Con Gái Tôi Đâu? – Ngô Viết Trọng

Đón Xuân này tôi nhớ Xuân xưa
Hẹn gặp nhau khi pháo giao thừa…

…Mong ước tìm cô gái Xuân xưa, cho vơi bao niềm nhớ
Có đâu ngờ Xuân vắng người thơ

 Nhạc & Lời: Châu Kỳ- Ca sĩ: Đàm Vĩnh Hưng (nhạc của tui).

Nhân dịp xuân về, blog16 xin kính  chúc quý bậc trưởng thượng, quý thân hữu, quý bạn,  một năm mới An Khang, Thịnh Vượng.

Bài đọc suy gẫm:  Con Gái Tôi Đâu? tức “Vết Hằn Mùa Xuân” của tác gỉa Ngô Viết Trọng.

Ghi chú: Hình ảnh từ cả nghìn nguồn trên net về Tết Mậu Thân tại Huế chỉ có tính cách minh họa.

Vết Hằn Mùa Xuân – Ngô Viết Trọng.

 

 Mời bạn đọc truyện ngắn nầy để nhớ lại Mùa Xuân năm nào Công Sản đã gieo rắc đau thương trên người dân vô tội. 

Dì Sáu đang giúp bà Thái lượm những hạt cứt chuột, những hạt sâu cùng những thứ khác lẫn lộn trong mấy thúng nếp thì Liên về.  Cô gái với khuôn mặt bầu bĩnh tươi như hoa, dựng chiếc xe đạp trước sân, hớn hở bước vào nhà nói như khoe khoang:
- Chào dì qua chơi! Mạ với dì thấy chiếc xe đạp của con chưa?
Hai người đàn bà đều ngừng tay nhìn ra. Một chiếc xe đạp đàn bà mới toanh láng coóng, sườn sơn màu tím óng ánh, ghi đông, vành, tăm đều sáng choang.
- Trời! Chiếc xe của công chúa có khác! Cho dì mượn đi phố một bữa đi!
Bà Thái ngắm nghía chiếc xe, mặt bà cũng tươi rói, hết nhìn Liên lại nhìn dì Sáu hài lòng, hãnh diện:
- Mất của tôi gần ba chục thúng lúa đấy! Rứa là cô ưng chi tôi cũng thỏa mãn cho cả rồi. Vô thay quần áo đi mà ra phụ mạ làm sạch sẽ ba cái nếp để lo bánh trái cho rồi! Tết ni đình chiến chắc mấy thằng anh mi cũng về. Tổ cha mi hai ngày nữa là lên mười tám rồi, phải siêng siêng lên cho mạ nhờ một tí chứ!
Liên cười qua con mắt, nũng nịu nhìn mẹ:
- Thì con lo học chứ có lười nhác đâu nào! Mạ lo chuẩn bị quà thưởng khi con đậu tú tài cuối niên khóa đó!
- Thì đã thưởng trước chiếc xe đạp rồi cô! Cô liệu hồn để trượt vỏ chuối là chết với tôi đó chứ đừng nói!
Dì Sáu cười chung hòa niềm vui:
- Thì thưởng cho hắn một thằng dôn cao ráo đẹp trai, cháu có chịu không?
Cô gái vẫn mặt tươi như hoa cười khúc khích:
- Con không cần tới một thằng dôn cao ráo đẹp trai đâu dì! Con chỉ cần một anh chồng xấu ỉn thôi.
Cả ba người cùng cười ròn rã. Dì Sáu hỏi:
- Mụ nội mi nói cái chi lạ đời rứa! Răng không ưng chồng đẹp mà lại ưng chồng xấu nói cho dì nghe thử coi!
Liên lại cười khúc khích:
- Dì không nghe người ta nói “củi nè dễ nấu chồng xấu dễ sai” đó sao? Con dại gì mà lấy chồng đẹp!
Dì Sáu cười nghiêng ngửa:
- Thì ra con nhỏ tinh ranh tới rứa là cùng! Cho hắn bấp một thằng chồng hay đặp vợ cho biết mặt!
Bà Thái cũng cười ròn rã:
- Tổ cha mi nói rứa có chó mà dám ưng mi! Coi chừng ở quá đó nghe con!
- Ở quá con cũng không sợ. Ở với ba với mạ lo chi!
Liên vừa nói vừa nhí nhảnh đi vào phòng của mình. Dì Sáu nhìn theo cười:
- Hắn tuổi Tân Mão phải không chị? Mới nhỏ chút xíu đó mà! Hèn chi lớp mình mau tra cũng phải.
- Có thư đi thư lại rồi đó dì! Thấy cái thằng cũng hiền lành dễ thương!
- Chị không la hắn à?
- La mần chi! Trước mình răng thì chừ hắn rứa! Nhưng mình cũng phải ngó chừng chừng cho hắn chứ! Tôi chỉ ớn ớn mấy thằng lường gạt thôi. Nói cho cam quả, con ni cũng ngộ thiệt. Từ ngày đẻ hắn ra trong nhà cứ ăn mần nên phơi phới. Học hành thì chuyên đứng nhất đứng nhì, năm mô cũng có phần thưởng. Cha hắn cưng lắm, muốn chi được nấy mà!
- Hắn dễ thương quá đi chứ! Thằng mô mà gặp hắn thiệt là có phước!
Hai người đang vui vẻ bàn tán thì Liên đã thay xong quần áo, chạy vụt ra phụng phịu đưa cả hai tay đấm thùm thụp vào lưng bà Thái.
- Ồ, cái con! Mi mần cái chi rứa?
- Mạ tầm bậy lắm! Mạ đọc chùng mấy cái thư của con hết trơn rồi phải không? Trong phòng con ngoài mạ ra ai vô được?
Cả ba người lại cùng cười ròn rã. Bà Thái nhìn con gái âu yếm:
- Thì mạ phải kiểm soát chứ lỡ gặp thằng mô ba láp hắn dụ dỗ con mạ dắt đi mất mạ biết mần răng? Nói rứa chứ con của mạ đứa mô mà dụ dỗ được!
- Lần sau cấm mạ không được coi chùng thư riêng của con nữa đó!
Dì Sáu nhìn cái cảnh hạnh phúc tràn trề của hai mẹ con mà thèm khát. Chồng dì, ông Hữu, tập kết ra Bắc biệt tăm đã hơn mười năm rồi. Con Lý, đứa con gái của dì và ông Hữu kém Liên một tuổi, học hành chưa tới đâu hết phải bỏ ngang. Sau này dì cũng có thêm một thằng nhỏ nữa giờ đã lên sáu, không rõ cha nó là ai. Cuộc sống của mấy mẹ con dì chưa lúc nào được thoải mái cho lắm. Bà Thái là chị con ông bác của dì vốn rất thương dì nên vẫn hay giúp đỡ dì nhiều mặt. Hai chị em qua lại với nhau khá tâm đắc. Dì nhìn hai mẹ con bà Thái rồi bất giác thở dài:
- Con gái chỉ ở với cha mẹ được một thời. Mai mốt là con người ta rồi đó.
Lời nói của dì Sáu như là một cái đánh động nhẹ vào tâm tư bà Thái. Bà Thái quay lại nhìn người em họ rồi lại nhìn Liên. Thình lình bà ôm lấy Liên hôn lên tóc, lên má, lên cổ nàng tới tấp. Nước mắt bà trào ra ràn rụa trước sự ngơ ngác của dì Sáu. Giọng bà thổn thức nấc lên:
- Mai mốt con đi lấy chồng rồi mạ ở với ai đây?
Cặp mắt nai của Liên cũng mở lớn tròn xoe long lanh nước. Nàng cũng ôm chầm lấy mẹ rồi sau đó gục mặt vào vai mẹ. Bà Thái lại nghẹn ngào:
- Con khoan đi lấy chồng đã nghe! Con đi lấy chồng rồi thì mạ ở với ai đây?
Dì Sáu sững sờ rưng rưng nước mắt lặng người chốc lát trước hoạt cảnh ấy. Sau đó dì làm tỉnh lên tiếng:
- Cái chị ni vô duyên thiệt! Con gái lớn ai không lấy chồng? Mà đã có chi mô nà? Gả hay không đều còn do mình mà! Hắn đi lấy chồng thì chị ở với anh Thái chứ ở với ai nữa!
Một chốc sau hai mẹ con buông nhau ra, mắt người nào cũng đẫm lệ. Dì Sáu vươn vai đứng dậy cười:
- Ngồi ngó hai người tôi cũng mệt. Thôi, hai mạ con làm với nhau đi, tôi về!
*
Ông Thái trước đây đã từng làm Đại Diện xã. Ông là người kiến thức rộng, có đạo đức,làm việc gì cũng có lý có tình nên rất được lòng người. Bây giờ ông đã thôi việc nhưng mọi người, kể cả lớp có chức sắc trong xã lúc nào cũng tỏ ra trọng vọng kính mến ông. Những việc làm lớn nhỏ liên can đến chuyện an ninh thôn xã, phát triển văn hóa, quân cấp ruộng đất, cúng tế hàng năm… những người gánh vác công việc lúc nào cũng thỉnh hỏi ý kiến ông. Những mối bất hòa, những vụ xung đột gia đình hay xóm giềng với nhau, dù không còn làm việc, hễ ông đứng ra dàn xếp thì thế nào cũng yên.
Cúng giao thừa xong, ông Thái toan đi ngủ bỗng nhiên ông cảm thấy có gì hơi khác trong tiếng pháo nổ như mọi năm. Ông lắng tai và ngạc nhiên nghe những tiếng nổ lạ có thể không phải là tiếng pháo.  Không lẽ lại có bắn nhau? Cái tin hưu chiến đã được loan đi rộng rãi cho đồng bào yên tâm ăn tết mà! Ông áy náy không thể nào ngủ được. Đến khi nghe thêm nhiều tiếng nổ lạ một vài nơi nữa, ông Thái mới đoan quyết đấy là tiếng súng. Ông liền tìm cách liên lạc với xã để biết tình hình.
Sau khi ra ủy ban xã, ông Thái liền nhắn về nhà cho biết tình hình đang xấu lắm, ông chưa thể trở về liền được. Nếu có ai tới thăm hỏi ông cứ bảo là ông đi thăm viếng ai trên phố.
*

Một số hình ảnh năm Mậu Thân cộng sản thảm sát đồng bào vô tội tại Huế qua các báo chí ngoại quốc 

Sáng mồng một tết thì cả xã nhốn nháo về tin Cộng Sản đã kéo về khắp nơi. Thế là sau đó chẳng ai còn bụng dạ xuất hành chúc tết họ hàng chung quanh. Mọi người đều lăng xăng lo cất giấu hoặc thủ tiêu những thứ gì trong nhà có liên can đến binh lính và chính quyền miền Nam như bức hình chụp, giấy tờ, quần áo giày mũ… Và Cộng Sản đã kéo về làng thật. Ngoại trừ những căn nhà ven quốc lộ 1, nhà nào cũng có vài ba anh bộ đội đến trú đóng. Bà Thái đang hồi hộp nhìn ra đường thì thấy bốn người lính Cộng Sản đi vào nhà bà. Ba người trẻ mang súng dài tỉnh bơ đến thẳng thềm hiên nhà lớn, cởi ba lô và súng ra ngồi xuống nghỉ. Có lẽ họ đang mệt. Những nhà theo kiểu cổ, trừ khi có cúng giỗ tiệc tùng, ít khi người ta mở cửa nhà lớn. Mọi người trong nhà vẫn vô ra bằng cửa nhà lều. Người thứ tư, một người trung niên mang súng ngắn, tỏ vẻ đã hiểu biết thói tục ở đây, bước tới cửa nhà lều gọi:
- Anh chị Thái ơi, em là Trí đây, anh chị có nhớ em không?
Qua giây phút lo sợ, ngỡ ngàng, bà Thái mừng rỡ bước ra chào hỏi người em họ của chồng. Ông Trí là em con ông cậu ruột của ông Thái, tập kết ra Bắc năm 1954. Sự có mặt của một người bà con trong toán người xa lạ mà xưa nay gia đình bà vẫn coi như là thù địch làm bà Thái đỡ lo hơn nhiều. Bà niềm nỡ săn đón:
- Trời ơi, không ngờ còn gặp lại được chú Trí! Chú khỏe mạnh không? Có vợ con rồi chứ chú? Anh Thái vẫn nhắc đến chú hoài! Sáng ni anh Thái lên phố chúc tết mấy người quen không biết răng tới chừ chưa thấy về!
- Tình hình lộn xộn thế mà anh không ở nhà à? Chị có biết bây giờ anh đi đâu không? Nguy hiểm lắm đó nghe!
- Thôi, ông đi mô rồi ông cũng lo về. Chừ mời chú và mấy anh em vô nhà nghỉ ngơi. Chắc mấy chú cũng đói bụng rồi, tôi dọn cơm cho mấy chú ăn nghe!
Ông Trí vui vẻ tự nhiên bước vào ngồi xuống cái giường lèo:
- Để họ nghỉ ngoài đó được rồi. Còn cơm nước lo chi chị!  Bộ đội bác Hồ đến dân vui, đi dân nhớ, ở dân thương, đến đâu nhân dân cũng lo cho đầy đủ cả làm sao mà đói! Em tới đây mục đích chính là thăm anh chị. Sau nữa là xin cho mấy anh em ở tạm vài hôm. Rồi tụi em cũng phải lo đi tiếp thu những chỗ khác. Anh em đàng hoàng lắm, không có phá phách như bọn lính ngụy đâu! Chị đừng lo lắng chi cả!
- Thôi, chốc nữa nói chuyện tiếp. Chừ chú nói mấy anh em rửa tay để ăn cơm, tôi đi dọn ra đây!
- Cứ thủng thẳng đã chị, à, mấy cháu đi đâu mà chẳng thấy cháu nào hết?
- Khi đêm tụi nó ham chơi thức khuya quá chừ còn ngủ đó chú!
Cơm dọn ra, một mâm thịt chả cá canh phủ phê. Ông Trí cùng mấy chú bộ đội ăn uống rất thiệt tình. Họ vừa ăn vừa huênh hoang nói về những bước hành quân kỳ diệu của họ. Những món ăn khoái khẩu làm cho thực khách càng nói cười vui vẻ cởi mở thêm. Với bà Thái, mấy chú bộ đội cứ một điều thưa mẹ hai điều thưa mẹ rất thân mật. Bầu không khí lo lắng nghi kỵ trong nhà cũng dần loãng đi. Chốc sau, bà Thái vào phòng kêu chị em Liên và Thảng ra chào ông chú họ và mấy anh bộ đội. Cả hai đều đã thức dậy từ sớm nhưng thấy người lạ vào nhà nên cố nằm nín trong phòng. Thấy mẹ gọi, Liên rụt rè đẩy em đi trước.
- Thưa chú! Chào mấy chú bộ đội!
- Ối chao!  Mấy cháu của chú ngoan thế này à!
Lập tức, ông Trí bước lại ôm lấy thằng Thảng mà hôn hít tới tấp. Thằng nhỏ từ khi lên mười tuổi đã xa hẳn kiểu biểu lộ tình cảm nồng nàn thắm thiết đó, đâm ra ngượng ngập, lúng túng, thụ động. Liên trố mắt ngạc nhiên rồi cũng lúng túng thối lui một bước. Liên sợ ông Trí cũng hôn nàng như hôn Thảng. Bà Thái cũng ngạc nhiên cảm động vì cử chỉ của người em họ chồng. Bà mừng vì như thế, những người trong gia đình bà, ông Thái và hai đứa con đi lính chắc không đến nỗi nào. Bà có chút ân hận vì lâu nay nghe chồng mà bà đã hiểu lầm về người Cộng Sản. Tình cảm họ chan chứa mặn nồng như thế mà bảo họ vô tình thì đúng là đặt điều! Mấy chú bộ đội hình như chẳng quan tâm tới chuyện đó. Họ chỉ cười chào lại Liên và Thảng rồi tiếp tục ăn.
Ông Trí vừa ăn vừa nói:
- Anh chị có hai cháu dễ thương quá! Tương lai của đất nước đấy! Bác Hồ nói “kế hoạch trăm năm không gì hơn là trồng người”, đào tạo nuôi dưỡng ở lứa tuổi này thì không chê vào đâu được.
Bà Thái sung sướng hãnh diện cười với hai con:
- Các con nghe chú nói đó, phải gắng học thêm lên nữa!
Bữa ăn gần xong, một anh bộ đội nhìn chiếc xe đạp của Liên rồi khen:
- Chiếc xe trông hết sẩy!
Mọi người đều nhìn theo và thay nhau khen. Liên nghe như vậy vẻ sung sướng hãnh diện lộ ra mặt. Một anh bộ đội hỏi:
- Chiếc xe này của ai mà sang quá vậy mẹ?
Bà Thái hãnh diện trả lời:
- Xe sắm cho cháu Liên đi học đó.  Ở đây lên tới trường Đồng Khánh xa lắm mấy chú!
- Dạ, chúng con cũng có nghe nói đến trường Đồng Khánh Huế nữ sinh đẹp lắm. Nghe nói ở đó cũng có nhiều nữ sinh tham gia mấy đội quyết tử của ta chống ngụy quyền gắt gao lắm cơ!
Ông Trí nhìn Liên hỏi:
- Cháu có thấy hoạt động của mấy đội quyết tử ấy không? Cháu có ủng hộ hay tham gia với họ lần nào chưa?
Liên ngơ ngác ngây thơ trả lời:
- Làm gì có! Cháu chưa bao giờ thấy đội quyết tử nào hoạt động ở trường Đồng Khánh cả.
Ông Trí vội nói:
- Hoạt động mật, người ta không phổ biến đâu!
Một anh bộ đội ngập ngừng trở lại chuyện chiếc xe đạp:
- Được đi chiếc xe như thế chắc thích lắm nhỉ! Cô Liên cho chúng tôi mượn tập đi thử chốc lát được không?
Câu nói bất ngờ làm cho Liên tắt mất vẻ cười. Nàng bối rối đưa mắt nhìn mẹ. Bà Thái vốn biết tính con mình rất cưng quí xe. Bình thường, Liên ít khi cho ai mượn xe huống bây giờ xe mới, mà lại đòi tập nữa mới khó chứ! Tuy thông cảm với con gái nhưng bà cũng nghĩ tới những khó khăn hiện tại của mình. Sợ con làm mất lòng mấy chú bộ đội, bà cười giả lả:
- Tập chốc lát cũng được, nhưng cẩn thận giùm một chút kẻo cháu nó nóng ruột, xe mới sắm chưa đi.
Bà Thái nói thế rồi nhìn ông Trí chờ đợi một câu nói ngăn cản hay một lời dặn nào đó. Nhưng ông Trí chưa nói gì thì mấy chú bộ đội đã hồ hởi nhanh nhẹn dắt xe ra sân. Liên nhăn mặt kéo Thảng ra theo ngồi coi. Ông Trí vẫn ngồi uống nước ăn mứt ở bàn ăn.
Sau khi đã dọn dẹp mâm chén xong, bà Thái đến ngồi đối diện với ông Trí:
- Chú Trí cưới vợ lâu chưa?  Được mấy cháu rồi?
- Em cưới vợ năm 1957, vợ em người Sơn Tây, đã được ba cháu gái, đứa lớn nhất mới 11 tuổi.
- Rứa chú có đem theo vô đây không?
- Giờ thì chưa, nhưng chậm lắm là cuối năm nay. Giải phóng xong miền Nam em phải đem vô chứ.
- Nì, chị em tôi hỏi thiệt nghe, như tôi có thằng Long thằng Đạt đi lính quốc gia có can chi không?
- Thì chị biết mấy cháu ở đâu kêu về là xong. Cách mạng khoan hồng lắm, bác Hồ và Đảng nhân ái lắm chị, chị đừng lo chi cả.
- Như anh Thái trước đây có làm Đại Diện xã nhưng nghỉ lâu rồi có bị tội lệ chi với cách mạng không chú?
- Không sao đâu, chị biết anh ở đâu cứ kêu về là yên chí chứ lo gì!
- Chú bảo đảm cho anh ấy được chứ!
- Được quá đi chứ chị! Anh ấy là anh của em mà! Cái tình nghĩa của phe dân chủ mình nó thắm thiết sâu đậm lắm chị à! Có em đây chị cứ yên chí mà gọi anh về. Bác và Đảng bao giờ cũng thương dân như con đỏ chứ đâu có vô tình vô nghĩa như bọn đế quốc chỉ biết bóc lột, đàn áp, giết chóc mà ngại! Chị phải mọi cách kéo anh về càng sớm càng tốt. Mười đời không rời cánh tay, em lo cho anh ấy lắm. Bây giờ em phải đi họp một chốc. Hi vọng khi em trở lại thì gặp anh ở nhà.
Bà Thái càng ân hận về những hiểu lầm lâu nay của mình. Thế mà bảo con tố cha, vợ tố chồng, thậm chí còn nói đến chuyện chôn sống người nữa, toàn đặt điều hết!
Ông Trí ra dặn dò mấy chú bộ đội mấy lời gì đó rồi đi.
Ông Trí vừa đi khỏi, Liên liền vào nhà với vẻ bực bội, nói với mẹ:
- Mạ nói họ trả xe lại giùm con đi! Họ tập té lên té xuống trầy trợt hết mạ ơi! Xe mới lấy về chưa kịp đi thì gặp như thế thiệt rầu thúi ruột.
Bà Thái giải thích với Liên:
- Họ cũng như khách, người ta tốt với mình mình phải tốt lại! Đừng làm mất lòng họ không hay mô! Cha con đang ở thế kẹt lắm. Họ ở đậu vài bữa rồi họ đi thôi con ơi.
Liên cười méo mó:
- Chợt chạt móp méo nhiều rồi mạ! Khi kia để tết xong rồi lấy về cho rồi!
- Đừng nói nữa con, cầu cho cha con và mấy anh con yên lành là được rồi. Con đậu tú tài xong mạ mua cho chiếc khác. Chừ con ra kêu em vô ăn uống mà ngủ cho sớm.
Nói xong, bà Thái đi thắp một lượt tất cả các bát nhang. Sau đó, bà dọn ra giữa bức phản một mâm bánh thịt và mấy dĩa mứt, lấy lồng bàn đậy lại. Khi trời đã khá chiều, mấy chú bộ đội vẫn thay nhau tập xe như tranh thủ thời gian. Bà Thái tươi cười ra sân nói với họ:
- Mấy chú tập xong đói bụng cứ vô giở lồng bàn có sẵn đồ ăn đó, cứ tự nhiên coi như người trong nhà, đừng ngại chi hết.
- Dạ, chúng con cám ơn mẹ!
*
Một hiện tượng mà người dân không thể nào hiểu nổi là bộ đội Cộng Sản đóng khắp trong xã thế mà trên quốc lộ 1 xuyên qua xã, lính Mỹ dùng xe di chuyển qua lại  đều đều vẫn tuyệt nhiên không có một cuộc đụng độ xảy ra. Rõ ràng là quân hai bên đều trông thấy nhau cả mà! Không biết cái tình trạng này còn kéo dài tới bao lâu nữa?
Bà Thái mỗi ngày mỗi nôn nóng lo sợ thêm. Ông Thái vẫn biền biệt không nghe tin tức. Mấy ký thịt heo, mấy thẩu dưa món, bốn năm con gà choi và bốn ổ trứng gà đã đi trọn rồi. Ban đầu bà cũng tưởng họ ở đậu vài hôm là cùng, nào ngờ cả tuần rồi vẫn không có chi thay đổi. Ông Trí ngày nào cũng đi họp một hai lần. Thỉnh thoảng cũng có vài người đi công tác đâu đó. Mấy chú bộ đội trẻ cứ rảnh rỗi lại thay nhau hành hạ chiếc xe đạp của Liên. Lúc này Liên cũng phó mặc ra sao thì ra, không cần để tâm tới nữa. Những ngày sau này ông Trí luôn luôn thúc giục bà Thái tìm cách kiếm chồng về. “Nếu anh ấy không chịu về, tôi không bảo đảm được”, ông Trí nói.
Rồi một buổi sáng bà Thái thấy toán bộ đội có vẻ nhốn nháo. Hẳn có chuyện gì xảy ra? Họ hấp tấp sửa soạn hành trang. Sau đó ông Trí với hai người vội vã mang cả đồ cá nhân ra đi. Chỉ có chú bộ đội Minh con người trông nghiêm nghị, ít nói ít cười nhất ở lại. Trước khi đi, ông Trí cũng dặn kỹ người trong nhà từ giờ phút này đừng đi đâu hết. Bữa cơm trưa rồi bữa cơm tối bà Thái đều mời Minh cùng ngồi với gia đình nhưng hôm nay thấy anh ta chẳng thiết tha chi đến chuyện ăn uống. Có lẽ anh ta đang có vấn đề căng thẳng trong đầu. Thấy Minh chỉ một mình, bà Thái tò mò muốn gợi chuyện nhưng không thể nào cậy môi anh ta được. Anh ta cứ chăm chú hướng mắt ra đường. Tới chạng vạng vẫn chưa thấy một ai về.
Mãi tới khi thấy mấy bóng đen xăm xăm bước vào ngõ, bà Thái kêu lên:
- À, mấy chú đã về đó rồi!
Nhưng không phải. Hai người đang tiến vào sân cũng mặc đồ bộ đội nhưng đều là người lạ. Họ tiến thẳng tới trước mặt bà Thái nói giọng nghiêm nghị:
- Lệnh của ủy ban, mời ông Thái sang trường học xã họp ngay bây giờ!
Bà Thái lo lắng trả lời:
- Dạ ông Thái nhà tôi đi chúc tết rồi kẹt mô đó tới nay chưa về đến. Có chú Minh ở đây lâu nay biết rõ đó.
- Nếu ông Thái đi khỏi, xin cho cô Liên đi họp thế vậy!
Một trong hai người quay lại nói với tên Minh:
- Đồng chí cũng thu xếp lên đường. Anh em ai còn sót gì mang cho họ luôn!
Bà Thái ngạc nhiên sao không mời mình đi họp thế chồng mà lại mời Liên? Mà những người này sao lại biết tên của Liên?
- Dạ cháu nó còn dại biết chi mà họp với hành! Tha cho cháu có được không?
- Bà hiểu cho đây là lệnh của ủy ban! Xin mời cô Liên ra ngay cho. Chúng tôi không có thì giờ nhiều!
- Dạ thôi được, để tôi đi họp thế cho cháu.
- Không được! ủy ban chỉ mời cô Liên, không mời bà!
Bà Thái đang lúng túng thì ông Trí từ ngoài đi vào. Bà Thái mừng quá đến đón ông lại:
- May quá, có chú về. Mấy anh này mời cháu Liên đi họp, tôi xin đi thế mấy anh không chịu. Nhờ chú nói giùm một tiếng.
- Không được đâu! Ai có việc nấy. Người ta mời ai thì đi nấy, chết chóc chi đâu mà sợ. Tôi cũng đang có việc của tôi đây.
Bà Thái nghe cái giọng của người em họ chồng không còn ngọt ngào lễ phép với mình như những ngày trước đây thì lo lắm:
- Rứa thôi để tôi cùng đi với cháu nghe chú.
Không biết ông Trí có nghe lời bà Thái không. Ông không trả lời mà chỉ lúi húi tìm cái gì đó tại chỗ ông nằm mấy bữa nay. Anh bộ đội truyền lệnh dứt khoát:
- Cô Liên đi một mình được rồi, mời cô ra mau. Còn bà, đừng bước ra khỏi nhà!
Liên mặc bộ đồ bộ màu tím mới may lững thững đi ra. Bà Thái cầm tay con nhưng không nói gì. Từ khi nghe kêu tên mình tới giờ Liên không hề nói một lời. Khi ấy ông Trí có lẽ đã làm xong việc mình, bước lại nói với bà Thái:
- Để nó đi kẻo người ta chờ kìa. Nó là con chị mà cũng là cháu tôi, tôi cũng biết lo cho nó chứ. Nó qua trường học nghe năm điều ba chuyện rồi về có gì mà bịn rịn như ra Hà Nội không bằng!
Bà Thái đứng nhìn bóng dáng mảnh mai của đứa con gái yêu đang theo mấy người bộ đội ra cửa. Bà rưng rưng nước mắt rồi bỗng chạy vụt vào nhà. Chốc sau bà quay trở ra, chạy theo những người đang đi.
- Chú Trí!  Chú Trí ơi!
Ông Trí đang đi quay mặt lui:
- Gì đó nữa?  Lôi thôi mãi!
Bà Thái cầm một cái áo len và một gói hạt dưa trao cho ông Trí:
- Nhờ chú đưa cái áo cho cháu Liên mặc thêm kẻo sương xuống lạnh và gói hạt dưa ni để nó cúp đỡ buồn.
- Chị làm như đưa tiễn con lên tàu. Tôi chịu thua chị. Thôi nghe.
Bà Thái có cái cảm tưởng đưa con lên tàu thật. Trường học chỉ cách nhà bà không tới năm trăm thước mà ngỡ như cách trở quan san. Bà nhìn theo bước chân đứa con gái. Hình như Liên cũng cố tình bước nhín nhín vì sợ chóng hết quãng đường. Khi những bóng người đã khuất hẳn trong màn đêm bà Thái mới trở vào ngồi thừ ra trước thềm cửa. Ông Thái biệt tin cả chục ngày bà không lo lắng bằng việc đứa con gái đang đi họp ở trường học. Khi bà vào nhà thì thấy thằng Thảng đang nằm chèo queo ngủ trên chiếc giường lèo. Bà chụp mấy con muỗi đang bu cắn con rồi ghé ngồi xuống phần giường còn trống dưới chân nó, mỏi mệt dựa nghiêng đầu vào thanh lèo giường, chờ con gái về.
*
Bà Thái bỗng gật đầu một cái rồi tỉnh thức. Thời gian này hay mất ngủ, mệt người, bà đã ngủ gục một giấc khá dài. Bà đứng dậy nhìn đồng hồ: 3 giờ khuya. Bà Thái hoảng hốt chạy lại đánh thức thằng Thảng:
- Dậy con ơi ! Đi với mạ qua coi thử chứ giờ chừ mà con Liên chưa về, họp hành chi lạ rứa! Mạ nóng ruột quá!
Thằng Thảng bừng mắt ngồi dậy nhưng ngại ngùng:
- Đi giờ này hắn bắn chết! Mạ không thấy mấy người chết rồi đó à? Chắc là chị Liên qua ngủ lại nhà dì Sáu chứ gì!
Bà Thái bực bội:
- Tiếc giấc ngủ thì ngủ tiếp đi! Mi không thương hắn thì tau đi tìm một mình.
Bà Thái bưng cây đèn bóng thắp dầu nhỏ bước ra khỏi nhà. Thằng Thảng lật đật chạy theo mẹ. Bưng đèn theo chỉ có mục đích chứng tỏ sự ngay thẳng không mờ ám trong việc đi đêm chứ thật ra lúc đó dù trăng mờ cũng thấy đường được. Khi nhìn được khu vực trường học, bà Thái ngạc nhiên không thấy đèn đuốc chi cả. Bà nôn nóng bước thật nhanh. Ngọn đèn trên tay tắt mất nhưng bà cũng không ngần ngại, càng bước mau hơn.  Bấy lâu nay vẫn có một số bộ đội, cán bộ làm việc ở đây, sao bây giờ chẳng thấy ai canh gác ngăn cản chi cả? Tới gần, hai mẹ con thấy có nhiều ghế bàn để ngổn ngang trước sân trường nhưng tuyệt nhiên không có một bóng người.
- Đi qua nhà dì Sáu ngay!
Nhà dì Sáu cách trường học chừng 100 thước. Hai mẹ con lại lật đật tới nhà dì Sáu, đấm cửa thình thịch:
- Dì Sáu ơi! Dì Sáu ơi! Con Liên có ngủ lại nhà dì không?
Dì Sáu nghe tiếng vội vàng nhảy dậy xô cái cửa cho hai mẹ con vào, không kịp tìm diêm bật đèn, dì nói liền:
- Con Liên không về nhà à, tội nghiệp chưa? Rứa thì họ đem đi rồi, đem đi mô đó không biết. Khi khoảng 1 giờ khuya họ dắt đi hết không còn một người. Hèn chi em có nghe một ông mô đó nói lớn “không bắt được lão thì cũng phải làm cho lão đứt ruột nát gan ra …”. Dám họ nói anh Thái lắm!  Em mới vô nằm được một chút chứ mấy!
Nghe đến đây bà Thái liền nằm lăn xuống nền  nhà mà kêu khóc:
- Trời ơi!  Con tôi nhỏ dại tội tình chi mà đem đi mô rứa hỡi trời!
Thằng Thảng sửng sờ đứng ngây người không phản ứng. Dì Sáu thì hoảng hốt nhào tới ôm bà Thái đỡ dậy và khuyên:
- Bình tĩnh chị ơi, con Liên còn nhỏ dại vô tội họ không làm chi hắn mô mà sợ. Chắc ngày mai họ cũng thả về thôi.
Nhưng bà Thái vẫn tiếp tục lăn lộn khóc lóc:
- Liên ơi là Liên!  Chừ mạ biết con ở mô mà tìm…
Dì Sáu biết lòng thương của người chị họ mình đối với đứa con gái hơn ai hết. Dì cứ ngồi ốm lấy người chị mà an ủi dỗ dành. Dì chẳng buồn đi tìm hộp diêm để châm đèn nữa, dì không muốn bà Thái thấy trên mắt mình cũng có hai ngấn lệ.
*

