thở mùi vị tươi mát của không khí và thưởng thức sự cô quạnh của mình : anh vẫn còn tự do…

Một cơn mưa dài và nặng hạt làm Locher tĩnh giấc vào buổi sáng ngày thứ 22. Thì ra anh ngủ quên ! Mặt trời đã lên cao. Locher tức giận với chính mình. Dù đã có quyết định tự hành xử, nhưng anh không thể liều mạng một cách vô lý, đi ngang qua làng vào giữa thanh thiên bạch nhật. Thế là lại thêm một ngày chờ đợi và chiến đấu với đàn muỗi rừng…

Locher vừa thiếp đi thì chợt tĩnh vì những tiếng đạn. Anh nhìn thấy cả ánh chớp của những hỏa tiển địa-không được bắn lên từ ngôi làng kế cận, cách chỗ anh khoảng 8 dặm. Địch đang bắn lên các phi cơ Mỹ. Không chậm trể một giây, Locher vội vã nhấn nút máy liên lạc cấp cứu và nói : Bất cứ phi cơ Mỹ nào nghe tên OYSTER ONE BRAVO xin trả lời. (Oyster=tên hiệu anh trong phi vụ ; One=phi cơ dẫn đầu ; Bravo=ghế sau)

Sau đó, Locher nhấn nút nhận tín hiệu và nghe thấy tiếng người trả lời : Go ahead, Oyster One Bravo

” Ê anh bạn, tôi bị bắn hạ ở đây đã hơn 22 ngày. Chuyển tin dùm tôi vẫn bình an”
“Sẽ chuyển và tiếp tục liên lạc”
Mười phút sau, Locher nghe tiếng trả lời:
“Toán cấp cứu trên đường đến”

Toán cấp cứu đến liền sau đó nhưng đã bị các phi cơ MiG và đủ loại phòng không của địch đẩy lui. Locher tin tưởng một cách tuyệt đối rằng những người bạn của mình sẽ trở lại vào sáng hôm sau, và chắc chắn họ sẽ được địch ‘đón tiếp nồng hậu’.

Thực vậy, suốt buổi chiều và tối, Locher nghe thấy tiếng xe chở bộ đội tới và tiếng phi cơ MiG đáp xuống một phi trường gần đó. Như vậy, địch cũng đoán biết những gì sẽ xảy ra vào ngày hôm sau. Locher lo lắng không biết sự việc rồi đây sẽ ra sao…

Buổi sáng ngày thứ 23, kể từ ngày Đại úy Roger Locher bị bắn rơi, một lực lượng 38 phi cơ Mỹ gồm chiến đấu cơ, oanh tạc cơ phản lực, khu trục cánh quạt, trực thăng cấp cứu và phi cơ tiếp tế nhiên liệu trên không, cất cánh từ Thái Lan tới Bắc Việt để cứu người bị nạn. Đầu tiên, hai phi cơ mở tần số liên lạc với Locher và xử dụng các máy móc điện tử để xác định vị trí của anh. Một phi công nói qua máy: “Chúng tôi đã biết anh đang ở đâu rồi. Bây giờ anh cứ đúng tại chỗ, chúng tôi sắp kéo anh ra khỏi nơi này”


Captain Roger Locher returns to Udorn Air Force Base in Thailand, greeted by General John W. Vogt, Seven Air Force Commander.
Locher was retrieved from behind enemy lines only 60 miles (97 km) from Hanoi after 23 days evading capture.

Bên dưới mặt đất, Locher lạnh và run rẩy: “Xin Thượng đế bảo vệ họ, đừng để ai bị bắn rơi vì con”.
Khoảng 30 phút sau, hai trực thăng xuất hiện. Trong khi Locher làm dấu hiệu xác định vị trí của mình bằng kính phản chiếu, một trong hai chiếc bay về phía anh, chiếc còn lại chờ đợi tiếp cứu trong trường hợp khẩn cấp. Phía trên, các chiến đấu cơ vần vũ, gầm thét uy hiếp tinh thần địch.

Chiếc trực thăng dừng lại, lơ lửng phía trên vị trí của Locher khoảng 15 mét và thả xuống một ‘penetrator’ (dụng cụ có hình trái thủy lôi, có trọng lượng vừa đủ để làm xuyên thủng những tàng cây che phủ vị trí Locher đang ẩn nấp).

Tiếng súng liên thanh đồng loạt bắn ra từ ngôi làng dưới chân núi, nhưng sau đó đã vội im tiếng, vì bị trực thăng võ trang trả đũa.

Locher nhào về phia penetrator. Anh nhanh nhẹn kéo dây an toàn từ penetrator ra nịt vào người, và banh ba càng ngồi hình mỏ neo ra ngồi vào. Sau đó anh dơ ngón tay ra hiệu…

Trong khoảnh khắc, Locher đã được kéo lên và đưa vào trong thân trực thăng. Lực lượng cấp cứu trở về căn cứ. Một số MiG của địch bay lượn ở xa xa, hậm hực chứng kiến mà không dám lại gần, vì biết không thể địch lại lực lượng hùng hậu của Mỹ.

Về phần Đại úy Roger Locher, chuyến bay về Thái Lan phải là chuyến bay hạnh phúc nhất đời. Lúc đó anh không thể biết mình đã sút đi gần 15 kí-lô sau 23 ngày hoạn nạn, anh cũng không biết rằng mình là người sống sót lâu nhất trong số các phi công lâm nạn và đã được cứu thoát trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, và dĩ nhiên, anh cũng không thể biết rằng, cuộc cấp cứu anh là cuộc cấp cứu vào sâu trong lãnh thổ địch nhất và tất cả đã trở về an toàn.

Anh chỉ biết có một điều là mình đã được bạn bè cứu thoát. Họ đã liều chết để cứu anh. Bây giờ, ngồi trên phi cơ, họ luôn miệng cười đùa như thể đã quên mất việc mình vừa đi vào đất địch. Họ không cho Locher một dịp may nào để nói một lời cảm ơn. Anh chỉ biết nhìn họ với đôi mắt mở to, với nụ cười dễ thương, và những giọt lệ từ khóe mắt tràn ra, rồi từ từ lăn xuống bộ râu rậm của mình…

Nguyễn Hữu Phước
LTUC Xuân 93

https://hoiquanphidung.com/echo/index.php/vn/item/113-roi-tren-d-t-d-ch-nguy-n-h-u-phu-c

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

Links:

Nguồn Email.


Hội Đồng Hương Ở Mỹ – Phạm Hoàng Chương.

 

Bài đọc suy gẫm:  Hội Đồng Hương Ở Mỹ – Tác giả Phạm Hoàng Chương.

Hình ảnh minh họa: Hội chợ Tết 2012 tại Nam California.

 

 

 

Hội Đồng Hương Ở Mỹ

 

Phạm Hoàng Chương

Phạm Hoàng Chương là một tác giả viết về nước Mỹ kỳ cựu. Ông đã góp bài và nhận giải thưởng từ năm 2003. Là cựu giáo sư trung học ở Việt Nam trước 1975, vượt biên đến Mỹ năm 1984, ông đi học và trở lại nghề cũ. Sau nhiều năm dạy tại một trường công lập Mỹ ở San Jose, tác giả về hưu tại Riverside, Nam California., và vẫn liên tục góp thêm nhiều bài viết giá trị cho Viết Về Nước Mỹ. Sau đây là bài viết mới của ông.

**********************

Có một lần, “ông bạn lớn” của mục sư K. hỏi tôi sao không viết một bài về Hội đồng hương quê tôi ở Cali. Tôi giật mình, .bối rối: “Chà…khó quá, …anh biết đó, viết thì phải khen phải chê, chả lẽ cái gì cũng khen, mà chê thì đụng chạm. Mình ở trong Hội mà đưa chuyện nội bộ lên báo chẳng khác nào ‘vạch áo cho người xem lưng”, bà con chửi chết. Chưa kể ba đứa công an VC địa phương nó sợ mấy cái Hội đoàn bên Mỹ lắm, lần nào về nước chơi cũng hỏi tới hỏi lui….bắt ớn, ớn đến không muốn trả lời. Bây giờ mà viết thì có khác nào làm bản báo cáo không công cho chúng.”

