Cho Bác Ăn Thịt Trâu – Bồ Tùng Ma

Nhân dịp Xuân về, Blog Mười Sáu thân chúc quý độc giả một năm mới an khang thinh vượng.

Bài đọc suy gẫm: Cho Bác Ăn Thịt Trâu !  hồi ký về thời ở tù việt cộng, bài viết trên trang Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo online còn có tựa là “Chuyện Tết trong trại tù Tàn Binh” của tác giả Bồ Tùng Ma.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Bồ Tùng Ma là bút hiệu của Nguyễn Tân. Trước 1975, ông là Hải Quân Trung Tá VNCH. Sau đó là 10 năm tù cộng sản, và định cư tại Mỹ theo diện H.O. Ông từng nhận các giải bán kết Viết Về Nước Mỹ 2001, giải Việt Bút 2008, và từ 5 năm qua, là thành viên “Ban Tuyển Chọn Chung Kết” Giải Viết Về Nước Mỹ. Bài sau đây trích từ báo xuân Việt Báo Tết Giáp Ngọ 2014, không viết về nước Mỹ, mà về một loại ký ức sâu đậm của nhiều cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hoà trong trại tù cộng sản.

Tôi muốn nói đến cái Tết đầu tiên của tôi trong trại tù cải tạo mà hồi đó, tháng 5 năm 1975, ở vùng Ba Tơ thuộc tỉnh Quảng Ngãi có tên là “Trại tù tàn binh”. Sau này tôi bị chuyển qua nhiều trại tù, nhưng không có trại tù nào mang cái tên rất thực như vậy. Tôi hiểu ra rằng đây là trại tù kiểu du kích địa phương “tự biên tự diễn” nên tương đối còn lỏng lẻo, ít khắc nghiệt hơn những trại tù chính qui sau này. Chính vì vậy và nhất là vì Nga, vợ tôi, đã lên thăm tôi nhiều lần ở đây nên nó đã trở thành ấn tượng sâu đậm nhất trong đời tù của tôi.

Ngày 3 tháng 5 năm 1975, tôi và người em rể bị bắt tại Quảng Ngãi. Sau một đêm ngủ trong ngôi đình cùng với khoảng 10 người khác, chúng tôi bị giải lên Tịnh Giang. “Học tập lao động” đầu tiên của chúng tôi là vác gạo, mỗi người một bao gạo chừng 25 ký. Không nặng lắm đối với sức lực tôi lúc đó, nhưng lại nặng đối với với Sơn, em rể tôi. Nó vác gạo đi được chừng một cây số thì vất bao gạo xuống đất. Lính giải giao bảo nó tiếp tục vác đi, nhưng nó nói:
– Chân tôi đau quá, bộ đội ơi!
Lính giải giao nói:
– Bao gạo có tí ti mà vác không nổi. Làm en chi lạ! Anh mô vác giùm được không? Chỉ tiêu phải đem hết số gạo này đi. Không, lấy chi mà en. Có làm mới có en chớ!
Tôi đã giải quyết bằng cách vác luôn 2 bao.

Chúng tôi đi qua những vùng ven núi nhiều dấu vết chiến tranh, cây cối xác xơ, nhà cửa xiu vẹo, mặt đất đầy hố bom. Nhưng những người đi đường đều có vẻ mặt hân hoan. Tôi thử tìm trên nét mặt họ vẻ lo sợ tuyệt vọng như chúng tôi, hay ít ra cũng biểu hiện ít nhiều chia sẻ với chúng tôi về số phận không may này, nhưng không tìm thấy được. Tôi ngạc nhiên nhưng rồi chợt hiểu. Họ là dân vùng này và họ đang tin tưởng về tương lai huy hoàng chế độ mới sẽ đem đến.
Khi chúng tôi đến gần một chân núi, có vài ba thanh thiếu niên đứng bên bờ ruộng chỉ trỏ chúng tôi. Một đứa chừng 16 tuổi nói lớn:
-Anh ni là Thiếu úy, anh ni là Trung úy, anh nớ là Đại úy…
Chàng em rể tôi không nỡ để tôi vác luôn hai bao gạo, đến đỡ bao gạo trên vai tôi:
– Nó nói chi vậy, anh?
– Ý nó nói trước đây tụi mình là sĩ quan mà bây giờ phải vác gạo.
– Đ. mẹ nó! Tao mà…
– Thôi!
Đến cái xóm nhỏ, cả bọn ngồi nghỉ một lát rồi giúp dân đào mương. Một bé gái chừng 8, 9 tuổi, mặt mũi hiền hậu dễ thương đến bên chúng tôi. Tôi đang định hỏi em mấy tuổi, thì em đã đọc hai câu thơ:
Mỹ thua Mỹ cút về làng
Bọn ngụy ở lại sắp hàng đào mương.

Xong nó chạy nhanh về phía đám phụ nữ đang ngồi dưới mái hiên. Một chị kề miệng vào tai nó nói gì đó nhưng nó lắc đầu.
Hai lính giải giao bảo chúng tôi lên đường. Lại đến một xóm nhỏ. Một lính giải giao vào nhà dân rồi đi ra cùng với một người đàn ông. Người đàn ông liếc nhìn chúng tôi, nói lớn:
– Thứ đó đem bén hết cho rồi. Nước đâu mà cho uống.
Tuy nói vậy, nhưng anh ta cũng để chiếc gàu múc nước trước mặt chúng tôi.
Sau khi mượn chảo nấu vội một ít nước để uống và mang theo, chúng tôi lên đường. Sơn đi bên tôi, nói nhỏ:
– Có lẽ tụi hắn đem mình đi bắn.
– Không đâu.
Tôi trả lời với giọng chắc nịch. Tôi biết họ sẽ không bao giờ đối xử với chúng tôi một cách nhanh gọn như vậy, mà sẽ sử dụng chúng tôi bằng một cách nào đó có lợi cho họ nhất.
Tuy nghĩ vậy nhưng cho tới khi đến Tịnh Giang, tôi mới chắc mình vẫn còn sống, và sẽ sống dài dài trong ê chề, cực nhọc và đói khát của kiếp tù đày dưới chế độ này.
Ở trại Tịnh Giang một cán bộ tỉnh (?) nói cho chúng tôi nghe về chính sách khoan hồng. Tôi nhớ mãi câu nói sau đây của anh ta:
– Các anh cũng thấy nhân dân căm thù các anh như sao rồi. Nếu không tập trung các anh lại, tánh mệnh các anh rất nguy hiểm.
Nghe nói, tôi nghĩ ngay đến em bé đọc mấy câu thơ và anh nông dân đòi đem chúng tôi đi bắn. Sau này tôi hỏi vài anh em tù, họ cũng cho biết đã gặp hai người đó với những câu nói đó trên đường đi.

Tịnh Giang là trại chuyển tiếp, chưa có nội quy chặt chẽ, có nhiều anh em vẫn còn tin tưởng vào “Chích sách 12 điểm của Mặt trận” vì thấy được thân nhân thăm nuôi dễ dàng, nhất là thấy người trưởng trại có vẻ cởi mở dễ dãi, đi hết chỗ này đến chỗ khác, cắt nghĩa chuyện này chuyện kia. Có những anh lính trẻ còn gọi chúng tôi là anh và xưng em. Phải chăng họ cũng tin tưởng vào chính sách mười hai điểm? Tất cả đều bị lừa, không chừa một ai. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn phục cách lừa phỉnh của họ trong việc kêu gọi trình diện “học tập”.
Ở trại Tịnh Giang tỉnh thoảng có nhiều anh em được ra về, thường là các công chức nhỏ hay sĩ quan cấp thấp. Chính việc này làm chúng tôi nuôi nhiều hy vọng. Chừng ba tháng sau kể từ ngày tập trung đến đây, trại chỉ còn lại một nữa số “trại viên”, trong số này có tôi và em rể tôi. Chúng tôi bị chuyển đến Trại 2 Tổng trại 3. Tổng trại này thuộc hậu cần của một trung đoàn. Trước khi lên xe đi, chúng tôi được phát áo quần mới, quân phục “ngụy”, có cả nón nhựa, ba-lô, võng… Nếu có thêm giày bốt-đờ-sô (Botte de saut) và khẩu súng, chúng tôi chẳng khác xưa bao nhiêu.
Đến nơi không thấy trại đâu cả mà chỉ thấy bên kia suối một gò đất lớn với cây cối lưa thưa, lớn có nhỏ có. Sau này tôi được biết những cây nhỏ là những cây hoa mai trắng mọc hoang chưa ra hoa. Chung quanh gò đất lớn này là ruộng nương. Lối vào gò đất, ngay cạnh dãy nhà bộ đội có tấm bảng đỏ với hàng chữ lớn màu vàng  ” TRẠI TÙ TÀN BINH “.

Chúng tôi được phát cơm ăn với mắm. Sau khi ăn uống tất cả mắc võng vào những thân cây để nghỉ ngơi. Nửa đêm thức giấc, nghe chung quanh có tiếng dế, tiếng ểnh ương, tiếng ếch nhái… kêu não nuột. Nhưng rồi sau ba ngày những tiếng kêu não nuột này không còn nữa. Chúng đã bị tù tàn binh “càn quét” làm thực phẩm hoặc trốn chạy đi nơi khác. Chỉ còn lại tiếng rì rào của gió trong lá cây, tiếng thở dài của tù, tiếng mớ ngủ: “Đại bàng! Nghe rõ 5/5″, “Đợi lệnh thẩm quyền”… Sau hai tuần năm cái lán lớn tranh tre được dựng lên, trong đó có bàn thờ “bác”. Ngoài ra còn có nhà bếp, cầu tiêu, giếng, nhà chứa sách báo, trạm xá, hội trường với tấm ảnh lớn của “bác” đưa bàn tay lên vẫy chào… Thật trớ trêu, trước đây “bác” đòi “đánh cho ngụy nhào”, mà nay “bác” nhìn chúng tôi cười thân thiện, lại còn đưa 5 ngón tay lên vẫy nữa. Anh Thành, tiểu đoàn trưởng bộ binh, nhìn ảnh Hồ Chí Minh nói đùa mà miệng như méo:
– Bác đưa năm ngón tay lên là có ý nói cải tạo 5 năm đó!
– Đừng nói dại. 5 tháng – Anh Tâm, một sĩ quan cảnh sát trả lời một cách… hồ hởi nhưng miệng còn méo hơn cả anh Thành

Hội trường là nơi để tù học tập chính trị, làm bản kiểm điểm, xem trình diễn văn nghệ: Ngâm thơ “bác”, ngâm thơ Tố Hữu, nhạc cảnh “Tiếng chày trên sóc Bom Bo”…
Tất cả công trình xây dựng ở đây đều do bàn tay lao động của anh em tù, trong đó có nhiều người đã tốt nghiệp đại học, một bác sĩ, hai kỹ sư, những người mà mấy tháng trước đây chưa hề biết cái dùi, cái đục, cái rựa ra sao.

*
Lúc bấy giờ trời đã sang Xuân, hoa mai trắng nở đầy trên các ngọn đồi chung quanh. Trong trại chỉ còn lác đác nơi này nơi kia những gốc mai may mắn còn sót lại. Chúng cố vươn lên, đâm chồi ra hoa, làm cho trại tù trông tươi thắm, không buồn rầu u ám như mấy tháng trước đây.

Vào khoảng cuối tháng 1 năm 1976 tức chỉ còn chừng 1 tuần nữa là Tết Bính Thìn, đã có người đi thăm nuôi. Nga có nhắn tin trước sẽ thăm tôi đúng vào ngày đưa ông Táo về Trời. Tôi còn nhớ Âm Lịch và Dương Lịch ngày này đều là 23, chỉ khác tháng. Sáng sớm hôm đó đứng ở một gò đất cao nhất trong trại nhìn ra khu thăm nuôi cách trại mấy trăm thước, tôi nhận ngay ra Nga trong đám đông, phần nhiều là phụ nữ. Vợ tôi đang ngồi cạnh một cái giỏ lớn nói chuyện với bà Hiền, cũng đi thăm chồng. Lần này Nga mặc áo nâu, quần đen và hình như mang… dép râu. “Thời trang” mới! Một lát sau Nga đi ra nơi có mấy khóm mai trắng, nhìn vào trại.

Khi tôi chuẩn bị đi gặp Nga, Y Bret, một sĩ quan địa phương quân gốc Thượng Gia-Ray, theo đạo Tin Lành, dúi vào tay tôi một mảnh giấy. Tôi biết đây là thư anh ta gởi cho vợ và nội dung lần nào cũng như lần nào: Sắp về nay mai, tin tưởng vào chánh sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng, nên đi nhà thờ thường xuyên, không làm điều tội lỗi, sẽ có ngày phán xét. Nghe nói vợ Y Bret còn rất trẻ và đẹp, hắn ta rất mê vợ, sợ mất vợ nên đã nhờ… Chúa giữ vợ theo cách đó. Bản thân Y Bret không ngoan đạo, hầu như chỉ đi nhà thờ một lần vào ngày cưới.

Nga đưa cặp mắt tròn xoe nhìn tôi trong bộ quân phục “ngụy”, đầu đội nón nhựa, vai mang ba-lô. Cái ba-lô này là để đựng đồ thăm nuôi. Bà Hiền đến gần bên tôi, nói nhỏ:
– Trông oai quá! Mới thấy mấy người đi ra, mừng hụt, cứ tưởng như… giải phóng trở lại.
Lần thăm nuôi này khá dễ dãi. Từng cặp tìm một góc khuất nào đó ngồi nói chuyện cả giờ. Nga cho biết đã đem xe đạp cùng với giỏ đồ ăn theo xe đò. Đến bến xe Nga chở giỏ đồ ăn bằng xe đạp đến trại. Xe đạp nội hóa, thắng bị đứt, tụt dốc “rơi tự do”, Nga phải cho xe ủi vào một đống rơm bên đường, mới không bị thương nặng.
– Thôi, em đừng đi thăm nữa. Anh nghĩ anh cũng sắp về. Người ta về nhiều lắm.
Tôi nói vậy nhưng rất muốn Nga đi thăm. Bây giờ mỗi lần nghĩ đến việc này tôi rất xót xa. Tôi đã làm khổ Nga suốt 10 năm. Hơn hai năm ở trại này Nga đã thăm tôi mỗi tháng một lần. Đã 3 hay 4 lần chúng tôi cùng nhau ngồi dưới mấy cành hoa mai trắng. Đó là vào mùa Xuân. Qua mùa Hạ, Thu, Đông những cành mai trơ trụi trông thật tội nghiệp, nhưng chúng tôi vẫn đến đây khi Nga lên thăm.

Mới hôm qua chuẩn bị thực phẩm cho mười ngày, nay đã hơn muời năm… Người sĩ quan VNCH sau khi đi tù việt cộng về, tóc râu bạc trắng.

Mỗi lần được thăm, ngay cả khi chỉ nhận được một bức thư ngắn của Nga vỏn vẹn có mấy câu mà lúc nào cũng gần như giống nhau “Anh học tập tốt, để sớm về sum họp. Em và Ba Mẹ vẫn khỏe. Con heo mẹ nuôi đã to béo như con bê…” cũng đủ làm tôi hạnh phúc.

Trước Tết 4 ngày một số tù, trong đó có Y Bret, được chọn đi hái lá dang, một loại lá to và bền, để gói bánh chưng. Đây là loại lao động nhẹ nhàng và thích thú, có thể thong dong trong rừng nguyên cả buổi sáng. Y Bret thồ về một bó lớn lá dang, thêm một bó chè tươi trên vai. Quản giáo thấy vậy, bảo anh đi hái chè nấu nước cho khu thăm nuôi. Nấu nước ở đây có thể ngồi canh lửa nguyên cả ngày, từ sáng sớm đến tối mịt. Nếu nhằm ngày này có vợ lên thăm thì thật tuyệt.
Y Bret là người ít được thăm nuôi nhất, từ ngày bị tập trung đến nay, vợ anh chỉ thăm anh có một lần. Nhưng hình như lá thư anh ta nhờ vợ tôi gởi có hiệu lực, vợ Y Bret đã thăm anh đúng vào ngày anh nấu nước chè ở khu thăm nuôi. Hai vợ chồng ở bên nhau 10 tiếng đồng hồ. Buổi tối vợ Y Bret ngủ nhờ nhà một người dân tốt bụng, để sáng hôm sau gặp chồng lần nữa. Y Bret trở về trại với giỏ đồ tiếp tế, mặt mày hớn hở. Một anh hỏi:
– Ở lâu bên nhau như rứa, có chấm mút chút đỉnh nào không?
– Dĩ nhiên là có-Y Bret cười nói.
– “Khô” hay “ướt”?
– Sơ sơ.
Ngày hôm sau Y Bret cũng được quản giáo trại cho đi nấu nước chè. Buổi tối Y Bret về trại với vẻ mặt âu sầu, ai hỏi gì cũng không nói. Nhóm tù đẵn gỗ thì thầm với nhau nhưng cũng lọt ra ngoài, đến nhóm “anh nuôi”:
– Buổi trưa Y Bret hẹn vợ vào một đám sắn. Hai anh chị đã “làm chuyện đó” và bị quản giáo bắt tại trận. Quản giáo ra một điều kiện gì đó và dắt vợ Y Bret đi đến một đám sắn khác. Nhóm tù đẵn gỗ, ai cũng thấy tận mắt… nhưng không dám và không nỡ nhìn lâu.
Ngày hôm sau Y Bret xin gia nhập nhóm đẵn gỗ dù loại lao động này khá nặng nhọc so với tuổi tác của anh ta. Loại lao động này bắt buộc phải đạt chỉ tiêu. Cái chỉ tiêu này bằng… cao su, nó có thể kéo dài ra theo lòng tham của quản giáo. Quản giáo dùng “chỗ cao su” bị kéo dài này bán lấy tiền đút túi riêng. Ở vùng này, gỗ và quế là vàng.

Tam Tạng thỉnh kinh
Tù binh thỉnh gỗ
Cùng khổ như nhau.

Khổ nhưng những anh tù trẻ, có sức lực vẫn thích đi đẵn gỗ. Như thế là vì tự do. Bộ đội giữ tù đẵn gỗ thường mắc võng ngủ đâu đó, để tù tự do đi vào rừng. Y Bret đã đi đẵn gỗ và không trở về. Đám tù đẵn gỗ nói Y Bret đã theo Fulro. Liền sau đó chúng tôi bị dồn vào lán, không được bước ra khỏi cửa. Lán tôi ở được cung cấp ba lò than để hâm đồ ăn. Sắp đến Tết đồ thăm nuôi khá nhiều. Mùi đồ ăn, nhất là lạp xường nướng lan tỏa khắp phòng. Anh Cần. “con bà Xơ” (tức không có ai thăm nuôi) chửi anh Bắc đang nướng lạp xường:
– Đ. mẹ! Đem lạp xường ăn sống đi, đừng có nướng nữa, chọc tức mũi người ta.
Anh Liên, người to lớn, cũng “con bà Xơ”, ngược lại, rất thích ngửi mùi đồ ăn. Anh đi tới đi lui, xoay mặt vào cái lò đang hâm đồ ăn, hít hít. Có người hỏi tại sao anh Liên thích ngửi như vậy, anh nói:
– Cũng như người thích xem phim con heo. Xem, không làm gì cả, cũng sướng.
– Nói chi lạ rứa! Xem phim xong có cách giải quyết. Còn sau khi ngửi đồ ăn, giải quyết cách nào?
– Nằm ngủ, mơ thấy ăn cũng sướng.
– Tui mơ thấy ăn bánh mì, nhai đi nhai lại, nước miếng ứa ra, chua lè. Sướng chi mà sướng
– Tui hái một mớ rau răm, xin một ít muối tiêu, ăn với miếng sắn, giống y như ăn hột vịt lộn.
Anh Liên vừa nói vừa nuốt nước miếng.
Anh Liên nói vậy nhưng sau khi ngửi nhiều lần, cằm anh bạnh ra, hai hạch nước miếng hai bên cằm không được “thỏa mãn” sưng lên.

Trong hoàn cảnh này anh em tù cũng có cách giúp đỡ nhau phần nào. Thí dụ như người được thăm nuôi giúp “con bà Xơ” bằng cách “thuê” họ hái rau, quả, đun nấu. Kẻ có của người có công. Họ ăn chung với nhau.

Anh Liên phải “làm thuê” cho hai “ông chủ” mới đủ ăn. Anh ăn mạnh lắm. Anh có tài chế biến món ăn, thí dụ như làm mì Quảng. Anh mài sắn trên miếng thiết đục lỗ, trải bột sắn trên lá chuối rồi cuộn lại, bỏ vào lon guigoz nấu. Khi sắn chín, anh lấy sắn ra, thái như thái phở. Rau có sẵn, không rau muống thì rau tàu bay. Nước dùng thường là ruốc nấu với nhái, hay bất cứ con gì… đưa lưng lên trời, nghĩa là không phải con người.
*
Nói đến nấu nướng ăn uống trong tù, phải nói đến cái lon guigoz. Cái lon này không phải chỉ dùng để ăn uống, đựng đồ ăn, mà còn để nấu nướng. Kẹt lắm có thể dùng để tiểu tiện, đại tiện. Nó có cái nắp đậy rất kín, kiến hay các loại côn trùng khác không lọt vào trong lon được. Cái lon này là lon đựng sữa bột do Hòa Lan sản xuất. Cái lon guigoz thông dụng trong trại tù đến nỗi có nhiều bộ đội tưởng lon được sản xuất cho tù… đi ở tù. Ở Mỹ, các hội đoàn thường tổ chức vinh danh người này người nọ, mà không tổ chức vinh danh Công ty sửa bột Guigoz là một thiếu sót lớn.

Trước Tết 2 ngày tổ chăn nuôi dắt một con trâu già ốm yếu vào cột nơi cái cọc tre gần nhà bếp. Con trâu già đưa cặp mắt lờ đờ và hiền từ nhìn đám tù tàn binh. Đám tù cũng nhìn con trâu, vừa tội nghiệp, thông cảm số phận của nó, không khác gì mình; vừa buồn vì thấy nó già và ốm, không đủ sức làm thỏa mãn cái dạ dày lúc nào cũng xẹp của họ. Con trâu không biết nó sắp chết thảm. Cho đến khi bốn chân bị tròng vào bốn sợi giây mà nó cũng chỉ đưa chân bước một bước ngắn như đứng lâu bị mỏi. Đến khi một cú búa tạ đập mạnh vào đầu nó mới nhìn mọi người như ngạc nhiên, ứa nước mắt. Không biết nó ứa nước mắt vì quá đau hay vì quá buồn cho thân phận mình. Nhưng nó vẫn chưa gục. Một cú búa tạ nữa đập vào đầu, nó chỉ hơi khuỵu xuống. Cho đến khi bốn lát rìu bổ mạnh vào bốn gót chân, gân lòi ra trắng phếu, thêm mấy phát súng vào đầu, nó mới gục hẳn. Một anh tù, thợ hớt tóc trong trại, xách lon guigoz đến bên con trâu vừa bị thọc huyết, múc một lon huyết mang đi. Anh ta được trại tin tưởng cho làm thợ hớt tóc, một công việc nhàn hạ và được phép giữ dao kéo…, được ưu tiên ăn huyết, một “vị thuốc” có thể làm tiêu hay hút (?) những sợi tóc li ti của tù bay vào cuống phổi khi anh ta hành nghề. Đáng lẽ anh ta không phải đi tù. Anh ta là lao công đào binh trình diện “Cách mạng” nhưng khai mình là sĩ quan vì nghe nói tù binh sĩ quan có quy chế cao, một ngày 8, 9 lạng gạo, có cá, có thịt, chứ không phải 6, 7 lạng. Trại cũng biết anh ta khai ẩu nhưng lờ đi. Có thêm cho anh ta lạng gạo, lạng thịt nào đâu mà lo. Cũng chẳng ai truy ra việc bắt lầm, ngay cả bắn lầm. Miễn đừng bỏ sót là được.