Khi tình hình đã khá yên, ông Thái mới trở về nhà. Nhưng ông khựng lại khi thấy thằng Thảng ra đón ông không có một nụ cười.
- Mạ mô rồi? Chị Liên mô rồi?
- Chị Liên họ bắt đem đi rồi. Còn mạ khóc từ khi qua nhà dì Sáu tới giờ. Dì Sáu và con mới đưa mạ về hồi sáng. Mạ hiện đang nằm khóc trong nhà.
Mặt ông Thái chuyển sang tái ngắt. Ông đã quá hiểu về những con người Cộng Sản. Ông đau đớn nghĩ tới đứa con gái thơ dại của mình. Thôi, thế là hết. Xưa nay, mỗi khi Cộng Sản đã rớ tới ai thì kẻ đó không mất xác cũng mất hồn. Trên đường về nhà, ông đã nghe tin nhiều người có máu mặt ở thôn xã đã bị chúng bắt đem theo trong khi rút lui. Nhưng ông không hề tưởng tượng rằng đứa con gái của ông cũng chung số phận ấy. Ông đi như chạy vào nhà.
*
Cả mấy tháng sau trong xã hoàn toàn chưa ai được nghe chính xác tin tức về số phận những người bị bắt. Có tin đồn là một số bị giết và một số lại đi theo Cộng Sản. Gia đình ông Thái vẫn hi vọng Liên ngây thơ vô tội chắc không đến nỗi bị hại. Bà Thái không lúc nào quên nghĩ đến đứa con gái mình.  Ngày nào bà cũng thắp hương khấn vái cầu nguyện ông bà giúp đỡ phù hộ cho con mình trở về. Gần như đêm nào bà cũng có khóc. Bà ân hận vì mình không can đảm giữ Liên lại đừng cho đi họp hay ít nhất cũng cương quyết theo chân Liên đến chỗ họp. Không lý người ta dám bắn mình lúc đó? Bà ân hận vì đã quá tin tưởng vào những lời phỉnh gạt của người cán bộ em họ chồng mình. Ngày nào bà cũng vào lau chùi trong phòng Liên và không cho ai làm thay đổi một cái gì hết. Đến đôi tấc, bộ áo quần Liên thay lúc ra đi bà vẫn để chỗ cũ, không đem đi giặt. Lúc này bà hay ngủ tại giường của Liên.
Rồi tin dữ cũng chính thức đến với gia đình ông Thái. Khoảng nửa năm sau, khi Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa phát hiện một số hầm chôn người tập thể do lính bác Hồ thực hiện tại quận Phú Thứ, người ta cho khai quật để cải táng. Trong số nạn nhân, người ta đã chính xác nhận ra Liên. Khi gia đình nhận được tin báo, bà Thái ngất xỉu đi mấy phút. Bà không thể tưởng tượng nổi. Hồi còn trẻ, bà đã nghe mấy người từng chứng kiến kể lại vài vụ chôn sống. Người thì bị đánh cho ngất xỉu rồi đẩy xuống hố mà dập đất lên, đó là lúc người ta muốn giải quyết nhanh. Người thì dùng sức mạnh ép đứng xuống một cái lỗ sâu mà dập đất lên ngang bụng, ngang ngực, hay ngang cổ tùy ý thích của cán bộ lãnh đạo. Những người bị chôn sẽ năn nỉ khóc lóc van xin cho đến khi nào không còn nói được. Phần thân thể bên dưới của người đó sẽ tê dại nhanh chóng dưới sức ép của đất, mạch máu không còn lưu thông được, sau cùng đều chết. Đây là cách giết mà vừa trả thù, vừa thưởng thức. Một cách khác nữa rùng rợn hơn nhiều, gọi là xác chết đội mồ. Người ta đào một cái lỗ cạn, dùng sức đẩy nạn nhân còn đang khỏe mạnh xuống rồi dập phủ kín một lớp đất rất mỏng.  Nạn nhân sẽ ọ ọ lên mấy tiếng giống như bò rống, chỗ đất mới đắp nứt nứt ra rồi cái đầu người phủ đầy đất thò lên tưởng như xác chết đội mồ. Những người chung quanh cứ cười nói thỏa thích chờ cho nạn nhân hồi sức được phần nào rồi áp lại dập đất lần khác. Đến khi nào nạn nhân lã người chịu nằm yên dưới lớp đất phủ là xong. Nghe nói không có nạn nhân nào ngoi dậy được lần thứ ba.  Ngày trước nghe kể như thế nhưng bà đâu có tin!  Bây giờ thì những nạn nhân lại có nhiều người bà từng gần gũi, quen biết, có luôn cả người thân yêu nhất đời của bà nữa! Bà tưởng tượng ra những nỗi đau đớn quằn quại của đứa con gái mình mà rùng mình thon thót. Bất giác bà nhớ tới câu mà theo ông Trí là của bác Hồ, ba mẹ con bà đã nghe trong dịp tết vừa rồi “kế hoạch trăm năm không gì hơn là trồng người”. Con người cả đời hiền lành không biết chửi bới ai một câu bỗng nghiến răng rít lên:
- Mụ cô cha hắn chứ trồng người! Té ra trồng người là chôn sống người!
*
Sau khi cải táng cho con, bà Thái ngã bệnh kéo dài cả năm.
Khi lành bệnh, tính khí bà trở nên thất thường. Nhiều khi bà ngồi cả buổi để nhìn lên bàn thờ người con gái. Hình như đôi mắt yếu kém của bà vẫn nhìn thấu suốt qua tấm vải đỏ phủ trên khung ảnh mang gương mặt ngây thơ bầu bĩnh tươi như hoa của cô gái. Những giọt lệ cứ bò trên đôi má nhăn nheo của bà. Nhiều khi đang làm việc gì bà bỗng ngưng lại, thở dài: Bác Hồ nhân ái lắm, bác thương dân như con đỏ, kế hoạch trăm năm không gì hơn là chôn sống người!
Từ ngày mất Liên, lòng bà Thái cũng mất luôn mùa xuân, mất vĩnh viễn. Có mùa xuân nào nữa mang lại niềm vui cho bà đâu? Càng về già cái tính thất thường của bà càng tăng. Lắm lúc bà quên cả mọi người chung quanh cũng như mọi việc. Nhưng lạ một cái bà vẫn hay nhắc một câu nói cũ và vẫn không lẫn lộn một chữ nào: “bác Hồ nhân ái lắm, bác thương dân như con đỏ, kế koạch trăm năm không gì hơn là chôn sống người!”.

Ngô Viết Trọng 

Lượm lặt từ các nguồn của Blog 16:

Sau cuộc chiến, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa ước lượng tổng số nạn nhân ở Huế vào khoảng 7,600 như sau: 
Bị thương và tàn tật vì bom đạn : 1.900
Thường dân bị chết vì bom đạn : 844
Nhóm mồ tập thể thứ nhất ngay sau cuộc chiến : 1.173
Nhóm mồ tập thể thứ nhì, luôn cả Gò Cát, tháng 3-7, năm 1969 : 809
Nhóm mồ tập thể thứ ba, suối Đá Mài (quận Nam Hòa, tháng 9, 1969 ) : 428
Nhóm mồ tập thể thứ tư, biễn muối ở Phú Thứ, tháng 11, 1969 : 300
Ước lượng những mồ tìm rải rác chung quanh thành phố Huế : 200
Số người vẫn còn mất tích : 1.946

Tổng số nạn nhân của cộng sản ở Huế: 7.600

Chú thích của tác giả – tài liệu trên đây lấy từ:
– SEATO: South East Asia Organization.
– PAVN: People’s Army of Vietnam, soldiers of North Vietnam Army serving in the South, number currently 105,000.


Khi Người Nông Dân Nổi Giận – Sơn Nam

 Con ơi nhớ lấy câu này
Cướp đêm là giặc, cướp ngày là Quan.
(Ca dao Vietnam)

Bài đọc suy gẫm:  Trong tuần qua, báo chí cả nước nói về câu chuyện Đoàn Văn Vươn, một cựu quân nhân, kỹ sư nông lâm,  một kỳ tài  vì đã thách đấu cả với trời để khai thác, mở mang thành công mảnh đất sát biển ở xã Bắc Hưng, huyện Tiên Lãng, T.P Hải Phòng.  Bị bọn quan quyền tham lam, cấu kết với tay thẩm phán dụ dỗ gia đình, rút đơn sau đó tráo trở mặt (link Quê Choa) nên anh em Vươn quá uất ức đã vác mìn, súng chống lại cả trăm công an bộ đội. Sau hơn 4 tiếng đụng độ, với tổn thất và nhiều chiến sĩ phải nhập viện (theo báo lề phải).   Lực lượng cưỡng chế mới tiến vào làm chủ được tình hình nhưng người dân đã rút đi… Nhân chuyện về luật đất đai bất cập của nhà nước cộng sản hiện vẫn là vấn đề lớn vì nó tạo ra nhiều khe hở cho bọn chính quyền địa phương lợi dụng, cướp đất của người dân để làm giàu, gây ra cảnh dân oan trên khắp đất nước.  Blog 16 xin hân hạnh gửi đến quý bạn đọc câu chuyện có liên quan đến sự việc khi người Nông Dân cần cù chất phác nổi giận, phản kháng lại bọn cường hào ác bá cấu kết với tham quan ô lại dồn họ vào đường cùng.  Gẫm chuyện xưa tuy cách đây gần cả trăm năm để thấy chuyện thời nay có gì khác?  Câu truyện này còn có tên “Vụ Án Nọc Nạn tại Bạc Liêu năm 1928″, trích biên khảo Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam của nhà văn Sơn Nam.  Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

 Một số hình ảnh cưỡng chế.  Câu hỏi là, cưỡng chế đất tại sao phải huy động tới vài trăm công an, bộ đội?

Đích thân giám đốc công an Hải Phòng Trần Văn Ca (trái, tay cầm loa) chỉ huy trận đánh, ông này diễu là trận đánh rất lớp lang , thủy bộ phối hợp nhịp nhàng và trận đánh này (tức nhà nước đánh nhân dân?) nên được biên khảo lại cho hậu thế học hỏi, sic. Lạ thay, khi quân ta vào tận nơi, chỉ có cái nhà trống.   Người dân đã rút đi hết, hiện ông Ca còn đang nghiên cứu họ rút đi vào thời điểm nào và bằng phương thức gì? :)

Vụ án Nọc Nạn.


Cánh đồng Nọc Nạn thuộc làng Phong Thạnh, quận Giá Lai, tỉnh Bạc Liêu thời Pháp  thuộc. Về nguồn gốc của hai tiếng Nọc Nạn thì chưa ai giải thích thỏa đáng, hoặc là nơi đây  đất thấp, dân muốn cất nhà thì phải xốc nạn theo kiểu nhà sàn. Hoặc là tiếng Miên, nói trại  lại. Cánh đồng này nằm trên đường Bạc Liêu, Cà Mau, với con rạch Nọn Nạn. Vùng này đất  cao ráo và tốt.
Những chiến sĩ quốc gia bấy giờ lên tiếng và theo dõi vì đây là cuộc tranh đấu giữa  người tiểu điền chủ chống cường hào, để giữ lại phần tư hữu tài sản mà chính ông bà họ đã  tạo ra. Không có gì chứng minh rằng họ hành động vì có người xui giục để khuấy động trong  địa phương.
Cuộc tranh đấu xảy ra chỉ vì cường hào địa phương được che chở bằng những luật lệ quanh co và phức tạp của thực dân Pháp.
Nhiều giai thoại truyền khẩu vẫn còn được nhắc nhở, chi tiết lần hồi có thể sai lạc. Chúng tôi căn cứ vào hai nguồn tài liệu căn bản :
— Bài vè Nọc Nạn do tác giả vô danh được truyền tụng, lời lẽ mộc mạc, chi tiết khá cụ thể, lưu hành từ những năm 1930, 1931.
— Loạt bài do ký giả Lê Trung Nghĩa (tự Việt Nam) đăng trên báo La Tribune  Indochinoise do Bùi Quang Chiêu làm chủ nhiệm. Bấy giờ, Bùi Quang Chiêu là chiến sĩ  quốc gia tiến bộ. Ký giả Lê Trung Nghĩa là người gốc ở Phong Thạnh, chuyển xảy ra tại quê quán nên ông hiểu rõ và đến địa phương nhiều lần, giúp gia đình nạn nhân bằng mọi cách,  khác hơn trường hợp một vài ký giả khác chỉ tường thuật đại khái để bán báo.
Báo La Tribune Indochinoise từ ngày 17/8/1928 đến 24/8/1928 đặc biệt dành cho vụ án này với những bài chiếm trọn cả trang nhứt; những số trước đó cũng đã nhắc nhở từng chập.
Bài vè Nọc Nạn chúng tôi không sưu tầm được phần sau, nên ghi phần đầu mà thôi :

Trời Nam thiên hạ thái bình,
Kẻ lo nông nghiệp người gìn bán buôn.
Ngàn năm gió thuận mưa tuôn,
Lúa thì một giạ, giá thì đồng hai.
Nhân dân ai nấy mừng thay,
Rủ đi làm mướn giá rày đặng cao.
Dưới sông, ca—nốt, đò, tàu,
Lộ thì xe chạy, trước thì khách thương…
… Lục tỉnh có hạt Ba Xuyên,
Bạc Liêu chữ đặt, bình yên dân rày.
Mậu Thìn vốn thiệt năm nay,
Một ngàn hai tám, tiếng rày nói vang.
Phong Thạnh vốn thiệt tên làng,
Giá Rai là quận, chợ làng kêu chung.
Anh em Mười Chức công khùng,
Bị tranh điền thổ, rùng rùng thác oan.
Hăm lăm tháng chạp rõ ràng,
Lúc bảy giờ sáng xe quan đến liền.
Chợ đông đương nhóm tự nhiên,
Thấy cò lính lại, người liền đến coi.
Thuốc đạn, súng ống hẳn hoi,
Hai cò bảo lính : “Đòi làng đến đây.
Có trát biện lý bằng nay,
Sai ta xuống rày, đong lúa đương tranh !
Thị Trân là vợ huyện Lành,
Lãnh án đành rành mướn bọn ta đi.
Biện Toại nhà ở chốn ni ?
Làng phải dẫn lộ ta đi đến liền”.
Hai cò bước xuống đò nghiêng,
Bảo làng với lính đi liên một đò.
Phong Thạnh hương quản tên Cho,
Ngồi trước mũi đò, bàn luận gần xa :
“Xuống đây, ắt bọn nó ra,
Dữ lành chưa biết việc mà làm sao ?”
Nước ròng đò xuống đi mau,
Tám giờ đã tới lao xao lên liền.
Cò bảo lính đứng liên liên,
Còn làng phải đứng ra riêng một hàng.
Trong nhà Mười Chức luận bàn,
Than cùng từ mẫu hai hàng lâm ly :
“Dầu con thác xuống âm ti… 

 

Về những bài báo do Lê Trung Nghĩa viết, chúng tôi sử dụng với sự dè dặt. Bấy giờ có những sự thật mà ký giả biết rõ nhưng không thể viết ra được, vì là cuộc vận động công  khai trên báo chí để cứu nạn nhân.
Lời khai trước tòa án của những nhân chứng hoặc của người trong cuộc phải được hiểu  qua khía cạnh riêng : lắm khi, họ phủ nhận sự thật vì sự thật ấy bất lợi cho họ trước tòa,  hoặc họ biết nhưng lại khai rằng không biết, chưa kể đến những người làm chứng bị mua chuộc bằng tiền bạc.
Trước năm 1900, một nông phu đến khai phá rừng ở rạch Nọc Nạn trên diện tích non  73 mẫu tây. Năm 1908, ông này chết để lại cho con là hương chánh Luông. Đất thì rộng, sức người và vốn liếng có hạn, năm 1910, anh em hương chánh Luông bắt đầu làm việc tích cực  hơn. Đất khai phá phải trải qua hai ba năm đầu không có huê lợi vì cây cỏ còn nhiều, nào  gốc cây, nào đất trủng quá thấp, nạn chuột bọ, heo rừng. Lúc bắt đầu khai phá thì vùng này  hoang vu, thưa thớt dân cư, chẳng thấy ai đến tranh giành cả. Tỉnh Bạc Liêu hẻo lánh, việc  đo đạc ruộng đất để lập bộ rất chậm trễ so với các tỉnh miền trên.
Năm 1910, hương chánh Luông làm đơn xin khẩn chánh thức 20 mẫu và chịu đóng  thuế trên diện tích này. Đơn ấy được chấp thuận và được cấp biên lai.
Năm 1912, họ làm ruộng thêm trên khoảnh đất ấy, canh tác trọn và xin rước kinh lý (trường tiền) đến đo đạc theo luật định, để xin bằng khoán chính thức. Viên trường tiền tên  là Arboratie đến đo đạc, làm phúc trình và chủ tỉnh Bạc Liêu trao cho ông hương chánh  Luông bản đồ phần đất nói trên.
Năm 1916, một người tên là Tăng Văn Đ. đứng ra tranh cản, viện lý do phần đất mà  hương chánh Luông và gia đình đang canh tác là công lao của y một phần nào. Tăng Văn Đ.  được chủ tỉnh đòi đến xử và thất kiện. Tuy nhiên, viên chủ tỉnh lại cho Tăng Văn Đ. một sở  đất nhỏ, cắt ra từ phần đất của ông chánh Luông.
Phần đất của ông chánh Luông gồm 72,95 mẫu, bị cắt cho Đ. bốn mẫu rưỡi tức là chỉ còn lại 68,45 mẫu mà thôi. Để giải quyết vụ này, viên chủ tỉnh nói trên cấp cho hương  chánh Luông một tờ bằng khoán tạm, số 303 đề ngày 7/8/1916.
Ông hương chánh Luông mất.  Biện Toại là con trai lớn của gia đình và các em đành  nhường nhịn và chấp nhận, mặc dầu đất của tổ phụ để lại mất hết 4 mẫu rưỡi. Nên nhớ  rằng bằng khoán cấp cho Biện Toại là bằng khoán tạm.

    Bom (mìn) tự chế của người dân oan.



Tưởng rằng công việc canh tác được yên ổn, dè đâu năm 1917 xảy ra một biến cố khác :  sự can thiệp của một người Huê kiều giàu khét tiếng trong tỉnh : ông bang Tắc, tên thật là Mã Ngân. Ông bang này muốn khẩn đất bằng con đường quanh co nhưn hữu hiệu, ông ta  rành luật lệ và biết rõ những sơ hở.
Số là giáp ranh với phần đất của gia đình hương chánh Luông do Biện Toại là con trai đứng thay mặt, có phần khác do Phan Văn Được làm chủ. Sau khi chết, đất của Phan Văn Được để lại cho vợ hưởng, người vợ này tên Nguyễn Thị Dương. Ông bang Tắc (Mã Ngân) chú ý nhiều vào phần đất của Nguyễn Thị Dương, đến gặp bà này mà trả giá và tìm đến  hương chức làng Phong Thạnh để xem xét lại kỹ.
Hương chức làng Phong Thạnh tiết lộ rằng phần đất của anh em Biện Toại, giáp ranh  với phần đất của Nguyễn Thị Dương đã khai thác xong nhưng chưa có bằng khoán chính thức.
Là người rành luật lệ, ông bang làm giấy tờ mua đất, cho thêm bà Dương chút ít tiền  để trong tờ bán đất ghi rằng “bán phần đất với ranh giới bao trùm luôn khoảnh đất mà anh  em Biện Toại đang khai thác”.
Lập tức, ông bang Tắc tìm cách hăm he, cho anh em Biện Toại biết rằng đất mà họ  đang canh tác là của ông ta, vì ông ta đã mua lại của bà Nguyễn Thị Dương rồi. Lẽ dĩ nhiên,  anh em Biện Toại phản ứng ngay, tìm cách kêu nài lên quan trên rằng bà Nguyễn Thị  Dương đã bán phần đất mà họ đã có bằng khoán tạm cho bang Tắc, và bang Tắc đã lấn đất.
Đơn đã gởi bốn lần đến chủ tỉnh Bạc Liêu và bốn lần lên Thống đốc Nam kỳ, luôn cả  quan Toàn quyền Đông Dương để kêu nài. Nhưng việc khác lại xảy ra.
Năm 1919, bang Tắc lại xúi dục tá điền của ông ta xông qua phần đất của anh em Biện  Toại, đốt một căn chòi ruộng và giết một con trâu để dằn mặt. Nhưng anh em Biện Toại vẫn  không nao núng, tin nơi công lý. Bấy giờ, chủ quận ở Giá Rai là ông phủ H. Theo lời tự thuật của quan phủ này thì khi đến trấn nhậm tại Giá Rai, hay tin có cuộc tranh chấp giữa ông bang Tắc và anh em Biện  Toại, ông ta đã đòi ông bang Tắc tới để phân xử, đề nghị với ông Bang là nên nhân nhượng  chia đất ra hai phần đồng đều, ông bang phân nửa, anh em Biện Toại phân nửa (như vậy là trong thực tế, ông bang đã lấn thêm một phần đất đôi chục mẫu). Quan phủ H. cũng phân trần rằng chính ông đã nhờ hương cả trong làng để đưa đề nghị ấy với anh em Biện Toại, nhưng anh em ông này không chấp nhận sự chia hai đồng đều ấy.
Trong vụ án Nọn Nạn, dư luận đã đổ lỗi cho quan phủ H. Phải chăng quan phủ này  nhận số tiền của ông bang nên đưa đề nghị này ? Nếu là người vô tư, tại sao ông không mời  anh em Biện Toại đến dinh quận để phân giải mà chỉ mời có một mình ông bang ? Quan  phủ thanh minh với dư luận như vậy thì ta tạm tin như vậy.
Cũng năm ấy (1919), quan phủ H. được làm chủ Tịch Hội đồng phái viên để xác nhận  sở hữu chủ của từng sở đất ở làng Phong Thạnh với diện tích chính xác, ranh giới, để chánh  thức cấp bằng khoán.
Mặc dầu anh em Biện Toại khiếu nại nhưng với thế lực của ông bang, với sự hậu thuẫn  của một số người, phần đất của anh em Biện toại lại bị chính thức xem như là đất của ông  bang Tắc. Về sau, ra trước tòa đại hình, Biện Toại vẫn cả quyết đây là vụ ăn hối lộ, luôn cả viên họa đồ là Roussotte cũng ăn vì thoạt tiên, khi đo đạc tên Pháp này cho rằng đất ấy là của Biện Toại, nhưng khi đã nhận tiền của bang Tắc, hắn nói ngược lại đó là của bang Tắc.
Mặc dầu vậy, anh em Biện Toại vẫn cương quyết chống đối. Đất đã mất rồi, họ ở đó mà  chờ… đèn công lý của thực dân Pháp !
Bang Tắc cứ tiếp tục lo hợp thức hóa phần đất chiếm cứ mà Hội đồng phái viên (có ông  phủ H. làm chủ tịch) xác nhận là của chính bà Nguyễn Thị Dương ưu tiên khai khẩn rồi  bán lại cho ông ta. Ngày 13/4/1926, Thống đốc Nam kỳ ký nghị định bán thuận mãi sở đất  50 mẫu với giá 5000 đồng cho Mã Ngân (tên thật của bang Tắc).
Bang Tắc cứ hăm dọa, buộc anh em Biện Toại đong lúa ruộng vì với nghị định trên và với tờ bằng khoán chính thức, anh em Biện Toại đã trở thành tá điền trên phần đất của họ.
Anh em Biện Toại chống đối ra mặt. Bang Tắc không dám làm to chuyện vì ông ta đã  từng dính líu vào vài chuyện rắc rối về pháp lý, nếu sanh sự thêm thì nhà nước thực dân lúc  bấy giờ có thể dùng luật lệ mà trục xuất ông ta về Tàu, cộng với mấy tọi trạng trước. Ông ta  nghĩ ra một biện pháp rất có lợi và rất ôn hòa để thắng đối phương. Ông ta bán sở đất trên  cho một bà rất có uy thế : bà Hà Thị Tr., mẹ vợ của người anh ông phủ H. (vì vậy mà sau này, dư luận cho rằng vụ giựt đất là do phủ H. tiếp tay với bang Tắc một cách đắc lực). bà  này mua xong, bèn đòi thâu địa tô trên phần đất mà anh em Biện Toàn đang canh tác.
Ngày 6/12/1927, bà Tr. xin được một án lịnh của tòa cho phép tịch thâu tại chỗ tất cả lúa mà anh em Biện Toại gặt được. Anh em Biện Toại nghe tin ấy, bắt đầu lo sợ.

Ngày 13/2/1928, lính mã tà tới gặp anh em Biện Toại để thi hành lịnh thâu lúa, anh  em Biện Toại kháng cự.
Ngày 14, tức là ngày hôm sau, lính mã tà lại vô lần thứ nhì. Anh em Biện Toại cũng  chống cự, lính mã tà lại rút lui.
Ngay trong đêm ấy, anh em Biện Toại đoán chắng rằng ngày mai, lính mã tà sẽ đến  với lực lượng đông đảo và thái độ cứng rắn hơn vì là lần thứ ba, sau hai lần cảnh cáo.
Anh em trong gia đình tụ họp lại, làm lễ lạy ông bà. Mẹ là bà hương chánh Luông cũng  được mời ngồi để các con lạy, gọi là báo hiếu lần chót. Anh em bèn trích huyết vào cái tô, thề  ăn thua, không sợ chết. Để thi hành kế hoạch, anh em bày ra chuyện bắt thăm để nhờ vong  linh ông bà chỉ định ai là người đứng ra hy sinh đầu tiên. Lần thứ nhứt, đứa em gái tên  Trọng lại rút nhằm thăm. Anh em không muốn thấy đứa em gái lại đảm nhận sự hy sinh  quá lớn lao nên đồng ý là cho bắt thăm lần thứ nhì.
Và lần thứ nhì này, cũng cô Trọng được lá thăm ấy. Cô Trọng bình tĩnh đứng dậy, bảo  các anh :
— Ông bà đã dạy, em xin liều chết !
Nên nhớ một chi tiết : Trước đó, khi được án tòa và thấy thái độ quá cứng rắn của anh  em Biện Toại, hương chức làng tự ý bắt giam 24 giờ bà hương chánh Luông để hăm dọa.  Biện Toại vì thương mẹ nên hứa sự không chống cự. Nhờ đó, bà hương chánh được về nhà để các con lạy lần chót.
Lúc đến công sở, thái độ của Biện Toại rất buồn rầu.
Lại còn một chi tiết khác : thày hương thân trong làng đã mướn người gặt lúa của anh em Biện Toại, vì lịnh tịch thâu đưa tới nhằm lúc lúa chín. Mười Chức, em Biện Toại đã xin phép vị hương thân để được tự mình gặt lúa nhưng vị hương thân từ chối, hồ nghi rằng  nhân cơ hội ấy Mười Chức có thể giấu bớt lúa. Khi ra tòa, viên Chưởng lý thắc mắc : tại sao  số lúa mà hương chức làng mướn gặt chỉ có 2.080 giạ thay vì 3.500 giạ như phỏng định ?  Phải chăng hương chức làng đã lén ăn cắp bớt số lúa này để xài riêng ? Và nếu lúa gặt được  nhiều, sau khi đong lúa ruộng theo án lịnh tòa mà còn dư lại đủ ăn trong mấy tháng đầu  năm thì anh em Biện Toại chưa ắt tuyệt vọng đến mức, để rồi thảm trạng lại xảy ra !
Biện Toại sống với mẹ và các em trong đại gia đình, số lúa thu hoạch chia ra vẫn là ít. ở xứ Bạc Liêu, mỗi năm gia đình nào cũng phải dư nhiều lúa để bán mà sắm quần áo, thuốc  men, chớ không như ở Tiền giang chỉ cần đủ lúa ăn, còn bao nhiêu món khác trong gia đình  đều mua sắm nhờ hoa màu phụ như vườn dừa, chuối, hoặc chăn nuôi.
Thảm trạng xảy ra vào sáng ngày 16/2/1928. Tìm lại sự thật, nhứt là các chi tiết thì hơi khó khăn. Lính mã tà thì cương quyết đổ tội cho đám anh em Biện Toại (trong giấy thuế thân, ghi sai là Tại). Những nạn nhân trong cuộc thì muốn chứng minh rằng họ chỉ tự vệ.  Một số người trong cuộc đã chết, nếu còn sống thì họ sẽ đưa ra nhiều bằng chứng khác.
 Một số hình ảnh khiếu kiện. Hình dân oan Phú Thị Hương bị công an hành hung ngất xỉu tại Hà Nôi.

Nha Trang.

Kiên Lương

Thái Nguyên

Ô Khảm – Quảng Đông -Trung Quốc 2012.  Những người giàu đang yểm trợ thực phẩm và tài vật.  Hiện đồng bào dân oan đang chuẩn bị kéo lên thành phố.

