Dư Hương Ngọt Ngào – Minh Vũ Hồ Văn Châm

Bài đọc suy gẫm:  “Dư Hương Ngọt Ngào” tức bài viết về Chương Trình Chiêu Hồi rất thành công của Việt Nam Cộng Hòa trong thời chiến do tác giả Minh Vũ Hồ Văn Châm ghi lại.  Hình ảnh chỉ là minh họa.

Về Đây Anh 
Nguyễn Hiền- Nhật Bằng
Trích: Người ơi ước mong ngày tàn chinh chiến
Ðể toàn dân sống trong cuộc đời ấm êm
Ta nhắn gửi về nơi quê cũ xa vời
Hỡi ai lạc bước mau quay về đây  

Chương trình Chiêu Hồi của Việt Nam Cộng Hòa được xây dựng và tiến hành trên nền tảng chính sách Đại Đoàn Kết Dân Tộc. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chủ trương lấy tình thương xóa bỏ hận thù, chân thành mở rộng vòng tay đón tiếp những anh chị em ruột thịt chiến đấu trong hàng ngũ cộng sản, lầm lạc phục vụ chủ nghĩa cộng sản mà tưởng là phục vụ quyền lợi quốc gia dân tộc. Tất cả các cán binh cộng sản ra hồi chánh, bất kể quá trình hoạt động bản thân trong hàng ngũ cộng sản như thế nào, nếu ý thức sự lầm lạc trong quá khứ, và nhiệt tình phục vụ lý tưởng tự do dân chủ, đều được phục hồi đầy đủ quyền công dân và hội nhập trọn vẹn vào cộng đồng dân tộc.

Cơ quan phụ trách chương trình Chiêu Hồi.

Chương trình Chiêu Hồi bắt đầu hoạt động vào cuối năm 1962, dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Cơ quan phụ trách chương trình Chiêu Hồi là một phân ban của Bộ Công Dân Vụ, gọi là Phân Ban Chiêu Hồi, có đẳng cấp tương đương với một Nha thuộc Bộ.

Sau chính biến 1-11-1963, Phân Ban Chiêu Hồi được chuyển sang thống thuộc Phủ Thủ Tướng. Đến năm 1965, với Ủy Ban Hành pháp Trung ương, chương trình Chiêu Hồi được giao cho Bộ Thông Tin phụ trách, có đẳng cấp tương đương với một Tổng Nha, do Thứ Ủy Chiêu Hồi cầm đầu.
Năm 1967, cơ quan phụ trách chương trình Chiêu Hồi được nâng lên cấp bộ, gọi là Bộ Chiêu Hồi, do Tổng Trưởng Chiêu Hồi cầm đầu, có Phụ Tá Tổng Trưởng Chiêu Hồi giúp việc.

Tháng 2 năm 1974, Bộ Chiêu Hồi được bãi bỏ, chương trình Chiêu Hồi do Tổng Cục Chiêu Hồi thuộc Bộ Dân Vận Chiêu Hồi phụ trách.
Điều đáng lưu ý là chương trình Chiêu Hồi không phải chỉ một mình Bộ Chiêu Hồi chịu trách nhiệm thi hành. Bộ Chiêu Hồi chủ yếu phụ trách mặt nổi của chương trình, như tuyên vận, tiếp nhận, huấn chính, phục hoạt. Trong thực tế, nhiệm vụ chính của Bộ Chiêu Hồi là phối hợp hoạt động của nhiều cơ quan chính phủ như Quân Đội, Cảnh Sát, Tình Báo, Thông Tin, Ngoại Giao, Tư Pháp, và quân đội đồng minh, để tiến hành chương trình Chiêu Hồi trong khuôn khổ chương trình Bình Định và Phát Triển, đặc biệt là về mặt tuyên vận chính nghĩa chống chuyên chính vô sản, và về mặt khai dụng người hồi chánh để nắm vững địch tình.

Tổ chức Điều hành.

Ở cấp trung ương, Tổng Trưởng Chiêu Hồi được sự giúp đỡ của Phụ Tá Tổng Trưởng Chiêu Hồi về mặt công tác, của Tổng Thư Ký về mặt hành chánh, của Thanh Tra Trưởng điều khiển Khối Thanh Tra và Lượng Giá, và của Phụ Tá Kế Hoạch đảm trách Khối Kế Hoạch Chương Trình. Ngoài Văn Phòng Tổng Trưởng và các Nha Quản Trị, Công Tác, Phục Hoạt, Pháp Chế, Tiếp Nhận, và An Ninh Tình Báo, ở cấp trung ương còn có Trung Tâm Chiêu Hồi Trung Ương ở Thị Nghè và Trung Tâm Huấn Nghệ Trung Ương ở Biên Hòa. Các nha được chia thành sở, sở chia thành phòng, phòng chia thành ban.
Ở cấp quân khu có Văn Phòng Đại Diện Chiêu Hồi và Trung Tâm Chiêu Hồi cấp quân khu.
Ở cấp tỉnh có Ty Chiêu Hồi do Trưởng Ty điều khiển, và Trung Tâm Chiêu Hồi cấp tỉnh. Riêng Đô Thành Sài Gòn có Sở Chiêu Hồi do một Chánh sự vụ điều khiển.
Ở cấp quận có Chi Chiêu Hồi do Trưởng Chi cầm đầu. Cấp quận không có trung tâm tiếp nhận thường trực.
Ngành Chiêu Hồi không có cán bộ cấp xã. Phần vụ chiêu hồi ở xã do cán bộ Thông Tin phụ trách.
Nhân viên Bộ Chiêu Hồi ước chừng 11.000 người, gồm công chức chính ngạch, công nhật, hợp đồng, quân nhân biệt phái, cán bộ chiêu hồi, và 90 đại đội võ trang tuyên truyền tuyển chọn trong số cán binh cộng sản ra hồi chánh.

Quản trị Tài chánh

Khi còn là Phân Ban Chiêu Hồi, các chi phí về chương trình Chiêu Hồi liên quan đến người Hồi Chánh do Quỹ Tạm Ứng Chiêu Hồi đài thọ. Quỹ này là một quỹ ngoại ngân sách do viện trợ Mỹ yểm trợ (1). Các chi phí điều hành (lương nhân viên, trụ sở, vật liệu, văn phòng phẩm) thì do Bộ sở quan (Bộ Công dân vụ, Phủ Thủ Tướng, Bộ Thông Tin) đảm trách.
Khi trở thành một bộ, Bộ Chiêu Hồi có ngân sách riêng, có quy chế và thể lệ dự trù, duyệt xét, chi tiêu, thanh lý, hậu kiểm, y hệt ngân sách các bộ khác của chính phủ. Ngân sách này có 2 phần:
· Phần ngân sách quốc gia phụ trách việc chi trả các khoản điều hành.
· Phần ngân sách viện trợ Mỹ chi trả các khoản liên quan đến người Hồi Chánh: tuyên vận, tiếp nhận, tưởng thưởng, nuôi ăn, may mặc, huấn chính, huấn nghệ, hoàn hương (trở về làng cũ), định cư (thiết lập làng mới), và lương và công tác phí cho các đội viên võ trang tuyên truyền.
Việc quản trị và thanh lý các ngân khoản thuộc phần ngân sách quốc gia được thực hiện theo thể lệ tài chánh quốc gia. Đối với phần ngân sách ngoại viện, Bộ Chiêu Hồi không trực tiếp chi dụng và quyết toán, mà ủy ngân cho các tỉnh để các Trưởng Ty chi dụng và thanh lý với Ty Tài Chánh tỉnh, theo thể thức chi tiêu đặc biệt ‘xây dựng nông thôn’. Ngoài ra, Ty Chiêu Hồi còn được Kho Xây Dựng Nông Thôn địa phương yểm trợ trực tiếp ‘thực phẩm phụng sự hòa bình’ và ‘vật liệu xây dựng nông thôn’, theo quyết định của Tỉnh Trưởng, ngoài sự kiểm soát của Bộ Chiêu Hồi (2).
Ngân sách hàng năm của Bộ Chiêu Hồi (thời gian 1967-1974) trung bình chừng khoảng 500-600 triệu đồng Việt Nam phần ngân sách quốc gia, và chừng khoảng 600-700 triệu đồng Việt Nam phần ngân sách ngoại viện.

 

Thành quả chiêu hồi về mặt tiếp nhận

Từ ngày bắt đầu thi hành chương trình vào cuối năm 1962 đến ngày 30-04-1975 đã có khoảng 230.000 cán binh cộng sản ra hồi chánh.
Những năm đầu (1963-1965) và năm cuối (1974) số người ra hồi chánh hàng năm chỉ có chừng vài nghìn. Số người ra hồi chánh lên cao đến 15.000-43.000 mỗi năm trong khoảng thời gian chính phủ Việt Nam Cộng Hòa tiến hành chương trình Bình Định và Phát Triển từ 1968 đến 1972. Số người ra hồi chánh cao nhất là vào năm 1969 (43.000 người) và năm 1970 (38.000 người).

Cán binh cộng sản ra hồi chánh phần lớn là cán bộ và bộ đội gốc gác trong nam. Một số ít là cán binh tập kết nay quay trở lại miền nam. Cán binh Bắc Việt xâm nhập thì có rất ít, tổng cộng chỉ chừng 4.000-5.000 người. Ngoài ra còn có 3.500 phạm nhân và 11.500 tù binh thuộc thành phần tân sinh hoạt được Ủy Ban Liên Bộ Chiêu Hồi, Nội Vụ, Quốc Phòng, và Tư Pháp, tuyển chọn cho cải danh sang qui chế hồi chánh.

Cấp bậc cao nhất của sĩ quan ra hồi chánh là thượng tá (Thượng tá Tám Hà). Nhân viên dân sự cao cấp nhất ra hồi chánh là Trưởng Ty Y Tế tỉnh Pleiku (Bác sĩ Đặng Tân). Trong số người hồi chánh, có nhà văn có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam (Xuân Vũ Bùi Quang Triết), có nhạc sĩ tác giả khúc nhạc mở đầu của đài phát thanh giải phóng (Phan Thế), có tài tử điện ảnh của đoàn làm phim Hà Nội (Cao Huynh), có nhân viên văn phòng Bí Thư Thành ủy Sài Gòn-Gia Định (Tô Minh Trung).

 Thượng Tá Tám Hà, thứ 2 từ trái về hồi chánh trong năm tổng tấn công Mậu Thân 1968, đầy cay đắng thất bại của việt cộng.

Thành quả chiêu hồi về mặt phục hoạt.

Tất cả cán binh cộng sản ra hồi chánh, không những thuộc thành phần tự nguyện mà kể cả thành phần cải danh, đều được chính quyền phục hồi sinh hoạt bình thường, cho thủ đắc đầy đủ quyền công dân, và giúp đỡ hội nhập trọn vẹn vào cộng đồng dân tộc.

Cán binh cộng sản ra hồi chánh được đưa về trung tâm chiêu hồi. Tùy theo chức vụ và cấp bậc trong hàng ngũ cộng sản, họ được tiếp nhận ở trung tâm cấp tỉnh, cấp quân khu, hay cấp trung ương. Riêng cán binh Bắc Việt xâm nhập, tất cả đều được đưa về trung tâm chiêu hồi trung ương ở Thị Nghè.

Trong những ngày đầu tại trung tâm tiếp nhận, người hồi chánh được tiếp xúc với nhân viên an ninh Bộ Chiêu Hồi và nhân viên tình báo các cơ quan bạn để khai báo về bản thân, về tổ chức và hoạt động của cơ quan cộng sản, về đường giây nằm vùng, về nơi chôn dấu vũ khí v.v. Sau đó, người hồi chánh được nhân viên cảnh sát làm thủ tục cấp thẻ căn cước, và tham gia một khóa học chính trị cơ bản. Người hồi chánh còn được đưa đi tham quan phố phường, chợ búa, bệnh viện, trường học, xưởng dệt kim, nhà máy cán thép, trại cây ăn trái, để biết rõ thực trạng xã hội miền nam. Trước khi rời trung tâm chiêu hồi, người hồi chánh được hỏi về nguyện vọng sau khi hoàn hương, để được tùy nghi giúp đở. Thời gian ở trong trung tâm tiếp nhận là 2 tháng. Người hồi chánh được nuôi ăn ngày 3 bữa và được cấp phát 2 bộ quần áo. Khi rời trung tâm để về với gia đình, người hồi chánh được cấp vé xe, vé tàu, và tiền hoàn hương.

Những người có nguyện vọng học thêm nghề để kiếm sống sẽ được đưa đến các trung tâm huấn nghệ cấp quân khu hoặc cấp trung ương. Họ được tự do lựa chọn ngành nghề: nghề may, nghề mộc, lái xe và sửa máy xe, sửa điện nhà, radio, tủ lạnh v.v. Tại các trung tâm huấn nghệ, người hồi chánh cũng được nuôi ăn. Sau khi thành nghề, họ được giới thiệu kiếm việc làm.

Những hồi chánh viên quê quán miền bắc không muốn ở các vùng thị tứ, những hồi chánh viên không còn thân nhân, hoặc không muốn trở về làng cũ, thì đuợc đưa đến định cư ở các làng Chiêu Hồi. Tại miền nam thuở bấy giờ có khoảng 20 làng Chiêu Hồi. Mỗi gia đình được cấp 3 mẫu đất canh tác, nông cụ và hạt giống, và lương ăn trong 6 tháng. Hầu hết các làng Chiêu Hồi được cấp máy phát điện.

Nhà văn hồi chánh Xuân Vũ sau này trở thành nhà văn nổi tiếng của miền nam, Việt Nam. 

Thành quả chiêu hồi về mặt hội nhập.

Một số hồi chánh viên được tuyển dụng làm cán bộ võ trang tuyên truyền. Các cán bộ này được tổ chức thành đại đội, trang bị phương tiện truyền thanh và vũ khí nhẹ để thâm nhập vào các vùng xôi đậu làm công tác tuyên vận. Trong mùa hè đỏ lửa 1972, một đại đội võ trang tuyên truyền bị Việt cộng phục kích ở cầu Bồ Bản, Quảng Trị. Thay vì thúc thủ đầu hàng hoặc trốn chạy qua cầu và sẽ bị bắn chết hết, họ đã gan dạ trụ lại chống trả. Việt cộng bị bất ngờ và đã bỏ lại hiện trường 68 xác chết đồng đội. Đại đội võ trang tuyên truyền này đã được Bộ Tư lệnh Quân đoàn I tuyên dương và Bộ Chiêu Hồi tưởng thưởng.

Ngoài những chức vụ đặc biệt dành riêng để tuyển dụng các hồi chánh viên cao cấp như Tham Nghị đặc biệt (cấp Tổng Giám đốc) và Tham Nghị (cấp Giám đốc), một số hồi chánh viên có năng lực và tinh thần hợp tác được tuyển dụng vào các chức vụ chỉ huy thường chỉ dành cho các sĩ quan biệt phái hay công chức chính ngạch cấp đốc sự hoặc tham sự như giám đốc nha, chánh sự vụ sở, quản đốc trung tâm, chủ sự phòng. Những nguời này đã thực sự quên đi dĩ vãng và dốc lòng phục vụ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa với niềm tin tưởng mãnh liệt vào chính sách Đại Đoàn Kết Dân Tộc (3).

Một số hồi chánh viên được tuyển dụng làm cán bộ võ trang tuyên truyền đã được sung vào các Thuyết Trình đoàn của Bộ Chiêu Hồi để thường xuyên đến các trường học, các xưởng máy, các tổ chức cộng đồng tôn giáo và xã hội, để nói chuyện cho đồng bào nghe về thực trạng miền bắc xã hội chủ nghĩa. Năm 1972, một đoàn thuyết trình gồm những người sinh trưởng trên đất Thái đã được đưa qua Thái Lan để nói chuyện cho kiều bào sinh sống tại vùng đông bắc Thái nghe về thực trạng xã hội miền nam. Hồi chánh viên Mai Văn Sổ được đưa qua Paris sinh hoạt với Việt kiều và hai tháng sau Mai Văn Bộ mất chức Tổng Đại Diện Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tại Pháp. Hồi chánh viên Hồ Văn Bửu được đưa qua New Delhi nói chuyện về thực chất Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình nhân dịp Bộ trưởng Việt Cộng Nguyễn Thị Bình thăm viếng Ấn Độ. Hồi chánh viên Bùi Công Tương được đưa qua Úc làm chứng trước tòa rằng nhà báo Alfred Burchett viết lách gian dối, không khách quan, khi tường thuật thực trạng tại các vùng giải phóng ở miền nam Việt Nam, trong một vụ kiện đòi bồi thường danh dự giữa nhà báo ấy và một vị nghị sĩ Úc.

Trắc nghiệm thành quả.

Chiều ngày 27-1-1973, Bộ Chiêu Hồi được lệnh của Phủ Tổng Thống tiếp nhận ngay trong đêm 11.500 tù binh cải danh hồi chánh do quân đội chuyển giao từ các trại tù binh Biên Hòa, Cần Thơ và Phú Quốc. Công việc phải hoàn tất trước 8 giờ sáng ngày 28-1-1973 là thời điểm hiệp định Paris có hiệu lực. Khả năng tiếp nhận của các trung tâm chiêu hồi trong toàn quốc là 5.400 người, nay phải tiếp nhận một lúc hơn gấp đôi số lượng, Bộ Chiêu Hồi phải đương đầu với nhiều khó khăn về chỗ ngồi chỗ nằm, về nuôi ăn, về vệ sinh, về trật tự. Tuy rằng mọi việc cũng đã được giải quyết ổn thỏa, nhưng trong bối cảnh vừa mới đình chiến, vừa cận kề ngày Tết, những tù binh cải danh này nếu không chuyển qua quy chế hồi chánh thì giờ này đâu còn bị giữ lại trong các trung tâm chiêu hồi mà đã được trao trả cho Việt cộng và trở về với gia đình. Đương nhiên là tinh thần họ rất giao động, và viễn tượng an ninh tại các trung tâm tiếp nhận thật là đen tối. Bộ Chiêu Hồi đã linh động chỉ lập danh sách theo địa chỉ cư trú rồi cấp giấy hoàn hương và lộ phí cho tất cả 11.500 người này về nhà ăn Tết 15 ngày, sau đó sẽ đến trình diện cơ quan chiêu hồi địa phương để nhập trung tâm, làm thủ tục cấp thẻ căn cước, theo các lớp huấn chính, huấn nghệ. Việc làm này của Bộ Chiêu Hồi vừa để giải quyết khó khăn trước mắt, vừa để trắc nghiệm mức độ thành thật cải hối của các tù binh cải danh. Bộ Chiêu Hồi ước lượng chừng 20% sẽ bỏ đi theo Việt cộng, nhưng trong thực tế chỉ có 4,7% trong số họ đã bỏ đi không ra trình diện mà thôi.

Sau ngày 30-4-1975, tất cả tập thể hồi chánh viên mà Việt cộng thường gọi là thành phần chiêu hồi chiêu hàng, nếu không chạy được ra nước ngoài, đều bị đưa ra toà xét xử về tội phản bội cách mạng. Một số bị kết án tử hình. Ngoài ra thì bị đưa vào giam giữ ở các trại tập trung, y hệt các nhân viên quân sự và dân sự của chính thể Việt Nam Cộng Hòa. Giữa những người tù chính trị trong các trại giam của Việt cộng không hề có sự phân biệt thành phần chiêu hồi và ngụy. Nếu trong hàng ngũ những người tù thuộc thành phần chiêu hồi có những phần tử xun xoe, bợ đỡ, lập công với cách mạng, thì tỷ lệ những phần tử này còn thấp hơn tỷ lệ trong hàng ngũ những người tù thuộc thành phần không phải chiêu hồi mà Việt cộng gọi là thành phần ngụy. Đây lại thêm một biểu hiện về thành quả hội nhập của các người hồi chánh vào cộng đồng dân tộc sinh sống dưới chính thể Việt Nam Cộng Hòa.

Kết Luận.

Chương trình Chiêu Hồi của Việt Nam Cộng Hòa là một chương trình thành công. Chương trình Chiêu Hồi ngày đó đã bắc nhịp cầu thông cảm giữa những người ở trong chính quyền chống cộng tha thiết với tiền đồ quốc gia dân tộc, với những người ở trong hàng ngũ cộng sản nhưng ý thức sự lầm lạc của mình, đã ngu muội chiến đấu cho chủ nghĩa cộng sản mà cứ tưởng là phục vụ quyền lợi của quê hương, của dân tộc. Chương trình Chiêu Hồi ngày đó mãi đến nay vẫn còn lưu chút dư hương ngọt ngào trong lòng những người không may phải sống trở lại trong vòng kềm kẹp của chính thể chuyên chính vô sản.

Minh Vũ Hồ Văn Châm

 

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Văn Tuyển.net

 


Chú Thích:
1. Các ngân khoản ứng trước do Quỹ Tạm Ứng Chiêu Hồi lập ra để ủy ngân cho các địa phương trước năm 1967 phần lớn chưa được thanh lý. Đầu năm 1972, Bộ Chiêu Hồi cho lập Ủy ban Liên Bộ Chiêu Hồi, Tài Chánh, Giám Sát Viện, Ngân Sách Ngoại Viện để thanh lý hồ sơ chi tiêu các quỹ ứng trước đó. Các địa phương không có hồ sơ thanh lý hợp lệ phải hoàn trả ngân khoản được ứng trước. Bộ Chiêu Hồi đã thu lại 57 triệu đồng Việt Nam cho Quỹ Tạm Ứng Chiêu Hồi, và chuyển hoàn tồn khoản của Quỹ Tạm Ứng Chiêu Hồi cho Quỹ Đối Giá Viện Trợ Mỹ.

2. Thể thức chi tiêu Xây Dựng Nông Thôn được đặt ra để giúp các địa phương không bị ràng buộc với các thủ tục chi tiêu rườm rà của trung ương, nhờ vậy, các địa phương có thể linh động giải quyết nhanh chóng các nhu cầu cấp kỳ. Tuy nhiên, nếu trung ương có thái độ phủi tay (ủy ngân xong là xem như hết trách nhiệm) hay chủ trương tiếp tay (ủy ngân bừa bãi quá mức nhu cầu để chia chác) thì thể thức chi tiêu này cũng như việc sử dụng thực phẩm phụng sự hòa bình và vật liệu xây dựng nông thôn cho người hồi chánh không có sự theo dõi của trung ương, sẽ làm phát sinh nhiều tệ đoan nhũng lạm. Cuối năm 1969, Bộ Chiêu Hồi cho áp dụng một mẩu báo cáo hàng tháng đơn giản mà chính xác, các ty chỉ việc điền các số liệu báo cáo vào các ô thích hợp, nhờ đó, Bộ Chiêu Hồi đã chặn đứng nạn báo cáo ma, và phát hiện nhiều việc phi lý, tỷ như có ty đã nhận từ kho Xây Dựng Nông Thôn một số dầu ăn để cung ứng cho người hồi chánh đang ở tại trung tâm chiêu hồi, mà tính ra thì mỗi hồi chánh viên đã tiêu thụ hàng tháng 1.500 lít dầu ăn.

3. Tiếc rằng đầu năm 1974, Bộ Chiêu Hồi được giải thể để nhập vào Bộ Dân Vận, và trước thái độ ngờ vực và rẻ rúng của các cấp lãnh đạo mới, họ đã vô cùng thất vọng. Bị bãi chức, họ lang thang xó chợ đầu đường. Quản Đốc Trung tâm Chiêu Hồi Trung Ương Thị Nghè, vốn là Đại úy đặc công Việt cộng, vì quá bi phẫn, đã nhảy lầu tự sát, may mà không chết, chỉ bị gãy xương. Cuối năm 1974, có sự thay đổi lãnh đạo Bộ Dân Vận Chiêu Hồi, họ được gọi trở về nhiệm sở cũ.


Ngọn Đèn Sáng – Hòa Mỹ

Hải Thượng Lãn Ông, Lê Hữu Trác (1720-1791) Wikipedia

Bài đọc suy gẫm: Ngọn Đèn Sáng tức  “Thầy Toại”, truyện ngắn có liên quan đến lịch sử của tác giả Hòa Mỹ.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

***

Thời sinh viên, Huy học toán và cư ngụ trong câu lạc bộ Phục Hưng. Suốt năm, Huy chỉ học phất phơ, phần lớn thì giờ lo dạy tư kiếm tiền nuôi thân và người anh đang học y khoa. Vì cô thế, không kiếm được giờ dạy ở các trường tư thục Sàigòn, mỗi tuần Huy phải đón xe đò đi Bình Dương dạy ba ngày. Thế mà trời thương, chó ngáp phải ruồi, mỗi năm Huy đều đỗ kỳ đầu ít nhất một chứng chỉ. Nhìn các anh học y khoa thức khuya, dậy sớm, suốt ngày chúi đầu vào sách vở, có anh chàng hộ pháp ngồi tụng mãi đến chiếc ghế phải mòn, Huy khâm phục sự kiên trì của họ. Vì thế sau này Huy không ngạc nhiên thấy họ làm giàu mau chóng. Nhưng người Huy khâm phục nhất là thầy Toại, mặc dầu chưa hề thấy mặt, nghĩa là “Văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình”.

Sinh viên y khoa xem thầy như thần tượng. Họ thêu dệt nhiều chuyện thần thoại về thầy. Họ thấp thỏm, run sợ khi thấy thầy cầm bảng “phong thần” đọc tên những người đậu vào những kỳ thi cuối năm. Thầy vừa là khoa trưởng, giáo sư thạc sĩ y khoa giải phẫu nổi tiếng, vừa là người thầy gương mẫu cho đàn em noi theo. Một giai thoại được nhiều người truyền tụng nhất là thầy đành tâm đánh hỏng người em ruột nhiều kỳ liên tiếp và cuối cùng phải bỏ y khoa, mặc dầu thầy dư khả năng cho đậu. Giữa thời buổi “một người làm quan, cả họ được nhờ” theo truyền thống, thầy đã vì lương tâm nghề nghiệp chống lại quan niệm sai trái ấy làm sao Huy không khâm phục được? Sau này khi trở lại học y khoa, thấy các đàn anh, bằng mọi giá đưa con em mình vào trường y và cho lên lớp đều đều mặc dầu không có khả năng, Huy lại càng khâm phục thầy Toại hơn nữa. Thầy đúng là một đóa sen…

Sau khi tốt nghiệp, Huy được một học bổng du học Mỹ. Người ta chỉ thông báo phải hoàn tất thủ tục trong vòng một tuần lễ. Huy biết họ đã có ứng viên thay thế mình. Họ cho Huy biết vì tuân hành theo quyết định chung của một buổi họp liên bộ. Việc khám sức khoẻ là gay go nhất vì lúc ấy chưa có bệnh viện Thanh Quan dành riêng cho công việc này. Huy phải đến bệnh viện Bình Dân. Bệnh nhân thì tràn ngập mà các bác sĩ thì làm việc từ tốn, khoan thai, 11 giờ sáng vẫn chưa thấy có mặt. Huy chắc chắn không thể nào hoàn tất mọi việc đúng thời hạn ngoại trừ phép lạ. Chạy tìm mấy anh sinh viên y khoa quen trong câu lạc bộ nhờ giúp đỡ, nhưng ai cũng lắc đầu chịu thua. Một anh xúi: “Mày gõ cửa đại phòng thầy Toại xin giúp thì may ra”. Bí quá, Huy đành làm theo mà tim đập liên hồi. Chàng đã gặp được thầy Toại, người mà chàng đã từng ngưỡng mộ như một thần tượng. Huy run run trình bày lý do mà cứ sợ thầy đúng theo nguyên tắc sẽ từ chối giúp đỡ. Không ngờ sau khi nghe xong, thầy cầm lấy hồ sơ, dở ra chăm chú xem môt lúc lâu rồi mỉm cười bảo :

– Anh là dân Quảng Nam à?

Huy gật đầu xác nhận :

– Dạ, con là dân nhà quê nghèo ở Quảng Nam vì thế con không quen biết ai để nhờ giúp đỡ nên mới mạo muội làm phiền đến thầy

Thầy lại cười bảo :

– Đất ngủ phụng tề phi nên mới sản xuất được những người đặc biệt như anh. Chỉ có ba năm mà anh đã lấy được hai bằng cử nhân giáo khoa toán và khoa hoc. Tôi đã từng học năm dự bị y khoa ở trường đại học khoa học nên biết giá trị của những bằng mà anh vừa đậu. Tôi có hai sinh viên nội trú giỏi nổi tiếng và rất thông minh. Mỗi người đều đậu được chứng chỉ toán học đại cương, nhưng sau đó thì thi hoài mà không đậu được những chứng chỉ cao hơn. Anh học có khó khăn lắm không?

Du thành thật trả lờI:

– Con chỉ gặp may. Con chỉ học phất phơ thôi. Hàng tuần con phải đi Bình dương dạy ba ngày dể kiếm tiền sống và giúp gia đình.

Thầy ân cần nắm tay Huy bảo:

– Anh đáng được giúp đỡ. Anh hãy đi theo tôi.

Chỉ trong vòng hai giờ, thầy đã đưa Huy đi làm hết các thử nghiệm và cuối cùng vào phòng quang tuyến, chính thầy xem phổi cho Huy mà không cần phải chụp phim.

Ngày hôm sau, Huy trở lại bệnh viện thì mọi thử nghiệm đã có kết quả và thầy đã ký tên xác nhận sức khoẻ của Huy tốt. Chàng bàng hoàng như sống trong mơ. Người thầy mà các đàn anh y khoa của chàng khâm phục và run sợ lại dễ dãi và tốt với chàng đến thế! Huy cảm ơn mà nước mắt lưng tròng. Thầy cũng cảm động không kém, rút trong túi quần ra một số tiền đưa cho Huy và bảo:

– Tôi biết anh nghèo và cô thế. Anh cầm lấy số tiền này để may quần áo lạnh. Quốc gia đang cần những người như anh. Ráng làm rạng danh dân tộc nơi xứ người và sống có tư cách. Chúc anh may mắn và mau trở về chung tay xây dựng quốc gia.

Huy thổn thức:

– Con xin cám ơn lòng tốt của thầy và xin ghi nhớ những điều thầy dạy để đền đáp phần nào những đặc ân thầy đã dành riêng cho con.

Thầy vỗ vai Huy:

– Đây là bổn phận của lớp đàn anh. Ơn huệ gì mà anh phải áy náy.

Giám đốc nha du học sửng sốt khi thấy Huy hoàn tất mọi thủ tục trước thời hạn nên đành phải để cho chàng xuất ngoại du học.

Hai năm sau, Huy trở về dạy tại trường đại học kỹ thuật Phú Thọ và đem hết khả năng đào tạo sinh viên như thầy mong đợi. Huy cũng thường ghé thăm thầy tại bệnh viện Bìnhdân để bàn luận thời sự và trao đổi ý kiến, học thêm những điều hay nơi thầy.

Trường Cao Đẳng Kỹ Thuật Phú Thọ (trước 1975)

Cuộc đảo chánh thất bại năm 1960 làm cho ông Nhu, cố vấn chính trị cho Tổng Thống Diệm nghĩ đến cần một người có văn hóa cao, có kỹ thuật vững, có tinh thần độc lập để không làm tay sai và có mặc cảm tự ti với người Mỹ, vừa có tinh thần chống cộng vững chắc để khỏi bị họ mua chuộc, làm giám đốc nha trung ương tình báo, một cơ quan hữu hiệu vừa chống cộng vừa bảo vệ chế độ cộng hòa. Huy được ông Nhu mời qua sự giớI thiệu và trung gian của ông Tổng giám đốc công vụ. Huy đã gặp thầy Toại và được thầy chỉ bảo:

– Chỉ có hai ông Diệm, Nhu mới đủ khả năng giữ cho miền Nam khỏi rơi vào tay cộng sản và không lệ thuộc quá đáng vào Mỹ. Tuy ông Diệm quan liêu, độc tài, nhưng biết dùng và kính trọng người có khả năng và tư cách. Bọn trí thức hèn hạ đã làm hư ông ta. Nếu có dịp, anh cứ nói thẳng là ông Diệm đừng để cho ông Thục, ông Cẩn, bà Nhu xen vào thao túng chính quyền, phải tạo cơ hội cho những người đối lập có tư cách tham chính và lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân thì mới mong đứng vững được.