Ông bạn lớn cụt hứng, nín thinh. Sau rồi tôi thấy ông cũng có lý. Viết về Việt kiều ở Mỹ mà không nhắc đến sinh hoạt các hội đoàn quả là một thiếu sót, như ăn ốc mà thiếu nước mắm gừng, ăn hột vịt lộn mà thiếu rau răm, ăn mận Mỹ tho mà thiếu muối ớt đỏ. Dân Việt Nam có cái hay là đi dâu cũng thích lập nhóm, lập Hội để quây quần với nhau, đoàn kết với nhau gây sức mạnh. Ngoài năm ba Đảng chính trị như Liên minh Dân chủ, Việt tân…, các Hội như Hội Cựu quân nhân, Hội Thương phế binh VNCH, Hội Phụ nữ, Hội Cựu học sinh, ..vô số nhóm này nhóm kia… tôi nhớ không hết, hầu như tỉnh nào ở VN cũng có một cái Hội đồng hương bên này. Hội đồng hương Thân hữu Ninh thuận tôi nó bắt đầu ra đời từ đầu năm 94, so với các Hội khác thì hơi trễ, nhưng phát triển rất mau. Trước đó một năm, tại Santa Ana đã có mấy buổi họp măt ăn uống của mấy nhóm dân Phan Rang quen biết thân nhau thật vui rồi, như nhóm trung tá Tài tham mưu trưởng, nhóm Quang Trung-huê, ông Triều Nguyên, nhóm ông Phước chủ rạp xi nê Thanh bình, nhóm anh chị Tiềm, Trần bá Sáu, nhóm gia đình mấy ông H.O mới qua từ Los Angeles, San Bernardino xuống và San Diego lên. Ai cũng mừng gặp lại đồng hương thoát khỏi địa ngục trần gian, lâu ngày xa cách, hỏi chuyện Phanrang tíu tít. Cũng quay phim video tape, chụp hình xôm tụ lắm. Rồi không hiểu mấy ông lớn bàn bạc, nhắm nhía chọn người đứng ra nắm Hội, tham khảo ý kiến thế nào mà một hôm ông Tài gọi phone lên San Bernardino hỏi ý tôi có nhận làm Hội trưởng tạm cho Hội Ninh thuận sắp thành lập tháng tới ở dưới Wesminster không. Tôi sửng sốt:

-Tròi ơi, thiếu gì mấy ông cựu sĩ quan cấp tá như anh, mấy ông đại doanh gia, bác sĩ nha sĩ luật sư nổi tiếng ở Phanrang trước 75 ở dưới Bolsa mà không chịu ra làm, lại kêu em ở trên núi xuống. Em đâu có quen ai nhiều. Không được đâu.

-Người nào cũng dính đảng này phái kia, bà con ngại, anh thấy em nhà giáo thanh liêm, gia đình ba má có uy tín đạo đức, xưa nay không hề có tai tiếng xấu, không làm điều gì thất đức, trong tỉnh ai cũng biết…Với lại, bữa đó ra mắt, anh chỉ giới thiệu em làm Hội trưởng tạm thời thôi, trong khi chờ đợi bầu người đại diện chính thức sau. Các tỉnh khác người ta lập Hội đồng hương ào ào. Mình có gần 300 người Phanrang ở Nam Cali, khí thế đoàn kết, tình làng xóm đang lên tưng bừng, phải thành lập gấp một Hội Đồng hương để gây quỹ giúp anh em H.O sắp qua Mỹ định cư, nhiều người quá sức nghèo, tội lắm, không có tiền bạc lo giấy tờ…

Nghe nói giúp cho anh em tù cải tạo H.O có tiền lo giấy tờ qua Mỹ, tôi thấy lòng chùng xuống, đâm ra xiêu lòng. Tánh tôi không thích ràng buộc việc đời, gánh vác chuyện thiên hạ chịu tiếng khen chê bình phẩm, nhưng nghe làm việc thiện lại không thể nào từ chối được. Anh Tài ở tù cả chục năm. Cá nhân tôi cũng ở tù. Bạn bè trong giới nhà binh tôi bị tù cải tạo nhiều lắm, còn kẹt bên nhà. Chịu cực một chút mà giúp cho nhiều gia đình H.O có tài chính qua Mỹ và ổn định trong bước đầu là chuyện nên làm. Bèn nhận lời.

Bữa đó mùa Christmas và New Year, trời se lạnh, ở chùa Huệ Quang có tới hơn 200 người Ninh thuận ăn mặc đồ mới kéo tới tham dự, ngồi chật cả một hội trường rộng kê đầy bàn ghế học trò, có cả một ban bếp núc bảy tám quí cô quí bà lui cui nấu nướng đãi ăn gỏi cuốn, nem chả, bún bò ê hề. Anh Tài giới thiệu tiểu sử tôi là giáo sư cả bên VN lẫn bên Mỹ, cũng là sĩ quan tù cải tạo vượt biên, ai nấy đều vỗ tay hoan nghênh…Tôi thấy có nhiều người lạ hoắc, lấy lí do không phải cư dân quận Cam, đề nghị mấy người lớn tuổi có máu mặt sống ở Wesminster lên làm Hội trưởng, không ai lên tiếng chịu ra ứng cứ, lại có mấy bác lớn tuổi không quen, nghe tôi khiêm tốn ăn nói có mấy câu mà coi mặt bắt hình dong, còn đứng lên phát biểu nhứt định yêu cầu tôi làm cho kỳ được. Đúng là bắt cóc bỏ dĩa. Đành phải long trọng hứa cố gắng làm tròn nhiệm vụ hội giao phó trước cử tọa vỗ tay rần rần.

Như năm xưa ở trại tỵ nạn Hồngkông bị ép làm Chánh đại diện Phật giáo, có nhiều tả hữu tài ba không quen biết ở đâu túa ra giúp đỡ, kỳ này tôi đã có sẵn Phó Hội trưởng ngoại vụ là Micheal Minh, chủ nhân Traffic school ở Bolsa, nội vụ là Quang, bạn học cũ, thương gia trước 75, tổng thư ký là Phú, luật sư Vân cố vấn pháp luật, thủ quỹ chị Thiện trước làm chủ pharmacy, anh Phước chủ rạp xi nê là ủy viên kế hoạch tài chánh, anh Tài báo chí, anh Vâng xã hội, còn các chức vụ kia sẽ bầu sau. Thấy mọi người ai cũng vui vẻ nhất trí, ăn uống chuyện trò cười nói thân mật, tôi cũng an tâm đi vòng vòng chào hỏi bà con. Anh Tài cho biết nay mai sẽ xin giấy phép lập Hội non-profit organization.đóng thuế đàng hoàng, trong tương lai có thể xin được “fund” của chính phủ để làm việc thiện giúp đồng hương đắc lực hơn, nghe rất ngon lành. Tôi chưa có kinh nghiệm mấy về cái nghề “hội trưởng” mới lạ này, chắc chắn còn phải bàn tính, soạn thảo kế hoạch làm việc, học hỏi nhiều với các anh lớn tuổi sau này, tạm thời cứ nhận cho có danh chánh ngôn thuận mà giúp bà con đồng hương.

 

Tết năm đó, mấy ông nội đưa tôi lên ghế Hội trưởng bên Bolsa bàn tính mở gian hàng Hội chợ Tết bán chả lụa nem chua đặc sản của Phanrang để gây quỹ mà không cho biết trước, giờ chót mới kêu tôi qua trông coi, điều khiển, mọi sự cất rạp, trang hoàng, nấu nướng đã có người lo.Tôi đích thân có mặt coi ngó trong ngoài, service, nhận hàng, chi thu tiền bạc, gom tiền giao thủ quỹ, mấy ngày liên tiếp mệt phờ râu, khuya phải lái xe chạy về nhà sáu bảy chục miles. Làm việc thiện, thấy cũng vui, kết toán tính ra kiếm được khoảng gần ba ngàn đồng làm vốn ban đầu cho Hội.