Đại khái, những nét lớn như sau :
Khoảng 7 giờ sáng, hai tên cò Tây là Tournier và Bouzou cùng bốn người lính mã tà từ  Bạc Liêu đến Phong Thạnh để tiếp tay với hương chức làng mà thi hành lịnh án của tòa, đong số lúa hiện ở trên phần đất của anh em Biện Toại. Hai viên cò này tưởng là chuyện  thông thường, họ không được cho biết là sẽ gặp khó khăn. Tên cò Tournier vừa mua được  cây súng săn nên đem theo, dọc đường anh ta còn lạc quan, bắn thử một phát chết một con  cò. Cùng đi với họ đến đống lúa có hương thân, hương hào và hương quản làng sở tại;
Anh em của Biện Toại cất nhà rải rác hơi xa nhau, sát bờ rạch. Đống lúa thì ở ngoài  ruộng, cách nhà họ chừng 500 thước.
Dọc đường, khi đi ngang qua nhà Biện Toại, hương hào kêu réo để mời chứng kiến việc  đong lúa nhưng không ai trả lời. Nhà cứ đóng cửa. Lập tức, hương hào bèn đến nhà Biện  Toại và đến nhà bà mẹ là bà hương chánh. Chẳng ai chịu đến cả.
Đến gần đống lúa, tên cò Tournier yêu cầu hương chức làng phải mời một người trong  gia đình, thí dụ như một người em của Biện Toại đến chứng kiến việc đong lúa.
Mười lăm phút sau, một cô gái đi ra, hướng về đống lúa : cô Nguyễn Thị Trọng, em của  Biện Toại. Theo sau là đứa cháu gái của Trọng, đứa bé này tên là Tư, 14 tuổi.
Thoạt tiên, tên cò Tournier đuổi cô Trọng, bảo rằng con gái còn nhỏ làm sao hiểu đầu  đuôi cuộc tranh chấp đất ruộng này được ! Viên cò nói là đến đây để trợ giúp hương chức  làng đong số lúa theo lịnh tòa.
Cô Trọng phản đối bằng lời lẽ khẳng khái, trong đó có câu “Chết sống ở đây”. Viên đội  mã tà thông dịch lại. Tên cò Tounier ra lịnh đuổi lần thứ nhứt. Cô Trọng cứ đứng đó, yêu  cầu khi đong lúa xong thì hương chức phải giao cho cô một giấy biên nhận ghi rõ bao nhiêu  giạ.
Tournier trả lời rằng không có chuyện trao biên nhận. Rồi thì Tournier tát tai cô Trọng.
Cô Trọng rút trong áo ra một cây dao nhỏ, loại dao có miếng sặt chận ở trước cán. Cò  Tournier đập một báng súng khiến cô té xỉu. Cò Bouzou bèn tiếp tay, giựt cây dao của cô bà Bouzou lại vụng về khiến lưỡi dao đâm tay ông ta một vết xoàng không đáng kể. Rồi thì lính  mã tà trói cô Trọng để đó.
Đứa cháu nãy giờ đứng ở ngoài xa, khi thấy cô Trọng ngã gục và bị trói, bèn chạy về  nhà, báo động.
Từ trong xóm nhà, anh em Biện Toại chạy ra, mang theo nào là dao mác, gậy gộc. Họ chia ra hai tốp. Tốp thứ nhứt do Mười Chức, em ruột Biện Toại cầm đầu; tốp thứ nhì do thị  Nghĩa, vợ Mười Chức cầm đầu.
Tên cò Tournier ra lịnh cho bọn lính chuẩn bị ứng phó. Tournier bảo một tên lính ra lịnh cho Mười Chức đừng dùng vũ khí.
Mười Chức chạy đến quá gần, cò Tournier bèn bắn chỉ thiên một phát. Nhưng Mười  Chức cứ tiến tới và tên cò lại nhắm ngay Mười Chức mà bắn.
Tuy bị thương rất nặng, Mười Chức vẫn cầm mắc gượng nhào tới, đâm trúng bụng tên  Tournier, rồi cả hai đều ngã xuống.
Anh em của Mười Chức tấn công bọn lính mã tà và tên cò Bouzou. Cò Bouzou rút súng  lục, bắn làm bị thương nặng bốn người. Cò Tournier tuy bị thương nặng nhưng cũng bò lết  lại gần cò Bouzou. Vì bắn không còn một viên đạn, Bouzou bèn giựt khẩu súng lục của Tournier mà bắn tiếp. Một số người bị thương, bị chết. Miều là em rể của Biện Toại giựt  được khẩu súng mút—cơ—tông của Bouzou. Với khẩu súng ấy, Miều chạy ra xa bắn về phía bọn lính mã tà nhưng không gây thương tích cho ai. Lính mã tà cũng rút lui một lượt.
Nhân viên công lực đến điều tra, được biết trong số người “làm loạn” có 5 người đàn ông, 2 người đàn bà và 3 người đàn bà khác không biết tên.
Ngay buổi sáng hôm ấy, Mười Chức và vợ (tên Nghĩa) đều chết, luôn cả người anh tên  Nhẫn cũng chết.
Nhịn (trong giấy thuế ghi sai là Nhịnh, anh của Mười Chức), Liễu (em gái của Mười  Chức) đều bị thương nặng, được đưa tới nhà thương. Liễu còn sống. Ba ngày sau, Nhịn chết.  Tóm lại, về phía gia đình Biện Toại thì có 4 người chết (ba đứa em ruột và một người em  dâu là vợ Mười Chức). Nên chú ý là vợ Mười Chức đang mang thai. Bài vè Nọn Nạn ở đoạn chót kể lại với giọng trầm hùng là “Năm người đổi một thằng Tây” tức là kể luôn đứa hài  nhi còn trong bụng mẹ.
Về phía đối phương, chỉ có tên cò Tournier chết ngày 17, khi nằm ở nhà thương Bạc  Liêu.
Bọn hương chức hội tề đã nhanh chân bôn tẩu từ khi thấy tình hình quá căng thẳng.
Cô Trọng bị bắt. Biện Toại với con trai là Tía thì ra chợ Bạc Liêu với khẩu súng mà Miều đã giựt được. Ông Biện nộp súng và thưa với nhà nước về chuyện các em bị cò Tây giết. Ông Biện và đứa con bị bắt luôn. Miều thì hôm sau bị bắt. Còn một người duy nhất  trốn thoát là Dậu.
Hoàn cảnh của bà hương chánh Luông thật đáng thương hại : các con của bà đều bị  chết, không chết thì bị bắt. Bà ở nhà một mình.
Báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ đua nhau khai thác vụ Nọc Nạn. Ký giả xuống tận nơi điều  tra. Dư luận từ mọi giới, luôn cả giới thực dân đều thuận lợi cho gia đình Biện Toại. Họ bị áp bức quá lộ liễu, họ là tiểu điền chủ siêng năng nhưng bọn cường nào cấu kết với quan lại  tham nhũng đã đưa họ vào đường cùng. Hơn nữa, bấy giờ phong trào quốc gia đang sôi nổi, xu hướng chống thực dân lan tràn, đám táng cụ Phan Chu Trinh vừa xảy ra vào hai năm  trước (1926). Đảng Lập Hiến ra đời, thủ lãnh là ông Bùi Quang Chiêu còn đang hăng hái.  Tuy là theo chủ trương Pháp, Việt đề huề, ông cũng cố gắng làm một chuyện xây dựng mặc  dầu ông phủ H. nối giao cho bang Tắc, là người của đảng ông. Ngoài ra, còn sự giúp đỡ tận  tình của ký giả Lê Trung Nghĩa là cây bút phóng sự của tờ La Tribune Indochinoise do chính Bùi Quang Chiêu chủ trương.
Trong giới trí thức Pháp, nhiều người tiến bộ đã bực mình vì biến cố Nọc Nạn. Ký giả  Lê Trung Nghĩa nhờ hai luật sư rất tận tâm là Tricon và Zévaco biện hộ cho gia đình nạn  nhân, cãi không ăn tiền. Người có chút lý trí phải nhận rằng anh em Biện Toại chẳng mảy  may gì thù oán cá nhân tên cò Tournier cả.
Tòa Đại hình Cần Thơ xửa vụ án này vào ngày 17/8/1928. Ông Rozario ngồi chánh án,  công tố viên là Moreau. Ông Moreau này khá tốt và công bình. Ngoài ra còn một ông hội  thẩm là ông Sự, rất tốt.
Người Pháp đứng trước tình thế gay go. Mặc nhiên, họ đem ra xử những hậu quả của  luật lệ bất công do chính họ ban hành, tức là họ xử cái chế độ của họ. Tha bổng tất cả nạn  nhân thì không được, nhưng lên án thì lên án làm sao ? Chuyện này cả nước đều hay biết.
Trừ báo La Dépêche lIndochine ra thì tất cả báo chí Sài Gòn đều có mặt, theo dõi phiên  tòa : báo LíEcho Annamite, Đông Pháp thời báo, LíImpartial, LíOpinion, Le Courrier  Saigonnais, Le Phare, La Tribune Indochinoise.
Tòa tuyên án như sau : Biện Toại, Nguyễn Thị Liễu (em út của Toại) và Tia (con trai của Toại) được tha bổng. Cô Nguyễn Thị Trọng, 6 tháng tù (nhưng đã bị giam sáu tháng  rồi). Miều, chồng của Liễu (em rể của Biện Toại) : 2 năm tù vì có tiền án ăn trộm.
Đây là bản án rất nhẹ, so với những bản án khác thời thực dân. Qua lời khai của can phạm và những người làm chứng, chúng ta biết thêm những chi tiết quan trọng sau đây :
— Từ năm 1910, Biện Toại đã vào đơn xin trưng khẩn phần đất mà về sau xảy ra tranh  chấp. Bấy giờ, chủ tỉnh có cấp cho biên lai. Nhưng biên lai ấy bị ăn cướp đánh lấy mất, Toại  làm đơn xin bổn nhì. Điều rất lạ là bộ sổ ghi đơn xin khẩn đất ở Bạc Liêu vào năm ấy lại bị mất. Ai làm mất ? Phải chăng là sự cố ý đánh cắp, thủ tiêu hồ sơ trong văn khố cũ, để cường  hào tha hồ tung hoành ! Viên chức ở tòa bố Bạc Liêu lúc vụ án xảy ra là ông phủ Tâm.  Nưhng ông này xác nhận rằng tài liệu cũ bị đánh cắp từ lâu rồi, trước khi ông nhận chức.
— Ông hội thẩm Sự đã nhấn mạnh cho tòa nhớ rằng tiếng Việt khó dịch, thí dụ như mấy tiếng “Chết sống ở đây” mà cô Trọng trả lời với tên cò Tournier. Nếu viên đội thông dịch sai thì viên cò có thể nổi giận. “Chết sống ở đây” có hai nghĩa. Một là “Dầu chết hay  sống, tôi vẫn đứng tại đây, đuổi tôi, tôi không đi đâu hết”. Hai là “Mạng đổi mạng tại đây”.
— Hương thân Hồ Văn Hi xác nhận rằng tên cò Tournier bắn trước, sau đó Mười Chức  mới đâm tên cò. Chi tiết này xác nhận lời đồng bào địa phương đồn đãi cho rằng Mười Chức  là người đầy đủ tiết tháo và chí khí anh hùng : Bị đạn rồi, nhưng còn đủ thần lực và bình  tĩnh để ngã về phía trước mà đâm kẻ thù cho bằng được, đâm rất trúng, rồi mới chịu chết vì bị thương quá nặng !
— Công tố viên Moreau lưu ý với tòa : Có thể là viên thơ ký lãnh trách nhiệm ghi nhận  đơn xin khẩn đất hồi năm 1910 đã trao cho Biện Toại một biên lai nhưng không có đánh số,  với dụng ý dành phần đất ấy cho người khác.
— Lâm Văn Kiết từng có chân trong Hội đồng phái viên đã xác nhận với Hội đồng :  Phần đất tranh chấp là của Biện Toại khai khẩn trước tiên. Công tố viên bèn nói tiếp : Lâm Văn Kiết chỉ là hương chức làng, làm sao dám cãi lại ông phủ (ám chỉ ông phủ H., người  theo phe của bang Tắc).
— Tri phủ Ngô Văn H. khai rằng mặc dầu thấy có tranh chấp về đất đai, nhưng hồi  năm ấy với danh nghĩa là chủ tịch Hội đồng phái viên, ông ta đành buông trôi vì đo lại ranh  rấp đất đai là vấn đề phiền phức. Viên họa đồ đã tốn công đo đất ở làng Phong Thạnh suốt 3 năm rồi. Công tố viên bèn quở trách cho rằng vì công lý không thể viện lý do là mất thời giờ,  nếu thấy bất công là phải đo đạc, xem xét ranh đất trở lại. Công tố viên nói thẳng : lề lối của phủ H. trong lúc làm chủ tịch Hội đồng phái viên thật là bừa bãi, vì phủ H. bừa bãi nên xảy  ra vụ án bi thảm này.
Bị luật sư chất vấn, phủ H. đành thú nhận rằng chính anh của ông ta chớ không phải ông ta là người đang hùn vốn với bang Tắc để khai thác hai chiếc tàu đò đang chạy trên  đường Bạc Liêu, Cà Mau mang tên là tàu Hồ Nam và Hồ Bắc.
— Khi bang Tắc (Mã Ngân) ra làm chứng, ông ta bảo rằng khong hối hận gì cả. Viên hội  thẩm hỏi Mã Ngân : “Dân chúng cho rằng đáng lý ra ông phải chết thay cho viên cò  Tournier”. Mã Ngân nín, không trả lời.
— Qua lời khai của bà Hồ Thị Tr., công chúng thấy có sự sắp sặt của bang Tắc để bán lại cho bà ta phần đất tranh chấp, vì ba ta đủ sức ăn thua công khai hơn. Mã Ngân muốn  phủi tay.
Trước khi buộc tội, Công tố viên Moreau yêu cầu Tòa nên thận trọng trước khi phán  quyết. Công tố viên nhắc lại rằng vụ này xảy ra sau vụ án Ninh Thạnh Lợi hồi năm ngoái.  Vụ này chứng tỏ dân chúng đang sống trong tình trạng căng thẳng và vấn đề đất đai là chuyện nghiêm trọng. Người ta có thể xúc phạm bất cứ chuyện gì, nhưng nên tránh xúc  phạm tới điền thổ. Mã Ngân chỉ là người mua đất để cho tá điền mướn lại, trong khi Biện  Toại là người đích thân canh tác. Công tố viên trách cứ bà Hồ Thị Tr. là giàu có (tài sản ước  từ 2 đến 300.000 đồng lúc bấy giờ) mà quá nhẫn tâm đòi tịch thu tất cả lúa gặt hái được của  Biện Toại lại còn đòi thêm một số tiền khác. Công tố viên bảo rằng hoàn cảnh của Biện Toại  thật là khốn nạn : Những người không tình cảm đến giựt đất, rồi bọn quyền thế lại tiếp tay với bọn người sang đoạt. Công tố viên Moreau yêu cầu Tòa :
— Tha bổng Biện Toại và con là Tia.
— Cho cô Trọng được hưởng trường hợp giảm khinh (ra trước Tòa cô Trọng cứ chối là  không có cầm dao, mặc dầu đủ bằng cớ).
— Cho Miều (em rể của Biện Toại) được hưởng trường hợp giảm khinh, mặc dầu Miều  đã ba lần bị can án ăn trộm.
— Tha bổng cô Liễu (em Biện Toại, vợ của Miều) vì thiếu bằng cớ.
Luật sư Tricon đứng lên biện hộ, đại ý nhận định đây chỉ là vấn đề điền địa. Ông cho  rằng chánh sách trưng khẩn ruộng đất hồi thời nhà Nguyễn thật là công bằng và thích hợp với thực tế, trong khi những luật lệ về trưng khẩn đất đai do người Pháp đặt ra chưa được  hoàn hảo có thể gây nhiều rắc rối lúc áp dụng vào thực tế. Thời gian quá kéo dài, từ khi đương sự được tạm cấp đất đến khi được cấp vĩnh viễn; vì vậy mà xảy ra cưỡng đoạt, gian  giảo. Những người trong Hội đồng phái viên chỉ ngồi tại chỗ, không chịu bước chân xuốn  bùn mà tới sở đất để xem xét. Họ quyết định theo ý kiến cho những người lương thiện hoặc kém lương thiện báo cáo lại.
Luật sư Tricon kết luận đại để :
— Biện Toại đã tranh đấu với rừng rậm để khai phá và tranh đấu với tử thần. Sau một  ngày làm lụng khổ nhọc, anh em trở về chòi, sau khi ăn cơm, họ cho rằng chết có lẽ sướng  thân hơn là sống trong hoàn cảnh nhọc nhằn. Sau khi tranh đấu với tử thần (có lẽ luật sư muốn nói tới bịnh rét rừng), anh em trong gia đình lại còn phải tranh đấu với những người  khác, tức là bọn người chỉ biết có đồng tiền, làm giàu bằng thủ đoạn sang đoạt. Sau khi tranh đấu với bọn người nói trên, họ còn phải tranh đấu với thủ tục pháp lý. Chúng ta,  những người Pháp, nên xây dựng ở xứ này một chế độ độc tài. Không phải độc tài bằng sức mạnh của súng đạn, nhưng là sự độc tài của tình cảm cao đẹp.
Luật sư Zévaco đứng lên biện hộ, ca ngợi lời buộc tội của Công tố viên, vì Công tố viên  đã lưu ý đến sự thật, đến công lý và cả lòng nhân đạo. Luật sư phân chia ra hai vụ án, vụ tranh chấp điền thổ và vụ án giết người.
Luật sư cho rằng chánh sách của nhà nước thì tốt, nhưng nhiều người thừa hành xấu  đã làm cho chánh sách trở nên xấu đối với dân chúng. Việc cai trị trở thành xấu nếu các  quan phủ (chủ quận) là người ác độc. Sau khi xảy ra thảm trạng, có lẽ nhà nước nên nói  thẳng với Mã Ngân : “Chúng tôi trả lại cho ông số tiền 1.080 đồng mà ông đã xuất ra theo  giá của nhà nước để mua phần đất của Biện Toại. Và xin ông để nhà nước được yên”. Luật  sư nhắc lại ý kiến của Công tố viên là muốn cho bộ máy cai trị có lề lối đứng đắn thì phải sa thải những kẻ bất lương. Luật sư nói thêm rằng : Đuổi những tên bất lương ở cấp dưới cũng  chưa đủ, phải đuổi những người ở cấp cao hơn mà bấy lâu nhà nước đã tin cậy. Nên sa thải vài ông phủ, ông huyện bất hảo. Chúng ta đã thấy rõ hành động của cặp bài trùng : Mã Ngân cấu kết với một ông phủ chủ quận. Tên chánh phạm của tấn kịch đẫm máu này chính  là phủ H.
Trạng sư Zévaco cũng xin tòa tha thứ cho các bị can và lên tiếng : Xin qů ngài đừng  đưa ra một bản án nghiêm khắc, một bản án được luận ra vì phẫn nộ. Bởi vì những người  nông phu khốn nạn này mai đây cũng sẽ bị trừng phạt khá đầy đủ rồi, khi họ trở về tới nhà.  Thừa phát lại sẽ tới để tịch thâu số lúa của họ, và lần này, quý tòa có thể tin rằng không  bao giờ xảy ra vụ nổi loạn nữa đâu. Thưa quý tòa, lần này sẽ có một bà lão khóc về cái chết  của bốn đứa con. Bốn người này đã chết, vì họ tưởng rằng có thể tự lực gìn giữ phần đất  ruộng mà họ đã từng rưới mồ hôi và máu của họ trên đó.
Một số người Pháp ở Cần Thơ và ở vài tỉnh lân cận đã đến xem phiên tòa gay cấn này,  họ tỏ ra hài lòng với bản án. Vài người ở Phong Thạnh xin gặp những người bị tội và xin  phép cho tội nhân ăn bữa cơm với thức ăn đem sẵn.
Một tiệc bày ra tại Cần Thơ để thết đãi hai vị luật sư và ký giả của các báo Pháp và  Việt, do một số đồng bào ở Phong Thạnh và một số nhân sĩ như các ông Huỳnh Minh Chí, Nguyễn Duy Biện, Nguyễn Viết Trọng ở Giá Rài, ông Bùi Văn Túc ở Long Điền. Nên hiểu  đây là thói trung hậu và hào hoa cố hữu của dân Bạc Liêu xưa nay. Một đại diện đứng lên  cám ơn hai luật sư và bà hương chánh Luông cũng đến cám ơn họ.

 Sơn Nam – Trích Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam.

 

Anh Vươn đang đối diện với thứ luật pháp nổi tiếng rừng của cộng sản. Biếm hoạ Đàn Chim Việt.

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

CheVietNam

ChimBaoBao

QuêChoa

 TruongHoangSa

 Đàn Chim Việt

VietNamExodus

Phạm Viết Đào


Nhớ Ơn Tổng Thống Václav Havel – Nguyễn Kim Phụng

 Cựu Tổng Thống Václav Havel 1936- 2011.

Bài đọc suy gẫm: Nhớ Ơn Tổng Thống Václav Havel hay Cựu Tổng Thống Václav Havel và người Việt Nam của tác giả Nguyễn Kim Phụng. Có thể nói đây cũng là nhật ký của người Việt tại Cộng Hòa Séc (Czech Republic) kể lại  một giai đoạn lịch sử thay đổi quan trọng về việc khối cộng sản tan rã tại Âu Châu, đồng thời nói lên sự biết ơn đối với Cựu Tổng Thống Václav Havel.  Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.


  

Người Việt tại Brno tiễn biệt cựu Tổng thống Václav Havel 


Lời giới thiệu: Vaclav Havel sinh ngày 5 tháng Mưòi 1936, tại Prague, Tiệp Khắc. Cha của ông là một thương gia giầu có. Khi cuộc đảo chánh do những phần tử được Moscow hỗ trợ nắm quyền Czechoslovakia vào năm 1948, gia đình ông bị liệt vào danh sách “kẻ thù của giai cấp”, và bị tịch thu tài sản. Bản thân ông, bị cấm không được học quá chương trình tiểu học. Ông học xong trung học một cách lén lút, vào ban đêm, trong khi ban ngày làm chuyên viên phòng thí nghiệm. Bị bác đơn xin học ngành nghệ thuật, ông học kinh tế tại Đại học Kỹ thuật Czech. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1957, phục vụ quân đội trong hai năm.
Nhà soạn kịch, chính trị gia, nhà đối kháng, ly khai và tranh đấu cho nhân quyền. Bị bắt 4 lần, trải gần 5 năm trong tù, 1977-89. Được dân bầu làm tổng thống Tiệp (Czechoslovakia), 1989; và bầu làm tổng thống Cộng Hoà Czech Republic (1992).
Thập niên 1960, ông sáng tác những bi hài kịch theo kiểu Kafka, nhằm chỉ trích sự phi lý của chế độ thư lại cộng sản. Trong vở kịch dài “The Garden Party” (1963), những nhân viên nhà nước cộng sản đã không làm sao phá huỷ được chế độ thư lại, chỉ vì không làm sao giải được ngôn ngữ mật mã mà nó sử dụng. Thời kỳ đen tối ngay sau khi xe tăng Liên Xô giập nát “Mùa Xuân Prague 1968″, lợi dụng chút tự do ngắn ngủi, ông viết hai vở kịch mang tính hiện sinh, “The Conspirators” và “The Mountain Hotel”.
Thời gian dài sau đó, tiếp theo sau cuộc xâm lăng của Liên Xô, ông quay qua viết chui, với những tác phẩm như Phỏng Vấn, “Interview” (1975), Một Cái Nhìn Riêng Tư, “A Private View” (1975), và Phản Đối, “Protest” (1978). Nhân vật là chính ông, có cái tên là Vanek ở trong những vở kịch kể trên, một nhà ly khai, và nhà văn, bị nhà nước bách hại. Những vở kịch trên đều được trình diễn trong bí mật.
Bà vợ của ông mất vì ung thư, tháng Giêng 1966. Bản thân ông cũng đã trải qua những cuộc điều trị ung thư phổi….

Hình: Cố Tổng Thống Václav Havel và Đức Cố Giáo Hoàng Jean Paul Đệ Nhị và Đức Dalai Lama

Cố Tổng thống Václav Havel và người Việt Nam

Nguyễn Kim Phụng

  Vai trò của cố Tổng thống Václav Havel với người Séc ra sao, với thế giới thế nào, đã có nhiều báo chí và các phương tiện truyền thông đăng tải. Trong bài viết này tôi chỉ muốn nói đến vai trò và tầm quan trọng của Ngài với người Việt Nam đang sống, học tập và lao động tại nước CH Séc.

***

Điều đầu tiên phải khẳng định là nếu không có cố Tổng thống Václav Havel thì tôi cũng không đang ngồi đây và viết bài báo này, bạn thì cũng không đọc nó và nhiều người khác, trong cộng đồng người Việt Nam tại Séc (chắc cũng vào khoảng 60-70 ngàn người) , cũng không có dịp được hưởng một cơ chế tự do như hiện nay, mà có thể đang „kéo cày thay trâu“ ở một cánh đồng nào đó hay đang làm thuê cho một công ty nào đó của ông chủ Hàn quốc, Nhật quốc hay Trung quốc tại Việt Nam. Tôi xin nhắc lại một số điểm chính theo dòng thời cuộc. Vào những năm 1985-1988, thế giới vẫn chia làm hai phe rõ rệt – phe các nước xã hội chủ nghĩa và phe các nước tư bản chủ nghĩa. Lúc đó người ta vẫn nói đến các nước thứ ba, thực chất các nước đó, hoặc là theo định hướng tư bản, hoặc là theo định hướng xã hội chủ nghĩa, chứ thực ra làm gì có ai đứng giữa! Sau khi Ngài Goóc Ba Chốp lên nắm quyền ở LBCHXHCN Xô Viết (Liên xô), với sự hiểu biết sâu sắc về thời cuộc, với tính nhân văn sâu đậm, ông đã quyết định cải tổ và đổi mới và điều quan trọng nhất là thay đổi hệ thống chính trị. Ông Goóc Ba Chốp đã hiểu, rằng chủ nghĩa cộng sản chỉ là giấc mơ và không hiện thực, rằng chủ nghĩa xã hội thực chất là một sai lầm lớn của loài người, rằng với sự ngu dốt kèm theo sự độc đoán của những người „mang danh cộng sản“ không thể đưa xã hội loài người tiến lên phía trước được, vì thế ông đã „hy sinh“ quyền lợi cá nhân của mình, quyền lợi riêng của một lớp người khoác áo „cộng sản“ và chấp nhận thay đổi hiện trạng đang tồn tại trên thế giới này. Với quyết tâm „không can thiệp vào nội bộ của các nước khác“, ông đã để cho lịch sử tự chuyển mình theo dòng thời cuộc. Vào thời điểm năm 1989, những mâu thuẫn sâu sắc trong nội bộ các nước cộng sản, sự trì trệ trong phát triển kinh tế khiến cho xã hội tại các nước cs đã tụt xuống đáy cùng. Không hiếm trường hợp, dân chúng tại các nước cs bị đói ăn, thiếu mặc (ở VN đang thi hành chính sách bù giá vào lương – người Việt nói lái thành „bù đá vào lưng“ – người kỹ sư như tôi lúc đó ở Việt Nam làm không đủ nuôi bản thân chứ đừng nói gì đến chuyện nuôi vợ, nuôi con!).


Hình trên: Cố Tổng Thống chào mừng dân chúng. 

Dưới: Hình chụp với ban nhạc Rốc “Hòn Đá Đang Lăn” của Mỹ- The Rolling Stone với thông điệp: REALIZE, WITHOUT FREEDOM & HUMAN RIGHTS YOU ARE NOT ALLOWED TO MAKE MUSIC AND SING WHAT AND HOW YOU WANT !!!“(tạm dịch:” bạn không thể nào sáng tác nhạc và hát bất cứ gì bạn muốn nếu không có Tự Do và các quyền căn bản của con người).

  Nhân chuyện này chúng ta nhớ tới nhạc sĩ Việt Khang vừa bị cộng sản Việt Nam bắt giam tại Mỹ Tho vì sáng tác những bản nhạc đầy tình yêu nước như “Việt Nam Tôi Đâu” và  “Anh Là Ai?”.  Link You Tube:  http://www.youtube.com/watch?v=R4L1grczk6E

Nhạc Sĩ Việt Khang

Khởi đầu là dân chúng nước Đông Đức, một tủ kính trưng bày của phe XHCN – nhiều „tiền của“ của cả phe dồn vào đây để thế giới nhìn vào, để phe XHCN khoe khoang, rằng CHXN cũng tốt đẹp đấy chứ, cũng phát triển đấy chứ!, đã ùn ùn đổ vào các sứ quán của các nước khác để „tị nạn“. Nước Đông Đức, lúc đó ông Hô – Nếk – Cơ đang cầm quyền (TBT đảng CS), đã nhờ Liên xô can thiệp, xong đã bị ông Goóc Ba Chốp phớt lờ. Hàng ngàn người Đức ập vào sứ quán Tây Đức tại Tiệp khắc, tại Hung Ga Ri…khiến tình hình chính trị, xã hội của các nước phe XHCN trở lên căng thẳng và rối tinh rối mù. Bản thân chính quyền Tiệp Khắc (lúc đó do ông Husák lãnh đạo) đã đành phải tổ chức một đoàn tàu hỏa đưa dân Đông Đức đi qua Tây Đức. Đến tháng 11 năm 1989, sinh viên và giới trí thức tại Tiệp khắc đồng loạt xuống đường biểu tình đòi thay đổi thể chế chính trị tại đây. Ban đầu, chính quyền cs Tiệp Khắc đã cho cảnh sát, quân đội đàn áp biểu tình. Thay vì nghe lệnh chính quyền, những „viên chức mẫn cán của chế độ cộng sản thối nát“ đã quay sang ủng hộ dân chúng. Đến cuối tháng 11, biết không thể thay đổi được xu thế thời cuộc, ông Husák đành phải tuyên bố từ chức và trao quyền lãnh đạo cho người khác. Người lãnh đạo tạm thời đã tuyên bố tổ chức tổng tuyển cử và như ta đã biết, cố tổng thống Václav Havel, người được thế giới biết nhiều qua „Hiến chương 77“ đã thắng cử và được bầu làm Tổng thống đầu tiên của Liên bang Tiệp Khắc (hậu cộng sản) – Cần biết là vị Tổng thống đầu tiên của liên bang Tiệp khắc (không cộng sản) là cố TT T.G Masaryk. Sau khi lên cầm quyền, cố Tổng thống Václav Havel cùng với những người trong „Diễn đàn công dân“ đã thành lập chính phủ – vị Thủ tướng đầu tiên là Václav Klaus, hiện là TT nước CH Séc. Chính phủ mới cùng Quốc hội mới đã ban bố luật mới – một bộ luật dân chủ, đầy tính nhân quyền.

Ban đầu, nhiều người Việt nam đã bỏ chạy sang Tây Đức vì sợ bị „phủi“ đánh (sau khi nhậm chức TT, Václav Havel đã ban bố lệnh ân xá và thả thù nhân, trong đó có rất nhiều tội phạm). Chính phủ mới đã „không ra lệnh trục xuất người Việt nam (đang học tập và lao động tại đây) về nước. Ngược lại, nhờ chính sách cho tự do kinh doanh, những người Việt Nam, có đôi chút hiểu biết, đã kịp thời xin giấy phép kinh doanh hoặc thành lập công ty, nhờ đó đã „trụ lại được ở đây“. Khi tình hình xã hội đã bắt đầu ổn định, từ năm 1991, những người „bán trụ lại“ đã làm giấy mời (gia đình, bạn bè) hoặc xin giấy phép lao động (cho người cùng làm công ty) tạo điều kiện để đưa người nhà, bè bạn sang Séc.

Cũng cần phải nói, rằng giai đoạn 1991-2001 là thời kỳ „cơn mưa vàng“, không những cho các doanh nghiệp người Séc mà còn cho đại đa số người Việt đang sống tại đây. Chính nhờ chính sách thông thoáng và nhân đạo của nước Séc, hàng chục ngàn người Việt nam, từ hai bàn tay trắng hoặc vốn liếng „đủ mua một chiếc xe babeta“, đã trở thành triệu phú. Hàng ngàn người Việt đã đưa được cả gia đình, cả „họ hàng hang hốc“ sang đây, thoát cảnh „sáng lo bữa trưa, trưa lo bữa tối“.

Các trẻ em Việt Nam tại Séc


 

Thế hệ ba của người Việt Nam tại Séc

Có thể nói một cách không ngoa, rằng nếu không có cố Tổng thống Václav Havel lên cầm quyền năm 1989, hàng trăm ngàn người Việt nam sẽ không biết thế nào là „miếng ăn ngon“, không biết thế nào là „mặc đẹp“ chứ chưa nói gì đến mua nhà mua cửa, đi xe X nọ X kia. Cộng đồng người Việt nam hiện nay ở đây (chỉ trừ những người hiểu biết quá ngắn) vì thế hãy ghi nhớ lấy công ơn của cố Tổng thống Václav Havel và bằng những việc làm cụ thể của mình để quan hệ của cộng đồng VN tại đây với xã hội Séc „càng ngày càng gắn bó“. Thay cho lời viếng, đây là những lời tâm huyết của một người đã được „ơn“ của nhân dân Séc, đã được sống, học tập tại đây, đã được hưởng nhiều điều tốt đẹp của chế độ dân chủ!

Kỹ sư Nguyễn Kim Phụng – cựu sinh viên trường đại học bách khoa Praha – Tiệp Khắc (ČVUT)


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Cộng Đồng CZ.

EIC-VN

You tube Rolling stone & Václav Havel


Tổng Thống Xin Lỗi – Anne Khánh Vân

Bài đọc suy gẫm: Tổng Thống Xin Lỗi hay Chuyện Nước Mỹ, Chuyện Việt Nam của Anne Khánh Vân, người đoạt giải thưởng Viết Về Nước Mỹ về viết văn hay nhất trong năm -do Việt Báo Nam California tổ chức. Nhân dịp năm mới 2012.  Mười Sáu mời các bạn cùng chia xẻ với tác giả bài đọc lý thú này, cùng thân chúc các bạn đọc, thân hữu một năm gặt hái, bội thu từ những niềm tin của mình. Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

Chuyện Nước Mỹ – Chuyện Việt Nam


Anne Khánh Vân
Tác giả đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2007.  Sinh năm 1974 tại Saigon, tốt nghiệp kinh tế tại Pháp, Anne Khánh Vân hiện sống và làm việc cho một công ty quốc tế tại Virginia. Bài mới nhất của cô là những ghi nhận có nhiều chất thời sự.
***

“Cold beer, warm words” – “Bia lạnh để đưa lời ấm áp” là nhan đề của nhiều bài báo Mỹ hôm 30 tháng 7, 2009, tường thuật buổi gặp gỡ giữa Tổng thống Obama, giáo sư da màu nổi tiếng của đại học Harvard: Henry Louis Gates, và vị trung sĩ cảnh sát da trắng nhiều thâm niên và thành tích: James Crowley.  Sở dĩ phải đưa lời ấm áp là vì chính Tổng thống Obama lỡ lời.

Tổng Thống da màu Barack Obama (phải) , Phó Tổng Thống da trắng Joe Biden (trái, aó trắng)vui vẻ cụng ly với ông cò da trắng James Crowley (giữa, cà vạt đỏ) và ông giáo sư da màu Henry Louis Gates (trái,ngoài cùng).

Ông giáo sư da màu vừa bay từ bên Tầu về nhà. Ổ khoá cửa trước bị phá hư. Ông và người tài xế phải cạy cửa sổ trèo vô nhà. Một bà qua đường thấy khả nghi, mở cell phone gọi. Cảnh sát đến, ông giáo sư danh tiếng không chịu ra trình giấy, bị còng dẫn về bóp, nửa buổi rồi thả.
Chuyện chỉ có vậy nhưng truyền hình báo chí ầm ĩ.  Sau đó, trong một buổi gặp gỡ giới truyền thông, thình lình bị hỏi về chuyện này, Tổng Thống Obama lên án phía cảnh sát là “hành động ngu xuẩn” (acted stupidly) dù chính ông đã xác nhận chưa thật sự hiểu rõ chi tiết sự tình.
Nội vụ được làm rõ: Khi đến nhà giáo sư Gates, ông cò James Crowley không đi một mình mà còn hai ông cò đồng nghiệp: một ông gốc Phi châu và một ông gốc Mễ.  Biện pháp hành xử nghiệp vụ được thực hiện đúng luật. Và phía cảnh sát lên truyền hình, với đủ màu da đứng bên nhau, đòi Tổng Thống xin lỗi.
Chiều tối xong việc, ông cò James và bạn bè kéo nhau vô một quán bia.  Đang nhâm nhi thì điện thoại sở gọi: Hãy sẵn sàng. Mười phút nữa Tổng Thống sẽ điện thoại.  Tin được loan ra, cả quán bia cùng “wao” rồi yên lặng chờ đợi.  Đúng là Tổng Thống đích thân gọi, đích thân nhận lỗi lỡ lời và thăm hỏi.  Biết James đang trong quán bia, ông hẹn một chầu bia làm lành ở Bạch Ốc. Và màn “Beer Summit -Thượng Đỉnh Bia” thành hình.
Một chiều Thứ Năm đẹp trời, sau giờ làm việc, vị Tổng tư lệnh của quân lực Hoa Kỳ đóng vai “batender-in chief / tổng tư lệnh quầy rượu,” khui bia cho các vị khách.  “Chỉ có bia thôi. Không thượng đỉnh gì hết.”  Tổng Thống da màu Barack Obama nói, và cùng Phó Tổng Thống da trắng Joe Biden vui vẻ cụng ly với ông cò da trắng James Crowley và ông giáo sư da màu Henry Louis Gates.
Sau 40 phút “Cold beer, warm words”, vị “chủ xị” nói trước khi tiễn khách: “I have always believed that what brings us together is stronger than what pulls us apart.”  Tôi luôn tin là những cái mang chúng ta đến gần nhau mạnh hơn cái đẩy chúng ta tới chỗ chia rẽ.” Ông còn nhấn mạnh thêm rằng vụ bia lạnh đưa lời ấm áp này là bài học đáng giá (“teachable lesson”) nhắc nhớ mọi người, đặc biệt những người khác màu da –trong đó có chính ông– hãy nên biết lắng nghe nhau, cư xử tử tế với nhau và chớ vội vã trong hành động, lời nói.

Khi chia tay, ông cò Crowley và ông giáo Gates hẹn sẽ còn gặp lại để trò chuyện. Sau đó ông giáo sư Gates gửi tặng hoa hồng cho người phụ nữ đã gọi cảnh sát khi thấy ông cố tông cửa vào nhà. Bà ta chỉ vì muốn bảo vệ an toàn cho ngôi nhà của ông mà sau đó bị nhiều người trách móc “chỉ tại cú phone của bà mà to chuyện.”

