Còn Tệ Hơn Sự Chết – Bùi Anh Trinh

Nhạc sĩ phản chiến John Lennon (The Beatles) và vợ Yoko

Bài đọc suy gẫm: Còn Tệ Hơn Sự Chết hay Tổng Thống Thiệu nổi giận cáo buộc Mỹ bán đứng miền nam. Blog 16 giới thiệu tài liệu lịch sử quan trọng trích  từ sách“Giải Mã Những Bí Ẩn Chiến Tranh Việt Nam của Bùi Anh Trinh. Hình ảnh chỉ là minh họa.

 Những cuộc biểu tình phản đối người Mỹ tham chiến tại Việt Nam do phe cánh tả (cộng sản) giật dây cũng là 1 trong những nguyên nhân làm chính phủ Mỹ rút quân.

Tổng thống Richard Nixon qua Việt Nam ủy lạo binh sĩ tham chiến.

 

Thiệu bắt được bản sơ thảo Hiệp định của Kissinger và Lê Đức Thọ

Năm 1972, ngày 17-10,quân đội VNCH hành quân tại Quảng Tín đã tịch thu được một bản tài liệu mang tên “Chỉ dẫn tổng quát về ngưng chiến” của CSVN.  Ngay tức khắc, bản tài liệu được chuyển tiếp bằng máy bay trực thăng qua 5 chặng tới tay Tổng thống  Nguyễn Văn Thiệu vào lúc nửa đêm.

Thiệu đọc và phát hiện ra lâu nay Bunker đã cho ông những thông tin ảo về những thỏa thuận giữa Kissinger và Lê Đức Thọ tại Paris.  Ông cay đắng nhận ra rằng từ trước tới nay Kissinger đã điều đình với Lê Đức Thọ mà không thèm đếm xỉa tới ý kiến của Chính phủ VNCH cũng như không cần để ý tới quyền lợi của nhân dân Miền Nam.

Những gì mà Đại sứ Bunker trình bày với ông về những điều khoản thương lượng tại Paris chỉ là những lời lừa phỉnh như đối với trẻ con. Kể từ lúc này, dưới con mắt của Tổng thống Thiệu thì Bunker là một tay lừa đảo ( Trong khi sự thực Bunker đã bị Kissinger lừa chứ ông ta cũng chẳng biết gì hơn ).

Tổng thống Thiệu lập tức mời một số nhân vật chính trong chính phủ họp bàn về sự phản bội của Hoa Kỳ và tìm cách đối đầu với Kissinger trong chuyến viếng thăm sắp tới của ông ta.

Đại sứ Ellsworth Bunker (thứ hai, phải) đang trao đổi với Đại tướng William C. Westmoreland.

Hình dưới:  Kissinger bắt tay Lê Đức Thọ sau khi ký hiệp ước, 1972.

 

Nguyễn Văn Thiệu bác bỏ bản dự thảo hiệp ước

Năm 1972, ngày 18-10, Kissinger đến Sài Gòn vào ban đêm.

Ngày 19-10,

- Buổi sáng, lúc 11 giờ sáng, Kissinger cùng phái đoàn đến dinh Độc Lập trao ủy nhiệm thư của Tổng thống Nixon và thuyết trình trong nửa tiếng về bản dự thảo hiệp định.  Sau khi ông thuyết trình xong, Tổng thống Thiệu hỏi ông về bản dự thảo bằng tiếng Việt, Kissinger nói hiện tại ông không có nhưng ông sẽ cho tìm nó trong hồ sơ và gởi cho Tổng thống ( Theo Frank Snepp, lúc này Kissinger chưa biết là chi nhánh CIA tại Sài Gòn đã có văn bản bằng tiếng Việt do điệp viên nằm trong Trung ương Cục của CSVN từ miền Đồng Bằng sông Cửu Long, tức là Khu 9 của CSVN,  chuyển tới ).

- Lúc 1 giờ trưa, Tổng thống Thiệu cám ơn về bài thuyết trình của Kissinger, hứa sẽ nghiên cứu và hẹn gặp nhau lại vào lúc 5 giờ chiều.

- Lúc 5 giờ chiều, phái đoàn của Kissinger đến dinh Độc Lập để trả lời các thắc mắc về văn bản dự thảo.  Mở đầu Tổng thống Thiệu cho biết ông cần một thời gian để nghiên cứu văn bản bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt, bất ngờ ông buột miệng hỏi : “À, còn ba quốc gia Đông Dương mà ông nói đến là những quốc gia nào vậy?”.

Như đã có chuẩn bị trước, Kissinger đáp ngay : “Thưa ngài, chắc là người ta đánh máy sai đó”.  Tổng thống Thiệu biết rằng ông ta nói dối bởi vì trong văn bản có tới 3 lần nói tới 3 quốc gia Đông Dương và ghi bằng chữ (three) chứ không ghi bằng số.  Kể từ lúc đó cuộc trao đổi giữa Tổng thống Thiệu và Kissinger trở thành giống như một cuộc điều tra để phát hiện ra sự lừa đảo chứ không còn là một cuộc trao đổi “thành thật và thân mật” như thư giới thiệu của Tổng thống Nixon.

- Sau khi trao đổi một số vấn đề, đặc biệt là vấn đề không có mục quy định quân Bắc Việt phải trở về Bắc, Tổng thống Thiệu hẹn hôm sau sẽ găp lại từng nhóm chuyên biệt để bàn bạc.  Kisssinger đồng ý rồi xin mở tiếp một cuộc họp quân sự ngay sau đó để bàn về vấn đề gấp rút tiếp vận quân sự cho Nam VN trước ngày đình chiến.  Cuộc họp gồm có Kissinger, Bunker, Tướng Abrams, Tướng Thiệu và Tướng Cao Văn Viên.

Theo như cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu kể lại cho Nguyễn Tiến Hưng trong The Palace File (Khi đồng minh tháo chạy) thì có lẽ món quà viện trợ quân sự khẩn cấp là để “mua chuộc” ( đấm mõm ) sự đồng ý của Tổng thống về nội dung văn bản Hiệp định.

 

Ngày 20-10,

- Buổi sáng, Kissinger họp với Hội đồng an ninh quốc gia VNCH tại nhà riêng của Ngoại trưởng Vương Văn Bắc.  Phía VNCH đưa ra 23 điểm cần làm sáng tỏ.  Kissinger phản biện và chỉ thừa nhận có 8 điểm trong 23 điểm là cần phải minh xác mà thôi.  Buổi họp kết thúc vào giữa trưa, hai bên hẹn gặp nhau vào buổi chiều.

Hoàng Đức Nhã bỏ ra về giữa cuộc họp để kịp thông báo cho Tổng thống Thiệu rằng có rất nhiều điểm thất lợi trong bản văn bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt mà Kissinger mới đưa ra. (Bản tiếng Việt do chi nhánh CIA tại SG có được từ một nhân vật nội gián nằm trong Trung ương ĐCSVN tại Miền Tây.  Sau này được biết là ông Võ Văn Kiệt, Bí thư Quân khu 9 CSVN ).

- Lúc 4 giờ chiều, Cố vấn Hoàng Đức Nhã gọi điện thoại cho Đại sứ Bunker thông báo buổi họp chiều nay bị hoãn lại vì lý do quân CSVN đang tập trung quân để đánh lớn, Tổng thống Thiệu đang triệu tập các Tiểu khu trưởng để bàn việc đối phó.

Theo lời kể lại của ông Hoàng Đức Nhã thì cuộc nói chuyện điện thoại diễn ra như sau:

Bunker :  Thế bao giờ sẽ họp vào ngày mai

Nhã :  Tôi sẽ tìm cách thông báo cho ngài sau

Bunker yêu cầu gặp Tổng thống Thiệu.

Nhã :  Xin ngài thứ lỗi, vì tình hình khẩn cấp,Tổng thống không muốn nói chuyện điện thoại với bất cứ ai.

Sau đó vài tiếng đồng hồ, Bunker gọi lại.

Bunker : Chúng tôi có thể tới gặp Tổng thống lúc này được không?  Chúng tôi sắp rời tòa Đại sứ ngay bây giờ đây.

Nhã :  Trong dinh chưa chuẩn bị.  Chúng tôi có một số việc khác khẩn cấp…

Bunker :  Anh đâu có thể làm như vậy được.

Kissinger giật lấy ống nói :  Đây là Tiến sĩ Kissinger.

Nhã :  Thưa ông mạnh giỏi ?

Kissinger :  Tại sao chúng tôi lại không được gặp Tổng thống?

Nhã :  Như tôi mới giải thích cho Đại sứ Bunker.  Tôi rất tiếc là Tổng thống không thể gặp quý vị vào lúc này, ông ta sẽ gặp quý vị ngày mai.

Kissinger :  Tôi là Đặc sứ của Tổng thống Hoa Kỳ, tôi không thể được đối xử như một nhân viên chạy vặt.

Nhã :  Chúng tôi không bao giờ coi ông là nhân viên chạy vặt.  Nhưng nếu ông nghĩ như vậy thì tôi đâu có thể làm gì được.

Kissinger :  Tôi đòi gặp Tổng thống !

Nhã : Xin ông cho phép tôi nhắc lại lần nữa điều mà tôi vừa mới thưa với ông, tôi xin lỗi.

( Nguyễn Tiến Hưng, The Palace File, bản dịch của Cung Thúc Tiến và Nguyễn Cao Đàm trang 172, 173 ).


Ngày 21-10,

- Lúc 10 giờ sáng, Kissinger và Bunker đến gặp Tổng thống Thiệu, hai bên bàn thảo về 23 điểm phản đối của VNCH ngày hôm qua, theo Kissinger thì chỉ có 16 điểm cần sửa đổi.  Trong 2 tiếng đồng hồ, hai bên bàn thảo về vấn đề quân BắcViệt tại Miền Nam và vai trò của Hội đồng hòa giải dân tộc.

- Trong khi đang họp, nhân viên của Văn phòng Tổng thống bước vào đưa một mật điện từ tòa Đại sứ Hoa Kỳ chuyển sang, đó là một bức điện của Tổng thống Nixon muốn Kissinger trao tận tay Tổng thống Thiệu, trong đó đe dọa sẽ cắt viện trợ nếu Tổng thống Thiệu từ chối bản dự thảo hiệp định.

Buổi họp kết thúc trong sự hài lòng của Kissinger ( Tưởng rằng thư của Nixon đã khống chế được Thiệu ), hai bên hẹn gặp nhau vào sáng hôm sau.

Ngày 22-10,

- Lúc 6 giờ sáng, Tòa đại sứ VNCH tại Washington chuyển về toàn văn bài phỏng vấn của phóng viên tờ Newsweek là Borchgrave với Thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng cho Tổng thống Thiệu.  Tổng thống phát hiện rõ ràng Kissinger đã đánh lừa ông về vai trò của “Hội đồng hòa giải” và ý nghĩa của “ngưng bắn da beo”, nhưng ông quyết định không nói ra để xem Kissinger “diễn tuồng” ra sao.

( Thực ra chiều hôm trước Tướng Trần Văn Đôn đã dẫn phóng viên Borchgrave đến gặp Tổng thống Thiệu để xin phỏng vấn sau khi ông ta mới phỏng vấn Phạm Văn Đồng tại Hà Nội vào buổi sáng.  Tổng thống Thiệu từ chối trả lời phỏng vấn nhưng Borchgrave vẫn thông báo cho ông biết về nội dung cuộc phỏng vấn Phạm Văn Đồng.  Sau đó Borchgrave mới chuyển bài phỏng vấn PVĐ về cho báo Newsweek ).

- Buổi sáng, Kissinger đến gặp Tổng thống Thiệu, trong 45 phút bàn bạc, Tổng thống Thiệu cho biết ông đồng ý với bản dự thảo “nhưng với điều kiện phải sửa đổi lại” ( Đây là một lối nói từ chối của Tổng thống Thiệu nhưng Kissinger không hiểu, bởi vì sau đó Thiệu đòi sửa lại tới 64 chỗ, tức là hầu như sửa lại toàn bộ ).  Kissinger ra về với nhiều lạc quan.

- Kissinger đánh điện cho Tổng thống Nixon : “Tôi nghĩ là chúng tôi đã tìm được lối thoát”.  Sau đó ông bay đi Nam Vang để gặp Tổng thống Cam Bốt và trở lại Sài Gòn chiều hôm đó.  Tại Nam Vang Kissinger cho Tổng thống Lon Nol biết rằng Tổng thống Thiệu đã đồng ý bản dự thảo hiệp định do Bắc Việt đưa ra.

– Buổi chiều, Kissinger cùng Bunker đến dinh Độc Lâp.  Trước tiên Tổng thống Thiệu khuyến cáo Kissinger :  “Tôi không đồng ý về việc một số nhân viên của quý vị đi nói khắp Sài Gòn là tôi đã ký.  Tôi chưa ký kết gì cả.  Tôi không phản đối hòa bình nhưng tôi chưa nhận được một trả lời thỏa đáng nào của quý vị cho nên tôi sẽ không ký”.

Sau đó Tổng thống nhắc lại 4 điểm phản đối chính, đó là: (1) Sự hiện diện của quân Bắc Việt tại Miền Nam. (2)  Vai trò của Hội đồng hòa giải được xem như là một chính phủ. (3) Vùng phi quân sự tại vĩ tuyến 17 không được tôn trọng theo như hiệp đình Geneve. (4) Hiện nay tại  Đông Dương có tới 4 quốc gia chứ không phải chỉ có 3.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khi còn là trung tướng (phải).

Kissinger mất bình tỉnh với tuyên bố của Tổng thống Thiệu, ông nói ông đã thành công ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và Paris mà bây giờ ông phải thất bại tại Sài Gòn: “Nếu ngài không ký, chúng tôi sẽ xúc tiến một mình”.

Tới phiên Thiệu nổi giận, ông buộc tội Kissinger là thông đồng với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để bán đứng Miền Nam.  Hồi ký của Kissinger ghi lại lời lẽ của Thiệu: “Là một quân nhân thì lúc nào cũng phải chiến đấu, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức khi HK yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức… … Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã đòi tôi từ chức, vì như vậy là nhục;  cho nên tôi đã làm như tự mình chọn lấy quyết định đó…” ( Kissinger, White House Years, trang 1385 )

Kissinger đáp lại : “Tôi cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của ngài qua lời phát biểu vừa rồi.  Tuy nhiên, là một người Hoa Kỳ, tôi không khỏi phiền lòng khi ngài cho rằng chúng tôi thông đồng với Liên Xô và Trung Quốc. 

Làm sao ngài có thể nghĩ như vậy được trong khi quyết định ngày 8-5 của Tổng thống Nixon ( Thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt ) đã liều cả tương lai chính trị của mình để giúp quý ngài.  Chúng tôi điều đình với Liên Xô và Trung Quốc là để làm áp lực, buộc họ phải làm áp lực với Hà Nội…  Nếu như chúng tôi muốn bán đứng quý ngài thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó…”( Kissinger, White House Years, trang 1385, 1386 ).

 

Rồi tới phiên Đại sứ Bunker mất bình tỉnh : “Vậy thì thưa Tổng thống, lập trường chót của ngài là không ký, có phải không?”

Thiệu đáp : “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi.  Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho Tổng thống Nixon biết như thế.  Xin quý vị trở lại Washington và nói với Tổng thống Nixon rằng tôi cần được trả lời”.

Tổng thống Thiệu chỉ tay vào bản đồ Việt Nam rồi nói : “Có gì quan trọng khi Hoa Kỳ để mất một quốc gia nhỏ bé như Nam Việt Nam?  Chúng tôi không hơn gì một chấm nhỏ trên bản đồ của thế giới đối với các ông… … Nhưng đối với chúng tôi, đó là một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết.  Đối với chúng tôi, đặt bút ký vào một hiệp ước tương đương với sự đầu hàng là chấp nhận một bản án tử hình, vì cuộc sống không có tự do là sự chết.  Không, nó còn tệ hơn là sự chết” ( Larry Berman; No Peace, No Honor; trích từ Văn khố Bộ ngoại giao HK, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 230 ).

Kissinger yêu cầu Thiệu cùng họp lại một lần chót vào sáng ngày mai để trình diễn cho báo chí biết là bản dự thảo vẫn đang được tiếp tục tiến hành.  Tổng thống Thiệu đồng ý: “Được rồi, nếu điều đó có thể giúp quý vị thì sáng mai ta có thể có một cuộc họp ngắn, 5 phút”.

Ngày 23-10, sau cuộc họp ngắn với Tổng thống Thiệu, Kissinger lên đường trở về Hoa Kỳ.  Trước đó ông đã đánh điện cho Hà Nội, xin hoãn chuyến đi Hà Nội vào ngày 24-10 như đã dự trù.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên truyền hình công kích các điều khoản hiệp định mà Phạm Văn Đồng tuyên bố với phóng viên Borchgrave.  Ông tránh không nói tới bản dự thảo hiệp định do Kissinger đưa ra bởi vì đã có hứa với Kissinger là làm ra vẻ như bản dự thảo vẫn đang được tiến hành.

 

Bùi Anh Trinh

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

The

Links:

Văn Tuyển.net


Bài Học Nào? – Kami

Bài đọc suy gẫm: Bài học nào cho phong trào Dân chủ Việt Nam từ biểu tình Hồng Kông, bài phân tách giá trị của Kami.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Gióng lên hồi trống báo động nền Dân chủ Hồng Kông đang bị độc tài tàu cộng uy hiếp.

 Phù Đổng Joshua Wong từ chối bắt tay với  đặc khu trưởng Hống Kông Lương Chấn Anh nhân dịp ông này đến thăm các em sinh viên, học sinh biểu tình tuyệt thực. Hình dưới:  Nhóm sinh viên được cử ra đối thoại trực tiếp với chính quyền.  Tin mới nhất cho biết cuộc đàm phán đã thất bại do sự thiếu thiện chí của phía chính quyền.  Alex Chow, (thứ 3 từ trái) lãnh tụ sinh viên, cho biết :”họ rất mơ hồ”.

Cuộc biểu tình đòi tự do bầu cử của Sinh viên Hong Kong được một số đông người ở Việt nam chăm chú theo dõi và cổ vũ. Mọi người yêu mến và cổ vũ Dân chủ ở Việt Nam đều hướng về Hong kong, với khẩu hiệu “Today’s Hong Kong, Tomorrow’s Vietnam” – “Hôm nay của Hồng Kông, ngày mai của Việt Nam”. Phải thừa nhận, đây cũng chính là ước vọng của không ít người.

Không chỉ truyền thông (kể cả truyền thông nhà nước), mà trên các mạng xã hội cũng ngập tràn các tin tức, hình ảnh diễn biến biểu tình ở Hong kong được người ta chia sẻ, cập nhật. Có lẽ cũng bởi nguyên nhân và cũng là động lực của cuộc xuống đường ở Hong kong rất giống như ở Việt Nam trong hàng chục năm nay. Đó là một thứ bầu cử dân chủ giả hiệu, theo công thức “Đảng cử, Dân bầu” mà thực chất là một sự cưỡng đoạt quyền tự do bầu cử, ứng cử của người dân đã được Hiến pháp bảo hộ. Vì đối với một bộ phận người Việt Nam, một cuộc xuống đường để phản kháng chính trị nhằm tạo áp lực cần thiết buộc chính quyền hiện tại ở Việt Nam phải thay đổi thể chế chính trị độc đảng toàn trị như hiện nay là một điều cấp bách và cần thiết.

Vài nét về cuộc biểu tình ở Hong kong

Bắc Kinh từ trước đến nay vẫn chủ trương ngăn chặn phổ thông đầu phiếu trong bầu cử, đồng thời muốn duy trì tính chất các cuộc bầu cử trên lãnh thổ Trung Quốc ở tình trạng “Chúng tôi chọn, các anh bầu” như họ đã từng làm trong suốt mấy chục năm cầm quyền ở Trung quốc. Ban lãnh đạo Trung Quốc biết rằng việc bầu cử tự do dân chủ kiểu phương Tây nếu tiếp tục để diễn ra tại Hong Kong là điều hết sức nguy hiểm. Nếu không nhanh chóng được loại bỏ thì nó sẽ trở thành tấm gương cho những người ủng hộ dân chủ tại Trung Quốc sẽ noi theo.

Cho dù, tại thời điểm trước khi tiếp nhận Hong Kong, chính quyền Trung Quốc đã từng hứa hẹn sẽ từng bước chuyển đổi sang một chính quyền dân cử. Điều đó đã được lãnh đạo Trung quốc khẳng định vào năm 1993, nghĩa là trước thời điểm Trung Quốc tiếp nhận chủ quyền Hong Kong bốn năm, theo đó Đảng CS Trung Quốc đã khẳng định rằng “Việc Hong Kong xây dựng nền dân chủ thế nào trong tương lai hoàn toàn nằm trong quyền tự quyết của Hong Kong. Chính quyền trung ương sẽ không can thiệp.” Không chỉ thế, phía Trung Quốc cũng đã cam kết sẽ tổ chức một cuộc bầu cử dân chủ vào năm 2017, bằng hình thức phổ thông đầu phiếu để người Hong Kong có thể tự lựa chọn nhà lãnh đạo cho riêng mình.

Tuy vậy Trung Quốc cũng đã nuốt lời, đến ngày 24.3.2013 ông Kiều Hiểu Dương, Chủ tịch Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc (Quốc hội) Trung quốc tuyên bố rằng các ứng cử viên Trưởng Đặc khu Hành chính phải có lòng yêu nước đối với cả Trung Quốc đại lục và Hồng Kông, không đối đầu với chính quyền trung ương và không chấp nhận các ứng cử viên theo trường phái ủng hộ dân chủ đối lập. Và đến cuối tháng 8.2014 vừa qua, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua một nghị quyết đưa ra những quy định để áp dụng cho cuộc bầu cử chức vụ Trưởng Đặc khu Hành chính Hong Kong sẽ được tổ chức vào năm 2017. Theo đó chính quyền Trung Quốc sẽ tiến hành sàng lọc ứng cử viên cho vị trí Trưởng Đặc khu Hành chính Hong Kong và sẽ ấn định danh sách cuối cùng từ hai đến ba ứng cử viên để cho cử tri lựa chọn. Nghĩa là cử tri vẫn có quyền bỏ phiếu để lựa chọn người đảm nhiệm chức vụ Trưởng Đặc khu Hành chính Hong Kong, nhưng họ chỉ có thể bỏ phiếu cho một trong vài chọn lựa đã đưọc sàng lọc sẵn bởi chính quyền Trung Quốc. Mà thực chất là bầu cử theo lối bầu cử giả hiệu mà dân chúng Hồng Kong gọi một cách mỉa mai là “Chúng tôi cử, các anh bầu”.

Đây là sự thách thức của chính quyền Bắc kinh và tầng lớp sinh viên học sinh ở Hong Kong, đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến cuộc biểu tình của Sinh viên Hong Kong với mục đích đòi chính quyền Bắc kinh phải tôn trọng quyền bầu cử tự do của dân chúng.

 Nhiều băng rôn vàng yểm trợ Dân chủ được cột vào hàng rào tòa nhà chính quyền Hồng Kông

Một số vị lãnh tụ cạo đầu để phản đối cái gọi là “đảng cử dân bầu” áp đặt lên Hồng Kông.

Câu chuyện ở Đoàn Luật sư TP. HCM

Việc Đại hội Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh diễn ra chậm trễ hạn theo dự kiến hơn nửa năm trời và là Đoàn luật sư cuối cùng trên cả nước tiến hành đại hội là một vấn đề bất thường khiến cho chính quyền phải đau đầu. Một trong những nguyên nhân chính khiến cho Liên đoàn Luật sư Việt Nam chưa thể tiến hành đại hội lần thứ II, vì phải chờ kết quả đại hội Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh.

Tất cả xuất phát từ lý do mà theo Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh cho rằng: Công văn số 74/LĐLSVN ngày 10.4.2014 do ông Lê Thúc Anh – Chủ tịch Liên đoàn luật sư Việt Nam ký, về việc bổ xung tiêu chuẩn đối với chức danh Chủ nhiệm Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh đã không bảo vệ được một nguyên tắc cao nhất của Đoàn Luật sư. Đó là sự kết hợp giữa quản lý Nhà nước với chế độ tự quản của Đoàn Luật sư. Điều đã được quy định trong Luật Luật sư, đồng thời đã vi phạm nguyên tắc thượng tôn Pháp luật (Rule of Law) đó là sự độc lập của Đoàn Luật sư.

Trong thông báo 135E/ĐLS về việc “Làm rõ thêm về sự áp đặt không dân chủ, can thiệp trái pháp luật đối với Đại hội Đại biểu Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ VI (2013-2018)”, ký ngày 01.8.2014, ông Nguyễn Đăng Trừng – Chủ nhiệm Đoàn luật sư TP.HCM đã khẳng định: “Đội ngũ luật sư trên cả nước, trong đó có luật sư của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh đều hiểu rất rõ rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và Xã hội” (Điều 4, khoản 1, Hiến pháp). Nhưng lãnh đạo không phải là đứng ra làm thay công việc của một tổ chức xã hội nghề nghiệp như của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, không phải áp đặt không dân chủ, can thiệp trái pháp luật đối với Đại hội nhiệm kỳ của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Tất cả các luật sư trên cả nước cũng hiểu rất rõ rằng: “các tổ chức Đảng và Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật” (Điều 4, khoản 3, Hiến pháp)”.

Và kết quả mang lại là, Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM đã kết luận ông Nguyễn Đăng Trừng đã vi phạm qui chế làm việc của Đảng đoàn Đoàn Luật sư TP, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của tổ chức Đảng do điều lệ Đảng qui định, vi phạm điều lệ Đoàn Luật sư TP và qui chế làm việc của Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP, gây mất đoàn kết trong nội bộ Đảng đoàn. Và đã thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi đảng đối với ông Nguyễn Đăng Trừng. Nên nhớ LS Nguyễn Đăng Trừng là đại biểu Quốc hội khóa XII.

Dù rằng toàn bộ kế họach thành lập Liên đòan Luật sư Việt Nam thuộc khuôn khổ dự án “Hỗ trợ cải cách tư pháp và pháp luật tại Việt Nam” do Đan Mạch và Thụy Điển hỗ trợ cho Bộ Tư pháp Việt Nam. Nhưng cũng không thể cứu vãn dược tình thế.

Và sau cùng, ngày 12.10.2014 thì Đại hội đoàn luật sư TP.HCM cũng vẫn “thành công tốt đẹp” sau một ngày làm việc vội vã tại Hội trường Thành ủy TP. HCM. Điều đáng nói là đại hội được tiến hành chỉ có 547/799 luật sư tham dự đại hội đại diện cho hơn 4.000 luật sư ở TP. HCM, đạt tỷ lệ 68,45% và không có sự tham dự của đương kim Chủ nhiệm LS. Nguyễn Đăng Trừng.

