Trận Tuyến Truyền Thông – Trần Quốc Kháng
Đăng trong: Tháng Năm 11, 2013 Filed under: Human Right | Tags: Truyền Thông Leave a comment »Bài đọc suy gẫm: Trận Tuyến Truyền Thông – Trần Quốc Kháng. Đọc để thấy nguyên nhân mất nước có sự đóng góp phần lớn do truyền thông bịp bợm. Trong thời đại internet hiện nay với hằng hà sa số tin tức nhanh chóng mỗi ngày chúng ta càng phải kỹ càng hơn nữa trong vấn đề gạn lọc. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Tuyển Tập Tham Luận& Bình
Luận Thời Sự (*)
Free downloads for personal,
educational or academic uses, but NOT
for trade or commercial purposes. (1)
****
Quý vị muốn nhận eBook‘Trận Tuyến Truyền Thông’
hoàn toàn miễn phí
xin viết email cho NXB LamSon
(NXBLamSon@Gmail.com).
Chúng tôi sẽ gởi toàn bộ
eBook TTTT đến Đ/C email của quý vị.
————————————————–
(*) Nhiều bài được viết trước năm 2012, nên phần thời sự có thể mất ‘thời gian tính’. Tuy nhiên, phần chính yếu về XẢO KẾ, TỘI ÁC và THƯC CHẤT CỦA CSVN. không có gì thay đổi – bất chấp không gian và thời gian.
(1) Copyright © by Trần Quốc Kháng Aka Đỗ Quốc Anh-Thư. All rights reserved. No part of the text in the eBook (Trận Tuyến Truyền Thông)may be reproduced, stored in a retrieval system, or transmitted, in any form or by any means, electronic, photocopying, recording, etc., without the prior written permission of Tran Quoc Khang AKA Đỗ Quốc Anh-Thư or NXB Lam Sơn (NXBHLamSon@GmailH.com).
Tác gỉa GIỮ BẢN QUYỀN tất cả các bài viết phổ biến trên Internet, hoặc báo chí ở hải ngoại.
1- Nếu quý vị đồng ý về bài viết này, xin vui lòng FWDđến các diễn đàn (Egroups), hoặc các địa chỉ Emails cá nhân. Chúng tôi gởi lời tri ân.
2- Nếu quý vị muốn phổ biến bài viết của chúng tôi trên Website,Đặc San, Tuần Báo, Nhật Báo v.v. Xin vui lòng liên lạc với chúng tôi qua địa chỉ Email: NXBLamSon@…,chúng tôi sẽ hoan hỷ phúc đáp.
3- Ngược lại, bất cứ cơ quan ngôn luận, hay cá nhân nào KHÔNG TÔN TRỌNG TÁC QUYỀN, tự ý lấy bài viết của chúng tôi sử dụng để ‘làm cảnh Chống Cộng’, hoặc có chủ đích mờ ám, sẽ hoàn toàn chịu trách nhiệm trước công luận và luật pháp. Điển hình như vài ba tuần báo ở Nam Bắc California và mấy trang Websites KHÔNG BIẾT TỰ TRỌNG, đã gây ra tệ trạng sai trái trầm trọng cho bài viết của chúng tôi. Nên buộc lòng chúng tôi phải có phản ứng, kể cả việc viết ghi chú này.
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.
Links:
Nguồn Email.
30-4: “Ới Con ơi, con ơi” – Phan Lạc Tiếp
Đăng trong: Tháng Tư 27, 2013 Filed under: Human Right | Tags: Hồi Ký 3 Comments »”Một Đời Oan Trái” của tác giả Phan Lạc Tiếp, nhà xuất bản Quê Hương, Hoa Kỳ.
Bài đọc suy gẫm: 30-4: “Ới Con ơi, con ơi” hay câu chuyện về Người đàn bà đánh rơi mất đứa con 6 tuổi khi lên tàu Dương Vận Hạm Thị Nại, HQ 502 của tác giả Phan Lạc Tiếp. Hình ảnh chỉ có tính minh họa. Ghi chú: Blog 16 có tìm ra một vài chi tiết liên quan đến câu truyện này. Xin bạn đọc theo dõi thêm nơi cuối bài. (*).
Chuyến di tản của Dương Vận Hạm Thị Nại, HQ 502, một con tàu hỏng máy, đang trong thời kỳ sửa chữa, chở theo trên 5,000 người, rời cầu tàu trong Hải Quân Công Xưởng đêm hôm 29 Tháng Tư năm 1975 với bao nhiêu là khó khăn, hãi hùng, nguy hiểm. Hầu như trên mười năm sau đó, đã định cư ở Hoa Kỳ an toàn, nhiều đêm ngủ, thần trí tôi vẫn bị trôi theo cơn hốt hoảng kinh hoàng bởi chuyến đi này. Trong những giấc mơ kinh dị đó, tôi vẫn thấy rõ rừng người đặc nghịt ở trên sàn tàu. Bầu trời thì đen thẫm, những ánh đèn xanh đỏ của những chiếc trực thăng vần vũ, nặng nề bay qua bay lại. Những đám cháy sáng rực bùng lên ở mấy góc trời. Kho xăng Nhà Bè trắng xóa, lấp loáng dưới ánh lửa đang cuồn cuộn bốc cao từ Căn Cứ Hải Quân. Những tiếng nổ òa vỡ bên tai, kéo theo những tiếng rít của những trái đạn rời nòng từ hai khẩu đại bác của Ðặc Khu Rừng Sát. Con tàu ôm sát bờ lửa đạn ấy để vào nhánh sông Soài Rạp, bò ra cửa biển.
Sáng ngày 30 Tháng Tư, con tàu liệt máy, buông trôi ở cửa sông. Biển ở trước mặt, sóng trắng xô xô từng đợt. Lại những đợt máy bay từ phía Sài Gòn túa ra. Những chiếc trực thăng bay thấp, dọc theo hông tàu, thấp hơn chiều cao của đài chỉ huy chiến hạm. Cửa máy bay mở rộng. Chúng tôi thấy trong lòng máy bay chật ứ những đàn bà, trẻ con. Mấy bà già hướng về chiến hạm, quỳ, cúi gập người, chấp hai tay mà lễ. Trong khi đó viên phi công rà được tần số của chiến hạm. Bằng một giọng nói đầy khấp thiết: “Anh em Hải Quân ơi, cứu chúng tôi với. Chúng tôi được lệnh bay ra biển để đáp xuống tàu Mỹ. Nhưng tới điểm hẹn chỉ thấy biển mông mênh, tàu Mỹ đâu không thấy, nên phải quay về. Tàu tôi chỉ còn 5 phút xăng. Xin cứu chúng tôi, gia đình tôi, mẹ tôi…” Không cầm lòng được, Hạm Tướng Nguyễn Văn Tánh và “Ban Tham Mưu” chấp nhận những khó khăn, bất trắc, đồng ý là cho trực thăng đáp xuống sân chiến hạm. Sân chiến hạm đông đặc những người, lùng nhùng những chiếc mền đủ màu căng ra che sương gió qua đêm. Nắng bắt đầu oi ả. Tất cả phải giải tỏa cấp kỳ. Mọi người phải xuống hết sân chiến xa. Sân tàu trống vắng. Chiếc trực thăng từ từ đáp xuống. Một chiếc. Lại một chiếc nữa…
Tới gần trưa ngày 30 Tháng Tư, ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Cả tàu mấy ngàn người xốn xang, cuống quýt. Có những tiếng khóc vỡ òa đâu đó. Một buổi họp khẩn cấp để đi đến quyết định: Bằng mọi giá phải thoát ra khỏi lãnh hải Việt Nam . Phải đi cho bằng được. Toán thợ máy kết hợp lạ lùng cố sửa chữa. Máy tàu nổ, một máy. Tàu ra được ngoài khơi, lết đến gần Côn Sơn, gặp được hạm đội mình ở đó. Lệnh từ Soái Hạm HQ3 chỉ thị cho HQ16 tới kéo HQ502 đi. Những đêm lừ đừ ở ngoài khơi, đoàn tàu vừa đi vừa đợi nhau. Những chiếc ghe đầy ứ người sáp vào chiến hạm. Không thể làm ngơ, tàu thả thang dây, lại vớt thêm người. Ðêm xuống, hải đăng Vũng Tàu lóe lên từng đợt như thách thức, như mời gọi, như những vẫy tay giã từ. Bờ biển quê hương đấy mà giờ đã trở nên kinh khiếp, chia lìa, đớn đau. Ngày đêm, qua làn sóng điện của đài Sài Gòn, không còn là những giọng nói thân quen, mà là những lời kêu gọi chát chúa, đe dọa của kẻ thù: “…quân, cán chính của ngụy quân Sài Gòn mau mau ra trình diện”. Những ngày thiếu thốn, chật chội, chia nhau từng ngụm nước, từng nắm cơm chỗ sống, chỗ khê, chỗ thì thiu chua.
Mấy ngày sau, bờ biển Phi Luật Tân hiện ra, núi non chập chùng đen thẫm. Lễ chào và hạ Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa lần cuối được diễn ra, đơn giản nhưng vô cùng nghiêm trang và rất đớn đau. Lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ bạc màu từ từ được kéo xuống, cùng với hàng ngàn giọng hát, già, trẻ, nam, nữ cất lên, vừa hùng tráng, vừa chất chứa những nghẹn ngào. Những lời hát như trùm kín cả vùng trời biển nước mênh mông. Lời ca dứt. Những tiếng kêu khóc bỗng bùng vỡ. Nhìn đâu tôi cũng chỉ thấy những cặp mắt đầm đầm nước mắt. Trong những tiếng kêu khóc thảng thốt ấy, tôi thấy có tiếng kêu của một người đàn bà: “Ơi, con ơi, con ơi…” Trong tập bút ký viết về cuộc di tản này, tôi đã không quên ghi lại tiếng kêu thảng thốt, lạ lùng này. Tại sao tôi lại không ghi những tiếng kêu khóc khác tràn ứ quanh tôi trên con tàu Thị Nại HQ 502 lúc đó. Tôi không trả lời được. Vì khi viết lại giây phút xúc động lịch sử này, tay tôi như chỉ tuân theo những gì mà thần trí tôi đã ghi dấu mà tự động viết ra. Viết ra như vẽ lại rất tự nhiên, không có một sự lựa chọn nào. Nhưng bây giờ thì tôi hiểu. Tình cờ tôi đã hiểu. Có những hình ảnh tuy mờ nhòa, khi ẩn khi hiện, nhưng không bao giờ biến mất trong trí nhớ của tôi. Tôi không bao giờ quên. Tôi nhớ lại rồi. Tôi nhớ thật rõ. Tôi hiểu tại sao tôi ghi lại tiếng kêu này. Xin hãy cho tôi từ từ nhớ lại.
Tôi bỏ chiếc xe hơi nhỏ ở ngoài cửa Hải Quân Công Xưởng, sát bên Bệnh Xá Bạch Ðằng. Tôi đi đầu, hướng dẫn cả gia đình trên mười người, theo đoàn người lũ lượt chạy bộ dọc theo chiều dài của Hải Quân Công Xưởng. Vừa chạy vừa ngoái cổ nhìn trở lại để kiểm soát đoàn “rồng rắn” của gia đình. Chỉ sợ có người bị lạc. Lạc là vô cùng khốn khổ, khó khăn. Tìm đến cầu tàu trước Bộ Tư Lệnh Hạm Ðội. Con tàu Thị Nại, HQ 502 nằm đó, vị trí 1. Bên ngoài con tàu này còn ba con tàu khác cặp song song. Tất cả bốn con tàu xám ngắt, hướng mũi phía hạ dòng. Người từ phía sau tràn tới.
Như đã hẹn, tôi sẽ phải lên cho được con tàu này. Con tàu do bạn thân cùng khóa với tôi làm Hạm Trưởng – Hải Quân Trung Tá Nguyễn Văn Tánh. Chúng tôi cũng đã hùn tiền mua thêm nhiều gạo, mì và những thức ăn khô chất sẵn ở tàu này. Nước lấy tối đa. Lúc này nước thủy triều dâng cao, bắt đầu xuống. Người ken sát nhau như gạch trên cầu tàu, nhích tới, nhích tới. Cái thang dài độc nhất dựng dốc ngược bên hông tàu. Tôi biết rằng khi khẩn cấp, chỉ cần thả hai mối dây là cái thang tự động tuồi xuống cầu tàu, lăn theo hai bánh xe ghì trên mặt đất, không một chút khó khăn. Tàu sẽ tách bến dễ dàng. Nhưng bây giờ rừng người đang ùn ùn tiến tới. Những quân nhân, trai tráng thì tìm mọi cách bám vào thành tàu mà lên. Gia đình tôi tất cả mười ba người, con số tình cờ không vui, trong đó có hai ông bà nhạc tôi ốm yếu, bốn đứa con nhỏ dưới mười tuổi. Chúng tôi không có cách nào khác là phải leo ngược cầu thang nhỏ, dốc ngược này để lên tàu mà thôi. Tôi lên đầu tiên, bế trên tay thằng con út hai tuổi bụ sữa, nặng trĩu. Trên lưng đeo một ba-lô quần áo và các thứ cần dùng. Một tay xách cái va-li nhỏ đựng đầy giấy tờ, bản thảo và hình ảnh. Rất nhiều hình ảnh. Cầu thang dốc và trơn, khiến tôi trượt chân. Cái va-li trở nên nặng quá bung ra phía ngoài. Tôi buông tay, nắm vội vào sợi dây cable, cái va-li rơi tõm xuống nước, mất tăm. Hai tay ôm chặt thằng nhỏ trong lòng. Tôi cúi người xuống để ghì lấy mặt thang. Trong phút chông chênh đó có bàn tay ai rất mạnh giữ chặt lấy cánh tay tôi. Chỉ trong một sát na kinh khiếp đó, tôi gượng lại được và bò lên sàn tàu. Không biết cánh tay ấy của ai. Ai đã cứu bố con tôi. Ðặt con xuống sàn tàu tim tôi còn đập bập bùng hồi hộp. Tôi quay lại cùng các em tôi kéo vợ tôi, hai ông bà nhạc lên tàu. Kiểm điểm lại “quân số” gia đình. Ðủ cả. Tôi quay lại cầu thang, đứng chân trước chân sau thật vững trên sàn tàu. Một tay vịn vào hàng rào chắn, một tay chìa ra kéo những người đang trèo ngược thang lên.
Bao nhiêu bàn tay tôi đã nắm. Có bao nhiêu bàn tay bè bạn thân quen, nắm chặt tay nhau kéo lên, buông ra với những nụ cười. Anh Trần Văn Tâm (nhà văn Trần Quán Niệm), anh Nguyễn Hưng Quảng, anh Nguyễn Ða Phúc và bao nhiêu người nữa. Chúng tôi xúm nhau ở đó để tiếp tay, đỡ đần những người yếu đuối. Có bao nhiêu là những bàn tay già nua, hay non dại của những ai tôi chưa bao giờ gặp gỡ. Tất nhiên chúng tôi cũng đã chuyển, bế bao nhiêu là trẻ con ở tuổi các con tôi. Lúc kéo người lên như thế, cũng là lúc tôi nhìn xuống khoảng trống giữa thành tàu và cầu tàu, tôi không còn thấy cái va-li của tôi đâu cả. Nước đã cuốn nó đi trôi nổi ở góc kẹt nào. Khoảng trống dọc theo thân tàu chỉ độ bốn mươi phân thôi, là bề dày của trái độn cao su. Cái khe này hun hút đen thẫm dọc theo thân tàu dài hàng trăm thước. Dưới sâu là mặt nước, những làn sóng nhỏ, lấp lánh ánh đèn trôi đi, trôi đi. Tôi biết sức nước trông thế nhưng thật là mạnh mẽ. Chân cầu tàu lù xù những vết sò hến, rác rưởi bám đầy. Nếu ban nãy tôi không có cánh tay nào bám lấy, ngã xuống đây… Mới thoáng nghĩ thế, toàn thân tôi như lạnh buốt. Tôi nghĩ đến con tôi. Ðứa con út của tôi.
Rời cầu thang quay gót trở lại với gia đình, tôi vừa quay gót, có tiếng người đàn bà thảng thốt kêu lên: “Con tôi, con tôi rơi… rồi. Ơi con ơi là con ơi…” Tôi quay phắt lại, người ta đen đặc, đang kéo người đàn bà vào sàn tàu. Ở phía cầu thang người vẫn cứ ùn tấn lên không dứt. Người đàn bà khốn khổ, mất con như mê đi, đang được người ta xúm lại chữa chạy, giựt tóc, bôi dầu. Hình như không ai quan tâm gì đến số phận của đứa nhỏ vừa rời tay mẹ rơi xuống cầu tàu, mất tăm. Vô phương cứu tìm. Mà ai còn có thì giờ đâu để ngó xuống cái khe đen thẫm đó. Người càng lúc càng lên thêm, đứng đen đặc cả sàn tàu. Không ai biết, chẳng ai quan tâm đến cảnh huống bi thảm vừa mới xảy ra. Ðêm mỗi lúc mỗi sâu. Nỗi khốn khổ của người mẹ mất con như bay theo, mất hút giữa đêm đen mỗi lúc mỗi thêm kinh sợ.
Lên được trên tàu, tìm gặp bạn tôi, HQ Trung Tá Nguyễn Văn Tánh, Hạm Trưởng, anh nhường phòng của anh cho gia đình tôi. Tôi ngần ngại, nhưng anh bảo: “Tôi còn cái phòng nhỏ trên Trung Tâm Hành Quân.” Tạm yên tâm, tôi sát cánh cùng anh, tập họp tất cả những quân nhân có mặt, tìm mọi cách để đem tàu ra khơi. Người thì chật cứng ở sân boong chính, ở hầm chiến xa, và la liệt cả ở hành lang, mọi chỗ. Nhưng như anh Tánh sau này cho biết thì “nhân viên cơ hữu trên 100 nay chỉ còn có 9 người…” Tình trạng chiến hạm thì còn đang sửa chữa: “Hai máy chánh ráp xong, nhưng chưa thử tại chỗ. Hai máy điện chưa được ráp song song. Bơm nước ngọt và bơm cứu hỏa chưa ráp. Bình cứu hỏa CO2 còn nằm trên Hải Quân Công Xưởng. Hai máy neo trước và sau bất khiển dụng. Sàn tàu cắt mở lối đem máy chánh lên chưa hàn lại”. Biết bao nhiêu là trở ngại, khó khăn, nguy hiểm. Khi khởi động được máy thì tay lái bất khiển dụng. Dây cable lái bị cắt đứt. Nói ra không hết những nguy khốn của cuộc đi này. Bao nhiêu điều, bao nhiêu hình ảnh vẫn đầy ắp trong trí nhớ của tôi. Nhưng hình như tiếng kêu vô vọng, thảng thốt của người đàn bà khốn khổ đó đã thấm nhập sâu đậm vào trí não tôi. Lúc mờ lúc tỏ, nhưng tiếng kêu đó không bao giờ mất được trong tiềm thức của tôi. Khi có những sự tương quan, hình ảnh ấy sẽ tự động hiện ra mà lý trí tôi hình như không thể can dự vào. Và sự việc đã được xảy ra rất tình cờ mới đây, gần 30 năm xa cách.
Trong một buổi gặp gỡ thu hẹp của mấy bà bạn cựu nữ sinh Trưng Vương của bà xã tôi tại San Jose , chuyện trò đang nổ như cái chợ, bỗng khựng lại, khi tình cờ chị D. N. nói: “Thế ra gia đình tao dùng di tản trên con tàu Thị Nại HQ 502 với tụi mày à. A, sao cả tuần lễ trên tàu mà mình không gặp được nhau. Ừ, người đông như kiến. Trên 5,000 người. Khiếp thật!”
Anh Ng., chồng chị N. nói: “Khi ở trên tàu tôi xung phong trong toán nhà bếp, nóng như cái hầm. Lúc có điện lúc không. Cơm nấu suốt ngày mà không đủ. Lúc sống, lúc khê. Khi ra đi đại gia đình chúng tôi có 20 người. Nếu kể cả thằng cháu P. bị rơi ở cầu tàu là 21. Bây giờ tổng số đã là 40…” Lòng tôi như có điện giật. Cả một khung trời kinh khiếp đêm 29 rạng 30 Tháng Tư năm cũ lại hiện ra rõ ràng. Cái khe sâu dài dọc theo cầu tàu đen thẫm, lấp lánh những lượn sóng trôi đi, trôi đi. Tiếng kêu thảng thốt của người đàn bà: “Con tôi, con tôi rơi rồi… Ơi con ơi là con ơi”. Lạ nhỉ. Quả đất tròn thật. Tôi phải tìm gặp cho được người đàn bà ấy.
Bà D. T. L., qua điện thoại kể lể: “…một tay tôi cầm cái túi. Một tay tôi dắt thằng cháu P. bước lên cầu thang dốc ngược của con tàu. Người từ phía dưới cứ nống lên. Mà là người nhà mình cả chứ đâu. Gót giày tôi như kẹt vào khe cầu thang, chân tôi bỗng nghiêng đi, lao chao muốn ngã. Thế là tôi buông tay thằng nhỏ ra. Nó rơi ngay xuống khe tàu, mất tiêu. Tai tôi như chỉ còn thấy tiếng cháu kêu: mẹ L… Tôi kêu lên, nhưng có ai giúp được gì đâu. Mà có ai thấy gì đâu mà giúp. Tay tôi bỗng trống không. Tôi được người ta kéo lên sàn tàu. Tôi mê đi chẳng còn biết gì nữa sất. Bên tai tôi cứ như loáng thoáng tiếng kêu của nó. Từ đó, nói ông bỏ quá đi cho, tôi cứ ngơ ngẩn, chả còn thiết gì nữa cả. Tôi nằm như chết ở sàn tàu, chả thiết ăn uống gì. Khi đoàn tàu sửa soạn vào cảng ở Phi Luật Tân, mọi người lên sân chính để chào quốc kỳ lần cuối, trong tai tôi vẫn vang vang lời kêu cứu của cháu: Mẹ L. ơi… Vì thế, trong giờ phút ấy tôi bỗng òa khóc và kêu lên…”
Vẫn lời kể của bà L.: “Lúc ấy cháu T. T. P. được 6 tuổi rưỡi. Cháu nhờ trời cũng chịu ăn, chịu chơi nên cũng có da có thịt, chắc nịch. Mỗi khi cháu trái nắng, trở trời cháu cứ hay kêu: Mẹ L. ơi cứu P. Tôi không quên được tiếng kêu ấy của cháu, ông à. Tiếng kêu ấy cứ vang vang ở trong đầu tôi, hình như không lúc nào dứt. Lúc thức, lúc ngủ, lúc tụng kinh, không lúc nào tôi không nghe thấy tiếng kêu ấy của con tôi, nên tôi nghĩ rằng con tôi còn sống. Vì thế suốt mấy chục năm, ngày nào tôi cũng thắp hương cầu Phật Bà Quan Âm cứu khổ cứu nạn phù hộ độ trì cho cháu. Sau này chúng tôi trở lại đạo, tôi hàng ngày lại cầu xin Ðức Mẹ Maria che chở cho cháu. Tôi tin tưởng hoàn toàn vào Đấng Thiêng Liêng và tôi vẫn tin rằng cháu còn sống ông à”.
Vẫn lời kể của bà L.: “Rồi cách đây ít năm, người Việt Nam từ hải ngoại về nước mỗi lúc mỗi đông. Tôi cũng về thăm lại làng xóm, thăm thân nhân. Trong câu chuyện qua lại giữa bà con, có người nhắc rằng: Nếu chị tin là cháu còn sống, thì phải có người vớt được cháu. Chị thử đăng báo tìm xem thế nào. Không thiếu những trường hợp thất lạc con cái, rồi người ta cũng tìm lại được đấy. Thế là tôi nhờ đăng tin tìm cháu ở báo Tuổi Trẻ, thì có 6 người cùng tuổi với cháu liên lạc với tôi. Người thì ở ngay trong thành phố Sài Gòn, người thì ở dưới quê. Cũng là người tử tế cả. Có anh nói: Thôi con không qua Mỹ đâu. Ðã có vợ con và sống ở đây quen rồi, mẹ có thương con thì cho con ít cây (vàng), con mua mấy mẫu ruộng. Thì nghe thế biết thế, tôi cũng chưa có gì đích xác để quyết định cả. Trong 6 người nhận là con tôi, có một anh cao, giống thằng con tôi tên là Mỹ. Anh này hiện học nghề Ðông Y, chưa vợ con gì cả. Với tôi anh ấy đối xử lịch sự, bình thường, không vồn vã mà chẳng đề nghị xin xỏ gì. Vì theo bà mẹ nuôi của anh kể lại thì câu chuyện khá dài, nhiều uẩn khúc lắm”.