Là một người dân mọn hay một vị Tổng thống, ai cũng là con người, ai cũng có những khuyết điểm, ai cũng có thể phạm sai lầm.  Điểm đáng chú ý ở đây không phải là ai đúng, ai sai, ai hay, ai dở… mà là sự thẳng thắn nhận sai và trực tiếp dàn xếp xin lỗi, dù người lỡ lời có là một Tổng thống.
Việc mời giáo sư Gates và cảnh sát Crowley vào Bạch Cung uống bia lạnh, nói lời ấm áp tượng trưng cho văn hóa Hoa Kỳ: Thẳng thắn và phục thiện.  Nhờ vậy, không chỉ riêng sự hiềm khích giữa hai cá nhân khác màu da được mau chóng hàn gắn, mà lòng dân cả nước được xoa dịu, củng cố.
Có phải chỉ ở Mỹ mới có những chuyện như thế này?  Có phải chỉ dân chúng Mỹ mới dám đòi Tổng thống phải xin lỗi nếu Tổng thống làm sai?  Và có phải chỉ ở Mỹ mới có ông Tổng thống đủ “dũng khí” nhìn nhận với dân chúng rằng điều mình nói là sai và mạnh dạn xin lỗi?
Còn Việt Nam hiện nay thì sao?  Chán vạn cái sai của lãnh đạo đã được dân chúng và cả báo chí truyền thông của chính chế độ đề cập tới. Hậu quả ra sao?  Chỉ là các biện pháp trù dập, đóng cửa, cất chức, đuổi việc, đi tù.
Tôi chỉ ngu ngơ nghĩ, nếu người lãnh đạo Việt Nam có được cái dám nghe và dám sửa những cái sai của họ, đất nước chúng ta sẽ dần dà biến mất sự giả dối, lường gạt lẫn nhau. Từ căn bản này, sự tin tưởng và kết hợp giữa người dân và các cấp chính phủ mới mong tạo được sức mạnh thực sự.  Ai có muốn ăn hiếp hay xâm lăng, cũng không dễ!

***

Không đầy một tuần sau vụ “cold beer, warm words,” ngày 4 tháng 8, thời sự nước Mỹ lại có thêm một chuyện đáng chú ý khác:

Truyền hình Mỹ thi nhau chiếu cảnh máy bay của cựu Tổng thống Bill Clinton vừa từ Bắc Hàn trở về California.  Ông đã thành công trong việc “ngoại giao” để cứu hai cô phóng viên Laura Ling và Euna Lee – bị bắt giam từ ngày 17 tháng 3 với tội trạng “xâm phạm lãnh thổ Bắc Hàn.”  Họ bị tuyên án 12 năm tù khổ sai.

Cựu Phó Tổng Thống Al Gore (đứng giữa Laura Ling – áo nâu và Euna Le – áo xám) đang phát biểu trong buổi họp báo cấp tốc ngay khi phi cơ vửa đáp xuống phi trường Burbank, California.  Góc trái là cựu Tổng Thống Bill Clinton, người thành công trong vai trò sứ giả ngoại giao.


Laura Ling và Euna Lee làm việc cho hãng truyền thông Current TV – được sáng lập và điều hành bởi cựu phó Tổng thống Al Gore.  Hai cô đến biên giới Trung Quốc và Bắc Hàn để tìm hiểu tệ nạn phụ nữ và trẻ em Bắc Hàn bỏ trốn sang Trung Quốc tìm miếng ăn, lỡ bước sao đó bị Bắc Hàn bắt nhốt, tuyên án 12 năm khổ sai.  Sau gần 5 tháng bị nhốt giam cách ly, hai phóng viên đã được trả lại tự do, trở về Mỹ.  Nếu cựu Tổng thống Clinton không sang kịp thì bất cứ giờ nào trong 2 ngày sau đó, hai cô phóng viên sẽ bị đưa đi thi hành bản án 12 năm tù khổ sai.  Họ đã bị khủng bố tinh thần và hoang mang, thấp thỏm chờ đợi… Cuối cùng họ cũng được đưa đi… nhưng không phải đến nhà tù khổ sai mà là một nơi khiến họ ngạc nhiên ứa nước mắt khi nhìn thấy cựu Tổng thống Clinton đứng chờ sẵn trong phòng. Ác mộng của họ được kết thúc.
Vụ hai nhà báo được cứu từ Bắc Hàn về làm tôi nhớ câu chuyện ly kỳ hấp dẫn của cô Jessica Lynch. Năm 2003, tại chiến trường Iraq, một đơn vị xe tăng Mỹ bị tấn công khi lạc đường.  Jessica Lynch là nữ chiến binh duy nhất còn sống sót trong chiếc xe tăng tiếp tế lương thực.  Toán tiếp tế của cô đã lạc đường và bị tấn công.

Cả một lực lượng đặc biệt với chiến lược và chuẩn bị vô cùng công phu đã bí mật đến cứu thoát cô Jessica Lynch sau 9 ngày bị bắt.  Tôi còn nhớ khi xem đoạn phim chiếu chi tiết cảnh toán biệt kích đến cứu Jessica Lynch, tôi đã xúc động và khâm phục người Mỹ ra sao.  Họ quý trọng từng tính mạng.  (Hình dưới Jessica Lynch)

 

Cựu Tổng thống Clinton đi Bắc Hàn chỉ với tư cách cá nhân, máy bay chở ông đi cũng chỉ là một máy tư nhân, được tài trợ bởi nhà sản xuất phim Hollywood giàu có: Steve Bing.

Điều đáng chú ý khác, là hai phóng viên được cứu cũng không phải là người Mỹ da trắng; Laura Ling gốc Trung Hoa, Euna Lee thì gốc Đại Hàn. Họ cũng như những người Mỹ gốc Việt chúng ta nói riêng, và nhiều dân tộc thiểu số lưu vong khác nói chung.
Thế mới rõ, một khi đã sống ở Mỹ, trở thành công dân Mỹ thì dù trắng, đỏ, đen hay vàng… mọi người dân đều được quý trọng.
Đâu cần cứ phải là người Mỹ gốc da trắng như cô Jessica Lynch bị bắt làm tù binh bên Iraq thì mới được quan tâm giải cứu.

Lời của cựu phó Tổng thống Gore khi phái đoàn của cựu Tổng thống Clinton về đến Mỹ cùng hai phóng viên, rất đáng để ý, “It speaks well of our country that when two American citizens are in harm’s way, that so many people will just put things aside and just go to work to make sure that this has had a happy ending.” Đã có rất nhiều người sẵn sàng bỏ việc của họ sang một bên, góp công sức và thời gian vào việc cứu thoát hai phóng viên gặp nạn, để bảo đảm một hồi cuối có hậu.

Thấy sự quan tâm của nước Mỹ, người Mỹ dành cho những công dân của họ, không khỏi liên tưởng đến số phận bất hạnh của người dân trong nước.  Những người dân lương thiện không làm gì phạm pháp, chỉ vì yêu dân yêu nước mà nói sự thật thì đều bị đàn áp.  Hết người này đến lượt khác bị đối đãi tệ hại.
Nhiều sự việc cho thấy là trước khi phải thương lượng gì đó với Tây phương, nhà nước Việt Nam thường mở một cuộc đàn áp lớn, bắt giam cả lô người.  Để rồi khi vào thương lượng, bị yêu cầu phải thả tù chính trị và cải thiện nhân quyền trong nước… họ sẽ “tỏ thiện chí” bằng cách thả mấy người bị bắt.  Kết quả là nhờ vậy mà sẽ được “tưởng thưởng”.  Màn này thường được diễn đi diễn lại và đạt kết quả, giúp Việt Nam được Mỹ mở rào cản cho gia nhập WTO, đạt được nhiều thoả thuận thương mại với Mỹ.
Điều này thật chẳng khác nào hành hung đày đọa dã man chính con đẻ của mình để mè nheo hàng xóm.

Thời tôi còn bé xíu, gần nhà tôi có ông láng giềng nghiện rượu có tật hay đánh đập con cái dã man. Nghe lũ trẻ của ông ta kêu khóc, cha mẹ ở các nhà xung quanh sốt ruột quá phải chạy sang can. Có người còn nài nỉ ông đừng đánh con ông nữa, họ sẽ mua rượu ông uống.  Từ đó, cứ hễ thèm rượu thì ông hàng xóm lại mang con ra đánh đập.  Chuyện bi hài này hiện đang được phóng lớn lên kích thước lãnh đạo cả nước Việt Nam.  Đọa đày hành hạ người dân của chính đất nước mình để để có chuyện thương lượng trả giá với quốc tế.

Nước Mỹ không phải là mẹ ruột mà chỉ là “mẹ nuôi” của hàng trăm triệu đứa con lạc loài từ hàng trăm nòi giống khác nhau, trong đó có dân gốc Việt.  Vậy mà bà mẹ nuôi ấy đã cưu mang và thương yêu các con dù không phải là ruột rà của bà.
Mỗi khi xảy ra điều gì bất công với dân Việt trong nước thì người Việt hải ngoại thường hô hào và kêu gọi “mẹ nuôi Mỹ” giúp đỡ.  Nhưng dù mẹ nuôi Mỹ có tốt bụng, và những đứa con Việt Nam sống xa quê hương có “xót ruột” cho đồng bào trong nước mà hô hào, biểu tình đòi hỏi thì cũng vẫn không đủ.
Chính người dân Việt trong nước phải tự ý thức mà đấu tranh cho nhu cầu và quyền lợi chính đáng của họ.

***

Hôm Micheal Jackson chết, chỉ vài ngày rất nhanh sau đó, chưa thấy báo chí Mỹ đăng tải hình ảnh dân Mỹ khóc… thì đã có một bài viết “Mưa và nước mắt trong buổi tưởng niệm Micheal tại Việt Nam,” với khá nhiều hình ảnh các em Việt Nam khóc lóc, bưng hình, đốt nến, kéo đi thành đoàn dài… Y như một đám tang lớn được chính thức tổ chức cho Micheal Jackson tại công viên Thống Nhất Hà Nội.

Là ông hoàng nhạc Rock, Micheal Jackson đáng được nhớ đến cho những đóng góp xuất sắc của ông.  Nhưng hình ảnh các em bé Việt bị bắt đi tập họp ôm nhau khóc Micheal Jackson chỉ là trò dựng cảnh, đóng kịch, để chụp hình lòe thiên hạ, chứ chẳng thật chút nào.

Phải chăng báo chí người lớn tại Việt Nam cần màn khóc giả này để lấp liếm đủ thứ chuyện thật sự đáng khóc:
- Trung Quốc xây đập chận nước ở thượng nguồn sông Cửu Long. Vựa lúa miền Nam ở đồng bằng Cửu Long phía hạ nguồn đang bị đe dọa tiêu vong. Lúa má, mùa màng, lưới cá dân miền Nam rồi sẽ ra sao?
- Trung Quốc sang Việt Nam khai thác quặng Bô-Xít ở Tây Nguyên sẽ gây thiệt hại nặng nề đến môi sinh.  Hàng trăm công trình xây dựng căn bản tại Việt Nam, kể cả con đường huyết mạch nhất của đất nước, đang được giao cho nhà thầu Trung Quốc. Báo Việt Nam chính thức loan tin có 35,000 công nhân Trung Quốc đã chính thức vào Việt Nam. Thực tế không kiểm soát nổi có thể cả trăm ngàn. Họ đang thiết lập ngay trong nội địa Việt Nam nhiều căn cứ, lãnh địa.
- Lãnh thổ Việt Nam, cả đất đai lẫn biển cả đang bị mang dâng cho Trung Quốc. Gần đây nhất, ngư dân Việt Nam bị Trung Quốc bắt giữ, thuyền cá dân Việt bị “tầu lạ” húc chìm, không thấy nhà nước nào lên tiếng.  Trong khi ấy dân biểu tình đòi bảo vệ đất nước thì bị dẹp bỏ, bắt bớ.
“First class society is built only by first class citizens.”  Một xã hội, một đất nước hảo hạng phải được xây dựng và bảo vệ bằng những công dân hảo hạng.  Điều đó hầu như là chân lý trong lịch sử nhân loại.
Nhưng một đất nước sẽ không thể nào sống còn, cường thịnh nếu mọi cố gắng từ nhân dân đều bị chính cái chính phủ của họ dập tắt.  Nếu không có sự tự nỗ lực từ phía chính phủ thì dù người dân mọn, dân-hoàn-chỉnh, hay dân-hảo-hạng có cố gắng bao nhiêu cũng bằng thừa.
Winston Churchill, một vị lãnh đạo tài ba của thế giới đã căn dặn hậu thế rằng, “The healthy citizens are the greatest asset of any country can have.”

Phải quý dân và vì dân mới bảo vệ được biên cương, dân tộc, và tài nguyên.  Không bất cứ một cá nhân nào, dù là tài thánh, có thể cứu được đất nước chúng ta nếu lãnh đạo đất nước chỉ dùng dân như một thứ “con tin”, như miếng mồi, để mua lấy quyền lực cho họ.

 

Hình từ các báo trong nước đăng về biến cố Michael Jackson tại Việt Nam. (Xem thêm ở đây).

Khi tôi viết bài này, có tin Thượng nghị sĩ Jim Webb, chủ tịch Uỷ Ban Đông Á-Thái Bình Dương của Thượng Viện Hoa Kỳ đang viếng thăm các nước trong vùng Đông Nam Á: Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt và Cambuchia để chuẩn bị một số dự án cho tương lai.  TNS Jim Webb đã hội kiến tổng thống độc tài Miến Điện Than Shwe.  Hai vấn đề được nêu ra là xin trả tự do cho cựu chiến binh Yettaw và Aung San Suu Kyi.
TNS Jim Webb đã được chấp thuận giải cứu Yettaw, và được đồng ý một cuộc gặp gở thăm hỏi vị nữ anh hùng đấu tranh cho dân chủ Miến Điện Aung San Suu Kyi.  Cựu chiến binh Yettaw sẽ được mang ra khỏi Miến Điện sáng chu nhật 16-08.
Thượng nghị sĩ Jim Webb vốn rất thân thiện và có nhiều kỷ niệm với Việt Nam đặc biệt vùng đất cũng như người dân xứ Quảng (cũng là xứ sở của số ngư dân đang bị Trung Quốc bắt giam). Nhưng sự cố gắng của TNS Jim Webb nói riêng và Hoa Kỳ nói chung cũng sẽ chỉ kết quả nếu có sự nỗ lực thật sự từ phía người dân và chính quyền Việt Nam.
Liệu đến bao giờ nước Việt mới có được một chính quyền biết kết hợp với sức mạnh dân tộc để tự cứu chính mình?
Anne Khánh Vân

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Anne Khánh Vân Blog Spot 



Noel Không Chúa – Tạ Phong Tần

Vòng hoa Giáng Sinh trước Đài Tưởng Niệm Tử Sĩ Trong Chiến Tranh Việt Nam tại Washington. (The VietNam Memorial Christmas Tree in Washington DC.)

Bài đọc suy gẫm:  Nhân dịp Noel về, Blog Mười Sáu xin thân chúc quý bạn đọc mùa Giáng Sinh an lành. Đồng thời mời gọi tất cả chúng ta cùng suy gẫm với “Noel Không Có Thiên Chúa tại Việt Nam” của Tạ Phong Tần. Chị hiện lại đang bị tà quyền  bắt giam vô cớ từ nhiều tháng nay. Với những nhận định tinh tế và bài viết sắc bén này chị chỉ ra những mưu đồ thầm kín của người cộng sản trong lãnh vực tôn giáo. Tức biến những ngày lễ quan trọng của các tôn giáo thành những ngày lễ hội, trở thành những dịp để ăn chơi, xa hoa, quên đi mục đích, ý nghĩa chính của ngày lễ.  Hình ảnh “hoành tráng” về Noel tại Sài Gòn-Hà Nội chỉ có tính cách minh họa.

Trong tất cả những bài báo có nội dung viết về lễ Noel không có bài nào chứa cụm từ “Thiên chúa’, “Chúa Hài đồng”, “Giê-su”, nói gì đến tên “Giu-se” hay “Maria”. Thật không có gì bi hài hơn khi viết bài về lễ Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta) nhưng lại không có Thiên chúa trong bài báo.

Linh mục Phêrô Nguyễn Quang Duy – Chánh xứ Giáo xứ Mẹ Hằng Cứu Giúp (nhà thờ Kỳ Đồng) cho biết Ngài lấy làm buồn khi thấy Noel không còn nét riêng mà dần dần trở thành một kiểu lễ hội bình thường như tất cả những lễ hội đang được tổ chức rầm rộ ngày một nhiều ở Việt Nam. Người ta lợi dụng lễ Giáng sinh như một cái cớ để lao vào để ăn chơi, để hưởng thụ, để kinh doanh, rồi sau đó, không ít thiếu nữ trẻ đã phải vào bệnh viện giải quyết cái thai ngoài ý muốn – kết quả của “một chút kỷ niệm đêm Noel năm ngoái”.
Nếu không chính mình đến nhà thờ Công giáo tham dự lễ Noel, mà chỉ đọc tất cả những bài viết trên báo “lề phải” ở Việt Nam, người đọc sẽ thấy người Việt Nam mừng ngày Thiên chúa giáng sinh bằng một lễ hội… không có Thiên chúa.

Lễ Noel có nguồn gốc từ câu chuyện Chúa Giê-su giáng sinh làm người. Trước đó, ngôn sứ đã gặp bà Maria và loan báo: “Này đây, trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là ‘Thiên Chúa ở cùng chúng ta’ ”. Noel là cách gọi tắt của từ Emmanuel mà ra. Để đón mừng ngày Thiên chúa giáng sinh, người Ki-tô hữu lại chuẩn bị trang hoàng nhà cửa, làm hang đá mô tả cảnh chúa Hài đồng ra đời, thật đẹp, thật lộng lẫy, tổ chức những nghi lễ trang trọng mừng Chúa hiện diện giữa loài người. Lâu ngày, lễ Noel không còn là ngày lễ riêng của Ki-tô hữu, mà đã trở thành một ngày hội vui vẻ của toàn thế giới, tất cả mọi người có đạo hay không có đạo cũng đều tham gia.

Noel – Hà Nội.



Hình chụp bên trong nhà thờ thì vắng vẻ dù bài viết có tựa đề “Rộn Ràng Ðón Giáng Sinh” của báo điện tử VietnamNet. Người thì đầy ngập đường phố và bên ngoài nhà thờ. Nhưng Thánh lễ Giáng Sinh ở khắp nơi, giáo dân và cả người không phải giáo dân cũng đến dự lễ ngồi chật cứng trong nhà thờ và tràn ra tận ngoài đường ở khắp nơi. (Hình: VietnamNet)

 

 

 

 

Đặc điểm chung của tất cả những bài báo viết về lễ Noel trong nước là thông tin người người đổ xô ra đường để xem những thứ ở ngoài đường (chớ không phải đến các nhà thờ). Tại 3 thành phố lớn nhất nước thì thành phố nào cũng kẹt xe trầm trọng. Ở Hà Nội người ta chen nhau để xem hoa đăng “do các nghệ nhân Việt Nam và Trung Quốc phối hợp thực hiện” dẫn đến tắc đường, và sau đó thì xung quanh hồ Gươm ngập tràn rác ơi là rác đủ các loại. Ở Sài Gòn cũng kẹt xe hàng loạt vì người dân muốn “tận mắt chứng kiến sự kiện “thành phố tuyết” độc nhất vô nhị từ trước tới nay”, “để bán các loại quà Giáng sinh rất dễ thương dành cho trẻ em và giới teen”. Ở Đà Nẵng, người ta tranh nhau mua quà, tặng quà dẫn đến “cháy quà” lưu niệm, tranh nhau xem “Thiên đường ánh sáng” dài khoảng nửa cây số trên phố Lê Duẩn, xem “14 vòm cong trang trí hàng trăm ngôi sao, đèn pháo hoa, đèn chùm… cùng các hiệu ứng ánh sáng được lập trình kỹ lưỡng khiến rất nhiều người đi đường phải xuýt xoa”.

Báo Thanh Niên, Tuổi Trẻ, Vietnamnet còn có những bài nói về lễ Noel của người Việt trong nước. “Từ 19h, nhiều ngả đường tại các thành phố lớn đã chật kín người và xe. Các địa điểm quan trọng trong đêm Noel như những nhà thờ lớn, các điểm vui chơi giải trí, các khu vực trung tâm ở Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, TP.HCM là những nơi nhộn nhịp nhất”. “Nhiều bạn trẻ sau khi chen chúc ở các trung tâm thương mại trên đường Lê Lợi đã tìm đến khu vực tòa nhà Bitexco Financial Tower cao 68 tầng làm nơi chụp ảnh lưu niệm”, “Vui nhộn nhất phải kể đến có lẽ là Cung văn hóa Lao Động trên đường Nguyễn Thi Minh Khai, quận 1. Nơi đây đang có Hội chợ mùa đông thu hút nhiều gia đình đến vui chơi giải trí. Ngay sát mặt đường đơn vị tổ chức đã cho nhân viên của Hội chợ trong vai ông giả Noel, các nhân vật phim hoạt hình vẫy tay chào đón người qua đường. Nhiều em nhỏ được bố mẹ chở đi chơi phố khi thấy cảnh tượng này đã ríu rít đòi xuống chụp hình và bắt tay với ông già Noel tạo ra một khung cảnh vui nhộn và đầm ấm của không khí Noel Sài thành”.

Các báo khác như Lao Động, Dân Trí,… chỉ có bài viết mô tả Noel ở tận đẩu tận đâu các nước khác trên thế giới thật là chi tiết, ngay cả tình tiết một người đàn ông ở Anh muốn… cưới cây thông Noel cũng không bỏ qua.

Dưới ngòi bút của các nhà báo “lề phải”, lễ Noel đơn giản chỉ là vui chơi, giải trí, mua sắm, ăn uống, chỉ là ông già Noel mặc bộ quần áo trắng đỏ, râu tóc trắng cỡi xe tuần lộc đi phát quà, không cần biết ông Noel là ai và tại sao ông lại phải (có nhiệm vụ) mỗi năm đến ngày này tháng này đi phát quà. Một kiểu người có nghĩa vụ “cho” còn con người thản nhiên “nhận” không hề băn khoăn, không hề ái náy về cái sự “nhận vô tư” của mình.

Không biết vô tình hay cố ý mà Vietnamnet đăng hai bức ảnh bên trong nhà thờ vắng ngắt (không rõ nhà thờ ở đâu vì báo không chú thích) cùng một loạt những bức ảnh đường phố đông nghẹt người vui chơi, ăn uống, bày tiệc hẳn ra giữa bãi cỏ ngồi ăn.

Noel cũng là dịp để người ta tống khứ hàng ế dưới cái tên “hàng khuyến mãi”, hàng “sale off” giảm giá từ 30% đến 50% nhưng giá đã giảm rồi mà người mua bắt thang vẫn chưa thể trèo tới.

Noel- Đường Tự Do, Sài Gòn


Báo Tiền Phong (25/12/2010) giật cái tít “Noel: bí chỗ chơi, ‘cháy’ nhà nghỉ”. “Những nơi còn phòng thỏa sức nâng giá gấp ba, bốn so với ngày thường. Một phòng qua đêm có giá 400 – 500 nghìn. Tiến, nhân viên một nhà nghỉ trên đường Trần Duy Hưng ra vẻ chiều lòng khách: “Bốn trăm một phòng qua đêm là giá hữu nghị nhất rồi đó anh. Đi khắp cả đường này cũng không có đâu”. Hai, ba giờ sáng, trên nhiều ngã đường Hà thành vẫn khá nhộn nhịp cảnh người đi chơi, kẻ đi tìm chốn nghỉ. Có mặt đường Hoàng Quốc Việt, dễ bắt gặp cảnh các đôi, các nhóm dừng xe trước các nhà nghỉ, rồi nhanh chóng đi phóng xe đi luôn vì hết phòng”. Người đọc hiểu ngay 9 tháng sau báo này sẽ có bài mới tiếp theo chủ đề: Bệnh viện ‘cháy’ giường…

Hay Vietnamnet thì có bài “Hì hục tìm nhà nghỉ đêm Noel” nội dung tương tự bài của báo Tiền Phong, nhưng nhân vật trong bài là người khác. Tác giả bài viết còn dẫn chứng: “Anh P.T.L một kỹ sư xây dựng than phiền, đi chơi đêm Noel xong mà không thuê được nhà nghỉ ưng ý thì coi như mùa giáng sinh đó tan tành và hết ý nghĩa”.

Bài “Nô nức đón Noel” trên trang báo SGGP hơn 1.000 chữ mô tả về hoạt động mua sắm và các “gói khuyến mãi”, có cả mỹ phẩm, giày dép, dịch vụ chăm sóc sắc đẹp…

“Độc đáo” nhất là bài “Tưng bừng đêm Noel” (Thanh Niên ngày 25/12/2010) có 541 chữ, trong đó chiếm hết 206 chữ nói về hoạt động của lãnh đạo đảng CSVN, Nhà nước, MTTQ Việt Nam đi làm nhiệm vụ “chúc mừng các giáo phận nhân dịp Giáng sinh” rồi, tức là chiếm một nửa số chữ bài báo (không tính tít bài và sapô).

Trong tất cả những bài báo có nội dung viết về lễ Noel không có bài nào chứa cụm từ “Thiên chúa’, “Chúa Hài đồng”, “Giê-su”, nói gì đến tên “Giu-se” hay “Maria”. Thật không có gì bi hài hơn khi viết bài về lễ Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng chúng ta) nhưng lại không có Thiên chúa trong bài báo.

Vòng hoa Giáng Sinh được treo bán tại Sài Gòn với giá gần trăm đô la mỹ. :)

 Người Việt Nam tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ trang trí cây thông Giáng Sinh nơi Bức Tường Tưởng Niệm các quân nhân Mỹ hy sinh vì Tự Do trong chiến tranh Việt Nam. Washington DC.  Link: about.com

 

Linh mục Phêrô Nguyễn Quang Duy – Chánh xứ Giáo xứ Mẹ Hằng Cứu Giúp (nhà thờ Kỳ Đồng) cho biết Ngài lấy làm buồn khi thấy Noel không còn nét riêng mà dần dần trở thành một kiểu lễ hội bình thường như tất cả những lễ hội đang được tổ chức rầm rộ ngày một nhiều ở Việt Nam. Người ta lợi dụng lễ Giáng sinh như một cái cớ để lao vào để ăn chơi, để hưởng thụ, để kinh doanh, rồi sau đó, không ít thiếu nữ trẻ đã phải vào bệnh viện giải quyết cái thai ngoài ý muốn – kết quả của “một chút kỷ niệm đêm Noel năm ngoái”.

Thông điệp mà lễ Noel theo tinh thần Tin Mừng đem đến cho mọi người là những bài học làm người (tuy cũ nhưng không bao giờ lỗi thời) mà chúng ta phải học suốt đời, trong đó, lễ Noel là một dịp ôn lại bài học cũ, bài học nhân từ, vị tha, khoan dung từ Thánh Giu-se, bài học yêu thương, nhẫn nhịn, vâng phục từ Mẹ Maria, bài học quên mình hy sinh, phục vụ, chịu thương khó vì người khác của Chúa Giê-su… không được nhấn mạnh, đề cao. Các giá trị tinh thần của ngày lễ Noel không được xem trọng. Theo Linh mục Nguyễn Quang Duy, “Người ta đang trần tục hóa lễ Giáng sinh”.  


Tạ Phong Tần 

 


 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Nhà Báo Tự Do Blog


Lộ Rõ Tim Đen – Alf. Hoàng Gia Bảo

 

Bài đọc suy gẫm:  Lộ Rõ Tim Đen hay Đôi lời cần nói về bài báo “Lộ rõ tim đen” của tác giả Alf. Hoàng Gia Bảo. Hình ảnh minh họa:  Đồng bào tại Koeln, Cộng Hòa Liên Bang Đức hiệp thông với Thái Hà và hình ảnh, tên tuổi (slide show) các thanh niên Công Giáo bị cộng sản bắt giam vô cớ.

 

 

Nhưng cho dù có giỏi che giấu cỡ nào thì sự thật vẫn luôn là sự thật và thực tế là khoảng chục năm trở lại đây, nhờ thông tin trung thực từ mạng internet dân chúng VN đã ngày càng nhận rõ ý đồ lợi dụng hiến pháp của CSVN để hạn chế nhiều quyền căn bản của người dân, và đã có rất nhiều tiếng nói đòi hủy bỏ chúng ngay từ trong nội bộ đảng này. 

Tờ Hà Nội Mới vừa có bài “lộ rõ tim đen” đề cập dến việc giáo xứ Thái Hà tổ chức đi khiếu kiện đông người hôm 2/12.

Bài báo là công sức ‘động não’ của cả tập thể ‘nhóm phóng viên’, theo đó việc khiếu kiện tranh chấp đòi lại bệnh viện Đống Đa của Thái Hà không phải do bức xúc về nhu cầu tôn giáo, mà nhằm giúp “những thế lực thù địch bên ngoài chỉ chờ cơ hội để gây ra một sự cố nào đó, rồi lấy cớ vu khống, tạo cơ hội cho những hành động can thiệp, lật đổ?” và họ gọi đó là “lộ rõ tim đen”!

Kiểu lập luận ‘diễn biến hòa bình’ chẳng lạ gì đối với nhiều người vì tờ HNM vốn đã quá nhiều tai tiếng về cách đưa tin gian dối, là nơi những ‘chú vẹt’ phóng viên đang ngày ngày lập đi lập lại không biết mệt mỏi giáo điều ‘nhìn đâu cũng thấy kẻ thù’ của chủ nghĩa cộng sản đã bị nhân loại quẳng vào sọt rác hơn 20  năm qua!

 

Còn gì để lộ?

Sau hơn nửa thế kỷ phải chung sống với quá nhiều tai ương do nhà cầm quyền CSVN gây ra. Giờ đây, giữa nhóm thiểu số vẫn xưng mình là đại diện cho ‘nhà nước nhân dân’ và đại đa số người dân còn lại đều đã quá rõ về ruột gan nhau. Đi đến bất cứ đâu, sự nằm lòng câu nói “đừng tin những gì cộng sản nói…“ trong dân chúng cho thấy phần nào thực tế này.

Tuy nhiên lời khẳng định về sự chán ghét nhà cầm quyền của bài viết này không dựa vào câu nói bất hủ của ông cố tổng thống Thiệu nêu trên nhưng còn hơn thế, đó là từ chính miệng ông cựu chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết “bỏ điều 4 hiến pháp là tự sát!” mà khi mới thoạt nghe lần đầu cứ ngỡ ông ta nói đùa. Thế nhưng sự thật không phải vậy. Đây là lời nghiêm túc của ông ta trong buổi sinh hoạt cuối tháng 8/2007 với các giới chức Quân ủy trung ương tại Hà nội.

Sau đó ngày 18/9/2007 khi nói chuyện với Binh chủng Phòng không ông Triết vẫn nhắc lại ý này khi thuyết phục quân đội đừng nghe người ta “nói ngã nói nghiêng” mà chao đảo đòi bỏ điều 4 Hiến pháp.

Nhắc lại điều này để chúng ta thấy rằng giới lãnh đạo đảng CSVN hiện đã biết rất rõ đại đa số dân chúng VN ngày nay không còn muốn đảng CSVN tiếp tục cai trị họ nữa. 

Lời ‘tự thú’ này có nghĩa nếu một cuộc thăm dò hay trưng cầu ý dân về quyền lãnh đạo đất nước được tổ chức một cách công khai minh bạch vào lúc này, đảng CSVN biết chắc họ sẽ bị loại khỏi cuộc chơi ngay từ vòng đầu.

Nhưng không phải đợi cho đến khi ông Triết nói ra thì đảng CSVN mới biết họ đang bị dân chúng oán ghét. Mà đã từ rất lâu, vì sợ bị dân chúng nổi lên lật đổ nên đã phải tìm cách phòng vệ.

 


 

Bản thân từng đi “cướp chính quyền” nên đảng CSVN hiểu rất rõ, không có biện pháp ngăn chận ‘nguy cơ’ để tuột mất quyền cai trị hữu hiệu cho bằng họ được quyền thẳng tay bắt bớ bỏ tù bất cứ ai manh nha chống đối.

Chính vì vậy mà các điều 4, điều 79, 88 v.v…. cùng không biết bao luật phi lý khác như nghị định 23/QH/2003 về quản lý đất đai theo thời gian đã lần lượt ra đời để đối phó với dân chúng.

Những điều luật ‘quái gở’ này chắc chắn sau này sẽ còn được lịch sử nhắc đến nhiều cùng với quốc hội ‘bù nhìn’, vì đã giúp cho đảng CSVN thêm vây thêm cánh, gây ra bao thống khổ cho người dân

Nhưng cho dù có giỏi che giấu cỡ nào thì sự thật vẫn luôn là sự thật và thực tế là khoảng chục năm trở lại đây, nhờ thông tin trung thực từ mạng internet dân chúng VN đã ngày càng nhận rõ ý đồ lợi dụng hiến pháp của CSVN để hạn chế nhiều quyền căn bản của người dân, và đã có rất nhiều tiếng nói đòi hủy bỏ chúng ngay từ trong nội bộ đảng này.

Chính vì lẽ đó mà ông Triết đã chẳng cần úp mở khi nói thẳng “bỏ điều 4 hiến pháp là tự sát!” dẫu sao qua đó cho thấy ông ta rất am hiểu tình thế: cái gọi là ‘chính quyền nhân dân’ hiện chẳng còn được nhân dân ưa, và ngược lại, chính quyền cũng vậy, sẵn sàng thẳng tay với người dân.