Ngày cuối cùng của năm Ất Mẹo, không nhớ 29 hay 30, bữa ăn sáng, thay vì ăn với mắm, tù tàn binh được “bồi dưỡng” trứng vịt dằm nước mắm. Hai người một quả trứng! Ở Mỹ mỗi khi nghe nói ăn trứng nhiều không tốt, trứng là ổ chứa cholesterol xấu, tôi lại nhớ như in việc anh em tù bàn thảo cách chia quả trứng. Cắt quả trứng theo chiều ngang sẽ có đầu lớn đầu nhỏ, khó cắt hai phần bằng nhau được; cắt theo chiều dọc thì quả trứng không chịu nằm yên, nó lăn đi như hòn bi-da, cũng khó cắt cho đều được. Có người đề nghị hai người sở hữu quả trứng bốc thăm, ai thắng ăn nguyên quả trứng. Đề nghị này bị bãi bỏ vì sẽ không có ai nỡ lòng ăn nguyên quả trứng để bạn mình ăn cơm với muối. Cuối cùng “phương án” sau đây được biểu quyết: Dằm nát trứng trong nước mắm, rồi lấy muỗng múc chia đều.

Ngày Mồng Một, chúng tôi được phát mỗi người một cái bánh chưng không có nhân và một tô thịt trâu nấu với lá lốt. Có anh theo đạo ông bà, để cái bánh chưng trên chiếc bàn tre, vái mấy vái cúng tổ tiên trước khi trịnh trọng lột miếng lá giang gói bên ngoài. Chưa cắn mà nước miếng đã ứa ra. Có anh theo Công Giáo, đưa tay làm dấu Thánh Giá trước khi gắp miếng thịt trâu. Chắc con trâu ở suối vàng cũng tự hào thấy mình được “coi trọng” như vậy. Không phải chỉ vậy thôi đâu. Có một anh tù tên Đông, không biết vì ngớ ngẩn hay muốn mỉa mai, đã bưng tô thịt trâu và cái bánh chưng để trên bàn thờ “bác”, rồi lâm râm khấn vái. Quản giáo biết được, bắt Đông làm kiểm điểm, sau đó Đông bị cùm 1 chân. Tôi không còn nhớ anh ta đã bị cùm bao lâu, chỉ nhớ sau khi anh ta được tháo cùm, Sơn em rể tôi, thế chỗ anh ta. Số là gặp anh ta ở đâu, Sơn cũng nói oang oang:
– Sao lại cho bác ăn thịt trâu. Bị cùm là đúng.
Sơn học tập không tốt, kể cả lao động và tư tưởng, nhưng anh ta chỉ ăn có một cái Tết ở đây. Về sau Sơn rất hận việc này. Nó chỉ ở tù có 1 năm 6 tháng nên cả gia đình không đi Mỹ theo diện HO được.

Ai cũng biết không phải học tập tốt thì về sớm. Về sớm hay muộn căn cứ theo bản kiểm điểm, cấp bậc, chức vụ, quân, binh, chủng, ngành, quá trình hoạt động “chống phá cách mạng”. Sau đó còn tùy theo tình hình an ninh chính trị, quốc phòng…

Sau khi “trồng cây nhớ ơn Bác” trở về, chúng tôi được xem văn nghệ, xem múa lân, nghỉ ngơi. Tổ bếp được tăng phái thêm người nên tương đối chúng tôi cũng đỡ hơn. Lao động ở bếp ai cũng thích, vì “nhà bếp đánh chết cũng no”. Không phải nhà bếp ăn chặn mà “ăn thừa”. Cái chảo nấu thịt còn váng mỡ, có thể cho thêm chút nước vào đó, thêm ít rau quả, để dành hôm khác ăn; hay có thể chiên rau muống ăn liền. Chính việc “ăn thừa” này mà tổ bếp mang tiếng xấu. Anh Lợi xuống bếp xin cơm cháy không được, anh ta đứng trên một gò đất la lớn như Trương Phi ở trên cầu Trường Bản:
– Nhà bếp ăn rau muống chiên! Nhà bếp ăn rau muống chiên!

Chúng tôi không có quyền cho ai cơm cháy cả, cơm cháy cũng phải bẻ ra từng miếng chia đều. Nói vậy chứ làm sao mà tuyệt đối đồng đều được. Chia đều rồi, nếu còn thừa, mà thường là thừa, chúng tôi để dành ưu tiên cho “con bà Xơ”. Một trong những “con bà Xơ” tội nghiệp nhất là anh Lục. Anh bị vợ bỏ, thân nhân lưu lạc. Những khi nhà bếp chia cơm anh xuống đứng tựa vào gốc cột nhìn đăm đăm cái chảo cơm. Đến khi nghe tiếng xẻng (chúng tôi dùng xẻng để chia cơm) cạ sột sột vào đáy chảo là anh bước vào thật nhanh, chìa cái lon guigoz ra. Chúng tôi đã cho anh Lục cơm cháy như vậy nguyên cả nửa năm. Nhưng khi được tin anh có thăm nuôi, chúng tôi ngưng. Vậy là anh Lục quên mất những miếng cơm cháy trước đây, chỉ nhớ đến miếng cơm cháy hiện tại mà anh không được ăn. Sau buổi ấy, gặp tôi ở đâu anh Lục cũng nhìn tôi với đôi mắt hình viên đạn.
*
Tôi trở về sum họp với gia đình sau 10 năm tù dài đăng đẳng. Tôi và Nga đã có với nhau 3 đứa con. Bây giờ chúng tôi sống với nhau vì tình nghĩa hơn tình yêu thắm thiết thuở ban đầu. Không biết bao lâu rồi chúng tôi không xưng hô “anh, em” với nhau. Mỗi lần nghe tôi nhắc lại chuyện cũ, chuyện về Trại Tù Tàn Binh với những cành hoa mai trắng, Nga nói “Lâu quá không nhớ chi cả”. Ngày 23 tháng Chạp vừa rồi tôi đi mua hai chậu hoa mai trắng đem về để trước hiên nhà. Nga nhìn chậu hoa, đôi mắt mơ màng xa xăm:
– Sao…em thấy cái này quen quen, …buồn buồn.
Đó là lần đầu tiên từ khi sinh đứa con út Nga xưng “em” với tôi. Nhưng không phải lúc nào chúng tôi cũng “lãng mạn” với nhau như vậy. Tôi và Nga vẫn gây nhau về những việc lặt vặt. Cứ mỗi lần như vậy tôi lại bước ra hiên, nhìn hai chậu hoa mai trắng, thấy như hiện lên hình ảnh Nga chở đồ thăm nuôi bằng chiếc xe đạp nội hóa cọc cạch trên con đường ven núi gập ghềnh, và tôi trở vào nhà nhìn Nga với đôi mắt dịu dàng mà Nga biết rằng tôi không còn muốn gây gổ nữa.

Bồ Tùng Ma

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Viết Về Nước Mỹ


Xin Hỏi Ông Chủ Tịch – Nguyễn tiến Dân

Tên việt cộng Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước CHXHCNVN rao hàng:” nước chúng em gái đẹp lắm”
Bài đọc suy gẫm:  Tôi xin hỏi ông chủ tịch tức “Mại dâm dưới chế độ cộng sản của tác giả Nguyễn Tiến Dân.  Bài viết đưa ra những nhận xét về đề tài mãi dâm và những câu hỏi đầy chua xót cần phải trả lời gởi đến tà quyền việt cộng.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
 ***
 Kính gửi: ông Trương Tấn Sang,
Chủ tịch nước CHXHCN Việt nam.

Tên tôi là: Nguyễn Tiến Dân.
Địa chỉ: 208 Định Công Thượng – quận Hoàng Mai – Hà nội.
Điện thoại: 0168-50-56-430

Như đã viết trong bức thư trước, lần này, xin hầu chuyện ông với đề tài “Mại dâm dưới chế độ Cộng
sản”. Đề tài mà rất nhiều người đã đề cập. Tiếc thay, do không có thực tế, nên họ chỉ đề cập được 1 cách phiến diện.

1-  Phán xét về mại dâm, chưa có ai cho rằng nó là tốt. Ai cũng cho nó là xấu. Bởi ít nhất, nó chà đạp lên nhân phẩm của người phụ nữ.  Tuy vậy, cũng không thể không thừa nhận: Mại dâm là 1 thực tế khách quan. Nó hiện diện ở khắp nơi trên trái đất. Nó có từ xa xưa. Nó tồn tại đến ngày nay và chắc chắn, nó sẽ song hành cùng nhân loại.  Đừng có mơ cấm được mại dâm. Mại dâm chỉ không có trong xã hội nguyên thủy và trong thế giới của loài súc vật.

2-   Viết về mại dâm, không thể không nhắc đến 2 tác phẩm: Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu.
a-  Ở truyện Kiều, Nguyễn Du tố cáo chế độ phong kiến mục nát, suy đồi. Ngay từ “thằng bán tơ” mạt hạng, cũng biết cách câu kết với quan lại, sai nha để ngang nhiên ăn cướp của dân lành.  Truyện Kiều không nói rõ, nhưng tôi đoán (rất mong là đoán nhầm), chúng đã ném “2 cái bao cao su đã qua sử dụng” vào nhà Vương viên ngoại, tạo cớ cho “trận cướp đẹp”. Cướp sạch của nổi, của chìm của người ta rồi, chúng vẫn chưa thỏa mãn. Chúng tiếp tục “huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc”, để bắt bớ, đánh đập, tra người, khảo của. Chung cuộc, nàng Kiều dẫu có tài sắc vẹn toàn đến đâu thì cũng phải tự bán mình vào lầu xanh, lấy tiền mà đút lót tiếp cho lũ tham quan vô lại.  Chỉ dám mong 1 điều thật nhỏ nhoi: Của thì đã mất rồi, nhưng cha và em được “cốt nhục vẹn tuyền”. Xét về đạo lí, sự hi sinh ấy, thật là lớn lao, thật là cao thượng.

Cũng như nàng Kiều, từ xưa tới nay, bao cô gái khác, khi bước chân vào chốn lầu xanh, phải đâu do họ tự nguyện. Xã hội phong kiến vô pháp, vô luân đã dồn họ đến bước đườn g cùng.  Thúy Kiều tuy chỉ là gái lầu xanh. Nhưng từ đầu tới cuối tác phẩm, Nguyễn Du chưa bao giờ mạt sát, khinh bỉ nàng.  Ông mô tả nàng có tình cảnh đáng thương và có cuộc đời đáng được thông cảm. Sống trong đống bùn, mà nhân cách vẫn tỏa sáng. Nàng không giống những kẻ đê tiện: Tối chơi gái tràn lan, ngày vẫn lên mặt “Nghĩ mình phương diện Quốc gia”. Sự khinh bỉ nếu có, Nguyễn Du chỉ dành cho chế độ phong kiến suy đồi. Một cách nhìn đầy nhân văn, phải không ông?

 
b-   Trong truyện ngắn Chí phèo, Nam Cao mở đầu: “Một sáng tinh sương, anh thả ống lươn nhặt được đứa bé mới đẻ xám ngắt, đùm trong cái váy đụp vứt ở lò gạch cũ”… Cuối cùng:“Thị nhìn nhanh xuống bụng mình, và thoáng chợt thấy một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…”. Nam Cao giỏi ở chỗ tuy không trực tiếp nói ra, nhưng độc giả vẫn hiểu: “Đó là kiếp luân hồi. Chí Phèo này có chết đi, còn nhiều thằng Chí Phèo khác đã chuẩn bị mọc lên thay thế. Đời không thể thiếu vắng Chí Phèo”.  Với Tiếng hát sông Hương, ông Tố Hữu cũng dùng thủ pháp tương tự. Mở đầu, hiện thực của thời Thực dân, Phong kiến: “Trên dòng Hương Giang” là cô gái với bao nỗi nhục nhã, ê chề khi phải bán thân nuôi miệng… Cuối cùng (nguyên văn trong tác phẩm), ông ta có cách dòng (ngầm hiểu là đã bước sang trang, đã đến “ngày mai huy hoàng”), rồi cũng vẫn lại “Trên dòng Hương Giang”.

Riêng về mặt này, Tố Hữu xứng đáng là bậc tiên tri. “Ngày mai huy hoàng” đã đến, không còn cô gái kia trên sông, bởi cô đã quá già. Thay vào đó, hằng hà sa số những cô gái trẻ khác, mọc lên thay thế. Mại dâm đâu có mất đi trong chế độ CS. Thậm chí nó còn phát triển mạnh mẽ hơn (Khắp hang cùng ngõ hẻm, tìm đâu cũng có), tinh vi hơn (Vì nó biết cách ứng dụng cả công nghệ thông tin) và trắng trợn hơn (Bởi nó ngang nhiên tiếp thị ở ngay ngã 3, ngã 4 đường phố. Thậm chí hành nghề ngay tại gốc cây, sườn đồi)

3-  Thưa ông Chủ tịch, Trời sinh ra con người.  Trên cơ thể mỗi con người, có nhiều bộ phận.  Mỗi bộ phận, đều có chức năng riêng. Nếu không hoạt động, chức năng ấy sẽ bị suy thoái.  Một kẻ, dẫu có mang danh Giáo sư – Tiến sĩ, nhưng đầu óc mà lười suy nghĩ, kẻ đó tất bị lú lẫn, u mê.  Mắt mà không tự nhìn đường, cứ đi theo “định hướng” của ai đó, lâu dần sẽ bị thong manh.

Đổ băng keo vào miệng thiên hạ, sẽ khiến người ta không nói được. Người ta không nói được, khiến ta không phải tranh biện với ai. Không phải tranh biện với ai, lâu dần lưỡi ta sẽ cứng lại.  Lúc đó, ta ăn nói giống như 1 kẻ ngây ngô, thiểu năng về trí tuệ.  “Đè đầu cưỡi cổ” thiên hạ, những tưởng mình giỏi giang và lấy làm đắc ý.  Đâu hay: Ngồi trên lưng người khác, chân tay ta lâu ngày không phải hoạt động, cơ của nó sẽ teo đi.

Trên con tàu vũ trụ, do được điều kiện không trọng lượng nâng đỡ, xương của phi hành gia không phải làm việc như bình thường. Lâu dần, nó sẽ bị thoái hóa. Trở về mặt đất, cần phải có thời gian và chế độ riêng để nó phục hồi… Khác gì những tổng công ty, những tập đoàn kinh tế nhà nước. Chúng hoạt động, mà không dựa vào thực lực của mình. Chúng tồn tại, dựa trên sự bú mớm vào ngân sách nhà nước.  Trước sau, chúng cũng phải chết. Đó là những sự thực hiển nhiên.

Tương tự, bộ phận sinh dục của con người, khi già-trẻ; ốm-khỏe có tần xuất hoạt động khác nhau. Nhưng nói chung, nếu không được “cọ sát”, dẫu có thủ dâm thì nó cũng vẫn sẽ bị suy nhược. Từ đó, u – xơ – ung – nhọt dễ có điều kiện phát sinh. Nghiêm trọng hơn, “bí hạ (thì phải) phá thượng”. Ối anh sẽ bị suy nhược theo nó.  Đó là thường thức cơ bản của phép dưỡng sinh.

4-  Chẳng cứ Việt nam, nhiều nước khác cũng muốn cấm mại dâm. Liệu họ có đạt được mục đích không? Ta hãy thử xét về mặt đạo lí và qui luật cung – cầu:

a-  Với người đi mua dâm:  Xin không nhắc đến “một bộ phận không nhỏ” những kẻ mê tín, chỉ thích đi lùng gái trinh như Lương Quốc Dũng. Cũng không xét đến những những bậc nam nhi, vợ con đề huề, thỉnh thoảng vẫn thích đi ăn vụng như Nguyễn Trường Tô. Ở đây, chỉ xét những trường hợp có nhu cầu thật sự và mong nhận được sự thông cảm của những người, mà tối đến, vợ chồng vẫn còn được ôm nhau ngủ. Chẳng hạn: Có người, vợ chết sớm, để lại cho mình những đứa con thơ dại, kháu khỉnh, thông minh.  Tuy còn trẻ khỏe, nhưng tình yêu mãnh liệt với người vợ, đã khiến ông ta không muốn đi bước nữa. Ông ta ở vậy để nuôi con. Bởi, chúng là kết tinh tình yêu của họ. Thỉnh thoảng, ông ta muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?

Tôi có quen 2 người cao tuổi. Vợ họ bị ốm liệt giường hàng chục năm trời. Họ dịu dàng chăm sóc vợ. Không hề có 1 lời phàn nàn, cáu gắt trong chừng ấy năm trời.  Họ cũng chẳng ngó ngàng tới bất cứ 1 người nào khác giới. Nhân cách, tình yêu của họ thật đáng ngưỡng mộ. Trên thế gian này, hỏi có mấy người được như vậy.  Đặt giả thiết: Thỉnh thoảng, họ muốn hòa hợp âm-dương.  Nhu cầu ấy có được coi là chính đáng và có nên thông cảm không?  “Tốt mái, hại sống”, câu này ai cũng biết.  Chắc chắn, ông cũng quen nhiều bà quan chức. Họ ăn lắm, tẩm bổ nhiều, béo như con trâu trương. Gia đình họ, nếu sống thủy chung, ông chồng “má hóp đít tóp” là điều chẳng phải nghi ngờ.  Ngược lại, có những ông chồng khỏe đến phát sợ. Có thể “nhất dạ, ngũ giao…”. Vợ khỏe cũng chẳng chịu nổi, kể chi đến những bà hom hem, bệnh tật.  Thế nên, ngày xưa có bà phải tự nguyện “tay bưng trầu, đầu đội lễ” đi hỏi vợ lẽ cho chồng. Mong sao có người, đêm đến nó đỡ đần cho.  Nay, làm gì có chế độ đa thê. Không đưa tiền cho người ta đi xả bớt ra, kẻ bị thiệt thòi chính là bà vợ. Nhu cầu ấy, đành rằng là không chính đáng, nhưng có nên thông cảm cho bà vợ của ông ấy không?

Những người nước ngoài sang công tác lâu dài ở Việt nam, do điều kiện, họ không thể mang vợ con theo được. Họ khỏe mạnh, họ có tập quán thoáng đãng về tình dục. Thỉnh thoáng, họ muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?

Có người thiệt thòi toàn diện: Không bảnh trai, văn hóa lùn, hoàn cảnh gia đình lại khó khăn. Không cô gái nào chịu lấy anh ta làm chồng. Nhu cầu kia rõ ràng là vẫn có. Thỉnh thoáng, anh ta muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?

Có những chàng trai, do phấn đấu cho sự nghiệp, nên họ lập gia đình muộn. Họ không muốn gạ gẫm, bồ bịch bất chính với bạn học. Không muốn gạ gẫm, bồ bịch bất chính với “con thày-vợ bạn-gái cơ quan”. Họ cũng không muốn “nhịn” quá lâu. Thỉnh thoáng, họ muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?

Còn nhiều và rất nhiều trường hợp khác nữa.  Nhưng sợ phải làm mất thì giờ qúy báu của ông, nên tôi không tiện kể thêm.

b-   Với người đi bán dâm:

Thưa ông, tôi có mở quán Karaoke và Xông hơi tại 544 đường Láng – Đống đa – Hà nội.  Dĩ nhiên, trong quán của tôi không có dịch vụ mại dâm.  Do đặc thù công việc, tôi phải tiếp xúc hàng ngày với các cháu nhân viên. Xin khẳng định với ông: Không có cháu nào cảm thấy hãnh diện, khi phải làm cái nghề này.  Phải đi làm, bởi không có con đường nào khác. Tôi kể ông nghe 1 trường hợp:

Cách đây hơn chục năm, có 1 cháu đến làm việc ở chỗ tôi. Cháu nó không đẹp, ăn mặc lại giản dị. Nhưng nhiều người thích nó.  Ai rủ đi ngủ, cháu cũng đi.  Lạ nhất là: kiếm được rất nhiều tiền, nhưng cháu không hề đua đòi, chưng diện.
Tò mò, tôi có hỏi cháu.  Nó khóc, rồi dẫn tôi về thăm nhà. Đến nơi, tôi bàng hoàng.  Nhà nó nghèo.  Bố mẹ đã già yếu, lại bệnh tật. Các em đã đông, lại còn nhỏ.  Nhà cửa, trước kia chỉ là mái lều tranh xiêu vẹo.  Ruộng đất không có.  Là chị cả, cháu cam chịu hi sinh thân mình, để cứu cả nhà.  Cháu nghiến răng xác định: Ra Hà nội để kiếm tiền.  Bao nhiêu tiền kiếm được, cháu đều gửi về quê. Trước hết, cho tất cả các em được đi học.  Còn lại, để bố mẹ làm ăn và xây được căn nhà cấp 4.   Đối với gia đình cháu, đó là mơ ước, tưởng như không bao giờ là hiện thực. Chuyện của cháu, chỉ bố mẹ biết.  Nhưng, khác hẳn với thái độ của những người CS các ông.  Họ luôn ân hận, xót xa vì mình không giỏi, nên con cái phải chịu khổ.

Sau này, khi nhà cháu đã qua được bước khó khăn, cháu bỏ nghề. Lập gia đinh, cháu lấy người chồng biết rõ và thông cảm với hoàn cảnh của cháu. Về nhà chồng, cháu không có của riêng tư chìm nổi. Trước khi ra đi, cháu nó khóc và nói với tôi: “Con xin vĩnh biệt bố”.  Tôi hiểu, mình không được phép khuấy động cuộc sống riêng tư của cháu và sẽ tốt hơn, nếu để quá khứ đau buồn, nó chìm vào quên lãng.  Ông ơi, nhân cách của những CON NGƯỜI ấy, có xứng đáng được ta tôn trọng? Thúy Kiều có vĩ đại bằng cháu không? Đứng trước cháu, tôi có cảm giác, mình bị lùn đi.   Còn ông, ông thấy thế nào?

5-   Bây giờ, với tư cách là người đứng đầu đất nước, xin ông trả lời công khai cho người dân chúng tôi:  Các ông luôn gào thét, đòi để “đảng CS được lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối” xã hội Việt nam. Các ông lãnh đạo kiểu gì, mà bao nhiêu nam thanh, nữ tú của chúng ta thất nghiệp. Họ không thể kiếm tiền, để nuôi sống được chính bản thân mình. Nói chi đến gia đình.   Không có tiền, đói các ông có cho họ ăn không? Không có tiền, con cái của họ có được các ông cho đi học không?  Không có tiền, ốm đau các ông có cho họ được đến bệnh viện không?  Không có tiền, lại thất học và vô nghề nghiệp, các ông có bố trí được công ăn việc làm cho họ không?…

Tất cả các câu hỏi trên, đều có chung câu trả lời.  Đó là “Không”.   Là người Việt, ông Chủ tịch không thể không biết câu này “Bụng đói, đầu gối phải bò”.  Đường cùng, các cháu đành mang cái “vốn tự có” ra mà kiếm ăn.   Không sung sướng gì đâu, nhục nhã lắm, ông ạ.

