Đảo Chánh và Mưu Sát Sihanouk – Trúc Giang MN

Tội ác diệt chủng chính đồng bào mình của tên cộng sản khát máu Polpot nơi xứ Chùa Tháp. Hình minh họa.

Bài đọc suy gẫm: Kế hoạch đảo chánh và mưu sát Norodom Sihanouk của ông Ngô Đình Nhu.

1*. Mở bài

Sihanouk và đám tang trọng thể

Campuchia để tang Cựu Hoàng Sihanouk - YouTube

Hồi 2 giờ sáng ngày 15-10-2012, 

Norodom Sihanouk, cựu quốc vương Campuchia qua đời tại Bắc Kinh. Bắc Kinh và Hà Nội (Cộng Sản) tổ chức và tham dự tang lễ vô cùng trọng thể. Chết là hết. Nhưng nhân vật nầy đối với Việt Nam Cộng Hoà như thế nào? Cuộc đời của Norodom Sihanouk có liên hệ chặt chẽ với những biến cố lịch sử Việt Nam. Trước hết, ông đã từng sinh sống ở Sài Gòn để theo học trường Chasseloup Laubat (Lê Quý Đôn ngày nay.

Sihanouk đã từng ký hiệp ước, cho phép CSBV và Trung Cộng xử dụng vô thời hạn lãnh thổ CPC và hải cảng ở Sihanoukville để đưa vũ khí, bộ đội và cho lập căn cứ trến đất Miên. Để trả lại, Trung Cộng mua lúa gạo của CPC với giá cao. Hành động thù địch nầy gây tai hại rất lớn cho việc bảo vệ nước VNCH chống lại chế độ Cộng Sản Hà Nội. Sihanouk đã chọn điểm đứng là kẻ thù của Việt Nam Cộng Hòa.

2*. Con người hai mặt và tráo trở của Norodom Sihanouk.

Kể từ năm 1958, dưới chiêu bài trung lập, nhưng Norodom Sihanouk tỏ ra thân cận với Bắc Hàn, Trung Cộng và Cộng Sản Bắc Việt. Ngay sau khi Hoa Kỳ viện trợ xây dựng một xa lộ nối liền Phnom Penh với Sihanoukville, thì Sihanouk bật đèn xanh cho Trung Cộng thiết lập một hệ thống cột đèn thắp sáng xa lộ. Dư luận cho rằng hệ thống cột đèn làm vô hiệu hoá việc xử dụng xa lộ như những phi đạo cho phi cơ.

Kể từ năm 1958, dưới chiêu bài trung lập, nhưng Norodom Sihanouk tỏ ra thân cận với Bắc Hàn, Trung Cộng và Cộng Sản Bắc Việt.

Sau khi Hoa Kỳ xây xong một bịnh viện ở Phnom Penh, thì Sihanouk mời Liên Xô mang máy móc đến trang bị cho bịnh viện. Thành ra, những quà tặng của Hoa Kỳ chỉ còn giá trị có phân nửa. Đặc biệt là cho xử dụng hải cảng Sihanoukville và biên giới, để CSBV chuyển vũ khí, bộ đội và làm căn cứ đánh chiếm miền Nam VN.

Những năm 1960, Sihanouk giúp chuyển vũ khí của Trung Cộng và Liên Xô đến những căn cứ của CSBV, theo tỷ lệ giữ 1 chuyển 9. Lợi dụng việc nầy, ra điều kiện với CSBV ngừng ủng hộ Khmer Đỏ của Pol Pot đang chống lại ông. Thế nhưng, khi bị Lon Nol lật đổ, ông sang tỵ nạn ở Bình Nhưỡng (Bắc Hàn) rồi đến Bắc Kinh, ông lại ủng hộ Pol Pot chống lại Lon Nol. Pol Pot hứa sẽ dành cho ông một địa vị trong chính quyền sau khi chiến thắng. 

Dù biết được tâm địa của Sihanouk, Hoa Kỳ vẫn chưa động tịnh, nhưng Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Nhu muốn hạ bệ Sihanouk bằng mọi cách.

3* Kế hoạch đảo chánh Sihanouk năm 1959

Ông Ngô Đình Nhu và Bác sĩ Trần Kim Tuyến (phải)

3.1. Chuẩn bị

Đến ngày 10-12-1959, kế hoạch chuẩn bị và móc nối những thành phần liên hệ xem như hoàn tất. Đại diện Ngoại giao VNCH ở Campuchia là Ngô Trọng Hiếu, đã móc nối với tướng Dap Chhuon trong một cuộc săn bắn tại khu rừng phía Bắc tỉnh Siem Reap. Ông Hiếu đồng thời móc nối với cô vợ bé gốc Việt, và người em trai của Dap Chhuon. Người em là dân biểu Quốc hội Campuchia. Dap Chhuon còn có tên Khmer là Khem Phec, Chhuon Mochulpich. Năm 1957, Dap Chhuon từ bỏ chức vụ Bộ trưởng nội vụ, vì bất mãn Sihanouk theo Cộng Sản, ông nầy trở về Siem Reap làm vua một cõi. Ngô Trọng Hiếu dùng tiền bạc mua chuộc các thành viên hoàng gia, trong đó có bà mẹ của Sihanouk và ông Sam Sary. Ngô Trọng Hiếu đích thân dùng xe mang bảng số ngoại giao, chở 100 kg vàng đến cho tướng Dap Chhuon.

3.2. Kế hoạch đảo chánh

Tại tư dinh của tướng Dap Chhuon, một đài phát tuyến được thành lập, và do 2 gián điệp VN Cộng Hòa  phụ trách. Mỗi ngày, vào lúc 7 giờ sáng, 12 giờ trưa và 9 giờ tối, liên lạc với Sở Mật vụ Sài Gòn.

Hai bên ấn định ngày hành động “N”, là 10-2-1959.

Tại Sài Gòn. Ngô Đình Nhu và BS Trần Kim Tuyến lên kế hoạch

Về chính trị. Đưa Sơn Ngọc Thành, một nhân vật chính trị Campuchia lưu vong tại VN, sẽ lên thay thế sau khi Sihanouk bị lật đổ.
Về quân sự. Khi cuộc đảo chánh bùng nổ, thì Quân đội VNCH ở Vùng 4 và Vùng 2 chiến thuật, sẽ đưa quân đến biên giới giúp Dap Chhuon chiếm lĩnh khu Đông Bắc Campuchia. Kế hoạch tuyệt mật, chỉ có Ông Nhu, BS Tuyến và Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ biết mà thôi.
3.3. Kế hoạch bị lộ

Ngày N bị đình lại.

    Ông Sơn Ngọc Thành

Ngày hành động 10-2-1959 bị đình lại, vì Sơn Ngọc Thành qua Thái Lan xin viện trợ cho mặt trận phía Tây.  Sự trì hoãn làm cho kế hoạch bị bại lộ. Nếu ngày N được thi hành thì Sihanouk trở tay không kịp. Trong thời gian 10 ngày, âm mưu của tướng Dap Chhuon bị lọt vào tay toà Đại sứ Pháp. Ngày 21-2-1959, lúc 12 giờ đêm, đại sứ Pháp và đại sứ Liên Xô vào Hoàng cung thông báo cho Sihanouk. 2 giờ sau, Sihanouk động binh, giao cho Lon Nol chỉ huy lực lượng Dù, chớp nhoáng tấn công vào Siem Reap.
6 giờ sáng hôm sau, 22-2-1959, khi Dap Chhuon còn đang ngủ thì quân Dù của Lon Nol tràn ngập Siem Reap. Dap Chhuon cải trang, giả dạng thường dân trốn thoát.

Lon Nol chiếm dinh thống đốc Siem Reap, với đầy đủ tang vật gồm 100 kg vàng, đài phát tuyến, vũ khí và 2 gián điệp VN.

Ngày 23-2-1959, Sihanouk mời tất cả đại sứ nước ngoài, kể cả Ngô Trọng Hiếu, đến Siem Reap để xem bằng chứng đảo chánh.

Sihanouk hỏi Ngô Trọng Hiếu: “Ngài Đại diện nghĩ thế nào về những bằng chứng nầy?”. Ngô Trọng Hiếu thản nhiên đáp: “Thưa Thái tử Quốc trưởng, chúng tôi đến đây để nghe ngài trình bày nên không có gì để trả lời cả”.
Hai tháng sau, 2 điệp viên VN bị hành quyết. Dap Chhuon dù thoát được vào rừng, nhưng do nghiện thuốc phiện nặng nên kiệt sức, nằm gục dưới gốc cây. Lính Dù của Lon Nol bắt gặp, và hạ sát tại chỗ. Sihanouk chửi chính quyền VNCH suốt 3 ngày 3 đêm trên radio

4*. Kế hoạch mưu sát Sihanouk của ông Ngô Đình Nhu

Kế hoạch đảo chánh thất bại, Sihanouk càng thân Cộng Sản hơn, nên Tổng thống Diệm và ông Nhu quyết tâm trừ khử mối họa nầy.

Trong hồi ký, Tướng Trần Văn Đôn ghi lại: “Sau vụ đảo chánh bất thành, Sihanouk ra mặt ủng hộ Bắc Việt và quân Giải Phóng Miền Nam chống lại Sài Gòn. Sihanouk cho CSBV xử dụng lãnh thổ của mình dọc theo biên giới để chuyển quân và vũ khí vào miền Nam. Mỗi lần quân VNCH tảo thanh, thì Việt Cộng rút qua bên kia biên giới thuộc lãnh thổ Campuchia”.
Hành động của Sihanouk là thái độ thù địch vô cùng tai hại cho VNCH, nên dứt khoát phải trừ khử để bảo vệ quốc gia. Mặc dù bang giao căng thẳng nhưng tòa Đại diện ngoại

giao VNCH vẫn mở cửa. Ngô Trọng Hiếu bị trục xuất, người thay thế là Phạm Trọng Nhơn, một điệp viên nhà nghề của BS Trần Kim Tuyến. Phạm Trọng Nhơn bám sát viên kỹ sư người Mỹ, đã từng xây dựng xa lộ cho Sihanouk, ông Mỹ là chỗ thân tình với nhà vua và Hoàng gia.

4.1. Thành lập tổ hành động

Kế hoạch mưu sát Sihanouk được thiết lập, do Hoàng Ngọc Điệp, Phó giám đốc Sở mật vụ chỉ huy thực hiện. Hoàng Ngọc Điệp đóng vai một ông chủ lớn ở Sài Gòn, đến ngụ tại khách sạn sang trọng nhất ở Phnom Penh, để chỉ đạo công tác. Phụ tá ông Điệp là Đại úy Lưu Thành Hữu, và một số điệp viên do ông Điệp tuyển chọn. Một nữ điệp viên trẻ đẹp được chỉ định đóng vai vợ của ông Điệp.

4.2. Cơ hội đã đến

Viên kỹ sư người Mỹ về nước. Ông vào Hoàng cung chào từ biệt Sihanouk và Hoàng gia. Ông cho biết, trên đường về, sẽ ghé qua Hồng Kông trước khi về Mỹ. Nắm lấy cơ hội nầy, điệp viên Phạm Trọng Nhơn và một đồng nghiệp, sẽ giả dạng làm nhân viên của viên kỹ sư Mỹ, mà trước kia đã xây dựng xa lộ cho Sihanouk, ông Nhơn sẽ từ Hồng Kông, mang 2 vali quà của kỹ sư Mỹ về tặng cho Sihanouk và Giám đốc Nghi lễ Hoàng cung.Vali quà cho Sihanouk có chứa chất nổ cực mạnh. Do móc nối với Giám đốc Nghi lễ nên ngày giờ trao quà được điều chỉnh để kích hỏa chất nổ.
Sở mật vụ Sài Gòn cũng không quên nhái nét chữ viết tay của kỹ sư Mỹ trong một tấm thiệp cũ. Lúc 9 giờ sáng, Phạm Trọng Nhơn mang 2 vali quà vào Hoàng cung, nói là quà của kỹ sư Mỹ gởi tặng, sau khi ghé Hồng Kông
Giám đốc Nghi lễ là chỗ thân tình của viên kỹ sư Mỹ, đã nhận ra nét chữ trên tấm thiệp, nên không nghi ngờ gì. Ông mở vali ra xem thì rất thích thú vì quà rất quý, có giá trị. Sihanouk định mở vali quà, nhưng bỗng nhiên, tùy viên báo cáo là có phái đoàn sinh viên Trung Cộng đến thăm, và đang chờ ở phòng khách. Thế là Sihanouk ra tiếp khách. Đang nói chuyện thì một tiếng nổ long trời, rung động cả Hoàng cung.

Buổi phát thanh 12 giờ trưa, đài VOA loan tin vụ nổ. Sở tình báo, và hai ông Diệm Nhu mừng rỡ, sửa sọan giai đoạn hai là đưa Sơn Ngọc Thành về nước cầm quyền. Tuy nhiên, chỉ vài phút sau, báo cáo mật từ Phnom Penh gởi về cho biết Sihanouk thoát chết trong đường tơ kẻ tóc.

Lúc đó, Sihanouk hoàn toàn không nghi ngờ Sài Gòn, mà tin chắc rằng “bàn tay lông lá” của CIA là thủ phạm. Câu chuyện do BS Trần Kim Tuyến, dưới bút hiệu LươngKhải Minh, cùng với tác giả Cao Thế Dung tường thuật lại trong cuốn “Làm thế nào để giết một tổng thống”, xuất bản năm 1971.

Sihanouk hận Tổng thống Ngô Đình Diệm, nên rất vui mừng tiếp đón những người đảo chánh hụt ngày 11-11-1960, như đại tá Nguyễn Chánh Thi, trung tá Vương Văn Đông, thiếu tá Phạm Văn Liễu, đại úy Phan Lạc Tuyên và trung úy Nguyễn Văn Cử, người đã cùng Phạm Phú Quốc ném bom vào Dinh Độc Lập ngày 27-2-1962.

Việt Nam Cộng Hoà thất bại hai lần, nhưng CIA thành công trong việc truất phế Sihanouk, đưa Lon Nol lên cầm quyền.

6* Lon Nol đảo chánh Sihanouk

6.1. Nguyên nhân đưa đến đảo chánh

Lon Nol (ảnh trên) và Sirikmatak, hai người cầm đầu cuộc đảo chánh với lý do là Norodom Sihanouk, đã cho phép Trung Cộng và Liên Xô xử dụng hải cảng ở Sihanoukville để chuyển vận vũ khí tiếp tế cho Việt Cộng ở miền Nam, đồng thời cho CSBV xử dụng lãnh thổ CPC dọc theo biên giới Việt Miên để chuyển vũ khí, bộ đội và cho lập căn cứ VC trên đất Miên.
Hoàng thân Sirik Matak (anh em họ của Sihanouk) và Lon Nol cho rằng lãnh thổ CPC đã bị xâm phạm. CSBV, với vũ khí nặng, đã kiểm soát nhiều khu vực rộng lớn trên đất nước của họ.
Dưới áp lực của Mỹ, Sihanouk cho phép Mỹ và VNCH truyđuổi VC sang lãnh thổ CPC, với điều kiện không ảnh hưởng đến người dân Khmer.Tổng thống Nixon đã cho B-52 ném bom ở mật khu 353, thuộc vùng Móc Câu và Mỏ Vẹt trên đất Miên. Trong thời gian hơn một năm, B-52 đã thực hiện 3,630 phi vụ dọc theo biên giới và trên lãnh thổ của xứ Chùa Tháp nầy.
Thêm vào đó, kinh tế CPC suy thoái, đời sống ngườidân khó khăn, được CIA móc nối, nên Sirik Matak và Lon Nol tổ chức lật đổ Sihanouk.

6.2. Diễn tiến cuộc đảo chánh năm 1970

Vào tháng 3 năm 1970, trong khi Sihanouk công du sang Trung Cộng, Âu châu và Liên Xô, để xin viện trợ kinh tế, tài chánh và quân sự, thì thủ tướng Lon Nol và hoàng thân Sirik Matak tổ chức những cuộc biểu tình to lớn chống Cộng Sản Việt Nam, dân chúng đập phá sứ quán CSBV.

Ngày 12-3-1970, Sirik Matak hủy bỏ hiệp ước thương mại giữa CPC và CSBV do Sihanouk ký kết. Lon Nol đóng cửa hải cảng ở Sihanoukville, không cho phép Trung Cộng và Liên Xô tiếp tế vũ khí cho VC ở miền Nam. Sirik Matak gởi tối hậu thư cho CSBV, yêu cầu rút hết quân ra khỏi CPC trong vòng 72 giờ tính đến ngày 15-3-1970. Ngày 18-3-1970, Lon Nol đem 20 tiểu đoàn đến bao vây quốc hội, và áp lực buộc phải ra Quyết định bãi nhiệm Sihanouk.


Ngày 9-10-1970, nước Cộng Hoà Khmer ra đời. Lon Nol lên làm tổng thống. Tổng thống duy nhất trong lịch sử CPC. Phong trào chống Cộng Sản VN làm ảnh hưởng đến người Việt sinh sống ở CPC. Nạn “cáp duồn” lại tái diễn trên cả nước. Lon Nol đem quân đi đánh CSBV trên đất Miên nhưng thất bại, thế là VNCH và Hoa Kỳ tổ chức cuộc Hành Quân qua biên giới CPC, tiến sâu vào lãnh thổ 30, 40 km, có nơi đến 80 km. Cuộc hành quân phá vở căn cứ của Trung Ương cục miền Nam và các cơ sở hậu cần của VC, đã thành công tốt đẹp. QĐ/VNCH đã phá vở các nhà kho, nhà ăn, lán trại, chuồng heo gà, bãi tập và cả hồ tắm nữa.
Có hơn 400 lán trại, boong ke chứa quần áo, thuốc men, lương thực và cả rượu ngoại quốc, thuốc thơm nữa. 182 hầm vũ khí chứa đạn dược, có hầm chứa 480 khẩu súng, một hầm chứa 120,000 viên đạn, phá hủy tất cả 6 triệu đạn dược đủ loại, rocket, đại liên, tiểu liên… Trung Ương cục và ban lãnh đạo MTDT/GP/NM bị phá vở. BS Dương Quỳnh Hoa chạy nạn đến trụy thai trong trận nầy.

7* Vài nét tổng quát về Norodom Sihanouk

7.1. Tiểu sử


Sihanouk năm 1941

Norodom Sihanouk (31-10-1922 – 15-10-2012). Cha là Norodom Suramarit, mẹ là Sisowath Kossamak. Ông có 6 vợ và 14 con (8 trai, 6 gái). Sihanouk và vua cha đã từng sống ở Sài Gòn để theo học trường Chasseloup Laubat (Lê Quý Đôn ngày nay) nên nói tiếng Việt rất thông thạo.

7.2. Đặc điểm bản thân


Sihanouk là người đa tình, có óc nghệ sĩ. Ông làm thơ, viết nhạc, chơi kèn Saxophone, viết chuyện phim, làm đạo diễn và trong phim có mặt ông, hoàng hậu Monique các bộ trưởng và bạn bè thân thiết. Sihanouk thích sống xa hoa phung phí, thích thức ăn và rượu Pháp, thường tổ chức tiệc tùng linh đình, ngay cả khi sống lưu vong. Sau khi bị Lon Nol truất phế, ông sống ở Bình Nhưỡng (Bắc Hàn). Kim Jong-il đã xây một biệt thự cho ông có 60 phòng, kể cả phòng chiếu phim.

Sihanouk với lãnh đạo Bắc Hàn Kim Nhật Thành

7.3. Cuộc đời thăng trầm

Ngày 23-4-1941, Norodom Sihanouk lên ngôi quốc vương Campuchia.

Tháng 3 năm 1945, Nhật Bản chiếm CPC, nhưng cho phép chính phủ thời Pháp được duy trì. Chỉ cử Sơn Nhật Thành làm Thủ tướng. Nhật buộc ông tuyên bố nước CPC độc lập.

Năm 1953, Pháp trả độc lập cho CPC. Sihanouk vẫn là quốc vuơng nước nầy.

 
Ngày 18-3-1970, Lon Nol truất phế, Sihanouk sống lưu vong ở Bình Nhưỡng, rồi Bắc Kinh. Trong thời gian nầy, ông lập ra Mặt Trận Thống Nhất Quốc Gia (Front Uni-National du Kampuchia-FUNK). Ông kêu gọi toàn dân ủng hộ Khmer Đỏ của Pol Pot, chống lại Lon Nol và Sirik Matak. Hưởng ứng lời kêu gọi, nông dân tham gia Khmer Đỏ rất đông, từ 6,000 tăng lên thành một lực lượng 50,000 du kích.

Campuchia và những vết sẹo từ thảm họa diệt chủng Pol Pot - Tư liệu

       Đồ tể Polpot và tội ác của Khờ me đỏ.

Tháng 2 năm 1973, nhân cơ hội Hiệp Định Paris đã được ký kết, ngừng bắn, kết thúc chiến tranh, ông nhờ Hà Nội đưa về mật khu trên đất CPC để hội họp với Pol Pot. Hà Nội cử một đoàn 89 người với 11 chiếc xe, từ Đồng Hới dọc theo Trường Sơn đưa Sihanouk và hoàng hậu Monique xâm nhập CPC vào mật khu để gặp Pol Pot.

Cambodia: Princess Monique, Khieu Samphan, Norodom Sihanouk and Hu Nim pose  by Km marker 525, Khmer

PolPot *Hoàng hậu Monique,  Khieu Sam Phan, Sihanouk tại mật khu

Ngày 17-4-1975, khi Pol Pot chiếm Phnom Penh lên cầm quyền, Sihanouk được mời về giữ chức vua bù nhìn của chế độ diệt chủng. Người dân CPC chỉ trích ông thậm tệ.


Pol Pot cử ông đến Đại Hội Đồng LHQ để tố cáo CSVN đã xâm lược chiếm đóng nước ông. Ông lo hối lộ cho cán bộ mật vụ Pol Pot đi theo canh chừng, để ông gởi một tấm giấy nhỏ cho đại diện Mỹ ở LHQ là ông Young để xin tỵ nạn. Đến ngày hẹn cho cuộc đào tỵ, ông Young không đến, nên ý nguyện không thành. Có lẻ Hoa Kỳ đã chán bộ mặt tráo trở của ông.

Về CPC, ông bị quản thúc suốt một năm, rồi Pol Pot trục xuất ông sang Bắc Kinh.

Sihanouk với Đặng Tiểu Bình ở Bắc Kinh

Ngày 23-4-1991, sau khi CSVN rút quân, LHQ đưa 22,000 quân mủ xanh đến giữ an ninh và tổ chức bầu cử tự do, Sihanouk được mời về tham gia bầu cử và được phong là Quốc vương của chính phủ liên hiệp giữa đảng Nhân Dân của Hun Sen (do CSVN dựng lên) và đảng Bảo hoàng FUNCIPEC. Sau khi quân LHQ rút khỏi CPC, Hun Sen lật lọng, đảo chánh chiếm chính quyền, tiêu diệt đối lập, giết chết 300 người, và thực hiện cách cai trị độc tài dưới chế độ quân chủ lập hiến. Vua Sihanouk truyền ngôi lại cho con là Norodom Sihamoni, làm vua bù nhìn cho đến hiện nay.

The Cambodian King's Mother Birthday (Norodom Monineath Sihanouk)

Norodom Sihamoni và cha mẹ

8*. Những điều ít biết về Norodom Sihanouk

Theo quy định trước đây của Hoàng tộc Campuchia, thì anh em ruột, anh em họ, anh em cùng cha khác mẹ đều có thể lấy nhau làm vợ chồng. Norodom Sihanouk đã kết hôn sáu lần và có tổng cộng 14 người con (8 trai, 6 gái).

