Ba Cội là ai vậy? – Cao Bá Tuấn

Bài đọc suy gẫm: Ba Cội là ai vậy? tức bài viết kể lại cuộc nói chuyện với một Trung đội trưởng – Nghĩa quân VNCH. Tác giả Cao Bá Tuấn. Hình ảnh có tính cách minh họa.

Lời giới thiệu:

, , , , , , , , , ,

Mời đọc những lời lẻ chơn chất, thẳng ruột ngựa của một người lính VNCH năm xưa; chứ không màu mè, xảo trá của mấy thằng học giả (chứ không phải học thiệt !!!)

Nói chuyện với một cựu Trung đội Trưởng Nghĩa Quân

– Rất vui được nói chuyện với chú. Chú có thể cho biết tên tuổi, cấp bậc, đơn vị…

– À, tôi tên Nguyễn Văn Ba, Trung Đội trưởng Nghĩa Quân, sáu mươi sáu tuổi.

– Ngày 30/4/75 chú còn ở trong quân đội?

– Tới ngày 6/5/75…

– Nghĩa là chú vẫn cầm súng sau 30/4/75?

– Tụi tôi vẫn chiến đấu mặc dù đã biết có lệnh đầu hàng.

– Chú nghĩ gì về cuộc chiến tranh Việt Nam?

– Rất đơn giản: bên mình Cộng Hòa phải tự vệ vì bị bên kia là Việt cộng tấn công. Hễ buông súng là chết….

– Chú có thể giải thích rõ hơn một chút.

– Tụi nó đánh mình, phá hoại nhà cửa đất nước mình, bổn phận mình là phải chống trả để tự vệ. Cũng giống như bị cướp vào nhà, mình không muốn vợ con bị hại thì mình phải chống lại.

– Nhiều người cho rằng chiến tranh Việt Nam là chiến tranh ý thức hệ, chú nghĩ sao?

– Ý thức hệ cái con mẹ gì. Lính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để tự vệ, chiến tranh ý thức hệ là sản phẩm của mấy cha mấy mẹ trí thức chồn lùi, sa lông. Mấy cha mấy mẹ muốn chứng tỏ mình “học giỏi, thông minh hơn người khác” nên chế ra vụ ý thức hệ để hù con nít…

– Vậy đánh nhau giữa Bắc Việt và Nam Việt không phải do ý thức hệ?

– Để tôi cho em một thí dụ dễ hiểu: nếu Cộng sản miền Bắc (CSMB) không xúi dục đám “Giải phóng miền Nam” (GPMN) và không đưa lính vào phá miền Nam liệu chiến tranh có xảy ra hay không? Nếu tụi nó cứ ở yên ngoài đó mà xây dựng “chủ nghĩa Cộng Sản,” dân miền Nam có đi lính không? Trả lời được câu này em sẽ thấy chẳng ý thức hệ con mẹ gì hết!

– Có người lại cho rằng chiến tranh Việt Nam là nội chiến, chú đồng ý không?

– Theo suy nghĩ của tôi nội chiến là người cùng một nước đánh nhau vì tranh dành hay bất đồng gì đó. “Việt Nam Cộng Hòa” và “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” là hai nước độc lập không phải anh em trong nhà.

– Nói về anh em trong nhà lại có người cho rằng miền Nam và miền Bắc đánh nhau theo kiểu huynh đệ tương tàn. Chú nhận xét thế nào?

– Đó là ý nghĩ của đám trốn lính. Tụi nó là thứ hèn nhát sợ chết nên phải chế ra vụ “huynh đệ tương tàn” để từ chối đi lính. Tụi nó nại cớ “không muốn bắn vào anh em.”

– Một người viết cho rằng Việt Nam Cộng Hòa điên cuồng chống Cộng. Tác giả này còn đưa ra hình ảnh của hai nhân vật mà tác giả gọi là đại diện của hai quân đội. Một anh tên Lưu Quang Vũ lính miền Bắc, và Nguyễn Bắc Sơn của VNCH. Tôi xin phép đọc thơ của cả hai cho chú nghe (đọc thơ)…

– ĐM thằng nào viết ngu vậy?

– Chú có vẻ tức giận… xin cho biết lý do…

– Việt Nam Cộng Hòa mà điên cuồng chống Cộng thì đâu có chính sách Chiêu hồi, đâu có bắt tù binh cả trăm ngàn nuôi ăn cho mập rồi trao trả? Thằng cha này chắc chưa bao giờ cầm súng! Cũng chưa bao giờ biết rõ về Việt cộng. Chú em về biểu chả đọc bài của Trần Đức Thạch, cựu lính trinh sát Việt cộng về vụ thảm sát ở miền Đông. Hèn gì VNCH mất sớm chỉ vì còn có nhiều người quá khờ khạo và ngu xuẩn. Cha tác giả này chắc không biết vụ tết Mậu Thân, Đại Lộ Kinh Hoàng… Tui nói cho chú biết Việt cộng được “chính huấn” là đằng trước mũi súng của tụi nó kể cả con gà con chó đều là kẻ thù. Cho nên chúng giết dân vô tội không gớm tay. Được bao nhiêu người trong lính Việt cộng giống như ông Lưu Quang Vũ nào đó? Còn cha Nguyễn Bắc Sơn làm thơ để giải sầu chứ đâu có Sĩ quan nào đem bi đông rượu đi hành quân. Lính khát nước cần nước chứ đâu cần rượu, hơn nữa giữa trận tiền mà say rượu thì chỉ huy sao được? Mạng sống của lính nằm trong tay mình, đâu có giỡn được?’

 Một cuộc săn lùng địch, hình dưới “Bảo quốc – An dân”.

– Xin phép hỏi chú câu khác: chú có thể kể lại diễn biến những ngày cuối cùng tại sao chú vẫn còn cầm súng cho tới sau 30/4?

– Tôi là Trung đội Trưởng Nghĩa Quân. Nhiệm vụ của tôi là đóng đồn ở địa phương… Có mười tám anh em dưới quyền tôi. Ngày tan hàng tôi biết tụi du kích sẽ không tha mạng nếu bị bắt sống, do đó tôi ra lệnh anh em giải tán về nhà. Còn tôi thì xách cây M16 vô rừng. Tôi tính thí mạng cùi, nếu bị phát giác trước sau gì cũng chết vậy nên chọn cái chết cho đáng. Trong số mười tám anh em có sáu thằng tình nguyện theo tôi…

– Rồi sau đó thì sao?

– Khi thấy êm êm tôi nói tụi nhỏ giải tán, trốn đi xứ khác đừng trở về nhà…

– Vậy là chú không trở về nhà? Chú có ân oán gì với du kích địa phương không?

– Thì chiến tranh mà, tránh sao được…

– Vậy có lần nào chú bắn tù binh khi bắt sống không?

– Để tôi kể cho em nghe vụ này: Một lần lính đi phục tóm được du kích dẫn về trình diện tôi. Thằng du kích cỡ khoảng mười bốn mươi lăm tuổi, nhìn đã thấy ngờ ngợ. Tới chừng hỏi ra mới biết là con trai của thằng Ba Cội…

– Ba Cội là ai vậy?

– Bạn cùng quê, lớn lên nó theo Việt cộng… Nó là Đội Trưởng du kích, tụi tôi thỉnh thoảng cũng chạm nhau.

– Rồi chú xử con Ba Cội ra sao?

– Xử gì, con nít mà…. tôi đá đít, bạt tai nó mấy cái rồi đuổi về. Tôi biểu nó: Nói với tía mày có ngu thì ngu một mình đừng xúi dại con mình đi theo… Vụ này Ban Hai Chi Khu làm hồ sơ chuyển tôi lên Quận. Cũng may ông Quận biết tánh khí tôi nên vỗ vai cười rồi cho tôi về. Ổng biếu tôi chai rượu nói: Tôi biết anh mà anh Ba….

– Sau này chú gặp lại Ba Cội không?

– Không, Ba Cội chết rồi. Bị Thám Sát Tỉnh dứt…

– Còn con Ba Cội?

– Nghe nói nó qua Công An bây giờ làm lớn lắm. Thời gian tôi trốn, nó có ghé nhà vợ tôi hỏi thăm. Có cho mấy chục kí gạo. Nghe nói nó có cám ơn tôi ….

– Rồi chú ra trình diện hay bị bắt?

– Bị bắt. Trốn hoài mệt quá, cũng mấy năm sau nhớ vợ con mò về thăm…

– Chú bị bao lâu?

– Sáu năm tám tháng mười bốn ngày!

– Vậy sao chú không xin đi HO?

– HO gì tôi, mình đâu phải sĩ quan, mà chữ Anh chữ U mình đâu có biết gì…

– Sau khi trở về nhà chú có bị khó dễ gì không?

– Nói thiệt chú nghe, Việt cộng nó ghét lính Tổng Trừ Bị (ND, TQLC, BDQ…) một, nó ghét tụi tôi mười. Lính đánh giặc xong rồi rút còn tụi tôi, đây là tài sản vợ con xóm giềng, địa phương mình nên tụi tôi sống chết cũng cố thủ, tụi nó đánh hoài mà không chiếm được. Nó đì tôi sói trán, nhưng mình thua rồi thì cứ làm câm làm điếc mà sống.

– Chú có cơ hội nào gặp lại mấy anh em dưới quyền?

– Có, hai thằng em giờ nghèo lắm, còn ba thằng đi vượt biên. Tội nghiệp, huynh đệ chi binh thỉnh thoảng hùn tiền gởi về cho mấy đứa nghèo.

– Họ có giúp chú không?

– Có, mà tôi không nhận. Vợ con buôn bán cũng sống được, để dành cho mấy đứa em khổ hơn mình.

– Xin phép chú được hỏi một câu về chính trị: Có vài người đang hô hào hòa hợp hòa giải với Việt cộng chú nghĩ sao?

– Tôi cảm ơn chú em đã tôn trọng mà hỏi tôi, cỡ Trung Đội trưởng Nghĩa Quân học hành bao nhiêu. Nhưng như tôi đã nói hòa hợp hòa giải là anh em trong nhà có chuyện xích mích mới ngồi xuống mà nói chuyện. Còn đàng nầy nước mình là “Việt Nam Cộng Hòa” bị nước khác là “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” đánh chiếm thì làm sao mà có chuyện đó. Tôi hỏi chú em: Tàu lục địa đánh chiếm Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ… liệu dân mấy nước đó có chịu hòa hợp hòa giải với Tàu không?

– Bây giờ nói chơi cho vui một chút, chú biết Nguyễn Tấn Dũng chớ?

– Biết…

– Thí dụ nếu ngày xưa chú đi kích bắt được Nguyễn Tấn Dũng thì chú làm sao, cha này nghe nói trước đây cũng là du kích mà.

– Nguyễn Tấn Dũng cũng cỡ tuổi tôi. Hồi đó có bắt được chắc cũng bớp tai đá đít vài cái rồi gởi về cho Ban Hai.

– Nếu chú biết trước Nguyễn Tấn Dũng sẽ là Thù Tướng sau nầy chú tính sao?

– Làm sao biết được? Nhưng như chú em nói nếu có thiên lý nhãn thấy được vị lai tôi sẽ tính cách khác!

– Cách nào chú có thể cho biết…

– Bị mật quân sự mà chú em, làm sao cho biết được… thì cũng cỡ như người nhái Mỹ với Osama Bin Laden vậy thôi (cười….) – Vậy chớ bây giờ hỏi vui chú em điều này: đố chú em biết đám mới về hưu kỳ rồi (NTD, TTS, NSH…) đang làm gì? Bí hả? Tụi nó đang viết kiến nghị! Thằng Cộng sản nào về hưu cũng giỏi viết kiến nghị hết. (cười…)

– Cụng ly cái chú Ba…  Tôi thấy chú lớn tuổi rồi và cũng đã cống hiến phần vụ của mình cho Tổ Quốc. Giả sử bây giờ nếu đất nước Việt Nam Cộng Hòa cần, chú dám cầm súng trở lại không?

– Già rồi, giờ chỉ nghỉ ngơi vui với con cháu. Nhưng nếu phải chiến đấu để lấy lại đất nước Việt Nam Cộng Hòa từ bất cứ ai chết tôi cũng chịu chú à. Cầm súng không nỗi thì cầm dao, bất cứ cái gì…

– Chiến tranh qua rồi giờ nghĩ lại chú có thấy căm thù lính bên kia không?

– Không, lính chỉ biết theo lệnh. Căm thù là căm thù đám lãnh đạo. Đám này đã lừa gạt lính của nó vào trong nầy chết cả triệu. Cả triệu gia đình ngoài kia mất người thân đến nỗi không có cái xác mà chôn. Hồi đó thiếu gì dịp bắn chết tù binh rồi quẳng xuống sông phi tang mà mình làm không được, ngoài chiến trường bắn nhau thì OK nhưng bắt tù binh rồi tôi chuyển qua cho Ban Hai thẩm vấn coi như mình xong nhiệm vụ… Cũng là con người với nhau cũng có gia đình, cha mẹ, vợ con sung sướng gì bắn người đã ngã ngựa?

– Theo chú những người Cộng sản có nghĩ như vậy không?

– Tôi đã nói rồi, tụi nó được chính huấn coi mỗi thứ trước đầu súng là kẻ thù cần phải giết hết. Thương binh của nó nó còn giết phi tang huống hồ gì lính mình. Bởi vậy mình thua nó vì phía bên mình còn nhân đạo quá!

– Dạo này có nhiều cuộc biểu tình về môi trường mà lượng người tham gia không đông. Có vẻ như dân Saigon rất thờ ơ cho chính tương lai của đất nước và của gia đình họ. Chú có ý nghĩ gì không?

– Giỡn hoài chú em mày! Để tôi nói cho chú em mày rõ: dân Saigon thứ thiệt thì hoặc là ở nước ngoài hoặc là chết tù chết biển hết. Còn dân “Saigon” bây giờ đa số toàn tụi Ba Ke 75 (?)  Tụi nầy thừa hưởng biết bao quyền lợi từ “bác” và “đảng” đâu có ngu gì chống! Cỡ phân nữa Saigon bây giờ là dân nguyên thủy Việt Nam Cộng Hòa thì Việt cộng hết nước sống!

– Chắc chú biết chuyến thăm của Obama. Ổng còn ghé ăn bún chả rồi thăm chùa Tàu gì đó ở Saigon…

– Biết chớ, có điều Tổng Thống của chú em đi lộn chỗ! Đáng lẽ ổng phải ghé mấy cái quán “phở chửi” “cháo mắng” để biết “văn hóa của Xã Hội Chủ Nghĩa.” Thay vì viếng chùa Tàu ổng nên đi thăm Nguyễn Trường Tô và Sầm Đức Xương (mấy thằng cô hồn các đãng môi giới và mua trinh nữ sinh) để học thêm về “đỉnh cao trí tuệ của loài người…”

– Chú Ba vui quá! cảm ơn chú về cuộc nói chuyện này. Chú có muốn nhắn gì với anh em không?

– Ai?

– Những người lính cùng chung chiến tuyến ngày xưa.

– À, vậy thì tôi xin có chút lời: Thưa anh em tôi Nguyễn Văn Ba, Trung Đội trưởng Nghĩa Quân xin có lời chào hỏi anh em mình: Tôi chỉ muốn nói là tôi hãnh diện từng chiến đấu dưới cờ của Việt Nam Cộng Hòa như anh em. Tuổi trai trẻ của tụi mình đã không phí phạm. Tôi cũng có nhiều dịp gặp anh em thương binh thỉnh thoảng ngồi uống cà phê, hút điếu thuốc. Anh em coi vậy chớ hãnh diện lắm vì đã cống hiến phần thân thể mình cho đất nước. Khổ thì có khổ, nhưng tới ngày chết tụi tôi còn ở trên quê hương không bao giờ mất đi niềm hãnh diện từng là người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Đi dân nhớ, ở dân thương.  Phải không các chiến hữu?

Cao Bá Tuấn.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:

Nông Nghiệp Hải Ngoại


Thơ Gởi Ông Hãn – Trần Trọng Kim

  Thủ tướng Trần trọng Kim (1883-1953)

Bài đọc suy gẫm: Thơ Gởi Ông Hãn là thủ bút của Giáo sư Trần Trọng Kim viết tay gởi cho học giả Hoàng Xuân Hãn năm 1947, thời điểm lịch sử của đất nước, trong thư có đoạn nói về Việt Minh. Bài viết của tác giả Nguyễn Đức Toàn, được đăng trong Blog Tễu (Yêu Hán Nôm) của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện. Hình ảnh có tính minh họa.


Ảnh về gia tài văn học cụ Trần Trọng Kim để lại chúng ta khá đồ sộ.

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.
Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.
 Ảnh cụ Hoàng xuân Hãn thời trẻ, và bản tin tên cụ Hãn được dùng đặt cho 1 giảng đướng Đại học của nước Pháp


Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt.
Nội dung như sau :
Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 19471 Ông Hãn2 Hôm ông Phan văn Giáo3 đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài4 xem.             Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có. Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy5, hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau6 do ông D’argenlieu7 sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được8. Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây9, không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền10 và Khiêm11, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa. Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài12. Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu. Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo13, Hoè14 và Sâm15. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao. Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:        身 在 南 蕃 無 所 預 心 懐 百 憂 復 千 慮 (Thân tại Nam phiên vô sở dự,Tâm hoài bách ưu phục thiên lự. = Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị, Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự) Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm. Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết. Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh18 bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:             Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ             Đất khách mơ – màng những thở – than,             Mảng tin bác bị lũ hung tàn.             Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,             Căm giận quân thù đã tím gan. Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước. Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân19 gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.

Ảnh Nội các Chính phủ Trần Trọng Kim, 1945.

Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt21 đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)22 Ông có biết tin ông Bùi Kỷ23 bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả. Nhà tôi và Chương24 đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì? Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.                                                             Nay kính thư                                                                        

Trần Trọng Kim

[tr4] Chú thích :
1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.
2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.
3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.
4. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
5. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Lại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.
6. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)
7. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)
8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167…
9. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”
10. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)
11. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.
12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.
13. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.
14. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)
15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)
16. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc” và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.
17. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)
18. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.
19. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)
20. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)
21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.
22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.
23. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)

24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd).

24. Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chương là tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bà “Trần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên.” (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà. _____________
. Thư mục tham khảo 1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969 2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986 3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982 4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987 5. La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)
Phụ lục ảnh nguyên bản: .

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:


Tễu Blog

Nghiên Cứu Lịch sử


Thiên Thần Mũ Đỏ Ai Còn Ai Mất – Lê Quang Lưỡng

Bài đọc suy gẫm: Thiên Thần Mũ Đỏ Ai Còn Ai Mất của tác giả Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng, vị tư lệnh cuối cùng của binh chủng Nhảy Dù – VNCH. Bài viết từ nguồn trang Nhaydu.com. Hình ảnh chỉ là minh họa.

Mũ Đỏ Lê Quang Lưỡng.

LTS. Tướng Lê Quang Lưỡng Tư Lệnh sau cùng của Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam, Ông xuất thân từ Khóa 4 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, cùng khóa với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu…………….Tướng Lê Quang Lưỡng phục vụ trong Binh Chủng Nhảy Dù Việt Nam từ ngày 15 tháng 6 năm 1954 với cấp bậc thiếu úy Trung Đội Trưởng Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, ngày 1 tháng 9 năm 1965 với cấp bậc Thiếu Tá, ông thành lập Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù, ngày 1 tháng 1 năm 1968 với cấp bậc Thiếu Tá, ông nhận chức vụ Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, ngày 22 tháng 11 năm 1972 với cấp bậc Chuẩn Tướng, ông nhận chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhẩy Dù, ngày 29 tháng 4 năm 1975 ông di tản sang hoa kỳ, định cư tại thành phố Hampton tiểu bang Virginia, Ông về cõi Niết Bàn ngày 21 tháng 9 năm 2005 tại Bakersfield, miền trung Tiểu Bang California, Ông ra đi sau cơn bệnh ngặt nghèo, kéo dài lâu ngày. Ông để lại luyến thương sâu xa cho đoàn quân Mũ Đỏ.

            Ông là vị Tướng, vị Tư Lệnh Nhảy Dù duy nhất sinh hoạt chặt chẽ với Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam từ năm 1980 đến năm 2005; năm 1990 ông cùng Đại Tướng Vaugh Hoa Kỳ dẫn đầu đoàn diễn hành, của Gia Đình Mũ Đỏ Việt Nam, đi diễn hành trên đại lộ Constitution, Washington D.C., cùng với các đơn vị Nhảy Dù của 32 quốc gia bạn, nhân ngày kỷ niệm 50 năm thành lập binh chủng Nhảy Dù Hoa Kỳ, đơn vị của QLVNCH đầu tiên và duy nhất từ trước cho đến nay, được mời chính thức rước ngọn cờ Vàng ba sọc Đỏ giữa lòng thủ đô Hoa Kỳ, hai bên đường dân chúng Hoa Kỳ và đồng bào Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản, đón tiếp và cổ võ nồng nhiệt.  

            Bài ” Thiên Thần Mũ Đỏ. Ai còn? Ai Mất?“, được báo Hồn Việt xuất bản tại miền Nam Ca Li  đăng từ năm 1984, chúng tôi xin đăng lại bài này, với bản thảo chính gốc, chúng tôi hoàn toàn không hiệu đính như những báo khác, kể cả báo Hồn Việt, để anh chị em Mũ Đỏ đọc và suy gẫm, xin các anh chị  em Mũ Đỏ: Chúng ta cùng nhau thắp nén hương lòng tưởng nhớ người anh cả của binh chủng Nhảy Dù từ năm 1971-1975. 

***

            Tôi vẫn nhớ rõ như mới nhìn thấy hôm qua những khuôn mặt, giọng nói tác phong của những anh em Dù đã cùng tôi vào sinh ra tử. Thiếu Tá Thanh Tiểu đoàn 8 mà đồng đội của người Tiểu Đoàn Trưởng nầy thường gọi là Thanh Râu. Anh em chúng tôi có Thiếu Tá Châu Lùn Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1, Thiếu Tá Hạnh, Hào Hoa Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2, Thiếu Tá Trang Trĩ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 3, Trung Tá Bùi Quyền, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5 nổi nóng mặt đỏ gay, Thiếu Tá Lô Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 7, biệt danh là Lô Lọ Rượu. Anh em chúng tôi còn có Cậu Út Biên Hòa hay cậu “Bảy Tình” Mười Lựu Đạn tức Trung Tá Thành, Tiểu Đoàn 6, Trung Tá Trần Đăng Khôi Lữ Đoàn 2 tài đức song toàn.

            Thiếu Tá Đường TĐ9, thích làm thơ tình lãng mạn, gọi là Đường Thi Sĩ, anh em chúng tôi có Thiếu tá Hồng Thu, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 16 gọi Cô Thu. Chúng tôi có hai Ngọc, Ngọc Long Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 và Ngọc Nga, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 4, Làm sao anh em Dù chúng tôi quên được, chúng tôi có 2 người bạn anh hùng, mỗi người chỉ có một mắt. Trung Tá “Bùi Đăng” trong thẻ quân nhân không phải họ “Bùi” cũng chẳng có tên “Đăng“, tên anh là Bằng, Anh chỉ có một mắt. Nhưng những chiến sĩ của anh gọi anh một cách âu yếm là Bùi Đăng. Trung Tá Trần Văn Sơn, Lữ Đoàn Phó Lữ Đoàn 2 cũng chỉ có một mắt từ ngày còn là Đại Đội Trưởng Tiểu Đoàn 5, anh em Dù gọi là Hiệp sĩ Mù, tội nghiệp Sơn đã hy sinh trong trận chiến sau cùng tại mặt trận Phan Rang. Chúng tôi có Hiệp sĩ mù của chúng tôi, Hiệp sĩ mù của Thiên thần Mũ Đỏ không xử dụng cùng một loại vũ khí như Hiệp sĩ mù của phim ảnh và tiểu thuyết. Nhưng oai phong người Hiệp sĩ của Quê Hương ta, chẳng thua sút sự hào hiệp của người trong truyện. Chúng tôi có Hiệp sĩ mù, chúng tôi có nhiều lắm. Làm sao quên Đại Tá Nguyễn Thu Lương, anh em thân thương gọi là Lương Ruột Ngựa. Đỉnh Tây Lai, Bố già Đại Tá Lê Văn Phát, người tử thủ Khánh Dương, người lính già có mặt hầu hết những trận lớn của Quê Mẹ? Bố Già Lữ Đoàn 3? Đúng, chúng tôi có Bố Già đó.

            Tháng 6/1972, sau trận Bình Long, tôi được trả về Sư Đoàn Dù, ít lâu sau SĐ Dù được đưa ra Đà Nẵng để tăng phái cho Quân Đoàn I. Lúc đó tôi là Lữ Đoàn Trưởng LĐ1 Nhảy Dù. Cùng với LĐ1 ra vùng I có LĐ2 và LĐ3. Thời gian nầy, Trung Tướng Dư Quốc Đống là Tư lệnh Sư đoàn Nhảy Dù.

            Sự phân phối các đơn vị Dù tại Quân Đoàn I lúc ấy như sau: Toàn bộ Sư Đoàn Dù ở phía bắc sông Mỹ Chánh, đang tiến quân về hướng Quảng Trị, dọc theo sườn dẫy trường sơn . Tháng 9/1972, tôi được bổ nhiệm làm phụ tá hành quân Tư Lệnh Sư đoàn Nhảy Dù. Vào tháng 8 năm đó, Trung Tướng Dư Quốc Đống bị bệnh, Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Tư lệnh phó Sư Đoàn được chỉ định đảm nhận Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh, còn Đại Tá Bảo, Tham Mưu Trưởng Sư Đoàn thì vừa tử nạn phi cơ, do đó tôi được đảm nhận trách vụ xử lý thường vụ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù một cách không chính thức. Cuối tháng 8, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệu hồi tôi vào Dinh Độc Lập để làm lễ thăng chức Chuẩn Tướng cho tôi, và sau đó tôi được bổ nhiệm Tư Lệnh phó, xử lý thường vụ chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù đóng tại căn cứ Hiệp Khánh, cây số 17 Bắc Huế. Đến tháng 11/1972, tôi chính thức nhận chức Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù, thay thế Trung Tướng Đống từ nhiệm vì lý do sức khỏe. Khoảng thời gian 72 đến 75 ải địa đầu của Tổ Quốc của ta không phải là vùng đất bình lặng, Quảng Trị, Thạch Hãn, Chu Lai, Cố Đô Huế. Những danh xưng đủ nói lên những trời giao động. Những người lính chiến được đồng bào gọi một cách âu yếm là “Thiên Thần Mũ Đỏ“. Trong suốt thời gian máu lửa đó đã có mặt khắp cùng trên những vùng đất ải địa đầu, cùng anh em quân nhân thuộc các quân binh chủng khác, mang lại cho đồng bào, tuy không phải sự bình yên tuyệt đối cũng là một tình hình khả quan.

            Năm 1975 vào những ngày tháng lịch sử, sự phân phối các đơn vị Dù như sau: Hai Lữ Đoàn ở phía nam đèo Hải Vân, một Lữ Đoàn ở phía bắc đèo Hải Vân, chúng tôi đứng vững ở vùng I; Đập những nhịp tim tin tưởng, anh em chúng tôi, một mặt nhìn bao quát tình hình chiến trường khắp nước, một mặt theo dõi mọi tiến thoái của các đơn vị đối phương trong vùng, tay gìm súng sẵn, chờ địch quân. Thói quen tiến vào chỗ chết, thói quen chấp nhận mười thua một ăn mà vẫn chiến đấu oai hùng, đó là đặc tính của anh em Nhảy Dù, mặc dù tin tức giao động đến từ bốn phía, vẫn tiếp tục sẵn sàng chiến đấu, tiếp tục cố gắng.

            Lệnh của cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu gọi Sư Đoàn Dù về Sài Gòn hiện ra với tôi, bởi đó như một chấn động. Lúc đó tôi chờ đợi mọi thứ trong tư thế sẵn sàng. Đợi đối phương ào ạt vượt sông Thạch Hãn, đợi chiến xa địch đến đây, miền Trung kiêu hãnh từ những vùng rừng rậm Nam Lào cho đến miền đồng bằng cát trắng Hội An. Nhưng tôi không chờ đợi được điều đó. Lệnh di chuyển Sư Đoàn Dù về Sài Gòn, lệnh không phải chỉ nghe một phía mà từ mọi hướng. Ngày 10.03.1975, Việt Cộng tấn công Ban Mê Thuộc. 11.03.1975 Ban Mê Thuộc thất thủ. Tổng Thống Thiệu gọi Trung Tướng Trưởng vào SàiGòn nhận chỉ thị. Lệnh khủng khiếp, lệnh làm choáng váng, làm tan nát, đó là “Bỏ vùng I“. Dường như muốn cho lệnh tổng quát đó được thi hành chính xác, Tổng Thống Thiệu đòi Trung Tướng Trưởng phải tức khắc cho rút Sư Đoàn Dù về Sài Gòn ngay. Cho chắc ăn, Sài Gòn qua lệnh rút Sư Đoàn Dù về, muốn trói tay Trung Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn I. “Trói tay” là một hình ảnh dễ hiểu nhưng có lẽ không đủ nghĩa. Sài Gòn đã lấy mất thanh gươm và chặt hết một cánh tay, cánh tay cầm gươm của Tướng Trưởng khi đối phương bắt đầu tiến tới.

            Chỉ sau vài chục giờ sau khi lệnh Tướng Trưởng trả Dù về Sài Gòn, công điện tối mật của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, thay vì do Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng ký, nhưng lại do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ký gởi cho Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù, hạ lệnh toàn bộ Sư Đoàn Dù rời khỏi miền Trung không chậm trễ. Lúc đó tin Thủy Quân Lục Chiến rút khỏi Quân Đoàn I cũng bắt đầu loan ra.

            Ngày 17/03/75, sau khi đã thực hiện đầy đủ những giải pháp kỹ thuật cho các anh em Dù rời miền Trung, chuyển vận, tiếp liệu, an toàn khi ra đi v.v…tôi lên gặp Trung Tướng Trưởng để chào từ giã. Tôi nói với Trung Tướng Trưởng về việc Thủy Quân Lục Chiến cũng sẽ ra đi. Tôi cũng nói lên những lời hàm ý chia sẻ ưu tư của Trung Tướng về sự “Trói tay”, sự tước bỏ mọi hỗ trợ trước một trận đánh lớn. Khuôn mặt Tướng Ngô Quang Trưởng, vẫn sẵn ưu tư, càng hiện ra ảm đạm. Ông chỉ cầm tay tôi nói:”Cảm ơn anh và các Anh em Nhảy Dù đã giúp tôi rất nhiều trong những năm qua“.

            Anh em quân nhân Nhảy Dù nghĩ rằng mình được di chuyển toàn bộ về Sài Gòn. Các Sĩ quan chỉ huy từ Đại Đội cho đến Lữ Đoàn được loan báo là họ được di chuyển về thủ Đô VNCH. Tướng Trưởng được lệnh “trả Sư Đoàn Dù về SàiGòn“. Lệnh tôi nhận được cũng rất rõ rệt: Đưa Sư Đoàn Dù về Sài Gòn.

            Có thể những sử học trong tương lai cũng tóm tắt sự di chuyển của anh em chúng tôi bằng những dòng chữ “Tướng Thiệu, để chặt tay Tướng Trưởng, để gây cho Dân, Quân miền Trung sự kinh hoàng tột độ, mở đầu cho tan rã ồ ạt, hạ lệnh rút Sư Đoàn Dù ra khỏi tuyến đầu“.

            Sự việc không hoàn toàn đơn giản như thế. Lệnh rút Sư Đoàn Dù về SàiGòn chỉ là một lệnh bề mặt mà chiều sâu là phân tán Sư Đoàn Dù. Ông Thiệu áp dụng kế hoạch “Bẻ bó đũa” làm tan tành một đoàn quân bách chiến, một Binh chủng oai hùng, xô đẩy những Thiên Thần vào hỏa ngục. 12 Tiểu Đoàn Trưởng trên 18 Tiểu Đoàn, linh hồn của đoàn quân Mũ đỏ hoặc gục ngã ở chiến trường sắp đặt, hoặc rơi vào tay địch, có cả một Lữ Đoàn tan thành mây khói, có cả một Lữ Đoàn đánh đoạn hậu bảo vệ cho đồng bào di tản và tới phiên mình quân trải trên một diện tích rộng lớn, chỉ còn dưới tay được mấy trăm con.

            Lệnh tôi nhận được là chia Sư Đoàn Dù ra làm hai nhánh, một đi tàu thủy và một do không vận. Lữ Đoàn 1 và 2 di chuyển bằng phi cơ của Không Lực VNCH. Lữ Đoàn 3 di chuyển bằng tàu HQ-404 của Hải Quân VN. Lữ Đoàn 1 và 2 đến điểm hẹn như ấn định, nhưng Lữ Đoàn 3 không được đưa đến nơi. Khi HQ-404 đến gần Nha Trang thì Hạm Trưởng nhận được lệnh đổ anh em xuống Nha Trang. Tôi chưa kịp ngạc nhiên, nhưng ý tưởng thắc mắc vì sao Tổng Thống Thiệu nói đưa toàn bộ Sư Đoàn Dù về Sài Gòn để rồi phân tán một phần đi nơi khác. Dù vậy, không bao giờ tôi quên được khuôn mặt, mắt liếc xéo, nụ cười khoái trá, giọng nói chứa đựng thỏa mãn, toàn bộ khuôn mặt toát ra một sự khoan khoái kỳ lạ. Cựu Tổng Thống nhìn tôi với tia mắt kỳ lạ đó với nụ cười ở cuối môi, ông nói: “Theo anh liệu Trung Tướng Trưởng có giữ nổi Quân Đoàn I khi tôi rút Sư Đoàn Dù về đây không?“.

            Mặc dù lệnh lạc lung tung, bảo về Sài Gòn lại đổ xuống Nha Trang, mặc dù bảo về dưỡng quân lại được ném ra mặt trận, là một quân nhân kỷ luật, ý thức được rằng sức mạnh đến từ kỷ luật sắt thép, anh em Lữ Đoàn 3 xuống Cầu Đá Nha Trang là lên đường đi chiến đấu ngay. Đại Tá Lê văn Phát, người nắm Lữ Đoàn 3 cũng là người có biệt hiệu “Bố Già” đặt Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn tại Huấn Khu Dục Mỹ. Nhiệm vụ của Lữ Đoàn 3 là nút chặn địch ở Khánh Dương giúp cho các Đơn vị của Quân Đoàn II rút lui an toàn. Biết rõ sự oai hùng của các Thiên Thần Mũ Đỏ của QLVNCH, Văn Tiến Dũng tung 2 Sư Đoàn với quân số 6 lần, là những SĐ 320 và SĐ 10 đánh bọc ngang hông. Lữ Đoàn 3 Dù bình tĩnh và oai hùng chiến đấu, quất cho quân địch tổn thất nặng nề. Lữ Đoàn 3 còn ở Khánh Dương, địch không thể đi lên một bước. Ngày 28/03, vì quân số đối phương đông gấp 10 lần, nên không thể ngăn chặn vĩnh viễn, vì lệnh Sài Gòn hay vì một lý do nào khác, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú đã ra lệnh cho Đại Tá Phát rút Lữ Đoàn 3 từ Nha Trang vào Phan Rang, sau đó lệnh lại được đưa xuống là bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn và các thành phần yểm trợ thì rút về Phan Rang, còn 3 Tiểu Đoàn 2, 5, 6 thì rút lên núi trấn giữ ở đó. Tại sao lại đưa 3 Tiểu Đoàn Dù lên núi? Nghe tin này tôi vội vã bay ra Phan Rang.

            Tư Lệnh Nhảy Dù trên nguyên tắc và bởi định nghĩa là người chỉ huy binh chủng Nhảy Dù. Nếu không được tham dự vào việc soạn thảo kế hoạch hành quân, thì ít nhất trách nhiệm chiến thuật phải được trọn vẹn. Tôi không được Bộ Tổng Tham Mưu hay Phủ Tổng Thống tham khảo một lần nào về việc lui quân, kể từ ngày binh chủng Dù được bốc khỏi Vùng I, quyền chỉ huy, chiến thuật binh chủng Dù, quyền xử dụng anh em quân nhân Dù cũng vượt ra khỏi tầm tay của Tư Lệnh Dù. Anh em binh chủng tôi, đã bị chặt và giao cho người nầy một mảnh, người kia một miếng. Khi nhìn thấy chiến hữu của tôi bị vất vả cùng cực, tôi chạy ngược chạy xuôi đi can thiệp. Trong những giờ chạy đôn chạy đáo, ý tưởng ghê gớm lóe lên trong tôi, “Phải chăng một ác thần đang làm tê liệt hàng vạn tinh binh trước khi mở ra cuộc hỏa thiêu thành La Mã?”.

            Tôi bay ra Phan Rang gặp ngay Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi lúc đó là Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III, đang chỉ huy Bộ tư Lệnh tiền phương Quân Đoàn III tại đây. Nơi đó tôi cũng gặp Tướng Sang Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân. Tôi yêu cầu cho trực thăng lên núi bốc 3 Tiểu Đoàn 2, 5, 6 về Phan Rang. Tướng Nghi chấp thuận, chỉ thị Tướng Sang cho Không Quân giúp. Anh em trực thăng đã rất nhiệt tâm và can đảm trong việc bốc hơn 1000 người bỗng nhiên bị ném lên một ngọn núi chơ vơ mà không một lý do chiến lược hay chiến thuật nào giải thích được cả. Lữ Đoàn 3 trong tư thế vững vàng, sẵn sàng chiến đấu nghiêm chỉnh trong vị trí đứng đắn. 30.03.1975, tôi tạm yên tâm, bay về Sài Gòn.

            Vừa đặt chân đến Thủ Đô, tôi được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu cho Lữ Đoàn 2 ra Phan Rang thay thế Lữ Đoàn 3, Lữ Đoàn 3 về Sài Gòn tái chỉnh trang Đơn vị. Tôi muốn hét to lên: Tăng cường chớ sao lại thay thế? Mặt trận đang nặng, rút một đập ngăn nước lớn đi, đập mới chưa dựng xong, nước sẽ ùa tới mang lụt lội tàn phá tan tành! SĐ 310 và 320 của đối phương đang di chuyển nhanh về vùng 3 chính vào lúc đầu tháng tư nầy. Sư Đoàn 10 của địch càn quét Nha Trang. Mặt Bắc là Sư Đoàn 10, Nam là các SĐ 310 và 320, tăng chúng ào ào, tù nhân thả ra do bàn tay bí mật từ các khám đường, một số quân nhân của một binh chủng bị mất cấp chỉ huy sinh rối loạn, chính trong biển hỗn loạn và tan vỡ đó, người ta ném Lữ Đoàn 2 Dù, những đứa con thân yêu ruột thịt của tôi, những bằng hữu vào sinh ra tử, nằm gai nếm mật của tôi, trọn lượng ném vào khoảng trống, viên ngọc quý ném vào đại dương giông bão. Ba Tiểu Đoàn 3, 7, và 11 của Lữ Đoàn 2 chiến đấu như những con cọp bị vây hãm, dường như sợ cái đại dương hỗn loạn đó chưa đủ làm thành một hỏa ngục rực lửa, người ta không ai còn nhớ đến việc tiếp tế cho những Thiên thần Mũ Đỏ từ trời cao đáp thẳng xuống địa ngục A Tỳ.

            Anh em Lữ Đoàn 2 mặc dù tình hình rối loạn, mặc dù tin tức giao động từ bốn phía, mất Quân Đoàn I, Quy Nhơn thất thủ, Nha Trang thất thủ, anh em vẫn chiến đấu, cho đến viên đạn cuối cùng. Tiểu Đoàn 6 sau những trận oai hùng được lệnh Bộ Tổng Tham Mưu rút khỏi Phan Rang, Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân của Đại Tá Biết thay thế. Nhưng Tiểu Đoàn 3 chỉ 100 anh em được trực thăng bốc về Phan Thiết, Tiểu Đoàn 11 mất liên lạc toàn diện. Tôi mất Thiếu Tá Thành, con chim đầu đàn của Tiểu Đoàn 11 và Đại Tá Nguyễn Thu Lương, mà anh em chúng tôi thường gọi một cách thân thương là “Lương Ruột Ngựa“, con chim đầu đàn của Lữ Đoàn 2 cũng tại vùng đất lửa này. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Tướng Sang Tư Lệnh Sư Đoàn 6 Không Quân cũng lọt vào tay địch ở Phan Rang.