Sau ba giờ nói chuyện, Huy nhận thấy ông Nhu là người thông minh, sâu sắc, có cái nhìn chính xác về tình hình chính trị trong và ngoài nước. Ông ta cũng là người chịu làm việc, yêu nước và thanh liêm. Chỉ tiếc một điều là muốn yên cửa, yên nhà, ông ta đã để cho bà Nhu làm nhiều điều sai trái, lộng quyền. Thêm vào đó vì thiếu giao tế và kiêu ngạo, ông ta không thông cảm được với giới trí thức miền Nam và đẩy họ vào thế đối kháng một mất, một còn. Trong khi đó thì phần lớn trí thức chỉ học giỏi chứ không có thực tài, vì quyền lợi cá nhân, vì tự ái, đã thù oán chế độ và xúi dục ngoại bang gây khó dễ làm cho tình thế trở nên bấp bênh và bi thảm.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm (giữa) và trí thức miền nam. Bộ trưởng Bộ Quốc Gia Giáo dục Nguyễn Đăng Trình (trái, vest đen). Linh mục Giáo sư Cao Văn Luận Viện trưởng Viện Đại học Huế (phải)

Theo lời thầy Toại dạy, Huy trình bày những ước vọng của mình như một điều kiện để cộng tác. Ông Nhu có vẻ buồn và suy nghĩ nhiều. Sau đó, chàng không gặp lại ông ta một lần nào nữa.

Biến cố Phật Giáo năm 1963 và những xáo trộn chính trị lôi cuốn sinh viên vào một trận cuồng phong mà nhiệt tâm tuổi trẻ thiếu sáng suốt dễ bị lợi dụng. Khi tình thế đã trở nên khẩn trương, sinh viên sẵn sàng xuống đường để ủng hộ Phật Giáo thì các khoa trưởng đồng lòng cùng nhau gặp ông Diệm để trình bày sự thật cho ông có cái nhìn chính xác hơn về tình trạng khẩn cấp mà quốc gia đang gặp phải. Đáng lẽ ông Giám đốc trường kỹ sư công nghệ phải tham gia phái đoàn này. Nhưng ông ta vừa kiêm thêm Tổng giám đốc hỏa xa và Quản trị viên Điện lực Việtnam nên né tránh và cử Huy thay thế. Lần đầu tiên Huy gặp được đông đủ các vị khoa bảng Việt Nam từ bộ trưởng giáo dục, viện trưởng, khoa trưởng, đến giám đốc các trường cao đẳng kỹ thuật. Tất cả tập họp trong phòng khách của dinh Gia Long vì dinh Độc Lập đang trùng tu vì bị bom của Nguyễn Văn Cử. Các vị khoa bảng ngạc nhiên khi thấy vẻ mặt non choặt của Huy hiện diện cùng với họ làm cho chàng thấy xấu hổ và tự ti. Chỉ có thầy Toại đến bắt tay và nhìn Huy với cặp mắt thân ái đầy khuyến khích.

Khi ông Diệm vào, Huy thấy không khí thay đổi đột ngột. Một vẻ trang nghiêm và sợ sệt đang bao phủ. Khi mọi người an tọa, Huy thấy ông Diệm hút thuốc liên hồi, vẻ mặt nghiêm trang với cái nhìn quyền uy và không có một mặc cảm tội lỗi nào. Cái nhìn của một người biết rằng mình chưa làm điều gì hại dân, hại nước và đem lại tư lợi cho riêng mình. Ông Bộ trưởng thay mặt mọi người trình bày mục đích buổi tiếp kiến. Sau đó mỗi khoa trưởng và giám đốc lần lượt trình bày tình trạng của trường mình. Phần lớn đều run sợ, nói năng lắp bắp, khác hẳn với giọng nói đầy tự tin và quyền uy của họ hàng ngày. Họ chỉ nói quanh co và kể lể công lao của họ trong việc ngăn chận sinh viên xuống đường và cuối cùng xin chỉ thị của Tổng Thống. Huy đâm ra thất vọng. Họ đến để tâng công chứ đâu có nghĩ gì về tình thế khó khăn của quốc gia lúc bấy giờ. Chắc họ sợ bị mất chức khi ông Diệm lật ngược được thế cờ như năm 1960 chăng? Nhìn họ Huy mới thấy cái hèn hạ của người trí thức khi bị công danh và tư lợi buộc chặt.

Đến phiên thầy Toại, thầy đứng thẳng, mắt nhìn thẳng ông Diệm, dõng dạc nói:

– Thưa Tổng Thống, tình hình đang nguy cấp. Việc bạo động của sinh viên đã ra khỏi tầm tay của chúng tôi rồi, một phần vì tuổi trẻ thiếu suy nghĩ chín chắn lại bồng bột, một phần vì chính quyền quá cứng nhắc và phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng. Nếu Tổng Thống không kịp thời có những nhượng bộ thích hợp thì chính quyền khó đứng vững trong cơn bảo táp này.

Cả phòng họp im lặng như tờ. Ông Diệm cau mày, nhưng cái nhìn vẫn kính trọng người đối diện. Ông nói:

– Cám ơn ông khoa trưởng đã nói thẳng và nói thật. Chúng tôi sẽ xét lại tình hình khẩn cấp để có những biện pháp thích hợp.

Cả phòng thở phào nhẹ nhõm như trút được gánh nặng ngàn cân. Khoái quá, Huy vỗ tay và mọi người bắt chước làm theo. Thực sự nếu miền Nam có được vài chục trí thức như thầy Toại thì gia đình họ Ngô đâu dám ngông cuồng tự đại để làm suy yếu chế độ và tạo dịp cho ngoại bang can thiệp vào nội tình nước ta. Sở dĩ mọi người đều run sợ trước ông Diệm vì họ không có tư cách. Khi chưa có quyền thì luồn cúi, xin xỏ, hoặc bất mãn, phản đối. Khi có quyền thì tham nhũng, thối nát, nịnh trên, nạt dưới. Bọn tướng lãnh giết hai ông Diệm, Nhu là một lũ người hèn hạ, ngu si nhất. Nếu họ cho hai ông ấy ra khỏi nước một thời gian để ăn năn những việc sai trái đã làm thì miền Nam khó bị cộng sản cưỡng chiếm sau này.

Sau ngày hai ông Diệm, Nhu bị giết, các khoa trưởng và giám đốc lại được mời họp. Lần này trong giảng đường của trường đại học sư phạm. Huy cũng được tham dự. Thấy họ vui vẻ, rạng rỡ khác hẳn với vẻ khúm núm, sợ sệt lúc gặp ông Diệm, Huy thấy buồn. Chàng thấm thía với câu bình luận của đài B.B.C vừa nghe đêm qua: “Miền Nam sẽ hỗn loạn triền miên sau khi ông Diệm chết”. Thực tế sau này đã chứng minh điều nhận xét trên là khôn ngoan và sâu sắc. Các khoa trưởng, giám đốc lại lần lượt lên diễn đàn tố cáo tội ác của Diệm, Nhu. Đến phiên thầy Toại, thầy hiên ngang nhìn thẳng vào đám đông dõng dạc nói:

– Chúng ta họp nhau hôm nay ở đây là để bàn về tương lai và ổn định lại việc học cho sinh viên, chứ không phải để tố cáo người đã chết. Họ làm sai, lịch sử sẽ phê phán. Chúng ta không dư thì giờ để bàn những việc chưa đáng phải làm và thực sự chúng ta chưa đủ tư cách để làm công việc ấy.

Cả hội trường sửng sốt, nhất là ông tướng mang hai sao đang ngồi chủ tọa. Họ không ngờ người khẳng khái bất bình với chính quyền trước mặt ông Diệm, nay lại đi bênh vực cho ông ấy. Khoái quá, Huy đứng dậy vỗ tay ầm ĩ, nhưng chỉ có vài người phụ họa. Ông tướng cau mày nhìn Huy . Huy biết rõ ông tướng này làm đại tá an ninh quân đội thời ông Diệm. Ông ta chỉ đậu bằng tiểu học và làm đội khố xanh trong dinh tuần vũ của ông Diệm ở Phan Thiết khi xưa. Khi ông Diệm làm thủ tướng rồi tổng thống thì ông ta đã cúc cung tận tụy phục vụ nên mới lên được đại tá. Thế mà ông ta chưa bằng lòng với cấp bực của mình nên xin lên tướng. Ông Diệm đã coi ông ta như con cháu trong nhà nên nhỏ nhẹ bảo : “Từ nay cấp bậc tướng chỉ dành cho những sĩ quan trẻ có học vấn cao, hiểu biết rộng thì tương lai quốc gia mới khá hơn được, con hãy bằng lòng với cấp bực đại tá đi“ Thế là ông ta bất mãn và kết hợp với mấy ông tướng bất tài khác làm loạn, giết người đã từng thương yêu và nâng đỡ mình hết lòng.

Tháng sau, Huy nhận được giấy trình diện nhập ngũ. Huy biết rõ mấy ông tướng cầm quyền ghét và muốn hành hạ chàng. Huy nhớ lại lúc chàng nói thẳng và đặt điều kiện với ông Nhu, ông ta không bằng lòng nhưng không thù vặt như mấy ông tướng đang cầm quyền.

Chín tháng lăn lóc trong quân trường, chàng học được nhiều điều mà điều hay nhất là Huy nhận ra được khả năng chịu đựng vô biên của con người và thông cảm hoàn toàn nỗi nhọc nhằn mà người lính phải chịu trong cuộc huynh đệ tương tàn dai dẳng mà đảng cộng sản Việtnam là thủ phạm. Chàng có cái hãnh diện là đã không hèn hạ chạy chọt trốn lính. Chàng vẫn luôn luôn noi gương thầy Toại là thà chịu cực chứ không nịnh nọt mấy ông lớn lon để xin xỏ ơn huệ. Huy được đổi về làm giáo sư văn hóa cho trường Võ Bị Quốc gia Đàlạt sau hai năm làm sĩ quan địa phương quân đóng đồn ở Bình Định. Ba năm làm giáo sư, chàng vẫn tâm niệm lời dạy của thầy Toại là đem hết khả năng đào tạo sinh viên. Rất tiếc miền Nam mất quá sớm. Nếu còn đứng vững đến ngày hôm nay, chàng chắc chắn những sĩ quan Võ Bị được đào tạo văn võ song toàn, trong một ngôi trường hiện đại nhất Đông Nam Á, có cái nhìn rộng rãi, sâu sắc, không có mặc cảm dốt nát như các tướng tá đàn anh, sẽ điều khiển quốc gia một cách hoàn hảo. Chàng cũng được hãnh diện khi nghe nhiều người khen ngợi tài đức và lòng dũng cảm của các sĩ quan Võ Bị sau này.

 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam

Khi được biệt phái về trường đại học kỹ thuật Phú Thọ, chàng ghi tên học y khoa. Bệnh viện Bìnhdân vẫn còn đó với các kỷ niệm thân thiết xưa, nhưng đã có nhiều thay đổi từ hình thức đến tinh thần. Bệnh viện được xây cất đồ sộ, khang trang với các phòng thí nghiệm và giải phẫu tối tân. Nhân sự cũng thay đổi nhiều. Thầy Toại vẫn còn đó, nhưng không còn làm khoa trưởng nữa. Thầy chỉ giữ một căn phòng nhỏ, khiêm nhường làm văn phòng và dạy vài giờ cho những năm cuối. Phần lớn thì giờ thầy làm việc cho phòng giải phẫu của bệnh viện Saint Paul do các sơ điều khiển. Huy không dám hỏi thầy về những biến cố đã xảy ra vì sợ chạm đến vết thương sâu kín trong tâm hồn thầy. Nhưng điều Huy cảm nhận được là thầy đã thiếu khả năng thích ứng. Thầy đã được đào tạo trong không khí thân tình của nền y khoa Pháp và chứng kiến sự can thiệp thô bạo của Mỹ vào chủ quyền Việtnam khi cho phép mấy ông tướng vô học làm loạn. Chính những điều ấy đã làm cho thầy ngần ngại khi Mỹ muốn viện trợ xây cất một trung tâm y khoa hiện đại cho viện đại học Sàigòn và thầy đã bị bánh xe tiến hóa đẩy ra bên lề. Thực sự, thầy chưa thấy được cái dã tâm của người Pháp. Theo Huy thì Mỹ hay Pháp đều như nhau. Một đàng tinh tế, tình cảm hơn. Một đàng thực tế, thô bạo hơn. Nếu chúng ta biết đoàn kết, có tinh thần đồng đội, tinh thần độc lập, thì lợi dụng được sự giúp đỡ của họ một cách khôn ngoan, đôi bên cùng có lợi mà không lệ thuộc quá đáng vào họ. Nếu chúng ta chia rẽ, tư lợi, xu nịnh, nô lệ, thì sẽ bị khuynh đảo để thực hiện những mưu đồ của họ. Nhiều người bất đồng ý kiến đã bỏ đi Pháp, nhưng thầy vẫn ở lại. Huy thương sự thiếu thích ứng của thầy, nhưng kính phục lòng can đảm và yêu nước nơi thầy. Thầy hỏi Huy:

– Tại sao anh trở lại học y khoa? Muốn làm giàu phải không?

Huy trả lời:

– Con học tây y là để bổ túc cho cái thiếu sót của đông y và muốn hiểu rõ bệnh nhân đã được tây y chữa trị như thế nào để thích ứng. Y khoa chỉ là nghề tay trái. Giáo dục mới là môi trường con có nhiều khả năng và đam mê.

Thầy hỏi Huy về đông y. Huy đã đem những tao ngộ kỳ thú và những kết quả lạ lùng kể cho thầy nghe với ước mong thầy thấy nền y khoa Mỹ dẫu có tiến bộ đến đâu đi nữa cũng không giải quyết được hết nỗi đau khổ của con người nhất là về mặt tinh thần để thầy thấy được cái hay ho của đông y và bớt chua chát về những cứng nhắc và thiếu thích ứng trong quá khứ.

Sau nhiều buổi thăm viếng và bàn luận, Huy thấy thầy vui hơn, lắng nghe những kinh nghịêm đau thương của người bạn trẻ và thấy mình vẫn còn gặp nhiều may mắn. Cuối cùng thầy kết luận:

– Thật kỳ lạ, anh là một người chỉ tin vào thực nghiệm mà lại đam mê chuyện siêu hình. Anh nói đúng. Cuộc đời có nhiều cái huyền diệu lắm mà kiến thức chuyên môn của mình không thể cắt nghĩa hết được. Tôi đã hố khi quá coi trọng cái chuyên môn của mình mà xem thường cái hay của người khác.

 Đại học Y-Khoa Sài Gòn (trước 1975)

Từ đó, Huy thấy thầy vui hơn và thường tham dự vào những buổi giải phẫu biểu diễn của các phái đoàn y khoa Mỹ. Thầy đứng lẫn lộn trong đám sinh viên, cặp mắt đầy thương yêu và kính phục những bác sĩ Mỹ và những đàn em của thầy được họ đào tạo. Huy thấy trong mắt thầy một niềm luyến tiếc và một vẻ kiêu hãnh. Thầy luyến tiếc quãng ngày huy hoàng xưa và những khó khăn gặp phải khi không thích ứng nhanh với hoàn cảnh. Thầy kiêu hãnh vì đã đem hết tâm hồn đào tạo lớp đàn em nên người hữu dụng đang góp sức xây dựng quốc gia. Huy thương nhất khi thấy đôi bàn tay thầy âm thầm làm y những động tác mà các bác sĩ giải phẫu đang làm. Có lẽ thầy còn muốn học những kỹ thuật mới chăng? Chắc thầy buồn lắm khi thấy mình đã già và không còn khả năng theo kịp các tiến bộ vượt bực của y khoa hiện đại? Xin thầy yên tâm. Những đàn em có lương tâm và yêu nghề được thầy đào tạo đã tiếp nối một cách thông minh và tận tâm con đường dang dở của thầy. Riêng Huy, chàng tự nghĩ:

– Đời ta tuy gặp nhiều khổ nạn, nhưng ta cố gắng noi gương thầy Toại, ngang nhiên nói thật, nói thẳng những sai trái của người khác trong tinh thần xây dựng, thương yêu và khiêm nhường nhận những khuyết điểm người khác phê bình mà sửa đổi.

 Tháng 7/2012 tàu bệnh viện USNS Mercy của hải quân Mỹ đến Nghệ An mang theo 1.200 thành viên quân sự và dân sự của nhiều quốc gia để thực hiện sứ mệnh nhân đạo. Đây là lần thứ 3 tàu Mercy đến Việt Nam trong chương trình “Hợp tác Thái Bình Dương”. Sĩ quan Mỹ cùng với các nước khác đã hỗ trợ tỉnh Nghệ An nâng cấp và cải tạo các cơ sở hạ tầng y tế, tổ chức khám chữa bệnh cho người dân và động vật. Ảnh: Nguyễn Khoa

 
Vì thế, chàng rất buồn khi thấy báo chí luôn khen ngợi người Việt mình thông minh, cần mẫn, can đảm, bất khuất mà không đề cập đến những tính xấu căn bản như: thiếu tự tin, chia rẽ, ích kỷ, nô lệ, kiêu ngạo, vọng ngoại làm mất hết những đức tính tốt trên và sẵn sàng làm tay sai cho ngoại bang để dày xéo nhân dân mà thụ hưởng tư lợi. Đó có phải là một tính tốt và khôn ngoan sợ mất lòng người khác chăng? Huy cho rằng đó là một thiếu sót quan trọng của người cầm bút chỉ nhìn thấy mặt phải mà không dám nhìn mặt trái của mọi vấn đề hay cố ý không nhìn đến. Nếu mọi người Việt nhất là giớI trí thức đều nhìn bất cứ vấn đề nào dưới hai mặt phải trái khác nhau và sẵn sàng chấp nhận ý kiến chung mặc dầu trái với ước muốn của mình và cố thích ứng với hoàn cảnh thì tương lai đất nước sẽ tươi sáng biết bao nhiêu! Còn nếu vẫn cứ cho rằng mình luôn thông minh và dùng cái thông minh ấy để bịp người khác thì muôn đời dân tộc chẳng bao giờ ngóc đầu lên nổi.

Gần đây ông thiếu tướng chủ tọa buổi họp năm xưa không biết nhờ cơ duyên nào mà bỏ công ra viết một quyển sách chứng minh gia đình họ Ngô và cộng đồng Công giáo đã làm hại quốc gia, dân tộc với những lý luận tinh vi và những bằng cớ xác đáng. Ông ta không hề nhắc đến những đóng góp tốt đẹp của người Công giáo cho xứ sở cũng như những cái tốt và xấu của cộng đồng Phật giáo vào tiến trình đau thương của dân tộc trong mấy chục năm qua. Chỉ đậu được bằng tiểu học mà ông ta đã viết được như vậy thì quả thật là một người thông minh nếu không nhờ kẻ khác viết giúp. Ông ta đã bóp méo sự thật một cách khôn ngoan và có thủ đoạn để biện minh cho công việc mình đã làm nhưng không ngờ đến tác dụng tai hại làm chia rẽ dân tộc. Những kẻ nào có dã tâm gây nên sự kỳ thị tôn giáo tại nước ta đều có tội nặng với lịch sử. Chỉ vì muốn biện minh cho việc làm sai trái của mình trong quá khứ, ông ta đã làm một việc nguy hại lâu dài cho dân tộc là đầu độc thế hệ trẻ bằng những cái nhìn mất quân bình, không công bằng và đầy ác ý. Ông ta đã làm giống y như Hồ Chí Minh lý luận Công giáo là nguyên nhân đưa đến sự xâm lăng của Pháp vào Việt Nam và chỉ có cộng sản đệ tam mới là sức mạnh duy nhất lật được ách đô hộ của họ. Trong thâm tâm, ông ta vẫn hiểu rằng tiến trình lịch sử đi tìm thuộc địa và sự tự kiêu, bế môn, tỏa cảng của các vua triều Nguyễn đã đưa đến thảm họa xâm lăng. Cũng như sau thế chiến thứ hai việc nổi dậy của các dân tộc bị trị để dành lấy độc lập là điều tất nhiên mà không cần phải có đảng cộng sản lãnh đạo như các nước khác đã làm. Chính những lý luận khôn ngoan, một chiều, đầy dụng ý ấy của ông Hồ đã bịp được dân tộc ta và đẩy họ vào một cuộc nội chiến triền miên trong hơn ba mươi năm, giết hại không biết bao nhiêu nhân tài, tàn phá không biết bao nhiêu di sản quí báu mà tiền nhân đã khổ công gầy dựng, để cuối cùng có được một nước Việt Nam thống nhất nhưng rách nát, nghèo đói, lạc hậu, đau thương nhất thế giới. Vì thế dân tộc ta cần có những nhà trí thức yêu nước thật tình và có can đảm nói thẳng, nói thật giống như thầy Toại vậy. Chắc chắn sau vài năm áp dụng chủ nghĩa cộng sản vào Việt nam, Hồ Chí Minh đã thấy những sai lầm nghiêm trọng, nhưng ông ta không đủ can đảm nói ra sự thật vì sợ chết. Do đó người anh hùng không phải là kẻ dẫm lên sự đau thương của dân tộc để tạo được những kỳ công cho thế giới khâm phục mà là người dám hy sinh mạng sống của mình vì hạnh phúc của nhân dân và nói lên những sai lầm của chính mình đã phạm.

Sở dĩ đảng cộng sản đã đưa dân tộc ta đến tình trạng bi thảm ngày nay chỉ vì họ đã áp dụng sai những nguyên tắc căn bản trong việc xây dựng tổ quốc. Họ đã nhìn mọi hiện tượng, mọi sự việc một mặt, một chiều trong khi mọi đảng viên đều sống hai mặt, một mặt thật âm thầm ăn năn, đau khổ với chính mình và một mặt giả đạo đức, gương mẫu để bịp đảng và mọi người chung quanh. Đáng lý ra họ phải chân thật với chính mình và mọi người, nghĩa là chỉ có một mặt chân thật mà thôi. Nhưng khi xét người, xét việc thì họ phải nhìn kỹ hai mặt phải trái thì mới có thái độ đúng đắn được. Họ lại quá cứng nhắc trong giáo điều vì thế không thích ứng được với tình hình chính trị và kinh tế thay đổi quá nhanh hiện nay.

Cách đây không lâu có một phong trào “phục hưng tinh thần Ngô Đình Diệm” bừng dậy rầm rộ. Nhiều người mời Huy tham gia. Noi gương thầy Toại, Huy nói thẳng:

– Ông Diệm chỉ có được cái thanh liêm và yêu nước. Ngoài ra còn có quá nhiều khuyết điểm trầm trọng như quan liêu, độc tài, gia đình trị. Tôi thấy không cần thiết phải làm phục hưng tinh thần đó. Nếu vẫn còn yêu mến ông Diệm thì các anh hãy tự làm cho mình tốt đi và người ngoài sẽ thấy được cái ưu điểm ấy mà kính phục ông ta. Còn nếu các anh vẫn xấu mà tự nhận là đồ đệ ông Diệm là các anh đã chôn vùi tên tuổi của ông ta vậy.

Tuy thầy Toại là một gương sáng cho Huy, nhưng không vì thế mà Huy xem thầy là thần tượng như khi còn trẻ và bắt chước thầy trên mọi phương diện và cúi đầu ca tụng thầy một cách mù quáng như bao nhiêu đồ đệ Hồ Chí Minh đã làm. Huy chỉ trích sự thiếu khả năng thích ứng và tính cứng nhắc của thầy. Chính vì thế mà nửa cuộc đời còn lại thầy sống trong cô đơn, hối tiếc vì không đóng góp được gì nhiều cho quốc gia, dân tộc.

Sau khi miền Nam bị cưỡng chiếm, thầy Toại vẫn còn ở lại trong nước. Huy đến thăm thầy sau hai năm cải tạo, thầy buồn rầu nói :

– Chắc anh nghe nhiều người đồn rằng tôi đang chạy theo cộng sản để kiếm tư lợi. Ý kiến anh thế nào?

Thấy vẻ mặt đau khổ của thầy khi nói điều trên, Huy biết là thầy đã bị bọn cộng sản lợi dụng. Họ muốn chứng tỏ cho thế giới biết là họ vẫn tôn trọng giới trí thức. Thêm vào đó họ đang cần thầy vì bác sĩ Tôn Thất Tùng được họ trọng dụng cũng phải khen ngợi sự tài giỏi của thầy trong quá khứ. Trong khi đó thì giới trí thức bị kẹt lại thấy thầy được cộng sản trọng dụng nên ghen tị, chê trách. Huy an ủi thầy :

– Con hiểu được tình cảnh khó xử của thầy. Chỉ cần lương tâm thầy bình an là được. Làm sao thầy có thể làm vừa lòng mọi người khi họ chỉ thấy một mặt của sự việc. Con tin ở tư cách của thầy. Nếu thầy không mềm dẻo một chút trong hoàn cảnh khó khăn đầy oan trái này thì thầy dễ bị áp huyết cao và đứt mạch máu não lắm.

Thầy buồn rầu thú nhận :

– Tôi cũng muốn bắt chước anh xem thường dư luận. Nhưng khi thấy tia nhìn khinh bỉ của đồng nghiệp thì lòng tôi đau xót khôn cùng. Ý muốn của tôi là được suốt đời phục vụ cho sức khỏe của nhân dân, đào tạo cho quốc gia một đội ngũ bác sĩ giỏi chuyên môn, giàu lòng bác ái trước nổi khổ đau mênh mông của dân tộc, sống và chết trên quê hương thân yêu này. Thế mà gặp toàn cảnh ngang trái, oan khiên. Tôi khâm phục anh tuy gặp toàn những bất công và khổ đau trong cuộc sống so với bạn bè chung quanh mà vẫn vui cười như không. Chỉ có hồn thiên sông núi uy linh của đất địa linh nhân kiệt mới sinh ra được những ngườI như anh. Cám ơn lời khuyên của anh. Tôi sẽ cố gắng bắt chước anh, nhưng chắc là khó lắm. Anh định làm gì trong tương lai?

Huy cười bảo :

– Con vừa vượt ngục ra. Đối với chế độ này con là một tội phạm nguy hiểm nhất thì làm được gì cho nhân dân. Nếu con không bị bắt lại để chết dần mòn trong lao tù là may rồi. Con chỉ còn một con đường duy nhất là vượt biên mà thôi.

Đúng như điều tiên đoán của Huy, vài năm sau thầy đã bị đứt mạch máu não và bán thân bất toại. Huy thương cho sự thiếu thích ứng của thầy mà không biết làm sao cứu giúp. Thầy đã sống những ngày đau khổ nhất trước chứng bệnh nan y. Huy đã viết thư thăm hỏi, an ủi và khuyến khích thầy thường xuyên. Vài năm sau, Huy được tin thầy đi Mỹ theo diện đoàn tụ. Huy biết thầy đau lòng lắm khi có quyết định trên vì thầy luôn muốn sống và chết trên quê hương thân yêu. Trong quá khứ thầy đã từ chối biết bao nhiêu cơ hội sống giàu sang trên xứ người, thế mà bây giờ thầy phải chấp nhận quyết định đau đớn ấy. Huy hiểu rằng thầy đã khinh tởm chế độ cộng sản đến mức nào!

Khi định cư tại Canada, với thông minh và trí nhớ ngoại hạng, Huy dễ dàng trở lại nghề bác sĩ vừa có danh, vừa có tiền, nhưng chàng đã không làm. Chàng thấy đông y bổ túc được phần nào cái thiếu sót của tây y. Nhờ kiến thức tây y, chàng hiểu rõ bệnh nhân đã được tây y chữa trị như thế nào và có cái gì khiếm khuyết để bệnh không lành mà tìm cách chữa trị. Chàng vui thích khi thấy mình đã giải quyết được nhiều trường hợp mà tây y bó tay và giúp ích được nhiều cho dân bản xứ đã hào hiệp cưu mang gia đình chàng trong một xứ sở tự do và thanh bình. Chàng đã chứng minh được cho họ thấy cái huyền diệu và cao đẹp của đông phương mà họ đang thiếu. Chàng vui mừng thấy mình có can đảm khước từ vinh hoa, phú quí và chọn cho mình một con đường độc đáo để truyền bá cái tinh hoa của dân tộc ta. Có một điều càng ngày Huy càng nhận rõ là tinh thần càng thăng hoa, cuộc sống càng đơn sơ, thanh đạm, tấm lòng càng rộng mở để hoàn toàn thông cảm được với nỗi khổ đau của người khác bằng tất cả con tim và tình thương thì việc chữa trị đông y càng phong phú, hiệu quả và chính xác.

Vừa hưởng được mọi tiện nghi của đời sống vật chất hiện đại mà không bị trói buộc, vừa có phong cách trầm tĩnh và thoát tục của đông phương, Huy thấy mình có khả năng thích ứng hơn thầy Toại nhiều. Dẫu sao thì trong tâm hồn Huy tư cách thanh cao của thầy Toại vẫn là ngọn đèn sáng giúp cho chàng có đủ can đảm ngang nhiên nói thẳng, nói thật những điều sai trái người khác biết mà không dám nói.

Hoà Mỹ

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

pvbhoamy@Wordpress.com

tranmuoisau@Blogspot.com


Vượt Biên Một Phút – Trần Kim Bằng

Bài đọc suy gẫm: Nhân Tháng Tư, mùa Quốc Hận, Blog 16 mời quý bạn đọc bài viết “Vượt Biên Một Phút”  tức “Hồi Ký Vượt Biên Đường Bộ” của tác giả Trần Kim Bằng.  Hình ảnh chỉ là minh họa.

Ban nhạc tị nạn Sikew, nhân kỷ niệm sinh nhật Hoàng hậu Thailand. 

 

Viết Về Nước Mỹ – Việt Báo online

Tác giả: Trần Kim Bằng

Tác giả Trần Kim Bằng, cư dân vùng Little Saigon là một nhạc sĩ, đã phát hành tập nhạc và CD Duyên. Bài Viết Về Nước Mỹ đầu tiên của ông là một hồi ký về hành trình vượt biên đường bộ năm 1980.

* * *

Từ Khao I Đăng đến Sikew, 1980

Đầu năm 1980, nhóm người Việt vượt biên đường bộ đầu tiên đươc chuyển đến trại Sikew khoảng 600 người, một số từ các trại sát biên giới Thái Miên, số khác từ trại Arrange Pathet (trại tù lao công đào binh), đa số còn lại từ trại Khao I Đăng section 13. Tất cả được sắp xếp cho vào các Building 1,2 v à 3. Mỗi Building (B) có trưởng và phó Building do một số cựu quân nhân QL-VNCH được đồng bào bầu ra để đại diện người tị nạn tiếp xúc, liên lạc với người Thái trong mọi công việc về mặt đời sống.

Trại Sikew có lính gác, có trại trưởng và trại phó do quân nhân Thái đảm trách. Gặp 2 người này là phải đứng nghiêm, khoanh tay cúi đầu, cung kính chào: Savadi Khấp!”. Đã có nhiều người bị đánh, cá nhân mình cũng suýt bị ăn gậy vì thấy tên phó trại mà làm bộ ngơ ngác, không chào. Thấy nhóm tị nạn trông đen đủi và cô hồn quá nên trưởng trại cho tập họp, cảnh cáo ngay và cho biết đây cũng là một trại tù của lính Thái, nên kỷ luật rất nghiêm nhặt, áp dụng cho dân tị nạn giống như quân đội, vi phạm kỷ luật sẽ bị cạo trọc đầu, giam vô chuồng cọp, chuồng beo… tù vô thời hạn.