1). Người vợ thứ nhất của Sihanouk.

Năm 1941, Sihanouk kết hôn với Neak Moneang Phal Kanthol, 19 tuổi, là diễn viên trong đoàn múa ba lê của Hoàng gia. Hôn lễ bị các quan chức cao cấp và viên chức ngoại giao Pháp phản đối vì nữ diễn viên nầy xuất thân hèn kém và không phải là nữ đồng trinh, vì cô đã ăn nằm với người yêu là Zha Hua. Cha của Shanouk yêu cầu con trai lập tức bỏ vợ để lấy người môn đăng hộ đối. Năm 1943, Sihanouk bỏ vợ. Bà Phal Kanthol sinh hạ một trai, một gái, cả hai được giữ trong vương thất.

2). Người vợ thứ hai của Sihanouk

Năm 1942, Hoàng gia đã ngầm đưa một quốc sắc thiên hương vào ăn ở với Sihanouk, mục đích cho ông bỏ bà vợ Phal Kanthol. Người đẹp là công chúa Sisowath PongSanmoni, 13 tuổi, vai vế trong giòng họ là dì của Sihanouk. Bà mẹ đã dạy con gái 13 tuổi nhiều chuyện vợ chồng và tình dục, mà một đứa bé thời kỳ đó chẳng bao giờ hiểu được.

Từ năm 1942 đến 1951, bà Sisowath PongSanmoni sinh bảy người con (4 trai, 3gái). Giữa họ, cuộc sống vợ chồng kéo dài 9 năm.

3). Người vợ thứ ba của Sihanouk

Trong thời gian sống với công chúa PongSanmoni, Sihanouk yêu người em gái cùng cha khác mẹ với mình là Sisowath Monikessan và đã trở thành người vợ thứ ba của ông. Tuy sinh được một hoàng tử, nhưng vì sinh khó, nên bà Sisowath Monikessan chết sau khi đứa con trai ra đời.

4). Người vợ thứ tư của Sihanouk

Năm 1949, Sihanouk đưa một cô gái người Lào mà ông gặp gỡ trong một cuôc khiêu vũ về Phnom Penh, để làm lễ cưới. Cô gái Lào tên MamManivan kém hơn ông 12 tuổi. Lễ cưới vắng mặt chú rể vì theo luật lệ của Hoàng gia, nếu cô dâu là một thường dân thì chú rể phải vắng mặt. Bà nầy sinh 2 công chúa. Năm 1970, khi Lon Nol đảo chánh, bà MaManivan ôm con chạy loạn không biết số phận của họ ra sao.

Từ năm 1949 đến năm 1951, Sihanouk sống một lúc cùng với 3 người phụ nữ.

5). Người vợ thứ năm

Người vợ thứ năm là công chúa Kanita Norodom Norleak, em họ của Norodom Sihanouk. Họ yêu nhau từ trước. Sau khi MamManivan mất tích, công chúa Norleak ly dị với chồng và được phong làm Đệ nhất phu nhân. Đến năm 1960, họ chia tay. Norleak sang định cư ở Pháp.

6). Người vợ thứ sáu, hoàng hậu Monique.

Người vợ thứ sáu là hoàng hậu Monique, tên Miên là Monineath Sihanouk. Hôn lễ cử hành long trọng vào tháng 4 năm 1952. Bà sinh ngày 18-6-1936 tại Sài Gòn, tên khai sanh

là Paule-Monique Izzi. Cha bà là người Pháp gốc đảo Corse, tên Jean-Francois Izzi, một chủ ngân hàng. Mẹ là người Campuchia tên Pomme Peang. Như vậy bà Monique là người Pháp lai Miên sinh ra ở Sài Gòn. Họ có hai con trai: Hoàng thân Norodom Sihamoni (14-5-1953) đang tại vị Quốc vương Campuchia, và Hoàng thân Norodom Narindrapong sinh ngày 18-9-1954, qua đời năm 2003, ông có hai con gái.

9* Nạn Cáp Duồn9.1. Cáp duồn (Youn)

Hình ảnh gây sốc về người Việt tại Campuchia năm 1970

Trong tiếng Khmer, Cáp là chặt đầu, Duồn là người Việt Nam  

Những vụ giết người Việt thả xuống giếng, ao, hồ và sông,

xảy ra trong một phạm vi lớn, gây kinh hoàng cho người Việt sống ở Campuchia. Nguồn gốc của Cáp Duồn là do hận thù dân tộc lâu đời của người Khmer đối với người Việt Nam.

Năm 1970, vào lúc ban đêm, binh lính Campuchia tấn công các khu vực của người Việt để cướp của giết người. Gặp đàn ông thì chặt đầu thả trôi song. Phụ nữ thì bị hiếp dâm tập thể.

Khẩu hiệu của chính phủ “Giết người Việt là yêu nước”.

Vụ giết người Việt xảy ra lần đầu tiên là năm 1730. Lịch sử Miên ghi lại, năm 1730, một người tỵ nạn Lào, tự xưng là nhà tiên tri, xúi giục nhóm người Khmer cuồng tín hạ sát tất cả những người Việt nào mà họ gặp trong vùng Banam.

Từ đó, nạn giết người Việt thỉnh thoảng xảy ra.

9.2. Cáp Duồn công khai và có hệ thống

Funland] - 1970 – Campuchia trong vòng xoáy chiến tranh Việt Nam | Page 15  | OTOFUN | CỘNG ĐỒNG OTO XE MÁY VIỆT NAM

Người Việt chạy nạn, chờ Hải Quân VNCH đưa về hồi hương

Năm 1970, chính phủ Lon Nol phát động chiến dịch Cáp Duồn trên toàn quốc. Radio, ti vi, báo chí đua nhau kể tội, nói xấu người Việt mỗi ngày. Bức hình “Ba cái đầu Khmer chụm lại làm ba ông táo” lại xuất hiện và nhiều bài viết kích động, tuyên truyền liên tục mục đích làm dấy lên làn sóng bài Việt vốn âm ỉ trong người Khmer.
Mỗi ngày có hàng chục, hàng trăm xác chết người Việt trên dòng sông Mekong và Tonle Sáp. Xác chết sình lên, hôi thúi cả dòng sông. Người Việt bị ruồng bắt để tịch thu tài sản, nhốt tù hoặc bắn giết hết sức dã man, gây kinh hoàng cho người Việt ở đất nước nầy.
Người Khmer cho rằng, thời kỳ đô hộ của nhà Nguyễn, thời vua Minh Mạng, Trương Minh Giảng thực hiện rất hà khắc và tàn bạo. Họ nhắc đi nhắc lại việc 3 nhà sư Khmer bị bắt chụm 3 cái đầu lại làm 3 ông táo đội cái nồi nấu nướng thức ăn.

10*. Kết luận

Con người Sihanouk có nhiều mặt. Ban đầu chống Pol Pot rồi sau lại ủng hộ Pol Pot, tạo điều kiện thắng lợi để Pol Pot thực hiện chế độ diệt chủng ở CPC. Kể ra, Sihanouk cũng có tội trong đó. Ban đầu chống Mỹ, đoạn giao, đóng cửa toà đại sứ, rồi sau đó, khi ở NewYork họp Đại Hội Đồng LHQ, thì xin Mỹ giúp đỡ để đào tỵ sang Mỹ. Bị Pol Pot lợi dụng, cuối cùng bị vắt chanh bỏ vỏ bằng cách quản thúc trong Hoàng cung. Tinh thần suy sụp, trầm cảm, bị cô lập, suốt ngày chỉ được nghe radio tin tức mà thôi.

Tóm lại, Norodom Sihanouk chỉ là một ông vua đa tình, đầy óc nghệ sĩ, thích sống xa hoa phung phí, không có bản lãnh và khả năng chính trị, để bảo vệ và phát triển đất nước.

Đối với Việt Nam Cộng Hòa thì Sihanouk không phải là một người bạn tốt. Ông cũng đã từng trấn lột người Việt sinh sống trên đất nước Campuchia. Cho Việt Cộng lập căn cứ trên đất Miên để đánh VNCH, tức là kẻ thù của VNCH. Truất phế và mưu sát kẻ thù là hành động chính trị đúng đắn.

Trúc Giang MN Minnesota

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links: Nguồn Email


Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng – Nguyễn Thanh Liêm

 Bài đọc suy gẫm:  Hiện tượng tha hóa trong lãnh vực Giáo dục dưới chế độ cộng sản vô thần về mọi mặt lại một lần nữa được cộng đồng mạng gióng lên trong năm 2022. Blog 16 hân hạnh gởi đến bạn đọc bài “Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng” là đặc trưng của nền Giáo dục ở miền Nam 1954 – 1975, bài viết quan trọng do Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm biên soạn. Hình ảnh có tính cách minh họa.

Xin trích một phần tài liệu của GSTS Nguyễn Thanh Liêm (ảnh bên) về giáo dục ở miền nam sau 1954. (GSTS Nguyễn Thanh Liêm nguyên là Hiệu trưởng Petrus Ký – Sài Gòn, Chánh Thanh Tra trưởng ban soạn đề thi của Bộ Giáo Dục trong những năm 1965-67, Thứ Trưởng Bô Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên, Việt Nam Cộng Hòa trước năm 1975).

Trước khi bị Pháp đô hộ, nền giáo dục ở Việt Nam là nền giáo dục cũ của Nho gia, gọi nôm na là “cái học của nhà Nho” như nhiều người thường nói. Nền giáo dục cũ này chịu ảnh hưởng nặng nề của Trung Hoa, từ chương trình, sách vở, lối học đến cách thức thi cử. Tổ chức giáo dục xưa được Đào Duy Anh ghi lại như sau trong quyển Việt Nam Văn Hóa Sử Cương:

“Ở mỗi huyện có quan Huấn đạo, mỗi phủ có quan Giáo thụ, dạy Tứ Thư Ngũ Kinh cho học trò khá. Ở mỗi tỉnh có quan Đốc học dạy các sinh đồ cao đẳng. Ở Kinh đô có trường Quốc tử giám. Các vị học quan kể trên đều ở dưới quyền giám đốc của bộ Lễ hoặc bộ Học. Trong dân gian thì xưa nay việc học vẫn hoàn toàn tự do. Thầy học thì có thầy khóa, thầy đồ, thầy tú dạy trẻ con, cho đến bậc đại khoa không xuất chính, hay các quan trí sĩ, có người dạy đến trăm nghìn học trò.”

Trường học thì phần lớn là nhà riêng của ông thầy, hoặc ở chùa hay ở đình, miểu trong làng. Giáo dục có thể xem như là công việc của nhànho hơn là của quốc gia, không thuộc một cơ quan công quyền với sự tài trợ và kiểm soát đôn đốc của chính phủ. Không có một hệ thống tổ chức qui mô của một nền giáo dục quốc gia gồm đủ cơ sở và nhân viên giảng huấn và điều hành từ trung ương đến địa phương, từ cấp thấp (như tiểu học) lên cấp cao (như đại học). Chương trình học thì gồm có mấy quyển Tam Tự Kinh, Sơ Học Vấn Tân, Ấu Học Ngũ Ngôn Thi, Dương Tiết và Minh Tâm Bửu Giám ở cấp vở lòng, xong rồi lên trên thì học Bắc sử (tức sử Tàu) và Tứ Thư Ngũ Kinh. Tất cả những sách này là sách gối đầu giường của Nho gia, chú trọng hầu hết vào triết lý, luân lý, đạo đức chứ không có một ý niệm khoa học kỹ thuật nào chen vào. Phương pháp giảng dạy thì phần lớn như Đào Duy Anh tả: “thầy thì cứ nhắm mắt mà giảng chữ nào nghĩa nấy chỉ sợ sai mất nghĩa của Tống Nho.” Phương pháp học hỏi thì hoàn toàn dựa vào sự học thuộc lòng thu gọn vào trong công thức “sôi kinh nấu sử” tức là học tới học lui mãi cho đến khi nào thuộc nằm lòng Tứ Thư Ngũ Kinh và Bắc sử. Người đi học thực tập nhiều nhất là viết chữ cho thật đẹp như “phụng múa rồng bay”, làm thơ, làm phú, kinh nghĩa, văn sách, chế chiếu, biểu, câu đối, cho thật nhanh, thật khéo và thật chỉnh, dùng được càng nhiều điển tích càng hay để có thể đậu được các kỳ thi do triều đình tổ chức. (Có ba kỳ thi: thi Hương tổ chức ở một số địa phương để lấy Tú Tài; thi Hội và thi Đình tổ chúc ở trung ương để lấy Cử Nhân và Tiến Sĩ). Tất cả các kỳ thi đều là thi tuyển và chỉ nhắm vào một kỷ năng của thí sinh là làm văn làm thơ dưới nhiều dạng như thơ đường luật, kinh nghĩa, văn sách, v v … Thường thì ba năm mới có một khoa thi, và đi thi là cả một vấn đề khổ nhọc cho sĩ tử vì trường thi ở xa, đường giao thông khó khăn, phương tiện giao thông còn rất thiếu kém. Thi đậu được thì có thể ra làm quan, không thì lui về làm thầy đồ thầy khóa, “tiến vi quan, thối vi sư” vậy.[…]

Giới sĩ phu là giới sát cạnh nhà vua, giúp vua trị nước, thuộc hàng ngũ lãnh đạo quốc gia, là bậc thầy trong xã hội, đóng vai dẫn đầu, điều khiển, hướng dẫn dân chúng trong mọi sinh hoạt bảo vệ và phát triển đất nước. Nước giàu dân mạnh hay suy nhược đói nghèo, trách nhiệm ở giới lãnh đạo, ở Kẻ Sĩ, nhà Nho. Lớp trí thức nho sĩ cũng như cái học cũ của nho gia ngự trị trong xã hội Việt Nam từ thời Lý Trần cho đến khi có sự xăm chiếm và đô hộ của người Pháp hồi cuối thế kỷ XIX trong Nam và đầu thế kỷ XX ở miền Bắc và Miền Trung. Riêng trong Nam thì vì Nam Kỳ Lục Tỉnh chỉ mới được thành hình trọn vẹn từ giữa thế kỷ XVIII cho nên sự giáo dục ở đây chưa được tổ chức rộng rãi, chưa có cội rễ ăn sâu vào lòng đất như ở chốn ngàn năm văn vật của Thăng Long – Hà Nội . Tính ra thì Nho học chỉ có được chừng một thế kỷ ngự trị ở Phương Nam. Mãi đến năm 1826 Miền Nam mới có vị Tiến Sĩ đầu tiên theo lối học xưa là cụ Phan Thanh Giản. Nhưng nền học vấn cổ truyền của nho gia này ở Miền Nam chỉ mới có chừng trăm năm thì bị sụp đỗ hẵn bởi sự thất bại, suy vong của triều Nguyễn trước sức mạnh quân sự và nền văn minh khoa học kỹ thuật Âu Tây. Khi nền cai trị của chính quyền đô hộ Pháp được thiết lập xong thì cái học nhà nho cũng bị xóa bỏ để nhường chỗ cho cái học mới hay Tây Học.[…]

 Khóa Thi Hương năm Tân Mão 1891.

Cái học mới này (tân học) diễn ra ở Miền Nam trước nhất vào cuối thế kỷ XIX sau khi người Pháp đặt xong nền đô hộ ở đây. Nền giáo dục mới này lấy giáo dục Pháp làm khuôn mẫu, dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Trường học gồm có các trường công do chính phủ xây cất, đài thọ chi phí và kiểm soát, và một số trường tư của Thiên Chúa giáo hoặc của tư nhân. Hệ thống giáo dục mới này được thiết lập nhằm hai mục tiêu: (1) mục tiêu thực tiễn là đào tạo một số người biết tiếng Pháp, chữ Quốc Ngữ, và có chút kiến thức về văn minh Tây phương để làm công chức ở ngạch trật thấp phục vụ cho chính phủ thuộc địa, và (2) mục tiêu lý tưởng là đồng hóa người bản xứ biến họ thành những người Pháp về phương diện văn hóa. Một số nhà trí thức Pháp tự cho họ cái sứ mạng cao cả là đem văn minh khoa học Âu Tây phổ biến khắp nơi. Đó là sứ mạng văn minh hóa (“mission civilisatrice”) tức là đi khai hóa các nước chậm tiến, kém văn minh, kém mở mang. Người đầu tiên thực hiện chính sách đồng hóa văn hóa (cultural assimilation) đó ở Miền Nam là Thống Đốc Le Myre de Vilers. Ông là người dân sự đầu tiên được cử sang làm Thống Đốc Nam Kỳ từ năm 1879 đến 1892. Các ông thống đốc trước ông đều là những người bên quân đội, nhất là bên hải quân. Để thực hiện sứ mạng văn minh hóa dân bản xứ, ông cho mở rất nhiều trường ở mỗi làng và mỗi tổng cho cấp sơ và tiểu học. Tuy nhiên vì thiếu hụt ngân sách vàkhông đủ giáo chức cho nên nhiều trường chỉ được mở ra rồi liền sau đó lại đóng cửa thôi. Sang đầu thế kỷ XX chế độ giáo dục mới mới được thiết lập ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ sau một vài sửa đổi theo quyết định của Toàn Quyền Paul Beau hồi 1906-07. Theo quyết định này thì một hội đồng cải tổ giáo dục được thành lập để đem chữ Quốc Ngữ, chữ Pháp và nền tân học vào chương trình học và chế độ khoa cử mới. Các thầy đồ, thầy khóa ở xã thôn, các quan giáo huấn, đốc học ở phủ, huyện, tỉnh, phải dạy thêm chữ Quốc Ngữ cho học trò ngoài việc dạy chữ Hán như trước. Các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình đều có có chút đổi mới từ 1909. Bài luận chữ Quốc Ngữ và bài dịch Pháp văn ra Việt văn được thêm vào các kỳ thi nhưng chỉ là môn phụ và có tính cách tự nguyện chớ không bắt buộc. Trong kỳ thi Hội và thi Đình năm 1910 có thêm bài thi cách trí, địa dư nước nhà, sử Thái Tây, nhân vật nước nhà và thời sự. Đặc biệt là bài thi được chấm điểm theo lối mới của Pháp với thang điểm từ 0 đến 20. Triều đình tựa trên thang điểm đó mà định làm 6 hạng trúng tuyển: Trạng Nguyên (20 điểm), Bảng Nhỡn (18-19 điểm), Thám Hoa (16-17 điểm), đệ nhị giáp Tiến Sĩ (từ 12 đến 15 điểm), Đồng Tiến Sĩ (từ 10 đến 12 điểm), và Phó Bảng (từ 7 đến 9 điểm). Song song với việc thành lập hội đồng cải cách giáo dục, một trường sư phạm cũng sẽ được thiết lập để đào tạo giáo viên tiểu học người Việt. Ngoài ra, trong mục đích tuyên truyền, Toàn Quyền Paul Beau cũng cho mở một trường đại học hồi năm 1907 ở Hà Nội để thu phục nhân tâm (sau khi chính quyền cho đóng cửa Đông Kinh Nghĩa Thục và bắt giam một số nhà cách mạng). Nhưng đại học chỉ được mở ra mà không hoạt động, phải đến năm 1918, dưới thời Toàn Quyền Albert Sarraut, trường mới thật sự mở cửa. Trước đó một năm, năm 1917, chánh quyền thuộc địa đã cho ban hành một hệ thống giáo dục mới có qui cũ, thống nhất trên toàn quốc, về tất cả các phương diện tổ chức hành chánh, chương trình học, qui chế giáo chưc, và tổ chức thi cử. Đến đây cái học cũ trên toàn quốc hoàn toàn lui vào bóng tối nhường chổ cho giáo dục mới.

Người sốt sắng thực hiện mục tiêu văn minh hóa người Việt Nam là Le Myre de Vilers. Để thực hiện sứ mạng văn minh hóa người Việt ông cho mở rất nhiều trường học, từ trường sơ cấp ở làng đến trường tiểu học ở quận và tỉnh, và đặc biệt nhất là một trường trung học (collège) ở Nam Kỳ. Đây là trường trung học đầu tiên và vào cuối thế kỷ XIX đây là trường trung học duy nhất cho cả Miền Nam. Trường chỉ có hai năm học và mang tên là Collège de MỹTho. Nhà văn Hồ Biểu Chánh (1885-1958) đã từng học ở trường này. Sang thế kỷ XX trường có đủ bốn năm học và được đổi tên là Collège Le Myre de Vilers, do một số giáo sư của trường đề nghị để ghi nhớ ông Thống Đốc dân sự đầu tiên đã mở ra trường này và cũng để ghi nhớ công lao của ông đối với việc phát triển nền giáo dục mới ở Nam Kỳ. Đến giữa thập niên 1950 trường được phát triển thêm, có các lớp đệ nhị cấp đủ để trở thành trường trung học đệ nhị cấp. Trường được đổi thành Lycée và mang tên một danh nhân Miền Nam Việt Nam: cụ Đồ Chiểu. Danh xưng Lycée Nguyễn Đình Chiểu rồi Trung Học Nguyễn Đình Chiểu ra đời từ đó và còn mãi đến bây giờ.[…]

Ảnh: Charles Le Myre de Vilers, Thống Đốc Nam Kỳ (Thuộc địa)

Giáo dục, hiểu theo nghĩa xã hội, là cách thức xã hội hóa (socializing) con người. Giáo dục có nhiệm vụ dạy cho con người biết cách sống trong xã hội, biết nền văn hóa mà con người được sinh ra trong đó để sống cho thích hợp. Cách ăn uống, lễ phép, cách đối xử, các nghề nghiệp sinh sống, phong tục tập quán, v v … tất cả đều có trong xã hội đương thời và nhiệm vụ của giáo dục (từ giáo dục trong gia đình đến giáo dục ngoài xã hội) là tập luyện cho con người thích nghi vào trong xãhội văn hóa đó. Tuy nhiên trong ba bậc học (tiểu học, trung học, và đại học) ở học đường, mỗi bậc có cách xã hội hóa khác  – . Ở tiểu học giáo dục nhằm xã hội hóa con người ở mức độ cơ bản, nghĩa là người ta chỉ dạy những cái cần thiết căn bản của xã hội. Ở bậc trung học sự xã hội hóa nhắm vào việc thích nghi con người vào tình trạng văn hóa mà người ta muốn có. Thường khi người ta (các nhà làm chính trị, những nhà lãnh đạo) muốn có xã hội thế nào thì người ta nhắm vào lớp người vào trung học để đào luyện họ trỡ thành những công dân kiểu mẫu cho xã hội người ta muốn có. Những người này sẽ được xã hội hóa để bảo tồn những gì đã có. Ở bậc đại học sự xã hội hóa bớt đi rất nhiều tính cách uốn nắn mà thường có tính cách khơi động nhiều hơn. Người lên đại học phải mở rộng sự hiểu biết của mình để đón nhận những mới lạ để có thể hướng xã hội đến những sửa đổi, tiến triển, hiện đại nhiều hơn là bảo tồn những gì đã có sẵn từ trước. Các trường trung học của chúng ta cũng đóng vai trò xã hội hóa học sinh giống như bao nhiêu trường trung học khác trên thế giới. Việc xã hội hóa ở đây là thích nghi con người vào trong xã hội Miền Nam nước Việt vào giữa thế kỷ XX.

Vào cuối thế kỷ XIX Nam Kỳ có khoảng một triệu rưởi dân số, nhưng chỉ có khoảng 5 ngàn học sinh cho tất cả từ sơ cấp đến tiểu học. Tỷ lệ người đi học tuy thấp so với sĩ số mà ta có sau này dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, nhưng so với thời đại các nhà Nho thì đây là con số khá lớn. Số đông này là số được hấp thụ giáo dục mới. Họ sẽ là lớp người dùng chữ Quốc Ngữ thay chữ Nôm và chữ Hán, họ cũng là những người biết chút ít tiếng Pháp và một số kiến thức khoa học phổ thông có thể xem như là giới trí thức tân học ở thời kỳ chuyển tiếp này. Đó là tình trạng giáo dục ở Miền Nam.