Những người CS các ông, quả thật là lũ bất tài ,vô dụng.  Làm lãnh đạo, mà không lo được cuộc sống tối thiểu về ăn mặc, khám chữa bệnh, học hành, công ăn việc làm cho người dân. Khiến rất nhiều cháu gái, chúng nó phải đi bán thân (18.000 gái Việt ra nước ngoài hành nghề mại dâm mỗi năm; còn Bộ Lao động – thương binh & Xã hội ước tính năm 2013 có 33.000 ​gái mại dâm, đó là không thèm thống kê ở 2 địa bàn trọng điểm Quất Lâm, Đồ Sơn).  Lẽ ra, người phải ân hận, phải xấu hổ là các ông, là đảng CS.  Đã không biết xấu hổ, lại còn nhâng nháo lên mặt đạo đức khi ra lệnh cấm mại dâm. Để mà đổ lỗi, cho rằng mại dâm là tàn dư của chế độ cũ (Chế độ, mà nó sụp đổ cách đây có nhõn 4 chục năm); cho rằng, các cháu phải đi bán thân, bởi chúng nó hư hỏng, lười lao động và thích ăn chơi.  Ông Chủ tịch và các quí bà to mồm, ăn no, rửng mỡ ở hội Phụ nữ VN, ở bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có hình dung ra kịch bản này không:

Khi các ông cấm riết, các cháu làm nghề mại dâm trên toàn quốc, chúng nó kéo về trụ sở hội Phụ nữ và trương biểu ngữ: “Nhiệt liệt hoan nghênh nhà nước cấm mại dâm (chúng nó hoan nghênh thật lòng đấy, ông ạ) – Xin hãy bố trí công ăn việc làm cho chúng tôi – Nếu không được, hãy nuôi chúng tôi – Nếu không nuôi được chúng tôi, hoặc mặc kệ để chúng tôi đi bán dâm; hoặc các ông, các bà hãy từ chức đi, để chúng tôi bầu những người có tài, có đức lên làm thay  – Họ sẽ lo cho chúng tôi”.

Lúc đó, các ông, các bà sẽ “xử lý” như thế nào?

Hình chụp lại từ You tube, cô gái Việt Nam khỏa thân để được tuyển lựa làm cô dâu xứ người.

Link Videohttp://vimeo.com/41385315
 
6-  Ông ạ, đã có ai nói với ông về những sự thật này chưa: Nhiều phụ nữ, trẻ em Việt ở độ tuổi vị thành niên, bị gạ gẫm, rồi bị đem bán vào các động mãi dâm ở Campuchia, ở Ma cau…?   Nhiều phụ nữ Việt bị bắt cởi trần truồng, cho mấy thằng Đại Hàn, Trung Quốc, Đài Loan ngắm nhìn, sờ mó để tuyển… “vợ”?  Có phụ nữ Việt bị đặt trong lồng kính để bán đấu giá tại Mã Lai; bị rao bán công khai trên bích chương tại Đại Hàn?  Nhiều phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan đã bị đánh đập, bị hành hạ, bị giết. Nhưng, tỉ lệ này còn thấp và ít rủi ro hơn so với lấy chồng Trung Quốc.  Tình trạng lấy chồng Trung Quốc, sau đó bị ngược đãi, bị làm vợ tập thể, bị sang tay và vứt ra đường khá phổ biến.

Trên: Các thiếu nữ bị bắt trong một trận càn quét. 

Dưới: Hình ảnh trẻ thơ Việt Nam bị đưa qua Kampuchia bán dâm.

 Cuối năm 2013, ba cô dâu Việt Nam là Tô Thị Hà, Trịnh Thị Hoa, Mai Thị Sư được điều trị tại Bệnh viện thần kinh thành phố Phúc Châu, tỉnh Kiến Phúc (chắc là Phúc Kiến) – Trung Quốc. Cả ba người đều là nạn nhân của lấy chồng Trung Quốc. Họ bị đày đọa nhiều năm, cho đến khi thân tàn thì bị đuổi ra khỏi nhà…Có nhiều trường hợp bị đẩy vào động mại dâm, bị khai thác như súc vật cho đến khi bệnh tật, bị chết hoặc điên dại .”. Báo Dân trí ngày 18/01/2014 đưa tin: “Sự sỉ nhục nhìn từ những cô dâu bị giết”.

Nhân phẩm người phụ nữ Việt xuống cấp. Họ chỉ như một món hàng, bị bọn ngoại quốc, công khai giày vò, làm nhục. Tại ai?  Đó không phải là quốc nhục, thì đối với những người CS, cái gì đáng bị gọi là quốc nhục? Trước thực trạng ấy, với tư cách là nguyên thủ Quốc gia, ông có thấy nhục nhã và xấu hổ không?

Ra ngoài đường thì so vai, rụt cổ, im thin thít, chẳng dám ho he – thể hiện sự hèn hạ vô cùng. Về đến nhà, múa gậy vườn hoang, tỏ rõ bản lĩnh anh hùng nơi xó bếp. Thần dân trông thấy, họ khinh bỉ mãi không thôi. Đó là nói về tư cách của lũ đê tiện, “khôn nhà dại chợ”.

 Đám tang cô dâu Việt Nam bị giết
 
7-  Cứ coi các cháu phải đi bán dâm, chỉ là đồ chơi trong tay những thằng đàn ông.  Xin hỏi ông:

Làm đồ chơi trong tay con trai Việt và làm đồ chơi trong tay bọn đàn ông ngoại quốc, đằng nào đỡ nhục nhã hơn?  Không dám mơ có lầu son, gác tía để hành nghề như nàng Kiều.  Làm đồ chơi trong nhà nghỉ kín đáo và ngồi vạ vật bên đường, đằng nào làm cho nhà nước đỡ xấu mặt hơn?

Không thể cấm được mại dâm. Vậy, hợp pháp hóa mại dâm + chăm sóc sức khỏe cho các cháu và để mại dâm lén lút, tự phát nguy cơ truyền nhiễm bệnh tật cao, đằng nào nhân đạo hơn?

8-   Tiếp xúc với những thứ chướng tai, gai mắt nơi nhà hàng, tôi không hề thích.  Chính vì vậy, tôi và gia đình đầu tư vào làm thủy lợi, vào trồng trọt, vào chăn nuôi. Ai ngờ, tôi bị chính quyền CS đủ cả 4 cấp: Xã – Huyện – Thành phố – Trung ương câu kết với nhau lừa đảo, cướp đoạt trắng tay hơn chục tỉ VND. Mĩ miều, thì nói là “cả hệ thống chính trị” nhà các ông. Còn dân gian, đơn giản hơn nhiều.  Chúng tôi nói rằng: “cả lò cả ổ” nhà các ông là 1 lũ khốn nạn, một lũ cướp ngày.  Ông Chủ tịch có cách gọi nào khác, “đẹp” hơn để thay thế không?

9-   Thưa ông Chủ tịch, sau khi đọc những loạt bài của tôi, có 1 bác nào đó quan tâm, gọi điện hỏi tôi có bị cơ quan an ninh làm khó dễ gì không?

Câu trả lời là chưa. Cứ như thể, chưa bao giờ có những bài như thế.  Lí do thật đơn giản.  Đơn từ đòi tiền, tôi gửi các ông nhiều lần, nhiều cấp trong hơn chục năm rồi.  Nhưng, chính quyền CS của các ông vẫn giả câm, giả điếc.  Để tránh tiếp xúc, các ông học những con chuột cống, chui sâu vào trong hang.  Bị hun bao nhiêu là khói, nhưng với bản lĩnh cao cường, các ông vẫn chưa chịu chui ra.  Bởi, chui ra tiếp xúc là phải nói đến chuyện trả tiền.  Đối với các ông, thà bị nghe chửi, thà bị người khác hạ nhục, thậm chí bị chết vì ngạt khói, còn hơn là phải trả lại những đồng tiền ăn cướp.  Đây cũng là nét “đặc thù” rất riêng về Nhân quyền của chính quyền CS Việt nam.

Tôi tin lần này, lượng khói mà tôi quạt vào hang vẫn chưa đủ “đô”, nên các ông chưa chịu chui ra đâu. Các ông vẫn coi như không có nó và hiển nhiên, các ông sẽ không sờ mó đến tôi cũng như cửa hàng của tôi. Về việc này, xin cảm ơn ông Chủ tịch trước.  Nhưng, những lần sau, lượng khói sẽ tăng lên.  Không chịu được thì hãy bò ra.  Đừng cố thủ. Chết, uổng.  Lần sau, xin hầu chuyện ông Chủ tịch với đề tài “Dưới giác độ của nền văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa CS. Việt nam, những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó”.  Đề tài này, cũng không đến nỗi khô khan lắm đâu. Nội dung của nó, tuy hơi dài, nhưng “Cơm ngon, (thì hãy) ăn làm nhiều bữa”.  Lo gì. Ông có muốn nghe không? Có muốn cử những tay lí luận hàng đầu của đảng CS vào tranh biện công khai và thẳng thắn không?  Xin ông:  Chớ có cho đội ngũ Dư luận viên dốt nát cộng với mớ lí luận cùn nhập cuộc và nhớ đừng có dùng bạo lực như lũ khùng điên.  Bọn chúng, khi đuối lí, chỉ có mỗi 1 cách, đó là giơ nắm đấm lên.  Đừng học lũ mất dạy đó, ông ạ.

Chào ông.

Nguyễn Tiến Dân

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

- From Email.


Trận Khe Sanh 1968 – William Dabney

Bài đọc suy gẫm: Tổng thống Obama trong bài diễn văn nhậm chức của ông có nhắc đến Khe Sanh như một chiến tích của nước Mỹ. Khe Sanh không phải là trận đánh có tính quyết định cuộc chiến Việt Nam như Điện Biên Phủ. Nhưng trận Khe Sanh có thể được xem là cuộc đọ sức giữa hoả lực vô giới hạn của Hoa Kỳ và sự bất chấp mức tổn thất sinh mạng bộ đội Bắc Việt của đảng cộng sản Việt Nam. Xin mời độc giả xem một góc độ của trận Khe Sanh qua bài “Under Siege – The Battle of Khe Sanh” của Đại Úy William Dabney do Trà Bồng viết lại. Bài được trích từ cuốn The U.S. Marines in Action của Villard Books New York phát hành năm 1986. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Họa đồ trận chiến Khe Sanh của 2 bên. Phía cộng sản đặt tên “Chiến Dịch Đường 9″

Vị trí các ngọn đồi chiến lược chung quanh căn cứ Khe Sanh


Người bắn tỉa núp rất kỹ trên sườn đồi um tùm bên kia, khoảng 200 mét về phía bắc nơi chúng tôi đóng quân, là đồi Nam 881 (881S). Anh ta đã nằm ở vị trí thuận lợi đó suốt một tuần qua. Thỉnh thoảng anh ta mới bắn, thường là khi trời nhiều mây và sườn núi không có sương mù bao phủ. Khi anh ta bắn thì chúng tôi chỉ có từ chết tới bị thương. Chỉ cần khoảng 20 phát anh ta đã gây tử thương cho 2 binh sĩ thủy quân lục chiến (TQLC) và làm bị thương năm sáu mạng.

Anh ta tỏ ra vô cùng kiên nhẫn, luôn luôn đợi lúc các pháo thủ phải ra khỏi giao thông hào để bắn đại bác yểm trợ quân bạn, hoặc khiêng băng ca ra các trực thăng tải thương. Lúc ấy chúng tôi là những mục tiêu rất ngon lành của anh ta. Một đặc tính nữa của anh ta là rất thận trọng. Một ngày quang đãng chúng tôi đã gọi phi cơ dội bom xăng xuống toàn bộ khu vực anh ta đang núp. Nhưng hôm sau, khi trời có mây bao phủ anh ta lại “cắc bùm”, và vẫn cực kỳ chính xác. Anh ta biết rõ khi có mây mù phi cơ không dám oanh tạc một mục tiêu gần chúng tôi như vậy.

Nhưng rồi cũng có lúc anh sơ xuất. Toán quan sát vẫn luôn dí mắt vào các ống viễn vọng kính cực mạnh hướng về phía anh ta, một hôm chợt thấy một lùm cây lay động. Hôm đó lại là một buổi chiều đứng gió! Biết chắc súng nhỏ không làm gì được vì anh ta núp trong hầm đào sâu vào núi, nên phải dùng súng lớn. Chúng tôi bắn cầm chừng để xác định vị trí, và để anh rút vào hầm, đồng thời cho khiêng khẩu đại bác không giật chống xe tăng qua. Vì cả đồi chỉ có hai khẩu nên phải đặt ở vị trí mà xe tăng của địch có thể tiến vào phía bên kia. Một quả đạn có sức công phá mạnh đã biến căn hầm của anh thành một hố sâu trong đó có đất đá lẫn với xác của anh ta.

Đồi đối diện khá xa, rừng lại rậm. Quân Bắc Việt di chuyển thoải mái vào ban đêm và trong sương mù, mà chúng tôi thì lại không đủ quân để kiểm soát bên đó. Cho nên chẳng bao lâu đã có một người bắn tỉa khác thay thế. Trong suốt 10 ngày sau đó anh chàng thứ hai này đã gây cho chúng tôi một tử thương và nhiều người khác bị thương. Nhưng rồi chúng tôi cũng xác định được vị trí của anh ta. Thế là lại phải khiêng khẩu không giật 106 ly qua, lại một quả đạn lọt vào hầm để biến nó thành mồ chôn xác người bắn tỉa.

Chỉ hai ngày sau chuyện bắn tỉa lại tái diễn. Mấy tay pháo binh và cứu thương là những người căng thẳng nhất. Chỉ cần xớ rớ vài giây đồng hồ bên ngoài hầm trú ẩn là lại nghe tiếng cắc bùm khô khan của anh ta. Tệ nhất là những chuyến bay tải thương. Khiêng băng ca đã nặng nhưng nghe tiếng súng là phe ta phải quẳng các thương binh xuống để tìm chổ núp. May thay mấy ngày sau chúng tôi cũng xác định được vị trí của anh ta. Thế là phải vật vã vác khẩu 106 không giật qua phía bên này. Ðang khi điều chỉnh để xác định mục tiêu thì một anh binh nhì nêu lên một nhận xét không giống ai. Anh ta cho rằng suốt một tuần nay tay xạ thủ mới này vẫn bắn đều như tay trước, nhưng chưa hề trúng một ai nên cứ để yên cho hắn sống. Nếu chúng ta loại tay này quân Bắc Việt sẽ có ngay một người khác vào thay, gặp tay bắn giỏi thì khốn cả lũ. Thật có lý! Thế là khẩu 106 không giật được đưa về vị trí cũ.

Thỉnh thoảng có quân nhân còn phá phách bằng cách vẫy lá cờ đỏ khi nghe tiếng cắc bùm của anh ta. Đó là hiệu kỳ khai hoả trong xạ trường. Nhưng rồi chúng tôi nhận thấy hình như tay này cố ý bắn trật, chứ không phải hắn bắn dở. Không chừng anh ta biết số phận của các tay xạ thủ trước nên cố ý không gây thương vong cho chúng tôi. Ðàng nào thì cấp chỉ huy của anh ta cũng không có cách nào kiểm chứng được kết quả.
Chẳng biết thực hư thế nào, nhưng đó là cách suy diễn của chúng tôi. Vì thế, để hỗ trợ cho anh ta chúng tôi ngưng trêu chọc và có khi còn giả bộ trúng đạn. Anh ta tiếp tục ở đó, vẫn bắn đều đặn và vẫn không gây thương vong nào trong suốt thời gian hai tháng còn lại của cuộc vây hãm.

 Nhóm TQLC Mỹ luôn quan sát những người bắn tỉa từ phía địch. Hình dưới:  Đồi 881S

Đồi 881S là một trong nhiều ngọn đồi khá cao nhìn xuống căn cứ Khe Sanh, là tiền đồn xa nhất nằm phía Tây Bắc của miền Nam Việt Nam. Khe Sanh có một trung đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Mỹ trấn giữ, và đã bị hai sư đoàn Bắc Việt bao vây vào đầu năm 1968. TQLC đóng ở Khe Sanh đã điều nghiên rất kỹ trận Điện Biên Phủ, nơi quân Pháp đã bị lực lượng Việt Minh tràn ngập vào năm 1954. Lỗi lầm quân sự nghiêm trọng nhất của người Pháp là đã để cho Việt Minh có điều kiện mang quá nhiều trọng pháo lên các ngọn đồi xung quanh. Chính hoả lực của trọng pháo đã phá tan hệ thống phòng thủ của Pháp. Từ đó TQLC Hoa Kỳ rút ra bài học then chốt để bảo vệ cứ điểm lòng chảo Khe Sanh là không cho quân Bắc Việt kiểm soát các ngọn đồi quanh vùng.

Không phải đồi nào cũng là vị trí phòng thủ được, nhưng chúng tôi chạm địch thường xuyên trong cố gắng chiếm giữ những cao điểm có tầm nhìn bao quát. Các điểm này quan sát được cả đường chuyển quân về phía Khe Sanh của Bắc Việt từ hậu cứ của họ ở phía tây nằm trên đất Lào. Trong số các ngọn đồi này không cái nào quan trọng, cheo leo, hiểm trở và trống trải hơn đồi 881S. Đồi có sườn rất dốc, cao khoảng 450 thước so với khu thung lũng bao quanh. Đồi nằm cách căn cứ Khe Sanh khoảng 8 cây số về phía Tây. Nơi này đã từng là một chiến trường đẫm máu cách đây một năm, khi quân trú phòng Bắc Việt quyết định cố thủ. Vào giai đoạn đó chuyện tử thủ đồi 881S của CSBV là một chuyện khó hiểu. Nhưng sau nhiều đợt tấn công với tổn thất nặng nề lực lượng TQLC Hoa Kỳ đã chiếm được nó. Những trận đánh bom và mưa pháo yểm trợ trong các đợt tấn công đã đốt cháy rụi sườn đồi, chỉ để lại toàn hố bom xen kẻ với các hầm bê tông bị phá nát. Các hầm này đã trở thành mồ chôn rất nhiều bộ đội Bắc Việt.

Đồi 881S nhìn được cả đường số 9, một quốc lộ cũ thời Pháp thuộc. Đường 9 chạy ngoằn ngèo phía tây Khe Sanh qua biên giới Lào, lên tận Tchepone. Theo cách ví von của các tay TQLC trẻ tại Khe Sanh thì đây đích thị là “Indian Country” (tức là “vùng Việt Cộng”) vì hướng nào cũng lúc nhúc địch quân.

Còn một con đường khác ở phía đông, chạy từ căn cứ Khe Sanh xuống hậu cứ của TQLC ở dọc phía biển, gần khu Phi Quân Sự. Nhưng đường này chạy lòng vòng suốt 24 cây số qua nhiều khe núi hẹp và một số cầu cheo leo nên đã bị quân Bắc Việt cắt đứt từ mấy tháng trước. Đường tiếp tế duy nhất cho căn cứ Khe Sanh và cứ điểm trên các đồi là đường không vận. Phi trường Khe Sanh có phi đạo khá dài được lót bằng những tấm thép ghép lại, nên có một thời gian vận tải cơ C-130 vẫn đáp thường xuyên để tiếp tế thuốc men, thực phẩm và đạn dược. Nhưng sau đó các dàn cao xạ phòng không của Bắc Việt tăng cường quá mạnh, máy bay không đáp được nên phải thả dù để tiếp tế. Nước uống thì có thể lấy từ các con suối, và từ một cái giếng trong căn cứ.

Các cứ điểm trên đồi xung quanh có diện tích quá nhỏ, chỉ có thể tiếp tế bằng trực thăng. Trực thăng lại không chở được nhiều nên phải tiếp tế thường xuyên. Riêng các đơn vị phòng thủ trên những đỉnh đồi thì không lấy đâu ra nước để uống. Đưa một toán quân xuống các khe suối để lấy nước thì chắc chắn là làm bia bắn tỉa cho quân Bắc Việt đóng đầy xung quanh. Nếu toán lấy nước có người bị thương – một điều gần như chắc chắn – thì phải gửi một toán khá mạnh từ trên đồi xuống tiếp cứu, lực lượng phòng thủ trên đồi sẽ yếu đi một cách đáng kể. Mà nhiệm vụ duy nhất của đơn vị là giữ đồi, cho nên chuyện xuống suối lấy nước là chuyện không thể làm được.

Chúng tôi được hoả lực yểm trợ vô giới hạn của không quân và pháo binh. Lợi điểm của TQLC là vị trí cố định trên đỉnh đồi, xung quanh là khu oanh kích tự do. Vì thế chạm địch ngoài vòng rào, phía chân đồi là một sai lầm về chiến thuật chỉ làm phức tạp thêm chuyện yểm trợ một cách không cần thiết. Cách đơn giản nhất để thắng trong tình huống này là nằm yên trên đồi. Không quân và pháo binh biết rõ toạ độ, nên chỉ cần gọi pháo binh, B52 hoặc gần hơn thì súng cối 60 ly hoặc súng máy và lựu đạn để tấn công bất cứ dấu hiệu động binh nào của địch.

Mỗi ngọn đồi có một đơn vị tương đương một đại đội trấn giữ. Tất cả đều thuộc trung đoàn 26 TQLC có trách nhiệm toàn bộ căn cứ Khe Sanh. Đồi 881S là ngọn đồi xa nhất và khó tiếp viện nhất. Ở đó có toàn bộ đại đội “India”, hai trung đội và bộ chỉ huy đại đội “Mike” của tiểu đoàn 3 trung đoàn 26 TQLC trấn đóng. Hoả lực gồm một phân đội với 2 súng cối 81 ly, 2 súng không giật 106 ly và một chi đội pháo binh có 3 đại bác 105 ly. Vào ngày 20 tháng Giêng năm 1968 tôi có tất cả 400 binh sĩ TQLC.

Tình báo đã tiên đoán từ trước là quân Bắc Việt có ý định tấn công hoặc bao vây Khe Sanh. Vì thế hồi tháng 12 và đầu tháng Giêng tiểu đoàn trú đóng tại căn cứ Khe Sanh đã được tăng viện thêm 3 tiểu đoàn khác, với quân số mỗi tiểu đoàn là 1,000 người. Ngoài ra còn có một tiểu đoàn 300 quân nhân của quân lực VNCH. (Có lẽ đây chính là tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân của đại Úy Hoàng Phổ.) Nếu tính cả các đơn vị hậu cần và tiếp liệu thì lực lượng trú phòng ở Khe Sanh và các đồi lân cận lên tới 6,000 người.

 

Phù hiệu các lực lượng tham chiến trận đánh Khe Sanh, Sư đoàn 3 TQLC, Sư Đoàn Không Kỵ, Không Yểm từ Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ, và tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân Việt Nam.

Trái: Cựu Trung Tá BĐQ Hoàng Phổ, và  hình Đại Tướng Westmoreland gắn huy chương US. Presidenttial Unit Citation vào cờ tiểu đoàn 37 BĐQ Việt Nam.

Dù không đụng trận nào đáng kể trước ngày 20 tháng Giêng (1968), nhưng chúng tôi vẫn hành quân rất đều khu vực bao quanh đồi 881S. Vào ngày 18 và 19 chúng tôi có vài cuộc chạm súng lẻ tẻ với Bắc quân ở phía bắc đồi 881S, nơi mà trong các cuộc tuần tra trước đây chúng tôi không gặp gì cả. Vì lo lắng việc quân Bắc Việt có thể đang tập trung lực lượng về phía bắc đồi 881S nên tôi đã xin cấp trên cho mang đại đội India ra thám sát, và nếu cần phá vỡ các vị trí bố phòng của địch.

Đại đội chúng tôi được trực thăng vận xuống trước vào tờ mờ sáng 20 tháng Giêng. Đang di chuyển một cách chậm chạp và thận trọng qua vùng cây cối rậm rạp, chưa đi được quá 500 thước thì hai trung đội tiền sát bị tấn công. Hoả lực địch rất mạnh chứng tỏ một lực lượng đáng kể đang chờ chúng tôi. Trung đội của Trung uý Richard Fromme ở bên phải đã bị kềm lại, vì nhiều thương vong nên phải chuẩn bị bãi đáp cho trực thăng tải thương rồi mới tiến tới được. Chiếc trực thăng cứu thương vừa sà xuống thì bị trúng đạn phải dạt qua một bên để đáp khẩn cấp xuống một chổ trũng gần đó. Những binh sĩ TQLC trong trung đội dự phòng của Trung úy Michael Thomas lúc đó đang bảo vệ bãi đáp, không cần đợi lệnh đã phóng nhanh xuống khoảng 200 thước về hướng chiếc trực thăng. Cú đột kích bất ngờ làm cho những cán binh CS đang nấp sau trảng tranh hoảng hốt cắm đầu bỏ chạy mất dạng, không kịp bắn lấy một phát súng.