Cho nên chẳng phải vô cớ khi thời gian gần đây dân lành bị chính quyền bắt bớ giam cầm vô cớ ngang nhiên đánh chết trong đồn ngày một nhìều, nhưng đồng thời, hiện tượng công an lực lượng bảo vệ chủ chốt của chế độ cũng bị dân chúng hành hung ngày một tăng.

Đã không còn ưa nhau nữa chuyện ghét bỏ là đương nhiên. Vấn đề là cách thể hiện cái ‘sự ghét’ của mỗi bên ra sao?

Trong vụ Thái Hà nói riêng và với cộng đồng công giáo nói chung. Trong khi nhà cầm quyền biết sai nhưng vẫn chẳng chịu sửa, ‘mượn’ tài sản giáo hội nhiều nơi nhưng chẳng chịu trả khiến Thái Hà phải đi đòi, khiến vì lo lắng bị ‘lật đổ’ mà nhà cầm quyền phải nhẫn tâm đi làm những chuyện hết sức mất nhân tính, như cho ngươì xông lên bàn thánh, hành hung tu sĩ giáo dân v.v… thì kỳ diệu thay, trong các thánh lễ của ‘nạn nhân’ Thái Hà cùng nhiều nhà thờ khác vẫn vang lên những lời cầu nguyện “xin cho các nhà lãnh đạo VN được sáng suốt…” mà chẳng phải xin cho chế độ này nhanh sụp đổ!

 

 

Thái độ bình thản này của các cha DCCT và giáo dân Thái Hà so với nỗi sợ hãi ‘bị lật đổ’ cùng những hành vi tồi tệ của nhà cầm quyền khi Đời – Đạo chẳng còn ưa nhau, như vậy rõ ràng là khác nhau một trời một vực!

Nhìn vào riêng cách cư xử này thôi cũng đã đủ nhận ra đằng sau lá đơn và việc khiếu nại của Thái Hà hôm 2/12 chẳng có gì hơn là mong đi tìm cho bằng được Công Lý và Sự Thật.

Ngược lại, chính cái ý nghĩ ‘tự sát’ của ông Triết khi thấy ‘gót chân Achille’ Điều 4 của đảng đã bị phát hiện, những hành động hốt hoảng thi công giữa đêm khuya của chính quyền Hà Nội trong vụ bệnh viện Đống Đa, việc chận đánh bắt bớ tu sĩ giáo dân dọc đường v.v… mới đúng là thái độ của kẻ đang sống trong sự sợ hãi khi nhận ra việc làm xấu xa mình đang bị “lộ rõ tim đen”.

Sài Gòn 5/12/2011

 

Alf. Hoàng Gia Bảo


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Nữ Vương Công Lý

Hỏi Là Trả Lời Blog Spot


“Chỉ Có Người Mỹ Bại Trận”? – Phạm Hoài Nam

Vòng hoa cho các anh hùng tử sĩ Nam, Bắc quân mỗi dịp Noel về tại nghĩa trang Arlington National – Washington D.C. Hoa Kỳ.

Bài đọc suy gẫm:   “Chỉ Có Người Mỹ Bại Trận” ? tức “Xây dựng lòng yêu nước từ bài họccủa người Mỹ và người Nhật” của Phạm Hoài Nam. Hình ảnh chỉ có tính cách minh họa.

Ai cũng biết chỉ có lòng yêu nước mới có thể giúp cho dân tộc VN thoát ra khỏi bế tắc hiện nay và để được sống đúng với nhân phẩm con người. 

Sự khác biệt về giàu nghèo, có hãnh diện về đất nước của mình hay không – chủ yếu là do lòng yêu nước mà ra.  Cũng vì lòng yêu nước mà từ đầu thế kỷ 18, đã có những phong trào trí thức người Nhật tìm cách thoát khỏi quỹ đạo văn hóa của người Trung Hoa, đứng đầu là hai nhà tư tưởng Ogyo Sorai và Motoori Norinaga.

Lòng yêu nước đã thúc đẩy người Nhật đi khắp bốn phương học hỏi những tinh hoa của thế giới trở về tạo ra cuộc cách mạng Minh Trị Duy Tân để bắt kịp các nước Tây Phương và thoát được thân phận nô lệ.

-Lòng yêu nước đã khiến cho người Nhật phải biết nhẫn nhục chịu đựng, cố gắng làm việc để vươn lên từ đống tro tàn.

-Lòng yêu nước đã thúc đẩy người Nhật đồng lòng chung sức đương đầu trong cơn khốn khó như cuộc động đất vừa mới xảy ra tại Sendai vào đầu năm nay.

-Lòng yêu nước đã nhắc nhở người Nhật phải luôn luôn gìn giữ thể diện dân tộc…

Và chính lòng yêu nước đã tạo ra một nước Nhật vĩ đại…

Sự khác biệt giữa đất nước chúng ta và nước Nhật cũng chính từ sự khác biệt về lòng yêu nước. Cùng là một nước ở Á Châu, diện tích, dân số, tài nguyên gần như nhau nhưng một nước thì giàu có và được cả thế giới kính nể, còn nước kia thì ngược lại…

Làm sao để xây dựng lại lòng yêu nước? Đây là câu hỏi mà những ai còn có chút quan tâm đến đất nước đều phải ưu tư suy nghĩ.

Trước khi trả lời câu hỏi đó, thiết nghĩ chúng ta phải đặt câu hỏi: tại sao lòng yêu nước của người Việt Nam suy sụp?. Phải chăng nó phát xuất từ hệ lụy của một nền văn hóa yếu kém, những chế độ chính trị khắt nghiệt, những chính sách cai trị thất nhân tâm và những đổ vỡ liên tục của niềm tin!!!.

Lòng yêu nước và niềm hãnh diện dân tộc có mối liên hệ mật thiết với nhau. Người ta không thể hãnh diện về những gì mà mình không yêu thương và cũng rất ít ai có thể yêu thương những gì mà mình không hãnh diện.

Người Việt Nam ngày nay không còn mấy ai hãnh diện về đất nước và dân tộc của mình, ngoài những yếu tố nêu trên, có thể vì trong chính con người Việt Nam của chúng ta, theo quan điểm của người viết, đã thiếu sót một phẩm cách vô cùng cần thiết – đó là tinh thần hào hiệp mã thượng.

Hãy nhìn lại suốt chiều dài lịch sử của đất nước, chúng ta có được bao nhiên tấm gương của tinh thần này, chúng ta chỉ có lập rồi phá chớ không có tiếp nối, và sau mỗi lần lật đổ một triều đại hay một chế độ là những cuộc giết hại công thần, thanh trừng đẫm máu, những sự trả thù tàn bạo, “nhổ cỏ phải nhổ cho tận gốc” chưa đủ mà có khi còn phải “tru di tam tộc” và nó tiếp tục như thế từ đời này sang đời khác.

Tinh thần hào hiệp mã thượng không phải chỉ thiếu sót ở người lãnh đạo mà càng rõ nét hơn trong những sinh họat tập thể của người Việt Nam, càng đứng trước những thử thách thì khuyết điểm này của người Việt Nam càng hiện ra rõ hơn.

Trong phạm vi ngắn gọn của bài viết này, người viết chỉ có tham vọng rất khiêm tốn là hy vọng rằng qua bài học về lòng yêu nước của người Mỹ và Nhật chúng ta có thể rút được vài điểm nào đó để tìm cách xây dựng lại lòng yêu nước của người Việt Nam.

     Bài học từ lòng yêu nước của người Mỹ

A. Cách đối xử giữa người thắng trận và người bại trận sau cuộc Nội chiến

Nước Mỹ chỉ mới lập quốc được có 235 năm, một đất nước rất trẻ so với nhiều nước khác trên thế giới trong đó có nước VN, nhưng người Mỹ có cả ngàn lý do để họ hãnh diện về đất nước của mình. Từ những người đầu tiên viết ra bản hiến pháp xác nhận một chính quyền thật sự vì dân và do dân, trong đó quyền tự do là quyền thiêng liêng không thể tước đoạt, cho đến vị Tổng thống đầu tiên George Washington, mặc dầu có công lãnh đạo dành lại độc lập từ người Anh, nhưng vẫn một mực làm đúng 2 nhiệm kỳ như hiến pháp đã quy định, cho đến một Abraham Lincoln cam đảm bãi bỏ chế độ nô lệ dù phải trả giá bằng cuộc nội chiến, cho đến một Franklin Roosevelt chấp nhận mọi thử thách đứng về phía chính nghĩa để chống lại chế độ Phát xít cho dù chiến tranh xảy ra bên kia bờ Đại Tây Dương, cho đến một Ronald Reagan quyết tâm khôi phục lại lòng tự tin của người Mỹ sau cuộc chiến VN bằng lòng yêu nước mãnh liệt của mình…. Và vô số những tấm gương khác, từ đủ mọi thành phần trong xã hội. Trong bất cứ thời đại nào, người Mỹ không bao giờ thiếu những con người giàu lòng nhân ái như John Rockefeller, như Bill Gate, như Warren Buffett, như Steve Jobs (vừa mới qua đời)… Họ là những người vượt qua khỏi biên giới hạn hẹp của quốc gia, của màu da chủng tộc, chủ nghĩa…để nghĩ đến nỗi bất hạnh của người nghèo khổ trên toàn thế giới.

Trong lịch sử của nước Mỹ, biến cố gây ấn tượng mãnh liệt nhất, có lẽ là cách mà tổ tiên của họ đã đối xử với nhau sau cuộc Nội chiến Nam-Bắc chấm dứt vào năm 1865.

Vào ngày 7/5/1975, có nghĩa là chỉ có 1 tuần sau khi quân đội Miền Bắc chiếm được Miền Nam, trong lễ ăn mừng chiến thắng tướng Trần Văn Trà đã nói trước mặt mọi người: “Trong cuộc chiến này, cả Miền Bắc và Miền Nam đều chiến thắng, chỉ có người Mỹ bại trận”.

Không biết vô tình hay chủ ý, câu nói này tương tự như lời phát biểu của Tướng Ulysses Grant sau khi tướng Lee tuyên bố đầu hàng và Tướng Grant đã ghi lại trong quyển hồi ký của mình “Personel Memoir of U. S. Grant”: “Trong cuộc chiến này, chỉ có nước Mỹ chiến thắng, chớ không có ai thắng ai thua. ”

Hai câu nói hình thức gần giống nhau nhưng ý nghĩa lại khác nhau hoàn toàn: Tướng Grant nói thật lòng mình để xoa dịu nỗi đau khổ của người bại trận sau cuộc nội chiến kéo dài bốn năm. Trái lại câu nói của tướng Trần Văn Trà là câu nói mị dân, nằm trong mục đích tuyên truyền của chế độ để gạt tất cả những quân dân cán chính của VNCH, tin vào chính sách “khoan hồng của Đảng”, tin rằng chỉ có 10 ngày “học tập”, nhưng sau đó ra đi không biết ngày trở lại và mãi đến hôm nay sự trả thù như thế vẫn chưa chấm dứt.

Tướng Robert Lee đang ký văn bản đầu hàng, hình dưới là 2 vị tướng bắt tay nhau với lòng kính trọng.

Có một điểm đặc biệt là trong cách thể hiện lòng yêu nước của người Mỹ đều có chan chứa tinh thần hào hiệp mã thượng.  Nói về tinh thần hào hiệp mã thượng của người Mỹ, cựu thủ tướng Tony Blair của Anh, trong quyển hồi ký “The Journey” mới xuất bản gần đây đã viết như sau:

“Trong phẩm cách của người Mỹ có tinh thần mã thượng hào hiệp, được hun đúc qua nhiều thế kỷ, phát xuất từ tinh thần khai phá biên cương để lập nghiệp, và nhiều đợt di cư của các sắc dân khắp thế giới đổ về đây, từ cuộc chiến đấu để dành độc lập, đến cuộc nội chiến, từ nhiều biến cố lịch sử, cũng như những sự kiện tình cờ. Tất cả đã làm thành một nước Mỹ vĩ đại.

Cái tinh mã thượng hào hiệp này, không có nghĩa là người Mỹ tử tế hay thành công hơn những dân tộc khác. Nó chính là cảm nghĩ của họ về đất nước của mình. Chính lòng nhiệt tình đối với xứ sở đã phá bỏ được những ngăn cách về màu da, giai cấp, tôn giáo hay quá trình trưởng thành. Lý tưởng của người Mỹ là những giá trị đạo đức mà họ ấp ủ. Lý tưởng này gồm có tự do cá nhân, tôn trọng luật pháp, dân chủ. Nó cũng nằm trong quá trình thành đạt của mỗi cá nhân: hễ giỏi là được trọng dụng, phải tự làm lấy và nếu siêng năng chịu khó tất sẽ thành công. Song có lẽ điểm quan trọng nhất phải nói là mọi người Mỹ đều ao ước duy trì cho được những giá trị trên và ráng bảo vệ những giá trị đó. Họ coi những giá trị đó là ưu tiên hàng đầu cho cá nhân mình, sau đó là cho đất nước. Chính những giá trị đạo đức này giúp cho nước Mỹ cương quyết sẵn sàng đương đầu với khó khăn thử thách. Vì những lý tưởng đó mà binh lính Mỹ chấp nhận hy sinh. Vì nó mà mọi người Mỹ, dù giàu sang hay nghèo hèn đều sẵn sàng đứng nghiêm trang chào khi bản quốc ca “The Star-spangled Banner” được trỗi lên. Dĩ nhiên là những lý tưởng đó không phải lúc nào cũng thực hiện được, song mọi người Mỹ đều cố gắng thực thi cho bằng được. ”(1)

Nếu cuộc nội chiến Quốc-Cộng vừa qua đã để lại hệ lụy phân hóa kéo dài đến ngày hôm nay, thì sau cuộc Nội chiến Nam-Bắc Mỹ đã làm cho người Mỹ yêu nước hơn, đoàn kết hơn và hãnh diện về đất nước của mình nhiều hơn.

Họ hãnh diện không phải chỉ vì bãi bỏ được chế độ nô lệ, đúng với nguyện vọng mà tổ tiên họ đã đề ra trong Bản Tuyên Ngôn Độc Lập: “Mọi người sinh ra đều bình đẳng”, mà còn hãnh diện vì tinh thần hào hiệp mã thượng được thể hiện bởi người chiến thắng lẫn người chiến bại sau khi cuộc chiến kết thúc.

Không có một hình ảnh nào đẹp hơn hình ảnh tướng Robert E. Lee gặp tướng Ulysses S. Grant tại Thị Xã Appamatox, thuộc tiểu bang Virginia ngày 9 tháng 4 năm 1864.

Ulysses S. Grant (trái) và Tướng Robert E. Lee

Trước đó một ngày, tướng Lee chỉ còn trông chờ vào chiến thắng của một tướng trẻ can trường, để hy vọng tìm cách xoay chuyển được tình thế, nhưng khi hay tin tướng Gordon đã bị đánh bại, mọi hy vọng của Tướng Lee coi như tiêu tan. Quân của tướng Lee tại tiểu bang Virginia đang bị bao vây tứ phía, tiến không được mà lùi cũng không xong. Binh sĩ đã kiệt sức, lương thực đã cạn, đạn dược đã hết và nguồn tiếp tế cũng bị cắt đứt. Trong tình huống đó ông không còn chọn lựa nào khác là phải triệu tập bộ Tham mưu và nói thật ngắn gọn: “Tôi sẽ đến gặp tướng Grant, cho dù điều đó quá nhục nhã đối với tôi” (nguyên văn câu nói của ông: I will go and see General Grant and I would rather die a thousand deaths). Ngay lập tức ông đích thân soạn một lá thư gởi tướng Grant để yêu cầu sắp xếp một buổi gặp mặt càng sớm càng tốt vì ông không muốn hy sinh thêm bất cứ một sinh mạng nào nữa. Tại địa điểm hẹn gặp nhau, tướng Lee đến trước bằng ngựa với một sĩ quan tùy viên, hiên ngang trong trong bộ quân phục màu xanh dương, bên hông mang kiếm, thể hiện khí phách của người anh hùng dù bại trận vẫn không khuất phục. Khoảng nửa giờ sau tướng Grant, đại diện cho quân đội chiến thắng Miền Bắc tới. Ông mặc quân phục như một người lính bình thường, giày và quần vẫn còn dính bùn, không đeo kiếm. Hai người chào nhau, và tướng Grant tiếp tướng Lee thân mật như giữa một người Mỹ với một người Mỹ, chớ không phải giữa một người chiến thắng với kẻ chiến bại. Với ông làm nhục một người bại trận dù với bất cứ lý do gì cũng là làm nhục nước Mỹ. Sau này ông thú nhận là lúc đầu ông phải nói chuyện dài dòng với tướng Lee, nhắc lại những kỷ niệm xưa khi hai người cùng chiến đấu chung với nhau trong trận chiến Mexico, lý do là vì ông rất ngần ngại và thực sự hổ thẹn khi phải nói với Tướng Lee về chuyện đầu hàng. Cuối cùng chính tướng Lee là người đã nêu ra mục đích của buổi gặp mặt, và yêu cầu tướng Grant đích thân thảo bản văn kiện đầu hàng. Thật sự thì văn kiện đầu hàng Tướng Grant đã soạn sẵn trước khi đến điểm hẹn và tự tay trao cho tướng Lee xem lại. Đọc qua xong, lần đầu tiên gương mặc của tướng Lee tươi hẳn lên khi biết rằng binh sĩ dưới quyền ông được trở về nguyên quán sinh sống như một người dân bình thường, không phải chịu bất cứ một hình thức trả thù nào. Ông nói: “Điều này có một tác động rất tốt đối với tất cả mọi người, đặc biệt là sẽ giúp rất nhiều cho người của chúng tôi. “

Tuy nhiên ông có thêm 2 yêu cầu:

1/ Cho phép binh sĩ của ông được mang ngựa, lừa về quê quán để sử dụng trong nông trại, vì không giống như quân đội miền Bắc, đây là tài sản của riêng họ mang theo khi gia nhập quân đội.

2/ Ông đang giam giữ hơn một ngàn tù binh quân đội miền Bắc và không còn lương thực cho họ, ngay cả binh sĩ của ông cũng đang đói.

Cả hai yêu cầu này của tướng Lee đều được tướng Grant đồng ý ngay lập tức. Riêng yêu cầu thứ hai, tướng Grant ra lệnh cung cấp ngay cho các tù binh và binh sĩ miền Nam 25, 000 khẩu phần ăn.

Tướng Grant hỏi: “Như vậy, đủ chưa?”

Tướng Lee trả lời: “Thưa đại tướng, như vậy là quá đủ. “

Nói xong tướng Lee đứng dậy bắt tay tướng Grant, nghiêng người chào mọi người rồi bước ra khỏi phòng họp. Bên ngoài hội trường các sĩ quan và binh sĩ miền Bắc đang có mặt đều đưa tay kính cẩn chào vị tướng bại trận.

Trên đường trở về doanh trại, các binh sĩ miền Nam nghiêm chào vị tướng lãnh mà họ ngưỡng mộ, có người đã bật khóc, tướng Lee cũng không cầm được nước mắt. Về đến doanh trại, trước mặt nhiều sĩ quan và binh sĩ đang chờ đợi, tướng Lee nói: “Tôi đã cố gắng làm tất cả những gì có thể làm được. Các anh em hãy trở về quê quán bây giờ và nếu sống được như những công dân tốt như các anh em đã từng chiến đấu như những chiến sĩ thì các anh em sẽ thành công. Tôi luôn luôn hãnh diện vì các anh em. Chào tạm biệt. Thượng đế phù trợ cho tất cả. ” (Boys, I have done my best for you. Go home now. And if you make as good citizens as you have soldiers, you will do well. I shall always be proud of you. Goodbye. And God bless you all. )

Tin đầu hàng của tướng Lee lan ra nhanh chóng, tiếng súng của binh sĩ Miền Bắc vang lên khắp nơi để reo mừng chiến thắng. Ngay lập tức tướng Grant ra lệnh phải ngưng ngay tức khắc: “Quân đội miền Nam đã đầu hàng. Chiến tranh đã chấm dứt. Họ là đồng bào của chúng ta, chúng ta không được phép reo mừng trên chiến bại của họ. ”

Theo điều kiện trong văn kiện đầu hàng, ngày 12 tháng 4 là ngày quân đội Miền Nam sẽ nộp súng ống và cờ xí cho quân đội Miền Bắc. Tướng Grant giao việc này cho Đại tá Joshua Chamberlain phụ trách. Còn phía Miền Nam thì tướng Gordon nhận trách nhiệm. Ngày hôm ấy đã xảy ra một cảnh tượng hết sức cảm động. Khi các binh sĩ Miền Nam đi theo đội ngũ tới địa điểm để giao súng ống và cờ xí, Đại tá Chamberlain đã ra lệnh binh sĩ của mình đứng nghiêm chào các anh hùng bại trận đang đi ngang qua để bày tỏ lòng kính trọng. Sau này tướng Gordon đã ghi lại như sau: “Trong giây phút đó, không hề có một tiếng kèn hay tiếng trống, không một tiếng reo mừng, không một lời nói, không cả một tiếng thì thầm, không một cử động, nhưng là một sự tĩnh lặng khủng khiếp, mọi nhịp thở như ngừng lại và như thể họ đang nhìn những hồn tử sĩ đi qua” và ông gọi Chamberlain là “người sĩ quan hào hiệp nhất của quân đội Miền Bắc. ”

Sau 4 năm nội chiến đã làm 620 ngàn người thiệt mạng và hàng triệu người bị thương, các đô thị ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ bị tàn phá nặng nề và đương nhiên cũng không khỏi những đắng cay của người bại trận. Nhưng những người lãnh đạo của bên thắng trận lẫn bên bại trận đều lấy tình dân tộc, sự bao dung rộng lượng và lòng hào hiệp để đối xử với nhau. Chính điều này đã làm cho người Mỹ vô cùng hãnh diện về xứ sở của mình.

Sau cuộc chiến, những người lãnh đạo kế tiếp của nước Mỹ vẫn làm theo tinh thần của tướng Lee và tướng Grant, họ không bao giờ bàn đến đến chuyện ai đúng ai sai, ai chính nghĩa, ai không chính nghĩa, mà chỉ nghĩ đến làm sao để hàn gắn lại vết thương của chiến tranh và xây dựng lại đất nước. Các nghĩa trang dành cho liệt sĩ bắt đầu được dựng lên ở hai miền đất nước, bên nào bên đó tự lo lấy, xấu đẹp tùy sức.

Ngày nay khi viếng thăm Nghĩa Trang Arlington ở thủ đô Washington DC, chúng ta sẽ thấy khu nghĩa trang dành cho binh sĩ Miền Bắc và Miền Nam đều trang nghiêm giống nhau và trong tất cả các bảo tàng viện khắp nước Mỹ, hình ảnh quân đội hai bên được trưng bày trân trọng như nhau, để nhắc nhở người Mỹ xem đó như một bài học cho các thế hệ mai sau.

Trên nóc Tòa Quốc Hội Hoa Kỳ hiện nay có một bức tượng phụ nữ cao 10 mét – tượng trưng cho hình ảnh bà mẹ của Miền Nam có con hy sinh trong cuộc nội chiến.

Bốn năm sau cuộc nội chiến, tướng Grant đắc cử tổng thống và làm 2 nhiệm kỳ (1869-1877), còn tướng Lee vẫn tiếp tục giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ liên bang.

Tướng Lee dù là tướng bại trận, không giữ được chức vụ cao như tướng Grant, nhưng bù lại, càng về cuối đời, tình cảm và lòng kính trọng của người Mỹ dành cho ông càng tăng lên, có thể nói còn cao hơn cả tướng Grant. Ngày nay tượng đài của tướng Lee có mặt nhiều nơi trên nước Mỹ và Robert Lee là tên đường quen thuộc trên một đất nước luôn luôn cố gắng lấy “lòng bao dung xóa bỏ hận thù”.

Nhận xét về con người của tướng Lee, sử gia Benjamin Harvey Hill đã viết như sau:

“Tướng Lee là một đối thủ không có thù hận; một người bạn không phản bội, một người lính không tàn ác, một nạn nhân không than khóc. Một sĩ quan không sa đọa, một công dân không làm điều sai trái, một láng giềng không chỉ trích, một người Công giáo không đạo đức giả, một con người không thủ đoạn. Ông là một Caesar không có tham vọng, một Frederick không có chuyên quyền, một Napoleon không ích kỷ và một Washington không có phần thưởng. “

(General Robert Lee is a foe without hate; a friend without treachery; a soldier without cruelty; a victor without oppression, and a victim without murmuring. He was a public officer without vices; a private citizen without wrong; a neighbour without reproach; a Christian without hypocrisy, and a man without guile. He was a Caesar, without his ambition; Frederick, without his tyranny; Napoleon, without his selfishness, and Washington, without his reward)

Thật khó có người nào được lời khen như thế, nhưng đó là con người thật của Robert Lee. Với những người lãnh đạo như thế đương nhiên quốc gia họ phải hùng mạnh.

Tưởng cũng nên nhắc lại là khi cuộc nội chiến vừa mới xảy ra, tướng Lee được đề cử chỉ huy quân đội Miền Bắc nhưng ông đã từ chối và gia nhập quân đội Miền Nam, vì ông nói rằng ông không thể phản bội lại cái nơi mà ông đã sinh ra và lớn lên.

B. Cách đối xử của người Mỹ với cựu thù Nhật Bản sau Đệ Nhị Thế Chiến.

Quả bom nguyên tử thả xuống đất Nhật Bản năm 1945.

Tướng Grant và Tướng Lee đối xử với nhau hết sức tử tế sau cuộc chiến, có thể giải thích vì là người cùng một nước, cùng hấp thụ một nền văn hóa, cùng một màu da, cùng một ngôn ngữ, và cùng nghĩ đến tương lai của đất nước Hoa Kỳ, nhưng đến trường hợp người Mỹ đối xử tử tế không kém đối người Nhật sau Đệ Nhị Thế Chiến thì chắc chắn không phải vì những lý do nêu trên. Người Mỹ hành xử như thế chỉ vì lòng hào hiệp mã thượng cố hữu mà họ đã hấp thụ từ thế hệ này sang thế hệ khác và đã ăn sâu vào máu xương. Trong lúc đó, người Nhật dù bại trận nhưng vẫn không để mất tinh thần võ sĩ đạo samurai, lòng yêu nước và lòng tự trọng của dân tộc.

Trước khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng, Nhật và Mỹ vẫn còn là hai nước kẻ thù không đội trời chung. Trong 4 năm chiến tranh ác liệt tại Thái Bình Dương, đã làm cho người Mỹ hy sinh khoảng 360, 000 binh sĩ và nhiều vết thương khác, nhưng điều đó không làm cho họ nuôi mối thù với người Nhật sau khi chiến tranh chấm dứt.

Hai quả bom nguyên tử rớt xuống Hiroshima và Nagasaki đã làm cho 150, 000 người chết ngay lập tức, nhưng không vì thế mà người Nhật nuôi mối căm hờn. Trái lại cả người Mỹ và người Nhật cùng hợp tác để xây dựng lại một nước Nhật từ đống tro tàn.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, trên chiến hạm Missouri, đại diện của các nước Đồng Minh và chính phủ Nhật Bản chính thức ký văn kiện đầu hàng.

Sau khi ký xong, đại diện của Đồng Minh là tướng MacArthur đọc bài diễn văn ngắn gọn, nhưng chứa đựng tất cả tinh thần cao thượng của người Mỹ, ông kết bài diễn văn như sau: “Đây là hy vọng thiết tha nhất của tôi, và thật sự cũng là hy vọng của toàn thể nhân lọai, rằng từ sự kiện trang nghiêm này một thế giới tốt đẹp hơn sẽ hiện ra từ máu và sự chém giết nhau trong quá khứ – một thế giới sẽ phục sự cho nhân phẩm con người và để hòan thành ước nguyện cao cả nhất cho Tự do, Lòng bao dung và Sự công bằng. ”.

(It is my earnest hope, and indeed the hope of all mankind, that from this solemn occasion a better world shall emerge out of the blood and carnage of the past – a world dedicated to the dignity of man and the fulfillment of his most cherished wish for freedom, tolerance and justice).

MacArthur không phải chỉ nói như thế để xoa dịu nỗi đau khổ của người Nhật lúc đó, hay vì phép lịch sự của một nhà ngoại giao, mà ông nói thật lòng mình. Gần 6 năm cai trị nước Nhật đã chứng minh rằng ông không phải chỉ làm có thế, mà còn làm nhiều hơn thế nữa. Ông đã giúp cho nước Nhật vượt qua được cơn khốn khó, trở thành một quốc gia độc lập, tự do, dân chủ và đặt nền tảng cho một cường quốc kinh tế sau này.

Tướng MacArthur thay mặt cho người Mỹ cai trị từ ngày 15/8/1945 cho đến ngày 11/ 4/1951 với tư cách là Tổng Tư Lệnh Tối Cao của các lực lượng Đồng Minh (the Supreme Commander of the Allied Powers), nói là lực lượng Đồng Minh nhưng thật sự là chỉ có quân đội Mỹ. Ngay sau khi đặt chân đến Tokyo, MacArthur ra lệnh cho các binh sĩ dưới quyền ông không được trả thù người Nhật vì bất cứ lý do gì và ưu tiên hàng đầu của ông phải lo cho người dân Nhật qua khỏi cơn đói rách do các hậu quả của chiến tranh.

Việc chọn lựa tướng Tướng MacArthur trong vai trò này là một quyết định sáng suốt của Tổng Thống Truman và là một may mắn cho người Nhật. Trong số tướng lãnh của Mỹ lúc bấy giờ, MacArthur là người có hiểu biết nhiều nhất về văn hóa Nhật Bản, cuộc đời binh nghiệp của ông trải qua phần lớn ở Á Châu. Chính yếu tố này giúp ông dễ dàng thực hiện các cải tổ cần thiết cho nước Nhật và được người Nhật kính trọng mặc dầu truyền thống của Nhật Bản khó có thể chấp nhận ngoại quốc cai trị mình.

Thành phố Hisroshima trước và sau khi bị hứng chịu trái bom nguyên tử. Cột nấm khói sau khi nổ bốc cao tới 18 Km.

 

MacArthur là một trong những danh tướng lỗi lạc nhất trong lịch sử của nước Mỹ. Ông tốt nghiệp thủ khoa của trường Võ Bị West Point và cho đến ngày nay chỉ có 2 người tốt nghiệp cao điểm hơn ông. Ông tham gia cả ba trận chiến lớn: Đệ Nhất Thế Chiến, Đệ Nhị Thế Chiến và Cuộc Chiến Cao Ly. Trong bất cứ hoàn cảnh nào ông đều thể hiện là người chỉ huy can trường và bản lãnh, nhưng quan trọng hơn thế nữa ông còn là một người Mỹ kiểu mẫu, một người Mỹ mang lý tưởng của tinh thần hào hiệp, cho dù đối với kẻ thù.

Trong 5 năm rưỡi điều hành nước Nhật, MacArthur đã thực hiện những cải cách toàn diện về hành chánh, xã hội, giáo dục, cách thức bầu cử và điền địa (land reform)… Về phương diện kinh tế ông chủ trương một mô hình kinh tế tự do cạnh tranh giống như ở Mỹ và khuyến khích người Nhật tham gia vào thương trường để tạo ra một tầng lớp trung lưu.

Hiến pháp mà nước Nhật sử dụng cho đến ngày hôm nay là do MacArthur và bộ tham mưu soạn thảo. Hiến pháp mới này dựa Hệ thống của Anh (Westminster System). Trong đó những quyền tự do của con người được tôn trọng triệt để. Hiến pháp này cũng xác định là Nhật Hoàng chỉ là biểu tượng tinh thần giống như Vua hay Nữ Hoàng của Anh.

Trong thời gian từ 1945 đến 1951, với chương trình viện trợ Marshall, người Mỹ đã đổ vào nước Nhật hàng tỉ đô la, cộng với những ý kiến sáng suốt và những chương trình cải cách thiết thực của Tướng MacArthur – đã để lại một dấu ấn sâu đậm và ảnh hưởng lâu dài đối với nước Nhật. Nhờ vậy chỉ 25 năm sau chiến tranh nước Nhật trở thành cường quốc kinh tế thứ nhì trên thế giới. Dĩ nhiên kết quả này phần lớn cũng do sự nỗ lực làm việc, sự hy sinh và tinh thần của dân tộc Nhật Bản.

 Hiroshima ngày nay.

Một quyết định sáng suốt khác của tướng MacArthur trong giai đoạn này là ông chống lại việc đưa Nhật Hoàng Hirohito ra Tòa Án Quốc Tế như một tội phạm chiến tranh sau khi chiến tranh chấm dứt. Bản án này nếu xảy ra sẽ từ chung thân tới tử hình.

Điều này không những chỉ gây một chấn động tâm lý mà còn là một sỉ nhục quá lớn đối với người Nhật. Nhật Hoàng là biểu tượng tinh thần của người Nhật. Phá vỡ biểu tượng này tức là phá vỡ kỹ cương truyền thống và cấu trúc xã hội của nước Nhật đã được gìn giữ liên tục trong suốt mấy ngàn năm.

Cuối cùng sau khi rời khỏi nước Nhật, tướng MacArthur chẳng những không bị oán ghét mà còn được dân Nhật xem như là một trong những người có công lớn trong việc xây dựng nên một nước Nhật hiện đại.

Khi nắm quyền quản trị nước Nhật, MacArthur có tham vọng sẽ biến nước này trở thành một nước Mỹ lý tưởng, một nước Thụy Sĩ của Á Châu. Tham vọng này cuối cùng không thành công trọn vẹn vì người Nhật không muốn để mất hồn tính dân tộc của mình.