Người Thái giống việt cộng ở chỗ bắt sĩ quan, quân dân cán chính VNCH đi học tập cải tạo mút mùa mà không cho biết thời hạn phải tù bao lâu. Ở trại Sikew nếu bị tù thì chua lắm bởi dù phái đoàn có đến gọi tên lên phỏng vấn hay bạn có danh sách đi định cư thì cũng miễn đi, ở tù đã…

Trại Sikew sẽ có chào cờ ngày 2 lần sáng chiều, mọi người đều phải học thuộc và ca quốc ca Thái Lan, còn nhớ lúc đó anh Trần Thịnh* sau này là danh hề nổi tiếng hải ngoại cứ ca nhại “gà dây thung ta nấu cho thành xé phai,… đi đứng lang bang, 2 tay đút vô túi quần..”. làm bà con cứ bò lăn ra cười.


Phía sau là Buil-ding 1 của trại Sikhiu 1980. 
Sikew có 8 building lớn, ngoài 3 building đầu thì các building 4,5,6 dành riêng cho người tị nạn Lào gốc Việt, đến từ trại Nong Khai phía Đông Bắc Thái. Họ nói tiếng Thái (tiếng Lào và Thái xài chung ) và nói tiếng Việt rặt giọng Bắc nghe ngồ ngộ, nhưng dễ hiểu và hiền hòa. Nhìn chung thấy bảnh lắm, vì nước da họ trắng tuốt, quần áo tươm tất, sạch sẽ. Những cô gái Lào gốc Việt ai cũng khá đẹp, và thường quấn xà- rông cho tiện. Phe ta mới đến, nhào qua thăm hỏi tình hình thì họ cho biết người Việt ở Lào đi tị nạn dễ lắm, chỉ bơi qua một con sông là sang đất Thái, qua trại Nòng Khai, ở riết chán, thấy khổ thì lại lẻn bơi về. Nhưng sau này cao ủy chuyển về Sikew. Hỏi tới mới biết họ ở trại Sikew này, người ít nhất, sơ sơ cũng trên 1 năm, còn 3, 4 năm thì nhiều, được đi định cư thì phải là may mắn. Lý do: họ lý luận, đơn giản thôi, người Thái không cho phái đoàn các nước vào trại phỏng vấn?

Vì tị nạn ở trại càng lâu thì càng đẻ ra nhiều công ăn việc làm cho dân Thái. Tiền do cao ủy trả, điều này có lý khi nhìn vào trại Khao I Đăng, trại khá lớn mà người Thái cấm đào giếng và nước phải do họ cung cấp, bạn tính xem, nhiều trăm chuyến xe do công nhân Thái chở nước vào mỗi ngày ngày cho 5 chục ngàn người Kampuchia ròng rã trong nhiều năm…?

Trại Khao I Đăng, được biết chỉ được định nghĩa là nơi để “lánh nạn” chứ không phải là “tị nạn” nên không có phái đoàn đến trại phỏng vấn, bởi vậy khi chuyển trại, có một vài người Miên giả làm người Việt tỉnh queo, lên xe đi theo, sau này định cư thành công.

Khao I Đang có Section 13 mới xây thêm, dành riêng cho nhiều nhóm người Việt đầu tiên vượt biên bằng đường bộ. May là thời gian ở đây chỉ vài tuần ngắn ngủi. Cũng có thể do “trâu cột ghét trâu ăn” hay vì cộng sản Việt Nam đang xâm lăng Kampuchia? nên xảy ra vài đụng chạm nhỏ giữa Miên và Việt, nhờ vậy Cao ủy tị nạn phải di tản đám người Việt về trại Sikew gấp sợ có chuyện.

Nhìn chung thấy đường tương lai sao mù mịt quá! Ở Sikew khoảng vài tháng sau này mới thấy thấm thía hai chữ may mắn mà lúc mới tới không ai để ý. Khi có một gia đình người Lào Việt được đi Đức, loa phóng thanh reo:”Sau đây là danh sách những người… may mắn có tên được đi định cư ở đệ tam quốc gia”. Thôi thế thì cứ yên tâm sống đời tị nạn mà xem tình hình biến chuyển thế nào? Ai siêng chịu khó cắp sách đi học thêm sinh ngữ do các thày tị nạn tự nguyện đứng ra dạy và ráng giữ gìn sức khoẻ chờ thời! Nói giữ gìn sức khoẻ là vì góc trại Sikew cũng có nghĩa trang nhỏ, nơi đó có 12 người tị nạn vĩnh viễn chọn làm nơi an nghỉ!

Thời gian 1980, những người vượt biên đường bộ khá tuyệt vọng vì chưa được thế giới biết đến nhiều bằng những người Việt vượt biên đường biển hiện rầm rộ có mặt khắp nơi tại các nước láng giềng ngoài Thái như Indonesia, Malaysia, Philippine, Hong Kong…

Sikew có Building 8 (B8), rất đặc biệt vì nằm bên kia trại, cửa ra vào đều bị khóa, kiểm soát chặt chẽ, nội bất xuất, ngoại bất nhập, lính gác có súng. Người tị nạn là những cán binh, bộ đội, trong đó có nhiều người thuộc dân con cái “ngụy” tức phe ta chính gốc VNCH, nhà nghèo không tiền lo lót, bị bắt đi nghĩa vụ quân sự, nhân cơ hội vọt luôn qua Thái xin tị nạn. Những người này trước khi tới trại đều được đưa về Bang kok khai thác chán chê rồi mới đưa về Sikew, và có tin đồn họ sẽ vĩnh viễn ở lại đất Thái, phần nữa cũng không quốc gia nào dám nhận cho phe nón cối, dép râu đi định cư? Chuyện người ta đề phòng tình báo phản gián mà. Thiệt là thê thảm!

Lúc đó mình gặp lại đứa em trong xóm thuộc diện này, nay trở thành bộ đội vượt biên hiện nằm trong B8. Mừng quá vì nhà nó chỉ được báo cáo mất tích, mọi người ai cũng nghĩ nó bị tiêu rồi! Chú em bắn tiếng qua hàng rào kẽm gai nhờ mình tìm cách báo về Sài Gòn cho má biết là còn mạnh khỏe.
B8, Tìm Bạn Bốn Phương

Nói về nhân vật của B8, bạn phải nghiêng mình thán phục, nhiều chuyện khôi hài, hồi hộp hay táo tợn. Nhớ có hiện tượng mà toàn trại Sikew ai cũng biết và cười. Các cụ B8 có lạc bước nơi đây, đọc xong xin đại xá..

B8 mặc dù là những người vượt biên tìm Tự Do nhưng đối với người Thái đầy nghi kỵ nên vẫn bị hăm he về chuyện không có ngày đi định cư. Đời sống trong trại tù túng, thiếu thốn không có tương lai kể khá bi đát. Cách hay nhất là viết thư gõ cửa các hội thiện nguyện khắp nơi tìm an ủi, hổ trợ hay sponsor. Kẻ có thân nhân thì nhờ báo chí hải ngoại tiếp tay đăng tìm giúp và có lẽ vụ tìm bạn bốn phương cũng bắt đầu từ đó.

Không biết ai khởi xướng nhưng chỉ thời gian ngắn sau trăm hoa nở rộ… tức là, trự nào ở B8 cũng có một vài người yêu khắp nơi trên thế giới để mà tâm tình, trò truyện, nhưng quan trọng nhứt là có thêm thu nhập tài chánh.

Trên mục kết bạn tâm thư báo Văn Nghệ Tiền Phong và báo Hồn Việt tại hải ngoại, California lúc nào cũng đăng tin rất nhiều các em gái trong trắng, ít tuổi đời, lạc bố mất mẹ trên đường vượt biên, hay goá phụ ngây thơ, nữ sinh Gia Long, Marie Curie, Trưng Vương,… nói chung nhan sắc mặn mà, trên trung bình, con nhà gia giáo, hiện độc thân, cô đơn lắm… đang mong chờ mòn mỏi các ân nhân phương xa ra tay cứu giúp, em nguyện sẽ nâng khăn sửa túi, đáp đền khi gặp lại. Thư từ liên lạc xin gửi về em tên…. Địa chỉ trại Sikiu Camp,…Building 8… Panat Nikhon, Ratchasima- Thailand.

Sau 1975 các đấng liền ông thoát được ra hải ngoại đi tìm các cô mà lấy làm vợ, con mắt đổ ghèn tìm hỏng ra nương nào! Mấy cô tiểu thư dù nhan sắc khiêm nhường, chỉ cần hơi trắng da dài tóc là trước ngõ vương tôn công tử đầy kẻ thập thò, tha hồ mà chọn. Úi chao! sao cái B8 – Sikew này tự dưng có lắm người đẹp thế! Thế là thư từ đáp ứng cứ nườm nượp thay phiên nhau đổ về.

Tình hình lúc ấy “nóng” quá, không ra tay sớm kẻ khác cuỗm mất, người khôn là người biết ra tay cứu vớt các em từ thủa bơ vơ!

Thùy Trang, 26 tuổi, 1 con, bị chồng ruồng bỏ. Hiền, thùy mỵ, đẹp xấu tùy người đối diện, vừa may mắn cùng con thoát được đến bờ tự do, không thân thuộc bảo lãnh. Hiện rất cô đơn, muốn yên phận để nuôi con trưởng thành. Tìm nơi nương tựa, chỉ dẫn Trang bước đầu nơi xứ người. Mong gặp đối tượng thành thật để tính chuyện lâu dài. Xin đừng đùa giỡn, Trang hứa sẽ hồi âm và gửi hình dù thư đến trễ. Thư về Thùy Trang, B8 – Sikiu.

Rồi sao? Người đẹp “trai” Thùy Trang, có ngày nhận cả 2 chục lá thơ gửi tới, tuyên bố ngon lành, anh nào không thực tế, nói toàn chuyện yêu đương tha thiết, lỉnh kỉnh là dẹp, thơ nào check có mấy choạc, tức là dưới trăm đô, cũng dẹp. Thiệt tình Đời tị nạn thành đời vương giả ít ra nơi mặt vật chất!

Màn đại bịp rộ khắp trời Sikiu. Cả nước B8, các đấng nam nhi chuyển giống qua gien “nữ”!

Hình ảnh để làm tin cho các anh yêu nơi phương trời xa xôi thì như phần trên đã nói về các cô gái Lào gốc Việt ở Building 4,5,6, họ giống lai giòng nên ai cũng “đép đẹp”, nói theo lối của họ. Tóm lại, duyên may đưa đẩy…Trai Sài Gòn gặp gái Viêng Chân như cá gặp nước, mê nhau như điếu đổ, dù B8 mỗi ngày chỉ có mấy trự được phép thay phiên nhau qua bên này đi chợ ở khu B4, và thời gian thì không nhiều, nhưng có cô nào mà không thích được chụp hình để các anh coi cho đỡ…nhớ! Thiệt là thiên thời địa lợi, hình các em gái Lào được các “cô” B8 dùng gởi đến quý anh giai bốn phương trời.

Dân hành nghề nhiếp ảnh thời ấy cứ là kiếm khối tiền!

Vượt biên một phút

Những người bộ đội tị nạn Việt Nam tại B8 thì mỗi người đều có một hoàn cảnh vượt thoát khac nhau. Câu chuyện có thật của Nguyễn Tấn X, cấp bậc binh nhất, diện Nghĩa Vụ Quân Sự, anh thuộc sư đoàn 5 ninh 8, trung đoàn 123, đại đội 3 (?) trực diện đêm ngày tại tuyến đầu với tàn quân Polpot trong rừng, ngay sát biên giới Thái.

Vì đóng quân án ngữ ngay bìa rừng cạnh biên giới nên ngày ngày lính biên phòng Thái và bộ đội Việt Nam đều nhìn thấy nhau. Cả hai bên đều canh chừng tàn quân Polpot ở trong rừng. Tuy không có giao tranh nhưng người Thái luôn đề phòng và bố trí lực lượng khá hùng hậu nơi này. Giữa hai đội quân khác màu áo chỉ khoảng hơn trăm thước là một bãi mìn dầy đặc như để phân ranh giới do cả hai bên thay phiên nhau thay đổi vị trí gài đặt mỗi buổi chiều.

Mỗi sáng, phía Thái có chào cờ thì bên này cũng tập họp để nghe chính trị viên đại đội cà kê huấn thị. Bữa kia có chuyện…

Như thường lệ buổi sáng thức dậy trời tờ mờ còn ngái ngủ ra tập họp, đồng chí X lợi dụng lúc mọi người còn đang uể oải, chưa vào hàng đầy đủ đã làm 1 cú lịch sử, đột ngột chạy băng qua bãi mìn trước mắt những người lính của cả 2 bên. Mọi người đều bất động, nín thở chờ mìn nổ, quên cả nằm xuống vì bất ngờ quá. Lúc chính trị viên đại đội phát giác la lên thì mọi người tỉnh hẳn và không tin chuyện xảy ra trước mắt: Hắn la lên: “Đồng chí X, trở lại ngay không tôi bắn…” Đã quá trễ, X cứ chạy, vừa chạy vừa giơ hai tay lên cao tỏ ý đầu hàng để lính Thái khỏi bắn ẩu. Lúc đó phía hàng quân Thái đang tập họp nhìn ra vấn đề ngay và họ lập tức điều động quân lính gờm súng chuẩn bị đáp ứng tình thế. Như một phép lạ, càng chạy càng nhanh.

Sau này anh cho biết cảm tưởng lúc đó chân như không còn chạm đất mà cũng không sợ đạp trúng phải mìn nữa, mọi chuyện đều phó mặc định mệnh an bày. Thời gian chưa đầy 1 phút mà rất dài, mọi người ai cũng nín thở nhìn theo chờ nghe tiếng mìn nổ, và rồi cuối cùng, mìn… không nổ. Anh đã thành công khi liều mạng chạy băng qua bãi mìn để đổi lấy sự Tự Do. Khi chạy đến phần đất Thái, viên sĩ quan Thái ra hiệu anh tiếp tục chạy xuyên qua hàng lính của họ và tự mình đứng chắn trước lối anh vừa qua…

Họ nhanh chóng khám xét anh rất nhanh và cho người áp tải đi vô sâu trong đất Thái. Phía bô đội tức tốc gởi người qua và đòi lính Thái phải giao trả về… “No way Jose!” Bạn ơi làm gì có chuyện này!

Đồng chí X được lên xe Jeep chở ra khỏi vùng hỏa tuyến và ngay chiều đó được chuyển về Bang kok. Khoảng tháng sau khi an ninh Thái điều tra với những thủ tục cần làm, họ chuyển anh về Building 8 Sikew. Như vậy, có thể nói cuộc vượt biên bằng chân vượt qua bãi mìn dầy đặc, đánh cược với tử thần đổi lấy Tự Do này thiệt vô tiền khoáng hậu. Thời gian giữa sống và chết chỉ trong khoảng chưa đầy 1 phút, quá nhanh, như vậy xứng đáng được ghi vào sách những kỷ lục lịch sử Guiness thế giới.

Anh cho biết thêm, trong vụ này thực ra có 2 người, kẻ đưa ra ý kiến vượt qua bãi mìn này lại là người bạn bộ đội gốc Bắc kỳ của đồng chí X. Họ trở thành thân nhau trong dịp anh X cứu anh Y thoát chết trong 1 trận giao tranh (đồng chí Y sau này cũng vượt thoát được khi bộ đội cộng sản đánh tràn qua đất Thái đuổi tàn quân Pôn Pốt khoảng giữa năm 1980).

Anh Y cho biết cả hai đã tính toán trước, chuẩn bị cuộc vượt biên liều mạng này lâu rồi và chỉ chờ dịp thuận tiện… Thường buổi chiều hôm trước nếu được giao nhiệm vụ gài mìn, lúc gài đặt phải lén đánh dấu và cố nhớ kỹ chỗ mình gài để biết mà tránh. Đó là bên này, chưa kể vùng mìn rác ở giữa, và mìn gài bên phía lính Thái thì sẽ tính toán theo sác xuất, quan sát, nhưng họ dĩ nhiên thường hay thay đổi… coi như đánh cuộc số mệnh.

Anh Y cho biết thêm người chính trị viên đại đội đã nhắm bắn anh X nhưng không hiểu sao cuối cùng lại không nổ súng? Anh suy đoán có lẽ hắn cũng hồi hộp không dám bắn thẳng vào anh X vì nếu trật, trúng lính Thái thì sẽ có đáp lễ và thành to chuyện ngay, có điều cả đại đội ai cũng biết tay đó bắn rất giỏi?

Anh Y cho biết đêm đó cá nhân anh nhận phiên gác khá xa, bàn giao trễ nên về tới chỉ kịp lúc thoáng thấy anh X đã chạy rồi.

Trại Sikew Được Phỏng Vấn

Quay trở lại nhóm 6 trăm người đến Sikew từ Khao I Đăng, khoảng đầu tháng hai 1980 được dồn vào các Building 1, 2 v à 3. Rất may mắn vì trong nhóm có người biết tin tức, địa điểm nơi quân nhân mất tích (M.I.A. = missing in action) nên người Mỹ hầu như tuần nào cũng ghé vào trại để làm việc vài ngày. Nhờ vậy nên người Thái cũng phần nào e dè, bớt khắt khe hơn với tị nạn?

Ngoài ra nhóm đầu tiên đa số là dân Sài Gòn, khá nhiều sĩ quan mới học tập cải tạo về, có bác sĩ, giáo sư, luật sư, nhiều cô bác từng làm việc cho sở Mỹ… Trình độ tiếng tây tiếng u như gió. Quả thực là may mắn được ở chung với nhiều người giỏi, vì vậy nhóm 6 trăm chinh phục được nhiều giới chức, các cô chú còn nhờ cao ủy đi gõ cửa các tòa đại sứ giùm, đánh động phương tây giúp can thiệp định cư.

Cho đến khoảng tháng 8, 9 có tin trại Sikew cho phép các phái đoàn vào phỏng vấn sau nhiều đánh tiếng lên tới cả nhà vua Thái. Dân con côi cũng được phái đoàn Mỹ phỏng vấn theo diện “xì bông xô hốt rác” nếu kiên quyết chờ và không có thân nhân các nước khác. Lúc ấy thì “thung thướng” lắm. Thêm chuyện vui là giấy tờ xin phỏng vấn muốn khai sao thì khai, nên một số rút kinh nghiệm ở Việt Nam sợ đến tuổi phải đi lính sớm, hiên ngang rút tuổi xuống cho trẻ, có kẻ “kéo quá hóa co” bởi cái hại sau này là lúc qua Mỹ rồi rất khó khi làm đơn bảo lãnh gia đình đi đoàn tụ. Kỳ rồi quán phở ngoài Bolsa có một cựu Sikew xưa ở chung Building, râu đã dài tới rốn, người qua tuổi lãnh hưu trí từ lâu mà vẫn cứ phải bưng tô, đi cày tiếp bởi xưa hơi quá tay, rút tới mười tuổi lận! Cụ nức nở phân trần:”đời ai biết mà ngờ”.

 

Rời Thailand.

Nhóm 6 trăm cuối cùng cũng được “may mắn” rời Sikew làm 3 đợt, mình đi đợt 2 tháng 1 năm 1981 đến trại Panat Nikhom, ở 1 ngày rồi lên trại Lumpini Transit Center, tại thủ đô Bangkok chuẩn bị ra phi trường qua Pulau Galang RPC tức Refugee Processing Center để học Anh ngữ và bước đầu hội nhập đời sống Hoa Kỳ. Đến trại này rủi mà lại vui vì không hiểu sao hồ sơ bị trục trặc nên phải ở lại hơn hai tháng đâm ra tối ngày lông nhông trốn ra Bankok chơi… Vì là trại chuyển tiếp đến và đi, tất cả người tị nạn bắt buộc phải ghé ngang trước khi rời khỏi xứ Thái. Điều kiện sinh hoạt trại Lumpini khá tốt về ăn uống và nước tắm. Ở đây gặp và kết thân được nhiều bạn đến từ các trại đường biển như Songkhla, Leamsing. Thường người nào bị kẹt lâu lắm cũng chỉ 1,2 tuần, với thâm niên gần 2 tháng mình trở thành trưởng trại, sắp học thuộc được tiếng Thái… “Nừng xoỏng xám xì ha hộc…đếm từ một tới mười thì lên đường.

Trại Transit Center thường có những vụ trả thù giữa những người tị nạn, tay người Việt kia gây nhiều bất công, ăn chặn tiền ăn bạc, hà hiếp đồng bào lúc có tí chức quyền nơi trại cũ, khi lên tới Lumpini này bị đồng hương tị nạn vác dao rượt chạy có cờ. Một ông cựu trưởng ban an ninh từ trại đường biển, khi lên đây phải đút lót tiền cho cảnh sát Thái xin được ở chung nơi trạm gác, không dám lò dò vào bên trong để mà lấy cơm về ăn hay đi tắm rửa, cứ vậy cho tới khi lên xe buýt ra phi trường.

Từ trại chuyển tiếp Lumpini lên máy bay qua Singapore, nhân tiện xin được thay mặt tất cả những người tị nạn đã đi qua trại Lumpini thời đó và sau này đã từng nhận được sự giúp đỡ về mặt thơ từ, để nói lời cám ơn chân thành đến Madame Simon Thúy. Một người Việt sinh sống nơi Bangkok, có chồng người Anh, làm trong lãnh sự quán Anh Quốc, ông qua đời vì tai nạn xe. Chị Thúy sống luôn tại Bankok nuôi con, và đã ngày ngày tình nguyện vào trại Lumpini giúp chuyển giao và nhận, cùng gửi thư tín đi khắp nơi qua địa chỉ nhà của chị cho đồng bào được yên tâm. Âm thầm hy sinh làm liên tục trong nhiều năm. Hy vọng Chị Thúy có dịp đọc được mấy lời này.

Galang 2, 1981

Cảnh xếp hàng lấy nước trong trại tị nạn

Đến Singapore, được tàu nhỏ đưa vô đảo Galang. Nhóm mình là những người đầu tiên được vào ở Galang 2, lúc đó mới vừa hoàn thành. Cứ bốn thanh niên được dồn vào 1 Barack mới toanh còn thơm phức mùi cây gỗ. Y như khách sạn dành riêng cho Summer Vacation để ngắm cảnh ở Mỹ, tệ lắm cũng được 3 sao dù không căn nào có cửa. Qua thời đi tới đâu cũng cả trăm mống chung một nhà. Ăn uống có đồ hộp, cao ủy phát trước vài ngày 1 lần, tuy thiếu chất tươi nhưng sao cũng được, có tiền thì có thể ra chợ ngoài Galang 1 mua thêm rau do bà con tị nạn tới trước trồng, nhưng tụi này mà có tiền thì tối ngày lại thích ra quán ngồi đấu láo cho vui. Nhớ lúc đó cơm cao ủy khi ăn lâu lâu nhai nghe cái “cộp” 1 phát thiếu điều gãy răng, lè ra mới thấy nguyên cái ghim bấm giấy (stapler) bằng sắt, mà vụ này bị hoài à? Cũng may là nhai trúng, chớ không thì chắc phải giải phẩu thay mấy cái bao tử mới??? Phòng vệ sinh sạch sẽ, có khu tắm tập thể nước bông sen. Vấn đề nước rất quan trọng nên bà con phê quá, tị nạn lúc đó thấy như thiên đàng, bụng nghĩ giá có phải ở lâu tí cũng OK. Các đấng chuyên tán phét ngoài quán cà phê thì cho rằng đây là nơi đặc biệt, chỉ dành riêng cho những tị nạn đã có vé vô Hoa Kỳ, đến để ăn ngủ, học Anh ngữ, hướng nghiệp rồi lên đường định cư…nên họ phải lo cho thật chu đáo, đầy đủ, ưu tiên hơn những nơi khác! RPC khác với những người chưa được phái đoàn tới phỏng vấn, oai lắm đấy. Nghe sao mà ớn quá! Vấn đề nước tắm nhớ kỹ lại thì hình như chỉ được tuần đầu, tuần sau thì tắm…khô vì sau một vài ngày thỏa thê mát mẻ ấy chả hiểu vì sao không bao giờ thấy nước chảy ra từ vòi sen nữa! tịt hẳn! họ chỉ biểu diễn lúc đầu để tính tiền cao ủy? cũng may gần đó có suối, chịu khó chờ thứ tự cũng không đến đỗi nào…

Vấn đề học Anh văn phải lấy test để phân chia trình độ cao thấp, lớp phải do các thày người Indonesia dạy, thày Việt chỉ được cho làm trợ giáo, không lương. Lớp học tiếng Anh của mình, gen thô mân (gentleman) lâu lâu thày giáo Inh đô dạy phang bừa thành “giăng tơ lơ măng” làm cả lớp có đứa xém phải khiêng lên bệnh viện vì chết sặc, cười…

Môt buổi tối tụi này đang chuẩn bị ngủ thì nghe có buớc chân rầm rầm chạy lên cầu thang, rồi 2 cô cậu chạy ào vào phòng như cơn gió, tiện tay vồ luôn cái chăn nơi cửa tụi này gấp lại dùng để chùi chân, trùm vô cho kín, giả bộ…đang ngủ ngon. Người nam đưa ngón tay trỏ lên miệng suỵt suỵt, ra dấu nói bà con giữ im lặng giùm…

Khoảng nửa phút sau có tiếng xe máy hung hãn rồ ga, ánh đèn pin nhá nhá, rồi tiếng tây tếng u, tiếng Indo, tiếng… Đan Mạch la hét loạn xạ ngầu, như chửi bới cay cú lắm. Lúc này nhận ra anh mới chạy vào phòng là người quen cùng trại bên Sikew, qua Galang từ trước hiện đang ở Galang 1. Anh cho biết mò từ ngoài đó vô thăm người yêu mới sang ở Galang 2. Cô cậu đang hú hí trên đồi thì an ninh Inđo đi xe ngang rọi đèn pin thấy và rồ ga lên đồi để bắt quả tang dám… hò hẹn trong giờ giới nghiêm. Chả hiểu sao, bữa đó trời không trăng! thiệt xui cho nó mà hên cho cậu mợ, lúc rượt theo thì đất đỏ gặp giời mưa mấy bữa trước vốn trơn trợt nên cu an ninh bị té xe khá nặng, trợt từ trên đồi xuống nên hai người mới thoát được. Chuyện tình Romeo + Juliet này dính như keo nhưng bị bên họ hàng của ổng ngoài Galang 1 phát giác, họ nhao lên phản đối quá xá, sau này khi định cư ở Mỹ thì mối nhân duyên mới chấm dứt bởi… vợ ổng từ Việt Nam lò dò dắt theo mấy đứa con qua đoàn tụ! Cái này gọi là Cali tình xù chớ Galang tình…không xù, nói theo kiểu bác Liêm, người rất nhiệt thành, hiện đứng ra thực hiện đặc san, tổ chức những buổi hội ngộ cho Thuyền nhân, Bộ nhân xưa.

Galang 2, 1981 về mặt tôn giáo cũng có linh mục làm lễ mỗi Chủ Nhật. Bà con Công giáo và kể cả người không công giáo cũng đến tham dự thánh lễ, ngồi đứng đầy trên đồi Golgotha, mọi người ai cũng sốt sắng lắm, đọc kinh rõ là to, chắc cầu cho mau đi định cư? Lúc đấy mình có quen 1 anh bạn làm giúp lễ, cách đây khoảng 2 năm, anh qua Cali chơi đi thăm con chiên ngoài… Phước Lộc Thọ tình cờ gặp. Anh cho biết hiện đang là 1 linh mục tuyên úy trong quân đội Hoa Kỳ. Ngài cho ít thông tin về những người quen xưa, đặc biệt nhất là tin về ông cha thời đầu tiên ở Galang 2 thường cử hành thánh lễ mỗi Chủ Nhật. Lúc cha qua Mỹ thì đã thôi chức linh mục và trở về đời thường. Cởi áo chùng thâm, mặc tuxedo lên xe bông đám cưới, âm thầm theo tiếng gọi con tim về nhà vợ, đến nay cũng đã có nhiều con lớn…

Tóm lại Galang với mình chỉ nhớ được chút ít vì ở không lâu, đâu khoảng 2,3 tháng gì đó là đi rồi. Thời gian ở đây ngắn ngủi quá, tình còn chưa có lấy chi xù hả các bác?

Galang tiễn người đi. 


Tay kia rời trại đang vẫy tay chào từ dưới tàu, đi rồi còn dặn thợ chụp làm một “bô” kỷ niệm, chỉ khổ cho mấy thằng con bà sơ trên bờ vốn là chuyên viên vay mượn kinh niên phải trả tiền chụp hình cho him.
Từ Galang qua Singapore rồi qua Mỹ, cuộc sống mới bắt đầu với nhiều nỗ lực hòa nhập, những người bạn cũ ở gần đôi lúc vẫn tìm đến nhau, hay phone thăm hỏi nếu ở xa. Rồi thời gian thưa thớt dần vì xứ người khá bận rộn, cánh độc thân nơi ăn chốn ở hay thay đổi…

Lâu lâu vẫn có tin về trại cũ do người đi sau may mắn được qua định cư kể lại. Thời gian những năm sau này trở nên thê thảm hơn khi các nước từ chối nhận thêm người tị nạn đến định cư, bắt đầu thanh lọc, ai rớt sẽ bị trả lại về Việt Nam. Đồng bào trong các trại tị nạn phản đối qua nhiều hình thức như biểu tình, tuyệt thực, kể cả liều thân, mổ bụng tự sát… Về B8, rất may mắn, vì trước đó, khoảng giữa năm 81, người đi tị nạn vào đất Thái bằng hai ngả đường biển và đường bộ ngày càng đông, tạo nhiều áp lực, người Thái và cao ủy tị nạn quyết định đóng cửa những trại tị nạn rải rác trên đất Thái và dồn hết về trại Sikew, nên phải giải tỏa, cứu xét cho những người ở quá lâu đi, có tin cho biết tất cả những người của B8 đều được phỏng vấn bởi các phái đoàn, riêng những bộ đội tị nạn cộng sản gốc miền Bắc nếu họ muốn đi theo diện nhân đạo sẽ được chính phủ Áo nhận tất cả. Cựu vượt biên đường bộ trại Sikew ở Mỹ báo tin cho nhau và chia xẻ sự vui mừng cho những anh em B8. Tạ ơn Trời Phật.

Tuy nhiên, trong niềm vui vẫn thấy lòng se thắt… Một số người trong B8 đã đi theo tiếng gọi non sông, lên đường trở về đất mẹ….

Trại tị nạn Sikew, Thailand.

 

Phần cuối

“Old solders will never die, they just fades away… ”

General Douglas MacAthur

Một buổi chiều tại thành phố Westminster – California, khoảng thời gian 1982 – 1984..? Trời u ám buồn, người bạn cũ từ trại Sikeu rủ tới Biên Thùy Quán trên đường Westminster, cho biết có sinh hoạt đặc biệt. Khi đến thấy trong quán có khoảng hơn 2 chục ngưòi đang thì thào nói chuyện, ai cũng đăm chiêu. Trên vách tường treo một lá cờ Việt Nam Cộng Hoà, dưới bàn có một chén nhỏ đựng gạo cắm những cây nhang nghi ngút khói. Không khí như lắng đọng khi được biết đây là buổi tưởng niệm cho một số chiến sĩ phục quốc bị cộng sản sát hại khi trở về lại Việt Nam chiến đấu. Người may mắn thoát được trong trận phục kích đã liên lạc báo tin sang Hoa Kỳ. Đau lòng thay, một trong số những người hy sinh có trưởng Building 8 của trại Sikew thời đó, anh Vũ Đình Khoa.