Và đến năm 1917 chính quyền thuộc địa mới có một hệ thống giáo dục thống nhất cho cả ba miền Nam, Trung, Bắc. Hệ thống giáo dục mới này – gọi là Giáo Dục thời Pháp thuộc – gồm có ba bậc: Tiểu học, Trung học, và Đại học. Bậc Tiểu học được chia làm hai cấp: (1) cấp Sơ học gồm các lớp Đồng Ấu (Cours Enfantin) hay lớp Năm hoặc lớp Chót, lớp Dự Bị (Cours Preparatoire) hay lớp Tư, và lớp Sơ Đẳng (Cours Elementaire) hay lớp Ba, (2) cấp Tiểu học gồm có lớp Nhì Một Năm (Cours Moyen Première Année), lớp Nhì Hai Năm (Cours Moyen Deusième Année) và Lớp Nhất (Cours Supérieur). Mỗi làng có một trường sơ cấp. Ở tổng lớn hay ở quận (đông dân) có thể có trường tiểu học nếu có đông học sinh. Tại mỗi tỉnh lỵ có một trường tiểu học lớn (có nhiều lớp cho mỗi cấp lớp), như trường Nam Tiểu học Mỹ Tho chẳng hạn có được 5 lớp Nhất, 1 lớp Tiếp Liên (Cours des Certifiés) hồi thập niên 1940. Học xong lớp Ba, tức là hết Sơ cấp, học sinh phải thi tuyển vào lớp Nhì Một Năm để học tiếp bậc Tiểu học, và khi xong lớp Nhất (hết bậc Tiểu học) học sinh lại phải thi lấy bằng Sơ Tiểu tiếng Pháp viết tắt là bằng CEPCI (tức là Certificat d’Études Primaire Complémentaire Indochinoise). Đậu xong bằng này học sinh mới được dự kỳ thi tuyển vào năm Thứ Nhất trường Trung học.

Bậc Trung học cũng chia làm hai cấp. Cấp thứ nhất gọi là Cao Đẳng Tiểu Học (Enseignement Primaire Superieur, cũng như trung học đệ nhất cấp sau này) gồm có bốn lớp: Năm Thứ Nhất (Première Année), Năm Thứ Nhì (Deuxième Année), Năm Thứ Ba (Troisième Année) và Năm Thứ Tư (Quatrième Année). Học xong Năm Thứ Tư học sinh thi lấy bằng Thành Chung hay DEPSI (Diplôme d’Études Primaire Superieur Indochinois). Những ai muốn thi lấy bằng cắp Pháp thì có thể thi bằng Brevet Premier Cycle hay Brevet Elementaire. Cấp thứ hai là ban Tú Tài gồm các lớp Second (như Đệ Tam hay lớp 10 sau này), Première (như Đệ Nhị hay lớp 11) và lớp Terminale (như Đệ Nhất hay lớp 12). Xong lớp Première (Đệ Nhị hay lớp 11) học sinh phải thi Tú Tài I (Baccalauréat Première Partie), đậu được Tú Tài I mới được vào học lớp Đệ Nhất hay lớp 12. Học hết lớp 12 học sinh phải thi lấy bằng Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie). Khi lên lớp Terminale (lớp 12) học sinh phải chọn một trong ba ban chính sau đây: (1) ban Triết (Philosophie), (2) ban Khoa Học Thực Nghiệm (Sciences Expérimentales), và (3) ban Toán (Mathématiques Élémentaires)… Học hết lớp 12 học sinh phải thi lấy bằng Tú Tài II (Baccalauréat Deuxième Partie) về một trong các ban nói trên. Bằng Tú Tài II thường được gọi tắt là Bac. Philo. (Tú Tài II ban Triết), Bac. Math. (Tú Tài II ban Toán) v v … Xong Tú Tài học sinh mới được vào Đại học, và dưới thời Pháp thuộc chỉ có một đại học duy nhất ở Hà Nội cho toàn cõi Đông Dương. Một số không nhỏ học sinh Việt Nam, nhất là ở Miền Nam, sau khi xong Tú Tài thường qua Pháp học tiếp bậc đại học thay vì ra Hà Nội học.

Chương trình học trên đây chịu ảnh hưởng nặng nề của chương trình Pháp, dùng tiếng Pháp làm chuyển ngữ. Tiếng Việt chỉ được xem như một sinh ngữ phụ. Đúng ra đây chỉ là chương trình Pháp thật sự nhưng có chút sửa đổi nhỏ áp dụng cho các trường Việt Nam. Chương trình này kéo dài đến hết Thế Giới Đại Chiến Thứ Hai trên toàn cỏi Việt Nam. Sau năm 1945, sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, chương trình Việt được ban hành. Chương trình này – chương trình Hoàng Xuân Hản – được đem ra áp dụng trước ở Bắc Việt và Trung Việt, nhưng riêng ở Miền Nam thì vì có sự trở lại của người Pháp nên chương trình Pháp vẫn còn tiếp tục. Dưới thời Pháp đô hộ giáo dục phát triển rất chậm chạp. Quyền quyết định về giáo dục cũng như chính sách giáo dục hoàn toàn nằm trong tay người Pháp. Phải đến giữa thập niên 1950, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, chương trình Việt mới bắt đầu được áp dụng ở trong Nam để thay thế chương trình Pháp. Cũng từ khoảng thời gian đó, thời Đệ Nhất Cộng Hòa, các nhà lãnh đạo giáo dục Việt Nam mới có cơ hội đóng vai trò lãnh đạo quan trọng của họ. Những đóng góp của họ thật lớn lao đưa đến sự bành trướng và phát triển vô cùng mạnh mẽ của nền giáo dục quốc gia dưới thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa.[…]

Triết lý giáo dục VNCH nằm trong những Nguyên Tắc Căn Bản do Bộ Giáo Dục ấn hành năm 1959 và sau đó được ghi lại trong hiến pháp 1967.Những nguyên tắc căn bản này được tóm lược như sau:

Thứ nhất: Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản (humanistic education). Nhân là người hay con người, bản là gốc là căn bản. Trong lãnh vực triết lý, thuyết nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong đời sống trên thế gian này. Thuyết nhân bản lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản chớ không nhắm đến linh hồn hay một cuộc đời nào khác ngoài thế giới mà loài người hiện đang sống trong đó. Theo thuyết này, con người có giá trị đặc biệt của con người, cao cả hơn tất cả các giống sinh vật khác trên đời này. Chỉ có con người mới có văn hóa, có những hoạt động có suy tư, có sáng tạo, làm cho cuộc sống của con người tiến hóa luôn từ xưa đến giờ. Nhân bản cũng chỉ tính cách linh thiêng của con người, khác hơn mọi loài vật, “nhân linh ư vạn vật”, và con người phải được tôn trọng bởi tính linh thiêng đó. Con người tự nó là một cứu cánh chớ không phải là một phương tiện. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân nhưng không chấp nhận dùng sự khác biệt đó để đánh giácon người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, con người có giá trị của con người như nhau, và mọi người đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.

Thứ hai: Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc (nationalistic education). Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh anh hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc Việt Nam có mặt trên thế giới này từ bao nhiêu ngàn năm trước. Dân tộc đó có tiếng nói riêng, có lịch sử riêng, có một nền văn hóa riêng của nó từ bao đời. Dân tộc tính đó trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị tan biến hay tiêu trầm trong những nền văn hóa khác.

Thứ ba: Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng kín cữa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.[…]

Từ những nguyên tắc căn bản trên đây, quan niệm về giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa bao gồm những tư tưởng nền tảng sau đây liên hệ tới những mục tiêu chính của giáo dục:

Phát triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những định luật phát triển tự nhiên về vật lý và tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của mỗi cá nhân học sinh phải được lưu ý đúng mức. Cung ứng cho học sinh đầy đủ tin tức, dữ kiện, để học sinh phán đoán, lựa chọn, không che dấu tin tức hay chỉ cung cấp những tin tức chọn lọc thiếu trung thực để nhồi sọ học sinh theo một chủ trương, một hường đi định sẵn nào.

Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh bằng cách: giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sinh sống, và lối sống của người dân; giúp học sinh hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, ca ngợi tinh thần đoàn kết, tranh đấu của người dân trong việc chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc, yêu thương giúp đở nhau trong tình đồng bào; giúp học sinh học tiếng Việt và sử dụng tiếng Việt một cách có hiệu quả; giúp học sinh nhận biết cái đẹp của quê hương xứ sở, những tài nguyên phong phú của quốc gia, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; giúp học sinh bảo tồn những truyền thống tốt đẹp, những phong tục giá trị của quốc gia; giúp học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

Phát triển tinh thần dân chủ và tinh thần khoa học bằng cách: giúp học sinh tổ chức những nhóm tự trị với sự phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; giúp phát triển sự phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; giúp phát triển tính tò mò và tinh thần khoa học; giúp đón nhận những giá trị văn hóa rộng rãi.

Tóm lại, mục đích của giáo dục quốc gia là giúp mỗi cá nhân phát triển toàn diện để trở thành những người có kỹ năng thưc tiễn, có khả năng tư duy, để làm việc, sinh sống, có đạo đức, có tình người, để gây dựng hạnh phúc gia đình và hội nhập vào xã hội góp phần vào việc bảo vệ và phát triển quốc gia. Người được đi học sẽ trỡ thành người tốt và có ích cho chính mình, cho gia đình, và cho quốc gia dân tộc. Giáo dục Việt Nam không phân biệt giàu nghèo, không phân biệt giai cấp xã hội, không phân biệt tôn giáo, địa phương, chủng tộc. Giáo dục Việt Nam cố tạo những cơ hội đồng đều cho mọi người được đi học tuy nhiên không phải ai cũng có thể học được đến hết bậc đại học, hay ai cũng học đến bác sĩ, kỷ sư hoặc các ngành cao đẳng chuyên nghiệp khác. Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo khả năng và sở thích, có người chỉ học được hết Tiểu Học, có người học hết Trung Học Đệ Nhất Cấp, hay Trung Học Đệ Nhị Cấp, có những người khác thì học đến hết bậc đại học. Nhưng dù bất cứ học đến bậc học nào, mục đích của giáo dục vẫn phải là giúp tất cả mọi người trỡ thành người tốt, người đã được phát triển về khả năng cũng như đạo đức, dù khả năng đó ở mức đô nào. Nếu có những người chỉ có cơ hội học hết Tiểu Học thôi, thì giáo dục vẫn có bổn phận giúp họ phát triển đến hết mức đó, và vẫn làm thế nào giúp họ trỡ thành người tốt với mức học Tiểu Học của họ.[…]

Tựa trên mục đích của giáo dục đã nêu trên, hệ thống giáo dục của Việt Nam Cộng Hòa trong những năm sau cùng trước biến cố 1975, được thiết lập trong tinh thần tiếp cận hệ thống giáo dục của các quốc gia tiền tiến trên thế giới.Hệ thống này gồm ba cấp bậc: Tiểu học, Trung học, và Đại học. Tiểu học và Trung Học Đệ Nhất Cấp là cái học Phổ Thông (gồm 9 năm học). Trung Học Đệ Nhị Cấp bắt đầu chia ngành chuyên môn. Đây là những năm chuyển tiếp để vào các ngành chuyên môn hơn ở Đại Học, hoặc ra đời làm việc sinh sống.

Riêng ở hai bậc Tiểu và Trung học, hệ thống giáo dục Việt Nam là hệ thống 5-4-3, với 12 năm liên tục, từ Lớp 1 đến Lớp 12, phân bố như sau:

Tiểu học (chỉ có Phổ Thông):

Lớp Một (Lớp Năm cũ)
Lớp Hai (Lớp Tư cũ)
Lớp Ba (Lớp Ba cũ)
Lớp Bốn (Lớp Nhì cũ)
Lớp Năm (Lớp Nhứt cũ)

Trung học Đệ Nhất Cấp (chỉ có Phổ Thông):

Lớp Sáu (Đệ Thất cũ)
Lớp Bảy (Đệ Lục cũ)
Lớp Tám (Đệ Ngũ cũ)
Lớp Chín (Đệ Tứ cũ)

Trung học Đệ Nhị Cấp (Phổ Thông và Chuyên Nghiệp):

Lớp Mười (Đệ Tam cũ)
Lớp Mười Một (Đệ Nhị cũ)
Lớp Mười Hai (Đệ Nhất cũ)

Bắt đầu Trung học Đệ Nhị Cấp, từ Lớp Mười, học sinh phải chọn Ban chuyên môn, và ngành chuyên môn như sau (từ 1973):

Ngành Phổ Thông:
Ban A (hay Ban Khoa Học Thực Nghiệm)
Ban B (hay Ban Toán)
Ban C (hay Ban Sinh Ngữ)
Ban D (hay Ban Cổ Ngữ)

Ngành chuyên nghiệp Nông Lâm Súc (Trung học Nông Lâm Súc)

Ngành chuyên nghiệp Kỹ Thuật (Trung Học Kỹ Thuật)

Bậc Đại học bao gồm:
 Đại Học Cộng Đồng (hai năm)·
Đại Học (chương trình Cử Nhân trở lên)·

5. ĐIỀU KIỆN NHẬP HỌC:

Vào Lớp Một, bậc Tiểu Học:

Tất cả trẻ em từ 6 tuổi là nhận vào Lớp Một để bắt đầu bậc Tiểu Học. Tuy không có luật bắt buộc phải đi học, nhưng hầu hết trẻ em đều được đi học hết bậc Tiểu Học miễn phí ở các trường Tiểu Học công lập. Học sinh có thể học trường Tiểu Học tư thục nếu phụ huynh muốn.

Vào Lớp Sáu, bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp

Muốn vào học Lớp Sáu, Trung Học Đệ Nhất Cấp, học sinh phải học xong Tiểu Học và phải qua một kỳ Thi Tuyển Vào Lớp Sáu. Đây là kỳ thi gay go vì số chổ ở Lớp Sáu Trung Học công lập có giới hạn. Chỉ khoảng 62% học sinh xong Tiểu Học được tuyển chọn vào Lớp Sáu trường công. Học trường công thì không phải trả học phí. Học sinh thi rớt vào Lớp Sáu trường công có thể lên học bậc trung học đệ nhất cấp ở các trường tư thục (có học phí).

Vào Lớp Mười Trung Học Đệ Nhị Cấp

Học sinh học xong Lớp Chín, có đủ điểm lên lớp, được vào Lớp Mười, ngành Phổ Thông, không phải qua một kỳ thi nào. Vào trường công thì không phải đóng học phí. Tuy nhiên, khi vào Lớp Mười học sinh phải lựa chọn Ban. Việc chọn Ban có tính cách tự nguyện, do tự học sinh muốn chọn Ban nào cũng được tùy theo sở thích của mình chớ không qua một sự hướng dẫn, hay chỉ bảo nào của nhà trường. Vào lớp Mười các ngành chuyên môn như Nông Lâm Súc hay Kỹ Thuật thì học sinh phải qua một kỳ thi tuyển vì số chổ giới hạn hơn ngành Phổ Thông.

Vào Năm Thứ Nhất Đại Học

Học sinh đậu xong Tú Tài, kể như tốt nghiệp bậc Trung Học, có đủ điều kiện để vào học Năm Thứ Nhất bậc Đại Học. Tuy nhiên vì có một số đại học có số chổ rất giới hạn nên đòi hỏi học sinh phải dự một kỳ thi tuyển như các đại học Y, Dược, Nha, Kỷ Thuật, Sư Phạm. Sự tuyển chọn hoàn toàn tựa trên khả năng của thí sinh , không có vấn đề lý lịch gia đình chen vào. Các đại học khác như Luật, Khoa Học, Văn Khoa không có thi tuyển, chỉ nhận thẳng những học sinh đã có bằng Tú Tài, không có một sự phân biệt, kỳ thị nào. Trường công thì không phải đóng học phí dù là bậc đại học. Chỉ có đóng tiền đi thi cuối năm ở một số trường hay phân khoa. Có những chương trình có học bổng cho sinh viên như trường sư phạm chẳng hạn.

6. CHƯƠNG TRÌNH HỌC

Chương trình học ở các bậc Tiểu và Trung học do Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên ban hành. Chương trình học này tựa trên triết lý giáo dục, mục đích và hệ thống giáo dục đã nêu trên. Chương trình do Ủy Ban Soạn Thảo Chương Trình, gồm một số thanh tra và giáo sư các môn liên hệ soạn thảo và đề nghị. Chương trình này được áp dụng đồng nhất cho cả trường công lẫn trường tư trên toàn quốc.

· Bậc Tiểu Học:

Chương trình Tiểu Học cung ứng cho học sinh những kiến thức cần thiết để ra đời hay lên học ở bậc Trung Học, cùng với những kỷ năng cơ bản (basic skills), những kỹ năng thực tiển (practical skills) và những cách thế phát triển cá nhân hầu có thể thích ứng dễ dàng với môi trường sinh sống.

Chương trình học chú trọng nhiều vào ba môn chính là Quốc Văn (tiếng Việt), Toán, Khoa Học Thường Thức. Bên cạnh ba môn chính trên đây phần Luân Lý với Công Dân Giáo Dục cũng được đặc biệt lưu ý.

Số giờ và môn học được phân bố như sau:

1) Quốc Văn từ 7 tiếng 1/2 đến 9 tiếng 1/2 mỗi tuần tùy theo lớp, và bao gồm tập đọc, ngữ vựng, tập viết, chính tả, văn phạm, tập làm luận văn (tả vật, tả cảnh, tả người, thuật sự, viết thơ).

2) Công Dân Giáo Dục dạy về quyền và bổn phận của một công dân: từ 2 tiếng12 phút đến 2 tiếng ½ mỗi tuần tùy theo lớp.

3) Toán: từ 2 tiếng ½ đến 4 tiếng mỗi tuần tuỳ theo lớp, gồm có bốn phép toán, phân số, số học và hình học

4) Khoa Học Thường Thức: 2 tiếng ½ mỗi tuần bao gồm vạn vật, vệ sinh, các chứng bệnh, phép đo lường,

5) Sử Địa: SửViệt Nam và thế giới: 1 tiếng mỗi tuần, chỉ có từ lớp Ba trở lên; Địa Lý Việt Nam và thế giới: 1 tiếng mỗi tuần từ lớp Ba trỡ lên.

6) Nhiệm Ý: Thể Dục: 1 tiếng ½ đến 2 tiếng mỗi tuần tùy theo lớp; Hội Họa: 1 tiếng mỗi tuần; Nữ Công Gia Chánh: 2 tiếng mỗi tuần riêng cho nữ sinh từ lớp Ba trở lên.

Sinh Ngữ không có trong chương trình Tiểu Học. Các trường Tiểu học công lập không có sinh ngữ trừ trường hợp đặc biệt của các Trung Tâm Giáo Dục do người Pháp chuyển giao cho Bộ GD năm 1969. Có 5 trung tâm tất cả( Trung Tâm Lê Quí Đôn ở Sài Gòn, Trung Tâm Hồng Bàng ở Chợ Lớn, Trung Tâm Yersin ở Đà Lạt, Trung Tâm Pascal ở Nha Trang, và Trung Tâm Nguyễn Hiền ở Đà Nẳng). Ở các trung tâm này có thêm giờ Pháp Văn ở bậc Tiểu Học do giáo sư Pháp đảm trách và do cơ quan Văn Hóa Pháp đài thọ. Một số trường Tiểu học tư thục có thêm giờ sinh ngữ, ngoài số giờ ấn định của chương trình Tiểu học công lập.

· Bậc Trung Học Đệ Nhất Cấp:

Chương trình Trung Học Đệ Nhất Cấp cung ứng cho học sinh những kiến thức tổng quát, có phần sâu rộng hơn bậc tiểu học nhưng chưa đi vào chuyên môn như ở Trung Học Đệ Nhị Cấp. Chương trình này một mặt bổ túc cho những kiến thức đã gặt hái được ở bậc Tiểu Học, và mặt khác chuẩn bị cho học sinh đón nhận những kiến thức sâu rộng hơn ở bậc Trung Học Đệ Nhị Cấp.

Chương trình bao gồm:

1) Quốc văn: văn phạm, chính tả, giảng văn (văn xuôi và văn vần), luận văn (luận đề luân lý), 6 giờ mỗi tuần.

2) Sinh ngữ: học sinh chọn một trong hai sinh ngữ Anh hoặc Pháp. (sinh ngữ Anh, dùng English for Today, từ Book I đến Book III ; sinh ngữ Pháp dùng Civilisation Francaise, tome I: Le Francais Elementaire). 6 giờ mỗi tuần ở các lớp 6 và 7; 5 giờ mỗi tuần ở các lớp 8 và 9.

3) Lý Hóa: 2 giờ mỗi tuần ở các lớp 6 và 7; 2 giờ ½ ở các lớp 8 và 9. Gồm các bài học về (1) Vật Lý: cân, nguyên lý Archimèdes, nhiệt độ, điện, quang; (2) Hóa Học: H2O, Oxy và oxy hóa, Hyt ro và không khí, acid và bases, kim khí, hóa học hữu cơ.

4) Vạn Vật: 1 giờ ½ mỗi tuần cho các lớp 6, 7, 8, 9. Gồm sinh vật, cây cỏ, thú vật, đất đá, con người.

5) Toán: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 6 và 7; 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 8 và 9. Gồm các bài học về: số học, phân số, đại số, phương trình bậc nhất, hàm số (y = ax và y = ax + b); phương trình bậc hai, hàm số (y = x2 ; y = ax2 ; y = 1/x ; y = a/x). Về hình học: đường thẳng, đoạn thẳng, gốc vuông, tam giác đồng dạng, đa giác ; hình học không gian: mặt phẳng song song, hình nón, hình cầu.

6) Sử Địa: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 6, 7, 8, và 9. Gồm: (1) Sử Ký: Việt Nam từ khởi thủy đến 1945; sử thế giới (sự phát triển kỹ nghệ Âu Châu và sự bành trướng của chủ nghĩa thực dân; các nước Á Châu trước chủ nghĩa thực dân – Trung Hoa, Ấn Độ, Nhật Bản; Đại Chiến Thế Giới Thứ Nhất; thế giới giữa hai thế chiến); (2) Địa lý: trái đất, Âu Châu, Phi Châu, Mỹ Châu, Á Châu (trừ Việt Nam), Úc Châu, và Việt Nam.

7) Công Dân: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 6 và 7, 2 giờ mỗi tuần cho các lớp 8 và 9. Gồm những bài học về: cá nhân và gia đình, tổ chức ở học đường, bổn phận của học sinh, đời sống xã hội và tôn giáo, quyền và bổn phận một công dân.

8) Nhiệm Ý: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 6, 7, 8, 9. Gồm: hội họa, âm nhạc, thể thao cho nam sinh; nữ công gia chánh, âm nhạc, thể thao cho nữ sinh.