Một cuốn sách nghiên cứu công phu của học giả Sakaiya Taichi, có tựa là “12 người lập ra nước Nhật”. Theo tác giả, đó là 12 người có ảnh hưởng sâu đậm nhất đối với nước Nhật và tác giả sắp xếp theo mức độ ảnh hưởng của từng người từ 1 đến 12.

Đây là một cuốn sách rất có giá trị và cũng rất thích thú để đọc. Có điểm đặc biệt là trong 12 người này, không có một danh tướng có công đánh đuổi ngọai xăm, tạo những chiến tích lẫy lừng hay thống nhất đất nước. Cũng không có vị vua khai quốc công thần, ngay cả Minh Trị Thiên Hoàng (người có công lớn nhất trong cuộc Cách Mạnh Duy Tân) cũng không có tên.

12 người mà tác giả Sakaiya Taichi chọn là những người có công đóng góp về tôn giáo, tư tưởng, là những người đã làm thăng hoa giá trị tinh thần của người Nhật. Họ cũng là những đưa ra những quan niệm về chính trị, kinh tế và xã hội cho nước Nhật mà ảnh hưởng của họ vẫn còn tồn tại đến ngày hôm nay.

Trong số này chỉ có một vị tướng và là một người ngọai quốc duy nhất – đó là tướng MacArthur. Đứng thứ 10 trong số 12 người, với các tựa bài là “MacArthur: Thí nghiệm biến Nhật Bản thành một “nước Mỹ lý tưởng””.

Danh tướng Douglas Mc. Arthur , tư lệnh mặt trận phía nam Thái Bình Dương của Hoa Kỳ trong chiến tranh với người Nhật.

 

 

 

 

 

 

 

Tôi nghĩ rằng chọn lựa này vô tư và hợp lý và Tướng MacArthur rất xứng đáng được như thế.

Tác giả Sakaiya Taichi phân tích tất cả những cải cách của MacArthur đã ảnh hưởng đến nước Nhật và người Nhật như thế nào.

Trong đó cũng ghi lại lời nói của MacArthur: “Nhật Bản sẽ trở thành một nước như Mỹ, nhưng nước Mỹ ở đây không phải là nước Mỹ hiện bây giờ và một nước Mỹ lý tưởng”.

Cuối cùng tác giả kết luận như sau: “Trong dòng lịch sử Nhật Bản, đột nhiên xuất hiện nhân vật thống trị MacArthur từ nước ngòai đến, một người chưa có hiểu biết chính xác về Nhật Bản, nhưng đã ôm giấc mơ biến Nhật Bản thành một nước Mỹ lý tưởng.

Những tham vọng của MacArthur có cái đã thành công mỹ mãn, có cái đã đi quá trớn. Nhưng tựu trung, chúng đã để lại ảnh hưởng mãnh liệt trong xã hội Nhật Bản cho đến ngày hôm nay”.

Sau 6 năm giúp nhiệt tình, đến khi thấy rằng nước Nhật đã “đủ lông đủ cánh” vững vàng về cả 3 phương diện chính trị, kinh tế và xã hội, người Mỹ và người Nhật ký Hiệp Ước San Francisco ngày 8/9/1951 trao trả độc lập lại người Nhật.

Người Mỹ đã giúp người Nhật vượt qua được cơn khốn khổ và trở thành một quốc gia giàu mạnh, chỉ vì là đồng loại và không phải là thù địch. Đây là nghĩa cử quá cao quý của con người. Đất nước chúng ta cũng đã từng có những cơ hội tương tự nhưng đáng tiếc là chúng ta đã không biết tận dụng cơ hội đó giống như người Nhật, người Nam Hàn, người Đài Loan hay người Do Thái!

Phạm Hoài Nam

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Chúng Tôi Muốn Tự Do Blog


Aung San Suu Kyi, Cành Hoa Lan Sắt Thép – Tuấn Thảo

Bà Aung San Suu Kyi một lần kia đã nói:” Cha mẹ tôi đã phục vụ đất nước này và tôi cũng thế, dù có phải chết”.

Bài đọc suy gẫm:  Blog 16 hân hạnh giới thiệu bài viết của Tuấn Thảo.  Dựa trên kịch bản của tác giả người Anh Rebecca Frayn, đạo diễn nổi tiếng người Pháp Luc Besson đã chuyển thể lên màn ảnh lớn cuộc đời của bà Aung San Suu Kyi, người đoạt giải nhân quyền năm 2001 tại Norway (Nauy), với những hy sinh, đấu tranh không ngừng nghỉ cho quyền làm người trên quê hương của bà tại Miến Điện.  “The Lady” (tạm dịch”Người Đàn Bà Gan Lì”), do diễn viên đoạt nhiều giải về phim ảnh Á Châu- Dương Tử Quỳnh (Michelle Yeoh) thủ vai chính, đã diễn xuất rất thành công trong vai tả về cuộc đời chính trị của nhân vật nổi tiếng thế giới này.  Phim vừa được chiếu ra mắt liên hoan quốc tế đại hội điện ảnh tại Toronto, Canada.(xem trailer).  Ghi chú: Hình ảnh sưu tầm trên Net chỉ có tính cách minh họa.

Director Luc Besson và tài tử nổi tiếng Michelle Yeoh (Dương Tử Quỳnh) tại đại hội điện ảnh liên hoan quốc tế Toronto, Canada.

 Lời bàn:  Chính quyền mới của Miến Điện, tổng thống Thein Sein (sau khi tướng độc tài quân phiệtThan Shwe về hưu 2010) với những quyết định can đảm đứng đắn, thay đổi đột ngột trong thời gian gần đây như thả bà San Suu Kyi và nhiều nhà dân chủ đối lập, nhanh chóng dân chủ hóa đất nước, để thoát khỏi nanh vuốt Trung Quốc (con hổ giấy).  Phải chăng cũng là một bài học lớn cho Việt Nam. Mất đảng nhưng không mất nước.

 Ngoại trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton (trái) thăm bà Aung San Suu Ky tại Burma tuần qua. (Associated Press, Saul Loeb / December 2, 2011).


The Lady, người đàn bà gan lì, cành hoa lan sắt thép.   
Tuấn Thảo
 
 
Aung San Suu Kyi, người đàn bà gan lì, biểu tượng của dân tộc Miến Điện kháng cự lại sự đàn áp của một chế độ độc tài quân phiệt. Từ khi được trao giải Nobel Hòa bình năm 1991, bà Aung San Suu Kyi trở thành hiện thân của phong trào đòi tự do và dân chủ, noi theo tấm gương đấu tranh bất bạo động của bậc tiền bối là Nelson Mandela và nhất là Thánh Gandhi.

Dựa trên kịch bản của tác giả người Anh Rebecca Frayn, đạo diễn nổi tiếng người Pháp Luc Besson đã chuyển thể cuộc đời của Aung San Suu Kyi lên màn ảnh lớn. Bộ phim The Lady với nữ diễn viên Dương Tử Quỳnh (Michelle Yeoh) trong vai chính, vừa được cho ra mắt khán giả Pháp trong tuần này. Bộ phim cũng từng được công chiếu lần đầu tiên vào tháng 9 năm 2011 trong khuôn khổ liên hoan quốc tế điện ảnh Toronto ở Canada.

Bà Aung San Suu Kyi và Dương Tử Quỳnh (Michelle Yeoh).

Trái với những thông tin loan tải trước đây trên mạng, theo đó đạo diễn Pháp Luc Besson đã ấp ủ dự án quay phim này từ nhiều năm qua, thật ra diễn viên Dương Tử Quỳnh mới là người đầu tiên được đọc kịch bản The Lady. Chính cô đã thuyết phục đạo diễn Luc Besson bấm máy thu hình. Bộ phim chủ yếu được quay tại Thái Lan, phần hậu kỳ được thực hiện tại Pháp, chỉ có một số màn ngoại cảnh là được thu lén tại Miến Điện. Để luồn lách sự kiểm duyệt, để thoát khỏi sự kiểm soát của công an, các nhân viên trong đoàn làm phim đã phải giả dạng làm du khách nước ngoài.

Ra đi không ngày mai, hành trình không trở lại.

Về nội dung bộ phim The Lady không kể lại toàn bộ cuộc đời của bà Aung San Suu Kyi, mà chỉ tập trung nói về giai đoạn từ những năm 1988 đến năm 1999, hai thời điểm định mệnh trong cuộc đời của người đàn bà gan lì. Vào tháng ba năm 1988, người thân trong gia đình báo tin cho Aung San Suu Kyi là thân mẫu của bà vừa đột qụy. Từ Anh Quốc, bà quyết định rời mái ấm gia đình, trở về Miến Điện để chăm sóc người mẹ đau yếu. Để trấn an chồng con, bà Aung San Suu Kyi nói rằng chuyến đi này chỉ kéo dài có vài tuần lễ, nhưng không ai ngờ rằng đó thật ra là một cuộc hành trình không có ngày trở lại.

Tại bệnh viện thành phố Rangoon, Aung San Suu Kyi chứng kiến tận mắt cảnh quân đội Miến Điện đàn áp đám đông biểu tình. Phong trào xuống đường đòi dân chủ đã bắt đầu từ tháng 5 năm 1988. Áp lực từ đường phố buộc tướng Ne Win, nhân vật số 1 của tập đoàn quân phiệt Miến Điện, phải từ chức. Thế nhưng, người lên thay thế ông (tướng Than Shwe) lại thuộc phe bảo thủ cứng rắn trong hàng ngũ quân đội. Chính quyền ra lệnh thẳng tay đàn áp người biểu tình. Quân đội không ngần ngại nã súng bắn vào đám đông, khiến hàng ngàn người bị thiệt mạng vào ngày 8 tháng 8 năm 1988, nên sự kiện này được gọi là “Biến cố 8888″.

Sau cuộc đàn áp đẫm máu, bà Aung San Suu Kyi quyết định dấn thân vào cuộc đấu tranh đòi dân chủ. Bà nối nghiệp thân phụ là tướng Aung San, được xem như là một vị anh hùng dân tộc vì ông đã đóng góp rất nhiều trong công cuộc giành độc lập cho Miến Điện. Noi gương người cha, Aung San Suu Kyi đứng lên lãnh đạo phong trào đối lập, bà sát cánh đấu tranh Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD), được thành lập vào ngày 24 tháng 9 năm 1988. Hơn một năm sau, Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ thắng đậm nhân kỳ tổng tuyển cử tổ chức vào tháng 5 năm 1990, nhưng kết quả bầu cử bị chính quyền hoàn toàn phủ nhận.

Biểu tình lớn trên đất nước Burma với nhiều ngàn nhà sư xuống đường hổ trợ dân chúng trong năm 2007 nhưng cũng bị đàn áp thô bạo dẫn đến việc chính quyền Burma bị  hầu hết các nước trên thế giới Tây phương cấm vận triệt để.

 

Đối với giới lãnh đạo tập đoàn quân phiệt, Aung San Suu Kyi cánh chim đầu đàn của phong trào đối lập trở thành một đối thủ hết sức đáng gờm. Các tướng lãnh ra lệnh bằng mọi cách đè bẹp phong trào đấu tranh. Từ hình thức hù dọa, gây áp lực tinh thần cho đến việc bắt giữ, cầm tù hay giam lỏng, chính quyền chĩa mũi dùi vào Aung San Suu Kyi và các bạn hữu đồng hành. Càng bị trấn áp, bà lại càng gan lì. Một trong những màn biểu tượng của bộ phim là khi bà đứng trước một hàng lính giăng ngang chặn đường, các binh lính đã nộp đạn nhắm bắn, ngón tay sẵn sàng bấm cò. Thay vì hãi sợ thụt lùi, Aung San Suu Kyi lại bước tới phiá trước, bất kể các mũi súng đang dí vào mặt.

1988 – 1999 : Hai thời điểm định mệnh.

Trong phim, nếu như ngày 8 tháng 8 năm 1988 là cột mốc lịch sử đầu tiên, thì năm 1999 đánh dấu thời điểm quan trọng thứ nhì. Đó là năm mà giáo sư người Anh Michael Aris (do Daniel Thewlis thủ vai), chồng của bà Aung San Suu Kyi qua đời vì bệnh ung thư. Nổi danh là một chuyên gia về văn hoá Tây Tạng thuộc trường đại học Oxford, ông Michael Aris thành hôn với bà Aung San Suu Kyi vào năm 1972. Nhân vật người chồng chiếm một vị trí quan trọng ở trong bộ phim The Lady. Vì chính ông khuyên vợ đừng mềm lòng nản chí, đừng vì chuyện nhà mà quên chuyện nước, đừng hy sinh cuộc đấu tranh cho dân tộc, chỉ vì ích kỷ cá nhân hay hạnh phúc bản thân.

Vào năm 1997, giới bác sĩ chẩn đoán phát hiện ông Michael Aris bị bệnh ung thư. Dù đã nhiều năm xa cách, nhưng ông không nỡ đòi vợ trở về Anh Quốc để chăm sóc bệnh tình cho ông. Vào lúc đó, chính quyền Miến Điện sẵn sàng để cho bà Aung San Suu Kyi lên máy bay sang Luân Đôn, vì lý do gia đình. Hù dọa không xong mà giam cầm cũng vô hiệu quả, nên chính quyền mới chuyển sang hình thức mua chuộc, mặc cả tình cảm. Theo lời khuyên của chồng, bà Aung San Suu Kyi quyết định ở lại, vì bà thừa hiểu rằng chính quyền muốn tống bà ra khỏi Miến Điện : một khi về thăm chồng, bà sẽ không còn được trở lại quê cha.

Ông Michael Aris qua đời hai năm sau đó, để lại hai đứa con mồ côi. Aung San Suu Kyi tiếp tục bị giam lỏng, không được nhìn mặt chồng bà một lần cuối. Bà nói : ở một đất nước thật sự tự do, thì không có ai bị buộc phải có một sự chọn lựa đớn đau đến như vậy. Lựa chọn theo kiểu này thì chẳng thà không chọn lựa còn hơn. Bộ phim do khép lại vào thời điểm này, kết thúc một cách lưng chừng, bỏ lửng. Aung San Suu Kyi kiên trì đấu tranh mà vẫn chưa thấy tia ánh sáng hy vọng ở cuối đường hầm u tối. Nhưng từ người đàn bà sắt thép này lại lóe lên một vầng hào quang sáng ngời tuyệt đối. Cái chết của ông Michael Aris nói riêng và của những người đấu tranh với bà nói chung không trở nên vô nghĩa, mà lại thắp sáng thêm niềm tin của một tâm hồn bất khuất.

Bi kịch gia đình, thảm kịch quốc gia.

Bộ phim The Lady của đạo diễn Pháp Luc Besson có cả ưu điểm lẫn khuyết điểm. Ưu điểm đầu tiên là Luc Besson đã phần nào thay đổi phong cách làm phim của mình. Nổi tiếng là một người chuyên quay phim hành động, chuộng kỹ xảo và nhịp điệu dồn dập, đạo diễn Pháp lần này buộc phải tập trung vào các diễn biến nội tâm của hai nhân vật chính. Nhà làm phim xen kẻ khá tài tình các màn qua cận ảnh với thủ pháp các màn quay toàn cảnh, hàm ý Aung San Suu Kyi và vận mệnh dân tộc Miến Điện, tuy hai mà chỉ là một.

Một cách tương tự, các nhân vật Michael Aris và Aung San Suu Kyi là hai tâm hồn đồng nhất, khi thực sự là một nửa của nhau. Đó là những vai diễn bằng vàng, nếu không nói là để đời. Về điểm này, phải công nhận là Dương Tử Quỳnh nhập vai một cách xuất thần. Cô học tiếng Miến Điện, học từng động tác điệu bộ của Aung San Suu Kyi qua phóng sự truyền hình hay phim tài liệu cho thấy bà xuất hiện trước công chúng.

Tuy có nét mặt hao hao như Aung San Suu Kyi, nhưng Dương Tử Quỳnh lại còn nhịn ăn để gầy hẳn đi, làm cho nét tiều tụy hiện lên trên nhan sắc để có thể gần giống hơn nữa với vai diễn. Cô đã được dịp đến Miến Điện gặp bà Aung San Suu Kyi lần đầu tiên vào cuối năm 2010, trước khi đoàn làm phim chuẩn bị bấm máy thu hình tại Thái Lan. Sau chuyến đi này, Dương Tử Quỳnh bị đưa vào sổ đen, vì khi trở lại thăm bà Aung San Suu Kyi lần thứ nhì vào tháng 6 năm 2011 cô đã bị chặn lại tại sân bay, không được phép nhập cảnh, rồi bị trục xuất khỏi Miến Điện.

Diễn viên Dương Tử Quỳnh và đạo diễn Pháp Luc Besson đều cho biết là công chúng thường nhìn bà Aung San Suu Kyi như là một biểu tượng đấu tranh cho tự do và dân chủ, ngược lại ít ai biết đến chồng bà là giáo sư Michael Aris. Kịch bản của tác giả người Anh Rebecca Frayn, ngay từ đầu đã chọn quan hệ giữa hai vợ chồng làm điểm nhấn, trong những năm tháng đau khổ, những giây phút cam go. Theo cách đọc này, tình thương là động lực thôi thúc, duy trì ngọn lửa thiêng đối với nhà tranh đấu.

Theo Wikipedia, bà Aung San Suu Kyi  nhận được nhiều giải thưởng quốc tế, trong đó quan trọng nhất là giải thưởng Nobel về hòa bình trong năm 1991 trong khi bị quản thúc tại gia về những thành tích tranh đấu cho Tự Do Dân Chủ trên đất nước Burma. (Bà ngồi tù 15 năm trong khoảng 20 năm qua, được thả ra ngày 13 tháng 11 năm 2010).  Hình trên: Các ký giả dành 1 phút tưởng niệm để hổ trợ bà Aung San Suu Kyi. Hình dưới:  Một số hình ảnh biểu tình quốc tế yểm trợ cho Tự Do Dân Chủ tại Miến Điện, với hình ảnh biểu tượng về bà, được mệnh danh là cành hoa lan sắt thép.

Hình dưới:  Đất nước hồi sinh, cả nước reo mừng khi bà Aung San Suu Kyi  được phóng thích.  

 

Phụ nữ gan lì, hoa lan sắt thép.

Vào những năm 1990, Aung San Suu Kyi từng viết về sự đấu tranh của bà trong quyển sách mang tựa đề “Freedom from Fear” (tạm dịch là Vượt lên sự sợ hãi). Nhưng lãnh đạo đối lập Miến Điện hầu như không bao giờ nói về đời tư hay tiết lộ chuyện gia đình. Kịch bản bộ phim The Lady khi tập trung nói về mối tình của cặp vợ chồng này buộc phải điền vào chỗ trống. Nhân vật Aung San Suu Kyi vì thế mà càng trở nên lãng mạn giống như tiểu thuyết.  Tác phẩm The Ladytuy gọi là phim tiểu sử (biopic), nhưng thật ra là một bộ phim tình cảm, có nhiều đoạn cảm động nhưng cũng có màn hơi cường điệu.Thông thường, một bộ phim theo thể loại này thường lồng tiểu sử vào lịch sử, kể một câu chuyện nhỏ để làm nổi bật câu chuyện lớn. Khuyết điểm của bộ phim The Lady là tác phẩm bị mất cân đối do đạo diễn Luc Besson tập trung quá nhiều vào mối tình của cặp vợ chồng Aung San Suu Kyi, mà chỉ nhìn lướt qua bức tranh toàn cảnh của đất nước Miến Điện. Điển hình là màn mở đầu bộ phim cho thấy cảnh ám sát thân phụ của Aung San Suu Kyi vào năm 1947, nhưng khán giả không biết vì lý do nào. Các sự kiện có thật thường chỉ được phác họa, cho nên khó có thể giúp cho người xem nắm bắt để hiểu rõ thêm về bề dày lịch sử.

Suy cho cùng, bộ phim The Lady nói về hai tấn bi kịch diễn ra cùng lúc : một bên là bi kịch gia đình bà Aung San Suu Kyi và một bên là bi kịch của dân tộc Miến Điện. Nếu cả hai vế bổ túc cho nhau, thì hẳn chắc là bộ phim The Lady sẽ càng có nhiều chiều sâu hơn nữa. Nhưng điều mà người xem có thể cảm nhận rõ nhất là nghị lực và ý chí của bà Aung San Suu Kyi : một vóc dáng mong manh mà bản lĩnh gan lì, một nhánh lan mềm mại nhưng cành hoa sắt thép.

Tuấn Thảo


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

RFi


Cung Thánh Bị Tấn Công Tại Việt Nam – Lưu Công Thành

 
  Bài đọc suy gẫm: Một lần nữa, Giáo xứ Thái Hà lại bị tà quyền cộng sản xâm phạm ngay tại thủ đô. Kịch bản cũ để cưỡng chiếm tu viện Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà- Hà Nội vẫn được họ dùng lại  như huy động công an và lực lượng dân phòng giả làm “quần chúng tự phát” tấn công đe dọa giáo dân, lén lút thi công san bằng đất đai trong đêm tối âm u, đồng thời vận dụng những phương tiện truyền thông như đài truyền hình và báo chí gian trá bóp méo tài liệu để xoay chiều dư luận. Xem link kèm tại đây.  Vụ việc tệ hơn vào chiều Chủ Nhật, 20/11/2011 khi một người dân phòng, có bảng tên, trang bị dùi cui, tay cầm điếu thuốc ngang nhiên xâm phạm cung thánh trong lúc nhà thờ Thái Hà đang cử hành thánh lễ cho giáo dân trong xứ, đa số là thiếu nhi. Ông này đã có cử chỉ uy hiếp Linh Mục dâng lễ, dùng những lời lẽ lăng mạ vị Linh Mục này, gây gián đoạn, căng thẳng và hoảng sợ cho công chúng đang hiệp nhất, tham dự thánh lễ. 
 Ghi chú:  Hình ảnh từ các nguồn trên internet chỉ có tính cách minh hoạ.
 
Một số hình ảnh sôi động tuần qua về biến cố Thái Hà cũng như hình tên cộng sản dân phòng ngang nhiên tấn công phạm vi cung thánh.  Hình biểu tình phản đối của dân chúng đối với tà quyền Hà Nội xâm phạm đất đai tôn giáo.
 

 

 
 

 
 Hắn ta tỉnh như ruồi, phải bắt giao ngay cho cảnh sát, khốn nỗi công an, cảnh sát dưới các chế độ cộng sản, nổi tiếng bao che cho nhau…

Thư gửi tín đồ công giáo Thái Hà
Hà Nội, ngày 7/11/2011
Kính thưa bà con và các tu sĩ , linh mục giáo xứ Thái Hà.
Chúng tôi là nguời dân Hà Nội, không theo tôn giáo nào, chua đuợc gặp quý vị bao giờ. Chỉ là một nguời dân yêu chuộng sự công bằng, sự thật mong muốn những điều đuợc hiện diện thật sự trên quê hương mình sau bao nhiêu năm chờ đợi mà chưa thấy.
Tôi là một cán bộ đã ở tuổi về hưu, nhung luôn suy nghĩ nặng lòng với đất nuớc, quê hương, ở đó con tôi, cháu tôi còn phải sống, phải tồn tại rồi sẽ đi đến đâu?
Không phải là tiếm xưng, nhưng những gì tôi nói trong lá thư này có thể đại diện cho ít nhất hàng ngàn nguời có cùng mong uớc tốt đẹp cho quê hương như tôi. Trong các câu lạc bộ, trong các buổi nói chuyện giữa chúng tôi, những ngày vừa qua đề tài chính là câu chuyện của quý vị. Chính vì thế anh em bạn bè nhờ tôi cùng gửi lá thư này để tỏ tâm tình.
Côn đồ leo lên khu vực Cung thánh đòi đánh linh mục, tu sĩ và an ninh leo lên quay phim.
Những ngày qua chúng tôi theo dõi diễn biến quanh vụ giáo xứ Thái Hà bị chính quyền cộng sản (biến chất) dùng mưu đồ hèn hạ để vu khống, triệt hạ. Lợi dụng bộ máy tuyên truyền mà do chính những nguời dân chúng tôi đóng thuế để làm những việc thất đức, vô lương tâm, chúng tôi rất bất bình.
Đây không phải lần đầu tiên mà chính quyền cộng sản (biến chất) tuyên truyền, xuyên tạc trắng trợn nhu vậy, thậm chí gần đây những trí thức lớn của dân tộc vì phản đối hành động xâm luợc của Trung Quốc cũng đã bị xuyên tạc là phản động.
Sự dấn sâu vào sai trái của chính quyền cộng sản này đã thành hệ thống không thể nào sửa chữa đuợc. Nhiều nguời dân có tâm huyết, những trí thức, cán bộ lão thành đã góp ý trên tinh thần xây dựng, nhưng không những chẳng đuợc tiếp thụ trái lại còn bị chúng hãm hại, vu vạ.
Đến nay sự trắng trợn của chính quyền đa đến tận cùng, khi ngày 3-11-2011 dùng đoàn thể, công an, dân phòng trá hình làm nhân dân đến đánh phá nhà thờ.  Sau đó lu loa rằng nhân dân bức xúc. Sự mạo danh này cho thấy rõ bộ mặt táng tận lương tâm của chính quyền khi đẩy nhân dân mâu thuẫn với nhau.   Qua màn kịch ngày 3-11 ấy, sự táng tận đã đến chỗ tận cùng , đúng như nghĩa của từ táng tận.
 
Một chính thể quang minh không bao giờ đua nội bộ nhân dân đến chỗ mâu thuẫn, trừ chính thể đó đang trên bờ diệt vong mới phải hèn hạ để nguời khác hứng đòn cho mình.
 

 
Chúng tôi là những nguời đã hằng tin vào một chế độ CNXH tươi đẹp, công bằng và văn minh. Cha, anh chúng tôi đã cống hiến hết mình theo lời kêu gọi của chính quyền này trong bao nhiêu năm qua.
Thế nhung đến nay, thật sự chúng tôi đã thấy những đóng góp của mình là đóng góp tiếp tay cho phuờng lừa đảo, độc ác, bạo tàn. 
 
Không những hại mình mà còn làm hại cho đất nuớc, dân tộc. Thật sự từ đáy lòng, chúng tôi rất hối hận vì cả tin vào Đảng csVN đã khiến đất nuớc, dân tộc đi đến ngày nay, nhìn lại những thứ như nợ nuớc ngoài khủng khiếp bởi vay bừa bãi, cạn kiệt tài nguyên do bán tống bán tháo, băng hoại đạo đức xã hội, lối sống suy đồi, đánh mất bản sắc văn hiến cha ông… những thứ mất đi là không thể nào lấy lại, hoặc có lấy lại cũng mất rất nhiều thập kỷ, thậm chí là hàng thế kỷ.
Điều đau đớn là chính những thứ mất đi này là cội rễ,  là nguồn lực để đất nuớc phát triển đã bị mất đi. Đất nuớc mất đi những điều thiêng liêng quý báu đó, để đổi lại gì?
Đổi lại một bọn tham quan, béo mập, phè phỡn và xa hoa, lừa dối và độc ác. Những hy vọng của chúng tôi về một ngày nào đó chính quyền này nhận ra sự thật, nghĩ về lợi ích nhân dân, đất nuớc đã trở thành vô vọng, là tuyệt vọng thật sự rồi.
 
Nhưng những gì mà những nguời dân giáo xứ Thái Hà đa bền bỉ thể hiện nhiều năm qua, đã dạy cho chúng tôi hy vọng về một sự hồi sinh, một sức sống mới trên quê hương, sức sống có mang đầy tính nhân văn, tinh thần bác ái và quan trọng hon nữa là sự quyết liệt sống chết với công lý, với sự thật. Một điều hiếm hoi tuởng chừng đã tuyệt chủng trong lòng nguời dân Việt Nam sau bao nhiêu năm sống trong dối trá của chính quyền.
Xin đừng cho rằng chúng tôi viết lá thư này với nội dung kích động các quý vị, thực sự rằng trên quê hương Việt Nam này bao nhiêu năm qua, chưa có đuợc nơi nào tập trung tinh thần phản kháng, đấu tranh với những bất công, sai trái bằng giáo xứ Thái Hà.
Điều đó là hiển nhiên dù nói gì đi nữa cũng không bác bỏ đuợc sự thật ấy. Các quý vị đã tranh đấu với sự kiên tâm của mình, với lý tuởng của mình hằng bao năm qua không cần phải trông cậy ai, một sự đấu tranh thật khâm phục. 
 
điều rõ ràng chỉ có chân lý muôn đời trong lòng mới khiến nguời ta bền gan đấu tranh trong hoàn cảnh đầy gian khó như các quý vị.

Thưa các quý vị.
Cũng nhân đây, chúng tôi xin đuợc gửi Giáo dân Thái Hà và cụ Giám mục Ngô Quang Kiệt lời xin lỗi sâu sắc của chúng tôi. Nói lời xin lỗi này, không vì chúng tôi đã làm gì xúc phạm đến quý vị hoặc Đức ngài Kiệt.  Nhưng những lúc đó, hệ thống báo chí đã làm chúng tôi hiểu nhầm về quý vị, dù chúng tôi đã có thời gian dài và có kinh nghiệm về hệ thống tuyên truyền này.
Nhưng thật không ngờ lại là những sự táng tận lương tâm cùng cực trong những vụ việc ở 42 Nhà Chung và Thái Hà ngày đó mà chúng tôi không thể ngờ.
Cũng qua đây, chúng tôi xin gửi lời cảm on đến quý vị, qua sự kiện bị bôi xấu và vu vạ, chúng tôi mới mở cặp mắt của chúng tôi ra nhiều hơn và niềm tin thì sụp đổ hoàn toàn.
 
Kể từ đó chúng tôi luôn chú ý đến những gì quý vị đang làm và càng ngày càng sáng tỏ nhiều điều. Ở đó quý vị không chiến đấu vì tài sản, không vì đất đai đã bị muợn, bị chiếm và bị cuớp, mà quý vị đang chiến đấu cho Sự thật – Công lýđiều mà đất nuớc này thiếu thốn và hầu như đã mất đi kể từ mấy chục năm qua.
Chúng tôi là những nguời dân Hà Nội hiểu rất rõ những tài sản nào, ở đâu là của tôn giáo đã bị chính quyền biến chất này cuớp trắng trợn, nên mọi sự lừa bịp của báo, đài càng làm chúng tôi thấy tởm lợm hơn.
 
Là nguời đã từng làm lâu năm trong cơ quan nhà nuớc, tôi biết rất rõ là nếu không có sự đấu tranh kiên quyết của quý vị, thì hai khu đất vàng Hà Nội ở 42 Nhà Chung và Thái Hà đã chia vào túi bọn quan tham Hà Nội từ lâu.
Thưa quý vị.
Nói những lời này, rất dễ đuợc hiểu là sáo rỗng và vô nghĩa, nhưng chúng tôi rất hiểu bản chất chế độ này cũng như chính sách của nó dành cho tôn giáo của quý vị, đó là sự tiêu diệt. Tùy từng lúc, từng nơi để thực hiện sách lược đó.
Chúng tôi đa biết rất rõ là quý vị đã hoàn toàn đúng đắn và theo đúng luật pháp quy định. Tài sản muợn thì phải trả là đương nhiên, nhưng với nhà nuớc biến chất này, thì luôn đi ngược lẽ phải và lòng dân. Vì vậy quý vị sẽ còn phải gặp nhiều chông gai hơn với chúng kể cả những mưu đồ thâm độc.
 
 Thưa với ông phóng viên, khi họ ngang nhiên tiến vào cung thánh rồi lăng mạ, chửi bới làm náo loạn trong lúc đang cử hành những nghi thức công giáo thì phải chăng đây là hình thức phá đạo?

Ngày mai, hệ thống này có thể đưa quý vị lên truờng bắn, vào nhà tù hoặc một âm mưu thâm độc nào đó hãm hại. Chẳng có điều gì mà chúng không làm đuợc, dù đó là việc mất đạo đức, lương tâm nhất.
Nhưng chúng tôi rất hiểu là Thái Hà không phải là Bát Nhã năm xua, ngay cả sự kiện Thái Hà hôm nay cung không phải là Thái Hà ba năm về truớc nhà nuớc cuớp đất chia nhau không đuợc buộc phải làm công viên.
Đất nuớc đang rên xiết duới chế độ độc tài, sợ hãi và nhiều thứ, tuy vậy đã đến lúc như một đồng cỏ khô mà chỉ cần một ngọn lửa. Nhưng sẽ khó có những nguời can truờng, dấn thân cho Sự thật và Công lý như quý vị, chúng tôi không khen, chẳng nịnh nhưng bởi đó là bản chất của tôn giáo mà các quý vị đã đi theo.
Chúng tôi, những nguời có lương tri, thật sự xúc động và khâm phục tinh thần đấu tranh vì một sự thật, vì một nền công lý ngay thẳng và trong sạch trên quê hương Việt Nam dấu yêu.
Vì thế chúng tôi cảm phục, chúng tôi nguỡng mộ và chúng tôi biết rằng, nếu chế độđộc tài Gaddafi đã phải chui xuống ống cống vì chống lại nhân dân, thì ngày mai khi các quý vị bị đàn áp, chắc chắn sẽ có một ngọn lửa bừng lên thiêu cháy chế độ độc tài phản nuớc hại dân trên toàn dân tộc.
Chúng tôi không mong những điều không tốt hoặc hậu quả không hay cho quý vị. Nhung, nếu lúc đó đến, xin quý vị tin rằng sẽ có chúng tôi, có hàng triệu nguời dân Việt Nam đa quá chán ngán, u uất đồng hành cùng quý vị.  Bởi lẽ đó, dù sức kiệt, tuổi già thì chúng tôi xin sẵn sàng mong muốn đuợc gánh vác cùng các quý vị sứ mệnh nặng nề nhưng đầy ý nghĩa này cho quê hương.
Xin gửi đến quý vị sự đồng tâm và đồng huớng của chúng tôi trong việc tìm sự thật và công lý cho đất nuớc.
Chúa của các quý vị luôn bên cạnh các quý vị, che chở và mang bình an đến cho các quý vị.
Đại diện một số đông cán bộ huu trí và nhiều nguời quan tâm đất nuớc.
Lưu Công Thành

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Hỏi Là Trả Lời

 Lý Tưởng Người Việt

Nữ Vương Công Lý
 Dân Làm Báo
Lương Tâm Công Giáo
Đi đòi công lý YouTube

Đảng Kịch – Hoàng Hà

 Bài đọc suy gẫm: Đảng Kịch hay “Sống Với Người Việt – Phần biên khảo với nhiều chi tiết lý thú về việc kết nạp đảng viên tại Việt Nam của 2 Tác giả: Philippe PapinLaurent PassicoussetNgười dịch: Hoàng Hà. Hiệu đính: Diệu Linh. Ghi chú:  Hình ảnh từ các nguồn trên internet chỉ có tính cách minh hoạ.