Được biết, trước khi khai mạc và ngay trong ngày đại hội, LS. Nguyễn Đăng Trừng đã bị công an mời làm việc  để làm rõ một số vấn đề liên quan đến cá nhân ông. Sự vắng mặt của luật sư Nguyễn Đăng Trừng làm cho đại hội diễn ra khá căng thẳng, ngột ngạt…

 LS Nguyễn Đăng Trừng là đại biểu Quốc hội khóa XII bị kỷ luật khai trừ khỏi đảng, sự việc này nói lên nhiều điều…

Những bài học nào?

Nếu so sánh cuộc cách mạng Dù ở Hong kong với câu chuyện vừa xảy ra ở Đòan Luật sư TP. HCM về quy mô thì người ta sẽ cho rằng là sự khập khiễng, nhưng nếu hiểu Đòan Luật sư TP. HCM – một xã hội Việt nam thu nhỏ sẽ thấy phần nào sự tương đồng. Đó là sự can thiệp của nhà nước đối với quyền tự do bầu cử của người dân trong xã hội cộng sản, ở đó tất cả mọi sinh hoạt liên quan đến chính trị của người dân đều phải có sự sắp đặt sẵn, trên quan điểm có lợi cho chính quyền hơn là vì quyền lợi của người dân.

Đã có nhiều bài viết và nhiều ý kiến phân tích các nguyên nhân vì sao Việt nam chưa thể có một cuộc cách mạng Dù như ở Hong Kong. Nhìn chung các ý kiến đều cho rằng ý thức chính trị của người dân nói riêng và giới Sinh viên học sinh Hong kong cao hơn hẳn khi so với Việt Nam. Với lý do giải thích cho rằng họ được tiếp xúc với một nền Dân chủ thực sự khi Hong Kong còn là thuộc địa của Anh quốc. Và họ cho rằng, ở Việt nam cần có một thời gian dài nữa để phát triển nhận thức chính trị cho người dân, và chỉ khi nào “dân trí” của người Việt nam đạt đến mức như dân Hong Kong hiện nay thì mới có thể hy vọng có một cuộc xuống đường đông người.

Vậy sự bất lực của Đoàn Luật sư TP. HCM trước việc chính quyền can thiệp thô bạo vào tính độc lập của Đoàn Luật sư TP. HCM cũng do “dân trí” của hơn 4.000 luật sư thuộc Đoàn Luật sư TP. HCM thấp hay sao? Và nguyên nhân do đâu? Điều đó cho thấy lập luận đổ lỗi cho vấn đề dân trí ở Việt Nam thấp dẫn đến không có các cuộc xuống đường như Hong Kong là một sự biện hộ thiếu thuyết phục.

Một trong những ấn tượng mà cuộc biểu tình của sinh viên, học sinh Hồng Kông là hình ảnh của nhân vật lãnh đạo sinh viên Hồng Kông Joshua Wong chỉ mới 17 tuổi. Cũng như vai trò đấu tranh rất quyết liệt, triệt để đến cùng của LS. Nguyễn Đăng Trừng, khi còn ở cương vị Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP. HCM để đòi quyền độc lập của Đoàn Luật sư và không cho phép nhà nước can thiệp để thao túng một hội nghề nghiệp của mình. Tuy vậy hành động phản kháng của LS. Nguyễn Đăng Trừng cũng đã bị quyền lực nhà nước dập tắt. Trong khi ấy, cuộc biểu tình ở Hong Kong đã bước sang tuần thứ 4 và đến lúc này vẫn có dấu hiệu vẫn đứng vững. Điều đó cho thấy vai trò của một lãnh tụ nếu thiếu tính tổ chức, sự liên kết giữa các tổ chức và thành viên thì cũng sẽ thất bại.

Một câu hỏi được đặt ra là: Các tổ chức XHDS ở Việt Nam đã đứng ở đâu trong lúc xảy ra câu chuyện ở Đoàn Luật sư TP. HCM và tại sao họ không có bất cứ hành động gì để bày tỏ sự ủng hộ trong cuộc đấu tranh đơn độc của LS. Nguyễn Đăng Trừng?

Cuộc biểu tình ở Hong Kong được tổ chức dưới sự lãnh đạo của 3 tổ chức XHDS: Chiếm lĩnh Trung Hoàn (Occupy Central), Học dân tư triều (Scholarism) và Liên đoàn sinh viên Hồng Kông (Hong Kong Federation of Students, HKFS). Với các lãnh tụ như Linh Mục Châu Diệu Minh, nhà hoạt động nhân quyền, Đới Diệu Đình, phó Giáo sư luật, Trần Kiện Dân, cựu Giáo sư Xã hội học. Và nổi bật bằng hai lãnh đạo của sinh viên và học sinh: Hoàng Chi Phong (Joshua Wong), lãnh đạo nhóm Học dân tư triều (Scholarism) và Chu Vĩnh Khang (Alex Chow), sinh viên Xã hội học, Tổng thư ký Liên đoàn Sinh viên Hồng Kông. Điều đáng nói cuộc biểu tình này đã được chuẩn bị một cách kỹ càng, có bài bản trước đây khá lâu, cho dù chưa thật sự hoàn hảo như người ta muốn. Đó là chưa kể họ còn được sự ủng hộ về tài chính của giới tài phiệt ủng hộ cho Dân chủ ở Hong Kong.

Còn nhìn lại Việt Nam thì trong thời gian gần đây, sự xuất hiện của 22 tổ chức XHDS ở Việt Nam cũng đã được đánh giá là sự phát triển của công cuộc đấu tranh cho Dân chủ ở Việt Nam. Tuy vậy đó chỉ được coi là thành công vè mặt bề nổi, nhưng còn thiếu chiều sâu, việc một cá nhân có mặt trong hầu hết các tổ chức XHDS còn là phổ biến cho thấy điều đó. Trên thực tế, đến lúc này ở Việt nam còn quá ít các tổ chức XHDS độc lập hoạt động có hiệu quả và đặc biệt là thiếu sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau. Nhiều tổ chức và cá nhân trong các tổ chức XHDS chưa hiểu rằng các tổ chức XHDS phải giữ vai trò kết nối các cá nhân trong xã hội lại với nhau, thông qua các tổ chức XHDS sẽ tạo ra sự kết nối toàn xã hội để có thể hành động theo một mục tiêu chung đã được thống nhất. Chỉ khi nào tạo ra sự lớn mạnh và hoạt động có hiệu quả của các tổ chức XHDS, thì mới có thể có được một cuộc cách mạng đường phố.

Tuy nhiên cần thấy rằng, với đặc thù của phong trào đấu tranh cho Dân chủ ở Việt nam là trong điều kiện phong trào hoạt động của các tổ chức XHDS còn yếu và mỏng như hiện nay thì sự đàn áp, vô hiệu hóa thậm chí là triệt tiêu các nhân tố thủ lĩnh của chính quyền là điều không thể tránh khỏi. Do vậy sự liên kết và tương tác giữa các tổ chức XHDS để gây dựng một thủ lĩnh Dân chủ là điều hết sức quan trọng và các tổ chức XHDS sẽ đóng vai trò là bệ đỡ cho sự xuất hiện một thủ lĩnh của phong trào Dân chủ. Song quan trọng hơn cả, bên cạnh việc thiếu một thủ lĩnh thực thụ có đầy đủ bản lĩnh và uy tín để đảm nhận trọng trách như hiện nay, thì việc phải làm gì và bắt đầu từ đâu để thống nhất hành động vẫn là một câu hỏi còn bị bỏ ngỏ. Và có lẽ đây là lời giải thích về lý do vì sao truyền thông của nhà nước Việt Nam vẫn khá “cởi mở” với những tin tức về biểu tình ở Hong Kong, hầu như chính quyền không mảy may ngần ngại về nguy cơ này xảy ra ở Việt Nam?
Một hình thức Xã Hội Dân Sự…

Kết

Không chỉ đối với giới trẻ, mà đa số những người ủng hộ cho công cuộc đấu tranh cho Dân chủ ở Việt Nam đều có một ý kiến thống nhất và cho rằng nguyên nhân chính là do phong trào Dân chủ không thu hút được sự ủng hộ của quần chúng vì chưa nó đủ tầm, và thiếu một cương lĩnh cụ thể. Vấn đề thủ lĩnh cũng là vấn đề quan trọng không thể bỏ qua, mà cho đến lúc này hoàn toàn chưa xuất hiện. Sự thất bại của các hoạt động chính trị đông người của các tổ chức XHDS ở Việt nam trong những ngày gần đây nhất, như: Biểu tình phản đối bắn pháp hoa hay Trao Kiến nghị Yêu cầu Quốc hội Bạch hóa vấn đề Hội nghị Thành Đô, đã cho thấy các hoạt động này chủ yếu mang tính hình thức, a dua nhằm gây tiếng vang và thiếu sáng tạo. Đặc biệt là vấn đề nắm bắt các sự kiện để liên kết hỗ trợ và thúc đẩy, như bài học ở Đoàn Luật sư TP. HCM nêu trên là một ví dụ điển hình.

Tất cả những cái đó cho thấy, công cuộc đấu tranh cho Dân chủ ở Việt Nam hiện nay còn thiếu qua nhiều yếu tố cần thiết. Đây chính là một thách thức, đồng thời là một câu hỏi đòi hỏi những người tranh đấu ở Việt Nam phải tìm câu trả lời.

Ngày 16 tháng 10 năm 2014

© Kami

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

RFA (Kami Blog)

 


Học Chính Trị Để …Thờ Ơ Với Chính Trị – Kính Hòa (RFA)

Bài đọc suy gẫm: Học Chính Trị Để Thờ Ơ Với Chính Trị  hay Tại sao những cuộc biểu tình sinh viên vắng bóng sau năm 1975? bài nhận định quan trọng do phóng viên Kính Hòa của đài RFA biên soạn.  Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

Nhóm Phù Đổng Hồng Kông ra mắt quốc dân, nhận trách nhiệm lịch sử, hình dưới là Joshua Wong, 17 tuổi, lãnh tụ trẻ, phát ngôn viên của phong trào chống lại ảnh hưởng, sự áp đặt của tàu cộng vào lãnh vực bầu cử của người dân Hồng Kông.

 Tại sao những cuộc biểu tình sinh viên vắng bóng sau năm 1975?

Sinh viên là những người đại diện cho tương lai đất nước. Trong năm 2014 này người ta chứng kiến thế hệ tương lai đó ở Đài Loan, và bây giờ là Hong Kong cất lên tiếng nói, sự quan tâm của mình đối với các vấn đề chính trị của quốc gia. Những cuộc biểu tình của giới sinh viên như thế đã diễn ra ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Và nay nó hoàn toàn vắng bóng. Tại sao?

Nền dân chủ phôi thai bị bóp nghẹt

Hình ảnh biểu tình của sinh viên Hong Kong đòi dân chủ gây xúc động nhiều cho giới đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Họ đặt ra câu hỏi tại sao cuộc đấu tranh chỉ diễn ra ở Hong Kong mà không phải ở Việt Nam, nơi những vấn đề thực thi dân chủ còn kém hơn nhiều lần? Tại sao sinh viên của nhiều quốc gia thường hay lên tiếng khi có những vấn đề chính trị xã hội bị xấu đi? Trong khi ở Việt Nam thì những vấn đề như vậy xuất hiện ngày càng nhiều và không thấy sinh viên lên tiếng? Và gần gũi nhất là cách đây hơn 40 năm, sinh viên học sinh dưới chế độ Việt Nam cộng hòa rất thường hay biểu tình, từ phản chiến cho đến chống thuế giá trị gia tăng, còn sau năm 1975, sinh viên học sinh không còn hoạt động gì nữa. Tại sao?

Những kẻ chiến thắng bóp nghẹt tự do dân chủ của một nền dân chủ phôi thai:

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh, người từng tham gia các hoạt động của giới sinh viên miền Nam trước năm 1975 nêu ra nguyên nhân của tình hình đó:

Miền Nam là bị đánh chiếm, mà bị đánh chiếm nên bị áp đặt một chế độ mới mà người thua trận phải chấp nhận. Còn những người đã đi biểu tình chống đối (trước đó) là đã theo Việt cộng rồi. Và rồi họ hợp tác, còn những người còn lại là những người thua trận. Họ bị bắt đi cải tạo, đi học tập, họ đi vượt biên, họ đâu còn đấu tranh dân chủ được.”

Ý kiến của nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh cũng là ý kiến của nhiều người có liên quan đến cuộc chiến tranh Việt Nam vừa qua, có bên thắng trận và bên bại trận, một cuộc nội chiến mà sau khi kết thúc bên thắng xử những người anh em thua trận.

Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa trong một lần trả lời phỏng vấn báo Pháp nói rằng những người mang tên là “Giải phóng” biến thành những người “Chiến thắng” ngay sau ngày 30/4/1975.

Trong một lần trao đổi với chúng tôi nhân kỷ niệm ngày 30/4, một bạn trẻ tại Hà nội nói rằng chế độ Việt Nam cộng hòa dù chưa hoàn hảo nhưng đó lại là một cuộc thực nghiệm về dân chủ. Những người đồng ý với bạn trẻ này cho rằng chính vì lý do đó, trong không khí dân chủ dù chưa hoàn hảo đó, các sinh viên học sinh có thể cất lên tiếng nói chính trị của mình.

Hình ảnh biểu tình trước 1975 của đồng bào miền nam Việt Nam.

 và biểu tình sau 1975… bị công an, an ninh việt cộng đàn áp te tưa

Theo BBC-Anh Nguyễn Chí Đức bị tên Đại úycông an Minh, mặc thường phục đạp vào mặt khi đang bị bốn công an cầm tay cầm chân. Hình dưới là một bạn thanh niên yêu nước bị bắt sau khi đã rời đoàn biểu tình chừng 200m.  Blog Mười Sáu

“Tôi có tội gì? nếu yêu nước là có tội  thì phải bắt ngay những kẻ bán nước?”

 

Giáo dục chính trị dẫn đến thờ ơ chính trị

Giải thích về sự thụ động, không quan tâm đến chính trị của thanh niên học sinh hiện nay, nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh nói tiếp:

“Khi người ta áp đặt một chế độ mới thì người ta tính hết rồi, người ta không cho đại học tự chủ. Đại học trở thành cấp bốn, có lớp trưởng, có đoàn thanh niên, mọi thứ đều do nhà nước quản lý hết, thông qua tổ chức này tổ chức khác. Cho nên sinh viên của chế độ sau 75 giống như học sinh cấp bốn, gọi dạ bảo vâng. Và lực lượng giáo viên cũng do đảng và nhà nước nắm hết. Có một sinh viên nào lên tiếng phản kháng thì chẳng có giáo viên giáo sư nào ủng hộ cả, bởi vì họ là người của đảng. Hồi mới giải phóng thiếu giáo viên giáo sư, người ta sử dụng những người cũ gọi là lưu dung, và cũng chỉ sử dụng chuyên môn thôi chứ những người đó không có một quyền hành nào hết, và sẳn sàng bị đuổi khỏi ngành nếu có ý kiến gì khác ý kiến của tổ chức. Còn những người không chấp nhận cuộc sống của chế độ thì bị đi tù, (con em) không được vào trường Đại học vì bị phân biệt lý lịch nên họ vượt biên cả. Thế hệ thanh niên còn lại được dẫn dắt, được dạy dỗ, được học tập theo cách chương trình học Mác Lê Nin, đạo đức Hồ Chí Minh trong một chương trình rất nặng năm nào cũng phải có. Sinh viên bây giờ giống như những học sinh bé nhỏ, không có ý thức, chẳng làm được cái gì cả.

Biểu ngữ tự nói lên ý chí, sức mạnh của những người dám dấn thân cho phong trào dân chủ, hình dưới là Đức Hồng Y Giuse Trần Nhật Quân xuống đường ủng hộ đồng bào, con chiên, đất nước Hồng Kông.

 Truyền thông khắp nơi trên thế giới đưa tin và cập nhật, một hình thức hổ trợ phong trào dân chủ. Technology cũng góp phần cho đêm thủ đô chiếu sáng với ánh đèn từ những chiếc cell phone, ngoài ra “Fire Chat” được vận dụng làm nhịp cầu thông tin quan trọng trong trường hợp internet bị cắt. Hình các bạn đang chuyển thông tin qua “fire chat”

 Anh Nguyễn Anh Tuấn, từng tham gia các hoạt động của đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh ở Việt Nam, hiện là thành viên một tổ chức dân sự nói rằng sự tê liệt của sinh viên học sinh Việt Nam là do sự kềm kẹp nhiều tầng nấc trong trường Đại học. Anh nói rằng:

“Sinh viên Việt Nam là sản phẩm của một hệ thống giáo dục nói riêng và một hệ thống quản trị xã hội nói chung của một nước cộng sản.

Một nữ sinh viên khác thì nói rằng cho tới giờ này thì chính quyền của đảng cộng sản Việt Nam thành công trong việc thực hiện một chính sách ngu dân lâu dài và có hệ thống, kiềm tỏa mọi thế lực có thể đi ngược lại lợi ích của đảng cộng sản Việt Nam.

Một điều trớ trêu là mọi người đều biết rằng chương trình học ở các đại học Việt Nam sau năm 1975 rất nặng nề về các môn chính trị, nhưng các sinh viên Việt Nam lại không có phản ứng gì đối với những vấn đề chính trị xã hội. Giải thích điều này anh Nguyễn Anh Tuấn nói:

“Cái từ chính trị ở Việt Nam bị xuyên tạc, và có hai hướng xuyên tạc. Thứ nhất là linh thiêng hóa cái từ chính trị để giới trẻ nghĩ rằng đó là cái gì đó cao vời vợi mà chỉ có những người đặc biệt mới được quyền hoạt động chính trị, sử dụng cái quyền chính trị của mình. Mặc khác người ta lại tầm thường hóa chính trị, nói rằng có bản lĩnh chính trị tức là tuân phục đường lối của đảng cộng sản, của nhà cầm quyền. Cả hai đều đi đến chổ bóp méo cái từ chính trị, thực ra rất đa dạng phong phú, rất gần gũi với đời sống của mỗi người.

Theo anh thì khái niệm chính trị như vậy ở Việt Nam sau năm 1975 cũng góp phần tạo ra thái độ thờ ơ đối với những vấn đề chính trị xã hội của quốc gia, làm vắng bóng những cuộc biểu tình như ở Sài Gòn trước kia.

Trong thời gian gần đây, đã thấy xuất hiện các cuộc biểu tình liên quan từ vấn đề chống Trung quốc xâm lượt đến đòi đất đai của nông dân, nhưng trong các đám đông đó sinh viên học sinh vẫn vắng bóng. Những nhà hoạt động dân chủ mà số lượng hãy còn ít ỏi nói với chúng tôi rằng thế hệ trẻ lớn lên ở Việt Nam hiện nay không biết mình có những cái quyền gì để mà đòi. Một người giải thích rằng: “Khi nói với những kẻ nô lệ về tự do thì sẽ nhận được những nụ cười mỉa mai.”

Nhưng cũng có những ý kiến lạc quan, trong đó có nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh và anh Nguyễn Anh Tuấn, là đã xuất hiện những sinh viên dám dấn thân đấu tranh cho những điều mà họ tin là đúng, cho quyền tự nhiên của mình như các bạn sinh viên Nguyễn Phương Uyên, Đinh Nguyên Kha, mà chính quyền cộng sản đã phải dùng nhà tù để trấn áp họ.

Cách nhau khoảng 1 thước.  Lực lượng “Dù” chuẩn bị đối đầu vớí … địch được trang bị tận răng, rất hùng hậu.

  Biểu ngữ với lời ca đầy ý nghĩa nổi tiếng của tứ quái Beatles thời 1960, nhạc phẩm Imagine- John Lennon. “Bạn có thể nói tui là người mơ mộng nhưng không chỉ mình ên tui đâu bạn ui”(thông dịch hạch:)). Hình dưới là biểu tình yểm trợ phong trào”Cách mạng Dù tại Hồng Kông”  từ khắp nơi trên thế giới.

 Thị trường chứng khoán Hồng-Kồng là 1 trong 4 nơi quan trọng về giao dịch trao đổi tiền tệ hiện đang rớt điểm, cộng thêm những lây lan dân chủ khiến Bắc Kinh phải e dè? tin mới nhất từ google cho biết đặc khu trưởng Lương Chấn Anh  bắt đầu cho tùy viên xuống đàm phán với sinh viên? dưới là hình nộm ông LC.  Anh xấu xí ăn cơm quốc gia mặc áo ma cộng sản.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

RFA

BASAM 

Tễu Blog


Có thể Có Trục Xuất – TSKT Nguyễn Văn Lương

Hình “Đỗ Thị Minh Hạnh”, người con gái Việt Nam can đảm đứng lên chống bất công, tranh đấu cho những công nhân bị oan ức, việt cộng vì quá sợ hãi những người như cô nên vu vạ gán ghép, xử tù đày rất nặng, nhưng nhờ mọi nỗ lực vận động, chúng đã phải thả cô ra trước thời hạn. Hiện phong trào “Tôi Muốn Biết” nở rộ khắp nơi trong nước, sáng kiến đòi hỏi việt cộng phải trả lời minh bạch những lén lút buôn bán, chia chác, ký kết với người tàu.  Nhân tiên, blog mười sáu cũng “Tôi Muốn Biết” số tiền   4-6 tỷ đô la do người việt hải ngoại gửi về quốc nội mỗi năm đi về đâu? Như thường lệ, hình ảnh kèm theo bài viết chỉ là minh họa.

                                                                         ***

Bài đọc suy gẫm:  Tiến Sĩ Kinh Tế Nguyễn Văn Lương “Có thể Có Trục Xuất” hay “Đừng để quá trễ”. Bài tham luận quan trọng tích cực, khẩn thiết kêu gọi Người Viêt Hải Ngoại “Không Du lịch và gửi tiền về Việt Nam”.

Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ Leon Panetta thăm Việt Nam trong năm. Hình dưới:  Buổi nói chuyện của ông trên boong tàu tiếp vận USS- Richard E. Byrd cập bến tại cảng Cam Ranh.

Đừng Để Quá Trễ!

Tiến sĩ Nguyễn văn Lương

 — Khi mà Trung Cộng sản xuất hàng hóa ào ào như vậy, thì Hoa Kỳ biết là nó mắc mưu rồi, thì mới chơi vụ thất nghiệp. Thất nghiệp kéo dài, dây chuyền tới Âu Châu, thì tất cả thất nghiệp hết, không ai xài tới hàng hóa Trung Cộng hết. Cho nên kinh tế Trung Cộng rất là tệ hại bây giờ, giống như Việt Nam . Mô hình kinh tế Trung Cộng và Việt Nam giống nhau.

– Đồng lương thấp, người dân không được trả lương cao. Cho nên người dân không có mãi lực, có nghĩa là không có tiền để buôn bán trong nước (…) Dân không có tiền để mua. Mà hàng hóa chế tạo ra để bán ra ngoại quốc thì không phải là nhu cầu ở trong nước. Chính vì vậy mà hàng hóa ứ đọng tùm lum, dân không có tiền. Dân thất nghiệp, không có tiền, không được trợ cấp như dân bên Mỹ này, thì dân sẽ nổi dậy thôi!

BÃO Ế ẨM CÀN QUÉT CÁC CHỢ, SIÊU THỊ
(bản tin 19/6/2012)

— Tư bản (Tàu) cũng phá sản vì mượn tiền (ngoại quốc). Dân chúng cũng không có tiền mua, thì đói khổ như nhau. Thêm vào đó, với 1 tỷ 300 ngàn người Tàu, ngay cả hải sản, cơm rau, chó mèo cũng không còn nữa. Đừng tưởng họ có đồ ăn, họ không có đồ ăn đâu. Đó là vấn đề của Trung Cộng, sự khổ sở của họ rất là khủng khiếp.

— Vì tôi chưa có mặt ở Việt Nam, cho nên tôi chưa so sánh được người dân Trung Hoa với Việt Nam như thế nào, nhưng theo những người bạn của tôi kể, thì trong nghĩ rằng, ở Việt Nam có lợi điểm là dân Việt Nam có hải ngoại gởi tiền về, thì tương đối đỡ hơn. Nhưng 1 đô la mà mua được 4,5 quả trứng, thì cũng là tệ hại lắm rồi… Từ khủng hoảng kinh tế dẫn tới khủng hoảng chính trị, thanh trừng nhau.

— 60% Hải quân Hoa Kỳ tới Đông Nam Á, chắc chắn ảnh hưởng tới chiến trường Đông Nam Á. Office of Development Assistance (ODA) bên Đan Mạch đã cúp viện trợ cho Việt Nam số tiền chỉ có 1.5 triệu. Chúng ta sẽ đóng vai trò gì cho tương lai Việt Nam ?



Tiếp Vận Hạm USS- Richard E. Byrd.


– Với kỹ thuật tân tiến của Hoa Kỳ hiện tại, chưa có một chiếc tàu nào gặp hurricane (bão) mà bị hủy bỏ. Hệ thống khí tượng của Hoa Kỳ rất tân tiến. Những chuyến tàu cruises của Mỹ không bao giờ thay đổi. Những hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ di chuyển ngoài khơi, đặc biệt những hàng không nguyên tử sau này, cả hai ba chục năm không cần tiếp tế nhiên liệu. Tại sao Mỹ phải đến Cam Ranh? Chẳng qua là để thổi một bản tin tới Trung Cộng, để xem “Trung Cộng làm gì tao cho cho biết”.

– Hoa Kỳ không có chủ trương chiến tranh. Hoa Kỳ không muốn chế độ Trung Cộng hiện tại có thể dùng mọi cách tuyên truyền để kéo dân tộc Trung Hoa vào một cuộc chiến tranh đồng lòng với chính phủ. Hiện tại, dân chúng ở Trung Quốc rất chán ghét chế độ này, các cuộc biểu tình ở trong nước (Tàu) xảy ra hàng ngàn lần mỗi tháng. Cuộc sống của dân chúng thật là cực khổ. Chúng tôi biết, bởi vì chúng tôi từng có mặt ở bên đó, có công ty ở bên đó, có nhân viên ở bên đó (Trung Quốc)…Trung Cộng có thể bị sụp đổ bất cứ lúc nào. Chúng ta phải lo chuyện Việt Nam trước khi Hoa Kỳ giải quyết Trung Cộng.