· Bậc Trung học Đệ Nhị Cấp:

Chương trình học ở bậc trung học đệ nhị cấp một mặt giúp học sinh hoàn tất nền học vấn bậc trung học và mặt khác sửa soạn cho học sinh bước vào ngưỡng cữa đại học. Ở những năm học này học sinh được lựa chọn những môn học thích hợp với khả năng và sở thích của mình. Chương trình học do đó, không đồng nhất, màđược thay đổi tùy theo ngành và tùy theo ban. Về ngành thì có ngành Phổ Thông, ngành Nông Lâm Súc và ngành Kỹ Thuật. Mỗi ngành lại chia làm nhiều ban. Ngành Kỹ Thuật có các ban Cơ Khí (mechnics), Điện (electricity), Điện Tử (electronics), Rèn (forging), Hàn (welding) v v …Ngành Nông Lâm Súc có ban Canh Nông (agriculture) , Lâm (forestry), và Súc (animal husbandry). Ngành Phổ Thông có các Ban A, Ban B, Ban C và Ban D. Riêng ngành phổ thông, ngành có nhiều học sinh nhất, số giờ học theo từng môn và theo từng ban được ghi rõ trong bản phân phối đính kèm. Nhìn chung ta thấy Ban A (tức ban Khoa Học Thực Nghiệm) chú trọng vào Vạn Vật, và Vật Lý – Hóa Học, Ban B (hay ban Toán) chú trọng vào Toán học và Vật Lý – Hóa Học, Ban C chú trọng vào Triết học (Tâm Lý, Luận Lý, Đạo Đức và Siêu Hình học) và Sinh Ngữ, và Ban D chuyên về Triết học và Cổ Ngữ. Về Sinh Ngữ, có sinh ngữ chính và sinh ngữ phụ. Sinh ngữ chính có thể là Anh Ngữ hay Pháp Ngữ; sinh ngữ phụ có thể là Anh, Pháp, Đức, Nhật, Y Pha Nho, Ý. Cổ Ngữ có thể là Hán hay La Tinh. Thường thì hai Ban C và D được gọi chung là Ban Văn Chương.

Các môn học trong chương trình Phổ Thông được tóm ghi như sau:

1) Quốc Văn: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 10 và 11 A và B; 5 giờ mỗi tuần cho các lớp 10 và 11 ban C và D. Gồm văn học sử từ khởi thủy đến 1945 (văn học bình dân truyền khẩu, văn chương chữ Nôm và văn học chữ Quốc Ngữ), giảng văn (15 tác giả và tác phẩm cho ban A và B, và 20 tác giả và tác phẩm cho ban C và D), luận văn (luận đề văn chương và luân lý).

2) Triết học: 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 12 Ban A, 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 12 Ban B, và 9 giờ mỗi tuần cho các lớp 12 Ban C và D. Gồm Luận Lýhọc và Đạo Đức học cho cả 4 Ban; Tâm Lý Học và Siêu Hình Học cho các Ban C và D, một phần Tâm Lý Học cho Ban A.

3) Công Dân: 2 giờ mỗi tuần cho các lớp 10 và 11 A, B, C, D; và 1 giờ mỗi tuần cho lớp 12 tất cả các Ban. Gồm: Quốc Gia (dân tộc, lãnh thổ, chánh phủ, hiến pháp, lập pháp, hành pháp, tư pháp), Liên Hiệp Quốc (tổ chức, UNESCO, các tổ chức khác), Phong Tục, Kinh Tế (các lý thuyết, sản xuất, thương mại, tiền tệ, ngân hàng), Chính Trị (dân chủ, chính đảng, chính thể, độc tài, phát xít, cộng sản).

4) Sử Địa: 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, và 12 các Ban A, B, C, D. Gồm: Sử Việt Nam từ 1407 đến 1945, Sử Thế Giới từ cuối thế kỷ XVIII đến 1945 (Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật, Trung Hoa, Ấn Độ, Đại Chiến Thế Giới I, Đại Chiến Thế Giới II), Địa Lý Địa Cầu, Địa Lý Việt Nam, Địa Lý Thế Giới (Hoa Kỳ, Tây Đức, Anh, Nhật, Nga Sô, Trung Hoa Lục Địa, Ấn Độ).

5) Sinh Ngữ I: 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, và 11 A, B; 3 giờ mỗi tuần cho lớp 12 A, B, 6 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 C và D. Anh Văn (English for Today, books III và IV cho Ban A và B, books IV và V cho Ban C và D), hay Pháp Văn (Cours de Langue et de Civilisation Francaise, Tome II cho Ban A và B, Tome II thêm các tác giả La Fontaine, A. Daudet, A. France, St. Exupéry, G. Duhamel cho Ban C và D).

6) Sinh Ngữ II: 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, và 11 A và B, 6 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 C. Anh Văn (English for Today, Books I và II cho Ban A và B, Books I, II, và III cho Ban C), hay Pháp Văn (Cours de Langue et de Civilisation Francaise, Tome I cho Ban A và B, Tome I và II cho Ban C). Ban D thì học Cổ Ngữ (chữ Hán hay tiếng La Tinh).

7) Toán: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 C, D, 4 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 A, 5 giờ mỗi tuần cho lớp 12 A, 6 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 B, và 9 giờ mỗi tuần cho lớp 12B. Nhiều chi tiết và nhiều phần khó cho Ban B, tổng quát hơn cho Ban A và rất hạn chế cho Ban C và D. Gồm Đại Số (phương trình bậc hai và bất bình đẳng, lô ga rít, đạo hàm và hàm số), Hình Học (hình học giải tích), Chuyển Động(véc to, vận tốc, chuyển động thẳng), Lượng Giác, Thống Kê và sác xuất.

8) Vạn Vật: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12, Ban B, C, và D, 3 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 Ban A, và 4 giờ mỗi tuần cho lớp 12 Ban A. Nhiều chi tiết và thí nghiệm cho Ban A, nhưng nhiều giới hạn cho các Ban B, C, và D. Gồm địa chất (geology), thực vật (botany), và động vật (animals).

9) Lý Hóa: 1 giờ mỗi tuần cho các lớp 10, 11, 12 Ban C và D, 4 giờ ½ mỗi tuần cho các lớp 10, 11 Ban A và B, 7 giờ mỗi tuần cho lớp 12 Ban A và B. Nhiều chi tiết và nhiều phần khó cho các Ban A và B. Rất giới hạn cho các Ban C và D. Gồm Vật Lý (lực, tĩnh, nhiệt,…), Hóa Học (nguyên tử, …).

· Chương Trình Trung Học Tổng Hợp (comprehensive secondary school curriculum)

7. TÀI LIỆU, DỤNG CỤ GIÁO KHOA

Phần lớn các sách giáo khoa, và một số các dụng cụ khoa học đều do Trung Tâm Học Liệu của Bộ Giáo Dục sản xuất và cung cấp với sự giúp dỡ và viện trợ của các cơ quan ngoại quốc như USAID. Ban tu thư dịch thuật với các giáo chức và các họa sĩ với chuyên môn và kỹ thuật cao đã soạn thảo trọn bộ sách bậc tiểu học tốt về nội dung cũng như hình thức. Nhiều sách dịch và tham khảo đã được duyệt và ấn loát để các học sinh và sinh viên cótài liệu tham khảo.

Ngoài ra trung tâm còn hợp tác với cơ quan quốc tế UNESCO để viết và dịch các sách nhi đồng để giúp các em hiểu biết về các nền văn hóa quanh ta và tạo sự đoàn kết giữa các nhi đồng trên thế giới. Bộ Giáo Dục cũng dành riêng ngân sách để ấn loát sách giáo khoa bậc tiểu học cho gần 30 sắc tộc khác nhau.

Để thống nhất các danh từ chuyên môn, Bộ Giáo Dục đã thiết lập Ủy Ban Quốc Gia soạn thảo danh từ chuyên môn. Nhiều giáo sư đại học đã tham gia vào việc soạn thảo và Trung Tâm Học Liệu đã bắt đầu ấn hành những tập đầu tiên danh từ văn học và khoa học.

Trường Sư Phạm: trường đào tạo giáo chức

Sư phạm là khuôn mẫu dạy dỗ (sư là thầy dạy, phạm là cái khuôn), hay nói nôm na ra là phương pháp, cách thức dạy học. Trường sư phạm là trường đào tạo giáo chức, là nơi người ta dạy cách thức hay phương pháp dạy học cho những người muốn làm nghề dạy học. Có kiến thức chuyên môn sâu rộng là một việc còn biết cách dạy cho có hiệu quả là một chuyện khác. Kiến thức chuyên môn chỉ mới là điều kiện cần, phải có kiến thức sư phạm nữa mới là điều kiện đủ để trỡ nên nhà giáo đúng nghĩa. Người có cử nhân toán học là người có đủ kiến thức về toán để dạy học sinh ban Tú Tài, kể cả Tú Tài Toán (Ban B) chẳng hạn, nhưng nếu người đó có thêm kiến thức hay kinh nghiệm sư phạm nữa thì sự truyền đạt những kiến thức toán của mình cho học sinh càng có nhiều hy vọng có kết quả hữu hiệu hơn. Vai trò của trường sư phạm là giúp những người muốn làm thầy thu thập được những kiến thức và kinh nghiệm dạy học đó.

Trường sư phạm (école normale, hay école de pédagogy) do người Pháp du nhập vào Việt Nam hồi tiền bán thế kỷ XX, như trường sư phạm Nam Việt, trường Cao Đẳng Sư Phạm Hà Nội chẳng hạn. Thời Việt Nam Cộng Hòa, có nhiều trường sư phạm đào tạo giáo viên tiểu học và giáo học bổ túc như Quốc Gia Sư Phạm (Sài Gòn), Sư Phạm Long An, Sư Phạm Vĩnh Long, Sư Phạm Qui Nhơn, Sư Phạm Bam Mê Thuộc, v v …, hoặc các trường sư phạm đào tạo giáo sư trung học đệ nhất cấp hoặc đệ nhị cấp như Cao Đẳng Sư Phạm sau đổi thành Đại Học Sư Phạm (Đại Học Sư Phạm Sài Gòn, Đại Học Sư Phạm Huế, Đại Học Sư Phạm Đà Lạt). Đại Học Sư Phạm một năm đào tạo giáo sư Trung Học Đệ Nhất Cấp. Đại Học Sư Phạm ba năm đào tạo giáo sư Trung Học Đệ Nhị Cấp. Đại Học Sư Phạm gồm nhiều ban như Việt Văn, Triết, Pháp Văn, Anh Văn, Toán, Lý Hóa, Vạn Vật, Sử Địa. Trường Sư Phạm một mặt giúp các giáo sinh mở rộng kiến thức chuyên môn (học về nội dung các môn mình sẽ dạy), mặt khác giúp các giáochức tương lai trau dồi về sư phạm (cả lý thuyết lẫn thực hành).

· Tu Nghiệp Giáo Chức

Tu nghiệp là cách tốt nhất để các giáo chức có cơ hội hiện đại hóa những kiến thức chuyên môn cũng như những kiến thức/kinh nghiệm sư phạm của mình. Thật ra với đà tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật ngày nay, những hiểu biết của con người ở bất cứ lãnh vực nào cũng có thể rất dễ bị lỗi thời chỉ trong một thời gian ngắn, nếu không có dịp học hỏi, cập nhật hóa những hiểu biết chuyên môn của mình. Ở địa hạt giáo dục cũng vậy, nhà giáo cần phải để thì giờ và cơ hội học hỏi thêm, cập nhất hóa những kiến thức chuyên môn của mình để không bị rơi vào tình trạng hủ hóa. Trong chiều hướng đó, Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên thường xuyên tổ chức các chương trình và lớp tu nghiệp cho các giáo chức. Với sự viện trợ của các quốc gia tiền tiến trên thế giới như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Đức, Bộ VHGDTN thường gởi giáo chức đi tu nghiệp ở ngoại quốc. Trong nước thỉnh thoảng vẫn có những lớp tu nghiệp hay những buổi hội thảo về giáo dục để giáo chức có dịp học hỏi, thăng tiến trong nghề nghiệp. Nha Sư Phạm và các trường sư phạm đảm trách công việc tu nghiệp ở trong nước cho các giáo chức.

· Đời sống và tinh thần giáo chức

Chỉ số lương của nhà giáo tuy có khá hơn một số các ngành khác, nhưng so với mực sống của những công tư chức nói chung thì đồng lương và đời sống của nhà giáo có tính cách rất khiêm nhường. Chỉ số lương mới ra trường sư phạm của giáo viên tiểu học là 250, giáo học bổ túc hạng 5 là 320, giáo sư trung học đệ nhất cấp hạng 4 là400, giáo sư trung học đệ nhị cấp hạng 5 là 430, hạng 4 là 470. So với các sĩ quan trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa, lương giáo sư vẫn khá hơn, vì khi bị động viên vào quân ngũ, các sĩ quan giáo sư tuy đã mất phần phụ cấp sư phạm , vẫn còn được lãnh tiền sai biệt giữa lương căn bản giáo chức và lương sĩ quan. Với số lương căn bản ấn định, cộng thêm phụ cấp sư phạm, nhà giáo ở tỉnh thời Đệ Nhất Cộng Hòa có cuộc sống khá thoải mái, có thể mướn được người làm. Sang Đệ Nhị Cộng Hòa, đời sống bắt đầu mắt mỏ, vật giá leo thang, nhà giáo cảm thấy chật vật hơn, nhất là ở những thành phố lớn như Sài Gòn, Đà Nẵng. Tuy vậy lúc nào nhà giáo cũng vẫn giữ vững tinh thần, và tư cách nhà mô phạm, từ cách ăn mặc thật đứng đắn, đến cách ăn nói giao tiếp với phụ huynh học sinh, và cả với giới chức chính quyền địa phương. Dù gặp hoàn cảnh khó khăn đến đâu, nhà giáo cũng hết lòng với sứ mạng, vẫn làm đúng lương tâm chức nghiệp của mình.[…]

9. LƯỢNG GIÁ VÀ THI CỬ

Có hai lối thi để lượng giá học sinh ở bậc trung học ngoài kỳ thi tuyển vào lớp Sáu. Một là thi lục cá nguyệt ở trong lớp học và hai là dự thi lấy văn bằng ở cấp quốc gia. Thi lục cá nguyệt là kỳ thi do giáo sư dạy lớp ra đề thi, cho thi trong lớp, và chấm điểm, sắp hạng học sinh về môn của mình. Mỗi niên học có hai lần thi lục cá nguyệt. Cả bài thi và số điểm sẽ được đệ nạp trên văn phòng giám học. Trường sẽ cọng điểm các môn, dùng điểm trung bình để định việc lên lớp cho học sinh.

Thi lục cá nguyệt từ xưa đến giờ không được chú ý đúng mức. Ở trong trường cũng như ở ngoài xã hội, kể cả phụ huynh học sinh, ít người đặt nặng tầm quan trọng vào các kỳ thi lục cá nguyệt. Đây là một quan niệm sai lầm đáng tiếc. Người ta chỉ chú trọng vào các kỳ thi lấy văn bằng ở cấp quốc gia (national examinations). Và càng về xưa càng nhiều kỳ thi, càng nhiều kỳ thi càng nhiều gạn lọc, loại bỏ dọc đường, không cho phép học sinh có cơ hội được học lên cao. Thi theo xưa là một cách chọn lọc quá khắt khe, chỉ chọn lấy toàn là người thật giỏi, thật ưu tú (elites).

Trước 1960 số thí sinh còn ít và Bộ Giáo Dục còn tổ chức được rất nhiều kỳ thi như thời Pháp thuộc: thi Tiểu Học, thi vào Đệ Thất, thi Trung Học Đệ Nhất Cấp với cả hai phần thi viết vấn đáp, thi Tú Tài I (viết và vấn đáp), thi Tú Tài II (viết và vấn đáp). Tú Tài I và II lại có hai kỳ, kỳ I và II cho mỗi năm. Sang thập niên 1950 kỳ thi Tiểu Học được bãi bỏ, Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ có thi viết thôi, không còn vấn đáp, và sau đó, trong thập niên 1960, cũng bỏ luôn Trung Học Đệ Nhất Cấp nhưng lại tổ chức kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp Tráng Niên cho một ít người lớn tuổi. Đến năm 1973 kỳ thi Tú Tài I cũng được bãi bỏ chỉ còn giữ kỳ thi Tú Tài II xem như kỳ thi tốt nghiệp bậc Trung Học. Cách thức làm đề thi khi xưa là đánh máy một ít đề thi rồi giao cho giám thị phòng chép tay trên bảng. Sang đầu thập niên 1960 đề thi mới được in ronéo ra nhiều bản để phát cho mỗi thí sinh một bản đề thi. Đề thi làm theo lối luận đề (essay type), đặt câu hỏi để thí sinh phải viết câu trả lời dài dòng. Lối ra đề thi này rất chủ quan, giới hạn các câu hỏi trong một số rất ít chủ điểm, đòi hỏi học sinh phải học thuộc lòng rất nhiều để có thể viết lại kịp thời những gì đã học trong sách vở. Với lối ra đề thi như vậy người ta không thể nào khảo sát được một cách khách quan và tổng thể sự thu nhận và hiểu biết của học sinh về những môn quan trọng trong chương trình học. Đề thi và cách chấm thi theo lối này dễ đưa tới việc học sinh học tủ, đánh bùa, chép bài, và giám khảo chấm bừa (thủ vĩ ngâm), tìm bài và nâng điểm. Hồ sơ thi cử như ghi danh, làm phiếu báo danh, sổ  điểm, ghi điểm, cọng điểm, v v… tất cả đều làm bằng tay và khi thí sinh quá đông thì không tránh được những sơ sót, và đúng ra cũng không còn cách nào làm nỗi nếu theo cách làm cổ điển này. Các kỳ thi kéo dài hết cả mùa hè và các giáo sư dạy lớp thi phải đi gác thi, chấm thi luôn, không còn thì giờ nghỉ ngơi hay làm việc gì khác. Cái hại nhất của các kỳ thi là giới hạn rất nhiều số người thi đậu, gạn lọc quá nhiều học sinh không để cho có nhiều học sinh tiến lên các cấp cao ở trên. Một trăm học sinh khi xong Tiểu học chỉ còn không đầy 50 em được vào Trung học công lập, một số khác phải vào tư thục nếu gia đình có tiền. Trong số 50 em này sau khi xong Trung Học Đệ Nhất Cấp chỉ còn khoảng 20 em vào Đệ Tam rồi Đệ Nhị và dự thi Tú Tài I. Xong Tú Tài I còn không đầy 10 người lên học thi Tú Tài II. Thường thì hầu hết những người đậu xong Tú Tài I đều sẽ đậu Tú Tài II sau đó. Thành ra tính trung bình không hơn 10% học sinh vào trung học được tốt nghiệp trung học. Thật là phi lý khi rất nhiều học sinh phải mất thì giờ học bao nhiêu năm, chính phủ phải tốn bao nhiêu tiền bạc để lo cho họ đi học rồi rốt lại chỉ một hai ngày thi cử họ đã phải vứt bỏ hết bao nhiêu công lao, tiền bạc của công cũng như của tư. Cần phải có sự cải tổ về thi cử để cải tiến hệ thống lượng giá và đo lường trình độ học vấn của học sinh và để đương đầu với áp lực của sĩ số mỗi ngày một gia tăng nhanh chóng. Thi lấy văn bằng ở cấp quốc gia quan trọng nhất là thi Tú Tài I và Tú Tài II. Nam sinh thi rớt Tú Tài I là phải nhập ngũ, đi lính. Nếu có Tú Tài I mà nhập ngũ thì được đi khóa sĩ quan. Từ đầu thập niên con số thí sinh dự thi Tú Tài gia tăng rất nhiều, việc tổ chức thi cử theo lối cũ (theo lối của Pháp) không giải quyết nổi vấn đề làm hồ sơ khảo thí, đánh mật mã, cắt phách, chấm thi, cọng điểm, sắp hạng, làm chứng chỉ trúng tuyển, vv . .tất cả những công việc đó không còn làm bằng tay theo lối cổ điển được nữa. Nhất là khi bãi bỏ kỳ thi Tú Tài I thì số thí sinh dự thi Tú Tài II sẽ gia tăng gần gắp đôi trong năm 1974. Vả lại thi theo lối cũ, lối luận đề (essay type) có tính cách chủ quan và một số những khuyết điểm của nó trong vấn đề lượng giá. Thi trắc nghiệm khách quan theo lối Mỹ tuy không phải là toàn mỹ nhưng vẫn có nhiều ưu điểm hơn trong vấn đề lượng giá một cách khách quan, khoa học, và có thể tránh được những gian lận thi cử. Để kịp thời đối phó với tình trạng gia tăng quá nhanh, và để cải tiến vấn đề lượng giá cho đúng mức, một hội đồng cải tổ thi cử được thành hình từ tháng 11 năm 1972, và ráo riết làm việc để hoàn tất công cuộc đổi mới áp dụng trong kỳ thi Tú Tài năm 1974 (khóa I thi ngày 26 và 27 tháng 6, và khóa II ngày 28 và 29 tháng 8). Đây là kỳ thi Tú Tài theo lối trắc nghiệm khách quan lần đầu tiên và cũng là lần sau cùng ở Nam Việt Nam.

Về giấy tờ thủ tục, đầu thập niên 1970 Nha Khảo thí đã ký khế ước với công ty IBM để điện toán hóa toàn bộ hồ sơ thí vu, từ việc ghi danh, làm phiếu báo danh, chứng chỉ trúng tuyển, đến các con số thống kê cấn thiết. Đề thi trắc nghiệm khách quan thì cũng đã được đem vào các kỳ thi Tú Tài I và II cho môn Công Dân – Sử Địa từ niên khóa 1965-66. Nhưng phải đến năm 1974 thì toàn bộ các môn thi trong kỳ thi Tú Tài mới gồm toàn những câu trắc nghiệm khách quan có nhiều lựa chọn (multiple choice). Các vị thanh tra trong ban soạn đề thi đều có đi dự lớp huấn luyện về cách thức soạn câu hỏi, thử nghiệm các câu hỏi với trên 1,800 học sinh ở nhiều nơi, phân tích câu trả lời (làm item analysis) của học sinh để định độ khó (difficulty index; độ khó ở đây là .60) của câu hỏi và trả lời để lựa chọn hoặc điều chỉnh câu trắc nghiệm cho thích hợp. Tín độ (reliability; hệ số tín độ của các bài trắc nghiệm ở đây là từ .91 đến .94) và hiệu độ (validity; hệ số hiệu độ của các bài trắc nghiệm ở đây là từ .60 đến .73 ) của bài trắc nghiệm được tính theo đúng phương pháp thống kê khoa học. Bảng trả lời được đặt từ Mỹ, và bài làm của thí sinh được chấm bằng máy IBM 1230; điểm chấm xong từ máy chấm được chuyển sang máy 534 (punching machine) để đục lổ. Những phiếu đục lổ này (punched cards) được đưa vào máy IBM 360 để đọc điểm, nhân hệ số, cọng điểm, tính điểm trung bình (mean), độ lệch tiêu chuẩn (standard deviation), chuyển điểm thô (raw score) ra điểm tiêu chuẩn (standard score), tính percentile và thứ hạng trúng tuyển. Nhóm mẫu (sample) và nhóm định chuẩn (Norm group) được lựa chọn kỹ càng theo đúng phương pháp khoa học của thống kê học, để tính điểm trung bình và độ lệch tiêu chuẩn.

Phiếu ABCD khoanh (scantron) dùng với máy tính điểm IBM thời đó (ảnh bên)

Tổng số thí sinh ghi tên trong khóa I, 1974 là 142, 356, nhưng thật sự dự thi chỉ có 129, 406. Trong số này có 53, 868 thi đậu (41.6%) và 75, 538 thí sinh không đâu (58.4%). Tổng số thí sinh ghi tên dự thi khóa II là 94,606, nhưng thật sự dự thi chỉ có 76,494. Trong số này có 8,607 thi đậu (11.3%) và 67,887 không đâu (88.7%). Số người thi đậu Tú Tài (tốt nghiệp Trung học) nhiều hơn xưa nhiều lắm (hơn 45% cho cả hai khóa, so với khoảng 10% trong những thập niên trước). Kỳ thi quốc gia không còn có mục đích gạn lọc, loại bỏ như xưa nữa. Từ đó sẽ có nhiều người có cơ hội được học đại học, và nước nhà sẽ có nhiều người ở trong thành phần trí thức, trình đô dân trí sẽ được nâng cao hơn.