            Chiếc đũa Lữ Đoàn 2 bị bẻ gãy, chiếc đũa Lữ Đoàn 3 bị ném tại Khánh Dương, bốc về Phan Rang, lửa hỏa lực nung nấu mệt nhừ. Ngày 8.4.1975, viên Trung Úy Không Quân tên Trung ném bom Dinh Độc Lập, về mặt dân sự, một số chính khách đối lập bị bắt giữ. Nhưng phản ứng của Tổng Thống Thiệu là đưa “chiếc đũa Lữ Đoàn 1” chiếc đũa còn nguyên vẹn của bó đũa bị tách rời từng chiếc, ra tăng phái Quân Đoàn III, dưới quyền chỉ huy của Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ý tưởng rõ rệt trong tôi lúc đó, và cả bây giờ là Tổng Thống Thiệu sợ đảo chánh nên phân tán các đơn vị Nhảy Dù ra các nơi. Tôi là Tư Lệnh Nhảy Dù nhưng tay chân hoàn toàn bị chặt hết.

            Ý tưởng làm sống dậy hình ảnh, một ngày tại vùng I, ở Cố Đô Huế, tôi nói với Trung Tướng Ngô Quang Trưởng: “Trung Tướng cứ để anh em tôi về Sài Gòn làm một chuyến, thử xem sao?” Trung Tướng lắng nghe lặng lẽ. Tôi hiểu Tướng Trưởng cũng như anh em chúng tôi là những người lính đơn thuần, chỉ lấy việc bảo vệ Quê Hương làm quan trọng, không màng gì tới danh vọng và chính trị, chúng tôi không có thói quen chọn lựa những quyết định không liên quan trực tiếp đến chiến trường. Cựu Tổng Thống Thiệu có nghe phong phanh về những toan tính đó không? Trong mọi trường hợp, lúc đó tôi nghĩ là ông phân tán anh em chúng tôi vì nghi ngờ. Bây giờ tôi còn muốn nghĩ như thế. Trừ khi ông muốn bẻ tan bó đũa vì lý do khác

            – Lý do khủng khiếp

            – Tôi không muốn nghĩ tới lý do đó. Tôi muốn nghĩ đến một sự nghi ngờ. Như một sự xua đuổi ý nghĩ ghê gớm kia.

            Lữ Đoàn I ra Quân Đoàn III trấn giữ Xuân Lộc, tăng phái cho Sư Đoàn 18 do Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy. Nhiệm vụ của Lữ Đoàn là chận đứng bước tiến của VC vào SàiGòn. Anh em Dù của Lữ Đoàn 1 đã oai hùng làm tròn nhiệm vụ, địch quân không tiến thêm được một tấc đất. Đoàn quân viễn chinh của Võ Nguyên Giáp, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Văn Tiến Dũng, tiến như thác đổ, bị khựng lại ở ngay cửa ngõ của SàiGòn. Từng đợt xung phong có chiến xa và pháo binh yểm trợ, tất cả đều bị đánh bật, tiến lên là phải lùi lại, tấc đất đánh được buổi sáng, buổi chiều anh em Dù ngạo nghễ giành lại. Sau nhiều ngày giao tranh, Sư Đoàn 18 được lệnh rút về Biên Hòa qua ngã Bà Rịa, Lữ Đoàn 1 chiến đấu giữ vững trận tuyến, từ đầu tới cuối. Sau chót đến đêm 28 rạng 29/04, Bộ Đội CS tấn công Lữ Đoàn 1 Dù ở Lăng Can, Bà Rịa đánh đến giờ chót, Lữ Đoàn 1 Dù mới rút ra Vũng Tàu. Tôi được lệnh trực tiếp cho Trung Tá Nguyễn Văn Đỉnh, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1 Dù, mà anh em chúng tôi âu yếm gọi là Đỉnh Tây Lai, đứng ở dưới bờ bảo vệ cho những đứa con lên tàu. Người chỉ huy Nhảy Dù có thói quen ở với hiểm nguy cho tới phút cuối cùng, dành sự an toàn cho từng đứa con yêu quý. “Đỉnh Tây Lai” là một trong những Thiên Thần lẫm liệt đó.

            Về phần Lữ Đoàn 4, từ Đà Nẵng được rút về SàiGòn giữa tháng 02/74, biệt phái Biệt Khu Thủ Đô. Chính Lữ Đoàn 4, dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Minh Ngọc, mà anh em Dù chúng tôi âu yếm gọi là “Ngọc Nga“, đã chận VC ở cửa ngõ Thủ Đô, ngang Xa Lộ Biên Hòa, trong những giờ khắc Sài Gòn bắt đầu rơi vào rối loạn. Lữ Đoàn 3 của Trung Tá Trần Đăng Khôi (Lữ Đoàn Phó mới thay thế Đại Tá Phát trong chức vụ Lữ Đoàn Tưởng Lữ Đoàn 3 Dù, Trung Tá Bùi Quyền Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 5, thay thế Khôi trong chức vụ Lữ Đoàn Phó lữ đoàn này) từ Phan Rang rút về đóng ở Hoàng Hoa Thám, đánh những trận chót ngay trong lòng Thủ Đô, mặc dù trăm nghìn giao động cho tới phút chót. Đến những giây phút cuối cùng, anh em Dù vẫn giữ vững từng tấc đất được giao phó, hoàn thành nhiệm vụ thiêu thân, làm nút chặn địch, để đồng bào ra đi bình yên, để được ngã gục trên thân thể của Quê Mẹ nghìn đời.

 Tướng Lê Quang Lưỡng

Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù/ QLVNCH 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links

Nhaydu.com    

VNCHtoday


Uy Vũ Bất Năng Khuất – Hòa Khánh

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997)

Bài đọc suy gẫm : “Uy vũ bất năng khuất” hay Bi Kịch của một trí thức trong chế độ cộng sản, bài của tác giả Hòa Khánh. Hình ảnh có tính cách minh họa.

Luật sư Nguyễn Mạnh Tường (1909-1997), người Việt Nam duy nhất đậu hai bằng Tiến sĩ Luật khoa và Tiến sĩ Văn chương năm 23 tuổi ở Đại học Montpellier (Pháp). Ông tham gia kháng chiến chống Pháp đến khi hòa bình lập lại (1954) thì trở về Hà Nội và làm giáo sư Trường đại học Văn khoa (nay là Đại học Quốc gia Hà Nội). Ngày 30-10-1956 tại một phiên họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, LS Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, đã đọc một bài diễn văn phân tích sâu sắc những sai lầm trong cải cách ruộng đất và đề ra phương hướng để tránh mắc lại sai lầm. Vì phát biểu này, LS Nguyễn Mạnh Tường đã bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp và phải sống khó khăn thiếu thốn như một “kẻ bị khai trừ” (tên cuốn sách tự thuật của ông xuất bản năm 1992 tại Pháp). Ông mất năm 1997 tại Hà Nội, hưởng thọ 87 tuổi.

——————

Lâu nay, tôi cứ đinh ninh là LS Nguyễn Mạnh Tường đã mất. Sau vụ Nhân văn Giai phẩm, tên tuổi của ông bặt đi. Có tin đồn là ông đã chết đâu đó ở một góc khuất tối tăm nào ở Hà Nội.

Thế rồi, bỗng dưng tôi lại nghe là ông vẫn còn sống, hơn nữa, đang có mặt tại Paris: ông được phép sang Pháp ba tháng để thăm viếng một số bạn bè cũ của ông.

Được sự giới thiệu của một người quen, tôi và một anh bạn đã được LS Nguyễn Mạnh Tường tiếp trọn cả buổi chiều ngày thứ hai 27-11-1989.

LS Nguyễn Mạnh Tường năm nay đúng 80 tuổi. Dáng người tầm thước, lưng hơi gù, da dẻ nhăn nheo, nhưng sức khỏe khá tốt, đi đứng vững vàng, đặc biệt trí tuệ còn rất minh mẫn. Suốt hơn ba tiếng đồng hồ chuyện trò, chúng tôi không hề bắt gặp ở ông một dấu hiệu nào của sự đãng trí vốn thường xuất hiện ở người cao niên. Ông nói năng lưu loát, đôi khi hùng hồn. Ông nhớ chính xác chi tiết những sự kiện cũ hoặc mới. Cách lý luận rành mạch.

Điều chúng tôi thích nhất ở ông là sự thành thật. Ở vào hoàn cảnh của ông, thành thật cũng có nghĩa là can đảm. Hơn ba chục năm bị đày đọa, luôn luôn sống trong tâm trạng phập phồng chờ đón những thảm kịch thảm khốc nhất, ông không khiếp sợ đến nỗi phải tự biến mình thành một con vẹt chỉ biết lải nhải lập lại những câu nói đã thành khẩu hiệu của chế độ hoặc co rút lại trong câm lặng, từ khước đối thoại để tránh khỏi nguy cơ bị hớ hênh, bị chụp mũ.

LS Nguyễn Mạnh Tường là một người đầu tiên tôi gặp, từ chế độ cộng sản, vẫn giữ được cái sĩ khí của một người trí thức, “uy vũ bất năng khuất”. Ông không hề từ chối bất cứ câu hỏi nào của chúng tôi dù những câu hỏi đó bắt ông phải công khai bày tỏ thái độ với cái chế độ đã, đang và có lẽ sẽ tiếp tục dập vùi ông.

Chúng tôi xin phép ghi âm buổi nói chuyện với một sự thiếu tự tin rõ rệt. Chúng tôi nghĩ là ông sẽ từ chối. Nhưng không. Ông đã vui vẻ chấp nhận. Để bảo đảm sự trung thực, những chi tiết dưới đây, chúng tôi đều dựa vào bản ghi âm này.

Tưởng cũng nên nhắc lại, trước năm 1945, LS Nguyễn Mạnh Tường là một trí thức xuất sắc nhất của VN với thành tích đến nay tại VN dường như chưa có ai theo kịp: 23 tuổi đậu hai bằng tiến sĩ quốc gia tại Pháp, một bằng về luật và một bằng về văn chương. Về nước, ông hành nghề luật sư và dạy học. Ở cả hai lãnh vực, ông đều thành công và tạo được một uy tín to lớn.

Chúng tôi hỏi LS Nguyễn Mạnh Tường:

– Luật sư có thể cho biết luật sư đã tham gia phong trào Việt Minh và sau đó, tham gia kháng chiến như thế nào?

LS Nguyễn Mạnh Tường đáp:

– Thật ra tôi không hề tham gia Mặt trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nước, ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Do đó tôi đã từng từ chối nhiều lời mời ra làm bộ trưởng của nhiều chính phủ. Người trí thức phải đứng về phía dân chứ không đứng về phía chính quyền. Người trí thức chỉ nên đứng ở lãnh vực thuần lý chính trị (politique spéculative). Nghiên cứu, thúc đẩy các trào lưu.

Cách mạng tháng Tám làm tôi rất vui mừng. Tôi mong muốn đóng góp vào việc xây dựng đất nước trong hai lãnh vực sở trường của mình: luật học và nghiên cứu văn học.

Năm 1946, một hôm, ông Nguyễn Hữu Đang, người sau này tham gia Nhân văn Giai phẩm và bị cộng sản kết án 15 năm tù, đến văn phòng luật sư của tôi nói là Cụ Hồ mời tôi đến gặp Cụ có việc cần. Nguyễn Hữu Đang chở tôi đến cái chỗ sau này gọi là Phủ Chủ tịch. Ở đó Vũ Đình Huỳnh, Vụ trưởng Vụ Lễ tân, ra tiếp và đưa vào gặp Cụ Hồ. Cụ gọi tôi là Ngài. Cụ nói: “Như Ngài đã biết, chính phủ vừa ký kết với Pháp một bản tạm ước. Theo bản tạm ước ấy, sắp tới, giữa ta và Pháp sẽ có một hội nghị quan trọng. Xin Ngài giúp soạn giùm cho một bản lập trường của chính phủ (thèse gouvernemental) để sử dụng như một cương lĩnh chỉ đạo cuộc hội nghị”. Tôi đáp: “Công việc này quan trọng quá, xin Cụ nhờ một người nào giỏi và có kinh nghiệm hơn tôi”. Cụ Hồ nói: “Tôi đã hỏi ý kiến nhiều người và ai cũng bảo là chỉ có Ngài mới có thể làm được thôi”. Cuối cùng tôi nhận lời, về nhà, đóng cửa văn phòng luật sư, vận dụng tất cả kiến thức về luật pháp quốc tế cũng như những điều khoản căn bản của tạm ước để soạn bản lập trường. Đến khi đem trình, được Cụ Hồ chấp thuận và do đó, buộc tôi phải tham dự Hội nghị Đà Lạt.

Chúng tôi hỏi:

– Luật sư giữ vai trò gì tại Hội nghị này?

– Tôi là trưởng ban văn hóa và là ủy viên trong ban chính trị.

– Cuộc hội nghị thành công tốt đẹp?

– Vâng, về cuộc hội nghị này, đã có nhiều người viết. Chỉ có một điều ít ai biết là, kết thúc cuộc hội nghị, hai bên đã tổ chức một bữa tiệc chung. Trong bữa tiệc ấy, tên tùy viên của thủy sư đô đốc Argenlieu đến cạnh tôi, nói là thủy sư đô đốc muốn gặp tôi để nói chuyện. Tôi bảo là tôi không phải trưởng đoàn, do đó không có tư cách gì để gặp gỡ thủy sư đô đốc cả. Tên tùy viên lại bảo đây là sự gặp gỡ thân mật có tính cách cá nhân thôi chứ không phải để bàn bạc điều gì quan trọng cả. Nghe thế, tôi đứng dậy, rời bàn tiệc ra ngoài hành lang gặp Argenlieu. Lúc ấy trong bàn tiệc ai cũng thấy cả. Và cuộc nói chuyện cũng rất vu vơ, thăm hỏi xã giao về công ăn việc làm thôi. Thế nhưng, về Hà Nội bỗng dưng lại có tin đồn là Nguyễn Mạnh Tường thông đồng với giặc, là Nguyễn Mạnh Tường bán nước…

Chúng tôi hỏi:

– Luật sư có biết tin đồn đó xuất phát từ đâu không?

LS Nguyễn Mạnh Tường cười:

– Thì cũng phải có người phát thì nó mới động chứ. Tin đồn đó là cả một chiến dịch được tổ chức hẳn hoi. Anh Hoàng Xuân Hãn lúc ấy phải đến gặp hình như là Võ Nguyên Giáp thì phải, bảo Tường làm cái gì mà người ta lại tung tin đồn là nó bán nước, theo giặc ghê quá vậy. Nguy cho nó lắm. Mà nguy thật, chỉ cần một phát súng, một mũi dao là xong đời chứ gì. Từ khi anh Hãn can thiệp, tin đồn ấy mới lắng xuống rồi biến mất.

Chúng tôi hỏi:

– Có thể coi đó là nguyên nhân khiến cho về sau cộng sản bạc đãi luật sư chăng?

– Không phải. Cộng sản, những người tham dự hội nghị cùng với tôi, họ biết thực hư, đầu đuôi thế nào hết chứ. Đâu có phải vì tin đồn ấy mà người ta bạc đãi tôi. Đối với trí thức, nói chung cộng sản dùng thì dùng, nhưng bảo là họ có mến yêu không thì tôi… không dám nói là có.

Chúng tôi hướng câu chuyện vào vấn đề chúng tôi quan tâm nhất và có lẽ nhiều người cũng quan tâm đến nhất:

– Theo các tài liệu được phổ biến tại miền Nam trước đây cũng như ở ngoại quốc, luật sư có tham gia vụ Nhân văn Giai phẩm vào những năm 56, 57?

LS Nguyễn Mạnh Tường đáp nhanh:

– Thật ra tôi không hề tham gia nhóm Nhân văn Giai phẩm. Mãi sau này khi người ta kết án nhóm Nhân văn Giai phẩm, tôi mới biết đó là một tổ chức chống đảng với những tên tuổi như Trần Dần, Trần Duy, Hoàng Cầm… gì đó.

– Thế nhưng luật sư cũng có mấy bài viết cùng chung lập trường với họ.

– Vâng, tôi có cả thảy hai bài viết mà ông Hoàng Văn Chí có đăng lại trong quyển “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc” ấy mà. Nguyên là, một hôm ông Nguyễn Hữu Đang và ông Trần Thiếu Bảo, chủ nhà xuất bản Minh Đức, đến gặp tôi để xin bài. Cả hai đều quen biết với tôi từ trước. Chuyện gặp ông Nguyễn Hữu Đang tôi có kể qua lúc nãy. Còn ông Trần Thiếu Bảo thì tôi gặp ở Thái Bình thời kháng chiến chống Pháp. Lúc ấy, ông Bảo cũng làm nhà xuất bản. Tôi có đưa cho ông ấy xuất bản quyển “Một cuộc hành trình”, quyển sách đầu tiên của tôi bằng tiếng Việt.

– Đó là một quyển hồi ký?

– Không. À mà cũng có thể gọi là nửa hồi ký, nửa nghị luận. Đại khái tôi kể chuyện cuộc đời mình, từ một người trí thức tham gia kháng chiến chống Pháp giành độc lập cho đất nước như thế nào…

– Xin trở lại vụ Nhân văn Giai phẩm…

– Vâng, thì cái bài đăng trên Giai phẩm mùa thu năm 1956 là thế. Còn bài viết về vụ cải cách ruộng đất thì là thế này: đó là bài tôi nói chuyện trong một cuộc hội nghị của Mặt trận Tổ quốc. Các anh cũng biết là vụ cải cách ruộng đất đã thất bại nặng nề đến nỗi ông Trường Chinh đã phải mất chức Tổng bí thư đảng cơ mà. Lúc đó có phong trào sửa sai ghê lắm. Trong cái cuộc vận động sửa sai như thế, ông Tố Hữu rồi ông Trường Chinh rồi ông Xuân Thủy đã lần lượt gọi tôi đến nhà riêng của các ông ấy để yêu cầu tôi, trong hội nghị của Mặt trận Tổ quốc, trình bầy cho mọi người biết thế nào là dân chủ. Các ông ấy nói là sau sai lầm của cải cách ruộng đất, chúng ta phải cố làm sao cho chế độ xã hội chủ nghĩa trở thành một chế độ thực sự dân chủ. Nghe thế, tôi mừng quá nên nhận lời ngay. Thế rồi hội nghị được tổ chức. Tôi thuyết trình trọn cả ngày, ba giờ buổi sáng, ba giờ buổi chiều. Thuyết trình xong, người ta khen ghê lắm. Ông Trường Chinh, Ông Xuân Thủy, ông Dương Bạch Mai sau đó lại yêu cầu tôi viết lại bài nói chuyện đó để đưa mấy ông xem.

– Thế, trong hội nghị, luật sư chỉ nói miệng chứ không đọc bài viết đã soạn sẵn?

– Không, thì giờ đâu. Chính mấy ông ấy bảo thì tôi mới viết lại chứ. Tôi đánh máy bài viết thành hai bản, nộp hết cho mấy ông. Thế mà, không biết tại sao, bài viết đó lại lọt ra nước ngoài, bọn báo chí ngoại quốc làm ầm ĩ lên thế mới chết chứ.

– Luật sư có nhớ chắc là không hề đưa bài viết ấy cho ai khác?

– Chắc chắn. Cả hai bản đánh máy tôi đều nộp hết cho ông Trường Chinh và ông Xuân Thủy. Tôi chỉ giữ lại bản nháp viết tay thôi.

– Thế thì luật sư có thể đoán được là tại sao, từ nguồn nào, bài viết của luật sư lại lọt ra nước ngoài được không?

LS Nguyễn Mạnh Tường cười lắc đầu:

– Chịu thôi. Ở đời vẫn có những bí mật như thế đó, các anh ạ.

Chúng tôi lại hỏi:

– Thế sau khi bài viết bị tiết lộ ra ngoài thì cộng sản đối xử với luật sư như thế nào?

– Thì còn đối xử như thế nào nữa. Kiểm điểm rồi đuổi việc thôi.

– Luật sư có thể cho biết nội dung của những cuộc kiểm điểm ấy được không ạ?

– Được chứ. Thì ở đâu cũng giống nhau thôi. Cứ khăng khăng buộc tội tôi chống đảng.

– Khi buộc tội như vậy người ta dựa vào nội dung bài thuyết trình của luật sư hay dựa vào sự kiện bài tham luận được chuyển ra nước ngoài?

– Dựa vào nội dung bài thuyết trình mới chết chứ. Còn chuyện tại sao bài ấy lọt ra nước ngoài thì tôi có biết đâu. Và cũng không ai ghép tội tôi được: bằng chứng đâu?

– Nhưng nội dung bài thuyết trình, như luật sư cho biết là được soạn theo yêu cầu của ông Trường Chinh, Xuân Thủy, Tố Hữu mà…

– Thì đấy…

– Tại sao luật sư không nói cho họ biết điều đó?

– Có. Tôi có nói chứ. Nhưng ai nghe? Người ta bảo cán bộ yêu cầu tôi phát biểu về nội dung khái niệm dân chủ chứ đâu có yêu cầu tôi chống lại đảng?

– Thế luật sư có chống lại đảng không?

– Ít ra, trong cuộc thuyết trình tại hội nghị của Mặt trận Tổ quốc cũng như trong bài viết lại mà tôi nộp cho ông Trường Chinh, ông Xuân Thủy… thì tuyệt đối không có một câu, một chữ nào chống đảng cả. Tôi chỉ phê phán những sai lầm trong cải cách ruộng đất thôi. Mà những sai lầm ấy thì quá hiển nhiên, ngay cả đảng cũng nhìn nhận mà, chứ đâu phải mình tôi.

Bà Nguyễn Thị Năm tức Bà Cát Hanh Long, người đóng góp công của rất lớn cho cộng sản nhưng bị chính cộng sản, tên đồ tể Hồ chí Minh mang ra đấu tố, xử bắn đầu tiên khi chúng phát động đợt cải cách ruộng đất tại bắc việt.

– Luật sư có đi tham gia cải cách ruộng đất?

– Có. Hồi ấy tất cả mọi cán bộ đều phải về các địa phương để tham gia cải cách ruộng đất cả. Tôi cũng phải đi.

– Luật sư về địa phương nào?

– Phủ Nho Quan.

– Công việc của các cán bộ cụ thể là làm gì?

– Để phụ với nhân dân tổ chức các cuộc cải cách ruộng đất thôi.

Trầm ngâm một lát, LS Nguyễn Mạnh Tường kể tiếp:

– Chính trong những đợt đi xuống địa phương ấy tôi mới thấy rõ, thấy hết sự tàn bạo của nó.

Lại im lặng. Chúng tôi cũng im lặng chờ đợi. Giọng của LS Nguyễn Mạnh Tường trầm trầm, buồn buồn:

– Đầu tiên, về Phủ Nho Quan, chúng tôi được học tập là theo lệnh từ trên, tại địa phương này có cả thảy 80% dân chúng thuộc thành phần địa chủ. Tôi điếng cả người. Phẫn nộ thấy ngay cách làm việc như vậy là rất trái khoa học. Khoa học nào cũng phải sử dụng phương pháp quy nạp, phải căn cứ trên quá trình điều tra thực tế cẩn thận, từ thực tế mà đúc kết thành nhận định. Đằng này thì mấy ông từ Trung ương cứ tưởng tượng ra các chỉ tiêu rồi ra lệnh xuống bắt các địa phương phải thực hiện. Cán bộ địa phương muốn hoàn thành công tác thì phải kích thôi. Có nhiều gia đình nghèo xơ nghèo xác, ở trong một căn nhà hẹp có hai gian, tài sản đâu chỉ được một hai mẫu ruộng, thế mà cũng bị khép vào thành phần địa chủ. Để cho đủ số lượng ấy mà! Tội lắm. Oan ức nhiều không sao kể hết được.

– Luật sư có tham gia vào cuộc xử án nào không?

– Không. Người ta đâu có cần luật sư. Mình đi cốt là để rèn luyện quan điểm, rèn luyện lập trường thôi chứ đâu phải để xử án hay để biện hộ cho ai.

– Thế thì ai làm chánh án, luật sư trong các vụ đấu tố?

– Chẳng có chánh án, luật sư gì cả. Phiên tòa được tổ chức ở một bãi sân rộng đâu đó trong làng. Mấy anh thuộc thành phần bần cố nông ngồi ngất ngưởng trên bàn để luận tội, còn mấy người bị gọi là địa chủ thì bị xích cổ, trói chân, trói tay quỳ mọp giữa sân…

– Có cả chuyện xích cổ ư?

– Có. Suốt “phiên tòa”, hết bần cố nông này lên tiếng chửi thì bần cố nông khác lên chửi tiếp. Xong rồi thì đến lượt hành hình địa chủ, vậy thôi.

– Luật sư có bao giờ can thiệp vào những vụ đấu tố dã man như vậy không?

– Có mà muốn chết à? Không. Có chảy nước mắt thì cũng ráng mà giấu đi.

– Có địa chủ nào được quyền tự biện hộ, tự thanh minh cho mình không?

– Không. Lúc đó ai cũng hồn kinh phách tán cả rồi, mặt mũi xanh rờn, đứng còn không nổi nữa thì nói gì đến chuyện tự biện hộ. Mà ai cho? Cứ bị khép vào thành phần địa chủ là coi như đã chết.

– Luật sư có phỏng đoán được số lượng những người bị giết chết trong đợt cải cách ruộng đất ở miền Bắc vào hồi ấy là bao nhiêu không?

– Không. Chỉ biết được ở cái điạ phương mình về thôi.

– Cụ thể, ở Phủ Nho Quan là bao nhiêu người bị giết chết?

– Tôi không nắm con số. Nhưng nhiều, nhiều lắm. Hơn nữa, sau các đợt cải cách ruộng đất còn có các đợt chỉnh phong trong hàng ngũ cán bộ cũng làm cho nhiều người bị oan ức lắm.

– Nội dung các cuộc chỉnh phong là sao?

– Là trừng phạt những đảng viên, những cán bộ có quan hệ ít nhiều với địa chủ, với phản động. Thậm chí, có nhiều người lúc trẻ là đảng viên Quốc dân đảng, từ năm 45, 46, đã theo kháng chiến rồi vào đảng cộng sản, vậy mà người ta còn truy quá khứ ra để hành tội.

– Sau mấy chục năm, nhìn lại, luật sư đánh giá thế nào về cải cách ruộng đất?

– Dĩ nhiên là nó sai rồi. Không những sai, nó còn ác, cực ác nữa. Tôi nghĩ nó không có chút gì VN cả. Người VN, trong suốt lịch sử mấy ngàn năm, chưa bao giờ tàn bạo đến như vậy. Nó là dấu ấn của Mao…

– Dấu ấn trực tiếp hay gián tiếp?

– Tôi không biết. Ngay thời kháng chiến chống Pháp, tôi có gặp đại sứ Trung Quốc trên các chiến khu. Bận một bộ đồ trắng toát, cưỡi ngựa, trông oai quyền ghê lắm. Ông ấy tên Lã Quý Ba. Người ta nói ông ấy chính là kẻ chỉ huy, vạch kế hoạch cho các phong trào cải cách ruộng đất tại VN.

– Nhưng VN là một quốc gia độc lập, có chủ quyền kia mà?

– Thì đấy. Ngay cái chuyện bắt chước Liên Xô, bắt chước Trung Quốc đã sai rồi thì những chuyện khác theo đó sai theo…

Chúng tôi trở lại chuyện Nhân văn Giai phẩm:

– Xin luật sư kể tiếp về những hình phạt đối với luật sư?

– Kiểm điểm rồi đuổi việc. Tôi có kể khi nãy.

– Cụ thể, trước đó, luật sư làm gì?

– Tôi làm giám đốc Đại học Luật, phó giám đốc Đại học Sư phạm, chủ nhiệm Câu lạc bộ Trí thức và nằm trong ban chấp hành của 10 tổ chức quần chúng ở miền Bắc.

– Đó là những tổ chức gì?

– Ủy ban Hòa bình thế giới, Hội hữu nghị Việt Xô, Hội hữu nghị Việt Pháp, Hội Luật gia VN…

– Luật sư có bị bắt, có bị giam cầm gì không?

– Không. Chỉ bị đuổi ra khỏi tất cả những nơi đang làm việc. Và độc ác nhất là bị cô lập hoàn toàn. Các anh cứ tưởng tượng suốt mấy chục năm trời, không ai dám đến gặp tôi cả. Họ sợ bị liên lụy đến bản thân, đến gia đình của họ. Có khi, đi ngoài đường, nhìn thấy tôi từ xa, là bạn bè, học trò cũ của tôi phải tránh đi chỗ khác. Tôi cũng không trách gì họ. Vì sự an toàn của họ, họ phải làm thế thôi. Nhưng đau xót lắm.

– Trong thời gian suốt mấy chục năm trời như vậy, luật sư làm gì để sống?

– Không làm gì cả. Xin việc gì người ta cũng không nhận. Thoạt đầu, cứ bán dần đồ đạc trong nhà mà ăn tiêu. Bán bàn ghế, giường tủ, rồi bán quần áo, giầy dép… cuối cùng phải bán đến cả sách vở tôi dành dụm thu thập sắm trong hai mươi năm. Bán theo giá bán giấy ký thôi. Rẻ mạt. Nhưng cần sống thì phải bán. Cứ mỗi lần bán sách là mỗi lần tôi có cảm tưởng như có ai lấy dao găm đâm vào tim của mình. Rồi tất cả đồ đạc cạn dần, cạn dần. Tôi lại sống bằng sự bố thí của anh em, bạn bè. Lâu lâu người này cho cái đồng hồ, người khác cho một ít tiền.

– Những người giúp luật sư thuộc thành phần nào?

– Một số là học trò cũ của tôi; một số là những bạn bè của tôi lúc tôi còn ở Pháp và một số khác nữa là những người hoàn toàn xa lạ vì nghe tiếng tôi, thương cho hoàn cảnh của tôi, từ Pháp thỉnh thoảng cho một ít quà.

– Họ là người VN hay người Pháp?

– Người Việt có, người Pháp có.

Thấy cuộc nói chuyện đã khá thân mật, chúng tôi dè dặt nêu ra câu hỏi khác, một câu hỏi thú thật chúng tôi rất tò mò:

– Ba mươi lăm năm sống dưới chế độ cộng sản, luật sư nhận xét gì về cái chế độ này?

LS Nguyễn Mạnh Tường đắn đo một lát rồi đáp:

– Mình nên khách quan. Người cộng sản họ vừa có công lại vừa có tội.

– Luật sư nghĩ gì khi có người gọi chế độ cộng sản tại VN là một nhà nước công an trị (état policier)?

– Đồng ý thôi. Điều đó thì rõ quá.

– Có người còn phân tích thêm, cái nhà nước công an trị ấy tồn tại bằng ba cơ chế: thứ nhất là công an khu vực; thứ hai là hộ khẩu; thứ ba là chế độ quản lý lương thực. Luật sư nghĩ sao?

– Đúng. Từ khi bị thất sủng, tôi vô cùng thấm thía những cái chuyện đó. Không đi làm được, sống bằng cách bán đồ đạc hoặc bằng sự bố thí của người khác mà phải mua lương thực tự do giá cao gấp trăm lần giá chính thức thì khó khăn ghê lắm. Có lúc tưởng không vượt qua được. Còn chuyện hộ khẩu và công an khu vực thì khỏi phải nói. Những chuyện ấy bây giờ vẫn còn đấy nhé.

– Luật sư qua Pháp đã gần hai tháng nay, luật sư có theo dõi tình hình tại các nước Đông Âu không?

– Có chứ.

– Luật sư nghĩ sao?

– Mừng. Mừng lắm.

– Tình hình VN hiện nay thì sao?

– Khó khăn lắm.

– Phong trào đổi mới rồi sẽ tới đâu?

– Chưa biết được. Nhưng có điều chắc chắn là sẽ không có gì đổi mới cả nếu chưa có dân chủ, trước hết là chưa tôn trọng luật pháp. Vì luật pháp không anh minh cho nên có kêu gào đầu tư đến mấy cũng không có ai dám liều lĩnh đầu tư cả. Kinh tế vẫn kiệt quệ mãi.

– Tại sao cộng sản lại cho một người như luật sư sang Pháp?

– Tôi nộp đơn xin xuất cảnh đúng vào thời điểm họ tuyên bố đổi mới. Chứ nếu bây giờ, chưa chắc đã đi được.

– Luật sư nộp đơn xin xuất cảnh từ lúc nào?

– Năm ngoái. Hai tháng sau thì cầm được giấy phép của VN. Nhưng nộp vào Tòa đại sứ Pháp thì phải chờ đúng tám tháng.

– Luật sư có ý định ở lại Pháp luôn không?

– Không. Tháng 12 tới tôi sẽ về lại. Trong thần thoại Hy Lạp có chuyện một vị thần chỉ mạnh mẽ khi đứng trên mặt đất, hễ ai nhấc lên khỏi mặt đất thì thành ra yếu ngay. Tôi nghĩ một người trí thức hay một văn nghệ sĩ cũng vậy. Phải ở trong nước, giữa những thử thách mới tìm ra được sức mạnh.

– Có một số anh em trí thức yêu nước, muốn về VN để canh tân đất nước, luật sư nghĩ là có nên hay không?

– Không. Cứ ở đây làm việc. Đừng về. Về sẽ bị kẹt.

– Tại sao?

– Tôi có nhiều kinh nghiệm về chuyện này. Thế hệ của tôi, bao nhiêu người tài giỏi, Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước… Về nước họ có làm được gì đâu? Thì cũng có một vài đóng góp đấy, nhưng tôi nghĩ, hoàn toàn không tương xứng với khả năng của họ. Đó là chưa kể đến những người kém may mắn hơn. Như tôi chẳng hạn. Có làm gì được đâu?

– Lâu nay, luật sư có viết lách gì không?

– Có. Mấy chục năm qua, tôi hoàn thành được bốn công trình nghiên cứu. Một là “Lý luận giáo dục” (ở châu Âu từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18); hai là “Eschylle và bi kịch cổ đại Hy Lạp”; ba là “Virgile và anh hùng ca latin”; bốn là dịch vở kịch của Eschylle.

– Luật sư viết bằng tiếng Việt hay tiếng Pháp?

– Tất cả đều bằng tiếng Việt. Dụng ý của tôi là để cho người Việt đọc. Tôi mượn những vấn đề trên để cho người Việt đặc biệt là những người lãnh đạo hiểu thế nào là con người, thế nào là dân chủ, tự do, thế nào là quan hệ giữa chính trị và văn nghệ, v.v…

– Những quyển sách ấy có được in ra chưa?

– Chưa. Tôi có gửi lên Ban khoa giáo Trung ương. Người ta khen là nghiên cứu công phu. Nhưng đến nay không ai chịu in cả. Người ta bảo là không có giấy.

Nhìn đồng hồ thấy đã hơn 6 giờ chiều. Mùa đông trời tối sớm. Chúng tôi cám ơn LS Nguyễn Mạnh Tường để chấm dứt câu chuyện đã kéo dài hơn ba giờ liền. Và hỏi:

– Thưa luật sư, chúng tôi ghi âm buổi nói chuyện hôm nay với mục đích giữ làm kỷ niệm. Tuy nhiên không biết luật sư có đồng ý cho phép chúng tôi công bố những điều luật sư phát biểu chăng?

LS Nguyễn Mạnh Tường cười dễ dãi:

– Các anh cứ tự nhiên. Những điều tôi nói toàn là sự thật cả.

– Sắp về lại VN, luật sư không sợ sao?

LS Nguyễn Mạnh Tường cười to:

– Các anh nhớ là tôi đã 80 tuổi rồi. Tính theo tuổi ta là 81 đấy.

Chúng tôi ra về, lòng phơi phới vui. Vui vì được gặp một người lâu nay mình ngỡ đã chết. Vui hơn nữa, vì thấy Nguyễn Mạnh Tường, cái tên tuổi mình từng kính phục từ thuở bùng nổ vụ Nhân văn Giai phẩm ở miền Bắc, sau bao nhiêu đọa đầy, vùi dập, vẫn giữ nguyên cái sĩ khí của một người trí thức uy vũ bất năng khuất. Ở VN giờ đây, còn được bao nhiêu người như thế nhỉ?

 HÒA KHÁNH

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links: Nguồn email (Chuyển bài – Tony Trần)

Nguồn tham khảo:  http://www.8saigon.xyz/bi-kich-cua-mot-tri-thuc.html


Vụ án Dòng Đồng Công – Phúc Linh

Bài đọc suy gẫm: Vụ án Dòng Đồng Công khá nổi tiếng sau năm 1975 nhằm cưỡng đoạt đất đai nhà dòng, cơ sở của người Công Giáo do việt cộng đạo diễn thực ra nằm trong chủ trương của chế độ cộng sản vô thần. Mời các bạn theo dõi bài viết của tác giả Phúc Linh cũng là một nhân chứng.

…..

Phúc Linh đã viết bài  “Vụ án Dòng Đồng Công” này từ rất lâu, trên 15 năm,  nay sắp đến ngày giỗ của cố LM. Trần Đình Thủ, Giám đốc Dòng – ngài tạ thế ngày 21/6/2007,  Phúc Linh post lại bài này như là một kỷ niệm trong đời của Phúc Linh đối với Dòng Đồng Công và cũng để tưởng niệm ngài cố Linh mục  Trần Đình Thủ.

Sơ lược về Dòng Đồng Công

Dòng Đồng Công do linh mục Đa Minh Maria Trần Đình Thủ  thành lập năm 1953 tại Việt Nam.

Ai cũng biết mỗi nhà Dòng thuộc Thiên chúa giáo đều có nhiều bất động sản,  Dòng Đồng Công cũng vậy.  Năm 1970 Dòng thiết lập cư xá sinh viên Rạng Ðông tại  Ðà Lạt để giúp các sinh viên nghèo có nơi cư trú theo học đại học Ðà Lạt.  Dòng lập một tu viện tại Ðồng Lạc thuộc quận Di Linh, tỉnh Lâm Ðồng, từ năm 1971.  Tu viện này tọa lạc trong một khu đồn điền rộng 47 mẫu tây trồng trà, cà phê, bơ, mít… mà Dòng đã mua lại của một người Pháp.

Sau ngày 30/04/1975, miền Nam bị rơi vào tay CSVN  thì đến ngày 02/06/1975, Cha Đa Minh Trần Đình Thủ bị CSVN bắt bỏ tù tại Di Linh, Lâm Đồng cùng với 52 người của nhà Dỏng. Ngày 29/04/1977  Cha Đa Minh được trả tự do về sống với anh em Dòng tại Thủ Đức.  Toàn bộ bất động sản tại tỉnh Lâm Đồng bị CSVN chiếm đoạt.

Sau vụ án Dòng Đồng Công tại Thủ Đức, Cha được CSVN trả tự do vào năm 1993 và  sống tại Thủ Đức cho đến ngày thứ Năm 21/06/2007, đã từ trần  tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương.

image

Vụ Án Dòng Đồng Công

Là một phật tử nên tôi không hiểu biết nhiều về Thiên chúa giáo, chỉ biết lờ mờ Thiên chúa giáo có nhiều Dòng, chẳng hạn Dòng Chúa Cứu thế, Dòng Mến Thánh giá, Dòng La san, Dòng Đa minh, Dòng Đồng Công, nhưng tôi vẫn luôn tin có Thượng đế, là đấng tối cao đã an bài cho mỗi con người có một số mệnh riêng trong cuộc sống tạm bợ ở cõi trần gian ô trọc, con người, dù có tài giỏi hay cù lần, dù có thông minh, khôn ngoan hoặc ngu si, đần độn, dù có lanh lợi hay chậm chạp, vẫy vùng cho lắm, cũng không thoát khỏi số trời đã định sẵn.

Tại Việt nam, chỉ có các tu sĩ quốc doanh mới dạy tín đồ tin theo Bác và Đảng, còn các tu sĩ chính thống của các tôn giáo luôn đòi hỏi nhà cầm quyền tôn trọng tự do tín ngưỡng và không  can thiệp vào những hoạt động thuần túy tôn giáo.

Trong nước Việt nam hiện nay,  những tín đồ Thiên chúa giáo và Phật giáo Hòa hảo là những người có tinh thần chống Cộng triệt để hơn những tín đồ của các đạo giáo khác, là một điều không ai có thể phủ nhận, kể từ những năm trước 1975, và sau ngày 30/04/1975, CSVN cũng ra sức làm lu mờ ảnh hưởng của Tòa thánh Vatican đối với tín đồ Thiên chúa giáo tại Việt nam, nên đã cố gắng bằng mọi cách để đặt Thiên chúa giáo, nói riêng, và mọi tôn giáo khác, nói chung,  dưới sự lãnh đạo độc tôn của Đảng và Nhà nước.