– Người Việt Nam của chúng ta, đặc biệt ở hải ngoại, nhất là những người từng đi tù Việt cộng, thì chúng ta phải nhận thức rằng chúng ta đã bị cộng sản Việt Nam lừa đảo quá nhiều rồi, không phải chỉ bây giờ, mà chứng minh từ quá khứ. Họ đã tuyên truyền, đã thành lập mặt trận giải phóng miền nam, xâm chiếm miền Nam, rồi họ xây nhà tù, dùng trường học, nhà thờ, chùa chiền làm nơi tù đày. Tù ở miền Nam quá nhiều. Mục đích tù đày là huỷ diệt, bóp chẹt sức lãnh đạo, các sĩ quan cao cấp ở miền Nam .

— Liên sô bị sụp đổ cũng vì kinh tế,vì vấn đề hết tiền. Họ hoảng sợ, như Trung Cộng. Họ có các hạ tầng cơ sở theo kinh tế chỉ huy (….) Trung Cộng có thể bị sụp đổ bất cứ lúc nào. Chúng ta phải lo chuyện Việt Nam trước khi Trung Cộng được Hoa Kỳ giải quyết ….Không để cho quá trễ.

— Việt cộng cố gắng giữ sự im lặng của người dân trong nước. Họ muốn thế giới hiểu lầm rằng người dân trong nước hài lòng, chấp nhận chế độ này, chấp nhận những gì đang có, không có đấu tranh! Đất đai tài nguyên đang bị bán. Trong sự nợ nần quá nhiều của Việt Nam bây giờ, họ sẽ tiếp tục bán thêm. Họ lấy đất của dân bán, để lấy tiền trả nợ. Tiền lời trả nợ thôi, Nếu quý vị không tin tôi, hãy vô Bloomberg số 25.5.2012, hàng năm Việt Nam phải cần 4 tỷ mỹ kim để trả tiền lời! Nếu mà chúng ta không có 4 tỷ đó (gởi về Việt Nam), thì chế độ Việt cộng sẽ sụp như Liên sô đã sụp vào thập niên 1990’s vì không có tiền để trả nợ.

— Nếu chúng ta đi theo đường chính trị, thì phải chờ từ 2 tới 7 năm. Nếu chúng ta đi theo đường kinh tế, KHÔNG GỬI TIỀN VỀ VIỆT NAM, KHÔNG DU LỊCH VỀ VIỆT NAM, Việt cộng sẽ không có 4 tỷ — 4 tỷ để trả tiền lời thôi, thì những công ty quốc tế liên quan tới Việt Nam sẽ đòi nợ, thì chế độ Việt cộng sẽ bị sụp, như Soviet Union thập niên 90. 

 
Thiếu Tướng Nguyễn Duy Hinh và lời kêu gọi ngưng nguồn tiếp tế ngoại tệ. Link.

— Tôi chưa có về Việt Nam lần nào. Giả sử quý vị về thăm dò Việt Nam , quý vị thấy rằng Trung cộng ở khắp mọi nơi, nhất là ở ngoại ô thành phố. Khi bộ trưỏng quốc phòng Mỹ, ông Leon Panetta tới Cam Ranh, thì người ta mới la làng lên là người Trung Cộng nuôi cá ở Cam Ranh. Càng ngày, người Tàu càng sống trên nước Việt Nam quá nhiều!

— Từ thập niên 1960, trong cuộc cách mạng văn hóa của Mao trạch Đông, dân Trung Hoa mỗi gia đình có một đứa con. Cho tới giờ này, Trung Quốc có 225 triệu đàn ông (đông gấp 3 dân Việt) trên 18 tuổi, không có đàn bà để lấy vợ! Thì một phần đàn ông Tàu qua Việt Nam , mình có đủ phụ nữ cung ứng cho họ hay không? Đặc biệt là đàn bà Việt Nam cố gắng tìm chồng ngoại quốc, để hy vọng nuôi được gia đình.  Bây giờ người chồng đó nằm ngay trong đất nước của mình ! Thì quý vị thấy sự đồng hóa có thể xảy ra hay không? Nếu để 7 năm, 8 năm, 10 năm nữa, thì những vợ Viêt lấy chồng Tàu đẻ con lai đó, thì họ có thể giết chồng họ được không?

— Tình trạng dinh dưỡng ở Việt Nam bây giờ quá tệ hại rồi! Tôi vừa gặp một người bạn ngoại quốc từ Việt Nam ra, họ nói thẳng với tôi là tình trạng lạm phát ở Việt Nam quá tệ. $1 đô la U.S. ở Việt Nam chỉ mua được 4 trái trứng gà đẻ ở trong farm! Trứng gà nhập cảng thì mua được 5 trái.  Đối với đồng lương Việt Nam , quý vị thấy, $1 chỉ mua được 4,5 trái trứng, tưởng tượng là nạn lạm phát ở Việt Nam lớn cỡ nào. Tiền bạc ở Việt Nam làm sao đủ để nuôi, để dinh dưỡng người dân? Lẽ dĩ nhiên có những thành phần rất giầu, nhưng họ giúp gì được cho đất nước mình? Hay là họ a-dua để cho đất nước mình tệ hại hơn? Chúng ta cần phải nghĩ đến việc phải làm thế làm sao gấp rút làm cho đất nước Việt Nam mình khá hơn.

— Nếu chúng ta kéo dài, chờ đợi, chưa gấp rút giải thể chế độ Việt cộng, thì chế độ CSVN sẽ chờ đợi họ có cơ hội ký được một contract về dầu khí ngoài khơi Việt Nam, hoặc là cái mỏ nào đó đào ở trong nước, là Việt cộng họ sẽ có tiền để trả nợ cho số tiền lời mà họ đã phá, như vụ Vinashin, Vinalines, Vinawaco, v. v.. Họ cũng biết số tiền mà mình (người Việt hải ngoại) gởi về, có lúc sẽ bị chấm dứt, bị giảm đi, họ sẽ gặp trở ngại trong vấn đề trả tiền lời cho thế giới, và sẽ bị sụp đổ. Cho nên Việt cộng họ yêu cầu Mỹ viện trợ, họ làm mọi cách để có tiền đôla.

— Nhìn qua ảnh hưởng tâm lý mà chiến hạm Mỹ đến Đà Nẵng. Tôi thấy nếu giả sử người dân Việt Nam rất thích Hoa Kỳ bây giờ? Lẽ dĩ nhiên đó là vấn đề tâm lý, có người Việt hải ngoại bên này nữa. Quý vị yên tâm, khi Việt Nam thay đổi trong tương lai (không cộng sản), thì Việt Nam sẽ rất là hùng mạnh, bởi vì cộng đồng Việt Nam ở hải ngoại có rất nhiều người tài.  Cộng đồng hải ngoại có được “bộ ngoại giao” cho nước Việt Nam, cho vấn đề tái thiết nước Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành một nước hùng cường trên thế giới.

— Hoa Kỳ ve vãn nước Việt Nam để có lợi cho Hoa Kỳ? Xin lỗi quý vị, nếu Hoa Kỳ muốn có lợi, thì Hoa Kỳ sẽ sử dụng cộng đồng người Việt hải ngoại, chứ không phải người dân trong nước Việt Nam. Bởi vì chúng tôi là những người thấm nhuần tất cả những văn hóa, kinh nghiệm, thủ tục hành chánh của Hoa Kỳ! Thì những người như tụi tôi mà về Việt Nam làm việc thì mới sẽ có lợi cho Hoa Kỳ nhiều hơn chớ! Giống như lực lượng cộng đồng Cuba ở Hoa Kỳ mà làm việc cho Nam Mỹ, để có hệ thống xuất nhập cảng khổng lồ tới nước Hoa Kỳ.

— Nước Việt Nam mình có nhiều cơ hội. Trong một chuyến đi Tây Đức, tôi có gặp một người Đức nói với tôi: Những quốc gia khác họ cần Mỹ mà không được, trong khi Mỹ đến Việt Nam thì tụi mày đuổi đi! Đó là nói trước năm 1975. Rất nhiều người muốn di cư qua Mỹ để ở mà không được, mà tụi bây lại muốn bỏ nước Mỹ, đi về Việt Nam ?

— Xin thưa quý vị, chuyện đó có thể xảy ra lắm: Mỹ có thể trục xuất một số người ! Tại vì năm ngoái đây, tổng thống Obama ban hành một đạo luật cho người Việt Nam khi về già được về Việt Nam sống! Gởi tiền về Việt Nam sống. Quý vị phải hiểu rằng tại sao Mỹ phải làm như vậy không? Đó là trút bớt một gánh nặng rất là lớn!  Là vì những người già ở Hoa Kỳ này sẽ làm Mỹ tốn thêm tiền y tế, tiền thuốc men, tiền chăm sóc, tiền viện dưỡng lão!  Đủ thứ tiền hết đó! Nếu họ về Việt Nam , Mỹ chỉ cần gởi họ bảy tám trăm ($700, 800) là xong rồi! Họ mong những người đó đi về Việt Nam !  Chứ không phải họ muốn quý vị ở lại đây đâu, bởi vì người già chẳng sản xuất gì cho nước Mỹ nữa, kể cả tôi khi mà tôi về già! Nhưng mà kết quả trong năm vừa rồi, không có người già nào đi về Việt Nam ở hết, họ chỉ du lịch về Việt Nam thôi.

— Họ đi về hí hố chơi, nhất là những người già. Thậm chí những người HO đi về Việt Nam nhiều hơn những thành phần đi trước! Tôi phải nói thẳng với quý vị như vậy.  Đó là những người đóng góp cho chế độ cộng sản này rất là nhiều! Hôm nay tôi xin nói thẳng với quý vị vậy, không phải là tôi chỉ trích bực bội gì quý vị. Nhưng chúng ta phải đưa ra, để đưa ra một con đường.  Chúng ta phải giải quyết vấn đề Việt Nam cho nhanh hơn!


Một số dữ liệu từ sở cư trú Hoa Kỳ về trục xuất về lại nguyên quán cũ từ 2006-2010. 

— Nếu chúng ta là gánh nặng của Hoa Kỳ, thì Quốc Hội Hoa Kỳ rất có thể ban hành đạo luật này: những người Việt ở Hoa Kỳ du lịch về Việt Nam là những người không bị nguy hiểm bởi cộng sản Việt Nam, thì những người này có thể bị trục xuất về Việt Nam, nếu sau này họ còn negotiate để mà làm chuyện đó! Thì đó cũng là một hình thức để giải quyết vấn đề chi phí nặng về Medicare, vấn đề y tế của Hoa Kỳ! Tôi không nghĩ là Hoa Kỳ có thể làm chuyện đó, nhưng quý vị đừng có nghĩ là vấn đề đó sẽ không xảy ra! Chuyện đó đã xảy ra cho Cuba rồi! Nếu quý vị không tin, thì tôi đã có tài liệu về 8-điểm về Cuba, mà chính phủ Hoa Kỳ ra sắc lệnh này cho Cuba hồi năm 2004, để 2009 Cuba phải thay đổi. Trong đó, quý vị thấy có những điểm rât là chặt chẽ, Mỹ trục xuất người Cuba một cách dễ dàng!

— Tại sao giai đoạn này rất thuận lợi (để cứu nước)? Người dân Việt Nam từ Bắc xuống Nam, tất cả đều rất bất mãn. Chắc chắn là họ bất mãn, và mơ ước có sự thay đổi cho Việt Nam . Điều chắc chắn nữa, mà nãy giờ tôi đang nhấn mạnh tới, là hệ thống tài chánh Việt Nam quá nhiều tệ hại.  Không những là vấn đề trả nợ không nổi, hệ thống hành chánh trong nước rất tệ hại, đồng tiền Việt Nam không được chấp nhận trên thế giới nữa. Bây giờ họ chỉ tiêu xài, sử dụng đồng đôla mà thôi. Thế giới không chấp nhận đồng tiền Việt Nam nữa. Chính vì vậy, nếu Việt cộng không có đủ đôla trả tiền lời, thì thế giới sẽ la làng lên, thì trong vấn đề kinh tế, Việt Nam sẽ sụp. Điều rõ ràng là sẽ như vậy.

 Đô Mẽo có cả núi vàng bảo chứng, tiền vẹm hồ thì họ mặc sức in  thỏa thích…

— Trở lại vấn đề: Khối chuyên viên hùng hậu của thế giới, chúng ta phải nói rằng Việt Nam mình có nhiều nhất bây giờ! Mình chỉ thua sau Hoa Kỳ mà thôi, chứ không thua ai hết đó! Tại vì sao? Những người như tôi, hoặc là một nửa triệu người ở Mỹ đây, không phải chỉ học để ra trường, mà họ cạnh tranh với dân bản xứ để tiến thân nữa! Dân bản xứ đây có thể là người Nhật, có thể là người Đức, người Pháp, người Anh. Ngó kỹ, họ cạnh tranh để tiến thân nữa. Thì làm sao họ (chuyên viên Việt) là những người dỡ được! Khi kinh tế Mỹ suy thoái hiện nay, biết bao nhiêu người dân bản xứ mất nhiều việc, mà người Việt vẫn có việc làm, tức là mình cũng thuộc loại khá chút nào chứ. Thì nếu chúng ta đồng lòng trong vấn đề thay đổi Việt Nam , không có chuyện gì mà chúng ta làm không được!

— Một điều rất quan trọng mà tôi cần nhấn mạnh nhiều lần: Việt Nam mình có một “bộ ngoại giao” ở hải ngoại rất lớn!  Quốc gia nào mình cũng có bộ ngoại giao hết, đó là cộng đồng của mình! Cộng đồng của mình! Cộng đồng của mình nói chuyện với ông này ông kia, tổ chức này tổ chức kia! Trước khi tôi làm việc cho Công ty này, thì tôi đã được chỉ định làm Deputy của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ, coi 28 trường đại học, về vấn đề tài chánh. Và rồi tôi từ chức, để nhận job của công ty này.

— Tôi tha thiết mong là chúng ta cần làm gì cho khá hơn, không thể ngồi chờ được! Tôi nhớ lời cụ Phan Chu Trinh ngày xưa hỏi: chúng ta có phải là người vọng ngoại hay không? Chúng ta có chờ đợi hải ngoại, tôn trọng hải ngoại hay không? Hay là biết khả năng của nhau, chỉ bảo nhau, đưa Việt Nam đi đường khá hơn? Sự vọng ngoại đời xưa thì đúng, vọng ngoại bây giờ là sai. Lý do? Khối người Việt hải ngoại chúng ta có nhiều người giỏi hơn người ngoại quốc nữa, thì quý vị vọng ngoại làm cái gì? Bụt nhà không thiêng hay sao đây? Đó là lý do tôi muốn đưa ra, để chúng ta phải cùng nhau làm cái gì, do chính chúng ta làm với nhau!

— Thậm chí, tôi phải nói thẳng với anh em HO ở hải ngoại, tôi xin lỗi, đa số quý vị HO là đàn anh của tôi. Tại vì họ ở cấp bực Đại Uý Thiếu Tá trở lên hết rồi, thì họ là những người khá, người thâm niên trong quân đội. Nhưng mà hành động của quý vị đi về Việt Nam , hành động của quý vị, qua đây, quên cả những cực khổ trong thời tù đày cộng sản, thì có phải quý vị phản bội đất nước? Có phải là phản bội đồng minh bạn bè của quý vị, huynh đệ chi binh của quý vị hay không? Tôi nói thẳng như vậy, nếu quý vị tự ái, chúng ta hãy sẵn sàng bàn cải, học hỏi … Chúng ta tập trung tất cả những tâm tình của chúng ta vào đất nước Việt Nam …

— Mình cần phải làm cái gì? Như tôi đã thưa với quý vị, chỉ cần 1.5 triệu đôla thất thoát. Đan Mạch cúp viện trợ cho Việt Nam tiền phát triển, thì chúng ta nghĩ thế nào về số tiền 5, 7 tỷ mà chúng ta gởi về Việt Nam ? Chúng ta là những người đang ở Hoa Kỳ  viết thư, viết thỉnh nguyện cho Hoa Kỳ, yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ đừng có gởi tiền viện trợ, trợ giúp cho Việt Nam, trong vấn đề thiên tai bão lụt, số tiền 100 triệu, 200 triệu đô la, vậy mà chúng ta gởi về Việt Nam vài tỷ đôla! Thì thử hỏi hành động của chúng ta có mâu thuẫn hay không. Tôi xin thưa với quý vị như vậy.

Quý vị nghe tiếp âm thanh trình bày của Tiến sĩ Nguyễn văn Lương.
Paltalk ngày 10.6.2012 (audio)

Hiện Tình Việt Nam – Ts Nguyễn Văn Lương

- Lý-do thất bại của CS Trung Cộng và Việt Nam , chậm lắm là 2020 (kinh-tế).
– Vụ đa số HO về nước (tiếp tay cho VC).
– Vụ HK muốn phủi tay với đám Việt-Kiều về nước. ( Vụ này tôi đã có lần chuyển tiếp v/v Mỹ đã có danh-sách 21.000 người này).

Trước năm 1954, dân nội thành nuôi sống du kích. Trước năm 1975, dân miền Nam tiếp tế vô hạn định cho bọn giải phóng MN. Chạy sang ngoại quốc lại vẫn đi về quê nhiều nhất là quí vị HO, vậy làm sao thắng được địch. Hỡi quí vị HO vẫn còn nhớ lúc ở tù, cơm chẳng có mà ăn. Viêt vương Câu Tiễn ngàn năm xưa phải nằm gai nếm mật mới thắng được Ngô vương Phù Sai. Quí vị dễ quên, ham vui, ăn nhậu, phè cánh nhạn quá!

Kính chuyển AUDIO và TEXT bài phát biểu đặc biệt của  Tiến sĩ Nguyễn Văn Lương, chuyên gia kinh tế tài chánh, tị nạn 1975, làm việc tại Hoa Kỳ & nhiều quốc gia hải ngoại. Bài phát biểu và các thảo luận này được thu âm qua hệ thống PALTALK ngày Chúa Nhật 10-6-2012. Kính gởi quý vị audio bài nhận định ghi chép bên dưới. 

Phần 1:20120610_Paltalk8406_212_TsNguyenVanLuong_part1.mp3 

 

Phần 2:20120610_Paltalk8406_212_TsNguyenVanLuong_part2.mp3 

 

Phần3:20120610_Paltalk8406_212_TsNguyenVanLuong_part3.mp3

 

Phần4:20120610_Paltalk8406_212_TsNguyenVanLuong_part4.mp3

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Nguồn Email (Blog Mười Sáu xin cám ơn bác Minh Hà đã chuyển tin)


Bao Lần Dang Dở? – Cao Văn Tâm

Đồng tiền cổ với bốn chữ “Duy Tân thông bảo”

Bài đọc suy gẫm: “Nước dơ lấy gì mà rửa? “vua Duy Tân, tuy nhỏ tuổi nhưng là người có chí lớn, có tinh thần dân tộc,  trước cảnh nước mất nhà tan đã trả lời:” nước dơ, phải lấy máu mà rửa”.

Bài viết về vua Duy Tân đã hy sinh mối tình đầu cho đại cuộc ra sao (Lịch sử dân tộc Việt Nam cận đại) và triều Nguyễn do tác giả Cao Văn Tâm (Công Binh) sưu tầm và tóm lược.  Hình ảnh chỉ là minh họa.

 Ảnh chụp vua Duy Tân năm1907.


Vua Duy Tân 1899 -1945, trị vì 1907 – 1916.

Vua Duy-Tân còn rất trẻ, nhưng rất thông minh và có khí khái của một ông vua. Sau ngày đăng quang, Duy-Tân đã hoàn toàn thay đổi, nên một nhà báo Pháp đã phát biểu: “Un jour de trône a complètement changé la figure d’un enfant de 8 ans” (Một ngày lên ngôi đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt của một cậu bé 8 tuổi). Duy-Tân, ”Một Anh Hùng Dân Tộc!” Năm 17 tuổi, Ngài đã hy

sinh mối tình đầu, rồi hy sinh ngai vàng để dấn thân vào cuộc khởi nghĩa ngày 3 tháng 5, 1916; Cuộc khởi nghĩa bị tiết lộ nên thất bại, Ngài phải chịu cảnh lưu đầy đi đảo La Réunion, gần Phi-Châu. Duy-Tân cũng là 1 trong 3 vị vua (Hàm-Nghi, Thành-Thái, Duy-Tân) đã nối tiếp nhau nổi lên chống ngoại xâm để nhận lấy cảnh lưu đầy! Thế mà sự nghiệp của các vị vua này lại không mấy chúng ta biết đến. Có lẽ vì trong thời kỳ đô hộ, những tài liệu liên quan đến cách mạng, liên quan đến chống ngoại xâm không mấy ai giám lưu giữ để truyền bá về sau.

DUY-TÂN VỚI NHỮNG CHÍ KHÍ CỦA MỘT ÔNG VUA:

Duy-Tân là một ông vua rất thương dân và được lòng dân.

- Năm 1908, miền Trung thường hay có loạn, chống thuế . . . Vua lúc ấy mới 9 tuổi mà đã biết phán với triều thần rằng: Nếu trong nước hay có loạn là vì dân thiếu thốn và đói. Ta phải có kế hoạch “tăng gia sản xuất” để có thêm lương thực. Riêng ta, lương của ta mỗi tháng 500$. Từ nay ta chỉ nhận 200$ thôi, còn 300$, ta giao cho các thầy tùy nghi giúp cho đồng bào đang đói.

-Thượng thư Hồ-Đắc-Trung là người thường hay gần bên vua. Có lần vua tỏ ra không vui hỏi: Thày nghĩ sao về người Pháp cai trị chúng ta? Hồ-Đắc-Trung tâu: chúng ta là người bị trị còn biết nói sao! Xin Hoàng-Thượng hãy thận trọng, cố gắng học hành, đường còn dài, còn nhiều vận hội sau này.

- Năm 1912, nghe tin khâm sứ Joseph Mahé mở chiến dịch tìm vàng. Ông lấy tượng vàng đặt trên lầu chùa Thiên-Mụ và đem người tới đào mả vua Tự-Đức để lấy vàng bạc, châu bắu. Duy-Tân đã thân hành tới để ngăn chặn, nhưng không kịp. Duy-Tân rất giận và gửi thư cho chính phủ Pháp yêu cầu khiển phạt viên chức lộng hành này. Thơ nhờ viên toàn quyền chuyển qua Pháp. Nhưng viên toàn quyền đã không chuyển mà đích thân đem thơ vào hoàng cung đưa cho hoàng-thái-hậu, mẹ lớn của vua coi (Bà là con gái cần-chánh đại-học-sĩ Nguyễn-Thân. Tuy bà không có con, nhưng bà vẫn có một thế lực lớn trong triều). Bà đòi vua tới, la rầy và bắt vua phải xin lỗi viên toàn-quyền. Dù không có lỗi, nhưng là một ông vua có hiếu nên phải nghe theo lời mẹ.

- Đầu năm 1914, Duy-Tân họp các quần thần để chọn người đi Pháp, trình bầy và cùng chính phủ Pháp sửa đổi bản hiệp ước Patenôtre ký ngày 6 tháng 6, 1884 mà Ngài cho là bất công và Pháp đã vi phạm nhiều. Nhưng không ai dám nhận sứ mạng này. Việc này cũng tới tai hoàng-thái-hậu, bà lại gọi và la rầy nhà vua.

- Một hôm khác vua phàn nàn: Không có một ông thượng thư nào chịu nghe ta cả, ta là vua chỉ “làm vì” thôi! Trong khi ấy có thượng thư Nguyễn-Hữu-Bài nghe được liền tâu: Tâu Hoàng-Thượng, có phải Ngài muốn đánh Pháp ư? Nhưng Ngài lấy gì mà đánh? Ngài không có quân đội! Ngài cũng không có tài chánh! Ngài đánh bằng gì? Vua Duy-Tân suy nghĩ một lúc rồi nói lớn: Lúc này nước Pháp đang có chiến tranh với Đức (Từ 1914), đây là lúc ta phải khuyến khích dân cùng đứng dậy đòi độc lập cho nước nhà.

- Năm nhà vua 15 tuổi, Ngài triệu tập tất cả 6 đại thần trong phụ-chánh, đòi các vị phải ký vào biên bản về những sai trái của Pháp để đích thân nhà vua đem qua tòa khâm sứ, nhưng các đại thần sợ Pháp kiếm chuyện làm khó dễ nên không ai dám ký, và phải cầu cứu hoàng-thái-hậu can gián nhà vua. Từ đó nhà vua không những có ác cảm với Pháp, mà còn có ác cảm với triều thần của Ngài.

VUA DUY-TÂN VỚI MỐI TÌNH ĐẦU DANG DỞ:

Sư bà Diệu-Không, ái nử út của thượng thư Hồ-Đắc-Trung kể trong hồi ký rằng: Năm 1914, vua Duy-Tân ra nghỉ mát ở Cửa-Tùng, Quảng-Trị. Thân sinh tôi là Hồ-Đãc-Trung theo hầu. Nhà vua lúc ấy khoảng 15 tuổi, muốn có bạn trẻ cùng lứa chơi, nên truyền thân sinh tôi dẫn anh chị em chúng tôi theo. Hai anh tôi 15 và 16 tuổi, chị tôi 13 tuổi, tôi 10 tuổi. Thân sinh tôi căn giặn chúng tôi phải giữ phép “vua tôi”. Không được cười đùa nhiều như đối với người dân thường. Nhưng nhà vua lại rất dung dị, bình dân. Ngài gọi 2 anh tôi bằng “anh”, gọi tôi bằng “em”. Ngài ít nói chuyện với chị tôi. Mỗi khi vui đùa với 2 anh tôi và tôi, Ngài chỉ nhìn chị tôi mà không nói gì. Khi nào Ngài cũng tỏ ra vui vẻ. Chúng tôi rất mến Ngài, nhưng vẫn không dám cười đùa nhiều, sợ thân sinh chúng tôi quở mắng.

Tôi nhớ một hôm chơi bắt còng (dạ tràng), thi xem ai bắt được nhiều. Nhưng Ngài bắt được con nào, Ngài thả ngay con ấy. Chúng tôi ngạc nhiên hỏi, Ngài bảo: bắt chúng lên cạn chúng sẽ chết. Chi bằng thả chúng tự do bơi lội, ta nhìn xem cũng vui rồi. Thế là chúng tôi cũng đua nhau thả hết. Ngài lấy làm thích thú khi thấy những con còng tự do bơi lội. Ngài nói với 2 anh tôi: Nếu có ai bắt nhốt chúng ta, chắc chúng ta sẽ khổ lắm! Vì khi mất tự do là mất tất cả! Nói vậy rồi Ngài thở dài, kém vui. Nhưng ngay sau đó Ngài lại vui đùa lại. Mùa nghỉ hè mãn, “vua tôi” bịn rịn lúc chía tay. Chị tôi nhìn Ngài ứa lệ. Ngài bảo nhỏ tôi: Em ra dỗ chị đi, rồi sang năm chúng ta lại gặp nhau mà!