Anh Khoa dáng người tầm thước, mặt vuông, cằm bạnh, vẻ quả cảm, toát ra phong cách hào hùng nhưng lại rất yêu văn nghệ, khi nói chuyện niềm nở, thu hút. Nên biết, phải uy tín thế nào mới được bầu làm trưởng B8, một Building với những tay cựu binh sừng sỏ nam bắc, đội đá vá trời và coi lính Thái chả ra quái gì! Trưởng trại Sikew cũng biết như vậy nên cần người như anh để mà yên tâm về B8. Đặc biệt, anh đi khắp nơi trong trại mà không cần phải phép tắc gì, ai gặp cũng đều phải e dè, nể vì, kể cả trưởng và phó trại. Đó là hình ảnh cựu Trung úy Trinh sát, gốc Võ Bị Đà Lạt. Anh Khoa lâu lâu ghé qua lều gần mình thăm bạn, đốt điếu thuốc, chia sẻ dăm ba kinh nghiệm hành quân bắt sống việt cộng. Nghe ké những chuyện kể khó quên trong đời của anh rất thú vị.

Được biết, nhóm của anh bị phục kích, trận chiến không cân xứng lực lượng, hỏa lực của khoảng hơn trung đội chọi với cả tiểu đoàn có xe tăng nằm chờ sẵn. Anh Khoa bị thương ngay từ đầu, nhưng cương quyết ở lại để cầm chân cho một vị yếu nhân chỉ huy cùng người cận vệ vượt thoát… Khi kể lại câu truyện này trên Face Book thì nhận được thêm tin nhắn của một cựu B8 dấu tên, cho biết nguyên văn như sau… “Xin lỗi anh, mình đường đột lộ diện để bổ túc thêm info về anh Khoa của tụi mình B8, Vũ Đình Khoa from Đà lạt đã gãy cánh ở Hạ Lào cùng với người bạn thân đồng sanh tử là Nguyễn văn Lộc trong chiến dịch mở đường cho Võ Đại Tôn nhưng có một người cùng đi với hai người trên được định cư tại Canada tên là Trương Quang Vịnh*. Dĩ vãng thì buồn nhưng có những người can đảm như anh nhắc lại thì mình phải đối diện. Rất là cám ơn anh những chuyện bên lề về Sikew và B8, anh kể hoàn toàn chính xác vì nhóm chúng tôi là những người bộ đội vào trại đầu tiên tháng 5 – 1979 sau nhiều tháng ở Bangkok làm việc với Bộ Quốc phòng Thái và CIA – USA…”

Ai cũng nghĩ các anh yên ổn định cư ở một đệ tam quốc gia, nào ngờ! Những người trai thế hệ, được hun đúc bởi hồn thiêng sông núi, người quân nhân ưu tú của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Với lý tưởng Tự Do cho đồng bào, quê hương Việt Nam, đã từ bỏ tất cả, từ chối tương lai tươi sáng trước mắt để anh dũng trở về cầm súng chiến đấu và hy sinh. Thật cảm động và hào hùng. Nhân ngày tháng Tư lại đến, chúng ta cùng nhau dành đôi chút thời gian, thắp nén hương lòng, tưởng niệm đến các anh nói riêng, và tất cả những người quân dân cán chính đã hy sinh vì hai chữ Tự Do.

*

Khoảng đời tị nạn tưởng đã quên sau bao năm, nhưng khi ngồi ôn chuyện cũ, có nhiều hình ảnh hiện lên rất rõ. Dù Sikew, Galang, hay bạn sống ở những trại tị nạn khác rải rác khắp Đông Nam Á, cũng là một thời qua với nhiều kỷ niệm. Cám ơn Face Book tạo cơ hội cùng nhau hồi tưởng về những tháng ngày long đong, lận đận. Giọt nước mắt mừng vui, đau khổ, hay tuyệt vọng. Có tên đi định cư hay rớt thanh lọc? biểu tình phản đối, tuyệt thực, bị trả về lại…

Hiện đã có đặc san Galang Một Thủa, 40 năm Thuyền Nhân Viễn Xứ,… kế hoạch tổ chức hội ngộ do một số anh chị hy sinh đứng ra làm việc để dù chân trời góc bể, cựu trại tị nạn cũ qua đó sẽ có dịp tìm đến được với nhau, chia sẻ, kể lại những chuyện vui buồn ngày xưa. Mong rằng trong sâu xa hơn, sẽ không bao giờ quên nguồn gốc mình là người tị nạn cộng sản vì hoàn cảnh phải bỏ nước ra đi, và luôn nghĩ về quê hương, nơi đồng bào chúng ta vẫn chưa thực sự có Tự Do, Dân Chủ.

Ghi chú:

– Một số tên nhân vật đã được thay đổi*

– Thời gian làm phai mờ nhiều chi tiết, mong các bạn ở cùng thời bổ túc nếu có sai sót

04/ 2015 (Mùa Quốc Hận)

Trần Kim Bằng

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Việt Báo – Viết Về Nước Mỹ

Phạm Hoàng Tùng Blogspot


Ở đời ai hiểu ai…? – Đại Tá Nguyễn Trọng Luật

Bài Đọc Suy Gẫm:  “Ở đời ai hiểu ai… “, mấy câu trong bài hát “Bay Đêm” của Nhạc Sĩ Song Ngọc hay hồi ký của Đại Tá Nguyễn Trọng Luật kể lại về trận đánh Ban Mê Thuột vào tháng 3 năm 1975.  Hình ảnh chỉ là minh họa.

Chủ Nhật 9/3/75
– Trình Đại tá, Thiếu tướng Tư lệnh Quân doàn 2 sẽ đến Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 vào lúc 10 giờ hôm nay để duyệt tình hình. Trung úy Dzi, sĩ quan tùy viên, sau khi đứng nghiêm chào tôi và nói với tôi như vậy, khi tôi còn ngồi tại tư dinh để xem công văn công điện cùng ký những giấy tờ cần thiết cho một ngày làm việc. Không phân biệt ngày cuối tuần, ngày nào cũng là ngày thứ Hai, mà người Mỹ thường nói trên cửa miệng. Với trọng trách Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Darlac, ngày lại ngày tôi rất bận, về hành quân, đi thanh tra, đôn đốc, kiểm soát các chi khu, phân chi khụ Đó là chưa kể dành thì giờ tiếp đón các phái đoàn từ Saigon ra hay từ Quân đoàn xuống. Nên chỉ còn ban đêm và những giờ sáng sớm để xe công văn giấy tờ. Tôi hỏi lại:
– Xe sẵn sàng chưa?
– Dạ, thưa sẵn sàng.
– OK, thôi chúng ta đi.
Khi tới phi trường Phụng Dực, lòng tôi như lửa đốt. Phần vì đêm qua mất ngủ, phần lo số phận của hàng trăm sinh linh đang chiến đấu tại Đức Lập mà VC đã tấn công tối quạ Hiện mất liên lạc không biết còn hay mất. Tâm hồn tôi như đang gắn liền với các chi khu, các binh lính dưới quyền mình. Làm sao cho họ an toàn giữa cuộc chiến càng ngày càng tàn khốc này. Hàng đêm vừa chợp mắt là thấy những lo lắng không đâu chợt đến với giấc ngủ muộn màng… Dù quận Đức Lập không phải là vùng trách nhiệm của mình nhưng tiên liệu cho kế hoạch phòng thủ Darlac vẫn là trọng tâm của tôi trong lúc này. Tôi có một cái nhìn rõ ràng, mất Thuần Mẫn, mất Đức Lập thì việc tiến chiếm Ban Mê Thuột chỉ còn là vấn đề thời gian. Nhưng tiếng nói của tôi có ai nghe trong khi tôi chỉ là một Tiểu khu trưởng trong tay có mấy tiểu đoàn Địa phương quân, mấy Trung đôi Nghĩa quân, Cảnh sát, Nhân dân tự vệ. Tư lệnh chiến trường lại do Đại tá Quang đảm trách, tôi chỉ là cấp thừa hành. Tôi sinh ra trong binh chủng Thiết giáp; nếu tấn công thì rất thích hợp cho binh chủng này, còn phòng thủ thì thiết giáp chỉ là bia đỡ đạn cho những trò chới của súng chống chiến xạ Tôi càng suy nghĩ bao nhiêu, lại càng nhìn thấy sự bất lực của mình. Con ngựa sắt của tôi đâu, hay bây giờ chỉ còn những tay súng tài tử đối chọi với những kẻ gian hùng đang điên khùng xông vào lửa đỏ chẳng khác gì những con thiêu thân? Chợt phía Tây, h+ớng về phía Đông, một chiếc Dakota 47 lù lù đang tiến tới và đáp xuống phi trường.
Máy bay mở cửa, tôi dứng nghiêm chào Tướng Phạm Văn Phú và phái đoàn. Tướng Phú tiến đến bắt tay tôi và ngồi lên xe của Tòa Hành chánh đi về Ban Mê Thuột. Ngồi cạnh Tướng Phú, tôi thấy ông có vẻ đăm chiêụ Ông không hỏi tôi điều chi, cũng như tôi vẫn giữ im lặng, trông chờ một hy vọng. Hình như, Tướng Phú đang lo nghĩ về quận Đức Lập, đến bay giờ còn hay mất?
Đoàn xe trực chỉ Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh. Tướng Lê Trung Tường, Đại tá Vũ Thế Quang đã chờ sẵn để hướng dẫn phái đoàn vào Trung tâm Hành quân Sư đoàn. Tại đây, đã có sự hiện diện của Đại tá Nghìn, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Quảng Đức để thuyết trình về tình hình quận Đức Lập lên Tướng Phú và phái đoàn. Nhìn trên bản đồ hành quân, sau mấy câu mở đầu chiếu lệ, Đại tá Nghìn ngậm ngùi:
– Cộng quân đã pháo kích và tấn công vào quận Đức Lập vào lúc 5 giờ sáng, rất nặng và thiệt hại đáng kể. Bộ chỉ huy Chi khu đã trúng nhiều đạn pháo binh 130 ly, nên Chi khu trưởng đã đưa Bộ chỉ huy Chi khu rời khỏi quận và hiện giờ vẫn còn đang chiến đấu…
(Sau này, tôi được gặp lại Trung tá Nguyễn Cao Vực, Quận trưởng Đức Lập tại trại tù Vĩnh Phú, Tân Lập. Trung tá Vực đã kể cho tôi biết trận đánh vào Chi khu như sau: Khi tấn công vào Chi khu, VC đã dùng pháo binh 130 ly và SKZ 82 ly — súng không giựt 82 ly — bắn vào Chi khu và Chi đoàn Chiến xạ Với đạn SKZ 82 ly bắn trực xạ, địch đã làm tê liệt các chiến xa của ta, nên không còn được xử dụng ngay từ phút đầu. Chi khu cầm cự cho đến sáng, khi mặt trời bắt đầu lên thì thất thủ).
Sau đó Đại tá Vũ Thế Quang, Tư lệnh phó Sư đoàn 23 BB, kiêm Tư lệnh Mạt trận Ban Mê Thuột, lên trình bày kế hoạch phòng thủ của Trung đoàn 53 BB do Trung tá Võ Văn Ân làm Trung đoàn trưởng. Nói là Trung đoàn, nhưng cấp số chỉ còn Bộ chỉ huy Trung đoàn và một Tiểu đoàn mà thôi, cộng thêm một Trung đội Pháo binh 105 ly để làm lực lượng tiếp ứng cho Darlac và Quảng Đức khi bị tấn công.
Đại tá Quang trình bày kế tiếp về kế hoạch phòng thủ của thị xã Ban Mê Thuột. Thị xã Ban Mê Thuột được phòng thủ với tất cả các đơn vị trú đóng như sau:
– Phía Bắc có Trung tâm Huấn luyện Sư đoàn 23 BB.
– Phía Nam có Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 BB.
– Phía Đông có Bộ chỉ huy Chi khu Ban Mê Thuột.
– Phiá Tây, vùng nguy hiểm nhất, có hậu cứ của Thiết đoàn 3 Thiết giáp và Kho đạn Mai Hắc Đế.
– Trừ bị cho thị trấn Ban Mê Thuột là Trung đoàn 53 trừ bị, đóng tại phi trường Phụng Dực.
Nghe xong phần trình bày của Đại tá Vũ Thế Quang, Tướng Phú có vẻ hài lòng và không chê trách cũng như cho những chỉ thị đặc biệt. Lúc bấy giờ đã quá trưa, tôi cho dọn cơm ra mời Tướng Phú, Tướng Tường, Đại tá Nghìn cùng phái đoàn ăn tại chỗ. Đây là bữa cơm rất dạm bạc. Tất cả đều dùng cơm đĩa, uống nước ngọt hay biạ Tướng Phú ăn rất nhanh để còn kịp trở về Pleiku theo dõi tình hình chung của Quân đoàn 2. Tôi cũng không ngờ, đây là bữa ăn cuối cùng giữa tôi và Tướng Phú, cấp chỉ huy trực tiếp của tôị
Ăn xong, chính tôi đích thân đưa tiễn Tướng Phú ra phi trường Phụng Dực để về Pleiku Khi bắt tay tạm biệt, Tương Phú đã vỗ vai tôi nhỏ nhẹ:”Chú mầy cẩn thận coi chừng chúng nó đánh nghe”. Đây chỉ là câu nói thông thường mà cuộc đời binh nghiệp đã dạy cho tôi, nghĩa là hầu hết các cấp chỉ huy đi thăm các đồn bót, hay đơn vị tiếp giáp với địch đều dặn dò với thuộc cấp của mình bằng câu nói trên. Nói khác hơn, không có tính cách khẩn cấp, nguy ngập. Nếu nghiêm trọng, các cấp chỉ huy sẽ chỉ thị một cách tỉ mỉ hơn nhiều.
Khi về đến Ban Mê Thuột tôi lại phải đến nhà Tướng Tường để đưa Tướng này về Pleiku bằng trực thăng. Bước vào nhà tôi thấy Tướng Tường đang nói chuyện với gia đình và sau đó ông ra phi trường L19 cũng là phi trường trực thăng. Trong lúc chờ đợi phi công trực thăng đến, có ông Paul Struharick, là đại diện cho Tổng lãnh sự Mỹ tại Nha Trang đến hỏi Tướng Tường về tình hình VC xung quanh Ban Mê Thuột ra saọ Tướng Tường cười hí hí, có vẻ tự tin tự đắc, cầm cây gậy tướng đánh vào mông đít mình bộp bộp, rồi trả lời bằng tiếng Anh:”Don’t worry about that” (chả có gì phải lo cả). Ông Paul cụt hứng nên không hỏi thêm và Tướng Tường cũng lên trực thăng bay về Pleikụ
Việc đầu tiên trở về Bộ chỉ huy Tiểu khu là tôi triệu tập ngay bộ tham mưu, các đơn vị trưởng quân đội tại thị xã và các ty sở thuộc Tòa hành chánh cũng như các Ty trưởng chuyên môn. Tôi trình bày tình hình quân sự. Quận Thuần Mẫn đã bị mất. Quốc lộ 14 nối liền Pleiku – Ban Mê Thuột đã bị cắt. Quốc lộ 21 từ Ban Mê Thuột – Nha Trang qua quận Khánh Dương đã gián đoạn và sáng nay quận Đức Lập đã bị CS tấn chiếm, và như vậy quốc lộ từ Quảng Đức – Ban Mê Thuột coi như không xử dụng được nữa. Không cần phải là nhà quân sự, mọi người cũng đủ hiểu, Mặt trận Ban Mê Thuột coi như bị bao vây tứ phía, và cần đặt câu hỏi về sự kiện hoạt động quân sự của địch và thấy rõ ý đồ của địch. Riêng phía Tây thị xã còn dồn Ban Đon, cách xa Ban Mê Thuột khoảng 40 km.
Cuối cùng việc cấm trại 100% từ quân nhân đến công chức là điều bắt buộc trong thời gian nghiêm trọng này và tôi ra lệnh:”Sẵn sàng ứng chiến!”.


 Bản đồ các trận đánh nhằm nghi binh & cô lập Ban Mê Thuộc trước ngày 10/3/1975

Để tăng cường cho Ban Mê Thuột, tôi quyết định nhanh chóng rút ngay Tiểu đoàn 204 Địa phương quân đang đóng tại Ban Don về thị xã. Việc di chuyển này không phải là dễ dàng vì phải trưng dụng hết tất cả các xe GMC của các đơn vị đóng tại Ban Mê Thuột mới đủ chuyên chở cả một Tiểu đoàn. Trước khi trở về tư dinh, tôi đã cẩn thận đi quan sát tất cả những yếu điểm phòng thủ của thị xã và cho họ những chỉ thị cần thiết. Có một điều tôi hơi an tâm một chút là các đơn vị như Địa phương quân, Nghĩa quân, Cảnh sát và Nhân dân tự vệ đều thi hành nghiêm chỉnh lệnh cắm trại 100% và báo động.
Chẳng cần tắm rửa và dù người nhà đã dọn cơm sẵn, tôi vẫn đi thẳng vào nơi làm việc của tôi với bản đồ hành quân. Tôi như muốn suy nghĩ về tình hình và ý đồ của địch. Dù cấp nhỏ, nhưng tôi vẫn cố gắng phân tích theo nhãn quan của tôi để mình còn nước còn tát trong việc giữ Ban Mê Thuột, vùng trách nhiệm của mình bằng mọi giá. Nhìn qua những mũi tên và những đơn vị của Cộng quân, theo như bản phối trí của Quân đoàn: các Sư đoàn 320, F10, 316 của Cộng quân vẫn còn ở phía Tay Pleiku và Kontum. Những tin tức các sư đoàn này đã về Ban Mê Thuột vẫn chưa được Quân đoàn xác nhận, vẫn còn phải theo dõi và kiểm chứng, nói theo Phòng 2 của Quân đoàn.
Tôi đã tiên đoán, Ban Mê Thuột sẽ là nơi thử lửa đầu tiên cho việc tiến chiếm miền Nam. Bằng chứng là VC đã chặt tay chân của Ban Mê Thuột rồi bằng cách nhổ 2 cứ điểm Thuần Mẫn và Đức Lập, Khánh Dương coi như đứt đoạn. Vì vậy, tôi đã nhiều lần xin Tướng Phú tăng cường quân chính qui bằng cách đưa Trung đoàn 45 BB về phòng thủ Ban Mê Thuột.
Với nhiều lần xin quân viện, mãi đến ngày 4/3/75, Tướng Phú mới bằng lòng cho Trung đoàn về Ban Mê Thuột. Lệnh di chuyển đã được ban hành. 2 giờ chiều cùng ngày, toàn thể đơn vị thuộc Trung đoàn 45 đã ngồi lên xe GMC để chờ lệnh Tướng Tường là xe chuyển bánh. Không ngờ vừa lúc đó, pháo kích của Cộng quân rót vào thị xã Pleiku, cũng Bộ Tư lịnh Quân đoàn 2. Tướng Phú đang ở Nha Trang được báo cáo của Tham mưu trưởng Quân đoàn 2 về việc pháo kích này, đã không ngần ngại hét vào máy:”Tôi ra lệnh cho Trung đoàn 45 BB không di chuyển về Ban Mê Thuột nữa, ở lại Pleiku vì Mặt trận Pleiku đã bùng nổ rồi”.
Qua ngày hôm sau, tức ngày 5/3/96, Chi khu Thuần Mẫn thuộc tỉnh Phú Bổn, nằm ngay Quốc lộ 14, lại bị Cộng quân đánh chiếm. Sự kiện này càng củng cố ước đoán của Tướng Phú:”CS sẽ tấn công Pleiku” là đúng.
Cho dù ngày 7/3/95, chi khu Khánh Dương thuộc tỉnh Khánh Hòa nằm trên trục lộ Ban Mê Thuột – Nha Trang bị mất mà Tướng Phú vẫn chưa nghĩ đến việc CS sẽ tấn chiếm Ban Mê Thuột. Rồi đến sáng ngày 9/3/75, Tỉnh Quảng Đức đã báo cáo cùng Tướng Phú về tình hình rất bi đát của Quảng Đức, các chi khu đang giao tranh với cấp số đáng kể của Cộng quân. Tôi như người có miệng phải câm, nhìn đồi núi chập chùng của Cao nguyên mà lòng héo hắt. Vận mệnh của cả đất nước đang bị cấp chỉ huy lượng giá sai và chiến thắng sẽ đến của CS chỉ là may mắn. Tôi phải đương đầu với thử thách này đến bao giờ??? Nghĩ đến câu dặn dò của Tướng Phú để dối lòng:”Hãy coi chừng tụi nó đánh nghe”, như một câu nói thôn thường. Rồi “Don’t worry about that” của Tướng Tường nói một cách kiêu hãnh với ông Paul. Cộng thêm lời tường trình của Trung tá Trưởng Phòng 2 Quân đoàn: Cộng quân vẫn còn luẩn quẩn tại Pleiku, Kontum, kể cả những đơn vị thiết giáp, làm tôi cũng bớt lo âu phần nào. Và tự an ủi mình, nếu Cộng quân có tiến chiếm Ban Mê Thuột, mình còn cầm cự được đôi ba ngày. Khó khăn lắm tôi mới chợp mắt qua đêm, với những lo âu…

 Bản đồ Thị xả BMT (trên) và mặt trận Ban Mê Thuột (dưới)

TRẬN ÐÁNH MỞ MÀN
Ngày 10/3/75
Khoảng 2 giờ sáng, khi Ban Mê Thuột còn đang trong giấc điệp, bỗng bị đánh thức dậy bằng tiếng pháo kích inh tai, rợn óc của Cộng quân. Tôi rất bình tĩnh vì đã nếm mùi hỏa tiễn của Cộng quân ở những trận đánh trước Tết Mậu Thân tại Kontum, tại Quảng Ngãi, Đà Nẵng và cả trận đánh Hạ Lào, v.v… Từ lầu hai tôi chạy xuống hầm chỉ huy mà những vị Tiểu khu trưởng tiền nhiệm đã xây cất. Đây là một hầm rất kiên cố, làm bằng bê tông cốt sắt, có thể chống được pháo kích. Trong hầm trang bị đầy đủ máy móc truyền tin để liên lạc tới các đơn vị trực thuộc cũng như liên lạc với cấp trên, hay cấp trung ương rất dễ dàng. Tôi liên lạc ngay với Thiếu tá Hy, Trưởng Phòng 3 Tiểu khu dưới hầm TOC của Tiểu khu:
– Pháo kích từ hướng nào?
– Dạ thưa, Cộng quân bắn từ phía Tây tới.
– Bắn vào vị trí nào?
– Trình Đại tá, bắn vào Bộ chỉ huy Tiểu khu, Đài truyền tin ở sân bay L19, Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 BB và Kho đạn Mai Hắc Đế.
– Anh hãy gọi ngay Pháo binh của mình cũng như Pháo binh Sư đoàn 23 BB tai Phụng Dực phản pháo.
Tiếng pháo kích vang rền thị xã Ban Mê Thuột cho đến 4 giờ sáng. Chúng dùng chiến thật tiền pháo hậu xung và tấn chiếm kho đạn Mai Hắc Đế ở phía Tây, bằng mũi dùi thật mãnh liệt. Đơn vị đồn trú đã chống trả một cách anh dũng và kho đạn vẫn vững vàng. Về phía Bắc, Đài Truyền tin của Không quân cũng bị tấn công.. Với chiến thuật biển người (Human Wave) và đánh sát lá cà, chỉ cần nửa tiếng đồng hồ sau, Cộng quân đã tiến tới sát miệng hầm và dùng lựu đạn tung vào miệng hầm. Một số sĩ quan và binh sĩ ta bị tử thương và bị thương. Và chỉ 15 phút sau, TOC đã báo cáo với tôi, Đài Truyền tin đã lọt vào tay giặc. Về phía trại Mai Hắc Đế, với những tay súng can trường ta dã bẻ gẫy nhiều đợt tấn công của Cộng quân. Khoảng 5 giờ sáng, TOC/TK báo cáo Đại úy Chỉ huy trưởng bị thương nặng. Kho đạn như rắn mất đầu và chỉ cầm cự đến 5 giờ 30 thì kho đạn bị tràn ngập. Như vậy mặt trận về phía Bắc và Tây đã bỏ ngõ, bây giờ chỉ còn trông chờ vào những đơn vị phía Nam và Đông.
Đạn pháo kích 130 ly vẫn rót đều vào thị xã. Lý do dễ hiểu là pháo binh của ta tại phi trường Phụng Dực phản pháo với đạn 105 ly đâu có tầm xa như đạn 130 ly của CS, đang đặt tuốt phía Tâỵ Vì vậy sự phản pháo trở nên vô vọng, không thể khóa họng những khẩu đại pháo của địch. Nhất là pháo binh của ta không có L19 hướng dẫn, chỉ điểm, điều chỉnh chính xác.
Đến 7 giờ sáng, địch ngưng pháo kích và cũng ngay lúc này Thiếu tá Trưởng ty Cảnh sát Darlac báo cáo thẳng với tôi:
– Thưa Đại tá, chiến xa CS đã tiến vào thị xã và hiện đang bố trí xung quanh nhà thờ thị xã. (Cũng nên ghi nhận là nhà thờ Công giáo này nằm ở trung tâm thành phố).
Lúc bấy giờ, vì Tiểu khu nằm dưới hệ thống chỉ huy của Sư đoàn 23 BB và để tiện phối hợp, bàn bạc kế hoạch chống trả nhanh chóng. Tôi liền báo cáo và xin Tướng Phú được qua chung với Đại tá Vũ Thế Quang, tại Trung tâm Hành quân Sư đoàn 23 BB. Tướng Phú chấp thuận.
Mối lo ngại lớn lao của Đại tá Quang và tôi là chiến xa CS đã lọt vào giữa thị xã. Với kinh nghiệm của một sĩ quan kỵ binh tôi hiểu rất rõ hỏa lực tấn công của những con ngựa sắt này.
Tia hy vọng tới, khi trên bầu trời Ban Mê Thuột, đã xuất hiện L19 của Quân đoàn 2 gởi tới. Những chiếc phản lực cơ chiến đấu đã vần vũ trong vùng giao tranh để yểm trợ cho Tiểu khu Darlac và Sư đoàn 23 BB. Tinh thần chiến đấu của quân cán chính lên rất caọ Những đoàn chiến xa CS từ hướng Bắc tiến về phía Nam đã bị các đơn vị Điạ phương quân của Tiểu khu đánh chặn lại. Sư tiến quân của CS rất chậm chạp.
9 giờ tin vui đem tới. Ta hạ được 2 chiến xa T54 địch và đang bốc cháy trước Câu lạc bộ Sĩ quan trên đường Thống Nhất. Sự chênh lệch về lực lượng ta và địch quá rõ. Địa phương quân phải so tài với quân chính qui Bắc Việt, với sự yểm trợ chiến xa và pháo binh. Còn bên ta, đội pháo binh tại Phụng Dực, cũng như phi pháo không thể yểm trợ vì dân chúng chưa được di tản. Cộng thêm, hỏa lực phòng không của địch rất dày đặc, làm phản lực cơ A37 của ta cũng không thể xuống thấp để thả bom cho chính xác được.
12 giờ 45, Thiếu tá Hy, Trưởng phòng 3 Tiểu khu báo cáo: BCH/TK đã bị pháo kích nặng nề. Một trái đã đánh trúng hầm TOC/TK làm nhiều người chết và bị thương. Trong số đó có Trung úy Năm, Trưởng phòng 5/TK đã đền nợ nước. Hệ thống và máy truyền tin chỉ huy bị hư hại nặng. Thiếu tá Hy xin phép được di chuyển Bộ Tham mưu ra khỏi vị trí. Tôi chấp nhận ngaỵ
13 giờ 30, Thiếu tá Hy báo cáo, địch quân đã tập trung pháo binh bắn vào Bộ Chỉ huy, sau đó chiến xa và bộ binh đang tràn ngập vào hệ thống phòng thủ.
14:00 giờ, BCH/TK coi như thất thủ hoàn toàn. Tôi liền báo cáo cho Tướng Phú. Tướng Phú ra lệnh cho trực thăng vận Liên đoàn 21 Biệt động quân xuống Ban Mê Thuột để tái chiếm BCH/TK.
Mãi đến 16 giờ chiêu, tôi mới nhận tin của Quân đoàn 2 rằng Liên đoàn 21/BDQ đang được trực thăng vận xuống Ban Mê Thuột để chiếm lại BCH/TK.
17:00 giờ, đoàn trực thăng đã đến gần thị xã nhưng không đáp xuống được vì phòng không CS bắn quá rát. Đến mãi 18 giờ, Quân đoàn 2 mới quyết định cho thả Liên đoàn 21 BDQ xuống BCH/Chi khu Buôn Hô rồi đi bộ tiến vào thị xã Ban Mê Thuột. Tôi liên lạc với Trung tá Dậu, Chỉ huy trưởng Liên đoàn 21 BDQ, hối thúc Trung tá Dậu phải cho tiến quân nhanh vào thị xã để tái chiếm lại BCH/TK. Mãi đến 11 giờ khuya, Trung tá Dậu cho biết rằng đã tới ven thị xã Ban Mê Thuột mà không tiến vào được vì bị VC chặn đánh.
Tướng Phú ra lệnh cho Trung tá Dậu, với bất cứ giá nào đêm nay Liên đoàn BDQ phải tái chiếm BCH/TK.
Sau khi CS chiếm được BCH/TK/DL xong là tiếng súng pháo binh cũng như súng trường đều được im lặng khắp mọi nơị
Tôi báo cáo lên Tướng Phú kết quả trong ngày là Tiểu khu bắn cháy 7 chiến xa T54 CS và rất nhiều xác VC. Tướng Phú rất vui khen ngợi TK/DL (Darlac).
Tôi theo dõi cuộc tiến quân của Liên doàn 21 BDQ từng phút, cứ 15-20 phút là tôi liên lạc với Trung tá Dậu hỏi coi đã tiến tới đâu rồi. Vẫn những câu trả lời ngắn gọn:”Đang tiến nhưng gặp nhiều ổ kháng cự. Ở trong hầm TOC/SD/23 BB suốt đêm, tôi và Đại tá Vũ Thế Quang không nghe một tiếng súng nổ nào của bạn và địch cả.
Tôi ra lệnh cho ông Phó Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Vỵ và Trung úy Dzi hiện là tùy viên của tôi, nhưng trước là sĩ quan Chiến tranh Chánh trị của Tiểu khu, viết bài kêu gọi dân chúng yên tâm, ngày mai Quân đoàn 2 sẽ chiếm lại Bộ Chỉ huy Tiểu khụ
Tôi đọc ghi vào băng và phát ra cho dân trong thị xã Ban Mê Thuột nghe lúc 1 giờ sáng ngày 11/3/75.
Trong đêm, Phòng 3 Bộ Tổng tham mưu liên lạc với tôi bằng điện thoại nhiều lần, hỏi về tình hình thị xã như thế nào. Tôi báo cáo: BCH/TK đã mất, Kho đạn Mai Hắc Đế, phi trường L19 đã bị CS chiếm từ sáng. Tôi và Đại tá Quang đang ở BTL/SD cố thủ, chờ quân viện của Quân đoàn 2. Tinh thần anh em sĩ quan và binh sĩ rất cao, không có gì nao núng.
Lực lượng trừ bị của Tiểu khu là Trung đoàn 53 với 1 Tiểu đoàn và 1 Trung đội pháo binh cũng bị CS tấn công từ sáng nên không thể tiếp cứu, giúp đỡ gì được cho Tiểu khu Darlac.
Tôi chờ đợi Liên đoàn 21 BDQ tiến vào thị xã, 2 giờ sáng ngày 11/3, rồi 3 giờ, rồi 4 giờ cho đến hừng sáng Liên đoàn 21 BDQ cũng không tiến vào được.
Đúng 7 giờ sáng ngày 11/3/75, CS Bắc Việt bắt đầu nã pháo binh vào Bộ Tư lịnh Sư đoàn 23, chiếc xe Jeep của tôi đậu gần TOC cũng bị trúng pháo nổ tung rạ Tôi đoán chắc rằng CSBV đang cho pháo binh bắn vào vị trí BTL/SD 23 để chuẩn bị tấn công. Tôi nói với Đại tá Vũ Thế Quang, lúc này là lúc nguy ngập, sắp cận chiến, nếu không có cấp chỉ huy đứng bên cạnh binh sĩ để chỉ huy, thì binh sĩ sẽ bỏ chạy khi địch quân xung phong. Đại tá Quang đồng ý. Tôi nói với Đại tá Quang — Vì ở trước cổng BTL/SD (Bộ Tư lịnh Sư đoàn) có 1 chiếc M113, nên để tôi trấn giữ mặt đó, còn Đại tá Quang thì trấn giữ phía Tây Nam.
Lúc này khoảng 7 giờ 30 sáng. Tôi liền đi thẳng ra cửa BTL/SD đến chiếc thiết quân vận M113 đang bố trí tại cổng, dưới các loạt pháo kích 130 ly của CSBV gây nên một vùng khói lửa mịt mù.
Tôi nhảy lên chiếc thiết quân vận để quan sát thì thấy ngay ngoài cổng BTL khoảng cách độ 300 m đầy chiến xa T54 đã bao xung quang BTL. Đồng thời trong lúc này, Trung úy Hoành đặc trách phòng thủ dinh Tỉnh trưởng với 1 Trung đội Địa phương quân, báo cáo tư dinh, đang bị chiến xa tấn công và bắn trực xạ vào lầu tư dinh, đã bị sụp đổ. Trung đội phòng thủ đã hạ được 2 chiến xa địch ngay trước cổng dinh bằng súng M72. Tôi hết sức động viên khen ngợi Trung úy Hoành cố gắng chống cự.
Tôi cũng biết CS tấn công xong tư dinh là tấn công BTL SD 23.
Các chiến xa T54 đậu xung quanh BTL ngạo nghễ coi thường đối phương, không cần phải ẩn núp, ngụy trang chi cả, vì chúng nó biết bên ta không có một chiến xa nào cả để đương đầu, có thể tiêu diệt chiến xa của chúng.
Trung úy Hoành báo cáo chiến xa CS đã ủi sập cổng tư dinh và tấn công vào phía trước. Trung úy Hoành báo cáo vì có một số tử thương cùng bị thương, không thể chống giữ với đợt tấn công bằng chiến xa của địch, nên binh sĩ rất nao núng và xin phép được rút ra khỏi tư dinh.  Tôi chấp thuận.
(Trong khi chiến xa CS tấn công bắn trực xạ đại bác của chiến xa vào lầu của tư dinh, 3 đứa con trai của tôi vẫn còn ở trên lầu, có một đứa con trai út bị sức ép của viên đạn đại bác nổ ra, nó bị hơi đẩy té từ lầu, lăn xuống thang, rớt xuống đất bị thương ở ngực và chân).
Trung úy Hoành hướng dẫn Trung đội Điạ phương quân còn lại thoát ra ngoài. Còn 3 dứa con trai của tôi thì được toán phục dịch trong nhà dẫn theo Trung đội.
Tôi biết, sau khi thanh toán tư dinh, thì bọn CS sẽ cho lệnh xung phong vào BTL/SD 23.
Giờ phút nguy ngập sắp đến, tôi sợ binh sĩ bỏ chạy, liền nhảy xuống M113 đi một vòng theo hàng rào phòng thủ để kiểm soát binh sĩ và nhất là với mục đích cho binh sĩ thấy mặt cấp chỉ huy của mình, cùng trực tiếp tham dự vào trận đánh, nên không dám bỏ chạy. Tôi nói với binh sĩ hãy can đảm chống giữ BTL vì lực lượng của Quân đoàn 2 sắp tới. Kiểm soát và ra lệnh xong, tôi liền nhanh chân trở lại chiếc M113 và nhảy phóc lên trên, quan sát lại thì thấy các chiến xa T54 vẫn còn ở vị trí cũ.
Những giây phút cuối cùng của Bộ Tư lệnh SD 23 BB
Khoảng 10 giờ sáng, tiếng pháo địch im tiếng. Nếu ai đã ở trong binh nghiệp thì đều hiểu rõ tâm trạng của những phút giây im lặng này. Nó hoang mang và lo sợ hơn nhiều khi bên tai mình có tiếng súng nổ. Người ta cho là say súng. Mà thật vậy, khi đã làm quen với chiến trận, việc nghe thấy tiếng nổ làm mọi người quên chính mình và chỉ còn một cách duy nhất là chiến đấu. Chiến đấu để sống còn và ít ai còn để ý đến thần chết đang lảng vảng quanh mình. Tôi lại nhảy lên pháo tháp quan sát và thấy những chiếc xe đang chuyển bánh. Tôi nhảy vội xuống và la lớn:”Sẵn sàng ứng chiến!”. Tôi đứng cạnh trưởng xa và căn dặn chỉ được bắn khi chúng tới gần 100 m nhé. Các anh em đều răm rắp tuân lệnh theo và chờ đợi khúc phim nghẹt thở bắt đầu.
Chiến xa địch đầu chầm chậm tiến thẳng vào chiết vận xa M113. May mà ngụy trang khéo léo nên chúng không thấy. Tôi mừng quá và nói thầm trong bụng:”Mày sẽ chết con ạ”… Khói đen từ ống thoát phun ra mù mịt, chiến xa T54 địch, chiếc đầu chầm chậm tiến vào. Chúng vẫn chưa biết có chiếc M113 đang chờ đón nó vào cửa tử, vì được ngụy trang kỹ càng như đã nói trên.
Tiếng máy kêu ầm và các chiến xa đâm thẳng vào cổng Bộ Tư lệnh. Những con cua sắt ì ạch tiến gần cổng 250m, rồi 200m, rồi 100m. Thần kinh tôi như giãn ra. Tất cả anh em chúng tôi hồi hộp, giờ sinh tử bắt đầu. Tôi hét lớn “Bắn!”. Thay vì chúng tôi phải nghe tiếng nổ thật lớn của viên đạn vút ra khỏi nòng súng, thì trái lại cây súng chỉ cho chúng tôi một tiếng khô khan, lãng xẹc:”Cóc!”.
Trong khi mắt mọi người và tôi dán chặt vào những con cua sắt. Tôi gào lên:
– Gì thế! Gì thế!
Xạ thủ trả lời:
– Trở ngại tác xạ, Đại tá!
– Mở “culasse” ra xem?
– Trình Đại tá, “Percuteur” bị gẫy!
– Có “Percuteur” thay thế không?
– Thưa… không!
Tiếng “thưa không” làm tôi toát mồ hôi, vì đây là hy vọng cuối cùng cho sự cầm cự với Cộng quân để chờ viện binh tới. Cây súng đại bác 106 ly không giựt này là phương tiện duy nhất chống trả với T54 của địch mà thôị Các loại súng khác chỉ là trò đùa với những con cua sắt này.