*

Trích tài liệu Nam Sơn Trần Văn Chi

Những năm đầu sau khi Pháp rút về nước, giáo dục Việt Nam tiếp tục cái gì có trước. Cho đến Ðại Hội Giáo Dục Toàn quốc năm 1958, VNCH mới xây dựng nền giáo dục độc lập dựa trên 3 nguyên tắc: Nhân Bản-Dân Tộc và Khai Phóng.[…]

Thời Tây 1930, toàn Ðông Dương có 406,669 học trò gồm sơ và tiểu học trong đó có 20% là học trò Lào và Miên.

Thời Ðệ I Cộng Hòa, năm học 1960 miền Nam có 1 triệu 214,621 học sinh tiểu học, 112, 129 học sinh trung học. Tăng 200% so với niên học 54-55, lúc mới thâu hồi độc lập từ tay Pháp.[…]

Giáo viên tiểu học trước năm 1975 có chỉ số 250, giáo học bổ túc là 320, giáo sư Ðệ I cấp chỉ số 400, Ðệ II cấp lên 470. Lương giáo viên, giáo sư như thế so với ngạch công chức và quân đội, tương đối cao, nên đời sống bảo đảm, thư thả; đặc biệt vị trí người thầy luôn được xã hội tôn trọng, cha mẹ học sinh kính nể.[…]

Bậc đại học đào tạo cử nhân, cao học và tiến sĩ.

Sau Thế Chiến Thứ II, Pháp trở lại Việt Nam, Ðại Học Ðông Dương ở Hà Nội được đổi tên là Ðại Học Hà Nội, viện trưởng vẫn là người Pháp. Sau đó có một số khoa được mở ở Sài Gòn như Luật, Y khoa và Khoa Học, do phó viện trưởng là người Việt điều hành.

Sau năm 1954, chi nhánh đại học Hà Nội tại Sài Gòn cải tên là Viện Ðại Học Quốc Gia Việt Nam, đến năm 1957 đổi tên là Viện Ðại Học Sài Gòn, tên nầy giữ cho tới năm 1975.

Khi bắt đầu diễn ra Hội Nghị Paris (trong kế hoạch chuẩn bị hậu chiến) năm 1972 VNCH thành lập Hệ Thống Ðại Học Cộng Ðồng, năm sau 1973 Viện Ðại Học Bách Khoa Thủ Ðức thành lập.

Hệ thống đại học ở VNCH không thuộc Bộ Giáo Dục, và cũng không có cơ quan chủ quản (trư trường Y Dược thuộc Bộ Y Tế chủ quản). Ðại học Việt Nam tự trị về học vụ chuyên môn. Ngân sách của đại học là bộ phận trong ngân sách Bộ Giáo Dục do Quốc Hội chuẩn duyệt hàng năm; nhân viên và giáo sư đại học thuộc Tổng Ủy Công Vụ.

Ðại học VNCH bấy giờ có hai hệ thống: Ðại Học Quốc Gia và Ðại Học Cộng Ðồng Ðịa Phương.

Ðại Học cấp Quốc Gia: gồm có

1. Viện Ðại Học Sài Gòn:

Sau năm 1954, Viện Ðại học Hà Nội chuyển vào Nam nhập vào Viện Ðại Học Sài Gòn. Viện có 8 phân khoa là Y, Dược, Nha, Sư Phạm, Khoa Học, Văn Khoa, Luật và Kiến Trúc. Có đại học xá Minh Mạng dành cho nam, Trần Quý Cáp dành cho nữ, có trung tâm Y tế chăm sóc sức khỏe cho sinh viên.

2. Viện Ðại Học Huế:

Thành lập theo sắc lịnh VNCH-1 do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ký vào Tháng Ba năm 1957 gồm có 4 khoa như Sư Phạm, Y khoa, Văn khoa và Luật.

3. Viện Ðại Học Cần Thơ:

Ðược thành lập ngày 31 Tháng Ba 1966 do nghị định của chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương ký. Có 4 khoa là: Khoa Học, Văn Khoa, Sư Phạm, Luật & Khoa Học Xã Hội.

4. Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thuộc Phủ Thủ Tướng:

Học viện được thành lập từ 29 Tháng Năm 1950 theo Quyết Ðịnh của Chánh Phủ Quốc Gia Việt Nam (tên gọi lúc đó), lúc đầu đặt ở Ðà Lạt, năm 1958 dời về đường Trần Quốc Toản, Sài Gòn.

5. Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, thuộc Bộ Quốc Phòng:

Sinh viên học 4 năm, môn chánh là võ khoa; môn phụ là Toán, Khoa học tự nhiên, Khoa học Xã Hội. Tốt nghiệp bằng Cử Nhơn Võ Khoa, một ngành mới mẻ đối với Việt Nam.

6. Viện Ðại Học Bách Khoa Thủ Ðức:

Thành lập do sắc lệnh của tổng thống VNCH, và hoạt động chánh thức năm 1974.

Viện bao gồm một số trường có trước như Trung Tâm Phú Thọ, Ðại Học Nông Nghiệp, Ðại Học Kỹ Thuật. Viện có lập một số trường mới như là Ðại Học Kinh Thương, Ðại Hoc Khoa Học Căn Bản, Ðại Học Thiệt Kế Ðô Thị và Nông Thôn…

Ðại học Cộng Ðồng Ðịa Phương

Trường Ðại Học Cộng Ðồng Ðịa Phương chỉ huấn luyện về chuyên môn và thực dụng, học trình 2 năm.

Cho tới năm 1975, VNCH có 5 trường:

– Ðại Học Cộng Ðồng Quãng Ðà
– Ðại Học Cộng Ðồng Nha Trang
– Ðại Học Cộng Ðồng Tiền Giang Mỹ Tho
– Ðại Học Cộng Ðồng Long Hồ Vĩnh Long
– Ðại Học Cộng Ðồng Ban Mê Thuột, mới có quyết định.

Giáo Dục Việt Nam trước 1975 ngoài hệ thống công lập còn có hệ thống trường tư.

Ðại học tư trước năm 1975 có:

– Viện Ðại Học Ðà Lạt
– Viện Ðại Hoc Minh Ðức
– Viện Ðại Học Vạn Hạnh
– Viện Ðại Học Cao Ðài/Tây Ninh
– Viện Ðại Học Hòa Hảo/An Giang

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links: Blog Ngọc Linh


Một cú tài tình.

Nón kỷ niệm Tàu USS Kirk FF-1087

Bài đọc suy gẫm: “Một Cú Tài Tình” là tựa của “Người phi công liều mạng”, câu truyện về cuộc vượt thoát can đảm  của phi công VNCH đưa cả gia đình ra tàu USS Kirk bằng phi cơ trực thăng Chinook. Hình ảnh chỉ là minh họa.

Nếu chỉ nhìn thoáng ông ta trong đám đông tối hôm đó, có thể người ta sẽ không bận tâm ngó lại lần thứ hai.

Đó là một ông già gầy yếu ngồi xe lăn, đội mũ len đen, cổ đeo cà vạt đỏ sậm, cái áo khoác bằng vải thô mầu xám phủ bên ngoài một thân hình nặng chừng 140 lbs.

Nguyễn văn Ba không nói được và cử động khó khăn, một ông già nhỏ thó trong căn phòng chật cứng những cựu binh Mỹ đang đứng nhắc chuyện cũ với nhau – những mẩu chuyện thời chiến.

Nhưng nếu kéo ngược thời gian lùi lại 40 năm, thêm khẩu súng lục nằm trong bao đeo trễ bên vai, chừng 10 lbs vào các bắp thịt suông đuột, đặt ông ta vào ghế lái chiếc trực thăng gắn đại liên M-60, ta sẽ thấy được một con người khác.

Quá sức liều mạng

Ngày 29-4-1975, ông Nguyễn – giống như trong mẩu truyện được xé ra từ kịch bản quay một cuốn phim loại “Mission imposible” – đã cùng với vợ và ba đứa con tìm cách đào thoát trong khi quân Bắc Việt đang tiến qua những cửa ngõ vào Sài Gòn.

Sau 20 phút bay căng thẳng, chiếc trực thăng của Nguyễn lượn vòng trên biển Nam hải trong tình trạng một sống một chết, và những thủy thủ Hoa Kỳ trên chiếc tàu gần đó chỉ còn biết đứng ngó sửng.

“Không thể nào hiểu được anh ta đã làm cách nào. Đúng là một phù thủy Ấn Độ”, lời của Hugh Doyle, sĩ quan trưởng cơ khí trên một tàu hải quân gần chỗ chiếc trực thăng của ông Nguyễn đang quần trên trời.

“Tôi biết thế nào cha tôi cũng tới”

Trong ngày 29-4-1975 đó, Nguyễn không phải là một anh hùng mà đang ở trong tình thế cực kỳ tuyệt vọng. Ông là một trong hàng ngàn người lính miền Nam đang cố tìm cách thoát ra khỏi nước trong khi đại quân Bắc Việt đang ào ạt tiến tới Sài Gòn.

Sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ đã chính thức chấm dứt từ 2 năm trước với hiệp định hòa bình ký tại Paris, nhưng vào thời điểm đó vẫn còn các nhân viên ngoại giao và dân sự Mỹ cần được di tản, đàng sau đó là đám thường dân Việt Nam cố bám theo để tìm đường thoát. Nhiều người trong số đó là quân nhân giống như Nguyễn – một thiếu tá Không quân VNCH – nếu kẹt lại, có thể họ sẽ lãnh án nặng và cả gia đình sẽ tan tác trong những trại tập trung chết người.

Nhưng Nguyễn đã có sẵn một kế hoạch. Ông cho vợ con về ở nhờ họ hàng bên vợ trong một khu dân cư Sài Gòn, và dặn vợ ông – bà Nho – chuẩn bị mọi thứ, ông sẽ lái chiếc Chinook CH-47 đến bốc đi – đó là một loại trực thăng cỡ lớn của Không quân VNCH mà tiếng động cơ không nhầm lẫn của nó có thể nhận ra được từ mấy cây số.

“Khi nghe được tiếng Chinook, phải sẵn sàng”, Nguyễn dặn vợ như thế.

Miki, đứa con trai lớn, nằm dưới gầm giường để tránh đạn từ đêm trước. Suốt đêm nó nghe súng nổ ran khắp nơi lẫn tiếng rít hỏa tiễn. Quân cộng sản đã quá gần. Nhưng nó vẫn bình tĩnh và tin chắc cha nó thế nào cũng tới!

Miki nghe được tiếng động cơ Chinook vào lúc sáng sớm. Nó chụp vội túi quần áo, luôn cả bình sữa cho đứa em gái 10 tháng – Mina – cùng với cả gia đình lao nhanh ra chiếc Chinook, trên đó đã có sẵn vài người bạn của cha nó.

Lên được chiếc máy bay, nó nghe ông Nguyễn nói thấy có nhiều trực thăng Mỹ bay ra khơi, chắc chắn họ sẽ đáp xuống ở đâu đó.

“Coi thử ra sao”, Nguyễn nói như thế trong khi đưa chiếc trực thăng hướng ra biển, vừa lúc đèn đỏ nhấp nháy báo bình xăng sắp cạn.

Ra tới biển, Nguyễn bật qua tần số cấp cứu và nghe được âm thanh trao đổi giữa các tàu Mỹ. Có người ngó xuống thấy một chiếc tàu đang ở ngay dưới bụng trực thăng. Đó là chiếc USS Kirk với một sân đáp nhỏ. Nguyễn cho trực thăng sà xuống.

Chỉ huy chiếc USS Kirk là Đại úy Paul Jacobs – thuộc cấp vẫn gọi ông ta là “Big Jake”. Dân New England, cao 6.3 ft, bộc trực và thẳng tính, ông ta được lệnh bắn hạ bất cứ phi cơ nào không xác định được danh tính và nhắm mòi đe dọa đến cuộc di tản đang diễn ra ồ ạt từ Sài Gòn.

Lẽ ra Jacobs đã cho bắn rơi chiếc trực thăng của Nguyễn nhưng ông đã không làm như vậy. Ông ta độ chừng Nguyễn là một người lính miền Nam đang tìm đường thoát. Bầu trời ngày hôm đó dầy đặc những phi công Việt Nam đưa gia đình và đồng đội bay ra biển trên những chiếc trực thăng cuối cùng còn sót lại.

“Chỉ khi nào nó bắn xuống, không thì mình sẽ không khai hỏa trước”, Jacobs ra lệnh.

Nguyễn liên lạc với chiếc Kirk. Tiếng Anh của ông ta chỉ tạm đủ, trên tàu cũng có một thủy thủ bập bẹ được chút ít tiếng Việt.

Sau nầy trong quyển The lucky few, tác giả Jan Herman đã tả lại nỗi thất vọng của Nguyễn. Ông ta bảo với những người dưới tàu rằng chiếc Chinook có chở theo đàn bà và con nít. Và máy bay ông ta sắp cạn xăng.

“Hoặc là tôi hạ cánh trên tàu hoặc sẽ rớt xuống biển”, Nguyễn nói. “Hãy cứu chúng tôi!”

Nhưng đám thủy thủ trên chiếc USS Kirk giơ tay làm hiệu xua Nguyễn bay đi chỗ khác. Sân đáp quá nhỏ mà chiếc Chinook lại quá cồng kềnh. Nếu xuống thấp, cánh quạt có thể va đụng gây nguy hiểm cho đám hành khách, luôn cả đám thủy thủ trên tàu.

Nguyễn bỗng nảy ra một ý và lập tức cho dưới tàu biết. Ông sẽ lái chiếc Chinook quần trên boong. Vợ con ông ta sẽ liều mạng nhảy đại xuống đám người giăng tay chờ bên dưới…

***

Kent Chipman là một trong số những người đứng chờ sẵn dưới đó. Dân Texas, có một hàng ria quặp, được đồng đội gọi bằng cái tên “Chippy”. Anh ta chỉ nặng có 130 lbs và đang đánh lô tô trong bụng. Biết đủ sức hứng đám người nhảy ra từ chiếc trực thăng hay không đây. Trong lúc căng hai tay chờ đợi, một ý nghĩ cứ quẩn quanh trong đầu anh chàng: “Chắc chết cả đám!”

Nguyễn lái chiếc Chinook tới phần đuôi của chiếc tàu, cố tránh không cho cánh quạt tới gần những chỗ quan trọng. Chỉ cần một luồng gió hay một sơ sẩy, chong chóng trực thăng sẽ chém trúng tàu, giết chết cả vợ con ông lẫn đám người dưới kia đang dang tay chờ đợi.

Người co-pilot mở cửa, ra hiệu cho vợ Nguyễn, “Nghe đây! Chị và mấy đứa nhỏ sẽ nhảy xuống trước!”

Miki nhảy ra. Kế đến là thằng em nó. Bà Nho bồng đứa con gái nhỏ, nhoài người thả nó xuống cho đám thủy thủ trước khi chính mình cũng nhảy xuống. Đám người chờ sẵn bên dưới hứng được hết.

Bây giờ trên chiếc Chinook chỉ còn lại một mình Nguyễn.

Làm cách nào đáp khối sắt 12 tấn nầy xuống chiếc tàu? Ông ta chợt nghĩ ra cách khác – một cách chưa ai từng thử qua: Đâm xuống biển!

Ông ta bay ra xa chiếc tàu cách một khoảng an toàn và giữ cho chiếc trực thăng đứng yên chừng 10 phút với giàn bánh đáp nhấp nhô trên mặt sóng.

Chipman đứng chết lặng trên boong, ngó theo. “Cái thằng điên! Nó đang cởi bộ đồ bay”, Chipman nghĩ thầm, trong lúc mắt không rời chiếc trực thăng.

Nguyễn cởi bỏ cái áo bay và tháo dây súng trong khi vẫn giữ cần lái cho chiếc trực thăng đứng yên.

Một phi công trông thấy cảnh đó sau nầy đã nói rằng, không thể hiểu sao Nguyễn có thể trút bỏ bộ đồ bay trong khi vẫn kềm cho chiếc trực thăng đứng yên một chỗ.

Xong xuôi Nguyễn nhấc cánh quạt bay về phía bên phải, xa khỏi chiếc tàu.

Khi chiếc trực thăng vừa chạm mặt nước, ông ta nhảy ùm xuống biển.

Âm thanh cú va chạm nghe giống như cả một toa xe lửa bị lật. Mảnh vụn từ cánh quạt chiếc trực thăng bay veo véo qua chiếc USS Kirk. Chiếc trực thăng nằm lật ngửa trên mặt biển, mấy bánh xe chổng lên trời.

Một khoảng im lặng nghẹt thở khi cả bọn ngó xuống một vùng màu đỏ loang rộng ra chỗ Nguyễn nhảy xuống. Không ai thấy ông ta đâu.

Đột nhiên một cái đầu nhô lên khỏi mặt biển. Nguyễn còn sống! Ông ta đã cố lặn thật sâu khi chiếc Chinook vừa chạm mặt nước. Còn khoảng màu đỏ loang trên biển là dầu thủy điều của chiếc trực thăng.

Đám người trên chiếc Kirk òa vỡ trong niềm vui lẫn thán phục. Ai nấy huýt sáo vang lừng.

“Cừ quá!” một người hét to.

“Một cú tài tình”, người khác phụ họa theo.

Chiếc Kirk cho xuồng máy vớt Nguyễn lên. Ông ta lên tới boong tàu chỉ mặc độc một quần đùi màu đỏ của vợ may và một sơ mi trắng in hình hoa hòe. Mấy miếng vàng nhét trong túi đã rớt đâu mất.

“Anh ta đòi được gặp vợ con ngay”, Doyle cơ khí trưởng trên tàu sau nầy nhắc lại.

***

Chiếc USS Kirk sau đó đã vớt thêm nhiều đợt người tị nạn tả tơi đào thoát trên những tàu hải quân VNCH, tàu buôn và cả tàu đánh cá. Jacobs cùng thủy thủ đoàn đã vớt tổng cộng 30,000 người đào nạn từ Nam Việt Nam.

Sau nầy Jacobs nhắc lại rằng các thủy thủ của ông ta khá lành nghề nhưng đồng thời cũng rất may mắn. Biển Nam hải vốn có tiếng không hiền hòa, những đợt sóng cao 20 ft và gió giật rất mạnh là chuyện thường ngày. Vậy mà hôm đó mặt biển lại lặng yên.

“Thượng đế đã ngó xuống. Mấy ngày đó mặt biển phẳng lì như lưng con cá bơn”, ông ta nói.

Còn Chipman không bao giờ quên được thái độ trầm tĩnh của Nguyễn trong tình thế cấp bách và nhớ rõ mình đã vui mừng thế nào khi hứng được đứa con gái nhỏ cùng người vợ của viên phi công.

“Một kết thúc tốt đẹp cho một cuộc chiến khốn nạn”, anh ta nói.

“Ông ta khá khiêm tốn” 

Đó cũng là một kết cục pha trộn giữa vui mừng và cay đắng cho Nguyễn. Ông ta cứu được vợ con nhưng mất hết mọi thứ khác – tiền bạc, sự nghiệp, thân bằng quyến thuộc và luôn cả tổ quốc.

Gia đình ông về sống ở Seattle, sau đó ông tìm được việc làm trong hãng Boeing. Ông ta đi tiếp cuộc đời mới, vẫn bằng sự bền bĩ tháo vát mà ông đã có lúc vội vã bay ra biển để tìm đường sống.

Một gia đình trong hội nhà thờ Lutheran bảo trợ cho gia đình ông. Ông chăm chỉ học thêm tiếng Anh. Ban đầu làm công việc lau dọn ban đêm và học thêm điện tử vào ban ngày. Sau khi được nhận vào làm cho hãng Boeing, ông thức dậy lúc 4 giờ sáng và rời nhà nửa tiếng sau đó.

Sáu tháng sau khi tới Mỹ, gia đình Nguyễn không cần tới sự trợ giúp của chính phủ nữa, ông bảo rằng xứ nầy là mảnh đất của rất nhiều cơ hội. Ông không muốn nhận, nhưng luôn luôn muốn cho. Ông bảo với vợ con, trong vòng 5 năm tới chúng ta sẽ phải là công dân Mỹ để được đóng thuế và đi bầu.

Đối với con cái, ông muốn chúng phải học thật giỏi, rằng đại học là ngưỡng cửa không gì thay thế được và ông sẽ giúp trả học phí nếu chúng học khá. Nhiều lúc, có thể nói, ông huấn luyện con cái giống như chúng là nhân viên phi hành của mình trên chiếc Chinook ngày nào.

Mỗi sáng chúa nhựt ông đánh thức các con, giao cho một bảng liệt kê các công việc phải làm. Nếu xong bài làm ở trường, chúng sẽ được cho thêm một số đề toán để… suy nghĩ tiếp!

“Nếu tụi cháu làm lộn một con số, ba cháu sẽ xóa cả bài và bắt làm lại từ đầu”, Mina – đứa bé gái năm xưa được thả xuống từ chiếc trực thăng Chinook – nói như thế.

Ông đặc biệt chăm lo cho đứa con gái út giống như cái ngày ông đem cô theo trong chuyến bay vượt thoát. Khi Mina bắt đầu hẹn hò với một anh nhạc sĩ – người sau nầy sẽ trở thành chồng cô – ông đã lựa dịp để ngồi nói chuyện tay đôi với anh chàng.

“Cháu chưa bằng được con gái bác”, ông nói với anh ta. “Sao cháu không có bằng tiến sĩ? Con nhỏ nó có rồi đấy!”

Nhưng Nguyễn không phải là một người cứng nhắc. Ông thích vui đùa. Mấy đứa con ông thường bảo ông thích tận hưởng đời sống đến nơi đến chốn vì biết rằng đời ông đã được ban ơn lần thứ hai. Ông thích đi câu, chơi dương cầm và tụ tập bạn bè về nhà hát karaoke. Ông cũng nhảy đầm rất giỏi, giống như ngày xưa đã từng bay thật cừ. Ông thích nhất điệu rumba và cha cha cha.

Mỗi khi các con ông phàn nàn điều gì, chúng sẽ nghe được cả một bài thuyết trình: “Má tụi bây và ba khi tới đất Mỹ nầy trên người chỉ có độc cái quần lót… Nhìn lại mình bây giờ đi. Không giàu. Nhưng chúng ta không nghèo!”

***

Chuyến vượt thoát tới đất Mỹ của cả gia đình đã trở thành một cái gì gần như huyền thoại. Nó không còn là câu chuyện trao đổi trên bàn ăn mà đã được cô đọng lại thành những giá trị được hết thảy mọi người nâng niu gìn giữ. “Nó là câu chuyện về cái đảo Ellis của gia đình chúng tôi”, Miki nói.

Sau khi ông thôi việc ở Boeing và về hưu năm 2000, Miki biết sẽ tặng cha mình món gì. Đó là một hộp kính thật đẹp bên trong có cái quần đùi màu đỏ mà ông đã mặc trong chuyến bay vượt thoát của gia đình.

Nguyễn nhận món quà đó với một thái độ nhẹ nhàng. Ông nhận nó mà không nói lời nào.

Có lần ông đã viết về chuyến hành trình gian nan của gia đình ông trên một tờ báo Việt ngữ nhưng bằng lời kể của ngôi thứ ba. Ông không nhận mình chính là người phi công đó.