Một số phản biện từ độc giả:

Hùng Phong:  Tất cả chỉ là một vở kịch. Ở đó, người ta giả bộ phấn khởi, giả bộ căm giận, giả bộ ưu tư, giả bộ chân thành, giả bộ ân hận,…Một vở kịch dài nhưng hồi, chương, đoạn…không được rõ ràng cho lắm! Vậy thôi!

 Tần Cối:  Bài này nêu lên thực trạng Đảng đang “đảng hóa” để ăn sâu, bén rễ chắc hơn vào trong xã hội đương đại SAU KHI LIÊN XÔ TAN RÃ.  Nếu ngày xưa người ta tìm mọi cách cản trở người tài vào đảng để ngăn chặn bước tiến công danh, để che chắn phe cánh, bè phái. Muốn vào đảng phải PHẤN ĐẤU trầy vi tróc vẩy thì ngày nay đang có nạn VÀO DỄ RA KHÓ. “Quên chuyển hồ sơ về địa phương sau khi hưu, quên sinh hoạt và đóng đảng phí là các thủ thuật để THÔI sinh hoạt đảng”. Tất cả đang nói lên đảng cảm thấy cô đơn, cô độc và đang muốn dùng kỷ luật đảng, đặt vòng kim cô lên những nhân tài ưu tú, lớp trẻ, trí thức trẻ mà đảng sợ rằng để họ ngoài đảng, ngoài vòng kiểm soát tư tưởng là rất nguy hiểm.

Nguyễn văn Đức:  Chặt chẽ như thế mà sao vẫn sụp đổ? ( Nga và toàn bộ các nước Đông Âu) . Bao giờ thì đến bốn nước chủ nghĩa xã hội còn lại? cũng chỉ là thời gian thôi.

J:  Hiền đã bị lôi vào một vở diễn dối trá !!

Philippe Papin đang ký tên trong buổi ra mắt sách tại Hà Nội. Hình bên: Đồng biên khảo tác giả Laurent Passicousset.

Hiền, một người được kết nạp vào Đảng như nhiều người khác

Đảng là một thế giới bí ẩn, không gì lộ ra được bên ngoài, người ta nói những điều đầy trái ngược về thế giới đó. Một số người nhìn thấy Đảng hiện diện ở khắp nơi, một số khác chẳng thấy nó ở đâu cả. Không ai thực sự biết Đảng là gì và hoạt động ra sao trong đời sống hàng ngày. Nhưng dù sao một chút ít thông tin nhỏ nhoi về Đảng có lẽ sẽ được người ta biết, bởi vì từ những năm 2000, chúng ta được chứng kiến một sự khuyếch trương mở rộng của Đảng trên diện rộng. Các cơ sở Đảng khác nhau ở các cấp độ khác nhau lần lượt kết nạp thành viên. Đảng phát động một chiến dịch tuyên truyền rộng khắp, trên đường phố, trên báo chí và trên truyền hình. Và nếu nhìn với con mắt nghề nghiệp hơn thì thấy rằng Đảng đang ở mọi cấp độ công khai chiếm lĩnh các cơ quan lập pháp và hành pháp địa phương. Ta không thể biết mọi điều sẽ tiến triển ra sao, nhưng ít ra cần phải cố gắng hiểu chúng.

Để làm điều  này, tốt hơn hết là hãy lắng nghe một chứng nhân, một trong số hàng triệu thanh niên Việt Nam đến một thời điểm bước ngoặt trong sự nghiệp của mình bỗng nhiên đứng trước tình huống gia nhập hay không gia nhập tổ chức Đảng. Đó chính là trường hợp của Hiền. Cô 36 tuổi, thích vui sống, chế nhạo chuyện chính trị, nhưng đã gia nhập hàng ngũ của Đảng cộng sản và vừa nhận tấm thẻ Đảng viên. Câu chuyện của cô cho ta biết vì sao và làm thế nào những con người bình thường gia nhập tổ chức Đảng, hay vì sao và làm thế nào mà họ không thể làm khác thế, cho ta biết cả cách thức mà những “chi bộ” huyền thoại vốn định hình đất nước này vận hành, cũng như là thái độ ngày càng thờ ơ của người Việt Nam đối với đời sống chính trị của đất nước mình.

Cách thức và sự gia nhập Đảng

Hiền là mẹ của một cô con gái chín tuổi và sống tại một khu tập thể chung cư phía Nam Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp khoa tiếng Anh vào năm 1995, cô làm việc cho một số công ty nước ngoài tới năm 2002. Trong thời gian này, cô hưởng một mức lương cao: trung bình là 230 euro mỗi tháng. Cô khi đó thuộc lớp thanh niên Việt Nam giỏi dang biết thích ứng với một nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh mẽ. Tuy nhiên vào năm 2002, cô thôi làm việc cho doanh nghiệp nước ngoài để chấp nhận một vị trí khiêm nhường tại bộ phận thông tin-tư liệu của bộ nông nghiệp. Việc chuyển đổi diễn ra dễ dàng.

Được một người họ hàng chỉ bảo, cô đã vượt qua kì thi viết một cách dễ dàng, còn tại kì thi phỏng vấn, cô đã biết chứng tỏ kinh nghiệm làm việc liên quan đến lĩnh vực quốc tế của mình. Lương cô nhận chỉ còn là 45 euro, nhưng bù lại cô đạt được cái mình từng mơ ước: một công việc ổn định và có nhiều thời gian hơn để chăm sóc con gái khi đó mới một tuổi. Khi đó, cô thấy bằng lòng và không hề tiếc về sự lựa chọn này của mình. Cô có thời gian, có nhiều thời gian là đằng khác. Chắc chắn mức lương của cô mà cô có thể kiếm đước khi đó ở một văn phòng nước ngoài là 700 euro nếu như cô không có quyết định thay đổi đó: song thực tế cô chỉ còn kiếm được gần một nửa so với mức đó nếu cộng them khoảng 200 euro cô kiếm thêm được nhờ công việc dịch thuật làm ngoài giờ.

Trong hai năm đầu, công việc của Hiền diễn ra bình thường. Giờ giấc làm việc ở cơ quan linh động, thỉnh thoảng có thể vắng mặt một ít không sao, bầu không khí làm việc thân thiện. Đồng nghiệp của cô thích bàn đủ chuyện trên đời, thích bông đùa, bình luận chuyện thời sự, thổi phồng những chuyện bàn tán đó đây trong thành phố. Cô hoà đồng với mọi người, đặc biệt có quan hệ tốt với sếp của mình – một người có cá tính nhu hiền biết tế nhị tìm hiểu về gia đình, sở thích và suy nghĩ của cô. Anh ta tỏ ra rất quan tâm: Hiền không biết tại sao, nhưng cô để ý thấy thế. Vào một ngày đẹp trời, anh cho gọi cô lên gặp và với vẻ mặt quan trọng đặt vấn đề tạo điều kiện giúp đỡ cô vào Đảng. Chẳng có gì là chắc chắn cả, bởi vì quyết định lại không phụ thuộc vào cô cũng chẳng vào anh ta, chỉ có điều anh ta cho rằng khả năng cô được vào Đảng chắc chắn và do vậy anh ta thấy có trách nhiệm khuyên nhủ cô. Cô đã cảm ơn anh ta đã quan tâm tới cô và nói rằng cô sẽ suy nghĩ về đề nghị này, rồi trở về nhà trong tâm trạng rất rối bời.

Hiền đâu có muốn dính dáng gì đến chính trị đâu. Những điều cô biết về chính trị làm cô càng do dự thêm. Từ bé cô đã được tắm trong những bài ca yêu nước, đã từng đeo chiếc khăn quàng đỏ của đội viên, đã từng trong suốt nhiều năm nghe đi nghe lại một bài diễn văn ở nhà, ở trường và ở trên ti-vi, đã từng học quân sự, đã từng theo học những giờ giảng về chủ nghĩa Mác-Lênin bắt buộc ở trường Đại học. Cô đã biết những cụm từ về đấu tranh giai cấp, tích tụ vốn tư bản nguyên thuỷ, thực dân khát máu, đế quốc Mĩ, chế độ nguỵ quyền miền Nam, bình minh rạng rỡ, những ngày mai huy hoàng và tương lai nhuốm màu đỏ. Trong số tất cả những thứ đó, chẳng thứ gì lạ lẫm với cô, nhưng cũng chẳng thứ gì làm cô quan tâm cả.

Cô đã có gia đình, có cuộc sống độc lập, cô chỉ muốn giải phóng mình, ấy thế mà giờ đây người ta lại đề nghị cô quay lại phía sau…Chưa kể là điều kiện làm việc việc của cô sẽ vất vả hơn, vì như mọi người đều biết rồi, một Đảng viên phải đến cơ quan đúng giờ và không được về trước 3 giờ chiều. “Là Đảng viên tạo ra một kiểu kiểm tra thứ hai đối với nhân viên, và đó là một kiểu kiểm tra chặt chẽ vì lẽ nó xuất phát từ cơ sở Đảng bộ mà nhân viên đó trực thuộc; mọi việc có thể biến chuyển không có lợi, nhất là vào kì kiểm điểm cuối năm, lúc mà Đảng viên không được giấu giếm gì. Cuối cùng, Hiền không muốn mất thời gian; cô đã bỏ làm công ty tư nhân cũng chỉ vì điều này, chứ không phải để mất nhiều giờ họp hành vô bổ. Ngày hôm sau, cô gặp sếp với bộ dạng ra vẻ tiu nghỉu, từ chối đề nghị vào Đảng, với cái cớ hợp lí là phải dành thời gian dậy dỗ con gái.

Một năm sau, đó là vào cuối năm 2005, Thọ lại nhắc lại lời đề nghị. Hiền cố gắng khoái thác nhưng lúc này tình thế của cô đã khác: con gái cô đã bốn tuổi và đi lớp mẫu giáo. Lí do hoàn cảnh gia đình không còn giá trị. Hơn nữa, không ai có thể từ chối vào Đảng nếu không có một lí do chính đáng, vì lẽ vào Đảng là một niềm vinh dự và do vậy phải được đón nhận một cách nhiệt tình. Thọ – một người tử tế và vồn vã – không cần phải nhắc lại điều này với Hiền, và thế là cô ấp úng chấp thuận sẽ thực hiện những bước đầu tiên trên con đường gia nhập Đảng. Vài tháng sau, tên cô xuất hiện trên danh sách những người được đề cử vào lớp cảm tình Đảng. Thế là mỗi người trong cơ quan lúc này biết cô đang trong giai đoạn thử thách để được kết nạp.

Cô theo lớp học này vào tháng tư năm 2006 cùng với hàng trăm người khác như cô được tập hợp từ nhiều phòng ban khác của cơ quan tại phòng hội trường lớn của Bộ Y tế tại khu Giảng Võ. Lớp học chia thành hai giai đoạn: ba ngày học, hai ngày dành cho soạn một bản ghi nhớ tại nhà. Vàọ buổi sáng ngày học đầu tiên, các học viên lớp cảm tình Đảng phải mua ngay tại lớp học một tập sách chính trị chứa nội dung chính của khoá đào tạo, hay đúng hơn đó là nội dung duy nhất vì lẽ những giờ giảng chẳng qua cũng chỉ là những lần đọc nội dung đó trước đông đảo mọi người mà thôi.

Tập kinh nhật tụng lí tưởng đối với những môn đệ theo chủ nghĩa Mác-xít chưa từng đọc tư tưởng của Mác đáng được biết đến. Nó được phân thành nhiều chương nói về lịch sử Đảng, xây dựng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cơ sở của tư tưởng Hồ Chí Minh, qui chế nội bộ Đảng với những nghị quyết mới đây, và cuối cùng là những điều kiện cần phải thực hiện để được kết nạp vào hàng ngũ của Đảng. Tất cả được nhồi vào trong những câu chữ hoàn chỉnh, những lời trích dẫn chung chung và những lời kêu gọi củng cố chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Rõ ràng đây là chủ nghĩa Xta-lin của đầu những năm 1940. Và vì bởi đây là một cuốn giáo trình dành cho những kẻ thô lỗ, cho nên sau những trang dài phân tích là 4-5 dòng in nghiêng tóm lại những gì cần phải thuộc lòng. Và cũng để giúp đỡ học viên, một cuốn sách phụ lục thực sự hữu dụng bao gồm với mọi câu hỏi và trả lời về các chủ đề được cuốn giáo trình phân tích. Thực là một kiểu tổng kết chủ nghĩa Mác-xít phức tạp, một kiểu tóm lược sơ sài các khái niệm và qui luật, một học thuyết được gom nhặt và biến thành những công thức, một kiểu thánh hoá một con người và một kiểu định nghĩa một đường lối: đó quả chẳng khác gì một cuốn sách kinh lễ. Trong ba ngày lải nhải này, Hiền chẳng hề chú ý nghe những gì được nói trên bục, bởi đó hoàn toàn là những gì có trong sách, không một giáo viên nào dám mạo hiểm đi xa nội dung trong đó. Và thế là như những học viên khác, Hiền ngủ và viết thư. Cuối cùng điều mà mọi người chờ đợi diễn ra: giáo viên viết lên bảng ba câu hỏi mà các học viên sẽ phải trả lời trong bản ghi nhớ của mình. Trong ba câu hỏi thì có hai câu hoàn toàn có trong cuốn sách phụ lục hữu dụng, còn câu hỏi thứ ba xem ra có phần cá nhân hơn: “Theo bạn, thế nào là một Đảng viên tốt ?”. Khoá học kết thúc.

 Sách “Sống Với Người Việt” nguyên bản tiếng Pháp 

(Vivre Avec Les Vietnamiens)

Ở nhà, Hiền soạn bản ghi nhớ. Đối với hai câu hỏi đầu tiên, cô chép y nguyên các câu trả lời có trong cuốn kinh thánh mà không thay đổi một dấu phẩy nào, tới mức cô có thể yên tâm mang nó tới một cửa hàng dịch vụ tin học nhờ đánh trên máy vi tính. Chỉ thế thôi mà cũng chiếm tới mười tám trang trên tổng số hai mươi trang theo yêu cầu. Có nghĩa là cô còn hai trang cho phần trả lời cho câu hỏi về suy nghĩ cá nhân. Trong có 30 mươi phút cô đã soạn xong câu trả lời, cô chỉ việc lôi ra những câu từ sáo đã có sẵn về đức tính cần có của một người Đảng viên, về tinh thần đoàn kết với nhân dân, về tình yêu vô bờ bến với Bác Hồ, về nỗi lo không ngơi của Bác đối với việc bảo vệ Tổ Quốc. Cuối cùng cô nở một nụ cười mãn nguyện khi chỉ tay vào bản ghi nhớ của mình: “Dù sao mình không tồi khi tự mình viết câu trả lời cá nhân ! Đa số những người khác chỉ việc làm thao tác “cắt-dán” những mẫu sẵn có được gởi qua thư mail !”. Để kết thúc chuyện này, cô thốt lên một từ mà ở Việt Nam người ta vẫn hay dùng mỗi khi họ chế riễu những lối nói sáo: “Bốc phét!”

Một tháng sau, Hiền nhận từ tay Thọ một tờ giấy chứng nhận cô đã hoàn thành những điều kiện đối với những người cảm tình Đảng. Trên tờ chứng chỉ này, chỉ có thời gian ngày tháng năm ghi trên đó là quan trọng vì nó chỉ có giá trị một năm. Vẫn còn phải có thêm một bước tiến nữa phải thực hiện, vì trước đó nó không có giá trị quá sáu tháng, làm sao cho người ta phải học lại khoá học cảm tình Đảng nếu như việc kết nạp vào Đảng diễn ra quá muộn; Hiền biết nhiều người đã từng phải học lớp này tới năm lần. Dù sao đi nữa thì đối với cô, quá trình xét kết nạp Đảng đã khởi động rồi. Quá trình này sẽ chỉ hoàn thành sau khi đã trải qua những cửa quan liêu sính giấy tờ xen với những sự kiểm tra chính trị chẳng đơn giản chút nào.

Kiểm tra và kết nạp

Thời kì đầu tiên là giai đoạn thử thách. Hiền được hai người “nâng đỡ” (đỡ đầu ) cũng là Đảng viên chi bộ cơ quan trong đó có Thọ. Cô vẫn nói chuyện vui với họ bởi họ vẫn là những đồng nghiệp bình thường của cô, chỉ có điều cô thận trọng hơn trước kia. Cô tránh nói tới những chuyện chính trị, để khỏi bị rơi vào tình trạng chênh vênh nguy hiểm, thậm chí đôi khi bị nhắc nhở với một nụ cười gượng gạo rằng cần phải nghiêm túc hơn trong mọi chuyện. Không khí trong cơ quan không thay đổi: chỉ có Hiền thôi là đang phải học cách thận trọng. Nhưng cô vẫn không biết gì về chi bộ Đảng mà cô sẽ gia nhập: cô chưa là thành viên trong đó, không biết những chuyện diễn ra, được nói, được làm ở bên trong đó. Chi bộ ư ? Một từ xa lạ, gắn với một nơi mà lại không chỉ là một nơi mà thôi, vì lẽ chi bộ họp trong những phòng thông thường. Các thành viên chi bộ vừa ở trong vừa ở ngoài; họ vừa ở cơ quan, vừa ở ngoài cơ quan. Còn đối với Hiền thì lúc này cô chẳng ở đâu cả: cô chẳng là gì hơn ngoài là một viên chức bình thường, cô đâu đã là Đảng viên. Cô đang cảm thấy tư cách của mình thay đổi. Chẳng hề biết tại sao và vì ai, cô có cảm tưởng rằng hành động và lời nói của mình đang được dò xét qua kính lúp. Cô không hề sai: sau này khi đã là Đảng viên cô sẽ biết rằng trường hợp của cô đã luôn được theo dõi sát sao và đã có nhiều bản báo cáo về cô được viết. Nếu cô biết được điều đó thì không phải vì mọi người nói cho cô biết điều đó, mà bởi vì giờ đây chính cô là người thực  hiện vai trò này đối với những Đảng viên dự bị mới.

Tính đáng tin cậy của một Đảng viên dự bị không hề là một chuyện đơn giản. Nó là một đòi hỏi, nó được kiểm chứng. Để làm điều này, Đảng sử dụng một công cụ xưa như tôn giáo: phương pháp phê bình và tự phê bình, nói một cách khác đi chính là lời tố giác và bằng chứng có khả năng phát hiện kẻ thù trong chính mình và kẻ thù xung quanh mình. Phần tiếp theo làm rõ điều này.

Vào mùa xuân năm 2007, chi bộ trao cho Hiền một bản còn nguyên của cuốn “sổ gia đình của Đảng”(?) huyền thoại cho phép điều tra về đảng viên dự bị và người thân của người này, và mục đích thứ yếu là để lôi kéo quần chúng. Lần này, “bài tập đưa ra cho cô không hề vớ vẩn tí nào và không thể hoàn thành trong nửa tiếng đồng hồ thôi”. Thực tế là cô đã cần tới hơn sáu tháng cho nhiệm vụ này. Cô phải ghi chép lại những thông tin về ông bà cô và những người thân thích, về bố mẹ, về cô gì chú bác, về anh chị em, về chồng, con cái, và tương tự như trên về phía chồng của cô. Đối với từng người một, cô ghi tên, ngày và nơi sinh, nơi ở, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, trình độ học vấn và chính trị, hoạt động tại các tổ chức đại chúng, có là Đảng viên hay Đoàn viên hay không, có dự định ra nước ngoài hay không, tài sản và “thái độ chính trị”. Liên quan đến bố mẹ và ông bà, bản mẫu kê khai yêu cầu ghi rõ những người này liệu đã “làm việc cho kẻ thù” hay không ( Pháp hoặc Mỹ ), liệu đã từng bị xử lí trong cuộc cải cách ruộng đất ( 1951-1956 ) hay không, hoặc liệu đã bị kết án tại các trại cải tạo sau 1975 hay không. Đó là một công việc chán nản với 26 phần phân theo thành viên gia đình. Tất nhiên, như tất cả mọi người, Hiền không chần chừ trước một ô trắng nào. Cô nói dối đôi chút về tình trạng gia đình vì không biết, nói dối nhiều về họ hàng cũ và xa xôi, nói dối nhiều hơn về mong muốn và thái độ chính trị của người này người kia vì không biết và không muốn biết. Nhưng cô cần phải thận trọng: những cuốn sổ được đối chiếu với nhau và cuốn của cô không được nói ngược với cuốn mà bác cô vốn cũng là Đảng viên từ hơn hai mười năm nay đã kê khai.

Thủ tục này có thể sẽ chỉ mang tính hình thức ở đất nước Việt Nam đương đại như biết bao nhiêu điều khác. Thực tế không phải vậy. Những lời khai của Hiền sẽ được kiểm chứng một cách kĩ lưỡng. Công không hề biết làm cách nào việc kiểm tra về mặt giấy tờ đã được thực hiện, mặc dầu cô không chắc chắn rằng đã có một cuộc tìm kiếm trong hồ sơ của Đảng, nhưng cô biết rằng chi bộ đã cử hai người đi kiểm tra sổ gia đình của cô. Bởi vì họ hang gần của cô sống tại Hà Nội nên trường hợp của cô dễ dàng được xử lí và chính những người “nâng đỡ” cô đảm trách công việc này: họ sẽ  không phải đi xa lắm. Nếu cần phải về quê thì họ có lẽ đã cử những người ít bận rộn hơn và có lẽ cô đã phải đi cùng, thuê xe ô tô và trả mọi chi phí rồi. Hai thanh tra sẽ kiểm tra tại khu dân cư nơi Hiền sinh sống, rồi tại khu bố mẹ cô sống, cuối cùng là tại nơi làm việc của chồng cô, và mỗi lần như thế họ lại hỏi thông tin cảnh sát khu vực và các chi bộ Đảng cơ sở. Họ kiểm chứng những lời khai của cô, và nói theo một cách chung chung hơn là họ muốn biết cô cố được mọi người biết không, có được nể trọng yêu quí hay không, có xích mích với hàng xóm hay không hay có bị lời qua tiếng lại nào hay không. Họ cùng lúc thực hiện kiểm tra trên giấy tờ và điều tra về đạo đức. Cha mẹ, gia đình, chồng không bao giờ được trực tiếp hỏi; như thế chẳng giúp ích gì, bởi vì nhiều nhân viên nhà nước được gọi với cái tên “công an phường” nắm thật rõ tình hình từng nóc nhà của khu vực mình phụ trách được huy động tại chỗ cho vào công việc vốn là của cảnh sát này.

Về phần mình, Hiền viết một đơn xin vào Đảng đầy tình tiết. Trong bản tuyên bố công khai này, cô nói hết về bản than, trình bày lí do cô xin vào Đảng và hứa nếu được kết nạp sẽ hành động sao cho xứng đáng với sự mong đợi của lãnh đạo Đảng. Hồ sơ của cô giờ có thể được đánh giá sơ qua trong nội bộ. Ngoài những mối quan hệ với hai người “nâng đỡ” tất nhiên ủng hộ cô, cô còn cần phải nhận được sự ủng hộ của quần chúng  Quần chúng chính là những người khác, những người ngoại đạo, có nghĩa họ không là Đảng viên nhưng lại được Đảng hỏi ý kiến và sử dụng nhằm gia tăng ảnh hưởng. Họ tạo thành một lớp người đặc biệt, có họp hành chính thức, và khi cần phát biểu cho ý kiến. Hiền được đánh giá tốt, là một đồng nghiệp dễ chịu và ý tứ: cô được sự ủng hộ của tất cả mọi người.

Hồ sơ của cô khi lần đầu tiên vượt ra khỏi phạm vi chi bộ giờ đây sẽ được đưa lên cấp lãnh đạo cao hơn ( nơi mà như một bài hát đã nói, “Đảng là một ngôi sao sáng, sáng nhất trong muôn vì sao” ). Quả vậy, hồ sơ được chi bộ chuyển lên cho Đảng bộ, rồi được Đảng bộ chuyển lên cho tổ chức, điều này có nghĩa là nó chuyển từ một chi bộ nhỏ qua Đảng bộ để tới cấp lãnh đạo cao nhất của bộ, vì lẽ Đảng nằm trong Nhà nước. Hiền không biết liệu hồ sơ của cô đã được chuyển tới đó chưa, liệu nó đã được xem xét một lần nữa chưa hay được xếp vào kho lữu trữ hồ sơ, nhưng vào đầu năm 2008, cô nhận được quyết định chính thức cho phép cô được vào Đảng.

Việc kết nạp chưa mang tính đầy đủ và trọn vẹn, vì mãi một năm sau nó mới diễn ra. Dù sao đó cũng là lúc quan trọng nhất. Tất cả bắt đầu bằng một nghi lễ kết nạp tổ chức tại cơ quan. Vào một buổi sang, cô được Thọ – sếp và người cố vấn của cô đón tiếp và dẫn cô tới căn phòng họp, nơi các thành viên chi bộ Đảng, những đại diện của Đảng bộ và những người thay mặt quần chúng ngồi nhóm họp xung quanh một cái bục có cắm hoa và được những chiếc đèn ha-lo-gien chiếu sang. Chúng tôi đếm có mươi hai người trên bức ảnh mà cô giữ. “Không khí buổi họp trang nghiêm tới mức không ai có thể đùa cợt được” – Hiền nói vẫn với điệu bộ thoải mái thường ngày của mình. “Tất cả đã được sắp đặt dàn dựng, để tạo ra cái vẻ nghi thức và quan trọng. Không có nụ cười nào, những vẻ mặt nghiêm túc, những câu chào ngắn gọn khô cứng. Tóm lại là tất cả mọi thứ được thực hiện để tạo cho nghi lễ kết nạp một cái vẻ đặc biệt trang trọng. Hiền tới ngồi vào chỗ của mình, dưới một tấm ảnh chân dung Bác Hồ bằng sơn mài. Cô cảm thấy mình sao lung túng thế. Rồi đột nhiên tất cả những người đến dự đứng cả dậy: quốc ca nổi lên. Sau quốc ca là bài “Quốc tế ca”, rồi sau đó là lễ chào cờ, hay đúng hơn là có hai lá cờ, vì ngoài lá cờ của Đảng còn có là cờ Việt Nam. Phương – bí thư chi bộ – lên phát biểu. Cô đọc tuyên bố chính thức của Đảng bộ cơ quan về việc kết nạp Hiền vào Đảng. Sau đó, hai người “nâng đỡ” Hiền đọc báo cáo của mình và nói thêm vài lời nhấn mạnh giây phút quan trọng của buổi lễ kết nạp và sự tin tưởng của Đảng đối với người được thu nhận; một trong hai người đã không quên hô khẩu hiệu: “Đỏ như màu của sự tin tưởng, đỏ như màu máu của chúng ta”.

Đến lúc Hiền phải lên phát biểu. Cô không tỏ ra lúng túng bởi tất cả đã được sắp xếp từ trước rồi. Trước hết cô đọc lá đơn xin vào Đảng và lời tuyên thệ của mình, một cách để nhấn mạnh rằng hành động của cô là tình nguyện và lời hứa của cô là công khai. Sau đó là giây phút quan trọng nhất. Sau một phút ngừng phát biểu rất được tính toán, cô đọc chậm rãi từng từ một “Bản tuyên thệ của Đảng viên”. Bản tuyên thệ mà cô đã học thuôc long này là một đoạn văn dài nửa trang với bốn điều: 1) Trung thành với Đảng, với chỉ thị và nhiệm vụ Đảng giao. 2) Trau dồi phẩm chất cách mạng, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống quan lieu, lãng phí và tham nhũng. 3) Liên hệ với nhân dân, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhân dân, tuyên truyền trong nhân dân tư tưởng của Đảng, nhất là tại gia đình và tại nơi làm việc. 4) Tuân theo kỉ luật của Đảng, giữ gìn sự thống nhất của Đảng, thực hiện phê bình và tự phê bình, tham gia vào hoạt động chính trị… và đóng góp lệ phí sinh hoạt Đảng. Mỗi khi đọc xong một điều, Hiền lại tuyên “tôi xin thề”; và khi đọc xong toàn bộ nội dung bản tuyên thệ, Hiền nhắc lại ba lần liền câu này.

Phương – bí thư chi bộ phát biểu vài lời biểu dương, sau đó đến lượt người thay mặt “quần chúng” ( xin mở ngoặc nói rằng đây chính là một Đảng viên dự bị chờ kết nạp mới ). Lễ kết nạp kết thúc với việc đại diên chi bộ, công đoàn và quân chúng lần lượt lên tặng ba bó hoa cho Đảng viên mới. Nhưng điều  này cũng chẳng làm cho không khí nghi lễ bớt trang nghiêm hơn, đây là một điều hiếm có ở Việt Nam, bởi lẽ mọi lối hình thức chủ nghĩa may thay không bao giờ tồn tại được lâu. Nhưng ở đây lại là điều bình thường: một lễ cầu kinh đã được đọc, một lễ ban thánh thể đầu tiên đã diễn ra, và cần phải chờ đợi lúc ra ngoài sân, cụ thể là lúc chụp ảnh chung, thì mới được nghe một câu nói đùa về bộ mặt buồn cười của Hồ Chí Minh mà người nghệ nhân sơn mài đã tạo ra .

Hiền sẽ phải đợi thêm một năm  trước khi được chính thức kết nạp. Trong thời gian này, cô không phải làm gì nhiều, có chăng là theo học lớp bồi dưỡng Đảng viên mới gần giống với lớp cảm tình Đảng: lại một tập sách kinh mà chẳng ai đọc, những giờ giảng cứng nhắc mà tất cả học viên ngủ gật, một bài ghi nhớ cá nhân làm qua quit cho xong. Một vài tuần sau lớp học này, Hiền nhận được cái quan trọng nhất và cũng là thứ duy nhất: tờ chứng nhận thành công có giá trị một năm. Và vào tháng 11 năm 2008, cô được công nhận là Đảng viên đầy đủ tư cách. Sự thừa nhận này chỉ là một thủ tục; chẳng có nghi lễ nào diễn ra cả. Cô đơn giản được mời tới cuộc họp thông thường của chi bộ, và tại đây thư kí chi bộ đọc to “quyết định công nhận chính thức” kết thúc với một tràng vỗ tay. Chẳng có bài diễn văn nào, cũng chẳng có bó hoa nào. Hiền vượt qua chặng đường cuối cùng vào tháng Mười năm 2009: nhận thẻ Đảng viên, với hình búa liềm ở phía trên hình chân dung Hồ Chí Minh ở mặt sau tấm thẻ. Tấm thẻ này quan trọng, bởi vì thời gian gần đây phải xuất trình nó khi giơ tay biểu quyết. Trái lại, cần phải giấu nó đi mỗi khi bị cảnh sát giao thông chặn: đối với một Đảng viên, dúi tiền vào tay cảnh sát sẽ bị phạt cao hơn hai lần vì lỗi của Đảng viên nặng gấp hai lần.

Gần ba năm rưỡi đã trôi đi kể từ cái ngày sếp cô thuyết phục cô vào Đảng tới cái ngày cô được công nhận là Đảng viên với tư cách đầy đủ, hai năm rưỡi nếu chỉ tính quá trình kết nạp mà thôi.

Trong hành trình chẳng khác cuộc chinh phục thử thách dài hơi này, đâu chỉ có một mình Hiền mà thôi. Thực vậy, vì từ năm nay, Đảng tăng cường tuyển mộ Đảng viên mới. Năm 2007, 9.500 người đã được kết nạp tại Hà Nội và con số kết nạp mới trong cả nước là 186.000 người. Trong số những Đảng viên mới này, 37 % là phụ nữ, 66 % trong độ tuổi 18-30, 44% là viên chức, 22 % là nông dân và 19 % là quân nhân. Những lớp người mới vốn trẻ tuổi và có học thức cao này (trung bình 26 tuổi và một phần ba có bằng đại học ) được thu nhận vào khoảng 56.000 chi bộ Đảng trên khắp đất nước làm con số Đảng viên tăng lên tới gần 3,7 triệu vào năm 2010 ( 2 triệu vào năm 1996), có nghĩa tương đương với gần 5% dân số Việt Nam.

Một chi bộ Đảng hoạt động như thế nào ?