Vẫn theo lời kể của bà L.: “Bà này giàu có lắm. Trước 75 bà là dược sĩ, có tiệm thuốc tây rất lớn. Bà đã có gần 10 người con do bà đẻ ra. Nhưng trong hoàn cảnh tang thương của thời loạn lạc, có mấy người không nuôi được con, đem cho bà, bà đều nhận hết. Bà săn sóc trên mười đứa con, con đẻ cũng như con nuôi, như nhau. Ðứa nào học được bà cho đi học. Nhiều đứa thành tài là kỹ sư, bác sĩ. Có đứa lớn lên xin về nhà bố mẹ đẻ, bà cũng vui lòng, còn cấp vốn liếng cho để làm ăn. Có đứa làm ăn thất bại lại bò lên xin ở lại với bà, bà lại nhận nuôi nấng cả gia đình vợ con nó như xưa. Bây giờ trong thời đổi mới, bà đang kinh doanh về ngành du lịch. Bà mua cả một khu rừng xây khách sạn, đắp núi non, vườn cảnh. Trong đó có những nhánh sông, bà cho xây cầu qua lại thật là đẹp. Nói ra có lẽ khó ai tin được. Thật cái nhà của tôi bên Mỹ không bằng cái nhà xe của bà ấy. Bà ấy nói với tôi rằng thằng Mỹ do một bà bán chè ở bến sông Sài Gòn cho bà ấy. Thằng nhỏ này trôi trên sông Sài Gòn, có một người lái đò vớt được, đưa lên bờ. Thằng bé bơ vơ, rét mướt khóc quá xá, nên cho đứng tạm cạnh bà bán xôi chè, đợi bố mẹ nó tìm đến. Nhưng chả thấy bố mẹ nó đâu, bà hàng xôi tìm đến bà dược sĩ bảo rằng: Bà làm phước nuôi giùm thêm đứa nhỏ này. Hỏi bố mẹ con đâu, nó nói trong nước mắt: Ði Mỹ rồi. Do đó bà dược sĩ mới đặt tên nó là Mỹ”.
Vẫn lời của bà L.: “Cái anh tên Mỹ này lớn lên trong gia đình bà dược sĩ. Dù không ai nhắc nhở, nhưng anh ta vẫn tin rằng sẽ có lúc anh ta phải qua Mỹ đoàn tụ với cha mẹ ruột. Thời gian vùn vụt trôi, gần ba mươi năm cơ hội chưa đến. Trong khi chờ đợi, anh ta quyết không lập gia đình, sợ lôi thôi khi đoàn tụ. Và để có một nghề qua Mỹ không cần học lại, anh ta học nghề đông y sĩ. Bà dược sĩ nói với tôi rằng, tuy là con nuôi, nhưng tôi thương thằng Mỹ như con ruột. Nó muốn gì, tôi không tiếc. Ðấy cái cửa hiệu đông y đấy, rất khang trang, đủ mọi thứ thuốc, từ sâm nhung hảo hạng, đến các thứ quế đắt tiền, thứ gì tôi cũng đặt mua đầy đủ. Nó vừa sửa soạn là thầy lang vừa làm người bào chế, rất mát tay tuy chưa ra trường nhưng cũng đông khách lắm. Sang Mỹ chưa chắc gì đã có một cơ sở vững vàng như thế. Nhưng nó biết, nó tin là nó không ở đây lâu đâu. Thế nào nó cũng qua Mỹ đoàn tụ với bố mẹ ruột của nó. Nó muốn thế, tôi cũng sẵn sàng giúp nó được toại ý khi cơ hội đến. Nếu nó thực sự là con bà, bà chứng minh được nó là con bà, tôi sẽ cố gắng tìm mọi cách để nó về với bà”.
Vẫn lời của bà L.: “Tôi trở lại Hoa Kỳ, tôi cứ nhớ cái thằng Mỹ này quá. Chắc chắn nó là con tôi. Nhưng bảo rằng chứng minh cụ thể thì tôi chưa có cách. Tôi có đem chuyện này hỏi ông bác sĩ gia đình. Ông bác sĩ nói rằng: Dễ lắm. Nếu nó là con bà, chỉ đem đi thử máu, thử DNA là ra ngay. Thì cái vụ thử nghiệm này thì chắc rồi. Nhưng tôi lại không muốn làm thế. Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng, nhờ tôi thành tâm lễ bái, khẩn cầu, nên Đấng Thiêng Liêng đã đưa đẩy cho tôi tìm thấy cháu. Bây giờ lại đem thử nghiệm thì có khác gì không tin vào Đấng Linh Thiêng nữa, nên tôi không làm. Nghe thế, ông bác sĩ ngồi thừ ra hồi lâu rồi hỏi tôi. Nếu nó là con bà, thì nó không giống ông bà cái tai, cũng phải giống cái tóc chứ. Bà nhìn nó bà có thấy nó giống ai trong nhà không, chắc là phải giống ông nó nhà tôi. Khốn nỗi ông nhà tôi sang bên Mỹ được ít năm thì mất. Ông mất cũng là tại tôi một phần. Ông cứ cằn nhằn tôi bao nhiêu năm: Sao đang nắm tay nó bà lại buông tay ra. Làm gì cũng phải có ý có tứ chứ. Nắm thật chặt tay thì nó đâu có rơi được. Ðành rằng thế, nhưng nào tôi có muốn buông tay ra đâu. Trời xui đất khiến nó hóa như thế, chứ có người mẹ nào lại nỡ buông con ra cho nó rơi xuống sông hở ông. Thế là bao nhiêu năm đằng đẵng xót xa, rồi ông ấy mất. Lúc mất hình như ông ấy còn gọi tên nó trong phút lâm chung. Thế là bao nỗi cay đắng đổ cả trên đầu tôi. Thôi thì trăm sự tôi trông vào Đấng Linh Thiêng, Ðức Quan Thế Âm khi trước và bây giờ là Ðức Mẹ Maria. Ðêm nào tôi cũng thắp hương, cầu khẩn”.
Vẫn lời bà L.: “Tôi thẫn thờ đau khổ, lúc nào cũng chỉ nghĩ đến nó. Còn thằng em nó hầu như tôi quên bẵng để mặc cho ông nhà tôi trông nom. Nhà tôi mất đi, trên bàn thờ bây giờ có hình ông ấy nhà tôi nữa. Hàng ngày khi đọc kinh, nhìn hình ông nhà tôi trên bàn thờ, tôi bảo: Ông có khôn thiêng thì ông mách bảo cho tôi tìm ra thằng P. Một hôm, em thằng P. đi đánh banh về, từ trong nhà tắm đi ra, nó ngồi trước mặt tôi, lấy khăn lông lau đôi bàn chân. Nó lau kỹ lắm, khiến tôi chú ý. Sao mà hai ngón chân cái của nó lại xòe ra như người Giao Chỉ ngày xưa. Tôi hỏi nó sao thế. Nó bảo thì ngón chân con nó thế. Ði giày thì hai ngón chân cái ép lại. Ðể chân không, nó lại xòe ra. Tôi trở lại Việt Nam , trở lại nhà bà dược sĩ. Bà vẫn ân cần, niềm nở đón tôi, và vẫn một mực nói: Tôi sẽ trả con cho bà, với điều kiện bà phải chứng minh được nó đích thực là con bà. Thì cũng là tình cờ thôi, hôm ấy thầy lang Mỹ lội xuống khúc sông trước nhà, bơi, tắm. Tắm xong, lúc ngồi ở nhà ngang anh ta ngồi lau chân, trời ơi, hai ngón chân cái của thằng Mỹ cũng xòe ra như thằng con tôi, em nó ở bên Mỹ. Không sai được nữa rồi. Tôi bỗng bật khóc và kêu lên P. ơi, con ơi. Thầy lang Mỹ trố mắt nhìn tôi. Bà dược sĩ cũng thảng thốt, đứng lên. Ba chúng tôi ôm choàng lấy nhau, nước mắt chan hòa. Thằng P. ôm tôi và nói: Con là P. của mẹ đây, mẹ L. ơi. Bà dược sĩ thì bảo: “Sao trước đây bà không nói cho tôi biết tên nó trước đây là P.”
Vẫn lời bà L.: “Bà dược sĩ nói rằng: Hàng ngày chúng tôi kêu nó là Mỹ. Nhưng những khi đau ốm, mê sảng, nó kêu lên: Mẹ L. ơi cứu P. Nhưng quả đúng 100% nó là con bà, bà dược sĩ lại hỏi tôi, vừa cười vừa nói, trong người nó có vết tích gì đặc biệt không. Tôi đáp ngay: Mông đít nó có một vết chàm. Thế là hai chúng tôi lại ôm lấy nhau lần nữa. Và lần này thì bà dược sĩ rành rọt nói: Ðúng thằng Mỹ đây, khi bé có tên là P. Nó đích thực là con bà. Tôi giàn giụa nước mắt xà lại ôm lấy P. Hai mẹ con chúng tôi ôm nhau thật chặt. Tôi bấu vào vai nó. Tôi nắm chặt cánh tay nó. Không rời ra được nữa đâu. Và trong lúc xúc động này, tôi lại hốt hoảng kêu lên: Ơi, con ơi, con ơi…” Tôi buông P. ra, buông con tôi ra, tôi chắp tay, đọc thầm một đoạn kinh tạ ơn Chúa, tạ ơn Trời, Phật. Nước mắt tôi tuôn như mưa. Tôi quỳ xuống, tôi vái tứ phương. Tôi gọi tên nhà tôi. Ông ơi, tôi tìm thấy con… rồi. Hai mẹ con tôi quay lại, thấy bà dược sĩ đứng nhìn chúng tôi, mếu máo với hai hàng lệ chảy. Chúng tôi, mẹ con tôi tiến tới, choàng tay ôm chặt bà vào lòng. Tôi nói: Bà ơi! Bà là ân nhân của chúng tôi, bà mới thật là mẹ nó. Trời, Phật đã dẫn dắt nó là con bà. Con tôi cũng nói: Con xin đa tạ mẹ… Thật, chưa bao giờ tôi vui sướng như thế mà cũng khóc nhiều như thế. Và cũng chưa bao giờ tôi tin tưởng mạnh mẽ như thế vào sự huyền diệu của các đấng thiêng liêng”.
Cho đến khi chúng tôi viết những dòng này thì Bà L. đã hoàn tất mọi thủ tục để đưa người con trai tên P. sang Mỹ đoàn tụ với gia đình. Khi mọi việc đã xong, tên tuổi những người liên hệ sẽ được in đầy đủ trong bài viết.
Gần 30 năm đã qua. Một thời gian đủ dài để một thế hệ được sinh ra, lớn lên và trưởng thành. Những con em chúng ta khi ra đi còn bé dại, nay đã không thiếu những người thành tài, có mặt trong hầu hết những sinh hoạt cao cấp nơi quê hương mới, là niềm vui sướng và hãnh diện cho cha mẹ, cho cộng đồng. Nhân câu chuyện trên, người viết đang thu thập những gương thành công của con em những gia đình ra đi trên Dương Vận Hạm Thị Nại, HQ 502, để viết thêm vào phần cuối cuốn bút ký di tản này, như phần thưởng cho lòng can trường, liều chết ra đi vì Tự Do, vì tương lai của con cái. Rất mong được đón nhận những kết quả đẹp đẽ của những ai cùng đi trên chuyến tàu trên. Mọi liên lạc xin gửi về cho người viết: PO Box 888 , La Jolla , CA 92088 . ÐT: (858) 484-9193. Email: phanlactiep@gmail.com. Bài viết có thể viết bằng tiếng Việt hay tiếng Anh. Nếu không có gì trở ngại, cuốn bút ký di tản của tác giả và những gương thành công của con cái chúng ta di tản trên Dương Vận Hạm Thị Nại, HQ 502 sẽ được xuất bản để kỷ niệm 30 năm di tản.
Phan Lạc Tiếp
Vài hàng về nhà văn Phan Lạc Tiếp
Ông Phan Lạc Tiếp nguyên là một Hạm Trưởng, một nhà văn. Ðêm 29 rạng ngày 30 Tháng Tư năm 1975, ông đã tận lực hỗ trợ vị Hạm Trưởng chiến hạm HQ 502, rời bến đem theo trên 5,000 đồng bào thoát được ra khơi.
Cuối năm 1979, khi làn sóng người vượt biển lên cao, và thảm nạn của thuyền nhân trở nên khủng khiếp nhất, ông đã cùng Giáo Sư Nguyễn Hữu Xương thành lập Ủy Ban Báo Nguy Giúp Người Vượt Biển (Boat People SOS Committee). Liên tục trong 11 năm hoạt động, ủy ban này hợp tác với những tổ chức nhân đạo thế giới, đem tàu ra biển Ðông, cứu vớt được 3,103 thuyền nhân, và xin định cư cho hàng ngàn đồng bào tại các quốc gia đệ tam. Mới đây Quốc Hội Tiểu Bang California, Hoa Kỳ đã gửi đến tặng nhà văn Phan Lạc Tiếp một bằng tưởng lệ, viết:
presented toTIEP LAC PHAN
In honor of
Your Hard Work and
Accomplishments in becoming a
Proud Member of our community.
Your Dedication to your Community is
Greatly Appreciated
Từ trái: Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy, tham mưu trường Hải Quân VNCH, nhà văn Phan Lạc Tiếp và Đô Đốc Trần Văn Chơn, Tư lệnh Hải Quân VNCH, trong buổi lễ kỷ niệm 36 năm trận đánh Hoàng Sa được tổ chức tại miền Nam California, Hoa Kỳ.
Ghi chú của Blog 16: (*) Bút ký “Người đàn bà trên tàu 502” đọc phần đầu đã thấy đau lòng, đến phần cuối càng đau lòng hơn. Trong lúc chới với trên cầu thang dẫn lên con tàu sắp di tản, một bà mẹ đánh rớt đứa con sáu tuổi rưỡi xuống lòng sông. Ròng rã suốt mười năm ở Mỹ bà mẹ lúc nào cũng hy vọng con mình còn sống. Ngay khi có thể được, bà về Việt Nam truy tầm rồi đăng báo tìm con. Và bà gặp lại đứa con, làm thủ tục bảo lãnh sang Mỹ. Trong khi chờ hoàn tất thủ tục, đứa con muốn gì bà cũng cho. Bà cũng hậu hĩ đền ơn vợ chồng người đã nuôi con mình như con ruột của họ. Nhưng giờ chót, bà mẹ khám phá ra sự thật. Đó chỉ là một âm mưu để “vòi” tiền bà. Cái đau lòng là đứa con giả lại chính là con của đứa em ruột thịt. Và tất cả những kẻ liên quan đến kịch bản lừa gạt này đều là thân nhân cùng dòng máu ông cha. Họ đều đang là những kẻ có chức, có quyền và có của trong xã hội mới. Bà bạn cho tin kết luận: “Người Cộng Sản Việt Nam không phải là người như chúng ta. Họ là những sinh vật khác, ta không thể gần họ được…” Còn người viết lại câu chuyện đưa ra nhận xét: “Phải chăng đây là nỗi đau to lớn nhất của tất cả chúng ta sau cuộc chiến tương tàn. Ngoài nỗi tang thương, chia lìa, sống chết ròng rã mấy mươi năm, dân tộc ta đang đối diện với sự phá sản tận cùng của lương tri?” Link
Nhóm phóng viên Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:
Ai Thắng Ai? – Nguyễn Hưng Quốc
Đăng trong: Tháng Tư 14, 2013 Filed under: Human Right | Tags: Phân Tách Leave a comment »Bài đọc suy gẫm: Ai Thắng Ai hay 1975: Việt Nam có thắng Mỹ? bài phân tách sâu sắc của tác giả Nguyễn Hưng Quốc. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
Sau 20 năm lạnh nhạt, người Mỹ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, 1995. HìnhTổng Thống Hoa Kỳ Bill Clinton, năm 2000, thăm và đọc diễn văn tại trường đại học quốc gia, Hà Nội, Việt Nam
Trong bài “Thắng và bại”, từ kinh nghiệm chiến tranh ở Iraq, tôi nêu lên nhận định: Thắng và bại là một vấn đề phức tạp, gắn liền với một chu cảnh (context) nhất định. Có khi người ta thắng một trận đánh nhưng lại thua một cuộc chiến tranh; có khi thắng một cuộc chiến tranh nhỏ nhưng lại thua một cuộc chiến tranh lớn. Hoặc ngược lại. Cũng có khi người ta thua hẳn một cuộc chiến tranh nhưng lại thắng trong hòa bình, sau đó.
Từ chuyện thắng và bại, nhân tháng Tư, thử nhìn lại chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954-75.
Liên quan đến cuộc chiến tranh ấy, cho đến nay, hầu như mọi người đều khẳng định: Việt Nam (hiểu theo nghĩa là miền Bắc Việt Nam) đã thắng Mỹ. Bộ máy tuyên truyền Việt Nam lúc nào cũng ra rả điều đó. Ngay người Mỹ cũng tự nhận là họ thua: Đó là cuộc chiến tranh đầu tiên mà họ thua trận! Điều đó đã trở thành một chấn thương dữ dội đối với một siêu cường quốc số một thế giới như Mỹ khiến nhiều người trong họ không ngừng trăn trở. Chiến tranh Việt Nam, do đó, với họ, trở thành một cuộc-chiến-chưa-kết-thúc (unfinished war) hoặc một chiến tranh vô tận (endless war) theo cách gọi của các học giả.
Dĩ nhiên, nhiều người nghĩ khác. Họ không chấp nhận họ thua trận với một trong ba lý do chính.
Một, một số người cho, về phương diện quân sự, quân đội Mỹ hầu như luôn luôn chiến thắng, hơn nữa, tính trên tổng số thương vong, họ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương: trong khi Mỹ chỉ có 50.000 người chết, phía miền Bắc, có khoảng từ một triệu đến một triệu rưỡi người bị giết (từ phía người Việt Nam, chúng ta biết rõ điều này: Trong đó có rất nhiều dân sự ở cả hai miền!) Những người này cho họ chỉ thua trên mặt trận chính trị; và trong chính trị, họ không thua Bắc Việt, họ chỉ thua… những màn ảnh tivi hằng ngày chiếu những cảnh chết chóc ghê rợn ở Việt Nam trước mắt hàng trăm triệu người Mỹ, từ đó, làm dấy lên phong trào phản chiến ở khắp nơi. Nói cách khác, Mỹ không thua Bắc Việt: Họ chỉ thua chính họ, nghĩa là họ không thể tiếp tục kéo dài chiến tranh trước sự thiếu kiên nhẫn của quần chúng, trước quyền tự do ngôn luận và phát biểu của quần chúng, trước nhu cầu phát triển kinh tế trong nước.
Hai, một số người khác lại lý luận: Mặc dù Mỹ thua trận năm 1975, nhưng nhìn toàn cục, họ lại là người chiến thắng. Một người Mỹ gốc Việt, Viet D. Dinh, giáo sư Luật tại Đại học Georgetown University, trên tạp chí Policy Review số tháng 12/2000 và 1/2001, quan niệm như vậy, trong một bài viết có nhan đề “How We Won in Vietnam” (tr. 51-61): “Chúng ta thắng như thế nào tại Việt Nam.” Ông lý luận: Mỹ và lực lượng đồng minh có thể thua trận tại Việt Nam nhưng họ lại thắng trên một mặt trận khác lớn hơn và cũng quan trọng hơn: Cuộc chiến tranh lạnh chống lại chủ nghĩa Cộng sản trên toàn thế giới (tr. 53). Hơn nữa, cùng với phong trào đổi mới tại Việt Nam cũng như việc Việt Nam tha thiết muốn bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ, Mỹ cũng đã thắng trên mặt trận lý tưởng và thiết chế: Cuối cùng thì Việt Nam cũng đã theo Mỹ ít nhất một nửa: tự do hóa thị trường (Còn nửa kia, dân chủ hóa thì chưa!) (tr. 61).
Một số người khác lại cho, sau khi rút quân khỏi Việt Nam, nhìn lại, người Mỹ thấy Việt Nam đang lủi thủi chạy theo sau mình trên con đường tư bản hóa. Họ khẳng định: “Chúng ta đã chiến thắng cuộc chiến tại Việt Nam bằng cách rút quân ra khỏi nơi đó.”
Ba, một số người khẳng định dứt khoát: Mỹ không hề thua Bắc Việt. Chiến thắng của miền Bắc vào tháng Tư 1975 là chiến thắng đối với miền Nam chứ không phải đối với Mỹ. Lý do đơn giản: Lúc ấy, hầu hết lính Mỹ đã rút khỏi Việt Nam. Trước, ở đỉnh cao của cuộc chiến, Mỹ có khoảng nửa triệu lính ở Việt Nam. Sau Tết Mậu Thân, thực hiện chính sách Việt Nam hóa chiến tranh, lính Mỹ dần dần rút khỏi Việt Nam: Tháng 8/1969, rút 25.000 lính; cuối năm, rút thêm 45.000 người nữa. Đến giữa năm 1972, lính Mỹ ở Việt Nam chỉ còn 27.000. Tháng 3/1973, 2.500 người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Từ đó, ở Việt Nam, Mỹ chỉ còn khoảng 800 lính trong lực lượng giám sát đình chiến và khoảng gần 200 lính Thủy quân lục chiến bảo vệ Tòa Đại sứ ở Sài Gòn. Trong trận chiến cuối cùng vào đầu năm 1975, lúc Bắc Việt tiến vào Sài Gòn, không có cuộc giao tranh nào giữa Việt Nam và Mỹ cả. Chính vì vậy, một số người Mỹ đặt câu hỏi: Tại sao có thể nói là chúng ta thua trận khi chúng ta đã thực sự chấm dứt cuộc chiến đấu cả hơn hai năm trước đó?
Có thể tóm tắt lập luận thứ ba ở trên như sau: Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ chỉ bỏ cuộc chứ không thua cuộc.
Một số người phản bác lập luận ấy. Họ cho: bỏ cuộc tức là không hoàn thành được mục tiêu mình đặt ra lúc khai chiến; không hoàn thành mục tiêu ấy cũng có nghĩa là thua cuộc. Không có gì khác nhau cả.
Nhưng ở đây lại nảy ra một vấn đề: Mục tiêu Mỹ đặt ra lúc tham gia vào chiến tranh Việt Nam là gì?
Có hai mục tiêu chính:
Một, giúp đỡ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa tại miền Nam trong cuộc đối đầu với chế độ Cộng sản ở miền Bắc.
Hai, ngăn chận làn sóng Cộng sản từ Trung Quốc đổ xuống Việt Nam, và từ đó, toàn bộ vùng Đông Nam Á.
Tập trung vào mục tiêu thứ nhất, nhiều người cho Mỹ thua trận ở Việt Nam. Đó là điều không thể chối cãi được: cuối cùng, vào ngày 30/4/1975, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã sụp đổ.
Tuy nhiên, xin lưu ý: trong hai mục tiêu trên, mục tiêu thứ hai mới là quan trọng nhất. Khi lính Mỹ mới được điều sang Việt Nam, họ luôn luôn được nhắc nhở đến mục tiêu thứ hai: “Nếu chúng ta không đến đây để ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, chúng ta có thể sẽ phải chiến đấu chống lại nó ở San Francisco sau này.” Mục tiêu đầu, nhằm xây dựng một chế độ dân chủ không Cộng sản ở miền Nam, chỉ thỉnh thoảng mới được nhắc đến.
Có thể nói mục tiêu thứ nhất được đặt ra để cụ thể hóa mục tiêu thứ hai. Nói cách khác, chính vì muốn ngăn chận sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng sản, Mỹ mới nhảy vào giúp chính quyền miền Nam. Mục tiêu thứ nhất, như vậy, chỉ là hệ luận của mục tiêu thứ hai. Nó chỉ là mục tiêu phụ.
Kissinger sang Bắc Kinh trước mở đường cho Tổng Thống Nixon sang thăm Trung Cộng sau đó. Hình trên: Kissinger và Chu Ân Lai. Dưới: Mao trạch Đông và Richard Nixon.
Liên quan đến mục tiêu thứ hai, nên nhớ đến thuyết Domino vốn xuất hiện từ năm 1951, thời kỳ đầu của chiến tranh lạnh, và được xem là nền tảng lý thuyết cho các chính sách đối ngoại của Mỹ kể từ đầu thập niên 1960 trở đi. Dựa trên thuyết Domino, chính phủ Mỹ tin là: Nếu Đông Dương rơi vào tay Cộng sản, Miến Điện và Thái Lan sẽ bị Cộng sản chiếm gần như ngay tức khắc. Sau đó, sẽ rất khó khăn, nếu không muốn nói là bất khả, để cho Indonesia, Ấn Độ và các nước khác tiếp tục nằm ngoài quỹ đạo thống trị của Cộng sản Xô Viết.” Nghĩ như thế, chính phủ Mỹ đã xem Miền Nam như một tiền đồn để ngăn chận hiểm họa cộng sản.