“Ba tôi không thích khoe khoang”, Miki nói. “Nhưng ông biết chắc ông đã làm một chuyện quá sức liều mạng”

Tháo mặt nạ để nhìn người anh hùng

Nhiều người khác cũng nghĩ thế, và họ quyết định tháo gỡ lớp vỏ bọc để thấy rõ mặt người anh hùng khiêm tốn nầy.

Suốt trong nhiều năm, viên chỉ huy tàu USS Kirk đã nhiều lần dò hỏi tung tích cái anh chàng pilot Việt Nam đã lái chiếc Chinook đâm xuống biển.

Câu hỏi lúc ban đầu dần trở nên một công cuộc tìm kiếm khá dai dẳng. Năm 2009, Jacobs xuất hiện trong một chương trình TV Việt ngữ, hỏi xem có ai biết gì về người phi công nầy.

Công việc dò tìm vẫn tiến hành với ít nhiều hi vọng vì cộng đồng Việt Nam trên đất Mỹ cũng chẳng to lớn gì.

Một ngày nọ, Miki nhận được một e-mail trong đó có lời rao của Jacobs. Anh trả lời: “Nếu ông đang tìm người phi công lái chiếc Chinook ấy, thì có thể đó là cha tôi”

Sau đó là những cú điện thoại gọi về tới tấp…

***

Jacobs và những thuộc cấp cũ của ông trên chiếc USS Kirk tổ chức một buổi họp mặt đoàn tụ vào ngày 10-7-2010 tại Springfield, Virginia, và họ đã gởi thư mời ông Nguyễn. Ông không còn là người phi công trực thăng ngày nào trong tháng 4 năm 1975. Ông đã mất đứa con trai giữa – Mika – chết vì xuất huyết não năm 2003. Phần ông thì mắc bệnh Alzheimer sau khi về hưu. Bây giờ ông ngồi trong xe lăn. Không nói chuyện được, chỉ ú ớ qua cổ họng.

Tới dự buổi họp mặt với thủy thủ đoàn chiếc tàu USS Kirk, lần nầy bà vợ đẩy xe cho ông. Chiếc xe lăn được đẩy vô phòng tiếp tân, có con trai và con gái cùng đi với cha mẹ. Người đầu tiên mà bà thấy trong hành lang là “Chippy” Chipman, anh chàng thủy thủ đã hứng được bà và cô bé gái con bà khi cả hai nhảy ra khỏi chiếc trực thăng mấy chục năm về trước.

Nguyễn cũng nhận ra Chipman. Mắt ông ứa những giọt lệ.

“Ông ấy ngó tôi và tôi cũng ngó ông ấy trân trân. Ông ấy nhận ra tôi, và tôi cũng thế”, Chipman kể lại. Chipman tới bên Nguyễn đưa tay chào. Tự giới thiệu mình và nhắc lại chuyện xưa.

Anh ngó qua Miki, giờ đã là một gã trung niên. “Tôi là người đã chụp được cậu lúc cậu nhảy xuống tàu”, anh nói bằng giọng Texas đặc sệt, trong lúc Miki không thốt được lời nào vì quá xúc động.

Đoạn anh ngó qua Mina. Trông cô tươi tắn như một bông hoa. Anh bảo với cô rằng lúc đó anh đã nhủ mình phải cố chụp cho được lúc cô rớt khỏi chiếc trực thăng cho dù phải đánh đổi bằng chính sinh mạng mình đi nữa…

“Tôi hãnh diện lắm”, Chipman kể lại tâm trạng mình lúc gặp Mina. “Tôi không có con, nhưng có một cái gì giống như bất ngờ mình gặp lại đứa con gái thất lạc đã lâu, nay gặp lại lúc nó khôn lớn. Cô ấy đã trưởng thành một cách hết sức tốt đẹp”

Buổi họp mặt biến thành buổi tuyên dương ông Nguyễn. Người ta chiếu lại khúc phim màu ghi lại những pha gian nan của chiếc Chinook. Nhiều thủy thủ trên tàu ngày hôm đó đã chụp ảnh và quay được cảnh tượng xảy ra trên mặt biển.

Mina nhìn vào tấm hình lúc cô đang dán khuôn mặt bé thơ của mình lên lớp kính chiếc Chinook khi nó bay vòng trên chiếc tàu. Cô cũng thấy được tấm hình lúc cô rớt xuống đôi tay của Chipman. “Tôi lạnh cả sống lưng”, cô nói.

Cô cũng được xem lại khúc phim cha cô nhào ra khỏi trực thăng lúc đâm xuống biển.

“Giống như Tom Cruise”, cô bảo. “Nghĩ rằng người đó là cha tôi. Nghĩ rằng đó là cảnh gia đình tôi đang nhảy khỏi máy bay từng người một. Những ý nghĩ đó làm tôi choáng cả người”

Còn Miki có ý nghĩ riêng của anh. Trong nhiều năm, anh vẫn thán phục cha mình ở cái tính khiêm tốn của ông. Anh có thể hiểu được thái độ đó. Nhiều người tị nạn Việt Nam chỉ muốn quên đi những đau đớn trong quá khứ. Họ đã mất đi bao nhiêu thứ, thân phận, địa vị, gia đình, tiền của… Họ chỉ muốn nhắm vào tương lai. Kết quả là những người nầy có nguy cơ đánh mất quá khứ. Lũ con rồi đây khôn lớn sẽ không biết gì về chuyện vượt thoát tìm tự do của cha mẹ. Và mọi chuyện sẽ nhạt nhòa dần khi thế hệ của những bậc cha mẹ lần lượt mất hút.

“Chỉ có một điều khác nhau giữa gia đình chúng tôi và những gia đình khác, đó là những tấm hình và những khúc phim nầy”, Miki nói. “Mỗi người tị nạn Việt Nam tới xứ sở nầy đều có hàng vạn những câu chuyện đáng được kể ra, và chắc chắn có những câu chuyện còn gian nan hơn nhiều”

***

Hạm trưởng USS Kirk, Đại tá Paul Jacobs, người cứu mạng 32,000 người Việt tị nạn cộng sản.

Miki ngó Jacobs khi ông nầy tới trước đám quan khách trong phòng tiếp tân.

“Chúng tôi dành phần sau chót cho điều đáng kể nhất”, ông ta vừa nói vừa nhìn ông Nguyễn.

Jacobs đọc một đoạn tuyên dương Nguyễn về hành động gan dạ của người sĩ quan phi hành.

“Với tài ba của một phi công, thái độ trầm tĩnh trong lúc nguy cấp, hành động của ông Nguyễn đã mang về một hình ảnh tốt đẹp cho đất nước ông và đã nói lên được một truyền thống cao đẹp nhất của Hải quân Hoa Kỳ”

Nguyễn không nói được lời nào khi ngồi yên ngó lên từ chiếc xe lăn. Một sĩ quan Hải quân cúi xuống gắn huy chương Không quân biểu dương lòng can đảm lên ve áo của ông.

Trong chiếc xe lăn Nguyễn vặn vẹo cử động thân mình.

Miki, đứng sau ông, không hiểu cha mình muốn gì.

Ông cựa quậy hai chân, rồi thẳng người lên trong cái áo khoác màu xám tro. Ông nhìn thẳng vào Jacobs. Và, ông chào bằng cách run rẩy đưa bàn tay mặt của mình lên trán…

***

Nguyễn qua đời vì bệnh Alzheimer 3 năm sau ở cái tuổi 73, ông đã vĩnh viễn ngủ luôn một giấc dài vào một đêm mùa hè. Nhưng trong cái buổi họp mặt đáng ghi nhớ đó, lúc thời gian quay ngược trở về một ngày khó quên của tháng 4, 1975, Miki đã thấy cha mình phác một cử chỉ dường như để nhắc với anh rằng, “Dù thân thể ông không thể cử động được nữa, nhưng ông – người cha mà anh đã tin chắc thế nào cũng tới để đưa anh và cả gia đình ra đi – ông vẫn mãi còn đó…”

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links: Nguồn Email.


Người đi viếng phải đi rất nhanh – Nhóm Đường Mới

 Bài đọc suy gẫm: “Người đi viếng phải đi rất nhanh” tức bài viết “Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp” do nhóm Đường Mới gồm 9 tác giả lỗi lạc về văn chương và triết học Pháp, Mỹ, Việt biên soạn. Cuốn sách xuất bản đã làm UNESCO hủy bỏ ý định vinh danh HCM.

Oliver Todd và Jean Francois Revel 

Năm 1990, nhà xuất bản Nam Á ở Paris phát hành cuốn ” HCM, Sự thật về thân thế và sự nghiệp “do 9 tác giả đồng soạn, trong đó có 6 người Việt, 2 người Pháp, một người Mỹ.
Cuốn sách được viết và dịch ra 3 thứ tiếng Anh, Pháp, Việt xuất hiện vào lúc tổ chức Văn Hóa Giáo Dục của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) dự tính vinh danh HCM nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông tạ

Hai tác giả người Pháp là Olivier Tođ và Jean-Francois Revel từng có mặt trong số nhà văn và triết gia ngoại quốc đã can thiệp để UNESCO hủy bỏ ý định. Vì vậy UNESCO chỉ cho CSVN mượn trụ sở để tổ chức văn nghệ nhưng không được nhắc tới ngày sinh của HCM.

7 tác giả còn lại gồm:
– Ralph B. Smith, giáo sư sử học Á Đông tại trường School of Oriental and African Studies (Viện nghiên cứu Á Phi) thuộc đại học Luân Đôn.
– Bùi Xuân Quang, chủ biên, nhà văn, đạo diễn điện ảnh, là người cùng Nguyễn Thế Anh và Huỳnh Bá Yết Dương sáng lập nhóm nghiên cứu và tập san Đường Mới.
– Nguyễn Thế Anh từng là Viện Trưởng Viện Đại Học Huế, giáo sư Đại Học Văn Khoa Saigon, giáo sư thỉnh giảng đại học Harvard, giám đốc CNRS (Trung tâm Quốc Gia Khảo Cứu Khoa Học, Paris) và là một sử gia có uy tín trong giới sử học quốc tế.
– Tôn Thất Thiện, từng là giáo sư Học Viện Quốc Gia Hành Chánh và đại học Vạn Hạnh, Tổng Trưởng Thông Tin VNCH, giáo sư đại học Québec tại Trois Rivières, từng được trao tặng Giải Thưởng Quốc Tế Về Báo Chí (Giải MacSaysay, mang tên tổng thống Phi Luật Tân ) vào thời Đệ Nhất Cộng Hòa VN.
– Lâm Thanh Liêm, nguyên giáo sư và Trưởng Ban Địa Lý Đại Học Văn khoa Saigon, chuyên gia nghiên cứu CNRS, tác giả nhiều sách về chuyên môn và lịch sử, trong đó có cuốn Từ Saigon đến thành phố HCM, viết chung với Gustave D. Meillon.
– Đinh Trọng Hiếu, chuyên gia nghiên cứu CNRS, giảng sư đại học Paris VII, từng có thời viết cho tập san Đoàn Kết thân cộng.
– Đằng Phương, Nguyễn Ngọc Huy, nguyên giáo sư Học Viện Quốc Gia Hành Chánh Saigon, nguyên chuyên gia khảo cứu tại đại học Harvard, tổng thư ký Phong Trào Quốc gia Cấp Tiến.
Cuốn sách là tập hợp những bài viết của 9 tác giả nói trên, mỗi tác giả một bài.

Trong Lời Nhà Xuất Bản, Mai Trung viết rằng các dân tộc Đông Âu đã ném chủ nghĩa CS vào “thùng rác lịch sử”.

Trong lời mở đầu, Vấn đề HCM, Bùi Xuân Quang viết: “Đời của lãnh tu. CS HCM hoàn toàn giả tạo từ ngày sinh cho đến ngày ông mất….Trong tinh thần đi tìm sự thật, công bằng và nhân ái, chúng ta phải đặt ông HCM vào đúng chỗ của ông: một người đã hoàn toàn sai lầm và phải chịu trách nhiệm với dân tộc, với đất nước.” (1)

Bài thứ nhất, HCM: Lòng yêu nước bị chuyển hướng của Jean-Francois Revel, triết gia, nhà văn và nhà báo, phụ trách mục xã luận các tuần báo Le Point, Giornale và đài Europe I. Tác giả viết: “Đáng lẽ HCM đã là một vị anh hùng tạo lập một nước VN tân tiến và dân chủ. Khốn thay, mục tiêu của ông không phải là nền độc lập của VN mà là việc sáp nhập nước này vào Quốc Tế CS … HCM là một trong những người thực hiện khắt khe nhất phương pháp mà chủ nghĩa CS đã dùng suốt thế kỷ 20. Đó là dùng sức mạnh nằm trong mong muốn tự nhiên của con người như tự do, độc lập, tiến bộ rồi xoay chuyển sức mạnh đó để phục vụ mục đích trái ngược với mục đích mà những người dân bị lợi dụng đã ước mong và theo đuổi…Dựa vào lòng ước mơ tự do để nô lệ hóa, đó là phương pháp của HCM theo đúng phương pháp của Lênin gian ác.”

Với tư cách một triết gia, một nhà tư tưởng, Revel đưa ra định nghĩa của lịch sử rồi căn cứ vào đó và dựa trên kết quả những hành động của HCM để đưa ra lời kết tội, dù chấp nhận trường hợp cho rằng buổi ban đầu đã có ý định hết sức tốt đẹp: “Lịch sử không phải là kết quả do những ý định của người ta mà là kết quả do những hành động của họ. Thế thì những kết quả còn đó: Nô lệ, xương máu, chết chóc và đói khát. Đã trưng dụng cuộc chiến đấu chống thực dân để đưa đến một tình trạng suy sụp như thế thì chẳng còn cách gì chống chế để chạy tội cả. Trái lại, đây là một trường hợp phạm tội gia trọng, một vụ đánh cắp, một vụ lừa bịp không hơn không kém.”

Bài thứ hai, Hành trình chính trị của HCM của Nguyễn Thế Anh. Theo tác giả, những nghi vấn đầy rẫy trong đời HCM đến nay vẫn chưa được giải tỏa. Chỉ riêng về năm sinh đã khá rắc rối.
Năm 1911, HCM ghi mình sinh năm 1892. Một báo cáo khác ghi: sinh năm1894. Trong chiếu khán thông hành cấp năm 1923 ghi sinh ngày 15-1-1895. Ngày sinh được coi như chính thức là 19-5-1890. Về cái tên Nguyễn Ái Quốc, tác giả cho rằng “có thể” là tên chung của nhiều người thường lui tới nhà luật sư Phan Văn Trường ở số 6 Villa des Gobelins. Và, hội Người VN Yêu Nước không phải do HCM lập nên như ghi trong sử liệu của CSVN. Hội này là của hai nhà cách mạng Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường: “Hai chí sĩ ho. Phan đã không nề hà dìu dắt những bước đầu của người thanh niên mà không bao lâu hai ông dành cho độc quyền sử dụng tên Nguyễn Ái Quốc. Biết rằng công an Pháp theo dõi chặt chẽ hành vi của mình, nên hai ông còn giao phó cho anh ta vận mệnh Hội Người VN Yêu Nước, một sự ủy thác mà các sử gia viết tiểu sử HCM lơ đi để lạm gán cho ông ta công lao lập hội này.
Với tư cách tổng thư ký của hội, Nguyễn Ái Quốc được nhận làm hội viên chi nhánh Pháp của Hội Nhân Quyền và Dân Quyền”.


Sự việc trên gợi nhắc trường hợp tương tự sau này khi HCM chiếm dụng danh xưng và danh nghĩa của VN Độc Lập Đồng Minh Hội (gọi tắt là Việt Minh) của Hồ Học Lãm để rồi biến thành Mặt Trận Việt Minh của ông ta vào năm 1941.
Tác giả nói HCM đã đến Nga ba lần khi chưa làm chủ tịch vào các thời điểm 1923-1924, 1927-1928, 1934-1938 và phủ nhận tin do HCM bịa rằng đến Nga lần đầu sau khi Lênin đã chết nên không được gặp. Tác giả khẳng định HCM đến Nga lần đầu vào tháng 7-1923, dự đại hội Quốc Tế Nông Dân từ ngày 10 đến 15-10 năm ấy.

Sử gia Nguyễn Thế Anh

Đó là lúc Liên Xô thay đổi sách lược dành cho nông dân một vai trò quan trọng mới. Năm sau HCM lại được dự đại hội V Đệ Tam Quốc Tế từ 17-6 đến 8-7-1924 tại Mạc Tư Khoa. Tác giả cho biết thêm: “Đến khi đại hội chấm dứt, một ủy ban tuyên truyền quốc tế được thành lập, mà trọng trách là tuyên truyền chủ nghĩa CS tại các nước thuộc địa… Quốc (HCM) được chỉ định gia nhập ủy ban này, ngang hàng với các ủy viên Pháp: Marcel Cachin; Ấn Độ: M.N.Roy; Nhật-bản: Sen Katayama; Algérie: Hadjali Abdelkader v.v…”

Tác giả gắn liền việc HCM đến Nga lần thứ 3 từ 1934-1938 với việc Liên Xô thay đổi chiến lược, quay ra thân thiện với Anh – Pháp hòng đối phó với Hitler, chủ trương cần phải liên hệ tốt
với họ để “thành lập những mặt trận bình dân, phải liên kết với các đảng phái dân chủ tư sản để chống chủ nghĩa phát xít”. Tại đại hội kỳ 7 (cũng là đại hội chót) của Đệ Tam Quốc Tế, HCM tham dự với tư cách đại diện bô. Đông Phương. Lê Hồng Phong dự với tư cách đại diện của đảng CS Đông Dương. Nguyễn Thế Anh trưng dẫn cuốn Chính giới Pháp và cách mạng VN (tháng 8-12, 1945) của Alain Ruscio để cho rằng “thỏa hiệp 6-3-1946 bao hàm sự duy trì nước VN trong khối Liên Hiệp Pháp”. (2)
Tác giả kết luận:”Huyền thoại này (HCM yêu nước) đã giúp nhiều cho CSVN được bên ngoài cũng như bên trong ủng hộ. Nhưng nó đã che lấp sự kiện chính yếu là nhà lãnh tu. CS đã hiến
dâng đời ông nhiều nhất cho sự thắng lợi của Quốc Tế CS, và ông đã hoạt động cho sự giải phóng xứ sở cốt là để đưa một cách hữu hiệu nhất quốc gia ông nhập vào phong trào công
nhân và nông dân quốc tế”.

Bài thứ ba, Cái đúng và cái giả dối về chuyện HCM, của giáo sư Tôn Thất Thiện là một trong hai bài dài nhất (47 trang), viết về chuyến đi lén lút sang Nga của HCM năm 1923 và chuyện bị thất sủng ở Komintern năm 1933-1938. Tác giả là một trong những người đầu tiên nói đến 2 tác phẩm do HCM ngụy trang người khác để kể về mình. Ông cũng nghiên cứu nhiều tác phẩm của các học giả và nhà văn, nhà báo thế giới như Jean Lacouture, Bernard Fall, Michelle Zecchini, Jean Sainteny, Archimedes Patti… và bài phỏng vấn HCM của ký gia? Charles Fourneau. Trong danh mục tài liệu tham khảo còn liệt kê bô. HCM toàn tập, các tác phẩm của Hồng Hà và của ban nghiên cứu lịch sử đảng do tỉnh ủy Nghệ Tĩnh phổ biến. Ngoài ra là các sách viết về HCM của những thủ hạ thân cận như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng … và một số sử gia CS khác. Một bài viết dài trên bốn chục trang mà có tới 60 chú thích dựa trên số lượng tài liệu tham khảo đó đã phản ảnh thái độ hết sức thận trọng của tác giả.
Khác với Nguyễn Thế Anh, giáo sư Tôn Thất Thiện đã dựa theo các tài liệu CS, nhất là của chính HCM, để ghi rằng Nguyễn Ái Quốc đến Nga, sau khi Lênin đã chết và mục đích chuyến đi Nga là dự đại hội kỳ V của Đệ Tam Quốc Tế (năm 1924) chứ không phải dự hội nghị về Nông Dân (năm 1923). Nhưng, sau đó tác giả viết thêm: “…Cũng ghi nhận rằng, một điều lạ lùng là Nguyễn Khắc Huyên, người đã viết một tiểu sử về Hồ, dựa vào tư liệu vững vàng xuất bản năm 1971, cũng nói rằng Hồ đã tham dự đại hội IV của Komintern vào tháng 11-12 năm 1922, trong đại hội đó ông đã gặp Lênin và Stalin, rồi rời nước Nga để trở lại lần nữa vào năm 1923, ông đến thủ đô Xô Viết ít lâu sau cái chết của Lênin.” (3)

Giáo sư Tôn Thất Thiện

Dù vậy, theo tác giả, những điều do Hồng Hà viết trong cuốn Bác Hồ trên đất nước Lênin, với tài liệu lấy từ văn khố Xô Viết cũ là dễ chấp nhận hơn cả. Do đó, tác giả kể một số sự việc theo Hồng Hà như ngay khi đến Berlin, HCM đã đi đến trụ sở của phái bô. Xô Viết số 7 Unter den, Linden, do đã có thỏa thuận trước và tác giả cho rằng theo những gì Hồng Hà tường thuật sau đó thì phải hiểu việc HCM đi Nga đã được Manuilski xếp đặt với đảng CS Pháp để được phái sang Nga dự đại hội kỳ V của Đệ Tam Quốc Tế với tư cách đảng viên CS Pháp.
Tác giả nhận định rằng lúc bấy giờ Manuilski rất cần những ý kiến về Phương Đông và các vấn đề thuộc địa, để thay Lênin (đang ốm nặng) tranh luận với M.N. Roy, lãnh tu. Ấn Cộng, về các vấn đề Phương Đông. Do thế mà HCM trở thành nhân vật quan trọng “được bầu vào chủ tịch đoàn của QT3.” (4) trở thành một thứ Kominternchik – tên gọi của một ủy viên của QT3, một người đã cống hiến hoàn toàn cuộc đời mình để phục vụ cho Quốc Tế CS. Nguyễn Ái Quốc là người như thế đó. (5)
Và tác giả kết luận: “Từ đó Hồ không còn là một chiến sĩ bình thường nữa, mà là một cán bộ quan trọng của bộ máy Komintern.” (6) Tác giả cho biết theo các tài liệu của Huỳnh Kim
Khánh, có một thời gian dài “…địa vị của Hồ bị giảm suy bởi vì, ngược lại với các người khác, ông từ chối tuân phục theo ý muốn của Mátxcơva, do ông không phải là “quốc tế vô sản”
nhưng là cách mạng yêu nước.” (7) Nhưng tác giả dựa vào tài liệu của Hồng Hà để quả quyết, HCM vẫn là “một Kominternchik phục vụ cho Komintern và được xem như một ủy viên trưởng thành của đảng CS Đông Dương” (8) Tác giả cũng dẫn lời HCM lên án gắt gao nhóm Tờ-rốt-kít để chứng minh HCM luôn trung thành với đường lối của Stalin: “Hồ làm tất cả để cho các thuộc hạ của mình bám riết chặt chẽ vào đường lối chống Trotsky…Ngay tại nhà ga, trước khi các đại biểu lên xe lửa, lời căn dặn cuối cùng của ông là họ phải chuyển lại cho Lê Hồng Phong mệnh lệnh là bất cứ ở trường hợp nào cũng không được hợp tác với bọn Trotskít.” (9)
Theo tác giả thì người như HCM và ở vào vị trí đó, “không có quyền quyết định về mặt chiến lược, mà phải chứng tỏ là khéo léo về mặt chiến thuật.” Phải chăng quyết định áp dụng đường lối dân tộc là bước chiến thuật để hoàn thành chiến lược cách mạng vô sản quốc tế mà HCM theo đuổi đã có một lúc bị ngờ vực? Để kết luận, tác giả viết: “Ta có quyền nghi ngờ sự khôn ngoan và lòng trung thực của người đó (ý nói ông Hồ) khi ông ta đã chọn con đường đó mà không nói cho họ biết ngay từ đầu một cách minh bạch rõ ràng. Những tai họa kinh hoàng đã dồn dập đè nặng lên dân tộc VN từ cuộc chiến thắng của CS năm 1975 cho phép chúng ta, còn bắt buộc chúng ta nữa, phải chấp nhận một kết luận như thế”.