Bây giờ tiêu diệt chiến xa địch bằng phương tiện gì đây? Tôi biết tôi phải rất bình tĩnh mới cứu được anh em và chính mình. À phải rồi, chúng ta còn oanh tạc cơ đang bay lượn trên không. Những chiếc phản lực cơ A37 sẽ xơi tái chúng một cách dễ dàng. Cũng nên biết từ ngày hôm qua cho đến sáng nay, phi cơ của ta chỉ có thể thả bom ở các mục tiêu xa ở ngoài thị xã. Trong thị xã còn 50,000 thường dân chưa được di tản, vì vậy tôi đã trình với Tướng Phú về việc này và ông đã chấp nhận không oanh tạc vào khu đông dân cự Cũng cần ghi nhận, từ trước tới giờ, chưa bao giờ thị xã bị pháo kich của CS hoặc tấn công nên không gia đình nào có hầm trú ẩn… Nay thì chiến xa địch đã lọt vào thị xã thì các oanh tạc cơ cũng không có cơ hội nhào xuống thấp để đánh trúng mục tiêu vì phòng không của Cộng quân quá mạnh. Cứ mỗi lần máy bay quan sát L19 hay oanh tạc cơ bay thấp một chút là phòng không địch đã bắn lên trời như cảnh đốt pháo bông trong ngày Quốc Khánh.
Tôi liên lạc ngay với L19 và nói chấp nhận sự nguy hiểm để dùng phản lực cơ dội bom thẳng vào các chiến xa đang tiến vào Bộ Tư Lịnh Sư đoàn 23 BB, và như vậy mới chặn đứng cuộc xung phong của CS. Trong lúc chờ đợi phi cơ làm thịt mấy con “cua sắt”, tôi đi lui đi tới kế cận các chiến sĩ đang ghì tay súng chống trả lại địch quân.
Thình lình, mọi người nghe một tiếng nổ “ầm” thật khủng khiếp vang dội cả một góc trời. Cát, đá, bụi tung lên cao cả hàng trăm thước. Thôi hỡi ơi! Trung tâm Hành quân Sư đoàn (TOC), nơi đầu não Mặt trận Ban Mê Thuột để chống lại địch quân đã bị Không quân ta đánh trúng.
TOC bị sập và các phương tiện truyền tin thiết trí trong đó đều tiêu tùng theo mây khói. Một số lớn sĩ quan, binh sĩ ở trong TOC bị chết và bị thương. Ai cũng biết, trong trận mạc, truyền tin là huyết mạch chính. Bây giờ không còn để liên lạc với cấp trên và thông tin cho cấp dưới nữa. Không một chút suy nghĩ, tôi chạy về phía sau TOC để bàn với Đại tá Quang. Tôi nói nhanh với Đại tá Quang nhận định của tôi:
– Chúng ta không thể cố thủ được nữa vì đầu não của chúng ta là Trung tâm hành quân nay đã sụp đổ. Không có truyền tin, không có chiến xa làm sao chận đứng những chiến xa T54 và bộ binh CS đang tiến vào căn cứ. Trong khi đó chúng ta không có viện binh. Tồi đề nghị chúng ta rút ra khỏi vị trí phòng thủ BTL Sư đoàn ngay để bảo toàn lưc lượng còn lại.
Đại tá Quang đồng ý và ra lịnh rút quân. Chúng tôi vọt ra khỏi hàng rào và hướng về phía Tây tức là “Suối Bà Hoàng” – cách BTL Sư đoàn 250m.
Cũng may mùa này là mùa khô nên suối cạn. Đáy suối lại thấp hơn mặt đất tới 15m nên rất dễ cho việc ẩn nấp. Anh em binh sĩ đi theo rất đông, chừng 100 người. Xa xa tiếng phát thanh tuyên truyền của địch quân gần Chùa Phật giáo của Tỉnh hội Phật giáo Ban Mê Thuột kêu gọi các binh sĩ ta đầu hàng. Chúng tôi tiếp tục di chuyển về phía Tâỵ Nhìn anh em binh sĩ, súng trên vai và lầm lũi theo mình. Đến giờ phút này tôi mới thấy tình chiến hữu bên nhau thắm thiết. Lòng tôi bỗng chùng xuông. Không có bút nào tả cho hết nỗi nhọc nhằn, buồn tủi của chúng tôi khi phải xa lìa BLT Sư đoàn, tượng trưng cho sự thách đố với địch quân. Tôi không dám ngoảnh mặt nhìn lại một lần cuối vì sợ không biết chính mình có đủ can đảm để không nhỏ nước mắt cho số phận hẩm hiu, xui xẻo cho Ban Mê Thuột, cho anh em binh sĩ, cho chính mình không? Đừng oanh tạc lầm, thì bây giờ mình đâu đến nỗi trở thành kẻ chạy trốn như thế này. Ôi Ban Mê Thuột, xin tạm biệt mi và hứa sẽ trở về bên mi suốt đời…
Hình ảnh lê thê lếch thếch của đoàn quân ô hợp, như những khúc phim trên màn bạc cho trận thế chiến II – trận Dunkerque năm 1940, mà lực lượng đồng minh phải bỏ thành phố vì bị Đức tràn ngập. Lúc đó ho còn thiết giáp, nhưng thiết giáp của Đức tối tân hơn nên phải ra hàng. Họ chạy đến bờ biển và đã kiếm bất cứ phương tiện nào như du thuyền, canô hay thùng phao để thoát. Còn tôi bây giờ còn gì đâỵ Sinh ra làm lính thiết giáp mà bây giờ di chuyển như lính bộ binh. Tôi cũng không biết mình là ai bây giờ. Mình là cấp chỉ huy hay chỉ là một binh sĩ tầm thường? Lo cho anh em ra sao đây và chính mình sẽ ra sao đây? Trong những giây phút cuối cùng của đời binh nghiệp, chết hay sống là chuyện bình thường. Lúc vào lính, tôi đã có lúc nghĩ đến lúc mình làm thân chiến bại hay một viên đạn xuyên vào lồng ngực. Nhưng không ngờ trong cảnh huống này nó lại sầu đau chất ngất như lúc này, tủi nhục như bây giờ? Tôi chưa dám nghĩ quẩn vì bên cạnh mình còn anh em đang trông chờ nơi mình. Chỉ một phút sai lầm, sẽ đem anh em và mình xuống hố sâu vực thẩm. Tôi chỉ bàn với Đại tá Quang. Mình phải phân tán mỏng để tránh sư phát giác của địch quân. Tôi đề nghị:”Toa” đi về một phía, “moa” một phía và cố gắng tìm về Nha Trang nhé. Đại tá Quang gật đầu và chọn ngay cho mình một quyết định. Vị Tư lịnh chiến trường Ban Mê Thuột nói với tôi:”Moa sẽ đi về hướng Nam, đến gần cầu khoảng cách 14km là tìm đường về Nha Trang”. Còn tôi không còn chọn lựa naò khác hơn là đi về hướng Tây, nằm về khu cà phê của Trung tướng Hoàng và chờ trời tối sẽ bọc lên phía Bắc Ban Mê Thuột và từ đó tìm về Nha Trang. Thật là đau thương, khi làm việc có nhau, và giữa phút nghiêm trọng này chúng tôi cần có nhau hơn. Nhưng hoàn cảnh lại không cho phép như vậy. Đành chia tay nhau và may ra còn cứu được lấy định mệnh riêng của mình.

 Trước khi chia tay, chúng tôi bèn tập trung anh em binh sĩ lại và tôi tuyên bố:
– Tôi xin thay mặt cho chính phủ và quân đội tuyên dương công trạng của anh em – những chiến sĩ anh hùng, can trường đã chống trả mãnh liệt với bọn CS xâm lược miền Nam với một tinh thần hy sinh cao độ. Từ 2 giờ sáng ngày hôm qua cho đến cho đến giờ này các anh em đã làm tròn nhiệm vụ mà đất nước giao phó cho dù địch quân có đông gấp mười chúng tạ 2 quả bom rơi nhầm vào Trung tâm Hành quân đã đưa chúng ta tới nông nỗi này. Bây giờ anh em phân tán mỏng đừng dể địch quân phát giác và tìm cách trở về Nha Trang. Hy vọng lúc đó chúng ta sẽ tập họp lại để tiếp tục chiến đấu… Toàn dân ghi công anh em. Tổ quốc VN ghi công anh em. Xin tạm biệt.
Với nét buồn vô tận, anh em đã nghe tôi nói như lời biệt ly sầu thảm. Nhiều anh em đã bật khóc, khiến tôi không dám nhìn thẳng vào mặt họ và lặng lẽ giơ tay chào anh em. Nhìn anh em binh sĩ, Đại tá Quang và tôi còn nguyên vẹn bộ đồ tác chiến, giây ba chạc, áo giáp, nót sắt. Nhìn chiếc hoa mai bạc trên ngực Đại tá Quang, tôi đề nghị nên dấu nó đi để dễ bề ngụy trang trong khi di chuyển. Chúng tôi chia tay nhau mà ai cũng như muốn khóc. Đi theo con suối Bà Hoàng mà lòng tôi như bị cắt từng đoạn ruột, chúng tôi len lỏi qua các bụi lau sậy, những tảng đá lớn và những nhà chòi mà người dân cất làm chỗ tạm thời che nắng đụt mưa khi làm việc cả ngày ngoài đồng áng. Đi khoảng 100m tôi ngó lại vẫn còn chừng 20 người theo tôị Trong đó có ông Phó Tỉnh trưởng Ban Mê Thuột, Nguyễn Ngọc Vy, một người kỳ cựu của vùng Darlac và nhất là thị xã Ban Mê Thuột.
Tôi liền hỏi ông Vy:
– Anh có biết dồn điền cà pê của Trung tướng Thái Quang Hoàng ở đâu không?
Ông Vy chỉ tay về hướng đằng trước mặt:
– Thưa Đại tá tôi biết. Xin Đại tá cứ tiếp tục đi về phía Tây là sẽ tới.
– Vậy khi nào đi ngang qua anh cho biết nhé. Chúng ta sẽ vào đó ẩn núp cho đến tối. Lợi dụng bóng đêm chúng ta sẽ bọc về phía Bắc rồi tìm đường về Nha Trang.
Ông Vy gật đầu và chúng tôi âm thầm tiếp tục di chuyển. Việc tôi chọn đồn điền của Trung tướng Thái Quang Hoàng vì đồn điền này đã có từ lâu tất nhiên cây cỏ đã cao và rậm rạp rất dễ ngụy trang…
Những phút cuối cùng của đời binh nghiệp
Chúng tôi tiếp tục đi khoảng 300m, anh Nguyễn Ngọc Vy nói với tôi:
– Trình Đại tá, chúng ta đã tới ngang vườn cà phê của Trung tướng Hoàng rồi đây.
Tôi nói ngay:
– Bây giờ chúng ta phân tán mỏng và cẩn thận bò từ con suối này lên vườn cà phê và mỗi người hãy chọn một chỗ ẩn núp và rồi chờ đến tối chúng ta sẽ tìm đường thoát thân về Nha Trang.
Tuân theo lời nói của tôi tất cả đều giăng hàng ngang và từ từ bò lên bờ suối. Sự hồi hộp đến với mọi người vì phải bò băng qua một thửa đất bằng lộ thiên – không có cây cối nào để ngụy trang, ẩn núp được. Nhìn toán người theo tôi, tôi rất lo ngại. Phần vì, có hơn phân nửa là quân nhân, còn kỳ dư là nhân viên hành chánh với những chiếc sơ mi áo trắng rất dễ dàng cho địch quân phát giác. Tôi rất ngao ngán cho việc vượt thoát này. Nhưng không còn một con đường nào khác. Chúng tôi bò tiến lên ngang mặt đất. Vưà lúc đó hàng loạt súng cộng đồng nổ vang và nhắm vào đoàn người chúng tôị Đạn cày xới lên đất làm tung bụi mịt mù. Phản ứng tự nhiên của mọi người là chạy ào lên vườn cà phê để ẩn núp. Bây giờ tôi mới thấm thía câu “đạn tránh người chớ không phải người tránh đạn”. Nhiều người trúng đạn đã lăn ra chết hoặc rên la vì bị thương. Dưới hỏa lực vũ bão, tôi vẫn bò như người lính trong quân trường. Nhìn sang bên cạnh có Thiếu úy Phương, tùy viên của tôi vẫn bám sát lấy tôị Tôi rất cảm phục người sĩ quan tùy viên này, dù đến phút này tinh thần kỹ luật vẫn còn giương cao và vẫn làm tròn nhiệm vụ của một quân nhân gương mẫu. Tiếng đại liên, tiếng gào thét của chiến xa đang tiến về chúng tôi như cuộc bủa vây đang thắt chặt. Tôi biết chúng tôi không thể nào thoát trước một thế trận đường cùng này. Tôi bèn bàn với Thiếu úy Phương là chúng ta nên đầu hàng. Như hiểu ý tôi, Thiếu úy Phương cởi áo lót trắng và lấy cây đưa lên cao phẩy qua phẩy lại để ra dấu hiệu đầu hàng. Lập tức súng đại liên ngưng bắn và chiến xa tiến sát về phía chúng tôị Chúng ngừng cách chúng tôi khoảng 10m, một cán binh CS nhảy ra khỏi chiến xa, với khẩu AK47 chĩa thẳng vào chúng tôi và quát lớn:
– Tất cả hãy giơ tay lên! Giơ tay lên!
Mọi người đều tuân lệnh hắn. Nó hỏi tôi:
– Tụi bây chức vụ gì và cấp bậc gì??
Như cái máy, tôi trả lời:
– Tôi là Đại tá Tỉnh trưởng.
Hắn tròn xoe mắt lại và nghi ngờ:
– Thật không? Thật không?
Tôi gật đầu và hắn hỏi tiếp:
– Tên gì nói mau.
Tôi không ngần ngại:
– Nguyễn Trọng Luật!
– Thật không?
– Thật.
Khi biết tôi là sĩ quan cao cấp, hắn sững người và rất đỗi ngạc nhiên. Hắn càng ghìm tay súng vào đầu tôi và nói hãy đứng yên và giơ tay cao khỏi đầu, và hắn tiếp tục hỏi Thiếu úy Phương như vậy. Một cán binh khác nhảy từ trên xe đến lột hết quần áo chúng tôị Trên người tôi và Thiếu úy Phương chỉ còn chiếc áo lót và chiếc quần treillis. Chúng lấy hết súng lục, áo giáp, nón sắt, giầy boots và luôn cả vớ. Chúng nhanh tay lấy giây trói chặt tay chúng tôi ra đằng sau và đẩy chúng tôi mỗi người vào một hố cá nhân. Chừng nửa giờ sau, từ phía Tây một chiến xa khác tới. Một cán binh người mập mạp, mặt mũi sáng sủa nhảy ra khỏi chiến xa và tiến tới tôi chất vấn:
– Anh có thật là Đại tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh trưởng Darlac không?
– Đúng.
– Thôi anh ngồi chờ, chốc lát sẽ có xe đưa anh đi.
Khoảng 4 giờ chiều, cũng từ phía Tây một chiến xa xuất hiện và bốc một mình tôi lên xe. Cửa xe đóng lại tối thui và xe bắt đầu di chuyển. Tôi có thể đoán chắc là chúng đi về hướng Tây để đến Bộ Chỉ huy của chúng. Đến lúc này, tôi thật bình tĩnh và coi nhẹ những sự việc xảy ra cho mình. “Sinh nghề tử nghiệp. Tôi là sĩ quan thuộc binh chủng Thiết giáp và bây giờ bị bắt bởi chính đoàn quân kỵ mã này. Dầu sao, tôi vẫn còn những tia hy vọng rọi xuống tâm hồn khô héo của tôi lúc này là tiếng súng vẫn còn vang động khắp chiến trường Ban Mê Thuột. Phản lực cơ của quân đội ta vẫn vần vũ trên không phận thân quí Cao nguyên. Dù tôi có bị bắt, nhưng hy vọng của tôi vẫn là Ban Mê Thuột vẫn như thành đồng trụ sắt. Quân tiếp viện sẽ tới và những con mãnh hổ sẽ làm tròn nhiệm vụ của người lính VNCH ngàn đời uy danh. Ban Mê Thuột vẫn ngạo nghễ thách đố với mọi hoàn cảnh…
Nhìn lại trận đánh Ban Mê Thuột
Bây giờ với đời sống thật sự thanh thản, bình tâm mà nhìn lại, nghĩ lại tôi thấy vài điều cần được xét lại. Tất nhiên không phải để phê phán, hay gỡ tội hoặc giả để lẩn tránh trách nhiệm, lẩn tránh sự thật. Nhìn lại, nghĩ lại chỉ có mục đích duy nhất là chia sẻ với những người còn sống về một biến cố trọng đại đầu tiên đã dẫn tới sự sụp đổ của chính thể và chế độ VNCH tại miền Nam nước Việt.
1. Mất tỉnh, Tỉnh trưởng phải chịu trách nhiệm?
Đây là câu nói thông thường của những người thiếu hiểu biết. Nhiệm vụ của Tỉnh trưởng chỉ là trách vụ về hành chánh, kinh tế, chính trị, v.v…mà thôi. Về an ninh quân sự lại nằm trong tay Tiểu khu trưởng.
Nhiệm vụ của Tiểu khu trưởng là giữ an ninh các cơ sở, đường xá, cầu cống, tìm kiếm tin tức tình báo để báo cáo len cấp trên, cũng như truy lùng, tiêu diệt du kích và những cán bộ CS xâm nhập vào vùng trách nhiệm của mình. Tiểu khu trưởng chỉ có trong tay những Tiểu đoàn Địa phương quân, Nghĩa quân, Cảnh sát và tổ chức Nhân dân Tự vệ… Vì vậy, các đơn vị này không có khả năng đương đầu với quân chính qui của địch.
Nhìn lại trận đánh Ban Mê Thuột, Tiểu khu Darlac đã nhiều lần báo cáo có những dấu hiệu về sự xuất hiện hoạt động của quân chính qui CS. Bằng chứng là tại phía Tây, Ban2 Tiểu khu Darlac đã phát hiện ống dẫn dầu của quân Bắc Việt hay những dấu xích chiến xa để lại ở phía Tây Ban Don và Ia Sup. Đặc biệt ngày 7/3/75, Tiểu khu Darlac hành quân đã bắt được một tù binh thuộc Sư đoàn 320/BV đang giăng giây điện thoại. Tin tức này cũng không thuyết phục nổi Tướng Phú và Tướng Tường để cho Trung đoàn 45 BB trở lại Ban Mê Thuột. 2 ông này vẫn còn ám ảnh về CS sẽ đánh Kontum hay Pleikụ Chưa bao giờ các ông cho rằng Ban Mê Thuột sẽ bị tấn công.
2. Tại sao Tiểu khu lại không biết chiến xa địch tiến vào Ban Mê Thuột?
Câu hỏi này làm tôi thắc mắc mãi và muốn tìm câu trả lời cho chính mình. Khi ngồi trong tù, tôi có đọc “Đại Thắng Mùa Xuân” của Văn Tiến Dũng tôi mới vỡ lẽ. Các chiến xa của CS đã được bố trí cách thị xã Ban Mê Thuột trên hàng trăm km về phía Tây Bắc, trong rừng úi trùng trùng điệp điệp của Cao nguyên. Nhìn trên bản đồ, Phòng 2 hay cấp chỉ huy bao giờ cũng tiên đoán ngay và cho rằng nếu chiến xa địch, nếu có tấn công đêm nay, thì chỉ có khả năng tấn công Pleiku chứ không thể là Ban Mê Thuột. Vì xung quanh Ban Mê Thuột, hay phía Tây, dù Tây Bắc hoặc Tây Nam đều là dãy rừng già với cây cối cao lớn. Qua con mắt của một sĩ quan kỵ binh như tôi, việc tấn công Ban Mê Thuột bằng chiến xa khó có thể thực hiện nổi. Trái lại, Pleiku với những đồi thoai thoải, trống trải, không có cây cối là địa bàn lý tưởng cho chiến xạ Nhưng, đây là chữ nhưng to tướng, nghĩa là CS đã cho công binh dọn đường trước, bằng cách cho cưa tất cả các cây lớn mà chiến xa không ủi ngã được. Bọn CS đã không cưa đứt hẳn để cây đổ xuống làm phi cơ quan sát được, mà chỉ cưa 2/3 cây thôị Trên máy bay do thám của ta luôn luôn thấy cây cối um tùm như thường, không có con đường nào băng qua rừng cả. Đến khi mặt trời lặn chiến xa cứ việc trực chỉ Ban Mê Thuột, và khi gặp những thân cây lớn, chiến xa cứ ủi xập những cây mà công binh đã cưa sẳn 2/3. cây lớn đều nằm rạp xuống và chiến xa cứ thế mà tiến lên dễ dàng. Khi gần tới thị xã, CS đã cho pháo kích vào thị xã để che lấp tiếng động cơ của các chiến xa đang di chuyển…
3. Làm sao Địa phương quân có thể tiêu diệt chiến xa?
Tôi là sĩ quan kỵ binh được giao trọng trách chỉ huy trưởng Tiểu khu Darlac, ngoài ý muốn của tôi. Kinh nghiệm về Thiết giáp vẫn là sở trường của tôi. Khi tôi nhận nhiệm vụ lẽ tất nhiên tôi đã để ý nhiều về những con ngựa sắt này. Tất cả thiết giáp của ta đều được điều dộng về Pleiku hết. Ban Mê Thuột chỉ cò có 2 chiếc Commando car để tuần tiểu, hộ tống cho các đoàn công voa hay các cấp chỉ huỵ Trong đầu tôi bao giờ cũng đặt ra câu hỏi, liệu CS tấn công các chi khu hay đồn bót bằng chiến xa thì sao? Vì vậy, việc đầu tiên nghĩ đến là loại súng M72, loại chống chiến xa mà Quân đội Hoa Kỳ cung cấp. Tôi bèn xin BTL Quân đoàn 2 cho trang bị loại súng trên cho Tiểu khụ Không có toán, tiểu đội, trung đội, đại đội nào thuộc Địa hương quân của Tiểu khu Darlac là không có trang bị M72. Ngay cả những Trung đội Nghĩa quân nữa. Tôi chỉ thị cho các sĩ quan và binh sĩ đều phải sử dụng M72 một cách nhanh nhẹn và chính xác. Tôi còn luôn luôn kiểm soát chặt chẽ và khi tôi thanh tra bất cứ một đơn vị thuộc Tiểu khu Darlac, bất cứ đâu, từ sĩ quan đến binh sĩ đều lưu lại khảo hạch và chờ biểu diễn cách sử dụng M72 chống chiến xa, cũng như ân cần nhắc nhở mọi người làm sao tăng hiệu năng của của súng và bắn cho chính xác. Trong trận đánh Ban Mê Thuột, 9 chiến xa CS nằm ụ trên đường Thống Nhất hoặc trước mặt BCH Tiểu khu và Dinh Tỉnh trưởng đều là công đầu của các chiến sĩ Điạ phương quân Tiểu khu Darlac. Ai cũng biết, các oanh tạc cơ của ta không được thả bom vào thị xã mà chỉ được đánh bom vào các mục tiêu ven thị xã mà thôị Oanh tạc cơ của ta chỉ có một lần đánh vào chiến xa địch trước mặt BTL Sư đoàn 23 BB với 2 quả bom. Nhưng thảm thương thay lại đánh trúng Trung tâm Hành quân của Mặt trận Ban Mê Thuột. Tôi cũng cần minh xác, tôi viết ra đây những sự kiện này, không phải là kể công cho Tiểu khu Darlac hay phiền trách Không quân, mà là những lời nói danh dự của một sĩ quan QLVNCH biết tự trọng, liêm sỉ và sự trung thực gởi đến các chiến hữu đã sát cánh bên nhau trong những ngày lửa đạn và các bạn.

M72, loại súng chống chiến xa hữu hiệu.