Vì lý do nào mà CSVN lại ra sức tiêu diệt Thiên chúa giáo ? Chính vì Thiên chúa giáo là khắc tinh của CSVN. Để giải thích tường tận thì phải tốn rất nhiều giấy mực, nên chỉ xin được tóm tắt những ý chính :

Giữa hai tôn giáo lớn tại Á châu là Phật giáo và Thiên chúa giáo, không ai có thể chối bỏ một sự thật rằng Thiên chúa giáo có tổ chức quy củ, từ một phạm vi nhỏ hẹp trong từng họ đạo hoặc giáo xứ, cho đến địa phận, các giáo dân đã tuân thủ giáo lý, tôn trọng những người chức sắc trong họ đạo và tuân lời vị cha xứ, giám mục địa phận triệt để.

Hơn nữa, là một sinh vật, muôn loài đều muốn có một cuộc sống vĩnh cửu, con người luôn đặt câu hỏi rằng ta từ đâu đến cái thế gian trần tục này và sau khi chết,  sẽ đi về đâu ? Câu hỏi đặt ra thuộc về đời sống tâm linh, nên câu giải đáp cũng phải thuộc về đời sống tâm linh. Cuộc sống vĩnh hằng là cuộc sống trên thiên đàng, và chỉ có đấng tối cao mới cứu rỗi được mọi sinh vật, trong đó có con người.

Để sau khi chết được sống trên thiên đàng vĩnh cửu,  người dân phải luôn tuân lời vị lãnh đạo tinh thần, là người có nhiệm vụ dẫn dắt con dân trong cuộc sống tạm bợ tại thế gian theo hướng đi của đạo giáo. Vì lý do này, lời nói của những vị tu sĩ, nói chung, các Linh mục, Giám mục… luôn có uy tín và giá trị đối với các tín đồ, và tín đồ đã tuân lời những vị lãnh đạo tinh thần bằng chính trái tim của họ.

Đó là trở ngại trong việc tuyên truyền làm cho người dân tin và trung thành với Đảng Cộng sản.

Đối với những giáo điều, triết lý duy vật của người Cộng sản, Chúa và Phật không đem lại cơm áo cho con người, chỉ có sức người mới làm ra của cải, vật chất, mà chỉ có Đảng Cộng sản là đảng duy nhất, tập trung tầng lớp công nông, thành phần đông đảo nhất trong nhân dân, có nhiệm vụ dìu dắt nhân dân đến bến bờ tự do, hạnh phúc, theo chủ nghĩa Cộng sản ưu việt, có theo Đảng dẫn dắt thì mới có gạo cơm để ăn, có áo để mặc, mà họ vẫn nói với những người tù cải tạo, với người dân là ”Với sức người, sỏi đá biến thành cơm” và đã quên mất ông cha ta vẫn có câu tục ngữ  ” Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”.

Đã nhiều năm trôi qua, kể từ khi CSVN chiếm được miền Bắc, rồi xâm chiếm miền Nam, Đảng và nhà cầm quyền vẫn ra sức thực hiện kế hoạch thống nhất các tôn giáo đặt dưới sự quản trị thống nhất của Đảng và nhà nước, thông qua một tổ chức của Đảng, có tên là Mặt trận Tổ quốc, bằng cách khuyến dụ các tu sĩ, thu hẹp hoạt động của tôn giáo bằng hình thức mượn đất đai thuộc sở hữu của giáo hội rồi không trả lại theo kiểu “Để lâu, cứt trâu hóa bùn”, hoặc bằng đe dọa, bằng bạo lực trấn áp, dưới danh nghĩa một vụ án hình sự nào đó, vừa chiếm được đất đai, vừa đàn áp tinh thần các tu sĩ và tín hữu để dần phải khuất phục, tuân theo mọi chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, để bản thân và thân nhân trong gia đình được yên thân.

Ngay sau khi chiếm được miền Nam, CSVN đã tiến hành hai việc họ cho là tối quan trọng là cải tạo tư sản công thương nghiệp tư bản tư doanh và tước đoạt đất đai thuộc sở hữu của giáo hội, đồng thời, bôi nhọ, phỉ báng, cố tình gây mất uy tín của các linh mục đạo Công giáo, cụ thể là họ đã cho sản xuất phim truyện ”Ngày lễ thánh” đem trình chiếu khắp nơi tại Việt nam.

Nằm trong chủ trương bôi nhọ tôn giáo, những cựu quân cán chính bị tù tại các trại cải tạo chính trị khắp nơi tại miền Nam đã bị bắt buộc phải xem từ đầu cho đến hết phim “ Ngày lễ thánh”, nhưng nhiều lần, đoàn chiếu phim lưu động đã bị giáo dân ném đá, phải ôm máy chiếu phim bỏ chạy khi chiếu phim này tại các nơi đông dân cư là giáo dân Thiên chúa giáo. 

Phim Ngày lễ thánh do nữ tài tử Trà Giang thủ vai chính, diễn xuất trong vai một cô gái mới lớn, xinh đẹp, ngây thơ, trong trắng, và là một con chiên ngoan đạo, sinh sống tại một vùng thôn quê có một nhà thờ đạo Thiên chúa, do một vị linh mục quản nhiệm.

Trong giáo xứ này, những con chiên nào được đeo một cái thánh giá trước ngực ”Tử vì đạo” sẽ được giáo dân tôn kính, trọng vọng. Cha xứ tại đây là một kẻ háo sắc, đa dâm, để chiếm được người thiếu nữ đồng trinh này, đã nói với cô gái rằng ”Cha là đại diện cho Chúa, con hiến thân cho Cha tức là hiến thân cho Chúa”, và con chiên ngoan đạo này đã hiến thân cho Cha xứ, sau đó, được ban cho cái thánh giá Tử vì đạo.

Trong thời gian vài năm gần đây, mọi người đã rõ tình trạng CSVN đàn áp tôn giáo, đặc biệt là Thiên chúa giáo. Đây không phải là lỗi lầm của vài cán bộ địa phương, cơ sở đã lạm dụng chức vụ và quyền hạn để chiếm đoạt đất đai, hành hung giáo dân, bỏ tù Linh mục quản xứ, mà chính là chủ trương của Trung ương Đảng và nhà cầm quyền CSVN đang thực thi chính sách chiếm dụng đất đai của giáo hội.

Tiếp theo vụ án Linh mục Tadeo Nguyễn văn Lý tại Giáo xứ Nguyệt Biều, nhà cầm quyền CSVN  rập khuôn tiếp diễn vở kịch đàn áp tôn giáo với Giáo xứ Kế Sung, do Linh mục Đặng văn Nam làm quản xứ, cũng thuộc Tổng giáo phận Huế, cũng chỉ vì mục đích chiếm đất đai của giáo hội, và hiện nay, đang tiến hành kế hoạch theo kiểu “bổn cũ soạn lại” đối với Giáo xứ Thái Hà.

Trong giai đoạn Đảng và nhà cầm quyền CSVN đang ra sức đàn áp tôn giáo bằng bạo lực, chúng tôi cố gắng hồi tưởng lại quá khứ hơn hai mươi năm qua để xin kể lại hầu quý độc giả vụ án Dòng Đồng Công tại huyện Thủ Đức, thành phố Sài Gòn, là chứng tích đầu tiên tại miền Nam mà nhà cầm quyền CSVN tiến hành xóa bỏ, hoặc thu hẹp hoạt động của Thiên chúa giáo, bằng bạo lực trấn áp do công an và Tòa án thực hiện để chiếm đoạt tài sản của giáo hội.

A_ Tin đồn có biểu tình của tín đồ Thiên chúa giáo tại Thủ Đức

Khoảng gần giữa năm 1987, bà con tại Saigon xôn xao bàn tán một sự việc xảy ra tại Thủ Đức, người thì kể rằng tín đồ Thiên chúa giáo biểu tình, người thì nói công an đã bao vây Dòng Đồng Công không cho ai ra vào, lại có nguồn tin có xô xát giữa công an và giáo dân, cả hai bên đều có người bị thương.

Một thời gian ngắn sau đó, báo Saigon giải phóng tường thuật về vụ việc xảy ra tại Dòng Đồng Công, Thủ Đức rằng công an đã khám phá tài liệu dạy giáo lý cho tín hữu của Dòng Đồng Công do Linh mục Đa Minh Maria Trần Đình Thủ soạn thảo, mang tính chất tuyên truyền phản động  chống Đảng và nhà nước XHCNVN, và đã phong tỏa khu vực Dòng Đồng Công vào ngày 15/5/1987, tịch thu lương thực, khoảng 5 tấn gạo, tín hữu Dòng Đồng Công đã bao vây, ngăn cản công an thi hành nhiệm vụ, dùng vũ khí chống lại lực lượng công an huyện Thủ Đức phối hợp cùng Công an thành phố Hồ chí Minh, đánh trọng thương 3 chiến sĩ công an rồi vứt bỏ tại nghĩa địa, cùng hình chụp trên báo Saigon Giải phóng cho thấy các vũ khí mà các tín hữu sử dụng chống lại công an là hai cái ná mà các thanh thiếu niên thường dùng với viên sỏi để bắn chim sẻ, và vài cái gậy dài khoảng 01 thước. Linh mục Trần Đình Thủ đã bị bắt giam ngày  02/07/1987 và bị giam giữ tại khám Chí hòa.

Phúc Linh dính vào vụ án Dòng Đồng Công như thế nào

Một ngày nọ, lúc đó đã gần 10 giờ đêm, gia đình tôi đã sửa soạn đi ngủ, thì một người thân chủ cũ, một tín đồ Thiên chúa giáo, đã dẫn một vị khách đặc biệt đến nhà tôi, đó là một người đàn ông, da dẻ trắng trẻo, dáng người tầm thước,  và trông hiền lành như một vị tu sĩ. Tôi biết rõ người thân chủ này, một giáo viên tại chức, và tin tưởng người được dẫn đến đang ở trong hoàn cảnh hoạn nạn, cần được giúp đỡ.

Sau phần giới thiệu, tôi được biết người đó là một vị tu sĩ, là một vị Thầy của Dòng Đồng Công, và vị linh mục trưởng Dòng là Tổng Giám đốc Trần Đình Thủ, người Việt nam đầu tiên sáng lập ra một Dòng tu của Thiên chúa giáo.

Sau khi biết được ý định của Thầy đến gặp tôi là để mong trợ giúp cho Dòng Đồng Công đang gặp hoạn nạn.

Tôi đã góp ý rằng nếu Thầy hy vọng vào sự giúp đỡ của bất cứ ai có thể làm cho Cha bề trên được vô tội, chỉ là hoài công, vô ích, vì mục tiêu của vụ án này không phải là Cha có thực sự phạm tội này, tội nọ hay không, mà mục tiêu của Đảng và Nhà nước là làm cách nào có thể chiếm hữu được vùng đất đai rộng lớn của Dòng Đồng Công tại Thủ Đức, mà không gặp phải sự chống đối của giáo hữu Dòng, vì thế, một hay nhiều tội danh nào đó có thể sẽ được áp đặt cho Cha, chỉ là lý do được tạo ra để tiêu diệt hoặc trục xuất Dòng Đồng Công nhằm chiếm đoạt vùng đất béo bở tại Thủ Đức.

Thời gian này, gia đình chúng tôi vừa nhận được giấy phép xuất cảnh đi Hoa Kỳ của nhà cầm quyền CSVN, đang chờ phái đoàn Mỹ gọi phỏng vấn.

Trước hoàn cảnh này, thực sự tôi rất lo sợ bởi vì nếu vì lòng nhân đạo mà dấn thân vào vụ này, chẳng may bị CSVN biết được thì họ sẽ thu hồi toàn bộ giấy phép xuất cảnh đã cấp ra, còn bản thân  mình sẽ bị vào tù, khổ cho cả gia đình.

Tôi giải thích rõ cho vị thầy này biết những gì có thể xảy ra cho gia đình chúng tôi, và xin thầy đi tìm người khác.

Vị thầy cho biết đã đến nhờ vả tại Phòng bào chữa viên nhưng không tin tưởng họ, nên đã năn nỉ tôi cố gắng giúp đỡ cho Dòng. 

Sau cùng, với máu “anh hùng rơm”, bất chấp hiểm nguy, tất cả phó mặc cho Thượng Đế an bài, tôi đã nhận lời trợ giúp cho Dòng Đồng Công và yêu cầu vị Thầy phải hết sức thận trọng mỗi lần đến gặp tôi. 

Vị Thầy hứa rằng mỗi lần muốn đến tìm tôi, thầy sẽ đến vào buổi tối, nhưng sẽ phải rời nhà Thầy từ sáng sớm, thầy sẽ đi loanh quanh hết chợ này đến chợ khác, hết ngõ hẻm này đến ngõ hẻm khác nhằm tránh sự theo dõi của bọn Công an và trinh sát.

Sau cùng, chúng tôi đồng ý vấn đề cần phải quan tâm là sẽ làm bất cứ điều gì có thể làm được,  nhằm tránh né cho Cha bề trên Trần Đình Thủ không bị buộc vào những tội làm ô uế thanh danh của một vị tu sĩ Thiên chúa giáo, giống như CSVN đã từng bắt giữ một vị Linh mục tại Định quán thời gian ngắn trước đó về tội dụ dỗ gái vị thành niên, khi loan tin đã tìm thấy chiếc áo dài của một cô gái mắc trên cái mắc áo trong phòng ngủ của vị Linh mục.

B_  Diễn tiến sự việc

Theo lời tường thuật của vị Thầy thì CSVN đã căn cứ vào một vài câu trong sách kinh do Linh mục Trần Đình Thủ biên soạn để giảng dạy giáo lý cho giáo dân phải đặt hết lòng tin vào Chúa, mà Đảng CSVN suy diễn rằng linh mục đã dạy giáo dân không tin vào Đảng, vào nhà nước XHCN, nghĩa là lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền chống Đảng và Nhà nước CHXHCNVN.

Nhà cầm quyền tiến hành việc đình chỉ tạm thời mọi hoạt động của Dòng Đồng Công tại Thủ Đức bằng cách niêm phong cơ sở và tịch thu tài sản của Dòng, đó là ngày 15/05/1987,  căn cứ vào một án lệnh đặc biệt của Viện kiểm sát nhân dân (Công tố viên), trong thời gian chờ vụ án được đưa ra Tòa xét xử.

Khi lực lượng công an tiến vào khu vực nhà Dòng, với 5 chiếc xe vận tải Molotova – loại xe vận tải quân sự do Nga sô sản xuất – các tín hữu biết tin và cùng đổ xô ra bảo vệ Dòng. Khi thấy những chiếc xe Molotova chở đầy gạo chạy ra, tín hữu đã dùng thân mình làm vật cản không cho xe chở gạo đi. Công an dùng dùi cui và roi điện giải tỏa đám đông, tín hữu phải dùng vũ khí thô sơ là cái gậy và ná bắn chim với những viên sỏi nhỏ để chống trả.

Trước sức kháng cự quyết liệt của tín hữu, công an đã sử dụng một linh mục từ nơi khác đến để thuyết phục tín hữu giải tán, nhưng giáo dân không nghe lời vị linh mục này.  Sau đó, có 3 vị linh mục lạ mặt xuất hiện, yêu cầu đám đông mở đường cho vào nhà Dòng tiếp xúc với Cha bề trên Dòng và được giáo dân mở đường cho họ vào.

Sau khi nói chuyện với Cha yêu cầu nhà Dòng cử một vị linh mục ra giải tán giáo dân và được chấp nhận, 03 vị linh mục lạ mặt ra về với vẻ mặt hớn hở. Nhưng diện mạo, tác phong, cách đi đứng của 3 vị linh mục này không bình thường như những vị linh mục khác, dáng đi cứng cáp, tiếng giày nệm mạnh kêu cồm cộp trên lối đi, đã khiến những tín hữu thân cận quanh Linh mục Trần Đình Thủ ngạc nhiên, nghĩ thầm trong bụng tại sao bước đi của những vị linh mục này lại có dáng dấp, kiểu cách của một quân nhân như vậy, và lưu ý theo dõi.

Khi bước chân ra về, có lẽ do nhiệm vụ thuyết phục đã thành công quá dễ dàng, khiến 03 vị linh mục vui vẻ, hoặc vì muốn mau chóng ra khỏi nhà Dòng, nên bước chân của họ nhanh hơn bình thường, mỗi bước chân dài hơn một chút, vô tình để lộ ra mũi giày, loại giày nhà binh ngắn cổ của công an, lộ ra ngoài vạt của những chiếc áo thâm chùng, không thoát khỏi tia mắt theo dõi của các tín hữu, một tín hữu đi theo phía sau 03 vị linh mục này, đánh bạo tiến nhanh hơn, rồi bất chợt cúi người, nhanh tay nắm vạt áo của một vị linh mục, kéo cao lên thật nhanh, lộ ra chiếc quần công an bên trong.

Biết đã bị lộ tẩy, để tự bảo vệ mình, 03 vị linh mục lạ mặt tự giới thiệu họ là 3 chính trị viên công an mặc giả áo linh mục để tiếp xúc với Giám đốc Dòng Đồng Công và Giám đốc Dòng cũng đã biết họ là công an.

Mặc cho 3 người công an giải thích, các tín hữu đã không kềm được sự tức giận, la lớn báo tin cho các tín hữu khác “chúng nó là công an”, thế là bà con nhào vô, bề hội đồng 3 người công an này bằng tay, bằng chân, bằng cây gậy, nhừ tử đến ngất sỉu, rồi lôi ra vứt bỏ ngoài nghĩa địa.

C_ Cha bề trên Dòng Đồng Công bị bắt

Khi Dòng Đồng Công đã bị niêm phong,  Cha bề trên Trần Đình Thủ phải đi tị nạn tại một căn nhà của một tín hữu tọa lạc tại mặt tiền đường Lê văn Duyệt cũ, nay đổi tên là đường Cách mạng tháng tám, gần Ngã ba ông Tạ.

Cha có thói quen uống cà phê mỗi buổi sáng, nên người nhà của giáo hữu này phải băng xéo qua bên kia đường, đối diện Ngã ba ông Tạ để đều đặn mỗi sáng mua một ly cà phê cho ngài dùng tại một quán cà phê dựng trên lề đường, phía trước của các bàn ghế lẹp xẹp cho khách ngồi nhâm nhi ly cà phê nóng là con đường Lê văn Duyệt, mà lòng lề đường là nơi đậu xe đón khách của đủ các loại dân lao động như xe thồ, xe xích lô, xe ba bánh.

Trong thời gian qua, CSVN đã khám phá nhiều âm mưu chống Đảng, chống nhà cầm quyền từ trong nước cũng có, từ nước ngoài về cũng có. Có những người thắc mắc tại sao bọn Công an CSVN rất dễ khám phá những âm mưu chống đối, chúng săn nhặt những nguồn tin tức tình báo bằng cách thức nào mà tài giỏi vậy ?

Đối với Đảng CSVN, bảo vệ an ninh chính trị là tối quan trọng để bảo vệ sự vững mạnh của Đảng, của chế độ, của nhà nước.

Chúng đã tổ chức hệ thống gián điệp hoạt động quốc ngoại, tình báo hoạt động quốc nội thật tốn phí và tinh vi. Ở trong nước, chúng có các công an chìm, được gọi là trinh sát, giả dạng là những người dân lao động làm đủ mọi ngành nghề, buôn thúng bán bưng, buôn bán trong các chợ, làm các nghề lái xe ôm, xe thồ, đạp xe ba bánh, đạp xe xích lô, thậm chí làm cả nghề chị em ta nhằm mục đích nghe ngóng tin tức do các khách hàng vui miệng kể ra, không loại trừ cả Việt kiều, hoặc những người trong nước bất mãn nhà cầm quyền, tưởng lầm bọn trinh sát giả dạng là những người dân nghèo khổ, bất mãn cùng tâm trạng giống như họ, nên thổ lộ hoặc tuyên truyền lôi kéo theo phe nhóm, qua những tin tức đó, công an CSVN theo dõi tình hình an ninh trong nhân dân.

Trong lúc vui chuyện với khách tại quán cà phê, bà chủ quán vô tình kể rằng cái nhà đó, trước kia, có bao giờ mua cà phê đâu, mà dạo này sáng nào cũng đi qua bên này mua cà phê, chắc có khách lạ từ phương xa đến có thói quen uống cà phê buổi sáng, và câu nói này đã lọt vào tai của bọn trinh sát lởn vởn ngồi loanh quanh đó.

Vài ngày sau, công an khu phố đã đến kiểm soát căn nhà bị nghi vấn, nhưng không tìm thấy trong nhà có người lạ mặt tá túc, kiểm tra trong sổ xin phép tạm vắng tạm trú cũng không thấy gia chủ xin phép cho ai đến tạm trú trong thời gian qua, nhưng sáng nào cũng vậy, người nhà của tín hữu đó vẫn đều đặn sang quán cà phê để mua một ly cà phê nóng. Điều này càng làm cho cái nghi vấn của bọn công an rằng nhà đó đang có dấu diếm người là có thật, cần phải nhanh chóng “bắt nóng”.

Sau khi phối kiểm tin tức với Công an địa phương, Công an Thành phố phối hợp với Công an Quận tiến hành khám xét nhà của vị tín hữu này bất ngờ vào một buổi tối, sau khi lục soát khắp nơi, từ phiá bên ngoài nhà vào tới bên trong nhà, công an không tìm thấy có người lạ mặt nào trú ngụ trong nhà, họ đành ra về, khi bước chân ra tới trước cửa ra vào, trưởng toán công an quay người lại để chào chủ nhà, nhưng chính yếu là để có cơ hội đảo cặp mắt quanh nhà kiểm soát lần sau cùng, cái nhìn tổng thể khắp căn nhà, nhìn từ cửa chính ra vào, đã cho phép cặp mắt cú vọ của tên công an vô tình nhìn thấy tòan vẹn cái trần nhà, và một điều khác lạ đã đập vào mắt y, y nhận thấy mọi nơi trên trần nhà đều có màng nhện phủ đây đó, riêng một vùng nhỏ, gần góc trần nhà, nơi có cái nắp trần nhà hình ô vuông, thì lại có vẻ sạch sẽ, có thể là nơi gia chủ thường xuyên leo lên trần nhà để làm cái gì đó, nơi đó là điểm nghi ngờ trong kỹ thuật điều tra, thế là tên trưởng toán công an ra lệnh cho các tên công an quay trở vào nhà, y yêu cầu gia chủ lấy cho mượn cái thang, hai tên công an leo lên trần, dùng đèn pin rọi sáng khắp nơi để kiểm soát, và chúng đã thấy được Linh mục Trần Đình Thủ đang nằm trốn tại một cái góc trần nhà.

D_ Cha bề trên Dòng Đồng Công bị buộc tội là gian thương

image

Sau khi bị bắt, Cha đã bị giam giữ tại Khám Chí hòa.

Với mục đích bôi nhọ và làm ô nhục giáo hội Thiên chúa giáo nói chung, bêu riếu, làm mất uy tín của Cha bề trên Dòng Đồng Công, nói riêng, dựa vào tình hình khan hiếm gạo, cùng với số lượng hơn 5 tấn gạo bị tịch thu, và căn cứ vào quy định về lương thực của nhà nước thì mỗi người chỉ được hưởng tiêu chuẩn 15 Kg gạo một tháng và được tích trữ không quá 3 tháng, tức là 60Kg gạo, Viện kiểm sát đã buộc tội ngài là một kẻ gian thương, phạm tội đầu cơ lương thực căn cứ Điều 165 của Bộ luật Hình sự thời bấy giờ, như sau: Người nào lợi dụng tình hình khan hiếm, mua vét hàng hóa nhằm bán lại thu lợi bất chính. Nếu hàng phạm pháp có số lượng lớn hoặc giá trị lớn  thì bị phạt tù từ 3 năm đến 12 năm. CSVN đã xếp vụ án này vào loại án hình sự kinh tế.

Chúng tôi xin mạn phép được giải thích ý nghĩa thế nào là hưởng lợi bất chính: Trong tình trạng hàng hóa, lương thực cung ứng đủ cho số lượng người dân cần dùng, người ta nói là cung ngang bằng với cầu – giá cả thị trường quân bình, là dấu hiệu của một nền kinh tế ổn định, cuộc sống người dân bình thường.

Có những trường hợp do thiên tai hoặc vì trở ngại trong việc nhập khẩu nhu yếu phẩm, hàng hóa, lương thực không đủ cung ứng cho người tiêu dùng, tức hàng bị khan hiếm, và đây là khan hiếm thực sự, nền kinh tế tạm thời bị coi là mất ổn định.

Ngoài trường hợp trên, những người hoạt động kinh tế, thương mại cỡ lớn, cũng có khả năng gây xáo trộn nền kinh tế,  từ ổn định thành mất ổn định, bằng cách tạo ra một tình trạng khan hiếm giả tạo về lương thực, hàng hóa, nghĩa là hàng hóa trên thị trường không bị thiếu, nhưng họ có kế hoạch  đồng loạt mua gom một hay nhiều loại hàng hóa nào đó, cất giữ tại các kho hàng, và không xuất hàng ra bán ngoài thị trường, những nhà kinh doanh cỡ nhỏ thấy hàng hóa, lương thực, từ từ khan hiếm cũng vội mua gom, mua vét, chỉ sợ hết hàng hóa, sẽ không còn hàng hóa để mua tiêu dùng hoặc để bán, chỉ một thời gian ngắn, số lượng hàng hóa, lương thực đó sẽ tự nhiên biến mất dần tại các chợ, các siêu thị.. trong khi người dân thì lại cần mua loại hàng hóa, lương thực đó hàng ngày nhưng tìm không ra, hàng bị khan hiếm, người  ta nói rằng  cung không đủ cho cầu, nền kinh tế mất ổn định.

Nếu hàng khan hiếm là một loại nhu yếu phẩm, khi bị tăng giá, sẽ làm cho các hàng hóa, lương thực khác bị ảnh hưởng về giá cả, ví dụ khi gạo tăng giá thì các loại hàng hóa khác cũng sẽ bị tăng giá theo.

Vì người dân có nhu cầu tiêu dùng nên sẵn sàng mua hàng hóa, lương thực bị khan hiếm với giá cả đắt hơn giá bình thường, vật giá bị nâng cao, giá bị tăng gấp nhiều lần so với giá hàng hóa cùng loại trong tình trạng một nền kinh tế ổn định, những kẻ tạo nên sự khan hiếm hàng hóa giả tạo này bị gọi là gian thương. 

Khi thấy nhà cầm quyền không biết đến thủ đoạn dấu hàng hóa, lương thực và khi người dân sẵn sàng chấp nhận giá cả do họ ấn định đối với loại hàng hóa, lương thực trong tình trạng khan hiếm, gian thương mới tuôn hàng ra bán tại thị trường và  tha hồ hốt bạc.

Sự khác biệt giữa giá hàng hóa, lương thực được bán ra trong tình hình kinh tế ổn định và giá hàng hóa. lương thực, sau khi hàng hóa, lương thực được nâng giá,  bán ra trong tình hình khan hiếm hàng hóa giả tạo, được gọi là giá bán chênh lệch, và giá bán chênh lệch này chính là phần tiền lời bất chính, mà gian thương được hưởng bằng thủ đoạn gian manh. 

Những người kinh doanh nhỏ, mặc dù không phải là gian thương cỡ lớn, nhưng cũng đã mua gom, mua vét để bán lại kiếm lời khi hàng lên giá, vô tình làm cho tình trạng khan hiếm giả tạo mau chóng xảy ra hơn, gây mất quân bình kinh tế, cũng là những đồng lõa.

Tội đầu cơ tích trữ không những được quy định trong luật pháp các quốc gia trong khối Tự do, mà cũng được quy định ngay cả trong luật pháp các quốc gia khối Cộng sản. 

CSVN đã cho phép Thầy được thăm nuôi Cha bề trên Dòng Đồng Công, và sau khi được biết bị khép tội phạm hình sự kinh tế, và bị gán là gian thương, Cha đã không nhận tội, nhưng chỉ là một tu sĩ, giỏi về giáo lý, giỏi về giảng đạo cho tín hữu, nhưng lại không biết làm sao để tự bào chữa cho mình là vô tội, mà chỉ biết nói rằng Cha không phạm tội.

Vì Linh mục Trần Đình Thủ đang bị ở trong nhà tù, nên tôi phải viết một bản biện minh cho ngài dưới hình thức một bản tự bào chữa, một bản tự biện minh, vì lý do bị buộc tội oan, sau đó, Cha sẽ đọc lại bản viết, nếu đồng ý sẽ ký tên, rồi nộp cái bản tự bào chữa đó cho bọn công an và kiểm sát viên thụ lý hồ sơ.

Căn cứ điều luật quy định về tội đầu cơ, nói chung của các nước tự do và của CSVN, kẻ phạm pháp đã phải thực hiện hai hành vi căn bản, gọi là hai yếu tố cấu thành tội phạm :

A_ Phải có hành vi tích trữ, nghĩa là kẻ phạm tội đã mua gom, mua vét hàng hóa, lương thực vượt mức tích trữ quy định

B_ Việc tích trữ hàng hóa, lương thực phải có mục đích sẽ bán lại cho công chúng trong  tương lai để hưởng lợi chênh lệch.

Tôi thắc mắc lý do gì mà Dòng Đồng Công lại có quá nhiều gạo như vậy?

Thầy giải thích rằng tổng số người sinh sống và phục vụ trong nhà Dòng chỉ độ khoảng 30 người, nhưng hàng tháng, nhà Dòng đều có các lớp dạy giáo lý nội trú cho từ 70 đến 100 tín hữu, tức 1500 Kg gạo một tháng,  tổng cộng số người do nhà Dòng phải nuôi ăn là 100 người x 45Kg = 4500 Kg gạo một tháng, cộng thêm với số người cơ hữu thường xuyên sinh sống trong nhà Dòng 30 người  x 45 Kg = 1350 Kg, tổng cộng số gạo cần thiết để nuôi ăn và tích trữ trong vòng 3 tháng là 4500Kg + 1350Kg = 5850 Kg gạo, tức là 5 tấn 850 kg gạo, nghĩa là gần 6 tấn gạo.

Số lượng gạo bị tịch thu là hơn 5 tấn, không vượt quá mức tích trữ lương thực theo quy định dựa trên số lượng người mà Dòng phải nuôi ăn hàng tháng, và Dòng Đồng Công không tích trữ gạo nhằm mục đích bán lại cho công chúng để hưởng lời chênh lệch giá, nên công an và Viện kiểm sát CSVN không thể buộc tội đầu cơ cho Giám đốc Dòng, và cũng không thể gọi ngài là gian thương theo nguyên tắc căn bản: Không có tội tích trữ thì không có tội đầu cơ.

Bản tự biện minh không phải là gian thương và không phạm tội đầu cơ đã được Công an điều tra xét hỏi (Công an thẩm vấn) và Viện kiểm sát chấp nhận và rút lại lời buộc tội bị can Trần Đình Thủ phạm tội đầu cơ

E_ Cha bề trên Dòng Đồng Công bị buộc tội nhận tiền của nước ngoài để hoạt động chống Nhà nước CSVN

image

Trong những ngày kế tiếp, công an đã hạch hỏi tiếp  Cha bề trên Dòng Đồng Công nguồn tiền ở đâu mà có để mua gần 6 tấn gạo, và nguồn tiền ở đâu để mua thực phẩm ăn uống hàng ngày, trong khi nhà Dòng không có hoạt động kinh doanh thương mại?  Phải chăng đã có nguồn tiền từ nước ngoài cung cấp ? và nhà Dòng đã nhận tiền của nước ngoài để hoạt động tuyên truyền chống phá nhà nước CHXHCNVN?

Phần buộc tội này gồm có hai yếu tố, có thể tạm nói  là buộc tội có điều kiện. 

CSVN buộc tội ở phần đầu : “Nếu thực sự đã có nguồn tiền cung cấp từ nước ngoài cho Dòng Đồng Công”, thì CSVN sẽ gán ghép cáo buộc ở phần sau là ”nhằm mục đích chống phá nước CHXHCNVN”.  

Điều này có nghĩa là nếu chứng minh được Dòng Đồng Công không có nguồn tiền viện trợ từ nước ngoài, thì Dòng Đồng Công, do Linh mục Trần Đình Thủ quản nhiệm, sẽ không bị gán cho cái tội chống phá nhà nước CHXHCNVN.

Vì lẽ đó, điều quan trọng là phải giải thích nguồn tiền ở đâu mà ra mà  Dòng Đồng Công đã mua gạo dự trữ và thực phẩm nuôi ăn cho hơn 100 người trong nhà Dòng.

Cái khổ là Linh mục Trần Đình Thủ, với cương vị là Tổng Giám đốc Dòng, chỉ biết mọi việc một cách tổng quát, không rõ được chi tiết của từng sự việc, không biết về kế toán, sổ sách – chi thu, nên không thể trả lời những câu hỏi hóc búa đầy cạm bẫy của công an điều tra xét hỏi, và ngoài câu trả lời một cách rõ ràng và chắc nịch rằng “Tôi vô tội” thì ngài đã bị lúng túng khi trả lời những câu hỏi của công an rằng làm sao để chứng minh vô tội khi chứng cớ trước mắt cho thấy nhà Dòng có quá nhiều gạo,  tại sao lại phải mua nhiều gạo như vậy, nguồn tiền ở đâu ra để mua gạo và thực phẩm nuôi ăn cho mọi người sinh sống trong nhà Dòng.

Tôi đã nói với vị Thầy rằng đó chỉ là những nguyên tắc và kỹ thuật thẩm vấn, vấn đề của chúng ta là phải thuyết phục được bọn công an, kiểm sát viên và Hội đồng xét xử của Tòa án bằng  chứng minh một cách cụ thể bằng giấy tờ, sổ sách, chứng cớ nguồn tiền ở đâu ra để mua gạo và thực phẩm ăn uống hàng ngày cho khoảng trên 100 tín hữu trong nhà Dòng,  chứ không phải chỉ trình bày, chỉ nói lý lẽ một cách qua loa, đơn giản như chúng ta nói chuyện với nhau  mà  không có chứng minh cụ thể nào cả.

Để tìm hiểu làm sao nhà Dòng có nhiều tiền để mua dự trữ  gần 6 tấn gạo như vậy, Thầy đã dẫn một vị quản gia phụ trách về canh tác hoa màu của Dòng Đồng Công tại Thủ Đức, đến gặp tôi để giải thích và chứng minh cụ thể bằng sổ sách, giấy tờ.

Sự thật là  với số diện tích đất đai thuộc sở hữu của Dòng Đồng Công tại Thủ Đức, họ đã canh tác luân phiên các loại thực phẩm như các loại rau, hành,  số tiền đó dùng để mua gạo, thực phẩm, cộng thêm khoản tiền đóng góp chi phí ăn ở của khoảng 100 tín hữu Dòng Đồng Công thay phiên nhau đến nhà Dòng mỗi tháng để học giáo lý, tổng số tiền thu nhập chia cho tiêu chuẩn bình quân nuôi ăn mỗi đầu người mỗi ngày, đủ cho tiền mua gạo và thực phẩm nuôi ăn hàng ngày cho mọi người,  từ sự giải thích, từ sổ sách kế toán,  tôi mới có cơ sở rõ ràng và minh bạch để viết bản biện minh giải trình nguồn tiền mua gạo và thực phẩm nuôi sống mọi người trong nhà Dòng hàng ngày là do việc tự canh, tự túc, tự cường của nhà Dòng và các tín hữu cùng chung góp công, góp của, không phải là do nguồn tiền từ nước ngoài trợ giúp.

Khi không có cơ sở chứng minh Dòng Đồng Công đã nhận tiền của nước ngoài thì cũng đương nhiên không có tội chống phá nhà nước CHXHCNVN.

Với bản tự biện minh này, công an và Viện kiểm sát cũng đã rút bỏ phần buộc tội Cha Trần Đình Thủ của  Dòng Đồng Công nhận tiền từ nước ngoài để hoạt động chống phá nước CHXHCNVN.

F_ Lời thú tội của Cha bề trên Dòng Đồng Công tại Tòa án

Linh mục Trần Đình Thủ được chuyển từ trại giam khám Chí Hòa về trại giam Phan đăng Lưu tọa lạc tại góc đường Lê quang Định –  Phan đăng Lưu. Kể từ đây, vị Thầy không còn được phép thăm nuôi Cha nữa.

CSVN công bố sẽ đưa Cha bề trên Trần Đình Thủ ra xét xử tại Tòa án Sơ thẩm Saigon tọa lạc  tại số 134 đường Công lý, tức Tòa án Saigon cũ, vào ngày 27/10/1987 và ông Nguyễn đăng Trừng là bào chữa viên biện hộ cho vụ án này.

Xin được giải thích rằng cho đến năm 1991,  Việt nam mới có tổ chức Luật sư. Trước thời gian này, những người hành nghề Luật sư được gọi là Bào chữa viên nhân dân,  không được mở văn phòng riêng,  tất cả các Bào chữa viên thành phố Saigon đều hoạt động chung tại một văn phòng, gọi là Phòng Bào chữa viên nhân dân, do ông Triệu quốc Mạnh là Trưởng Đoàn và Nguyễn đăng Trừng là Phó đoàn Bào chữa viên.

Khi người dân cần có bào chữa viên trợ giúp tại Tòa cho mình hoặc cho thân nhân thì đến phòng bào chữa làm thủ tục đăng ký, nhưng không được tự do chọn lựa Bào chữa viên theo ý muốn, mà Bào chữa viên sẽ được Đoàn bào chữa chỉ định luân phiên.

Theo họ,  cách tổ chức như vậy để nhằm tránh trường hợp người thì có quá nhiều thân chủ, người thì có ít thân chủ, hoặc không có thân chủ.  Giai đoạn này đã xảy ra tình trạng có Bào chữa viên mà không được cảm tình của Trưởng và Phó đoàn thường phải nhận những hồ sơ rẻ tiền hoặc khó khăn. 

Tòa án Saigon được xây dựng từ thời Pháp thuộc, theo hình chữ U ngược, vụ án được xét xử suốt 03 ngày từ 27/10/1987 đến 30/10/1987. Đồng bào đến tham dự phiên Tòa đông nghẹt, không riêng gì các giáo dân Thiên chúa giáo, mà cả các Phật tử, các phóng viên báo chí trong và ngoài nước,  đứng chật cả lối đi trên thềm Tòa án ra đến ngoài sân nơi đậu xe, Tòa án mắc loa phóng thanh ra ngoài sân Tòa để người dân được nghe rõ.

Cha bề trên đã hoàn toàn phủ nhận mọi tội trạng do Viện kiểm sát nhân dân (Công tố viên) buộc tội, Tòa án đã nói là Cha ngoan cố, phủ nhận mọi tội trạng, nhưng Cha không thể nào chối cãi rằng chính Cha đã xác nhận phạm tội trong thời gian Công an và Viện kiểm sát tiến hành điều tra,

Cha cho biết  chưa bao giờ thú nhận phạm tội gì cả vì Cha không hề phạm tội, Tòa án nói Cha không thể ngoan cố chối cãi tội lỗi, và để chứng minh.

Tòa án đã cho bật cái máy thu băng lên, mọi người trong phòng xử án, các tín hữu Dòng Đồng, các thông tín viên báo chí trong và ngoài nước, đứng đầy cả sân Tòa, mọi người đều nghe rõ từng lời nói của Cha bề trên, âm thanh từ loa phóng thanh phát ra đúng là giọng nói của Linh mục Trần Đình Thủ,  rằng Cha hoàn toàn thú nhận đã cố tình viết trong các tài liệu dạy giáo lý cho tín hữu những lời lẽ tuyên truyền chống phá  nhà nước CHXHCNVN.

G_  Linh mục Giám đốc Dòng Đồng Công bị gài bẫy

image

Căn cứ vào lời thú tội được ghi âm trong băng Cassette, bị cáo Trần Đình Thủ đã bị tuyên án tù chung thân. Sau đó, bản án được giảm xuống còn 20 năm tù ở tại phiên Tòa Phúc thẩm.

Mọi người đều ngạc nhiên không hiểu lý do gì ngài lại nói như thế, người thì đưa ra giả thiết là vào thời điểm đó, có lẽ ngài đã bị chích thuốc để mất kiểm soát lý trí, phải nghe theo lời bọn công an điều tra xét hỏi tại trại giam Phan đăng Lưu.

Các tín hữu Dòng và các tín đồ Thiên chúa giáo không thể có phản ứng gì cả,  khi họ nghe rõ ràng chính miệng Cha bề trên Dòng Đồng Công xác nhận tội trạng, và đó cũng là lý do tại sao các tín hữu Dòng Đồng Công tại Việt nam nói chung, và tại Thủ Đức nói riêng, đành phải im lặng, không có hành động tranh đấu, hoặc chống đối nhà cầm quyền CSVN.

Thắc mắc của các tín hữu Dòng Đồng Công cũng là thắc mắc của riêng tôi, tại sao Cha bề trên  Dòng Đồng Công lại nhận tội một cách vô lý như thế được, nếu Tòa án CSVN cố tình xử oan, xử sai thì cứ mặc họ, mình không có tội thì cứ việc nói vô tội, người Thiên chúa giáo luôn có câu nói “Chúa thử thách các con của Người thì hãy cứ để cho Chúa thử thách, cứ làm theo ý Chúa, Chúa xoay chuyển tới đâu thì mình phải chịu tới đó, phải tuân theo ý Chúa “. Tại sao Cha  lại nhận tội như vậy?