Mỗi tháng Phó Hội trưởng Minh cho mượn phòng học traffic school để anh em họp một lần, ra điều lệ, làm biên bản lưu đàng hoàng..Phú tổng thư ký có trách nhiệm ra báo newsletter mỗi 2 ba tháng một lần, báo quay roneo đen trắng thô sơ, mười trang trong bước đầu, rồi tăng dần lên hai ba chục trang. Đồng hương mới qua Mỹ có Ban xã hội đi thăm viếng ủy lạo, giúp đỡ làm thủ tục khám sức khỏe, giấy tờ, xin trợ cấp xã hội. Đám cưới đám ma, đau bệnh có đại diện đi chia vui, phúng điếu, thăm viếng tặng hoa. Mọi việc cấp bách có anh Tài, Phước, Quang, Minh, vàPhú hội ý toàn quyền quyết định, chỉ khi nào có việc quan trọng, hay ký checks chi tiền, tôi mới phải chạy qua. Như đáp lời kêu gọi của tổ chức LAVAS, Hội đã điện thoại và điện thư cho 25 dân biểu Mỹ phản đối việc cưỡng bách hồi hương đồng bào tỵ nạn VN ở các trại Đông nam Á, rồi sau đó tham dự ngày đi bộ gây quỹ hổ trợ cho LAVAS hoàn thành thủ tục pháp lý định cư cho thuyền nhân còn kẹt ở các trại.. Anh em biểu quyết mỗi tháng lấy nguyệt liễm 5 $, hay 30$ một lần cho nửa năm, tiền bạc sổ sách đều đăng báo phân minh rạch ròi..Bác sỹ Đoàn, trước là Trưởng Ty y tế Ninh thuận, ở Kansas, nghe tin gửi qua ủng hộ cho 200$, Cựu Hiệu trưởng trung học Duy tân Đặng vũ Hoãn, cựu Trưởng ty Cảnh sát Nguyễn văn Hay ở Úc nhận bản tin, gửi thư gửi tiền khích lệ, cựu Tổng thống Thiệu qua Mỹ chơi, cũng gọi phone khen ngợi Hội, gửi cho 300$ với tư cách công dân Ninh thuận..Kẻ góp công, người góp của. Tôi viết bài “Đời người qua Tử vi” đăng Bản tin, quảng cáo giải tử vi cho bà con, lấy tượng trưng 15$ mỗi lá số để gây quỹ, cũng thu được gần 200$. Dần dần, quỹ tạm đủ để điều hành, việc thu nguyệt liễm lại lắt nhắt phức tạp, khó theo dõi, nên mấy năm sau, toàn thể anh em làm lơ luôn, không thu nữa, một phần một năm Hội tổ chức 2 lần họp mặt Tết ở nhà hàng và Hè tổ chức picnic họp mặt ở One-mile- square Park, bà con rộng rãi đóng góp cũng bộn.

Các khu chợ làng quê, đánh cờ người, thi thả thơ, thi quốc phục, thử máu miễn phí…

 

Chủ trương của Hội tuyệt đối không làm chính trị, chỉ cùng với các Hội đoàn khác trên đất Mỹ bảo vệ, bênh vực quyền lợi người tỵ nạn Viet nam, đứng trên lập trường chống Cọng. Hội chủ trương đoàn kết đùm bọc người dân Ninh thuận ở Mỹ với nhau, và giúp đỡ dân nghèo bên nhà. Hoạt động tại Hoa kỳ, Hội giúp đỡ đồng hương Ninh thuận mới tới Mỹ sớm hội nhập đời sống mới, duy trì văn hóa tập tục quê nhà bằng cách tổ chức họp mắt một năm hai lần, Tết và Hè, chào cờ vàng ba sọc đỏ, chúc thọ, ca hát, ngâm thơ, đố vui, kể chuyện tếu, phát giải khuyến học cho con em giỏi, vun đắp tình đồng hương thân ái bằng cách thăm viếng, chia mừng, phân ưu, Tại Việt nam, Hội liên lạc cọng tác với Hội từ thiện Thanh Phong giúp đỡ vật chất cho các người già khổ, kẻ tàn tật, neo đơn, côi cút, người bịnh không đủ tiền mua thuốc nằm vật vạ ở nhà thương. Hội Từ thiện này do Hòa thượng chùa Trùng khánh lập ra đã lâu, giao cho Sư cô Diệu Tâm, xưa kia là chủ tiệm Phát lợi, làm chánh và bà cụ thân sinh tôi có tiệm buôn lớn ở Phanrang làm phó, hai người này là Phật tử thuần thành có đông con cái ra nước ngoài hay gửi tiền về giúp, nổi tiếng về làm từ thiện, cứu đói, cứu lụt liên tục nhiều năm trong tỉnh, nói tới ai cũng biết. Tôi làm Hội trưởng tạm được mấy tháng, .nhắc anh em bầu cho người khác như đã hứa, ai cũng lờ đi, bắt làm luôn nhiệm kỳ 2 năm.

Hồi đó, nhiệt tình quê hương gắn bó đồng hương với nhau chặt chẽ thiết tha lắm, bà con sốt sắng đóng góp, hô đâu có đó, nghe bà con ở đâu mới qua là đem bàn ghế tủ kệ tới cho, .nghe ở Phanrang có người ở tù biệt giam mười mấy năm vì tham gia Phục quốc mới ra, bịnh nặng mắt sắp mù, đua nhau gửi tiền về ào ào. Có lần quỹ lên tới hơn 11 ngàn, nên Hội chẳng những gửi về giúp các gia đình HO chuẩn bị qua Mỹ, mà còn cho các cô nhi viện Phật giáo và Thiên chúa giáo, các ngươi già neo đơn bệnh tật nghèo đói trong hang cùng ngõ hẽm ngoại ô Phanrang., kể cả các học sinh nhà nghèo mà học giỏi do anh em tin cậy dạy học bên đó gửi danh sách qua.Tội nghiệp anh em H.O nhận được mỗi người có 100 đô Hội gửi về giúp, viết thư qua xúc động cám ơn, có anh thú thật cả đời chưa hề cầm được số tiền lớn như thế, không biết lấy gì mà đền ơn. Đồng hương bên này thấy ai sắp qua được thì mừng cho người ấy, vui sướng thấy đồng tiền gủi về đem lại hạnh phúc cho người qua sau. Mất quê hương, nên có thêm đồng hương nào mới qua coi như đem qua hơi hướng của quê nhà sang, đẩy quê hương xích lại gần mình một chút, gợi lại một quãng đời thanh bình no ấm hạnh phúc đã qua. Gặp lại nhau ở Wesminster, tuy lưa thưa năm ba chục mặt quen mà coi như một cái Ninh thuận nhỏ, mừng rỡ ôm chào, hỏi thăm tin tức người đi kẻ ở rộn ràng.. Bản tin được gửi đi khắp thế giới, bất cứ nơi nào có địa chỉ chính xác do người quen Ninh thuận báo cáo, kết quả là nhận được rất nhiều thư hồi âm và tin tức, số phone, địa chỉ của những người mới. Số phone đồng hương do đó phổ biến ngày càng nhiều trên các bản tin, thiên hạ mừng rỡ rối rít gọi thăm nhau xuyên tiểu bang, kể lễ chuyện nhà chuyện người, chuyện con cái gia đình, ai cũng mong đợi bản tin mau mau gửi tới như con thơ ngóng mẹ hiền để biết tin tức sinh hoạt bên nhà, bên Mỹ của nhau.

Tháng 8 hè năm 94 Hội chúng tôi tổ chức picnic họp mặt đầu tiên tại Công viên One-mile-square Park, thành phố Fountain Valley, từ 10 giờ sáng đến 4 giờ chiều.. Tổ chức ở đây thường hay gặp một hai hội đoàn khác sinh hoạt kế bên, ca hát ăn uống, chạy qua tươi cười chào hỏi tỏ tình đoàn kết.. Một số người đi lạc, phải giăng biểu ngữ bằng vải vàng chóe dài to tướng “Họp mặt Hè Thân hữu Ninh thuận” ngay góc Euclid và Edinger cho thấy rõ, đậu xe bên kia dường rồi đi bộ băng qua. Bà con đông đảo đem thức ăn, dưa hấu, nước ngọt, bắp, potato chip, cánh gà đùi gà, thịt sườn tới nướng barbecue…Mấy năm sau có thêm cái màn “bánh căng”, đặc sản của Phanrang, tức là bánh bột gạo xay nhuyễn, nướng thoa mỡ hành thơm phức, đổ trứng, chấm nươc cá hay mắm nêm. Nhiều người mò tới, nói xin lỗi, vì thèm được ngồi xổm bên lò than đỏ, ăn bánh căng nóng mới ra lò húp xuỵt soạt hơn là vì nhớ bà con quê nhà mà tới. Ăn miếng bánh căng mà nhớ lại cả một khung trời Phanrang, khu Bờ đê, Tấn tài, dường Ngô Quyền… Dưới những tàng cây xanh mát, các cụ già ung dung ngồi đánh cờ chiếu tướng, trẻ con tung tăng chạy nhảy reo hò bên bờ hồ xanh trong, người lớn chuyện trò, ngắm các hình ảnh sinh hoạt của Hội dán triển lãm trên các gốc cây to, các cô các bà quây quần tụ họp tâm sự cười đùa thảnh thơi êm ả trên cỏ…Khắp nơi vang vang tiếng chào hỏi ròn rã giọng Phanrang đặc.