 Tôi cũng xin kể thêm, năm 1984, trong hời gian tôi ở trại tù Nam Hà — Hà Nam Ninh. Một buổi sáng tôi đang gánh nước tưới rau, vì tôi thuộc trung đội trồng rau cho trại. Tình cờ tôi gặp một thanh niên trạc ngoài 30 tuổi, lại chào tôi:
– Chào Đại tá.
– Thôi cứ gọi nhau bằng anh em đi, vì nước mất nhà tan rồi, còn đâu là tá với tướng.
– Không! Riêng với Đại tá, tôi vẫn tôn kính là Đại tá. Tôi phục Đại tá là chưa có Địa phương quân của Tiểu khu nào mà bắn cháy được chiến xa CS được. Riêng chỉ có Địa phương quân Darlac là tiêu diệt được T54 của địch. Tôi còn nhớ ngày 11/3/75, tôi là người đi dọc theo đường Thống Nhất để lấy tin tức về báo cáo cho Đại đội 23 Thám sát của tôi.  Tôi đã đếm được 10 chiến xa bị bắn cháy.. Sự thán phục ấy đến nay tôi mới gặp Đại tá để bày tỏ nỗi niềm cũng như chào kính và thăm hỏi Đại tá.
– Vậy anh là ai và ở đâu?
– Tôi tên là Chí trước thuộc Đại đội Thám báo Sư đoàn 23 BB. Hiện nay tôi còn bị tù ở đây cùng với Đại tá nhưng ở khu khác.
– Cám ơn anh về những lời khen cho Địa phương quân Tiểu khu Darlac. Xin anh một điều là từ bây giờ chúng ta cứ gọi là anh em thôi. Vì như tôi đã nói lúc nãy, đất nước đã mất rồi, chúng ta chỉ còn tình nghĩa để đối với nhau mà thôi.
– Dạ nếu như Đại tá cho phép thì tôi vâng.
Lòng tôi dâng lên một niềm vui sướng cho buổi gặp gỡ ngắn gọn ấy. Thứ nhất là dù trong hoàn cảnh tù đày anh em vẫn tôn kính nhau và họ nhận ra tôi đã không làm điều sai quấy khi còn tại chức. Đây cũng là phần thưởng cho tôi vì trong tù anh em thường hay nói với nhau:”Khi ở tù rồi mới biết ai là tướng tá thật, ai là tướng tá giả — đáng kính hay đáng khinh…
Thứ hai là anh Chí đã xác nhận số chiến xa bị bắn cháy mà do Thiếu tá Trưởng Phòng 3 báo cáo cùng tôi là 9 chiếc mà bây giờ là 10 chiếc.
4. Tướng Phạm Văn Phú là tướng giỏi hay dở?
Tướng Phú hoàn toàn bị địch đánh lừa và ít ra không có kinh nghiệm chiến trường Cao nguyên. Trước kia, khi còn Quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại VN, tin tức tình báo chiến lược hay tin tức liên quan đến các đơn vị lớn của VC đều do Mỹ cung cấp. Nhưng sau Hiệp định Paris, nguồn tin từ Mỹ đều chấm dứt và Phòng 2 của ta chỉ còn khả năng lấy tin tức các đơn vị chính qui Bắc Việt bằng cách tìm điện đài của địch. Vì biết được yếu điểm này của QLVNCH, nên CS vẫn cho điện đài phát thanh hàng ngày như thường lệ và tuyệt đối im lặng truyền tin trong khi di chuyển về phía Nam. Vì vậy Tướng Phú cứ đinh ninh là các Sư đoàn Bắc Việt vẫn còn ở phía Tây Pleiku và Kontum.
5. Tổng Thống và Tổng Tham mưu Trưởng
Nếu qui trách nhiệm cho Tướng Phú làm mất Ban Mê Thuột vì dở là quá saị Vì kế hoạch hành quân hay bố trí các đơn vị để phòng thủ các Vùng đều được Tổng Tham Mưu Trưởng và Tổng Thống (Tổng Tư Lệnh) duyệt xét và chấp thuận mới được thi hành. Quân đoàn 2 và Tướng Phú được sự chỉ huy trực tiếp của Tổng TMT và TTh. Mất Ban Mê Thuột đâu phải trách nhiệm riêng gì của Tướng Phú mà chính là Tổng TMT và TTh. Các đơn vị chia sẻ trách nhiệm như Phòng 2 Bộ Tổng Tham Mưu, Cục An ninh Quân đội, Đơn vị 101/TTM. Tất cả các cơ quan trên làm gì, để các đại đơn vị Bắc Việt di chuyển về phía Nam, để đánh vào thị xã Ban Mê Thuột? Ai là người dám công khai lãnh nhận trách nhiệm? Cho đến nay, trong chiến tranh VN mới chỉ có thấy ông cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara là dám nói lên lỗi lầm của ông ấy mà thôị Bằng một cuốn sách, McNamara nhận trách nhiệm. Còn ai nữa? Hay tất cả chỉ cầu mong thời gian khỏa lấp vào “cuối trời lãng quên” hay là viết hồi ký để rửa tay kiểu quan Phi-la-tô trong Thánh kinh khi trao Đức chúa Giêsu cho dân chúng muốn làm gì thì làm, muốn giết chúng mày cứ việc giết, tao không có trách nhiệm gì hết? Ngụy biện quá sức.
6. Hãy so sánh lực lượng đôi bên

a) Lực lượng Quân đoàn 2
– Sư đoàn 22 BB
– Sư đoàn 23 BB
– 4 Liên đoàn BDQ (bằng 1 sư đoàn)
– 1 Lữ đoàn Thiết giáp
– 1 Sư đoàn Không quân (Sư đoàn 6 Không quân)
– 1 Trung đội Hoả tiển TOW

b) Lực lượng CS
– Sư đoàn 320
– Sư đoàn F10
– Sư đoàn Sao Vàng
– Sư đoàn 968
– Pháo binh 130
– Pháo binh Phòng không (Sư đoàn)
– Thiết giáp Lữ đoàn)
– Các đơn vị Công binh
– Các đơn vị Đặc công (2 Trung đoàn)

Nhìn qua tương qua giữ ta và địch, với nhiệm vụ phòng thủ, ta có thể làm tròn nhiệm vụ một cách dễ dàng. Trong binh pháp ai cũng biết, một lực lượng tấn công, phải gấp 3 lần lực lượng phòng thủ mới mong thắng trận được. Mất Ban Mê Thuột ta đã bị đánh lừa, vì ta không biết địch tấn công ở đâu, cũng giống như trên bàn cờ tướng, ta thua vì không biết nước chiếu của đối thủ.
7. Bài học của người Pháp
Khi còn là Đại úy, tôi đã có dịp theo học một khóa tham mưu, trong đó học chiến thuật, chiến lược. Người Pháp đã để lại một tài liệu nói về Cao nguyên. Đại ý:”Muốn giữ Cao nguyên thì phải giữ Ban Mê Thuột. Muốn giữ miền Nam phải giữ Cao nguyên”. Phải chăng qua nhận định đó, chúng ta đã mắc tới 3 sai lầm:
– Dời Bộ tư lệnh Quân đoàn 2 về Pleiku?
– Tập trung quân giữ Kontum và Pleikụ
– Bỏ Cao nguyên để giữ miền Nam?
8. Những chuyện nghe được từ trong tù
Tại trại tù Nam Hà (Hà Nam Ninh), tôi được biết đứa con út của tôi đã chết tại xã Châu Sơn cách thị xã Ban Mê Thuột chừng hơn 3km. Số là khi CS tràn ngập tư dinh Tỉnh trưởng Darlac, các con tôi đã theo chân những binh lính trong dinh chạy trú ẩn tại nhà cha Tâm, cha sở xã Châu Sơ, một xã phần dông là người Công giáo từ Bắc di cư vào Nam năm 1954, nên có tinh thần chống Cộng cao độ. CS đã nã pháo kích như mưa vào làng, làm trúng hầm trú ẩn gia đình cha Tâm. Kết quả là đứa con út tôi và 2 đứa cháu của cha Tâm bị tử thương. Cũng trong tù CS, tôi có gặp Đại tá Nguyễn Văn Của, Thiết giáp, Tỉnh trưởng tỉnh Châu Đốc đã có dịp nói chuyện cho tôi biết: “Khi thị xã Ban Mê Thuột bị mất, TT Thiệu đã triệu các Tỉnh trưởng về họp tại Dinh Độc lập và có phán một câu xanh rờn, “Thằng Luật trở về trình diện, tôi sẽ xử bắn ngay vì bỏ chạy mà không giữ được thị xã. Còn các anh cũng vậy, ai bỏ tỉnh mà chạy, tôi cũng bắn ngay”.
Nghe lời kể của anh Của mà lòng tôi xót xạ Ở dời ai có hiểu mình và tôi lại nhớ tới bài hát “Bay Đêm” của Song Ngọc có câu “Ở đời ai hiểu ai…” để an ủi chính mình trong đời lao tù không có ngày ra này. Thêm nữa, cũng may cho tôi là tôi đã không có bỏ tỉnh, chạy trước khi địch quân đến như ít vị Tỉnh trưởng khác và cũng may là tôi còn ở lại cố thủ để bị bắt tại chiến trường. Nếu không bị xui xẻo vì bị oanh tạc lầm vào TOC, nếu quân tiếp viện đến kịp thời thì đâu đến nỗi bị bắt và ở tù tại miền Bắc 13 năm, 5 tháng, 25 ngày.
Để chấm dứt bài này, sau khi gia đình tôi đã được định cư tại Mỹ, qua diện HO. Vì chưa ổn định được đời sống nên tôi chưa có dịp diện kiến TT Thiệu để thưa lại vị Tổng tư lịnh của tôi đôi điều. Có một cảm nghĩ mà tôi cứ suy nghĩ mãi là các Tướng VNCH có đọc truyện Tàu không, nhất là Tướng Phú, để không bị CS đánh lừa ở vùng 2. Vì nếu đọc truyện Tàu đời xưa, chúng ta đều biết trận đánh giữa Hàn Tín và Hạng Võ được gọi là “Minh tu sạn đạo; ám độ trần thương”.
Đại Tá Nguyễn Trọng Luật

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Cd3nkt Blogspot

Nhaydu.com

GiaocamSaigononline

DânLuận.org


Chuyện THỜI CƠ – Phạm Đình Hưng.

Bằng chứng bán biển cho Tàu của việt cộng, còn gọi là công hàm Phạm Văn Đồng 1958.

Bài đọc suy gẫm: Chuyện THỜI CƠ – tác giả Phạm Đình Hưng. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

 Lưu Bang và Chu Nguyên Chương (phải) trong sử Tàu

Người xưa đã dạy: Sự thành công của các vấn đề quốc gia đại sự tùy thuộc vào ba yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa. Trong bài viết nầy, tôi chỉ nêu lên yếu tố thiên thời tác động đến nền chánh trị Việt Nam trong thế kỷ 20.

Thiên thời là thời cơ do Thượng đế tạo ra với bàn tay của con người hành động theo sự sai khiến của Đấng Tạo hóa. Trong lịch sử của Trung Hoa cổ thời, thiên thời đã giúp cho Lưu Bang, một đình trưởng thích cờ bạc rượu chè, trở thành người khai lập nhà Hán, một triều đại lâu dài nhứt của nước Tàu và là niềm hãnh diện của người Hán; thiên thời cũng đã giúp cho một con người du thủ du thực như Chu Nguyên Chương trở thành Minh Thái tổ. Lịch sử Việt Nam hiện đại cũng cho thấy thời cơ đã đưa đẩy một số người không có văn hóa cao lên địa vi lãnh đạo và quyền uy của nước Việt Nam trong thời dân chủ đúng theo chủ trương và đường lối của đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn đặt nặng hồng hơn chuyên và xem trí thức không có giá trị bằng một cục phân :
– Một cán bộ Đệ tam quốc tế cộng sản cấp thừa hành và đảng viên đảng Cộng sản Trung quốc chỉ có trình độ tiểu học đã leo lên ngồi trên ghế Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa kiêm Chủ tịch đảng Cộng sản Việt Nam cho đến mãn đời: Nguyễn Tất Thành tức Hồ Chí Minh;
– Một công nhân đường sắt học lực tiểu học có quyền lực tột đỉnh của Tổng Bí thơ đảng Cộng sản Việt Nam ngự trị như một ông vua tại Bắc bộ phủ từ năm 1969 đến khi qua đời năm 1986: Lê Duẫn
– Một cai đồn điền cao su ở Thủ Dầu Một (Bình Dương) có trình độ tiểu học đã ngự trên ngai vàng An Nam Quốc Vương: Lê Đức Anh;
– Một thợ thiến heo đã trở thành Tể tướng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Tổng Bí thơ đảng Cộng sản Việt Nam : Đỗ Mười;
– Một người đi bộ đội từ lúc 18 tuổi đã leo lên ngôi vị Tổng Bí thơ đảng Cộng sản Việt Nam (đại nhân số 1 của đất nước có 4,000 năm văn hiến) : Lê Khả Phiêu;
– Một người dân tộc Choang của Trung Quốc trong tỉnh Quảng Tây đã chiếm ghế Chủ tịch Quốc Hội trong 5 năm và Tổng Bí thơ đảng Cộng sản Việt Nam trong 10 năm : Nông Đức Mạnh;
– Một tên vô lại phá xóm phá làng đã được làm Bộ trưởng bộ Công An của Nội các Phạm văn Đồng trong nhiều thập niên: Trần Quốc Hoàn;
– Một người trẻ ít học đi làm lao động chân tay ở nước ngoài khi trở về nước được bầu cử làm Bí thơ Tỉnh ủy Bắc Giang kiêm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam: Nông Quốc Tuấn (con Nông Đức Mạnh, cháu nội Hồ Chí Minh).

Tại Việt Nam, trong cuộc tranh chấp về ý thức hệ giữa hai khuynh hướng Cộng sản quốc tế theo Nga-Hoa và khuynh hướng tự do dân chủ theo Tây phương, đảng Cộng sản Việt Nam đã lợi dụng các thời cơ thuận lợi kể sau để cướp chánh quyền năm 1945, chiếm miền Bắc Việt Nam từ năm 1954 và thống trị cả nước Việt Nam từ năm 1975 đến nay:
1- Thời cơ thứ nhứt: Hội kiến giữa Hồ Chí Minh và Archimedes Patti

Hồ Chí Minh và nhóm OSS Hoa Kỳ tại chiến khu Cao Bắc Lạng và Thiếu tá Archimedes Patti hồi thế chiến thứ 2 (dưới, phải).

Trong thời gian công tác tại Hoa Nam (1940-1943) với tư cách đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc, Hồ Quang (Hồ Chí Minh) đã có cơ hội gặp Thiếu tá Archimedes Patti, Trưởng Phái bộ OSS (Office of Strategic Services), tiền thân của Central Intelligence Agency, tại Vân Nam. Lúc đó, Hồ Chí Minh là điệp viên Lucius cộng tác với Hoa Kỳ tại Hoa Nam. Trong dịp gặp mặt Hồ Chí Minh, Thiếu tá Patti đề nghị huấn luyện và trang bị võ khí cho đội Võ Trang Tuyên Truyền của Võ Nguyên Giáp để Hồ Chí Minh có một lực lượng võ trang trong chiến khu Cao Bắc Lạng giúp Hoa Kỳ chống Nhựt. Ngoài sự giúp đỡ của OSS, Hồ Chí Minh còn được Trung tướng Không quân hồi hưu Claire Lee Chennault (1893-1958), Chỉ huy trưởng Phi đội Flying Tigers (Cọp Bay) tặng cho một số súng lục khi ông ta đem giao trả một phi công Mỹ nhảy dù xuống chiến khu Cao Bắc Lạng. Đảng Cộng sản Việt Nam đã sử dụng đội Võ Trang Tuyên Truyền và võ khí do Hoa Kỳ cung cấp để cướp chánh quyền năm 1945. Vào mùa thu năm ấy, đội Võ Trang Tuyên Truyền của Võ Nguyên Giáp là một lực lượng võ trang có nhiều võ khí hơn các chánh đảng và tổ chức chánh trị khác.

2- Thời cơ thứ hai: Nhựt bổn đầu hàng Hoa Kỳ
Sau ngày quân đội chiếm đóng Nhựt đảo chánh nhà cầm quyền Pháp (9-3-1945) và Hoàng đế Bảo Đại tuyên cáo nước Việt Nam độc lập (11-3-1945), Nội các Trần Trọng Kim đã được thành lập lần đầu tiên tại Việt Nam với các nhân vật có trình độ văn hóa cao. Trong khi Nội các Trần Trọng Kim đang tiến hành các chương trình xây dựng đất nước vừa mới thu hồi độc lập, ngày 15-8-1945, Nhựt hoàng Hirohito tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vài ngày sau khi Hoa Kỳ tàn phá hai thành phố Hiroshima và Nagasaki với hai trái bom nguyên tử cở nhỏ. Tại Hà Nội, ngày 19-8-1945, đảng Cộng sản Việt Nam đã chớp thời cơ sử dụng bạo lực cướp chánh quyền từ trong tay Nội các Trần Trọng Kim và vua Bảo Đại. Tại Sài Gòn, một nhóm nhỏ đảng viên cộng sản Đệ tam quốc tế gồm có Trần văn Giàu, Nguyễn văn Trấn, Phạm Ngọc Thạch, Dương Bạch Mai, Nguyễn văn Nguyễn, Cao Đăng Chiếm v.v…đã sử dụng đoàn Thanh Niên Tiền Phong, một tổ chức ngoại vi cuả đảng Cộng sản Việt Nam, để cướp chánh quyền vài ngày sau Hà Nội. Vị vua cuối cùng của nhà Nguyễn đã bị buộc phải thoái vị để tránh khỏi nội chiến giữa người Việt Nam theo đuổi hai khuynh hướng chánh trị khác nhau.
Mặc dầu đã cướp được chánh quyền nhưng vì thiếu chánh nghĩa và bất hợp pháp, ngụy quyền Hồ Chí Minh từ năm 1945 đến năm 1949 đã không được bất cứ một quốc gia nào trên thế giới công nhận, kể cả Liên Xô.

Lợi dụng tư thế và phương tiện của nhà cầm quyền, cán bộ cộng sản Đệ tam quốc tế ở khắp nơi trong nước nhận được chỉ thị của Hồ Chí Minh ra tay tiêu diệt ngay tất cả đảng viên Đệ tứ quốc tế cộng sản, các trí thức yêu nước nổi tiếng, các nhà hành chánh lỗi lạc và nhiều nhân tài tinh hoa của dân tộc cũng như lãnh tụ các đảng phái quốc gia giữa lúc quân đội viễn chinh Pháp trở lại tái chiếm Việt Nam: Thượng thơ Phạm Quỳnh, Tổng đốc Ngô Đình Khôi, Bùi Quang Chiêu, Tạ Thu Thâu, Phan văn Hùm, Trần văn Thạch, Huỳnh văn Phương, Dương văn Giáo, vợ chồng Hồ Vĩnh Ký, Lê Bá Cang, Lê văn Tình, Đào Sanh Long, Trương Tử Anh, Lý Đông A, Khái Hưng Trần Khánh Giư, Nhượng Tống v.v…

 Hình ảnh một số những nhân tài của Việt Nam bị việt cộng sát hại

 

Mặc dầu đã bị quân Pháp rượt chạy ra khỏi Sài Gòn từ tháng 9 năm 1945, bọn Cộng sản Đệ tam quốc tế dưới mặt nạ Việt Minh, một tổ chức ngoại vi của đảng Cộng sản Việt Nam thành lập tại Quảng Tây năm 1941, tiếp tục giết chết một cách dã man nhiều nhân vật tôn giáo, chánh trị và quân sự có uy tín: Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ, Khâm sai Đại thần Nguyễn văn Sâm, Giáo sư Hồ văn Ngà, Tiểu đoàn trưởng Hoàng Thọ, một số đông chức sắc và đạo hữu Cao Đài Tây Ninh, viên chức xã ấp (Ban Hội tề) và rất nhiều thường dân bị chụp mũ oan ức là Việt gian, gián điệp của Pháp. Thân hào, nhân sĩ, trí thức là mục tiêu chém giết của bọn bần cố nông bị đảng Cộng sản tuyên truyền xúi dục.
Tại Hà Nội, Bộ trưởng bộ Quốc Phòng Võ Nguyên Giáp đã mời Thứ trưởng bộ Quốc Phòng Vũ Hồng Khanh cùng ký kết với Jean Sainteny, Đại diện Cao Ủy Pháp Leon Pignon, Tạm Ước ngày 6-3-1946 để thực hiện sách lược “rước Pháp, đuổi Tàu” nhằm mục đích tận diệt lực lượng võ trang của Việt Cách và Việt Quốc sau khi quân đội của Lư Hán rút về Tàu.

Phan Văn Hùm bút danh Phù Dao (phải), là một nhà báo, nhà văn, nhà cách mạng, và là lãnh tụ phong trào Cộng sản Đệ Tứ tại Việt Nam.

Nói tóm lại, người cộng sản Việt Nam đã gọi hành động cướp chánh quyền năm 1945 là cuộc Cách mạng mùa Thu. Đúng là một cuộc Cách mạng mùa Thu chết vì đảng Cộng sản Việt Nam đã giết chết quá nhiều đồng bào ngay trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp để tóm đoạt quyền lãnh đạo kháng chiến và cướp công đấu tranh của quần chúng yêu nước tham gia kháng chiến giành độc lập cho dân tộc Việt Nam.

Đức Huỳnh Phú Sổ, giáo chủ Phật Giáo Hòa Hảo và Nhượng Tống (phải), nhà văn, nhà báo, dịch giả và là nhà cách mạng Việt Nam.

3- Thời cơ thứ ba: Trung Cộng toàn thắng tại Trung Hoa
Sau khi đánh bại Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông đã thành lập nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa ngày 1-10-1949 và công nhận ngụy quyền Hồ Chí Minh vào tháng 1 năm 1950. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa là quốc gia đầu tiên thiết lập bang giao với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vì Hồ Chí Minh là cán bộ của đảng Cộng sản Trung Quốc. La Quy Ba, cán bộ chánh trị của đảng Cộng sản Trung quốc, đã được Bắc kinh gởi sang miền thượng du Bắc Việt để làm Cố vấn cho ngụy quyền Hồ Chí Minh. Trong hai năm 1950 và 1951, người đảng viên đảng Cộng sản Trung Quốc mang bí danh Hồ Quang nay trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã trở về Tàu cầu xin viện trợ quân sự để đánh Pháp vì “bộ đội Việt Minh đã chiến đấu trong vòng vây của quân Pháp” (theo lời các cố vấn quân sự Tàu) và chính bản thân Hồ Chí Minh cũng suýt bị quân Pháp bắt sống.
Vì quyền lợi lâu dài của Đại Hán, Bắc kinh đã tích cực giúp đỡ đảng Cộng sản Việt Nam, một chi bộ của đảng Cộng sản Trung Quốc, về cả hai mặt quân sự và chánh trị. Đoàn Cố vấn quân sự Tàu do Đại tướng Trần Canh chỉ huy đã được cấp tốc gởi sang Việt Nam. Nếu không có sự trực tiếp tham chiến của Đại tướng Trần Canh và chí nguyện quân Tàu áp dụng chiến thuật biển người thì Việt Minh làm sao có thể bắt sống được hai Đại tá Pháp Le Page và Charton trong chiến dịch biên giới năm 1950? Nếu không có sự tham chiến của Pháo binh Trung Quốc dưới quyền chỉ huy của tướng Tàu Vi Quốc Thanh thì Võ Nguyên Giáp làm sao có thể chiến thắng Thiếu tướng Pháp De Castries tại Điện Biên Phủ ngày 7-5-1954? Nếu không có ý kiến của Thủ tướng Anh Winston Churchill chống lại sự can thiệp của Hoa Kỳ vào trận đánh Điện Biên Phủ thì các ổ trọng pháo của Vi Quốc Thanh và các sư đoàn bộ đội của Việt Minh còn nguyên vẹn hay không trong mưa bom của các phóng pháo cơ B29 Hoa Kỳ?

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã đưa Hồ Chí Minh về Bắc bộ phủ ngự trị miền Bắc Việt Nam. Cái giá phải trả lần đầu cho viện trợ quân sự của Trung Quốc là công hàm ngày 14-9-1958 của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Phạm văn Đồng công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hồ Chí Minh và Phạm văn Đồng đã qua đời từ lâu nhưng công hàm bán nước nầy vẫn để lại những di hại nghiêm trọng cho đất nước và dân tộc Việt Nam: mất chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và không khai thác được những tài nguyên phong phú của biển cả (hải sản, dầu khí và các khoáng sản dưới đáy biển Đông).

Dưới quyền chỉ đạo của Thái thú Trung Quốc La Quý Ba, Bắc Việt đã chánh thức tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trước khi ban hành Hiến pháp 1959. Tuân hành chỉ thị của Trung Quốc, Bắc Việt đã tiến hành Cải Cách Ruộng Đất từ năm 1951 đến năm 1956 dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Tàu để giết hại vô số địa chủ, phú nông và thân hào nhân sĩ ở nông thôn miền Bắc, Hợp Tác Hóa Nông Nghiệp để cướp ruộng đất và tài sản của nông dân, đàn áp, trừng phạt và tù đày các trí thức, nhà báo và văn nghệ sĩ, tập trung cải tạo các quân nhân, công chức của chế độ Quốc Gia Việt Nam không di tản vào Nam và lùa gia đình của họ về các vùng thâm sơn cùng cốc để khai hoang sinh sống lây lất cho đến hết kiếp người.

Về mặt kinh tế, Bắc Việt cộng sản đã áp dụng chế độ mậu dịch quốc doanh và chế độ tem phiếu, đánh tư sản mại bàn và cải tạo công thương nghiệp để dẹp bỏ tư doanh.
Về mặt an ninh nội chính, Bắc Việt cộng sản triệt để thực hiện chế độ công an trị và vay mượn chế độ hộ khẩu của Vệ Ưởng (còn gọi là Thương Ưởng) bên Tàu từ thời Chiến Quốc.

Sau khi nhưộm đỏ miền Bắc, đảng Cộng sản Việt Nam âm mưu thôn tính miền Nam, ngụy tạo ra lý do thống nhứt đất nước để thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam năm 1960 và một số tổ chức chánh trị của các trí thức thiên tả có nhiệm vụ đánh phá, khuấy rối an ninh trật tự của Việt Nam Cộng Hòa theo khuynh hướng tự do dân chủ của Tây phương. Nịnh bợ hai quan thầy Nga-Hoa để nhận viện trợ đánh miền Nam, Bắc Việt cộng sản luôn luôn gọi Trung quốc là Trung quốc vĩ đại, Liên Xô là Liên Xô vĩ đại. Trong các đại hội của đảng Cộng sản, Bắc Việt không bao giờ quên treo trên cao hình ảnh của Josef Stalin và Mao Trach Đông bên cạnh hình của Karl Marx và Vladimir Lenin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân chiêm ngưỡng, thờ phượng. Tuy nhiên, kể từ thập niên 1950, Bắc Việt đã chịu ảnh hưởng của Trung quốc nhiều hơn Liên Xô vì Stalin đã giải tán Đệ tam quốc tế cộng sản từ năm 1943, không công nhận ngụy quyền Hồ Chí Minh trước năm 1950 và cũng không viện trợ quân sự cho đảng Cộng sản Việt Nam trong suốt cuộc Chiến tranh Đông Dương (1945-1954). Tình đồng chí Việt-Xô càng thêm suy giảm sau khi Stalin qua đời, nhứt là từ khi Nikita Khrushev (1953-1964) kế vị Stalin nêu cao chủ trương xét lại chủ nghĩa cộng sản để sống chung hòa bình với chế độ tư bản. Dưới sự trị vì của Hồ Chí Minh, đảng Cộng sản Việt Nam rất dị ứng với Nikita Khrushev vì vị Tổng Bí thơ đảng Cộng sản Liên xô đã công khai chỉ trích nhà độc tài khát máu Josef Stalin, thần tượng của Hồ Chí Minh và đảng Cộng sản Việt Nam.

Nói tóm lại, sau khi toàn dân Việt yêu nước đã đứng dậy đánh đuổi thực dân Pháp, Bắc Việt đã mất độc lập đối với Trung Cộng, nhân dân miền Bắc Việt Nam mất tự do và không có hạnh phúc trong kiếp sống lầm than đói khổ và bị Công An kềm kẹp ngày đêm. Ngay cả các đảng viên cộng sản cao cấp như Bí thơ Vũ Đình Huỳnh, Thiếu tướng Lê Liêm, Thiếu tướng Đặng Kim Giang, Viện trưởng Hoàng Minh Chính, Thứ trưởng bộ Công An Lê Hồng Hà v.v…cũng bị trù dập, tù đày khi hưởng ứng chánh sách Đổi Mới của Tổng Bí thơ đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Khrushev.

Hình ảnh tội ác cộng sản giết hại dân trong những đợt cải cách ruộng đất tại miền bắc.

4- Thời cơ thứ tư: Đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm
Ngày 23-8-1963, bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gởi một công điện qua Sài Gòn ra lịnh Đại sứ Cabot Lodge đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm, vị Tổng Thống dân cử đầu tiên của miền Nam Việt Nam. Công điện nầy đã không trình Tổng Thống John F. Kennedy xét duyệt. Người quyết định đảo chánh Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm là Thứ trưởng bộ Ngoại Giao Averell Harriman vì hai lý do:
– Đại nhân đảng Dân Chủ Hoa Kỳ Harriman không ưa Tổng Thống Ngô Đình Diệm;

– Tổng Thống Ngô Đình Diệm không đồng ý cho Hoa Kỳ đem quân chiến đấu sang Nam Việt Nam, lo ngại mất chánh nghĩa của cuộc chiến đấu bảo vệ tự do của nhân dân miền Nam.

Ngày 1-11-1963, cuộc đảo chánh Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã tiến hành thuận lợi dưới sự chỉ huy của Trung tá CIA Lucien Conein. Ngày 2-11-1963, Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ là Cố vấn Chánh trị Ngô Đình Nhu đã bị thảm sát trên đường tướng Mai Hữu Xuân áp giải hai đại nhân vật nầy từ nhà thờ Cha Tam ở Chợ Lớn về bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Sau khi lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng gồm một số tướng lãnh và Đại tá đã hủy bỏ Hiến pháp ngày 26-10-1955 và giựt sập nền Đệ nhứt Cộng Hòa.

Khi nghe tin Tổng Thống Ngô Đình Diệm, một đối thủ chánh trị lợi hại, đã bị giết chết, Hồ Chí Minh cười to và nói đại ý như sau: Trời đã giúp ta, khiến cho Hoa Kỳ khờ dại giết chết Ngô Đình Diệm.
Lời phê phán của Hồ Chí Minh rất đúng. Thật vậy, sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị sát hại, không có một lãnh tụ nào của các chế độ chuyển tiếp có đủ bản lãnh và uy tín để đối phó với Hồ Chí Minh. Mặt khác, quyết định của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng hủy bỏ quốc sách Ấp Chiến Lược của ông Cố vấn Chánh trị Ngô Đình Nhu đã giúp cho cán binh cộng sản ung thối nông thôn miền Nam. Cộng sản Bắc Việt đã lợi dụng sự suy yếu rõ rệt của Việt Nam Cộng Hòa sau khi Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu qua đời để tăng cường xâm nhập miền Nam, sử dụng con đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào. Để cứu nguy Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ đã lập tức đổ quân vào miền Nam Việt Nam, kể từ tháng 2 năm 1965. Đúng như lời cảnh giác của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, sự can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ vào cuộc nội chiến giữa miền Nam và miền Bắc Việt Nam đã gây ra một công luận bất lợi cho Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hòa trên chánh trường thế giới. Phong trào phản chiến đã phát triển ngày càng mạnh mẽ tại Hoa Kỳ, đòi hỏi Hoa Kỳ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Báo chí và hệ thống truyền thông Mỹ không ngớt chỉ trích gay gắt Việt Nam Cộng Hòa một cách bất công.