Sau khi bản án trở thành chung thẩm, vị Thầy được phép thăm nuôi Cha và được nghe Cha kể lại sự thật rằng :

Sau khi bị di chuyển từ nhà tù Chí Hòa về trại giam Phan đăng Lưu, một ngày nọ, Cha bị công an chấp pháp gọi lên phòng thẩm vấn, CSVN gọi là Phòng điều tra xét hỏi, tên công an đã để sẵn một máy thu băng, và đưa cho Cha bản tự khai, rồi nói với Cha rằng đây là bản tự khai của ông, tôi đã viết sẵn, ông đọc kỹ từng chữ, từng câu, và sau khi đọc xong, nếu ông đồng ý thì ký tên vào phần cuối tờ giấy, nếu không đồng ý với lời lẽ viết trong bản tự khai, ông có quyền không ký.

Cha bề trên cầm xấp giấy đã được viết sẵn, lấy mắt vừa nhìn, vừa đọc thầm trong miệng bản khai, tên công an nói : ông đọc như thế thì chỉ có một mình ông nghe thôi, ông phải đọc to tiếng lên để tôi và ông cùng nghe một thể. Thế là Cha đành phải bắt đầu đọc lớn tiếng: Lời thú tội …

Khi Cha bắt đầu đọc thì cũng là lúc tên Công an bật máy thu băng để ghi âm lời đọc của Cha. Sau khi đọc xong,  tên công an tắt máy thu băng. Cha trả lại xấp giấy tự khai cho tên công an và nói: Bản ghi Lời thú tội này không đúng, tôi không đồng ý và ngài đã không ký tên vào bản khai. Tên công an chỉ nhếch miệng cười, không nói gì, và trả Cha về lại phòng giam.

Sau khi phiên Tòa kết thúc, Cha mới hiểu ra rằng khi bọn Công an nói Cha đọc bản tự thú tại phòng thẩm vấn, chúng đã tiến hành một kế hoạch thâm độc đưa Cha  vào cái bẫy, chúng thu băng lời nói của Cha khi đọc Bản tự thú tội do chúng viết sẵn, và Tòa án, Viện kiểm sát nhân dân đã sử dụng cuộn băng ghi âm lừa bịp này để kết tội Cha bề trên.

Sau đó, vị thầy có đến gặp tôi,  cho biết có thể đây là lần sau cùng đến nhà tôi, vì Thầy sẽ tìm đường vượt biên ra nước ngoài, và các tín hữu ở ngoại quốc cũng đã biết tin Cha bị bắt và đang nhờ các cơ quan quốc tế can thiệp.

Dù vậy, là người hiểu rõ bản án và kế hoạch thâm độc của nhà cầm quyền CSVN cố tình buộc tội oan, và ban hành bản án sai pháp luật do chính họ đặt ra, tôi đã viết hai văn bản kêu gọi Hội bảo vệ nhân quyền quốc tế và Hội ân xá quốc tế, giao cho Thầy để chuyển ra ngoại quốc.

Một thời gian ngắn sau đó, qua tin tức của một tín hữu tại Giáo xứ Bắc hà, tôi được biết tin Thầy  đã vượt biên và đã đến bờ tự do tại Hoa Kỳ.

Linh mục Trần Đình Thủ đã được trả tự do vào tháng 05/1993, sau gần 6 năm bị giam giữ, tôi cho rằng có hai lý do, mà phần chính yếu là vì các giáo dân Thiên chúa giáo thuộc Dòng Đồng Công trong nước đã giữ im lặng, không tranh đấu,  chống đối nhà cầm quyền, và lý do thứ hai là do công lao của các tín hữu Dòng Đồng Công tại hải ngoại đã vận động các tổ chức quốc tế can thiệp với nhà cầm quyền CSVN để Cha được phóng thích.

Nhận định

image

1_ Vụ án Linh mục Tadeo Nguyễn văn Lý:  Vụ án này bắt nguồn từ cơ sơ nào ?

Đó là  chính sách của Đảng và Nhà cầm quyền CSVN tước đoạt đất đai thuộc sở hữu của giáo hội Thiên chúa giáo, thực hiện qua hành vi lợi dụng chức vụ và quyền hạn của các viên chức chính quyền từ địa phương cơ sở lên tới cấp thành phố tỉnh Thừa thiên. Đây là một tội phạm hình sự  được quy định tại phần các tội danh về Tư pháp.

Nếu Đảng và nhà cầm quyền CSVN các cấp thực hiện chính sách tôn trọng quyền sở hữu tài sản của nhân dân và giáo hội, hoặc giải quyết khiếu nại chính đáng đòi đất đai bị chiếm dụng của giáo dân Nguyệt Biều, đúng như quy định của Hiến pháp, thì linh mục Nguyễn văn Lý và người dân giáo xứ Nguyệt Biều đã không phải tranh đấu đòi hỏi quyền lợi bị thiệt hại, và cũng sẽ không có vụ án Linh mục Tadeo Nguyễn văn Lý.

Để chiếm được đất đai, nhà cầm quyền CSVN đã phải xử dụng bạo lực trấn áp bằng những hành vi bắt bớ, chủ trương làm sai lệch hồ sơ vụ án của công an, Viện kiểm sát và Tòa án, đương nhiên dẫn đến một bản án oan và sai pháp luật, điều này cũng là tất nhiên, vì một quốc gia không có tự do và dân chủ thì cũng không thể có công lý.

image

2_ Vụ việc tại Giáo xứ Kế Sung xảy ra tại Tổng giáo phận Huế, cũng đã có một hậu quả tương tự như vụ án Linh mục Tadeo Nguyễn văn Lý, cũng do mục tiêu chiếm đoạt đất đai của giáo xứ.

image

3_ Riêng đối với vụ án Dòng Đồng Công, các linh mục và giáo dân Dòng không hề có phản ứng chống đối Đảng và nhà cầm quyền các cấp, mặc dù đất đai tại tỉnh Lâm Đồng đã bị chiếm dụng từ những năm đầu của cuộc cách mạng giải phóng miền Nam, nhưng CSVN cũng không tha, họ muốn tước đoạt nốt phần đất đai còn lại tại huyện Thủ Đức, thuộc thành phố Saigon, ác độc hơn nữa, họ đã lần lượt áp đặt cho Cha bề trên Dòng tội danh xấu xa gian thương, rồi nhận tiền từ nước ngoài để hoạt động chống phá Đảng và nhà nước, và bày mưu kế thâm độc bắt Cha phải đọc lời nhận tội do chúng viết sẵn, để bịt miệng nhân dân, tín hữu Dòng Đồng Công và dư luận quốc tế.

Chỉ tiếc rằng cho đến nay, vẫn có những kẻ  may mắn chạy thoát khỏi Việt nam trước khi bộ đội Cộng sản vào đến Saigon, chưa có một ngày nào sống chung với Cộng sản, không hiểu Cộng sản là gì, chỉ hiểu lờ mờ về Cộng sản qua đống sách triết học Mác – Lenin giảng  dạy về lý thuyết không tưởng Cộng sản, nên vẫn còn tâm nguyện trở về hợp tác, hòa hợp hòa giải, xoá bỏ hận thù với Cộng sản.

Người dân Thiên chúa giáo và Phật giáo và Toàn thể nhân dân trong nước cũng đã thừa hiểu, hiện nay, CSVN ra sức đàn áp tôn giáo, bóp nghẹt nhân quyền dã man bằng mọi hình thức, thử hỏi bọn CSVN đã thực sự hòa hợp, hòa giải được với các trí, nông, công, thương,  với các giáo hội, các hội đoàn, Đảng phái chính trị, với nhân dân trong trong nước hay chưa ?

Câu trả lời là chưa, vậy thì việc kêu gọi hòa hợp, hòa giải với cộng đồng người Việt hải ngoại, những người đã phải trốn chạy vì không chấp nhận bọn chúng, chỉ là một sự lừa bịp trắng trợn, chỉ đánh lừa được những kẻ thơ ngây về Cộng sản.

Đã bao năm qua, Vẹm vẫn là Vẹm, không có gì thay đổi.

Phúc Linh

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links: BM (Baomai)


Bẻ Cong Lịch Sử – Giáo sư Lâm Văn Bé

30041975

Bài đọc suy gẫm: “Bẻ cong lịch sử” hay bài viết về “Chuyện tháng tư đen” của Giáo sư Lâm văn Bé.  Bài viết ghi lại những biến cố quan trọng của “Tháng Tư Đen” năm 1975. 

1.

Lịch sử nhiều khi bị thay đổi. Không phải vì sự kiện lịch sử thay đổi, nhưng sự kiện lịch sử khi được tường thuật, nhận định, lại bị thay đổi bởi chính kiến, thành kiến, tư lợi.

Khi xưa, sử quan viết sử để phục vụ cho một triều đại cầm quyền, hôm nay người viết sử hay nghiên cứu sử lại bị quyền lợi cá nhân hay phe nhóm chi phối. Đem tâm tình viết lịch sử và đọc lịch sử là chuyện muôn đời.

Sự gian trá, ngụy tạo tài liệu lịch sử lại càng trầm trọng hơn với thông tin điện tử. Thông tin trên internet hôm nay là sản phẩm đôi khi của tưởng tượng, nếu không là sự lập lại thành thật những dữ kiện đã bị nhào nặn, vô tình hay cố ý qua các trung gian.

Dĩ nhiên, chúng ta không thể đa nghi về mọi sự việc, nhưng đôi khi, việc sử dụng óc phân tích, sự thông minh để phân biệt hư thực là điều cần thiết.

Nhân ngày 30 tháng tư, chúng tôi muốn ghi lại những biến cố quan trọng của Tháng tư đen từ một số tài liệu và hồi ký viết bởi các tác giả người Mỹ, Pháp, và nhất là người VN, để xem chỉ một tháng thôi, sự kiện lịch sử đã được tường thuật và nhận định khác biệt thế nào bởi ngay những chứng nhân hay tác nhân của các biến cố.

4 tháng tư: Trần Thiện Khiêm từ chức (Todd, p.237), [nhưng theo Hoàng Đống, tr. 356 thì Khiêm từ chức ngày 2] và đề nghị một danh sách người kế nhiệm là Trần Văn Đổ, Nguyễn Ngọc Huy, Trần Văn Lắm. Sau khi cân nhắc, ngày 5, TT Thiệu mời Nguyễn Bá Cẩn đứng ra lập nội các chiến tranh (Viên, tr.218) nhưng phải chờ đến ngày 14 tháng 4, tân thủ tướng mới trình diện được nội các với Tổng Thống Thiệu.

– Theo Nguyễn Tiến Hưng trong Khi Đồng Minh tháo chạy « Trong suốt buổi lễ, ông Thiệu tỏ ra căng thẳng, vẻ mặt xanh xao, duờng như những biến cố vừa qua đã tiêu hao hết nghị lực của ông bởi Cộng Sản(CS) đã tiến gần đến Phan Rang, nơi sinh trưởng của ông » (Hưng, tr. 310).

– Theo Snepp, giới chính trị dửng dưng vì đó chỉ là bình phong vì mọi việc do TT Thiệu quyết định, còn Polgar, trưởng phòng CIA tại Saigon thì hài lòng vì một tổng trưởng quan trọng của nội các là nhân viên của CIA (Snepp, tr. 232).

– Theo Trần Văn Đôn, mặc dù ông chấp nhận chức vụ Phó Thủ Tướng, nhưng ông đã nhận định ông Thủ Tướng của ông «không phải là người của tình thế, không phải là người dốc tâm dốc sức để giải quyết cơn bệnh đã đến hồi ngặt nghèo của VNCH » (Đôn, tr. 447)

– Bùi Diễm, đại sứ VN tại Mỹ tỏ ra xem thường ông Cẩn cho là « một người mà tất cả Saigon biết rằng chẳng có quyền hành gì » (Diễm, tr. 560)

– 8 tháng tư: Trung Úy KQ/VNCH “trở cờ” Nguyễn Thành Trung lái F-5 oanh tạc dinh Độc Lập rồi đáp xuống phi trường Nha Trang (Đà Nẳng, theo Darcourt, Phước Long, theo Lý Quí Chung) đã do CS kiểm soát. Báo chí Saigon lúc ấy đăng tin Trung là người bị khủng hoảng tâm thần nhưng CS xác nhận Trung là đảng viên CS đã được gài vào Không quân Saigon, được tu nghiệp ở Hoa Kỳ từ năm 1969 đến 1972.

Sau này, năm 1996, Trung là phi công trưởng lái chiếc Boeing 767 đưa chủ tịch Lê Đức Anh qua New York dự lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Liên Hiệp Quốc.

Cuộc oanh tạc gây ra nhiều hoang mang trong dân chúng và quân đội như Kỳ đảo chánh hay TT Thiệu tạo đảo chánh giả để bắt các phe đối lập.

Cùng lúc ấy, tại Hà nội, Phạm Văn Đồng tiếp kiến Đại sứ Pháp Philippe Richer đề cập đến viễn tượng hợp tác với Pháp trong việc khai thác các mỏ dầu ở miền Nam, thay thế các chuyên viên Hoa Kỳ. Tổng Thống Pháp Giscard d’Estaing chỉ thị cho đại sứ Jean- Marie Mérillon tại Saigon tích cực thăm dò và bày tỏ lập trường của Pháp bên cạnh các nhà lãnh đạo VNCH và đại sứ Mỹ Graham Martin.

– 9 tháng tư: CS bắt đầu chiến dịch đại tấn công với 16 sư đoàn được tổ chức thành 4 quân đoàn, và một lực lượng yểm trợ hùng hậu gồm 1 sư đoàn pháo binh, 2 lữ đoàn chiến xa. Quân đoàn 4 gồm 3 sư đoàn do Trần Văn Trà chỉ huy gồm SĐ 341 (sư đoàn nầy tân lập, nhiều quân sĩ mới gia nhập, có nhiều lính dưới 18 tuổi), SĐ 4, SĐ 7, tấn công Xuân Lộc và pháo kích vào Bộ Tư Lịnh Quân Khu 3 và phi trường Biên Hòa. (Snepp, tr. 268)

Nguyễn Hữu An trong Chiến trường mới, thì chi tiết hơn: quân CS có 17 sư đoàn chia ra 5 quân đoàn tấn công Saigon. Quân đoàn 1 do tướng Nguyễn Hòa chỉ huy có 30 000 quân phụ trách vùng Đông Bắc (Lái Thiêu, Bến Cát), quân đoàn 2 do Nguyễn Hữu An chỉ huy có 40 000 quân tấn công vùng Đông Nam, (Long Thành, căn cứ Nước Trong, thành Tuy Hạ), quân đoàn 3 có 46.000 quân do Vũ Lăng làm tư lệnh tấn công vùng Tây Bắc (Trảng Bàng, Hốc Môn), quân đoàn 4 do Hoàng Cầm chỉ huy với 30 000 quân đánh hướng đông và đông nam (Xuân Lộc, Biên Hòa, Long Bình), quân đoàn 232 do Lê Đức Anh chỉ huy 42 000 quân đánh hướng Tây Nam dọc theo quốc lộ số 4. (An, tr. 245-47)

Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 18 BB của tướng Lê Minh Đảo đã anh dũng chống trả, mặc dù CS pháo kích đến 10 ngàn đại pháo trong một ngày (theo Snepp thì 1000, có lẽ hợp lý hơn), nhưng đã đẩy lui được quân CS, và đây là lần đầu tiên sau 3 tháng chiến thắng trên nhiều mặt trận, chiếm được 14 tỉnh, quân CS bị chận bước tiến. Tướng Trần Văn Trà, trong hồi ký Kết thúc cuộc chiến 30 năm, đã nhìn nhận là ba sư đoàn của Hoàng Cầm bị thiệt hại rất nhiều, Tướng Trà phải tăng viện quân trừ bị của sư đoàn 6 và 7.

– Ngày 10, tướng Cao Văn Viên tăng viện Xuân Lộc: không quân dội bom 750 cân ở cao độ rất thấp, khiến quân CS bị thiệt hại nặng (2000 bị thương và thiệt mạng (Todd tr. 283) nên phải tiếp viện trước khi tái tấn công Xuân Lộc nhằm cắt đứt với Biên Hòa. Theo Nguyễn Khắc Ngữ, con số này là 1000 (Ngữ, tr. 326)

Nhưng chiến thắng Xuân Lộc không tạo được ấn tượng nào trong chính giới Hoa kỳ. Tuy nhiên, Tổng Thống Gerald Ford, trong một bài diễn văn đọc trên đài truyền hình toàn quốc cũng vào ngày 10 tháng 4 yêu cầu Quốc Hội viện trợ quân sự cho VNCH 722 triệu mỹ kim theo đề nghị của tướng Frederick Weyand, tư lệnh lực lượng Mỹ ở VN, và 250 triệu viện trợ dân sự cung cấp phương tiện cứu trợ người tị nạn, nhưng đã bị Thượng Viện, lúc bấy giờ thuộc đảng Dân Chủ không trả lời. Sau đó, ngày 16 tháng 4, TT Ford, trong bài diễn văn đợc trước Hội các nhà biên tập báo chí Hoa Kỳ (American Society of Newspaper Editors) lên án Quốc Hội Hoa kỳ đã bội ước không tôn trọng nghĩa vụ giúp đỡ VNCH trong khi Liên Sô và Trung Cộng gia tăng viện trợ cho Bắc Việt. Để trả lời TT Ford, ngày hôm sau, Thượng Viện biểu quyết không chấp nhận bất cứ một viện trợ quân sự bổ túc nào cho VNCH.

Phải chăng, chính sách chống chiến tranh VN của đảng Dân Chủ là lý do khiến đa số người VN ở Mỹ có ác cảm với đảng Dân Chủ và ủng hộ đảng Cộng Hỏa với mọi giá !

Thực ra, tất cả chỉ là sự lừa dối hào nhoáng, danh từ mà Neil Sheehan đã đặt tên cho quyển sách của ông, bởi lẽ tuy bề mặt Ford làm ra vẻ như muốn giúp VN, nhưng bên trong, Ngũ Giác Đài tuyên bố đã tuyệt vọng và Tổng Trưởng Quốc Phòng James Schlesinger đã tuyên bố là viện trợ chỉ vì uy tín của Hoa Kỳ: «Chúng ta không thể nào là quốc gia bỏ rơi đồng minh, phản bội lời hứa của chúng ta» (Todd p. 271).

– Ngày 12, cuộc triệt thoái của Mỹ trên đất Cao Miên là một báo hiệu cho miền Nam, càng gia tăng thêm cơn sốt chính trị và nỗi hoang mang lo sợ trong dân chúng.

Lúc 7giờ 45 sáng, ba đoàn trực thăng khổng lồ cất cánh từ hàng không mẫu hạm Okinawa trong vịnh Thái Lan đáp xuống Nam Vang để di tản giới chức Mỹ và Cao Miên của chánh phủ Long Boret.

«Thật là ngạc nhiên và nhục nhã cho người Mỹ, tất cả nội các và đa số nhân vật cao cấp trong chánh quyền Cao Miên từ chối lời mời của Mỹ để di tản như thủ tướng Long Boret, Lon Non (em của Lon Nol), mặc dù những người nầy có tên trong danh sách bị án tử hình của Khmer Đỏ ».(Todd p.274)

Tinh thần kiên cường nầy đã biểu hiện rõ trong bức thư của Hoàng thân Sirik Matak viết tay bằng tiếng Pháp gởi cho đại sứ Mỹ John Dean.

Thưa ông Đại Sứ ,

Tôi thành thật cám ơn lời mời của Ông định đưa tôi đến bến bờ tự do nhưng tôi không thể nào bỏ đi một cách hèn nhát như vậy.

Đối với Ông và quốc gia vĩ đại của Ông, tôi không bao giờ tưỡng tượng được, dù chỉ một phút, các Ông đành lòng bỏ rơi một dân tộc đã chọn lựa chiến đấu cho tựdo. Các ông ra đi, tôi xin cầu chúc cho Ông và quốc gia của các ông sẽ tìm được hạnh phúc duới bầu trời này.

Nhưng các ông nên ghi nhận điều nầy là tôi sẽ chết ở đây, trên đất nước thân yêu của tôi, và chúng tôi chỉ ân hận đã phạm một sai lầm lớn là đã đặt niềm tin vào các ông và nước Mỹ của các ông.

Sirik Matak

Vài ngày sau, Kissinger đọc bức thư của Matak cho các thượng nghị sĩ nghe trong bầu im lặng tuyệt đối và nỗi bàng hoàng. Và để kết luận, Kissenger vớt vát: Là người Mỹ, chúng ta phải làm thế nào để đừng có những bức thư như thế này nữa. (Todd, p.280)

* Cuộc di tản của Mỹ ở xứ chùa Tháp vẫn không lay chuyển được niềm tin của TT Thiệu về sự sống còn của chế độ VNCH. Sau đây là cuộc đối thoại giữa Hoàngđức Nhã và TT Thiệu được Todd ghi lại (Todd tr. 276)

– HĐN: Chuyện như vậy sẽ xảy đến ở Saigon
– TT Thiệu: Chú tin như vậy ?
– HĐN: Đúng vậy, nếu CS tập trung lực lượng tấn công chúng ta.
– TTThiệu: Tôi không tin như vậy và chẳng tin bao giờ như vậy. Ở đây có nhiều yếu tố khác.

* Dương Văn Minh, người tự nhận là cứu tinh của đất nước, bình thản nhận được tin Nam Vang thất thủ lúc đang uống trà với các bạn tại Đường Sơn Quán, tiệmăn của tướng Mai Hữu Xuân ở Thủ Đức.

Trả lời câu nói của bạn ông là Tôn Thất Thiện là rồi đây Cộng Sản sẽ vô Saigon, Minh phản đối: Anh không phải là quân nhân, anh chẳng biết gì cả. Phải 6 tháng nữa kìa. (Todd p. 293).

Ngày 14 , Trần Văn Đôn gặp Đại sứ Martin thông báo là ông vừa tiếp xúc với một đại diện Mặt Trận Giải Phóng và đề cập đến 3 điểm:

– Đôn có thể thay thế Thiệu,
– CS không cản trở người Mỹ di tản người Việt,
– và Hoa kỳ có thể giữ lại một một tòa đại sứ nhỏ ở Saigon với điều kiện những viên chức Mỹ phải ra đi.

Trong khi Snepp không tin những tin tức loại này cũng như luận điệu tương tự của đại sứ Pháp Mérillon chỉ vì tham vọng cá nhân cũng như ý đồ của nước Pháp, Martin lại có vẻ tin tưởng. (Snepp tr. 272).

Điều nầy cũng được Đôn xác nhận trong hồi ký của ông: «Cũng trong ngày 20 tháng tư, lúc 4 giờ chiều, tôi đến gặp đại sứ Martin tại sứ quán, Martin đã nói với tôi:Thật sự lúc đó [trả lời câu hỏi của TT Thiệu] tôi muốn ông [Trần Văn Đôn] làm thủ tướng toàn quyền hơn là ông Minh, nhưng Hà nội chỉ muốn nói chuyện với ông Minh mà thôi» (Đôn, tr. 457)

Không tin chiến thắng sắp đến của CS, mà cũng không hi vọng Quốc Hội Mỹ chấp nhận viện trợ bổ túc. Ngày 15 tháng 4, TT Thiệu cử Nguyễn Tiến Hưng sang Washington vận động với TT Ford xin vay 3 tỷ trong 3 năm, được bảo đảm bằng lợi tức dầu hỏa sắp khai thác ở ngoài khơi, 16 tấn vàng dự trử, tiềm năng xuất cảng gạo (Hưng, tr. 312).

Nhưng đã quá muộn. Ngày 18 tháng 4, Ủy Ban Quốc Phòng Thượng Viện bỏ phiếu chống việc tăng quân viện cho VNCH và Ủy Ban ngoại giao Thượng Viện cho phép TT Ford sử dụng quân đội để di tản người Mỹ ra khỏi VN. Quốc Hội đã giúp cho Ford rửa mặt, đặc biệt cho Kissenger khi ông nầy tuyên bố:

«Cuộc thảo luận về VN nay đã chấm dứt. Hành Pháp Hoa Kỳ đã chấp nhận bản án của Quốc Hội, không hiềm thù, không biện minh và cũng không kháng cáo.» ( Hưng, tr.318)

– Ngày 17, Nhận lịnh của thượng cấp, Jean-Marie Merillon gặp Dương Văn Minh, hứa hẹn nước Pháp sẽ ủng hộ Minh. Cảm động, Minh bắt tay Mérillon ứa lệ, hứa sẽl àm được gì có thể. Minh tin tưởng lá bài trong túi: người em là Dương Văn Nhựt đang ở bên kia.

Sự can thiệp của Pháp vào giờ thứ 25 thật sổ sàng, làm áp lực với Tổng Thống Thiệu từ chức để thay thế bằng Dương Văn Minh .

Trong khi đó, Saigon xôn xao vì những tin tức hòa bình và chiến tranh trái ngược:

– Bắc Việt không bao giờ tấn công Saigon. Sẽ có một chánh phủ 3 thành phần
– Đặc công đang xâm nhâp vào Saigon chuẩn bị cuộc tấn công chiếm đóng
– Sẽ có đảo chánh ở Saigon, ở Hà nội. (Todd p.295).

– Ngày 18, Merillon gặp Martin thảo luận về việc làm áp lực với TT Thiệu từ chức. Martin đồng ý.

Tinh thần TT Thiệu xuống thấp, tin tức nhiều người thân cận hay đối lập muốn ông từ chức hay đảo chánh, (Cao văn Viên, Nguyễn Cao Kỳ và tướng lãnh thân cận) mồ mã ông bà bị đập phá ở Phan Rang (điềm chẳng lành vì ông rất tin dị đoan và theo Nguyễn khắc Ngữ, tr. 341, đó là lý do quan trọng khiến ông Thiệu từ chức), ông tự cô lập trong bunker trong dinh Độc Lập, không buồn trả lời cả điện thoại của tòa đại sứ Mỹ.

Về việc đảo chánh, ông Viên đã cực lực đính chánh trong biên khảo Những ngày cuối cùng của VNCH: «Tác giả là một quân nhân thuần túy, không làm chính trị và cũng không có những tham vọng chính trị. Tác giả đã chứng kiến những tai hại của hai vụ đảo chánh trước, nên dù cho có ai rủ đảo chánh, tác giả cũng không làm. Ở đây, tác giả cũng muốn khẳng định những tin tức về tác giả do Frank Snepp viết trong Decent Interval (trang 287, 288, 394, 397) về cá nhân tác giả là những ý nghĩ xuyên tạc, đoán mò» (Viên, tr.217,18)

Việc Nguyễn Cao Kỳ bỏ ý định âm mưu đảo chánh là do hai yếu tố. Trước hết là sự từ chối của các tướng thân cận với ông như Tư lênh Không Quân Trần Văn Minh, Tư Lệnh Sư Đoàn Dù Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến Bùi Thế Lân và một số chỉ huy trưởng ở Biệt Khu Thủ đô và Vùng 3 Chiến Thuật. Olivier Todd thuật lại (tr.300):

– Trần Văn Minh: Ông cứ làm đi, bắt tôi làm con tin. Tôi không làm vì Tòa đại sứ Mỹ hứa đưa gia đình tôi sang Mỹ nếu tôi không làm gì.
– Bùi Thế Lân: Tôi không đem binh giúp ông, nhưng chúng tôi không chống .
– Cao Văn Viên: Ông làm đi, nói cho tôi biết ngày giờ, tôi sẽ mở cổng Bộ Tổng Tham Mưu.

Nhưng yếu tố quyết định là sự can thiệp kịp thời của Martin và tướng Charles Timmes. Cuộc đối thoại giữa Kỳ và Martin suốt 2 giờ đã được Timmes thu âm, nhưng tiếc thay, các sử gia đã không có dịp nghe được tài liệu sống vì cái máy thu âm đã rủi ro bị xóa trong cái cartable của Timmes (Snepp, tr. 295-96)

Trong lúc quân đội gần như tan rả, ông Đôn, với tính cách TT Quốc Phòng « quản thúc 5 tướng lãnh đã bỏ miền Trung là Lâm Quang Thi, Phạm Quốc Thuần, Phạm Văn Phú, Lâm Quang Thơ và tướng không quân Nguyễn Đức Khánh. Tướng Ngô Quang Trưởng thấy vậy nên cũng xin được quản thúc luôn !» (Đôn, tr.455)

Ngày 20, lúc 10 giờ sáng, đại sứ Martin gặp TT Thiệu và cuộc hội kiến kéo dài 1giờ rưởi. Theo Frank Snepp, nhân viên phân tích của CIA, trong quyển hồi ký Decent Interval (bản dịch tiếng Pháp là Sauve qui peut) tiết lộ rằng ông đã nhận được chỉ thị của Polgar, Giám đốc CIA Saigon, là soạn thảo một bản nhậnđịnh càng đen tối càng tốt để theo đó Martin thuyết phục TT Thiệu từ chức. Bản nhận định có đoạn như sau:

«Với sự tan rả của cuộc phòng thủ mặt trận Xuân Lộc và sự tập trung binh đoàn Cộng Sản trong vùng3 chiến thuật, cán cân lực lượng chung quanh Saigon nayđã nghiêng hẳn về CS. Mặc dù chính phủ có thể tăng viện cho những mục tiêu có thể bị tấn công như Biên Hòa-Long Bình ở phía đông Saigon, các tỉnh Long An-Hậu Nghĩa ở phía Tây hay tỉnh Bình Dương ờ phía Bắc, chánh phủ không đủ sức cầm cự được lâu. Saigon sẽ bị cô lập trong vài tuần lễ».

Frank Snepp còn nói thêm là ông muốn viết chỉ một tuần lễ nhưng Polgar không đồng ý, và cũng theo Snepp, bản nhận định này vẫn còn nằm trên bàn làm việc ởDinh Độc Lập sau khi TT Thiệu ra đi, do đó khi chiếm Dinh Độc Lập, CS đã lấy bản nhận định nầy để đăng nguyên văn trong quyển Đại Thắng mùa xuân của Văn Tiến Dũng. (Snepp, tr. 299)

Khi TT Thiệu hỏi Martin là nếu ông từ chức thì có thay đổi gì việc viện trợ, Đaị sứ Martin trả lời nếu việc nầy xảy ra cách đây vài tháng thì có thể có thêm được vài phiếu ở Quốc hội, còn bây giờ thì chắc không thay đổi gì. Martin còn đâm nhát dao cuối cùng khi nói thêm “ giả dụ như quốc hội Mỹ có chấp thuận việc viện trợ bổ túc cho VNCH đi nữa thì sự viện trợ đó cũng không thể đến kịp thời để làm thay đổi tình thế quân sự tại miền Nam” TT Thiệu nói trước khi buổi hợp kết thúc là ông sẽ lấy quyết định dựa theo quyền lợi tối cao của quốc gia (Todd p. 311).

Buổi chiều cùng ngày 20, đến phiên Đại sứ Pháp Merillon đến gặp TT Thiệu. Merillon gần như độc thoại, TT Thiệu ngồi nghe, đôi mắt lạc lõng. Merillon mô tả tình trạng bi đát của chiến trường, ba phần tư lãnh thỗ bị mất vào tay CS, do đó kêu gọi trách nhiệm lịch sử, danh dự cá nhân, tình bạn giữa bà Thiệu và bà Mérillon để TT Thiệu lấy một quyết định vì quyền lợi của quốc gia. Kết thúc buổi gặp gở, TT Thiệu lửng lơ: Tới đâu hay tới đó –Advienne que pourra (Todd p. 312)

Todd và Snepp không đồng thuận nhau về giờ gặp gỡ: theo Snepp thì Merillon gặp TT Thiệu buồi sáng trước Martin, trái lại Todd cho rằng Merillon gặp TT Thiệu buổi chiều sau Martin. Tuy là một chi tiết nhỏ, nhưng sự kiện tường thuật khác nhau cùa hai nhà báo Pháp Mỹ có đầy thâm ý.

-Sáng ngày 21, TT Thiệu mời Phó TT Trần Văn Hương và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm để báo tin ông quyết định từ chức và yêu cầu Phó TT Hương, chiếu theo hiến pháp thay thế ông(Snepp tr.305), nhưng ông Nguyễn Bá Cẩn trong Đất nước tôi thì trong phiên hợp này chính ông có mặt chớ không phải ông Khiêm.

Theo Nguyễn Khắc Ngữ, sở dĩ ông Thiệu chọn ông Hương thay thế vì «ông muốn sau khi từ chức rồi, ông sẽ mang số tài sản khổng lồ đã thu góp được trong thời gian tại chức ra ngoại quốc một cách êm thấm. Nếu ông nhường chức cho phe chủ chiến Nguyễn Cao Kỳ hay phe chủ hòa Dương Văn Minh thì việc ra đi có thểgặp khó khăn…»(Ngữ, tr.341).

Theo Frank Snepp trong Decent Intervalthì buổi nói chuyện của ông Thiệu với ông Hương đã bị CIA ở tòa đại sứ nghe lén toàn bộ do đó ngay buổi chiều, trước khi TT Thiệu tuyên bố với quốc dân trên đài truyền hình, phụ tá của trùm CIA Polgar là Tướng hồi hưu Charles Timmes đã đến gặp Dương Văn Minh để dọ hỏi nếu người Mỹ loại ông Hương ra khỏi ghế Tổng Thống thì ông Minh có chịu nhận chức vụ nầy hay không để điều đình với CS. Cũng theo Snepp, ông Minh đồng ý ngay, quả quyết có khả năng thương thuyết với phe bên kia và gởi ngay một đại diện sang Paris để thương thuyết. Timmestrao cho ông Minh 1000 mỹ kim để mua vé máy bay cho sứ giả này, nhưng Snepp cho rằng ông Minh chẳng có gởi ai đi mà cũng chẳng hoàn lại số tiền,và đại sứ Martin không được báo cáo về buổi gặp gỡnày (Snepp, p.305)

-Tối ngày 21, lúc 19 giờ rưởi, TT Thiệu nói chuyện với quốc dân qua đài truyền hình, trước các đại diện hành pháp, lập pháp, tư pháp. Ông kết tội người Mỹ đã phản bội VN, ông gằn mạnh từng tiếng và lập lại:« các ông bỏ mặc cho binh sĩ chúng tôi dưới cơn mưa pháo của Cộng Sản, đó là hành động vô nhân đạo của một đồng minh vô nhân đạo …» và kết luận « tôi sẵn sàng nhận lãnh sự phán xét và buộc tội của đồng bào… Tôi từ chức nhưng không đào ngũ. Theo hiến pháp, người thay thế tôi là Phó TT Trần Văn Hương»

Sau 10 năm cầm quyền, TT Thiệu tuyên bố từ chức trước quốc dân qua đài truyền hình tối ngày 21-4-1975 và kết tội người Mỹ đã phản bội VN.

Nguyễn Bá Cẩn nhận định là việc từ chức của TT Thiệu để Mỹ tiếp tục viện trợ cho VNCH, mở đường cho Hoa kỳ và đồng minh thương thuyết một giải pháp chính trị mà sự hiện diện của ông là một trở ngại (Cẩn, tr. 421), Trần Văn Đôn thêm một lý do thứ hai là ông Thiệu sợ quân đội đảo chánh mà ông Thiệu nghi là do ông [Đôn] chủ xướng. (Đôn, tr.458). Nguyễn Tiến Hưng, trong « Khi Đồng minh tháo chạy» (tr.389) thì cho rằng ông Thiệu từ chức vì các tướng lãnh không còn ủng hộ. Nguyễn khắc Ngữ thì có nhận định tiêu cực hơn «trong bài diễn văn từ chức nầy, ông đã hiện nguyên hình một tay sai của Hoa Kỳ, bị chủ đuổi lên tiếng chửi lại bằng những lời bình dân nhất không thể thấy được trong ngôn ngữ của một vị lãnh đạo quốc gia» (Ngữ, tr. 343)

Hoàng ngọc Thành cũng có nhận định tương tự về ông Thiệu «là người thừa hành đắc lực nhất của Hoa Kỳ trong chiến tranh VN» (Thành tr. 559) là «người hèn nhát, tại sao không chịu công bố trong năm 1974 và đầu năm 1975 các bức thư hứa hẹn trả đủa Bắc Việt của Tổng Thống Richard Nixon nếu Cộng Sản Hà Nội vi phạm hiệp định Ba lê, tại sao không công bố sớm để quốc hội và dân chúng Hoa Kỳ biết những điều cam kết nầy để đánh vào điểm danh dự và lương tâm người Mỹ. Làm mhư thế có lợi cho dân tộc VN, nhưng Nguyễn Văn Thiệu sợ bất lợi cho ông nên không làm » (Thành, tr.566).

Tôi thì cho là ông Thiệu từ chức là do lời khuyên của Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu qua trung gian của Hoàng Đức Nhã. Liền sau khi nghe Lý Quang Diệu đưa tin là người Mỹ sẽ lật đổ và khuyên ông Thiệu nên ra đi, Hoàng Đức Nhã đã vội vàng điện thoại cho ông Thiệu từ Singapore: «đừng chờ người ta lật đổ anh hay tống cố anh đi. Hãy đi trước đi, càng sớm càng tốt» (Todd, tr. 277)

Trong khi ông Thiệu đọc diễn văn từ chức, các đơn vị cuối cùng của sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo rút ra khỏi Xuân Lộc, và vài giờ sau, bộ chỉ huy QuânĐoàn 3 của tướng Nguyễn Văn Toàn phải di tản về Saigon. Biên Hòa và Vũng Tàu bị đe dọa nặng.

Chỉ 2 giờ sau lễ bàn giao giữa ông Thiệu và ông Hương, đài phát thanh Giải phóng và Hànội đồng loạt tuyên bố: «Đó cũng chỉ là một chế độ bù nhìn, chánh phủ Thiệu không có Thiệu » (Todd, p.316).

– Ngày 22: Tân Tổng Thống Hương lần lượt tiếp xúc ba nhân vật chính trị gốc miền Nam là Trần Văn Lắm, Nguyễn Văn Huyền và Trần Văn Đôn để mời nhận chức thủ tướng toàn quyền thay cho nội các Nguyễn Bá Cẩn được TT Thiệu bổ nhiệm 12 ngày trước, nhưng cả ba đều từ chối (Darcourt, p. 131).

Theo Trần Văn Đôn thì sau đó, ngày 24 ông Hương mời ông Nguyễn ngọc Huy, nhưng chuyện bất thành vì ông Minh đòi ông Hương phải giao quyền Tổng Thống và ông Thiệu, tuy đã từ chức, vẫn cho ý kiến với ông Hương «đừng chỉ định ông Huy làm thủ tướng» (Đôn, tr.467)

2.

Trong khi đó, 2 biến cố quân sự quan trọng xảy ra sát nách Saigon.

* Lê Duẩn đánh điện cho Lê Đức Thọ và Văn Tiến Dũng đang đặt bản doanh ở Lộc Ninh yêu cầu gia tăng các cuộc tấn công càng mạnh càng mau trên khắp các mặt trận. Mọi chậm trể có thể đưa đến những hậu quả quân sự và chính trị trầm trọng. Theo Olivier Todd thì Lê Duẩn sợ rằng nếu chiến trường kéo dài thì áp lực chính trị quốc tế có thể can thiệp để chia cắt đất đai như hồi 1954 trước hội nghị Genève. Tuân hành chỉ thị này, Văn Tiến Dũng ra lịnh cho tất cả các lực lượng từ chiến khu C, chiến khu D, Khu Tam giác Sắt ở miền Đông, và các lực lượng ở vùng đồng bằng Cửu Long và Cà Mau chuẩn bị tổng tấn công vào Saigon và các tỉnh. Để phân công, bộ phận chính trị do Lê đức Thọ và Phạm Hùng đóng ở Lộc Ninh, còn tướng Trần văn Trà và Văn tiến Dũng lập bộ tham mưu mặt trận ở Bến Cát, sát nách Saigon.