-Ủa, chị Ba, qua Mỹ hồi nào vậy” Đi H.O hay ODP” Ở đâu vậy” Bà già có đi theo không”

-Kìa, anh Hào, anh qua hồi nào vậy” Trời, ngó anh sao hồi này già nhận không ra. Mấy đứa nhỏ có đứa nào đi làm chưa”

-Ý chết y, cô Ly Lan. Em nhìn nảy giờ nhận không ra, tưởng bà nhà giàu nào chứ, bây giờ trông cô lạ quá, mập ra trẻ ra…Qua đây còn mở tiệm uốn tóc nữa không”

-Ủa, chú Khánh, chú qua hồi nào vậy” Còn nhớ cháu hông” Cháu con bà Hai ở Xóm xe bò nè…..Ba má cháu nhắc chú hoài.. Chú dẫn được mấy đứa qua đây.”

Tôi thông báo bà con chuyện Bộ Nội vụ Tiểu bang California đã chấp thuận danh xưng Ninh thuan Friendly Association như một Non-profit Incorporation, và Hội từ nay có bổn phận phải đóng thuế để hoạt động. Có người hỏi tại sao phải giấy tờ rắc rối như vậy, tôi biết nói sao, “Làm ăn hợp lệ thì hi vọng xin được nguồn trợ cấp chính phủ, quyên góp cũng hợp pháp, hoạt động xã hội đắc lực hơn, người cho lại được trừ thuế, tuy tốn một chút nhưng có nhiều cái lợi vê sau.”

ANh em trong ban điều hành, làm việc với nhau, đôi lúc cũng có chỗ bất đồng ý kiến, cũng có lúc bực mình, cãi nhau, nhưng tôi trẻ nhất trong Ban, nên cũng khéo nhịn, đặt mình vào cương vị người khác để hòa đồng, tránh suy nghĩ chủ quan, nghĩ tới lợi ích chung tập thể mà dẹp cái ngã riêng, quên cái chức vị cá nhân mà chiều theo ý kiến đa số. Hội có tham vọng thực hiện một cuốn video quay các thắng cảnh núi biển Ninh thuận, thành phố, chợ búa, trường học.chùa Thánh, chùa Phật, nhà thờ, cách làm ăn sinh sống người Việt người Chàm ở các làng mạc, đại loại như mấy cuốn băng du lịch của Vân Sơn, để bán cho đồng hương bên này gây quỹ, nhưng rồi thấy cũng khó thực hiện, không có điều kiện, người kỹ thuật chuyên môn đáng tin cậy bên đó không có. Sau rồi nhiều người về nước chơi như đi chợ, nhắm video không ăn khách nữa, nên dự định chìm xuồng.

Có một cái Tết, nhạc sĩ Vô Thường chuyên đàn guitar dân Phanrang tới chơi, tặng cho anh em trong Hội một số CD do anh sáng tác, phát hành. Nhà anh hồi nhỏ, ở gần rạp xi nê Việt tiến, qua nhà tôi có mấy bước. Có một dạo, anh mở café Diễm rất đông khách..Thấy anh mà nhớ cả một vùng trời kỷ niệm ấu thơ. Mấy năm sau thì nghe tin anh bệnh mất, đúng là tài hoa bạc mệnh. Rồi có ca sĩ Chế Linh, cũng dân Chàm ở Ninh thuận, tới góp vui cho đồng hương mấy bài ca rền rĩ, ai oán thiết tha. Sau đó thì trên San Jose, một số đông đồng hương Ninh thuận gọi xuống, như Cúc Linh Chi, Lương Hùng…muốn tham gia Hội, nhưng sau khi trao đổi với anh Hoàng đưc Châu, đại diện trện ấy, thì hai bên nhất trí cần lập thêm một Hội Ninh thuận Bắc Cali, độc lập về tài chánh và điều hành, nhưng cùng dưới một danh nghĩa Hội thân hữu Ninh thuận ở Hoa kỳ trên mặt pháp lý. Ngày ra mắt Ban chấp hành Hội Bắc Cali vào tháng 9, anh em trong Hội kéo lên tham dự, tặng báo và một số áo thun T-shirt có in hai chữ Thân hữu Ninh thuận làm quà chúc mừng.

Anh Châu là anh ruột Cựu Tổng trường dân vận Hoàng đức Nhã, bà con với ôngThiệu, ông Ngô khắc Tỉnh, nhưng tánh bình dân hay pha trò, được lòng hầu hết mọi người trên đó, năm nào cũng được “tái đắc cử “làm Hội trưởng muôn năm., xin nghỉ không được. Dưới sự điều hành của anh, tài tháo vát của chị Nhung bà xã anh, Tố Lan, Kim Thoa, Chi Nga, và mấy anh chị cọng sự đắc lực, đồng hương Bắc Cali Tết nào cũng có tiệc họp mặt ở nhà hàng, ăn uống, ca hát, sổ xố tưng bừng, bà con đóng góp hậu hỉ, có năm nhiếu hơn cả dưới Nam Cali. Anh chị Châu cũng chăm lo làm việc thiện không thua gì dưới Wesminster, gửi tiền bạc thường xuyên về cho Hội Từ thiện Thanh phong cứu lụt, cứu đói…sổ sách, chứng từ, hình ảnh lúc nào cũng phân minh, tỉ mỉ. Mẹ tôi, Sư cô Diệu tâm và bác Tế cố vấn, nhận tiền phải bận bịu quanh năm đi chẩn tế, cứu lụt, cứu đói, và giúp trùng tu lại một số chùa chiền hư nát xiêu đổ trong tỉnh.

Nhưng có một lần sau khi Hội gửi về 900$ cho mẹ tôi (mướn Honda thồ chở về nhà quê dống xóc ê ẩm mình mẩy) đi phân phát tiền bạc cho các gia đình H, O khốn khó, các người nghèo, tàn tật, đơn chiếc, và bỏ ra 700$ chuộc lại một ngôi nhà của chùa Tỉnh hội xây trước 75 (bị nhà nước CS tịch thu để không đóng cửa chơi) làm văn phòng châm cứu phước thiện thì chánh quyền địa phương bắt đầu để ý, điều tra coi nguồn tiền từ đâu gửi về. Công an khai thác tin tức, điều tra lý lịch nhân sự Ban lãnh đạo Hội qua các anh H.O sắp rời Phanrang qua Mỹ và đồng hương về nước thăm. Họ bắn tin cho Hội hãy gửi tiền trực tiếp về cho chính quyền địa phương để “lo” cho dân nghèo. Nghe các H.O qua Mỹ kể lại, ai cũng ôm bụng cười lăn:

-LO hay là NO” Bộ hết người gửi hay sao mà phải gửi tiền về cho nhà nước để nhà nước “no”, nhân dân đừng có “no”. Họa chăng là điên khùng tới nơi mới đi giao trứng cho ác.

Thiền sư kiêm phóng viên Face-Book Tự Do (FB- Freelancer)Vũ Công Lý và nhóm hoạt cảnh Sinh Viên Liên Trường.

Bên Hội thân hữu Khánh-hòa cũng xảy ra chuyện tương tự, có người qua kể chuyện bên họ cũng muốn gửi tiền về trùng tu Trung học Võ Tánh, nhưng chánh quyền địa phương ép phải giao tiền cho Ban giáo dục Khánh hòa lo. Chắc là bên ấy tưởng bên này tiền “đô” rớt đầy đường dễ lượm lắm, nên cơ quan nào cũng giành quyền nhận tiền để làm việc “nghĩa”. Lúc đó, năm 96, tôi mãn nhiệm kỳ, bàn giao cho anh Phước chuyển lên San Jose dạy học thì phong trào H.O đã nguội, tiền bạc bà con đóng góp bắt đầu thưa. Làm ăn khó khăn, nhiệt tình nguôi ngoai, bà con đóng góp ít đi, mà thư người nghèo và thương phế binh gửi qua xin giúp đỡ tới tấp càng lúc càng nhiều, anh Phước phải nghĩ ra cách làm những hộp nhựa cứng bỏ ở các chợ để người mua bỏ tiền thối bạc cắc lẻ vào ủng hộ Hội giúp kẻ bất hạnh ở Phanrang. Anh Phú tổng thư ký viết mấy lá thư cầu may, đóng dấu của Hội, kèm theo giấy phép tiểu bang, hình ảnh, lịch sử hoạt động từ thiện, gửi cho vài ba Hội Từ thiện quốc tế nhờ giúp đỡ tài chánh để cứu giúp đồng bào bịnh tật thiếu thuốc ở quê nhà. Kết quả thật bất ngờ: một tháng sau có người Đài loan đại diện một Hội từ thiện quốc tế tìm về Phanrang giao 10 ngàn dollars cho Hội Thanh Phong trang bị phòng châm cứu thành Tuệ Tĩnh đường, sắm đấy đủ thuốc men, máy móc, giường nằm, trả lương tượng trưng cho các thày châm cứu thiện nguyện, góp mua một ruộng muối dưới vùng quê lấy huê lợi thực hiện nhiều công tác xã hội khác. Chính quyền địa phương nghe tin, chận số tiền lại đòi giao cho họ, nhưng Hội đã nhanh tay rút trong ngân hàng ra mua thuốc men hết cho bệnh nhân. Anh Phước và chị em gia đình thân quyến cũng bỏ tiền túi ra xây một nhà dưỡng lão nuôi vài chục cụ già không con cái dưới vùng biển Mỹ tường, Vĩnh Hy.