5-Thời cơ thứ năm: Hoa Kỳ quan hệ ngoại giao với Trung quốc.
Tháng 2 năm 1972, Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon đã đến Thượng Hải hội kiến với Mao Trạch Đông, Chủ tịch đảng Cộng sản Trung Quốc. Một thông cáo chung đã được công bố tại Thượng Hải để chánh thức thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Trung quốc và Hoa Kỳ. Trước khi hội kiến với Mao Trạch Đông, Tổng Thống Nixon đã ghi trong sổ tay hai nhượng bộ đối với Trung quốc: Đài Loan và Nam Việt Nam. Đổi lại, Trung quốc sẽ cho giới tư bản Mỹ đầu tư tại nước rộng lớn nầy và buôn bán sản phẩm giữa hai nước. Ngoài thông cáo chung Thượng Hải, Tiến sĩ Henry Kisssinger, Cố vấn Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ, còn nói thẳng với Chu Ân Lai, Thủ tướng Quốc Vụ Viện Trung quốc: Hoa Kỳ đã bang giao với Trung quốc thì cũng có thể quan hệ bình thường với Bắc Việt. Để thực hiện sự nhượng bộ đối với Trung quốc tại Nam Việt Nam, Tiến sĩ Kissinger đã đi đêm với Lê Đức Thọ, Cố vấn Phái đoàn hòa đàm của Bắc Việt, và chấp nhận hầu hết các điều khoản của bản dự thảo hiệp định Paris do Lê Đức Thọ soạn thảo. Hoa Kỳ đã cưỡng bách Việt Nam Cộng Hòa phải chấp thuận bản dự thảo hiệp định nầy. Để dẹp bỏ sự chống đối của Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn văn Thiệu, Đại tướng Alexander Haig, Phụ tá của Cố vấn Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon đã không ngần ngại đe dọa mạng sống của Tổng Thống một nước đồng minh. Hiệp định Paris ký kết ngày 27-1-1973 là một bản án khai tử Việt Nam Cộng Hòa, một hiệp định quốc tế được long trọng ký kết trước sự hiện diện của Tổng Thơ Ký Liên Hiệp Quốc bởi 12 quốc gia trong đó có 5 nước thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An để rồi bị xé bỏ ngay sau đó không một ai thương tiếc. Tiếp theo việc ký kết hiệp định Paris, Hoa Kỳ đã chấm dứt viện trợ quân sự và tất cả các khoản viện trợ khác cho Việt Nam Cộng Hòa, cưỡng bách sự từ chức của Tổng Thống dân cử Nguyễn văn Thiệu để thúc đẩy nhanh chóng sự sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa.
Sự thay đồi chiến lược toàn cầu của Hoa Kỳ đã giúp cho Hải quân Trung quốc tiến chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa ngày 19-1-1974 trước sự bàng quang vô cảm của Đệ thất hạm đội Hoa Kỳ và ngầm cho phép cộng sản Bắc Việt xua 13 sư đoàn công khai vượt vĩ tuyến 17 bất chấp hiệp định quốc tế Geneve ký kết ngày 20-7-1954 để tràn ngập miền Nam. Bắc Việt cộng sản đã chiến thắng trong cuộc Chiến tranh Việt Nam nhưng đã vi phạm trắng trợn hai hiệp định Geneve và Paris. Tuy nhiên, Liên hiệp quốc, Hoa Kỳ và các nước đã ký kết hai hiệp định quốc tế nầy đều đồng tình làm ngơ trước sự vi phạm luật pháp quốc tế nầy. Nếu Hoa Kỳ không chuyển giao miền Nam Việt Nam cho đế quốc cộng sản phương Đông và không chấm dứt mọi viện trợ thì làm sao Bắc Việt cộng sản có thể thôn tính Việt Nam Cộng Hòa?
Sau ngày 30 tháng tư năm 1975, kẻ chiến thắng đã thiết lập một chế độ cộng sản độc tài độc đảng ngự trị toàn cõi Việt Nam cho đến ngày nay. Dưới quyền lãnh đạo chuyên chế của Lê Duẫn, Việt Nam đã “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” để đem lại nghèo đói cho quảng đại quần chúng, đưa vô số người dân vào ngục tù và triệt tiêu tất cả quyền tự do căn bản của dân tộc Việt. Mô hình cai trị của miền Bắc xã hội chủ nghĩa lập tức áp đặt trên toàn thể lãnh thổ Việt Nam.
Cái giá phải trả cho sự thôn tính miền Nam là 10 tỷ Mỹ kim mua các võ khí nặng của Liên Xô và 300 tỷ Mỹ kim mua các phương tiện chiến tranh khác của Trung Cộng. Riêng đối với Trung Cộng, đảng Cộng sản Việt Nam đã phải trả nợ chiến tranh bằng lãnh thổ, quần đảo và biển Đông.
Tự hào đã chiến thắng đế quốc Mỹ năm 1975 sau khi đánh đuổi phát xít Nhựt năm 1945 và thực dân Pháp năm 1954, đảng Cộng sản Việt Nam đã công khai phơi bày lý lịch cộng sản của mình và tự nguyện làm tiền đồn tại Đông Nam Á của chủ nghĩa cộng sản quốc tế với tên nước rất hách dịch: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Nhưng sau khi đế quốc cộng sản Liên Xô sụp đổ năm 1991, Cộng sản Việt Nam đã khấu đầu thần phục đế quốc cộng sản Đại Hán, đồng thời khúm núm ngữa tay cầu xin viện trợ của các cựu thù Hoa Kỳ, Nhựt bổn, Pháp, các nước Tây Âu và các định chế tài chánh quốc tế. Vì mưu cầu quyền lực và tích lủy tài sản riêng tư khổng lồ của họ cho các đời con cháu, các lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam đã tình nguyện làm Thái thú cho Trung quốc và âm thầm sáp nhập dần dần toàn bộ lãnh thổ và biển Đông của Việt Nam vào Trung quốc để biến thành một quận huyện của Hán tộc theo yêu sách của Giang Trạch Dân tại hội nghị Thành Đô năm 1990.

 Bản đồ đế quốc Mông Cổ trải dài từ Á sang Âu Châu từ 1206 -1294 suy tàn.

KẾT LUẬN
Trong 5 thời cơ kể trên, Hoa Kỳ đã tạo ra 3 thời cơ thuận lợi cho đảng Cộng sản Việt Nam khai thác để làm chủ đất nước Việt Nam và thiết lập tại Hà Nội một triều đình phong kiến có toàn quyền ban bố chức vị, vàng bạc và đất đai cho một thiểu số cán bộ, đảng viên cộng sản (3 triệu người) trong tổng số 90 triệu đồng bào trong nước. Trong cuộc nội chiến giữa người Việt Nam kéo dài 30 năm (1945-1975), đảng Cộng sản đã đạt thắng lợi cuối cùng nhờ bất chấp luật pháp quốc tế và có viện trợ hùng hậu của Trung quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, các lãnh tụ cộng sản cũng biết lợi dụng các thời cơ thuận lợi để cướp được chánh quyền trong cả nước.

Về mặt tâm linh, chính Thượng đế đã thiết lập mọi chánh quyền trên quả đất nầy để giúp dân lành và diệt trừ hung bạo. (Roma 13:1-4). Nếu không giúp dân lành mà lại sử dụng bọn xã hội đen gian ác, bất lương để cướp của, giết người, đánh đập hà hiếp lương dân, chánh quyền đó chắc chắn sẽ bị diệt vong vì không làm đúng nhiệm vụ do Thượng đế giao phó. Ngoài ra, Thượng đế cũng đã phán rằng không có đế quốc nào không suy tàn (Daniel 2:24-49). Tự cổ chí kim, các đế quốc hùng mạnh như đế quốc Assyria (Assyrian Empire), Babylon (Babylonian Empire), Ba Tư (Persian Empire), La Mã (Roman Empire), Mông Cổ (Mongolian Empire) , Thổ Nhĩ Kỳ (Ottoman Empire), Liên Xô (Soviet Empire) đã lần lượt sụp đổ. Ngày tiêu vong của đế quốc cộng sản Hán tộc (Han Empire) phương Bắc không còn xa. Chế độ cộng sản Việt Nam cũng sẽ cùng chung số phận của quan thầy Bắc kinh.

Phạm Đình Hưng

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Chúng Tôi Muốn Tự Do


Cho Bác Ăn Thịt Trâu – Bồ Tùng Ma

Nhân dịp Xuân về, Blog Mười Sáu thân chúc quý độc giả một năm mới an khang thinh vượng.

Bài đọc suy gẫm: Cho Bác Ăn Thịt Trâu !  hồi ký về thời ở tù việt cộng, bài viết trên trang Viết Về Nước Mỹ của Việt Báo online còn có tựa là “Chuyện Tết trong trại tù Tàn Binh” của tác giả Bồ Tùng Ma.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

Bồ Tùng Ma là bút hiệu của Nguyễn Tân. Trước 1975, ông là Hải Quân Trung Tá VNCH. Sau đó là 10 năm tù cộng sản, và định cư tại Mỹ theo diện H.O. Ông từng nhận các giải bán kết Viết Về Nước Mỹ 2001, giải Việt Bút 2008, và từ 5 năm qua, là thành viên “Ban Tuyển Chọn Chung Kết” Giải Viết Về Nước Mỹ. Bài sau đây trích từ báo xuân Việt Báo Tết Giáp Ngọ 2014, không viết về nước Mỹ, mà về một loại ký ức sâu đậm của nhiều cựu chiến binh Việt Nam Cộng Hoà trong trại tù cộng sản.

Tôi muốn nói đến cái Tết đầu tiên của tôi trong trại tù cải tạo mà hồi đó, tháng 5 năm 1975, ở vùng Ba Tơ thuộc tỉnh Quảng Ngãi có tên là “Trại tù tàn binh”. Sau này tôi bị chuyển qua nhiều trại tù, nhưng không có trại tù nào mang cái tên rất thực như vậy. Tôi hiểu ra rằng đây là trại tù kiểu du kích địa phương “tự biên tự diễn” nên tương đối còn lỏng lẻo, ít khắc nghiệt hơn những trại tù chính qui sau này. Chính vì vậy và nhất là vì Nga, vợ tôi, đã lên thăm tôi nhiều lần ở đây nên nó đã trở thành ấn tượng sâu đậm nhất trong đời tù của tôi.

Ngày 3 tháng 5 năm 1975, tôi và người em rể bị bắt tại Quảng Ngãi. Sau một đêm ngủ trong ngôi đình cùng với khoảng 10 người khác, chúng tôi bị giải lên Tịnh Giang. “Học tập lao động” đầu tiên của chúng tôi là vác gạo, mỗi người một bao gạo chừng 25 ký. Không nặng lắm đối với sức lực tôi lúc đó, nhưng lại nặng đối với với Sơn, em rể tôi. Nó vác gạo đi được chừng một cây số thì vất bao gạo xuống đất. Lính giải giao bảo nó tiếp tục vác đi, nhưng nó nói:
– Chân tôi đau quá, bộ đội ơi!
Lính giải giao nói:
– Bao gạo có tí ti mà vác không nổi. Làm en chi lạ! Anh mô vác giùm được không? Chỉ tiêu phải đem hết số gạo này đi. Không, lấy chi mà en. Có làm mới có en chớ!
Tôi đã giải quyết bằng cách vác luôn 2 bao.

Chúng tôi đi qua những vùng ven núi nhiều dấu vết chiến tranh, cây cối xác xơ, nhà cửa xiu vẹo, mặt đất đầy hố bom. Nhưng những người đi đường đều có vẻ mặt hân hoan. Tôi thử tìm trên nét mặt họ vẻ lo sợ tuyệt vọng như chúng tôi, hay ít ra cũng biểu hiện ít nhiều chia sẻ với chúng tôi về số phận không may này, nhưng không tìm thấy được. Tôi ngạc nhiên nhưng rồi chợt hiểu. Họ là dân vùng này và họ đang tin tưởng về tương lai huy hoàng chế độ mới sẽ đem đến.
Khi chúng tôi đến gần một chân núi, có vài ba thanh thiếu niên đứng bên bờ ruộng chỉ trỏ chúng tôi. Một đứa chừng 16 tuổi nói lớn:
-Anh ni là Thiếu úy, anh ni là Trung úy, anh nớ là Đại úy…
Chàng em rể tôi không nỡ để tôi vác luôn hai bao gạo, đến đỡ bao gạo trên vai tôi:
– Nó nói chi vậy, anh?
– Ý nó nói trước đây tụi mình là sĩ quan mà bây giờ phải vác gạo.
– Đ. mẹ nó! Tao mà…
– Thôi!
Đến cái xóm nhỏ, cả bọn ngồi nghỉ một lát rồi giúp dân đào mương. Một bé gái chừng 8, 9 tuổi, mặt mũi hiền hậu dễ thương đến bên chúng tôi. Tôi đang định hỏi em mấy tuổi, thì em đã đọc hai câu thơ:
Mỹ thua Mỹ cút về làng
Bọn ngụy ở lại sắp hàng đào mương.

Xong nó chạy nhanh về phía đám phụ nữ đang ngồi dưới mái hiên. Một chị kề miệng vào tai nó nói gì đó nhưng nó lắc đầu.
Hai lính giải giao bảo chúng tôi lên đường. Lại đến một xóm nhỏ. Một lính giải giao vào nhà dân rồi đi ra cùng với một người đàn ông. Người đàn ông liếc nhìn chúng tôi, nói lớn:
– Thứ đó đem bén hết cho rồi. Nước đâu mà cho uống.
Tuy nói vậy, nhưng anh ta cũng để chiếc gàu múc nước trước mặt chúng tôi.
Sau khi mượn chảo nấu vội một ít nước để uống và mang theo, chúng tôi lên đường. Sơn đi bên tôi, nói nhỏ:
– Có lẽ tụi hắn đem mình đi bắn.
– Không đâu.
Tôi trả lời với giọng chắc nịch. Tôi biết họ sẽ không bao giờ đối xử với chúng tôi một cách nhanh gọn như vậy, mà sẽ sử dụng chúng tôi bằng một cách nào đó có lợi cho họ nhất.
Tuy nghĩ vậy nhưng cho tới khi đến Tịnh Giang, tôi mới chắc mình vẫn còn sống, và sẽ sống dài dài trong ê chề, cực nhọc và đói khát của kiếp tù đày dưới chế độ này.
Ở trại Tịnh Giang một cán bộ tỉnh (?) nói cho chúng tôi nghe về chính sách khoan hồng. Tôi nhớ mãi câu nói sau đây của anh ta:
– Các anh cũng thấy nhân dân căm thù các anh như sao rồi. Nếu không tập trung các anh lại, tánh mệnh các anh rất nguy hiểm.
Nghe nói, tôi nghĩ ngay đến em bé đọc mấy câu thơ và anh nông dân đòi đem chúng tôi đi bắn. Sau này tôi hỏi vài anh em tù, họ cũng cho biết đã gặp hai người đó với những câu nói đó trên đường đi.

Tịnh Giang là trại chuyển tiếp, chưa có nội quy chặt chẽ, có nhiều anh em vẫn còn tin tưởng vào “Chích sách 12 điểm của Mặt trận” vì thấy được thân nhân thăm nuôi dễ dàng, nhất là thấy người trưởng trại có vẻ cởi mở dễ dãi, đi hết chỗ này đến chỗ khác, cắt nghĩa chuyện này chuyện kia. Có những anh lính trẻ còn gọi chúng tôi là anh và xưng em. Phải chăng họ cũng tin tưởng vào chính sách mười hai điểm? Tất cả đều bị lừa, không chừa một ai. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn phục cách lừa phỉnh của họ trong việc kêu gọi trình diện “học tập”.
Ở trại Tịnh Giang tỉnh thoảng có nhiều anh em được ra về, thường là các công chức nhỏ hay sĩ quan cấp thấp. Chính việc này làm chúng tôi nuôi nhiều hy vọng. Chừng ba tháng sau kể từ ngày tập trung đến đây, trại chỉ còn lại một nữa số “trại viên”, trong số này có tôi và em rể tôi. Chúng tôi bị chuyển đến Trại 2 Tổng trại 3. Tổng trại này thuộc hậu cần của một trung đoàn. Trước khi lên xe đi, chúng tôi được phát áo quần mới, quân phục “ngụy”, có cả nón nhựa, ba-lô, võng… Nếu có thêm giày bốt-đờ-sô (Botte de saut) và khẩu súng, chúng tôi chẳng khác xưa bao nhiêu.
Đến nơi không thấy trại đâu cả mà chỉ thấy bên kia suối một gò đất lớn với cây cối lưa thưa, lớn có nhỏ có. Sau này tôi được biết những cây nhỏ là những cây hoa mai trắng mọc hoang chưa ra hoa. Chung quanh gò đất lớn này là ruộng nương. Lối vào gò đất, ngay cạnh dãy nhà bộ đội có tấm bảng đỏ với hàng chữ lớn màu vàng  ” TRẠI TÙ TÀN BINH “.

Chúng tôi được phát cơm ăn với mắm. Sau khi ăn uống tất cả mắc võng vào những thân cây để nghỉ ngơi. Nửa đêm thức giấc, nghe chung quanh có tiếng dế, tiếng ểnh ương, tiếng ếch nhái… kêu não nuột. Nhưng rồi sau ba ngày những tiếng kêu não nuột này không còn nữa. Chúng đã bị tù tàn binh “càn quét” làm thực phẩm hoặc trốn chạy đi nơi khác. Chỉ còn lại tiếng rì rào của gió trong lá cây, tiếng thở dài của tù, tiếng mớ ngủ: “Đại bàng! Nghe rõ 5/5″, “Đợi lệnh thẩm quyền”… Sau hai tuần năm cái lán lớn tranh tre được dựng lên, trong đó có bàn thờ “bác”. Ngoài ra còn có nhà bếp, cầu tiêu, giếng, nhà chứa sách báo, trạm xá, hội trường với tấm ảnh lớn của “bác” đưa bàn tay lên vẫy chào… Thật trớ trêu, trước đây “bác” đòi “đánh cho ngụy nhào”, mà nay “bác” nhìn chúng tôi cười thân thiện, lại còn đưa 5 ngón tay lên vẫy nữa. Anh Thành, tiểu đoàn trưởng bộ binh, nhìn ảnh Hồ Chí Minh nói đùa mà miệng như méo:
– Bác đưa năm ngón tay lên là có ý nói cải tạo 5 năm đó!
– Đừng nói dại. 5 tháng – Anh Tâm, một sĩ quan cảnh sát trả lời một cách… hồ hởi nhưng miệng còn méo hơn cả anh Thành

Hội trường là nơi để tù học tập chính trị, làm bản kiểm điểm, xem trình diễn văn nghệ: Ngâm thơ “bác”, ngâm thơ Tố Hữu, nhạc cảnh “Tiếng chày trên sóc Bom Bo”…
Tất cả công trình xây dựng ở đây đều do bàn tay lao động của anh em tù, trong đó có nhiều người đã tốt nghiệp đại học, một bác sĩ, hai kỹ sư, những người mà mấy tháng trước đây chưa hề biết cái dùi, cái đục, cái rựa ra sao.

*
Lúc bấy giờ trời đã sang Xuân, hoa mai trắng nở đầy trên các ngọn đồi chung quanh. Trong trại chỉ còn lác đác nơi này nơi kia những gốc mai may mắn còn sót lại. Chúng cố vươn lên, đâm chồi ra hoa, làm cho trại tù trông tươi thắm, không buồn rầu u ám như mấy tháng trước đây.

Vào khoảng cuối tháng 1 năm 1976 tức chỉ còn chừng 1 tuần nữa là Tết Bính Thìn, đã có người đi thăm nuôi. Nga có nhắn tin trước sẽ thăm tôi đúng vào ngày đưa ông Táo về Trời. Tôi còn nhớ Âm Lịch và Dương Lịch ngày này đều là 23, chỉ khác tháng. Sáng sớm hôm đó đứng ở một gò đất cao nhất trong trại nhìn ra khu thăm nuôi cách trại mấy trăm thước, tôi nhận ngay ra Nga trong đám đông, phần nhiều là phụ nữ. Vợ tôi đang ngồi cạnh một cái giỏ lớn nói chuyện với bà Hiền, cũng đi thăm chồng. Lần này Nga mặc áo nâu, quần đen và hình như mang… dép râu. “Thời trang” mới! Một lát sau Nga đi ra nơi có mấy khóm mai trắng, nhìn vào trại.

Khi tôi chuẩn bị đi gặp Nga, Y Bret, một sĩ quan địa phương quân gốc Thượng Gia-Ray, theo đạo Tin Lành, dúi vào tay tôi một mảnh giấy. Tôi biết đây là thư anh ta gởi cho vợ và nội dung lần nào cũng như lần nào: Sắp về nay mai, tin tưởng vào chánh sách khoan hồng nhân đạo của cách mạng, nên đi nhà thờ thường xuyên, không làm điều tội lỗi, sẽ có ngày phán xét. Nghe nói vợ Y Bret còn rất trẻ và đẹp, hắn ta rất mê vợ, sợ mất vợ nên đã nhờ… Chúa giữ vợ theo cách đó. Bản thân Y Bret không ngoan đạo, hầu như chỉ đi nhà thờ một lần vào ngày cưới.

Nga đưa cặp mắt tròn xoe nhìn tôi trong bộ quân phục “ngụy”, đầu đội nón nhựa, vai mang ba-lô. Cái ba-lô này là để đựng đồ thăm nuôi. Bà Hiền đến gần bên tôi, nói nhỏ:
– Trông oai quá! Mới thấy mấy người đi ra, mừng hụt, cứ tưởng như… giải phóng trở lại.
Lần thăm nuôi này khá dễ dãi. Từng cặp tìm một góc khuất nào đó ngồi nói chuyện cả giờ. Nga cho biết đã đem xe đạp cùng với giỏ đồ ăn theo xe đò. Đến bến xe Nga chở giỏ đồ ăn bằng xe đạp đến trại. Xe đạp nội hóa, thắng bị đứt, tụt dốc “rơi tự do”, Nga phải cho xe ủi vào một đống rơm bên đường, mới không bị thương nặng.
– Thôi, em đừng đi thăm nữa. Anh nghĩ anh cũng sắp về. Người ta về nhiều lắm.
Tôi nói vậy nhưng rất muốn Nga đi thăm. Bây giờ mỗi lần nghĩ đến việc này tôi rất xót xa. Tôi đã làm khổ Nga suốt 10 năm. Hơn hai năm ở trại này Nga đã thăm tôi mỗi tháng một lần. Đã 3 hay 4 lần chúng tôi cùng nhau ngồi dưới mấy cành hoa mai trắng. Đó là vào mùa Xuân. Qua mùa Hạ, Thu, Đông những cành mai trơ trụi trông thật tội nghiệp, nhưng chúng tôi vẫn đến đây khi Nga lên thăm.

Mới hôm qua chuẩn bị thực phẩm cho mười ngày, nay đã hơn muời năm… Người sĩ quan VNCH sau khi đi tù việt cộng về, tóc râu bạc trắng.

Mỗi lần được thăm, ngay cả khi chỉ nhận được một bức thư ngắn của Nga vỏn vẹn có mấy câu mà lúc nào cũng gần như giống nhau “Anh học tập tốt, để sớm về sum họp. Em và Ba Mẹ vẫn khỏe. Con heo mẹ nuôi đã to béo như con bê…” cũng đủ làm tôi hạnh phúc.

Trước Tết 4 ngày một số tù, trong đó có Y Bret, được chọn đi hái lá dang, một loại lá to và bền, để gói bánh chưng. Đây là loại lao động nhẹ nhàng và thích thú, có thể thong dong trong rừng nguyên cả buổi sáng. Y Bret thồ về một bó lớn lá dang, thêm một bó chè tươi trên vai. Quản giáo thấy vậy, bảo anh đi hái chè nấu nước cho khu thăm nuôi. Nấu nước ở đây có thể ngồi canh lửa nguyên cả ngày, từ sáng sớm đến tối mịt. Nếu nhằm ngày này có vợ lên thăm thì thật tuyệt.
Y Bret là người ít được thăm nuôi nhất, từ ngày bị tập trung đến nay, vợ anh chỉ thăm anh có một lần. Nhưng hình như lá thư anh ta nhờ vợ tôi gởi có hiệu lực, vợ Y Bret đã thăm anh đúng vào ngày anh nấu nước chè ở khu thăm nuôi. Hai vợ chồng ở bên nhau 10 tiếng đồng hồ. Buổi tối vợ Y Bret ngủ nhờ nhà một người dân tốt bụng, để sáng hôm sau gặp chồng lần nữa. Y Bret trở về trại với giỏ đồ tiếp tế, mặt mày hớn hở. Một anh hỏi:
– Ở lâu bên nhau như rứa, có chấm mút chút đỉnh nào không?
– Dĩ nhiên là có-Y Bret cười nói.
– “Khô” hay “ướt”?
– Sơ sơ.
Ngày hôm sau Y Bret cũng được quản giáo trại cho đi nấu nước chè. Buổi tối Y Bret về trại với vẻ mặt âu sầu, ai hỏi gì cũng không nói. Nhóm tù đẵn gỗ thì thầm với nhau nhưng cũng lọt ra ngoài, đến nhóm “anh nuôi”:
– Buổi trưa Y Bret hẹn vợ vào một đám sắn. Hai anh chị đã “làm chuyện đó” và bị quản giáo bắt tại trận. Quản giáo ra một điều kiện gì đó và dắt vợ Y Bret đi đến một đám sắn khác. Nhóm tù đẵn gỗ, ai cũng thấy tận mắt… nhưng không dám và không nỡ nhìn lâu.
Ngày hôm sau Y Bret xin gia nhập nhóm đẵn gỗ dù loại lao động này khá nặng nhọc so với tuổi tác của anh ta. Loại lao động này bắt buộc phải đạt chỉ tiêu. Cái chỉ tiêu này bằng… cao su, nó có thể kéo dài ra theo lòng tham của quản giáo. Quản giáo dùng “chỗ cao su” bị kéo dài này bán lấy tiền đút túi riêng. Ở vùng này, gỗ và quế là vàng.

Tam Tạng thỉnh kinh
Tù binh thỉnh gỗ
Cùng khổ như nhau.

Khổ nhưng những anh tù trẻ, có sức lực vẫn thích đi đẵn gỗ. Như thế là vì tự do. Bộ đội giữ tù đẵn gỗ thường mắc võng ngủ đâu đó, để tù tự do đi vào rừng. Y Bret đã đi đẵn gỗ và không trở về. Đám tù đẵn gỗ nói Y Bret đã theo Fulro. Liền sau đó chúng tôi bị dồn vào lán, không được bước ra khỏi cửa. Lán tôi ở được cung cấp ba lò than để hâm đồ ăn. Sắp đến Tết đồ thăm nuôi khá nhiều. Mùi đồ ăn, nhất là lạp xường nướng lan tỏa khắp phòng. Anh Cần. “con bà Xơ” (tức không có ai thăm nuôi) chửi anh Bắc đang nướng lạp xường:
– Đ. mẹ! Đem lạp xường ăn sống đi, đừng có nướng nữa, chọc tức mũi người ta.
Anh Liên, người to lớn, cũng “con bà Xơ”, ngược lại, rất thích ngửi mùi đồ ăn. Anh đi tới đi lui, xoay mặt vào cái lò đang hâm đồ ăn, hít hít. Có người hỏi tại sao anh Liên thích ngửi như vậy, anh nói:
– Cũng như người thích xem phim con heo. Xem, không làm gì cả, cũng sướng.
– Nói chi lạ rứa! Xem phim xong có cách giải quyết. Còn sau khi ngửi đồ ăn, giải quyết cách nào?
– Nằm ngủ, mơ thấy ăn cũng sướng.
– Tui mơ thấy ăn bánh mì, nhai đi nhai lại, nước miếng ứa ra, chua lè. Sướng chi mà sướng
– Tui hái một mớ rau răm, xin một ít muối tiêu, ăn với miếng sắn, giống y như ăn hột vịt lộn.
Anh Liên vừa nói vừa nuốt nước miếng.
Anh Liên nói vậy nhưng sau khi ngửi nhiều lần, cằm anh bạnh ra, hai hạch nước miếng hai bên cằm không được “thỏa mãn” sưng lên.

Trong hoàn cảnh này anh em tù cũng có cách giúp đỡ nhau phần nào. Thí dụ như người được thăm nuôi giúp “con bà Xơ” bằng cách “thuê” họ hái rau, quả, đun nấu. Kẻ có của người có công. Họ ăn chung với nhau.

Anh Liên phải “làm thuê” cho hai “ông chủ” mới đủ ăn. Anh ăn mạnh lắm. Anh có tài chế biến món ăn, thí dụ như làm mì Quảng. Anh mài sắn trên miếng thiết đục lỗ, trải bột sắn trên lá chuối rồi cuộn lại, bỏ vào lon guigoz nấu. Khi sắn chín, anh lấy sắn ra, thái như thái phở. Rau có sẵn, không rau muống thì rau tàu bay. Nước dùng thường là ruốc nấu với nhái, hay bất cứ con gì… đưa lưng lên trời, nghĩa là không phải con người.
*
Nói đến nấu nướng ăn uống trong tù, phải nói đến cái lon guigoz. Cái lon này không phải chỉ dùng để ăn uống, đựng đồ ăn, mà còn để nấu nướng. Kẹt lắm có thể dùng để tiểu tiện, đại tiện. Nó có cái nắp đậy rất kín, kiến hay các loại côn trùng khác không lọt vào trong lon được. Cái lon này là lon đựng sữa bột do Hòa Lan sản xuất. Cái lon guigoz thông dụng trong trại tù đến nỗi có nhiều bộ đội tưởng lon được sản xuất cho tù… đi ở tù. Ở Mỹ, các hội đoàn thường tổ chức vinh danh người này người nọ, mà không tổ chức vinh danh Công ty sửa bột Guigoz là một thiếu sót lớn.

Trước Tết 2 ngày tổ chăn nuôi dắt một con trâu già ốm yếu vào cột nơi cái cọc tre gần nhà bếp. Con trâu già đưa cặp mắt lờ đờ và hiền từ nhìn đám tù tàn binh. Đám tù cũng nhìn con trâu, vừa tội nghiệp, thông cảm số phận của nó, không khác gì mình; vừa buồn vì thấy nó già và ốm, không đủ sức làm thỏa mãn cái dạ dày lúc nào cũng xẹp của họ. Con trâu không biết nó sắp chết thảm. Cho đến khi bốn chân bị tròng vào bốn sợi giây mà nó cũng chỉ đưa chân bước một bước ngắn như đứng lâu bị mỏi. Đến khi một cú búa tạ đập mạnh vào đầu nó mới nhìn mọi người như ngạc nhiên, ứa nước mắt. Không biết nó ứa nước mắt vì quá đau hay vì quá buồn cho thân phận mình. Nhưng nó vẫn chưa gục. Một cú búa tạ nữa đập vào đầu, nó chỉ hơi khuỵu xuống. Cho đến khi bốn lát rìu bổ mạnh vào bốn gót chân, gân lòi ra trắng phếu, thêm mấy phát súng vào đầu, nó mới gục hẳn. Một anh tù, thợ hớt tóc trong trại, xách lon guigoz đến bên con trâu vừa bị thọc huyết, múc một lon huyết mang đi. Anh ta được trại tin tưởng cho làm thợ hớt tóc, một công việc nhàn hạ và được phép giữ dao kéo…, được ưu tiên ăn huyết, một “vị thuốc” có thể làm tiêu hay hút (?) những sợi tóc li ti của tù bay vào cuống phổi khi anh ta hành nghề. Đáng lẽ anh ta không phải đi tù. Anh ta là lao công đào binh trình diện “Cách mạng” nhưng khai mình là sĩ quan vì nghe nói tù binh sĩ quan có quy chế cao, một ngày 8, 9 lạng gạo, có cá, có thịt, chứ không phải 6, 7 lạng. Trại cũng biết anh ta khai ẩu nhưng lờ đi. Có thêm cho anh ta lạng gạo, lạng thịt nào đâu mà lo. Cũng chẳng ai truy ra việc bắt lầm, ngay cả bắn lầm. Miễn đừng bỏ sót là được.

Ngày cuối cùng của năm Ất Mẹo, không nhớ 29 hay 30, bữa ăn sáng, thay vì ăn với mắm, tù tàn binh được “bồi dưỡng” trứng vịt dằm nước mắm. Hai người một quả trứng! Ở Mỹ mỗi khi nghe nói ăn trứng nhiều không tốt, trứng là ổ chứa cholesterol xấu, tôi lại nhớ như in việc anh em tù bàn thảo cách chia quả trứng. Cắt quả trứng theo chiều ngang sẽ có đầu lớn đầu nhỏ, khó cắt hai phần bằng nhau được; cắt theo chiều dọc thì quả trứng không chịu nằm yên, nó lăn đi như hòn bi-da, cũng khó cắt cho đều được. Có người đề nghị hai người sở hữu quả trứng bốc thăm, ai thắng ăn nguyên quả trứng. Đề nghị này bị bãi bỏ vì sẽ không có ai nỡ lòng ăn nguyên quả trứng để bạn mình ăn cơm với muối. Cuối cùng “phương án” sau đây được biểu quyết: Dằm nát trứng trong nước mắm, rồi lấy muỗng múc chia đều.