Nếu chỉ nhìn vào mục tiêu thứ hai này – mục tiêu ngăn chận làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á – không thể nói là chính phủ Mỹ thất bại. Ngược lại. Năm 1972, sau chuyến viếng thăm Trung Quốc của Tổng thống Nixon, Mỹ đã thành công ở ba điểm: Một, bước đầu bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước để, tuy chưa hẳn là bạn, họ cũng không còn thù nghịch với nhau như trước nữa; hai, khoét sâu mối mâu thuẫn giữa Trung Quốc và Liên Xô để hai nước đứng đầu khối Cộng sản này không còn thống nhất với nhau; và ba, làm giảm bớt sự ủng hộ và trợ giúp của Trung Quốc đối với Bắc Việt.
Với ba sự thành công ấy, Mỹ an tâm được ba điều: Một, khi Trung Quốc và Liên Xô đã bị phân hóa, khối Cộng sản không còn mạnh và do đó, cũng không còn quá nguy hiểm như trước. Hai, khi khối Cộng sản không còn mạnh, đặc biệt khi Trung Quốc đang rất cần duy trì quan hệ hòa bình với Mỹ để phát triển kinh tế và tranh giành ảnh hưởng với Liên Xô, Trung Quốc sẽ không còn tích cực “xuất cảng cách mạng” ở các nước khác trong vùng Đông Nam Á. Và ba, như là hệ quả của hai điều trên, Mỹ tin chắc: ngay cả khi miền Bắc chiếm được miền Nam và ngay cả khi cả Campuchia và Lào đều rơi vào tay Cộng sản thì chủ nghĩa Cộng sản cũng không thể phát triển sang các nước khác như điều họ từng lo sợ trước đó.
Với ba sự an tâm trên, Mỹ quyết định rút quân ra khỏi Việt Nam. Với họ, mục tiêu thứ hai, tức mục tiêu quan trọng nhất, đã hoàn tất thì mục tiêu thứ nhất trở thành vô nghĩa. Miền Nam chỉ còn là một nước cờ chứ không phải là một ván cờ. Họ thua một nước cờ nhưng lại thắng cả một ván cờ.
Thắng ở ba điểm:
Một, sau năm 1975, chủ nghĩa Cộng sản không hề phát triển ra khỏi biên giới Lào và Campuchia. Các nước láng giềng của Đông Dương vẫn hoàn toàn bình an trước hiểm họa Cộng sản.
Hai, sau khi chiếm miền Nam, chủ nghĩa Cộng sản ở Á châu không những không mạnh hơn, mà ngược lại, còn yếu hơn hẳn. Yếu ở rất nhiều phương diện. Về kinh tế, họ hoàn toàn kiệt quệ. Về quân sự, họ liên tục đánh nhau. Về đối nội, họ hoàn toàn đánh mất niềm tin của dân chúng, từ đó, dẫn đến phong trào vượt biên và vượt biển rầm rộ làm chấn động cả thế giới. Về đối ngoại, họ hoàn toàn bị cô lập trước thế giới với những hình ảnh rất xấu: Ở Khmer Đỏ là hình ảnh của sự diệt chủng; ở Việt Nam là hình ảnh của sự độc tài và tàn bạo; ở Trung Quốc, sự chuyên chế và lạc hậu. Cuối cùng, về ý thức hệ, ở khắp nơi, từ trí thức đến dân chúng, người ta bắt đầu hoang mang hoài nghi những giá trị và những tín lý của chủ nghĩa xã hội: Tầng lớp trí thức khuynh tả Tây phương, trước, một mực khăng khăng bênh vực chủ nghĩa xã hội; sau, bắt đầu lên tiếng phê phán sự độc tài và tàn bạo của nó. Một số trí thức hàng đầu, như Jean-Paul Sartre, trở thành những người nhiệt tình giúp đỡ những người Việt Nam vượt biên.
Hình Jean Paul Sartre và tác phẩm: Buồn Nôn”(1938), nhà văn, nhà triết học hiện sinh Pháp được trao giải Nobel Văn học năm 1964, cũng lầm lẫn to về cộng sản, sau hối hận.
Ba, vào năm 1990, với sự sụp đổ của Liên Xô, của bức tường Berlin và của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Mỹ toàn thắng trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa Cộng sản. Ván cờ kéo dài nửa thế kỷ giữa chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa tư bản đã kết thúc.
Nhìn vào ba sự thành công ấy, khó có thể nói Mỹ đã thua trận ở Việt Nam. Lại càng không thể nói là miền Bắc Việt Nam đã thắng Mỹ.
Cũng cần lưu ý đến những sự thay đổi trong bản chất của chiến tranh. Từ giữa thế kỷ 20 trở về trước, hầu hết các chiến lược gia, khi nghĩ về chiến tranh, đều cho cái đích cuối cùng là phải chiến thắng một cách tuyệt đối. Tiêu biểu nhất cho kiểu chiến thắng tuyệt đối ấy là cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất và lần thứ hai. Ở cả hai lần, những kẻ thù của phe Đồng minh đều tuyên bố đầu hàng. Ranh giới giữa thắng và bại rất rõ. Rõ nhất là ở Nhật Bản. Sức tàn phá kinh hồn của hai trái bom nguyên tử do Mỹ thả xuống Hiroshima và Nagasaki đã chứng tỏ sức mạnh vô địch không thể chối cãi được của người chiến thắng.

Tổng thống Kenedy đọc diễn văn tại Tây Berlin năm 1963.

Bức tường đổ từ phía Đông hay Tây? Hình dưới: Hoạt cảnh phá đổ bức tường Bá Linh- Kỷ niệm 20 năm, cũng là của nhân loại thế kỷ với người dân Đức thông minh, anh dũng dắt díu nhau vượt thoát nan đề cộng sản.


Tuy nhiên, sau hai quả bom ấy, bản chất chiến tranh và cùng với nó, ý nghĩa của chiến thắng, hoàn toàn thay đổi. Trong chiến tranh lạnh, cả Mỹ lẫn Liên Xô đều có bom nguyên tử. Lúc nào cũng muốn tiêu diệt nhau nhưng cả hai đều biết rất rõ cái điều Albert Einstein từng cảnh cáo: “Tôi không biết trong chiến tranh thế giới lần thứ ba người ta đánh bằng gì, nhưng trong chiến tranh thế giới lần thư tư, người ta sẽ chỉ có thể đánh nhau bằng gậy và đá.” Thành ra, người ta vừa chạy đua chế tạo thật nhiều, thật nhiều vũ khi nguyên tử vừa biết trước là chúng sẽ không được sử dụng. Không nên được sử dụng. Không thể được sử dụng. Để tránh điều đó, chiến tranh toàn diện (total war) biến thành chiến tranh giới hạn (limited war); chiến tranh thế giới biến thành chiến tranh khu vực, ở một số điểm nóng nào đó. Ý nghĩa của cái gọi là chiến thắng, do đó, cũng đổi khác: bên cạnh cái thắng/bại về quân sự có cái thắng/bại về chính trị và bên cạnh cái thắng/bại có tính chiến thuật có cái thắng/bại có tính chiến lược.
Với những thay đổi ấy, chuyện thắng hay bại lại càng trở thành phức tạp hơn.
Phần kết luận, có hai điểm tôi xin nói cho rõ:
Thứ nhất, tôi chỉ muốn tìm hiểu một sự thật lịch sử chứ không hề muốn bênh vực cho Mỹ.
Thứ hai, dù Mỹ thắng hay bại, sau biến cố tháng 4/1975, miền Nam vẫn là nạn nhân. Trên phạm vi quốc tế, ngoài miền Nam Việt Nam, Đài Loan là một nạn nhân khác, tuy không đến nỗi bất hạnh như chúng ta.
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.
Links:
Blog Nguyễn Hưng Quốc
Xuất Khẩu Cô Dâu – Trúc Giang MN
Đăng trong: Tháng Ba 30, 2013 Filed under: Human Right | Tags: Nhận Định 2 Comments » Có con chim đa đa nó đậu cành đa
Sao không lấy chồng gần mà đi lấy chồng xa
Có con chim đa đa hót lời nỉ non
Sao em nỡ lấy chồng từ khi tuổi còn son
Để con chim đa đa ngậm ngùi đành bay xa
Nhạc : Võ Đông Điền
Bài đọc suy gẫm: Xuất Khẩu Cô Dâu hay Cháu Ngoan Bác Hồ Thích Lấy Chồng Ngoại của tác gỉa Trúc Giang MN. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
1* Cháu ngoan bác Hồ thích lấy chồng ngoại
Tâm sự của một cô dâu Hàn Quốc: ..chúng tôi bị nhìn ngắm, thậm chí còn bị sờ mó như một món hàng. Tôi có quyền nghĩ đây là cơ thể của tôi, tôi nhịn nhục để được thay đổi cuộc đời, nhiều người cứ tưởng rằng cơ thể của tôi thuộc về sở hữu của dân tộc VN. Thế nên, họ đùng đùng nổi giận khi cơ thể của tôi bị người khác dòm ngó, chọn lựa…chúng tôi được sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được”. (Trần Thị Nguyên)
Cháu ngoan bác Hồ thích lấy chồng ngoại.
Thật vậy, các cháu đã được giáo dục đào tạo dưới mái trường XHCN, trên cơ sở “học tập, lao động, chiến đấu theo gương đạo đức của bác Hồ vĩ đại”
Chính các cháu thuộc thế hệ “quàng khăn đỏ”, đạt danh hiệu “Cháu Ngoan Bác Hồ”, đã từng sinh hoạt trong đội, đoàn để rèn luyện lý tưởng Cộng sản.
Thế là cả một phong trào vùng lên làm cuộc” cách mạng đổi đời”. Cuộc đổi đời lần thứ nhất đưa đến cảnh đồng bào cả nước ăn bo bo dài dài, cuộc đổi đời lần nầy, với hàng trăm ngàn cháu ngoan của bác, đã nhận chìm nhân phẩm của người phụ nữ Việt Nam, con cháu Bà Trưng, bà Triệu, xuống tận bùn đen dưới chân của những thằng bần cố nông Đài Loan, Đại Hàn.
Đó là hình ảnh của từng đợt, hàng hàng lớp lớp, thiếu nữ VN, hàng chục, hàng trăm người trần truồng như nhộng, xếp hàng phô trương thân thể để cho mấy thằng mạt rệp Đài Loan, Đại Hàn sờ mó, ngắm nghía, móc ngoặt để chọn vợ như người ta lựa mua món đồ chơi hay mua nô lệ của những thế kỷ trước.
Văn hoá truyền thống ngàn năm của dân tộc là “nghèo cho sạch, rách cho thơm” thế mà thời đại Hồ Chí Minh chả còn cái gì là sạch, là thơm cả.
Cũng chả trách được ai, vì chính bác đã chà đạp nhân phẩm phụ nữ, xem phụ nữ như một món đồ chơi để giải quyết sinh lý, chơi chán rồi chuyền xuống cho đàn em hưởng xái nhì, trước khi đem thủ tiêu để chọn món đồ chơi khác. Con rơi, con rớt cả đàn, thì còn trách được ai nữa?
2* Hôn nhân dị tính không có gì đáng trách cả
Hôn nhân phải được đặt trên cơ sở tình yêu, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và có mục đich chung là xây dựng hạnh phúc gia đình. Bất cứ người Việt Nam nào, nam hay nữ, kết hôn với người khác chủng tộc như Đài Loan, Đại Hàn, Trung Quốc, Mả Lai … nếu đặt trên cơ sở nầy, thì không có gì đáng phiền trách cả.
Những người đàn ông Đài Loan, Đại Hàn đa số là nông dân, ít học, quá lứa, nghèo rớt mồng tơi…không có khả năng cưới vợ bản xứ, cho nên đi tìm đến thị trường rẻ tiền, ế hàng để làm vua, làm chúa, làm ông trời con, đối với phụ nữ VN. Điều nầy, tự bản chất của nó, đã hạ danh dự và nhân phẩm của phụ nữ VN, một thứ đồ chơi rẻ tiền. Thanh niên VN phải bưng khai trầu rượu, cung kính dâng lên cha mẹ vợ để xin cưới con gái, trái lại, mấy thằng nông dân Đài Loan, Hàn quốc chỉ tung ra vài ba triệu đồng VN để mua vợ. Cha mẹ vợ và chàng rể chưa được gặp mặt nhau lần nào trước khi đám cưới. Ngay cả vợ cũng chưa có đủ thời gian để nhớ rõ mặt mũi chồng ra sao, trong đầu óc chỉ biết đến những con số về tiền bạc mà thôi.
Cái nhục nhã nhất chưa từng có trong lịch sử VN bốn ngàn năm, là việc các cô gái trần truồng đứng xếp hàng với hy vọng được chấm, và được về làm dâu xứ người.
3* Những lý do đổ vở
Lý do thứ nhất là sự thất vọng.
Những đàn ông nước ngoài được các tổ chức và các ông mai bà mối giới thiệu hàng, nào là gái VN có thân hình đẹp, siêng năng, chịu khó, chiều chồng hết mực…Những thiếu nữ VN thì được cho biết là, chú rể là chủ nông trại, chủ đồn điền, các bà vợ chỉ ở nhà xem phim Hàn quốc, làm đẹp, mỗi tháng chồng cho 300 đô gởi về VN, tha hồ mà mua sắm quần áo hàng hiệu…
Thực tế thì trái lại, làm thất vọng cả hai bên. Giấc mơ đổi đời tiêu tan theo mây khói. Chàng rể thì nợ vay cưới vợ không trả nổi. Ngôn ngữ bất đồng, phong tục tập quán khác nhau thì làm sao mà hiểu nhau để hợp nhau mà tạo dựng hạnh phúc gia đình.
Ở không được, về VN không được, cho nên bi kịch xảy ra.
4* Đài Loan khó, Hàn Quốc dễ
4.1. Đài Loan khó
Theo số liệu của Đài Loan, thì từ thập niên 1990 đã có 100,000 cô dâu VN. Đến năm 2004, chính phủ Đài Loan thắt chặt dịch vụ môi giới, sau những loạt các ông chồng đánh đập, tra tấn và cầm tù các người vợ VN. Quy chế mới bắt buộc những cặp Đài – Việt phải trình diện khi đăng ký kết hôn và phải trải qua các vòng kiểm tra về ngôn ngữ, hiểu biết văn hoá, hiểu biết nhau, về chênh lệch tuổi tác và tình trạng sức khỏe.
4.2. Hàn quốc dễ hơn
Cùng lúc đó, chính sách hôn nhân của Hàn quốc đã mở ra nhiều cơ hội tìm vợ cho đàn ông nông thôn hoặc những người quá lứa, cao tuổi, mà không có khả năng cưới vợ người Hàn quốc. Nắm lấy cơ hội nầy, những tổ chức và cá nhân làm nghề môi giới VN đã chuyển sang thị trường Hàn quốc.
Từ năm 2004 đến 2006, số cặp hôn nhân của năm sau tăng gấp đôi năm trước. Cao điểm vào năm 2006, với 10,130 cặp Hàn-Việt kết hôn.
Các cô gái VN chỉ cần biết OK bằng cách gật đầu là xong ngay. Đương nhiên là phải có thông dịch viên để bàn các chi tiết của đám cưới, chủ yếu là về tiền bạc.
Trước kia, Đài Loan yêu cầu các cô gái phải còn trinh, nhưng đàn ông Đại Hàn thì không quan tâm nhiều đến cái ngàn vàng ấy.
Vì không chú trọng đến chữ trinh, cho nên nhiều người vợ trẻ VN đã bỏ chồng đi làm dâu xứ củ sâm.
Thường thì báo chí chỉ đăng những vụ bố ráp bắt những tổ chức môi giới bất hợp pháp và một vài trường hợp hy hữu về những thảm cảnh của cô dâu VN ở xứ người, vì thế làn sóng gái Việt mơ có chồng Đại Hàn vẫn tiếp tục gia tăng. Hàn quốc hiện có 137,000 cô dâu người nước ngoài.
Lớp học ngôn ngữ và nấu thức ăn của người Đại Hàn
5* Bi kịch ở Đài Loan
5.1. Vợ Việt bị hành hạ dã man
Xem mắt, sờ mó. kiểm tra hôm trước, đám cưới hôm sau. Cha mẹ vợ chưa một lần gặp mặt và biết tên chú rể. Thân gái 12 bến nước, toàn là bến dơ.
Theo bản tin của tờ báo Quả Táo, Đài Loan và tờ Newspaper (Singapore) thì ở Đài Loan đang xảy ra một vụ án gây phẩn nộ, mà nạn nhân bị hành hạ, đoạ đày còn khổ hơn 12 kiểu khổ hình tra tấn dã man của thời đại các bạo chúa ngày xưa.
Nạn nhân là một cô dâu VN tên Đoàn Nhật Linh, 20 tuổi.
Vào tháng 4 năm 2002, cô Linh theo chồng là Liu Cheng Chi (Lưu Chánh Kỳ) 39 tuổi, về Đài Loan với gương mặt tươi cười rạng rỡ vì gia đình được nở mặt nở mày với bà con, láng giềng. Chú rể không những có nhiều tiền mà còn bảnh trai nữa.
Cô không biết rằng chuyến đi định mệnh đó bắt đầu cho một cuộc sống tủi nhục và đau khổ của đời cô.
Thực tế thì, chồng của Nhật Linh vẫn còn sống chung với người vợ cũ tên là Lin Lee Zhu (Lâm Lệ Như) 34 tuổi. Lưu Chánh Kỳ và Lâm Lệ Như đã có một đứa con gái, nhưng vì Lệ Như không có thể sinh con được nữa, mà Chánh Kỳ thì muốn có đứa con trai để nối dõi tông đường, cặp vợ chồng nầy thực hiện một cuộc ly hôn giả, để Chánh Kỳ sang VN cưới vợ về, hy vọng sẽ có con trai và có người giúp việc không công. Hàng đêm, Lưu cùng 2 vợ ngủ chung một giường. Ban ngày, Nhật Linh phải làm việc như một Osin để phục vụ cho cả nhà. Đêm thì, Linh bị vợ chồng Lưu cưỡng bách chơi trò dâm loạn ba người trên cùng một giường.
Ba tháng sau, vợ chồng Lưu bắt đầu hành hạ Nhật Linh bằng các cực hình.
Tất cả giấy tờ của Nhật Linh, từ hộ chiếu đến giấy cư trú bị Lưu cất giữ và cấm không cho liên lạc với bất cứ ai. Bị giam trong phòng, mỗi ngày một bữa ăn và một lần đi vệ sinh.
Vì ăn chơi trác táng, Lưu bị nhiễm trùng đường tiểu, hắn nghi ngờ Nhật Linh lây bịnh cho hắn, nên vợ chồng thẳng tay dùng các hình thức tra tấn dã man, cưỡng bức Nhật Linh phải ký giấy thú nhận đã từng làm gái mãi dâm, đã bị bịnh và đã truyền bịnh cho hắn.
Linh thường bị trói, bị lấy kim đâm vào 10 đầu ngón tay, rồi nhúng những ngón tay rỉ máu vào nước muối. Hắn còn dùng gậy đánh đập dã man, dùng dao chém vào lưng, rạch thành những vết thương ngang dọc. Thậm chí, còn bắt cô nhắm mắt rồi lấy ná thun bắn vào mắt. Suốt 7 tháng liên tục bị hành hạ, từ một cô gái thanh xuân tràn đầy sức sống, cô gầy gộc chỉ còn da bọc xương, từ 48 kg còn 20 Kg.
Tháng 2 năm 2003, Nhật Linh không còn đi đứng nổi, trên người đầy vết thương rướm máu, vợ chồng Lưu Chánh Kỳ sợ Linh chết, cả hai khiêng cô lên xe, chở đến một bãi vắng, thuộc khu nhà máy phát điện ở Đài Trung (Đài Loan) rồi vất cô xuống.
Sức tàn lực kiệt, nhưng bản năng sinh tồn và những uất hận dồn nén, cô lê lết đến một quán ăn gần đó để xin ăn. Cảnh sát được báo tin, đưa Linh vào bịnh viện cấp cứu. Sau một năm điều trị và chăm sóc đặc biệt, Nhật Linh đã bình phục. Nhật Linh thuật lại:
“Sau 7 ngày liên tục, em bị bỏ đói, đến 11 giờ trưa hôm đó, ông ta lấy kéo xởn tóc em, sau đó lôi em lên xe, chở đến một cánh đồng vắng, bỏ em xuống và đưa em một chai thuốc và nói “Uống để chết nhanh, không đau”, rồi hắn hái lá cây cho em ăn. Khoảng hai giờ sau, ông ta quay lại, thấy em nằm im, tưởng em đã chết. Ông ấy lấy lá cây xoá dấu bánh xe rồi bỏ đi.
Em lết đến một quán ăn gần đó, xin cơm của một người phụ nữ rửa chén. Bà ấy cho em một vắt mì, 2 trái quít một lon coca và một cái áo khoát vào người. Em ngồi ăn ngoài đường, khách qua lại tưởng là người ăn xin, họ cho em tất cả 50 đồng Đài Loan. Và em ngất xỉu. Khi tĩnh dậy thì mới biết đang ở bịnh viện. Trước cơ quan điều tra, vợ chồng Lưu Chánh Kỳ phủ nhận hoàn toàn những hành vi phạm tội, mà còn giả bịnh tâm thần để chạy tội. Công tố viện đã khởi tố Lưu Chánh Kỳ và Lâm Lệ Như về tội “ngược đãi người khác như nô lệ” với bản án 7 năm tù.
Bà Võ Thị Nguyên, mẹ của Nhật Linh, đang sống ở huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng nói:”Tôi hối hận lắm. Con đang học lớp 9, bắt con nghỉ học để lấy chồng ngoại, tưởng vậy là thương con, nào ngờ, mẹ đã hại con. Ngày cưới, tôi thấy trong giấy, chú rể ghi tiền cưới là 10 triệu, nhưng trong phong bì chỉ còn có 4.4 triệu, trả tiền thuê xe, thì chỉ còn 4 triệu”. Rốt cuộc, cũng chỉ vì tiền.
5.2. Giết vợ Việt để lãnh tiền bảo hiểm
Ngày 27-5-2007, toà án Đài Loan đã kêu án tù chung thân Lý Thái An đã cấu kết với em trai là Lý Song Toàn, giết người vợ VN là Trần Thị Hồng Sâm để lấy tiền bảo hiểm nhân mạng.
Tóm tắt sự việc: Lý Thái An đã mua bảo hiểm nhân mạng cho vợ VN là Trần Thị Hồng Sâm với giá là
75 triệu tệ Đài Loan (Hơn 2 triệu đôla Mỹ). Thái An dàn cảnh đưa vợ đi bằng đường xe lửa và cho em trai là Lý Song Toàn phá hoại làm cho xe lửa bị trật đường rầy, gây ra tai nạn.
Hồng Sâm được đưa vào bịnh viện Fan Liao vì bị thương nhẹ. Tại bịnh viện, Lý Song Toàn đã bí mật chích một loại nọc rắn độc làm cho Hồng Sâm bị xuất huyết nội và tử vong.
Dựa vào lời khai của y tá, vào những báo cáo của 4 viện Đại học y khoa, của bác sĩ giảo nghiệm tử thi chuyên môn đã kết luận là Trần Thị Hồng Sâm chết vì chất độc chớ không phải do tai nạn gây ra.
Y tá khai rằng Lý Song Toàn cứ lãng vãng bên cạnh bà Hồng Sâm, mặc dù y tá đã yêu cầu anh ta đi ra ngoài. Một nhân chứng là Huang Fu Lai, khai rằng Lý Thái An đã sửa soạn âm mưu từ 6 tháng trước và đã rủ ông tham gia để chia tiền, nhưng ông từ chối.
Sau đó, Huang Fu Lai bị kết án 4 năm tù treo. Lý Song Toàn đã tự tử một nghày sau khi bị truy tố chủ mưu giết người. Người vợ đầu tiên của Lý Thái An cũng là cô dâu Việt Nam đã chết một cách mờ ám. Trần Thị Hồng Sâm là vợ thứ ba.
5.3. Bị điên vì lấy chồng Đài Loan
Bẳng đi 2 năm không liện lạc, ngày nọ, gia đình chồng dẫn cô dâu về VN trả lại cho nhà gái. Từ một cô gái xinh đẹp, Hà biến thành một người xấu xí, già nua, không nói với ai một lời, cô co rúm vào một góc phòng nét sợ hải hiện trên nét mặt.