Đến nhiệm kỳ anh Tài làm Hội trưởng, Hội tiếp tục những hoạt động từ thiện cứu trợ ở quê nhà qua liên lạc với Hội Thanh Phong, nhưng số lượng ít dấn, anh Cung chị Tài, chị Thanh bỏ tiền túi giúp trùng tu các ngôi chùa nhỏ ở làng mạc xa xôi, giúp Gia đình Phât tử, chùa Tỉnh hội, các bà con khác tùy tâm muốn gửi cho ai, Hội tập trung gửi một lần. Bác sĩ Đoàn bấy giờ về hưu, quay về Santa ana mua nhà ở, an hưởng tuổi già, được mời ra làm cố vấn thường trực cho Hội. Hội nghĩ đến việc tìm trong giới trẻ những thanh niên có thiện chí thay thế lớp già, đứng ra tiếp nối gánh vác công việc, bắt đầu là con em của anh chị em nằm trong Ban điều hành, khuyến khích bà con dẫn con em tới dự picnic Hè, Tiệc Xuân, nói chuyện, để các em noi gương, bắt chước. Một vài em chịu bắt tay góp sức, nhưng rồi cũng không được lâu bền. Tuổi trẻ lớn lên ở bên này không trải qua những gian khổ chiến tranh, không chia sẻ buồn vui với đồng hương qua các thời kỳ lịch sử tối tăm, hay chịu đựng những khổ đau tủi nhục của tù đày như lớp cha anh, nên không mấy thiết tha với việc duy trì một Hội đoàn thân hữu có công năng cưu mang tương trợ, đoàn kết đồng hương làng xóm với nhau…làm buồn lòng các bậc trưởng thượng không ít. Tre già nhưng mà măng không chịu mọc. Thôi thì Hội nhờ phước Trời, ráng duy trì được tới khi nào hay khi ấy, ở đời mọi sự đều là vô thường, có sinh tức phải có lúc diệt.

Thời kỳ đó tôi dây học trên San jose, hè 99 về VN lần đầu thăm gia đình, được công an xuất cảnh ở một tòa nhà lộng lẫy mới xây dưới biển Bình sơn mời xuống nói chuyện, vì biết tôi trước đây làm Hội trưởng Ninh thuận.Cán bộ người Bắc, ý chừng là trưởng ban tuyên vận hay chính trị gì đó mời hút thuốc 555, ăn nói rất khéo, nhã nhặn đẩy đưa lịch sự, con mắt sắc sảo quan sát không bỏ sót thái độ cử chỉ nhỏ nhặt nào của tôi, hỏi dò la đủ thứ chuyện bên Mỹ, chuyện người Thượng tỵ nạn ở Cali có đông không, chuyện anh có đi Huế chơi chưa, chùa Thiên Hưng ở Văn Sơn lớn và đẹp nhất tỉnh do thày Huyền Vi gửi tiền về xây cất, anh biết thày ở đâu không, chuyện Vn chưa vào dược WTO nên phải xuất khẩu hàng lệ thuộc vào các công ty nhãn hiệu Thái lan, không còn lời bao nhiêu, chuyện anh có thích đầu tư ở VN không, bên đó anh có biết người Phanrang nào làm ăn giàu có lớn không…Tôi nói bên này không có luật lệ rõ ràng phân minh ai mà dám đầu tư, anh “tuyên vận” nghiêm mặt chận lại không cho nói tiếp, đổi qua đề tài khác. Tôi biết ý không thèm nói nhiều nữa, trả lời dấm dẳn, hay nín thinh, anh ta bèn vuốt ve “chuyện tịch thu nhà cửa, bắt học tập cải tạo, bắt vượt biên, đi kinh tế mới ngày xưa..thuộc về quá khứ rồi…bây giờ người Việt với nhau mình nên bắt tay xây dựng lại đất nước, tôi biết ở đây cũng còn nhiếu cái tiêu cực lắm, như công an giao thông ăn tiền mãi lộ xe hàng, nhân viên soát vé phi trường vòi vĩnh, ăn tiền hối lộ của Việt kiều về nước…” Tôi chăm chú nghe không nói gì, nhưng trong bụng cười thầm, “Cũng biết vậy sao” Good boy !”

Năm 2000, anh Bảo lên thay., làm liên tiếp hai nhiệm kỳ Hội trưởng vì không có ai chịu ra ứng cử. Anh cũng chịu khó, nhiệt tình với quê hương, nhưng tiền gửi về giúp đồng hương thưa thớt dần, vì ít người đóng góp. Anh ra được một hai tập báo Xuân có nhiều bài vở hay, bìa cứng in hình màu Tháp Chàm, hình ảnh đặc trưng của xứ Ninh thuận khô khan nóng cháy, đăng tin tức chia vui với một số bà con có con em tốt nghiệp ra bác sĩ, dược sĩ, luật sư… Đồng hương bên Mỹ đã mỏi mệt, ít người làm công tư chức Mỹ lương cao, một số nhờ vã con cái mới ra trường đi làm, ai cũng muốn dành tiền mua cái nhà để ở, có người income thấp, phải xin housing, tiền già, tiền bệnh, medicare. Đa số bà con tuổi già chập chờn tời nơi, mà bên nhà thì thiên tai bão lụt hạn hán quanh năm suốt tháng, lòng tốt của ai cũng co lại. Việt kiều hải ngoại đã gửi hàng năm mấy tỷ đô la về cứu giúp thân nhân bà con bè bạn, mà sao đất nước cứ nghèo đói, dân tình cứ kêu than rên xiết hoài….

Qua đời anh Trình lên làm Hội trưởng thì ban báo chí thông tin bắt đầu hoạt động mạnh hơn, nhưng khởi sắc là nhờ phần kỹ thuật ấn loát, bài vở, và mục trà lời thư tín. Là dân H.O, cựu đại úy không quân VNCH, qua Mỹ 1992, học đại học cộng đồng ra chuyên viên sửa Toyota, anh chịu khó mày mò học thêm về computer, nhiếp ảnh, quay phim, viết lách, sản xuất ra những tập đặc san Tết và Hè, bìa cứng màu mè tươi thắm gần 200 trang giấy trắng tinh, khéo léo xã giao liên lạc chặt chẽ với những đồng hương ở San jose, các tiểu bang xa xôi, nhờ viết bài và “donate” tiền bạc rộng rãi cho quỹ thêm phong phú. Trình lại được một số anh em bà con ruột thịt, sống gần gũi bên cạnh, toàn là dân H.O ở tù lâu năm, hậu thuãn giúp đỡ, làm cho phong trào Hội tươi tỉnh thức dậy.

Quan niệm việc phải cứu giúp bà con bên nhà như một bổn phận mà các đời Hội trưởng tiền nhiệm duy trì, theo Danny Trình và một số thân hữu, coi như đã lỗi thời. Anh chủ trương tiền bà conđóng góp bên này chỉ để phục vụ cho bà con bên này, đi mừng đám cưới, phúng điếu đám ma, mua hoa tặng người bệnh, mua quà xổ xố đắt tiền cho tiệc Xuân, tới lui hì hục chuyên chở những lò bánh căng bằng đất sét nung, bịch đá, trái dưa, các soong thức ăn nặng nề ra công viên chiêu đãi đồng hương dự picnic hè, ngồi nhà chăm chút tô điểm cho 2 tờ báo ra đời một năm, không tiếc tiền tem cước phí gửi báo đi xa các nơi bà con yêu cầu, quan niệm đặc san chính là dây liên lạc quan trọng kết nối các đồng hương Ninh thuận ở khắp thề giới lại với nhau.