Cả phi hành đoàn đều bị thương, nhưng đã được kéo ra khỏi máy bay và được TQLC đưa về vị trí phòng thủ. Tất cả những người bị thương sau đó đã được một trực thăng khác bốc đi an toàn.

Trong khi cạnh sườn bên mặt đang chống đở vất vã như vậy thì trung đội của Trung úy Thomas Brindley bên cánh trái còn tệ hơn. Họ bị kẹt cứng giữa một vùng đất không có chổ nấp, chỉ cách gò chỉ huy của địch chưa tới 200 thước. Đạn địch bắn tới tấp làm họ không cách chi ngóc đầu lên được. Brindley là một sĩ quan rất lỳ. Biết rằng nằm đây chỉ có chết, và không cách nào giữ được vị trí này nếu không có yểm trợ. Thế là chàng kêu một loạt đại bác nhắm vào gò chỉ huy của địch. Lợi dụng đợt trọng pháo Brindley đã sắp xếp lại đội hình, ngay sau quả đại bác cuối cùng chàng đã xung phong chiếm được vùng cao điểm sau khi phải trả giá rất đắt. Nhiều người tử thương, trong đó có Brindley, và rất nhiều người bị thương. Lúc ấy đạn dược còn rất ít, và đơn vị chỉ còn một hạ sĩ chỉ huy.

Địch lui về phía sau chuẩn tái chiếm cao điểm này, nhưng đã bị diệt sạch nhờ một đợt bom xăng thả gần đến độ lông mày của nhiều quân bạn bị cháy trụi. Tình hình vẫn còn rất bi đát nên tôi để Fromme ở lại lo bên phía phải, tôi mang một trung đội qua giúp cánh trái bên kia đồi, đồng thời di chuyển các thương binh về chổ chờ trực thăng tải thương.

Chưa qua tới bên kia tôi chợt nhận ra một nhóm thám sát tám người thuộc trung đội Brandley đang bị hoả lực địch áp đảo phía dưới. Nhóm này bị lạc đội hình vì mất phương hướng trong cuộc chạm súng. Thomas đã tình nguyện tiếp cứu, nhưng chưa tiến được quá 20 thước anh đã bị trúng đạn. Ngay tức thì Trung sĩ David Jessup nắm trung đội và tiếp tục mở đường đưa nhóm thám sát và những người bị thương trở lại vị trí một cách khá an toàn.

Vào lúc này tất cả vị trí địch đã được xác định. Đại đội India xin trọng pháo và phi pháo yểm trợ với hoả lực tối đa để chống đỡ. Nhưng trời cũng bắt đầu sụp tối, và bởi vì sứ mệnh chính của đơn vị là trấn giữ đồi nên đại đội không thể rời xa đồi 881S để truy kích địch. Đại đội India đã bắt tay lại được với đại đội Mike để cùng nhau rút về đồi 881S an toàn dưới sự che chở của trận mưa trọng pháo vào các vị trí địch. So với con số xuất quân lúc sáng chúng tôi đã sụt mất 50 người, vừa chết vừa bị thương.

Ngay hôm sau, lúc 2 giờ sáng ngày 21 tháng Giêng quân Bắc Việt đã đồng loạt tấn công vào các vị trí ngoại vi quanh căn cứ Khe Sanh. Dưới các đợt tấn công biển người một cứ điểm nhỏ ở làng Khe Sanh, cách vòng đai căn cứ khoảng vài trăm thước, phải di tản. Nhưng các điểm khác đã đánh bật được mọi đợt xung phong. Nhờ pháo binh rót đều đặn vào các khu chuẩn bị dàn trận của Bắc Việt, cũng như các đường tiến quân nên địch đã không khai thác được thế thượng phong lúc khởi đầu. Đồi 881S dù là đồi ở điểm trọng yếu nhất ngoài căn cứ nhưng không bị tấn công trong đợt này. Có lẽ các cuộc chạm súng ngày hôm trước với các toán trinh sát quanh đồi đã đánh tan tố bất ngờ và gây thiệt hại đáng kể khiến họ bỏ kế hoạch tấn công 881S.

Trong suốt trận đánh từ nửa đêm 21 này các pháo thủ của hai bệ súng cối đã bắn liên tục gần 700 quả ở tầm xa tối đa để ngăn không cho địch chọc thủng vòng đai đồi 861. đồi này nằm về phía đông bắc của 881S. Nòng súng cối nóng tới độ quả đạn chưa chạm kim hoả đã được kích hoạt phóng ra sớm khiến đạn bay lệch đạn đạo quá xa. Phải dùng số nước uống rất hạn chế trong đồn để làm nguội ống phóng trước khi xài tiếp. Nhưng rồi hết nước uống, phải dùng tới nước trái cây. Nước trái cây cũng cạn. Cuối cùng lính phải sắp hàng thay nhau dùng nước tiểu để làm nguội nòng súng cối.

Trận đánh đầu tiên đã chấm dứt. Mọi đơn vị trên các ngọn đồi lo chỉnh đốn hệ thống bố phòng để đón những trận tấn công liên tục có thể bắt đầu bất kỳ lúc nào. Chúng tôi không phải chờ lâu. Hừng đông ngày 22 căn cứ Khe Sanh bị hàng loạt mấy trăm quả đạn pháo và hoả tiển hạng nặng gây thiệt hại dọc theo phi đạo chính và làm nổ tung kho đạn. Đại bác thì gồm có 152 và 130 ly, chính xác một cách chết người, bắn tới từ bên kia biên giới Lào, nằm về hướng tây và tây nam căn cứ Khe Sanh. Thêm vào đó là hoả tiển 122 ly, loại bó thành khối của Nga, bắn đồng loạt, mỗi lần khoảng 30 đến 50 trái từ nhiều hướng khác nhau. Dù là một căn cứ lớn, nhưng loạt pháo kích chưa từng thấy này đã làm tê liệt nhiều phần căn cứ Khe Sanh.

Riêng đồi 881S, vì đã mất yếu tố bất ngờ và biết chúng tôi sẳn sàng đánh trả nên địch đổi chiến thuật. Quân Bắc Việt quyết định cắt đứt đường tiếp liệu của đồi 881S để buộc chúng tôi phải triệt thoái. Cũng may TQLC chúng tôi có một cơ cấu tổ chức độc nhất vô nhị gọi là “Air-Ground Team”, nếu không thì không chừng quân Bắc Việt đã thành công. (Air-Ground Task Force là một công thức hành động phối hợp giữa TQLC trên không và TQLC trên bộ để hoàn tất một sứ mệnh đã định.)

Quân Bắc Việt bắt đầu đặt súng cối 120 ly phía tây 881S khoảng 5 cây số. Súng được đặt gọn trong các đường hầm ngắn đào sâu vào vách núi với góc độ cần thiết để tác xạ. Máy bay không thể nào phát hiện vị trí các ổ súng này, và nếu có biết cũng không thể nào làm nó câm họng được, trừ khi thả bom hay bắn trọng pháo lọt đúng ngay vào miệng hầm. Đồi 881S là một mục tiêu cố định, vì thế địch chỉ cần điều chỉnh một hai ly chiều thẳng đứng hay ngang là có thể bắn trúng bất cứ điểm nào trên đồi. Cả tiếng “thụp” khô khan của súng cối cũng chìm mất vào trong lòng núi. Âm thanh của súng cối khai hoả là tiếng kêu rất đục và ngắn, chỉ có những lỗ tai thính lắm mới nghe được. Ấy là trong điều kiện không có gió, không có tiếng bom hay trọng pháo, không có tiếng máy bay… tức là phải yên lặng như tờ. Điều kiện này chẳng mấy khi có được ở Khe Sanh.

Lúc đầu chúng tôi chỉ cần một trực thăng tiếp tế. Phi công thường yêu cầu chúng tôi phải sẳn sàng trong giao thông hào, đồng loạt bắn tưới lên các hướng núi dày đặc cao xạ phòng không để chặn, trước khi anh ta giảm cao độ để đáp. Nhưng kết quả thật thê thảm. Ngay khi phi công hướng về một điểm đáp, tiền sát của quân Bắc Việt báo ngay vị trí này cho các tay bắn súng cối. Các tay này chỉ tốn vài giây đồng hồ điều chỉnh là họ có thể “đặt” quả đạn vào đúng vị trí họ muốn trên đồi 881S. Họ biết rất chính xác các góc độ vì họ vẫn bắn như thực tập hàng ngày. Trong tiếng ồn của máy bay trực thăng chúng tôi không thể nghe được tiếng súng cối khai hoả, nhưng chúng tôi biết quả đạn chỉ cần 25 giây đồng hồ để bay tới mục tiêu. Chuyện cất hàng xuống và đưa thương binh lên trong vòng 25 giây là chuyện không thể làm được.

Vào ngày 22 (tháng Giêng) hai loạt súng cối chụp xuống ngay bãi đáp khi người bị thương sau cùng đang được đưa lên trực thăng tải thương. Đúng 22 người, vừa chết vừa bị thương nội trong cú đó, kể cả phi hành đoàn. Chiếc trực thăng hoàn toàn bị phá hủy cùng tất cả lính bị thương trong đó.

Tới đầu tháng Hai súng cối và hoả lực phòng không liên tục đã làm hai đại đội India và Mike thiệt hại tới 150 TQLC và 6 trực thăng. Nếu kể cả các binh sĩ chết hay bị thương vì bắn tỉa thì mức thiệt hại của chúng tôi là 50%, và không có dấu hiệu nào cho thấy tình hình bi đát này sẽ chấm dứt.
Với tỷ lệ này thì chẳng bao lâu nữa sẽ không thể giữ được cứ điểm 881S. Quân bổ sung thì thỉnh thoảng lại bị trúng đạn ngay khi chưa kịp rời trực thăng. Lính tráng thì chỉ còn được phần tư bi đông nước uống mỗi ngày. Với khí hậu tại đây thì lượng nước này không thể nào chấp nhận được. Mỗi khi phá được ổ phòng không nào thì lập tức quân Bắc Việt thay thế ngay, cũng nhanh như thay thế các tay bắn tỉa vậy.

Giải pháp cho tình hình này của chúng tôi là một giải pháp khác thường nhưng có hiệu quả ngay tức thì, và lần nào cũng y như lần nấy. Có lẽ ít quân đội nào trên thế giới có thể làm được. Kế hoạch tiếp vận được tính toán và tập dượt rất kỹ lưỡng, thời gian phải chính xác tuyệt đối để phối hợp lược lượng trên không với dưới đất. Chúng tôi thực hiện chiến thuật “Super Gaggle” – đàn ngỗng siêu hạng – vào một ngày quang đãng giữa tháng Hai.
Sau khi ra hiệu trước, các khẩu súng cối trên đồi 881S bắn hàng loạt đạn khói trắng về hướng các vị trí súng phòng không mà chúng tôi đã xác định được. Loạt đạn khói vừa chạm đất thì lập tức 4 phản lực cơ tấn công A4 Skyhawk đâm xuống bắn phá các vị trí này theo các trái khói định vị của chúng tôi. Mỗi chiếc Skyhawk đều mang dưới cánh nhiều hoả tiển chống xe tăng hạng nặng (5inch). Tiếp theo ngay lập tức là 4 phi tuần Skyhawk khác mang bom xăng (napalm) xuất hiện nối đuôi nhau tạo một bức tường lửa quanh đồi. Mục đích loạt bom napalm này là tiêu diệt các tay súng vẫn luôn luôn nằm ngữa dưới các hầm cạn quanh vòng đai để bắn vào bụng trực thăng khi phi công sà xuống chuẩn bị đáp. Rồi tới 2 phi tuần Skyhawk rãi hàng ngàn trái bom tí hon đều khắp cạnh sườn thung lũng. Loại bom tí hon này được chỉnh giờ khác nhau để phát nổ lai rai và liên tục trong nhiều phút. Sau đó đồi 881S bắn một loạt đạn trái khói khác về hướng các vị trí phòng không. Nếu họ chưa bị không quân tiêu diệt thì các cột khói phosphorus trắng này sẽ khiến họ không thấy được gì trên bầu trời.

Súng từ các vị trí địch im tiếng, chỉ còn lác đác vài quả đạn cối rơi lưa thưa. Chắc chắn quân Bắc Việt đang còn núp dưới các hầm cá nhân, nếu họ còn sống, hoặc đã bị chôn vùi dưới vài thước đất đá.

Lẫn trong khói súng và bụi đất mịt mù có 10 chiếc trực thăng CH-46 của TQLC lù lù xuất hiện. Mỗi chiếc mang theo khoảng một tấn đồ tiếp liệu và đạn dược. Khi các trực thăng CH-46 tới gần đồi 881S thì thêm 4 phi tuần Skyhawk xuất hiện. Mỗi bên 2 chiếc trải thêm một màng khói bên hai cạnh sườn giữa đồi 881S và các vị trí cao xạ phòng không của địch. Mục đích là tạo một giải không gian hẹp cho các trực thăng CH-46 đáp xuống 881S giữa hai bức tường khói.

 Phản lực cơ Douglas A4 Sky Hawk

Trực thăng cứ theo đội hình năm chiếc lần lượt đáp xuống, bỏ hàng, nối đuôi nhau cất cánh ngay vào giữa hai đám khói. Trong đội hình thứ hai có một chiếc chở các quân nhân bổ sung đồng thời mang người bị thương cũng như tử thương về hậu cứ. Vị trí đáp của chiếc này luôn luôn thay đổi, nhờ đó đạn súng cối của địch không bao giờ rơi trúng một chiếc trực thăng tải quân nào khác.

Toàn bộ cuộc phối hợp tác chiến và tiếp viện có tên gọi là Super Gaggle này kéo dài không đầy 5 phút, và từ khi màn khói chắn được trải ra cho tới lúc chiếc trực thăng cuối cất cánh không bao giờ quá 30 giây đồng hồ. Hoả lực phòng không của quân Bắc Việt vẫn quét ngang dọc qua đỉnh đồi, nhưng chỉ là bắn bừa với số lượng ít hơn nhiều cho nên không hiệu quả gì. Đạn súng cối vẫn tiếp tục rơi đều cả giờ sau khi tất cả các phi cơ đã rời trận địa, nhưng không làm gì được chúng tôi vì tất cả đã chui xuống hầm. Khoảng một chục tấn hàng tiếp liệu nằm rãi rác khắp nơi. Lực lượng bổ sung đã an vị dưới các giao thông hào, những người lính TQLC bị thương đã rời xa khỏi căn cứ. Thường thì chúng tôi không chịu thiệt hại nào về nhân sự trong các chuyến tiếp quân này.

Chiến thuật này được điều khiển từ chiếc phản lực TA-4 hai ghế do chính ông phi đoàn trưởng phi đoàn A4 lái, ghế sau là phi đoàn trưởng trực thăng lo việc liên lạc vô tuyến thường xuyên xuống đất với tôi. Tất cả đều là dân TQLC đã từng huấn luyện với nhau, cùng diễn hành, cùng tiệc tùng với nhau nhiều năm trời. Nhờ vậy chúng tôi mới có thể thực hiện một chiến thuật phức tạp đến từng giây từng khắc một cách hoàn hảo.
Màn đêm vừa phủ xuống là lúc chúng tôi bò ra gom đồ tiếp liệu, vì lúc đó quân Bắc Việt không thấy được các hoạt động của chúng tôi. Kiện hàng nào cũng đầy mảnh đạn súng cối. Sau khi phân phối xong chúng tôi phải vào vị trí ứng chiến. Từ sụp tối đến nửa đêm chúng tôi thay nhau, phân nửa thức phân nửa ngủ. Từ nửa đêm tới sáng chúng tôi ứng chiến 100%.

Lý do rất đơn giản là ban ngày địch không động binh vì sợ chúng tôi phát hiện, nên phải chờ đến tối. Từ chạng vạng tối mà leo từ chân núi lên, nếu leo giỏi thì sớm lắm cũng phải nửa đêm địch mới tới được vòng đai của chúng tôi. Bọn TQLC chúng tôi vẫn leo hoài nên biết rất rõ. Lúc ấy chúng tôi đã sẵn sàng rồi.

Đồi 881S không bị tấn công lần nào. Thỉnh thoảng địch có vài hoạt động thăm dò bên ngoài vòng đai. Đây là cơ hội để binh sĩ TQLC chứng minh rằng chúng tôi ném lựu đạn xuống dễ hơn quân Bắc Việt ném lên, và nhất là lựu đạn chúng tôi ném không bao giờ lăn ngược trở lại phía chúng tôi! Để tiết kiệm nước và tránh thương vong chúng tôi làm việc chủ yếu vào ban đêm, ban ngày chỉ tập trung vào việc quan sát. Thương vong tuy vẫn có, nhưng so với trước khi thực hiện chiến thuật Super Gaggle thì nhẹ hơn nhiều vì binh sĩ luôn ở dưới hầm.

Trong khi hoả lực của quân Bắc Việt giảm đi thì của chúng tôi lại tăng lên. Thời tiết tốt hơn nên ngày nào cũng có phi cơ yểm trợ. Các địa điểm đặt hoả tiễn của địch bị bắn phá thường xuyên. Một chuyện nhỏ nói lên lòng kiên nhẫn và sự tinh mắt của một binh sĩ trẻ, đó là Hạ sĩ Molikau Niuatoa, người Mỹ Samoan. Anh ta dùng viễn kính 20x của hải quân đã tình cờ thấy được ánh chớp của đại bác địch khai hoả ở tít chân trời, cách chúng tôi khoảng 15 cây số. Anh ta là người vẫn quan sát ngày này qua tuần nọ, dựa vào tiếng khai hoả của trọng pháo bắn vòng qua đầu chúng tôi hướng tới căn cứ Khe Sanh. Hạ sĩ nhất Robert Arrotta, người hướng dẫn phi cơ oanh kích đã gọi ngay một phi cơ quan sát tới vùng đó, nhưng không ai có thể thấy được chiếc phi cơ ở xa như vậy để hướng dẫn đến mục tiêu.

Vì sự quan trọng của mấy khẩu đại bác này nên dù chưa xác định được mục tiêu phi công quan sát đã nôn nóng gọi mấy oanh tạc cơ đến. Lượn vòng mãi vẫn chưa có toạ độ, phi cơ quan sát bắn một trái khói trắng để làm chuẩn, nhưng ở đồi 881S không nhìn thấy được cột khói xa như vậy. Rồi tới các oanh tạc cơ sắp phải quay trở về nếu không sẽ bị cạn nhiên liệu. Sốt ruột, phi cơ quan sát đề nghị thả một quả bom 150 ký xuống một mỏm đá để làm dấu, và các quan sát viên ở đồi 881S đã thấy được điểm này. Sau vài lần điều chỉnh viên phi công quan sát cho biết đã xác định được vị trí. Kết quả là 5 khẩu 130 ly do Nga chế tạo bị phá hủy. Loại đại bác này có tầm đạn gần 30 cây số và rất chính xác nên đã gây cho chúng tôi không biết bao nhiêu là tổn thất.

Vào tháng Ba thì vòng vây quanh Khe Sanh đã nới lỏng. Đại Úy đại đội trưởng Harry Jenkins của đại đội Mike và tôi có thể chơi trò “nhạc trưởng”, dùng máy vô tuyến truyền tin làm gậy điều khiển một dàn đại hoà tấu của bom đạn. Chúng tôi có hoả lực gần như vô giới hạn của trọng pháo và phi pháo, gọi là có ngay để tấn công vào bất cứ cái gì nhúc nhích, bất cứ tiếng động lạ nào, bất cứ mùi nào khả nghi, hay bất cứ điểm nào chúng tôi chỉ linh cảm là có quân Bắc Việt. Âm thanh của giàn nhạc này kéo dài liên tục. Vùng cao nguyên xanh tươi trước đây ba tháng giờ trông chẳng khác nào mặt trăng cháy nám, đầy những hố bom nối liền nhau nằm lẫn với các gốc cây chỏng trơ.

Cuộc vây hãm không chấm dứt một cách đột ngột. Quân Bắc Việt như từ từ tan biến đi, chỉ để lại vài chốt tử thủ kháng cự một cách vô vọng cho lực lượng tăng viện làm cỏ. Cuộc tấn công toàn diện vào căn cứ Khe Sanh không bao giờ được thực hiện. Một chuyện diễn ra, hình như vào ngày 1 tháng 4, khi quân tiếp viện đã tới, rất có thể là lý do tại sao cuộc tấn công đã không diễn ra.

Giữa thanh thiên bạch nhật chợt có hai bộ đội Bắc Việt trần truồng chạy về hướng vòng đai của chúng tôi, chân chạy tay vẫy tờ truyền đơn xin gọi là “giấy thông hành” ra đầu thú. Một người bị đồng đội anh ta từ phía sau bắn hạ ngay, người kia ngã xuống ngoài vòng rào. Chúng tôi bắn yểm trợ cho một binh sĩ TQLC bò ra kéo anh ta vào. Anh ta là một người to con, cao gần thước tám, vạm vỡ, trông rất khoẻ mạnh. Chúng tôi bắt đầu hỏi cung anh ta, nhưng bị gián đoạn vì một phản lực cơ của TQLC bay ngang. Anh ta hoàn toàn biến thái, mất tự chủ mọi thứ, từ con mắt tới cơ bắp và dĩ nhiên cả chuyện tiểu và đại tiện. Anh ta run lẩy bẩy và té xụm ngay trong giao thông hào. Một tiếng vỗ tay mạnh sau lưng anh ta cũng gây nên trạng thái kinh hoàng y như vậy.

Trạng thái tâm lý của người hồi chánh đã bị bại liệt hoàn toàn vì anh ta và đồng đội đã bị hoả lực kinh hồn của chúng tôi vùi dập trong suốt 77 ngày. Những lúc tỉnh táo anh cho biết nhiều đồng đội của anh cũng bị khủng hoảng như vậy. Thế thì họ không đánh lớn vào Khe Sanh được là phải rồi.
Đại đội India trở về vùng duyên hải với quân số vỏn vẹn có 19 người, so với lúc đến đóng quân ở đồi 881S là 200. Đại đội Mike làm ăn khá hơn đôi chút. Khi dừng chân qua đêm ở một hậu cứ khá an toàn tại Quảng Trị đại đội India mất thêm 6 trong số 19 người còn lại vì một hoả tiễn rớt ngay lều trú quân của họ. Công cuộc phòng thủ cứ điểm Khe Sanh kể như thành công, nhưng với tổn thất rất cao. (Trà Bồng viết lại)

Đại Úy WILLIAM DABNEY

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Hải Ngoại Phiếm Đàn

Tiểu Đoàn 37 BĐQ

Khe Sanh 2 Cựu Sỹ Quan Ưu Tú


Tại Sao và Tại Sao? – Chu Chi Nam

Blog Mười Sáu xin Chúc Mừng Giáng Sinh 2014 đến quý độc giả.

Bài đọc suy gẫm: Tại sao Việt Nam vẫn chưa có cách mạng của tác gỉa Chu Chi Nam.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

   TẠI SAO VIỆT NAM VẪN CHƯA CÓ CÁCH MẠNG?

Đây là một đề tài tôi đã suy nghĩ nhiều năm, nếu không muốn nói là hàng bao chục năm, và đã viết rất nhiều lần; nhưng nay tôi vẫn phải viết lại, vì Việt Nam vẫn chưa có cách mạng. (1)

Cách mạng vẫn chưa xẩy ra ở Việt Nam như đã xẩy ra ở Liên sô, Đông Âu, ở các nước Ả rập, mà tiêu biểu là Tunisie, Ai cập, Lybie và hiện đang xẩy ra ở Syrie, Miến điện; nhưng vẫn còn chưa xẩy ra tại Việt Nam, là vì rất nhiều nguyên do. Đây tôi chỉ nêu lên một vài nguyên do chính, theo thiển nghĩ của tôi:

I ) Vì phe đối lập cộng sản không có tổ chức, nhiều khi bị lâm vào cảnh: “ Nhiệt tình mà không có tổ chức thành ra phá hoại.”