Ở làng quê, xã Trung Nhất, huyện Thốt Nốt, Cần Thơ, Hà được xem là cô gái may mắn hơn những cô khác, là Hà được có tấm chồng ở Đài Bắc, thương vợ hết mực, có cơ nghiệp ổn định.
Hà được đưa vào bịnh viện tâm thần Cần Thơ. Ở bịnh viện nầy, có không ít những cô dâu có chồng ngoại cũng bị tâm thần như Hà. Trong đó, có cô dâu tên Màu.
Bà mẹ Màu còn nhớ rõ, sau một đám cưới tập thể được tổ chức gấp rút ở Sài Gòn, người môi giới đưa cho bà 1 triệu đồng là tiền của gia đình chú rể, sau khi trừ đi các chi phí. 21 ngày sau, bà nhận được điện thoại bảo lên sân bay Tân Sơn Nhất đón con. Lúc tĩnh táo, Màu còn nhớ, chồng lớn hơn cô 20 tuổi, làm nghề gì không biết mà ra đi từ sáng sớm, tối mịt mới về nhà.
Màu ở chung với mẹ chồng và người anh chồng làm nghề ăn xin, mình đầy ghẻ lở. Mỗi bữa ăn, mẹ chồng buộc cô phải uống một thứ thuốc gì màu đen, mùi hăng hắc. Cô không uống thì bị một trận đòn chí tử.
Người vợ cũng không thấy rõ mặt chồng mình. Cô bị nhốt suốt ngày trong phòng. Màu sống 21 ngày như thế và đâm ra hoảng loạn, phát điên.
Gia đình trở nên nghèo túng hơn kể từ khi Màu trở về. Mỗi tháng phải mua 300,000 tiền thuốc cho Màu.
Năm 2003, tưởng rằng con gái hết bịnh, gia đình tháo dây xích buộc chân cô. Một đêm, cô bỏ đi, bảo là lên Cần Thơ làm ăn. Sau đó, người nhà tìm thấy Màu đi lạc ở Đồng Tháp. 8 tháng sau, Màu sanh ra một đứa con không cha. Gia đình đã nghèo mà còn bị rách nát hơn. Đó là hậu quả của một cuộc đổi đời. Biết trách ai đây?
Một ông Đài Loan cưới 2 vợ VN trong 4 ngày.
Hồi tháng tư năm 2004, một người Đài Loan tên Lin Ming Wei nhập cảnh VN với lý do du lịch. Nhưng sau đó, ông nhờ người mai mối tên Huỳnh Thị Nga, trong vòng 4 ngày đã nhanh chóng làm lễ cưới không hôn thú với 2 cô gái VN, cả hai đều 21 tuổi ở huyện Phong Điền, Cần Thơ.
Bị phát hiện, ông Lin Ming Wei bị phạt 10 triệu đồng vì lý do có hành động không đúng với mục đich nhập cảnh.
Câu chuyện gái Việt lấy chồng ngoại kể hoài không hết được. Không hiểu phụ nữ VN ở thế hệ nầy nghĩ gì về hôn nhân? Không hiểu các bậc cha mẹ ở thời đại nầy nghĩ sao về hạnh phúc của con gái?
Đạo đức VN đã đến thời kỳ thật sự bị phá sản!
6* Bi kịch ở Hàn Quốc
6.1. Cái chết của Thạch Thị Hoàng Ngọc
Cô dâu Việt Nam Thạch Thị Hoàng Ngọc (xấu số) và chồng người Đại Hàn Yang Du Hyo.
Chuyện cô gái Việt lấy chồng ngoại không có gì lạ. Chuyện cô dâu Việt bị hành hạ cũng không có gì lạ vì nó xảy ra hà rầm như cơm bữa.
Chuyện lạ ở đây là câu chuyện thương tâm của một cô gái Việt mới 20 tuổi.
Cuộc mặc cả xảy ra trong 30 phút và sau đó là cuộc hôn nhân vội vã mà hai bên chưa kịp nhớ rõ mặt nhau, bất chấp quá khứ và hiện tại, cho dù người chồng bị khuyết tật hay bịnh tâm thần cũng mặc.
Ngày 9-7-2010, cô dâu VN tên Thạch Thị Hoàng Ngọc, chỉ sau một tuần đặt chân trên đất nhà chồng ở xứ Củ Sâm, thì một tin buồn bay đến tận vùng quê hẻo lánh thuộc huyện Cờ Đỏ, Cần Thơ, tin buồn làm cho gia đình và chòm xóm đều bàng hoàng không ít. Dân chúng huyện Cờ Đỏ xôn xao trước cái chết của người con gái trẻ và ngoan hiền.
Ông Thạch Sang cho biết, Ngọc là đứa con hiếu thảo, vì gia đình quá nghèo nên phải bấm bụng cho con đi, mong cho con được hạnh phúc.
Chị của Ngọc thì lấy chồng Đài Loan, em út thì đang làm thủ tục dể đi lấy chồng Đài.
Trước khi cưới, chú rể có đưa 3.8 triệu, nhưng trừ các chi phí chỉ còn 1.8 triệu. Và sau đó, chú rể Jang Du Hyo có đưa thêm 500 đô la Mỹ.
Tờ Korea Times đưa tin là sở cảnh sát cho biết một phụ nữ VN được tìm thấy đã chết trong nhà chồng vào ngày 8-7-2010.
Cô Thạch Thị Hoàng Ngọc đến Đại Hàn vào ngày 1-7-2010, không biết tiếng Hàn, cũng không biết ông chồng có tiền sử bịnh tâm thần. 5 ngày trước khi đi VN để đón cô dâu, thì Jang đã phải vào bịnh viện. 5 năm trước, Jang đã tấn công cha mẹ mình. Jang đã vào bịnh viện 57 lần để điều trị bịnh tâm thần phân liệt của mình.
Cái chết của cô Thạch Thị Hoàng Ngọc đã dấy lên nhiều nguồn dư luận khác nhau ở Hàn Quốc.
Khi ông bà Thạch Sang đến Hàn Quốc, thì một nghị sĩ là ông Han Sun Kyo đã cùng ông bà đưa xác cô Hoàng Ngọc về quê an táng.
Hội những người Hàn ở Sài Gòn quyên góp được số tiền 20,000 đô la để giúp đở gia đình nạn nhân.
Tờ Chosun Ilbo cho biết là gia đình cô Hoàng Ngọc được bồi thường 25,000 đô la.
Tổng thống Lee Myung-bak đã đích thân xin lỗi gia đình nạn nhân trong bài phát biểu trên đài phát thanh quốc gia.
Toà án Busan đã kết án 12 năm tù cho chú rể Jang Du Hyo. 3 người môi giới bị phạt một năm tù giam.
Sau đó, Đại Hàn đã ban hành những luật lệ mới về việc hôn nhân với người ngoại quốc.
6.2. Cái chết của cô dâu Kim Đồng
Ông Phạm Hữu Chí, tham tán ngoại giao ở Hàn quốc cho biết, thi thể của cô Lê Thị Kim Đồng đã được hoả táng. Không có bằng chứng pháp lý để truy cứu hình sự. Và toà Đại sứ VN ở Hàn Quốc yêu cầu cảnh sát mở cuộc điều tra. Ngày giờ đưa tro cốt về VN chưa được xác định. Hội Hàn Kiều cũng đã chuyển số tiền 88 triệu đồng VN quyên góp cho gia đình cô Kim Đồng ở Cần Thơ. Cô Kim Đồng thiệt mạng sau một cuộc tẩu thoát ra khỏi nhà chồng không thành.

Người dân giơ các tấm biển lên án vụ cô dâu Việt bị chồng Hàn tâm thần sát hại, trước cửa Ủy ban Nhân quyền quốc gia ở Seoul, hôm 20/7. Ảnh: Yonhap.
6.3. Cái chết của cô dâu Huỳnh Mai.
Ngày 15-8-2007, cô Huỳnh Mai, 20 tuổi, đã bị chồng Đại Hàn đánh gảy 18 cái xương sườn, bỏ chết dưới hầm nhà chồng, đã làn chấn động dư luận ở Hàn quốc và cả thế giới nữa.
Lễ trao hài cốt diễn ra tại Sài Gòn. Số tiền quyên góp ủng hộ gia đình Huỳnh Mai gồm 5,000 đô la của tổ chức Thiện Nguyện Nam Hàn, 500 đôla của các cô dâu Việt thương cảm người bạn xấu số. Hội Hàn Kiều ủng hộ 77 triệu đồng VN
Đại diện hội Hàn Kiều cho biết, một dự án xây Nhà Văn Hoá Đại Hàn để phục vụ các cô dâu lấy chồng Hàn, sẽ tập trung một tháng để đào tạo kiến thức về văn hoá xã hội, phong tục tập quán Hàn quốc trước khi về nhà chồng.
Cũng được biết là người chồng của Hỳnh Mai đã bị bắt và sẽ đưa ra toà, mà mức án giết người cao nhất là tù chung thân.
6.4. Cô dâu nhảy lầu tự tử
Trần Thị Lan, 22 tuổi, quê ở quận Cái Răng, Cần Thơ. Làm đám cưới với Ha Jang Su, 36 tuổi. Lên máy bay về nhà chồng ngày 11-2-2008.
Lan ở nhà chồng chưa đầy một tháng. Cô đã nhảy từ từng lầu thứ 14 tự tử, đúng vào buổi chiều 30 Tết. Nhà gái có nhận 2 triệu trong ngày cưới.
7* Tâm sự của một cô dâu Hàn Quốc
Ngày 8-12-2010
“Tôi là một trong 40,000 cô dâu Việt trên xứ Hàn.
Dù trong hay ngoài nước, chúng tôi cũng bị báo chí và dư luận lên án “Ô nhục”, “Món hàng mất giá” khinh rẻ, là những từ ngữ thuờng dùng để nói về chúng tôi.
Tôi và nhiều cô dâu khác, không được học hành đến nơi đến chốn, nhưng chúng tôi cũng còn khá hơn những chàng trai trong làng. Tôi rất sợ hãi khi nghĩ đến mình sẽ về sống chung với những thanh niên ít học, rượu chè, cờ bạc, thô lỗ người VN…Tôi cũng không muốn gia đình tôi, với thanh niên trong làng, mãi mãi là một túp lều mà cả đời lao động cũng không có thể làm cho nó khang trang hơn được. Ai sẽ cứu vớt chúng tôi? Lấy chồng Hàn quốc, tôi ngộ ra nhiều điều. Dù cách thức đi đến hôn nhân không tốt, nhưng trong thâm tâm của người chồng, người vợ đều mong muốn được yêu thương.
Trước khi được chấm, chúng tôi bị nhìn ngắm, thậm chí còn bị sờ mó như một món hàng.
Tôi có quyền nghĩ đây là cơ thể của tôi, tôi nhịn nhục để được thay đổi cuộc đời. Nhưng trái lại, nhiều người cứ tưởng rằng cơ thể của tôi thuộc về sở hữu của toàn thể dân tộc VN vậy. Thế nên, họ đùng đùng nổi giận khi cơ thể của tôi bị người khác dòm ngó, chọn lựa.
Thế nhưng, nếu như khi cuộc đời của tôi bị vùi dập bởi thanh niên đồng hương (rượu chè, cờ bạc, thô lỗ) thì mọi người xem đó là chuyện bình thường.
Tôi nghĩ rằng chỉ có 10% cô dâu gặp khó khăn và chừng 200 trường hợp nguy hiểm trong tổng số 150,000 lấy chồng Hàn Quốc hay Đài Loan.
Người Hàn quốc hay Đài Loan không kỳ thị chúng tôi, con cái được no ấm, học hành và có tương lai tươi sáng. Đặc biệt là chúng tôi được sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được”. (Trần Thị Nguyên)
8* Những vụ tìm chồng vẫn tiếp diễn
Trong năm 2009, đã có 7,249 đám cưới Hàn-Việt xảy ra tại VN. Các cô gái vẫn chưa từ bỏ cái mộng làm dâu xứ Kim chi.
Ngày 19-7-2008
Tại khách sạn Diệu Quyên, Phường 9 quận Gò Vấp, 120 cô gái VN xếp hàng cho 7 hoàng tử Đại Hàn chọn vợ.
Ngày 8-12-2008
Ở Quận 8 Sàigòn, 161 thiếu nữ và 7 đàn ông Đại Hàn bị cảnh sát ập vào bắt tại trận khi các cô đang mặc thời trang của bà Evà.
Ngày 12-2-2009
Tại một ngôi nhà ở quận Bình Chánh, 35 cô gái đang chào hàng cho một ông khách Nam Hàn tên Lee Won Ju, 38 tuổi chọn vợ.
Ngày 7-7-2009
51 cô gái Việt đang được ông tơ bà nguyệt xe duyên cho các hoàng tử Nam Hàn, tại căn nhà số 479/21/11 Hương Lộ 2 Phường Bình Trị Đông, quận Tân Bình thì bị bắt. Những cô gái được tái giáo dục rồi trả về địa phương.
Ngày 26-8-2010
Tại khách sạn Tân Bình, 17 cô gái từ 18 đến 30 đang trình diễn cho các chú Củ Sâm chọn vợ.
9* Thị trường Serbia
Ngày 8-9-2008, ông Zeljko Vasiljevic, bộ trưởng Xã Hội Serbia thông báo là hiện nay đang có 250,000 thanh niên độc thân tại các ngôi làng vùng quê xa xôi hẻo lánh, họ là những nông dân nghèo, ít học, đang có nhu cầu cưới vợ. Chính phủ đang tìm sức sống cho những vùng quê xa xôi nầy. Ông muốn tìm vợ cho họ ở Cam Bốt và VN, bởi vì phụ nữ ở 2 nước nầy biết làm ruộng.
Các ông tơ bà nguyệt VN đang ngắm nghía thị trường nầy.
10* Kết luận
Ai đã gây ra những thảm cảnh thương đau nầy cho những cô gái trẻ Việt Nam?
Chính là Việt Cộng!.
Trước hết, chương trình xuất khẩu cô dâu nầy do đảng và nhà nước CSVN thực hiện để giải quyết nạn thất nghiệp, để xoá đói giảm nghèo.
Kế đến là nhà nước đã tạo ra cái hố khoảng cách giàu nghèo quá to lớn, đưa nông dân đến tình trạng te tua rách nát, nghèo đói. Bần cùng sanh đạo tặc.
Sau cùng là chế độ nầy đã làm cho đạo đức dân tộc bị suy đồi đến cùng cực, băng hoại và phá sản.
Đó là sự thất bại của chế độ giáo dục, nói rộng ra là thất bại của “sự nghiệp xây dựng CNXH”. Bởi vì, muốn có CNXH, thì phải có con người XHCN. Đó là những người làm chủ tập thể, mình vì mọi người, mọi người vì mình. Khắc phục khó khăn, phát huy sang kiến, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng, nhưng ngoài Trung Cộng ra.
Các cháu bác Hồ phải học tập, lao đông, chiến đấu, noi theo gương đạo đức của bác.
Chiến đấu của các cháu ngoan luôn luôn ở vị thế bại trận, là bao giờ cũng nằm dưới mấy thằng bần cố nông ngoại bang. Hơn nữa, theo gương đạo đức của bác thì tiêu tùng, cháy túi.
Lời tâm sự của một cô dâu ngoại “Chúng tôi đang sống trong một môi trường văn hoá-xã hội mà ở VN, tôi có nằm mơ cũng không bao giờ thấy được” (Trần Thị Nguyên)
Một chứng minh cụ thể là các Cháu Ngoan bác Hồ đã được giáo dục, tào tạo dưới mái trường XHCN, trau dồi lý tưởng Cộng sản, thế mà còn phô trương thân thể để chạy thoát ra khỏi chế độ, dù phải chịu nhục nhã, một liều, ba bảy cũng liều, thân gái 12 bến nước toàn là bến dơ.
Trúc Giang
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:
Kẻ Khóc Người Mừng – Nguyễn Văn Thạnh
Đăng trong: Tháng Ba 17, 2013 Filed under: Human Right | Tags: Phân Tách 2 Comments »Huh, tình trạng nan giải đây???
Bài đọc suy gẫm: Kẻ Khóc Người Mừng hay Cái chết của một Tổng thống của tác giả Nguyễn Văn Thạnh. Bài viết dồi dào về kiến thức, xin các bạncùng chuyển nhau tham khảo. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
Hình Tổng thống Hugo – Chavez của Venezuela được vẽ khắp nơi trên đường phố.
Cái chết của một Tổng thống:
Như vậy, dù là một tổng thống đầy quyền lực đến mức có thể sửa hiến pháp để bãi bỏ qui định giới hạn thời gian cầm quyền nhưng ông đã không thoát khỏi qui luật của tạo hóa. Ông đã qua đời ở tuổi 58 vào hôm 5.3, sau thời gian dài chống chọi với căn bệnh ung thư, giai đoạn cuối bị liệt nửa người. Ông đã trải qua 4 lần phẫu thuật vì ung thư kể từ tháng 6. 2011 đến nay. Đau yếu đến vậy nhưng ông nhất quyết không trao chức tổng thống cho người khác lãnh đạo đất nước. Ông là Hugo Chavez- tổng thống Venezuela trong suốt 14 năm, kể từ năm 1998, có lẽ là trọn đời nếu ông không bị căn bệnh quái ác này.
Cái chết của ông làm nhiều Venezuela đổ ra đường thương khóc tương tự như dân Triều Tiên đã khóc khi lãnh tụ Kim Jong Il chết. Lãnh đạo nhiều nước gửi điện chia buồn và cử người đến dự lễ tang ông. Trong khi đó, một số người đấu tranh cho dân chủ lại vui mừng trước tin này, xem đó như một cơ hội cho quá trình dân chủ hóa, tôn trọng nhân quyền ở Venezuela.
Tổng thống Hugo Chavez-nhân vật tự phong là cách mạng và theo xã hội chủ nghĩa đã giành được ủng hộ của người nghèo trong nước. Nhưng các nhà chỉ trích nói ông không biết quản lý kinh tế và độc tài.
Thông tin về Venezuela và Tổng thống Hugo Chavez:
Chúng ta có thể tóm tắt như sau (xem thêm link liên hệ của tác giả ở cuối bài) :
Venezuela là một quốc gia ở Nam Mỹ diện tích gần 1 triệu Km2 (gấp 3 lần nước ta) với dân số 28 triệu người (thua ta 3 lần), là nước có sinh hoạt chính trị dân chủ từ năm 1958. Đất nước này rất giàu tài nguyên thiên nhiên, có một nguồn dự trữ dầu mỏ và khí đốt to lớn. Hiện nay, Venezuela là một trong 10 nước xuất khẩu dầu thô lớn nhất thế giới (thứ 4). Dầu mỏ được phát hiện tại Venezuela đã mang lại sự thịnh vượng cho nền kinh tế đất nước, thu nhập quốc dân được nâng cao. Từ thập niên 1950 đến thập niên 1980, Venezuela là một trong những cường quốc kinh tế tại Mỹ Latinh. Thu nhập bình quân của nước này gia tăng nhanh chóng đã thu hút rất nhiều lao động từ khắp nơi trên thế giới. Tuy nhiên khi giá dầu thế giới giảm mạnh trong thập niên 1980, nền kinh tế Venezuela đã bị một phen điêu đứng, đói nghèo gia tăng đến mức 49% năm 1998, bất ổn xã hội và nạn tham nhũng trầm trọng
Hugo Chavez xuất thân từ địa vị thấp kém, chịu cảnh bần cùng, sự đau khổ, đôi khi không có bất kỳ thứ gì để ăn. Lớn lên ông là một quân nhân có tinh thần dân tộc và hướng đến người nghèo. Ông được truyền cảm hứng từ ý tưởng của tướng Velasco (Tổng thống cánh tả Peru) rằng quân đội phải hành động vì lợi ích của các tầng lớp lao động khi giai cấp thống trị tham nhũng. Khi đất nước lâm vào nghèo đói do khủng hoảng kinh tế và tham nhũng, ông đã thực hiện đảo chính năm 1992 nhưng thất bại phải đi tù. Hành động này gây tiếng vang rất lớn trong tầng lớp dân nghèo, điều này giúp ông đắc cử tổng thống qua bầu cử năm 1998.
Nắm quyền tổng thống, ông đã lãnh đạo đất nước Venezuela theo đường lối cánh tả với học thuyết của chủ nghĩa Bolivar và chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21 cho châu Mỹ. Ông quốc hữu hóa một loạt ngành kinh tế then chốt, đứng đầu là ngành công nghiệp dầu mỏ, ngành kinh tế đóng góp nhiều nhất cho kinh tế Venezuela, tới 1/3 GDP, 80% giá trị xuất khẩu và hơn một nửa ngân sách nhà nước. Ngoài ra ông còn quốc hữu hóa tài sản của các tập đoàn Cargill Inc., Gruma SAB và hãng bán lẻ của Pháp là Casino Guichard Perrachon nhằm kiểm soát các chuỗi sản xuất và phân phối thực phẩm. Từng bước ông quốc hữu hóa các ngành truyền hình, báo chí, điện thoại, năng lượng,….Ông trao các chức vụ lãnh đạo công ty nhà nước cho các thành viên đảng cầm quyền của mình nắm giữ.
Ông thực hiện trợ cấp xã hội trên qui mô lớn, duy trì giá xăng ở mức dưới 0,1 USD/gallon (tương đương hơn 500 VND/lít), trợ cấp miễn phí giáo dục, y tế, nhà ở. Các chương trình kinh tế xã hội này đã làm giảm đáng kể tỷ lệ đói nghèo, theo số liệu của chính phủ từ mức 49% năm 1998 xuống còn 12,3% năm 2007. Bí quyết để thành công là do giá dầu đã tăng cao khi ông nắm quyền, từ 10 USD/thùng lên 100 USD/thùng (10 lần) nên ông có nguồn tài chính dồi dào để tài trợ cho các chương trình trên.
Ông mạnh mẽ lên tiếng chống Mỹ và bọn nhà giàu, thiết lập liên minh với các chính phủ cộng sản của Fidel Castro và sau đó là Raúl Castro tại Cuba và các chính phủ xã hội của Evo Morales tại Bolivia, Rafael Correa tại Ecuador và Daniel Ortega tại Nicaragua, ông cũng xúc tiến quan hệ ngoại giao với những quốc gia chống Mỹ như Belarus hay Iran thậm chí là Bắc Hàn, kết thân với các nước Trung Quốc, Libi, Syria, Việt Nam. Ông cung cấp dầu giá rẻ và viện trợ cho một loạt nước đồng minh, nổi nhất trong đó là Cuba. Vì điều này ông đã tạo ra được một đồng minh chống Mỹ xung quanh mình.
Mặc dù các chính sách của Chavez làm phật lòng nhiều người, số người vẫn ủng hộ ông cũng không phải ít. Ông chinh phục được trái tim của người nghèo trong nước.
Các chương trình kinh tế XHCN của ông gây ra nhiều hệ quả nghiêm trọng cho đất nước: tỷ lệ lạm phát đã tăng 30,9% năm 2008 và tăng 25,1% trong năm 2009, cao nhất trên toàn khu vực châu Mỹ. Kinh tế trì trệ, tăng trưởng âm 2,9% trong năm 2009. Đầu tư tư nhân và nước ngoài sụt giảm nghiêm trọng do lo ngại các vụ quốc hữu hóa.
Đi đôi với tình trạng lạm phát cao nhất nhì thế giới, đất nước này còn mất kiểm soát đối với tội phạm khiến cho Venezuela đang có tỷ lệ tội phạm cao nhất thế giới.
Đô thị hóa nhanh và mất cân bằng nghiêm trọng trong phân bố dân cư. Khoảng 85% dân số Venezuela sống tập trung tại các đô thị miền bắc, nhất là thủ đô Caracas. Venezuela là một trong những nước có tỉ lệ dân cư sống tại thành thị cao nhất Nam Mỹ.
Hugo Chavez cũng không diệt trừ được tham nhũng. Bằng cách cho giới quân sự quản lý bộ máy ngân sách cồng kềnh, ông Chavez đã tạo điều kiện cho tham nhũng lan rộng ngay trong giới quân sự. Điển hình như công ty nhà nước Fonden được thành lập năm 2005, đến nay nó đã ngốn hết 100 tỷ USD tiền bán dầu của Venezuela, rất nhiều tiền trong số trên bị lãng phí và tham nhũng. Các thể chế mới không đem lại điều gì ngoài việc đẻ ra một loạt chức sắc bất tài do ông chỉ định. Ngoài ra Venezuela là nước bị thâm thụt trong chi tiêu công rất cao, lên đến 12% GDP/năm tài khóa. Đồng tiền liên tục phải phá giá làm cho cuộc sống người dân ngày càng khó khăn.