* Để chận bước tiến của CS, Bộ Tổng Tham Mưu xin Tân TT Trần Văn Hương cho phép thả 3 trái bom CBU-55 (giao cho VN ngày 16 tháng 4) tại các địa điểm mà các đơn vị cuối cùng của SĐ 18 BB đã rút ra khỏi Xuân Lộc đêm hôm trước. Đó là loại bom có sức công phá dữ dội nhất trong các loại vũ khí của Mỹ, khi còn cách mặt đất chừng 10m thì nổ tung ra hàng trăm trái bom nhỏ hút hết tất cả dưỡng khí, giết tất cả sinh vật trong một vùng có đường kính 250 thước (Todd) theo Darcourt thì đến1km, ngay cả người dưới hầm sâu. Người chết không có vết thương (vì bom không có miểng) mà chết trong tư thế tự nhiên (như đang ngồi, nằm, đứng…). Ngoài ra, phi cơ Hoa Kỳ cũng thả 6 trái bom«daisy cutters” (Viên, tr.202) là loại bom BLU-82 dùng để khai quang các bải đáp trực thăng (nặng 15000 cân Anh tức độ 7 tấn rưỡi) và hỏa tiển Wild Weasel (con chồn hoang) trong vùng chung quanh Xuân Lộc. Tòa Bạch Ốc và CIA tuyên bố không hề được Không Lực Hoa Kỳ thông báo sự can thiệp vũ bảo trong những ngày cuối cùng nầy của chiến tranh VN. Những tài liệu giải mật sẽ giải thích hư thực về chánh sách đôi khi khó hiểu của Hoa Kỳ.

CS lập tức trả đủa ngay sau vài giờ bị bom CBU. Sân bay Biên Hoà bị pháo kích không sử dụng được nữa, phi cơ F5A phải «di tản» về Tân Sơn Nhứt, một số khác phải về sân bay Cần Thơ.

– Ngày 23: Thủ tướng Nguyễn Bá Cẩn xin từ chức. TT Hương yêu cầu ông Cẩn xử lý thường vụ cho đến khi có chính phủ mới.

– Ngày 24: Dương văn Minh hợp báo:Tổng Thống Trần Văn Hương đã mời tôi nhận chức Thủ Tướng. Tôi từ chối vì ở cương vị nầy, tôi không thể thương thuyết với phía bên kia bởi điều kiện của phe Cách mạng là Tổng Thống Hương phải ra đi…

Ông Minh muốn đốt giai đoạn và đại sứ Pháp đã hướng dẫn ông ta chơi một ván bài nguy hiểm dựa trên niềm tin rằng ông chưa bao giờ bị phe bên kia chỉ trích và Cộng Sản sẽ thương thuyết với ông trên căn bản Hiệp định Paris 1973” (Darcourt, p.142).

Trong ngày nầy, đại sứ Pháp Mérillon vào dinh Độc Lập hai lần khuyên ông Hương từ chức để trao quyền cho Dương Văn Minh. Ngoài ra, tướng Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc Phòng trong nội các Nguyễn Bá Cẩn cũng tự xưng và tự nguyện đóng vai trò trong cuộc thương thuyết với phe bên kia bên cạnh tướng Dương Văn Minh.

Trong khi Mérillon tỏ vẻ lạc quan về giải pháp chánh phủ liên hiệp 3 bên: Cộng Sản, Mặt Trận và phe Lực lượng thứ ba do Dương văn Minh đại diện, thì các đảng phái, một số tướng lãnh họp ở khách sạn Palace không chấp nhận ông Minh vì cho rằng ông Minh không có sự sáng suốt chính trị trong 10 năm qua và là người thụ động, không đủ sức đương đầu với Cộng Sản. Luật sư Trần Văn Tuyên công khai chống đối Mérillon vì thái độ xấc láo và can thiệp quá đáng vào nội bộ VN: « ông Mérillon đã dám ngạo mạn nói với tôi rằng TT Hương đã già yều bịnh hoạn phải đem vào bịnh viện để giải phẩu cho ông. Nếu ông vô bịnh viện thì bài toán sẽ được giải quyết. TT Trần Văn Hương rất phẫn uất vì thái độ khinh miệt của ông Mérillon. Nản lòng vì những lời mỉa may ác độc và những áp lực đòi ông từ chức, vị tổng thống lớn tuổi của chúng ta dọa sẽ tự tử bằng ống thuốc cyanure mà ông luôn đeo theo trong mình» (Darcourt , rr. 143-44)

Theo Hoàng Đống thì «CS và MTGPMN, qua đài phát thanh của họ ủng hộ Dương Văn Minh là người chủ trương hòa giải hòa hợp nên có thể nói chuyện được, và Đại sứ Pháp 4 lần khuyên Hương từ chức, nhưng vì tham quyền cố vị và ngây thơ nên Hương bỏ ngoài tay lời khuyên của đại sứ Pháp» (tr.362)

Trong lúc đó, đài phát thanh Hanoi và Giải Phóng miền Nam đồng loạt đòi TT Hương phải ra đi. Thực sự, CS không có dấu hiệu nào thương thuyết với bất cứ ai và chuẩn bị tấn công Saigon.

Điều nầy cũng được xác nhận trong «VNCH, 10 ngày cuối cùng» của Trần Đông Phong là chính TT Trần Văn Hương đã cử tướng Phan Hòa Hiệp đại diện cho chính phủ liên lạc với đại diện của CS trong Ủy Ban Liên Hợp 4 bên vận động với CS một cuộc thương thuyết, nhưng CS đã bác bỏ mọi hình thức thương thuyết và đòi Miền Nam phải đầu hàng vô điều kiện (Phong, tr. 252-253)

– Ngày 25: Hôm nay, TT Hương lại tiếp đại sứ Mérillon và đại sứ Martin, cả hai đều cố thuyết phục TT Hương nên cấp tốc đưa ra một giải pháp khả dĩ mở đường thương thuyết với những người «cách mạng» (nguyên văn: les révolutionnaires). Giải pháp nầy đòi hỏi sự từchức của ông và giao quyền lại «cho một nhóm người nào đó» mà phía bên kia chấp nhận (Darcourt, p.145).

Ông Hương từchối và nói với Martin: nếu tôi phải làm Pétain của VN thì ít ra tôi phải đóng vai trò ấy trong danh dự và đúng phẩm giá» – Si je dois être le Pétain du VN, je le serai au moins dans l’honneur et la dignité (Todd, p.324). Ông Hương muốn hành sử theo đúng hiến pháp và câu hỏi căn bản là ông Minh có được Hà nội thực sựchấp nhận hay không, TT Hương yêu cầu Martin thăm dò qua đại sứ Ba Lan.

Sau khi từ chức, ông Thiệu ngày ngày đi đi lại lại qua các phòng trong dinh Độc Lập(tuy ông từchức nhưng ông vẫn còn ở trong dinh ), nghĩ đến cuộc phục hận. Ông Nguyễn Văn Kiểu, anh ông và cảe m họ ông, Hoàng Đức Nhã đều khuyên ông nên ra đi, nhưng ông từchối vì ông nghĩ là ông còn có một vai trò. Không chịu được cảnh nầy, bà Thiệu đã rời Saigon sáng 24 đi Bangkok trên một chuyến bay thương mại (Snepp, tr. 334)

TT Hương cũng muốn ông Thiệu ra khỏi nước vì sự có mặt của ông Thiệu tạo khó khăn cho ông (hay cho ý kiến) nên nhờ Martin can thiệp. Martin cũng không muốn ông Thiệu bị ám sát càng rắc rối hơn nên Martin tổ chức cho ông Thiệu rời khỏi nước. (theo Snepp, tr. 334, Trần Văn Đôn cũng khuyên TT Thiệu trưa ngày 25 là nên ra đi vì Nguyễn cao Kỳ sẽ tổ chức ám sát)

Lúc 20 giở rưởi, Polgar và tướng Timmes đón ông Thiệu ở nhà ông Khiêm trong BộTổng Tham Mưu. Đoàn xe 3 chiếc gồm ông Thiệu, Khiêm và hơn 10 người khác . Martin đợi sẵn ởphi cơ để tiển đưa.

« Dù buồn thảm và cam chịu số phận, ông Thiệu đi thủng thẳng, cố giữ phong độ. Ông quay lại cám ơn ông Martin. Với giọng xúc động, Martin đáp lễ: Thưa Tổng Thống, đó là điều tối thiểu tôi có thể làm. Xin tạm biệt và chúc Ngài may mắn (Nguyễn tiến Hưng, tr. 392 và Todd tr.339).

Phi cơ trực chỉ Đài Loan (và sau đó ông và gia đình sang tịnạn ở Anh Quốc cho đến thập niên 1980 mới sang Hoa Kỳ).

Theo Hoàng Đống: « ngày 22-4, Thiệu và Khiêm được Mỹ đưa ra phi trường Tân sơn Nhất bay qua Đài Loan. Trước đó 20 ngày, gia đình, của cải của hai vị nầy đã được an toàn chuyển ra ngoại quốc» (tr. 360).

Nhiều tài liệu Anh Pháp nói đến 16 tấn hàng hóa. Theo Lý Quý Chung, thân cận của tướng Minh, ông Thiệu trốn chạy ( Chung, tr. 362).

Cùng một sự kiện, 4 tác giả thuật lại bốn cách khác nhau.

TT. Thiệu rời khỏi nước yên ổn, Martin thở phào. Ông lên xe đến dựcuộc tiếp tân ở toà đại sứ Ba Lan.

Sau đây là câu chuyện giọng nhát gừng giữa 2 ông đại sứ:

-Martin: Cộng Sản Bắc Việt có chấp nhận Dương Văn Minh không ?
– Fijalkowski (đại sứ Ba Lan): Sẽ hỏi Hà Nội. Nhưng có câu hỏi của Hà Nội:
Tại sao hàng không mẫu hạm Mỹ lảng vảng ngoài khơi hải phận VN.
– Martin: phải hỏi lại Hà Nội của các anh,
tại sao có dàn hỏa tiển gần Saigon. Hà Nội có muốn gây khó khăn cho Hoa kỳ trong công cuộc di tản không? (Todd, tr.340)

Về dư luận ông Thiệu ra đi với 16 tấn vàng, Snepp, nhân viên CIA tường thuật rất rõ (tr.296)

«Một tháng trước, Thiệu đã gởi qua Đài Loan và Canada một phần lớn tài sản và bàn ghế bằng tàu thủy. Nhưng tài sản của quốc gia, 16 tấn vàng trị giá 220 triệu mỹkim, tượng trưng cho một phần lớn kho bạc của Saigon cũng sẽ đi ra nước ngoài (à expatrier). Lúc đầu, ông Thiệu dự tính gởi lén lút số vàng này vô Ngân hàng Thanh Toán Quốc Tế Bâle (Banque des règlements internationaux de Bâle) ở Thụy Sĩ, nơi mà chánh phủ đã có gởi một số vàng bảo đảm trị giá 5 triệu. Ông Thiệu nói với các cộng sự viên là gởi vàng để mua trang bị cho quân đội. Nhưng vài ngày trước khi gởi, tình báo Mỹ biết được nên tin tung ra trên báo chí, hảng hàng không mà ông Thiệu đã thương thuyết hợp đồng rút lui. Để giải tỏa mọi nghi ngờ, đại sứ Martin buộc ông Thiệu gởi số vàng nầy ở Federal Reserve Bank of New York, ông Thiệu phải đồng ý. Ngày 16 tháng 4, Martin xin Washington một chuyến bay đặc biệt, có bảo hiểm để chở số vàng nầy đi New York. Nhưng Không Lực Mỹ cũng như Ngân Hàng không chấp nhận bảo hiểm chuyên chở một món hàng trị giá quá lớn như vậy từ một nước đang có chiến tranh. Câu chuyện đang dằng co thì 2 ngày sau, ngày 18 tháng tư, 16 sư đoàn Cộng Sản đang hướng về Saigon, chuyện chở vàng bị quên đi và 16 tấn vàng vẫn ngủ yên trong Ngân Hàng Quốc Gia»

Đến ngày 25, sau khi giải quyết vấn đề bảo hiểm, vàng được đưa lên phi cơ để chở đi New York, nhưng giờ chót bị Phó Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Kinh tế Nguyễn Văn Hảo (nội các Nguyễn Bá Cẩn) chận lại nói là theo lịnh của TT Hương chờ cho tân nội các được thành lập. Số vàng nầy vẫn còn nằm trong phi cơ đậu ở phi trường khi quân CS tiến chiếm Saigon. Cũng theo Snepp, tuy không hẳn là theo CS, Nguyễn Văn Hảo đã được CS móc nối hồi đầu tháng tư là sẽ được chế độ mới đối xử tốt nếu bảo vệ kho bạc VNCH. (Snepp. tr.328).

Chuyện ông Thiệu muốn tẩu tán vàng là một tin đồn, nhưng chuyện vàng bị các lãnh tụ đỏ sau nầy bu vào đục khoét là chuyện thực !

-Ngày 26: Lúc 10 giờ sáng, TT Hương đến hợp với lưỡng viện Quốc hội để được báo cáo tình hình quân sự và quyết định người thay thế ông Hương. Có 183 trên 219 người đến tham dự (Darcourt) nhưng theo Lý quý Chung thì chỉ có 136 vì nhiều người đã chuồn ra nước ngoài (LQC, tr.366).

Trong diễn văn, ông Hương không gọi đích danh Dương Văn Minh mà gọi là «người ấy» (cette personne):

« Trước hết tôi đã đề nghị với người ấy chức vụ Thủ Tướng với đầy đủ quyền hành. Ông ta đã từ chối. Tôi đã phải mời ông ta đến gặp tôi tại dinh Độc Lập, ông ta cũng từ chối. Với thiện chí muốn giải quyết vấn đề, tôi không kể nghi thức và mặc dầu tuổi già sức yếu, tôi phải chấp nhận đến nhà một người bạn chung để gặp người ấy. Tôi đề nghị với người ấy chức vụ Phó Tổng Thống, nhưng một lần nữa, chẳng những người ấy từ chối mà còn nói với tôi là: Phải có tất cả không thì thôi, có nghĩa là chỉ có Tổng Thống. Tôi lưu ý làm như vậy là vi hiến, ông ta trả lời rằng: đó không phải là việc của ông ta. Sau đó tôi có đặt cho ông ta một câu hỏi: Có gì bảo đảm là phía bên kia chấp thuận thương thuyết với ông thì ông ta trả lời ngắn gọn là: Tôi đã nhận được từ phía bên kia những cam kết cần thiết để làm tròn vai trò.

Mặc dù tôi nhấn mạnh nhưng ông ấy không có thêm một lời giải thích nào khác ngoài những lời úp mở mà tôi không tin vào những lời đó. Tôi sẽ không bao giờ muốn chịu trách nhiệm về việc trao quyền một cách bất hợp hiến, vì vậy, hôm nay, tôi yêu cầu quý vị hãy trao quyền hành pháp lại cho người ấy bằng lá phiếu hợp pháp của lưỡng viện Quốc hội. Đó là phương thức duy nhất vừa để cứu Saigon khỏi bị một thảm họa mà không làm mất thể diện của quốc gia và chế độ.»

Tuy nhiên,theo bài viết của GS Nguyễn Ngọc An, cựu Tổng Trưởng Thông Tin Chiêu hồi trong nội các Trần Văn Hương ghi âm lại, đăng trong Đặc San Pétrus Ký 1966, thì T/T Trần Văn Hương đề cập đích danh tên Dương Văn Minh:

«…Với ý nghĩa đó, nghĩa là ý nghĩ thương thuyết, tôi đã ra công dò xét tìm bên này, tìm bên nọ, hỏi thăm dò ý kiến mọi nơi. Tới bữa nay cũng nói với quý vị là tôi có dịp đã gặp được Đại tướng Dương Văn Minh, bởi vì theo lời một số người, thì Đại tướng Dương Văn Minh có đủ điều kiện làm việc này. Trong các cuộc gặp gỡ, trong một tư thất của một người bạn chung – bởi vì họp mặt tôi muốn tránh tiếng trước, không thể mời Đại tướng đến Dinh Độc Lập nói chuyện. Một mặt tôi cũng không thể tự mình tới nhà Đại tướng mà nói chuyện. Cho nên chúng tôi đã cùng nhau đến nhà một người bạn chung

– Sau khi nói chuyện, tôi nói rằng: “Theo dư luận, một số người nói rằng Anh – xin lỗi, bởi vì giữa Đại tướng với tôi cũng còn cái thâm tình nhiều – người ta bảo rằng Anh có đủ điều kiện để thương thuyết, vậy thì xin Anh vì nước nhà, mọi tỵ hiềm qua, mọi chuyện không tốt đẹp đã xảy ra, xin Anh vui lòng xóa bỏ để cùng nhau chung lưng dựng nước. Xin Anh chấp nhận cái ghế Thủ tướng để đứng ra thương thuyết với phía bên kia.” Đại tướng, lẽ cố nhiên đối với tôi lúc nào cũng giữ thái độchẳng những là người bạn thân mà giữ cả thái độ, xin lỗi, như thể một người học trò của tôi vậy, mặc dù Đại tướng không phải là học trò của tôi, Đại tướng nói: “Thầy đã hy sinh đến mức này, thôi xin thầy ráng hy sinh một bước nữa mà thầy trao trọn quyền cho tôi.” Nghĩa là trao cái quyền tổng thống cho Đại tướng…»

Nếu bài viết của Nguyễn ngọc An là trung thực, sự khác biệt các tài liệu ngoại ngữ viết về VN lại còn phát xuất bởi sự diễn dịch và phiên dịch của tác giả ngoại quốc và tác giả người Việt.

Sau khi TT Hương rời trụ sở Thượng Viện, cuộc thảo luận kéo dài từ 14 giờ đến 22 giờ mà kết quả là đi đến một quyết nghị lửng lơ: Quốc Hội nhìn nhận TT Hương có đầy đủ tư cách để chọn người thay thế ông. Người nầy sẽ được ủy nhiệm để xúc tiến cuộc thương thuyết. Tên của Dương Văn Minh không được ghi trong bản quyết nghị này (Darcourt, p.151).

Nhưng theo Lý Quý Chung, trong Hồi ký của ông thì hoàn toàn khác: «Cuộc biểu quyết truất quyền ông Hương và trao quyền cho ông Minh được thực hiện với số phiếu gần như tuyệt đối 147/151 vào lúc 20giờ 54… Tôi nhớ rất rõ không khí tại trụ sở Thượng Viện trước và sau biểu quyết. Kẻ thì chán nản như người sắp chết đuối là các dân biểu nghị sĩ thuộc phe Thiệu, còn những người phe Dương Văn Minh thì hấp tấp, vội vã như sợ không bắt kịp cơ hội cuối cùng »(LQC, tr.367, 368).

Theo ông Đôn, cũng trong Hồi Ký thì «đa số nghị sĩ dân biểu nghiêng về biện pháp trao quyền cho ông Hương chỉ định Thủ Tướng toàn quyền vì cho rằng ông Minh xem thường Quốc Hội» và sau đó ông Hương gọi điện thoại với ông và nói:«tôi sẽ chỉ định anh làm Thủ tướng» (Đôn, tr. 468,469)

Trong khi lưỡng viện Quốc Hội đang họp, lúc 12 giờ, Võ đông Giang, đại diện cho Mặt Trận trong Ủy Hội Kiểm soát ở Camps Davis (Tân Sơn Nhứt) tuyên bố: Đạo quân chúng tôi tiếp tục tiến công, không có ngưng bắn.

– Ngày 27 tháng tư:

*4 giờ sáng, nhiều tràng hỏa tiển bắn vào Saigon: thiệt hại: 9 người chết, 36 bị thương, những đám cháy nhà cửa và hảng xưởng khiến 2000 người không nơi cư trú.

* 12 giờ: TT Hương gởi văn thư hỏa tốc cho Chủ tịch Thượng Viện: Theo hiến pháp Quốc Hội phải ra quyết nghị người thay thế tôi rõ ràng.

* 15 giờ: «Đại sứ Pháp điện thoại cho tôi [Đôn] biết: 6 giờ chiều nầy nếu không có gì thay đổi thì Hà Nội sẽ pháo kích vào Saigon bằng súng cối 130 ly có tầm bắn xa 30 km» (Đôn, tr.471)

* 19 giờ:Trước khi dân biểu nghị sĩ bắt đầu thảo luận, tướng Trần Văn Đôn, xử lý thường vụ Tổng Trưởng Quốc phòng (nội các NBCẩn) thuyết trình tình hình quân sự:

«14 sư đoàn Bắc Việt được trang bị võ khí hùng hậu đang bao vây Saigon. Biệt kích và đặc công đã xâm nhập vòng đai. Không quân của ta đã hành quân liên tục từ nhiều ngày qua nên các phi công và phi cơ đã quá sức chịu đựng, ngoài ra còn bị thiệt hại khá nặng bởi phòng không của địch. Căn cứ Không quân Biên Hòa gần như đã bị tê liệt vì pháo lực của CS. Trong vài ngày, cũng có thể trong vài giờ, có thể Saigon sẽ bị tàn phá bởi đạn pháo 130 ly tầm xa của CS. Nhứt định ta phải thương thuyết với họ để ngưng bắn càng sớm càng tốt»

Các dân biểu nghị sĩ la ó, phản đối tướng Đôn: Đồ hèn nhát, chủ bại, bị bán đứng rồi, Tướng phòng ngủ. Tướng Đôn và các quân nhân tháp tùng rời phòng hợp trong nhục nhả (Darcourt, p.154).

Hồi ký của tướng Đôn không đề cập gì đến sự kiện nầy.

Sau 4 giờ thảo luận sôi nổi, Quốc Hội biểu quyết chấp thuận cử tướng Minh thay thế TT Hương trong chức vụ Tổng Thống. (120 phiếu thuận, 32 phiếu chống, 20 phiếu trắng theo Darcourt ; 136 phiếu thuận, 2 phiếu trắng theo Todd.

Tran Van Huong, Duong Van Minh

Trong lúc đó, chuyến máy bay do Polgar tổ chức chở Nguyễn Bá Cẩn, Nguyễn Khắc Bình, Hoàng Đức Nhã và một số nhân vật đi Phi luật Tân.

Quốc Hội biểu quyết chấp thuận cử tướng Minh thay thế TT Hương trong chức vụ Tổng Thống. (AP Photo/Errington)

*20 giờ, con đường nối liền Saigon-Biên Hòa bị cắt đứt, 700 quân nhân của Sư đoàn 18 bị mất liên lạc và quốc lộ số 4 nối với miền Tây cũng bị gián đoạn ở nhiều nơi. Saigon trở nên cô lập như một hòn đảo.

Trong khi đó, cuộc di tản tuy chậm, nhưng diễn tiến trong trật tự . Đến 12 giờ trưa ngày 27 đã có 35 245 người đã được Mỹ bốc đi. Các tòa đại sứ, trừ tòa đại sứ Pháp, cũng bắt đầu đóng cửa và di tản nhân viên bằng đường hàng không.

Ngày 27 cũng là ngày Bắc Việt đổi ý về chiến lược. Theo đại sứ Martin, tuy là hồi tháng ba, ông đã có tin tình báo là Hà Nội đã quyết định đi tới một chiến thắng hoàn toàn bằng quân sự, nhưng những tin tức khác tử Mặt Trận giải phóng ở Paris cũng cho biết là họ cũng muốn có một giải pháp chính trị, và Martin cũng suy luận là CS dùng giải pháp chính trị để có thể tiếp tục được viện trợ của quốc tế khi chiến tranh chấm dứt. Nhưng không hiểu vì lý do gì, theo Martin thì đêm 27 tháng 4, CS đã dứt khoát chọn chỉ giải pháp quân sự ( Martin Graham. Vietnamese evacuation: testimony of Ambassador Graham Martin. International relations, January 27, 1976 , p. 609, trích dẫn bởi Nguyển Tiến Hưng, tr.391).

3.Phần kết

thangtuden_gettyjeanclaudefrancolo

-Ngày 28

Saigon đã thật sự hấp hối. Tân Sơn Nhứt bị pháo kích, người di tản ố ạt đến tòa đại sứ Mỹ tràn ngập sân sau, trèo tường, song sắt để xin được di tản. Từ sớm tinh sương, trực thăng của hảng Air America đáp xuống nóc tòa đại sứ để tiếp tục đưa các chánh khách và tướng tá VN đến Tân sơn Nhứt hay ra hạm đội, trong số có Cao Văn Viên.

Trong khi lực lượng Cộng Sản đang tiến về Saigon từ nhiều hướng, thì « tại tư dinh ở số 3 Trấn Quý Cáp, suốt buổi sáng, Dương Văn Minh vùi đầu vào việc chọn lựa các nhân vật thất sũng trong chánh giới Saigon để tìm người cho nội các. Các ứng cử viên lần lượt đến tư dinh ông để xin chức, ông lạnh lùng tiếp đón, gậtđầu chào rồi bảo họ ra vườn lan ngoài sau mà chờ. Nhưng ông không bằng lòng các ứng viên bởi lẽ người này là diều hâu, người kia là bồ câu, nên sau cùng ông chọn trình diện nội các với 3 người»(Snepp 355)

thangtuden_evacuation7

Lúc 17 giờ, lễ bàn giao giữa TT Trần Văn Hương và Dương Văn Minh diễn ra tại dinh Độc Lập với các ông Nguyễn Văn Huyền Phó Tổng thống, Vũ Văn Mẫu ThủTướng.

« Khi tân TT Dương Văn Minh vừa bắt đầu bài diễn văn nhậm chức của mình thì sét đánh ầm ầm, một trận mưa to chưa có trong nhiều năm ập xuống Saigon, thậm chí quan khách dự lễ không nghe được ông Minh nói gì. Cái không khí chung của buổi lễ nhậm chức thật buồn não» (LQC tr.354).

Ông Minh tuyên bố muốn điều đình với chánh phủ Mặt Trận Giải Phóng Giải Phóng và chánh phủ miền Bắc trên căn bản hiệp định Paris và một cuộc ngưng bắn.

Ông Minh chấm dứt diễn văn lúc 17giờ 48 phút. Một giờ sau, đài phát thanh Mặt Trận Giải Phóng lên tiếng:«Sau sự ra đi của tên phản quốc Nguyễn Văn Thiệu , những tên thay thế như Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền và Vũ văn Mẫu muốn duy trì chiến tranh để kéo dài chế độ chư hầu của Mỹ. Nhưng chúng chẳng lừa được ai và quân đội giải phóng chỉ chấp nhận một cuộc ngưng bắn với hai điều kiện: ngụy quân Saigon buông súng và hạm đội Mỹ rời khỏi hải phận miền Nam VN.Các binh sĩ nào còn nghe lịnh của Mỹ Ngụy sẽ bị trừng trị đích đáng để làm gương» (Todd, 355)

Khi ông Minh và đoàn tùy tùng từ Dinh Độc Lập trở về «dinh Hoa Lan» (nhà của DVM) thì nghe vang lên những tiếng nổ rung chuyển cả Saigon. Năm phản lực cơA-37 mà quân CS vừa mới chiếm được xuất phát từ Nha Trang, dưới sự chỉ huy của Trung úy Nguyễn Thành Trung oanh tạc phi trường Tân Sơn Nhứt và vùng Hốc Môn. Tại Paris. tổng trưởng ngoại giao Pháp tiếp đại sứ Bắc Việt Võ văn Sung và đại diện Mặt Trận Phạm Văn Ba để bày tỏ sự ngạc nhiên về sự trở mặt của Cộng Sản. Vai trò trung gian mà Pháp nghĩ rằng mình có thể đóng góp trong cuộc giàn xếp chính trị vào giờ thứ 25 của cuộc chiến đã hoàn toàn thất bại.

-Ngày 29 tháng tư

Saigon hôm nay bắt đầu thực sự đi vào cơn hỗn loạn.

*Từ 4 giờ sáng, đại bác của CS bắn vào bộ chỉ huy của Tổng Tham Mưu ở Tân Sơn Nhứt và bộ tư lệnh hải quân. Nhiều kho súng và kho săng bốc cháy, bùng nổ.

* 6 giờ sáng, Văn tiến Dũng ở Bến Cát nhận lời khen ngợi của Bộ Chính trị ở Hà Nội và yêu cầu Dũng tiến quân thần tốc.

*10 giờ sáng, đài phát thanh Saigon đọc bức thư của Dương Văn Minh gởi cho Martin:

«Tôi trân trọng yêu cầu ông đại sứ vui lòng ra chỉ thị cho các nhân viên cơ quan tùy viên quân sự DAO rời khỏi VN trong 24 giờ đồng hồ kể từ ngày 29 tháng 4, 1975 để vấn đề hoà bình của VN sớm được giải quyết» (Todd p. 362).

Bình luận về ông Minh, Kissinger đã viết:« Ông Minh làm Tổng Thống không tới 72 giờ, chỉ đủ làm được hai việc quan trọng: một là yêu cầu Hà Nội ngưng chiến và thương thuyết chính trị, điều mà Hà Nội đã từ chối thẳng thừng, và hai là ngày 29 tháng tư, ông yêu cầu tất cả người Mỹ rút ra khỏi VN 24 giờ. Bức thư này phù hợp với lịch trình rút lui của chúng tôi, nó đã thực sự giúp cho chúng tôi tháo ra mà không bị chỉ trích là Mỹ đã bỏ rơi đồng minh của mình» ( Hưng, tr.393).

Ông Hoàng ngọc Thành tiết lộ một chi tiết «ly kỳ» hơn: Tòa đại sứ Mỹ soạn một văn thư cho tuớng Minh yêu cầu người Mỹ rút đi trong vòng 24 giờ và bảo cho đọc trên đài phát thanh Saigon. Dương Văn Minh kể cho bà con và bạn hữu biết là ông đã làm như đại sứ Graham Martin bảo (Thành,tr. 568).

Nếu quả tình sự việc như vậy, VN đã đến hồi mạt vận vì một nhân vật luôn có mặt trong những cơn khủng hoảng chính trị lớn, chỉ vì muốn làm tổng thống mà hạ mình nhận lệnh của Pháp và của Mỹ.

Trong khi đó, Saigon bắt đầu một cuộc hỗn loạn không tả được. Từng đoàn người tràn vào chiếm kho hàng ở Tân Cảng, súng đạn tủa ra khắp nơi, người ta đạp trên xác chết quân sĩ và đặc công.

Thành phố không còn có chỉ huy: DVMinh đã cách chức tướng Bình, 60 000 cảnh sát và 10 000 cảnh sát dã chiến không biết nghe lịnh ai, quân đội cũng thay đổi tham mưu trưởng 3 lần trong 24 giờ: hôm kia là Cao Văn Viên, nhưng ông đã ra đi cùng với tham mưu phó, hôm qua là tướng Nguyễn Văn Minh và Vĩnh Lộc, nhưng mỗi người chỉ có vài giờ rồi cũng bỏ đi cùng với Chung Tấn Cang, Mai Hữu Xuân, Nguyễn cao Kỳ , Ngô Quang Trưởng, nói chung có 60 vị tướng lãnh.(Darcourt)

Theo tài liệu lưu giữ tại BảoTàng Viện ở San Jose thì vào thời điểm tháng 4-1975, VNCH có 112 tướng lãnh, 80 tướng đã rời VN vào cuối tháng 4.

Trường hợp của Đặng Văn Quang thì bi đát và nhục nhã hơn. Pierre Darcourt đã kể:

«Một cảnh tượng bi đát đã xảy ra ở cổng tòa đại sứ. Tướng Đặng Văn Quang mà nhiều người tố cáo là đứng đầu đường dây buôn lậu ở VN lại không có tên trong danh sách di tản của người Mỹ. Binh sĩ gác cổng đuổi ông đi. Ông phải chạy lại van nài nghị sĩ Nguyễn Văn Ngải giúp ông xin trực thăng bốc đi. Có ai ngờ, một ông cựu cố vấn quân sự của Tổng Thống, ngạo mạn kiêu căng, tác oai tác phúc ở dinh Độc Lập suốt mấy năm trời thì nay chỉ là một đống mỡ run rẩy vì sợ sệt. Ông ta hết quỳ lạy cầu khẩn rồi viện dẫn mạng sống của vợ con và của chính ông vì sẽ bị CS giết. Động lòng, nghị sĩ đưa ông ta cùng đi chung nhưng không nói tên ông ta là ai….» (Darcourt,194 ). Theo Snepp, thì Quang nhờ sự giúp đỡ của Polgar dù nhiều nhân viên CIA không muốn thấy mặt Quang ví Quang đã được CIA trả lương mà đã phản bội không báo cho CIA biết kế họach rút quân của TT Thiệu. Trong cơn hốt hoảng, Quang bỏ quên đứa con trai cùng đi với ông ở ngoài hàng rào sắt của tòa đại sứ. (tr.392)

Trường hợp của Trần Văn Đôn thì lại rất tàn nhẫn với thuộc cấp. Trước khi hối hả leo lên trực thăng cùng với con trai là một bác sĩ, ông Đôn nói với đoàn tùy tùng: « các anh ở lại, các anh không có chức vụ, không có gì nguy hiểm». Những quân nhân nầy vừa đau khổ, vừa khinh bỉ nhìn theo chiếc trực thăng cất cánh. (Darcourt, p. 194)

Lartéguy châm biếm: «Hôm qua là Phó thủ tướng, múa may, tưởng có thể thay thế Minh, bi đát hóa tình hình để đẩy Hương đi. Hôm nay, hối hả bỏ chạy, không thông báo cho cả viên đại tá chánh văn phòng khiến ông này sau đó tự tử .Ông Đôn chỉ là kẻ thừa hành của chánh phủ Pháp.» (Lartéguy , p.129)

Trong khi đó, cuộc di tản đang đến hồi lên cơn sốt.

*10 giờ 40: từ phi trường Tân Sơn Nhứt, tướng Homer Smith, chỉ huy trưởng DAO điện đàm với đô đốc Noël Gayler, tư lịnh lực lượng Mỹ vùng Thái Bình Dương ở Honolulu là phi trường TSN không còn sử dụng được cho cho phi cơ C-130 nữa. Bộ Quốc Phòng ra lệnh cho Gayler áp dụng «Giải pháp số 4» tức di tản bằng trực thăng.

* 12 giờ 30: 36 trực thăng vận tải khổng lồ được yểm trợ bởi các trực thăng chiến đấu Cobra rời hàng không mẫu hạm Hancock.

* 15 giờ: Thủy quân lục chiến thiết lập 3 bãi đáp trực thăng ở khu quân sự trong sân bay TSN.

Có 3000 người chờ đợi di tản. Trên không phận Saigon, trực thăng của Đệ Thất hạm đội, của CIA, của Air America bay rà rà trên nóc các cao ốc tụ điểm, lên xuống phi trường được phi cơ chiến đấu Phantoms sẵn sàng can thiệp khi cần thiết. Lực lượng hải lục không quân được huy động như chưa bao giờ có sau trận đổ bộ Dunkerque năm 1940.

* Buổi chiều, trước cửa tòa đại sứ Mỹ có độ 20 000 người chen chúc nhau, hàng ngàn người đổ về bến Bạch Đằng để tìm bất cứ phương tiện nào bằng đường biển, xe cộ vật liệu vất bừa bãi trên đường phố, người dân nhốn nháo, thất thần. Martin áp dụng phương thức di tản người Việt: người đến trước, được di tản trước (premier arrivé, premier servi). Đây là dịp cho các người Mỹ làm tiền các nhà giàu người Việt bằng cách mạo nhận là thân nhân để đưa đi, bán thẻ lên tàu của nhân viên dưới quyền cho người Việt chịu mua với giá từ 5000 đến 10 000 mỹ kim. «Tướng Cao HH, cố vấn TT Thiệu thay vì phân phối 50 thẻ di tản cho bộ tham mưu, đem bán mỗi vé 1000 mỹ kim» (Terzani, p.61)

* 10 giờ đêm (10 giờ sáng Washington): báo cáo từ Saigon về Ngũ Giác Đài cho biết cuộc di tản người Mỹ ở Cần Thơ và ở Vũng Tàu tốt đẹp, trong lúc ở Saigon hỗn loạn.

– Schlesinger điện cho Martin: còn 400 nhân viên tòa đại sứ phải di tản hết và gấp rút.

– Martin trả lời giọng giận dữ: Hãy chỉ cho tôi phương pháp ép những người Mỹ ra đi khi phải bỏ vợ con ở lại [vợ VN và con lai Mỹ]. Đã 4 giờ rồi, tôi đã báo cho Gayler biết là tôi cần 30 phi vụ CH-53, [chở được 50 người, chen chúc được 70] mà bây giờ tôi chỉ có một CH-46 [nhỏ hơn]

Một giờ sau, từ tòa Bạch Ốc, Don Rumsfield yêu cầu Martin di tản 150 nhân viên IBM còn kẹt ở Saigon. Martin lồng lộn: Hãy cút đi, để cho tôi yên ! Trong lúc đó, hải quân lục chiến hối hả tiêu hủy hồ sơ, các trang bị máy móc mà người Mỹ đã trang bị hùng hậu từ 10 năm qua (chỉ hồ sơ của CIA là 14 tấn).

*12 gìờ đêm: Martin điện cho Gayler: Chẳng nhận được gì 20 phút qua, chắc tôi phải ở lại đây ngày 30 tháng tư. Và điện cho Kissenger, Martin trêu cợt: Nếu không suôn sẻ, tôi sẽ qua tòa đại sứ Pháp xin tá túc, và chắc tôi sẽ được ngủ trong phòng của bà Mérillon, và hi vọng bà còn ở đó chớ không ở Paris» (Todd p. 378)

-Ngày 30 tháng tư

*2giờ 30 sáng, tại tòa đại sứ còn 1000 người Việt, 53 nhân viên dân sự và 173 thủy quân lục chiến, trong khi ở phi trường TSN còn độ 2000.

* 3 giờ 45: Martin nhìn đám người trong sân và tuyên bố: những trực thăng đáp trên nóc tòa đại sứ chỉ dành cho người Mỹ.

* 4 giờ 42: chiếc trực thăng mang tên Lady Ace 9 đáp xuống nóc. Viên phi công trình lệnh của Tổng Thống: Martin phải lên phi cơ. Nếu Martin không tuân lệnh, viên phi công còn có một lệnh khác của Gayler, tư lịnh Mỹ vùng Thái Bình Dương là áp giải Martin.

thangtuden_daisumartin1

Bước xuống HKMH Blue Ridge Đại sứ Martin trong một tâm trạng chán nản và mệt mỏi

Theo Darcourt, Đại sứ Martin đánh giá cuộc di tản không ra gì, muốn ở lại và chết ở đó. Với một tâm trạng rối loạn, mệt mõi (ông đã thức suốt 72 giờ liền), ôngđáp xuống hàng không mẫu hạm Blue Ridge, vào phòng đóng cửa lại để không ai thấy nỗi thất vọng của ông.

* 7 giờ 53: chiếc trực thăng cuối cùng chở những binh sĩ cuối cùng (thực ra còn 2 xác thủy quân lục chiến ở Tân Sơn Nhứt), yểm trợ bằng 6 trực thăng võ trang Cobra rời tòa đại sứ. Họ ném hơi cay trên đầu 420 người Việt còn đứng chờ bàng hoàng, ngơ ngác.

Lá cờ Mỹ đã cuốn đi mang theo nỗi thất vọng, cay đắng, oán hờn, sung sướng, của người Việt bắt đầu một trang sử mới.

*8 giờ sáng, tại dinh Phủ Thủ Tướng, ông Dương Văn Minh họp cùng các nhân vật quan trọng của nội các mới như Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu để trình bày tình hình quân sự và chính trị đã đến hồi tuyệt vọng, cuộc thương thuyết với chánh phủ Mặt Trận Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam và Hà Nội, qua trung gian của Pháp kể như không có trong khi thành phố Saigon đã hỗn loạn cực kỳ.

«Nhiều toán quân sĩ VNCH lang thang trong thành phố, họ vứt bỏ vũ khí, quân phục. Bọn cướp bóc tràn ngập trong thành phố, súng bắn loạn xạ» (Todd, p.390).

* 9g30: sau phiên họp, nội các Dương Văn Minh đến dinh Độc Lập dự định theo chương trình để bàn giao với Nguyễn Văn Hảo, Phó Thủ tướng trong nội các Nguyễn Bá Cẩn, nhưng cuộc bàn giao không xảy ra mà họ chờ quân giải phóng đến.

*11g30: «tiếng chân người vang dội trong đại sảnh, có cả tiếng khua vũ khí và tiếng đạn lên nòng. Rồi tiếng hô từ phía đại sảnh: Mọi người đi ra khỏi phòng… Người bước ra khỏi phòng trước tiên là tổng thống DVM… Có tiếng hô to: Mọi người giơ hai tay lên. Ông Minh, ông Mẫu và tôi cùng mọi người đi sau đều nhất loạt giơ tay…Một người bộ đội cấp chỉ huy nói với ông Minh: Anh hãy viết một bản tuyên bố đầu hàng. Ông Minh trả lời rằng sáng nay ông đã có một tuyên bố trao quyền rồi. Viên chỉ huy nói: Anh chẳng có gì để trao. Anh chỉ có thể tuyên bố đầu hàng…Ông Minh vẫn đứng yên lặng.