Anh mời luật sư Nguyễn quốc Lân, gốc dân Phanrang, Cựu phó tỉnh trưởng hành chánh nội an Ninh thuận, bác sĩ Văn kỳ Chương, các giáo sư kỳ cựu Duy tân… tới dự tiệc Xuân. Nhạc sĩ kiêm ca sĩ Vũ Hùng dân Phanrang, cũng tình nguyện tới làm MC, ca hát vang lừng cho tiệc Tết mỗi năm. Bà con lục tục kéo nhau trở lại sinh hoạt họp mặt đông như hồi nới thành lập. Nhiều đồng hương ở xa, Na uy, Úc, Canada, miền Đông, đọc báo, nghe tiếng, bay qua Little Saigon, tham dự tiệc Xuân, picnic hè một lần cho biết. Vài ca nhạc sĩ, văn sĩ đồng hương cũng nhân dịp đông đảo này đem CD, Dvd, sách báo tới ca hát, nhờ mua ủng hộ, giúp cho các tổ chức từ thiện, cựu quân nhân và thương phế binh, các thày giáo nghèo ở quê nhà… Một người bạn cũ của Trình, anh Lê, ở tù CS qua Mỹ trễ, học tốt nghiệp computer science, làm hãng Mỹ, lấy làm cảm khái về hoạt động cộng đồng nhiệt thành của anh, design một website đặc biệt cho Hội thân hữu Ninh thuận trên mạng, làm sinh hoạt đồng hương thêm phần phong phú, tân tiến, đa dạng..Trưởng nữ anh Phước, Võ thị Hiền, cũng mở một website đầy các slide shows hình ảnh diễm lệ, âm nhạc tuyệt vời, truyện ngắn, lưu bút kỉ niệm, tâm tình cho cựu học sinh Duy tân Phanrang thưởng thức, chia xẻ.

 

Các Hội trưởng tiền nhiệm, ai cũng khen ngơi công lao khởi sắc cho Hội của Trình, nhưng lại không vui vì việc anh phá tiền lệ, không gửi tiền về VN nữa. Trên San Jose, anh Châu cũng than già yếu mỏi mệt, xin rút lui, không quyên tiền được, không hăng hái gửi về làm từ thiện nữa. Anh em bèn tổ chức họp mặt, mời bác sĩ Đoàn cố vấn và tôi (vốn ở xa Hội nhiếu năm nay) tới góp ý. Theo Trình và một số anh em H.O, đất nước đã chuyển qua kinh tế thị trừờng từ năm 90, bây giờ là 2006, ai cũng được tự do buôn bán thoải mái, xe máy xe hơi chạy đầy đường, nhà lầu ba bốn tầng ở tỉnh nhỏ mọc lên như nấm, thiên hạ qua Mỹ du lịch như đi chợ, còn ai thực sự đói khổ nữa mà giúp. Một anh đỏ mặt vung tay nói:

-“Tại sao mình bỏ xứ vượt biên thì chúng nó bắt bớ, bắn bỏ, tịch thu nhà cửa” Ở lại thì nhốt tù cải tạo, vợ con nheo nhóc, bắt đi kinh tế mới. Ê chề bầm dập mới lo lót chạy được qua tới đây, lại phải ngày đêm học hành, lam lũ khổ cực đi cày, dựng lại cuộc đời, ở nhà mướn, trả tiền bills, bây giờ còn phải gửi tiền về “nuôi” chúng nó sao” Không “fair” chút nào hết.

Anh khác bực bội cất giọng oang oang phân tích:

-“Bao nhiêu quốc gia Âu Mỹ Nhựt viện trợ lâu nay cho VN, tiền đi đâu hết rồi” Bảy tám tỷ bạc Việt kiều gửi về hàng năm. Tiền dân đóng thuế, xuất khẩu cà phê, tôm cá, xuất khẩu lao động qua Mã lai, Indonesia đi làm gửi tiền về, khai thác mỏ dầu, tiền cướp đất dân oan, chùa chiền, bán cho ngoại quôc cất villa, làm sân golf, xây cơ sở, nhà máy, đầu tư…v.v ……đâu hết rồi” Tiền các công ty ngoại quốc hối lộ để đầu tư vô túi các quan to tham nhũng chia chác nhau hết rồi, có xuống tới tay dân đâu. 30 năm “giải phóng” đã qua, mà sao dân cứ nghèo đói, thiếu ăn, bịnh tật, thất học, rên la hoài là tại sao” Đâu phải lỗi của mình mà bắt mình phải chìa vai gánh vác”

Một chị đi vượt biên bể, bị bắt nhốt mấy lần, vênh mặt lên trời, nói giọng thẽo thợt:

-Họ dành độc lập, làm chủ đất nước, tự xưng là đỉnh cao trí tuệ loài người, xử dụng tài nguyên đất nước, bán biển bán đất cho Tàu thì phải có bổn phận nuôi cho người dân no ấm chứ. Nếu có giúp, sao mình không giúp cho Hội Thương phế binh ở đây, gửi về cho anh em cụt tay cụt chân bên nhà, có phải hơn không”

Trình và mấy anh chị tức giận cũng là Phật tử thuần thành như mấy anh lão thành tiền nhiệm, như tôi, như Bảo, anh Châu, như nhiều anh khác, cũng biết “lấy tình thương xóa bỏ hận thù”, “lấy ân báo oán”, hay “cúng dường chúng sanh tức là cúng dương chư Phật”…nhưng quan đỉểm của các anh chị ấy không phải là không có lý. Như Trình, ở tù CS bảy năm, hy sinh tuổi trẻ cho cuộc chiến vô lý, qua Mỹ hai bàn tay trắng, nheo nhóc 2 đứa con muộn, làm sao bắt anh biến thành Bồ tát từ bi ngay được. Hơn nữa, chính mắt tôi thấy, một mình anh đêm hôm thức hai ba giờ khuya đánh máy, lọ mọ đeo kiếng đọc, sửa bài viết trên computer, in hình, lay out tờ báo, mua tem, gói báo gửi đi các nơi, vợ con lại bỏ thì giờ mua hoa đi thăm viếng đồng hương, mua quà xổ số, gọi phone xã giao thăm hỏi bà con ờ xa, công lao gia đình anh cực khổ làm ra tiền cho Hội thì cũng nên để cho anh cái quyền quyết định chi tiêu, điều hành công việc. Tốt xấu, nên hay không nên, đã có cộng đồng phê phán, khen chê. ” Ăn cơm nhà vác ngà voi”, mà còn bắt anh ta phải vác theo ý mình nữa thì cũng hơi quá đáng.

-“Mang tiếng Hội Ái hữu Ninh thuận mà không giúp Ninh thuận bên nhà thì cũng không đúng. Thôi thì”, tôi góp ý, “lâu lâu bên nhà có bão lụt hạn hán, mình cũng nên gửi về giúp, như vậy mới gọi là ” lá lành đùm lá rách.”, “lá rách đùm lá tả tơi”.

-Cái đó thì em đâu có từ chối, ” Trình cười, ” thiên tai đâu phải do lỗi Cộng sản.

Tôi nhiều khi ngồi nghĩ kỹ lại, thấy Trình nói cũng không sai. Mẹ mình 80 tuổi, vất vã đi nhà quê làm từ thiện, cứu đói cứu lụt bên nhà, gánh bớt nỗi khổ của dân đen dùm họ, tối về tới nhà mệt ngất, lên cơn đau tim tưởng chết, em mình buôn bán 19 năm nay nộp thuế không biết bao nhiêu cho họ, biếu xén các chỗ công quyền, giúp kinh tế đất nước phồn vinh, mình là Việt Kiều “núm ruột ngàn dậm”Đảng và chính phủ ưu ái mời về nước đầu tư du lịch, đem ngoại tệ về, tiêu xài đô la, cho tiền dân nghèo, cô nhi, bà lão, chỗ này chỗ nọ, giúp xoa bớt lòng căm phẩn oán hận của dân đen đối với nhà nước, mà công an đia phương nào có biết ơn, lần mới đây về chơi, vẫn coi mình như kẻ thù, ăn nói xách mé trống không, hạnh họe ra điều ta đây, quen thói bắt nạt dân lành trong tỉnh. Nói “tôi về hưu rồi” thì hỏi tại sao về hưu, lương hưu bao nhiêu môt tháng, vợ làm gì, con làm gì, nghe mà tức cười. Gặp ông sư Ấn độ theo phái doàn sang VN, ra Phanrang tìm hiểu đạo Bà la môn ở mấy làng Chàm, vì không có ai hiểu tiếng Anh, sợ Sư cười dân VN dốt, mình nhận lời thông dịch giùm thì tưởng mình là gián điệp cho Mỹ đen(“!).Ra Bắc vào Nam thăm bà con, coi phong cảnh thì nói sao đi “nhiều” nơi quá vậy(!”), kiếm cớ buộc tội ” đăng ký tạm trú tạm vắng sai qui định” để phạt mấy triệu bạc. Ở trên thì chiêu dụ Việt kiều, ở dưới thì bòn rút được đồng nào hay đồng nấy, tra hỏi Hội bên đó ai làm chủ tịch, ai làm thư ký, thử hỏi ai mà chịu nỗi. Chủ tịch hay thư ký thì thây kệ xác họ bên đó, có ai động chạm, lật đổ được ghế ngồi của quan thầy mấy anh bên này đâu mà cứ hỏi hoài. Hội đồng hương nói nghe xôm tụ, chứ xúm lại ăn uống họp mắt hàn huyên cho thỏa tình chòm xóm quê hương vài ba tiếng đồng hồ rối mạnh ai nấy về, có gí mà trọng đại mà năm nào ai về nước chơi, cứ hỏi tới hỏi lui đến bực mình.