Năm sau hè đến, chị tôi không được đi. Thân sinh tôi bảo: con gái đã lớn, con phải ở nhà với mẹ. Thế là chị tôi phải ở nhà, chị khóc sưng cả mắt. Khi ra đến Cửa-Tùng, gặp lại chúng tôi Ngài hỏi: Sao thiếu mất một người? Tôi tâu: Mẹ tôi bắt chị tôi ở nhà, chị khóc sưng cả mắt . . . Ngài nói: Thật là tội nghiệp cho chị ấy!

Mãn hè ít ngày, một hôm có một quan thị vệ đến nhà xin ảnh chị tôi đem vào cung cho 2 ngài thái-hậu (Mẹ lớn và mẹ đẻ) xem mặt. Sau một tuần, 2 ngài thái-hậu đòi thầy mẹ tôi vào hầu. Sau đó tôi thấy kiệu vua tới nhà tôi, mang theo đôi bông tai và đôi vòng vàng – đó lá lễ hỏi của nhà vua dành cho chị tôi. Thầy mẹ tôi qùy lễ bái lãnh. Chị tôi cũng ra lậy tạ ân vua hạ cố.

Nhưng chuyện bất ngờ sẩy ra: Một hôm thầy tôi ở triều về, gọi mẹ tôi vào phòng, nói chuyện thật nhỏ. Nghe tiếng nói ngập ngừng như cố nén một nỗi buồn trong lòng. Năm ấy tôi 12 tuổi, cũng đã có ý, giả bộ không biết gì, xô cửa bước vào. Thấy thầy mẹ tôi mắt đỏ hoe. Thầy tôi bảo tôi ra gọi chị tôi vào. Thấy chị tôi thầy tôi bảo: Con đi lấy đôi vòng vàng và đôi bông tai ra đây để mẹ con đem vào cung dâng lại cho nhà vua, vì Ngài muốn từ hôn. Chị tôi nghe chết điếng cả người, mặc dù chỉ còn 2 tháng nữa là lễ nạp phi (lễ cưới). Chị đứng lúc lâu mới chạy đi lấy đồ vàng và đưa cho tôi đem vào cho thầy tôi, chứ chị không vào.

Thân sinh tôi còn nói, vua ban rằng: Thày hãy an ủi con gái thày và gả ngay cho người khác, đừng để cô ấy buồn tội nghiệp! Thày nên hiểu vì tôi thương gia đình thày nên tôi mới từ hôn với người mà tôi đã thương mến từ mấy năm nay. Thân sinh tôi nói thêm: Ngài còn bảo tôi tìm cho Ngài một thiếu nữ khác mà do tôi chọn. Bà xem có ai đáng giới thiệu không? Mẹ tôi đáp: Có con gái ông phụ-đạo Mai-Khắc-Đôn. Tuy không đẹp lắm, nhưng có đức hạnh tốt. Ông vào tâu thử xem.

Một tuần sau, lễ hỏi của nhà vua lại đem đến nhà ông phụ-đạo Mai-Khắc-Đôn và ngày 30 tháng 1, 1916; là lễ nạp-phi (lễ cưới) được tổ chức trọng thể tại bộ lễ.

VUA DUY-TÂN VỚI CUỘC KHỞI NGHĨA NGÀY 3 THÁNG 5, 1916:
NHỮNG LỰC LƯỢNG THAM DỰ:

1/ Mười mấy ngàn lính Việt do Pháp tuyển mộ và huấn luyện để gửi qua Pháp cho chiến tranh Pháp-Đức, phần lớn đã được ta kết nạp. Họ sẵn sàng tiếp ứng cho cách mạng.

2/ Viên đại tá lính Lê-Dương (Légion Étrangère) gốc người Đức, đang chỉ huy hơn 3,000 lính mộ. Ông ta đã được Trần-Quang-Trứ (thư ký tòa khâm-sứ Pháp), thuyết phục và lôi cuốn. Ông ta sẵn sàng hợp tác với cách mạng (Vì Đức đang có chlến tranh với Pháp, nên lúc này người Đức ở đâu cũng không thích Pháp).

3/ Trần-Đại-Trình ở tòa khâm sứ Pháp, đang chỉ huy mấy chục lính gác ở đây sẽ quay súng và hiệp với cách mạng.

4/ Một đội quân Nam-Ngãi hiệp cùng dân quân vùng phụ cận kinh thành, bao vây tòa khâm sứ Pháp và bắt tay với Trần-Đại-Trình ở bên trong.

5/ Các tỉnh: Quảng-trị, Quảng-Nam, Quảng-Ngãi, Đà-Nẵng, Hội-An, Tam-Kỳ, Bình-Định, ngoài lực lượng lính mộ của Pháp mà ta đã kết nạp, còn có nghĩa quân được võ trang bằng vũ khí từ tòa lãnh sự Đức ở Bangkok đưa vào.

6/ Tôn Thất Đệ, Nguyễn Quang Siêu chỉ huy các đội thị vệ bảo vệ nhà vua.

7/ Phan-Bội-Châu (Người đã đề xướng phong trào “Đông-Du” và tổ chức “V.N. Quang Phục Hội”), đang ở Trung-Hoa đã bí mật gửi mai-sơn Nguyễn-Thượng-Hiền sang Thái-Lan, liên lạc với tòa lãnh sự Đức. Tòa lãnh sự Đức ở đây ủng hộ cho cách mạng 10,000 tiền Thái-Lan, và khuyến khích, nếu hoạt động mạnh, có tiếng vang mà chính phủ Đức nghe tới sẽ có viện trợ chính thức nhiều hơn.

8/ Kỳ Bộ Quang-Phục-Hội của Phan-Bội-châu do Thái-Phiên phụ trách đã hoạt động mạnh, và từ năm 1914 Pháp có chiến tranh với Đức. Đây là cơ hội thuận lợi để dân ta vùng lên tranh đấu dành độc lập.

9/ Cờ khởi nghĩa, nền đỏ với 5 ngôi sao trắng, ý nghĩa “Ngũ Tinh Tụ Tĩnh” lấy ở Kinh-Dịch ra.

Trần-Cao-Vân và Thái-Phiên thuộc Việt-Nam Quang-Phục-Hội, giả người đi câu, vào Thành-Nội, bí mật gặp vua để trình bầy kế hoạch. Vua Duy-Tân chấp thuận toàn bộ kế hoach. Ngài chỉ lo nếu Pháp sớm đưa 3,000 lính mộ ở đồn Mang-Cá mà cách mạng đã kết nạp, xuống tầu qua Pháp, nên Ngài hối thúc hành sự sớm. Ngày khởi nghĩa định vào 1 giờ sáng ngày 3 tháng 5, 1916. Trần-Cao-Vân và Thái-Phiên hiệp với Tôn-Thất-Đệ và Nguyễn-Quang-Siêu đưa vua tạm rời khỏi hoàng thành.

Nhưng chẳng may, trước đó một ngày, một tên lính khố xanh tên Võ-An, là lính ở dinh án sát Quảng-Ngãi, có người anh cũng là lính và đã được cách mạng kết nạp nên biết ngày khởi nghĩa. Hắn căn giặn người em phải cẩn thận ngày đó. Rồi người em (Võ-An) tỏ ra bối rối, lo sợ lộ ra mặt. Án sát Phạm-Liễu thấy khác thường nên gạn hỏi. Hắn sợ nên đã khai ra. Phạm-Liễu báo cáo cho công sứ De Tastes. De Tastes mật điện cho khâm sứ ở Huế bấy giờ là Francois Charles (Là cha nuôi của Bảo-Đại sau này). Francois Charles ra lệnh thu hết súng và cấm trại lính người Việt. Mặt khác điện cho các tỉnh đề phòng.

Trần-Quang-Trứ, người có công chiêu dụ được viên đại tá gốc Đức, và lính đồn Mang-Cá, thấy thâu súng và cấm trại lính người Việt, đoán việc đã bại lộ. Đêm khuya Trứ tìm đến bến Thương-Bạc, ở đây Trứ gặp Trần-Cao-Vân và thấy nhà vua đã cải dạng thành thường dân. Trứ thấy chuyện thực sự bại lộ nên tìm cách lo cho bản thân. Trứ trở về, lén vào toà khâm sứ tố cáo và chỉ đường đi của nhà vua.

Trong khi Trần-Cao-Vân và Thái-Phiên . . . định đưa vua tới một địa điểm bí mật, nhưng phải nghỉ khuya ở một ngôi chùa bên núi Ngũ-Phong gần Nam-Giao. Đến sáng, khi nhà vua và đoàn tùy tùng sửa soạn lên đường thì có sự xuất hiện của Le Fol, đổng lý văn phòng tòa khâm sứ. Có Sogny, chánh mật thám Huế. Có Lanneluc là giám binh với mấy chục lính khố xanh, có Trần-Quang-Trứ – tất cả tới bắt nhà vua. Bên triều đình có Võ-Liêm, thuộc bộ lễ. Có Hồ-Hành là đội cơ với gần chục lính tới đón vua về.

Le Fol (nói giỏi tiếng Việt) thấy vua trịnh trọng ngả mũ: Tâu Hoàng-Thượng, ngài ngự  gíá dạo chơi xong rồi chứ? Duy-Tân bình thản, nhún vai đáp: Các ông chả hiểu được đâu! Trần-Quang-Trứ cũng tiến tới: Tâu Hoàng-Thượng, tôi là người cùng Trần-Cao-Vân hội kiến Hoàng-Thượng tối qua ở bến Thương-Bạc, chẳng hay Hoàng-Thượng có nhớ không? Duy-Tân nhìn Trứ một cách khinh bỉ và nói: Phải, ta nhớ ngươi, đồ phản bội! Rồi vua quay mặt đi.

Bên triều thần gặp vua mừng mừng, tủi tủi và năn nỉ vua trở về hoàng cung. Vua từ chối nói: Thà bị bắt, chứ không trở lại Hoàng cung. Lính hầu dương lọng rước, vua gạt đi và Ngài đi bộ thẳng tới chiếc xe của Pháp để chịu bắt. Pháp đưa Duy-Tân về giữ ở đồn Mang-Cá. Khâm sứ Pháp ở Huế và toàn quyền Pháp của Đông-Dương, thuyết phục vua trở lại ngai vàng, nhưng nhà vua từ chối, nói: Các ông bắt tôi phải làm vua, nhưng các ông lại không coi tôi như một ông vua.

Trần Cao Vân, Thái Phiên, Tôn Thất Đệ và Nguyễn Quang Siêu bị còng tay dẫn về Huế tống giam. Cả 4 vị bị chém ngày 16 tháng 5, 1916 tại An-Hoà, gần Huế. Tại các tỉnh cũng xẩy ra nhiều vụ xử tử và tù tội. Hàng mấy trăm người bị đầy đi Côn-Đảo và Lao-Bảo. Các tỉnh khác hưởng ứng chậm thì ít bị đàn áp.

VUA DUY-TÂN VỚI BẢN ÁN LƯU ĐẦY:

Pháp buộc triều đình phải xử án vua Duy-Tân, và triều đình đã ủy nhiệm Hồ-Đắc-Trung thảo bản án.

Mặt khác, lúc trong ngục, Trần-Cao-Vân lo cho vua bị sát hại. Ông viết thư (Trên giấy cuộn thuốc hút), trần tình với Hồ-Đắc-Trung, ông nhận lãnh hết công việc bạo động và khẩn khoản Hồ-Đác-Trung tìm cách cứu vua. cuối thư ông viết: Trung là ai? Nghĩa là ai? Cân đai võng lọng là ai? Thà để cô thân tử biệt! Trời còn đó, đất còn đó, xã tắc sơn hà còn đó, mong cho thánh thượng sinh toàn!

Sư bà Diệu-Không thuật lại lời khai của vua Duy-Tân khi bị Pháp chất vấn:

Trần-Cao-Vân: 1866 – 1016
Một trong những lẵnh tụ của VN Quang-Phục-Hội

Hỏi: Ngài nghĩ sao về mảnh giấy này của ông Trần-Cao-Vân?

Đáp: ông Trần-Cao-Vân làm chuyện lớn không thành, sợ tội tử hình, nên thư cầu cứu ông Hồ-Đắc-Trung (Lúc này Duy-Tân cũng không biết mảnh giấy Trần-Cao-Vân đã viết gì).

Hỏi: Vì lẽ gì ông Trần-Cao-Vân lại tin cậy Hồ-Đắc-Trung mà chuyển thư này cho ông ấy?

Đáp: Vì ông Hồ-Đắc-Trung hay thương người, cứu người, như ông đã cứu 42 nhà cách mạng ở tỉnh Quảng-Nam năm 1908, lúc ông đang làm tổng đốc ở đây.

Hỏi: Vì lẽ gì trước kia ngài lại từ hôn với tiểu thơ nhà họ Hồ?

Đáp: Vì tôi thương gia đình ông ấy, sợ gia đình ông ấy bị liên lụy. Hơn nữa các đồng chí của tôi khuyên tôi nên tránh xa gia đình ấy để bảo mật cho đại cuộc.

Hỏi: Ngài có bảo đảm là ông Hồ-Đắc-Trung vô tội trong vụ bạo loạn này không?

Đáp: Tôi hoàn toàn bảo Đảm cho ông ấy.

Thế là mấy ngày sau thân sinh tôi được Pháp trả tự do. Triều đinh tiếp tục ủy nhiệm thân sinh tôi thảo bản án nhà vua.

Nội dung bản án:

Vua Duy-Tân còn nhỏ tuổi, tuy rất thông minh, nhưng còn cạn nghĩ. Bị những người mưu phản khích thích lòng ái quốc nên nghe theo. Nếu đúng tuổi trưởng thành thì tội ngài là nặng. Song Ngài còn vị thành niên, tưởng không đáng trách mà nên thương tình! Về phía chính phủ bảo hộ thì Ngài có tội phản nghịch, nhưng về phía chính phủ Nam Triều, ngài là một ông vua rất thương dân và được lòng dân. Như vậy xét về tội thì Ngài có tội với chính phủ bảo hộ. Còn đối với nhân dân Việt-Nam thì Ngài không có tội gì cả. Vậy nên xét tình mà truất phế Ngài và để Ngài được trở về với ngôi vị hoàng tử như trước. Như vậy lòng dân mới không oán than chinh phủ Pháp là khắc nghiệt.

Bản án được Pháp đồng ý, nên tuy bị đi đầy ở đảo La Réunion, gần Phi-Châu, Ngài vẫn giữ tước vị hoàng tử. Ở đảo La Réunion, Duy-Tân học vô tuyến điện, mở tiệm bán và sửa radio. Ngài cũng học văn hóa và thi tú tài ở đây. Ngài đã viết nhiều bài cho tờ Le Peuple (Nhân Dân) và tờ Le Progrés (Tiến Bộ). Trong bài “Varíations Sure Une Lyre Briées” (Những Biến Tấu Của Một Cây Thất-Huyền-Cầm Gẫy Vỡ) đã được giải nhất văn chương của Hàn-Lâm-Viện khoa học và văn chương La Réunion năm 1924.

 

Vua Duy Tân lúc ở đảo re’union

 

 

 Đi đầy, Ngài đưa theo đệ nhất vương phi Mai-Thị-Vàng khi bà có thai 3 tháng, nhưng rồi hư thai. Ở đây được 2 năm, bà đòi về Việt-Nam, vì không chịu khí hậu ở đây. Sau nhiều năm xa cách hoàng phi, năm 1925, Duy-Tân gửi về Việt-nam một đơn xin ly dị và một thơ cho hội đồng hoàng tộc xin chấp thuận để bà Vàng đi lấy chồng khác, khi bà ở tuổi 27. Nhưng bà Vàng không chịu ly hôn và nhất định thủ tiết cho đến khi mất ở tuổi 75.

Khi còn sống bà thường ngâm:

Gìn vàng giữ ngọc cho trong, cho vừa lòng Kẻ chân mây cuối trời!. Hay:
Dù đá có nát, nhưng vàng chẳng phai. Thủy trung, trung thủy, vẫn giữ lấy lời thủy trung!

Sau khi hoàng phi về Việt-Nam, Duy-Tân lần lượt sống với 3 phụ nữ Pháp không hôn thú (Vì bà Vàng không chịu ly hôn). Bà thứ nhất hơn Ngài 10 tuổi, có 1 con trai. Bà thứ 2 kém Ngài 13 tuổi, có 4 trai, 4 gái. Bà thứ 3 kém Ngài 24 tuổi có 1 con gái. Như vậy Duy-Tân có tất cả 10 con – 5 trai, 5 gái. Một trong những người con trai có tên là Yves Claude / Bảo-Vang. Vào tháng 4, 1987, Bảo-Vang đã mang di hài vua cha Duy-Tân từ Trung-Phi về Huế, và an táng tại An-Lãng, cạnh vua cha Thành-Thái. Bảo-Vang cưới bà Jessy Tarby, có 10 con – 7 trai, 3 gái, hiện đang sinh sống tại Nha-Trang, Khánh-Hoà, VN.

DUY-TÂN TRỞ THÀNH QUÂN BÀI LỚN CỦA DE GAULLE:

Tướng Charles De Gaulle
1890 – 1970
Tổng Thống Pháp: 1958 – 1969

Khi De Gaulle còn ở cấp tướng, ông đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng của nước Pháp. Sau khi đắc cử tổng thống năm 1958, De Gaulle đã trao trả độc lập cho 13 thuộc địa của Pháp ở Phi-Châu. Năm 1969 ông từ chức tổng thống khi có những cuộc biểu tình của sinh viên chống chính phủ ông, và ông qua đời năm 1970.

Khi quân Anh vào Việt-Nam (dưới vĩ tuyến 16) để giải giới quân Nhật, và lúc này cũng là lúc Pháp đã thành công việc đánh đuổi Đức-Quốc-Xã ra khỏi nước Pháp, De Gaulle liền nghĩ ngay đến Đông-Dương, một cựu thuộc địa của Pháp. Lợi dụng lúc này, De Gaulle đã gửi quân Pháp theo chân quân Anh để trở lại Đông-Dương. Khi Pháp đã vào được Đông-Dương, Duy-Tân trở thành quân bài lớn của De Gaulle. De Gaulle gặp Duy-Tân, và đã yêu cầu Ngài trở lại ngôi hoàng đế Việt-Nam, ba miền Trung, Nam, Bắc thống nhất dưới một chính phủ độc-lập, tự-do, và tự tổ chức nền kinh tế của mình. Pháp tạm đảm trách việc phòng thủ biên cương cho Việt-Nam trong một thời hạn nào đó. Như vậy để bớt gánh nặng cho VN phải tạo lập một quân đội khi mà Việt-Nam chưa đủ khả năng để duy trì và tăng trưởng nó.

Ở đây, tưởng cũng nên nhắc qua sự “thành công” của tướng De Gaulle, việc ông chống lại chính phủ Vichy đã đầu hàng và cam làm tay sai cho phát xit Đức. Nhân Lúc này, đã có nhiều thanh niên Pháp và tàn binh của chính phủ Vichy chạy ra nước ngoài. Riêng tại Anh quốc đã có gần 10 ngàn người chạy sang đây. De Gaulle cũng sang đây, ông nhờ đài phát thanh BBC London để kêu gọi tất cả thanh niên Pháp đang ở ngoài nước và trong nước hãy đoàn kết cùng ông thành “Lực Lượng Giải Phóng Quốc Gia” (National Libération Force”. Và ông đã thành công ngoạn mục. Lời kêu gọi hữu hiệu nhất của De Gaulle là: Nous avons perdu une bataille, mais nous n’avons pas perdu la guerre (chúng ta đã thua một trận đánh, nhưng chúng ta chưa thua cuộc chiến).

Lúc này, De Gaulle trở thành “thần tượng”, và là “hình mẫu” cho hoạt động cứu nước của Duy-Tân. Duy-Tân cũng đã ủng hộ De Gaulle bằng cách dùng vô tuyến điện của mình để thâu thập tin tức từ bên ngoài rồi chuyển cho lực-lượng giải-phóng Quôc-Gia của De Gaulle. Vụ này bị tiết lộ, Duy-Tân bị tù 6 tuần lễ. Vì chinh quyền La Réunion lúc đó thuộc chính quyền Vichy (đang là tay sai của Dức).

Sau khi gặp De Gaulle, Duy-Tân nói chuyện với một số Việt kiều và du học sinh tại Pháp: Người Pháp đã công nhận chúng ta là một quốc gia độc lập trong Liên-Hiệp-Pháp. Điều này không trái với quyền lợi hiện tại của quốc gia. Dần dà ta sẽ đòi thêm quyền hạn. Chúng ta biết làm gì hơn trước binh lực hùng mạnh của Pháp. Chúng ta đã thấy gương chống Pháp, mà tôi đây là nạn nhân của một lối chống nóng nẩy, vụng về.

Tôi nghĩ rằng tôi sẽ làm tròn bổn phận khi mà tôi có thể làm cho người nông dân ở Lạng-Sơn, người nông dân ở Huế và người nông dân ở Cà-Mâu, ý thức được tình huynh-đệ của họ. Tình huynh-đệ ấy, nghĩa hợp-quần ấy được thực hiện dưới bất cứ thể chế nào: tự-do, cộng-sản hay bảo-hoàng . . . điều đó không quan trọng. Điêu quan trọng là phải cứu được dân tộc Viêt-Nam khỏi cái họa phân chia.

Tướng Charles De Gaulle đã gặp Duy-Tân và quyết định sẽ đích thân đưa Duy-Tân hồi loan vào đầu tháng 3, 1946. Nhưng chẳng may Duy-Tân tử nạn máy bay ngày 26 tháng 12, 1945 (Tức 12 ngày sau khi gặp De Gaulle). Câu hỏi: tử nạn hay mưu sát? Vì người bạn thân của Duy-Tân tên Thébault cho biết, 10 ngày trước khi rời Paris về thăm vợ con ở đảo La Réunion, Duy-Tân có tiết lộ: Tôi có linh cảm tính mạng bị đe dọa. Vì nước Anh chống lại việc tôi trở về Việt-Nam. Họ sợ các thuộc địa Anh sẽ nổi lên đòi quyền độc lập và tự trị. Họ đề nghị tặng tôi 30 triệu quan, nếu tôi từ bỏ ý định này.

Thời gian ở đảo La Réunion, Duy-Tân đã nhiêu lần xin qua cư ngự tại Pháp, nhưng đều bị từ chối. Sau này khi hồ sơ lý lịch của Duy-Tân được giải mật mới biết, bộ trưởng bộ thuộc địa Pháp đã ghi trong hồ sơ Duy-Tân rằng: . . parait difficile à acheter, extrêmement indépendent . . . intrigue pour quitter La Réunion et rétablissement trône l’annam. ( . . . Có vẻ khó thuyết phục, hết sức đôc lập . . . có mưu đồ rời khỏi đảo La Réunion và để tái lập ngôi báu ở Viêt-Nam).


Vua Hàm-Nghi: 1872 – 1943
Trị Vì: 1884 – 1885

BỐI CẢNH LỊCH SỬ THỜI PHÁP ĐÔ HỘ:

Vua Kiến-Phúc mất năm 1884, triều đình đưa em là hoàng tử Ưng-Lịch 12 tuổi lên ngôi, vương hiệu Hàm-Nghi. Khâm sứ Pháp ở Huế bấy giờ là Rheinart, khiển trách triều đình ta đã tự ý đứa Hàm-Nghi lên ngôi mà không xin phép người Pháp trước. Pháp cử đại tá Guerrier đem 600 quân và đội pháo binh hùng hậu vào Huế bắn thị uy. Triều đình ta phải thương lượng để làm lễ tân phong Hàm-Nghi lại và mời Rheinart cùng Guerrier tới dự, Pháp mới bằng lòng và rút quân cùng đội pháo binh ra Hà-Nội.

Điều này khiến triều đình ta rất bất mãn, muốn tổ chức kháng chiến chống chống Pháp. Nhưng nội bộ lại chia rẽ: bên “hoà”, bên “chiến”. Bên muốn “hoà” để được yên ổn có Trần-Tiến-Thành, Nguyễn-Hữu-Độ . . . Bên muốn “chiến” để giữ chủ quyền có Tôn-Thất-Thuyết, Nguyễn-Văn-Tường . . .

Bên “chủ chiến” với danh nghĩa “phù chánh kháng Pháp” đã hạ nhóm “chủ hoà”. Từ đó những phong trào kháng Pháp do Tôn-Thất-Thuyết cổ võ và ngầm yểm trợ đã nổi lên nhiều nơi.

Tướng De Courcy từ Hà-Nội đem 1,000 quân vào Huế, nói để hội thảo với triều đình ta, nhưng ngụ ý để bắt Tôn-Thất-Thuyết. T.T.Thuyết biết ngầm ý của Pháp nên nói ốm không đi dự hội nghị. Tướng De Courcy ra lệnh: “Ốm cũng phải nằm cáng mà tới!” Tôn-Thất-Thuyết vẫn không tới, tướng De Courcy quyết định sẽ vây bắt T.T.Thuyết vào sáng ngày 6 tháng 7, 1885. Nhưng T.T.Thuyết biết trước nên đã ra lệnh cho nghĩa binh ta tấn công đồn Mang-Cá và sứ quán Pháp ở Huế lúc 1 giờ sáng hôm ấy. Cuộc tấn công quá gấp rút, thiếu chuẩn bị nên thất bạI dễ dàng!

Tôn-Thất-Thuyết đưa vua Hàm-Nghi rời khỏi hoàng thành, xuống “Hịch” cần vương, dựng cờ kháng Pháp. Văn nhân, nghĩa sĩ nhiều nơi hưởng ứng. Nhưng những hoạt động của ta rời rạc, không thống nhất, không đồng loạt, nên từng nhóm, từng nhóm, đều bị tiêu diệt! Cuộc kháng chiến bị tan rã và chấm dứt khi tướng Phan-Đình-Phùng chết lúc ông đang lãnh đạo cuộc nổi dậy ở Hương-Khê, tỉnh Hà-Tĩnh năm 1895.

Khi vua Hàm-Nghi ra khỏi hoàng thành, 3 năm sau Pháp mua chuộc được Trương- Quang-Ngọc và Nguyễn-Đình-Trình (cựu cận vệ của vua Hàm-Nghi), Pháp đã bắt được vua Hàm-Nghi ngày 1 tháng 11, 1888 và đầy đi Algérie. Ở Algérie, Pháp dành cho Ngài một biệt thự khá tiện nghi, tên “Villa Des Pins” (Biệt Thự Đồi Thông). Ở đây, cũng vì mang nặng tình cố quốc nên mỗi khi có các viên chức chính quyền hay văn nhân địa phương tới thăm viếng, Ngài luôn khăn đống áo dài thâm ra tiếp khách.