Sự quan trọng của tổ chức, đây là điều mà Tôn tử và ngay cả Lénine, mặc dầu là người cộng sản, chúng ta không thích, đã ý thức từ lâu.

Chúng ta thấy Tôn Tử, dùng những người phụ nữ, tỳ thiếp của vua Hạp Lư, huấn luyện, tổ chức hóa, để trở thành những người chiến sĩ, mà lúc đó chỉ giành cho nam giới.

Chính Lénine nói: “ Tổ chức, tổ chức và tổ chức.”

Vậy tổ chức là cái gì?

Theo chữ tây phương, chữ “ Organisation “đến từ chữ “ Organes “ có nghĩa là những bộ phận của con người, gồm có đầu ( bộ óc), tim, bụng và chân tay. Mỗi bộ phận có một nhiệm vụ riêng, nhưng liên quan, hỗ trợ với nhau. Một con người chỉ có óc tim cũng không được, mà chỉ có bụng, chân tay không cũng không xong.

Chính vì vậy mà khi nói đến tổ chức là người ta nói đến sự huấn luyện, chỉ huy và liên hệ từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên.

Thật vậy, Tôn Tử đã dùng những mỹ nhân trong cung của vua Hạp Lư gồm 180 người, huấn luyện thành lính, thành tổ chức.

Khi huấn luyện, xắp đặt hàng ngũ xong, Tôn Tử nói: “ Quân đã chỉnh tề, nhà vua có thể xuống coi, rồi tùy nhà vua muốn dùng vào việc gì thì dùng, dẫu bảo họ dẵm vào nước vào lửa cũng được.” ( Theo Tôn Ngô binh pháp – bản dịch Ngô văn Triện ).

Theo tư tưởng Tây phương, với những triết gia như Socrate, Platon và Aristote, những người đã suy nghĩ nhiều về tổ chức, suy nghĩ về việc làm thế nào để tổ chức một xã hội tốt đẹp, sống có hạnh phúc, thì họ đã lấy cách cấu tạo của con người, gồm cái đầu, bụng và tứ chi rồi suy rộng ra, nhất là theo Platon.

Theo ông này, một xã hội cũng vậy, cái đầu của một xã hội chính là giai tầng triết gia, luật gia, làm ra những quan niệm sống, những luật lệ căn bản để điều hành xã hội, quan niệm nhà lãnh đạo đồng thời phải là một triết gia ( Leader – philosophe), là quan niệm của Platon; tứ chi của xã hội chính là giai tầng quân nhân, chiến sĩ có nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho xã hội, bảo toàn lãnh thổ, chống lại sự đe dọa, xâm lấn của ngoại bang; giai tầng làm kinh tế chính là cái bụng của xã hội lo việc sinh sống hàng ngày. Ba gia tầng này hợp tác với nhau, cộng hưởng và hòa hợp với nhau để điều hành xã hội. Chữ Cộng Hòa ( la République), có nghĩa là cộng tác và hòa hợp với nhau, và đồng thời là tên quyển sách của Platon, mà nhiều triết gia, nhà tư tưởng chính trị sau này cho rằng những hiến pháp hiện nay, nhưng tư tưởng xã hội chỉ là những bản sao chép của quyển sách này.

 Ba ông triết gia tư tưởng của nhân loại. Socrate, Platon và Aristote (dưới)

Ở đây, chúng ta thấy quan niệm của Socrate, thầy của Platon, của Platon, thầy của Aristote, khác hẳn quan niệm của Karl Marx.

Các ông trên chủ trương hợp tác giai cấp, thay vì đấu tranh giai cấp như Marx.

Kinh nghiệm gần 100 năm áp dụng quan niệm của Marx bị thất bại đã cho chúng ta thấy điều đó.

Ở đây tôi xin mở ngoặc nói về một số sử gia Việt Nam và ngay cả ngoại quốc cho rằng Hồ chí Minh là người cộng hòa ; điều này chứng tỏ họ chẳng hiểu gì về lý thuyết, triết lý chính trị. Họ Hồ chủ trương đấu tranh giai cấp, đâu có chủ trương hợp tác giai cấp như Platon, thì làm sao là cộng hòa được.

Trở về vấn đề tổ chức, con người gần như không thể một mình mà làm lên việc lớn, mà cần phải 2, 3 và rất nhiều người khác, nhất là trong lãnh vực đấu tranh chính trị. Vì vậy nên cần phải có tổ chức, có đường lối đấu tranh để qui tụ người khác.

Chúng ta có thể ví những cố gắng đấu tranh của mỗi cá nhân như những hạt mưa, đường lối đấu tranh như kim chỉ nam, và tổ chức đấu tranh như một dòng suối. Những hạt mưa phải được kim chỉ nam hướng về dòng suối, mới có thể tạo nên sức mạnh, mới có thể cuốn đi những rác rưởi của dòng lịch sử dân tộc, nếu không thì những hạt mưa chỉ ngấm vào lòng đất, không tạo nên sức mạnh mong muốn.

I I ) Vì cộng sản ý thức rõ điều này, nên tìm cách phá hủy tất cả những tổ chức đối lập ngay từ trong trứng nước, theo kiểu: “ Đánh rắn phải đanh dẹp đầu.”

Thật vậy, vì ý thức rõ vai trò quan trọng của tổ chức, nên cộng sản đã tìm đủ mọi cách để phá vỡ những tổ chức đối lập, bằng cách cô lập hay tiêu diệt những thành phần lãnh đạo đối lập, hoặc chia rẽ tối đa những người đấu tranh, chẳng khác nào một con người mà không có óc, hay nếu có óc thì không có chân tay.

Chính sách ngu dân hay bắt dân phải nghĩ theo lề lối đã được qui định bởi đảng là như vậy.

Chính vì vậy, mà giới lãnh đạo cộng sản cố biến xã hội loài người thành loài sâu bọ, con người không có đầu óc, chỉ biết sống, mà không biết suy nghĩ hay suy nghĩ theo lề lối định sẵn bởi đảng.

Ông Yakolek, cựu Ủy Viên Bộ Chính trị, cố vấn của ông Gorbatchev, cha đẻ của Chính Sách Tái cấu trúc ( Pérestroïka) và Trong sáng ( Glasnost), đã nói:

“ Cộng sản là loài sâu bọ, con mới đẻ đè lên xác con già, con già đạp lên con trẻ; nhưng trong đó có con khỏe nhất, leo lên chỗ cao nhất. Tuy nhiên để được như vậy, thì nó đã phải dẵm lên xác không biết bao con khác.”

Chúng ta cứ quan sát 2 đảng cộng sản còn lại của 2 nước tiêu biểu là Trung cộng và Việt Nam thì rõ: Trung Ương đảng, Bộ Chính trị, chúng tìm cách “ Trát cứt lên mặt nhau “, như người dân thường nói, người này tố cáo kẻ kia tham nhũng, Trương tấn Sang, Nguyễn phú Trọng tố cáo Nguyễn tấn Dũng và ngược lại; cũng như đảng cộng sản Trung cộng: Bạc hy Lai bị tố cáo tham nhũng hối lộ và chuyển nhiều tỷ US Đô la ra ngoại quốc, vợ còn bị tố cáo giết người, ngày hôm nay thì phe cánh của họ Bạc đưa ra những nguồn tin gia đình của Ôn gia Bảo, đương kim Thủ tướng có gia sản đến gần 3 tỷ $, mặc dầu họ Ôn lúc nào cũng tự nhận là trong sạch. Ngay cả người sắp lên chức Chủ tịch đảng là Tập cận Bình, đã được thăng tiến nhờ thành tích chống tham nhũng tại Chiết Giang, cũng luôn tự nhận mình xuất thân nghèo nàn và trong sạch. Nhưng theo bản tin của Blooberg, tổng số tài sản của gia tộc ông đến cả 2 tỷ đô la, gồm 376 triệu đầu  tư tại nhiều công ty, 1,73 tỷ đầu tư gián tiếp vào các công ty đất hiếm và  20,2 triệu vào một công ty công nghệ  khác.

 Bạc Hy Lai bị điệu ra trước tòa, hiện Chu Vĩnh Khang cựu ủy viên trung ương đảng cũng đã bị bắt với nhiều cáo buộc.  Màn kịch thanh trừng lớn bên Tàu đã bắt đầu.

Người này tố cáo người kia, nhưng thực ra chúng đều là sâu bọ, hại dân, mọt nước.

Chúng không còn liêm sỉ. Người xưa có câu: “ Nhân vô liêm sĩ hà như vật dã ! “( Con người không có liêm sỉ thì chỉ là con vật.)

Nhìn vào Hội nghị Bộ Chính Trị Cộng sản Việt Nam vừa qua, chúng phê bình và tự phê, rồi chúng cùng nhau đưa ra Hội nghị toàn thể Trung Ương, nhưng kết quả chúng ta thấy gì: Chúng nhận lỗi, xin lỗi rồi chẳng có ai bị kỷ luật. Chuyện này không phải mới đây mà từ thời Phạm văn Đồng làm thủ tướng, họ Phạm cũng từng nhận lỗi « Tôi có lỗi, anh có lỗi, chúng ta đều có lỗi « rồi bọn chúng, cá mè một lứa, lại bao che cho nhau, bảo vệ địa vị để tiếp tục hút máu mủ, tham ô tài sản của dân chúng.

Hãy nhìn những nước tự do, dân chủ, có đạo đức, liêm sỉ, như Nam Hàn, mặc dầu mới dân chủ, nhưng đương kim tổng thống, ông Lee Myung-bak, vào tháng 7/2012 đã phải xin lỗi trước quốc dân vì anh trai đang bị điều tra về tham nhũng với số tiền là 525.000 $, vì sự kiện này đã làm xấu đi hình ảnh của đất nước. Chúng ta cũng không quên vào năm 2009, cựu tổng thống Nam Hàn, ông Roh Moo Hyun, đã nhảy xuống vực xâu tự tử sau khi biết được phu nhân ông đã nhận hối lộ 1.224.000 $.

Tinh thần liêm sỉ là như vậy.

Hình Tổng Thống Đại Hàn Roh Moo Hyun được phóng lớn trong tang lễ ông. 

Trong khi đó giới lãnh đạo cộng sản Tàu và Việt Nam, xin lỗi dân không biết bao nhiêu lần, nhưng tật nào vẫn tật đó.

Chính vì vậy mà người dân Việt có câu ca dao:

Sửa sai thì cứ sửa sai. Sửa thì cứ sửa, sai thì cứ sai“

Tuy nhiên, nên nhớ, lâu dài mọi thứ sẽ được phơi bày ra ánh sáng, không có một tội lỗi nào có thể bỏ qua và không bị xét xử: nếu người khác quên, thì chính người gây tội sẽ nhớ; nếu tòa án công cộng, pháp lý không xét xử, thì tòa án lương tâm sẽ xét xử.­

Ngoài những thảm họa do cộng sản gây ra cho quốc gia và dân tộc, cố tình ngăn chặn cuộc cách mạng tự do, dân chủ xẩy ra, nhìn con người và xã hội Việt Nam, chúng ta còn thấy những khuyết điểm sau và cũng là trở lực ngăn cản cách mạng:

Đó là truyền thống quân chủ phong kiến “ Trên đội dưới đạp “, “ Học để có bằng cấp, để làm quan “, ngày hôm nay thì “ Khiếp sợ quan quyền “, những thứ này đã quá ăn sâu vào đầu óc dân Việt.

Một nhà tư tưởng chính trị, cách mạng có nói:

“Để làm cách mạng thì cần đến giai tầng bình dân; nhưng để cho cách mạng thành công, thì cần đến giai tầng sĩ phu, trí thức.

Giai tầng bình dân Việt Nam hiện nay đã trở thành “ Vô cảm “, “ Bị thịt”, không có phản ứng. Phải chăng đã quá ê chề sau một thời gian dài chiến tranh và bị phỉnh gạt bởi cộng sản, và ngày hôm nay chỉ biết ăn chơi và hưởng thụ.

Không nói đâu xa, nói ngay đến những người Việt ở hải ngoại, mới ngày nào vượt biên, con hay vợ bị hải tạc hãm hiếp, chết dở, sống dở, ngày hôm nay có tý tiền, đã trở về Việt Nam tìm thú vui, mang tiền tiếp máu cho cộng sản.

Giai tầng trí thức thì phần lớn là trí thức bằng cấp, học để được ra làm quan, theo kiểu “ Chửa đỗ ông nghè, đã đe hàng tổng “, trên đội, dướp đạp, ngày xưa thì đội triều đình, ngày nay thì đội bạo quyền, chân thì đạp dân, mặc kệ dân, theo kiểu chủ nghĩa “ Mackeno “, mặc kệ nó, nói chi đến hướng dẫn, tổ chức dân làm cách mạng.

Cộng thêm vào đó có bản tính của chính người dân Việt:

Người Việt chúng ta: kiến thức thì nông cạn; nhưng lúc nào cũng tự cho mình hiểu biết mọi sự, mọi việc, lấy những cái khôn vặt làm sự hiểu biết chính; thua kém mọi người, nhưng lúc nào cũng tự nghĩ mình hơn mọi người; nặng vì tình, nhẹ về lý, vì vậy phần lớn cách suy nghĩ, hành động thường được đo bằng thước: “ Trực giác nóng lạnh, tình cảm giận hờn “, lúc đầu thì vồn vã, thắm thiết, nhưng sau thì cắn quái lẫn nhau; giữa những người Việt, ít có những chương trình, kế hoặch  lâu dài, trong đủ mọi lãnh vực, ngay cả buôn bán, thám hiểm, du lịch, nên khó đi đến tổ chức lâu bền. Có lẽ vì vậy, mà trong nền văn học Việt Nam, chúng ta chỉ thấy những nhà văn, nhà thơ, tả tình, tả cảnh, chứ không thấy những nhà tư tưởng về chính trị, xã hội, những triết gia.

Người Việt chúng ta có một bản năng sinh tồn rất mạnh: gặp khó khăn nào cũng cố vượt qua, gặp hoàn cảnh nào cũng cố thích ứng, nhưng một khi khó khăn được khuất phục, hoàn cảnh được thích ứng, thì đã vội tự mãn. Có lẽ vì vậy mà người Việt thành công nhiều ở mức độ trung bình; nhưng ít có ai vượt trội hẳn lên ở mức độ cao.

Và từ đó, một câu hỏi đến với chúng ta: Làm thế nào để cách mạng tự do, dân chủ sớm đến Việt Nam?

Câu trả lời: Đó là hãy cách mạng bản thân trước tiên, sau mới cách mạng xã hội.

Cách mạng bản thân đây là khắc phục tất cả những thói hư, tật xấu, những khó khăn gặp phải, phải sống can đảm, không sợ hãi bạo quyền, sống lạc quan, luôn tin rằng đời sống của chính mình, của gia đình mình, của dân tộc mình sẽ mỗi ngày một tốt đẹp hơn, thay vì lúc nào cũng bi quan, than thân trách phận chán, rồi đi đến chỗ trách người khác, không thể tạo dựng được tổ chức, hay vì có tinh thần “Không ăn thì đạp đổ”, mới cùng nhau gây dựng lên một tổ chức, nay chỉ vì một sự bất đồng nhỏ, đã đạp đổ, vứt bao công trình đã gầy dựng trước đây, xuống sông, xuống biển.

Để tạo ra tổ chức, một trong những điều kiện chính là những người thành lập, nhất là lúc đầu, phải có tinh thần kỷ luật tự giác.

Có lẽ đây là điều thiếu xót lớn của nhiều người Việt chúng ta, chỉ thích kỷ luật áp đặt, do ông chủ, do bạo quyền đưa xuống, hoặc áp đặt cho người khác, chứ không thích tự áp đặt cho mình kỷ luật. Vì vậy, người Việt chúng ta phần lớn thích đi làm công hơn là tự mình làm chủ.

Sống đạo đức, can đảm, lạc quan, độc lập và hy vọng, đó chính là đức tính của con người dân chủ.

Và chỉ khi nào mỗi người Việt chúng ta đều thấm nhuần được những đức tính đó, thì cuộc cách mạng dân chủ, tự do, nhân quyền mới sớm đến với Việt Nam,

Vì tôn trọng nhân quyền bắt đầu bằng tôn trọng quyền của chính mình, không sống hèn hạ, khiếp sợ, để cho những quyền căn bản của mình bị cường quyền chà đạp, sống vô lương tâm, vô liêm sỉ, vô trách nhiệm, miễn sao yên thân, theo kiểu chủ nghĩa “ mặc kệ nó “, của một số trí thức ở trong và ngoài nước, hay:  “ Nhà hàng xóm cháy thì kệ họ, miễn nhà mình không cháy là được rồi.”

Chính vì vậy, mà khi mới nhậm chức vào năm 1978, Đức Giáo hoàng Jean Paul II, về viếng thăm quê hương, ngài đã đọc một bài diễn văn trước dân tộc Ba lan, trong đó có mấy câu quan trọng sau:

Đức Giáo Hoàng John Paul II kêu gọi giáo dân đừng sợ: Lời nói nổi tiếng của Ngài trước cả triệu người trên Quảng trường Chiến Thắng trong dịp hành hương về đất mẹ Ba Lan còn là cộng sản, trong năm 1979, vẫn luôn luôn hiện hữu với dân tộc Ba Lan: “Xin Chúa hãy hiển linh – Để thay đổi diện mạo của đất – Mảnh đất này!” và “Các con đừng sợ hãi!”. Blog 16.  Hình dưới: Có thể nói từ cổ chí kim chưa có đám tang nào mà số người tham dự đông đảo lên tới hơn cả triệu người tràn ngập Rome để đưa tiễn Đức Giáo Hoàng John Paul II khi ngài mất.

“ Hãy can đảm, đừng sợ hãi và hãy hy vọng ! “

Câu nói này đã là một trong những nguyên do chính đưa đến cuộc cách mạng dân chủ, nhân quyền tại Ba Lan.

Paris ngày 06/11/2012

Chu chi Nam

(1)  Xin xem thêm những bài về cách mạng, trên http://perso.orange.fr/chuchinam/

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 The

 

Links:

http://perso.orang.fr/chuchinam/


Kẻ Gây Rối – Trần Trung Đạo

Bài đọc suy gẫm: “Kẻ Gây Rối” hay “Bước Đường Dài Đến Tự Do” của Nelson Mandela, bài phân tách của tác giả Trần Trung Đạo.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

- Theo kết quả thăm dò của công ty tư vấn Reputation Institute được công bố vào tháng Chính năm 2011, Nelson Mandela được chọn là lãnh tụ được yêu mến nhất, kính trọng nhất, thán phục nhất và tin tưởng nhất thế giới. Tổng thống Mỹ Barack Obama đứng hạng thứ 14, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đứng hạng thứ 27, Thủ tướng Anh David Cameron đứng hạng thứ 34.

Nhân loại yêu chuộng tự do, dân chủ và hòa bình kính phục Nelson Mandela không phải chỉ vì ông yêu nước, yêu tự do, can đảm ở tù suốt 27 năm dài lao động khổ sai nhưng quan trọng hơn ông không dùng sự khổ đau chịu đựng của riêng mình làm thước đo cho chiều dài tương lai của đất nước Nam Phi và không đặt đôi gánh nặng quá khứ hận thù lên trên đôi vai của các thế hệ Nam Phi mai sau. Thay vào đó, Nelson Mandela đã dùng đức tính bao dung, kiên nhẫn, khôn ngoan, biết nhìn ra thấy rộng để vực dậy một đất nước bi phân hóa bởi màu da, chủng tộc, xã hội giáo dục, kinh tế chính trị và cả văn hóa lịch sử kéo dài hơn 300 năm từ thời nô lệ, thuộc địa cho đến thời kỳ Nam Phi độc lập.

Con người cũng như đất nước, giá trị được thẩm định không phải ở sự chịu đựng nhưng ở chỗ biết vượt qua. Một con người bình thường phải vượt qua những hoàn cảnh khắc nghiệt để tiến thân, một dân tộc chỉ có thể đuổi kịp đà tiến của nhân loại nếu dân tộc đó vượt qua được những bất hạnh của chính mình và vận động được sức mạnh tổng hợp của dân tộc. Một câu nói nổi tiếng của Nelson Mandela về hòa giải “Hòa giải thật sự không đơn giản chỉ là việc quên đi quá khứ”. Nelson Mandela được kính trọng không phải vì ông quên đi quá khứ nhưng nhờ ông đã sống rất trọn vẹn trong quá khứ, đã chiêm nghiệm và chuyển hóa những hào quang và chịu đựng, thành công và thất bại, hy vọng và tuyệt vọng của quá khứ thành nhựa nguyên, nhựa luyện cho những hàng cây xanh tốt tươi và hy vọng của tương lai Cộng Hòa Nam Phi.

Hãy tưởng tượng, Nelson Mandela, người bị tù hơn 27 năm và đã có thời gian chọn lựa phương pháp đấu tranh bằng võ lực, không chủ trương hòa giải mà nhất định trả thù cho bằng được thiểu số da trắng một thời đã áp đặt những chính sách bất công, phân biệt chủng tộc lên trên số phận của đa số người da đen rồi nước Cộng hòa Nam Phi ngày nay liệu có thể là quốc gia ổn định và phát triển hay không?

Chắc chắn là không.

Hãy tưởng tượng, công việc đầu tiên của tổng thống Nelson Mandela không phải là việc thành lập Ủy Ban Hòa Giải và Sự Thật mà là lập một danh sách mấy trăm ngàn viên chức chính quyền Nam Phi đã có liên hệ ít nhiều đến việc đàn áp các phong trào chống phân biệt chủng tộc để rồi sau đó tống giam họ trong các trại tù tận vùng núi rừng KwaZulu-Natal xa xôi hiểm trở, bắt thiểu số da trắng phải giao nộp nhà cửa, tài sản, đày sang các vùng kinh tế mới ở miền Northern Cape hoang vu để trả thù cho những cực hình đày đọa mà dân da đen đã từng chịu đựng dưới ách phân biệt chủng tộc của chính quyền da trắng Nam Phi thì liệu hòa giải dân tộc có thật sự đến cho quốc gia này hay không?

Chắc chắn là không.

Rất nhiều tác phẩm viết về Nelson Mandela và một số tác phẩm khác trích từ các cuộc phỏng vấn ông, nhưng Bước đường dài đến tự do (Long walk to freedom) là tác phẩm cho chính ông chấp bút từ những năm 1970 khi còn bị tù ở đảo Robben, ngoài Cape Town, Nam Phi. Phần lớn các chi tiết trong bài viết này cũng được trích dẫn từ hồi ký dày hơn sáu trăm trang Bước đường dài đến tự do của Nelson Mandela.

Tạm dịch: “Người can đảm không phải không biết sợ nhưng đã vượt qua sự sợ hãi”

Nelson Mandela ra đời ngày 18 tháng 7 năm 1918 tại Mvezo, một ngôi làng nhỏ bên bờ sông Mbashe thuộc quận Umtata, thủ phủ của Transkei, một trong những khu vực lớn nhất của Nam Phi. Ông được đặt tên là Rolihlahla. Theo ngôn ngữ Xhosa, Rolihlahla có nghĩa “kéo một cành cây xuống” nhưng chính xác hơn có nghĩa là “kẻ gây rối”. Cha của ông, Gadla Henry Mphakanyiswa, cai quản khu vực Mvezo và cũng là một cố vấn của vua bộ lạc Thembu. Mandela kế thừa không những cá tính mà cả vóc dáng cao và thẳng của cha ông ta. Cha của Mandela có bốn vợ, và bà Nosekeni Fanny, mẹ của Mandela là vợ thứ ba. Theo cách gọi trong gia đình, vợ thứ nhất được gọi là Vợ Cả, Vợ Phía Tay Phải (mẹ của Mandela), Vợ Phía Tay Trái, và Vợ Chăm Sóc Gia Đình. Mandela là con lớn của mẹ ông nhưng lại là con trai nhỏ nhất trong số bốn anh em cùng cha khác mẹ.