Trong Hội, có một số ít người khác quan điểm nhau, vì lý do này lý do kia, chê cái này khen cái kia, lai rai công kich nhau, nhưng công việc vẫn cứ trôi chảy. Trình làm thành công hai nhiệm kỳ liên tiếp, được nhiều đồng hương xa gần quí mến, rồi mới đây nhân tiệc Xuân, bà con bầu anh Phó Hội trưởng họ Trần, lên thay, dáng dấp cao lớn, già dặn, phong thái ôn hòa, dễ tính, được lòng nhiều người. Lật bật mới lên mấy tháng, anh đã sốt sắng tổ chức picnic hè rầm rộ, kêu gọi bà con tới dự, ăn bánh căng… Lại sắp được ăn bánh căng nữa rồi, hoan hô Tân Hội trưởng.

Tôi thấy ngay trong gia đình tôi, cùng cha mẹ đẻ ra, mà anh em ruột còn khác nhau về tánh tình, sở thích, chính kiến, huống chi trong một tập thể, một Hội đoàn vài ba trăm người, “chín người mười ý”, trình đô nhận thức khác nhau, làm sao tránh được những bất đồng ý kiến, cãi cọ, tự ái, tranh chấp. Đất nước, triều đại nào, đảng phái, hội đoàn nào, tổ chức, cuộc đời nào xưa nay cũng có những bước thăng trầm vinh nhục, Hội đồng hương nào cũng vậy, tôi nghĩ, phải có những lúc lục đục nôi bộ, tình cảm sứt mẻ, làm sao tránh khỏi, nhưng tình xóm giềng, làng mạc, quê hương gắn bó, lòng vị tha sớm muộn gì rồi, với thời gian, cũng bao trùm lên hết mọi nhỏ nhen, hiềm khích của cá nhân mà kéo dài tuổi thọ của Hội, ít ra trong suốt thế hệ người Việt tỵ nạn thứ nhứt trên xứ người.

Chuyện lớn ở đây là, biết thế hệ thứ hai, thứ ba, con cháu mình vài chục năm nữa, có còn đọc được, viết được tiếng Việt lưu loát, có còn giữ được phần nào văn hóa phong tục cổ truyền, có còn thương yêu, bênh vực, giúp đỡ đồng bào của mình hay không. Và nhất là có khi nào nhớ đến một nơi chốn bình yên, hiền hòa, xinh đẹp, mộc mạc, bên kia đại dương, đã từng là nơi chôn nhau cắt rún của ông bà tổ tiên mình, một vùng đất nước đau thương đầy oan khiên hoạn nạn, gầy còm hình chữ S, quanh năm cúm gà, dịch tả, bão lụt, nằm bên biển Thái bình sóng vỗ miên man, có mong một ngày nào đó trở về góp sức xây dựng tổ quốc văn minh giàu mạnh cho thế giới năm châu quay nhìn, cúi đầu khâm phục hay không. Đó là giấc mơ của người viết, người Ninh thuận hải ngoại nói riêng, người Việt lưu vong nói chung, đang hòa hợp an trú trong vòng tay thương yêu, ấm áp bao bọc của các Hội đồng hương mọc lên khắp nơi trên đất Mỹ hiện nay.

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Việt Báo Online- VVNM

FB- Vũ Công Lý (hình ảnh )


Nhớ Ơn Tổng Thống Václav Havel – Nguyễn Kim Phụng

 Cựu Tổng Thống Václav Havel 1936- 2011.

Bài đọc suy gẫm: Nhớ Ơn Tổng Thống Václav Havel hay Cựu Tổng Thống Václav Havel và người Việt Nam của tác giả Nguyễn Kim Phụng. Có thể nói đây cũng là nhật ký của người Việt tại Cộng Hòa Séc (Czech Republic) kể lại  một giai đoạn lịch sử thay đổi quan trọng về việc khối cộng sản tan rã tại Âu Châu, đồng thời nói lên sự biết ơn đối với Cựu Tổng Thống Václav Havel.  Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.


  

Người Việt tại Brno tiễn biệt cựu Tổng thống Václav Havel 


Lời giới thiệu: Vaclav Havel sinh ngày 5 tháng Mưòi 1936, tại Prague, Tiệp Khắc. Cha của ông là một thương gia giầu có. Khi cuộc đảo chánh do những phần tử được Moscow hỗ trợ nắm quyền Czechoslovakia vào năm 1948, gia đình ông bị liệt vào danh sách “kẻ thù của giai cấp”, và bị tịch thu tài sản. Bản thân ông, bị cấm không được học quá chương trình tiểu học. Ông học xong trung học một cách lén lút, vào ban đêm, trong khi ban ngày làm chuyên viên phòng thí nghiệm. Bị bác đơn xin học ngành nghệ thuật, ông học kinh tế tại Đại học Kỹ thuật Czech. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1957, phục vụ quân đội trong hai năm.
Nhà soạn kịch, chính trị gia, nhà đối kháng, ly khai và tranh đấu cho nhân quyền. Bị bắt 4 lần, trải gần 5 năm trong tù, 1977-89. Được dân bầu làm tổng thống Tiệp (Czechoslovakia), 1989; và bầu làm tổng thống Cộng Hoà Czech Republic (1992).
Thập niên 1960, ông sáng tác những bi hài kịch theo kiểu Kafka, nhằm chỉ trích sự phi lý của chế độ thư lại cộng sản. Trong vở kịch dài “The Garden Party” (1963), những nhân viên nhà nước cộng sản đã không làm sao phá huỷ được chế độ thư lại, chỉ vì không làm sao giải được ngôn ngữ mật mã mà nó sử dụng. Thời kỳ đen tối ngay sau khi xe tăng Liên Xô giập nát “Mùa Xuân Prague 1968”, lợi dụng chút tự do ngắn ngủi, ông viết hai vở kịch mang tính hiện sinh, “The Conspirators” và “The Mountain Hotel”.
Thời gian dài sau đó, tiếp theo sau cuộc xâm lăng của Liên Xô, ông quay qua viết chui, với những tác phẩm như Phỏng Vấn, “Interview” (1975), Một Cái Nhìn Riêng Tư, “A Private View” (1975), và Phản Đối, “Protest” (1978). Nhân vật là chính ông, có cái tên là Vanek ở trong những vở kịch kể trên, một nhà ly khai, và nhà văn, bị nhà nước bách hại. Những vở kịch trên đều được trình diễn trong bí mật.
Bà vợ của ông mất vì ung thư, tháng Giêng 1966. Bản thân ông cũng đã trải qua những cuộc điều trị ung thư phổi….

Hình: Cố Tổng Thống Václav Havel và Đức Cố Giáo Hoàng Jean Paul Đệ Nhị và Đức Dalai Lama

Cố Tổng thống Václav Havel và người Việt Nam

Nguyễn Kim Phụng

  Vai trò của cố Tổng thống Václav Havel với người Séc ra sao, với thế giới thế nào, đã có nhiều báo chí và các phương tiện truyền thông đăng tải. Trong bài viết này tôi chỉ muốn nói đến vai trò và tầm quan trọng của Ngài với người Việt Nam đang sống, học tập và lao động tại nước CH Séc.