Sau một thời gían lưu đầy, Hàm-Nghi nhận ra người Pháp ở đây không đáng ghét như người Pháp thực dân ở quê nhà. Hàm-Nghi thay đổi quan điểm. Ngài bắt đầu học tiếng Pháp và Ngài học rất mau.

Năm 1904, Hàm-Nghi ở tuổi 32 cưới bà Marcelle Laloe 20 tuổi gốc Pháp, con gái chánh án toà Alger (Alger là thủ-đô của Algérie) Ngày Cưới, Hàm-Nghi cũng khăn đống áo dài thâm đóng vai chú rể. Bà Laloe lần lượt sanh cho Ngài 3 người con 2 gái, 1 trai đều mang tên Việt-Nam: Như-Mai, Như-Ly và Minh-Đức. Lớn lên đều được giáo dục tại Pháp. Sau này công chúa Như-Lý kết hôn với một quý tộc Pháp, trở thành bà bá tước De La Besse, cùng chồng sống tại lâu đài De La Nauche, làng Chabrignac, Hoàng tử Minh Đức thì vào trường võ bị “Saint Cyr” – một trường sĩ quan nổi tiếng của Pháp (Tương tự như trường “West Point“ của Hoa Kỳ). Minh-Đức đã phục vụ trong quân đội Pháp 10 năm. (Thời Pháp đô hộ VN, nhiều sĩ quan ngườI Việt đã tốt nghiệp tại trường này).

 

Vua Đồng-Khánh: 1864 – 1889
Trị Vì: 1885 – 1889

 
 

Khi vua Hàm-Nghi ra khỏi hoàng-thành năm 1885, Pháp đưa hoàng tử Ưng-Kỷ lên ngôi vương hiệu Đồng-Khánh.

Việt-Nam đã bị chia làm 3 mảnh có đời sống và thể chế riêng biệt, như: Nam-Kỳ là “thuộc địa”, mọi thể chế và đời sống giống như mẫu quốc Pháp. Bắc-Kỳ “gần như là thuộc địa” và Trung-Kỳ là “bảo-hộ” (Vì nơi đây có nhà vua). Nhưng người Pháp đã áp dụng chế độ “thuộc-địa” và “bảo-hộ” bằng một chế độ “trực-trị” rất hà khắc.

Đồng-Khánh lên ngôi còn phải ký nhượng cho Pháp mọi quyền hành ở 3 thành phố quan trọng là Hà-Nội, Hải-Phòng và Đà-Nẵng, nên 3 thành phố này cũng trở thành 3 thành phố có thể chế như Nam-Kỳ và mẫu quốc Pháp. Sau khi Nhật đảo chánh Pháp, Ba thành phố này đã được toàn quyền Tsuchihashi (Nhật) trao trả cho chính quyền Trần-Trọng-Kim ngày 20 tháng 7, 1945 và trao trả Nam-Kỳ ngày 8 tháng 8, 1945.

Bốn năm sau Đồng-Khánh mất, Pháp đưa hoàng tử Bửu-Lân 10 tuổi lên ngôi, vương hiệu Thành-Thái.

Vua Thành-Thái: 1879 – 1955
Trị Vì: 1889 – 1907

Lớn lên, Thành-Thái có nhiều bất mãn và hay chống đối người Pháp. Có lần Ngài không chịu phê chuẩn một danh sách các quan chức Việt-Nam do khâm sứ Pháp Lévêque chọn. Từ đó Pháp càng khó khăn và kiểm soát Thành-Thái nhiều hơn, làm cho Thành-Thái càng bất mãn nhiêu hơn. Trước mặt người Pháp, Thành-Thái hay nóng giận, lớn tiếng. Lúc khác lại tỏ ra bất cần và thờ ơ như người đãng trí, mất trí. Dịp này Pháp đổ cớ nhà vua điên và buộc các quan trong triều dâng “Biểu” yêu cầu vua thoái vi. Tất cả các quan đều ký “Biểu”, riêng Ngô-Đinh-Khả (Thân sinh Ngô-Đình-Diệm) không chịu ký, Pháp lại áp lực triều đình cho Ngô-Đinh-Khả nghỉ hưu sớm không lương, viện cớ ngài xây thánh đường không xin phép. Ngô- Đình-Khả về sống ẩn tại nguyên quán xã Đại Phong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Sau này Thành Thái cũng bị đi đầy cùng với Duy-Tân ở đảo La Réunion, khi Pháp biết Ngài đã liên lạc với VN Quang Phục hội.

Khi Duy-Tân và Thành-Thái đi đầy, Pháp đưa hoàng tử Bửu-Đảo lên ngôi, vương hiệu Khải-Định.

Vua Khải-Định: 1885 – 1925
(Và toàn-quyền Albert Sarraut)
Trị Vì: 1916 – 1925

Sư bà Diệu-Không tiếp: Sau này thân sinh tôi gả chị tôi cho vua Khải-Định nên vẫn được tin dùng như trước. Tuy được gả cho vua mới , nhưng tình người con gái vẫn còn lưu luyến mối tình đầu với vua cũ không nguôi!

Năm 1922, Khải-Định và hoàng tử Vinh-Thụy qua Pháp để thưởng ngoạn cuộc triển lãm hàng hóa tại Marseille. Dịp này, Khải Định có đòi hỏi Pháp phải cho người Việt được tham gia chính trị nhiều hơn. Nhưng không kết quả gì!. Chuyến đi này, hoàng-tử Vĩnh-Thụy (Bảo-Đại) được cựu khâm-sứ Francois Charles nhận là con nuôi cho ăn học tại một trường trung học (Lycée Condorcet) và 2 năm trường Khoa-Học Chính-Trị (École des Sciences Politiques) ở Paris.

Năm 1925, vua khải Định mất, Duy-Tân từ đảo La Réunion gửi về 2 câu điếu: Ông vội bỏ đi đâu? Bỏ tiền, bỏ bạc, bỏ vợ, bổ con, bỏ thày tu hát bội, bỏ tất cả trần duyên trong một lúc! Tôi may còn lại đây! Còn trời, còn đất, còn nước, còn non, còn anh hùng hào kiệt, còn nhiều “vận-hội” giữa năm châu!

Khải Định mất, Pháp đưa hoàng tử Vĩnh-Thụy 12 tuổi (Đang học ở Pháp) lên ngôi, vương hiệu Bảo-Đại. Sau khi lên ngôi, Bảo-Đại trở lại Pháp tiếp tục học. Cho đến năm 1932, khi Bảo-Đại 19 tuổi mới trở về Việt-Nam và chính thức làm việc với tư cách một ông vua.

Vua Bảo- Đại: 1913 – 1997
Trị Vì lần thứ I: 1926 – 1945
Và lần thứ 2: 1949 – 1955

Bảo-Đại đã sắp xếp lại việc triều chính, thay đổi một số thượng thư già yếu. Hủy bỏ một số tạp tục, như thần dân không phải quỳ lậy mà được ngước nhìn khi nhà vua đi tới, quan Ta không phải quì lạy, mà chắp tay vái. Quan Tây không phải chắp tay vái mà bắt tay nhà vua. Các địa phương không phải dâng hiến gái đẹp cho nhà vua.

THẾ CHIẾN 2 VỚI NHIỀU BIẾN ĐỔI:

 

- Nhật đảo chánh Pháp ở Đông Dương. Mặc dù quân Nhật đã đổ bộ vào Việt-Nam từ năm 1940, nhưng cuộc đảo chánh mãi đến 7 giờ tối ngày 9 tháng 3, 1945; mới bắt đầu (tức lúc dân Hà-Nội bắt đầu nghe tiếng súng), đến 7 giờ sáng ngày 10 tháng 3, 1945 (tức lúc hết nghe tiếng súng), do đô đốc Decoux, toàn quyền Pháp ở Đông- Dương chịu đầu hàng. Cuộc đảo chánh kéo dài 12 tiếng đồng hồ, nhưng không ai biết về “tử thương” và “bị thương” của hai bên.

- Lăm tháng sau, tức 15 tháng 8, 1945; Nhật-Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng-Minh, sau khi bị 2 trái bom nguyên tử lên đảo Hiroshima ngày 6 tháng 8, 1945; và đảo Nagasaki ngày 9 tháng 8, 1945.

- Việt-Minh thành công cuộc cách mạng 19 tháng 8, 1945; Cuộc cách mạng không đổ một giọt máu, vì một bên không chống lại và vua Bảo-Đại, cùng thủ tướng Trần-Trọng-Kim đã từ chối đề nghị của tư lệnh quân đội Nhật giúp chống lại Việt-Minh. Và ngày này trở thành một trong những ngày lễ lớn của đảng Cộng Sản VN (Coi thêm*).

- Hoàng đế Bảo-Đại bị ép thoái vị ngày 25 tháng 8, 1945. Lễ chính thức thoái vị và trao quốc ấn cùng thanh kiếm bạc nạm ngọc cho đại diện chính phủ Việt-Minh ngày 30 tháng 8, 1945. Sau khi thoái vị, Bảo-Đại mới biết Hồ-Chí-Minh là Nguyễn-Áí-Quốc, và Bảo-Đại đã thốt lên câu: ”Ca vaut biên le coup alors” (như thế thì củng đáng thoái vị). Phải chăng do lời nói “đẹp” này của Bảo-Đại mà ít ngày sau ông được mời làm cố vấn tối cao cho chính phủ lâm thời?

- Tháng 3, 1946; nhân dịp tham dự phái đoàn thăm viếng Trung-Hoa, nhưng sau đó Bảo-Đại không về nước, và Ngài bắt đầu sống lưu vong ở Côn-Minh, Hương-Cảng rồi Hồng-Kông. Ở nơi đây có nhiều giới chức chính trị Pháp, Mỹ và Việt gặp Ngài để rồi có ngày Ngài lên ngôi lần thứ hai.

- Duy-Tân tử nạn, nên tướng De Gaulle cũng thất bại việc đưa Duy-Tân trở lại ngôi hoàng đế Việt-Nam vào đầu tháng 3, 1946. Cho đến 3 năm sau, tức tháng 3, 1949; tổng thống Pháp Vincent Auriol cùng cựu hoàng Bảo-Đại đã ký một hiệp ước ở điện Elysée (dinh tổng thống Pháp) việc thành lập một chính phủ Việt-Nam trong Liên-Hiệp-Pháp gọi là “Quốc-Gia Việt-Nam” (État Du Việt-Nam).

*Nói thêm về ngày 19 tháng 8, 1945: Tôi (Người viết) ngày ấy còn nhỏ, không biết gì về chính trị, và các đảng phái. Nhưng những năm sau, ông Thân-Sinh tôi kể chuyện với bạn bè ông, mà tôi nghe được. Ông kể: Ngày 19 tháng 8, 1945; là ngày Quốc-Dân-Đảng tổ chức và mời đảng Cộng-Sản tham dự với tình ‘’Huynh Đệ’’ trong cùng một nước. Vì trước đó cả hai đảng: Quốc-Dân-Đảng và Cộng-Sản-Đảng đều biết đến sự hiện diện của nhau trong cùng một nước, và có cùng một mục đích chống ngoại xâm.

Ngày ấy, người của Quốc-Dân-Đảng chuẩn bị không nhiều. Chỉ thực hiện một khán đài và bài diễn văn để tuyên bố ngày “Độc-Lập của Việt-Nam“. Nhưng đảng Cộng-Sản (được mời) thì chuẩn bị nhiều và rất chu đáo. Khi cuộc mit ting bắt đầu, người của đảng Cộng-Sản lên ‘’dành’’ khán đài, cờ đỏ sao vàng dâng cao, biểu ngữ tung ra, khẩu hiệu hô lớn. Những người của Quốc-Dân-Đảng bị dành khán đài quá bất ngờ, nên không kịp có phản ứng gì. Bởi vậy cuộc mit ting trở thành của đảng Cộng-Sản – mà họ gọi đó là cuộc ‘’Cách-Mạng’’. Dân chúng ngày ấy chỉ thấy cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ, khẩu hiệu và diễn văn đều là những danh từ của đảng Cộng Sản. Đặc biệt lần đầu tiên, sau 1000 năm đô hộ bởi người Tầu, 100 năm đô hộ bởi người Tây, dân chúng VN được nghe những danh từ: Dân Chủ, Cộng Hòa, Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc . . . là những danh từ rất hấp dẫn và lôi cuốn sự quan tâm, chú ý của mọi người dân – mà họ gọi đó là một “Thành Công”. Gọi tóm tắt là: “Cách-Mạng Thành-Công”.

Khi lớn lên, tôi (người viết) mới biết ông Thân Sinh tôi là một đảng viên Quốc-Dân-Đảng. Và nhớ lại từ sau ngày 19 tháng 8 ấy; ông sống trong trạng thái bồi hồi, âu lo. Tôi thắc mắc nhưng không giám hỏi. Sau này tôi được biết, tất cả đảng viên Quốc Dân Đảng, không thân thiện với chính quyền mới đều bị thủ tiêu hay hành hạ. Ông Thân Sinh tôi bị cảnh cáo (có lẽ nhờ bên ngoại. Nhưng ông Chú ruột tôi bị làm nhục bằng cách dẫn trên đường phố và giới thiệu với đồng bào bằng những lời khó nghe! (nhưng đồng bào hiểu và thông cảm).

Về những toán OSS ( Office of Strategic Services / Sở Công-Tác-Chiến-Lược / Là tiền thân của Trung-Ương-Tỉnh-Báo CIA). Ngày 16 tháng 7, 1945; một toán OSS 7 người đã nhẩy dù xuống biên giới Việt-Hoa, rồi di chuyển xuống Tân-Tạo, tỉnh Thái-Nguyên. Họ tìm gặp ông Hồ-Chí-Minh, rồi huấn luyện quân sự và yểm trợ cho những lực lượng của ông Hồ.

Hai tuần sau ngày “Cách-Mạng Thành- Công”, một cuộc mit ting ở Vườn-Hoa Ba-Đình (Sau gọi là Quảng-Trường Ba-Đình), ông Hồ-Chí-Minh lên diễn đàn đọc bản “Tuyên Ngôn Độc Lập”. Theo thiếu tá Archimedes Patti (người chỉ huy nhiều toán OSS), đã gặp ông Hồ-Chí-Minh nhiều lần, đã nói chuyện với tướng Võ-Nguyên-Giáp và tướng Chu-Văn-Tấn. Và đã giúp cho ông Hồ việc soạn thảo bản “Tuyên Ngôn Độc Lập” mà ông Hồ đọc ngày 2 tháng 9, 1945. Vì thế trong bản tuyên ngôn này, đoạn đầu có những câu đã có trong bản Tuyên-Ngôn Độc-Lập của Hoa-Kỳ, đọc ngày 4 tháng 7 (Fourth July), 1776 tại Philadelphía. Những câu đó là: Tất cả mọi người sanh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

It ngày, sau khi đọc bản Tuyên-Ngôn-Độc-Lập, ông Hồ-Chí-Minh mới xác nhận với thiếu tá Allison Kent Thomas (Một trong những trưởng toán OSS) rằng, ông là người của “cộng sản quốc tế”. Từ đó ông Hồ thay đổi tư tưởng và hoạt động nghiêng hẳn về công sản. Nên Mỹ cũng chấm dứt việc huấn luyện và yểm trợ cho những lực lượng của ông Hồ, mà Mỹ yểm trợ mạnh mẽ cho Pháp ở Đông-Dương. Từ đó người ta thấy rất nhiều quân dụng và lương thực . . . mà quân đội Pháp dùng ở Đông-Dương đều có nhãn hiệu “USA”.

Bảo-Đại lên ngôi hoàng đế lần thứ 2: Ngài về nước tháng 4, 1949. Thời gian này, Ngài làm việc tại một biệt điện ở Đà-Lạt. Xung quanh nơi Ngài ở và làm việc, có một trung đoàn ngự-lâm-quân bảo vệ. Từ năm 1949 đến năm 1954, Bảo-Đại đã thay đổi 6 đời thủ tướng: Thủ tướng Nguyễn-Văn-Xuân, Nguyễn-Phan-Long, Trần-Văn-Hữu, Nguyễn-Văn-Tâm, Hoàng-Thân Bửu-Lộc và Ngô-Đình-Diệm.

 

Thủ tướng Ngô-Đình-Diệm là người đã chấm dứt Triều Nguyễn bắt đầu từ năm 1802, thời vua Gia-Long, và lối tiếp gồm 13 đời vua.

Ngô-Đinh-Diệm thành lập và cải tổ chinh phủ từ tháng 9, 1954. Trong thời kỳ đầu, thủ tướng Diệm không có thực quyền đối với quân đội do trung tướng Nguyễn-Văn-Hinh, tổng tư lệnh. Không những tướng Hinh không chịu dưới quyền thủ tướng Diệm, mà cả bộ máy quan chức dân sự của thủ tướng Diệm cũng tỏ ra không phục tùng ông, vì các viên chức Pháp còn nhiều, họ

Ngô-Đình-Diệm: 1901 – 1963
Thủ Tướng: 6/1954 – 10/1955
Tổng Thông: 10/1955 – 11/1963

nắm giữ các chức vụ quan trọng. Trung tướng Nguyễn Văn Hinh còn cấu kết với lực lượng Lê-Văn-Viễn (Bẩy-Viễn) chống lại chính phủ trung ương. Tướng Hinh báo cáo cho Bảo-Đại ở Pháp về những bất phục tùng của ông đối với Ngô-Đình-Diệm. Bảo Đại điện gọi ông Diệm sang Pháp trình bầy. Nhưng thủ tướng Diệm coi tướng Hinh là vấn đề của Việt-Nam, phải giải quyết tại Việt-Nam, và ông từ chối đi Pháp. Bảo-Đại liền điện về cách chức thủ tướng Diệm. Đáp lại: Ngày 4 tháng 10, 1955; thủ tướng Diệm thành lập một ủy ban “Trưng Cầu Dân Ý”. Ủy ban này họp và quyết định tổ chức bỏ phiếu truất phế Bảo-Đại vào ngày 23, tháng 10, 1955. Kết quả được công bố ngày 26 tháng 10, 1955 với gần 6 triệu phiếu “Truất Phế Bù-Nhìn Bảo-Đại” và suy tôn Ngô-Đinh-Diệm lên tổng thống của nền đệ nhất cộng hòa. Từ đó, ngày 26 tháng 10, gọi là ngày “Quốc-Khánh / Tết Độc-Lập”.

Từ khi vua Bảo-Đại bị truất phế, Ngài sống lưu vong, nay đây mai đó trên nước Pháp. Gọi là lưu vong, nhưng thực sự khi còn tại chức, Ngài đã luôn sống tại Pháp. Lúc này, Ngài sống rất phóng túng, hoang phí và không đoái hoài gì đến gia đình – vợ con.

Thời kỳ này cũng là thời kỳ bức xúc nhất của Nam Phương Hoàng Hậu. Bà muốn xa lánh kinh thành ánh sáng Ba-Lê, và cũng

Nam-Phương Hoàng-Hậu
Nguyễn-Hữu-Thi-Lan/Marie Thérèse
1926 – 1963

 

để tránh mặt giới báo chí cùng những người quen biết. Năm 1958, bà mua điền trang La Perche 160 mẫu tây, với ngôi nhà xây đá, lợp ngói, gồm 36 phòng. Ở đây bà nuôi thêm 100 con bò sữa.

Một chuyện không định mà sẩy ra. Hai bà hoàng của cuối triều Nguyễn từ đất nước

Annam xa xôi, lại ngẫu nhiên trở thành “láng giềng” ở một miền quê hẻo lánh nhưng thơ mộng của Pháp quốc – điền trang La Perche

(của NPHH) nằm cạnh lâu đài De La Nauche (của công chúa Như-Lý). Một điều lạ khác: Công chúa Như-Lý, trên quan hệ bà là cô chồng của Nam-Phương Hoàng-Hậu (Cô Bảo-Đại). Là cô cháu, là láng giềng trong suốt 5 năm, nhưng hai bà không một lần gặp mặt thăm hỏi! Năm 1963, Nam-Phương Hoàng-Hậu bị chứng viêm cuống họng cấp tính, bà nghẹt thở và đột ngột qua đời ở tuổi 49. Thi hài bà cũng được an táng tại nghĩa trang của dòng họ De La Besse. Lúc sinh tiền, hai cô cháu không một lần thăm hỏi! Nhưng “nghĩa tử là nghĩa tận”, nên đám tang của Nam Phương Hoàng Hậu, cũng có mặt công chúa Như-Lý trong dòng người đưa đám.

(Người Viết mong sau này có dịp sẽ viết về “Cuộc Đời và Cuộc Tình” của Nam Phương Hoàng Hậu).

Sau này công chúa Như-Lý đã cải táng vua cha Hàm-Nghi từ Algérie về nghĩa trang này. Rồi hài cốt công chúa Như-Mai (Chị Như-Lý) và hoàng tử Minh-Đức (Em trai Như-Lý) cũng lần lượt được đưa về đây. Năm 2000, công chúa Như-Lý đã có kế hoạch cải táng vua cha Hàm-Nghi và các thành viên của triều Nguyễn ở đây về Huế, Việt-Nam, nhưng chưa kịp thực hiện thì năm 2005, công chúa Như Lý cũng qua đời. Nghĩa trang của gia đình De La Besse, làng Charbrignac, xa xôi hẻo lánh, cách Paris 500 km, hướng cực Tây-Nam Pháp quốc, không định mà trở thành “nơi an nghỉ” của một bộ phận thuộc hoàng tộc triều Nguyễn Việt-Nam.

CUỘC ĐỜI DUY-TÂN ĐÃ BAO LẦN DANG DỞ?

- Dang dở vì đã hy sinh mối tình đầu để tránh mối họa có thể sẩy ra cho gia đình người mình yêu!

- Dang dở vì đã hy sinh ngai vàng của mình cho tiền đồ đất nước.

- Dang dở vì một tai nạn (hay mưu sát) để mất đi cơ hội trở về phục vụ quốc dân!

Vài Giai-Thọai Về Duy-Tân:

- Một hôm vua Duy-Tân ra bến Phú-Vân-Lâu câu cá, có thượng thư Nguyễn-Hữu-Bài đi cùng. Ngồi lâu không có cá cắn câu. nhà vua buồn, bèn xuất khẩu một câu đối cho Nguyễn-Hữu-Bài:

- Ngồi trên nước không cầm được nước, trót buông câu nên lỡ phải lần”.

Thượng thư Nguyễn-Hữu-Bài suy nghĩ một hồi lâu mới đáp:

- Nghẫm việc đời mà ngán cho đời, đành nhắm mắt tới đâu hay đó”.

- Duy-Tân có lần phê phán Nguyễn-Hữu-Bài là người cam chịu số mệnh. Nhà vua nói, theo ý trẫm sống như thế buồn lắm! Sống phải có ý chí vượt khó khăn, gían khổ thì đời mới có ý nghĩa!

- Ngày 5 tháng 12, 1992; thành phố Saint Denis, đảo La Réunion (nơi Duy-Tân / Vĩnh-San, đã bị đầy 29 năm), khánh thành một đại lộ được mang tên “Đại Lộ Vĩnh-San”.

Những lời nói đẹp của Bảo-Đại:

Trong buổi lễ thoái vị ngày 30 tháng 8, 1945; Bảo-Đại đã tuyên bố một câu nổi tiếng: “Thà làm dân một nước độc-lập còn hơn làm

vua một nước nô lệ” (Do Phạm Khắc Hòe viết trước cho Bảo-Đại).

Năm 1996, bác sĩ Pháp giải phẫu mắt cho Ngài thành công tốt, một đoàn thể chính trị tới chúc mừng cho ngài và mời Ngài tham dự đoàn thể với tư cách lãnh tụ. Nhưng Ngài khua tay nói (tiếng Pháp) như van nài: “S’il vous plait, laissez-moi vivre et mourir en paix” (Xin quý vị cho tôi được sống và chêt trong bình yên).

 

Việt-Nam Cộng-Hòa
Ngày VN Veterans of America
Tại Raleigh, NC Năm 2007.

Cao Văn Tâm
Sinh-Viên SQ Công-Binh 1961.

Sưu Tầm & Tóm Lược/Cao Văn Tâm/CB.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Bất Khuất.net

Chú thích của tác giả:


VUA TRIỀU NGUYỄN:

Duy-Tân là vị vua thứ 11 trong 13 vua của triều Nguyễn. Thứ tự gồm:

Vương Hiệu: Sanh: TrịVì:
1- Gia-Long: 1762–1820 1802-1819
2- Minh-Mạng: 1791-1841 1820-1840
3-Thiệu-Trị: 1807-1847 1841-1847
4- Tự-Đức: 1829-1883 1847-1883
5- Dục-Đức: 1852-1883 1883 (3 ng)
6- Hiệp-Hòa: 1847-1883 1883 (4 th.)
7- kiến-Phúc¨ 1869-1884 1883 (8 th.)
8- Hàm-Nghi: 1872-1943 1884-1885
9- Đồng-Khánh:1864-1889 1885-1889
10- Thành-Thái: 1879-1955 1889-1907
11- Duy-Tân: 1899-1945 1907-1916
12- Khải – Định: 1885-1925 1916-1925
13- Bảo – Đại: 1913-1997 1926-1945
Và: 1949-1955


Xin Tri Ân – Hùng Biên

Bài đọc suy gẫm: Xin Tri Ân hay “Mẹ Tôi, người vợ lính VNCH. Tác giả Hùng Biên, một người con viết về sự hy sinh cao quý của mẹ cho chồng con thực không có bút mực nào tả hết được.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Trong mỗi chúng ta ai cũng có một người mẹ, để được yêu thương, chăm sóc và dạy dỗ. Sự hy sinh cao quý của mẹ cho chồng con đã được vinh danh nhiều qua thi ca Việt Nam. Nhưng sự hy sinh của các bà mẹ, những người vợ lính Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), thì không có bút mực nào viết ra hết. Là một người con có mẹ là vợ lính VNCH, tôi đã trải qua nhiều kinh nghiệm về sự hy sinh của mẹ tôi và nhìn thấy sự hy sinh của các bà mẹ, của các bạn đồng cảnh. Với lòng thương yêu và trân quý sự hy sinh của mẹ, tôi đã ôm ấp trong lòng một bài viết về mẹ từ lâu. Sau khi ba tôi mất, nhìn thấy nỗi cô đơn và thương nhớ của mẹ đã thôi thúc tôi phải viết bài về mẹ.

Bài viết này chỉ là câu chuyện nhỏ trong vô số những câu chuyện về các mẹ, vợ lính VNCH. Xin được dùng bài viết như một món quà gởi đến mẹ tôi trong ngày lễ Hiền Mẫu (Mother Day) của năm 2014. Xin cám ơn mẹ cho tất cả những gì mẹ đã đem lại cho ba và anh em tụi con. Qua bài viết này, tôi xin gởi một thông điệp đến các em tôi, các bạn tôi và các thế trẻ về hình ảnh của một người mẹ trong vô số những người mẹ, vợ lính VNCH, đã hy sinh cả cuộc đời cho chồng con. Cuộc đời của mẹ tôi đã gắn liền với thời chinh chiến ly loạn của dân tộc Việt Nam.