Ngày Mồng Một, chúng tôi được phát mỗi người một cái bánh chưng không có nhân và một tô thịt trâu nấu với lá lốt. Có anh theo đạo ông bà, để cái bánh chưng trên chiếc bàn tre, vái mấy vái cúng tổ tiên trước khi trịnh trọng lột miếng lá giang gói bên ngoài. Chưa cắn mà nước miếng đã ứa ra. Có anh theo Công Giáo, đưa tay làm dấu Thánh Giá trước khi gắp miếng thịt trâu. Chắc con trâu ở suối vàng cũng tự hào thấy mình được “coi trọng” như vậy. Không phải chỉ vậy thôi đâu. Có một anh tù tên Đông, không biết vì ngớ ngẩn hay muốn mỉa mai, đã bưng tô thịt trâu và cái bánh chưng để trên bàn thờ “bác”, rồi lâm râm khấn vái. Quản giáo biết được, bắt Đông làm kiểm điểm, sau đó Đông bị cùm 1 chân. Tôi không còn nhớ anh ta đã bị cùm bao lâu, chỉ nhớ sau khi anh ta được tháo cùm, Sơn em rể tôi, thế chỗ anh ta. Số là gặp anh ta ở đâu, Sơn cũng nói oang oang:
– Sao lại cho bác ăn thịt trâu. Bị cùm là đúng.
Sơn học tập không tốt, kể cả lao động và tư tưởng, nhưng anh ta chỉ ăn có một cái Tết ở đây. Về sau Sơn rất hận việc này. Nó chỉ ở tù có 1 năm 6 tháng nên cả gia đình không đi Mỹ theo diện HO được.

Ai cũng biết không phải học tập tốt thì về sớm. Về sớm hay muộn căn cứ theo bản kiểm điểm, cấp bậc, chức vụ, quân, binh, chủng, ngành, quá trình hoạt động “chống phá cách mạng”. Sau đó còn tùy theo tình hình an ninh chính trị, quốc phòng…

Sau khi “trồng cây nhớ ơn Bác” trở về, chúng tôi được xem văn nghệ, xem múa lân, nghỉ ngơi. Tổ bếp được tăng phái thêm người nên tương đối chúng tôi cũng đỡ hơn. Lao động ở bếp ai cũng thích, vì “nhà bếp đánh chết cũng no”. Không phải nhà bếp ăn chặn mà “ăn thừa”. Cái chảo nấu thịt còn váng mỡ, có thể cho thêm chút nước vào đó, thêm ít rau quả, để dành hôm khác ăn; hay có thể chiên rau muống ăn liền. Chính việc “ăn thừa” này mà tổ bếp mang tiếng xấu. Anh Lợi xuống bếp xin cơm cháy không được, anh ta đứng trên một gò đất la lớn như Trương Phi ở trên cầu Trường Bản:
– Nhà bếp ăn rau muống chiên! Nhà bếp ăn rau muống chiên!

Chúng tôi không có quyền cho ai cơm cháy cả, cơm cháy cũng phải bẻ ra từng miếng chia đều. Nói vậy chứ làm sao mà tuyệt đối đồng đều được. Chia đều rồi, nếu còn thừa, mà thường là thừa, chúng tôi để dành ưu tiên cho “con bà Xơ”. Một trong những “con bà Xơ” tội nghiệp nhất là anh Lục. Anh bị vợ bỏ, thân nhân lưu lạc. Những khi nhà bếp chia cơm anh xuống đứng tựa vào gốc cột nhìn đăm đăm cái chảo cơm. Đến khi nghe tiếng xẻng (chúng tôi dùng xẻng để chia cơm) cạ sột sột vào đáy chảo là anh bước vào thật nhanh, chìa cái lon guigoz ra. Chúng tôi đã cho anh Lục cơm cháy như vậy nguyên cả nửa năm. Nhưng khi được tin anh có thăm nuôi, chúng tôi ngưng. Vậy là anh Lục quên mất những miếng cơm cháy trước đây, chỉ nhớ đến miếng cơm cháy hiện tại mà anh không được ăn. Sau buổi ấy, gặp tôi ở đâu anh Lục cũng nhìn tôi với đôi mắt hình viên đạn.
*
Tôi trở về sum họp với gia đình sau 10 năm tù dài đăng đẳng. Tôi và Nga đã có với nhau 3 đứa con. Bây giờ chúng tôi sống với nhau vì tình nghĩa hơn tình yêu thắm thiết thuở ban đầu. Không biết bao lâu rồi chúng tôi không xưng hô “anh, em” với nhau. Mỗi lần nghe tôi nhắc lại chuyện cũ, chuyện về Trại Tù Tàn Binh với những cành hoa mai trắng, Nga nói “Lâu quá không nhớ chi cả”. Ngày 23 tháng Chạp vừa rồi tôi đi mua hai chậu hoa mai trắng đem về để trước hiên nhà. Nga nhìn chậu hoa, đôi mắt mơ màng xa xăm:
– Sao…em thấy cái này quen quen, …buồn buồn.
Đó là lần đầu tiên từ khi sinh đứa con út Nga xưng “em” với tôi. Nhưng không phải lúc nào chúng tôi cũng “lãng mạn” với nhau như vậy. Tôi và Nga vẫn gây nhau về những việc lặt vặt. Cứ mỗi lần như vậy tôi lại bước ra hiên, nhìn hai chậu hoa mai trắng, thấy như hiện lên hình ảnh Nga chở đồ thăm nuôi bằng chiếc xe đạp nội hóa cọc cạch trên con đường ven núi gập ghềnh, và tôi trở vào nhà nhìn Nga với đôi mắt dịu dàng mà Nga biết rằng tôi không còn muốn gây gổ nữa.

Bồ Tùng Ma

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Viết Về Nước Mỹ


Xin Hỏi Ông Chủ Tịch – Nguyễn tiến Dân

Tên việt cộng Nguyễn Minh Triết, chủ tịch nước CHXHCNVN rao hàng:” nước chúng em gái đẹp lắm”
Bài đọc suy gẫm:  Tôi xin hỏi ông chủ tịch tức “Mại dâm dưới chế độ cộng sản của tác giả Nguyễn Tiến Dân.  Bài viết đưa ra những nhận xét về đề tài mãi dâm và những câu hỏi đầy chua xót cần phải trả lời gởi đến tà quyền việt cộng.  Hình ảnh chỉ có tính minh họa.
 ***
 Kính gửi: ông Trương Tấn Sang,
Chủ tịch nước CHXHCN Việt nam.

Tên tôi là: Nguyễn Tiến Dân.
Địa chỉ: 208 Định Công Thượng – quận Hoàng Mai – Hà nội.
Điện thoại: 0168-50-56-430

Như đã viết trong bức thư trước, lần này, xin hầu chuyện ông với đề tài “Mại dâm dưới chế độ Cộng
sản”. Đề tài mà rất nhiều người đã đề cập. Tiếc thay, do không có thực tế, nên họ chỉ đề cập được 1 cách phiến diện.

1-  Phán xét về mại dâm, chưa có ai cho rằng nó là tốt. Ai cũng cho nó là xấu. Bởi ít nhất, nó chà đạp lên nhân phẩm của người phụ nữ.  Tuy vậy, cũng không thể không thừa nhận: Mại dâm là 1 thực tế khách quan. Nó hiện diện ở khắp nơi trên trái đất. Nó có từ xa xưa. Nó tồn tại đến ngày nay và chắc chắn, nó sẽ song hành cùng nhân loại.  Đừng có mơ cấm được mại dâm. Mại dâm chỉ không có trong xã hội nguyên thủy và trong thế giới của loài súc vật.

2-   Viết về mại dâm, không thể không nhắc đến 2 tác phẩm: Truyện Kiều của Nguyễn Du và Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu.
a-  Ở truyện Kiều, Nguyễn Du tố cáo chế độ phong kiến mục nát, suy đồi. Ngay từ “thằng bán tơ” mạt hạng, cũng biết cách câu kết với quan lại, sai nha để ngang nhiên ăn cướp của dân lành.  Truyện Kiều không nói rõ, nhưng tôi đoán (rất mong là đoán nhầm), chúng đã ném “2 cái bao cao su đã qua sử dụng” vào nhà Vương viên ngoại, tạo cớ cho “trận cướp đẹp”. Cướp sạch của nổi, của chìm của người ta rồi, chúng vẫn chưa thỏa mãn. Chúng tiếp tục “huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc”, để bắt bớ, đánh đập, tra người, khảo của. Chung cuộc, nàng Kiều dẫu có tài sắc vẹn toàn đến đâu thì cũng phải tự bán mình vào lầu xanh, lấy tiền mà đút lót tiếp cho lũ tham quan vô lại.  Chỉ dám mong 1 điều thật nhỏ nhoi: Của thì đã mất rồi, nhưng cha và em được “cốt nhục vẹn tuyền”. Xét về đạo lí, sự hi sinh ấy, thật là lớn lao, thật là cao thượng.

Cũng như nàng Kiều, từ xưa tới nay, bao cô gái khác, khi bước chân vào chốn lầu xanh, phải đâu do họ tự nguyện. Xã hội phong kiến vô pháp, vô luân đã dồn họ đến bước đườn g cùng.  Thúy Kiều tuy chỉ là gái lầu xanh. Nhưng từ đầu tới cuối tác phẩm, Nguyễn Du chưa bao giờ mạt sát, khinh bỉ nàng.  Ông mô tả nàng có tình cảnh đáng thương và có cuộc đời đáng được thông cảm. Sống trong đống bùn, mà nhân cách vẫn tỏa sáng. Nàng không giống những kẻ đê tiện: Tối chơi gái tràn lan, ngày vẫn lên mặt “Nghĩ mình phương diện Quốc gia”. Sự khinh bỉ nếu có, Nguyễn Du chỉ dành cho chế độ phong kiến suy đồi. Một cách nhìn đầy nhân văn, phải không ông?

 
b-   Trong truyện ngắn Chí phèo, Nam Cao mở đầu: “Một sáng tinh sương, anh thả ống lươn nhặt được đứa bé mới đẻ xám ngắt, đùm trong cái váy đụp vứt ở lò gạch cũ”… Cuối cùng:“Thị nhìn nhanh xuống bụng mình, và thoáng chợt thấy một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người lại qua…”. Nam Cao giỏi ở chỗ tuy không trực tiếp nói ra, nhưng độc giả vẫn hiểu: “Đó là kiếp luân hồi. Chí Phèo này có chết đi, còn nhiều thằng Chí Phèo khác đã chuẩn bị mọc lên thay thế. Đời không thể thiếu vắng Chí Phèo”.  Với Tiếng hát sông Hương, ông Tố Hữu cũng dùng thủ pháp tương tự. Mở đầu, hiện thực của thời Thực dân, Phong kiến: “Trên dòng Hương Giang” là cô gái với bao nỗi nhục nhã, ê chề khi phải bán thân nuôi miệng… Cuối cùng (nguyên văn trong tác phẩm), ông ta có cách dòng (ngầm hiểu là đã bước sang trang, đã đến “ngày mai huy hoàng”), rồi cũng vẫn lại “Trên dòng Hương Giang”.

Riêng về mặt này, Tố Hữu xứng đáng là bậc tiên tri. “Ngày mai huy hoàng” đã đến, không còn cô gái kia trên sông, bởi cô đã quá già. Thay vào đó, hằng hà sa số những cô gái trẻ khác, mọc lên thay thế. Mại dâm đâu có mất đi trong chế độ CS. Thậm chí nó còn phát triển mạnh mẽ hơn (Khắp hang cùng ngõ hẻm, tìm đâu cũng có), tinh vi hơn (Vì nó biết cách ứng dụng cả công nghệ thông tin) và trắng trợn hơn (Bởi nó ngang nhiên tiếp thị ở ngay ngã 3, ngã 4 đường phố. Thậm chí hành nghề ngay tại gốc cây, sườn đồi)

3-  Thưa ông Chủ tịch, Trời sinh ra con người.  Trên cơ thể mỗi con người, có nhiều bộ phận.  Mỗi bộ phận, đều có chức năng riêng. Nếu không hoạt động, chức năng ấy sẽ bị suy thoái.  Một kẻ, dẫu có mang danh Giáo sư – Tiến sĩ, nhưng đầu óc mà lười suy nghĩ, kẻ đó tất bị lú lẫn, u mê.  Mắt mà không tự nhìn đường, cứ đi theo “định hướng” của ai đó, lâu dần sẽ bị thong manh.

Đổ băng keo vào miệng thiên hạ, sẽ khiến người ta không nói được. Người ta không nói được, khiến ta không phải tranh biện với ai. Không phải tranh biện với ai, lâu dần lưỡi ta sẽ cứng lại.  Lúc đó, ta ăn nói giống như 1 kẻ ngây ngô, thiểu năng về trí tuệ.  “Đè đầu cưỡi cổ” thiên hạ, những tưởng mình giỏi giang và lấy làm đắc ý.  Đâu hay: Ngồi trên lưng người khác, chân tay ta lâu ngày không phải hoạt động, cơ của nó sẽ teo đi.

Trên con tàu vũ trụ, do được điều kiện không trọng lượng nâng đỡ, xương của phi hành gia không phải làm việc như bình thường. Lâu dần, nó sẽ bị thoái hóa. Trở về mặt đất, cần phải có thời gian và chế độ riêng để nó phục hồi… Khác gì những tổng công ty, những tập đoàn kinh tế nhà nước. Chúng hoạt động, mà không dựa vào thực lực của mình. Chúng tồn tại, dựa trên sự bú mớm vào ngân sách nhà nước.  Trước sau, chúng cũng phải chết. Đó là những sự thực hiển nhiên.

Tương tự, bộ phận sinh dục của con người, khi già-trẻ; ốm-khỏe có tần xuất hoạt động khác nhau. Nhưng nói chung, nếu không được “cọ sát”, dẫu có thủ dâm thì nó cũng vẫn sẽ bị suy nhược. Từ đó, u – xơ – ung – nhọt dễ có điều kiện phát sinh. Nghiêm trọng hơn, “bí hạ (thì phải) phá thượng”. Ối anh sẽ bị suy nhược theo nó.  Đó là thường thức cơ bản của phép dưỡng sinh.

4-  Chẳng cứ Việt nam, nhiều nước khác cũng muốn cấm mại dâm. Liệu họ có đạt được mục đích không? Ta hãy thử xét về mặt đạo lí và qui luật cung – cầu:

a-  Với người đi mua dâm:  Xin không nhắc đến “một bộ phận không nhỏ” những kẻ mê tín, chỉ thích đi lùng gái trinh như Lương Quốc Dũng. Cũng không xét đến những những bậc nam nhi, vợ con đề huề, thỉnh thoảng vẫn thích đi ăn vụng như Nguyễn Trường Tô. Ở đây, chỉ xét những trường hợp có nhu cầu thật sự và mong nhận được sự thông cảm của những người, mà tối đến, vợ chồng vẫn còn được ôm nhau ngủ. Chẳng hạn: Có người, vợ chết sớm, để lại cho mình những đứa con thơ dại, kháu khỉnh, thông minh.  Tuy còn trẻ khỏe, nhưng tình yêu mãnh liệt với người vợ, đã khiến ông ta không muốn đi bước nữa. Ông ta ở vậy để nuôi con. Bởi, chúng là kết tinh tình yêu của họ. Thỉnh thoảng, ông ta muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?

Tôi có quen 2 người cao tuổi. Vợ họ bị ốm liệt giường hàng chục năm trời. Họ dịu dàng chăm sóc vợ. Không hề có 1 lời phàn nàn, cáu gắt trong chừng ấy năm trời.  Họ cũng chẳng ngó ngàng tới bất cứ 1 người nào khác giới. Nhân cách, tình yêu của họ thật đáng ngưỡng mộ. Trên thế gian này, hỏi có mấy người được như vậy.  Đặt giả thiết: Thỉnh thoảng, họ muốn hòa hợp âm-dương.  Nhu cầu ấy có được coi là chính đáng và có nên thông cảm không?  “Tốt mái, hại sống”, câu này ai cũng biết.  Chắc chắn, ông cũng quen nhiều bà quan chức. Họ ăn lắm, tẩm bổ nhiều, béo như con trâu trương. Gia đình họ, nếu sống thủy chung, ông chồng “má hóp đít tóp” là điều chẳng phải nghi ngờ.  Ngược lại, có những ông chồng khỏe đến phát sợ. Có thể “nhất dạ, ngũ giao…”. Vợ khỏe cũng chẳng chịu nổi, kể chi đến những bà hom hem, bệnh tật.  Thế nên, ngày xưa có bà phải tự nguyện “tay bưng trầu, đầu đội lễ” đi hỏi vợ lẽ cho chồng. Mong sao có người, đêm đến nó đỡ đần cho.  Nay, làm gì có chế độ đa thê. Không đưa tiền cho người ta đi xả bớt ra, kẻ bị thiệt thòi chính là bà vợ. Nhu cầu ấy, đành rằng là không chính đáng, nhưng có nên thông cảm cho bà vợ của ông ấy không?

Những người nước ngoài sang công tác lâu dài ở Việt nam, do điều kiện, họ không thể mang vợ con theo được. Họ khỏe mạnh, họ có tập quán thoáng đãng về tình dục. Thỉnh thoáng, họ muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?

Có người thiệt thòi toàn diện: Không bảnh trai, văn hóa lùn, hoàn cảnh gia đình lại khó khăn. Không cô gái nào chịu lấy anh ta làm chồng. Nhu cầu kia rõ ràng là vẫn có. Thỉnh thoáng, anh ta muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?

Có những chàng trai, do phấn đấu cho sự nghiệp, nên họ lập gia đình muộn. Họ không muốn gạ gẫm, bồ bịch bất chính với bạn học. Không muốn gạ gẫm, bồ bịch bất chính với “con thày-vợ bạn-gái cơ quan”. Họ cũng không muốn “nhịn” quá lâu. Thỉnh thoáng, họ muốn hòa hợp âm-dương. Nhu cầu ấy có chính đáng và có nên thông cảm không?

Còn nhiều và rất nhiều trường hợp khác nữa.  Nhưng sợ phải làm mất thì giờ qúy báu của ông, nên tôi không tiện kể thêm.

b-   Với người đi bán dâm:

Thưa ông, tôi có mở quán Karaoke và Xông hơi tại 544 đường Láng – Đống đa – Hà nội.  Dĩ nhiên, trong quán của tôi không có dịch vụ mại dâm.  Do đặc thù công việc, tôi phải tiếp xúc hàng ngày với các cháu nhân viên. Xin khẳng định với ông: Không có cháu nào cảm thấy hãnh diện, khi phải làm cái nghề này.  Phải đi làm, bởi không có con đường nào khác. Tôi kể ông nghe 1 trường hợp:

Cách đây hơn chục năm, có 1 cháu đến làm việc ở chỗ tôi. Cháu nó không đẹp, ăn mặc lại giản dị. Nhưng nhiều người thích nó.  Ai rủ đi ngủ, cháu cũng đi.  Lạ nhất là: kiếm được rất nhiều tiền, nhưng cháu không hề đua đòi, chưng diện.
Tò mò, tôi có hỏi cháu.  Nó khóc, rồi dẫn tôi về thăm nhà. Đến nơi, tôi bàng hoàng.  Nhà nó nghèo.  Bố mẹ đã già yếu, lại bệnh tật. Các em đã đông, lại còn nhỏ.  Nhà cửa, trước kia chỉ là mái lều tranh xiêu vẹo.  Ruộng đất không có.  Là chị cả, cháu cam chịu hi sinh thân mình, để cứu cả nhà.  Cháu nghiến răng xác định: Ra Hà nội để kiếm tiền.  Bao nhiêu tiền kiếm được, cháu đều gửi về quê. Trước hết, cho tất cả các em được đi học.  Còn lại, để bố mẹ làm ăn và xây được căn nhà cấp 4.   Đối với gia đình cháu, đó là mơ ước, tưởng như không bao giờ là hiện thực. Chuyện của cháu, chỉ bố mẹ biết.  Nhưng, khác hẳn với thái độ của những người CS các ông.  Họ luôn ân hận, xót xa vì mình không giỏi, nên con cái phải chịu khổ.

Sau này, khi nhà cháu đã qua được bước khó khăn, cháu bỏ nghề. Lập gia đinh, cháu lấy người chồng biết rõ và thông cảm với hoàn cảnh của cháu. Về nhà chồng, cháu không có của riêng tư chìm nổi. Trước khi ra đi, cháu nó khóc và nói với tôi: “Con xin vĩnh biệt bố”.  Tôi hiểu, mình không được phép khuấy động cuộc sống riêng tư của cháu và sẽ tốt hơn, nếu để quá khứ đau buồn, nó chìm vào quên lãng.  Ông ơi, nhân cách của những CON NGƯỜI ấy, có xứng đáng được ta tôn trọng? Thúy Kiều có vĩ đại bằng cháu không? Đứng trước cháu, tôi có cảm giác, mình bị lùn đi.   Còn ông, ông thấy thế nào?

5-   Bây giờ, với tư cách là người đứng đầu đất nước, xin ông trả lời công khai cho người dân chúng tôi:  Các ông luôn gào thét, đòi để “đảng CS được lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối” xã hội Việt nam. Các ông lãnh đạo kiểu gì, mà bao nhiêu nam thanh, nữ tú của chúng ta thất nghiệp. Họ không thể kiếm tiền, để nuôi sống được chính bản thân mình. Nói chi đến gia đình.   Không có tiền, đói các ông có cho họ ăn không? Không có tiền, con cái của họ có được các ông cho đi học không?  Không có tiền, ốm đau các ông có cho họ được đến bệnh viện không?  Không có tiền, lại thất học và vô nghề nghiệp, các ông có bố trí được công ăn việc làm cho họ không?…

Tất cả các câu hỏi trên, đều có chung câu trả lời.  Đó là “Không”.   Là người Việt, ông Chủ tịch không thể không biết câu này “Bụng đói, đầu gối phải bò”.  Đường cùng, các cháu đành mang cái “vốn tự có” ra mà kiếm ăn.   Không sung sướng gì đâu, nhục nhã lắm, ông ạ.

Những người CS các ông, quả thật là lũ bất tài ,vô dụng.  Làm lãnh đạo, mà không lo được cuộc sống tối thiểu về ăn mặc, khám chữa bệnh, học hành, công ăn việc làm cho người dân. Khiến rất nhiều cháu gái, chúng nó phải đi bán thân (18.000 gái Việt ra nước ngoài hành nghề mại dâm mỗi năm; còn Bộ Lao động – thương binh & Xã hội ước tính năm 2013 có 33.000 ​gái mại dâm, đó là không thèm thống kê ở 2 địa bàn trọng điểm Quất Lâm, Đồ Sơn).  Lẽ ra, người phải ân hận, phải xấu hổ là các ông, là đảng CS.  Đã không biết xấu hổ, lại còn nhâng nháo lên mặt đạo đức khi ra lệnh cấm mại dâm. Để mà đổ lỗi, cho rằng mại dâm là tàn dư của chế độ cũ (Chế độ, mà nó sụp đổ cách đây có nhõn 4 chục năm); cho rằng, các cháu phải đi bán thân, bởi chúng nó hư hỏng, lười lao động và thích ăn chơi.  Ông Chủ tịch và các quí bà to mồm, ăn no, rửng mỡ ở hội Phụ nữ VN, ở bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có hình dung ra kịch bản này không:

Khi các ông cấm riết, các cháu làm nghề mại dâm trên toàn quốc, chúng nó kéo về trụ sở hội Phụ nữ và trương biểu ngữ: “Nhiệt liệt hoan nghênh nhà nước cấm mại dâm (chúng nó hoan nghênh thật lòng đấy, ông ạ) – Xin hãy bố trí công ăn việc làm cho chúng tôi – Nếu không được, hãy nuôi chúng tôi – Nếu không nuôi được chúng tôi, hoặc mặc kệ để chúng tôi đi bán dâm; hoặc các ông, các bà hãy từ chức đi, để chúng tôi bầu những người có tài, có đức lên làm thay  – Họ sẽ lo cho chúng tôi”.

Lúc đó, các ông, các bà sẽ “xử lý” như thế nào?

Hình chụp lại từ You tube, cô gái Việt Nam khỏa thân để được tuyển lựa làm cô dâu xứ người.

Link Videohttp://vimeo.com/41385315
 
6-  Ông ạ, đã có ai nói với ông về những sự thật này chưa: Nhiều phụ nữ, trẻ em Việt ở độ tuổi vị thành niên, bị gạ gẫm, rồi bị đem bán vào các động mãi dâm ở Campuchia, ở Ma cau…?   Nhiều phụ nữ Việt bị bắt cởi trần truồng, cho mấy thằng Đại Hàn, Trung Quốc, Đài Loan ngắm nhìn, sờ mó để tuyển… “vợ”?  Có phụ nữ Việt bị đặt trong lồng kính để bán đấu giá tại Mã Lai; bị rao bán công khai trên bích chương tại Đại Hàn?  Nhiều phụ nữ lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan đã bị đánh đập, bị hành hạ, bị giết. Nhưng, tỉ lệ này còn thấp và ít rủi ro hơn so với lấy chồng Trung Quốc.  Tình trạng lấy chồng Trung Quốc, sau đó bị ngược đãi, bị làm vợ tập thể, bị sang tay và vứt ra đường khá phổ biến.

Trên: Các thiếu nữ bị bắt trong một trận càn quét. 

Dưới: Hình ảnh trẻ thơ Việt Nam bị đưa qua Kampuchia bán dâm.

 Cuối năm 2013, ba cô dâu Việt Nam là Tô Thị Hà, Trịnh Thị Hoa, Mai Thị Sư được điều trị tại Bệnh viện thần kinh thành phố Phúc Châu, tỉnh Kiến Phúc (chắc là Phúc Kiến) – Trung Quốc. Cả ba người đều là nạn nhân của lấy chồng Trung Quốc. Họ bị đày đọa nhiều năm, cho đến khi thân tàn thì bị đuổi ra khỏi nhà…Có nhiều trường hợp bị đẩy vào động mại dâm, bị khai thác như súc vật cho đến khi bệnh tật, bị chết hoặc điên dại .”. Báo Dân trí ngày 18/01/2014 đưa tin: “Sự sỉ nhục nhìn từ những cô dâu bị giết”.

Nhân phẩm người phụ nữ Việt xuống cấp. Họ chỉ như một món hàng, bị bọn ngoại quốc, công khai giày vò, làm nhục. Tại ai?  Đó không phải là quốc nhục, thì đối với những người CS, cái gì đáng bị gọi là quốc nhục? Trước thực trạng ấy, với tư cách là nguyên thủ Quốc gia, ông có thấy nhục nhã và xấu hổ không?

Ra ngoài đường thì so vai, rụt cổ, im thin thít, chẳng dám ho he – thể hiện sự hèn hạ vô cùng. Về đến nhà, múa gậy vườn hoang, tỏ rõ bản lĩnh anh hùng nơi xó bếp. Thần dân trông thấy, họ khinh bỉ mãi không thôi. Đó là nói về tư cách của lũ đê tiện, “khôn nhà dại chợ”.

 Đám tang cô dâu Việt Nam bị giết
 
7-  Cứ coi các cháu phải đi bán dâm, chỉ là đồ chơi trong tay những thằng đàn ông.  Xin hỏi ông:

Làm đồ chơi trong tay con trai Việt và làm đồ chơi trong tay bọn đàn ông ngoại quốc, đằng nào đỡ nhục nhã hơn?  Không dám mơ có lầu son, gác tía để hành nghề như nàng Kiều.  Làm đồ chơi trong nhà nghỉ kín đáo và ngồi vạ vật bên đường, đằng nào làm cho nhà nước đỡ xấu mặt hơn?

Không thể cấm được mại dâm. Vậy, hợp pháp hóa mại dâm + chăm sóc sức khỏe cho các cháu và để mại dâm lén lút, tự phát nguy cơ truyền nhiễm bệnh tật cao, đằng nào nhân đạo hơn?

8-   Tiếp xúc với những thứ chướng tai, gai mắt nơi nhà hàng, tôi không hề thích.  Chính vì vậy, tôi và gia đình đầu tư vào làm thủy lợi, vào trồng trọt, vào chăn nuôi. Ai ngờ, tôi bị chính quyền CS đủ cả 4 cấp: Xã – Huyện – Thành phố – Trung ương câu kết với nhau lừa đảo, cướp đoạt trắng tay hơn chục tỉ VND. Mĩ miều, thì nói là “cả hệ thống chính trị” nhà các ông. Còn dân gian, đơn giản hơn nhiều.  Chúng tôi nói rằng: “cả lò cả ổ” nhà các ông là 1 lũ khốn nạn, một lũ cướp ngày.  Ông Chủ tịch có cách gọi nào khác, “đẹp” hơn để thay thế không?

9-   Thưa ông Chủ tịch, sau khi đọc những loạt bài của tôi, có 1 bác nào đó quan tâm, gọi điện hỏi tôi có bị cơ quan an ninh làm khó dễ gì không?

Câu trả lời là chưa. Cứ như thể, chưa bao giờ có những bài như thế.  Lí do thật đơn giản.  Đơn từ đòi tiền, tôi gửi các ông nhiều lần, nhiều cấp trong hơn chục năm rồi.  Nhưng, chính quyền CS của các ông vẫn giả câm, giả điếc.  Để tránh tiếp xúc, các ông học những con chuột cống, chui sâu vào trong hang.  Bị hun bao nhiêu là khói, nhưng với bản lĩnh cao cường, các ông vẫn chưa chịu chui ra.  Bởi, chui ra tiếp xúc là phải nói đến chuyện trả tiền.  Đối với các ông, thà bị nghe chửi, thà bị người khác hạ nhục, thậm chí bị chết vì ngạt khói, còn hơn là phải trả lại những đồng tiền ăn cướp.  Đây cũng là nét “đặc thù” rất riêng về Nhân quyền của chính quyền CS Việt nam.

Tôi tin lần này, lượng khói mà tôi quạt vào hang vẫn chưa đủ “đô”, nên các ông chưa chịu chui ra đâu. Các ông vẫn coi như không có nó và hiển nhiên, các ông sẽ không sờ mó đến tôi cũng như cửa hàng của tôi. Về việc này, xin cảm ơn ông Chủ tịch trước.  Nhưng, những lần sau, lượng khói sẽ tăng lên.  Không chịu được thì hãy bò ra.  Đừng cố thủ. Chết, uổng.  Lần sau, xin hầu chuyện ông Chủ tịch với đề tài “Dưới giác độ của nền văn minh Trung hoa cổ đại: Chủ nghĩa CS. Việt nam, những bất cập và sự sụp đổ tất yếu của nó”.  Đề tài này, cũng không đến nỗi khô khan lắm đâu. Nội dung của nó, tuy hơi dài, nhưng “Cơm ngon, (thì hãy) ăn làm nhiều bữa”.  Lo gì. Ông có muốn nghe không? Có muốn cử những tay lí luận hàng đầu của đảng CS vào tranh biện công khai và thẳng thắn không?  Xin ông:  Chớ có cho đội ngũ Dư luận viên dốt nát cộng với mớ lí luận cùn nhập cuộc và nhớ đừng có dùng bạo lực như lũ khùng điên.  Bọn chúng, khi đuối lí, chỉ có mỗi 1 cách, đó là giơ nắm đấm lên.  Đừng học lũ mất dạy đó, ông ạ.

Chào ông.

Nguyễn Tiến Dân

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

– From Email.


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 1 030 other followers