Tuy có bầu cử tự do, có nhiều đảng phái tham gia nhưng với truyền thông khổng lồ do nhà nước nắm và các chương trình xã hội có lợi cho dân nghèo, ông luôn đắc cử tổng thống trong các cuộc bầu cử. Nhiều lãnh tụ đối lập bị ông tống giam với cáo buộc tham nhũng. Dù có nhiều cuộc biểu tình phản đối, thậm chí đảo chính nhưng vẫn không làm lung lay chiếc ghế quyền lực của ông. Ông đã tiếp tục vượt qua cuộc bầu cử Tổng thống năm 2012 để đắc cử nhiệm kỳ thứ 3 liên tiếp và sẽ nắm quyền tới năm 2019, mặc dù ông phát hiện bị bệnh ung thư phải điều trị trước đó và sức khỏe ngày càng tồi tệ. Ông chết mà chưa kịp tuyên thệ nhận chức nhiệm kỳ mới vì sức khỏe quá yếu, có lúc bị tê liệt nửa người. Khi ông chết, phó tổng thổng là người cùng đảng đã lên tổng thống và đảng ông đã quyết định 7 ngày quốc tang và ướp xác ông như những lãnh tụ: Lenin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành,…
Cuộc bầu cử đầy gay cấn trong năm 2012 tại thủ đô Caracas, Venezuela.
Trong khi các thành viên trong đảng và chính phủ (đảng ông nắm phần lớn) bận rộn quốc tang, lên kế hoạch ướp xác, đám đông người nghèo khóc thương và rầm rộ đi viếng thì những người trí thức của đất nước có cái nhìn khác. “Chúng tôi không cực đoan tới mức nói rằng ông ấy không làm được bất cứ điều gì, nhưng khi xem xét tất cả những vấn đề trên tầm vĩ mô, anh sẽ thấy chúng tôi đang phải sống trong một tình trạng tồi tệ”, Eduardo Perez, một luật sư 44 tuổi nói. Hay Oscar-nhà kinh tế 23 tuổi nói rằng, anh coi Chavez, vị lãnh tụ của phần đông người dân Venezuela, về mặt chính trị, chính là người đã phân tách đất nước ra làm nhiều mảnh.
Những bài học được rút ra:
Tổng thống Chavez chết, một số tiếc thương, một số vui mừng nhưng ít người suy nghĩ, phân tích để rút ra bài học từ cuộc đời, từ hành động của ông dù cuộc đời ông gây ra nhiều tranh cãi tốt-xấu. Nếu chúng ta chịu khó rút ra các bài học từ thành công và thất bại của các chính trị gia, chúng ta sẽ tránh được rất nhiều sai lầm, vì như Henry Hazlitt, tác giả cuốn sách kinh tế kinh điển “hiểu kinh tế qua một bài học” đã nói “rất nhiều sáng kiến hiện nay được mang ra thực hiện, thực chất là lặp lại sai lầm của quá khứ”. Chúng ta thử rút ra một số bài học từ cuộc đời ông :
Bài học về người hùng của dân nghèo: Hugo Chavez đã thu phục được trái tim tầng lớp dân nghèo. Với tầng lớp dân chúng thấp cổ bé họng này, bất cứ ai đứng ra cải thiện cuộc sống của họ dù bằng cách nào (hợp lí hoặc ko hợp lí) đều là người hùng. Lịch sử thời đại phong kiến cho ta nhiều người hùng như vậy, không ít quân vương xây dựng đế chế quyền lực cho mình bằng những cuộc khởi nghĩa với khẩu hiệu cướp của người giàu chia cho dân nghèo, thậm chí nếu một tên cướp nhưng hành động với khẩu hiệu đó cũng được dân nghèo xem như người hùng. Họ đâu biết rằng con đường thoát nghèo đó của họ sớm đi đến đường cụt như vinh quang của những anh hùng cướp của vậy. Số phận của người nghèo chỉ được giải phóng đúng qui luật kinh tế chứ không bao giờ qua người hùng như vậy được. Người hùng dân tộc phải là người hiểu biết, mang lại nền chính trị dân chủ để phát triển kinh tế chứ không chỉ dùng quyền lực để chia.
Điều này cũng cho thấy tại sao tư tưởng XHCN có sức hấp dẫn ở các quốc gia nghèo, nơi có trình độ dân trí thấp. Đáng buồn là nước VN ta nằm trong số đó ! Qua đây lý giải phần nào lý do vì sao nhiều người còn say mê lý tưởng của Đảng, cho nó là tốt đẹp, chỉ người thực hiện là sai. Họ cố đi tìm người có đạo đức để thực hiện, đâu biết rằng CNXH đã sai về nguyên lý.
Chủ nghĩa xã hội tại sao hấp dẫn dân nghèo và là tai họa cho dân nghèo đến thế ! Bí mật nào ở đây ? - Bí mật là do cơ chế vận hành đã thỏa mãn lòng tham của tất cả các bên, hậu quả thì cả xã hội chịu và người chịu nhiều nhất là ngườinghèo và vấn đề là ai cũng nghĩ mình ko chịu, mình được lợi. Ta thấy người lãnh đạo làm cho cái bánh to hơn, dù không công bằng nhưng mọi người được miếng lớn hơn thì khó, còn dùng sức mạnh để cố chia đều cái bánh ngày càng nhỏ thì dễ hơn. Thật ra trong quá trình chia đó người nghèo tưởng công bằng nhưng không, người cầm dao để cắt chia luôn được miếng to hơn. Chỉ có điều người dân không thấy điều này. Sự thiếu hiểu biết của con người rất nguy hiểm, có thể lôi nhau cùng xuống địa ngục mà không biết.
Hugo cho ta thấy bí mật của những tranh cãi quanh công tội của các chính trị gia theo chủ thuyết XHCN hoặc độc tài :
Tất cả những chính trị gia theo chủ thuyết CNXH đều để lại di sản tranh cãi vì sự mâu thuẫn giữa lý tưởng, chủ trương tốt đẹp hướng đến người nghèo, hướng đến công bằng dân chủ với thực tế trái ngược hoàn toàn.
Từ Đông sang Tây : Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Jong Il, Gaddafi, Mubarack,… tại sao khi một nhà độc tài chết đi luôn có kẻ khóc, người mừng?
Tại sao khi một nhà độc tài tại vị luôn có kẻ tung hô, người oán thán? Dù là một nhà độc tài khét tiếng thế nào đi nữa, ông ta cũng không thể là kẻ hưởng thụ một mình, ông ta phải làm lợi cho một nhóm người nào đó trong xã hội và gây thiệt hại cho phần còn lại. Nếu nắm hệ thống truyền thông thì tay chân phe nhóm của lãnh tụ có thể dễ dàng cho thế giới thấy lãnh tụ của họ được lòng dân thế nào ? Nhưng đó chỉ là một nửa của sự thật.
Bài học về khủng hoảng và xử lý khủng hoảng trong nền kinh tế: Venezuela từng có giai đoạn là nước có nền chính trị dân chủ, nền kinh tế tự do, phát triển thịnh vượng. Tuy nhiên khi giá dầu giảm trong thập niên 1980 đã gây ra khủng hoảng kinh tế. Chính cuộc khủng hoảng này đã đưa Chavez lên nắm quyền để giúp đất nước thoát khỏi bế tắc theo hướng kinh tế XHCN. Trong nền kinh tế tư nhân tự do (nhiều người còn gọi là nền kinh tế tư bản chủ nghĩa) không tránh khỏi bị khủng hoảng. Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng có rất nhiều nhưng chung qui lại là luật chế tài chưa đi kịp với nền kinh tế: gian lận trong tín dụng, đầu cơ, lạm phát, sụp đổ thị trưởng chứng khoán, độc quyền, lũng đoạn kinh tế, vay mượn quá mức,…..Khi khủng hoảng xảy ra thì kinh tế suy thoái, xã hội rối loạn, đói nghèo, bất công,…thậm chí là chiến tranh. Quan trọng là việc xử lý khủng hoảng, việc này có thể đưa đến sự phát triển, củng cố nền dân chủ hoặc đưa đến độc tài toàn trị, kinh tế lâm vào khó khăn ngày càng không có lối thoát.
Những năm 1997-1998 các nền kinh tế mới nổi như Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan,…lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, nhiều tổ hợp kinh tế lớn sụp đổ, để lại gánh nợ nần lên đến hàng chục tỷ đôla. Điển hình như tập đoàn Deawoo Hàn Quốc, gánh nợ lên đến 75 tỷ USD, rất nhiều trong số đó là kết quả của việc gian lận tài chính, chủ tịch tập đoàn là Kim Woo Choong bỏ trốn. Xã hội rối loạn vì kinh tế khó khăn, nghèo đói. Tinh thần chống tư bản, chống đối nhà giàu, chống đối bọn “bóc lột” lên rất cao. Tuy nhiên chính phủ Hàn Quốc đã sáng suốt trong việc xử lý khủng hoảng. Một mặt chính phủ đứng ra bảo lãnh các khoản nợ, hoặc hỗ trợ sát nhập để các công ty tiếp tục hoạt động, một mặt hoàn thiện chế tài luật pháp. Điều quan trọng là HQ kiên trì nền kinh tế tư nhân. Quá trình xử lý theo hướng này tốn rất nhiều thời gian, kết quả chậm chạp, chịu nhiều sức ép từ công luận. Tuy nhiên chính điều này mà ngày nay HQ có những thương hiệu toàn cầu như Samsung, Huyndai, LG,….cạnh tranh sắc bén trên trị trường quốc tế (không biết điều gì sẽ xảy ra nếu HQ quốc hữu hóa hết các tập đoàn này rồi giao cho quan chức điều hành?). Ngày nay HQ có nền kinh tế năng động trong một nền dân chủ ngày càng hoàn thiện.
Rõ ràng, nếu Venezuela kiên trì nền kinh tế tư nhân tự do, với nguồn tiền dồi dào thu được từ việc bán dầu mỏ, chính phủ cho các công ty tư nhân vay để làm ăn (hoặc chi xây dựng đất nước theo hướng tư nhân đấu thầu), đi đôi với việc hoàn thiện hệ thống luật pháp, có lẽ Venezuela đã thịnh vượng.
Một hướng xử lý khủng hoảng khác hay được các nước áp dụng đó là chính phủ tăng cường can thiệp thị trường để nhanh chóng ổn định: quốc hữu hóa, xây dựng doanh nghiệp nhà nước, kiểm soát giá theo lệnh hành chính, phân phối theo lệnh chính phủ, thực hiện kinh tế kế hoạch hóa,… Cách này tất nhiên là có kết quả nhanh chóng, làm hài lòng quần chúng trong trạng thái khó khăn do khủng hoảng, bị kích động chống người giàu, chống bóc lột, chống tư bản.
Federik August Hayek.
Cách này còn được các quan chức ưa chuộng vì được nhúng tay vào bầu sữa ngân sách, được điều khiển nền kinh tế quốc dân trực tiếp, tất nhiên là kèm theo nhiều lợi lộc. Tuy nhiên cách này tất yếu đưa đến “lợi ích nhóm”, hiệu quả kinh tế ngày càng kém, nền dân chủ bị xói mòn, nạn tham nhũng bùng phát. Điều này xảy ra đúng qui luật kinh tế mà Hayek đã nêu trong cuốn Đường Về Nô Lệ, nó chỉ cho ta thấy rõ là khi nhà nước nắm kinh tế, lên kế hoạch hóa thì quyền lực tất yếu phải ngày càng tập trung vào tay quan chức, truyền thông tuyên truyền phải hoạt động hết công sức, dối trá, đàn áp là tất yếu và người dân sẽ trở thành nô lệ vì trong thể chế như vậy chống lại chính quyền sẽ phải chết từ từ vì đói (vụ nhà báo Nguyễn Đắc Kiên bị mất việc là một minh họa). Xã hội ngày càng đi vào suy thoái, chuyên chế, đói nghèo, tham nhũng, bất công.
Federik August Hayek, người Áo đoạt giải thưởng Nobel 1974 về Economic Science. (Link)
Nước ta có bài học to lớn từ việc mất tự do kinh tế. Thời bao cấp, tự do kinh tế của người dân gần như số 0. Khi đó dù có lương tri người ta cũng không dám lên tiếng, vì nhà cầm quyền chỉ cần cắt phiếu gạo hay không cấp ruộng là nắm chắc chết đói, cả gia đình trở nên khốn khổ. Văn nghệ sĩ, trí thức, nhà báo, nhà quay phim,….tất tần tật đều do nhà nước bao cấp kinh tế, trong hoàn cảnh đó dù có khuyến khích phát biểu, cũng không ai dám mở miệng nói điều khó nghe với chính quyền. Nhiều hội đoàn sinh ra cũng chỉ để làm cảnh vì chẳng ai có động lực để đấu tranh.
Đây là một bài học vô cùng quí báu cho VN ta hiện nay, chúng ta đang dần thoát khỏi chuyên chế độc đảng thì gặp khủng hoảng, hiện nay nếu để chính phủ ngày càng can thiệp sâu vào thị trường với mục tiêu ổn định, làm đẹp các chỉ số tăng trưởng. Các hành vi như độc quyền nhà nước về vàng, khống chế ngân hàng, ổn định giá cả theo mệnh lệnh hành chính (nhân danh bình ổn giá), can thiệp thị trường chứng khoán, tăng cường chỉ đạo của chính phủ trong nền kinh tế, tăng cường đầu tư công để thay thế tư nhân nhằm làm đẹp chỉ số tăng trưởng, tăng cường kiểm soát các mặt hàng chiến lược như: xăng, dầu điện….
Chính phủ có xu hướng làm thay thị trường thay vì hoàn thành các thiết chế luật pháp, hoàn thiện dân chủ để kinh tế phục hồi, phát triển theo qui luật cạnh tranh của thị trường. Tùy theo cách chúng ta xử lý khủng hoảng mà chúng ta thoát ra khỏi nạn chuyên chế, đi đến dân chủ thịnh vượng hay quay lại chốn cũ.
Kinh tế thị trường là một hệ thống tự động, nó chỉ hoạt động tốt nhất trong thể chế dân chủ, nếu chúng ta ra sức can thiệp dù với mong muốn xã hội tốt hơn thì mọi chuyện lại trở nên tồi tệ hơn.
Cuộc đời Hugo Chavez để lại cho ta bài học đáng suy ngẫm về mối quan hệ giữa hai loại người trong xã hội: người giàu và người nghèo. Đây là mối quan hệ đầy sóng gió bao đời nay của nhân loại. Dù dân tộc nào, thời đại nào, xã hội nào, người giàu và người nghèo chưa bao giờ sống chung hòa hợp với nhau. Nguồn cơn cho mối quan hệ sóng gió đó là sự hiểu lầm tai hại. Lớp người nghèo đã cho rằng chính người giàu là nguyên nhân cho sự khốn khó của họ, chính người giàu tham lam đã bóc lột họ, làm cho họ nghèo khó. Sự hiểu lầm đó được nâng lên thành chủ thuyết đấu tranh của “thiên tài” Karl Marx, từ đây lịch sử nhân loại đã có một chương bi thảm với tên gọi đấu tranh giai cấp. Kết quả làm hàng trăm triệu nhân mạng ngã xuống trong khốn cùng oan ức nhưng lại không giải quyết được vấn đề gì cả.
Người ta đâu biết rằng, vấn đề người giàu và người nghèo là một vấn đề tất yếu như một đoàn tàu, luôn có đầu máy, toa đi đầu và những toa cuối cùng. Vấn đề là làm sao cho cả đoàn tàu chạy, dù là toa đi sau nhưng cũng tiến lên chứ không phải làm cho các toa bằng nhau rồi chết dí một chỗ. Thật ra trong quá trình làm giàu, người giàu bằng tài năng của mình đã phụng sự xã hội, người tài người giỏi xứng đáng được hưởng cuộc sống tốt hơn. Một thiên tài Bill Gates giúp ích cho xã hội rất lớn, ông hoàn toàn xứng đáng ở trong căn biệt thự 100 triệu đô với tiện nghi làm cho cuộc sống thoải mái nhất. Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh khốc liệt, tài sản người giàu không phải là tiền hay vàng tích trữ trong két mà nó được phân bố dưới các cơ xưởng sản xuất, kinh doanh, mang lại công ăn việc làm cho người lao động, mang lại sản phẩm ngày càng tốt hơn cho người tiêu dùng. Đâu đó người giàu trục lợi xã hội, làm tổn thương người nghèo là do sự thất bại của luật pháp, thất bại của thể chế, trong những thể chế không dân chủ thì vấn nạn này càng lớn. Do vậy để giải quyết vấn nạn mâu thuẫn giữa người giàu và người nghèo trong xã hội, không thể bằng cách đấu tranh tiêu diệt người giàu (đấu tranh giai cấp), tuyên truyền lòng căm thù, kỳ thị người giàu như cách Chavez, (ông là người lên án người giàu, lên án Mỹ với lời lẽ mạnh mẽ nhất-chính điều này làm cho người nghèo hả hê). Mà giải pháp là xây dựng thể chế dân chủ với nền kinh tế tự do, luật pháp hoàn thiện, nghiêm minh.
Hugo cho ta thấy lợi ích nhóm hình thành và phát triển như thế nào trong sinh hoạt chính trị: Cái gì làm con người có động lực để tranh giành nhau dữ dội nhất? Đó là quyền lợi, là miếng ăn, là bổng lộc. Nếu chính quyền không có khả năng ban phát những thứ đó thì con người chẳng tranh giành quyền lực làm gì.
Hugo Chavez đã tạo ra một lợi ích nhóm từ việc giao cho các thân tín điều khiển các công ty nhà nước. Rõ ràng chính sách kinh tế XHCN tất yếu dẫn đến “lợi ích nhóm” quây quanh chính phủ. Ở đâu có mật thì ở đó có ruồi, ở đâu có ban phát quyền lợi thì sẽ có xu nịnh quây quanh. Nếu không nắm quyền điều khiển các công ty quốc doanh thì Hugo Chavez cũng chỉ là một tổng thống chấp pháp bình thường. Để có thể duy trì được lợi ích của mình thì “nhóm lợi ích” bắt buộc phải tiếp tục con đường của ông, phát huy di sản ông để lại, do vậy không có gì khó hiểu khi hiện nay nhóm cầm quyền ở đây ra sức ca ngợi ông như một anh hùng, một vị thánh và họ đã quyết định ướp xác ông, biến ông thành một tượng đài bất tử như bao lãnh tụ vô sản khác.
Hiện nay, các lãnh đạo cấp cao hay đề cập đến “lợi ích nhóm” lũng đoạn, tàn phá đất nước nhưng chưa thấy việc chỉ ra “lợi ích nhóm” nó đến từ đâu, cơ chế hoạt động ra sao và tồn tại thế nào? Rõ ràng cái “lợi ích nhóm” nó được sinh ra từ cái đuôi định hướng XHCN mà nền kinh tế nước ta đang vận hành. Chính việc giao cho quan chức có quyền điều khiển việc kinh doanh, chính việc chi tiêu công là cái gốc của việc hình thành nên “lợi ích nhóm”. Chính việc chúng ta để các bộ quyền lực như quốc phòng, công an đi kinh doanh, nắm các công ty, các tập đoàn kinh tế đã tạo nên “lợi ích nhóm”. Chúng ta cần dứt khoát phá bỏ quyền điều khiển đồng tiền của quan chức, thực hiện nền kinh tế tự do thì mới giải quyết được “lợi ích nhóm”, cách giải quyết từ giáo dục đạo đức HCM cho cán bộ lãnh đạo là không bao giờ thành công.
Hugo cho ta thấy thế nào là một nền dân chủ trọn vẹn. Trên website bộ ngoại giao Hoa Kỳ trong phần định nghĩa về dân chủ có liệt kê Venezuela là một nước dân chủ. Nhiều người lâu nay cho rằng dân chủ là phải đa đảng, phải có bầu cử tự do, có báo chí tư nhân,….Tuy nhiên điều đó vẫn chưa làm nên nền dân chủ trọn vẹn. Nền dân chủ chỉ trọn vẹn khi các điều trên kết hợp với nền kinh tế tư nhân. Chính nền kinh tế tư nhân là cái gốc của nền dân chủ. Các nước như Ấn Độ (trước cải cách kinh tế) hay Nga dù có được bầu cử tự do nhưng nền dân chủ không trọn vẹn do nhà nước chi phối nền kinh tế (kinh tế nhà nước có tỷ lệ cao) nên vẫn không giàu có, thịnh vượng. Nhiều lực lượng đấu tranh cho dân chủ ở nước ta chú trọng đến tự do trong bầu cử mà quên đi tranh đấu cho nền kinh tế tư nhân, điều này thật là thiếu sót.
Hugo cho ta bài học là làm thế nào một nền độc tài chuyên chế có thể nảy nở trên nền xã hội dân chủ? Đó là con đường chính phủ thâu tóm kinh tế thông qua chính sách quốc hữu hóa, can thiệp giá cả. Bài học này đã được Hitler sử dụng để thâu tóm quyền lực nước Đức, biến nước Đức thành một đế chế chuyên chế Phát xít đáng sợ, mặc dù Hitler là chính trị gia lên nắm quyền qua bầu cử dân chủ và khi đó nước Đức có bản hiến pháp rất dân chủ. Bài học cho ta thấy là một bản hiến pháp đẹp chưa có gì để bảo đảm cho nền dân chủ cả; khi nắm quyền chuyên chế thì người ta có thể tảng lờ, bóp méo hoặc sửa lại hiến pháp. Cuối cùng vẫn là kinh tế tự do mới là nền tảng của dân chủ.
Trong một nền dân chủ, để tránh giới chính trị thâu tóm quyền lực, nảy nở độc tài thì người dân phải chặn sự thâu tóm kinh tế. Sự thâu tóm bắt đầu bằng hành động can thiệp giá cả, quốc hữu hóa, tăng đầu tư công, thành lập doanh nghiệp nhà nước, tăng trợ cấp.
Hugo cũng cho ta thấy rằng kinh tế và chính trị như hai đường ray nâng đỡ con tàu xã hội, nó phải luôn đi đôi với nhau. Kinh tế tự do (tư nhân) thì đi với đường ray chính trị dân chủ pháp quyền. Kinh tế nhà nước thì tất yếu đi với đường ray chính trị mất dân chủ, chuyên quyền. Đây là qui luật tất yếu, nếu ta thay một trong hai thanh ray thì thanh kia tất yếu phải đến để hệ thống có thể hoạt động được.
Hiện tượng phát sinh độc tài trong một đất nước có nền dân chủ vững chắc, có hiến pháp đa nguyên, có nhiều đảng phái hoạt động, có bầu cử tự do,….cho ta nhiều bài học sâu sắc cần rút ra cho đất nước. Bài học ta có thể rút ra ở đây là với quyền lực chính trị được giao, nếu để chính quyền thâu tóm nền kinh tế thì sẽ tạo nên siêu quyền lực và tạo nên mầm móng của độc tài. Tôi không biết lý do vì sao những người lập pháp, những nhà chính trị điều hành đất nước lại giao quá nhiều quyền lực vào tay thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến vậy. Ông vừa là người hành pháp, vừa là người nắm hàng ngàn công ty xí nghiệp nhà nước, nắm các mặt hàng thiết yếu của cả xã hội như điện, nước, xăng, dầu, viễn thông, ngân hàng,….. Ông vừa có quyền ký phong tướng tá cho các bộ quyền lực như công an, quân đội; vừa có quyền ban phát bổng lộc cho thuộc cấp thông qua các công ty quốc doanh. Chính điều này đã tạo nên một thủ tướng siêu quyền lực chưa từng thấy ở Việt Nam.