Fall of Saigon

Viên chỉ huy yêu cầu ông Minh đi đến đài phát thanh để thảo và đọc bản tuyên bố đầu hàng…Trước khi rời dinh Độc Lập đến đài phát thanh, ông Minh nói với vị chỉ huy bộ đội: Vợ tôi vẫn ở đây. Xin các anh bảo đảm an ninh giùm. Viên chỉ huy đáp: Anh hãy yên tâm…Ông Minh và ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Saigon trên chiếc xe Jeep của bộ đội…Bản tuyên bố đầu hàng do chính trị viên Bùi Văn Tùng thảo. Ông Minh đọc và đài phát lúc 13 giờ 30…» (LQC, tr.410-412).

Trần Văn Đôn thuật dựa vào những điều nghe biết sau 30 tháng tư (vì ông đã ra đi): «Sau đó họ mời ông Minh, ông Mẫu và một người nữa lên xe jeep đi. Sau này tôi biết họ chở lại gặp tướng Trần Văn Trà. Tướng Trà nói: Tôi mời mấy ông về đây để uống trà với tôi. Tôi là Trà đây. Chiến tranh đã kết thúc rồi. Không có ai thắng ai bại» (Đôn, tr. 485). Và cũng với luận điệu ấy, Đôn đã viết: «Ai cứu dân chúng Saigon khỏi đổ máu. Không phải Kissinger, không phải đại sứ Mỹ, không phảiđại sứ Pháp. Saigon không đổ máu là nhờ Dương Văn Minh».

Pierre Darcourt kể lại với nhiều chi tiết sống sượng hơn:

«Đúng 12 giờ 10 phút, ba chiếc xe tăng T54 cán dẹp những hàng rào cản sơn màu trắng đỏ bao quanh dinh Độc Lập. Họ bắn chỉ thiên một tràng dài, ủi sập cánh cổng lớn, cán lên trên rồi tiến thẳng vào dinh Độc Lập, cày bừa lên các bãi cỏ trong sân. Hai chiếc xe Jeep và một chiếc xe vận tải chạy đến, qua mặt các chiến xa. Tất cả mang cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miên Nam…

thangtuden_xetangVCtrongdinhDocLap

Vị sĩ quan cao cấp được 4,5 lính CS hộ tống ập vô đại sảnh, nơi mà tướng Dương Văn Minh đang hội họp với các người thân cận của ông ta. Thấy vị sĩ quan đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, Tướng Minh tưởng rằng mình đứng trước một sĩ quan cao cấp nên nói:

– Thưa quan sáu (nguyên văn: mon général ong sau), tôi đã chờ ông từ sáng để trao quyền cho ông.

– Mầy (nguyên tác: tu, có thể dịch là anh, nhưng mày có lẽ đúng hơn trong hoàn cảnh nầy) dám nói là trao quyền à. Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một tên bù nhìn. Mầy chẳng có quyền nào để trao cho tao cả. Chúng tao đạt được quyền bằng khẩu súng trong tay. Tao nói cho mày rõ là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chính trị. Và kể từ bây giờ, tao cấm mầy không được ngồi xuống. Gương mặt tướng Minh co rúm lại. Giọng nói hung bạo và khinh miệt của người sĩ quan khiến ông Minh hiểu rõ là ông đang đứng trước mặt một sĩ quan miền Bắc (nguyên tác: Tonkinois) chớ không phải là người Mặt Trận miền Nam. Tướng Minh cố giữ bình tỉnh và nhẹ nhàng nói:

– Chúng tôi đã có làm sẵn một bữa cơm để tiếp các ông. Có yến, súp măng cua.

Viên trung tá xẳng giọng

– Tụi bây đang ở trong tình trạng bị bắt. Hãy giữ thức ăn tư sản cho tụi bây. Chúng tao sẽ cho tụi bây ăn cơm dã chiến, một nắm cơm vắt và một hôp thịt mặn.

Tất cà các tổng trưởng hiện diện đều bị khám xét và bị bắt giam trong một phòng. Dinh Độc Lập bị tràn ngập bởi phóng viên báo chí» (Darcourt, p.209).

*Lúc 16 giờ 30, tướng Minh được rời khỏi phòng giam lỏng ở tầng dưới dinh Độc Lập. Một phóng viên của nhật báo Quân đội giài phóng hỏi ông

– Ông nghĩ sao về những biến cố mà ông vừa trải qua?

Ông Minh ngập ngừng giây lát rồi trả lời với ngôn ngữ tuyên truyền mà CS thường sử dụng:

« Chúng tôi đã nhận thức được sức mạnh của Chánh phủ cách mạng lâm thời và của quân đội giải phóng. Các đơn vị thiết giáp của quân giải phóng thực hùng mạnh, quân đội Saigon không thể nào đương cự được, chỉ còn có việc đầu hàng không điều kiện mà thôi…

Chúng tôi tin tưởng các ông, nếu không thì chúng tôi đâu có đem cả gia đình chúng tôi đến đây để đón các ông. Các ông đã đạt được chiến thắng một cách nhanh chóng, chúng tôi vô cùng sung sướng. Chúng tôi và gia đình chúng tôi bình yên, thật là may mắn » (Darcourt, tr. 213)

Và sau đó, các nhân vật trong nội các cuối cùng của VNCH cũng lưu hậu thế với những câu nói bất hủ.

* Ông Nguyễn Văn Huyền thì dè dặt hơn: «Chúng tôi không chấp nhận cuộc di tản. Là người VN, mình phải ở lại sống trên quê hương mình chớ»

* Ông Vũ văn Mẫu thì hớn hở, nhảy nhót: «Các anh đánh hay lắm. Tôi rất sung sướng đã đuổi được người Mỹ ra đi. Bây giờ thì chúng ta với chúng ta mà thôi. Sau khi nhắc lại quê ông ở quận Thường Tín, phía Nam Hà Nội và chuyện ông cạo đầu phản đối ông Diệm, ông nói: Kể từ hôm nay thì tôi sẽ để tóc lại được rồi»

* Ông Nguyễn Văn Hảo đưa tay lên và nói lớn:«Các anh thật đáng phục vì đã đánh bại được nước Mỹ, chúng tôi hi vọng là tài nguyên của đất nước sẽ được sửdụng để xây dựng đất nước chúng ta». (Darcourt, tr.213)

Trong khi các chánh khách 30 của VNCH đầu hàng CS và tranh nhau nịnh bợ chánh quyền mới, trên khắp các nẽo đường đất nước, quân nhân các cấp phẩn uất, nhiều tướng tá tử tiết thay vì đầu hàng. Chỉ cần đan kể một vài anh hùng liệt sĩ: các tướng Nguyễn Khoa Nam, Phạm văn Phú, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần văn Hai…

Fall of Saigon

Trong lịch sử chiến tranh, không có cuộc chiến nào để lại một khối lượng sử liệu khổng lồ, đa dạng và phức tạp như chiến tranh VN. Tại Hoa Kỳ, có ít nhất 10 đại học danh tiếng có bộ sách về chiến tranh VN trong đó trung tâm Texas Tech University được xem như quan trọng nhất.Ghi lại những biến cố chỉ trong tháng 4 từmột số tài liệu mà độc giả có thể tìm được dễ dàng trong các thư viện công cộng hay nhà sách, chúng tôi muốn nói lên bản chất dị biệt của các tài liệu qua các nguồn tư liệu và tác giả.

Sự dị biệt ít nhiều và bàng bạc qua gần 20 tài lệu mà chúng tôi tham khảo, nhưng chúng tôi chú tâm đặc biệt vào hai biên khảo-hồi ký căn bản của biến cố tháng tư viết bởi hai cộng sự viên quan trọng của Tổng Thống Thiệu là Đại Tướng Cao Văn Viên,Tổng Tham Mưu Trưởng quân lực VNCH và Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, cố vấn đặc biệt của Tổng thống. Chúng tôi vô cùng ngạc nhiên, qua lời văn tuy ôn tồn nhưng quyết liệt, ông Viên đã dành một chương «Lời bạt» thêm vào quyển quân sử The final Collapse do ông soạn thảo cho Trung Tâm Quân sử lục quân Hoa Kỳ phổ biến hạn chế năm 1983 và Nguyễn Kỳ Phong chuyển ngữ với tựa đề là Những ngày cuối cùng của VNCH, xuất bản năm 2003, để làm sáng tỏ và đính chính một số sai lầm, thiếu sót viết về ông và về Bộ Tổng Tham Mưu do ông điều khiển mà tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã viết trong quyển The Palace File xuất bản năm 1986 và ấn bản Việt ngữ tựa là Hồ sơ mật Dinh Độc Lập xuất bản năm 1987.

Đa số độc giả cũng như chúng tôi không am tường các chuyện bí mật chính trị và quân sự, cho nên chuyện đúng hay sai là chuyện của các chuyên gia và nhà sử học, do đó khi chúng ta đọc những tài liệu loại nầy, chúng ta thường đọc bằng cảm tính qua văn phong của tác giả. Chúng ta có khuynh hướng nghiêng (tin) về người bị chỉ trích, bị hạ bệ và phản kháng (không tin) người dao to búa lớn, đại loại, tôi đã khuyên tổng thống chuyện nầy, can thiệp với ông đại sứ nọ… Đó là điều mà chúng tôi gọi là đem tâm tình đọc lịch sử.

Ngoài việc viết thiếu trung thực lịch sử vì vô tình hay cố ý, một hiện tượng khác còn trầm trọng hơn là việc ngụy tạo tài liệu đã đưa độc giả đến những hiểu biết sai lệch mà điển hình là vụ quyển sách Saigon et moi của cựu đại sứ Pháp Jean-Marie Mérillon mà từ hàng chục năm nay, cứ đến tháng tư thì tái xuất hiện như một thứ «cá tháng tư» (poisson d’Avril).

Nhiều sách báo đã phổ biến, trích dẫn «con cá tháng tư» này như chuyện thật.

Cách đây một tháng, nhiều bạn hữu lại chuyển cho chúng tôi qua internet một bài đọc dưới dạng mp3 về một chương sách tưởng tượng trong quyển sách ngụy tạo Saigon et moi. Đại ý, Jean-Marie Mérillon đã dàn xếp được với Mặt Trận Giải Phóng để chấp nhận Dương Văn Minh thành lập một chánh phủ liên hiệp để thoát khỏi gọng kềm của CS miền Bắc nhưng Dương Văn Minh đã phản bội lời hứa, thay vì đi Trảng Bàng để gặp Trần Văn Trà trong toan tính này thì lại đầu hàng với hi vọng sự nhượng bộ này sẽ được CS tưởng thưởng.

Ngoài ra, bài đọc (từ bài viết) còn có những chi tiết giựt gân, cảm động, đánh trúng cái khát vọng của người di tản không muốn VNCH chết một cách tức tửi và oán ghét những chánh khách bất tài, xôi thịt, hèn hạ.

Tác giả của nguồn tin này (ông Vũ Hải Hồ) cho là quyển sách xuất bản năm 1985, được ra mắt ở khách sạn La Fayette với sự chứng kiến của Tổng Thống Valéry Giscard d’Estaing và nhiều nhân vật chính trị quan trọng của Pháp, nhưng sau đó mấy ngày thì bị Bộ ngoại giao tịch thu.

Lối giải thích quả tình phi lý vì chế độ kiểm duyệt sách báo ở các quốc gia Tây Phương là chuyện không có, còn chuyện thu hồi một quyển sách hồi ký đã xuất bản lại còn là chuyện thần thoại hơn.

Ngoài ra, trong việc phát triển bộ sách tiếng Việt và sách ngoại ngữ viết về VN cho thư viện thành phố Montréal, chúng tôi có theo dõi trong nhiều năm thời ấy trong các thư mục các nhà xuất bản trên thế giới như Books in prints, Livres disponibles để mua cho thư viện, nhưng không hề thấy tên quyển sách này.

Để chứng minh quyển Saigon et moi không có, GS Tiến sĩ Sử học Hoàng ngọc Thành và Bà Thân thị Nhân Đức trong tác phẩm «Những ngày cuối cùng của Ngô Đình Diệm», xuất bản năm 1994, nơi trang 622 và 623 (trang 574 ấn bản năm 1996, phụbản trong ấn bản năm 1999) có nói rõ về vấn đề này.

Nguyên là ông Hoàng Ngọc Thành khi sang Paris năm 1989 không tìm mua được quyển Saigon et moi, nên có liên lạc với ông Mérillon, lúc ấy làm đại sứ ở Moscou để hỏi rõ . Ông Mérillon đã phúc đáp GS Thành nguyên văn nhưsau:

République Française
Ambassade de France En URSS
L’Ambassadeur

Moscou le 12th November1990

Dear Dr Thanh,
Your letter of the 22nd October has just reached me. I was most touched by it and very pleased to hear from you.
As far as the book«Saigon et moi» is concerned, I must make a point particularly clear. I did not write this book nor have I written any other about Vietnam; therefore the work that you are enquiring about is not mine. However, I am intrigued by this publication and should be glad to have any information relating to it.
Should I visit California, I shall not fail to take advantage of your kind invitation to a Vietnamese dinner.
Wishing your new book every success, I remain
Yours sincerely,
Jean- Marie Mérillon

merillonletter

Khi viết biên khảo, các tác giả có khuynh hướng sử dụng những tài liệu trích dẫn từ những tài liệu tham khảo cấp hai hay cấp ba mà không phải từ tài liệu gốc. Sự sai lầm, nếu có, tuy đáng tiếc, nhưng vẫn có thể hiểu được vì lẽ chúng ta không thể có được trong tay tất cà các tài liệu.

Tuy nhiên, khi đã biết một tài liệu ngụy tạo mà vẫn cố tình sử dụng vì một ý đồ, hành động nầy không thể nào nói khác hơn là một thứ bất lương trí thức. Đó là trường hợp bản dịch quyển « La mort du VietNam» của tướng Vanuxem của Dương Hiếu Nghĩa với tựa là «Nước Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử» (Nhà xb Đại Nam, 1997) có một phụ bản đặc biệt từ trang 194 đến trang 221 đăng lại từ tập san Đa Hiệu một chương sách ngụy tạo của Mérillon. Dịch giả đã có lời phi lộ như sau:

«Không ai tìm thấy tung tích quyển sách này ở bất cứ thư viện nào ở Pháp, kể cả Thư viện Quốc Gia Pháp ở Paris. Cũng như sau nầy, chính ông Mérillon đã đính chánh ông không phải là tác giả của quyển Saigon et moi hay bất cứ quyển nào khác viết về VN» (sđd, tr. 195).

Đã biết như vậy mà vẫn tiếp tục phổ biến một tài liệu ngụy tạo, chúng tôi không hiểu tác giả có ngụ ý gì nếu không đã mất trí.

Kết luận

Hôm nay, đọc lại những tài liệu cũ về những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi không giữ được nỗi bàng hoàng nhớ lại nỗi kinh hoàng của những ngày quốc biến của 34 năm trước. Người đọc lịch sử, nhất là lịch sử của tổ quốc mình không thể vô tâm như người ngồi ở ga xe nhìn đoàn tàu đi qua, mà tùy theo cảnh ngộ, người đọc xúc động với biến cố hay suy nghĩ về biến cố. Chẳng phải là sử gia cũng không phải là chính trị gia, đa số người Việt ngoài nước lẫn trong nước đều cảm nhận nỗi bất hạnh của quê hương mình và dân tộc mình đã từ hơn một thế kỷ qua, luôn là mảnh đất để các cường quốc ngoại bang và các tậpđoàn người Việt, nhân danh những khẩu hiệu giả ân giả nghĩa, đã thay phiên nhau xâu xé, thống trị và bốc lột một dân tộc không ngớt gánh chịu điêu linh. Nhưng nghĩ cho cùng, khi con người đã quá khổ đau, con người chỉ còn biết bám víu vào định mệnh. Nếu nước VNcó một định mệnh thì định mệnh đã bắt VN của chúng ta gánh chịu quá nhiều bất hạnh từ 1945 đến nay mà cái bất hạnh lớn nhất, nguy hại nhất, là chiến tranh VN đã được điều khiển bởi một Kissinger ác cảm khinh miệt chế độ miền Nam và một tập đoàn chính trị miền Nam đa số bất tài, thối nát.

Hôm nay, lần giở lại gần hai mươi quyển hồi ký và biên khảo tiếng Việt và ngoại ngữ trong kho tài liệu khổng lồ về chiến tranh VN, nếu chúng tôi được soi sáng vàđược lãnh hội nhiều sự kiện và nhận định ghi lại với sự trung thực và thành khẩn đáng được xem như những sử liệu giá trị qua vài biên khảo và hồi ký, chúng tôi lại cảm thấy bùng dậy nỗi bất bình với những trang giấy viết để ca tụng mình, phe nhóm mình, nhục mạ chiến hữu mình, phe nhóm đối lập với mình. Tác giả những thiên hồi ký khoác lác nầy đa số là những người đã vinh thân trong cuộc chiến, và giờ đây, họ vẫn không còn biết giữ được chút liêm sĩ còn sót lại để im tiếng, để yên cho những người may mắn thoát chết tiếp tục sống với nỗi đau gặm nhấm. Lịch sử sẽ phải thực sự được viết lại bởi những người viết sử công chính và những quyển hồi ký man trá nầy sẽ phải bị chôn sâu dưới nấm mồ của những tác giả đã đánh mất lương tri.

Trong một cuộc mạn đàm với các bậc thức giả, chúng tôi có bày tỏ nỗi ưu tư là những người di tản thế hệ chúng ta không có cơ may đọc được một quyển chính sử viết về thời kỳ chúng ta đã sống. Một cụ già đã sang sảng trả lời: «Biết làm chi nhiều hơn cho thêm cay đắng. Chúng ta chỉ cần biết rõ ràng rằng chúng ta là nạn nhân của ba sự lừa dối và phản bội, thứ nhất là của đồng minh người Mỹ của chúng ta, thứ hai là của người lãnh đạo phe quốc gia chúng ta và thứ ba là của bọn Cộng Sản Việt Nam».

Chúng tôi chỉ biết gục đầu thấm thía lời phẩn nộ nhưng không dám gật đầu chấp nhận thái độ buông tay.

Chúng tôi vẫn tự hỏi, có thế nào lịch sử cận đại của một dân tộc đã phải hi sinh bao triệu người sẽ được viết bởi những kẻ lừa dối và phản bội?

© Lâm-Văn-Bé (Montréal)
© Diễn Đàn Người Dân ViệtNam
Chuyển sang dạng text từ PDF files bởi ngv 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:https://baovecovang2012.wordpress.com/2013/04/22/chuyen-thang-tu-den-gs-lam-van-be/

Sách tham khảo chính yếu:

Bùi Diễm. Gọng kềm lịch sử. Paris: Cơ sở xb Phạm Quang Khai, 2000. (expanded version of The Jaws of History).

– Cao Văn Viên. Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, dịch từ The Final Colllapse bởi

– Nguyễn Kỳ Phong. Centreville(Virginia):Vietnambibliography, 2003.

Darcourt, Pierre. Vietnam, qu’as-tu fait de tes fils. — Paris: Albatros, 1975.

– Hoàng Đống. Niên biểu lịch sử VN, thời kỳ 1945-1975.California: Đại Nam 2005.

– Hoàng ngọc Thành & Thân thị Nhân Đức. Những ngày cuối cùng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm (ấn bản lần thứ ba).- San José: Quang Vinh, 1999.

– Karnow Stanley. Vietnam: a history.–New York: Viking, 1983.

-Kissinger, Henry, Ending the VN war.–New York: Simon&Schuster, 2003.

– Lartéguy, Jean. L’adieu à Saigon. — Paris: Presses de la Cité, 1975.

– Lý Quý Chung, Hồi ký không tên. — TpHCM: Nhà xb Trẻ, 2004.

– Nesson, Ron. It sure looks different from the inside. — Chicago: Playboy Press, 1978.

– Nguyễn Bá Cẩn. Đất nước tôi. –San Jose: Hoa Hao Press, 2003.

– Nguyễn Khắc Ngữ. Những ngày cuối cùng của VNCH. — Montréal: Tủ sách Nghiên cứu Sử Địa,1979.

– Nguyễn Hữu An. Chiến trường mới. – Hanoi: Nxb Quân đội nhân dân, 2001.

– Nguyễn Tiến Hưng. Khi đồng minh tháo chạy. – San Jose: Cơ sở xb Hứa Chấn Minh, 2005.

– Nguyễn Tiến Hưng. Hồ sơ mật Dinh Độc Lập.

– Snepp, Frank. Sauve qui peut.– Paris: Éditions Balland, 1979 (dịch từ: Decent Interval.– New York:Random House, 1977).

– Terzani, Tiziano. La chute de Saigon, 30 avril 1975. – Paris: Fayard, 1977.

– Todd, Olivier. La chute de Saigon: Cruel Avril. Paris: Laffont, 2005.

– Trần Đông Phong. Việt Nam Cộng Hòa, 10 ngày cuối cùng. – California: Nam Việt, 2006.– Trần Văn Đôn. Việt Nam nhân chứng. — California: Xuân Thu, 1989


“Đi Nhà Thương” – Vietnam Future: 2021

Bài đọc suy gẫm: “Đi Nhà Thương” hay Nhìn lại những “Bịnh viện” nổi tiếng năm xưa, lúc vẫn còn được gọi là “Nhà Thương”, bài có tính cách khảo cứu, tài liệuvới nhiều hình ảnh nhưng không thấy có tên tác giả, được đăng trên trang Vietnam Future:2021(xin tác giả nếu biết thì liên lạc để Blog 16 cập nhật). Mời các bạn cùng theo dõi để nhớ về các bệnh viện tại miền nam Việt Nam ngày xưa.

Những người sống ở Sài Gòn trước năm 1975 chắc chắn vẫn chưa quên những cái tên “nhà thương” như nhà thương Chợ Rẩy, Chợ Quán, Đồn Đất, Nguyễn Văn Học, Từ Dũ, Vì Dân…

Trên bảng hiệu của những nơi điều trị bịnh này thường dùng từ “bịnh viện” (hoặc “bệnh viện”), hoặc những cái tên Hán Việt là Bảo Sanh Viện, Dưỡng Trí Viện. Tuy nhiên hầu hết những người dân miền Nam gốc đều không gọi là bệnh viện, mà gọi là “Nhà Thương”. Hình như chỉ có những người di cư từ năm 1954 mới gọi là “bệnh viện”.

Thời nhỏ ở nhà quê, mỗi khi nhà có ai bị bịnh nặng, tôi thường nghe ba mẹ nói loáng thoáng là “đi nhà thương” ở phố, như “nhà thương Phan Thiết”, “nhà thương Biên Hòa”, nặng lắm thì vô “nhà thương ở Xì Gòn”. Những lúc ấy không khí trong nhà thường rất hốt hoảng vì đã cấp bách lắm rồi. Thời đó nếu bị bệnh vặt thì sẽ tự khỏi, không uống thuốc, nặng một chút thì cùng lắm thì nhờ một y sĩ nào đó trong làng chích cho một mũi là xong. Còn nếu là bịnh rất nặng thì ba mẹ phải bỏ công bỏ chuyện để đưa lên nhà thương nằm mấy bữa, có khi cả mấy tuần.

Vì vậy trong ký ức nhỏ nhoi của tôi, cái tên “nhà thương” gợi lại những gì buồn bã và bi thương nhất.

Tiếng “nhà thương” bắt nguồn từ ý nghĩa là “nhà chữa trị cho người thương tật, bịnh hoạn”. Nhưng có lẽ là dân miền Nam gắn liền chữ “nhà thương” với tình thương của những bị bác sĩ y đức hết lòng cứu chữa cho người bịnh.

Ở những nhà thương công, bệnh nhân đi khám bịnh, điều trị thì miễn phí, không tốn tiền. Vì vậy nó còn được gọi là nhà thương thí, (bố thí) cho người nghèo. Ở Sài Gòn lúc đó, nếu có tiền thì người ta thường đi nhà thương Đồn Đất, hay mấy nhà thương của bang hội người Hoa như Triều Châu, Quảng Đông, Phúc Kiến, Sùng Chính…

Hình như ở miền Bắc cũng có người gọi là “nhà thương” nhưng ít hơn, đa số vẫn gọi là “bệnh viện”.

Cùng xem lại một số hình ảnh của những “nhà thương” nổi tiếng nhất ở Sài Gòn năm xưa:

Bịnh viện Chợ Rẩy (sau này ghi thành Chợ Rẫy):

Bịnh viện Chợ Rẫy được thành lập vào năm 1900, lúc đó có tên chính thức tiếng Pháp là Hôpital Municipal de Cholon (Bệnh viện thị xã Chợ Lớn) tại Sài Gòn. Đây là một trong những cơ sở y tế của Pháp thành lập ở Việt Nam sớm nhất cùng với Viện Pasteur Sài Gòn thành lập vào năm 1891, Viện Pasteur Nha Trang thành lập vào năm 1895.

Bịnh viện Chợ Rẫy được xây dựng trên nền đất cao có diện tích trên 50.000 m² với các tòa nhà kiểu pháp, cao 2 tầng, vốn trước đây là chợ mua bán của người Hoa, có tên là chợ Rẫy. Và từ đó, người dân vẫn quen gọi là bệnh viện Chợ Rẫy và tên này được dùng chính thức cho đến ngày nay.

Năm 1957, bệnh viện chính thức được mang tên Chợ Rẫy. Bịnh viện Chợ Rẫy ngoài chức năng là cơ sở điều trị còn là trường sở của Trường Đại học Y khoa Sài Gòn thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Chợ Rẫy là bệnh viện thực tập các môn nội khoa, ngoại khoa, tai-mũi-họng, nhãn khoa cùng là nơi giảng dạy môn cơ thể học.

1971, Chính phủ Nhật Bản viện trợ không hoàn lại cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (qua hình thức bồi thường chiến tranh) để tái xây dựng bệnh viện Chợ Rẫy trên diện tích 53.000 m² cùng với trang thiết bị hiện đại, trở thành một trong những bệnh viện lớn nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ. Công trình được hoàn thành vào tháng 6 năm 1974 với tòa nhà 11 tầng.

Bệnh viện Chợ Rẫy (cơ sở mới) xây xong được chỉ vài tháng thì Sài Gòn đổi chủ, nên hầu như không tìm được hình ảnh nào trước 1975. Chỉ có các hình ảnh chụp trụ sở được xây từ hơn 100 năm trước.

Tổng Y Viện Cộng Hòa, tên tiếng Anh là Cong Hoa General Hopital, là nơi triều trị cho các quân nhân bệnh binh. Ngày xưa có câu nói là “Chỉ cần thấy 5 chữ Tổng Y-Viện Cộng Hòa là các thương binh dù nặng nhất cũng tràn trề hy vọng được cứu sống” – Cho thấy được tầm quan trọng của cơ sơ này.

Tổng Y-Viện Cộng Hòa nằm ở khu vự Ngã ba Chú Ía, nay là Bệnh viện Quân Y 175 chuyên dành cho quân nhân, nằm ở góc đường Nguyễn Thái Sơn và Nguyễn Kiệm (ngày xưa mang tên là Hương Lộ 17).

Đường mép bên phải là Hương lộ 17 (nay là Nguyễn Kiệm), đường xéo bên trên là Nguyễn Thái Sơn đi về phía chợ Gò Vấp bên trái. 2 đường gặp nhau tại ngã 3 Chú Ía ở góc trên bên phải, nơi có trung Tâm Tiếp Huyết.
Bên trong Tổng Y-Viện Cộng Hòa. Những dãy nhà này vẫn còn đến nay, trở thành BV Quân Y 175

Cách Tổng Y-Viện Cộng Hòa không xa là 3rd FIELD HOSPITAL – Bệnh viện Dã chiến 3 dành cho quân đội Hoa Kỳ, nằm trên đường Võ Tánh, nay là Hoàng Văn Thụ, ngay đối diện Bộ Tổng Tham Mưu (nay là Quân Khu 7).

Đường mép bên phải là Võ Tánh (nay là Hoàng Văn Thụ), đường xiên ngang là CM 1/11 (nay là Nguyễn Văn Trỗi). Bên phải giao lộ là Bộ Tổng Tham Mưu, bên trái giao lộ là BV Dã chiến 3, góc trên bên phải ngày nay là công viên Hoàng Văn Thụ
Khu nhà có chữ thập đỏ trên mái là Bệnh viện Dã Chiến 3. Góc mũi tàu bên phải hình là công viên Hoàng Văn Thụ hiện nay. Góc dưới bên phải là hướng đường Phổ Quang

Một bịnh viện rất quen thuộc với người Sài Gòn khác là Bịnh viện Vì Dân, là bịnh viện tư nhân, nhưng được điều hành như bệnh viện công, nghĩa là không thu viện phí, không thu tiền khám chữa bệnh, không thu tiền các loại thuốc thông dụng có sẵn ở Bệnh viện, người dân vào khám chữa được miễn phí hoàn toàn. Sau năm 1975, bịnh viện đổi tên thành bệnh viện Thống Nhất, dành cho nhà giàu hoặc cán bộ cao cấp.

Bịnh viện được xây năm 1971, do bà Nguyễn Thị Mai Anh (phu nhân tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) vận động quyên tiền từ thiện của nhiều người bao gồm thân hào nhân sĩ, thương gia, kỹ nghệ gia…

Bà Nguyễn Văn Thiệu tại lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng BV Vì Dân năm 1971
Tại lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng BV Vì Dân năm 1971

Bịnh viện tọa lạc ở ngay ngã 4 Bảy Hiền, ngày nay kiến trúc vẫn còn giữ nguyên, đổi tên thành BV Thống Nhất, nhưng không còn giữ tiêu chí chữa bệnh miễn phí cho người dân như ngày xưa nữa.

Một bịnh viện khác cũng nổi tiếng và có kiến trúc rất đẹp là Bịnh Viện Nguyễn Văn Học ở góc đường Chi Lăng và đường Nguyễn văn Học ở tỉnh Gia Định, hiện nay trở thành Bệnh viện Nhân Dân Gia Định ở góc đường Phan Đăng Lưu và Nơ Trang Long.

Một bệnh viện khác rất quen thuộc với người Sài Gòn là Bảo Sanh Viện Từ Dũ, tức Bịnh viện Phụ sản Từ Dũ, được đặt theo tên thái hậu triều Nguyễn, là mẹ của vua Tự Đức. Do người Huế nói âm nặng, nên bà Từ Dũ cũng được gọi là Từ Dụ.

Tiền thân của bệnh viện Từ Dũ là một khu chuyên khoa sản trực thuộc Bệnh viện Lalung Bonnaire (nay là Bệnh viện Chợ Rẫy) ra đời vào năm 1923.

Năm 1937, thương gia người Hoa là Hui Bon Hoa (tức chú Hoả) đã hiến mảnh đất riêng với diện tích 19.123m2 trên đường Arras cũ (nay là đường Cống Quỳnh, Quận 1) để xây bảo sanh viện mang tên Maternité Indochinoise (Bảo sanh viện Đông Dương) do Giáo sư Bác sĩ George Cartoux (người Pháp) làm giám đốc.

Do thời cuộc, nên khi xây dựng xong, bảo sanh viện bị quân đội Pháp, sau đó là Nhật trưng dụng làm nơi đóng quân. Đến tháng 9 năm 1943, bảo sanh viện mới chính thức hoạt động với khoảng 100 giường bệnh.

Năm 1944, bệnh viện đổi tên thành Việt Nam Bảo sanh viện. Đến năm 1946 được đổi thành Maternité George Béchamps còn dân chúng thường gọi là “Nhà sanh Chú Hỏa”. Đến năm 1948, bệnh viện được mang tên của thái hậu triều Nguyễn là Bảo sanh viện Từ Dũ, cho đến 1975 thì mang tên chính thức là Bệnh viện Từ Dũ cho đến nay.

Bệnh viện nằm ngay góc đường Cống Quỳnh, Cao Thắng, là nơi thăm khám quen thuộc của những bà mẹ không chỉ người Sài Gòn mà cả ở khắp các tỉnh thành. Vì vậy mà những người ở các tỉnh lẻ lên thành phố, không quen thuộc đường thường phải hỏi thăm rất nhiều, đến nỗi người dân làm một tấm biển này trên phía đường Cao Thắng để cho các chị em thuận tiện trên hành trình của mình:

Bịnh viện Chợ Quán là bệnh viện lâu đời nhất ở Sài Gòn, được xây năm 1862 do một số nhà giàu hảo tâm người Việt đóng góp xây dựng và quản lý.

Bệnh viện tọa lạc trên một khu đất rộng gần 5 hecta tại làng Chợ Quán nằm giữa Sài Gòn – Chợ Lớn, phía trước có sông Bến Nghé chảy qua (nay gọi là kênh Tàu Hủ).

Hiện nay, bịnh viện này mang tên là Bệnh Viện Nhiệt Đới nằm trên đại lộ Võ Văn Kiệt. Có một thời gian bệnh viện chuyên khoa về tâm thần, nên người ra hay gọi cái tên dân dã là “Nhà thương điên Chợ Quán”.

Năm 1972, khu nhà chính 6 tầng của bệnh viện được xây dựng trên diện tích 12.126 m2 với sự trợ giúp của Hàn Quốc. Đến cuối năm 1973, công trình hoàn tất và bệnh viện được khánh thành vào ngày 02/3/1974 với tên mới là Trung Tâm Y Khoa Hàn -Việt

Lễ khánh thành cơ sở mới

Có một bệnh viện khác thuộc hàng lâu đời của Sài Gòn, đó là Y viện Sài Gòn, thường được gọi là Nhà thương thí, sau gọi là Bệnh viện Đô Thành, được xây dựng từ năm 1903. Đến năm 1937 nhà thương thí được tái thiết rồi mang tên bác sĩ Dejean de la Bâtie. Ông Hứa Bổn Hỏa (tức chú Hỏa) góp chi phí để xây dựng lại nhà thương, nên người Sài Gòn cũng gọi đây là nhà thương Chú Hỏa. Hiện nay, nơi này là Đa khoa Sài Gòn tại số 125, đường Lê Lợi, P Bến Thành, Q1.

Có một bịnh viên thuộc hàng lâu đời và có khuôn viên đẹp nhất của Sài Gòn, đó là Bệnh viện Grall, là Bệnh viện Quân sự (tiếng Pháp: Hôpital militaire) của Quân đội Pháp, thành lập từ năm 1862.

Năm 1956 dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa, chính phủ Pháp ký biên bản tiếp tục điều hành Bệnh viện Grall, thuộc Bộ Ngoại giao Pháp. Bệnh viện có 560 giường, chuyển thành bịnh viện dân sự. Lúc này người Sài Gòn hay gọi tên khác là Nhà thương Đồn Đất.

Năm 1976, sau khi người Pháp rút khỏi Sài Gòn, Bệnh viện Grall chuyển giao cho chế độ mới. Năm 1978 Bệnh viện Grall đổi tên thành Bệnh viện Nhi đồng 2, chấm dứt thời kỳ bệnh viện tổng quát và trở thành bệnh viện chuyên môn nhi khoa.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links: http://vnin21.blogspot.com/2021/


Văn Hóa Áo Dài – Nguyễn Phương

 Bài đọc suy gẫm: Ngày xuân thân chúc bạn đọc và gia đình một năm mới Tân Sửu 2021 an khang, hạnh phúc. Mời xem Văn Hóa Áo Dài tức “Xiêm Áo Ngày Xưa” bài viết với nhiều chi tiết giá trị của cố Soạn giả Nguyễn Phương, hình ảnh chỉ có tính minh họa.