***

Điều đầu tiên phải khẳng định là nếu không có cố Tổng thống Václav Havel thì tôi cũng không đang ngồi đây và viết bài báo này, bạn thì cũng không đọc nó và nhiều người khác, trong cộng đồng người Việt Nam tại Séc (chắc cũng vào khoảng 60-70 ngàn người) , cũng không có dịp được hưởng một cơ chế tự do như hiện nay, mà có thể đang „kéo cày thay trâu“ ở một cánh đồng nào đó hay đang làm thuê cho một công ty nào đó của ông chủ Hàn quốc, Nhật quốc hay Trung quốc tại Việt Nam. Tôi xin nhắc lại một số điểm chính theo dòng thời cuộc. Vào những năm 1985-1988, thế giới vẫn chia làm hai phe rõ rệt – phe các nước xã hội chủ nghĩa và phe các nước tư bản chủ nghĩa. Lúc đó người ta vẫn nói đến các nước thứ ba, thực chất các nước đó, hoặc là theo định hướng tư bản, hoặc là theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ thực ra làm gì có ai đứng giữa! Sau khi Ngài Goóc Ba Chốp lên nắm quyền ở LBCHXHCN Xô Viết (Liên xô), với sự hiểu biết sâu sắc về thời cuộc, với tính nhân văn sâu đậm, ông đã quyết định cải tổ và đổi mới và điều quan trọng nhất là thay đổi hệ thống chính trị. Ông Goóc Ba Chốp đã hiểu, rằng chủ nghĩa cộng sản chỉ là giấc mơ và không hiện thực, rằng chủ nghĩa xã hội thực chất là một sai lầm lớn của loài người, rằng với sự ngu dốt kèm theo sự độc đoán của những người „mang danh cộng sản“ không thể đưa xã hội loài người tiến lên phía trước được, vì thế ông đã „hy sinh“ quyền lợi cá nhân của mình, quyền lợi riêng của một lớp người khoác áo „cộng sản“ và chấp nhận thay đổi hiện trạng đang tồn tại trên thế giới này. Với quyết tâm „không can thiệp vào nội bộ của các nước khác“, ông đã để cho lịch sử tự chuyển mình theo dòng thời cuộc. Vào thời điểm năm 1989, những mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ các nước cộng sản, sự trì trệ trong phát triển kinh tế khiến cho xã hội tại các nước cs đã tụt xuống đáy cùng. Không hiếm trường hợp, dân chúng tại các nước cs bị đói ăn, thiếu mặc (ở VN đang thi hành chính sách bù giá vào lương – người Việt nói lái thành „bù đá vào lưng“ – người kỹ sư như tôi lúc đó ở Việt Nam làm không đủ nuôi bản thân chứ đừng nói gì đến chuyện nuôi vợ, nuôi con!).


Hình trên: Cố Tổng Thống chào mừng dân chúng. 

Dưới: Hình chụp với ban nhạc Rốc “Hòn Đá Đang Lăn” của Mỹ- The Rolling Stone với thông điệp: REALIZE, WITHOUT FREEDOM & HUMAN RIGHTS YOU ARE NOT ALLOWED TO MAKE MUSIC AND SING WHAT AND HOW YOU WANT !!!“(tạm dịch:” bạn không thể nào sáng tác nhạc và hát bất cứ gì bạn muốn nếu không có Tự Do và các quyền căn bản của con người).

  Nhân chuyện này chúng ta nhớ tới nhạc sĩ Việt Khang vừa bị cộng sản Việt Nam bắt giam tại Mỹ Tho vì sáng tác những bản nhạc đầy tình yêu nước như “Việt Nam Tôi Đâu” và  “Anh Là Ai?”.  Link You Tube:  http://www.youtube.com/watch?v=R4L1grczk6E

Nhạc Sĩ Việt Khang

Khởi đầu là dân chúng nước Đông Đức, một tủ kính trưng bày của phe XHCN – nhiều „tiền của“ của cả phe dồn vào đây để thế giới nhìn vào, để phe XHCN khoe khoang, rằng CHXN cũng tốt đẹp đấy chứ, cũng phát triển đấy chứ!, đã ùn ùn đổ vào các sứ quán của các nước khác để „tị nạn“. Nước Đông Đức, lúc đó ông Hô – Nếk – Cơ đang cầm quyền (TBT đảng CS), đã nhờ Liên xô can thiệp, xong đã bị ông Goóc Ba Chốp phớt lờ. Hàng ngàn người Đức ập vào sứ quán Tây Đức tại Tiệp khắc, tại Hung Ga Ri…khiến tình hình chính trị, xã hội của các nước phe XHCN trở lên căng thẳng và rối tinh rối mù. Bản thân chính quyền Tiệp Khắc (lúc đó do ông Husák lãnh đạo) đã đành phải tổ chức một đoàn tàu hỏa đưa dân Đông Đức đi qua Tây Đức. Đến tháng 11 năm 1989, sinh viên và giới trí thức tại Tiệp khắc đồng loạt xuống đường biểu tình đòi thay đổi thể chế chính trị tại đây. Ban đầu, chính quyền cs Tiệp Khắc đã cho cảnh sát, quân đội đàn áp biểu tình. Thay vì nghe lệnh chính quyền, những „viên chức mẫn cán của chế độ cộng sản thối nát“ đã quay sang ủng hộ dân chúng. Đến cuối tháng 11, biết không thể thay đổi được xu thế thời cuộc, ông Husák đành phải tuyên bố từ chức và trao quyền lãnh đạo cho người khác. Người lãnh đạo tạm thời đã tuyên bố tổ chức tổng tuyển cử và như ta đã biết, cố tổng thống Václav Havel, người được thế giới biết nhiều qua „Hiến chương 77“ đã thắng cử và được bầu làm Tổng thống đầu tiên của Liên bang Tiệp Khắc (hậu cộng sản) – Cần biết là vị Tổng thống đầu tiên của liên bang Tiệp khắc (không cộng sản) là cố TT T.G Masaryk. Sau khi lên cầm quyền, cố Tổng thống Václav Havel cùng với những người trong „Diễn đàn công dân“ đã thành lập chính phủ – vị Thủ tướng đầu tiên là Václav Klaus, hiện là TT nước CH Séc. Chính phủ mới cùng Quốc hội mới đã ban bố luật mới – một bộ luật dân chủ, đầy tính nhân quyền.

Ban đầu, nhiều người Việt nam đã bỏ chạy sang Tây Đức vì sợ bị „phủi“ đánh (sau khi nhậm chức TT, Václav Havel đã ban bố lệnh ân xá và thả thù nhân, trong đó có rất nhiều tội phạm). Chính phủ mới đã „không ra lệnh trục xuất người Việt nam (đang học tập và lao động tại đây) về nước. Ngược lại, nhờ chính sách cho tự do kinh doanh, những người Việt Nam, có đôi chút hiểu biết, đã kịp thời xin giấy phép kinh doanh hoặc thành lập công ty, nhờ đó đã „trụ lại được ở đây“. Khi tình hình xã hội đã bắt đầu ổn định, từ năm 1991, những người „bán trụ lại“ đã làm giấy mời (gia đình, bạn bè) hoặc xin giấy phép lao động (cho người cùng làm công ty) tạo điều kiện để đưa người nhà, bè bạn sang Séc.

Cũng cần phải nói, rằng giai đoạn 1991-2001 là thời kỳ „cơn mưa vàng“, không những cho các doanh nghiệp người Séc mà còn cho đại đa số người Việt đang sống tại đây. Chính nhờ chính sách thông thoáng và nhân đạo của nước Séc, hàng chục ngàn người Việt nam, từ hai bàn tay trắng hoặc vốn liếng „đủ mua một chiếc xe babeta“, đã trở thành triệu phú. Hàng ngàn người Việt đã đưa được cả gia đình, cả „họ hàng hang hốc“ sang đây, thoát cảnh „sáng lo bữa trưa, trưa lo bữa tối“.

Các trẻ em Việt Nam tại Séc


 

Thế hệ ba của người Việt Nam tại Séc

Có thể nói một cách không ngoa, rằng nếu không có cố Tổng thống Václav Havel lên cầm quyền năm 1989, hàng trăm ngàn người Việt nam sẽ không biết thế nào là „miếng ăn ngon“, không biết thế nào là „mặc đẹp“ chứ chưa nói gì đến mua nhà mua cửa, đi xe X nọ X kia. Cộng đồng người Việt nam hiện nay ở đây (chỉ trừ những người hiểu biết quá ngắn) vì thế hãy ghi nhớ lấy công ơn của cố Tổng thống Václav Havel và bằng những việc làm cụ thể của mình để quan hệ của cộng đồng VN tại đây với xã hội Séc „càng ngày càng gắn bó“. Thay cho lời viếng, đây là những lời tâm huyết của một người đã được „ơn“ của nhân dân Séc, đã được sống, học tập tại đây, đã được hưởng nhiều điều tốt đẹp của chế độ dân chủ!

Kỹ sư Nguyễn Kim Phụng – cựu sinh viên trường đại học bách khoa Praha – Tiệp Khắc (ČVUT)


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Cộng Đồng CZ.

EIC-VN

You tube Rolling stone & Václav Havel