Hugo cho ta thấy một vấn đề của thời đại chúng ta, thời đại của chính trị phổ thông đầu phiếu. Quyền lực chính trị và ý chí người dân được xây dựng qua những phiếu bầu, đây là hình thức dân chủ trong sinh hoạt chính trị mà con người phải tốn nhiều công sức, xương máu mới có được. Nhiều người cho rằng đây là hình thức tối ưu để biết ý nguyện người dân và cuối cùng đưa đến quốc thái dân an, thịnh vượng. Tuy nhiên nếu phân tích kỹ và quan sát từ Venezuela ta thấy cơ chế này có một điểm yếu chết người. Trong việc phổ thông đầu phiếu thì lá phiếu của một gã ăn mày có quyền lực như nhau với một lá phiếu của một chuyên gia. Đây là một việc nguy hiểm, vì như nhà bác học thiên tài Einstein đã nói “không thể chống lại được thế lực của kẻ ngu, vì chúng quá đông”. Chúng ta tin tưởng vào sự sáng suốt của số đông. Tuy nhiên trong một xã hội, người u tối, thiếu hiểu biết luôn nhiều hơn người hiểu biết và điều đặc biệt là trong đám đông nghèo khó thì họ sẽ ủng hộ bất cứ chính trị gia nào hứa cải thiện cuộc sống cho họ dù cải thiện bằng con đường nào thì họ ít quan tâm hay không hiểu qui luật kinh tế thị trường. Vấn nạn này đang xảy ra khắp nơi, ở cả các xứ dân chủ cao như Mỹ, Pháp hay Thái Lan. Nhiều cư tri Pháp, Mỹ đã bầu cho tổng thống vì ông hứa tăng trợ cấp phúc lợi xã hội, tăng chi tiêu công, làm cho chỉ số thất nghiệp, tăng trưởng đẹp. Nhiều nông dân Thái đã bỏ phiếu để bầu cho bà thủ tưởng trẻ Yingluck Shinawatra vì lời hứa tăng giá gạo 20% từ tiền ngân sách,…..ít ai biết rằng chính phủ chỉ có thể lấy tiền ngân sách hoặc vay mượn để thỏa mãn các đòi hỏi đó của cử tri và sớm muộn gì nợ công và sụp đổ kinh tế là điều tất yếu. Tôi cho rằng đây là một vấn nạn của thời đại, nếu con người không tìm ra giải pháp cho vấn đề này thì khủng hoảng kinh tế vì nợ công, lạm phát và vấn nạn chính mị dân sẽ tàn phá sự ổn định, thịnh vượng của nhân loại. Đặc biệt nếu kinh tế sụp đổ trên diện rộng thì sẽ xuất hiện chuyên chế độc tài như cuộc đại khủng hoảng 1930 (vì khi khủng hoảng, xã hội có xu hướng ủng hộ quyền lực, ủng hộ sự kiểm soát kinh tế của nhà nước để mau chóng vãn hồi trật tự như những bài học khủng hoảng trước).
Chúng ta thấy rằng trong nền chính trị hiện đại việc hạn chế quyền bầu cử là không thể được. Do vậy chỉ còn cách là phải nâng cao hiểu biết của dân chúng, đặc biệt là kiến thức về kinh tế. Dân chúng rất ít người hiểu biết thấu đáo về tự do kinh tế, về kinh tế thị trường, về giá cả và lợi nhuận. Công chúng có xu hướng bài xích lợi nhuận, dìm giá hàng hóa. Ủng hộ chính phủ can thiệp vào thị trường, nhất là vấn đề giá cả, ủng hộ không giới hạn lý tưởng nhà nước phúc lợi, ủng hộ đầu tư, chi tiêu công. Đây rõ ràng là những nguy cơ dẫn đến thâu tóm kinh tế của quyền lực chính trị. Một khi kinh tế bị thâu tóm thì tự do sẽ bị cầm tù. Tự do kinh tế là mạch máu của các loại tự do.
Nếu ai đã nghiên cứu về cuộc đời và tư tưởng của Hayek, đều biết rằng ông là một chiến sĩ đấu tranh âm thầm để bảo vệ nền tự do đích thực. Ông đã cứu nền văn minh châu Âu không bị lạc lối vào chuyên chế. Ông đã viết cuốn “đường về nô lệ”, một cuốn sách có tiếng vang lớn ở Mỹ và châu Âu để cảnh báo nạn thâu tóm kinh tế của nhà nước. Ông đã thành lập hội Mont Pelerin ở châu Âu, giúp thành lập một câu lạc bộ tự do kinh tế ở Anh, giao lưu với trường phái kinh tế tự do ở Mỹ. Chính tư tưởng của ông đã tạo nền tảng hiểu biết về tự do kinh tế cho phương Tây và giúp họ thay đổi đường lối kinh tế bao cấp sau thế chiến 2. Hai chính trị gia huyền thoại là bà đầm thép Margaret Thatcher-thủ tướng nước Anh-đã bẻ lái con tàu kinh tế nước Anh để đoạn tuyệt với chủ nghĩa xã hội Fabian, và tổng thống nước Mỹ Ronald Reagan đã tìm lại nền kinh tế tự do đích thực cho nước Mỹ cũng là nhờ hấp thu tư tưởng của Hayek. Hayek có vai trò lớn đến mức nhiều người cho rằng thế kỷ 20 là thế kỷ của ông. (Tham khảo sách Friedrich Hayek – Cuộc đời và sự nghiệp)
Việt Nam chúng ta học được gì từ vấn đề này? Rõ ràng tư tưởng là nền tảng của xã hội, tư tưởng đúng thì xã hội phát triển, tư tưởng sai thì xã hội lẩn quẩn, bế tắc. Để có thể kiến tạo nền dân chủ vững chắc, chúng ta cần phải có nền kinh tế tự do. Để có nền kinh tế tự do thì dân chúng phải hiểu biết rõ về nó. Nếu chúng ta chỉ đấu tranh để hướng đến tự do chính trị thôi thì không đủ (Ấn Độ có trên 50 năm chính trị tự do, nhưng nền kinh tế theo chủ thuyết xã hội Fabian nên bế tắc, lẩn quẩn). Tôi rất lo lắng khi biết rất nhiều nhà đấu tranh dân chủ lại cổ xúy cho mô hình doanh nghiệp nhà nước. Họ cho rằng nó phụng sự xã hội mà không có lòng tham lợi nhuận để bóc lột, vấn đề là cần quan chức có tâm, có đạo đức tốt điều hành. Hay khi hỏi 100 người dân thì có đến quá nửa nghĩ xấu về doanh nghiệp tư nhân và có thiện cảm với doanh nghiệp nhà nước. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta thành lập một viện tự do kinh tế (qui mô học thuật) để truyền bá hiểu biết về kinh tế thị trường, về hệ thống giá, về lợi nhuận, cung cầu, về quản lý nhà nước trong nền kinh tế tự do,….Tôi cho rằng đây là vấn đề khai trí vững chắc như Fukuzawa Yukichi đã làm với nước Nhật. Suy cho cùng một đất nước chỉ giàu khi kinh tế mạnh. Kinh tế đúng thì mọi điều còn lại phải đúng theo. Tất cả mọi thiết chế quyền lực chính trị cũng nhằm mục đích là để việc làm ăn thuận lợị. (các bạn cùng quan điểm vui lòng liên hệ thanhhemo@gmail.com)
Hugo Chavez cho ta bài học về vấn đề liên minh quốc tế. Khi ông thực hiện các biện pháp kinh tế phi thị trường như quốc hữu hóa, kiểm soát giá cả, ….làm cho các nước có nền kinh tế tự do như Mỹ, Châu Âu, Nhật, ….không thể làm ăn và cũng không thể làm bạn được. Tất yếu Venezuale phải làm bạn với các nước có nền kinh tế phi thị trường và nền chính trị mất dân chủ như: Triều Tiên, Cuba, Libi (thời Gaddafi), Iran, Trung Quốc,….Trong cuộc sống, con người kết bạn với nhau cũng là nhằm để làm ăn tốt hơn, trên thế giới các quốc gia liên minh với nhau cũng vì quyền lợi. Khi lợi ích khác nhau, không hợp tác được thì hết là bạn của nhau. Đây cũng là lý do vì sao các nước có nền chính trị phi dân chủ, nền kinh tế phi thị trường thường là đồng minh của nhau. Ngoài ra để có sự ủng hộ của dân chúng, lãnh đạo những nước này thường lên gân chống Mỹ nhất, họ khai thác những cái gì xấu xa từ xã hội Mỹ, từ nền kinh tế tự do để cho rằng đường mình đi là văn minh, là hiện đại, là tất yếu của nhân loại. Mặt khác để lời lên án có tính tuyên truyền cao, họ ra sức bưng bít thông tin, cấm đoán mạng internet. Đây cũng là bài học cho Việt Nam, nếu chúng ta không tăng cường cải cách kinh tế tự do, chính trị dân chủ thì chúng ta sẽ đứng trong nhóm bạn có thuộc tính còn lại của thế giới và đói nghèo là tất yếu.
Sức mạnh của Hugo Chavez dựa trên nguồn dầu dồi dào của đất nước, bằng cách bán dầu giá rẻ hay viện trợ cho các nước nghèo, chính quyền chuyên chế như Cuba, ông đã chinh phục được họ, ông nhận được từ họ sự tung hô (Rõ ràng anh có tiền, anh ban phát kinh tế thì anh chinh phục được khối người). Và ông là một bài học cho thực trạng vung vãi lợi ích quốc gia để mua đồng minh ở các nhà lãnh đạo, điều này rất dễ xảy ra nếu quyền lực không được kiểm soát hoặc lãnh tụ thâu tóm cả hai quyền lực chính trị và kinh tế. Khi quốc dân không kiểm soát được quyền lực nguyên thủ thì họ hoàn toàn có thể vung vít quyền lợi đất nước để mua chuộc đồng minh. Việc này giải thích tại sao các vị tổng bí thư nước ta có thể mang vài ngàn tấn gạo cho tặng đồng minh mà không cần sự biểu quyết của quốc hội, trong khi bao con em chúng ta còn phải bẫy chuột để ăn vì đói. Đồng bào các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An còn nạn đói hoàng hành.
Hugo để lại cho ta bài học về vai trò đích thực của người lãnh đạo.
Người lãnh đạo muốn đi vào hàng vĩ nhân của dân tộc như Washington phải là người kiến tạo ra xã hội vận hành trên những nguyên lý đúng. Dù chưa hoàn hảo nhưng nó vẫn vận hành tốt khi họ chết để hướng đến xã hội văn minh chứ không phải là người dùng uy tín, ảnh hưởng, đạo đức của mình để vận hành xã hội, để rồi khi mình chết đi để lại một xã hội bệ rạc, lộn xộn và mất phương hướng. Một nhà lãnh đạo giỏi là phải thiết lập được một thiết chế dân chủ bền vững để quốc gia vẫn phát triển ngay cả khi mình qua đời chứ không phải là sự tung hô đương thời.
Đám đông, nhân dân có thể bị lừa dối, bị làm mờ mắt trong các lợi lộc trước mắt. Tuy nhiên theo thời gian, chỉ có lãnh đạo nào đem lại sự thịnh vượng, sự phát triển đích thực cho dân tộc mới được ngưỡng mộ, kính trọng. Các chiêu thức tuyên truyền, các hình thức “công bằng” màu mè rồi cũng đi vào sọt rác của lịch sử. Một đất nước không bao giờ có phúc nếu chỉ có ngày càng “công bằng” trong nghèo khó hơn và dân chủ mất dần.
Làm chính trị không chỉ lòng nhiệt tình, trái tim quả cảm, yêu thương người nghèo. Điều đó là chưa đủ, nó còn đòi hỏi sự hiểu biết thấu đáo vấn đề như một nhà khoa học. Như nhà khoa học phải hiểu các thuộc tính của vật chất, nhà chính trị phải hiểu xã hội, phải biết các thuộc tính của con người; phải hiểu kinh tế thị trường và các thuộc tính của nó. Nếu thiếu hiểu biết hai lĩnh vực trên mà nhiệt tình thì cuối cùng chỉ có phá hoại.
Hiện nay người có lòng nhiệt tình ái quốc và có hiểu biết căn bản các qui luật của xã hội, của nền kinh tế không phải là nhiều. Một người trong số đó là doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức, anh đã cảnh báo khủng hoảng kinh tế cách đây 5-6 năm khi mà xã hội đang thời kỳ hoàng kim. Anh không phải cảnh báo mò mẫn, các bài viết của anh có tính logic của qui luật dẫn đến sự tất yếu. Đáng tiếc là đất nước ta không sử dụng được người tài như anh. Nghiệt ngã hơn nữa là anh và bạn hữu (anh Long, anh Định) phải ngồi tù vì những cảnh báo của mình. Để có thể dẫn dắt xã hội tiến lên, chúng ta rất cần những người am hiểu xã hội, am hiểu kinh tế, do vậy việc vận động, kêu gọi trả tự do cho anh Thức lúc này là rất quan trọng.
Hugo Chavez để lại cho ta một bài học để trả lời câu hỏi “thế nào là một nền chính trị thực, thế nào là một nền chính trị mị dân”. Chính trị thực tuy nó không đẹp, không lý tưởng bằng chính trị mị dân nhưng nó mang lại điều tốt đẹp cho quốc dân trong tương lai, nó hướng đến công bằng, dân chủ gần với hiện thực cuộc sống. Chính trị mị dân rất đẹp, làm say lòng người vì lý tưởng, vì lời hứa nhưng về lâu dài nó lại hại nước, hại dân.
Trong nền chính trị mị dân, chính trị gia hay dùng truyền thông nhấn mạnh thành tích ngắn hạn để đánh bóng tên tuổi, chạy theo bề nổi hơn là thực chất. Và trong nền chính trị mị dân, chính trị gia hay hướng đến bênh vực đối tượng nghèo khó bất chất qui luật kinh tế để dành sự ủng hộ cử tri (vì số này đông) hơn là có giải pháp thấu đáo cho cả xã hội. (Thái Lan là một bài học khi nước này mất hàng tỷ đôla trợ giá gạo cho nông dân, làm rối loạn nền sản xuất lúa gạo trong tương lai).
Venezuela cho ta bài học đáng suy ngẫm về sự mất cân đối nghiêm trọng giữa đô thị và nông thôn
Venezuela là một quốc gia có sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa thành thị và nông thôn. Với sự đầu tư của chính phủ tập trung vào các đô thị, làm nơi đây phát triển, có công ăn việc làm nên đã thu hút dân nông thôn đồ về đô thị. Đô thị có hạ tầng dịch vụ về giáo dục, y tế, đường xá tốt hơn hẳn nông thôn nên có mức sống cao hơn, ai cũng muốn về đây để sống. Với nguồn tiền do chính phủ chi thì những quan chức ở gần thủ đô tạo mối quan hệ tốt hơn nên được đầu tư nhiều hơn. Và nguồn tiền đầu tư từ chính phủ thì ít tính đến yếu tố thu hồi vốn, do vậy nó được chi ở nơi có khả năng lên dự án hợp lòng lãnh đạo nhất, bất chất chi phí là bao nhiêu và hiệu quả kinh tế như thế nào. Ngoài Venezuela, ở các nước có sự chi phối đầu tư từ tiền chính phủ đều có sự mất căn bằng giống như vậy, điển hình là Trung Quốc, Việt Nam,…Đặc biệt một quốc gia nghèo như Triều Tiên cũng có thủ đô Bình Nhưỡng với nhà cao tầng, công viên, tàu điện ngầm,….rất hiện đại nhưng phần còn lại của đất nước gần như không có gì.
Hàng ngày, thấy hàng triệu người ở hai thành lớn là Hà Nội và Tp Hồ Chí Minh vật vã giữa lòng đường trong giờ cao điểm để nhích từng xí một, nhiều em nhỏ vẻ mặt bơ phờ mệt mỏi trong cái nắng, cái bụi hoặc trong cơn mưa, tôi tự nghĩ, tại sao cuộc sống con người nơi đây khổ thế? Tại sao họ lại bám vào cái thành phố để sống trong cảnh mệt mỏi thế này? Và tôi biết họ phải bám vào nơi đây để sống vì về quê không có việc gì để làm. Mặc khác ở TP thì được nhà nước đầu tư những công trình phúc lợi như bệnh viện, công viên, trường học ,…tốt hơn nông thôn nên khi đau yếu, học hành cũng tiện lợi hơn, do vậy dân thích sống ở đây hơn. Tắc đường buộc chính phủ phải đầu tư nhiều tiền để mở đường, để xây cầu. Một lượng tiền rất lớn đổ vào công trình hạ tầng, có những đoạn đường dài chỉ gần 1km tiêu tốn gần ngàn tỷ đồng. Chính điều này làm cho cạn kiệt nguồn vốn đầu tư nơi khác, mặc khác ở Hà Nội có công ăn việc làm nên thu hút dân tỉnh lẻ lên. Chưa nói là nhiều công trình chưa cần thiết nhưng do gần trung ương nên dễ dàng được duyệt, như câu chuyện sửa sang vỉa hè (vỉa hè thành phố thì nay sửa, mai thay mới trong khi một cây cầu cho con em ở vùng xa thì không xây). Dân bị hút lên thành phố để sống, để tìm việc làm lại gây tắt đường, nhà nước lại phải đầu tư. Cái vòng tròn lẩn quẩn này làm cho các đô thị lớn phình ra và chật cứng, trong khi các nơi khác thì không có cơ sở làm ăn, nguồn tiền không có để đầu tư và lợi thế kinh tế nhờ số đông không thể hình thành ở nông thôn. Rõ ràng nếu tư bản di chuyển tự do trong tay tư nhân thì sẽ không đầu tư một lượng tiền lớn vào những nơi như vậy, dòng tiền sẽ phân tán, đi về những nơi có khả năng tạo ra lợi nhuận cao hơn.
Đồng ý rằng, nước nào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đều xảy ra quá trình đô thị hóa, bị nạn mất cân bằng giữa đô thị và nông thôn. Tuy nhiên để đến mức quá lớn như ở nước ta còn có nguyên nhân là dòng tiền do nhà nước kiểm soát. Nhà nước đã điều một dòng tiền cực lớn trong xã hội bất chấp hiệu quả đồng vốn và kéo theo nhiều hệ quả.
Quyền lực chính trị tác động đến kinh tế làm cho nó hoạt động bất chấp qui luật thị trường sẽ tạo ra nhiều hệ quả to lớn cho xã hội. Khi xưa quyền lực chính trị kết hợp với tem phiếu (kinh tế bao cấp) đã đẩy hàng triệu người dân phải rời bỏ thành phố để đi đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa theo chương trình kinh tế mới (nếu không đi thì nhà nước không cấp phiếu gạo, đói thì phải đi), hoặc bất chấp sóng dữ để vượt biên. Ngày nay quyền lực chính trị kết hợp với nguồn tiền ngân sách nhà nước đã làm cho các đô thị phình to trong chật chội, tắt đường kinh niên; trong khi nông thôn thì xác xơ.
Rõ ràng trong nền kinh tế XHCN với đặc điểm là sự đầu tư lớn từ nhà nước và một tỷ trọng lớn doanh nghiệp quốc doanh không chỉ gây ra hậu họa “lợi ích nhóm”, tham nhũng, bè phái, chính trị mất dân chủ mà còn là nguyên nhân gây ra sự mất căn bằng nghiêm trọng giữa đô thị và nông thôn. Điều này là mệt mỏi cho tất cả chúng ta.
Kết thúc:
Tôi viết bài này một phần để tưởng nhớ đến ông Hugo Chavez như một con người giàu nhiệt huyết muốn đất nước Venezuela công bằng và giàu có nhưng ông đã thất bại và để lại di sản nặng nề cho đất nước là kinh tế yếu kém, tệ tham nhũng và lợi ích nhóm khổng lồ thao túng quốc gia; và đồng thời cũng là lời nhắn gửi đến tất cả những người lãnh đạo là hãy hiểu cuộc sống, hãy hiểu kinh tế để có thể mang lại điều tốt đẹp cho nhân dân, cho đất nước, lòng nhiệt huyết không là chưa đủ.
Và lời cuối cùng tôi muốn nhắn gửi đến tất cả chúng ta là “kinh tế tự do là cái nền cho mọi sự tốt đẹp, kinh tế nhà nước là cái gốc mọi sự tồi bại trong xã hội ”.
Nguyễn Văn Thạnh
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:
Nguồn Email (maiquyusa)
Các links liên quan trong bài viết:
http://vnexpress.net/gl/the-gioi/phan-tich/2013/03/vi-sao-nguoi-venezuela-yeu-men-chavez-1/
http://ttxva.org/giai-ma-hugo-chavez/
http://vi.wikipedia.org/wiki/Venezuela
http://vi.wikipedia.org/wiki/Hugo_Ch%C3%A1vez
http://www.tin247.com/nguoi_giau_venezuela_khong_khoc_cho_chavez-35-20130310121942366.html
Con Bò Vi Phạm Luật – Phạm Lưu Vũ
Đăng trong: Tháng Ba 3, 2013 Filed under: Human Right | Tags: Công An Leave a comment »
Bài đọc suy gẫm: Bài viết về “Đám Mổ Bò” của tác giả Phạm Lưu Vũ lột trần bản chất của bọn cường quyền ác bá, đầy nhan nhản trong xã hội Việt Nam từ xưa tới nay. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
Tác phẩm “Bắt cóc Europa”, Rembrandt, 1632. Trong tranh, thần Zeus hóa thành con bò bắt đi Europa, đám bạn gái của Europa đang kêu gào thảm thiết trên bờ, còn lính canh thì ngơ ngác nhìn theo, không kịp phản ứng. Hình dưới là bức tượng về tích Europa và Zeus, đặt trước Trụ sở chính của EU ở Bỉ. chính nhờ nàng mà Châu Âu có tên Europe đấy thôi, nên giờ người ta dựng tượng, và khắc hình nàng lên tiền xu.
Đám mổ bò
Đúng cái xóc thứ tám mươi mốt, lão Sướng choàng tỉnh. Nằm trong xe, lão với tay vớ sợi dây thừng, giật mũi cho con bò dừng lại rồi trèo xuống khỏi thùng xe. Lão dắt con bò cùng chiếc xe tới một gốc cây bên kia đường, cột lại tử tế, đoạn bước sang quán mụ cả Nẫm, hỏi mua gói thuốc lào.
Mặt trời đã lên nửa con sào, dân làng đi làm đồng hết, tưởng trong quán không có ai. Té ra có cả mấy người đang ngồi lố nhố trên chiếc phản kê phía trong quán. Lão Sướng hơi giật mình nhận ra những gương mặt quen thuộc, vội cất tiếng: “chào các ông ạ”. Người ngồi trong cùng, dựa lưng vào tường, quay mặt ra phía ngoài là Tưởng – Bí thư. Hai bên là Dần, Chấn – trưởng, phó công an xã. Chấn còn là cháu họ của lão, gọi lão bằng chú. Một người ngồi quay lưng ra cửa quán, không cần nhìn mặt, lão Sướng cũng nhận ra đó là Lý – chủ tịch. Bốn người không ai để ý đến lão. Hình như họ đang mải đang chơi bài.
Mụ cả Nẫm đưa cho lão Sướng gói thuốc lào và nhận từ tay lão tờ giấy bạc lẻ, nhàu nát còn ấm hơi người. Chiếc ti vi treo trong quán vọng ra từng tràng những tiếng hò reo náo nhiệt. Đang có tường thuật bóng đá của giải ngoại hạng Anh. Lão Sướng quay người chui ra khỏi quán, bước về phía chiếc xe, loay hoay mở nút sợi dây thừng. Phía trong quán, chủ tịch Lý vừa quật một quân bài xuống chiếu, vừa hỏi bí thư Tưởng:
- Thế nào bí thư ? Trận này tôi bắt Ác – se – nan, chấp một trái đấy.
Bí thư Tưởng đang nhìn hút theo con bò của lão Sướng, buột miệng nói:
- Được thôi, thì tôi bắt Chen – xi vậy.
Chủ tịch Lý hỏi tiếp.
- Nhai gà, vịt mãi cũng chán mồm. Tuần trước đánh cược con chó nhà lão Cử, anh em được bữa cờ tây ra trò. Trận này bí thư cược gì nào ?
Vẫn mải nhìn con bò cùng lão Sướng đang thong thả rời khỏi tầm mắt, bí thư Tưởng lại buột miệng nói:
- Cược con bò kia của lão Sướng. Chắc không ?
Chủ tịch Lý ngoái đầu nhìn cái phần mông núng nính của con bò vừa đi khuất, nuốt nước bọt đánh ực một cái, cũng buột miệng reo lên:
- Ối Trời! Được con bò ấy mà thịt thì tuyệt hảo. Chắc quá. Nào – bắt tay. Thằng Dần và thằng Chấn chứng kiến nhé. Phen này có thịt bò ngon chén rồi.
Trưởng, phó công an xã Dần, Chấn thấy vụ cá cược có mùi hấp dẫn, lập tức hưởng ứng. Bốn người hỉ hả bắt tay nhau. Mụ cả Nẫm cũng xen vào:
- Tôi đăng kí toàn bộ bạc nhạc đấy nhé, với lại bốn cái cẳng. Bấy nhiêu làm phở chín cũng bán được cả tuần chứ không ít…
Trưởng công an Dần nhanh nhảu ngắt lời mụ:
- Bạc nhạc thì được. Song bốn cẳng thì mụ đừng có mà nằm mơ. Cái đó để anh em vất vả chúng nó nhậu.