XIÊM ÁO NGÀY XƯA (tản mạn ngày Tết)
Soạn giả Nguyễn Phương (1922-2020)

Khi còn ở Việt Nam, cứ mỗi độ xuân về, tôi có cảm giác là mỗi năm, tôi già đi thêm ba tuổi, chớ không phải như theo lệ thường mỗi năm con người chỉ tăng thêm một tuổi thôi. Tại sao vậy? Vì tôi lo cho công việc gấp ba gấp bốn lần hơn thường ngày. Và bắt đầu lo từ 3 tháng trước Tết, tháng mười một, tháng chạp và tháng giêng dương lịch, tôi lo cho tới ngày mùng một Tết, ngày khai trương tuồng mới của đoàn Thanh Minh Thanh Nga. Sau đó tôi mới được yên ổn mà ăn một cái Tết như mọi người dân bình thường khác.
Xin nói ngay là vì tôi chịu trách nhiệm Giám đốc kỹ thuật của đoàn hát nên mỗi khi tập tuồng mới, nhất là tuồng để hát trong dịp đầu Xuân, dù là tuồng của bất kỳ của soạn giả nào, tôi cũng có trách nhiệm phải chăm sóc phần tranh cảnh, ánh sáng và phục trang cho vở tuồng đó. Tất nhiên là có sự góp ý của soạn giả, họa sĩ và có sự góp sức của các anh sếp ngành chuyên môn ánh sáng, trang trí và phục trang.
Cũng cần biết là từ năm 1950 đến đầu năm 1960, ngoại trừ anh Năm Châu với đoàn Việt Kịch Năm Châu, các soạn giả khác thì phải tùy theo ý thích của ông bà bầu gánh hát mà liệu định cho phần dàn cảnh và phục trang của các diễn viên trong tuồng của mình.
Hồi đầu thập niên 50, nhiều gánh hát cải lương chuyên hát các loại tuồng kiếm hiệp La Mã của các soạn giả Mộng Vân, Năm Nghĩa, Bảy Cao, Quang Phục, Lâm Tồn, nên y phục tuồng hát được may đồng loạt cho các vai Hoàng Tử, Công Chúa, Vua, Hoàng Hậu, Hiệp Sĩ, kẻ cướp, chủ quán và quân lính phe bên nầy hay bên phe đối nghịch. Tuồng nào cũng xử dụng những y phục đó, đổi qua đổi lại, miễn là lạ và đẹp sân khấu, không cần biết có đúng theo mẫu phục trang của dân tộc được quy định trong tuồng hát hay là không.
Chưa kể có những trường hợp ngoại lệ, một vài kép chánh, đào võ mặc trang phục hoàng tử hay công chúa nhưng tự động mang thêm ghết tay, khăn choàng kiểu hiệp sĩ Zéro của phim ảnh Pháp, hoặc để đầu trần chảy tóc kiểu tango, thoa brillantine bóng lưỡng. Lúc đó người ta thấy chướng mắt nên phán cho một câu là ăn mặc lố lăng như cải lương.
Sau năm 1954, hòa bình lập lại, các gánh hát có thể hát thường trực ở một rạp như Kim Chung hát thường trực ở rạp hát Aristo đường Lê Lai và rạp Olympic đường Hồng Thập Tự, gánh hát Thanh Minh hát thường trực tại rạp Thành Xương, sau đó hát thường trực tại rạp Hưng Đạo. Các đoàn hát Bầu Thắng – Minh Tơ hát thường trực tại đình Cầu Quan, đoàn Tấn Thành Ban thường trực tại đình Cầu Muối, đoàn Tấn Thành Ban – Tư Châu hát thường trực tại đình Minh Phụng. Nhiều đoàn hát bội của bầu Minh Biện, bầu Ba Dực, bầu Huỳnh cũng hát thường trực trong nhiều đình ở trung tâm Sàigòn. Đó là chưa kể những đại ban cải lương như đoàn hát Kim Thanh, Kim Chưởng, Hương Mùa Thu, Dạ Lý Hương, Phước Chung, Trăng Mùa Thu, Hoa Sen, Kim Thoa luân phiên hát ở các rạp Nguyễn Văn Hảo, Thành Xương, Quốc Thanh, Thủ Đô, Hào Huê.
Nhiều báo hàng ngày như tờ Saigon Mới, Tiếng Dội Miền Nam, Tiếng Chuông, Trắng Đen đều có trang kịch trường nên thường có bài phê bình các vở tuồng và nghệ thuật diễn xuất của các diễn viên, vì vậy mà các đoàn hát phải thận trọng nghiên cứu về trang trí, phục trang, âm nhạc và lối diễn xuất sao cho đúng với nội dung tuồng.
Trong những năm từ 1955 đến đầu năm 1960, các đoàn hát ít hát loại tuồng kiếm hiệp La Mã kiểu tuồng của soạn giả Mộng Vân mà chuyển qua diễn các vở tuồng thuộc loại Dã Sử Việt Nam và tuồng xã hội Việt Nam. Do đó, là Giám đốc kỹ thuật của đoàn hát, tôi phải đi sưu tầm tài liệu về y trang, nhà cửa và các đồ dùng trong nhà của dân chúng hay các vua chúa khi diễn các vở tuồng dã sử. Những tài liệu đó chỉ có thể tra cứu trong các thư viện của Trung Tâm Học Liệu, Thư Viện Saigon, Thư viện trường Mỹ Thuật Gia Định hoặc ở Viện Bảo Tàng Saigon( trong Sở thú, do ông Vương Hồng Sển làm Giám đốc).
Chỉ nói riêng về y trang, phục trang, diễn tuồng Tàu thì các nhân vật đời Hán, Đường, Tống, Minh thì có thể dùng theo các kiểu phục trang may theo kiểu của các đoàn hát Quảng : long bào, long chấn, áo bố tử, đội mão cửu long hoặc cữu phụng, mão võ tướng hay bịt khăn Anh hùng cân. Chỉ cần chế biến thay đổi đôi chút. Riềng về đời Mãn Thanh thì y phục, trang phục có kiểu mẫu riêng của đời Mãn Thanh.
Hát tuồng dã sử Việt Nam thì phải tốn công nghiên cứu nhiều hơn, kỹ hơn. Một ví dụ nhỏ : Trang trí hình cột rồng trong triều đình trên sân khấu, trên y trang, con rồng thời Lý khác với con rồng thời Trần và cũng khác với con rồng thời Hồ, thời Lê, thời Mạc. Phần lớn các gánh hát vẽ hình con rồng theo lối con rồng của Tàu. . .
Rắc rối nhất không phải là các phục trang của các triều đại bên Tàu hoặc các triều đại của vua chúa Việt Nam xa xôi, vì phần đông khán giả biết hát trên sân khấu là tượng trưng chớ không thể y như thật, phục trang, trang trí của các thời đại đó đều được « cách điệu hóa » rồi. Khán giả tin tưởng là soạn giả, họa sĩ và những nhà thiết kế về phục trang, y trang của đoàn hát có nghiên cứu và vẽ kiểu mẫu đúng nhất để cho thợ chuyên môn thực hiện. Rắc rối nhất mà chúng tôi gặp phải chính là y trang, phục trang của các nhân vật nam, nữ Việt Nam từ đầu thế kỳ 20 đến nay.
Còn nhớ năm 1960, đoàn Thanh Minh Thanh Nga hát vở tuồng » Thầy Cai Tổng Bồi » của tôi và Viễn Châu họp soạn nhưng để tên soạn giả Bảo Quốc( tức Năm Nghĩa) do theo yêu cầu của bà Bầu Thơ nhân dịp giỗ một năm sau ngày mất của nghệ sĩ Năm Nghĩa, chồng bà. Khách được mời dự ngày cúng giỗ nghệ sĩ Năm Nghĩa sẽ xem vở hát Thầy Cai Tổng Bồi, đó là những nhà trí thức, khoa bảng, thân hữu của gia đình bà Bầu Thơ, các vị chủ báo như Trần Tấn Quốc, Vương Hồng Sển, Đinh Văn Khai, luật sư Dương Tấn Trương và hầu hết các ký giả kịch trường nổi danh của thời đó như Nguyễn Ang Ca, Sơn Nam, Tô Yến Châu, Lê Hiền, Phùng Mậu, Tam Ích, Sĩ Trung, Ngọc Linh, Hoài Ngọc, Kiên Giang, Phi Sơn, Trọng Minh…
Tuồng Thầy Cai Tổng Bồi kể một chuyện thời khai hoang của miền đất Càmau vào đầu thập niên 1920, có những nhân vật như thầy cai tổng, hương quản, làng xã, dân nghèo, có đám cưới, có cảnh dân giàu và nghèo ở Saigon cũng vào những năm từ 1920 đến 1930.
Ông Vương Hồng Sển, nhà văn Sơn Nam làm cố vấn cho tôi khi tôi đi sưu tầm các tài liệu cần thiết cho các họa sĩ và thợ may của đoàn hát. Sau đó tôi làm việc với các họa sĩ Thiếu Linh, Phan Phan, Nguyễn Quyền để lo vẽ cảnh trí và mẫu y trang, phục trang; ông Tám Trống và vợ tôi thực hiện các mẫu vẽ y trang.
Quần áo của người bình dân( các vai của Việt Hùng, Ngọc Nuôi, Hoàng Giang, Kim Giác khi còn là nông dân trốn sâu thuế)
Đàn ông lúc làm lụng thường mặc quần đùi hay quần lỡ và chiếc áo lá không cổ, không tay hoặc ngắn tay, được nhuộm màu nâu bằng vỏ cóc hay nhuộm đen bằng vỏ trâm bầu với bùn non. Loại áo quần được may bằng vải ta nên còn gọi là áo bả.
Một loại áo « chít »( áo chiếc) còn được gọi là áo « cổ giữa » hay áo « cổ trịt »( cổ trệt). Áo cổ giữa là áo ngắn, gài nút trước ngực, không bâu, nếu là áo nam thì có xẻ nách, còn áo nữ thì bít kín.
Bài thơ tả Ông Làng hát bội của Học Lạc có nhắc đến loại áo nầy :
Trong bụng trống trơn mang cổ giữa
Trên đầu trọc lóc bịt khăn ngang.
Đàn bà hay đàn ông đều mặc quần đáy lá nem. Chiếc quần có hai màu. Phần đáy và hai ống quần bằng vải màu nâu hay đen. Phía trên là lưng quần cao khoảng hai tấc, may bằng vải xanh hay vải trắng, dùng để vận. Vì vậy mới có câu Quần Vận Yếm Mang để chỉ về người phụ nữ. Nhiều người thích mặc quần rất dài, khi xổ lưng vận ra, kéo thẳng thì đến tận nách nên còn gọi là quần nách. Sợi giây lưng dùng làm điểm tựa để giữ chiếc quần và mớn lưng quần.
Trên đầu thì chít khăn ngang. Kích thước chiếc khăn ngang bằng chiếc khăn rằn sau nầy nhưng chỉ có một màu. Màu chàm hay màu xanh là của những người trẻ tuổi. Màu đỏ là màu của các ông già đạo mạo.
Khăn xéo màu trắng là khăn của giới trung niên. Ca dao có câu : « Để khăn xéo lại, lệ tuôn em chùi » để diễn tả cuộc chia ly buồn bã. Nông dân bịt khăn ngang theo kiểu đầu rìu khi ra ruộng.

Áo dài
Khi tiếp khách, đi chợ hay đi dự tiệc tùng giỗ chạp, người dân Saigon Gia Định đều mặc áo dài. Suốt mấy thế kỷ qua, người dân Saigon Gia Định đã lấy chiếc áo dài làm thường phục vì nó lịch sự và kín đáo.
Những năm 1920 đến cuối năm 1930, phụ nữ bình dân có nhiều người mặc áo dài vải đen, gánh hàng đi chợ bán hoặc mặc áo dài đi cấy. Khi đó họ quấn hai vạt, buộc ngang hông lại.
Áo dài chít ( áo chiếc) là loại áo dài đơn, cổ ngắn, có bâu, tay dài nhưng hơi rộng, gài nút bên phải. Áo chít thường may bằng lụa hay the dùng mặc trong mùa hè.
Áo lót ( áo cặp) là loại áo kiểu dáng như vừa kể nhưng may hai lớp. Lớp trong thường may bằng lụa trơn. Lớp ngoài bằng nhung , gấm hay bằng một loại tơ lụa quí, có hoa văn đẹp. Loại áo lót có cái áo trong dài hơn áo ngoài gọi là Áo Chớn.
Theo ông Vương Hồng Sển thì ở thế kỷ trước, nam giới thuộc từng lớp hào phú hay trí thức cũng mặc Áo Dài Song Khai. Áo Song Khai là loại áo gài nút trước ngực. tay dài, rộng, có bâu hoặc không có bâu, vạt sau được xẻ lên tới lưng, còn hai bên tà thì bít kín nên gọi là Song Khai( tức là mở phía trước và mở phía sau) Người mặc áo song khai thường đội nón chóp, đi giày mã vĩ hoặc giày tàu. Giày Mã Vĩ do người Tàu ở Hạ Châu mang qua bán, kết bằng long đuôi ngựa nên gọi là mã vĩ, còn gọi là giày Hạ.
Theo tục lệ xưa, một chiếc áo dài hoặc ngắn đều phải có năm nút, tượng trưng cho năm giềng mối trong xã hội( Ngũ Luân) là Vua tôi, Thầy trò, Cha con, Chồng vợ và Bạn bè.
May áo phải đâu vạt sau với vạt trước. Do đó áo cổ giữa phải có 4 khổ vải ráp, còn áo vạt hò phải có 5 khổ.
Nút áo ngắn thường kết bằng nút dẹp, làm bằng ốc xa cừ nên được gọi là nút ốc. Nút áo dài thì hình tròn, nhỏ, làm bằng vàng, ngà, mã não hay hổ phách. Nút làm bằng hổ phách còn gọi là nút huyết. Vì nút quí như vậy nên mới có tục lệ khi liệm người chết, người ta cắt lấy nút áo lại.
Khoảng những năm từ 1915 đến 1940, những ông cụ, bà cụ( tuồi từ 60 trở lên) trong những dịp lễ quan trọng, thường mặc chiếc áo thụng năm thân, áo rộng, không eo, dài đến gần mắt cá, vừa trang nghiêm vừa kín đáo. Áo thường được may bằng nhung, gấm với chữ phúc, chữ thọ cho những người giàu. Giới trí thức thường mặc áo dài xuyến đen, đầu đội khăn đóng Suối Đờn, chân đi giày hàm ếch, tay xách dù cán cong hoặc gậy baton.
Sau phong trào Duy Tân( 1915 – 1920) thanh niên cắt tóc ngắn, mặc áo dài với quần tây trắng, đi giày tây đánh sira( cirage) đen bóng.
Khoảng năm 1925, phụ nữ trẻ mặc áo bà ba bằng vải batiste trắng, quần lãnh đen không rộng lắm và đeo kiềng vàng. Phụ nữ lớn tuổi mặc áo bà ba rộng hơn, bên trong còn có áo túi.

Năm 1935, họa sĩ Lê Phổ giới thiệu một kiểu áo dài cho phụ nữ tân thời. Áo được may ôm sát eo, cổ thấp, chiều dài áo ngắn hơn một đoạn. Nút bóp thay cho nút hột. Kiểu áo dài của họa sĩ Lê Phổ cải tiến mẫu áo dài xưa, một sự cách tân dè dặt nhưng kiểu áo đó làm tăng thêm vẽ đẹp của thân hình phụ nữ( eo thon) nhưng vẫn giữ được vẻ đẹp kín đáo nền nếp của phụ nữ Việt Nam. Người ta gọi là áo dài Lê Phổ.
Sau đó vài năm, ông Nguyễn Cát Tường lăng xê loại áo dài Le Mur, đó là một sự cách tân có vay mượn những kiểu dáng của thời trang Tây Âu thời đó như tay phồng, cổ giống áo sơ mi hoặc nhúng bèo, cổ tay cày khuy. Áo dài kiểu Le Mur của ông Nguyễn Cát Tường chỉ tồn tại được vài năm. Dân chúng thích kiểu dáng của Lê Phổ nhưng áo dài thêm cổ cao và vạt dài tới mắt cá. Màu sắc thay đổi vì có nhiều hàng soie Pháp có in hình bông hoa rất đẹp, màu sắc hài hòa, thêm nữa chiếc áo dài có nhấn « ben » khiến cho thân áo dài càng ôm sát eo người mặc nên càng làm tăng thêm vẻ đẹp của thân hình người phụ nữ Việt Nam.
Vào những năm 1940, ảnh hưởng của nền văn minh Tây Âu, các thanh niên nam nữ ăn mặc tự nhiên và dễ dãi hơn. Họ hớt tóc ngắn, các cô cắt tóc bôm bê hoặc uốn lượn, có dùng kẹp tóc, nơ, băng đô…
Từ năm 1954, chiếc áo dài đã được nữ sinh mặc đến trường với kiều tà rộng, eo thắt, cổ cao và ống tay hẹp. Áo dài trắng, áo dài tím, áo dài màu xanh thiên thanh( còn gọi là xanh lơ , bleu) được dùng làm đồng phục của các trường nữ trung học được gọi là áo dài nữ sinh. Và thời điểm nầy đã có một số phụ nữ mặc áo đầm, váy dài quá đầu gối hoặc xếp li…
Năm 1960, mốt ( mode) nhất là áo dài nylon mỏng mặc với quần satin trắng. Vải nylon mỏng có in hoa nhiều kiểu, nhiều dáng thật đẹp. Ngoài ra có những áo dài màu trơn được họa sĩ vẽ bằng tay trên lụa theo mẫu mã của họa sĩ. Loại áo dài vẽ nầy rất quí và độc đáo, mỗi một kiểu áo là một cái duy nhứt, vì vẽ áo dài dù cho mẫu vẽ có giống nhau thì hai cái áo vẽ trước hay sau đều có vài chỗ khác nhau chớ không thể giống in hệt nhau như loại áo được in đồng loạt theo một khuôn mẫu.

Thời gian nầy bà Trần Lệ Xuân (bà Ngô Đình Nhu – hình bìa báo TIME) đã thay đổi cổ áo dài rộng vai, cổ tròn, cổ vuông rồi cổ trái tim, nhưng kiểu áo dài nầy cũng chỉ tồn tại một thời gian ngắn, sau năm 1963, áo dài phụ nữ lại trở về với mẫu áo như áo nữ sinh hay của phụ nữ quí phái trong những năm 1958, 1959.
Năm 1968 – 1970, xuất hiện loại áo dài tay raglan được áp dụng phổ biến cho tới ngày nay.
Sau 1975, người ta ào ạt lăng xê mode mặc quần vải đen, áo bà ba đen, quấn khăn sọc rằn đen trắng quanh cổ, đi dép râu, ngồi chồm hổm trên salon hay trên ghế của các rạp hát để phơi bày cái giai cấp tính nông dân của những kẻ chiến thắng, mong đẩy lùi cuộc sống văn minh, xa hoa của một thành phố Hòn Ngọc Viễn Đông và kéo cả miền Nam giàu có về cái kiếp nghèo cùn mằn của Hà Nội Xã Nghĩa.
Năm 1986, ông Tổng bí thư Đảng CSViệt Nam tuyên bố cởi trói văn nghệ sĩ, vô tình cởi trói luôn cho cái « văn hóa áo dài ».
Áo dài tuyệt đẹp của phụ nữ Việt Nam lại chiến thắng, đánh tan cái mode quần vải đen, áo bà ba đen và khăn sọc rằn đen trắng. Áo dài thời trang phụ nữ đã cho cái mode cùn mằn nầy đi vào quên lãng của thời gian, đi mất tiêu một lượt với cái « đỉnh cao trí tuệ của loài người ».
Ngày Tết ở cái xứ Canada, tuyết bay trắng trời, lạnh buốt xương. Tôi và vợ tôi không xuất hành đi du xuân được, bèn ngồi nhà, uống trà, ăn mứt, cắn hột dưa, kể cho nhau nghe những chuyện « Xiêm áo ngày xưa », đó là một cách « Ôn cố tri tân » để làm quà Tết cho nhau, thay cho lời chúc tết xưa rít xưa rang « Tân Niên Hỉ Sự » hay « Ngũ Phúc Lâm Môn ».
Vợ tôi nhắc lại khi hát tuồng « Thầy Cai Tổng Bồi » năm 1960, Thanh Nga đóng vai con gái của thầy Cai tổng, con gái nhà giàu, Thanh Nga phải bới đầu bánh lái tóc bỏ đuôi gà, đeo kiềng vàng trên cổ. Vì bới tóc kiểu nầy rất khó, tự Thanh Nga hay người giúp việc của cô không bới giúp cho cô được nên bà Bầu Thơ phải mời cô Bảy Phùng Há đến nhà bới tóc dùm và chỉ dạy cho người phụ hóa trang của Thanh Nga.
Đêm khai trương tuồng Thầy Cai Tổng Bồi, Thanh Nga bới đầu bánh lái tóc bỏ đuôi gà, cô mặc áo dài lở màu hường, quần satin trắng, mang guốc sơn. Từ xưa tới giờ, cô chưa từng đi guốc, sợ không quen, ra sân khấu đi guốc vấp váp lôi thôi nên cô mới tập mang guốc đi bộ trên đường ra rạp hát.
Đường Hưng Đạo vào buổi chiều, xe cộ chạy ào ào, bỗng dưng một số xe gắn máy dừng lại, xe hơi cũng tấp vô lề đường, nhiều người dắt xe đi bộ, quay lại tà tà đi theo hướng về rạp Nguyẽn Văn Hảo. Trên lề đường người ta đi đông nghẹt như một cuộc biểu tình! Thì ra có người phát hiện là Thanh Nga, cô đào khả ái nhứt của sân khấu cải lương, ăn mặc như một cô gái nhà giàu xưa, đang đi bộ trên đường. Họ đi theo coi mặt Thanh Nga, hỏi chuyện Thanh Nga. Có người hát lớn tròng ghẹo : Chị kia bới tóc đuôi gà, Nắm đuôi chị lại, hỏi nhà chị đâu? Mọi người đi vây quanh Thanh Nga cười ồ lên. Bất ngờ Thanh Nga vui vẻ đáp : Nhà tôi ở dưới khóm dâu, Ở trên đám đậu, đầu cầu ngó qua…

Nữ minh tinh Thanh Nga.
Khoảng cách giữa người khán giả và diễn viên sân khấu bỗng nhiên không còn nữa. Họ đi theo Thanh Nga tới rạp hát, cười nói ồn ào, thân mật. Có nhiều người vô mua vé xem hát như muốn kéo dài ra cái giây phút thân mật giữa họ với ngôi sao thần tượng.
Hơn 40 năm trôi qua, nhắc chuyện xiêm áo ngày xưa là chúng tôi nhớ đến Thanh Nga, một diễn viên tuyệt đẹp, dễ thương, khi Thanh Nga mặc bất cứ y phục nào thì Thanh Nga cũng làm tăng thêm sắc đẹp của cô và tăng thêm giá trị của bộ y phục đó. Trên sân khấu, Thanh Nga trở thành người mẫu thời trang ngoài ý muốn của cô vì sau khi hát những vở tuồng xã hội, mẫu phục trang nào được Thanh Nga dùng đến thì hầu như các hiệu may áo dài và thời trang cũng bắt chước may cho các nữ thân chủ của họ.

Nguồn Face book Hoàng Lan Marie Curie

Cố soạn giả Nguyễn Phương (1922-2020) ngành Cổ nhạc miền nam.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links: Face book Hoàng Lan Marie Curie

 

 

 

 

 

 

 


Những Con Chim Lạc Loài – Nguyễn văn Vinh

Bài đọc suy gẫm: Nhân dịp Giáng sinh đang đến, Blog Mười Sáu thân chúc các độc giả gần xa mùa Noel an bình. “Những Con Chim Lạc Loài” là câu chuyện về những hoạt động của Biệt kích Dù tại Bắc việt do Trung tá Nguyễn văn Vinh tường thuật lại, ông cũng là người trực tiếp phụ trách các toán Biệt kích Dù được thả xuống miền bắc. Nguồn bài viết từ Hội quán Phi Dũng, trang Web của Không quân Việt Nam Cộng Hòa. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Vài Nét Về Hoạt Động Biệt Kích Dù Tại Bắc Việt - Trung Tá Nguyễn Văn Vinh

Vài Nét Về Hoạt Động Biệt Kích Dù Tại Bắc Việt
Trung Tá Nguyễn Văn Vinh

—oo0oo—


Lời Tòa Soạn (Hội quán Phi Dũng): VNCH đã giữ vững được cuộc sống tự do trong suốt 21 năm ngắn ngủi nhưng đầy gian truân, máu và nước mắt, đầy sự hy sinh của biết bao nhiêu người.

Trong số những sự hy sinh đó, phải nói tới sự hy sinh của người lính Biệt Kích Dù hoạt động tại Bắc Việt. Số phận của họ rất bi thảm khi bị kẹt tại Bắc Việt. Bảng tổng kết sơ khởi cho biết trong số những Biệt Kích Dù được thả ra miền Bắc có 7 người đã bị CS tuyên án tử hình và đã bị hành quyết, 9 người tử trận, 21 người chết trong các trại tù khổ sai miền Bắc, 7 người chết sau khi được thả về, 2 người mất tích khi thi hành nhiệm vụ, 11 người bị chỉ định phải định cư tại các nông trường hay hợp tác xã miền Bắc. Đa số những người còn lại đều bị tra tấn dã man và bị bắt lao động khổ sai trong những trại tù khắc nghiệt nhất. Tại sao hầu hết các biệt kích thả xuống miền Bắc đã bị CS bắt?


Bài viết sau đây là của Trung Tá Nguyễn Văn Vinh, người trực tiếp phụ trách các toán Biệt Kích Dù được thả xuống Bắc Việt, sẽ cho chúng ta biết những nét đại cương về tổ chức các đơn vị Biệt Kích, các hoạt động của họ và cách thức điều hành của cơ quan tình báo Hoa Kỳ.


*********


Vài nét về hoạt động của Biệt Kích Dù tại Bắc Việt
Ít ai biết đến các tên P45, Sở Bắc hay Sở Khai Thác, tiền thân của Nha Kỹ Thuật Bộ Tổng Tham Mưụ Đó là những bí danh của một cơ quan tình báo chiến lược, được thành lập từ cuối năm 1958, đặt trực thuộc Phủ Tổng Thống và nằm trong mạng lưới chỉ huy của Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt VNCH. Cơ quan này được Hoa Kỳ yễm trợ cả về tài chánh lẫn các phương tiện cần thiết để thực hiện cuộc chiến tranh không quy ước chống miền Bắc CS.

Sau Hiệp dịnh đình chiến Geneva, vĩ tuyến 17 được chọn làm vùng phi quân sự và sông Bến Hải là biên giới thiên nhiên, ngăn cách 2 miền Nam Tự Do và Bắc CS. Quân đội viễn chinh Pháp, dưới áp lực của Hoa Kỳ, đã phải kéo cờ tam tài xuống khỏi dinh Norodom, nhường chỗ cho quốc kỳ VN tung bay tại dinh Độc lập vừa được đổi tên và đổi chủ. Để đáp lại, quân đội Pháp đã không nương tay, xóa sạch mạng lưới tình báo mà họ đã khổ công gầy dựng trong nhiều năm tại miền Bắc. Đây là một sự thiệt hại khá lớn cho ngành tình báo non trẻ của miền Nam. Trong khi đó, CS đã để lại tại miền Nam vô số cơ sở tình báo mà họ đã gầy dựng trong suốt thời kỳ chống Pháp, trong đó phải kể đến các thân nhân của các cán bộ và bộ đội tập kết. Thêm vào đó, các khuyết điểm to lớn chồng chất của 2 chế độ lỗi thời Thực dân dân và Phong kiến đã làm mồi nuôi dưỡng các phong trào chống đối trong nội bộ miền Nam, rất thuận lợi cho các cán bộ CS nằm vùng khai thác.

Dù vậy, ngành tình báo miền Nam, tuy phải xây dựng trễ và phải đặt nền móng từ đầu, nhưng lại được hưởng ứng nồng nhiệt vì đa số người Việt thời ấy, nhất là đồng bào di cư, các bộ lạc dân tộc thiểu số, các đảng phái chính trị và tín đồ các tôn giáo, đã thấy rõ bộ mặt gian dối của CS. Có người đã chứng kiến những vụ tàn sát hay đấu tô dã man các thành phần quốc gia yêu nước nhưng bất đồng chính kiến với CS và có khi họ chính là thân nhân của các nạn nhân đó. Ngoài ra, những tài liệu sống động như cuốn phim Chúng Tôi Muốn Sống đã gây được một ấn tượng ghê tởm CS trong mọi tầng lớp nhân dân miền Nam.

Nắm được các yếu tố thuận lợi trên đây, Sở Bắc đã gấp rút gửi nhân viên đến các trại định cư, liên lạc với các vị lãnh dạo tinh thần cũng như các bộ lạc dân tộc thiểu số, chiêu mộ các thanh niên nhiệt tình yêu nước còn thân nhân ở tại miền Bắc, để cấp tốc đưa về huấn luyện và tạo vỏ bọc thuận lợi, đưa họ về quê quán hoạt động.

Từ những năm đầu tiên đến năm 1966, các toán xâm nhập miền Bắc thường xử dụng một trong những phương cách sau đây:

– Nhảy dù đêm vào vùng mục tiêu.
– Xâm nhập đường biển bằng thuyền mẹ, và từ đó xử dụng thuyền con bơi vào vùng công tác.
– Xâm nhập vào vùng phi quân sự, vượt sông Bến Hải và lén lút đi bộ vào điểm công tác, móc nối với thân nhân đã nằm vùng, hoặc giới chức được tín nhiệm tại địa phương. Trường hợp sau này thường phải xử dụng “bona fides” để nhận nhau.
– Cử chuyên viên phục vụ tại Tòa Đại sứ của một vài nước thứ 3 như Lào, Cam-bốt, Pháp, Thái Lan hay Hong Kong…rồi từ đó tuyển mộ và huấn luyện các công tác viên có khả năng, và tạo cho họ cái vỏ bọc thích hợp cũng như giấy tờ hợp lệ để họ dễ dàng xâm nhập vào miền Bắc hoạt động. Phương pháp này đã được điều nghiên tỉ mỉ, nhưng vì quá tốn kém nên chỉ được thực hiện từng giai đoạn.

Tuy có nhiều hình thức xâm nhập khác nhau như vừa trình bày trên, nhưng trong bài này, tôi (Trung tá Nguyễn Văn Vinh) chỉ xin đề cập đến những toán Biệt Kích xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng không mà thôi, vì đây la phần việc mà chính tôi đã đảm nhận trong nhiều năm tại cơ quan tình báo chiến lược này.

Những chuyến bay đêm
Các toán Biệt Kích Dù thường được thả xuống miền Bắc vào những đêm trăng. Mùa trăng thuận lợi cho công tác này bắt đầu từ ngày mồng 10 – 20 âm lịch hằng tháng. Giờ giấc được chọn tùy thuộc vào điều kiện an ninh và thời tiết tại vùng công tác. Để có đủ phương tiện đối phó với các bất trắc có thể xảy ra khi toán chạm đất, các nhân viên Biệt Kích Dù phải mang theo các trang bị cá nhân khá nặng nề. Ngoài súng tiểu liên Swedish K. của Thụy Điển hoặc Sten của Anh hay Uzi của Do Thái có trang bị ống giảm thanh và 3 đơn vị hỏa lực, họ còn phải đèo thêm các dụng cụ khác trên 20 món, nào bidon nước, bản đồ vùng mục tiêu, địa bàn, lựu đạn, 3 ngày lương khô, đèn bấm, pamean, dao găm, túi cứu thương cá nhân, cà mèn, pháo hiệu (pen flare), đồng hồ đeo tay, radio, v.v…


Các dụng cụ này thường được mua ở các nước thứ 3 và không một trang cụ nào được mang nhãn hiệu Hoa Kỳ hay miền Nam VN. Các đồ trang bị tập thể nhưng dụng cụ phá hoại, đồ cứu thương, lương thực dự trữ dùng cho 3 tháng, v.v…đều được đóng thành kiện. Máy truyền tin dự trữ và máy beacon là máy phát tín hiệu có tầng số nhất định, được đặt tại kiện hàng só 1. Các toán viên khi nhảy dù xâm nhập vào đêm, chiếc dù có thể bị ảnh hưởng của gió, bạt ra xa cách bãi thả 1-2 km. Nhưng nhờ các radio cá nhân, họ có thể dễ dàng bắt tín hiệu từ máy beacon phát ra, để đi về hướng tập trung.

Thông thường, các nhân viên quê quán vùng vào được thả về mục tiêu vùng đó. Để đảm bảo an ninh cho công tác, mục tiêu và nhiệm vụ của toán chỉ được thuyết trình vào giờ chót, trước khi lên máy baỵ Các chuyến xuất phát trong những năm đầu đến năm 1964, chính cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ đã yểm trợ cho các chuyến bay bí mật này và lộ trình duy nhất được xử dụng là Tân Sơn Nhất – Đà Nẵng – Vùng mục tiêu.

Tại Đà Nẵng, đợi lúc trời tối, phi cơ cỡi bỏ hết mọi huy hiệu trước khi khởi hành xâm nhập vào vùng hành quân. Phi cơ được xử dụng là loại DC7 hoặc DC6. Phi hành đoàn thường là người Trung Hoạ Tuy nhiên, cũng có lúc phi hành đoàn là người VN, được tuyển chọn trong số sĩ quan có khả năng và được tín nhiệm nhất của Không Quân Việt Nam. Phó TT Nguyễn Cao Kỳ hồi còn mang lon Đại úy, đã nhiều lần làm phi công chính thức cho các phi vụ đặc biệt này. Đến cuối năm 1966, Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ rút vào bóng tối, nhường chỗ cho MAC-SOG, một cơ quan tình báo quân sự, thay thế yểm trợ cho Nha Kỹ Thuật.

Khi cường độ chiến tranh VN đi đến giai đoạn khốc liệt nhất thì nhu cầu tin tức gia tăng cao, do đó số toán Biệt Kích Dù hoạt động phải được tăng cường nhiều hơn. Các phương tiện xâm nhập cũ được thay thế bằng C123 hoặc C130 và nơi phát xuất được chuyển sang Nakor-Phanum, một sân bay nằm sát biên giới Thái-Lào hoặc sân bay don nằm ở phía Đông -Bắc Thái Lan. Từ các nơi đó các toán Biệt Kích Dù được chuyển qua trực thăng CH3 để bay băng qua lãnh thổ Lào, tiến về vùng mục tiêu nằm trên ranh giới Lào-Việt. Cũng có lúc mục tiêu được lựa chọn nằm sâu trong nội địa Bắc Viêt.

Trực thăng là phương tiện xâm nhập vừa rẻ tiên vừa tiện lợi nhưng lại là phương tiện kém an toàn nhất, vì tiếng động cơ quá lớn, địch dễ phát hiện. Phải chăng đây là một trong những nguyên nhân thất bại của công tác Biệt kích tại miền Bắc? Vấn đề này đã được phía VN quan tâm và nêu lên nhiều lần trong các phiên họp Việt-Mỹ, nhưng phía đối nhiệm không quan tâm.

Số phận những con chim lạc loài
Đến cuối năm 1968, trong số gần 40 toán được cho xâm nhập bằng đường hàng không và đường bộ để hoạt động dài hạn, chỉ con có 5 toán là còn giữ được liên lạc với Trung ương, đó là các toán Tourbillon (1962), AreÀs (1962), Remus (1963), Easy (1963) và Eagle (1963). Theo đánh giá chung của các chuyên viên hữu trách Việt – Mỹ. thì cả 5 toán này hình như đã bị địch kiểm soát, nhưng cá nhân tôi vẫn còn tin tưởng một toán, đó là toán Ares. Sự tin tưởng này có thể đúng vì lý do sau đây:

Vào những năm đầu ở trại cải tạo, tôi thường bị cán bộ, không biết thuộc cơ quan nào và cấp nào, đã thay nhau thẩm vấn tôi về các toán Biệt Kích. một trong những lần thẩm vấn ấy, tôi bị 3 tên cùng một lúc thay nhau hạch hỏi suốt buổi sáng, khiến tôi không còn sức chịu đựng, tôi đã bị gục ngã vì tức giận và xây xẩm. Họ cho người dẫn tôi về phòng, nhưng 2 giờ sau lại kéo tôi lên tiếp tục thẩm vấn. Họ dùng đủ trò ma giáo “hỉ, nộ, ái, ố”,…lúc thì mời tôi hút thuốc lá “có cán” (tức loại thuốc có đầu lọc, một loại thuốc cao cấp vào thời ấy), lúc lại đập bàn quát mắng, khinh bĩ. Họ chưa bao giờ đánh đập tôi lúc thẩm vấn, nhưng họ đã dùng những lời rất cộc cằn và thô lổ để áp đảo tinh thần tôi.

Một điều làm tôi quan tâm hơn cả là họ hỏi tôi rất nhiều về toán Ares, như trưởng toán tên gì, quê quán ở đâu, tuổi tác độ bao nhiêu, dáng điệu bên ngoài như thế nào, có những đặc điểm gì, những liên hệ gia đình, địa chỉ của các người thân lúc ở miền Nam, v.v… Tôi thầm nghĩ nếu Ares đã thật sự nằm trong tay họ thì mắc mớ gì họ phải hỏi tôi những chuyện thừa thải ấy. Tôi có lý do để không trả lời họ, vì Ares đã xuất phát năm 1962, trước khi tôi được thuyên chuyển về Sở Bắc. Tuy nhiên, hôm nay tôi xin nói ra đây những gì tôi có thể nói ra được. Một vài chi tiết khác tôi thấy chưa thể tiết lộ lúc này vì có thể phương hại đến sự an toàn của toán đó, nếu quả thật toán đó đến nay vẫn còn dấu được tung tích.

Ares hay Hạ Long có tên thật là…, một cán bộ trung cấp và là đảng viên CS bị khai trừ vì bất mãn. Anh đã theo đoàn người di cư vào Nam năm…và được một giới chức miền Nam báo cáo lên ông Ngô Đình Nhu, Tổng Thống Diệm và ông Nhu đã lưu tâm và giúp đỡ cho người này. Sau dó, Sở Bắc đã cử người đến tiếp xúc thuyết phục và bố trí cho anh trở về Bắc hoạt động. Anh đã đồng ý và đã được đưa xâm nhập vào Vịnh Hạ Long năm 1962, rồi từ đó tiến dần về cảng Hải Phòng và nhà máy điện Uông Bí. Đây là 2 mục tiêu mà anh có nhiệm vụ theo dõi và báo cáo mọi sinh hoạt. AreÀs tỏ ra rất tích cực trong mọi nhiệm vụ giao phó, và điều rất kỳ lạ là anh đã mộ mến Tổng Thống Ngô Đình Diệm một cách khác thường. Hàng năm, trước ngày Song Thất hoặc 26/10, anh đều có đánh điện chúc mừng TT Diệm và nguyện trung thành phục vụ tổ quốc. Khi nghe tin TT Diệm bị giết qua đài phát thanh, anh rất thắc mắc và sau khi được Trung ương xác nhận, anh đã tỏ ra chán nản tột độ. Dù vậy, anh vẫn thi hành mọi công tác giao phó một cách chu đáo. Những chuyến tàu cập bến Hải Phòng, nhất là các tàu chở vũ khí hay quân dụng, đã được anh theo dõi và báo cáo khá chi tiết. Ngoài nhiệm vụ trên, anh còn báo cáo kết quả oanh tạc của một số mục tiêu khác nhau như cầu Hàm Rồng và nhà máy điện Uông Bí ở quanh vùng Hải Phòng.

Để giúp anh thi hành nhiệm vụ trong thời gian anh bị bị bịnh sốt rét, Trung ương đã chấp thuận đề nghị của anh, tuyển mộ thêm người em ruột và một hai người khác trong họ hàng, để phụ anh thực hiện quan sát các mục tiêu ở xạ Trong những năm 1966, 1967 và 1968, bệnh sốt rét của anh trở nên trầm trọng, nhưng Trung ương không tiếp tế cho anh được vì địa điểm nhận tiếp tế của anh nằm trong Vịnh Hạ Long đã bị lộ. Thêm vào đó, vùng biển Hải Phòng bị Mỹ gài mìn khiến mọi cố gắng tiếp tế bằng thuyền cho anh đều không thể thực hiện được.


Khoảng giữa năm 1968, do lời yêu cầu của phía VN, Hoa Kỳ đã tìm được kế hoạch tiếp tế cho AreÀs. Trung ương báo ngay cho ahn tọa độ một số bãi thả tiếp tế và yêu cầu toán đến tận nơi nghiên cứu và báo ngay địa điểm ưu tiên được chọn. Sau khi nhận phúc đáp, Trung ương đã hướng dẫn các chi tiết mà toán phải thi hành để có thể nhận tiếp tế đúng như dự liệu. Đến ngày N, giờ G, một đoàn phản lực đã xuất hiện bắn phá một số mục tiêu ở Hải Phòng, cùng lúc đó một phản lực cơ khác đã bắn một thùng “container” đựng hàng tiếp tế xuống thửa ruộng đã ấn định và được AreÀs đánh dấu bằng 2 cụm khói trắng như đã chỉ thị. Cách tiếp tế này đã được thực tập 2 lần tại trại Long Thành và cả 2 lần đều đem lại kết quả mong muốn. Trong container đựng hàng tiếp tế, ngoài lương thực, thuốc men, áo quần còn có 10 khâu vàng để toán trao đổi thực phẩm hoặc thuốc men mỗi khi cần đến. Ngoài các vật dụng trên, còn có 4 lá thơ, trong đó có một lá thơ thăm hỏi của Trưởng công tác, còn 3 lá thơ khác được dán bì kín. Toán được chỉ thị dán tem vào và tuần tự gởi đến một địa chỉ trung gian tại Thái Lan. Mỗi thơ đều có dấu hiệu riêng mà toán không được biết lý do.

Chỉ trong một thời gian ngắn, 2 thơ có nội dung thường đã đến tay người nhận, thơ còn nguyên si không bị mở, nhưng thơ thứ 3 có “gài” một tài liệu bí mật giả tạo lại không đến tay người nhận. 2 tháng sau, khi dược Trung ương hỏi về lá thơ này thì toán cho biết, trên đường di tới bưu điện, bị còi báo động, đương sự phải chạy tìm hầm trú ẩn, không may đánh rơi lá thơ xuống vũng bùn nên đương sự đã không gửi. Lý do này đã khiến bạn đồng minh Hoa Kỳ nghi ngờ lòng trung thành của Ares

Nhiệm vụ mới
Đến năm 1968, sau đợt tấn công của địch vào dịp Tết Mậu Thân, Nha Kỹ Thuật phải lãnh nhận thêm rất nhiều công tác ngoại biên với những toán mới được thành lập : – Các toán STRATA là những toán quân nhân được huấn luyện thuần thục để thi hành những công tác đột kích hay phá hoại các căn cứ địch nằm trên lãnh thổ Bắc Việt. – Các toán PICK-HILL là những toán người Miên gốc Việt hoạt động trong lãnh thổ Cam-bốt, có nhiệm vụ quan sát và phá hoại các căn cứ địa của VC nằm trên lãnh thổ nước láng giềng Cam-bốt. – Các toán EARTH-ANGEL, còn được gọi là Đề Thám, là những toán được thành lập với thành phần tù binh bộ đội Bắc Việt hồi chánh. Các toán này hoạt động rất đắc lực, được trang bị như bộ đội chánh quy miền Bắc. Nhờ đó họ len lỏi vào vùng địch khá dễ dàng và đã nhiều phen lập được nhiều thành tích đáng kể. Một số toán viên sau dó đã gia nhập Quân đội VNCH. – Các toán SINGLETON hoạt động riêng biệt từng cá nhân. Họ là những Việt kiều từng sống nhiều năm tại Cam-bốt, được móc nối trở lại hoạt dộng nằm vùng tại Mimote, Krek, Sihanoukville, Kratié, Ba Thu, v.v… Đây là những nơi địch đặt căn cứ quân sự và hoạt động rất mạnh. Các nhân viên này có nhiệm vụ theo dõi, báo cáo hoạt động địch và hướng dẫn phi cơ oanh tạc lúc cần thiết.


Ngoài các toán hoạt động như trên, còn có chương trình công tác lừa địch và ly gián địch, được gọi là chương trình Borden, mà toán viên là những tù binh bộ đội Bắc Việt cứng đầu. Họ được học nhảy dù vài hôm trước khi được trang bị như một toán viên rất trung thành của miền Nam : một bản đồ, lệnh hành quân, thơ giới thiệu, v.v… Các thứ này được dấu kín trong áo nhảy và chỉ được trao cho toán viên tù binh cứng đầu mặc vào trước khi được thả dù xuống vùng địch chiếm đóng.

Các chương trình mới này đã đem lại những kết quả hết sức khích lệ, nên phía Hoa Kỳ đã yêu cầu phía VN chấm dứt liên lạc với 5 toán còn lại ở miền Bắc, bằng cách ra lệnh cho các toán ấy tìm cách xâm nhập qua Lào, trinh diện với bộ đội Vang Pao hoặc rút về miền Nam… Tuy nhiên, nhiều tháng sau khi lệnh được ban hành, không một toán nào xuất hiện.

Hướng về những người anh em kiêu hùng
Các Biệt Kích Dù bị CS bắt đã phải chịu đủ thứ cực hình. Tuy vậy, họ vẫn giữ vững tinh thần quốc gia và đồng đội. Thái độ cương quyết của họ đã phải làm các cán bộ CS khâm phục và gọi họ là những người “không cải tạo được”. Mãi đến một thời gian lâu sau khi VNCH bị chiếm đóng, CS mới tuần tự tạm trả tự do cho các tù nhân Biệt Kích. Người được trả sớm nhất đã phải ở tù suốt 15 năm và người lâu nhất trên 20 năm. Khi họ trở về, chúng ta đã biết thêm được nhiều chuyện đã xảy ra khi họ công tác tại Bắc Việt. Tuy nhiên, vẫn còn một số toán bặt tin, trong đó có toán VOI do anh Trần Hiếu Hòa làm trưởng toán cùng với 4 toán viên. Toán AreÀs mà tôi đã đề cập ở trên và một vài toán khác nữa, cũng đang nằm trong danh sách những toán mất tích này. Phải chăng họ đã bị thủ tiêu hay đã hy sinh trên đường thi hành nhiệm vụ. “Hy sinh trong bóng tối, tất cả vì Tổ quốc”, đó là phương châm hành động mà mọi Biệt Kích đã chấp nhận khi gia nhập vào binh chủng này.