Khi còn nhỏ Mandela chịu phép rửa tội theo đạo Tin Lành phái Methodist Church. Khi đi học, cô giáo Mdinggane thêm tên Nelson vào tên gia đình đặt. Từ đó, ông được gọi là Nelson Rolihlahla Dalibhunga Mandela. Năm Mandela lên 9 tuổi, cha ông qua đời vì bịnh phổi. Nelson Mandela được Jongintaba Dalindyebo, người kế tục chức vụ của cha ông, nhận làm con nuôi. Sau lễ cắt bao quy đầu vào năm ông 16 tuổi, Nelson Mandela được đưa vào trường trung học nội trú Clarkebury.

Năm 1937 khi vào tuổi 19, Nelson Mandela theo học đại học Healdtown, Fort Beaufort. Giống như Clarkebury, Healdtown là một trường đạo Tin Lành thuộc phái Methodist Church và là trường đại học nội trú duy nhất dành cho người da đen. Sinh viên da đen ưu tú từ khắp Nam Phi theo học tại đây. Một biến cố tinh thần đã xảy ra cho Nelson Mandela vào năm cuối tại Healdtown là buổi viếng thăm trường của nhà thơ lớn Krune Mqhayi, người dân tộc Xhosa. Lần đầu tiên trong đời Nelson Mandela xúc động lắng nghe một nhà thơ lên tiếng phê bình chính sách phân biệt chủng tộc của chính quyền da trắng một cách công khai với sự hiện diện của viện trưởng và toàn ban giảng huấn trường, rất đông trong số họ là da trắng.

Năm 1960, Nelson Mandela theo học tại đại học University College of Fort Hare. Đây là trường đại học nội trú da đen lớn nhất ở Nam Phi. Mandela hy vọng sẽ tốt nghiệp Cử Nhân tại trường này. Ông được bầu vào Hội Đồng Sinh Viên và tức khắc trở thành một lãnh tụ sinh viên tranh đấu cho các quyền lợi sinh viên. Trong một lần xung đột với ban lãnh đạo trường về tiêu chuẩn thực phẩm dành cho sinh viên, Nelson Mandela từ chức khỏi hội đồng sinh viên. Viện trưởng viện đại học tức giận trục xuất ông khỏi trường cho đến cuối niên khóa.

Mandela trở lại nhà nhưng chỉ để biết tin cha nuôi đang chuẩn bị cưới vợ cho mình. Mandela không muốn và cùng người anh nuôi bỏ trốn sang Johannesburg. Tại đây, Mandela tiếp tục học hàm thụ các lớp còn lại của hệ cử nhân và chính thức tốt nghiệp tại Fort Hare vào năm 1942. Năm 1943, Nelson Mandela theo học cử nhân luật tại trường đại học Witwatersrand với ý định trở thành một luật sư.

 Chàng thanh niên Nelson Mandela là một người đàn ông cứng rắn nhưng cũng rất đa cảm. Mandela yêu nhiều người. Trong thời gian trú trại khu Alexandra thuộc thành phố Johannesburg, Mandela gặp Ellen Nkabinde, cô bạn luôn có nụ cười tươi, làm nghề dạy học mà Mandela quen biết khi cả hai còn ở Healdtown. Họ yêu nhau. Khu Alexandra đông đúc và chật hẹp, cặp tình nhân đang yêu không biết đi đâu ngoài việc ngồi ngắm những vì sao trên nền trời vào ban đêm. Dù sao, Ellen mang đến cho Mandela tình yêu, sự ủng hộ, niềm tin và hy vọng trong lúc anh ta đang lạc lõng giữa thành phố Alexandra còn xa lạ. Rất tiếc chỉ vài tháng sau Ellen rời thành phố mang theo mối tình đầu của Mandela.

Sau khi Ellen đi, Mandela lại yêu một người con gái khác. Nàng tên là Didi, xinh nhất trong năm người con gái của gia đình Xhosa mà Mandela đang trọ. Cuộc tình rồi cũng không đi đến đâu vì Didi không thật sự để mắt xanh đến anh chàng Mandela đa cảm đang trọ trong nhà mình. Nhưng lần thứ ba thì khác. Trái tim Mandela hướng về phía người con gái trẻ đẹp đang theo học nghề y tá tại Johannesburg tên là Evelyn Mase. Cha mẹ Evelyn chết sớm và cô sống với người anh. Vài tháng sau khi yêu nhau, Mandela hỏi cưới. Evelyn là vợ đầu của Nelson Mandela cho đến năm 1958.

Nelson Mandela bắt đầu tham gia các hoạt động của tổ chức Nghị Hội Toàn Quốc Nam Phi (African National Congress) gọi tắt là ANC vào năm 1942 và cuộc đời hoạt động của ông từ đó được chính trị hóa. Như ông ta giải thích trong Bước đường dài đến tự do: “Thật khó để xác định thời điểm nào tôi bị chính trị hóa khi tôi biết mình đã dành cả cuộc đời trong cuộc đấu tranh giải phóng. Làm một người Phi trong xã hội Nam Phi có nghĩa là bạn được chính trị hóa từ lúc mới ra đời, dù bạn có thừa nhận điều đó hay không. Một hài nhi ra đời trong bịnh viên chỉ dành cho da đen. Đưa về nhà trên xe bus chỉ dành cho da đen. Nếu may mắn được đi học cũng chỉ học trường dành cho da đen. Khi cô hay cậu đó lớn lên cũng chỉ làm những công việc người da đen phải làm và mướn một căn nhà để ở cũng chỉ được ở trong khu da đen”.

 Nhắc lại, ANC được thành lập vào ngày 8 tháng Giêng năm 1912 tại Bloemfontein để đấu tranh cho quyền của người da đen Nam Phi do nhà biên khảo John Dube và nhà thơ Sol Plaatje sáng lập. Chủ tịch đầu tiên của tổ chức là John Dube. Trong suốt hơn 70 năm tranh đấu, ANC đã trở thành đảng chính trị chiếm đa số trong cuộc bầu cử năm 1994 và trong cuộc bầu cử năm 2009, ANC chiếm đến gần 66 phần trăm trong tổng số cử tri đi bầu. Nhiều người ảnh hưởng đến quan điểm chính trị của Nelson Mandela đối với tổ chức ANC nhưng như chính Mandela thừa nhận, ảnh hưởng nhất phải là Walter Sisulu vì đức tính cương quyết, có lý có tình, thực tế và tận tụy của ông ta. Walter tin tưởng ANC là phương tiện cần thiết để thay đổi Nam Phi, là nơi gìn giữ của khát vọng của tầng lớp da đen bị trị tại Nam Phi. Mandela cũng tin tưởng sâu xa điều đó.

Sau khi gia nhập, Mandela trở thành một thành viên tích cực của phong trào chống phân biệt chủng tộc tại Nam Phi. Năm 1943, Nelson Mandela là một trong những thành viên sáng lập của Liên Đoàn Thanh Niên ANC nhằm đưa cuộc đấu tranh vào quần chúng, tổng hợp sức mạnh của giới nông dân ở nông thôn và tầng lớp công nhân tại các thành phố. Nelson Mandela cho rằng các hình thức thư thỉnh nguyện, cầu xin giới lãnh đạo da trắng không phải là hình thức đấu tranh thích hợp nhưng phải đánh trực tiếp vào quyền lợi của chúng qua các hình thức tẩy chay, đình công bãi thị, bất hợp tác với giới cầm quyền. Mặc dù ban đầu gặp trở lực từ các thế hệ lãnh đạo già, các hoạt động của Liên Đoàn Thanh Niên ANC dần dần đã được trung ương ANC chấp nhận. Vai trò lãnh đạo của Nelson Mandela được chính thức hóa qua các hoạt động cương quyết của ông. Năm 1947, Mandela được bầu vào ban chấp hành ANC vùng Transvaal. Người lãnh đạo trực tiếp của ông là C.S. Ramohane, một người yêu nước và kế hoạch xuất sắc. Bản thân Ramohane không có cảm tình với Cộng Sản nhưng làm việc với họ vì ông cho rằng ông ta nên đón nhận sự ủng hộ từ mọi phía. Mandela cũng là tác giả của đề án Mandela làm tiêu chuẩn hoạt động cho cả tổ chức ANC trong đó đặt nặng vai trò chỉ đạo từ trung ương khi nhà cầm quyền da trắng đặt ANC ra ngoài vòng pháp luật.

 Thành phố Nữu Ước, Mỹ với hình vẽ lớn chào mừng Nelson Mandela đến thăm. Hình dưới: Các dân biểu Hoa Kỳ đồng loạt đứng lên hoan hô khi ông hiện diện tại phòng họp quốc hội.

Tổng thống Nelson Mandela viếng thăm mộ lãnh tụ tranh đấu cho nhân quyền Rev. Martin Luther King tại thành phố Atlanta, tiểu bang Georgia.

Chiến Dịch Thách Thức Những Luật Bất Công (Defiance Campaign of Unjust Laws) là chiến dịch có quy mô lớn của ANC đòi hủy bỏ sáu đạo luật bất công trước ngày 29 tháng Hai năm 1952 và nếu không ANC sẽ có những hoạt động ngoài hiến pháp chống chính phủ da trắng. Dĩ nhiên, chính phủ da trắng không nhượng bộ mà còn đàn áp quyết liệt. Ngày 6 tháng Tư năm 1952, hàng loạt cuộc đình công đã được thực hiện tại các thành phố lớn như Johannesburg, Pretoria, Port Alizabeth, Durban và Cape Town. Ngày 30 tháng Bảy năm 1952, Nelson Madela bị bắt cùng với hai mươi lãnh đạo ANC khác. Nelson Mandela bị kết án chín tháng tù ở nhưng sau đó được chuyển thành hai năm tù treo.

Năm 1952 cũng là năm có nhiều thay đổi trong nội bộ ANC. Albert Luthuli, một lãnh tụ có khuynh hướng đẫy mạnh các hoạt động của ANC được bầu vào chủ tịch. Mandela, trong cương vị chủ tịch khu Transvaal, là một trong bốn phụ tá của của Albert Luthuli. Nelson Mandela tiếp tục cuốn hút vào các hoạt động cho ANC cho đến ngày tháng 12 năm 1956, Nelson Mandela bị bắt lần nữa. Lần này bị truy tố với một tội nặng hơn nhiều: mưu phản. Nelson Mandela đóng tiền tại ngoại hầu tra. Phiên tòa mưu phản kéo dài hai năm đã làm Nelson Mandela kiệt quệ về mọi mặt, tình cảm gia đình tan nát và điều kiện tài chánh suy sụp. Cũng trong thời gian khó khăn này, sự khác biệt về cách sống, lý tưởng đã làm hai vợ chồng Mandela và Evelyn vốn khác biệt đã khác biệt sâu sắc hơn. Cuối cùng cả hai đã đồng ý chia tay nhau.

Một lần trên đường từ tòa về qua một ngã tư đường, Nelson Mandela chợt lưu ý một cô gái đang đứng chờ xe bus. Nét đẹp của nàng cuốn hút Mandela nhưng ông ta biết khó mà có dịp gặp lại nàng. Như mối duyên tiền định, một hôm, khi đang ngồi làm việc trong văn phòng luật sư vừa mới lo tái trang bị, Mandela gặp lại cô lần nữa. Cô gái tên là Nomzamo Winifred Madikizela, và thường được gọi tắt là Winnie. Từ đó, họ gặp nhau bất cứ khi nào có thể. Họ ăn trưa với nhau và cùng nhau đi dạo trên cánh đồng cỏ xanh giống như cánh đồng cỏ ở quê hương Transkei. Mandela chia sẻ với Winnie những hy vọng và khó khăn. Như Mandela thuật trong hồi ký “Tôi không hứa hẹn với nàng vàng bạc hay kim cương, tôi sẽ không bao giờ có khả năng tặng nàng những món quà như thế”. Winnie hiểu và chấp nhận mọi khó khăn. Vì Mandela vẫn còn trong thời gian bị truy tố, lễ cưới phải được tòa án chấp nhận. Đám cưới của Mandela và Nomzamo Winifred Madikizela được tổ chức vào ngày 14 tháng Sáu năm 1958 tại một nhà thờ nhỏ. Toàn bộ ban chấp hành trung ương ANC đã được mời nhưng một số đông, giống như Mandela đang bị truy tố nên không tham dự được. Vì không có tiền và thời gian để đưa nhau đi tuần trăng mật, đám cưới xong, chú rễ Mandela lại tiếp tục ra tòa.

Sáng 29 tháng Ba năm 1961, sau hơn bốn năm dài từ khi bị bắt, hỏi cung, ra tòa với hàng ngàn tài liệu và hàng trăm nhân chứng, chính quyền da trắng vẫn không đủ bằng chứng tin cậy để kết án ANC là tổ chức Cộng Sản. Chánh án Rumpff, một thẩm phán có lương tâm công lý, tuyên bố các bị can vô tội và được thả tức khắc.

Mandela biết việc trắng án chỉ có giá trị tạm thời, nhà cầm quyền da trắng sau nhiều năm với biết bao nhiêu tốn kém để truy tố ông chắc chắn thế nào cũng tìm bắt lại. Thay vì về nhà, Mandela quyết định lui vào hoạt động bí mật. Hầu hết các hoạt động của Nelson Mandela trong giai đoạn này được giữ kín với hành tung bất thường. Ông ẩn mình vào ban ngày và thường hoạt động vào ban đêm. Các lực lượng công an cảnh sát tung nhiều đợt lục soát để tìm bắt ông. Không những công an mà cả báo chí cũng tung phóng viên để thăm dò tung tích của Mandela. Nhiều báo phóng đại việc Mandela tránh thoát hệ thống công an trong đường tơ kẽ tóc.

Thật ra không ai biết thật sự “đường tơ kẽ tóc” đó như thế nào nếu không do chính Mandela viết trong hồi ký. Một lần khi Mandela lái xe và nhìn qua người khách đang ngồi trong xe bên trái không ai khác hơn là Đại tá Spengler, giám đốc sở an ninh Witwatersrand. Tuy Mandela hóa trang nhưng khó mà qua được đôi mắt chuyên nghiệp của Spengler. Cũng may viên đại tá có trách nhiệm lùng bắt Mandela đã không nhìn sang hướng của ông. Rất nhiều lần khác, các cảnh sát yêu nước đã tìm cách báo cho bà Winnie biết trước khi có cuộc hành quân lục soát xảy ra trong vùng Mandela đang trốn. Mandela là người tổ chức từ bóng tối cuộc tổng đình công 29 tháng Năm năm 1961 tại Nam Phi. Nhiều trăm ngàn công nhân Nam Phi chấp nhận rủi ro mất việc đã ở nhà để ủng hộ lời kêu gọi của Mandela và ANC. Tuy nhiên, sau khi đánh gía kết quả ngày đình công, Mandela cho rằng nếu phía chính phủ da trắng đàn áp thẳng tay, cuộc đình công sẽ thất bại.

 Trong thời điểm khó khăn và quyết liệt đó, Mandela và nhiều lãnh đạo ANC nghĩ không có một chọn lựa nào khác hơn là con đường võ trang. Tháng Sáu năm 1961, cánh quân sự của ANC, Umkhonto we Sizwe gọi tắt là MK, được thành lập nhằm mục đích lật đổ chính quyền phân biệt chủng tộc da trắng bằng các biện pháp quân sự. ANC giao trách nhiệm thành lập, tổ chức và chỉ huy cánh quân sự cho Nelson Mandela. Như chính ông ta thú nhận “Tôi, chưa bao giờ là một người lính, chưa từng chiến đấu trong mặt trận nào, thậm chí chưa bắn một viên đạn, lại được giao trọng trách thành lập một quân đội”. Nhưng cũng từ đó, Mandela bắt đầu đọc các sách về chiến tranh du kích, sách chiến lược và chiến thuật quân sự và học rất nhanh.

Ngày 26 tháng Sáu năm 1961, Nelson Mandela, từ một địa điểm bí mật công bố qua báo chí lá thư công khai với nội dung sau:

“Tôi được báo một trát tòa bắt giữ tôi đã được phát ra, đồng thời công an cảnh sát đang lùng bắt tôi. Hội Đồng Hành Động Quốc Gia thuộc ANC đã nhận xét kỹ lưỡng và khuyến cáo tôi không nên đầu hàng. Tôi đồng ý với lời khuyên và sẽ không nộp mình cho một chính quyền mà tôi không công nhận. Bất cứ nhà chính trị chín chắn nào cũng hiểu rằng trong tình trạng hiện nay của đất nước, tìm cách làm một thánh tử đạo rẻ tiền qua việc giao nộp sinh mạng cho cảnh sát là một hành động ngây thơ và là một trọng tội. Tôi đã chọn con đường này, một con đường khó khăn và đòi hỏi nhiều rủi ro, gian khổ hơn là ngồi trong nhà tù. Tôi đã phải tự tách rời khỏi vợ con thân yêu, xa mẹ già và các chị em tôi để sống như một kẻ sống ngoài vòng pháp luật trên chính đất nước của mình. Tôi đã phải đóng cửa cơ sở làm việc, từ bỏ ngành nghề chuyên môn và sống trong đói khát như nhiều triệu đồng bào tôi… Tôi sẽ chiến đấu chống chính quyền phân biệt chủng tộc sát cánh bên các bạn trong từng phân, từng dặm cho đến chiến thắng cuối cùng. Các bạn sẽ làm gì? Đến để cùng chiến đấu với chúng tôi hay hợp tác với chính quyền để trấn áp các đòi hỏi và khát vọng của nhân dân Nam Phi? Các bạn sẽ im lặng và bàng quan mặc trước những vấn đề sống và chết của nhân dân tôi và nhân dân chúng ta? Phần tôi, tôi đã có một chọn lựa cho riêng mình. Tôi sẽ không rời Nam Phi và cũng chẳng đầu hàng. Chỉ thông qua gian khổ, hy sinh và hành động quân sự, mục đích tự do mới đạt được. Đấu tranh là cuộc đời tôi. Tôi sẽ tiếp tục cuộc chiến đấu vì tự do cho đến những ngày cuối của đời mình.”

Sau khi công khai phát động cuộc đấu tranh võ trang, tháng 10 năm 1961, Nelson Mandela di chuyển vào nông trại Liliesleaf ở Rivonia, vùng ngoại ô phía bắc Johannesburg. Nông trại được xem là tổng hành dinh của MK. Nelson Mandela mang tên mới là David Motsamayi, một người giữ nhà do chủ phái đến chăm sóc nhà cửa đất đai. Sau Mandela, các chỉ huy vùng của MK lần lượt đến nông trại. MK cũng xoay xở khéo léo để Winnie và các con đến thăm Mandela vào vài cuối tuần. Cấu trúc tổ chức của MK cũng tương tự như ANC, gồm bộ chỉ huy trung ương và các địa phương. Hàng ngàn truyền đơn được rải khắp các thành phố lớn để công bố ngày ra đời của MK.

Tháng Hai năm 1962, Nelson Mandela bí mật xuất ngoại đại diện cho cả ANC lẫn MK tại hội nghị của Phong Trào Tự Do Liên Phi cho Đông, Trung và Nam Phi Châu, gọi tắt là PAFMECSA được tổ chức tại thủ đô Addis Ababa thuộc Ethiopia. Tổ chức này là tiền thân của Tổ Chức Đoàn Kết Châu Phi hiện nay. Đây là một hội nghị vô cùng quan trọng vì là lần đầu tiên ANC có cơ hội kêu gọi sự yểm trợ trực tiếp của các quốc gia Phi Châu trong cuộc đấu tranh võ trang chống chính phủ da trắng Nam Phi. Trong dịp này, Mandela thăm viếng và kêu gọi viện trợ từ các quốc gia Phi Châu như Egypt, Lybia, Tunisia, Ghana, Algeria, Morocco, Mali, Guinea, Sierra Leone, Liberia, Senegal. Tuy cùng một Phi Châu nhưng không phải quốc gia nào cũng nhiệt tình ủng hộ. Một số lãnh đạo quốc gia viện trợ năm ngàn bảng Anh và cũng có một số quốc gia không tặng đồng nào. Trước khi lên đường trở lại Nam Phi, Nelson Mandela tham dự khóa huấn luyện quân sự tám tuần lễ tại Ethiopia. Trong thời gian Mandela ra nước ngoài, các cuộc đánh phá do MK chủ trương diễn ra tại nhiều nơi ở Nam Phi. ANC yêu cầu Mandela thu ngắn thời gian thụ huấn quân sự để về nước.

Một vài hình ảnh trong phim Mandela – Long Walk to Freedom, với nam tài tử Idris Elba và nữ diễn viên nổi tiếng Naomie Harris.

 Tuy nhiên vài hôm sau khi trở lại Nam Phi, Nelson Mandela bị bắt vào ngày 5 tháng Tám năm 1962. Lần này, Nelson Mandela bị kết án 5 năm vì hai tội sách động công nhân đình công và xuất ngoại bất hợp pháp. Mendela bị đưa đến nhà tù Pretoria Local.

Thời gian ngắn sau đó, tổng hành dinh của MK tại nông trại ở Rivonia bị khám phá, lục soát và nhiều tài liệu quan trọng bị tịch thu. Phần lớn các cấp chỉ huy trung ương của MK cũng lần lượt bị bắt. Một số ít may mắn thoát được nhưng đã phải lưu vong sang các quốc gia Phi Châu. Trong lúc đang bị tù, Nelson Mandela lại bị truy tố với một tội nặng hơn trong phiên tòa được báo chí gọi “Chính phủ chống lại Bộ Chỉ Huy Quốc Gia Tối Cao và những người khác”. Mandela là bị cáo đầu tiên trong danh sách nên phiên tòa còn được gọi là “chính phủ chống lại Nelson Mandela và những người khác”. Phiên tòa kéo dài gần hai năm. Khắp thế giới bùng lên phong trào ủng hộ Mandela. Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc yêu cầu chính quyền Nam Phi ân xá. Sinh viên đại học London bầu Nelson Mandela làm chủ tịch sinh viên dù vắng mặt bởi vì Mandela vẫn còn là sinh viên hàm thụ khoa Luật của đại học London và vừa hoàn tất kỳ thi cuối khóa hai ngày trước ngày tuyên án.

Đêm trước đó, Mandela và các bạn đã quyết định dù bản án nặng đến đâu hay thậm chí có tử hình đi nữa, cũng không kháng án. Theo lời Mandela giải thích với các luật sư bào chữa, kháng án chỉ làm giảm giá trị đạo đức của lý tưởng mà họ đã và đang đeo đuổi, kháng án cũng có nghĩa là phải giải thích khác hơn và từ chối những hành động chính nghĩa mình đã làm. Mandela tin nếu bản án do tòa quyết định là tử hình, chắc chắn sẽ có một phong trào quần chúng mạnh mẽ đứng lên phản đối, ông không muốn làm nhẹ tinh thần của cuộc đấu tranh đó. Như Mandela viết, “không có sự hy sinh nào có thể gọi là quá to lớn trong cuộc đấu tranh vì tự do”. Mandela còn chuẩn bị cả câu nói cuối cùng trường hợp chánh án De Wet hỏi ông sau khi nghe tuyên đọc án tử hình: “Tôi chuẩn bị chết trong niềm tin vững chắc rằng cái chết của tôi sẽ là niềm khát vọng cho lý tưởng mà tôi đang dâng hiến cuộc đời mình”.

Ngày 12 tháng Sáu năm 1964, ngoại trừ hai người, một được miễn tố và một nhẹ tội, Nelson Mandela và các bạn còn lại bị kết án chung thân. Kết án xong, nửa đêm ngày hôm sau, Mandela và 6 thành viên lãnh đạo của MK bị đưa đến nhà tù Robben Island, tương tự như đảo Alcatraz ngoài vịnh San Francisco của Mỹ, trong một máy bay quân sự bí mật với các lực lượng công an cảnh sát vây kín từ nơi tạm giam đến phi trường. Xà lim của Mandela rộng khoảng 1.8 mét. Mỗi phòng có một tấm bảng giấy ghi tên và số tù. Bảng của Mandela ghi là “N Mandela 466/64”. Năm đó Mandela 46 tuổi. Mandela dành hơn 100 trang trong hồi ký để mô tả đời sống vô cùng khắc nghiệt trong suốt 17 năm dài tại nhà tù Robben Island, nơi đó mỗi ngày ông phải đập đá dưới cơn nắng cháy da và ban đêm ngủ trong xà lim mới dựng còn rất ẩm thấp. Đó cũng là thời gian Mandela bị nhiễm vi trùng lao.