Phó công an Chấn tỏ ra hăng hái:
- Em xin chịu trách nhiệm về bộ da. Bộ da ấy tha hồ lành lặn, chắc chắn chất lượng cao. Bọn thuộc da Vĩnh Cửu trên huyện cứ gọi là lác mắt hột. Cái này bán mới được giá. Năm ngoái ta kiếm được năm bộ cả da trâu lẫn da bò, mang bán cho họ thành ra quen biết từ đó đến nay, lại học được chút kiến thức xem da các kiểu.
Bí thư Tưởng gật gù:
- Lâu lắm không được ăn thịt của giống bò tuyền ăn cỏ. Cái thứ thịt bò nuôi bằng thức ăn tăng trọng bây giờ ăn như thịt giả. Thịt tái kiểu gì mà nhợt nhạt, rũ rượi như thịt thằng chết trôi, nước máu chảy ra ều ễu. Thịt ấy nếu không dai ngoách thì cũng bở như đất vách, ăn tuyệt chẳng thấy cái mùi gây gây, béo ngậy đặc trưng của bò đâu.
Chủ tịch Lý nịnh khéo:
- Cả xã đều kính nể kiến thức về bò của bí thư. Đến như mấy anh lãnh đạo huyện, được nghe cái lý luận phân tích về bò của bí thư còn thèm rỏ rãi mà bảo: “Loại bò ấy chỉ có ở thời bao cấp, thuở còn hợp tác xã. Chứ thời này, kiếm đâu ra thứ thịt bò ăn tuyền cỏ ấy mà xơi…”
Bí thư Tưởng được thể, bèn tiếp tục bài giảng:
- Các ông nên biết, thịt loại bò ăn tuyền cỏ này tươi rất lâu. Cứ móc cả tảng mà treo lên xà nhà, để đến tận ngày hôm sau, các cơ trong tảng thịt vẫn còn giật giật, giật giật… Sờ tay vào có cảm giác nó dính dính, hút hút, mặt thịt đỏ sậm, lóng lánh ánh kim. Phía bên dưới tuyệt không một giọt nước máu nào nhỏ xuống. Thịt ấy thái mỏng, ngang thớ mà tái thì tuyệt cú, ăn vừa ngọt vừa giòn, cứ như thể nó tan ra trong miệng. Tảng càng lớn, tươi càng lâu. Thịt tươi hút nước vào nên vừa khô vừa dính, đến khi nào tiết nước máu ra là hết tươi. Thịt bò kị nhất cắt vụn, cắt vụn không tươi lâu. Phải ăn đến đâu, xẻo đến đấy mà thái. Nếu tay chân, dao thớt cứ sạch khô, không hề dây một giọt máu nào, thì thịt như thế mới đạt tiêu chuẩn.
Mọi người vừa nghe vừa thèm đến nóng cả mặt. Chủ tịch Lý bái phục:
- Vậy bất luận ai thắng cược, thì hai quả mông cứ xin nhường nhà bí thư. Nhà tôi xin tảng vai vậy. Bắp biếc chia cho cánh Công an, Mặt trận. Đầu, đuôi chia Hội phụ nữ… Riêng bộ lòng đánh chén tại chỗ.
Bí thư Tưởng tỏ ra khiêm tốn:
- Được cái mông ấy thì nhà tôi chỉ cần một quả cũng thừa mứa ra rồi. Quả mông kia đem biếu các anh lãnh đạo huyện, các anh ấy cũng rất thèm xơi loại thịt bò thời bao cấp như thế này. Ăn những thứ thời bao cấp hiện đang là một cái mốt ẩm thực. vả lại các ông quên là lâu nay ta chẳng “nói năng” gì, huyện đang có “vấn đề” với ban lãnh đạo xã ta à. Liệu có “yên” vị mà mơ thịt bò ăn cỏ được mãi không ?
Trưởng công an Dần hớn hở vừa quật đánh đét một quân bài xuống chiếu, vừa nói:
- Nhất trí với ý kiến của cả chủ tịch lẫn bí thư. Vậy xin bí thư cho phương hướng giải quyết, đồng thời quyết định ngày ạ.
Bí thư Tưởng kết luận.
- Cái ấy giao cho bên công an, dân phòng các anh lo, triển khai ngay ngày mai càng tốt, không nên hoãn sự sung sướng lại. Nhớ lên kế hoạch thật chu đáo, phải làm sao cho nhân dân luôn tâm phục, khẩu phục mới được…
Bất ngờ phó công an Chấn lại tỏ ra ngập ngừng:
- Em thấy có chỗ hơi khó. Trận trước, con chó của lão Cử thì ta vu cho là chó dại, bắt giết thịt thì được rồi. Nhưng còn con bò này… chả lẽ bảo nó là bò điên ?
Trưởng công an Dần lập tức ngắt lời:
- Chú bởi thật thà nên kém sáng kiến. Chú không biết lão Sướng chuyên trị ngủ trong xe, mặc cho con bò tự kéo về làng hay sao ? Thế thì có khó gì, bò cũng phải chấp hành luật lệ giao thông chứ… Thôi! Chú vì có họ với lão Sướng nên việc ấy để anh giải quyết. Cứ làm đúng tinh thần chỉ đạo của bí thư là được rồi.
Bò hỏi: ” Sao, còn muốn chơi tiếp không?” - yên nào, để suy nghĩ đã.
Lão Sướng đánh chiếc xe bò vào tận trong làng, nhà lão ở cuối xóm Con Chó. Làng xóm vắng tanh vì người lớn ra đồng, trẻ con đi học, chỉ có những ông già, bà lão ở nhà. Về đến nhà, lão tháo con bò ra khỏi xe, dắt nó ra sau vườn, cột dưới gốc một cây nhãn, quẳng cho nó một ôm cỏ rồi rửa ráy chân tay, vào nhà chuẩn bị đánh một giấc ngủ bù đến trưa. Trước khi đi ngủ, lão không quên kéo một điếu thuốc lào theo thói quen. Sáng nay, lúc ra khỏi chợ lão mới nhớ ra rằng gói thuốc trong người đã hết, nên mới phải dừng lại mua ở quán mụ cả Nẫm.
Ngày nào cũng vậy, cứ ba giờ sáng là lão Sướng thức dậy, đánh chiếc xe bò của mình chở hàng cho mấy bà thầu rau, quả trong làng lên chợ Huyện bán. Chợ cách làng năm sáu cây số, chiếc xe phải đi mất gần hai tiếng. Quãng đường đầy những ổ voi, ổ bò mà lão đã thuộc nằm lòng. Từ làng lên tới chợ có đúng tám mươi mốt cái ổ voi như thế. Mỗi khi lăn bánh qua, chiếc xe bị quăng bên này, quật bên kia như muốn hất mọi thứ đang cõng trên lưng xuống đường. Lão gọi đó là những cái xóc. Tám mươi mốt ổ voi là tám mươi mốt cái xóc. Lúc đi trời còn tối, gặp những cái xóc ấy lão phải để ý giữ cho hàng hoá khỏi rơi, miệng nhắc mấy bà hàng rau đi bộ theo phải cẩn thận kẻo bước hụt. Lúc quay về thì nhẹ nhàng xe không, vả lại trời đã sáng. Lão cứ việc khoanh tròn trong thùng xe mà thiu thiu ngủ, mặc kệ cho con bò kéo chiếc xe đi. Lão ngủ trong xe rất tài, ngủ mà vẫn không quên, vẫn đếm được chính xác từng cái xóc trong giấc mơ màng. Tới đúng cái xóc thứ tám mươi mốt là lão tỉnh dậy, nắm sợi dây thừng vắt vắt cho con bò rẽ vào trong làng. Trăm ngày như một, không bao giờ lão ngủ quên trong xe. Con bò và chiếc xe là nguồn sống chính của nhà lão gồm bà vợ già, mắt mũi kèm nhèm và hai đứa con dâu dở người đã mấy chục năm nay, suốt ngày thờ thẫn, lúc lên cơn thì xé quần xé áo, lăn lộn cả ra vườn. Chồng chúng nó chết trong chiến tranh, một thằng được công nhận liệt sĩ. Chính nhờ món tiền tuất liệt sĩ ấy của nó mà lão sắm được con bò, sắm từ hồi nó còn là một con bê mới đẻ. Một thằng bị ngưới ta làm thất lạc giấy tờ thành ra mất trắng, chả có danh hiệu với tiêu chuẩn tiêu chiếc gì.
Lão Sướng chưa kịp đi ngủ thì có tiếng gọi to tướng của một anh dân phòng ngoài ngõ, mời lão lên ngay trụ sở dân phòng của xóm để làm việc. Lão Sướng giật thót người. Có việc gì mà phải lên trụ sở dân phòng? Xưa nay nhà lão ăn ở tử tế, chẳng phiền hà đến ai. Hai đứa con dâu dở hơi chỉ suốt ngày tự nhăn nhở với nhau quanh vườn, rủ nhau điên những cái điên hiền lành như bùn đất. Cả con bò cũng được lão đích thân chăn dắt, không để phá lúa hay hoa màu của nhà nào. Càng nghĩ không ra, lão Sướng càng sốt ruột, đành vội vã chạy tới trụ sở dân phòng.
Trụ sở dân phòng trấn ngay đầu xóm. Đó là một căn phòng ba mét nhân ba mét trơ trọi, đội mái tôn nhọn hoắt như cái chóp nón. Đẳng – trưởng xóm đang ngồi sau một cái bàn gỗ bọc phoọc – mi – ca trắng lở lói, hai bên là hai anh dân phòng mặt non choẹt, ngồi im như pho tượng. Trưởng xóm một tay giở quyển sổ, tay kia lăm lăm chiếc máy tính nhỏ, bảo lão Sướng:
- Tôi mời ông đến nộp bổ sung phí giao thông đường làng. Nhà ông còn mấy suất chưa đóng.
Lão Sướng giật nẩy người, ngớ ra.
- Tôi đã đóng đầy đủ cả quý rồi kia mà. Bây giờ mới đầu tháng tư?
Trưởng xóm ôn tồn giải thích:
- Xã mới có điều chỉnh, không như những năm trước chỉ thu theo đầu người. Từ năm nay, phí giao thông áp dụng cả với vật nuôi và phương tiện cho công bằng, có danh mục đóng dấu đỏ kèm theo đây. Con bò nhà ông bốn chân, thu bằng hai suất người. Chiếc xe cũng hai suất, tổng cộng tám suất. Mỗi suất cân rưỡi thóc một tháng, trừ số đã đóng theo cách tính như mọi năm, vị chi là…
- Các anh biết thừa đấy, hai đứa con dâu dở người nhà tôi có bao giờ thò mặt ra đường đâu. Thế mà cũng phải đóng phí giao thông. – Lão Sướng nhăn nhó.
- Mặc kệ, ai bảo các bà ấy cũng là người. – Trưởng xóm lý luận.
Như chợt nhớ ra điều gì, lão Sướng vội vàng thắc mắc:
- Còn con bò, tôi tưởng phí giao thông đã tính trong thuế đồng rồi cơ mà?
- Thuế đồng thực ra mới chỉ tính trên số diện tích cỏ nó gặm hàng năm. – Trưởng xóm kiên trì giải thích – Nuôi bò, nuôi trâu kể từ năm nay còn phải đóng phí môi trường, bởi nó hay ỉa rơi vãi trên đường. Phí môi trường của bò mười lăm cân thóc một năm.
- Nó ỉa đến đâu, tôi nhặt đến đấy. Chứ có khiến ai phải ngửi hộ đâu. – lão Sướng cố cãi.
- Đề nghị ông ăn nói cho cẩn thận. – Trưởng xóm nhắc nhở rồi tiếp tục mớ lý luận của mình – Lấy gì đảm bảo rằng ông nhặt sạch trăm phần trăm, không sót lại mẩu phân nào trên đường? Thế còn nó đái rong thì sao? Dễ thường ông cũng hứng được chắc.
Lão Sướng hết cách cãi, đành lần túi móc ra một nắm giấy bạc lẻ, vừa đưa cho trưởng xóm, vừa năn nỉ:
- Tôi chỉ còn ngần này, chắc chưa đủ. Còn thiếu bao nhiêu, các anh thư cho đến chiều, để tôi hỏi vay trước mấy bà hàng rau.
- Được thôi! – Trưởng xóm dễ dãi – nhưng ông nhớ tự giác đấy, đừng để chúng tôi phải gọi.
Từ trụ sở dân phòng ra về, trong lòng lão Sướng cứ có cái gì tức anh ách. Lão chẳng lạ gì cả tam đại nhà cái thằng Đẳng – trưởng xóm kia. Nó ngày bé cũng là thằng ăn cắp ăn trộm, học hành dốt đặc cán mai, sở dĩ được làm trưởng xóm là nhờ trên người ta tưởng nhớ đến bố nó. Bố nó còn ít hơn lão mấy tuổi, ngày trước cũng làm chức trưởng xóm trưởng thôn gì đấy. Bỗng một hôm, dân làng phát hiện bố nó treo cổ tự tử ở ngay cây đa đầu làng. Chẳng ai hiểu vì cái gì mà khiến lão phải quyên sinh. Lục trong túi lão, người ta chỉ thấy một mẩu giấy nhỏ ghi vỏn vẹn năm chữ với một cái dấu ba chấm: “Vì nhân dân quên mình…”. Lá thư tuyệt mệnh ngắn ngủi ấy của lão ta làm cho mọi người nhức đầu, nghĩ mãi không ra. Ai cần lão phải quên mình theo kiểu ấy cơ chứ. Về sau, dân làng rỉ tai nhau truyền đi một cách giải thích khác xem ra cũng có lý. Té ra trước đó, lão ta ứng cử hội đồng nhân dân xã nhưng bị trượt, dân quên không bầu lão…
Lão Sướng vừa về đến nhà thì bà Cổn ở xóm Con Lợn tìm đến có việc. Bà bảo:
- Biết bác ngày nào cũng lên chợ Huyện, tôi sang gửi bác ngày mai mua hộ mấy cái nón rộng vành về đội ban đêm.
Lão Sướng tròn mắt ngạc nhiên:
- Sao lại phải đội nón ban đêm, sợ phải gió à ?
Bà Cổn chép miệng:
- Nào ai sợ phải gió phải giếc gì. Ma quỷ còn chả sợ nữa là.
- Thế thì đội nón làm gì? – Lão Sướng rõ ràng chưa hiểu.
Bà Cổn nhả miếng trầu ra cầm trên tay, thong thả giải thích:
- Chả là dạo này, tối tối các ông ấy hay tụ tập chè chén trong nhà mụ Goá Len ở xóm Con Mèo. Mấy lần rồi, chẳng hiểu say xỉn đến mức nào mà lúc về ngang ngõ nhà tôi, các ông ấy phát rồ rủ nhau trèo lên cây nhãn nhà lão Trạch, mỗi ông leo ra một chạc cây rồi ỉa đái đầy cả xuống đường, có tay còn nôn thốc, nôn tháo nữa. Bà cháu tôi đi về qua bị dây hết cả quần áo. Xóm Gà, xóm Vịt cũng có mấy người từng bị cứt rơi xuống đầu như thế. Thành ra bây giờ, ban đêm có việc ra đường ai cũng phải đội nón. Nào ai biết các ông ấy đang phát rồ trên cái cây nào để mà đề phòng…
- Thế sao lúc ấy bà không mắng cho họ một trận – lão Sướng bảo.
Bà Cổn nhìn lão như nhìn một người ngoài hành tinh:
- Bác biết họ là ai rồi mà còn dám nói thế à. Tức mấy cũng phải ngậm trong miệng. Lôi thôi họ nhân đà say, sai người bắt giải về uỷ ban thì có mà khốn. Nói thế thôi, chứ chẳng ai lại đi chấp những người say làm gì.
Thì ra là vậy. Lão Sướng biết ngay việc này đầu têu ở cái anh bí thư Tưởng. Lão biết anh ta từ hồi còn nhỏ, hắn có thói quen hay ỉa trên cây, rất mê ỉa trên cây. Nhà anh ta có cây sung lả ra bờ ao, cả nhà quanh năm trèo lên cây sung ấy ỉa xuống ao để nuôi cá. Sau này lớn lên, anh ta ra gánh vác việc làng, việc xã, thói quen ấy dần dần không còn. Song con người ta không biết thế nào mà nói trước được. Nhất là những lúc say xỉn, không làm chủ được ý nghĩ của mình nữa thì cái bản năng xưa nó lại trỗi dậy chưa biết chừng. Còn những tay kia, chắc là a dua, nịnh nọt anh bí thư cho có hội, có phường vậy thôi.
Bà Cổn về lâu rồi mà lão Sướng cứ suy nghĩ vẩn vả mãi về cái vụ dân làng phải đội nón đi đêm kia. Liên hệ với việc phải đóng phí môi trường của con bò, trong đầu lão chợt bật lên một ý nghĩ phản kháng ngầm rất chi là… hả lòng hả dạ. Rằng cứ theo như ý nghĩa của cái phí môi trường kia, thì đáng lẽ bọn họ phải đóng mỗi người bằng ba bốn suất con bò nhà lão… Song đó chỉ là ý nghĩ thôi, thế cũng đủ hả lắm rồi, đố bao giờ lão dám nói ra mồm.
Lão Sướng ngủ bù một giấc đến giữa trưa thì thức dậy, cùng vợ con ăn qua loa mấy bát cơm dưa mắm rồi dắt bò ra cánh đồng chăn, vừa chăn, lão vừa tranh thủ cắt ít cỏ, hoặc vơ lá lảu về cho con bò ăn đêm. Không như những dân chuyên nuôi bò thịt, lão tuyệt đối không cho con bò của mình ăn thức ăn tăng trọng. Thứ ấy tuy có làm cho nó béo tốt, tăng cân. Nhưng chỉ là béo bệu, rất mau xuống sức, và nhất là không thể kéo nặng được. Chiều về, lão không quên tắm rửa, kì cọ cho toàn thân nó sạch óng dưới ráng chiều. Lão chăm chút cho con bò còn hơn cả bản thân lão. Những ngày mùa đông tháng giá, không đun nước tắm cho nó được thì lão tắm khan. Lão cẩn thận dùng bàn chải, chải kĩ từng xăng ti mét vuông mình mẩy xuống đến tận bốn chân con bò, không để một mẩu bùn đất hoặc một con ve nhỏ bé nào bám vào. Được chăm sóc kĩ càng như thế, con bò của lão lúc nào cũng khoẻ mạnh, béo mượt. Ai trông thấy nó cũng thích mắt, thèm thuồng.
Lão Sướng là người chỉ sướng ở mỗi cái tên. Đời lão đã gặp nhiều mất mát, nhất là mất đứt cả hai thằng con trai, đến nỗi vợ lão khóc lòa cả hai mắt. Hai đứa con dâu trời xui đất khiến thế nào, lại nhất tề rủ nhau cùng dở người để lão phải nuôi báo cô. May mà lão sắm được cỗ xe với con bò, lại có việc quanh năm thành ra ngày cũng kiếm được vài cân gạo, đủ cho bốn kiếp người với một kiếp bò đắp đổi lần hồi. Cuộc đời nhờ vào những cái tẻ nhạt đâm ra lại có vẻ yên bình, mặc dù sự mất mát đã biến thành những vết sẹo to lớn biết đi. Lão chẳng còn cái thú nào khác ngoài việc sáng nào cũng thiu thiu đếm những cái xóc trong giấc mơ từ chợ Huyện về làng. Một… Hai… Ba… Bốn… Năm… Tám mươi mốt cái lúc đi, lại tám mươi mốt cái lúc về… Cứ như thể trời đã khoán sẵn những cái xóc ấy cho số phận của lão. Mỗi lần chiếc xe lắc qua lắc lại, mài người lão mấy cái xuống sàn, chiếc máy đếm đâu đó trong đầu lão lại ghi nhớ cái số đếm ấy vào một giấc mơ nhẹ nhàng, tới đúng số tám mươi mốt là về đến làng…
Cách đây vài tháng, cộng đồng mạng xôn xao vì hình chụp một chú bò rớt nước mắt trước khi lên bàn mổ.
Có tiếng người quát tháo dưới đường làm lão Sướng giật mình, ra khỏi cơn mơ màng. Chiếc xe và con bò của lão đã đột ngột dừng lại, điều chưa từng xảy ra bao giờ. Lão ngủ quên chăng ? Không thể nào. Giấc mơ vừa rồi nhắc cho lão biết chắc chắn rằng vừa mới qua cái xóc thứ sáu mươi, còn hai mươi mốt cái xóc nữa mới về đến làng. Có chuyện gì vừa xảy ra. Lão vội vàng mắt nhắm mắt mở, lập cập trèo xuống khỏi thùng xe.
Sáu bảy người toàn công an, dân phòng đang quây quanh chiếc xe và con bò như vừa đội đất chui lên, dẫn đầu là Dần – trưởng công an xã.
- Con bò của ông vi phạm luật lệ giao thông, gây tai nạn nghiêm trọng. – Trưởng công an Dần vừa dõng dạc nói với lão Sướng, vừa chỉ tay sang phía vệ đường, rồi lại chỉ vào gầm chiếc xe.
Lão Sướng nhìn theo cánh tay chỉ của trưởng công an xã. Bấy giờ lão mới hoảng hồn khi thấy một người đang nằm thu lu, hai tay ôm đầu, cố rặn ra mấy tiếng rống như bò rống. Con bò thì vẫn im lặng, ngơ ngác không hiểu những con người hiện hữu đây đang làm cái trò gì. Sau lưng nó, một chiếc xe máy Trung Quốc nằm chắn ngang, vừa vặn chạm hai bánh của nó vào hai bánh của cỗ xe bò, khéo như có người khiêng đặt vào vậy.
Có cái gì không bình thường ở cái gã đang nằm rống bên vệ đường kia. Chẳng biết nó là con cái nhà ai? Lão Sướng tiến tới chỗ gã, định cúi xuống nâng nó dậy. Ngay lập tức, một bàn tay túm vai lão kéo lại:
- Yêu cầu ông không được động đến nạn nhân. Đây không phải việc của ông – tiếng một công an viên.
Lão Sướng còn chưa kịp có phản ứng gì thì trưởng công an Dần đã nhanh nhẹn phân công:
- Tính mạng nhân dân là quan trọng. Hai đồng chí khẩn trương chở nạn nhân đi trạm xá cấp cứu. Một đồng chí đo đạc, đánh dấu hiện trường. Còn lại theo tôi áp tải chủ xe cùng tang vật về trụ sở uỷ ban để giải quyết.
Cả người, xe và con bò cùng bị dong về trụ sở uỷ ban. Lão Sướng bị tống vào một căn phòng cuối dãy nhà ngang, có một công an viên ngồi canh ngoài cửa, chờ lập biên bản, khám nghiệm hiện trường. Hồi lâu sau, trưởng công an Dần cho dẫn lão lên, đặt trước mặt lão một xấp biên bản đã thảo sẵn. Trưởng công an xã vừa đọc, vừa giải thích vào tai lão:
- Theo kết quả khám nghiệm hiện trường, con bò của ông lưu thông lấn sang phần đường dành cho chiều ngược lại. Theo luật, ông bị phạt hai trăm ngàn đồng, giữ phương tiện (cả con bò và chiếc xe) hai mươi ngày. Đề nghị ông kí vào biên bản thay cho con bò.
Sự việc đã hai năm rõ mười. Lão Sướng có muốn cãi cũng không được, đành cầm bút nguệch ngoạc vào tờ biên bản, mặt mũi tái xanh như tàu lá. Trưởng công an xã chờ cho lão kí xong xuôi, mới nói tiếp:
- Riêng vụ tai nạn gây ra cho người và chiếc xe kia, chúng tôi còn chờ kết quả giám định phương tiện, xác minh thương tật thì mới tính toán được mức bồi thường. Vì vậy chúng tôi buộc phải giữ ông lại uỷ ban để chờ giải quyết.
Lão Sướng nghe đến đó thì hoảng lạnh cả sống lưng. Bấy giờ lý trí của lão mới có vẻ dần dần được khôi phục. Lão cất giọng xin xỏ:
- Xin các ông chiếu cố hoàn cảnh tôi là gia đình liệt sĩ…
- Tôi biết, tôi biết! – Trưởng công an xã vội ngắt lời – Chính vì thế trong biên bản không ghi ông là người vi phạm luật giao thông, cũng không ghi ông là người gây ra tai nạn, mà tất cả là do con bò. Thậm chí lúc tai nạn xảy ra, ông còn đang ngủ khì nữa kìa. Có điều ông là chủ của con bò thì phải bồi thường thay cho nó là lẽ đương nhiên. Chúng tôi giải quyết bất cứ việc gì cũng nghĩ đến tình trước, lý sau…
Lão Sướng nhìn con bò đang bị buộc dưới trời nắng chang chang mà đứt từng khúc ruột. Khuôn mặt già nua, đầy nếp nhăn của lão ràn rụa nước mắt. Đến trưa thì bà vợ lòa của lão được báo đã mang cỏ lên cho con bò, mang cả cơm cho lão. Lão cố trệu trạo nhai, cố nghèn nghẹn nuốt những miếng cơm trộn lẫn nước mắt, nhơn nhớt như được chan bằng canh rau đay, rau mồng tơi.