Bài thứ tư, Thập niên cuối của cuộc đời HCM của Ralph Smith do Lê Đình Thông chuyển ngữ chỉ nói về hoạt động của HCM trong mười năm cuối đời. Ngay trang đầu, tác giả viết: “Một vài chuyên gia tình báo phương Tây có xu hướng tin rằng cuối đời ông, HCM chỉ còn ngồi làm vì và quyền lãnh đạo đã chuyển sang tay người khác.” (10) Tác giả trưng dẫn tiết lộ của Hoàng Văn Hoan, người bi. Lê Duẩn kết án tử hình vắng mặt, để cho rằng chuyện đó có vẻ đáng tin!
Tuy nhiên, tác giả đã ghi lại sự kiện HCM tiếp đón nhiều phái đoàn quốc tế, chủ trì những hội nghị quan trọng của đảng và nhà nước, cho thấy có thể HCM còn nắm thực quyền – đặc biệt là việc HCM có ảnh hưởng lớn đối với thế giới và luôn luôn cố giữ hòa khí với cả Liên Xô và Trung Cộng để nhận được viện trợ của cả đôi bên càng chứng tỏ điều đó. Do đó, tác giả đã đi đến kết luận ngược lại: “Sự việc này là một bằng chứng tỏ rõ Hồ không phải chỉ là một lãnh tụ hoàn toàn bị động trong tình huống khó xử này.” (11)
Về các phe nhóm tại miền Bắc lúc đó, theo tác giả, Lê Duẩn thân Liên Xộ Còn Trường Chinh và Hoàng Văn Hoan thân Trung Cộng. Nhưng tác giả cho rằng Trung Cộng đã không thành công trong việc gây ảnh hưởng quyết định với Hà Nội do sự việc Lê Duẩn (mà tác giả cho là thân Nga) đã nắm được quyền hành tuyệt đối sau khi HCM chết. Tác giả kết luận: “Nhưng cho tới nay người ta vẫn không biết là quyền hành của Lê Duẩn bắt nguồn từ một quá trình tiệm tiến suốt 4 năm trước đó – theo như Hoàng Văn Hoan đã nêu – hay là xuất phát từ một cuộc đảo chính trong thực tế ngay sau khi HCM từ trần.” Với lời kết luận này, tác giả có vẻ vẫn nghĩ HCM đã nắm trọn thực quyền tới phút cuối trong đời và ngờ vực là đã có một cuộc đảo chính theo một cách nào đó của phe nhóm Lê Duẩn sau cái chết của HCM.

Bài thứ năm của tác gia? Bùi Xuân Quang có tựa đề thật dài, Trải qua một cuộc “bể dâu” Chiến tranh chống Pháp (1945-1946), Những điều trông thấy trong cuộc đời HCM.
Tác giả cũng mở đầu bài viết bằng tình trạng HCM bị lấn át bởi các phe nhóm thủ hạ: “…Ngày nay người ta được biết Hồ đã thường xuyên phải chịu áp lực của các đồng chí chiến đấu, hoặc bằng tình đồng chí, hoặc với kỷ luật đảng”. (12) Tác giả còn cho rằng tình trạng lấn át này đã có từ năm 1946 thể hiện qua việc khai chiến với Pháp. Theo tác giả, khi HCM sang Pháp dự hội nghị Fontainebleau thì ở trong nước Võ Nguyên Giáp chuẩn bị chiến tranh và “Tổng bộ (Việt Minh) đã chấm dứt nhiệm vụ của Hồ và sẵn sàng đối đầu với Pháp… Thái độ cực đoan nóng lòng của tổng bộ ngày 19-12 (1946) đã dồn Hồ đến chân tường, đưa đến cuộc đảo chính trong nội bộ đảng” Nhưng tác giả nói tình thế cấp bách khiến đám thủ hạ “phải để Hồ khôi phục lại tình thế.” (13) Dù trải qua tình huống thăng trầm nào trong đời hoạt động thì HCM vẫn luôn là kẻ say mê quyền lực bất chấp các thủ đoạn gieo tai rắc họa khi cần thiết. Cho nên, tác giả kết tội HCM đã giết hại người quốc gia không khác nhà Hồ ở thế kỷ 15 chém giết không nương tay các con cháu nhà Trần. (14)
Tác giả trưng dẫn Lucien Laurat kể lại đã có lần HCM thổ lộ: “Tôi luôn đứng về phía quyền lực. Chỉ có bộ phận này mới có thể hậu thuẫn được cho tôi.” Tác giả còn nhắc đến một bức điện văn mà theo tác giả là hết sức kỳ cục, bởi vì bức điện ký tên Nguyễn Ái Quốc gửi cho HCM(!) để nói lên rằng “Hồ được Nguyễn hậu thuẫn”. Một câu nói khác của Hồ cũng được tác giả trích dẫn và cho là không kém kỳ cục:”Thà ngửi phân Tây còn hơn cả đời ăn phân Tàu”. Cuối cùng, tác giả kết án HCM và CSVN đã “cuỗm” lấy danh nghĩa độc lập để làm lợi cho phong trào CSVN, đồng thời “cấm đoán mọi quyền lực có thể xuất phát từ các đối thủ chính trị”.

Bài thứ sáu, Chính sách cải cách ruộng đất của HCM: sai lầm hay tội ác? của Lâm Thanh Liêm gồm 2 phần chính:
1) Các giai đoạn (chuẩn bị và thực hiện)
2) Kết quả.

Hà Nội kết án tử hình vắng mặt cho Hoàng văn Hoan sau khi ông ta trốn sang Tàu.


Tác giả dựa theo những tài liệu chính xác về chiến dịch cải cách ruộng đất của CS tại miền Bắc và dành phần cuối nói rõ về vai trò của HCM. Về kết quả, tác giả trưng dẫn lời của một
số cán bộ từng phụ trách công tác Cải Cách Ruộng Đất ở miền Bắc những năm 1955-56 mà tác giả được gặp ở Saigon trước khi vượt biên ra nước ngoài: “Một cán bộ ước lượng 120 ngàn người bị giết oan (trong số này có 40 ngàn đảng viên). Một cán bộ thứ nhì ước lượng có khoảng 150 ngàn đến 160 ngàn người bị giết oan (trong đó có khoảng 60 ngàn cán bộ đảng viên). Tác giả dẫn thêm hồi ký của Hoàng Văn Hoan về sự tàn ác dã man trong Cải Cách Ruộng Đất, dù Hoàng Văn Hoan chỉ tả lại một phần nhỏ sự thực. Hoàng Văn Hoan đã viết: “Các đội cải cách đã để cho nông dân xỉ vả người bị gọi là địa chủ, thậm chí để cho nàng dâu xỉ vả mẹ chồng, con xỉ vả bố mẹ, mà người bị gọi là địa chủ cứ phải cúi đầu chịu, không được thanh minh phải trái…” Theo tác giả, Hoàng Văn Hoan xác nhận chính tác phong gia trưởng và ý thức tả khuynh của Trường Chinh “đã đưa đến những sai lầm nghiêm trọng là đánh tràn lan vào trung nông, phú nông và những người có một ít ruộng đất cho thuê, đánh tràn vào cả cơ sở đảng.” Tuy nhiên, tác giả không hoàn toàn chia xẻ cáo giác trên mà nghĩ rằng tác phong của Trường Chinh chỉ chịu một phần nhỏ trách nhiệm thôi, bởi lẽ “đánh tràn lan…. không phải là không có chủ ý. Bởi vì trung nông, phú nông, hay đảng viên nào mà không chịu tuân theo đảng một cách vô điều kiện, còn dám phê bình chống đối hay nghi ngờ đảng, thì bị gán cho tội địa chủ để thủ tiêu cho hết những phần tử đối kháng, hầu sau đó, đảng toàn quyền sinh sát trong mọi vấn đề mà không gặp trở ngại gì. Đó mới là điều quan trọng, và vì thế nên đảng và nhà nước lúc ấy mới tuyên bố Cải Cách Ruộng Đất đã thành công hay thắng lợi. Sửa sai chỉ là phụ, với mục đích xoa dịu sự chống đối, và cũng nhân thể giăng một cái bẫy khác hòng bắt thêm một mớ trí thức, văn nghệ sĩ…”
Tác giả bác bỏ luận điệu của Hoàng Văn Hoan trút hết tội cho Trường Chinh, vì cho rằng Trường Chinh không thể một mình chủ xướng một công việc cực kỳ quan trọng như vậy do trước hết trên đầu Trường Chinh vẫn luôn luôn còn có HCM vừa là chủ tịch đảng, vừa là chủ tịch nhà nước.

Bài thứ bảy, Đất nước mới, con người mới, xã hội mới: mẫu mực cu. Hồ đưa ta về đâu? là bài của Đinh Trọng Hiếu, một chuyên gia về dân tộc thực vật học.
Tác giả mở đầu bằng câu danh ngôn của HCM “không có gì quý hơn độc lập tự do” rồi từ tốn nêu ra những vi phạm quyền độc lập và tự do của cái đảng do HCM lãnh đạo. Với tư cách chuyên viên về dân tộc thực vật học, tác giả ghi trong mục “đất nước mới” về công lao HCM cổ võ trồng cây không đúng cách để ngày nay dân chúng trong chế độ do ông lập nên tha hồ phá rừng và phá núi vôi, làm hại môi sinh… Trong mục “con người mới”, tác giả viết: “cách đào tạo con người “mới” của cu. Hồ đã phá sản. Nhưng đó là phá sản tất yếu của ý chí chủ nghĩa, chưa có gì đáng lo. Quan trọng hơn: khi đã coi “chủ nghĩa anh hùng cách mạng” là phương cách chỉ đạo, dùng bạo lực làm phương tiện cốt cán, lấy căm thù làm động cơ hành động, thì dần dà đưa con người cách mạng “mới” vào con đường không lối thoát”. Tác giả trích báo chí trong nước để minh họa tính sa đọa cùng cực của “con người mới”: “Lái xe coi mạng người như ngóe, vì còn quen cách lái dưới bom và dọc đường mòn HCM, coi luật pháp như loài xa xỉ phẩm. Giải quyết những việc hàng ngày, dùng súng, dao găm, lựu đạn vv…là điều hay gặp, báo chí vẫn đăng. Cái dã man đã vào nếp sống: đi đường thấy bà cụ ngã xe không ai đến đỡ (Hà Nội, Bờ Hồ, 30-10-1989); trời mưa lụt lội, thấy một thiếu nữ ngã ướt hết quần áo, cả phố vỗ tay cười (Hà Nội, Kim Liên, 15-10-1989, 13.30 giờ)…Con mất tiền bắt cha thề là không ăn cắp, cha phải thắp hương và chặt ngón tay (đã đăng báo); con cãi mẹ cầm chầy đập vào thái dương, bà cụ chết giãy đành đạch (đầu tháng 9-1989, nhà hàng xóm, nông thôn Bắc bộ) vv và vv…”
Trong mục “xã hội mới”, Đinh Trọng Hiếu trích đăng lại hai câu trong bài tham luận Nguyễn Ái Quốc đọc tại đại hội đảng xã hội Pháp ở Tours, năm 1920, về tự do và 2 vần thơ của HCM để
kết luận ông Hồ đã tiên tri, ngày nay xã hội VN y hệt như vậy. Hai câu nói trước đại hội Tours của HCM: “Chúng tôi không có tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội
họp và lập hội cũng không có. Chúng tôi không có quyền sống hoặc đi du lịch nước ngoài”
Và, 2 vần thơ của HCM:

Thân người chẳng khác thân trâu,
Cái phần no ấm có đâu đến mình.

Tác giả trích thêm 4 câu thơ khác của HCM:

Sức còn yếu tuổi còn thơ
Mà đã khó nhọc cũng như người già
Có khi lìa mẹ lìa cha
Để làm tôi tớ người ta bên ngoài.

Mượn lời một tác giả vô danh thuật truyện, tại kinh đô, đạo Phật mất hết ý nghĩa, chỉ còn những từ ngữ rỗng không, tác giả kết thúc với câu tiên đoán bi thảm về tình trạng xã hội
VN, dưới triều đại HCM: “Miệng Phật nín thinh. Đêm mạt pháp bắt đầu.”

Bài thứ tám, Huyền thoại HCM, do Olivier Todd viết và Nguyễn Văn chuyển ngữ. Olivier Tođ là nhà văn, nhà báo Pháp nổi tiếng từng điều khiển 2 tờ tuần báo Le Nouvel Observateur – Người Quan Sát Mới và L’Express – Tin Nhanh. Oliver Todd cũng viết nhiều tác phẩm về VN được hâm mộ, trong đó có Vịt Cà Mâu, Saigon thất thủ, Tháng Tư Đen – Le cruel Avril và tác phẩm mới nhất, Cuộc thương thuyết – La négotiation. Ban đầu Oliver Tođ là người ca ngợi chính nghĩa giải phóng dân tộc của HCM nhưng sau 1975, thái độ của ông đổi hẳn.
Mở đầu bài viết, tác giả nhận xét tổng quát: “Hồ chắc chắn là một lãnh tụ có tầm vóc: ông ta chiếm và giữ quyền hành – với một giá quá đắt… Nhưng lưu danh thơm? Không! Lưu xú thì
đúng hơn, đó là người đã đầy đọa dân hơn là giải phóng dân.”

Sau đó tác giả đưa ra những hình ảnh HCM do thủ hạ và những nhà báo thiên tả tô vẽ: Đi dép râu, trong sạch như thánh, khắc khổ, ăn ít, một thứ thánh Phan-xi-cô thành Assise của chủ thuyết Lênin. Đặc biệt là “có thể khóc bất cứ lúc nào (chùi mắt trong khăn tay đỏ)…Người ta có thể tin dễ dàng rằng “bác” dường như mềm dẻo hơn đám thuộc hạ. Bồ câu trong đám diều hâu. Cũng như Staline dưới mắt đại sứ Mỹ trước đệ nhị thế chiến.” (15)
Olivier Todd gọi một loạt tác phẩm “nịnh bợ” HCM của những nhân vật như Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp… là loại thô lỗ, đê tiện. Về phía các tác giả ngoại quốc, Olivier Todd nêu đích danh Wilfred Burchett, một tác gia? CS Úc cùng với Jean Chesneaux, Philippe Devillers và mệnh danh đây là những tên hề của lịch sử, vì không cải chính sau khi đã biết mình sai. Olivier Todd nhắc nhiều đến cuốn Fire in the lake – Lửa trong hồ của bà Frances Fitzgerauld (đã tạ ơn sư phụ là Paul Mus), và đặc biệt là cuốn viết về HCM của Jean Lacouture. Olivier Todd khen cuốn sách viết hay:”Lacouture đã viết bằng sự cuồng nhiệt của ông quan tòa tự ăn năn và cái duyên dáng của một nữ danh ca lỗi lạc.” Nhưng sau đó Olivier Todd dành hơn 10 trang sách phơi bày những sai trái trong cuốn sách của Lacouture. Olivier Todd nêu nhiều cuộc tàn sát thủ tiêu đối lập thuộc đủ mọi phe phái không CS trong khoảng 1945-46 để bác bỏ ý kiến của Lacouture cho rằng HCM không thích bạo động và kết luận: “Trong nhãn giới của J. Lacouture có một khoảng tối om khiến ông ta cũng như lâu la của ông ta không
thấy được sự thật.” Tuy vậy, tác giả vẫn mong Lacouture sẽ lên tiếng để góp phần dựng lại bức chân dung chính xác: “Không một Lacouture nào có trách nhiệm trong công cuộc CS hóa VN. Ông ta chỉ có lỗi bóp méo sự thực, tuyên truyền xuyên tạc khoảng 20 năm. Chúng ta mong mỏi Lacouture trở lại vấn đề VN, phá tan huyền thoại HCM. Chưa trễ lắm đâu.”
Trong phần kết luận, tác giả viết về HCM: “Phương trình cá nhân “cách mạng” của Hồ rất đơn giản: Nhu trí (software) sản xuất từ Moscow. Mỗi lần gặp khó khăn trầm trọng, bò về với mấy ông Bolshevik để học hỏi, lãnh chỉ thị. Cương trí (hardware), từ Tàu, Hồ dùng nơi đó làm thí nghiệm và là bàn đạp để chiếm VN. Thêm vốn liếng riêng của cá nhân Hồ, thơ, thuốc, tiếu ngạo chẳng có giá trị gì trong cuộc chơi đã được ấn định sẵn. Hồ có khả năng che đậy tài tình, có tài làm đầu đảng, tính quyết định và tàn ác dị thường.”
Và đây là những dòng cuối bài: “VN quốc gia không cung cấp nổi cho dân mìền Nam một ý thức hệ có khả năng chống chọi với CS của Hồ ở miền Bắc. Phe quốc gia cũng không có một huyền thoại nào có thể đem ra so sánh với Hồ. Ngày nay người ta biết thế nào là Staline. Phải chờ một thời gian nữa để cho bộ mặt thật của Hồ từ huyền thoại đi trở về lịch sử, về với
giới trí thức và quần chúng. Chiến thắng cuối cùng của Hồ: Lăng và xác ướp của “Bác” ở Hà Nội. Người đi viếng phải đi rất nhanh: Chết hay sống, chúng ta không có quyền nhìn Hồ quá
lâu, hoặc quá gần.”

Bài cuối cùng, Vị trí HCM trong diễn tiến của tình trạng nhơn quyền tại VN, Nguyễn Ngọc Huy dành 58 trang chứng minh chế đô. CS mà HCM xây dựng ở VN thua cả chế độ quân chủ lẫn chế độ thực dân về đủ mọi phương diện: chính trị, tư pháp, kinh tế, xã hội.
Tác giả trích dẫn nhiều sự việc cụ thể đối chiếu với những lời tuyên bố của chính HCM tạo một sức thuyết phục rõ rệt cho mọi ý kiến phê phán. Tác giả còn chứng minh lập luận của mình bằng nhiều điểm tựa dựa trên lý thuyết CS, kinh điển Nho Gia, Pháp Gia, Hàn Phi thời phong kiến, các bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Pháp, bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền 1948 và các bộ luật VN thời quân chủ vv…Ví dụ, tác giả nhắc lại vài thực tế đời sống dưới thời Pháp thuộc: “Về mặt học thuật người VN không còn phải hạn chế sự suy luận trong khuôn khổ của đạo lý lưu hành thời quân chủ. Các học thuyết và tư tưởng Tây phương mọi loại đã du nhập xã hội VN. Trong số này có cả học thuyết và tư tưởng chống chọi lại ý thức hệ dân chủ tự do lưu hành tại Pháp, như các học thuyết và tư tưởng Phát xít hay Marx-Lênin chẳng hạn.
– Quyền tự do tín ngưỡng được tôn trọng.
– Các báo và sách viết bằng tiếng Pháp được xuất bản tự dọ . Trong đó mọi người được tự do phát biểu ý kiến về mọi vấn đề.
– Một số cơ quan đại diện dân chúng được thành lập như hội đồng tỉnh, thành phố, viện dân biểu Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ

…Các cuộc bầu cử thực sự tự do. Từ 1933 đến 1939, những người theo đệ tứ Quốc Tế thuộc nhóm Tranh Đấu, tuy chống đối Pháp một cách công khai và mạnh mẽ, đã nhiều lần đắc
cử vào hội đồng thành phố Saigon, và năm 1939, liên danh của họ cũng đã đắc cử vào hội đồng quản hạt Nam Kỳ”.
Tác giả dẫn chứng CS không chịu ký tên trong bản quốc tế nhân quyền 1948 (mãi thời Gorbachev mới ký muộn) lấy cớ nó chỉ là hình thức. “Nhưng vì chế đô. CS không chấp nhận các nhân quyền Tây phương mà các nhân quyền “có thực chất” của họ lại chỉ thể hiện được trong tương lai xa vời không hạn định – lúc chế đô. CS đã hoàn thành – nên trong thực tế, người dân trong chế đô. CS hoàn toàn không được hưởng nhân quyền nào. Bởi đó, tại VN, về mặt nhân quyền, chế đô. CS đã thoái bộ hơn cả chế độ thực dân lẫn chế độ quân chủ.” (16)
Tác giả mượn ý trong thơ Nguyễn Chí Thiện (còn trong tù CS) để kết thúc bài viết: “Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện, một nạn nhân của những vi phạm nhân quyền thời CS lãnh đạo VN, đã bảo rằng phải hàng triệu năm tổ tiên loài người mới tiến từ trạng thái vượn lên trạng thái người, nhưng chế đô. CSVN chỉ trong mấy năm đã đẩy người VN ngày nay lui về trạng thái làm vượn. Khi chủ trương suy tôn HCM, phải chăng các nước hội viên của tổ chức giáo dục khoa học và văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) có ý muốn tuyên dương thành tích hãn hữu này?”

Trong bài viết, tác giả không nêu đích danh HCM mà chỉ nói chung về CSVN, nhưng trước mắt tác giả, CSVN đã được đồng hóa với HCM và vì thế, tất cả tội ác của CSVN cũng chính là tội
ác của HCM. CSVN không thể được hiểu là gì khác ngoài sản phẩm do HCM tạo ra theo chỉ thị của Quốc Tế CS nên mọi hành vi của CSVN không thể đặt khỏi vòng trách nhiệm của HCM.

Chú thích

(01)-(02)-(03)-(04)-(06) SD tr. 13, 45, 65, 72, 73
(05) Ghi chú của Mandelstam được tác giả trích dẫn.
(07)-(08)-(09)-(10)-(11) SD tr. 77-78, 85, 90, 103, 118
(12)-(13)-(14)-(15)-(16) SD tr 154, 157, 161, 278, 345

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links: Ong Vò Vẽ


Cảnh sát đành bó tay – Minh Võ

Đức Giáo hoàng John Paul II

Bài đọc suy gẫm: “Cảnh sát đành bó tay” là kết quả cuộc đấu tranh thắng lợi lớn của thế kỷ 20, đa số các chế độ cộng sản bị lật đổ bắt đầu từ Ba Lan, sau đó sang cái nôi nước Nga, và liên tiếp nhiều quốc gia Đông Âu. Với biên khảo “Tâm Sự nước Non, chương 23, tác giả Minh Võ cho thêm nhiều chi tiết và những nhân vật có vai trò then chốt trong biến cố sụp đổ này. Hình ảnh chỉ là minh họa.


 23. Cố Tổng Thống Ronald Reagan và Giáo Hoàng John Paul II
(trong biến cố Balan đưa đến sự sụp đổ của khối CS Đông Âu)

Tổng thống thứ 40 của Hoa Kỳ Ronald Reagan đã qua đời ngày thứ bảy 05-06-2004, hưởng thọ 93 tuổi. Nhiều nhân vật tên tuổi quốc tế đã lên tiếng ca ngợi ông là vĩ nhân và nhắc đến công lao của ông trong việc đánh sập khối cộng được tượng trưng bởi bức tường Bá Linh là nơi ông đã chỉ vào đó mà nói với cựu Tổng Thống Liên Xô Gorbachev rằng cần phải phá bỏ nó đi. Chính ông này đã phát biểu là nếu không có Reagan thì sự việc đã không xảy ra như nó đã xảy ra. Để ghi lại thành tích này, cựu Tổng Thống Bill Clinton, thuộc đảng Dân Chủ cũng phát biểu là nên khắc họa một mảnh của bức tường đó nơi tòa nhà mang tên Reagan đặt tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn.