Sau 21 năm qua hai trại tù, từ Robben đến Pollsmoor với tất cả gian lao và chịu đựng, trong một lần khám bịnh thường lệ, bác sĩ khám phá tiền tuyến liệt của Mandela bị sưng to và cần phải được giải phẫu. Nhưng sau khi giải phẫu xong, viên điều hành trại tù, Thiếu tướng Munro, đưa Mandela đến một phòng giam khang trang nhiều so với phòng giam mà ông ta sống trước đó. Tuy không nói ra, Mandela biết chính quyền da trắng đã có ý thăm dò phản ứng của ông về cách đối xử mới của chính quyền.

Trong suốt cuộc đời tranh đấu từ khi gia nhập ANC, Nelson Mandela đã chọn nhiều phương pháp đấu tranh, trong đó có bất bạo động và cả bạo động. Tuy nhiên, sau nhiều năm suy tư về con đường đất nước đã trải qua và hy vọng nào còn đang chờ trước mặt, Mandela đã thay đổi phương pháp đấu tranh. Ông kết luận “Sự thay đổi, tôi quyết định, không phải chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội… Tôi đắn đo từ lâu về việc bắt đầu nói chuyện với phía chính phủ. Tôi kết luận thời gian đã đến khi cuộc đấu tranh sẽ thuận lợi hơn nếu được đẫy mạnh qua phương cách đàm phán. Nếu chúng ta không bắt đầu đàm phán sớm, cả hai bên phải lao vào đêm tối của áp bức, bạo động và chiến tranh.”

Nelson Mandela viết trong hồi ký “Sự thay đổi, tôi quyết định, không phải chỉ là trách nhiệm mà còn là cơ hội… Tôi đắn đo từ lâu về việc bắt đầu nói chuyện với phía chính phủ. Tôi kết luận thời gian đã đến và cuộc đấu tranh sẽ thuận lợi hơn khi cần được đẫy mạnh qua đàm phán. Nếu chúng ta không bắt đầu đàm phán sớm, cả hai bên phải lao vào đêm tối của áp bức, bạo động và chiến tranh.”

Mandela nhìn lại cuộc đấu tranh của ANC trong suốt 70 năm, rất nhiều thường dân vô tội đã bị giết nhưng chính quyền phân biệt chủng tộc da trắng vẫn nhất định không nhường bước. Thật là vô nghĩa nếu cuộc đấu tranh võ trang tiếp tục và mỗi ngày nhiều mạng sống bị cướp mất đi. Không ít các hoạt động của MMK là hành động khủng bố. Tuy nhiên, một bên nào muốn dừng lại cũng không phải là chuyện dễ dàng. Nhà cầm quyền da trắng đã nhiều lần khẳng định ANC và MK là những tổ chức khủng bố Cộng Sản trong lúc ANC cũng không kém phần quyết liệt khi cho rằng chính phủ Nam Phi là chỉ là một chính quyền phát-xít, phân biệt chủng tộc và do đó sẽ không có gì để đàm phán với họ cho đến khi nào họ công nhận ANC. Về phần nội bộ ANC, việc thông tin giữa Mandela và các lãnh đạo trung ương của ANC cũng rất khó khăn vì một số đang bị tù, một số khác đang lưu vong và số còn lại hoạt động bí mật rải rác khắp nơi.

Nelson Mandela cuối cùng chọn một giải pháp, đó là tự quyết định cách giải quyết vấn đề một mình và tuyệt đối không cho ai, kể cả các thành viên ANC đang bị tù chung biết. Nếu thành công sẽ có lợi cho đất nước và nếu thất bại chỉ một mình ông ta chịu trách nhiệm. ANC có thể cho rằng vì Mandela không tiếp cận với thực tế và đầy đủ thông tin nên đã có những quyết định không đúng với đường lối của ANC.

Vài tuần sau khi về phòng giam mới, Mandela viết thư cho bộ trưởng tư pháp Nam Phi Kobie Coetsee và đề nghị thảo luận về những vấn đề cần thảo luận. Đầu năm 1986, Mandela tiếp đón một phái đoàn bảy thành viên đại diện nhiều quốc gia thăm viếng Nam Phi để tìm hiểu sự thật. Phái đoàn do Tướng Olusegun Obasanjo, cựu tổng thống Nigeria và cựu ngoại trưởng Úc Malcolm Fraser cầm đầu. Tại buổi gặp gỡ, Nelson Mandela lần nữa đưa ra chủ trương đối thoại nhưng nhấn mạnh đó là việc đối thoại giữa ANC và chính phủ chứ không phải riêng ông ta và chính phủ. Mandela khẳng định với phái đoàn quốc tế rằng ông là một người Quốc Gia Nam Phi chứ không phải là Cộng Sản. Mặc dù có làm việc với nhiều đảng viên Cộng Sản, Mandela từ lâu đã quan niệm rằng cuộc đấu tranh của ANC chống chính quyền da trắng là cuộc đấu chống kỳ thị chủng tộc chứ không phải là cuộc đấu tranh giai cấp hay đấu tranh vì lý do kinh tế như đảng Cộng Sản Nam Phi lý luận. Tuy chưa tuyên bố công khai từ bỏ phương tiện võ trang, Mandela thừa nhận rằng bạo động không bao giờ có thể là giải pháp cuối cùng cho vấn đề Nam Phi. Trong buổi hội kiến với phái đoàn quốc tế, Mandela cũng đòi hỏi phía nhà cầm quyền da trắng phải bày tỏ thiện chí trước bằng cách giải tỏa vòng vây công an cảnh sát khỏi các thôn ấp da đen. Nếu làm được như vậy, ông tin phía ANC cũng sẽ đáp ứng bằng cách hạn chế các cuộc tấn công để làm tiền đề cho đàm phán. Mandela cho phái đoàn biết việc trao trả tự do cho bản thân ông trước áp lực quốc tế đang phát động không giải quyết được vấn đề tranh chấp tại Nam Phi.

Cựu Tổng Thống Hoa Kỳ Clinton đến thăm lúc cuối đời. Hình dưới: Mandela tạ thế năm 2013.  Tổng Thống Barrak Obama và nhiều vị nguyên thủ quốc gia, các lãnh tụ quan trọng thế giới đều qua Nam Phi để đưa tiễn ông, một người tận tụy vì nước vì dân, đến nơi an nghỉ cuối cùng.

Trong năm 1987, Tổng thống Nam Phi Botha thành lập một ủy ban bí mật trong đó có bộ trưởng tư pháp Kobie Coetsee có trách nhiệm đàm phán riêng với Nelson Mandela. Các buổi thảo luận bí mật diễn ra nhiều lần giữa Mandela và ủy ban tổng thống. Vào thời điểm quan trọng này, Nelson Mandela xét thấy cần phải hội ý với các lãnh đạo MK đang bị tù với ông và hiện đang bị giam giữ ở tầng trên. Ông gặp riêng từng người và tất cả đều không chống đối phương pháp đàm phán nhưng đồng thời cũng không tin tưởng hoàn toàn nơi thiện chí của nhà cầm quyền da trắng. Ngoài ra, Oliver Tambo, lãnh tụ của ANC đang hoạt động bên ngoài đã biết về sự đối thoại đang diễn ra giữa Mandela và chính quyền, và đã đặt ra cho Mandela nhiều câu hỏi. Để các lãnh đạo ANC bên ngoài an tâm, trong một tin nhắn bí mật cho Oliver Tambo, Mandela xác định việc đàm phán thật sự chỉ diễn ra giữa ANC và chính quyền da trắng chứ không phải giữa ông ta và chính quyền da trắng.

Ngày 4 tháng Bảy năm 1989, Nelson Mandela bí mật được đưa đi gặp tổng thống Nam Phi P. W. Botha tại dinh tổng thống vào lúc 5:30 sáng. Trong buổi hội kiến ngắn chưa đầy 30 phút, Nelson Mandela yêu cầu tổng thống Botha trả tự do cho tất cả tù chính trị Nam Phi trong đó có cả ông. Tổng thống Botha từ chối. Tuy nhiên, không đầy một tháng sau, Botha từ chức tổng thống Cộng Hòa Nam Phi và quyền lãnh đạo quốc gia được trao qua de Klerk. Tháng mười cùng năm, de Klerk tuyên bố trao trả tự do cho bảy lãnh tụ cao cấp của ANC.

Tháng Chạp cùng năm, tổng thống de Klerk mời Mandela hội kiến. Trong dịp này, Nelson Mandela nhắc lại các đòi hỏi tiên quyết trong đó bao gồm việc hủy bỏ luật ngăn cấm ANC hoạt động, trả tự do cho tất cả tù chính trị còn lại, hủy bỏ luật tình trạng khẩn cấp quốc gia, cho phép các lãnh tụ đảng phái chính trị đang lưu vong trở về nước. Mandela lưu ý tổng thống de Klerk, nếu chính phủ Nam Phi không làm được những điều đó, một mai khi được trả tự do, Nelson Mandela tại tiếp tục tranh đấu như trước và chẳng lẽ chính phủ da trắng lại bắt giam, kết án và tù đày ông như hai mươi bảy năm trước đó hay sao.

 Ngày 2 tháng Giêng năm 1990, Tổng thống F. W. de Klert trong diễn văn lịch sử đọc trước quốc hội Nam Phi tuyên bố hủy bỏ chính sách phân biệt chủng tộc và đặt nền tảng cho cải cách dân chủ tại Nam Phi. Nói chung, tổng thống de Klerk đã thực hiện hầu hết các điều khoản do Mandela yêu cầu trong lần gặp gỡ trước đó. Lần đầu tiên trong 30 năm, hình ảnh và các lời tuyên bố của Nelson Mandela được công khai trưng bày trong dân chúng.

Ngày 10 tháng Giêng sau đó, de Klerk mời Nelson Mandela gặp lần nữa và thông báo chính phủ sẽ đưa ông về lại Johannesburg và trao trả tự do cho ông tại đó vào ngày hôm sau. Nelson Mandela từ chối việc được trả tự do tại Johannesburg và cũng không muốn được trả sớm như vậy. Trong suốt 27 năm tranh đấu để được tự do, không bên nào nghĩ cuối cùng việc trả tự do ở đâu lại trở thành vấn đề tranh cãi. Cả Mandela lẫn nhà cầm quyền cũng không ngờ có một ngày bên chính phủ muốn thả tự do cho tù nhân Mandela nhưng chính tù nhân Mandela lại muốn ở thêm một tuần lễ nữa. Cuối phiên họp, mỗi bên nhượng bộ một phần. Nelson Mandela sẽ ra khỏi cổng nhà tù ông đang ở nhưng không thể ở lại thêm ngày nào khác.

Lúc 3:30 chiều ngày 11 tháng Giêng năm 1990, Nelson Mandela bước ra khỏi cổng nhà tù cuối cùng Victor Verster giữa rừng người đang hân hoan chờ đợi.

Trần Trung Đạo  

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

The

Links:  

Trách Nhiệm Online


Còn Tệ Hơn Sự Chết – Bùi Anh Trinh

Nhạc sĩ phản chiến John Lennon (The Beatles) và vợ Yoko

Bài đọc suy gẫm: Còn Tệ Hơn Sự Chết hay Tổng Thống Thiệu nổi giận cáo buộc Mỹ bán đứng miền nam. Blog 16 giới thiệu tài liệu lịch sử quan trọng trích  từ sách“Giải Mã Những Bí Ẩn Chiến Tranh Việt Nam của Bùi Anh Trinh. Hình ảnh chỉ là minh họa.

 Những cuộc biểu tình phản đối người Mỹ tham chiến tại Việt Nam do phe cánh tả (cộng sản) giật dây cũng là 1 trong những nguyên nhân làm chính phủ Mỹ rút quân.

Tổng thống Richard Nixon qua Việt Nam ủy lạo binh sĩ tham chiến.

 

Thiệu bắt được bản sơ thảo Hiệp định của Kissinger và Lê Đức Thọ

Năm 1972, ngày 17-10,quân đội VNCH hành quân tại Quảng Tín đã tịch thu được một bản tài liệu mang tên “Chỉ dẫn tổng quát về ngưng chiến” của CSVN.  Ngay tức khắc, bản tài liệu được chuyển tiếp bằng máy bay trực thăng qua 5 chặng tới tay Tổng thống  Nguyễn Văn Thiệu vào lúc nửa đêm.

Thiệu đọc và phát hiện ra lâu nay Bunker đã cho ông những thông tin ảo về những thỏa thuận giữa Kissinger và Lê Đức Thọ tại Paris.  Ông cay đắng nhận ra rằng từ trước tới nay Kissinger đã điều đình với Lê Đức Thọ mà không thèm đếm xỉa tới ý kiến của Chính phủ VNCH cũng như không cần để ý tới quyền lợi của nhân dân Miền Nam.

Những gì mà Đại sứ Bunker trình bày với ông về những điều khoản thương lượng tại Paris chỉ là những lời lừa phỉnh như đối với trẻ con. Kể từ lúc này, dưới con mắt của Tổng thống Thiệu thì Bunker là một tay lừa đảo ( Trong khi sự thực Bunker đã bị Kissinger lừa chứ ông ta cũng chẳng biết gì hơn ).

Tổng thống Thiệu lập tức mời một số nhân vật chính trong chính phủ họp bàn về sự phản bội của Hoa Kỳ và tìm cách đối đầu với Kissinger trong chuyến viếng thăm sắp tới của ông ta.

Đại sứ Ellsworth Bunker (thứ hai, phải) đang trao đổi với Đại tướng William C. Westmoreland.

Hình dưới:  Kissinger bắt tay Lê Đức Thọ sau khi ký hiệp ước, 1972.

 

Nguyễn Văn Thiệu bác bỏ bản dự thảo hiệp ước

Năm 1972, ngày 18-10, Kissinger đến Sài Gòn vào ban đêm.

Ngày 19-10,

– Buổi sáng, lúc 11 giờ sáng, Kissinger cùng phái đoàn đến dinh Độc Lập trao ủy nhiệm thư của Tổng thống Nixon và thuyết trình trong nửa tiếng về bản dự thảo hiệp định.  Sau khi ông thuyết trình xong, Tổng thống Thiệu hỏi ông về bản dự thảo bằng tiếng Việt, Kissinger nói hiện tại ông không có nhưng ông sẽ cho tìm nó trong hồ sơ và gởi cho Tổng thống ( Theo Frank Snepp, lúc này Kissinger chưa biết là chi nhánh CIA tại Sài Gòn đã có văn bản bằng tiếng Việt do điệp viên nằm trong Trung ương Cục của CSVN từ miền Đồng Bằng sông Cửu Long, tức là Khu 9 của CSVN,  chuyển tới ).

– Lúc 1 giờ trưa, Tổng thống Thiệu cám ơn về bài thuyết trình của Kissinger, hứa sẽ nghiên cứu và hẹn gặp nhau lại vào lúc 5 giờ chiều.

– Lúc 5 giờ chiều, phái đoàn của Kissinger đến dinh Độc Lập để trả lời các thắc mắc về văn bản dự thảo.  Mở đầu Tổng thống Thiệu cho biết ông cần một thời gian để nghiên cứu văn bản bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt, bất ngờ ông buột miệng hỏi : “À, còn ba quốc gia Đông Dương mà ông nói đến là những quốc gia nào vậy?”.

Như đã có chuẩn bị trước, Kissinger đáp ngay : “Thưa ngài, chắc là người ta đánh máy sai đó”.  Tổng thống Thiệu biết rằng ông ta nói dối bởi vì trong văn bản có tới 3 lần nói tới 3 quốc gia Đông Dương và ghi bằng chữ (three) chứ không ghi bằng số.  Kể từ lúc đó cuộc trao đổi giữa Tổng thống Thiệu và Kissinger trở thành giống như một cuộc điều tra để phát hiện ra sự lừa đảo chứ không còn là một cuộc trao đổi “thành thật và thân mật” như thư giới thiệu của Tổng thống Nixon.

– Sau khi trao đổi một số vấn đề, đặc biệt là vấn đề không có mục quy định quân Bắc Việt phải trở về Bắc, Tổng thống Thiệu hẹn hôm sau sẽ găp lại từng nhóm chuyên biệt để bàn bạc.  Kisssinger đồng ý rồi xin mở tiếp một cuộc họp quân sự ngay sau đó để bàn về vấn đề gấp rút tiếp vận quân sự cho Nam VN trước ngày đình chiến.  Cuộc họp gồm có Kissinger, Bunker, Tướng Abrams, Tướng Thiệu và Tướng Cao Văn Viên.

Theo như cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu kể lại cho Nguyễn Tiến Hưng trong The Palace File (Khi đồng minh tháo chạy) thì có lẽ món quà viện trợ quân sự khẩn cấp là để “mua chuộc” ( đấm mõm ) sự đồng ý của Tổng thống về nội dung văn bản Hiệp định.

 

Ngày 20-10,

– Buổi sáng, Kissinger họp với Hội đồng an ninh quốc gia VNCH tại nhà riêng của Ngoại trưởng Vương Văn Bắc.  Phía VNCH đưa ra 23 điểm cần làm sáng tỏ.  Kissinger phản biện và chỉ thừa nhận có 8 điểm trong 23 điểm là cần phải minh xác mà thôi.  Buổi họp kết thúc vào giữa trưa, hai bên hẹn gặp nhau vào buổi chiều.

Hoàng Đức Nhã bỏ ra về giữa cuộc họp để kịp thông báo cho Tổng thống Thiệu rằng có rất nhiều điểm thất lợi trong bản văn bằng tiếng Anh lẫn tiếng Việt mà Kissinger mới đưa ra. (Bản tiếng Việt do chi nhánh CIA tại SG có được từ một nhân vật nội gián nằm trong Trung ương ĐCSVN tại Miền Tây.  Sau này được biết là ông Võ Văn Kiệt, Bí thư Quân khu 9 CSVN ).

– Lúc 4 giờ chiều, Cố vấn Hoàng Đức Nhã gọi điện thoại cho Đại sứ Bunker thông báo buổi họp chiều nay bị hoãn lại vì lý do quân CSVN đang tập trung quân để đánh lớn, Tổng thống Thiệu đang triệu tập các Tiểu khu trưởng để bàn việc đối phó.

Theo lời kể lại của ông Hoàng Đức Nhã thì cuộc nói chuyện điện thoại diễn ra như sau:

Bunker :  Thế bao giờ sẽ họp vào ngày mai

Nhã :  Tôi sẽ tìm cách thông báo cho ngài sau

Bunker yêu cầu gặp Tổng thống Thiệu.

Nhã :  Xin ngài thứ lỗi, vì tình hình khẩn cấp,Tổng thống không muốn nói chuyện điện thoại với bất cứ ai.

Sau đó vài tiếng đồng hồ, Bunker gọi lại.

Bunker : Chúng tôi có thể tới gặp Tổng thống lúc này được không?  Chúng tôi sắp rời tòa Đại sứ ngay bây giờ đây.

Nhã :  Trong dinh chưa chuẩn bị.  Chúng tôi có một số việc khác khẩn cấp…

Bunker :  Anh đâu có thể làm như vậy được.

Kissinger giật lấy ống nói :  Đây là Tiến sĩ Kissinger.

Nhã :  Thưa ông mạnh giỏi ?

Kissinger :  Tại sao chúng tôi lại không được gặp Tổng thống?

Nhã :  Như tôi mới giải thích cho Đại sứ Bunker.  Tôi rất tiếc là Tổng thống không thể gặp quý vị vào lúc này, ông ta sẽ gặp quý vị ngày mai.

Kissinger :  Tôi là Đặc sứ của Tổng thống Hoa Kỳ, tôi không thể được đối xử như một nhân viên chạy vặt.

Nhã :  Chúng tôi không bao giờ coi ông là nhân viên chạy vặt.  Nhưng nếu ông nghĩ như vậy thì tôi đâu có thể làm gì được.

Kissinger :  Tôi đòi gặp Tổng thống !

Nhã : Xin ông cho phép tôi nhắc lại lần nữa điều mà tôi vừa mới thưa với ông, tôi xin lỗi.

( Nguyễn Tiến Hưng, The Palace File, bản dịch của Cung Thúc Tiến và Nguyễn Cao Đàm trang 172, 173 ).


Ngày 21-10,

– Lúc 10 giờ sáng, Kissinger và Bunker đến gặp Tổng thống Thiệu, hai bên bàn thảo về 23 điểm phản đối của VNCH ngày hôm qua, theo Kissinger thì chỉ có 16 điểm cần sửa đổi.  Trong 2 tiếng đồng hồ, hai bên bàn thảo về vấn đề quân BắcViệt tại Miền Nam và vai trò của Hội đồng hòa giải dân tộc.

– Trong khi đang họp, nhân viên của Văn phòng Tổng thống bước vào đưa một mật điện từ tòa Đại sứ Hoa Kỳ chuyển sang, đó là một bức điện của Tổng thống Nixon muốn Kissinger trao tận tay Tổng thống Thiệu, trong đó đe dọa sẽ cắt viện trợ nếu Tổng thống Thiệu từ chối bản dự thảo hiệp định.

Buổi họp kết thúc trong sự hài lòng của Kissinger ( Tưởng rằng thư của Nixon đã khống chế được Thiệu ), hai bên hẹn gặp nhau vào sáng hôm sau.

Ngày 22-10,

– Lúc 6 giờ sáng, Tòa đại sứ VNCH tại Washington chuyển về toàn văn bài phỏng vấn của phóng viên tờ Newsweek là Borchgrave với Thủ tướng CSVN Phạm Văn Đồng cho Tổng thống Thiệu.  Tổng thống phát hiện rõ ràng Kissinger đã đánh lừa ông về vai trò của “Hội đồng hòa giải” và ý nghĩa của “ngưng bắn da beo”, nhưng ông quyết định không nói ra để xem Kissinger “diễn tuồng” ra sao.

( Thực ra chiều hôm trước Tướng Trần Văn Đôn đã dẫn phóng viên Borchgrave đến gặp Tổng thống Thiệu để xin phỏng vấn sau khi ông ta mới phỏng vấn Phạm Văn Đồng tại Hà Nội vào buổi sáng.  Tổng thống Thiệu từ chối trả lời phỏng vấn nhưng Borchgrave vẫn thông báo cho ông biết về nội dung cuộc phỏng vấn Phạm Văn Đồng.  Sau đó Borchgrave mới chuyển bài phỏng vấn PVĐ về cho báo Newsweek ).

– Buổi sáng, Kissinger đến gặp Tổng thống Thiệu, trong 45 phút bàn bạc, Tổng thống Thiệu cho biết ông đồng ý với bản dự thảo “nhưng với điều kiện phải sửa đổi lại” ( Đây là một lối nói từ chối của Tổng thống Thiệu nhưng Kissinger không hiểu, bởi vì sau đó Thiệu đòi sửa lại tới 64 chỗ, tức là hầu như sửa lại toàn bộ ).  Kissinger ra về với nhiều lạc quan.

– Kissinger đánh điện cho Tổng thống Nixon : “Tôi nghĩ là chúng tôi đã tìm được lối thoát”.  Sau đó ông bay đi Nam Vang để gặp Tổng thống Cam Bốt và trở lại Sài Gòn chiều hôm đó.  Tại Nam Vang Kissinger cho Tổng thống Lon Nol biết rằng Tổng thống Thiệu đã đồng ý bản dự thảo hiệp định do Bắc Việt đưa ra.