Quá trưa thì Chấn – phó công an xã mò tới. Lão Sướng mừng rỡ như bắt được vàng, đầu lão loé lên một tia hy vọng. Lão vội vã thều thào:
- Cháu xem có cách nào cứu con bò, cứu chú với Chấn ơi !
Phó công an Chấn cố làm ra vẻ thiểu não, ngồi xuống bên lão bảo:
- Gay lắm chú ạ. Con bò lưu thông trái đường, phạt hai trăm thì chịu rồi, giữ hai mươi ngày thì cháu có thể xin giảm bớt được. Song còn cái vụ bồi thường kia, nghe nói bị gãy hai dẻ xương sườn. Chưa biết họ đòi bao nhiêu.
Khoảng giữa buổi chiều, trưởng công an Dần lại cho dẫn lão lên. Dần thông báo luôn:
- Báo để ông mừng. Tai nạn không gây nguy hiểm đến tính mạng. Nạn nhân chỉ bị gãy hai dẻ xương sườn. Chiếc xe cũng đã có kết quả giám định hư hỏng. Đây là yêu cầu bồi thường của người bị hại, công an chúng tôi để hai bên tự giải quyết với nhau. Nếu phía bên kia đồng ý bãi nại, chúng tôi sẽ cho ông về.
Lão Sướng ù cả tai khi nghe đến số tiền phải bồi thường. Năm triệu cho tiền thuốc men, bốn triệu sửa chữa chiếc xe máy Trung Quốc. Cộng cả tiền phạt là chín triệu hai. Đời lão chưa bao giờ có món tiền to đến thế, gần bằng ba con bò… Lão luống cuống đến mức lăn đùng ra khỏi ghế, chẳng biết phải trả lời thế nào. Trưởng công an xã hất hàm, hai công an viên phải túm lão dậy, dìu xuống căn phòng lúc nãy để lão nằm mà nghĩ cho bình tĩnh.
Xâm xẩm tối, phó công an Chấn đến dúi vào tay lão cái bánh bao rồi bảo:
- Cháu năn nỉ mãi, họ mới đồng ý không đòi tiền tiếc gì cả, chỉ phải đền con bò cho họ là xong xuôi chú ạ. Thôi thì cũng là cái vận cái hạn, đó là cái giá rẻ nhất, ngoài ra không còn cách nào khác. Chú cứ suy nghĩ đi. Nếu chịu mất con bò thì lập tức cháu bảo họ thả chú về nhà…
Mất con bò ? Lão Sướng chưa bao giờ dám nghĩ đến điều đó. Mất con bò là mất đứt nguồn sống duy nhất của cả nhà lão. Vợ chồng già và hai đứa báo cô kia chỉ còn cách dắt nhau lên chợ Huyện ăn xin. Lão đau quá, ân hận quá. Giá lão đừng có cái thú mơ màng đếm những cái xóc kia, mà điều khiển con bò cho cẩn thận. Từ nay, dù có muốn lão cũng không còn cơ hội được đếm những cái xóc ấy trong giấc mơ nữa rồi. Bò ơi! Con trai ơi! cha có lỗi với các con, có lỗi với số phận của cha, của cả ba người đàn bà đang sống kiếp đời thừa kia… Bây giờ còn biết làm thế nào ? Lão chợt nhớ hôm nọ ở chợ, có một bà già trỏ lão mà bảo: “ông năm nay cẩn thận kẻo gặp phải hạn to…”. Đời lão chẳng bao giờ tin vào sự bói toán, huống chi năm nay lão đã ngoài bẩy mươi, các cụ ngày trước bảo đó là cái tuổi hết trạch, quỷ thần đã tha rồi, còn phải kiêng kị gì nữa. Rốt cuộc lão vẫn gặp hạn ở cái xóc thứ sáu mươi…
Sáng sớm hôm sau, khi phó công an Chấn mở cửa phòng thì lão Sướng đã rũ ra như một tấm giẻ rách, khuôn mặt nhăn nhúm đen sạm lại, ngô nghê y hệt hai đứa con dâu lão lúc lên cơn. Biện pháp giữ người quả nhiên có tác dụng. Phó công an Chấn vồn vã:
- Chú đồng ý rồi chứ ? Vậy chú điểm chỉ vào tờ giấy này, rồi cháu bảo họ đưa chú về nhà.
Lão Sướng có còn con đường nào để mà chọn nữa đâu. Vả lại, lý trí của lão đã kịp chia tay với lão từ đêm hôm qua rồi. Một con bò, chứ mười con bò đối với lão bây giờ cũng thế. Sân uỷ ban hôm nay nhộn nhịp khác thường. Chính quyền, các ban ngành, đoàn thể… tề tựu không sót một ai. Tiếng trưởng công an Dần oang oang gọi người này, quát người kia, phân công công việc túi bụi. Bản thông báo về vụ tai nạn có kí tên, đóng dấu của trưởng công an xã dán la liệt khắp nơi. Con bò của lão Sướng đã được dắt ra cột ở giữa sân. Trước mặt nó là một chiếc búa tạ và một cái chậu to tổ bố. Có mấy người cởi trần trùng trục, bắp thịt cuồn cuộn đang huơ lên những con dao bầu sáng loáng.
Lão Sướng như người mộng du bước qua chỗ con bò. Nó bị bỏ đói suốt đêm qua, giờ đang cố rống lên những tiếng rống cuối cùng, những tiếng rống âm u đã bắt đầu nhuốm mùi tanh tanh của địa ngục. Lão cụp mắt, không dám nhìn thẳng vào nó nữa. Cứ như thế, lão lầm lũi bước đi, hai bên là hai anh dân phòng có nhiệm vụ hộ vệ lão về đến tận nhà. Đang đi, chợt nghe phía sau có một tiếng “bộp” khô khốc, ngay sau đó là một cái gì vừa đổ vật xuống. Tiếng rống đã im bặt. Đất dưới chân như bị rung lên, tiếng “bộp” kia vừa giáng vào gáy con bò, hay là giáng vào gáy lão. Lão Sướng tối sầm mắt lại, giơ hai tay lên trời rồi lảo đảo khuỵu xuống. Sau lưng lão, sân uỷ ban tưng bừng không khí đình đám, bấy giờ mới thực sự diễn ra một đám mổ bò.
Đám mổ bò hôm ấy náo nhiệt đến tận trưa. Sau khi chia phần đâu đấy, bộ lòng bò vĩ đại được chế biến tại chỗ cho những người lâu nay vất vả vì việc dân, việc xã liên hoan chè chén với nhau suốt cả buổi chiều, lại còn say sưa ca hát đến tận nửa đêm…
Mờ sáng hôm sau, trên con đường quen thuộc từ làng lên chợ Huyện, người ta thấy có bốn bóng người lầm lũi dắt nhau đi. Không ai khác, chính là lão Sướng, bà vợ lòa và hai đứa con dâu dở hơi. Bốn người cùng túm vào một đoạn dây thừng do lão Sướng nắm một đầu dây. Lão dẫn họ lên chợ để đổi sang kiếp ăn xin. Nhưng lão còn phải đếm lại một lần cuối cùng, không phải trong giấc mơ, lần lượt tám mươi mốt cái xóc này nữa, thì mới tới được cái đích ăn xin của kiếp mình, kiếp vợ lão, và hai đứa con dâu báo cô của lão…
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:
Con Cừu và Con Chó Sói – BXCanh
Đăng trong: Tháng Hai 18, 2013 Filed under: Human Right | Tags: Bình Luận 2 Comments »Bài đọc suy gẫm: Con Cừu và Con Chó Sói hay Những Bài Học Để Đời của tác giả BXCanh.Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
Hình Ls. Nguyễn Mạnh Tường hồi trẻ và 1952.
1. Trí thức NGUYỄN MẠNH TƯỜNG.
Nói tới tên ông, nhiều người Việt nghĩ ngay tới việc ông đỗ hai bằng tiến sĩ, Văn và Luật tại Montpellier, Pháp trong một năm, lúc mới 23 tuổi. Ngoài ra, người ta không nhớ ông đã làm được công nghiệp gì tương xứng với tài năng và công lao học tập! Điều đó không có chi lạ. Ông đã theo “Hồ tặc” đi kháng chiến, và kể từ lúc ấy, đời ông kể như đã đi vào ngõ cụt. Đã có quá nhiều sách báo nói về ông Nguyễn Mạnh Tường và những tháng ngày thê thảm của ông và gia đình ông, dù bản thân ông chưa phải là trái chanh đã hết nước trong tay Cộng. Nếu không đọc cuốn sách Un Excommunié do chính ông viết, chúng ta khó tưởng tượng ông “lưỡng khoa tiến sĩ” này lại bị đau nhục dưới tay “vượn người” như thế! Nhưng vì đâu nên nỗi?
Hoàn cảnh lịch sử? Lòng yêu nước, hay sự bịp bợm của cộng sản đã đưa ông vào thảm trạng?
Năm 1936, cậu thanh niên 27 tuổi, với hai bằng tiến sĩ từ mẫu quốc hồi hương, tương lai sáng rỡ như mặt trăng mặt trời. Cậu trở thành giáo sư trường Lycée du Protectorat tức trường Bưởi, rồi cậu mở văn phòng luật sư tại hai biệt thự tại thủ đô Hà Nội. Khi cộng sản cướp chính quyền, cậu hào hứng hiến luôn cả hai biệt thự cho nhà nước. Kháng chiến bùng nổ, cậu không ngại gian lao, xách khăn gói vào Khu Tư, tức Thanh Hóa theo “Bác.”
Chiến tranh tạm ngừng năm 1954, nhà trí thức lúc ấy đã mỏi mệt vì những điều tai nghe, mắt thấy về Đảng và “bác”, nhưng cổ đã vướng tròng, khó bề thoát ra. Trở về Hà Nội, ông được cộng sản ấn vào tay một lô chức tước “phó”, vô danh và… vô thực luôn: Phó chủ tịch Hội Luật Gia Việt Nam, phó Trưởng khoa Đại Học Sư Phạm, thành viên Hội Hữu Nghị Việt-Xô, v…v..
“ Đó là các chức vụ hoàn toàn có tính cách lễ nghi, không hiệu năng mà cũng chằng có thực quyền, đó là những chức vụ mà tôi chỉ là kẻ dư thừa .”
Năm 1956, có phong trào Đòi tự do, dân chủ của các báo Nhân Văn, Giai Phẩm. Báo Nhân Văn đăng bài phỏng vấn ông Nguyễn Mạnh Tường. Ông vạch trần tính chất phản dân hại nước của cộng sản:
“Đảng Viên đảng Lao Động và cán bộ thi hành chính sách thiếu tính thần dân chủ, xa lìa quần chúng, tạo ra tình trạng đối lập quần chúng với mình… ”
Dĩ nhiên, ông cũng còn tin cộng sản có thể sửa đổi được, và ông đề nghị những biện pháp sửa đổi! Ngày nay, dù đã có một tay cộng sản gộc, chính tông, là Boris Yelsin bỏ đảng và tuyên bố
“Cộng Sản không thể sửa đổi ”, nhiều ông trí thức của ta vẫn tin rằng có thể dùng kiến nghị, thư ngỏ… để thay đổi chính sách của Cộng sản. Cộng sản dĩ nhiên không thèm đếm xỉa gì đến những đề nghị của ông Tường; nhưng lãnh đạo Cộng sản lại dương những con mắt cú vọ quan sát, nhằm “chiếu tướng” ông trí thức. Ngày 30 tháng 10 năm 1956, ông luật sư, giáo sư, kiêm luôn bao nhiêu chức Phó và Thành viên các hội, đọc một bài diễn văn tại cái gọi là Mặt Trận Tổ Quốc, phân tích những khốc hại đẫm máu của việc Cải Cách Ruộng Đất, và đề ra phương hướng để tránh mắc lại! Ông Trí thức lúc ấy chắc vẫn tin là cộng sản mắc “sai lầm”, chứ không phải là chúng chủ tâm và tỉ mỉ hoạch định đủ phương kế để giết người và cướp đất ruộng. Sau bài diễn văn với những đề nghị này, nọ của ông, dây thừng quanh cổ ông được cộng sản xiết chặt lại. Bao nhiêu chức tước vớ vẩn của ông được gỡ sạch. Ông bị đưa ra đấu tố tại trường Đại Học cho học trò ông xỉ vả, mắng mỏ; ông bị ra trước Mặt Trận Tổ Quốc để các “đồng chí” của ông đấu đá. Ông bị các đảng viên đảng Xã Hội, một đảng bù nhìn do cộng sản nặn ra để trang trí cho chế độ, đấu tố ông lần chót. Ông chống trả rất can trường, với lập luận sắc bén của một luật sư có tài. Nhưng rồi ông đau khổ nhận rằng:
“Con cừu thì không thể lý luận với một con chó sói”.
Số phận ông đã được Cộng đảng quyết định: Bỏ cho chết đói giữa một sa mạc hận thù không lối thoát. Ông than thở
“Tôi đã là kẻ lữ hành trong chuyến đi qua sa mạc kéo dài từ năm 1958 đến năm 1990, hơn ba mươi năm dài đằng đẵng! Chìm trong vùng cát của sa mạc tuyệt vọng làm cạn khô dòng nước mắt, tôi đã lê tấm thân bị tra tấn bởi thiếu thốn cô đơn với quả tim rướm máu bởi nỗi buồn chua cay và vị đắng của mật!” Trong ba mươi năm dài ấy, nhà trí thức sống ra sao?
Ông kể lại:
“Trước tiên, loại bỏ ngay buổi ăn sáng, một thói quen sa hoa của những người tư sản. Tiếp đến, cá thịt từ từ biến mất trong những buổi ăn trưa và tố́i. Khẩu phần cơm rau mỗi ngày một ít đi, và đến lúc mỗi ngày chúng tôi chỉ có một bát cháo để ăn. Vợ và con gái tôi ốm đi trông thấy. Bao nhiêu sáng láng đã biến mất trên khuôn mặt dài ra vì ốm đói.”
Trong cơn khốn cùng như thế, gia đình ông Tiến sĩ “may mắn” có được một con gà mái “mắn đẻ một cách đáng ngạc nhiên ”. Mỗi ngày con gà cho một trái trứng, và mỗi người trong gia đình thay phiên nhau hưởng. Muốn cho gà đẻ trứng, thì phải cho nó ăn. Khốn nỗi người còn sắp chết đói, lấy đâu gạo, bắp cho gà! Nhà trí thức ‘phát huy sáng kiến’:
“mỗi ngày, vào lúc hoàng hôn, khi chợ đã vắng người mua bán, tôi lượn quanh để lén nhặt những mảnh rau vụn, tránh không để người qua đường nhìn thấy, mang về nuôi nó”
Thê thảm không còn gì để nói! Nhưng con gà, dù mắn đẻ, tất cũng không nuôi sống nổi cả gia đình của ông tiến sĩ. Ông phải đau khổ, năn nỉ những kẻ có tiền để họ mua những thứ ông có thể vơ vét ở trong nhà: sách vở, quần áo của ông, son phấn , tóc giả của bà, muỗng nĩa trong bếp… Giống hệt tình cảnh của toàn dân miền Nam năm 1975 khi được cộng “giải phóng.” Ba mươi năm vật lộn mỏi mòn, chỉ để khỏi chết đói!
Cộng sản đã trả công cho sự nhiệt thành và công lao hạn mã của ông bằng cái đói và nhục. Nhiệt thành, say sưa, vì khi Cộng mới nổi lên, ông đã đem tất cả nhà cửa hiến dâng cho đảng.
Công lao hãn mã, vì ông đã lặn lội sang tận thủ đô Bruxelles của Bỉ, năm 1956, đem tài hùng biện, chứng minh với Hiệp Hội Luật Gia Dân Chủ thế giới, là Bắc cộng có “chính nghĩa” khi dùng súng đạn để “giải phóng miền Nam ” Nhưng xem tư cách và sự phản ứng can trường của ông trong suốt 30 năm bị cộng mưu dìm cho chết, chúng ta ngậm ngùi thương ông hơn là oán giận. Ông đã lạc đường vào lịch sử và bị vây bọc trong hoàn cảnh khó khăn. Không khuất phục được ông, bọn cộng vô học ghen, tức, đầy đọa và hạ nhục ông.
So sánh với những anh “trí thức” hải ngọai ngày nay, từng kinh hoàng bỏ chạy khi cộng sản tới, lại được chứng kiến sự tan rã tận gốc của cái chủ thuyết giết người tàn độc, mà vẫn xun xoe đưa đầu cho cộng sai khiến, chúng ta phải kinh ngạc về sự “khả úy” của các “trí thức” hậu sinh. Ông Nguyễn Mạnh Tường có lẽ đã trả được mối thù với bọn việt cộng bằng cách mô tả sự tàn độc của chúng trong hai cuốn Hồi Ký mà ông để lại cho đời.
Ông đã thảnh thơi từ giã cuộc đời ngày 13 tháng 6 năm 1997.
Hình Luật Sư Nguyễn Mạnh Tường và vợ, bà Tống Lệ Dung.
2. Trí thức DƯƠNG QUỲNH HOA
Nhận định bất hủ của Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa (trí thức theo công sản sau phản tỉnh lại và bị chế độ đối xử tệ bạc) là :”Trong chiến tranh, chúng tôi sống gần nhân dân, sống trong lòng nhân dân. Ngày nay, khi quyền lực nằm an toàn trong tay rồi, đảng đã xem nhân dân như là một kẽ thù tiềm ẩn”. Và khi nhận định về bức tường Bá Linh, Bà nói:” Đây là ngày tàn của một ảo tưởng vĩ đại”. Blog Truong Sa
Bà Dương Quỳnh Hoa sinh trưởng trong tầng lớp thượng lưu của xã hội Việt Nam. Bà theo học y khoa tại Saigon rồi sang Pháp năm 1948 học tiếp và đỗ bác sĩ năm 1953. Ăn phải bả Cộng sản, bà liên lạc với Cộng sản Pháp, gia nhập cộng đảng vào cuối thập niên 1950 và hoạt động cho Cộng trong thời gian ở Pháp từ 1948 đến 1954. Sau 1954, bà về Saigon nằm vùng và do thám cho cộng. Năm 1960, được bọn Bắc cộng giựt dây, bọn theo cộng miền Nam thành lập Mặt Trận Giải Phóng. Bà Hoa là một sáng lập viên của cái Mặt Trận này. Năm 1968, sau vụ đại bại của cộng quân, mụ cùng chồng trốn ra bưng với Việt cộng, và được cho làm Bộ Trưởng Y Tế. Trong thời gian ở trong bưng, đứa con trai nhỏ của mụ đã chết vì bệnh sưng màng não. Chồng bà là Huỳnh Văn Nghị được cộng dụ dỗ cho nhập Đảng; nhưng ông Nghị nhận rõ bộ mặt thật của bọn giải phóng, nên tìm cách khước từ “vinh dự” đó. Năm 1975, sau khi chiếm được Miền Nam, bọn Bắc Cộng ra tay xóa sổ cái Mặt Trận Giải Phóng.
Những anh chị trót bán linh hồn cho quỷ trong Mặt Trận, như các anh Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Trương Như Tảng… và bọn lủng lẳng đứng giữa như Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Lý Quý Chung, Lý Chánh Trung… đều vỡ mặt, tẽn tò như một lũ con nít bị lừa không được ăn kẹo! Chính bà Hoa sau này đã thú nhận việc đi theo Cộng là một ảo tưởng chính trị trong đời bà. Ngày 17 tháng 10 năm 1996, khi được tờ báo Far Eastern Economic Review phỏng vấn:
“ Quel est l’évenement le plus marquant pendant les 50 années passées?”
Bà trả lời:
“L’effondement du mur de Berlin qui a mis un term à la “grande illusion”
dịch tạm: Biến cố nào được kể là nổi bật nhất trong 50 năm qua?
Bà DQH: Đó là sự sụp đổ bức tường Bá Linh và chấm dứt một “ảo tưởng lớn ”
Khi được Stanley Karnow phỏng vấn về sự thất bại của cộng sản Việt nam, bà nói:
“Tôi đã là người cộng sản cả đời tôi. Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản và sự thất bại của nó, quản trị kém, tham nhũng, đặc quyền, áp chế, lý tưởng của tôi đa hết ”.[I have been a communist all my life, but now I’ve seen the realities of Communist, and it is a failure - mismanagement, corruption, repression. My ideals are gone”]

Cuối thập niên 1970, bà nói với Nguyễn Hữu Thọ:
“Tôi và anh chỉ là những kẻ bù nhìn, là những món đồ trang sức rẻ tiền. Chúng ta không thể nào phục vụ một chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ.”
Khi được phỏng vấn về bọn lãnh đạo Việt cộng, bà lạnh lùng trả lời:
“Đó là những kẻ ngu si đần độn, bởi vì họ là cộng sản”.
Trong những câu bà Hoa nói trên, chúng ta nên chú ý đến câu
“Nhưng bây giờ khi chứng kiến những sự thật về chủ nghĩa cộng sản…”
Đó chính là một lời thú nhận là:
dù học hành nhiều như bà, được sống trong một nước tự do như nước Pháp, có thừa phương tiện tìm hiểu, nghiên cứu, bà đã không biết gì về chủ nghĩa cộng sản!
Ngày 25/2/2006, người nữ cán bộ cộng sản đã góp công không nhỏ cho cộng sản đặt cái ách khốn cùng trên đầu đồng bào của bà, lặng lẽ bị các oan hồn chết vì giặc cộng, đưa về trước Diêm Vương để nghe phán xét tội lỗi. Cái bạo quyền bà đã hy sinh hết tuổi thanh xuân và tài năng để dựng nên nó, không có được một lời nói về bà. Mang “ảo tưởng ”, tự hiến mình làm “bù nhìn, đồ trang sức rẻ tiền ”, “ không biết sự thật về cộng sản mà vẫn theo chúng” thì kết quả đương nhiên chỉ có như thế.
Các vị trí thức tiền bối như Nguyễn Mạnh Tường, Dương Quỳnh Hoa, do hoàn cảnh lịch sử hoặc do sai lầm nhất thời, đã có lúc theo cộng hay thân cộng. Nhưng khi nhận rõ bộ mặt phản dân hại nước của cộng sản, họ đã có phản ứng quyết liệt. Trí thức Nguyễn Manh Tường đã dõng dạc tuyên bố:
“ Tôi không hề tham gia mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, luôn luôn ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Người trí thức phải đứng về phía nhân dân, chứ không đứng về phía nhà cầm quyền.”
Ông cũng đã can đảm nhận chịu 30 năm đọa đầy thê thảm chứ không đầu hàng cộng. Khi thoát khỏi sự kiềm chế của Cộng sản, ông đã viết hai cuốn sách:
(1) Un Excommunié – http:// http://www.ethongluan.org/ và
(2) Une Voix Dans La Nuit http://www.viet.rfi.fr/vi%C3%AAtnam/20110918-plan-vii-nguyenmanh-tuong-tieu-thuyet-une-voix-dans-la-nuit-ii-van-de-tri-thuc-v , bày tỏ lập trường của trí thức, và mô tả sự xấu xa tàn độc của Cộng sản. Cuốn Une Voix Dans La Nuit, [chưa xuất bản, được bà Thụy Khuê trích dẫn và bình luận trong Website của RFI] viết về về sự thiết lập chế độ ác ôn cộng sản ở Việt Nam. Ông viết xong vào năm 1993, lúc đã 85 tuổi, chứng tỏ ông trí thức vẫn nặng lòng vì đất nước. Bà Dương Quỳnh Hoa cũng dứt khoát vứt bỏ mọi ưu tiên mà chế độ dành cho bà, để quay về vị trí của người trí thức.
Những trí thức nói trên, nhất là tiến sĩ Nguyễn Mạnh Tường, vẫn còn lưu lại trong lòng chúng ta sự ngậm ngùi thương tiếc.
BXCanh
Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:



























