 

***

Mẹ sinh ra tại làng Tân Phú Thượng, quận Đức Hòa, tỉnh Hậu Nghĩa (nay thuộc tỉnh Long An) vào năm 1945. Theo lời bà ngoại tôi kể, ngôi làng nằm ngoài vùng kiểm soát của thực dân Pháp và trong vùng mà Việt Minh Cộng Sản (VMCS) hàng đêm đến cướp bóc. Quân Pháp thường xuyên mở các cuộc hành quân bố ráp, đốt nhà, và tàn phá mọi thứ. Ba, Mẹ, Tôi (Biên) và em gái kế (Thùy).

Mỗi lần như thế, ông bà ngoại phải dẫn mẹ và các dì chạy trốn trong lằn tên lửa đạn. Người dân trong làng bám đất không vì yêu thích Cộng Sản (CS), mà vì là nơi chôn nhau cắt rốn và đất đai mồ mả ông bà bao đời để lại. Nhiều người đã bỏ làng, trốn ra ngoài vùng Pháp kiểm soát, thì bị VMCS ban đêm tìm bắt, giết và treo cổ ở đầu làng để răn đe thị chúng. VMCS sợ dân bỏ làng đi hết thì bọn chúng sẽ đói vì không còn gì để cướp. Không thể sống trong cảnh bất an, ông bà ngoại tôi đã dẫn gia đình chạy trốn, đi thật xa, và lên lập nghiệp tại vùng Gia Định, thành đô.

Mẹ tôi đã trưởng thành trong nền giáo dục nhân bản của Miền Nam Việt Nam (MNVN). Sau khi hoàn tất trung học, mẹ đã vào làm thư ký cho hãng tàu thủy xuất nhập cảng hàng hóa. Đó là công ty Khánh Phát tại Sài Gòn. Mẹ, cũng như các thanh thiếu nữ khác, đã trải qua tuổi thanh xuân đẹp đẽ của mình với những tình bạn và tình yêu chân thành. Nhưng chiến tranh khốc liệt ngày một lan tràn khắp nơi trên quê hương Miền Nam, bao lớp trai trẻ phải xếp bút nghiên, rời bỏ công sở và gạt qua những ước mơ riêng, lên đường nhập ngũ, cầm súng bảo vệ sự thanh bình và tự do của MNVN. Mẹ đã chứng kiến những cảnh chia tay của những người bạn, người yêu, và người thân. Thiếu nữ thời mẹ đã sớm trở thành những người bạn, người yêu, và người vợ của lính. Mẹ cũng thế.

Theo lời mẹ kể, vào một ngày thứ bảy của năm 1966, mẹ và người bạn gái tên Xuyến vào Tổng Y Viện Cộng Hòa thăm một người bạn đang nằm trị thương. Đến nơi, mẹ và dì Xuyến được biết là người bạn đã ra ngoài bệnh viện dạo phố. Mẹ và dì đang cất bước ra về thì cơn mưa ào xuống để níu chân mẹ và dì ở lại. Hai người chạy vô tránh mưa ở hàng hiên, bên trong là dãy phòng trị thương.

Bên trong phòng, một thương binh lên tiếng:

- Ê tụi bây, bên ngoài có hai thiếu nữ đang đứng tránh mưa kìa.

- Để tao ra mời các cô ấy vào đây nói chuyện cho vui. Một người thương binh khác lên tiếng.

Mẹ kể, một người thương binh băng bó ở cổ đã bước ra khỏi phòng trị thương, mời mẹ và dì bước vào trong phòng. Khi bước vào trong thì mẹ gặp thêm hai thương binh nữa, một người bị thương băng bó ở tay và người kia thì băng bó ở chân. Mẹ và dì đã có dịp trò chuyện vui vẻ với họ, nhưng với mẹ tôi thì nhớ nhất câu trả lời, khi bà hỏi:

- Làm sao các anh bị thương vậy?

Người sĩ quan trẻ bị thương băng ở cổ trả lời:

- Anh đi hành quân thì bị trâu chém.

Trước khi chia tay ra về, mẹ và dì đã trao đổi địa chỉ với ba thương binh, có tên là: Đường, Đăng và Quyền, để liên lạc sau này trong tình quân dân: em hậu phương anh tiền tuyến.

Nào ngờ, ngày Chủ Nhật hôm sau, một chiếc xích lô máy đậu bên ngoài nhà ông bà ngoại. Bước trên xe xuống là ba thương binh chống nạng dìu nhau. Mẹ kể, tiếng nổ inh ỏi của xe xích lô máy cộng với hình ảnh của các thương binh khoác trên người những áo trận hoa rừng đã thu hút sự chú ý của khu xóm, vốn thường ngày yên tĩnh. Sau lần gặp lại đó, mẹ thường gặp lại người chiến binh bị thương ở cổ khi ông về phép. Tình yêu của mẹ từ từ chớm nở với người lính trận này, có họ tên là Nguyễn minh Đường, sĩ quan của binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt, QLVNCH. Mẹ đã trở thành người yêu của lính. Ba năm sau, mẹ trở thành người vợ lính. Sau khi lập gia đình, ba mẹ tôi mua nhà ra ở tại quận 8 một thời gian. Nhưng vì ba tôi là lính tác chiến qua các binh chủng thiện chiến: Lực Lượng Đặc Biệt rồi Biệt Động Quân của QLVNCH, quanh năm hành quân ở biên thùy, một mình mẹ phải sống quạnh hiu với đàn con nhỏ, nên ba mẹ đồng ý bán căn nhà và mẹ dọn về ở với ông bà ngoại.

Như các người yêu và các người vợ lính khác, mẹ đã sống trong nỗi thấp thỏm lo âu về sự an nguy của chồng, trong niềm thương nhớ, và mong chờ cho ngày chồng về phép. Mẹ thay ba tôi, chăm sóc và nuôi dạy anh em tôi. Mẹ lặn lội lên những tiền đồn xa xôi thăm chồng và có khi mẹ dẫn tôi đi cùng. Có những lần đi thăm, mẹ phải lo âu chờ đợi trong tiền đồn, khi chồng vẫn còn đang hành quân giao tranh với quân thù. Mẹ đã hòa nhịp thở của mình với nỗi thăng trầm của cuộc chiến VN. Mẹ vui với những tin vui chiến thắng và được biết chồng bình an trở về sau một trận đánh và mẹ lo sợ khi biết chồng mình bị thương. Mẹ đã là chỗ dựa cho ba tôi trong việc quán xuyến gia đình, để ông an tâm, kìm chắc tay súng chống lại xâm lăng của CSBV. Ngoài chăm sóc gia đình, mẹ thay ba làm bổn phận người con đến song thân của hai bên.

Trong thời chiến, hạnh phúc của người vợ lính quá mong manh và nhỏ bé, nhưng sự hy sinh của người vợ lính cho chồng con và người thân thì vô cùng to lớn. Sau khi CS xâm chiếm MN, sự hy sinh đó còn tăng lên gấp bội.

Sau ngày đen tối 30-4-1975 của dân tộc VN chừng một tháng, mẹ tôi hạ sanh đứa em gái út. Khi em vừa tròn 1 tháng tuổi thì ba tôi phải ra trình diện đi tù CS. Ba đi tù, để lại cho mẹ năm đứa con thơ: 5, 4, 3, 1 tuổi và một bé sơ sinh. Trong cảnh nước mất nhà tan, gia đình ly tán, ba tôi, các bác tôi, anh họ tôi lần lượt đi tù CS, và cậu tôi tử trận trong những ngày cuối của cuộc chiến. Còn cảnh thương tâm nào hơn, già khóc và trẻ khóc cho một viễn cảnh đen tối của người dân MN, chết chóc và chia lìa. Vì quá thương con, thương cháu trong ngục tù CS, bà nội tôi lâm bệnh và mất vài tháng sau đó. Trong đám tang nội, không có người con ruột nào có mặt để đưa tang. Từ một phụ nữ chân yếu tay mềm, mẹ đã nén những đau thương, bước ra ngoài xã hội bương chải để kiếm sống cho gia đình.

Cú lừa lịch sử, việt cộng sau khi cho hạ sĩ quan, binh sĩ miền nam học tập xong 3 ngày rồi về, kế đến là sĩ quan chuẩn bị lương thực cho 10 ngày học tập cải tạo… để rồi một số vị chỉ về lại nhà sau khi học tập cải tạo 17 năm, hay nhiều người đã bỏ mình trên những nơi rừng thiêng, nước độc và không bao giờ trở về nữa.

Sau khi cưỡng chiếm MN, CSBV đã vơ vét, tịch thu tài sản và cơ sở làm ăn của người dân. Mọi công việc, hãng xưởng lớn nhỏ điều tùy thuộc vào sự ban phát của chúng. Chúng thi hành chính sách kỳ thị và phân biệt đối xử lên người dân MN, nhất là với những gia đình có dính líu đến chế độ VNCH. Mẹ tôi đã không thể xin được một công việc hãng xưởng, vì bị liệt kê có chồng là sĩ quan cao cấp của QLVNCH. Mẹ đã làm nhiều công việc buôn bán như xe trái cây, xe thuốc lá, bán bánh kẹo, khoai, bán củi bó… vv và vv. Mẹ phải làm nhiều việc ngõ hầu kiếm đủ tiền lo ăn mặc và những nhu cầu học đường cho anh em chúng tôi. Có những lúc mẹ đi sớm về khua, anh em chúng tôi côi cút trong sự thiếu vắng cả cha lẫn mẹ. Có những lúc buôn bán ế ẩm, mẹ phải bán đi những vật dụng có giá trị trong nhà và ngay cả những nữ trang của mẹ để có tiền trang trải gia đình. Mẹ tần tiện từng ngày để đủ tiền mua quà gởi cho ba tôi, nơi ngục tù CS. Tuổi ấu thơ, anh em tôi quá quen thuộc với những món quà, mẹ gởi cho ba, như: mắm ruốc, muối đậu, thịt chà bông, đường, và khô.

Hình ảnh đi thăm nuôi tù

Vào một ngày của năm 1979, mẹ cho tôi biết là mẹ và tôi sẽ đi thăm ba tôi ở trại tù ngoài Bắc. Với tôi, đó là một tin vui không sau tả nổi. Mẹ phải làm nhiều hơn và phải bán đi chiếc Honda Dam hầu có đủ tiền mua vé xe lửa, mua thực phẩm để đóng quà, và làm lộ phí dọc đường. Hành trình đi thăm tù thật là gian nan, với nhiều bất trắc và nguy hiểm. Sau 3 ngày 3 đêm ngồi trên xe lửa, gần một ngày đứng trên xe đò, và gần một buổi đi bộ, mẹ với những gói quà trĩu nặng đôi tay dẫn tôi tới căn nhà trọ thăm tù, nằm chơi vơi giữa vùng đất hoang vắng với những ngọn núi cao bao quanh. Ba tôi bị nhốt tại trại tù K3, Tân Kỳ, Nghệ Tĩnh. Qua chuyến thăm ba này, rất nhiều hình ảnh, nhiều kỷ niệm và nhiều nhận thức đã ghi lại trong tôi, một đứa bé 9 tuổi, về nỗi nhục nhằn của người tù khổ sai, về sự vất vả của vợ con thăm tù, về sự nghèo nàn lạc hậu và bần cùng của người dân miền Bắc, và về sự dối trá và dốt nát của chế độ CS. Những nhận xét ấy đã mãi theo tôi, đã làm động lực thúc đẩy tôi tìm hiểu về thể chế Quốc Gia và Cộng Sản và giúp tôi tự vươn lên sau này.Ba mẹ dự lễ tôi (đứng thứ hai từ trái) nhận học bổng Từ Thống Đốc Gary Locke (đứng thứ ba từ trái), tại thủ phủ tiểu bang Washington

Sau khi thăm ba về, mẹ tôi lại tiếp tục buôn bán và làm nhiều hơn mới có thể sống được trong xã hội mà CS chỉ biết lo cho riêng chúng ăn no, mặc ấm, bằng cách cướp bóc và đàn áp người dân, mặc kệ cho sự nghèo khó và lam lũ của người dân. Người dân thì bị thiếu ăn nhất là bị chúng bắt ăn độn khoai và bo bo. Một năm, trừ ba ngày Tết, mẹ làm đủ 362 ngày. Làm việc quá cơ cực, ngày một mẹ càng gầy hơn. Đến một hôm mẹ tôi ngã bệnh vì lao phổi, do lao lực mà ra. Dù bệnh, mẹ không nghỉ, vẫn phải tiếp tục buôn bán hàng ngày. Không biết còn có bao gia đình khác vì quá nghèo khổ, khiến con cái phải bỏ học đi làm hoặc phụ giúp buôn bán để sinh nhai? Còn mẹ tôi, dù cơ cực đến mấy, vẫn gồng gánh, tần tảo làm việc sớm hôm cho chúng tôi được cắp sách đến trường.

Ngoài việc thay chồng, nuôi dạy một đàn con nhỏ, mẹ còn phụng dưỡng ông bà ngoại và giúp đỡ anh chị em và những người thân thương của mẹ.

Anh em chúng tôi ngày một khôn lớn trong vòng tay yêu thương và chăm sóc của mẹ và thiếu vắng hình bóng của ba. Chúng tôi sớm phụ giúp mẹ trong công việc bếp núc và buôn bán. Thương mẹ, anh em chúng tôi sống cần kiệm với những gì mẹ cho, dẹp qua những khao khát mơ ước của tuổi thơ và vươn lên trong học đường. Từ buôn bán nhỏ, mẹ hùn vốn với gia đình anh họ, mở gian hàng bán quần áo may sẵn tại chợ Bà Chiểu.

Người học tập may mắn trở về, tóc râu bạc trắng.

Sau 10 năm tù, ba tôi được thả về sum họp với gia đình. Ngày ba về là ngày ngạc nhiên và vui mừng nhất cho mẹ và anh em chúng tôi, vì là ngày gia đình tôi mòn mỏi mong chờ và không được biết trước. Từ ngày đó, anh em chúng tôi thật sự biết và sống bên cạnh tình yêu thương và dạy dỗ của ba. Mẹ đã chu tất lo cho ba mọi thứ và nhất là lo cho ba điều trị những căn bệnh hậu chứng của những năm tù CS như: phù thũng, đau bao tử, và gai xương sống. Mẹ còn an ủi và tạo điều kiện cho ba vui với gia đình, bạn tù, và người thân. Ba tôi đã phụ giúp mẹ trong việc buôn bán như đi bổ hàng từ các chợ lớn, như chợ Tân Bình hoăc chợ An Đông. Ngoài ra, ba tôi còn làm thêm việc bán lẻ và bỏ mối bia và nước ngọt đến các tiệm và quán ăn.

Không có sự hy sinh của mẹ, chắc tôi đã không đạt được những thành quả trong học vấn. Năm 1988, tôi thi đậu vào khoa cơ khí, Đại Học Bách Khoa Sài Gòn, trong tổng số 140 thí sinh đậu “chính quy” (hệ A) bên cạnh 310 thí sinh đậu hệ mở rộng (hệ B, phải đóng học phí). Khi nhập học, tôi mới biết là số sinh viên có cha là cựu tù CS như tôi chỉ đếm trên đầu ngón tay. Trong hệ thống thi cử vào đại học (ĐH) của chế độ CS, chúng tôi bị phân loại vào nhóm 4, nhóm chót, nhóm cho những gia đình có dính líu đến chế độ VNCH, có cha mẹ đang bị tù chính trị, hoặc người thân vượt biên. Vì thế, chúng tôi phải đậu điểm thật cao và chỉ được nhận đậu với con số nhỏ, tượng trưng.

CS nhận chúng tôi vào ĐH cũng nằm trong mưu đồ chiến lược của họ, nhằm chứng tỏ với thế giới bên ngoài là họ có thay đổi trong chiều hướng mở cửa kinh tế, để qua đó, họ đón nhận trợ cấp và đầu tư từ các nước, nhất là các nước tư bản giàu có, mà chế độ CS luôn tuyên truyền chê bai. Việc thi đậu ĐH của chúng tôi đã ít nhiều đem lại niềm vui và hãnh diện cho ba mẹ, cho thế hệ chúng tôi, thế hệ con em của chế độ VNCH. Chúng tôi đã đạt những điểm cao và xếp hạng cao sau các kỳ thi ở ĐH, cho dù tình trạng lộ đề cho “con ông cháu cha” của CS xảy ra ở mỗi kỳ thi.

Để đỡ bớt gánh nặng cho mẹ, tôi đã đăng quảng cáo trên báo nhận dạy kèm và luyện thi ĐH qua các môn toán, lý và hoá. Tôi đã đi dạy học tại gia từ năm 1989 đến khi gia đình đi tỵ nạn CS vào năm 1995. Tôi rất vui là đã làm ra tiền phụ giúp mẹ và đã giới thiệu nhiều mối dạy học cho các bạn sinh viên đồng cảnh.

Ngày gia đình tôi rời VN đi tỵ nạn CS là ngày vui lớn vì từ ngày hôm đó gia đình tôi sẽ thoát khỏi ngục tù lớn của CS, thoát khỏi cái chủ nghĩa xã hội (vốn là chủ nghĩa cộng sản, được đổi tên hầu lường gạt những người nhẹ dạ) đầy hận thù, phân biệt giai cấp, và kỳ thị. Hơn hết, tôi mừng là ba mẹ sẽ không còn phải vất vả bương chải trong cuộc sống và anh em tôi sẽ có điều kiện thăng tiến trong xã hội mới, tự do và dân chủ.

Trong những năm dài tha phương nơi đất khách, mẹ vẫn luôn là chỗ dựa chính cho ba và anh em tôi. Ngoài việc quán xuyến gia đình, mẹ luôn đi bên cạnh ba tôi trong các sinh hoạt Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia (CĐNVQG). Mẹ song hành với ba trong các buổi tiệc vui cưới hỏi, các buổi họp mặt hội đoàn và đồng hương, các buổi lễ tưởng niệm của VNCH và các Đại Hội Biệt Động Quân hàng năm. Mẹ góp phần công sức cho các lễ hội và tưởng niệm của các hội đoàn và CĐNVQG. Mẹ luôn ở bên cạnh chăm sóc cho ba qua những cuộc giải phẩu, luôn thương yêu và chăm lo một đàn cháu nội ngoại.

Cuộc đời của mẹ tôi là một trong vô số những cảnh đời bi thương của người mẹ, vợ lính VNCH. Đó là những cảnh đời của những người vợ lính: là góa phụ trong cuộc chiến, là vợ thương binh VNCH, hay là vợ người tù “cải tạo”. Cho dù ở cảnh đời nào, các mẹ đã son sắt thủy chung với chồng, thương yêu và chăm sóc chồng con, thay chồng tần tảo sớm hôm nuôi dạy các con và trang bị cho các con một hành trang vào đời. Không biết có bao nhiêu người mẹ đã ngã xuống trên đường đi thăm chồng trong ngục tù CS, trên đường vượt biên tìm tự do, hoặc ngay trên quê hương VN khi mòn mỏi trông chờ ngày đoàn tụ chồng về từ các trại tù CS? Thương quá các mẹ, vợ lính VNCH.

Dòng lịch sử VN sẽ sang trang, ngoài những trang sử nói lên hào khí anh dũng của cả dân tộc VN và nhất là Quân-Dân-Cán-Chính MNVN đã, đang, và sẽ còn tiếp tục đứng lên chống lại chế độ vô thần phi nhân CS, tôi tin chắc rằng sẽ có nhiều trang sử ghi đậm những nét hy sinh cao quý của các mẹ, vợ lính VNCH.


Một vài hình ảnh tiêu biểu các bà mẹ, những người vợ lính của QL -VNCH.

Bà quả phụ Nguyễn Thị Cảnh, vợ của cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Link tham khảo. Hình dưới: Bà Trương Thị Sen, vợ cố trung úy phi công Nguyễn Diếu, người sau 41 năm không có tin tức của chồng, trong năm 2013 từ Việt Nam đến Mỹ để nhận lại tro cốt, hình ngày cưới Trung Úy Nguyễn Diếu 1968. Link tham khảo

 

Bà Mai Thy và hồi ký của người vợ có chồng thuộc binh chủng “Người Nhái”.  Link

 

Sự hy sinh của mẹ tôi cũng như vô số các mẹ, vợ lính VNCH, đã là tấm gương tiêu biểu cho thế hệ chúng tôi và hậu thế noi theo, đó là sự thủy chung, sự cam chịu những bất công, vượt lên những gian truân, tần tảo làm việc, chăm lo cho chồng con và nuôi dạy con cháu nên người.

Không có sự hy sinh của mẹ, anh em tôi đã không có những gì mình có được ngày nay. Con xin đại diện các em cảm ơn mẹ.

Không có sự hy sinh của các mẹ, vợ lính VNCH, thế hệ chúng tôi sẽ không có được những thành đạt ngày nay trên đất khách quê người, đó là những kỷ sư, bác sĩ, nha sĩ, dược sĩ, nhà giáo, khoa học gia, chính trị gia, thương gia, nghiệp chủ… vv và vv. Nếu được, xin các bạn trẻ đồng cảnh hãy cùng tôi, nghiêng mình cảm kích và tri ân đến mẹ mình và tất cả các mẹ, vợ lính VNCH. Chúng ta hãy cùng hoài niệm về những hy sinh của mẹ, để càng yêu thương và chăm sóc mẹ trong tuổi xế chiều, bạn nhé!

Atlanta, 03/14/2014


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

The

Links:

Quê Hương Ngày Mai Forum

Bảo vệ cờ vàng

Bao Mai Blogspot


Chỉ Là Vấn Đề Thời Gian – Ngô Đình Nhu

Bài đọc suy gẫm: Người Tàu thôn tính Việt Nam “Chỉ Là Vấn Đề Thời Gian”. Câu nói của ông cố vấn Ngô Đình Nhu là một viễn kiến chính trị sâu sắc. Blog 16 mời quý bạn đọc theo dõi bài viết “Quan điểm của ông Ngô Đình Nhu và hiểm họa xâm lăng của Trung cộng” qua bài viết của Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu, người có quá trình 30 năm giảng dạy và nghiên cứu về các vấn đề chính trị Việt Nam tại một số các viện đại học, các viện nghiên cứu, các bảo tàng viện và thư viện tại Việt Nam, Úc, Hoa Kỳ và Âu châu… Hình ảnh chỉ là minh họa.

Một số hình ảnh người dân, các linh mục, blogger Phương Uyên, An Đỗ,… đến tưởng niệm, cử hành thánh lễ tại mộ phần Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông cố vấn Ngô Đình Nhu, bào đệ Ngô Đình Cẩn trong năm 2013.

 

 

 

 

 

 

 

Khi hay tin Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát, Cố Tổng Thống Tưởng Giới Thạch của Trung Hoa Dân Quốc, đã nhận xét:

Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề trong việc vụ ám sát xấu xa này. Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp… Tôi khâm phục ông Diệm, ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu, Việt Nam có lẽ phải mất đến 100 năm nữa mới tím được một lãnh tụ cao quí như vậy.[1].

Nhưng khi đọc xong tác phẩm Chính Đề Việt Nam của ông Ngô Đình Nhu[2], tôi nghĩ cần phải thêm vào lời nhận xét đó, Việt Nam có lẽ phải mất đến 100 năm hay nhiều hơn nữa mới tìm được một nhà lãnh đạo có viễn kiến chính trị sâu sắc như ông Nhu..

Thực vậy, đối với cá nhân người viết, sau hơn 30 năm giảng dạy và nghiên cứu về các vấn đề chính trị Việt Nam tại một số các viện đại học, các viện nghiên cứu, các bảo tàng viện và thư viện tại Việt Nam, Úc, Hoa Kỳ và Âu châu.. người viết được các đồng nghiệp và các chuyên gia quốc tế về Việt Nam đã dành cho một chút cảm tình và nễ trọng về kiến thức chuyên môn và sự khổ công đọc sách. Tuy nhiên, với tất cả sự thận trọng

cần thiết của một người nghiên cứu lịch sử, người viết phải thành thật công nhận rằng, trong tất cả những sách nghiên cứu mà người viết đã có dịp đọc trong hơn 30 năm qua vì sở thích hay vì nhu cầu giảng dạy và nghiên cứu đòi buộc phải đọc bằng Việt, Pháp và Anh ngữ, chưa có một tác phẩm nào, thể hiện một sự tổng hợp bao quát và rất giá trị về các vấn đề chính trị thế giới trong hơn 200 năm qua, để rồi sau đó đưa ra những viễn kiến chính trị vô cùng sâu sắc để làm Kim Chỉ Nam Phát Triển cho Việt Nam cũng như các Quốc Gia Chậm Tiến trên thế giới, như tác phẩm này của ông Nhu. Có lẽ phải nói đây là một đóng góp quí báu vào kho tàng tư tưởng chính trị thế giới. Và giả dụ rằng, nếu có thể sống thêm 100 năm nữa để đọc sách, người viết nghĩ rằng không thể nào có được một óc tổng hợp bao quát, đứng đắn và một viễn kiến chính trị sâu sắc thần kỳ như tác giả của quyển Chinh Đề Việt Nam.

Vì tác phẩm nguyên bản bằng Pháp ngữ, và người viết tin rằng dịch giả đã rất xuất sắc trong khi chuyễn ngữ, vì ấn bản Việt ngữ đã diễn tả một cách hết sức lưu loát những khía cạnh sâu sắc và phức tạp của các vấn đề. Tuy nhiên, những người đã quen tiếp cận với lối hành văn của ông Nhu qua các diễn văn mà Ông đã soạn thảo cho Tổng Thống Diệm trong suốt 9 năm của nền Đệ Nhất Cộng Hòa,[3] chắc chắn sẽ thấy rằng cách hành văn trau chuốt, chính xác, nghiêm túc, sắc bén và chặt chẻ của ông Nhu mà bản dịch không thể nào thể hiện được.

Tuy nhiên, người viết muốn độc giả trực tiếp tiếp cận, một phần nào, với cách luận giải và trình bày độc đáo của ông Nhu về các vấn đề chính trị Việt Nam và quốc tế, nên người viết đã quyết định trích nguyên văn những phần trong Chính Đề Việt Nam liên quan dến chủ đề của bài viết này. Và người viết sẽ hạn chế tối đa phần đưa ra những diễn giải và nhận xét riêng tư của mình.