Viện nơi Hiền làm việc sử dụng 316 công-viên chức. Một trăm người là đảng viên. Các đảng viên phân bổ tại 17 chi bộ, không chi bộ nào có nhiều hơn 10 đảng viên ( 3 đảng viên đã đủ để lập một chi bộ ). Chi bộ của Hiền có 6 đảng viên. Người ta chẳng làm gì cả để sát nhập các chi bộ to nhỏ khác nhau này, chỉ bởi vì sự phân nhỏ ở cơ sở là nguyên tắc tổ chức hệ thống ( trái lại mức độ rất tập trung ở cấp cao nhất ). Bằng cách tăng số lượng chi bộ, Đảng chia nhỏ và bén rễ khắp nơi. Chi bộ này có ba thành viên, chi bộ kia có năm thành viên, các chi bộ khác có tám hay bốn thành viên, như thế cho phép Đảng phủ rộng nhiều hơn cả về mặt địa lí và về mặt xã hội so với một đơn vị lớn hơn gồm hai mươi thành viên. Người ta cảm thấy có bàn tay đang loại trừ phe đối lập. Chi bộ nhỏ của Hiền được gọi với cái tên “tổ” với sáu Đảng viên chẳng thể làm được gì khác ngoài nhiệm vụ thuộc chức năng ban đầu của nó: phát đi những thông điệp từ cấp trên xuống, tạo ra một môi trường và lôi kéo những thành phần có tư tưởng hoài nghi. Người ta không đòi hỏi gì thêm.

Các chi bộ Đảng được tập hợp thành Đảng bộ, các Đảng bộ lại cấu thành các tổ chức Đảng, và cứ thế càng lên cao ta có Trung ương Đảng, rồi Bộ chính trị ở cấp cao nhất với mười năm thành viên. Đó là con đường trực tiếp. Tuy nhiên bất chấp ưu điểm của chế độ tập trung quyền lực, con đường này bị một nhược điểm có tính phổ quát: mệnh lệnh đi xuống nhanh hơn nhiều so với những yêu cầu đi ngược từ dưới lên. Khi đi từ trên xuống, tức từ đỉnh cao xuống cơ sở, sự tuân lệnh tạo thành hình chóp nón, rồi cứ thế như dòng thác nước lan toả xuống tới tận các chi bộ cơ sở ở dưới cùng. Theo chiều đi lên, có nghĩa từ nhân dân tới cấp lãnh đạo cao nhất, thông tin chỉ có thể leo lên được với điều kiện đi qua các “ban thường vụ” – đầu mối đảm bảo kết nối hệ thống từ cấp nọ tới cấp kia. Đảng là một hệ thống có trên có dưới và nguyên tắc tổ chức của nó là sự khép kín, sự vận hành của nó mang tính quân sự. Người ta sẽ bổ sung thêm rằng đó là một điều bí mât.

Đây là một di sản của thời kì hoạt động không công khai, của thời kì kháng chiến và chiến tranh, khi đảng viên được kết nạp trong rừng trong một buổi lễ gần như bí hiểm, có nghĩa rằng tính chất bí mật là một qui tắc không được vi phạm, điều này làm cho Đảng khó nắm bắt. Hiền nhắc lại với chúng tôi bằng cách nhấn mạnh rằng cô đã chẳng hề biết gì cả về chi bộ mà sau này là chi bộ của mình trước khi được kết nạp vào đó; cô đã biết rõ ai là thành viên trong đó, các buổi họp được thông tin trên bảng, nhưng các hoạt động cụ thể và các cơ chế bên trong thì cô không được biết. Sau khi cô đã được kết nạp rồi thì Phương và Thọ vẫn không quên nhắc cô một yêu cầu: không để bất cứ điều gì được nói trong buổi họp lọt ra ngoài, kể cả những gì không quan trọng. Cô vẫn còn nhớ lời nhắc nhở này được đưa ra đúng vào ngày cô được kết nạp. Khi cô ngồi ở chỗ của mình, một chỗ hơi lệch về bên trái, cô đã ngay lập tức cảm nhận được rằng chi bộ Đảng là một tổ chức kín. Cô cũng cảm thấy được sức nặng của sự kiểm tra đối với mình. Phương, bí thư chi bộ, là phó giám đốc văn phòng; những người lãnh đạo cấp cao trong công việc là những người lãnh đạo cấp cao của Đảng, và ngược lại, nói một cách tế nhị, những người lãnh đạo cấp cao của tổ chức Đảng là những người lãnh đạo cấp cao trong công việc. Đối với Hiền, họ là hai song thực tế là bốn. Dù ở bên này hay ở bên kia thì sẽ luôn có « một mắt nhìn cô, một tai nghe cô ».

Tuy nhiên, cô thốt lên, « tôi có may mắn bởi vì chi bộ của tôi còn trên cả mức thân thiện ! ». Khác với những chi bộ khác có thể cứng nhắc, nhất là ở nông thông, chi bộ của cô tập hợp những người có học thức, có thông tin (đó là nghề của họ ), luôn có khả năng tương đối hoá những vấn đề và dàn xếp với lãnh đạo cấp cao. Họ có những sở thích và những cách sống gần giống nhau, một lối sống đô thị tạo ra cách suy nghĩ nhìn nhận cởi mở. Không có xung đột, không có căng thẳng, không có sự đố kị. Ngay cả Phương được bầu lại thêm một nhiệm kì hai năm (dưới sự kiểm tra của Đảng bộ ), là một phụ nữ tử tế, « cầu tiến nhưng tốt bụng » : cô phải vậy nếu cô muốn dành được sự ưu ái của chúng tôi, tiến bộ trong cơ quan và nhận được một vị trí quản lí cao hơn ».. Hiền vừa nói không hay lắm về bí thư chi bộ mình. Cô không sai. Giữa Đảng và Nhà nước, các con đường tiến thân được trải nhựa êm : thăng tiến trong quản lí nhà nước phụ thuộc vào vị trí quản lí trong chi bộ. Đó chẳng phải là lí do tại sao chủ nghĩa xã hội trở lên đáng yêu hay sao ? Hiền trả lời câu hỏi tinh nghịch của tôi bằng một câu trả lời tinh nghịch : « Đúng thế, nhưng chỉ đáng yêu với những Đảng viên khác mà thôi ! ». Dù sao đi nữa, tại văn phòng, mọi điều diễn ra suôn sẽ hơn với Phương còn bởi chẳng ai dòm ngó tới vị trí của cô ; vào đợt bầu vừa rồi, Hiền thậm chí còn nhớ là một Đảng viên chi bộ cô đã lôi cô ra gặp riêng trong hành lang và khẩn khoản xin cô đừng bầu cho người đó.

Hàng tháng, Hiền dự họp chi bộ tại căn phòng bình thường của bí thư- buổi họp không kéo dài quá một giờ. Vì cô đã từ chối vị trí kế toán, mọi người đã giao cho cô soạn biên bản các buổi họp. Sau khi điểm lại tình hình, mọi người phải thông báo những tin mới và những chỉ đạo từ trên. Những thứ này không phải diễn ra thường diễn ra và cũng chẳng khó giải thích cho lắm, và vì vốn là những người làm việc trong lĩnh vực thông tin-tư liệu cho nên mỗi người trong họ cũng đã biết điều gì diễn ra, điều gì cần phải nghĩ và điều mình cần nghĩ thực sự. Tất cả không quá mười phút. Rồi, mọi người thảo luận kĩ về công việc thường ngày, rồi mười năm phút cuối biến thành lúc nói chuyện phiếm. Mọi người uống và vui đùa. Không khí của những buổi họp này là tất cả trừ nghiêm túc. Như để thanh minh, Hiền kết luận : « Chi bộ của tôi có thể không thật nghiêm túc cho lắm. Nó chắc hẳn khác với những nơi khác, nhất là so với những nơi hẻo lánh, nơi mà người ta thực sự nói chuyện về tình trạng đất nước và của thế giới… ». Một chi bộ không thật nghiêm túc ư ? Dù sao nó ít nghiêm khắc tới mức nhiều lần nó đã bị quên, hoặc bị chán ghét tới mức chưa bao giờ diễn ra, tới mức phải làm giả sổ ghi chép và lập một biên bản họp giả…  Nhiều trường hợp ở những nơi khác chỉ ra rằng trò họp giả này đã trở thành rất phổ biến, và cuối cùng cái kiểu vừa rập khuôn và vừa vô lối này đã trở thành một nét khá tiêu biểu cho xã hội Việt Nam đời thường ngày hôm nay.

Mặc dầu vậy, vẫn tồn tại nhiều ràng buộc. Trước hết phải nói tới những lần triệu tập họp bất thường khi lãnh đạo Đảng tuyên một nghị quyết. Cần phải ngừng mọi công việc để có mặt. Tổ chức hình kim tự tháp từ trên cao  hả hê huy động năm mươi ngàn chi bộ phía dưới. Hiền đã ba lần tới những buổi họp kiểu thế được một phái viên của ban Tuyên giáo TƯ Đảng triệu tập tại một hội trường lớn của bộ. « Tôi đã chẳng nghe gì hết » – Hiền đã nói thế – « Nhưng tôi đã mất cả nửa ngày, và tôi đã một lần lỡ một cuộc hẹn quan trọng ».

Còn một ràng buộc nữa nhàm chán hơn, đó là qui định bắt buộc đảng viên phải tham gia cả cuộc họp của chi bộ Đảng tổ dân phố nơi Đảng viên cư tru, ngoài cuộc họp của chi bộ cơ quan, và nếu có thể tham gia cả vào hoạt động do chi bộ Đảng tổ dân phố tổ chức, điều này càng làm mất thêm nhiều thời gian. Ta có thể nói dối, nghĩ ra một lí do vắng mặt nào đó, nhưng theo Hiền dẫu sao thỉnh thoảng cũng phải có mặt để tránh bị lôi ra khiển trách. Chỉ khi về hưu thì Đảng viên mới được thôi không phải thực hiện nghĩa vụ này. Những Đảng viên nghỉ hưu ai cũng biết mánh khoé sau : họ quên chuyển hồ sơ Đảng viên từ chi bộ cơ quan nơi họ thôi làm việc tới chi bộ Đảng tổ dân phố nơi họ sống, nơi mà về lí thuyết họ sẽ phải tiếp tục tham gia  sinh hoạt Đảng…

Liên quan tới những điều bắt buộc, chắc chắn phải nói tới cuộc họp cuối năm dưới hình thức là cuộc họp kiểm điểm cá nhân đã trở thành một nỗi ám ảnh đối với mọi Đảng viên. Từng người một phải đọc một bản kiểm điểm, cho ý kiến về bản kiểm điểm của các Đảng viên khác, và mỗi lần như thế họ phải điền nghiêm túc vào một tờ kê khai. Rồi trước những con mắt giả bộ thơ ngây – thực tế đây chẳng khác gì một trò trẻ con kinh khủng – từng người một phải tự kiểm điểm mình trước người khác,và để lời kiểm điểm được hoàn chỉnh, cần phải đề nghị người khác nhận xét về mình. Thực là một phép biện chứng giống trò ném đá nẩy trên mặt nước : quả vậy nếu bản tự kiểm điểm của tôi bao gồm ý kiến phê bình của người khác, thì bản kiểm điểm ( tự phê bình ) của người khác cũng bao gồm ý kiến phê bình của tôi, và chỉ như thế thì việc phê bình mới có ý nghĩa đầy đủ ( phê bình nhau để giúp đỡ nhau ). Ngay cả khi không có ý kiến gì, cũng phải cố tìm ra điểm nào đó còn chưa hoàn thiện cho lắm ở mình hay ở người khác để có gì đó phát biểu trong khoảng thời gian dành cho mình và có gì đó để điền vào bản kê khai của mình. Càng nói được điểm thực sự còn yếu kém của mình hoặc của người khác, thì lời tự phê bình và phê mình mới được cho là thành thật và tử tế. Và thế là người ta chẳng thiếu chuyện để có thể toả sáng.

Chẳng hạn người ta điểm lại những sự kiện đã xảy ra trong năm, nhắc lại chuyện ngưòi này hút thuốc cả ngày trong văn phòng, người kia không bao giờ đóng cửa khi ra ngoài, hay người khác hay quên chào, đi quán cà phê và sao nhãng việc gia đình, không đi đổ rác, đi làm muộn, mua cho mình một chiếc xe máy đẹp ( lấy tiền từ đâu ? ) vân vân. Thậm chí không cần phải coi đây là dịp trả thù để làm cho cuộc họp biến thành chuyện không hay ; chỉ cần một phút bực bội, một thoáng tỏ ra mệt mỏi, một cá tính dễ tự ái, hay tỏ ra là một người rất tỉ mỉ là đủ rồi ( giống như người luôn cầm trên tay cuốn sổ để ghi chép lỗi của người khác ). Bởi vì cuộc sống xã hội đôi khi đòi hỏi người ta phải biết im lặng, cho nên tất cả những gì bình thường lẽ ra không nên bao giờ nói ra có thể gây ra xung đột và cãi vã để lại tổn thương

Bản thân cái cách thức này tạo ra xung đột. Nó buộc mỗi người phải đặt lên bàn ( nói ra ) những lí do gây bất hoà, những mầm mồng gây mâu thuẫn, những chiếc ngòi được nối nhân tạo với những chiếc thùng thuốc thực tế không tồn tại hoặc dẫu sao không nhất thiết tồn tại. Ta hiểu ra mục đích của cái cách thức cổ xưa theo kiểu Lê-nin này : kiểm soát thông qua mâu thuẫn. Sự bất đồng được tạo ra từ vô số chuyện là cách tốt nhất để tránh những sự liên kết ở cơ sở vốn luôn nguy hiểm. Nó là phương thuốc chưa căn bệnh tế bào con trẻ này : tòng phạm. Ta ngỡ mình đang ở trong phòng khách của Rousseau, ta đang ở dưới chiếc mũ nồi của Lê-nin. Thật kinh ngạc khi vẫn còn thấy ở Việt Nam ngày nay những gì mà người ta chỉ tìm thấy trong những cuốn sách lịch sử về chủ nghĩa cộng sản và những cuốn sách nhỏ của quân nhân. Ta thấy ở đây một tính chất bảo tàng học nào đó không phải là không thú vị. Chỉ có điều đó là một bảo tàng đã vươn ra khỏi những bức tường của nó bởi vì cái nghi thức kiểm điểm giờ đây đã lan toả ra « đại chúng ». Dù là Đảng viên hay không là Đảng viên, mọi viên chức phải làm theo. Trong bộ máy chính quyền Việt Nam, ngay cả những kẻ nghịch đạo cũng thú tội cơ mà.

Hiền bình thường vốn điềm tĩnh cũng nổi sung lên : « Trong vô số trường hợp, buổi họp kiểm điểm cuối năm là một thách thức. Tôi đã được nghe kể nó diễn ra như thế nào tại nông thôn, trong bầu không khí toàn là những sự gièm pha chỉ trích và tư thù. « Chúng tôi rất muốn tin vào những gì họ nói, nhưng ngoài những chuyện nọ chuyện kia về những xung đột giữa những người nông dân, chúng tôi đã không thể có những bằng chứng hay thông tin cụ thể đáng tin cậy nào về việc kiểm điểm ở nông thôn. Dù sao thì chuyện kiểm điểm ở chi bộ Đảng của Hiền diễn ra suôn sẻ, rất suôn sẻ là khác. Các Đảng viên chi bộ của cô là những người có học thức vốn hiểu rất rõ những cái bẫy để tránh né : trước tiên là ngay từ trước cuộc họp họ đã thoả hiệp trước với nhau về mối liên hệ giữa phê bình và tự phê bình (« mình trách cậu cái này, cậu chỉ trích mình cái kia, chúng ta sẽ diễn xong vở kịch », sau đó bằng cách trích tiền quĩ đi nhà hàng.. Cách thức tránh né này tỏ ra hiệu quả. Nhờ đó mà Hiền đã có thể tiếp tục tự do phát ngôn và nói với chúng tôi về buổi tổng kết cuối năm này. Là người được may mắn, cô đo sự khác nhau với điều mà người ta kể cho cô về những chi bộ ở những nơi khác. Nhận định này cũng còn giúp ích cho toàn bộ cuộc nói chuyện của chúng tôi : quả vậy, nếu như chi bộ của cô quả là một địa ngục thì cô đâu đã có thể phá bỏ luật giữ bí mật để kể với chúng tôi câu chuyện này về Đảng cơ chứ.

Gần đây, Tiến sĩ Đỗ Xuân Thọ loan báo sẽ đốt thẻ Đảng nếu sau Đại hội lần thứ 11, Đảng vẫn không từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin. Theo Dân Luận

 

Càng vào Đảng càng ít làm chính trị

Hiền thuộc lớp thanh niên đô thị trung lưu không quan tâm tới chuyện chính trị. Lớp người này nhìn về tương lai và có khả năng chịu đựng cao, miễn sao họ không phải chịu nhiều gò bó quá và đời sống kinh tế khá lên. Điều quan trọng đối với họ là tăng trưởng kinh tế, chứ không phải chuyện chính trị theo kiểu ngày xưa. Bởi xét cho cùng thì liệu đã có gì thay đổi đối với Hiền kể từ khi cô vào Đảng hay chưa ? Chẳng gì cả. Cô đã trải nghiệm quá trình kết nạp Đảng như thể đó là giai đoạn có phần gò bó, và xét cho cùng thì cũng chẳng quan trọng lắm. Đó chẳng qua là một thủ tục bắt buộc, là điều tất yếu cô phải làm một khi cô đã tự mình quyết định vào làm việc cho nhà nước, vả lại cô đã làm thuận theo một cách thật dễ dàng là bởi vì điều đó chẳng đòi hỏi ở cô điều gì về hệ tư tưởng, cũng chẳng gây ra hậu quả gì đối với đời sống hàng ngày của cô, có chăng nó cho cô khả năng được thăng tiến vì lẽ là Đảng viên là một trong những tiêu chí chính thức để được đề bạt đối với viên chức nhà nước. Cần phải làm thế và cô đã làm thế.

Đâu có cần phải là người theo hệ tư tưởng cộng sản hay phải trở thành như vậy đâu để vào Đảng cơ chứ : từ hơn năm mươi năm nay, Đảng đã là một phần của Việt Nam, không phải với tư cách là một hệ tư tưởng, mà là xét ở góc độ thể chế và xã hội. Đó là một bộ máy gần như những bộ máy khác. Một người Việt Nam được cuốn vào hàng ngũ của Đảng có ít sự dấn thân chính trị hơn so với một người Pháp gia nhập Đảng xã hội hay Đảng UMP. Nếu táo bạo hơn, ta có thể so sánh việc vào Đảng gần giống như việc nhận một tấm huân chương Bắc đẩu bội tinh ở Pháp : một kiểu lễ nghi cộng hoà, vốn ngày xưa mang tính chính trị, « đánh dấu » một sự phục tùng, nhưng theo thời gian bị tan chảy để trở thành một kiểu nghi thức của các cơ quan tới mức hoàn toàn mất đi tính chính trị. Ta cảm thấy lúng túng hoặc tỏ ra như vậy, nhưng ta đón nhận tấm ru-băng đeo lên mình, thế thôi.

Hiền chẳng ủng hộ cũng chẳng không ủng hộ Đảng. Cô ở trong hàng ngũ đó. Cô vào Đảng một cách không ồn ào, bình lặng, vào Đảng mà niềm tin không bị thay đổi vì cô đâu có niềm tin nào đâu. Cô có tấm thẻ, nhưng cô đầu phải là người cộng sản đáng giá một su. Và người ta còn không tin là cô không có có đầu óc của một người lính cấp thấp. Một trong những người bạn thân nhất của cô thời trung học không bao giờ quên đưa nhanh tay lên che miệng mỗi khi nói xong một câu chỉ trích chế độ, như thể anh ta đột nhiên câm miệng lại trước một thành viên có thế lực trong Đảng…Lời chế riễu không có hiệu lực: Hiền phá lên cười, và để thanh minh theo một cách cũng hài ước như thế, cô chêm vào một câu tự chế riễu mà tất cả moi người ở Việt Nam đều biết: “Vì tất cả mọi người đều bẩn cả, cho nên tôi vào Đảng để tất “quần chúng” được sạch !” Hiền biết nói bông đùa về chính trị, nhưng đó không phải chủ đề ưa thích của cô. Bản chất của Đảng cộng sản Việt Nam, cơ chế vận hành thực tế của nó, nguồn gốc tư tưởng Lê-nin của Đảng, lịch sử thực sự của nó, sự kiểm soát hoàn toàn đối với bộ máy nhà nước, tất cả những thứ đó đâu có làm cô bận tâm để ý, hoặc nói đúng hơn là cô không nhìn thấy. Đó là văn hoá của cô và của cha mẹ cô, là thế giới của cô, là những gì cô nghĩ tới là đời sống thường ngày của cô. Và giống như nhiều thanh niên Việt Nam hoặc đơn giản đối với nhiều người Việt Nam nói chung, cô chỉ biết về lịch sử chính trị đương đại thông qua những gì sách tuyên truyền nói.

Trong hoàn cảnh như thế, mọi điều mới mẻ gây ra sự kinh ngạc, nhất là khi chỉ với một cái clich chuột, Hiền nhẩy từ thông tin này sang thông tin khác để tiếp cận được những sự thật mà cô chưa từng bao giờ hoài nghi. Khi làm việc, cô muốn kiểm tra lại ngày tháng Hồ Chí Minh đặt chân đến nước Pháp và cô bất ngờ thấy một bản sao hợp đồng hôn nhân của ông …??? ( thiếu chữ ở trang 172 trong sách, do scan) từ kho hồ sơ của KGB: Như vậy là Hồ Chí Minh có vợ, và không chỉ với dân tộc. Một số người bạn của cô nói với cô về một “mối nguy Trung Quốc”, và trên máy tính cá nhân của mình, cô khám phá ra trên những trang blog cả một thế giới toàn những lời phản đối và những sự tố cáo chế độ mà cô đã trở thành một thiết bị trong đó. Cô không thoát ra được ! Khi mở mắt ra, cô ngạt thở khi thấy trên báo chính thống xuất hiện trở lại những lời kêu gọi của cái thời Mao Trạch Đông: “Việt Nam là em, Trung Quốc là anh”. Cô bàng hoàng như từ trên trời rơi xuống khi chúng tôi đọc cho cô trường hợp của hàng chục người trong tù, bị quản thúc hoặc luôn bị đe doạ gây tai nạn giao thông chết người đối với con cái họ khi đi học. Cô ngay lập tức tìm thong tin trên mạng: “Tôi biết được những điều không thể tin nổi”.

Cô kín đáo kể những chuyện này với bạn bè than, nói với họ về sự theo dõi của cảnh sát và công lí mệnh lệnh, tâm sự những nghi ngờ và thu lượm những lời bày tỏ: cô quay trở lại chuyện chính trị mà không hề biết, cô cuốn theo dòng thời sự, theo những hồ sơ cụ thể, những tiết lộ bất ngờ, những sự mở lòng nói ra sự thật, những trang web phơi bày. Cô đã từng biết những người không được ai ưa, đã bị mất việc làm, thậm chí cả tự do. Ấy vậy mà cô đã từng nhìn nhận rằng đó là một môi trường bình thường, một quyết định của công lí, một luật chơi mà tất cả  mọi người đã tham gia. Giờ đây, Hiền bắt đầu hoài nghi và tự nhủ rằng cái chi bộ Đảng nhỏ nhoi tử tế và chỉ hơi không được nghiêm túc cho lắm chẳng có gì liên quan đến những trò chơi chính trị thực tế cả, hay với vai trò giám sát được trao cho nó. Chẳng phải cô hơi bị hụt hẫng hay sao ? Cô lại cười, nhưng có phần ít hơn so với trước kia. Cô tự hỏi không biết những người chịu những đòn trời giáng từ Đảng duy nhất đó có nhiều hay không: thế là chuyện trở lên bớt buồn cười hơn rất nhiều. Giữa sự riễu cợt vô duyên và lời chỉ trích từ đáy long là cả một vực thẳm đang được cô nhìn thấy, giống như hang trăm ngàn thanh niên Việt Nam.

Sự bất an mà họ cảm nhận thấy cũng tương đương với những nỗ lực của Đảng để ăn sâu bén rễ chắc hơn vào trong xã hội đương đại. Thách thức thực sự giờ đây không phải là làm sao thu hút những viên chức trong cơ quan nhà nước nữa, bởi vì như Hiền đã cho ta biết, việc họ vào Đảng đã trở thành điều bắt buộc. Vấn đề hiện này là làm sao vươn tới những học sinh trung học, đại đa số người làm công, tới 80-90 % người Việt Nam đang làm việc trong khu vực tư nhân. Vào năm 1999, chỉ thị 07 của Bộ chính trị đã dự kiến tăng cường mở rộng thu hút lực lượng này, nhưng những nỗ lực kết nạp đã luôn vấp phải thái độ thụ động, nếu không nói là sự phản đối của người lao động ở khu vực tư nhân.

Cuối năm 2009, tức mười năm sau, ngươi ta thống kê có 2.200 chi bộ Đảng và 36.000 Đảng viên tại các doanh nghiệp tư nhân, của Việt Nam hoặc có vốn nước ngoài. Hồ Đức Việt, trưởng ban tổ chức TƯ Đảng cho biết vào tháng Giêng năm 2010 rằng kết quả này vẫn còn quá khiêm nhường và nguyên nhân duy nhất là do thiếu tuyên truyền vận động không thể chấp nhận được: “Lao động tại doanh nghiệp tư nhân không được thông tin tốt và giới chủ doanh các doanh nghiệp này không ưa chấp nhận cho một tổ chức Đảng tồn tại trong doanh nghiệp của mình. “Sẽ tăng cường tuyên truyền, và một chương trình đang được triển khai theo hướng trả them khoản lương cho Đảng viên làm việc tại khu vực tư nhân ! Để đạt mục tiêu của mình và thuyết phục được các chủ doanh nghiệp đón nhận các cơ sở Đảng, Đảng đưa ra lập luận về tăng cường kỉ luật: một công nhân sẽ càng làm việc tốt hơn khi là Đảng viên, và khi đó sẽ trở thành tấm gương cho người khác học theo, và theo định nghĩa là người có tinh thần tuân thủ kỉ luật, trung thực và trách nhiệm.

Người ta tỏ ra vui mừng khi trích dẫn những minh chứng cụ thể chỉ ra rằng không hề có phản đối nào đối với chương trình này, mà trái lại chỉ có sự đồng nhất quyền lợi giữa giới doanh nghiệp và giới chính trị. Đầu tiên phải kể đến ông Lê Như Ái, chủ một nhà máy nước khoáng ở thành phố Hồ Chí Minh, người đã công khai khen ngợi tinh thần làm việc siêng năng mà mười tám Đảng viên trong xí nghiệp của ông đã thể hiện. Còn bà Trần Thi Lê, tổng giám đốc một công ty lương thực tuyển dụng mười ba Đảng viên thì tuyên bố không hề chuẩn bị trước: “Ban đầu tôi lo lắng vì không biết, nhưng tôi đã thấy mình sai bởi vì việc tồn tại một tổ chức Đảng tại doanh nghiệp nhắc nhở chúng tôi thường xuyên phải tỏ trách nhiệm và thực hiện nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và công nhân. Và khi nảy sinh một vấn đề, chính chi bộ Đảng giúp giải quyết vấn đề đó; chi bộ Đảng nắm rõ suy nghĩ, tâm tư nguyện vọng của công nhân; chi bộ Đảng cho phép phản ứng kịp thời trong trường hợp xảy ra bất đồng, và do đó tránh được xung đột xảy ra.

Còn đây là một lĩnh vực mở rộng hoạt đông khác của Đảng: điều hành hoạt động thường ngày của đất nước. Không chỉ giật giây, đứng đằng sau hoặc biệt phái người vào hầu hết các cơ quan, Đảng đang ra khỏi hậu trường để công khai lộ mặt trên sân khấu. Quả vậy, một dự án cải cách đang được tiến hành nhằm sát nhập chức danh chủ tịch uỷ ban nhân dân ( người đứng đầu cơ quan hành pháp địa phương ) với vị trí bí thư Đảng. Có nghĩa là hợp pháp cho phép bí thư Đảng có thể nắm mọi quyền điều hành. Quyền lực của bí thư sẽ càng ít bị hạn chế hơn khi các hội đồng nhân dân đang bị bỏ đi, điều này cũng sẽ xoá bỏ những kì bầu cử địa phương duy nhất ở Việt Nam: Bí thư Đảng trở thành người đứng đầu cơ quan hành pháp giờ đây không còn bị bất cứ hội đồng nhân dân nào kiểm soát. Chúng ta hãy biết rằng những cải cách này không hề làm thay đổi cách thực vận hành thực tế của mọi chuyện, bởi vì ở địa phương từ lâu nay, bí thư vẫn luôn là nhân vật quyền lực nhất; chúng chỉ thay đổi bề ngoài mà thôi, và do đó chỉ để phát đi một thông điệp chính trị mới, đó là: kết thúc huyền thoại về một chính quyền địa phương tự chủ, tuyên bố công khai rằng Đảng từ đây tăng cường chi phối bộ máy nhà nước. Ở cấp TƯ cũng diễn ra thay đổi tương tự, dẫn tới việc sát nhập vị trí tổng bí thư với vị trí chủ tịch nước, giống như ở Trung Quốc. Người ta kháo nhau rằng đây là điều dự kiến sẽ được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 11 vào tháng Giêng năm 2011.

Cuối cùng lien quan đến đời sống thường ngày, sự tuyên truyền của Đảng đã được tăng cường và mạnh nhất vào những năm 2009-2010 kể từ thời kì mở cửa vào cuối những năm 1980. Chỉ cần đọc báo, không chỉ của những cơ quan báo chí chính thức, hoặc xem ti-vi, chẳng hạn chương trình Câu hỏi cho nhà vô địch thu hút nhiều khán giả về nội dung liên quan đến Đảng cộng sản, trong đó Julien Lepers của Việt Nam ra câu hỏi: “Ngày thành lập Đảng cộng sản Đông Dương là ngày nào ?”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên:“Chúng ta hãy đứng dậy để dành lại đất đai của ông cha ta để lại!” vào dịp nào ?”, “Từ viết tắt Việt Minh có ý nghĩa gì?”. Ở khắp mọi nơi và mỗi khi có dịp, người ta lại nói tới lịch sử hào hùng của Đảng cộng sản, kết quả lớn lao mà Đảng đã giành được, những công trình tầm cỡ sắp thực hiện, và “tư tưởng Hồ Chí Minh” đầy mơ hồ -  chủ đề của nhiều lời bàn tán thay vì nói về chủ nghĩa Mác-xít-Lê-nin dường như đã phần nào bị xếp vào trong góc.

Sự tôn thờ thần tượng Bác Hồ được xây dựng ngay từ Hồ Chí Minh còn sống với sự đồng ý của ông đã có nền tảng vững chắc ngay từ khi ông qua đời vào năm 1969; lăng của ông vẫn tiếp tục được nhiều đoàn học sinh và những người dần từ các tỉnh thăm viếng khi thăm quan thủ đô. Những câu chuyện tô hồng về Hồ Chí Minh đã được đưa vào nội dung giảng dạy trong sách giáo khoa. Sự tôn thờ một nhà chính trị dần dần trở thành một sự tôn thờ một bậc thánh[1]. Ta có thể không ít lần nhìn thấy tượng nửa thân của Hồ Chí Minh bằng thạch cao trắng hoặc sơn son thiếp vàng đặt tại các ngôi chùa  làng ở đồng bằng sông Hồng, bên cạnh tượng Phật, tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, hoặc những bức thực sự đẹp và uy nghi được đặt riêng một mình, với một bát nhang được cắm nhiều nén hương thành kính. Đảng sử dụng mọi khả năng có thể và những bức tượng nửa thân này được đặt ở đó để nuôi dưỡng và khích lệ lòng thành kính chính trị. Vào tháng Giêng năm 2010, khi thăm một ngôi chùa đang được xây dựng tại một tỉnh miền Trung Việt Nam, chúng tôi đã ngạc nhiên khi đọc câu sau ở phía trên trán tường: “Được xây dựng dưới sự chỉ đạo của Đảng, để đáp ứng nguyện vọng của nhân dân.” Rõ ràng là Đảng đang công khai sát nhập vào cả đời sống tôn giáo.

Những đòi hỏi của Đảng trở nên cấp thiết. Việc kết nạp đang mở rộng. Tuy nhiên, lối giao giảng đạo bắt buộc này chỉ tạo ra những kẻ giả đạo và những kẻ qui theo giả nhân giả nghĩa mà thôi. Cho nên có thể nói là tình hình chính trị Việt Nam chứa đựng khá nhiều nghịch lí. Một mặt, Đảng ra khỏi ốc đảo, tuyên truyền để kết nạp, công khai can thiệp vào quản lí hoạt động thường ngày của đất nước mà trước đây Đảng vốn thận trọng giữ một độ lùi nhất định, và Đảng nỗ lực sử dụng mọi khả năng để lôi kéo quần chúng ở làng mạc xa xôi hẻo lánh nhất. Mặt khác, giới trẻ Việt Nam, nhất là giới trẻ thành thị, không ngớt lời chế riễu chính trị, hoặc nói  chẳng ra gì về vai trò của Đảng và hình ảnh của Đảng với tư cách là bộ mặt của đất nước ở nước ngoài. Đảng càng lộ diện bao nhiêu thì giới trẻ càng tránh xa  bấy nhiêu. Dường như ta thấy mờ mờ hiện ra ở bên trong một cuộc xung đột thế hệ âm thầm. Giới trẻ ngày càng nóng long chờ đợi tới lúc những nhà cách mạng già và cha mẹ họ nhường chỗ cho mình và để họ có quyền lo chuyện tăng trưởng kinh tế, về những thứ họ tiêu dùng và về chính ước mơ mang “Mỹ” của họ: giới trẻ đang ngộ ra rằng họ còn phải chờ đợi lâu nữa.


Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

AnhBaSàm

Phạm Đình Tân

 Đỗ Xuân Thọ

Dân Luận


Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 197 other followers