Tôi còn nhớ năm 1970, các sĩ quan trong Bộ chỉ huy Nha Kỹ Thuật đã được xem một cuốn phim mà một đơn vị VNCH vừa tịch thu được của bô đội Bắc Việt khi tấn công vào một căn cứ địch ở Mimot, Cam-bốt. Cuốn phim ghi lại phiên tòa xét xử một toán Biệt Kích mang tên toán Jackson, hoạt dộng tại vùng Nghệ Tĩnh. Bản cáo trạng rất dài, luận tội rất nặng “nào là tay sai đế quốc Mỹ, tay sai Ngô Đình Diệm, nào là xúi dục nhân dân lật đổ chính quyền và phá hoại tài sản nhân dân, v.v…

Toán Jackson đã bị bắt toàn bộ với tất cả vũ khí và chất nổ khi toán phá chiếc cầu thứ 2 tại Cửa Lò. Hầu hết toán viên đã lãnh án tử hình, chỉ 1-2 người lãnh án chung thân. Điều làm anh em chúng tôi xúc động và hãnh diện, là được chứng kiến thái độ hiên ngang và bình tĩnh của các toán viên khi bản án tử hình được tuyên đọc. Theo lời một nhân chứng quê ở Thọ Ninh, bà con với một toán viên cho biết, 6 người lãnh bản án tử hình đã bị bắn ngay sau đó, và lời nói cuối cùng của họ là : Việt Nam Cộng Hòa muôn năm! Tổng Thống Ngô Đình Diệm muôn năm!


Anh em chúng tôi là nững người đã đi qua nhiều trại cải tạo ở miền Bắc và đã được nghe nói rất nhiều về những việc làm đáng phục của anh em Biệt Kích. Trong số đó có các vị linh mục, đại đức tuyên úy, các bạn bè của tôi đã sống chung trại với các anh ấy. Ngoài ra, các tù hình sự miền Băc mà đa số chúng tôi thường gọi họ bằng danh từ “bọn hình sự”, vì phần đông họ thuộc thành phần bất hão, trộm cướp, đâm chém, giết người…khi được hỏi về anh em Biệt Kích thì họ tỏ vẻ rất khâm phục. Họ nói với tôi :”Các anh Bê Ka là những người rất hào hùng, cán bộ trại cũng phải nể, các anh ấy rất kỹ luật và đoàn kết với nhau, họ thương nhau và giúp đỡ nhau. Khi một người bị biệt giam được thả hay bị ốm, là các anh khác tìm cách giúp đỡ. Dù ai cũng đói, nhưng họ nhịn bớt phần ăn để bồi dưỡng cho anh em bị bệnh hay bị ốm. Đã có những anh Bê Ka cướp súng bắn cán bộ rồi chạy thoát, có nơi các anh toàn bộ đứng lên làm reo tuyệt thực không đi lao động, nhưng cán bộ trại cũng đành phải làm ngơ…”

Riêng cá nhân tôi, trong 13 năm cải tạo, đã không may mắn gặp lại các anh em Biệt Kích, nhưng tôi không bao giờ quên những con người hào hùng cùng chung lý tưởng đã cùng chung sống với nhau trong tình huynh đệ chân thành. Tôi là người đã từng sống chung với họ ở trại huấn luyện Long Thành và lúc họ lên đường đi công tác., tôi đã tiễn chân hoặc nhiều khi đã cùng vói họ bay vào vùng mục tiêu xâm nhập, đưa tay vẩy chào họ khi họ rời máy bay… Những kỷ niệm đó khó quên được.

Những kỷ niệm khó quên
Tôi nhớ lại năm xưa, có lần trước ngày lên đường công tác, tôi lái xe đưa một nhân viên của tôi đến thăm lần cuối người bạn gái, hay nói đúng hơn, một người yêu, có nhà ở hẽm xứ Bùi Phát, trên đường Trương Minh Giảng, nay đổi tên là Lê Văn Sỹ. Đến nơi, người thanh niên ấy vội vã bước xuống xe như muốn tận dụng những giây phút ngắn ngủi và quý báu còn lại… Khoảng 10 phút sau, anh trở ra với người bạn gái đi theo tiễn chân, trên tay anh còn mang một gói quà nhỏ mà tôi đoán chắc đó là quà kỷ niệm của người yêụ Họ nhìn nhau, mắt đẫm lệ, và tôi chỉ biết im lặng cảm thông nỗi buồn chan chứa đang xâm chiếm 2 tâm hồn… Xe chạy được một quãng đường, người thanh niên ấy quay nhìn tôi, vừa nói vừa mở món quà :”Đây, anh xem, quà cô ấy tặng em”. Tôi liếc nhìn, thấy một nắm tóc thề được gói trong một chiếc áo lót. Cả hai chúng tôi đều im lặng trên đường về trại.

Lần khác, một nhân viên của tôi cũng sắp lên đường, anh đến gặp tôi và trao cho tôi một chồng thơ khá dày đã đề bì sẵn và nói: “Anh Dũng, anh biết em là con một, em đi nhưng em đã không dám nói thật với mẹ em. Vì vậy, em nhờ anh mỗi tháng đến thăm mẹ em và trao cho em. em một bức thơ này, nói là em đang đi học ở ngoại quốc gửi về để mẹ em yên tâm”.

Tôi xúc động nhìn người thanh niên ấy với tất cả lòng yêu thương và mến phục. Tôi đã nhận thơ anh giao và hàng tháng, tôi đã đến thăm mẹ em và trao cho bà quả phụ ấy bức thư của con bà… Nhưng đau đớn thay, lá thơ cuối cùng của anh đã được trao mà “khóa học” của anh vẫn chưa mãn.

Hai nhân viên Biệt Kích mà tôi vừa kể trên đây, cả 2 đều trở về từ cõi chết, sau gần 20 năm sống trong lao tù CS, một anh hiện đang sống ở Cali, đó là anh Lâm, em ruột của anh Nguyễn Ngọc Trâm, còn người kia, trước ngày tôi rời Saigon, anh ấy đang vất vã hành nghề thợ mộc ngoài Vũng Tàu. Hy vọng một ngày không xa, anh Độ cũng như bao nhiêu anh hùng Biệt Kích khác còn ở VN sẽ được đoàn tụ với chúng ta tại quê hương thứ hai này.

Trung Tá Nguyễn Văn Vinh

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links

Hội quán Phi Dũng

 http://xaydunghouston.com/TuyBut/688bietkicha.htm


Mặc áo dài thâm, đi dép – Song Lê

Bài đọc suy gẫm: Nhân ngày giỗ 2 tháng 11 hàng năm, Blog 16 trích đăng “Mặc áo dài thâm, đi dép”, đây là câu truyện của Pháo thủ Lê Châu Lộc, sĩ quan tùy viên Tổng thống Ngô Đình Diệm kể một ít việc đơn sơ trong cuộc đời của vị Tổng thống bình dị này.  Bài phỏng vấn do tác giả Song Lê thực hiện.

Pháo thủ Lê Châu Lộc nói chuyện về Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Trích trong quyển Kỷ Yếu Pháo Binh QLVHCH 2010)

Song Lê

Người viết bài này quen biết pháo thủ Lê Châu Lộc vì vừa là đồng nghiệp pháo thủ vừa cùng chung đơn vị với nhau trong những năm 1956, 57, và 58 tại Bình Thủy Cần Thơ, và Trảng Bàng Tây Ninh.

Anh là một Sĩ quan Pháo binh Việt Nam Cộng Hòa có quá trình phục vụ và thăng tiến khá đặc biệt. Tốt nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Khóa 5 – Vì Dân. Học Pháo Binh Tại Trường Pháo Binh Phú Lợi, tu nghiệp pháo binh ở Châlons-sur-Marnes (Pháp) và Fort Sill (Hoa Kỳ), từng là huấn luyện viên ở nhiều Trường Pháo Binh trong nước (Phú Lợi, Dục Mỹ) và ngoài nước (Fort Sill USA). Đơn vị chiến đấu đầu tiên Anh phục vụ là Tiểu Đoàn 21 Pháo Binh. Rồi Trường Đại Học Quân Sự, rồi Lữ Đoàn Liên Binh Phủ Tổng Thống. Cuối năm 1959 Anh là Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm cho đến ngày đảo chính 1-11-1963. Rồi Pháo Binh Quân Đoàn III và Trường Pháo Binh.

Anh xin giải ngũ sau ngày đảo chính và được giải ngũ năm 1965. Thi tuyển vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Tốt nghiệp Đốc sự khóa 13 và Cao học Hành chánh khóa 5. Nghiên cứu hậu Cao học về Quản Trị Phát Triển tại các trường Đại học London, Oslo, Dublin. Tham quan các hệ thống Phát triển và Phòng vệ tại Do Thái và Ấn Độ. Giảng viên Trường Quốc Gia Công Tác Xã Hội (Saì Gòn). Cuối năm 1969 Anh tham gia Liên danh Bông Huệ của Luật sư Nguyễn Văn Huyền, đắc cử vào Thượng Nghị Viện VNCH. Anh là Nghị sĩ cho đến 30 tháng Tư Đen, 1975.

Khi lưu vong ở nước ngoài, trong suốt 23 năm (1975-1998), cựu pháo thủ Lê Châu Lộc hoạt động không ngừng ở khắp Á, Âu, Phi, Mỹ cho công việc cứu trợ những người tỵ nạn Cộng sản. Phần quan trọng hơn gồm việc thiết kế và điều khiển các dự án chương trình viện trợ phát triển vững bền cho các quốc gia trong khối đệ tam thế giới khắp Á, Phi, Đông Âu và Trung Đông. Anh về hưu năm1998 tại Hoa Kỳ. Mặc dầu Anh đang hưu trí, người ta vẫn thấy Anh xuất hiện trong các hoạt động truyền thông, xã hội, chính trị khi cái lão và cái bệnh không “hành hạ” Anh quá mức.

Người viết, cũng như những ai từng quen biết Anh trong Pháo binh, trong Thượng viện, hoặc ở các lãnh vực hoạt động khác của Anh, đều tìm thấy nơi Anh một người bạn, người cộng sự, người chỉ huy vui vẻ, từ tốn, năng động trong công việc, có tinh thần trách nhiệm, có đạo tâm, và đáng tin cậy.

Người viết nghĩ rằng bạn đồng đội trong quân ngũ cũng muốn nghe người bạn này hiện là một trong số ít nhân chứng sống còn lại kể cho biết một vài việc đơn sơ về Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Lại nghĩ Binh chủng Pháo Binh VNCH trước kia, có một pháo thủ như thế trong hàng ngũ, hẳn cũng là hảo sự. Vì muốn “tốt đẹp khoe ra” nên đã hơi dài dòng một chút về Anh Lê Châu Lộc.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một con người lịch sử. Ông là Tổng Thống đầu tiên của Việt Nam tự do và là vị sáng lập nền Cộng Hòa Việt Nam. Sau chín năm cầm quyền đã bị thảm sát bởi chính kẻ đồng minh Ông tin cậy, bởi chính hàng khanh tướng Ông tạo ra. Khi Ông nằm xuống, những người mưu giết Ông và cộng sản thù ghét Ông đã bêu xấu Ông tàn tệ bằng những điều tiếng bịa đặt bỉ ổi, bằng những sự thật bị bóp méo để chạy tội, để lấp liếm những ý đồ xấu xa, những tâm địa phản phúc. Đến nay đã 45 năm qua, người đời vẫn còn nhắc tới Ông. Vẫn còn người không ưa, vẫn còn người thương tiếc. Vẫn cỏn lời bôi bác, vẫn còn lời bênh vực. Tuy nhiên những sự thật lịch sử liên quan tới Tổng Thống Ngô Đình Diệm đang dần được sáng tỏ nhờ những phát hiện từ nhiều tài liệu được giải mật từ phía Moscou, Peking, Hà Nội và Washington, từ lời tuyên bố hoặc bài viết của những người phản tỉnh, và tiết lộ của nhiều nhân chứng đáng tin. Nhà biên khảo Minh Võ đã công phu gom góp rất nhiều những ý kiến trái ngược đó vào một cuốn sách đặc biệt: “Ngô Đình Diệm, lời khen tiếng chê” nhằm trình bày vàng thau trước công luận và trả lại công đạo cho một vị Tổng Thống mà đức hạnh ngời ngời không ai bôi đen được, và mục tiêu chính trị suốt đời chỉ là mưu cầu độc lập toàn vẹn chủ quyền, tự lập cho đất nước, tiến bộ, tự do và nhân phẩm cho người dân, an lạc, thịnh vượng cho đời sống.

Đại úy Lê Châu Lộc được Tổng Thống Ngô Đình Diệm chọn để làm một vài công tác đặc biệt khoảng cuối năm 1958 và sau đó hơn một năm được chọn làm Sĩ quan Tùy viên. Trong thời gian ở gần Tổng Thống, chắc chắn Anh thường được nghe và thấy lời nói và sinh hoạt hằng ngày của vị lãnh đạo quốc gia nhưng không thấy Anh viết ra hoặc kể lại. Hình như Anh không muốn dây dưa vào cuộc đôi co về người đã khuất mà Anh rất mực kính trọng. Đã nhiều lần tôi (người viết bài này – LVT) ngỏ ý muốn được Anh kể cho nghe những mẩu chuyện nhỏ mặt thấy tai nghe đó mà Anh cỏn nhớ được vể Tổng Thống Diệm. Mãi gần đây Anh mới đồng ý, vì có độ lùi thời gian và thuận lợi cho sự trả lại chân lý cho lịch sử Việt Nam. Anh cũng muốn bầy tỏ tình nghĩa anh em với vong linh các anh hùng bỏ mình vì chính nghĩa dân tộc và tập thể những chiến sĩ quốc gia còn ngậm hờn nơi đất khách.

Về cận thần – Ai là những cận thần của Tổng Thống?

Là một sĩ quan tùy viên (SQTV), Lê Châu Lộc làm việc hằng ngày sát cạnh Tổng Thống, tiếp xúc và sinh hoạt với các vị có tên tuổi sau đây: Bác sĩ Bùi Kiện Tín, Y sĩ riêng của Tổng Thống, Ông Bí Thư Trần Sử, Ông Chánh Văn phòng Đặc biệt Võ Văn Hải, Ông Đổng Lý Quách Tòng Đức, Ông Phó Đổng Lý Đoàn Thêm, Ông Tổng Thư Ký Nguyễn Thành Cung, Ông Phó Tổng Thư ký Nguyễn Văn Cẩn, Ông Tôn Thất Thiết, Sở Nội dịch Phủ Tổng Thống (PTT). Ông Trương Bửu Điện làm Giám Đốc Nha Báo Chí, Ông Tôn Thất Thiện, một trong 4 hay 5 người theo Thủ Tướng Ngô Đình Diệm về nước, giữ chức vụ Tổng Giám Đốc Việt Nam Thông Tấn Xã và cũng là thông dịch viên chính thức của Tổng Thống. Sau đó Ông Trương Bửu Khánh tiếp giữ chức vụ Tổng Giám Đốc Việt Tấn xã. Ông Hoàng Thúc Đàm làm Giám đốc Nha Nghi Lễ.

Bên phía quân sự thì có Tham Mưu Trưởng Biệt Bộ Phủ Tổng Thống, trước chính biến 1960 là Trung tá Cao Văn Viên được bổ nhiệm Tư Lệnh Lữ Đoàn thay thế Nguyễn Chánh Thi, về sau thăng Đại tướng giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng . Tiếp nối bởi Trung tá Lê Như Hùng, chỉ huy cao cấp của Thủy Quân Lục Chiên. Sĩ quan lái phi cơ Tổng Thống là Trung tá Phan Văn Sang, sau này thăng Chuẩn tướng Không quân. Lữ đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống do Trung tá Lê Ngọc Triển, sau này thăng Thiếu tướng, với nhiều sĩ quan xuất sắc khác như Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ, sau lên Đại tá Tham Mưu trưởng, Đại úy Nguyễn Văn Của về sau thăng Đại tá Tư lệnh Lữ đoàn IV Thiết giáp.

Dưới lầu là Văn phòng Ông Ngô Đình Nhu, Cố vấn Chính trị, phụ tá lỗi lạc mà bạn hay thù đều nể trọng, có Trung tá Phạm Thư Đường, Đại úy Nguyễn Ngọc Hạp, về sau thăng Trung tá. Họ đều là những sĩ quan trọng danh dự và trách nhiệm.

Tổng Thống có trước sau 12 Sĩ quan Tùy viên. Trong số này có 5 người về sau thăng Tướng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nên kể các Tướng Huỳnh Văn Lạc, Hồ Trung Hậu, Đề đốc Diệp Quan Thủy, Hồ Văn Kỳ Thoại, tất cả về sau đều là Tư lệnh các đại đơn vị tác chiến khắp các vùng Chiến thuật. Một vị tử trận là Đại tá Trương Hữu Đức, Thiết giáp, thăng hàm Chuẩn tướng. Số còn lại đều lên sĩ quan cao cấp, trong số có Trung tá Nguyễn Cửu Đắc. Chỉ trừ Đại úy không quân Đỗ Thọ rất tiếc tử nạn phi cơ khi hãy còn trẻ và Đại úy Pháo Binh Lê Châu Lộc, thương nghị sĩ VNCH (69-75).

Tùy nhu cầu công việc và chương trình hành động của Tổng Thống, Sĩ quan Tùy viên giữ vai trò từ nhỏ như lo bút viết giấy tờ, đến việc quan trọng hơn như mời đón và cập nhật sổ diện kiến từ cấp Bộ trưởng Chánh phủ, Đại biểu Vùng Chiến Thuật, Tổng Tham Mưu Trưởng và các Tư lệnh, Tỉnh trưởng đến Giám đốc các Nha sở Trung ương, các nhà Bác học, Giáo sư, Thân hào nhân sĩ v.v.. Một trong những vai trò quan trọng khác thuộc lãnh vực nghi lễ, liên hệ đến việc mời đón, đưa tiễn các khách ngoại quốc (đại sứ, tướng lãnh v.v…) . Hằng năm bàn giao công vụ đôi ba lần cho các vị tướng lãnh được Tổng Thống chỉ định làm Sĩ Quan Tùy viên Tổng Thống trong những dịp đại lễ, như Quốc Khánh hay công du quốc ngoại. Những ngày như vậy lại cực hơn vì phải phò tá sát cánh từng phút đàn anh Sĩ quan tùy viên mang sao này.

Nhìn kỹ quanh vòng các cộng sự viên tiếp cận trong hay ngoài khuôn viên Phủ Tổng Thống, ta thấy có đủ thành phần Trung Nam Bắc, hầu hết theo đạo Ông Bà hay đạo Phật. Thí dụ Tiến sĩ Tôn Thất Thiện (còn sống ngoài cửu tuần) là một Phật tử thuần thành, một rường cột của Đại học Vạn Hạnh sau này. Ông Đổng lý Quách Tòng Đức là một trong rất ít Đốc Phủ Sứ từ trào Pháp thuộc, được nể vì và kính trọng có phần trội hơn Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ về tài đức và liêm sỉ. Thân phụ Ông Đổng lý là người Việt gốc Hoa, nói tiếng Việt chưa thông, chủ một tiệm bách hóa nhỏ tại chợ Cà Mau, được Tổng Thống ghé thăm một lần.

Tổng thống Eisenhower (Hoa Kỳ) chào mừng Tổng thống Ngô Đình Diệm.


Về đời sống hằng ngày.

Tổng Thống có lối sống đơn giản, thanh đạm của một nhà nho Việt Nam. Giường ngủ đặt ngay trong phòng làm việc. Phía sau ghế bành và bàn tròn dùng làm việc và ăn uống, kê một cái giường rộng lối một mét, sạp nẹp gỗ, lót chiếu bông để ngủ. Khi nào “thân thể bất an” mới cho trải thêm một miếng nệm bông gòn mỏng.

Ngoài giờ làm việc, Tổng Thống mặc áo dài thâm, đi dép. Lúc làm việc mà không có tiếp khách, Tổng Thống cũng mặc áo dài đen, xem chừng như thoải mái hơn. Bình thường mặc âu phục, áo chemise dài tay, thắt cà vạt đậm mầu, khi có khách thì khoác áo bành tô vào. Lúc tiếp khách ngoại quốc thì chải chuốt hơn với bộ đồ “sat kinh” trắng hay quốc phục áo dài gấm khăn đống đen. Đi thăm viếng bên ngoài hay kinh lý toàn quốc thì mặc đồ tây mỏng, đội nón nỉ và xách gậy, có khi mang giầy ống lội bùn.

Mỗi ngày của Tổng Thống thường khởi sự bằng một Thánh lễ lúc trời chưa sáng, do các linh mục tuyên úy hay bạn hữu dâng. Chấm dứt một ngày dài mệt nhọc bằng quì gối cầu nguyện âm thầm bên giường (đôi khi cả giờ, hai cánh tay dang rộng). Cửa đóng kín, sĩ quan tùy viên hay hầu cận cần gì lắm mới ra vào.

Sau thánh lễ, đọc nhiều sách, tạp chí, duyệt báo (Anh, Pháp và Việt ngữ, đôi khi Hán văn). Kế dùng lót lòng, thường là cháo trắng với dưa món, uống một tô trà nổi bọt. Một đôi lần sĩ quan tùy viên được bảo :”Nè mi ăn coi, ngon lắm”. (Sĩ quan tùy viên dạ dạ cám ơn, nhưng bụng thì đòi ăn hàng ngoài Thanh Thế dễ nuốt hơn nhiều).

Sĩ quan tùy viên nhắc thay y phục theo sự cố vấn của Nha Nghi lễ. Tiếp theo là một chuỗi công việc không ngừng tới một hai giờ trưa: thường khởi đầu là Bác sĩ Tín thăm hỏi sức khỏe của Tổng thống, kế đến là Ông Bí thư hay Ông Chánh Văn PhòngĐặc Biệt, các Ông trong Văn Phòng Đổng Lý, Văn Phòng Tổng Thư Ký, Sĩ quan Tham Mưu Biệt bộ, các vị thuộc Nha Nghi lễ, Nha Báo Chí và Việt Nam Thông Tấn xã. Chấm dứt phần này vào khoảng 9 giờ sáng. Trong vòng đầu này, Tổng Thống chỉ thị Sĩ quan Tùy viên mời hay nhắc các vị trong Hội Đồng Chính phủ, trong Bộ Tổng Tham Mưu, các Tư lệnh Vùng, Sư Đoàn hay Tỉnh trưởng cần gập. Sĩ quan tùy viên cũng trình Tổng Thống các vị thẩm quyền Trung Ương hay địa phương muốn diện kiến trình việc và nhắc Tổng Thống chương trình hội kiến với các Đại sứ, khách ngoại quốc theo như Nha Nghi lễ đệ trình.

Ít thấy Tổng Thống ăn trưa trước 1 giờ. Có khi ăn trễ vào lúc 3 giờ. Thường cơm trưa thanh đạm, nhiều khi chỉ đôi ba cái bắp còn non, và tô trà Huế. Hầu cận đóng cửa phòng lối nửa tiếng đến một giờ, rồi làm việc lại. Bưổi chiều thường dùng để suy tư, động não chiều sâu, chiến lược, có khi một mình. Đôi khi với những cộng sự viên xa gần được mời gọi riệng.

Không có giờ giấc ấn định cho một ngày dài làm việc. Khi có người trong thân tộc tới thăm nhất là Đức Cha Ngô Đình Thục từ Vĩnh Long lên hay sau này từ Huế vào, thì Tổng Thống nghỉ sớm hơn một chút, vui vẻ viếng thăm, dùng cơm v.v.. Những lúc có các cháu chạy từ phía Ông Bà Cố Vấn sang thăm , thì cười vui, trẻ trung hẳn lại. Cơm chiều nhiều món ăn hơn, nhưng những món ăn quí vẫn là các món ăn Huế quen thuộc mà “ngoài nhà” gởi vào. Không uống rươu nhưng hút thuốc Melia thì hơi nhiều.

Buổi tối tiếp tục duyệt hồ sơ một mình, đôi khi cho mời những học giả, chuyên gia tham khảo về những vấn đề Tổng Thống lưu tâm cách riêng. Lúc xây cất lại Dinh Độc Lập và các tỉnh quận lỵ mới trên các mật khu địch và vùng hẻo lánh, Tổng Thống thường cho mời Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, bàn thảo về kiến trúc và thiết kế đô thị đến quá nửa đêm. Tổng Thống trực tiếp chỉ đạo việc thiết định phối trí phòng ốc Dinh Độc Lập với sự cố vấn của Kiến trúc sư lừng danh thế giới này.

Đến đây phải nhắc đến Ông Ẩn, có thể gọi là “người nội trợ” đã theo phò tá Tổng Thống từ khi làm quan. Rất trung thành, khiêm tốn, hy sinh, kín đáo giúp Tổng Thống sinh sống hằng ngày. Dưới bếp thì có “bà bếp già” lo nấu ăn, trang trải $50 mỗi ngày cho phần ẩm thực của Tổng Thống, Ông Ẩn, Ông Bằng một sĩ quan hầu cận khác cũng rất trung kiên. Khi cần may mặc, Ông Ẩn hay Ông Bằng cho mời Ông Chua, chủ tiệm may âu phục ngoài phố vào đo cắt.

Về giải trí

Phần lớn thì giờ của Tổng Thống là để làm việc. Giải trí rất ít với những thú tao nhã quen thuộc. Đọc sách xem các tuần san Pháp, Anh, và Việt ngữ, rất thích tập san chuyên về máy ảnh, hình ảnh như Photography. Tổng Thống rất thích máy ảnh và kỹ thuật chụp ảnh. Ở đây phải nhắc tới Ông Hà Di, một người Việt gốc Hoa có thể kể là nhiếp ảnh viên chính thức của Phủ Tổng Thống. Tổng Thống cũng rất thích kiến trúc nên thích nói chuyên với Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.

Một thú giải trí khác là trồng tỉa hoa hồng. Mỗi lần lên nghỉ ở dinh số 2 Đà Lạt, thường để cả giờ chăm sóc các hàng hoa hồng. Cỡi ngưa đi quanh đồi núi cũng là một thú vui nữa. Sĩ quan tùy viên cỡi ngựa theo Cụ có Đại tá Thiết giáp Trương Hữu Đức, sau tử trận tại mặt trận giải tỏa An Lộc truy thăng Chuẩn tướng và Đại úy Pháo binh Lê Châu Lộc. Đôi chiều nhàn rảnh rỗi một chút, thì xuống thăm ngựa dưới chuồng phía cổng Nguyễn Du. Sĩ quan tùy viên phải nhớ bỏ vội vào túi vải cục đường để khi Tổng Thống chìa bàn tay ra phía sau ngoắc ngoắc xin đường cho các con ngựa, thì trao ngay vào tay một hai cục đường. Các con ngựa xem chừng biết rõ Tổng Thống, nên thân mật kê mũi vào sát mặt Tổng Thống thở mạnh, đôi bên xem chừng thích thú lắm.

Khi đi ngang dẫy nhà nhân viên phục dịch công xa và đoàn mô tô hộ tống, Tổng Thống không quên thăm hỏi bằng những lời thân thương gọi vợ con của họ là “thím và các cháu”. Các bà vợ trong trại gia binh đều nhắc nhở một cách thích thú thân tình chuyện Tổng Thống gọi các bà là “các thím”. Trung úy Nhan, tài xế cho tất cả các cuộc xê dịch và lễ lạc rất được lòng tin cậy của Tổng Thống, có căn nhà ở luôn tại đây.

Về Kinh lý

Tổng Thống thích thăm viếng đột ngột xã ấp, đồn bót hẻo lánh, trại gia binh, phường xóm , chợ búa, đền chùa để tìm hiểu tình hình, gần gũi dân chúng và binh sĩ. Có lẽ trong cả nước và cả Quân đội không có ai biết nhiều nơi, nhiều chốn bằng Tổng Thống. Từ núi rừng Cao nguyên xuống các vùng cận sơn, ven biển Nam Hải ra tận Cù lao Ré hay Côn đảo, vùng mật khu miền Đông xuống tận vùng mật khu miền Tây, từ Cà Mau, Bến Tre, Hậu Nghĩa, Phước Long, Phước Thành, Quảng Đức, Bến Giàng, A Sao, A Lưới.. Bạn có biết Măng Bút ở đâu không?. Tổng Thống đã đáp xuống đó trong một ngày mưa âm u bằng phi cơ caribou do Trung tá Sang lái. Phi công phải bay lượn vòng quanh hơn nửa giờ chờ có một chỗ trống giữa đám mây đen để chui đầu đáp: thành công nhưng bánh trước máy bay chỉ còn cách đầu phi đạo (là hố núi) lối mười thước, lún sâu xuống bùn. Cũng tại vì Tổng Thống nhứt định phải thăm tiền đồn đó cho được. Thiếu tướng Khánh đến trước bằng một phi cơ L19, may mắn cũng không sao, nhưng bánh lái máy bay gẫy lìa. Tổng Thống đã xin lỗi vì tất cả mọi người trên máy bay đã ói mửa, ngoại trừ phi hành đoàn, Tổng Thống và Sĩ quan Tùy viên vẫn như thường.

Nhắc lại chuyện đi kinh lý, Đại úy tùy viên Lê Châu Lộc có một lời thú như sau: Những chuyến xuất hành khỏi Dinh Độc Lập gần như hằng tuần, đa phần cuối tuần, đã nhiều lần khiến Anh phát bệnh, tự hỏi có thể phục vụ dài lâu được không. Không lấy làm lạ một số các sĩ quan tùy viên trước đã xin trở về đơn vị sớm vì hao mòn (burnt out). Hai lần, sau năm thứ nhất và sau năm thứ hai, Anh Lê châu Lộc xin trở về đơn vị, hai lần bị “gội xà phòng” rất kỹ. Nhưng vào những năm chót của Tổng Thống càng thấy tình hình khó khăn càng thương Ông Cụ, nên chấp nhận tiếp tục gian lao gọi là noi gương chút ít.

Thật ra không phải tất cả các chuyến kinh lý đều cực như chuyến ăn lễ Giáng Sinh ở Đầm Dơi, ghế bố xếp căng ra trên nền ngập nước bùn lõm bõm. Những chuyến về Huế, thăm Cố đô, thăm Bà Cụ Cố, thăm Phú Cam thật thư thả vui vẻ. Sau khi theo Tổng Thống lên lầu ọp ẹp, vào phòng ngủ đầy mùi mốc, để gởi cái cặp, Sĩ quan tùy viên được Cụ khuyến khích đi thăm thú Huế. Phần Cụ thì thẳng xuống nhà ngang lợp mái tranh dầy, thăm viếng Mẹ, cơ hồ như quên hết mình là ai, quên mọi ưu tư phiền muộn, hỏi han như người con nhỏ.

Tông thống Ngô Đình Diệm trong bộ khăn đống, áo dài tham dự hội chợ Ban Mê Thuộc (trên). Hình dưới: Tổng thống tiếp các tu sĩ Phật Giáo tại Dinh Độc Lập trong dịp kỷ niệm 7 năm cầm quyền 1955 – 1961.


Vài mẩu chuyện khó quên.

Chuyên người lính quì gối. Trong một chuyến kinh lý miền Trung, khi duyệt qua hàng rào dân chúng, có hàng lính đứng trước, Tổng Thống đang bước sải nhanh tay cầm nón vẫy chào dân chúng đang hoan nghênh Tổng Thống, bỗng dừng lại: một binh sĩ lớn tuổi qùi gối xuống để chào Tổng Thống khi bước ngang qua. Tổng Thống lùi lại một bước, đỡ anh lính dậy và nói lớn vào tai anh :”Làm lính không có qùi, chỉ đứng nghiêm chào kiểu lính”. Vỗ nhẹ đầu Anh lính rồi tiếp tục đi.

Chuyện đi thăm Thầy để cám ơn. Vào đầu năm 1962, sau cuộc bầu cử Tổng Thống nhiệm kỳ II thành công. Một hôm Tổng Thống dậy sớm chỉ thị Sĩ quan Tùy viên Lê Châu Lộc đưa Cụ xuống Chùa để cám ơn Quí vị cao tăng tu sĩ Phật giáo đã ủng hộ Cụ trong kỳ bầu cử vừa qua. Chỉ thị “cuộc đi thăm phải đơn sơ, thân tình và trước giờ thành phố thức dậy đễ tránh kẹt xe tội dân chúng.” “Mình đi một xe”. “Thưa ai lái”. “Thì mi lái, khỏi hộ tống rườm rà”. “Thưa Cụ Không nên, phải có an ninh tối thiểu, theo qui luật điều hành ấn định”. “Cha sao mà khó vậy-Thôi được đi lo ngay”. ”Thưa Cụ phải cho Quí Thầy hay để chuản bị, ít ra là nửa giờ trước”. “Ừ nhớ xin các Thầy hãy tự nhiên, đừng lo ngại, vui hơn”. Đoàn xe ngắn nhất, êm ái nhất: một xe cảnh sát Đô Thành dẫn đầu không đèn chớp, không còi hụ. Trung úy Nhan lái xe Tổng Thống có Sĩ quan Tùy viên ngồi bên. Và xe cận vệ đoạn hậu. Đến nơi thấy các Thầy còn đang lăng xăng sắp hàng hai bên ngoài vào, Tổng Thống hơi ái ngại, nhưng rồi dấn bước, vẫy nón chào hai hàng Tăng Ni. Bỗng có một tăng ni trẻ bước ra :”Kính Chào Tổng Thống”.”À thầy về rồi à”. “Dạ, mới mấy hôm nay, chưa kịp vào cám ơn Tổng Thống”. “Không sao, tôi biết học hành xong hết rồi mà,. Khi tiện nhờ Ông Sĩ quan đây đưa vào thăm tôi”. Sau đó mới biết tu sĩ này là Đại Đức Thích Quảng Liên, được Tổng Thống gởi đi học ở Michigan State University Hoa Kỳ, thành đạt, sau mở Trung Học Bồ Đề ở Cầu Ông Lãnh.

Sau khi Tổng Thống dùng xong trà với các Thầy và bầy tỏ lòng cảm ơn đối với các Thầy và Phật tử, một vị Thượng Tọa bỗng đứng lên thưa lớn ”Kính thưa Tổng Thống, anh em chúng tôi có một chuyện buồn Tổng Thống”. Sửng sốt, Tổng Thống nói :”Cám ơn Thầy nói thẳng, xin cho tôi biết chuyện chi”. “Kính thưa Tổng Thống, anh em chúng tôi vừa được tin bên Colombo cho hay Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa có gởi tặng Đức Đạt Lại Lạt Ma một số tiền lớn là 10000 mỹ kim. Sao Tổng Thống không cho anh em chúng tôi biết để chia vui?”. Hơi bối rối một chút, Tổng Thống ngẩng đầu lên nói :”Dạ, tôi nghĩ đó chỉ là bổn phận mình phải làm, không nên nói ra. Đức Đạt Lại Lạt Ma vừa rời Tây Tạng lưu vong, bôn ba cực khổ ở Nepal và miền Bắc Ấn Độ. Tôi được tin rất thương xót, nên sẵn có số tiền vừa nhận được của Viện Magsaysay thưởng cho một vị lãnh đạo xuất sắc trong năm của miền Á Châu Tụ Do, tôi vội vã gởi Ngài để chi dùng khi gặp nạn. Bổn phận thôi. Vả chăng Ngài là đấng lãnh đạo tinh thần sáng chói ớ Á Châu, chỉ có sức mạnh hữu thần chống lại độc tài vô thần, xứng đáng cho ta ngưỡng mộ noi gương và hỗ trợ”.
Chuyện lá cờ. Hôm đó Tổng Thống đi kinh lý tỉnh Kiến Tường. Khi phi cơ đáp xuống phi trường thì đã có đông đảo dân chúng đứng nghênh đón, dọc dài hai bên khán đài, cạnh phi đạo. Phi cơ taxi chậm vào bãi đậu thì bỗng nhiên Tổng Thống hỏi Sĩ quan Tùy viên ngồi xéo phía sau “Anh có thấy gì không?”. Thưa dân chúng đông và có cờ”. “Cờ gì vậy?”. Thì ra nhìn lại mới nhận ra cờ vàng trắng của Vatican, không có mấy cờ Việt Nam. Tổng Thống nện gậy xuống sàn phi cơ và ra lệnh trở về :”Đây không phải là xứ Vatican, đây là xứ Việt Nam, vậy cờ Việt Nam đâu?”. Trung tá Sang vội bước xuống cản ngăn. Sĩ quan tùy viên :”Thưa Cụ có thể đồng bào già trẻ lớn bé đã đợi chờ Cụ từ hồi 3 giờ khuya, bây giờ Cụ bỏ về thì họ sẽ buồn biết mấy”. Hạ hỏa tức khắc, máy bay vào chổ đậu, cửa mở, Thiếu tá Tỉnh trưởng (tên Nhựt?) bước lên chịu lỗi và xin Cụ cho nửa giờ để thu vén lại. Nửa giờ sau, cờ xí Việt Nam Cộng Hòa phất phới bay theo gió lộng Đồng Tháp, Tổng Thống bước xuống đi dài theo tường dân chúng, hớn hở và vui vẻ. Cả ngày thăm viếng, không biết mệt, chiều về hầu như quên hẳn chuyện buổi sáng.

Ngày nọ đi qua đường Võ Tánh Phú Nhuận, Tổng Thống thấy trước một trụ sở nhỏ có treo một lá cờ quốc gia phai mầu và rách. Bèn ra dấu cho Thiếu tá Nguyễn Đức Xích tỉnh trưởng theo về dinh Gia Long. Tội nghiệp Thiếu tá Tỉnh Trưởng bị xát xà bông mấy phút dài, để luôn nhớ giá trị thiêng liêng của quốc kỳ và bổn phận dậy dân kính trọng.

Lần thứ ba, Tổng Thống đọc tuần san Pháp (nếu không lầm tờ “Le courrier du Việt Nam” do nhà báo Lefevre chủ biên), lật trang chót có hình Phật Đài lớn đẹp. “Anh có thấy lá cờ quốc gia nào ngoài cờ Phật Giáo không?”. Quả thật không thấy cờ quốc gia. Tổng Thống có vẻ chua chat “Mình khuyến khích xây Phật Đài to lớn để thế giới qua lại ngoài khơi nhận thức giá trị tâm linh của dân tộc Việt Nam, thế mà không thấy một lá cờ quốc gia biểu tượng Việt Nam, nước này là nước nào đây?”. Rồi lấy một miếng bristol trắng cở 10X15 Tổng Thống viết ngay bằng bút chì mỡ đỏ chị thị như sau “….bất câu tôn giáo nào, khi treo cờ tôn giáo phải treo cờ quốc gia, theo đúng nghị định Bộ Nội Vụ đã ban hành…………”. “Anh trao cho Ông Đổng Lý để gởi văn thơ nhắc nhở rộng rãi”. Sau đó không lâu xảy ra vụ cờ Phật Giáo Huế, vụ nổ ở Đài Phát Thanh và đưa đến cuộc phản loạn của một số tướng lãnh tham tiền ngày 1 tháng 11 năm 1963 mà hậu qủa vẫn còn dai dẳng đến nay. Anh Lê Châu Lộc nhớ mãi chỉ thị này nhờ cụm từ khá đặc biệt “bất câu là tôn giáo nào”, cách nói hơi lạ thuở xưa, khác với cách nói của Anh “bất kỳ là tôn giáo nào”.

***

Trên đây là những mẩu truyện thật về Tổng Thống Ngô Đình Diệm do Pháo thủ Lê Châu Lộc, Sĩ Quan Tùy Viên của Tổng Thống kể theo những gì mắt thấy, tai nghe. Người viết ghi lại để những ai quan tâm tìm hiểu về Tổng Thống Diệm có tài liệu đọc thêm hoặc tùy nghi xử dụng.

Anh Lộc

Cám ơn Anh đã chia sẻ những điều mắt thấy tai nghe lúc Anh là Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đọc những trang giấy này cũng đã giúp chúng tôi xét lại nhiều vấn đề. Lúc nào Anh cũng giữ đúng tư cách của người Pháo Thủ đại diện cho binh chủng có gần một trăm ngàn người phục vụ dưới cờ: binh chủng Pháo Binh.

Chúng tôi hãnh diện vì Anh.

Link: Người dân công khai đến viếng mộ Tổng thống Ngô Đình Diệm ở Lái Thiêu

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:

Bất Khuất. net

Hồn Việt