Về nội dung tác phẩm, có lẽ phần cuốn hút được sự ngưỡng mộ nhất của người viết là, trước đây gần nữa thế kỷ, ông Nhu đã nhận xét Liên Sô sẽ tự giải thể để làm hòa với Tây Phương và Trung Cộng sẽ thất bại trong việc sử dụng chủ nghĩa Cộng Sản để phát triển kinh tế, cũng như Âu Châu sẽ tập hợp lạii với nhau trong một khối thống nhất như Khối Liên Hiệp Âu Châu ngày nay. Nhưng điều hấp dẫn hơn nữa, ông Nhu đã không đưa ra những lời tiên đoán như một người thầy bói hay một chiêm tinh gia, trái lại, ông đã đưa ra những phán đoán của mình, sau khi đã phân tích và tổng hợp các dữ kiện lich sử và các biến cố chính trị thế giới, một cách khoa học, khách quan và vô tư. Chính vì vậy, người viết nghĩ rằng tập sách này sẽ có một mãnh lực vô cùng hấp dẫn đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam và các quốc gia chậm tiến Á Phi, nếu họ thực sự mong muốn xây dựng và phát triển đất nước, theo một đường lối khoa hoc, thực tiển và hợp lý nhất.

Ví tác phẩm bao quát nhiều vấn đề lớn lao liên quan đến kinh nghiệm phát triển kinh tế của Nhật Bản, Liên sô, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ.. và cả trường hợp của Trung Cộng nữa. Đó là những đề tài quá lớn cho bài viết này. Do đó, người viết nghĩ rằng, vấn đề thời sự nóng bỏng nhất hiện nay là vấn đề Trung Cộng xâm chiếm lãnh thổ, lãnh hải, các hải đảo Hoàng Sa & Trường Sa cùng vùng Cao Nguyên Trung Phần. Chúng ta thử tìm xem, gần 50 năm trước đây, ông Nhu đã tiên đoán hiểm họa này ra sao, đã kiểm điểm lại chinh sách ngoại giao sai lầm của chúng ta như thế nào và phương sách nào phải theo đuổi để chống lại Trung Cộng, để chúng ta có thể thấy được kiến thức uyên bác của một chính trị gia và cũng là một học giả lỗi lạc của thời đại chúng ta

Sự Thiển Cận Của Nhà Cầm quyền Hà Nội. 

Sự xâm lăng của Trung Quốc đối với Việt Nam có tính cách trường kỳ, nhưng những nhà lãnh đạo Hà Nội vì thiển cận và vì quyền lợi hẹp hòi của Đảng Cộng Sản và cũng có thể vì quyền lợi cá nhân ích kỷ của những vị lãnh đạo, đã không ý thức hiểm họa xâm lăng khiếp hãi đó của Trung Quốc, họ đã xem nhẹ quyền lợi của quốc gia, dân tộc, đã liên kết với Trung Cộng và Liên Sô, đánh mất đi cơ hội ngàn năm một thuở, là khai thác những mâu thuẫn giữa hai khối Tây Phương và Liên Sô sau Thế Chiến Thứ Hai, để khôi phục độc lập và nhận viện trợ của cả hai khối để phát triển dân tộc…như Ấn Độ. Trái lại, việc cam tâm làm chư hầu cho Trung Cộng và Liên Sô đã đưa Việt Nam vào cuộc chiến tranh với Tây Phương một cách vô nghĩa và phi lý, và đã đem lai một hậu quả vô cùng khủng khiếp cho cả dân tộc, đó là sự hủy diệt toàn bộ sinh lực của quốc gia, cả về phương diện tinh thần lẫn vật chất và sinh mang của người Việt, trong suốt hơn 30 năm… Nhưng còn tệ hại hơn nữa, là sự nhận viện trợ đó từ Trung Cộng đã là tiền đề để rước họa xâm lăng từ phương Bắc vào Việt Nam ngày nay.

Từ những năm đầu của thập niên 1960, ông Nhu đã nhìn thấu suốt được hiểm họa xâm lăng truyền kiếp đó như sau:

Trong lịch sử bang giao, giữa chúng ta và Trung Hoa, các biến cố xảy ra đều do hai tâm lý đối chọi nhau. Từ năm 972, sau khi đã nhìn nhận độc lập của Việt Nam rồi, lúc nào Trung Hoa cũng nghĩ rằng đã mất một phần lãnh thổ quốc gia, và lúc nào cũng khai thác mọi cơ hội đưa đến, để thâu hồi phần đất mà Trung Hoa xem như là của họ. Bên kia, Việt Nam lúc nào cũng nỗ lực mang xương máu ra để bảo vệ nền độc lập của mình. Tất cả các sự kiện, xảy ra giữa hai quốc gia, đều do sự khác nhau của hai quan niệm trên.

Ngay năm 981, nghĩa là vừa ba năm sau khi đã nhìn nhận độc lập của Việt Nam, Tống triều thừa lúc nội chính Việt Nam có biến, vì Đinh Tiên Hoàng vừa mất, và sự kế vị không giải quyết được, gởi sang Việt Nam hai đạo quân, do đường thuỷ và đường bộ, để đặt lại nền thống trị của Trung Hoa.

Ý cố định của Trung Hoa là đặt lại nền thống trị và không lúc nào Trung Hoa thỏa mãn với sự thần phục và triều cống của chúng ta. Ngay những lúc mà quân đội chúng ta hùng cường nhất, và chiến thắng quân đội Trung Hoa, thì các nhà lãnh đạo của Việt Nam cũng khôn ngoan, tìm cách thỏa thuận với Trung Hoa và tự đặt mình vào chế độ thuộc quốc. Nhưng, điều mà Trung Hoa muốn không phải là Việt Nam chỉ thần phục và triều cống. Trung Hoa, suốt gần một ngàn năm lịch sử, lúc nào cũng muốn lấy lại mảnh đất mà Trung Hoa coi như bị tạm mất.

Trong 900 năm, từ năm 939 đến năm 1840, khi Tây phương tấn công vào xã hội Đông Á làm cho những mâu thuẫn, nội bộ của xã hội này, tạm ngưng hoạt động, Trung Hoa đã bảy lần toan chiếm lại nước Việt Nam. Hai lần do nhà Tống chủ trương, ba lần nhà Nguyên, một lần nhà Minh và một lần nhà Thanh. Một hành động liên tục như vậy, nhất định có nghĩa là tất cả các triều đại Trung Hoa đều theo đuổi một chính sách, đặt lại nền thống trị trên lãnh thổ Việt Nam. Chính sách này do một điều kiện địa dư và kinh tế ấn định: lưu vực sông Hồng Hà là đướng thoát ra biển thiên nhiên của các tỉnh Tây Nam của Trung Hoa, và ngược lại cũng là con đường xâm nhập cho các đạo quân chinh phục vào nội địa Trung Hoa. Đã như vậy thì, ngay bây giờ, ý định của Trung Cộng vẫn là muốn thôn tính, nếu không phải hết nước Việt Nam, thì ít ra cũng Bắc phần. Cũng chỉ vì lý do này mà, năm 1883, Lý Hồng Chương, thừa lúc Tự Đức cầu viện để chống Pháp, đã, thay vì gởi quân sang giúp một nước cùng một văn hóa để chống ngoại xâm, và thay vì cứu viện một thuộc quốc mà Trung Hoa đáng lý ra có nhiệm vụ bảo vệ, lại thương thuyết một kế hoạch chia cắt Việt Nam với Pháp, Trung Hoa dành cho mình các phần đất gồm các vùng bao bọc lưu vực sông Hồng Hà để lấy đường ra biển. Và ngay Chính phủ Tưởng Giới Thạch năm 1945, dành phần giải giới quân đội Nhật Bản từ vĩ tuyến 16 trở lên phía Bắc[4], cũng vì lý do trên.

Xem thế đủ biết rằng, đối với dân tộc chúng ta họa xâm lăng là một mối đe dọa thường xuyên. (tr. 166)

Do đó, Trung Hoa của Mao Trạch Đông, cũng như Trung Hoa của các triều đại Nguyên, Tống, Minh, Thanh là một đe dọa truyền kiếp.

Sùng Bái Chủ Nghĩa Cộng Sản là một Sai Lầm Nghiêm Trọng

Trong khi Liên Sô và Trung Cộng xem chủ nghĩa Cộng Sản như là phương tiện tranh đấu để qui tụ các nước nhược tiểu Á Phi vào đồng minh với họ, chống lại sự bao vây của Tây Phương nhằm giúp họ phát triển kinh tế của đất nước họ, thì Cộng Sản Việt Nam sùng bái chủ nghĩa Cộng Sản như là một chân lý để cải tạo xã hội và xây dựng đất nước. Chính vì sự thiếu sáng suốt của nhà cầm quyến Hà Nội đã khiến Việt Nam phải bị chia cắt làm 2 miền vào năm 1954, mất đi cơ hội ngàn năm một thuở, để xây dựng đất nước và củng cố độc lập để chống ngoại xâm.

Ông Nhu đã luận giải nan đề đó như sau: 

Nhưng chúng ta cũng còn nhớ rằng Nga Sô sở dĩ liên kết với các thuộc địa của Tây phương là bởi vì Nga Sô cần có đồng minh trong công cuộc chiến đấu trường kỳ và vĩ đại với Tây phương, mà mục đích trước hết và trên hết, là phát triển dân tộc Nga. Tính cách thiêng liêng giữa các đồng chí của lý tưởng cách mạng xã hội thế giới chỉ là một tín hiệu tập hợp qui tụ kẻ thù của Tây phương vào một mặt trận phục vụ một chiến lược tranh đấu của dân tộc Nga. Ngày nay, mục đích phát triển của Nga đã đạt. Sự thay thế các giá trị tiêu chuẩn chiến lược và giai đoạn của Nga Sô bằng những giá trị tiêu chuẩn, di sản của văn minh nhân loại, như chúng ta đã thấy trong một đoạn trên, là một bằng cớ hùng biện nhất, soi sáng lập trường của Nga. Trung Cộng tố cáo Nga phản bội chủ nghĩa Các-Mác Lê-Nin vì những sự kiện trên. Trung Cộng lại muốn thay thế Nga, nhân danh chủ nghĩa Các-Mác Lê Nin hô hào qui tụ các nước kém mở mang, để phục vụ công cuộc phát triển cho dân tộc Trung Hoa. Ngày nào mục đích phát triển đã đạt, thì cuộc đồng minh mới này do Trung Cộng đề xướng cũng không còn hiệu lực đối với Trung Cộng, cũng như cuộc đồng minh trước đây do Nga đề xướng, ngày nay, không còn hiệu lực đối với Nga. Và mục đích cuối cùng của cuộc tranh đấu vẫn là mục đích dân tộc.

Nhiều nhà lãnh đạo Á Đông mà quốc gia cũng đã bị Đế quốc thống trị, đã đủ sáng suốt để nhìn thấu thâm ý chiến lược của Nga Sô. Gandhi và Nehru, từ chối sự đồng minh với Cộng Sản vì lý do trên.(tr. 201)

Chúng ta chưa có một tài liệu hay một triệu chứng nào chứng tỏ rằng các nhà lãnh đạo miền Bắc hiện nay đã nhận thức các điều kiện trên. Ngược lại, các thư lại chính trị của miền Bắc còn đang ca tụng như là những chân lý những giá trị tiêu chuẩn chiến lược và giai đoạn mà Nga Sô đã bỏ. Như thế thì có lẽ dân tộc chúng ta còn phải bất hạnh mục kích các nhà lãnh đạo miền Bắc của chúng ta tôn thờ như một chân lý, một lý thuyết mà Nga Sô và Trung Cộng chỉ dùng làm một phương tiện tranh đấu và Nga Sô bắt đầu sa thải khi mục đích phát triển đã đạt.

Như thế thì, giả sử mà người Pháp có thật sự thi hành một chính sách trả thuộc địa, như người Anh, đối với Việt Nam, thì các nhà lãnh đạo miền Bắc cũng chưa chắc đã đưa chúng ta ra được ngoài vòng chi phối trực tiếp của hai khối để khai thác mâu thuẫn mà phát triển dân tộc.

Trong hoàn cảnh mà cuộc tranh chấp giữa Nga Sô và Tây phương chi phối nặng nề hành động chính trị của các quốc gia nhỏ, lập trường Cộng Sản, lệ thuộc Trung Cộng, của các nhà lãnh đạo miền Bắc, đương nhiên gây phản ứng của Tây phương và sự phân chia lãnh thổ cũng không tránh được.

Như vậy, tư cách Cộng Sản của các nhà lãnh đạo miền Bắc là một điều kiện thuận lợi giúp cho người Pháp thi hành những toan tính chính trị của họ ở Việt Nam. Và lập trường Cộng Sản lệ thuộc Nga Sô và Trung Cộng là một nguyên nhân của sự phân chia lãnh thổ Việt Nam, trong khung cảnh chính trị của thế giới, sau Đại chiến thứ hai, do sự tranh chấp giữa Nga Sô và Tây phương chi phối.

Tóm lại nguyên nhân sâu xa của sự phân chia lãnh thổ Việt Nam ngày nay là chính sách thuộc địa của Pháp và lập trường Cộng Sản lệ thuộc Nga Sô và Trung Cộng của các nhà lãnh đạo miền Bắc.

Trong thực tế, sự phân chia đã nảy mầm khi hai quốc gia Tây phương Anh và Mỹ, để dọn đường cho một giải pháp chấm dứt sự bế tắc của Pháp ở Việt Nam, nhìn nhận và bắt dầu viện trợ cho quốc gia Việt Nam. Tuy nhiên, viện trợ quân sự và kinh tế đều qua tay chính phủ Pháp. Và một phần lớn, đã được sử dụng trực tiếp hay gián tiếp trong công cuộc tái thiết nước Pháp đã bị chiến tranh tàn phá. Thời gian qua, xét kỹ thì thời kỳ này lại là thời kỳ mà những thủ đoạn chính trị của Pháp ở xứ này mang đến nhiều kết qảu nhất.

Bên khối Cộng Sản, Nga và Trung Cộng cũng nhìn nhận Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam và cũng bắt đầu viện trợ.

Từ đây, chiến cuộc Việt Nam, biến thành một chiến trường quân sự và địa phương của cuộc tranh chấp giữa Nga Sô và Tây phương. Những mâu thuẫn giữa Nga Sô và Tây phương mà, đúng lý ra, phải được dùng để phát triển dân tộc, lại trở thành những khí giới gieo rắc sự chết cho toàn dân. Những yếu tố của một cơ hội phát triển đã biến thành những khí cụ của một tai họa.

Đồng thời, điều này vô cùng quan trọng cho chúng ta, sự chi phối của Trung Hoa, và sau lưng sự chi phối, sự đe dọa xâm lăng của Trung Hoa, mà chúng ta đã biết là vô cùng nặng nề, một cách liên tục, cho chúng ta trong hơn tám trăm năm, tạm thời đình chỉ trong gần một thế kỷ Pháp thuộc, đã bắt đầu hoạt động trở lại dưới các hình thức viện trợ và cố vấn quân sự cho quân đội của Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam.

Chúng ta thừa hiểu rằng sự phát triển của Tàu, là mục đích trước và trên hết trong mọi cuộc Đồng Minh hiện nay của các nhà lãnh đạo Trung Cộng, cũng như sự phát triển của Nga là mục đích trước và trên hết trong mọi cuộc Đồng Minh trước đây của các nhà lãnh đạo Nga. (tr. 202 -204).

Nhưng Hà Nội còn phạm những lỗi lầm nghiệm trong hơn nữa, khi quyết định dụng võ lưc để thôn tính miền Nam, đã dẫn tới việc trực tiếp đụng độ quân sự với Hoa Kỳ, khiến miền Bắc đã khánh tận và kệt quệ trong cuộc chiến tranh chống Pháp càng lún sâu trong cảnh tượng hoàn toàn đỗ nát và hoang tàn trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, mà ngày nay, qua hành động gần như van nài của Hà Nội để xin lập lại bang giao với Hoa Kỳ vào năm 1996, ai còn chút lương tri bình thường cũng thấy rằng cuộc chiến đó là hoàn toàn vô lý và xuẫn động, mà nguy hiểm hơn nữa là trực tiếp tạo điều kiện thuận lợi cho Trung Cộng tự do xâm lăng Việt Nam, vì Mỹ đã không còn hiện diện ở miền Nam, để ngăn chặn sự bành trướng của Trung Cộng.

Trong tác phẩm Chinh Đề Việt Nam, hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng ngày nay cũng đã được báo động cách đây gần 50 năm:

Sự lệ thuộc nói trên và sự chia đôi lãnh thổ đã tạo hoàn cảnh cho sự chi phối và sự toan thống trị của nước Tàu đối với Việt Nam tái hiện dũng mãnh, sau gần một thế kỷ vắng mặt. Ký ức của những thời kỳ thống trị tàn khốc của Tàu đối với chúng ta còn ghi trong mỗi trang lịch sử của dân tộc và trong mỗi tế bào của thân thể chúng ta.

Các nhà lãnh đạo miến Bắc, khi tự đặt mình vào sự chi phối của Trung Cộng, đã đặt chúng ta trước một viễn ảnh nô lệ kinh khủng. Hành động của họ, nếu có hiệu quả, chẳng những sẽ tiêu diệt mọi cơ hội phát triển của chúng ta, mà lại còn đe dọa đến sự tồn tại của dân tộc.

Sở dĩ, tới ngày nay, sự thống trị của Trung Cộng đối với Việt Nam chưa thành hình, là vì hoàn cảnh chính trị thế giới chưa cho phép, và sự tồn tại của miền Nam dưới ảnh hưởng của Tây phương là một trở lực vừa chính trị vừa quân sự cho sự thống trị đó. Giả sử mà Nam Việt bị Bắc Việt thôn tính, thì sự Trung Cộng thôn tính Việt Nam chỉ là một vấn đề thời gian.

Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Sô.

Vì vậy cho nên, sự mất còn của miền Nam, ngày nay, lại trở thành một sự kiện quyết định sự mất còn trong tương lai của dân tộc. Do đó, tất cả nỗ lực của chúng ta trong giai đoạn này phải dồn vào sự bảo vệ tự do và độc lập, và sự phát triển cho miền Nam để duy trì lối thoát cho miền Bắc và cứu dân tộc khỏi ách trống trị một lần nữa. (tr.212)

Chính Sách Ngoại Giao 

Có lẽ, trong quá khứ, chúng ta quá sùng bái văn hóa Khổng Mạnh và quá lệ thuộc về chính trị đối với các Hoàng Đế Trung Quốc, nên chúng ta đã không xây dựng được một đường lối ngoại giao khoáng đạt như Nhật Bản để có thể cứu nguy cho đất nước, khi dân tộc bị nạn ngoại xâm. Ông Nhu đã kiểm điểm sự thất bại nặng nể của chính sách ngoại giao của các vua chúa ngày xưa qua những dòng dưới đây:

Họa xâm lăng đe dọa dân tộc chúng ta đến nỗi, trong suốt một ngàn năm lịch sử từ ngày lập quốc, trở thành một ám ảnh cho tất cả các nhà lãnh đạo của chúng ta. Và do đó mà lịch sử ngoại giao của chúng ta lúc nào cũng bị chi phối bởi một tâm lý thuộc quốc.

Hai lần Lý Thường Kiệt và Nguyễn Huệ tìm cách đả phá không khí lệ thuộc đó. Nhưng mặc dầu những chiến công lừng lẫy và tài ngoại giao rất khéo, hai nhà lãnh đạo trứ danh của dân tộc vẫn phải khuất phục trước thực tế.

Tâm lý thuộc quốc đè nặng, chẳng những trên sự bang giao, giữa chúng ta và Trung Hoa, lại còn lan tràn sang lĩnh vực bang giao giữa chúng ta và các nước láng giềng. Nếu, đối với Trung Hoa, chúng ta là thuộc quốc, thì đối với các nước chung quanh, chúng ta lại muốn họ là thuộc quốc. Tâm lý đó làm cho sự bang giao, giữa chúng ta và các nước láng giềng, lúc nào cũng gay go. Đã đành rằng công cuộc Nam tiến của chúng ta, là một công trình mà dân tộc đã thực hiện được. Nhưng chúng ta còn thiếu tài liệu để cho các sử gia có thể xét đoán xem, nếu chính sách ngoại giao của chúng ta khoáng đạt hơn, tựa trên những nguyên tắc phong phú hơn thì, có lẽ sự bành trướng của chúng ta sẽ không một chiều như vậy. Ví dụ, một câu hỏi mà chúng ta không thể tránh được: chúng ta là một dân tộc ở sát bờ biển, nhưng sao nghệ thuật vượt biển của chúng ta không phát triển? Nếu chính sách ngoại giao của chúng ta phong phú hơn, và không bó hẹp vào một đường lối duy nhất, có lẽ sự bành trướng của dân tộc chúng ta, đã sớm phát ra nhiều ngõ, và sinh lực của chúng ta không phải chỉ dồn vào mỗi một công cuộc Nam tiến. Nước chúng ta ở vào giữa hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ. Với một chính sách ngoại giao khoáng đạt hơn, sự liên lạc quốc tế của chúng ta có lẽ đã rộng rãi hơn, và do đó, vị trí của chúng ta sẽ, đương nhiên, được củng cố bằng những biện pháp dồi dào và hữu hiệu hơn.

Nhưng thực tế là vậy đó. Họa xâm lăng của Trung Hoa đè nặng vào đời sống của dân tộc chúng ta, đến nỗi, tất cả các nhà lãnh đạo của chúng ta đều bị ám ảnh bởi sự đe dọa đó. Và, để đối phó lại, họ chỉ có hai con đường, một là thần phục Trung Hoa, hai là mở rộng bờ cõi về phía Nam.

Sở dĩ, khi bị Tây phương tấn công, mà các nhà lãnh đạo Triều Nguyễn của chúng ta lúc bấy giờ, không có đủ khả năng quan niệm một cuộc ngoại giao rộng rãi, để khai thác mâu thuẫn giữa các cường quốc Tây phương, là vì các nhà lãnh đạo của chúng ta không lúc nào vùng vẫy, đả phá nỗi không khí tâm lý thuộc quốc đã đời đời đè nặng lên lịch sử ngoại giao của chúng ta. Hành động ngoại giao duy nhất lúc bấy giờ là gởi sứ bộ sang cầu cứu với Trung Hoa. Chúng ta đã biết Trung Hoa đã hưởng ứng như thế nào lời kêu gọi của nhà Nguyễn. Nhưng Trung Hoa cũng đang bị đe dọa như chúng ta, nếu không có lẽ Trung Hoa đã lại thừa cơ hội mà đặt lại nền thống trị ở Việt Nam.

Các sứ bộ của chúng ta gởi sang Pháp lại cũng với mục đích điều đình, thần phục với Pháp như chúng ta quen điều đình, thần phục với Trung Hoa, chớ không phải với mục đích đương nhiên phải có của một hành động ngoại giao, là khai thác các mâu thuẫn để mưu lợi cho mình.

Vì thế cho nên, nếu chúng ta có cho rằng, công cuộc Nam tiến thành công là một kết quả của chính sách ngoại giao một chiều như trên đã trình bày, thì cân nhắc kết quả đó với những sự thất bại mà cũng chính sách ngoại giao đó đã mang đến cho chúng ta trong một ngàn năm lịch sử, thì có lẽ những sự thất bại nặng hơn nhiều.

Sự bành trướng của chúng ta đã thâu hẹp lại và chỉ theo có một chiều, bỏ hẳn cửa biển bao la đáng lý ra phải là cái cửa sống cho chúng ta.

Nền ngoại giao của chúng ta ấu trĩ nên, lúc hữu sự, không đủ khả năng để bảo vệ chúng ta. Trong khi đó, đối với một quốc gia nhỏ lúc nào cũng bị họa xâm lăng đe dọa, thì ngoại giao là một trong các lợi khí sắc bén và hữu hiệu để bảo vệ độc lập và lãnh thổ.

Trong chín trăm năm, từ ngày lập quốc, chúng ta đã bị ngoại xâm tám lần, bảy lần do Trung Hoa và một lần do Tây phương. Chúng ta đẩy lui được sáu lần, chỉ có lần thứ sáu nhà Minh đặt lại nền thống trị, trong hai mươi năm, và lần thứ tám đế quốc Pháp xâm chiếm toàn lãnh thổ và thống trị chúng ta trong hơn tám mươi năm.

Vì vậy cho nên, chốngngoại xâm là một yếu tố quan trọng trong chính trị của Việt Nam. Chính trị cổ truyền, của các triều đại Việt Nam không được quan niệm rộng rãi nên, nếu có phân nửa kết quả đối với sự xâm lăng của Trung Hoa thì lại hướng chúng ta vào một chính sách chật hẹp về ngoại giao. Do đó tất cả sinh lực phát triển của dân tộc, thay vì mở cho chúng ta được nhiều đường sống, lại được dốc hết vào một cuộc chiến đấu tiêu hao chỉ để tranh giành đất dung thân. Một mặt khác, chính sách ngoại giao chật hẹp đã đưa chúng ta vào một thế cô lập cho nên lúc hữu sự, các nhà lãnh đạo của chúng ta không đương đầu nổi với sóng gió, và lưu lại nhiều hậu quả tai hại cho nhiều thế hệ.

Chính sách chống ngoại xâm. 

Cái họa ngoại xâm đối với chúng ta hiển nhiên và liên tục như vậy. Vì sao những biện pháp cổ truyền, của các nhà lãnh đạo của chúng ta trước đây, thành công phân nửa, trong công cuộc chống ngoại xâm Trung Hoa, nhưng thất bại trong công cuộc chống ngoại xâm Tây phương?

Trước hết, các biện pháp cổ truyền đã đặt vấn đề ngoại xâm của Trung Hoa là một vấn đề chỉ liên quan đến hai nước: Trung Hoa và Việt Nam. So sánh hai khối Trung Hoa và Việt Nam, và như thế, đương đầu phải là mục đích đương nhiên, thì chúng ta đã thất bại rồi. Những sự thần phục và triều cống chỉ là những biện pháp hoãn binh. Và vấn đề chống ngoại xâm chưa bao giờ được các triều đại Việt Nam đặt thành một chính sách đương nhiên và nguyên tắc, đối với một nước nhỏ, như nước chúng ta. Vì thế cho nên, những biện pháp cần được áp dụng, như biện pháp ngoại giao, đã không hề được sử dụng khi Tây phương xâm chiếm nước ta.

Lý do thứ hai, là công cuộc chống ngoại xâm chỉ được chuẩn bị trên lĩnh vực quân sự. Nhưng, nếu chúng ta không thể phủ nhận tính cách cần thiết và thành quả của các biện pháp quân sự trong các chiến trận chống các triều đại Trung Hoa: nhà Tống, nhà Nguyên cũng như nhà Minh, nhà Thanh, chúng ta phải nhìn nhận rằng nỗ lực quân sự của chúng ta rất là giới hạn. Và ngày nay, độc lập rồi, thì nỗ lực quân sự của chúng ta chắc chắn cũng rất là giới hạn.