– Buổi chiều, Kissinger cùng Bunker đến dinh Độc Lâp.  Trước tiên Tổng thống Thiệu khuyến cáo Kissinger :  “Tôi không đồng ý về việc một số nhân viên của quý vị đi nói khắp Sài Gòn là tôi đã ký.  Tôi chưa ký kết gì cả.  Tôi không phản đối hòa bình nhưng tôi chưa nhận được một trả lời thỏa đáng nào của quý vị cho nên tôi sẽ không ký”.

Sau đó Tổng thống nhắc lại 4 điểm phản đối chính, đó là: (1) Sự hiện diện của quân Bắc Việt tại Miền Nam. (2)  Vai trò của Hội đồng hòa giải được xem như là một chính phủ. (3) Vùng phi quân sự tại vĩ tuyến 17 không được tôn trọng theo như hiệp đình Geneve. (4) Hiện nay tại  Đông Dương có tới 4 quốc gia chứ không phải chỉ có 3.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu khi còn là trung tướng (phải).

Kissinger mất bình tỉnh với tuyên bố của Tổng thống Thiệu, ông nói ông đã thành công ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và Paris mà bây giờ ông phải thất bại tại Sài Gòn: “Nếu ngài không ký, chúng tôi sẽ xúc tiến một mình”.

Tới phiên Thiệu nổi giận, ông buộc tội Kissinger là thông đồng với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để bán đứng Miền Nam.  Hồi ký của Kissinger ghi lại lời lẽ của Thiệu: “Là một quân nhân thì lúc nào cũng phải chiến đấu, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức khi HK yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức… … Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã đòi tôi từ chức, vì như vậy là nhục;  cho nên tôi đã làm như tự mình chọn lấy quyết định đó…” ( Kissinger, White House Years, trang 1385 )

Kissinger đáp lại : “Tôi cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của ngài qua lời phát biểu vừa rồi.  Tuy nhiên, là một người Hoa Kỳ, tôi không khỏi phiền lòng khi ngài cho rằng chúng tôi thông đồng với Liên Xô và Trung Quốc. 

Làm sao ngài có thể nghĩ như vậy được trong khi quyết định ngày 8-5 của Tổng thống Nixon ( Thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt ) đã liều cả tương lai chính trị của mình để giúp quý ngài.  Chúng tôi điều đình với Liên Xô và Trung Quốc là để làm áp lực, buộc họ phải làm áp lực với Hà Nội…  Nếu như chúng tôi muốn bán đứng quý ngài thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó…”( Kissinger, White House Years, trang 1385, 1386 ).

 

Rồi tới phiên Đại sứ Bunker mất bình tỉnh : “Vậy thì thưa Tổng thống, lập trường chót của ngài là không ký, có phải không?”

Thiệu đáp : “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi.  Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho Tổng thống Nixon biết như thế.  Xin quý vị trở lại Washington và nói với Tổng thống Nixon rằng tôi cần được trả lời”.

Tổng thống Thiệu chỉ tay vào bản đồ Việt Nam rồi nói : “Có gì quan trọng khi Hoa Kỳ để mất một quốc gia nhỏ bé như Nam Việt Nam?  Chúng tôi không hơn gì một chấm nhỏ trên bản đồ của thế giới đối với các ông… … Nhưng đối với chúng tôi, đó là một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết.  Đối với chúng tôi, đặt bút ký vào một hiệp ước tương đương với sự đầu hàng là chấp nhận một bản án tử hình, vì cuộc sống không có tự do là sự chết.  Không, nó còn tệ hơn là sự chết” ( Larry Berman; No Peace, No Honor; trích từ Văn khố Bộ ngoại giao HK, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 230 ).

Kissinger yêu cầu Thiệu cùng họp lại một lần chót vào sáng ngày mai để trình diễn cho báo chí biết là bản dự thảo vẫn đang được tiếp tục tiến hành.  Tổng thống Thiệu đồng ý: “Được rồi, nếu điều đó có thể giúp quý vị thì sáng mai ta có thể có một cuộc họp ngắn, 5 phút”.

Ngày 23-10, sau cuộc họp ngắn với Tổng thống Thiệu, Kissinger lên đường trở về Hoa Kỳ.  Trước đó ông đã đánh điện cho Hà Nội, xin hoãn chuyến đi Hà Nội vào ngày 24-10 như đã dự trù.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên truyền hình công kích các điều khoản hiệp định mà Phạm Văn Đồng tuyên bố với phóng viên Borchgrave.  Ông tránh không nói tới bản dự thảo hiệp định do Kissinger đưa ra bởi vì đã có hứa với Kissinger là làm ra vẻ như bản dự thảo vẫn đang được tiến hành.

 

Bùi Anh Trinh

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ. 

The

Links:

Văn Tuyển.net


Bài Học Nào? – Kami

Bài đọc suy gẫm: Bài học nào cho phong trào Dân chủ Việt Nam từ biểu tình Hồng Kông, bài phân tách giá trị của Kami.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Gióng lên hồi trống báo động nền Dân chủ Hồng Kông đang bị độc tài tàu cộng uy hiếp.

 Phù Đổng Joshua Wong từ chối bắt tay với  đặc khu trưởng Hống Kông Lương Chấn Anh nhân dịp ông này đến thăm các em sinh viên, học sinh biểu tình tuyệt thực. Hình dưới:  Nhóm sinh viên được cử ra đối thoại trực tiếp với chính quyền.  Tin mới nhất cho biết cuộc đàm phán đã thất bại do sự thiếu thiện chí của phía chính quyền.  Alex Chow, (thứ 3 từ trái) lãnh tụ sinh viên, cho biết :”họ rất mơ hồ”.

Cuộc biểu tình đòi tự do bầu cử của Sinh viên Hong Kong được một số đông người ở Việt nam chăm chú theo dõi và cổ vũ. Mọi người yêu mến và cổ vũ Dân chủ ở Việt Nam đều hướng về Hong kong, với khẩu hiệu “Today’s Hong Kong, Tomorrow’s Vietnam” – “Hôm nay của Hồng Kông, ngày mai của Việt Nam”. Phải thừa nhận, đây cũng chính là ước vọng của không ít người.

Không chỉ truyền thông (kể cả truyền thông nhà nước), mà trên các mạng xã hội cũng ngập tràn các tin tức, hình ảnh diễn biến biểu tình ở Hong kong được người ta chia sẻ, cập nhật. Có lẽ cũng bởi nguyên nhân và cũng là động lực của cuộc xuống đường ở Hong kong rất giống như ở Việt Nam trong hàng chục năm nay. Đó là một thứ bầu cử dân chủ giả hiệu, theo công thức “Đảng cử, Dân bầu” mà thực chất là một sự cưỡng đoạt quyền tự do bầu cử, ứng cử của người dân đã được Hiến pháp bảo hộ. Vì đối với một bộ phận người Việt Nam, một cuộc xuống đường để phản kháng chính trị nhằm tạo áp lực cần thiết buộc chính quyền hiện tại ở Việt Nam phải thay đổi thể chế chính trị độc đảng toàn trị như hiện nay là một điều cấp bách và cần thiết.

Vài nét về cuộc biểu tình ở Hong kong

Bắc Kinh từ trước đến nay vẫn chủ trương ngăn chặn phổ thông đầu phiếu trong bầu cử, đồng thời muốn duy trì tính chất các cuộc bầu cử trên lãnh thổ Trung Quốc ở tình trạng “Chúng tôi chọn, các anh bầu” như họ đã từng làm trong suốt mấy chục năm cầm quyền ở Trung quốc. Ban lãnh đạo Trung Quốc biết rằng việc bầu cử tự do dân chủ kiểu phương Tây nếu tiếp tục để diễn ra tại Hong Kong là điều hết sức nguy hiểm. Nếu không nhanh chóng được loại bỏ thì nó sẽ trở thành tấm gương cho những người ủng hộ dân chủ tại Trung Quốc sẽ noi theo.

Cho dù, tại thời điểm trước khi tiếp nhận Hong Kong, chính quyền Trung Quốc đã từng hứa hẹn sẽ từng bước chuyển đổi sang một chính quyền dân cử. Điều đó đã được lãnh đạo Trung quốc khẳng định vào năm 1993, nghĩa là trước thời điểm Trung Quốc tiếp nhận chủ quyền Hong Kong bốn năm, theo đó Đảng CS Trung Quốc đã khẳng định rằng “Việc Hong Kong xây dựng nền dân chủ thế nào trong tương lai hoàn toàn nằm trong quyền tự quyết của Hong Kong. Chính quyền trung ương sẽ không can thiệp.” Không chỉ thế, phía Trung Quốc cũng đã cam kết sẽ tổ chức một cuộc bầu cử dân chủ vào năm 2017, bằng hình thức phổ thông đầu phiếu để người Hong Kong có thể tự lựa chọn nhà lãnh đạo cho riêng mình.

Tuy vậy Trung Quốc cũng đã nuốt lời, đến ngày 24.3.2013 ông Kiều Hiểu Dương, Chủ tịch Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc (Quốc hội) Trung quốc tuyên bố rằng các ứng cử viên Trưởng Đặc khu Hành chính phải có lòng yêu nước đối với cả Trung Quốc đại lục và Hồng Kông, không đối đầu với chính quyền trung ương và không chấp nhận các ứng cử viên theo trường phái ủng hộ dân chủ đối lập. Và đến cuối tháng 8.2014 vừa qua, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua một nghị quyết đưa ra những quy định để áp dụng cho cuộc bầu cử chức vụ Trưởng Đặc khu Hành chính Hong Kong sẽ được tổ chức vào năm 2017. Theo đó chính quyền Trung Quốc sẽ tiến hành sàng lọc ứng cử viên cho vị trí Trưởng Đặc khu Hành chính Hong Kong và sẽ ấn định danh sách cuối cùng từ hai đến ba ứng cử viên để cho cử tri lựa chọn. Nghĩa là cử tri vẫn có quyền bỏ phiếu để lựa chọn người đảm nhiệm chức vụ Trưởng Đặc khu Hành chính Hong Kong, nhưng họ chỉ có thể bỏ phiếu cho một trong vài chọn lựa đã đưọc sàng lọc sẵn bởi chính quyền Trung Quốc. Mà thực chất là bầu cử theo lối bầu cử giả hiệu mà dân chúng Hồng Kong gọi một cách mỉa mai là “Chúng tôi cử, các anh bầu”.

Đây là sự thách thức của chính quyền Bắc kinh và tầng lớp sinh viên học sinh ở Hong Kong, đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến cuộc biểu tình của Sinh viên Hong Kong với mục đích đòi chính quyền Bắc kinh phải tôn trọng quyền bầu cử tự do của dân chúng.

 Nhiều băng rôn vàng yểm trợ Dân chủ được cột vào hàng rào tòa nhà chính quyền Hồng Kông

Một số vị lãnh tụ cạo đầu để phản đối cái gọi là “đảng cử dân bầu” áp đặt lên Hồng Kông.

Câu chuyện ở Đoàn Luật sư TP. HCM

Việc Đại hội Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh diễn ra chậm trễ hạn theo dự kiến hơn nửa năm trời và là Đoàn luật sư cuối cùng trên cả nước tiến hành đại hội là một vấn đề bất thường khiến cho chính quyền phải đau đầu. Một trong những nguyên nhân chính khiến cho Liên đoàn Luật sư Việt Nam chưa thể tiến hành đại hội lần thứ II, vì phải chờ kết quả đại hội Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh.

Tất cả xuất phát từ lý do mà theo Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh cho rằng: Công văn số 74/LĐLSVN ngày 10.4.2014 do ông Lê Thúc Anh – Chủ tịch Liên đoàn luật sư Việt Nam ký, về việc bổ xung tiêu chuẩn đối với chức danh Chủ nhiệm Đoàn luật sư TP. Hồ Chí Minh đã không bảo vệ được một nguyên tắc cao nhất của Đoàn Luật sư. Đó là sự kết hợp giữa quản lý Nhà nước với chế độ tự quản của Đoàn Luật sư. Điều đã được quy định trong Luật Luật sư, đồng thời đã vi phạm nguyên tắc thượng tôn Pháp luật (Rule of Law) đó là sự độc lập của Đoàn Luật sư.

Trong thông báo 135E/ĐLS về việc “Làm rõ thêm về sự áp đặt không dân chủ, can thiệp trái pháp luật đối với Đại hội Đại biểu Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ VI (2013-2018)”, ký ngày 01.8.2014, ông Nguyễn Đăng Trừng – Chủ nhiệm Đoàn luật sư TP.HCM đã khẳng định: “Đội ngũ luật sư trên cả nước, trong đó có luật sư của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh đều hiểu rất rõ rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và Xã hội” (Điều 4, khoản 1, Hiến pháp). Nhưng lãnh đạo không phải là đứng ra làm thay công việc của một tổ chức xã hội nghề nghiệp như của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, không phải áp đặt không dân chủ, can thiệp trái pháp luật đối với Đại hội nhiệm kỳ của Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh. Tất cả các luật sư trên cả nước cũng hiểu rất rõ rằng: “các tổ chức Đảng và Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật” (Điều 4, khoản 3, Hiến pháp)”.

Và kết quả mang lại là, Ban Thường vụ Thành ủy TP.HCM đã kết luận ông Nguyễn Đăng Trừng đã vi phạm qui chế làm việc của Đảng đoàn Đoàn Luật sư TP, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của tổ chức Đảng do điều lệ Đảng qui định, vi phạm điều lệ Đoàn Luật sư TP và qui chế làm việc của Ban Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP, gây mất đoàn kết trong nội bộ Đảng đoàn. Và đã thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi đảng đối với ông Nguyễn Đăng Trừng. Nên nhớ LS Nguyễn Đăng Trừng là đại biểu Quốc hội khóa XII.

Dù rằng toàn bộ kế họach thành lập Liên đòan Luật sư Việt Nam thuộc khuôn khổ dự án “Hỗ trợ cải cách tư pháp và pháp luật tại Việt Nam” do Đan Mạch và Thụy Điển hỗ trợ cho Bộ Tư pháp Việt Nam. Nhưng cũng không thể cứu vãn dược tình thế.

Và sau cùng, ngày 12.10.2014 thì Đại hội đoàn luật sư TP.HCM cũng vẫn “thành công tốt đẹp” sau một ngày làm việc vội vã tại Hội trường Thành ủy TP. HCM. Điều đáng nói là đại hội được tiến hành chỉ có 547/799 luật sư tham dự đại hội đại diện cho hơn 4.000 luật sư ở TP. HCM, đạt tỷ lệ 68,45% và không có sự tham dự của đương kim Chủ nhiệm LS. Nguyễn Đăng Trừng.

Được biết, trước khi khai mạc và ngay trong ngày đại hội, LS. Nguyễn Đăng Trừng đã bị công an mời làm việc  để làm rõ một số vấn đề liên quan đến cá nhân ông. Sự vắng mặt của luật sư Nguyễn Đăng Trừng làm cho đại hội diễn ra khá căng thẳng, ngột ngạt…

 LS Nguyễn Đăng Trừng là đại biểu Quốc hội khóa XII bị kỷ luật khai trừ khỏi đảng, sự việc này nói lên nhiều điều…

Những bài học nào?

Nếu so sánh cuộc cách mạng Dù ở Hong kong với câu chuyện vừa xảy ra ở Đòan Luật sư TP. HCM về quy mô thì người ta sẽ cho rằng là sự khập khiễng, nhưng nếu hiểu Đòan Luật sư TP. HCM – một xã hội Việt nam thu nhỏ sẽ thấy phần nào sự tương đồng. Đó là sự can thiệp của nhà nước đối với quyền tự do bầu cử của người dân trong xã hội cộng sản, ở đó tất cả mọi sinh hoạt liên quan đến chính trị của người dân đều phải có sự sắp đặt sẵn, trên quan điểm có lợi cho chính quyền hơn là vì quyền lợi của người dân.

Đã có nhiều bài viết và nhiều ý kiến phân tích các nguyên nhân vì sao Việt nam chưa thể có một cuộc cách mạng Dù như ở Hong Kong. Nhìn chung các ý kiến đều cho rằng ý thức chính trị của người dân nói riêng và giới Sinh viên học sinh Hong kong cao hơn hẳn khi so với Việt Nam. Với lý do giải thích cho rằng họ được tiếp xúc với một nền Dân chủ thực sự khi Hong Kong còn là thuộc địa của Anh quốc. Và họ cho rằng, ở Việt nam cần có một thời gian dài nữa để phát triển nhận thức chính trị cho người dân, và chỉ khi nào “dân trí” của người Việt nam đạt đến mức như dân Hong Kong hiện nay thì mới có thể hy vọng có một cuộc xuống đường đông người.

Vậy sự bất lực của Đoàn Luật sư TP. HCM trước việc chính quyền can thiệp thô bạo vào tính độc lập của Đoàn Luật sư TP. HCM cũng do “dân trí” của hơn 4.000 luật sư thuộc Đoàn Luật sư TP. HCM thấp hay sao? Và nguyên nhân do đâu? Điều đó cho thấy lập luận đổ lỗi cho vấn đề dân trí ở Việt Nam thấp dẫn đến không có các cuộc xuống đường như Hong Kong là một sự biện hộ thiếu thuyết phục.

Một trong những ấn tượng mà cuộc biểu tình của sinh viên, học sinh Hồng Kông là hình ảnh của nhân vật lãnh đạo sinh viên Hồng Kông Joshua Wong chỉ mới 17 tuổi. Cũng như vai trò đấu tranh rất quyết liệt, triệt để đến cùng của LS. Nguyễn Đăng Trừng, khi còn ở cương vị Chủ nhiệm Đoàn Luật sư TP. HCM để đòi quyền độc lập của Đoàn Luật sư và không cho phép nhà nước can thiệp để thao túng một hội nghề nghiệp của mình. Tuy vậy hành động phản kháng của LS. Nguyễn Đăng Trừng cũng đã bị quyền lực nhà nước dập tắt. Trong khi ấy, cuộc biểu tình ở Hong Kong đã bước sang tuần thứ 4 và đến lúc này vẫn có dấu hiệu vẫn đứng vững. Điều đó cho thấy vai trò của một lãnh tụ nếu thiếu tính tổ chức, sự liên kết giữa các tổ chức và thành viên thì cũng sẽ thất bại.

Một câu hỏi được đặt ra là: Các tổ chức XHDS ở Việt Nam đã đứng ở đâu trong lúc xảy ra câu chuyện ở Đoàn Luật sư TP. HCM và tại sao họ không có bất cứ hành động gì để bày tỏ sự ủng hộ trong cuộc đấu tranh đơn độc của LS. Nguyễn Đăng Trừng?

Cuộc biểu tình ở Hong Kong được tổ chức dưới sự lãnh đạo của 3 tổ chức XHDS: Chiếm lĩnh Trung Hoàn (Occupy Central), Học dân tư triều (Scholarism) và Liên đoàn sinh viên Hồng Kông (Hong Kong Federation of Students, HKFS). Với các lãnh tụ như Linh Mục Châu Diệu Minh, nhà hoạt động nhân quyền, Đới Diệu Đình, phó Giáo sư luật, Trần Kiện Dân, cựu Giáo sư Xã hội học. Và nổi bật bằng hai lãnh đạo của sinh viên và học sinh: Hoàng Chi Phong (Joshua Wong), lãnh đạo nhóm Học dân tư triều (Scholarism) và Chu Vĩnh Khang (Alex Chow), sinh viên Xã hội học, Tổng thư ký Liên đoàn Sinh viên Hồng Kông. Điều đáng nói cuộc biểu tình này đã được chuẩn bị một cách kỹ càng, có bài bản trước đây khá lâu, cho dù chưa thật sự hoàn hảo như người ta muốn. Đó là chưa kể họ còn được sự ủng hộ về tài chính của giới tài phiệt ủng hộ cho Dân chủ ở Hong Kong.

Còn nhìn lại Việt Nam thì trong thời gian gần đây, sự xuất hiện của 22 tổ chức XHDS ở Việt Nam cũng đã được đánh giá là sự phát triển của công cuộc đấu tranh cho Dân chủ ở Việt Nam. Tuy vậy đó chỉ được coi là thành công vè mặt bề nổi, nhưng còn thiếu chiều sâu, việc một cá nhân có mặt trong hầu hết các tổ chức XHDS còn là phổ biến cho thấy điều đó. Trên thực tế, đến lúc này ở Việt nam còn quá ít các tổ chức XHDS độc lập hoạt động có hiệu quả và đặc biệt là thiếu sự liên kết hỗ trợ lẫn nhau. Nhiều tổ chức và cá nhân trong các tổ chức XHDS chưa hiểu rằng các tổ chức XHDS phải giữ vai trò kết nối các cá nhân trong xã hội lại với nhau, thông qua các tổ chức XHDS sẽ tạo ra sự kết nối toàn xã hội để có thể hành động theo một mục tiêu chung đã được thống nhất. Chỉ khi nào tạo ra sự lớn mạnh và hoạt động có hiệu quả của các tổ chức XHDS, thì mới có thể có được một cuộc cách mạng đường phố.

Tuy nhiên cần thấy rằng, với đặc thù của phong trào đấu tranh cho Dân chủ ở Việt nam là trong điều kiện phong trào hoạt động của các tổ chức XHDS còn yếu và mỏng như hiện nay thì sự đàn áp, vô hiệu hóa thậm chí là triệt tiêu các nhân tố thủ lĩnh của chính quyền là điều không thể tránh khỏi. Do vậy sự liên kết và tương tác giữa các tổ chức XHDS để gây dựng một thủ lĩnh Dân chủ là điều hết sức quan trọng và các tổ chức XHDS sẽ đóng vai trò là bệ đỡ cho sự xuất hiện một thủ lĩnh của phong trào Dân chủ. Song quan trọng hơn cả, bên cạnh việc thiếu một thủ lĩnh thực thụ có đầy đủ bản lĩnh và uy tín để đảm nhận trọng trách như hiện nay, thì việc phải làm gì và bắt đầu từ đâu để thống nhất hành động vẫn là một câu hỏi còn bị bỏ ngỏ. Và có lẽ đây là lời giải thích về lý do vì sao truyền thông của nhà nước Việt Nam vẫn khá “cởi mở” với những tin tức về biểu tình ở Hong Kong, hầu như chính quyền không mảy may ngần ngại về nguy cơ này xảy ra ở Việt Nam?
Một hình thức Xã Hội Dân Sự…

Kết

Không chỉ đối với giới trẻ, mà đa số những người ủng hộ cho công cuộc đấu tranh cho Dân chủ ở Việt Nam đều có một ý kiến thống nhất và cho rằng nguyên nhân chính là do phong trào Dân chủ không thu hút được sự ủng hộ của quần chúng vì chưa nó đủ tầm, và thiếu một cương lĩnh cụ thể. Vấn đề thủ lĩnh cũng là vấn đề quan trọng không thể bỏ qua, mà cho đến lúc này hoàn toàn chưa xuất hiện. Sự thất bại của các hoạt động chính trị đông người của các tổ chức XHDS ở Việt nam trong những ngày gần đây nhất, như: Biểu tình phản đối bắn pháp hoa hay Trao Kiến nghị Yêu cầu Quốc hội Bạch hóa vấn đề Hội nghị Thành Đô, đã cho thấy các hoạt động này chủ yếu mang tính hình thức, a dua nhằm gây tiếng vang và thiếu sáng tạo. Đặc biệt là vấn đề nắm bắt các sự kiện để liên kết hỗ trợ và thúc đẩy, như bài học ở Đoàn Luật sư TP. HCM nêu trên là một ví dụ điển hình.

Tất cả những cái đó cho thấy, công cuộc đấu tranh cho Dân chủ ở Việt Nam hiện nay còn thiếu qua nhiều yếu tố cần thiết. Đây chính là một thách thức, đồng thời là một câu hỏi đòi hỏi những người tranh đấu ở Việt Nam phải tìm câu trả lời.

Ngày 16 tháng 10 năm 2014

© Kami

*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

RFA (Kami Blog)

 


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 907 other followers