Như vậy, đối với một nước nhỏ, trong một công cuộc chống ngoại xâm, biện pháp quân sự không thể làm sao đủ được. Trên kia, chúng ta có đề cập đến những biện pháp ngoại giao, đặt trên căn bản khai thác mâu thuẫn giữa các cường quốc để bảo vệ độc lập cho chúng ta.

Tuy nhiên biện pháp cần thiết nhất, hữu hiệu nhất và hoàn toàn thuộc chủ động của chúng ta, là nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tự do của nhân dân, và phát huy ý thức quốc gia và dân tộc. Đồng thời, áp dụng một chính sách cai trị khoáng đạt, mở rộng khuôn khổ lãnh đạo, để cho vấn đề lãnh đạo quốc gia được nhiều người thấu triệt.

Nếu ý thức quốc gia và dân tộc được ăn sâu vào tâm não của toàn dân, và độc lập và tự do được mọi người mến chuộng, thì các cường quốc xâm lăng, dầu có đánh tan được tất cả các đạo quân của chúng ta và có thắng chúng ta trong các cuộc ngoại giao đi nữa, cũng không làm sao diệt được ý chí quật cường của cả một dân tộc.

Nhưng ý chí quật cường đó đến cao độ, mà không người lãnh đạo thì cũng không làm gì được đối với kẻ xâm lăng. Vì vậy cho nên, đồng thời với những biện pháp quần chúng nói trên, cần phải áp dụng những biện pháp giáo dục, làm cho mỗi người dân đều quen biết với vấn đề lãnh đạo, và, điều này còn chính yếu hơn nữa, làm cho số người thấu triệt vấn đề lãnh đạo quốc gia càng đông bao nhiêu càng hay bấy nhiêu. Bởi vì, có như thế, những người lãnh đạo mới không bao giờ bị tiêu diệt hết được. Tiêu diệt người lãnh đạo là mục đích đầu tiên và chính yếu của các cường quốc xâm lăng.

Nhân đề cập đến vấn đề chống xâm lăng trên đây, lý luận đã dẫn dắt chúng ta đến một vấn đề vô cùng quan trọng.  Trước tiên chúng ta nhận thức rằng đối với một nước nhỏ như chúng ta, họa xâm lăng là một đe dọa thường xuyên.

Để chống xâm lăng, chúng ta có những biện pháp quân sự và ngoại giao. Nhưng hơn cả các biện pháp quân sự và ngoại giao, về phương diện hữu hiệu và chủ động, là nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tự do của nhân dân, phát huy ý thức quốc gia và dân tộc, và mở rộng khuôn khổ giới lãnh đạo, để cho vấn đề lãnh đạo quốc gia được nhiều người thấu triệt.

Sự thể đã như vậy, thì đương nhiên một chính thể chuyên chế và độc tài không làm sao đủ điều kiện để bảo vệ quốc gia chống ngoại xâm được. Bởi vì bản chất của một chính thể chuyên chế và độc tài là tiêu diệt tận gốc rễ tinh thần tự do và độc lập trong tâm não của mọi người, để biến mỗi người thành một động cơ hoàn toàn không có ý chí, dễ điều khiển dễ đặt để, và dễ sử dụng như một khí cụ.

Bản chất của môt chính thể chuyên chế và độc tài là giữ độc quyền lãnh đạo quốc gia cho một người hay một số rất ít người, để cho sự thấu triệt các vấn đề căn băn của quốc gia trở thành, trong tay họ, những lợi khí sắc bén, để củng cố địa vị của người cầm quyền.

Hơn nữa, giả sử mà chính thể chuyên chế hay độc tài chưa tiêu diệt được hẳn tinh thần tự do và độc lập trong ý thức của mọi người, thì, tự nó, một chính thể chuyên chế hay độc tài cũng là một lợi khí cho kẻ ngoại xâm. Bởi vì, dưới một chế độ như vậy, nhân dân bị áp bức, sẽ đâm ra oán ghét người lãnh đạo họ, và hướng về, bất cứ ai đánh đổ người họ oán ghét, như là hướng về một người giải phóng, mặc dầu đó là một kẻ xâm lăng. Lịch sử xưa nay của các quốc gia trên thế giới đều xác nhận điều này: Chỉ có những dân tộc sống tự do mới chống được ngoại xâm.

Riêng về dân tộc chúng ta, chắc chắn rằng sự kháng cự của chúng ta đối với sự xâm lăng của Tây phương sẽ mãnh liệt hơn bội phần nếu trước đó, nhà Nguyễn, thay vì lên án tất cả những người bàn về quốc sự, đã nuôi dưỡng được tinh thần tự do và độc lập của mỗi người và phát huy ý thức quốc gia và dân tộc trong nhân dân.

Ngược lại, mấy lần dân tộc thắng được ngoại xâm, từ nhà Trần đánh đuổi Mông Cổ, đến nhà Lê đánh quân Minh và Quang Trung chiến thắng Mãn Thanh, đều nhờ ở chỗ các nhà lãnh đạo đã khêu gợi được ý chí tự do và độc lập của toàn dân.

Và vấn đề vô cùng quan trọng mà chúng ta đã nêu ra trên kia là vấn đề chính thể của nước Việt Nam. Vì những lý do trình bày trên đây, chính thể thích nghi cho dân tộc chúng ta, không phải định đoạt do một sự lựa chọn căn cứ trên những lý thuyết chính trị, hay là những nguyên nhân triết lý, mà sẽ được qui định một cách rõ rệt bởi hoàn cảnh địa dư và lịch sử của chúng ta, cùng với trình độ phát triển của dân tộc.

Nếu bây giờ chúng ta chưa có ý thức rõ rệt chính thể ấy phải như thế nào, thì ngay bây giờ chúng ta có thể quan niệm được rằng chính thể đó không thể là một chính thể chuyên chế hay độc tài được. Đó là một thái độ rất rõ rệt.  Tóm lại theo ông Nhu, muốn thoát khỏi hiểm họa xăm lăng của Trung Hoa, chúng ta phải theo đuổi 3 biện pháp sau đây:

Biện pháp ngoại giao. 

Việt Nam cần phải có một sách lược ngoại khôn khéo, biết khai thác những mâu thuẩn giữa các cường quốc, các thế lực của các liên minh khu vực như khối ASEAN, khối Liện Hiêp Âu Châu…vì ngày nay theo khuynh hướng toàn cầu hóa của thế giới, thì ảnh hưởng kinh tế của các quốc gia trên thế giới cỏn có một tác động quyết định tới sự sồng còn đối với Trung Cộng, hơn là 30 hay 40 chục năm trước đây.

Ngày nay, sự mâu thuẩn và tranh chấp giữa các cường quốc không còn gay cấn như thời chiến tranh lạnh, nhưng một quốc gia như Trung Cộng với một dân số hơn 1.3 tỉ người, chiếm tỉ lệ 19.64% dân số thế giới, đang vươn vai đứng dậy với tham vọng làm một cường quốc bá chủ Á Châu. Đó không những là một đe dọa riêng rẽ cho khu vực Á Châu Thái Bình Dương mà còn là một hiểm họa chung cho cả thế giới nữa. Trước đây gần 50 năm, ông Nhu cũng đã đề cập đến vấn đề này,

Không phải tình cờ mà ông Paul Reynaud, cựu Thủ Tướng Pháp trong cuộc viếng thăm nước Nga đã long trọng tuyên bố với Thủ Tướng Krutchev. “ Nếu các ông tiếp tục viện trợ cho nước Tàu, trong vài mươi năm nữa, một tỷ dân Trung Hoa sẽ đè bẹp các ông và Âu Châu”. (Tr. 157)

Trong tháng 9. 2009 vừa qua, nhà cầm quyền Hà Nội, đã cử Tướng Phùng Quang Thanh, sang Tân Gia Ba để ký Hiệp Ước Hợp Tác Quốc Phòng, Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh đến Úc Châu, và Phó Thủ Tướng Phạm Gia Khiêm đến Hoa Kỳ, bí mật thảo luận về vấn đề an ninh lãnh thổ, phải chăng là thái độ nước đến chân mới nhảy, như hai phái đoàn của các vua chúa Triều Nguyễn ngày xưa, chúng ta thử nghe ông Nhu biện giải:

Sau khi Trung Hoa bị tấn công, thì lúc bấy giờ phản ứng của chúng ta là vội vã gửi hai phái bộ sang Pháp và Anh, mà không có một sự chuẩn bị ngoại giao nào cả. Lối gởi phái bộ như vậy là lối gởi phái bộ sang Tàu xưa nay. Và sự gởi hai phái bộ sang Pháp và Anh, theo lối gởi phái bộ sang Tàu xưa nay, lại càng làm cho chúng ta nhận thức, một cách rõ rệt hơn nữa, quan niệm ngoại giao của chúng ta lúc bấy giờ mang nặng ‘tâm lý thuộc quốc’ [đối với Tàu], đến mức độ nào.(tr. 181).

Lẽ ra, các nhà lãnh đạo Hà Nội phải tích cực hơn, phải khôn khéo hơn, nếu không dám công khai, thì ít ra cũng phải bí mật, vận động giới truyền thông thế giới, cảnh báo và vận động dư luận thế giới, trước hết là các quốc gia ở vùng Đông Nam Á Châu, rồi đến Nga Sô, Liên Hiệp Âu Châu và các quốc gia Á Phi biết về hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng. Điều rõ ràng nhất hiện nay, là các quốc gia trong vùng như Úc, Tân Gia Ba, Thái Lan, Nam Duong9 và Mã Lai Á [5], đều gia tăng ngân sách cho tài niên 2009 về Không lực và Hải quận gấp bội, nhằm đối đầu với âm mưu bành trướng của Trung Cộng. Nghĩa là các quốc gia này đều bắt đầu lo sợ về sự lớn mạnh của Trung Cộng, nhưng chưa có một vận động quốc tế nào nhằm qui tụ những nỗ lực này thành cụ thể và tích cực để ngăn chặn sự bành trướng đó. Việt Nam là nạn nhân trước hết và trực tiếp của nguy cơ này, phải biết dồn hết nỗ lực về mặt trận ngoại giao, phải vận động, công khai hoặc bí mật, tất cả các quốc gia trên thế giới nhận thức sâu sắc được mối hiểm họa nghiêm trọng này và khi tạo được sự đồng thuận của đa số… Việt Nam vận động đưa vấn đề này ra Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, dù biết rằng hiện nay Trung Cộng là 1 trong 5 hội viên thường trực của Hội Đồng Bảo An có quyền phủ quyết, mọi nghị quyết của Đại Hội Đồng. Nhưng vấn đề chủ yếu của Việt Nam là chính thức công khai đưa ra trước Liên Hiệp quốc một hiểm họa thực sự nghiêm trọng của toàn thế giới, để kiếm tim một hổ trợ quốc tế tích cực nhằm ngăn chặn âm mưu xâm lăng từ Trung Cộng. Hơn nữa, Việt Nam cũng phải biết vận động và nỗ lực đưa vấn đề này ra trước Tòa Án Quốc Tế ở The Hague (International Court of Justice at The Hague). Mục đích không phải là tìm kiếm một phán quyết của tòa án này cho vần đề tranh chấp, nhưng trọng điểm của nỗ lực này là tạo nên sự chú tâm theo dỏi của dư luân quốc tế về một hiểm họa chung của thế giới.

  Philippines đã nộp đơn kiện Trung cộng tại tòa quốc tế Hague, Hòa Lan đòi chủ quyền biển đông. Toà yêu cầu trả lời, tàu cộng nói không!!! tuy nhiên sự kiện này đánh động cho cả thế giới biết sự việc ngang ngược của chúng.

Chúng ta còn nhớ, khi muốn lật đỗ chinh quyền Ngô Đình Diệm, Nhóm chống Tổng Thống Diệm trong Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã vận dộng các quốc gia Á Phi đưa vấn đề được báo chí Hoa Kỳ thời đó gọi là Đàn Áp Phật Giáo và Vi Phạm Nhân Quyền tại Việt Nam, ra trước Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, chuẩn bị dư luận trước ở các quốc gia Á Phi cho việc thay đổi chính phủ tại miền Nam, trước khi âm mưu tổ chức đảo chánh ở Sài Gòn, để khỏi gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tại các quốc gia đó đối với chính sách ngoại giao của Mỹ. Nhưng ông Nhu và Gs. Bửu Hội[6] đã phá vỡ âm mưu này bằng cách chính thức mời Liên Hiệp Quốc cử một phái đoàn đến Việt Nam điều tra tại chổ, trước khi đưa vấn đề này ra thảo luận tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Rồi khi phái đoàn này đến Việt Nam điều tra và hoàn thành một bản phúc trinh dày gần 300 trang, với kết luận là không có đàn áp Phật Giáo tại Việt Nam, thì Bộ Ngoai Giao Hoa trở nên lúng túng, sợ rằng nếu đưa vấn đề này ra thảo luận tại Liên Hiệp Quốc sẽ làm giảm uy tín của Hoa kỳ và tạo cơ hội cho Trung Cộng tấn công Hoa kỳ đã xen vào nội bộ của Việt Nam và đã tổ chức đảo chánh ở Saigon, nên cử Cabot Lodge vào đầu tháng 12. 1963, liên lạc với Sir Senerat Gunaewardene của Tích Lan, là trưởng phái đoàn điều tra của Liên Hiệp Quốc lúc đó, đừng đưa bản phúc trình này ra thảo luận tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc nữa, và Sir Senerat đã đồng ý làm điều đó như một ân huệ cá nhân của ông dành cho Lodge (Gunawardene agreed to do so as a personal favor to Lodge), vì trước đây khi làm Đại Sứ Hoa kỳ tại Liên Hiệp Quốc, Lodge là bạn của ông.[7]

Như vậy, chúng ta thấy đối với một cường quốc như Hoa Kỳ, họ cỏn biết vận dụng Diễn Đàn Liên Hiệp Quốc hỗ trợ cho những mục tiêu chính trị của họ. Tại sao Việt Nam đứng trước một hiểm họa đe dọa sinh tử đến vận mạng của cả dân tộc, chúng ta lại không vận động để tìm hậu thuẩn của thế giới để bảo vệ nền độc lập của chúng ta ?

Nhưng thực tế, chúng ta rất đau lòng, khi thấy, các nhà lãnh đạo Hà Nội, về phương diện ngoại giao, đã đánh mất rất nhiều cơ hội lịch sử quí báu, để khôi phục độc lập cho dân tộc và phát triển quốc gia. Đó là cơ hội của những năm 1945, 1954, 1973 và 1975. Thực vậy, nếu ngày xưa các vua chúa Triều Nguyễn, vì quá tin tưởng vào văn hóa Trung Hoa đã trở nên tự tôn và thiển cận, thì ngày nay các nhà lãnh đạo Hà Nội cũng quá sùng bái chế độ Cộng Sản và quá tin tưởng vào lý luận giai cấp đấu tranh, đã trở nên mù quáng, xem mọi người đều là kẻ thù, nên chưa bao giờ họ có thể đề ra một chính sách ngoại giao khoáng đạt và lương hảo, còn về phương diện quốc nội họ cũng không có đủ cởi mở, để thực tâm mời những thành phần khác biệt chính kiến, thành lập một chính phủ đoàn kết để phất triển quốc gia. Trái lại, họ chỉ có những thủ đoạn chính trị gian trá và xão quyệt để lừa dối đối phương, để rồi cuối cùng là tiêu diệt đối phương. Điều này chứng tỏ hết sức rõ rệt khi nhìn về lịch sử Việt Nam Cận và Hiên Đại. Năm 1946, Cộng Sản dùng chiêu bài chính phủ Liên Hiệp, để tiêu diệt phe Quốc Gia, rồi năm 1954, ký hiệp định Genevea, chưa ráo mực, họ đã vi pham hiệp định này, bằng cách gài lại hơn 70,000 cán bộ tại miền Nam với âm mưu khuynh đảo chính quyền Quốc Gia Việt Nam. Đến năm 1973, một lần nữa, họ đã lừa phỉnh để tiêu diệt phe quốc gia dưới chiêu bài mới là Hòa Hợp và Hòa Giải Dân tộc. Còn đối với quốc tế, khi ký hiệp định Paris, họ long trọng cam kết để nhân dân Miền Nam hoàn toàn tự do quyết định vận mạng của mình. Ngay sau đó, khi người Mỹ, theo đúng cam kết của hiệp định này, rút khỏi miền Nam, thì họ đem quân xóa sỗ chinh phủ Sài Gòn…Với một những phương cách gọi là liên hiệp, hợp tác và một lịch sử bang giao đầy phản trắc và gian trá như vậy, ai còn có thể tin tưởng vào Hà Nội để hợp tác hữu nghị. Do dó, từ ngày cướp chính quyến tại Hà Nội vào tháng 8 năm 1945 đến nay, các nhà lãnh đạo miền Bắc bị đuôi mù bởi lý thuyết Mác-Lênin và Mao Trach Đông, theo đuổi một chế độ độc tài phi nhân, tàn sát và thủ tiêu các thành phần bất đồng chính kiến, đầy đọa toàn dân trong cảnh nghèo đói, thất học, thù hận và bắn giết lẫn nhau. Còn về phương diên quốc tế, vì thiếu hiểu biết và chỉ biết quyền lợi của phe nhóm, nên họ đã liên kết với Trung Cộng và Liên Sô, để đưa toàn thể dân tộc vào một cuộc chiến tranh kéo dài hơn 30 năm. Đó là một cuộc chiến tranh lâu dài và khốc liệt nhất trong lich sử nhân loại. Thực vậy, lâu dài nhất vì cuộc Thế Chiến I, chỉ có 4 năm, từ 1914-1918, Thế Chiền 2, chỉ có 6 năm, từ 1939-1945, và khốc liệt nhất, vì số bom đạn được sử dụng trong chiến trường Việt Nam gấp 2.5 số bom đạn dùng trong Thế Chiến 2. Nhưng điều tệ hại hơn nữa, khi nhận viện trợ từ Trung Cộng để đánh Mỹ cũng là lúc họ đã thực sự rước họa xâm lăng từ phương Bắc vào Việt Nam.

Đối với những nhà lãnh đạo có một não trạng bệnh hoạn như vậy làm sao có được một viễn kiến chính tri sâu sắc, một chinh sách ngoại giao khoáng đạt và biết khai thác những mâu thuẩn quốc tế để kiếm tìm nhũng đồng minh hữu hiệu, để rồi cùng với sự hỗ trợ tích cực của toàn dân trong nước, nhằm tạo thành một sức mạnh dũng mãnh để chống lại hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng

Biện Pháp Quân Sự 

Hiện nay, Việt Nam có một đội quân khoảng 450,000 người. Đây là một lực lượng quân sự lớn nhất so với các quốc gia tại Đông Nam Á hiện nay. Nhưng vấn đề đặt ra liệu quân nhân dưới cờ còn có tinh thần để hy sinh và chấp nhận gian khổ để chiến đấu nữa hay không? Khi chính họ chứng kiến những thực trạng xã hội quá phũ phàng trước mắt, trong khi các lãnh tụ của họ tìm mọi cách để vơ vét tài sản quốc gia cho cá nhân, gia đình và phe nhóm, còn tuyệt đại đa số dân chúng, trong đó có cả các gia đinh bộ đội Cộng Sản, bị bóc lột, sống trong cảnh khốn cùng nhất, chưa từng thấy trong lịch sử cận đại Việt Nam, từ trước tới nay, nghĩa là còn cơ cực hơn thời Thực Dân Pháp đô hộ đất nước chúng ta. Nhưng sau hết và mấu chốt hơn hết, vẫn là vấn đề các nhà lãnh đạo Hà Nội có còn ý chí để chiến đấu nhằm bảo vệ tổ quốc chống lại họa ngoại xâm nữa hay không? Chúng ta hơi bi quan, khi nghe lời bình luận của Carl. Thayer, một chuyên gia về các vấn đề Việt Nam, tại Học Viện Quốc Phòng Hoàng Gia Dantroon của Úc. có lẽ bây giờ các nhà lãnh đạo Hà Nội đã trở nên quá giàu có, họ muốn được yên thân để bảo vệ tài sản và gia đình của họ hơn.. cho nên việc mất thêm một vài hải đảo xa xôi như Hoàng Sa và Trường Sa, mất thêm một ít lãnh thổ và lãnh hải ở phía Bắc không còn là vấn đề quan trọng với họ nữa !

Biện Pháp Chính Trị 

Đó là nuôi dưỡng tinh thần độc lập, tự cường, tự chủ cùng ý thức quốc gia và dân tộc. Ông Nhu đã biện giải vấn đề này như sau:

Tuy nhiên biện pháp cần thiết nhất, hữu hiệu nhất và hoàn toàn thuộc chủ động của chúng ta, là nuôi dưỡng tinh thần độc lập và tự do của nhân dân, và phát huy ý thức quốc gia và dân tộc. Đồng thời, áp dụng một chính sách cai trị khoáng đạt, mở rộng khuôn khổ lãnh đạo, để cho vấn đề lãnh đạo quốc gia được nhiều người thấu triệt.

Ông Ngô Đình Quỳnh,  thứ nam của ông cố vấn Ngô Đình Nhu trong một cuộc phỏng vấn với đài Á Châu Tự Do. Link:  http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/paris–commemoration-of-50-years-president-ngo-dinh-diem-and-ngo-dinh-nhu-s-death-11032013131800.html

Và sau cùng ông Nhu đã đi đến kết luận, muốn thắng hiểm họa xâm lăng của Trung Cộng một chính thể chuyên chế hay độc tài như Hà Nội hiện nay, không thể nào thành công được.

Trong khi đó, chúng ta đều biết rằng hiện nay thế giới đang chứng kiến những thay đổi khốc liệt nhất, đặc biệt là trong lãnh vực tin học và khoa học kỹ thuật, còn trong lĩnh vực chính trị ngoại giao, như Tổng Thống Obama, cũng kêu gọi, một sự hợp tác và hòa giải giữa các quốc gia, để đẩy lùi bóng tối của chiến tranh và nghèo đói, nhằm kiến tạo một kỷ nguyên hữu nghị, hợp tác, hòa bình và thịnh vượng cho toàn thế giới, thì các nhà lãnh đạo của Hà Nội vẫn giữ nguyên bản chất của Cộng Sản là độc quyền lãnh đạo, độc tài toàn trị và để cũng cố chính quyền chuyên chế, họ thẳng tay đàn áp đối lập, các giáo hội tôn giáo chân chính, áp dụng chính sách đầy đọa người dân trong cảnh nghéo đói, chậm tiến và thất học… để trong nước không còn ai có thể chống đối lại họ được.

Với những kiểm điểm sơ lược trên đây, chúng ta đều thấy trước rằng, nếu dân tộc chúng ta không còn cơ may để thay đổi thành phần lãnh đạo tại Bắc Bộ Phủ, thi vấn đề Việt Nam nội thuộc nước Tàu chỉ còn là vấn đề thời gian.

 

Tiến Sĩ Phạm Văn Lưu

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Văn Tuyển.net

http://www.chuviet.net/t1748-topic

Ghi chú:

[1] Linh Muc De Jaegher, Cố vấn thân cận của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Tổng Thống Tưởng Giới Thach, đàm luận với tác giả tại Sàigòn vào 6. 1966.

[2]. Sách được xuất bản mang tên Tùng Phong, Chính Đê Việt Nam, Saigon-Việt Nam, 2009

[3] Xin xem các diễn văn này trong La Voix de la Juste Cause, Recueils Des Principaux Discours et Meassages du President Ngo Dinh Diem, June 1954 – Juillet 1963, Saigon, Service de la Press de la Presidence de la Republique du Vietnam, 1963. Các diễn văn này thường được ông Phạm Đình Khiêm dịch ra Việt ngữ và Gs. Tôn Thất Thiện ra Anh ngữ.

[4] Có lẽ vì đánh máy sai, nên trong ấn bản in là vĩ tuyến 17, thực tế lá vĩ tuyến 16, chú thich của người viết.

[5] Nước Úc trong bản ngân sách 2009-2010, đã gia tăng hơn 6.6.tỉ bạc (từ 19.8 tỉ lên 26.4 tỉ), để gia tăng khả năng không lực và hải quân nhằm bảo vệ lãnh thổ. Điều này khiến chính quyền Nam Dương phải quan ngại, sau đó chính phủ Úc đã phải lên tiếng trấn an.

Còn Thái Lan trong bản ngân sách 2008, ngân sách dành cho Bộ Quốc Phòng đã tăng lên tới 4.5 tỉ US dollars, đă quan mặt cà Nam Dương và Mã Lai về chi phí quốc phòng.

Tân Gia Ba trong bản ngân sách 2009, họ cũng đã dành đến 34% cho ngân sách quốc phòng. Nhưng từ lâu Tân Gia Ba, có lẽ, đã thấy trước được hiểm họa xăm lăng của Trung Quốc, nên họ đã có những thỏa hiệp liên kết quân sự với Hoa Kỳ từ năm 1990 với thỏa hiệp MOU và đến 2005 họ đã ký hiêp ước Hợp Tác Quân Sự với Hoa Kỳ. Nam Dương đã để chi phí quốc phòng vào hàng ưu tiên thứ 3 trong bản ngân sách 2008 với ngân khoản là 3.3 tỉ US dollars.

Còn Mã Lai, muc tiêu của ngân sách 2008, dành ưu tiên cho phúc lợi toàn dân, nên chi phí quốc phòng phải bị cắt giảm tối đa, nhưng riêng chi phí dành cho Không Lực Mã Lai, không bị cắt giảm mà lại còn được gia tăng từ 1,482 tỉ Mã kim lên đến 1,613 tỉ Mã kim để gia tăng khả năng phòng thủ quốc gia.

[6] Giáo sư Bửu Hội là một phật tử và thân mẫu của giáo sư là Sư Cô Diệu Huệ, lúc đó Giáo sư được Tổng Thống Diệm cử làm trưởng phái đoàn đặc biệt tại Liên Hiệp Quốc từ tháng 9. 1963, đặc trách về cuộc Khủng Hoảng Phật Giáo.

[7] Theo sự tiết lộ cùa Bà Swarna L. Ganawardene, con gái cùa Sir Senerat, trong thư gởi cho Bà Anne Blair, (một đồng nghiệp của người viết tại Đại Học Monash trước đây), vào tháng 11. 1989. Và cũng có thể xem thêm Điện văn số 2444 từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ gởi cho Tòa Đại Sứ Mỹ Saigon, ngày 11. 12. 1963 dưới tiêu đề Gunawardene’s killing the debate. xem Anne Blair, Lodge in Vietnam, A Patriot Abroad, New Haven, Yale university Press, 1995, tr. 78

 


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 812 other followers