Nhân dịp này chúng tôi xin cống hiến bạn đọc một số dữ kiện lịch sử liên quan đến công lao to tát của ông trong sự sụp đổ thình lình của khối cộng sản Đông Âu vào năm 1989.

Trước hết tưởng cũng nên thêm rằng trong việc đánh đổ khối cộng, ba vị tổng thống của đảng Cộng Hòa đã góp phần quyết định. Đó là Tổng Thống Nixon, Tổng Thống Bush (cha) và đặc biệt là Tổng Thống Reagan.

Người Việt Quốc Gia Hải Ngoại thường trách cố Tổng Thống Nixon bỏ rơi VNCH. Một số người Mỹ, vì lý do phản chiến hay một lý do nào khác, thường chê Tổng Thống Nixon “diều hâu, hiếu chiến”. Ngoài ra còn có vụ Watergate làm ông bị ô danh và phải từ chức.

Nhưng về phương diện chống cộng sản thì ai cũng phải công nhận Nixon là người có quyết tâm và chiến lược sách lược khôn khéo, tài tình. Ông đã can đảm rút đươc quân đội Mỹ đang sa lầy ở chiến trường VN về nước trong danh dự. Kế đó là sách lược “ngoại giao bóng bàn” với Bắc Kinh. Hiệp ước chổng phi đạn với Liên Xô. Rồi chiến dịch bao vây nước này bằng kinh tế… vân vân.

Đến thời Tổng Thống Reagan thì Liên Xô đã bị dụ vào cuộc chạy đua võ trang đến đứt hơi với kế hoạch phòng thủ chiến tranh giữa các vì sao (Star war). Rồi những cuộc tiếp xúc của R. Reagan, và G. Bush, với Gorbachev và Giáo Hoàng John Paul II (Gioan Phao-lô đệ nhị).

Và còn biết bao điều nằm trong những kế hoạch tối mật ít người biết. Cho đến khi mọi chuyện đã xong xuôi, đầu năm 1992, ta mới được biết rằng trong thập kỷ 80 giữa chính quyền Reagan của đảng Cộng Hòa và tòa thánh Vatican với đương kim giáo hoàng đã có một Liên Minh Bí Mật Thần Thánh với mục đích chung là đánh sập chế độ cộng sản ở Đông Âu, khởi sự từ Ba Lan, là nước rộng nhất (120,725 dặm vuông) và cũng đông dân số nhất (khoảng 35 triệu) với trên 80% là tín đồ công giáo.

Tại sao lại chọn Ba Lan làm khởi điểm?

Bởi vì Ba Lan là nước lớn nhất nằm ngay ở giữa và là tổng hành dinh của hiệp ước Varsovie, có biên giới chung với Liên Xô, Tiệp Khắc và Đông Đức. Vị giáo hoàng lúc ấy lại là người Ba Lan, đã từng là nạn nhân của cộng sản, rồi khi làm giáo hoàng còn bị CS thuê người ám sát mà không chết, cũng như chính Tổng Thống Reagan từng chết hụt trong một cuộc ám sát cách đó chỉ có sáu tuần.

Chỉ nguyên việc này cũng đủ làm cho Reagan tin rằng mọi sự đã được an bài theo sự quan phòng của Thượng Đế. Nói theo ngôn ngữ Á Đông thì đây là cái cơ duyên (hay duyên trời) khiến hai vĩ nhân của thời đại gần nhau, hợp tác với nhau để cùng chung sức đương đầu với sự ác.

Hai đoàn phụ tá cùng một quyết tâm tại Hoa Thịnh Đốn và Vatican

Một cơ duyên khác ở cấp thấp hơn là chung quanh Reagan lúc ấy có rất nhiều phụ tá tài ba là người công giáo rất mộ đạo cũng cùng một quyết tâm phá tan chế độ cộng sản vô đạo. Trong số này, có những khuôn mặt nổi bật như giám đốc Trung Ương Tình Báo William Casey, các cố vấn an ninh William Clark, Richard Allen, các đại sứ William Wilson (cạnh Vatican) và Vernon Walters (đại sứ Lưu Động) và ngay cả ngoại trưởng Alexander Haig. Về phía giáo quyền, tại Mỹ lúc ấy còn có Hồng Y John Kroll mà thân phụ sinh trưởng ở Balan, là vị hồng y có những mối liên hệ gắn bó nhất với Giáo Hoàng ở Vatican, và cũng là vị hồng y sẵn sàng đón tiếp những con chiên nhiều quyền lực trong chính quyền Reagan lúc ấy như Casey và Walters để mưu tính những kế hoạch mật nhằm cứu nhân loại khỏi họa cộng sản.

Sự tiếp xúc giữa các nhân vật quan trọng trong chính quyền Reagan với giáo hội Công Giáo không qua hệ thống giáo quyền thông thường mà qua cá nhân các yếu nhân như Giám Mục Bronislav Dabrowski phụ tá cho Hồng Y Glemp ở Ba Lan, hay Hồng Y John Krol ở Philadelphia.

Giám đốc CIA Casey và cố vấn an ninh Clark thường tiếp xúc và xin ý kiến của Tổng Giám Mục Pio Laghi vào những buổi sáng sớm, bàn thảo với ông về nhiều vấn đề thế giới, nhưng phần lớn đặt ưu tiên cho tình hình Ba Lan.

Liền sau khi lãnh tụ cộng sản Ba Lan, tướng Wojciech Jaruzelski tuyên bố thiết quân luật vào ngày 13 tháng 12 năm 1981, hạ lệnh bắt giam khoảng 6,000 lãnh tụ Công Đoàn Đoàn Kết (CĐĐK), xử tử chín người và cấm công đoàn này hoạt động, Tổng Thống Reagan liền gọi Giáo Hoàng để xin cố vấn. Ngoại Trưởng Haig cũng lập tức phái đại sứ lưu động Walters lên đường sang Vatican xin yết kiến Giáo Hoàng và Hồng Y Agostino Casaroli, Bộ Trưởng Ngoại Giao của Tòa Thánh. Walters đã đóng vai trò con thoi giữa Hoa Thịnh Đốn và Vatican đích thân gặp Giáo Hoàng tổng cộng 12 lần. Còn giám đốc CIA Casey thì hễ có dịp sang Âu Châu hay Trung Đông là lại ghé xin yết kiến Giáo Hoàng trước tiên.

Tại Hoa Thịnh Đốn, Tổng Giám Mục Pio Laghi cũng tới gặp đích thân Tổng Thống Reagan ít nhất là 6 lần. Và thường ông không vào cổng chính để tránh sự soi mói của phóng viên báo chí. Giám đốc CLA. Casey và cố vấn an ninh Clark cũng thường lén đến thăm TGM Laghi vào buổi sáng sớm để bàn cách đối phó với tình hình Ba Lan, nhất là để bàn thảo về những điều cần phải nhờ đến Giáo Hoàng.

 Giám đốc tình báo C.I.A. William Casey và câu nói để đời.

"Chúng tôi sẽ biết chương trình thông tin sai lệch của chúng tôi hoàn
 tất khi mọi thứ mà công chúng Mỹ tin là sai."(Google Translate)

Liên Minh không hiệp ước

Về phần tổng thống của siêu cường Mỹ thì ngày 7 tháng 6 năm 1982, ông đã đích thân lãnh đạo một phái đoàn đến triều yết vị lãnh tụ tinh thần của gần một tỉ người công giáo trên thế giới. Trong khi ông cùng với đức John Paul II đàm đạo tại thư viện Vatican (gần một tiếng đồng hồ), thì ở một văn phòng bên cạnh Ngoại Trưởng Haig cùng cố vấn an ninh Thẩm Phán William Clark cũng mật đàm với đức Hồng Y Agostino Casaroli, Bộ Trưởng Ngoại Giao Vatican và phụ tá ngoại trưởng là Tông Giám Mục Achille Silvestrini để bàn về những kế hoạch chi tiết.

Cố vấn an ninh đầu tiên của Tổng Thống Reagan là Richard Allen đã nói về kết quả cuộc gặp gỡ này như sau: “Đây là một liên minh bí mật vĩ đại nhất của mọi thời.” Tuy gọi là liên minh bí mật, nhưng thực ra chẳng có một mật ước thành văn nào giữa Vatican và Hoa Thịnh Đốn. Và cho đến nay mặc dù cơ quan truyền thông Mỹ đã tiết lộ một số sự việc do các yếu nhân Vatican và Hoa Thịnh Đốn thực hiện để đưa tới sự sụp đổ của Ba Lan, rồi Đông Âu… nhưng Vatican vẫn không hề hé môi xác nhận, phủ nhận hay bình luận gì về những tiết lộ của báo chí Hoa Kỷ.

Đức Giáo hoàng Jean Paul II và Hồng Y Cardinal Agostino-Casaroli

Những kế hoạch chiến lược phi quân sự

Theo tiết lộ của tờ Time, trước khi đi gặp Giáo Hoàng, Tổng Thống Mỹ đã có sẵn kế hoạch tấn công toàn khối Xô Viết bằng những biện pháp sau:

– Sáng kiến phòng thủ chiến lược, thường được gọi là chiến tranh giữa các vì sao, nhằm lôi Liên Xô vào một cuộc chạy đua việt dã mà Hoa Kỳ nhìn thấy trước là đối thủ sẽ phải bỏ cuộc vì tài nguyên đã hầu cạn kiệt.

– Hoạt động bí mật nhằm khuyến khích những phong trào cải cách tại 3 nước Hung, Tiệp và nhất là Ba Lan.

– Viện trợ tài chính cho những quốc gia nào trong khối hiệp ước Varsovie sẵn lòng bảo vệ nhân quyền, cải cách chính trị, kinh tế theo chế độ thị trường tự do.

– Bao vây kinh tế Liên Xô bằng cách vận động Nhật Bản và các cường quốc Tây Phương không cung cấp cho nước này những kỳ thuật cao. Tập trung nồ lực vào việc phá hỏng kế hoạch thâu ngoại tệ của Liên Xô bằng hệ thống ống dẫn dầu dài 3,600 dặm chạy suốt từ Tây Bá Lợi Á đến tận nước Pháp.

– Tăng cường xử dụng hệ thống phát thanh gồm các đài Tự Do, đài Tiếng Nói Hoa Kỳ và đài Âu Châu Tự Do nhắm vào nhân dân các nước Đông Âu, hầu cho họ thấy rõ và so sánh tính chất thật sự của chế độ mà họ đang sống với chế độ tự do bên ngoài.

Sách lược cụ thể của “liên minh” với CĐĐK

Đó là chiến lược chung có tính bao quát. Cuộc mật đàm giữa Tổng Thống Ronald Reagan và Giáo Hoàng John Paul II ngày 7 tháng 6 năm 1982 nhằm đề ra sách lược giai đoạn cụ thể xoáy vào một khâu chiến lược chủ yếu là làm thế nào cứu vãn Công Đoàn Đoàn Kết Ba Lan khỏi tan rã trước sức tấn công của Jaruzelski. Nếu trước sức tấn công tàn bạo của chính quyền cộng sản mà tổ chức này tồn tại được và tiếp tục hoạt động thì tình hình có thể đảo ngược.

Lecl Walesa và Công đoàn Đoàn Kết Ba Lan.

CĐĐK là một tổ chức chính trị có cái vỏ bọc kiên cố vì đồng thời nó cũng là một tổ chức nghiệp đoàn có tính “xã hội chủ nghĩa” như mọi tổ chức của cộng sản, nghĩa là gồm những công nhân mà Marx coi là đội tiền phong trong cuộc đấu tranh cách mạng, đấu tranh giai cấp. Nó có tới 10 triệu đoàn viên, đại đa số là công nhân Công Giáo, thường cầu nguyện khi gặp khó khăn, hay trước khi hành sự. Lãnh tụ của nó là một công nhân Công Giáo quả cảm, anh thợ điện Lech Walesa.

Chỉ cần CĐĐK tồn tại, nó sẽ có thể biến chế độ Ba Lan cộng sản thành một chế độ dân chủ tự do ở giữa lòng khối cộng sản Varsovie. Có thể coi đây như “một quân domino của Eisenhovver” ngày nào.

Với niềm tin tưởng đó, tòa Bạch Ốc đã cùng với Vatican, qua mạng lưới thông tin liên lạc bình thường và bí mật của Vatican giữa Tòa Thánh với hàng giáo sĩ trong nội địa Ba Lan để chuyển tới CĐĐK sự viện trợ tài chính và tiếp tế dồi dào về kỹ thuật để CĐĐK có thể tồn tại và tiếp tục hoạt động bí mật, chờ cơ hội thuận tiện sẽ quật khởi.

Chính Giáo Hoàng John Paul II đích thân liên lạc bằng vô tuyến điện với Hồng Y Jozef Glemp tại thủ đô Ba Lan Varsovie. Ngài cũng phái về quê hương của ngài những đặc sứ bí mật để thu lượm tại chỗ những thông tin cần thiết hầu nắm vững tình hình về phía chính phủ cũng như về phía Công Đoàn; đồng thời cũng để truyền đạt những huấn thị khôn ngoan sáng suốt theo đó đoàn viên Công Đoàn có thể sinh hoạt mà không bị khám phá và tiêu diệt, và biết cách tranh đẩu ở một mức độ tương đối ôn hòa với sự khôn khéo nhưng dũng cảm cần thiết, không gây cớ cho chính quyền đàn áp dã man gây sự bùng nổ không cần thiết vào lúc mọi sự chưa chín muồi.

Các nhà lãnh đạo chính quyền Mỹ đã phải công nhận là những tin tức mà Giáo Hoàng nhận được từ hàng giáo sĩ và giáo dân trong nước của Người về tình hình chính trị nội địa Ba Lan chính xác và mau lẹ hơn những tin tức mà Mỹ nhận trực tiếp từ các nguồn tin tình báo Mỹ rất nhiều. Dĩ nhiên là không kể những tin tình báo quân sự thì Tòa Thánh không hơn được CIA. Người ta tiết lộ rằng lúc ấy làm việc cho CIA có cả một Thứ Trưởng Quốc Phòng Ba Lan và một viên đại tá trong Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Ba Lan, đại tá Ryszard Kuklinski.

Đáp lại những tin tức về tình hình Ba Lan, phía Hoa Kỳ đã chuyển vào nước này những đồ tiếp tế dư dật về mọi mặt tài chính, kinh tế, kỹ thuật giúp cho CĐĐK có thể chẳng những tồn tại mà còn tích cực hoạt động bí mật gây sức ép cực mạnh đối với chính quyền cộng sản.

CĐĐK có một văn phòng liên lạc bí mật đặt tại thủ đô Brussells của Bỉ, qua đó những nhân viên của Tòa Thánh cũng như của CIA Mỹ có thể liên lạc một cách an toàn với CĐĐK trong nước. Nhưng Tòa Thánh còn có cả một hệ thống giáo quyền ở trong nước gồm hàng trăm giám mục và hàng vạn linh mục. Những vị này đều có thể là thông tín viên, liên lạc viên, là những hộp thư sống. Những căn hầm bên dưới nền một số nhà thờ cũng có thể là những trạm giao liên, những nơi tiếp thu hay tạm lưu giữ các máy móc và tài liệu tuyên truyền từ bên ngoài gửi tới. Ngoài ra, còn một số đông các chuyên viên về phong trào lao động, về tổ chức công đoàn người ngoại quốc đang hoạt động chính thức công khai tại Ba Lan cũng có thể đóng vai trung gian chuyển đạt những thông điệp từ Vatican hay chuyển giao những đồ tiếp liệu kỳ thuật từ Hoa Thịnh Đốn.

Vai trò của Giáo Hoàng và tính bất bạo động của sự can thiệp

Vì đây là một liên minh thánh thiện với Tòa Thánh nên người ta không ngạc nhiên khi nhận thấy trong số hàng viện trợ chẳng bao giờ có súng ống, đạn dược, thuốc nổ. Cũng không có những cố vấn quân sự hay tình báo gián điệp… như đã từng xảy ra trong vụ Iran Contrad, Vịnh Con Heo hay trong chiến tranh Việt Nam trước đây.

Viện trợ quan trọng nhất, có tính quyết định, chính là những huấn thị khôn ngoan, dè dặt của Tòa Thánh, đặt quyền lợi của nước Chúa, quyền lợi của Con Người trên hết. Những huấn thị của Giáo Hoàng cho đoàn chiên đồng hương của người, cũng như những lời cố vấn dành cho các giới chức cao cấp của Hoa Kỳ, khi tiếp xúc với Người được coi như những tinh hoa về văn minh Thiên Chúa Giáo rút ra từ 2000 năm kinh nghiệm của Giáo Hội.

Nhà báo Carl Bemstein (giải Pulitzer về báo chí) đã thuật lại lời Tổng Giám Mục Pio Laghi nói với ông về những cuộc gặp gỡ giữa ông và đại sứ lưu động Walters như sau: “ Vai trò của tôi chủ yếu là giúp Vernon (Walters) được dễ dàng gặp đức Thánh Cha. Đức Thánh Cha biết rõ dân tộc của Người. Đó là một hoàn cảnh rất ư phức tạp nhiêu khê – làm sao để nhấn mạnh về nhân quyển, về tự do tôn giáo và cố làm sao giữ cho CĐĐK khỏi chết mà không khiêu khích thêm chính quyền cộng sản. Nhưng tôi đã bảo Vernon: Hãy lắng nghe Đức Thánh Cha. Tòa Thánh có 2000 năm kinh nghiêm về vấn đề này.”

Vì chính quyền Mỹ biết lắng nghe Giáo Hoàng, và vì con chiên đồng hương của Giáo Hoàng chịu lắng nghe và làm theo huấn thị của Người nên kết quả cụ thể là CĐĐK đã nhận được một cách dồi dào và kín đáo, an toàn những món tiền lớn, những máy móc tối tân về thông tin và truyền tin, về vô tuyến truyền thanh và vô tuyến truyền hình, những máy in, mực in, giấy in, những tài liệu hướng dẫn việc sử dụng và điều khiển, điều hành các máy móc tân kỳ phức tạp này.

Nhờ vậy, chẳng bao lâu sau ngày đại khủng bố, Công Đoàn tại Ba Lan đã có khoảng 400 tập san, trong số đó có tờ lên tới 30,000 ấn bản. Những cuốn sách lớn và những tập tài liệu mỏng thách đổ chính quyền cộng sản được in ra và phổ biến có hàng ngàn. Những tác phẩm hài hước châm biếm dành cho con nít với những dụ ngôn, dã sử với hình Jaruzelski xấu xí kinh tởm, chủ nghĩa cộng sản như con rồng đỏ, còn Walesa thì uy nghi lẫm liệt như một hiệp sĩ anh hùng… Dưới hầm sâu của các giáo đường hay của tư thất các giáo hữu, hàng triệu người xem những cuốn băng video chống cộng được sản xuất ở ngoại quốc nhập lậu vào Ba Lan.

Với những máy móc tinh vi về truyền thanh truyền hình do CIA Mỹ cung cấp, các chuyên viên của CĐĐK có thể xen vào giữa các chương trình truyền thanh truyền hình của chính phủ cộng sản những khẩu hiệu như “Công Đoàn Đoàn Kết bất diệt!” hoặc “Hãy kháng chiến!”

Cũng với các máy phát sóng tối tân được cung cấp từ bên ngoài qua các trạm bí mật nói trên, các chuyên viên của CĐĐK có thể làm cho các chương trình truyền hình của nhà nước phải gián đoạn trong chốc lát đẻ xen vào những lời kêu gọi đình công, xuống đường, mít tinh, biểu tình v.v… Người ta thấy những điều đó xảy ra vào lúc nghỉ giải lao giữa hai hiệp đấu thể thao, là lúc khán thính giả không cảm thấy bị quấy rối một cách bực mình. Những lúc đó cũng là lúc thường thấy thình lình xuất hiện một vài biểu ngữ thật lớn kêu gọi kháng chiến chống cộng. Điều này thường hay xảy ra giữa những trận túc cầu tranh giải vô địch có rất đông khán giả.

Những kết quả thu lượm được

Khi mà những sự việc trên xảy ra thường xuyên và đồng loạt một cách rất mau chóng và rất bất ngờ tại nhiều nơi cùng một lúc, thì cảnh sát đành bó tay. Hành động quyết liệt ồ ạt nhưng kiên trì khôn ngoan nhẫn nhục của cả chục triệu đoàn viên được sự chúc lành của Tòa Thánh đã thay đổi tâm trạng của hơn ba chục triệu nhân dân Ba Lan khiến chính quyền cộng sản phải dần dần từng bước do dự, dè dặt nhượng bộ trước sức ép mãnh liệt về kinh tế, chính trị của Vatican và Hoa Thịnh Đốn.

Các nhà tù được mở ra và vụ án dự định dành cho Lech Walesa được bãi bỏ. Các đảng viên cộng sản quay ra đấu tranh với nhau, nền kinh tế suy sụp vì những cuộc đình công bãi thị, biểu tình trong nước và sự bao vây kinh tế cấm vận từ bên ngoài.

Ngày 19 tháng 2 năm 1987, sau khi chính quyền cộng sản Ba Lan hứa mở đối thoại với Giáo Hội, Tổng Thống Reagan đã hạ lệnh bãi bỏ cấm vận. Bốn tháng sau Giáo Hoàng được hàng triệu con chiên hoan hô chào đón khi ngài đi khắp nước Ba Lan rao giảng về nhân quyền và ca tụng CĐĐK. Năm tháng sau đến lượt lãnh tụ Liên Xô Gorbachev viếng thăm Ba Lan và, như cùng “đồng lõa” với Vatican và Hoa Thịnh Đốn, đã ra hiệu cho Jaruzelski hiểu rằng Mạc Tư Khoa nhìn nhận chính phủ Ba Lan không thể cầm quyền mà không có sự hợp tác của Công Đoàn Đoàn Kết. 

Tổng thống Roanal Reagan và lãnh tụ cộng sản Nga Gorbarchev.

Ngày 5 tháng 4 năm 1989, hai bên ký thỏa hiệp hợp pháp hóa CĐĐK và cùng kêu gọi tổ chức bầu cử quốc hội vào tháng 6. Cuối cùng, vào tháng 12-1990, sau 9 năm bị bắt giữ, anh thợ điện Lech Walesa đã được bầu làm tổng thống Ba Lan.

Có một điều đáng lưu ý: trong suốt bài báo dài 8 trang, ký giả Bemstein không ghi được một lời tuyên bố nào dù vắn gọn của Giáo Hoàng mà chỉ ghi rằng vị phụ tá thân cận của Ngài khuyên các giới chức ở Hoa Thịnh Đốn hãy lắng nghe (và làm theo?) lời Ngài.

Và nhìn vào những gì chính quyền Mỹ cũng như CĐĐK đã làm theo như Berstein tường thuật thì thấy rõ: Chính quyền của Tổng Thống Reagan đã không viện trợ quân sự, không cho súng đạn, không gửi cố vấn quân sự tới, cũng không dọa thả bom tinh khôn… Trái lại chỉ có các kỹ thuật máy móc tân kỳ dành cho các phương tiện truyền thông và tiền, về phía CĐĐK cũng vậy, không thấy có bạo động. Không có những vụ nổ bom quyêt tử trên xe hơi. Không có ám sát. Chỉ có nhiều, rất nhiều truyền đơn, nhiều tranh hí họa, nhiều khẩu hiệu trên truyền thanh truyền hình, nhiều biểu ngữ giữa sân bóng đá v.v…

Tóm lại, cuộc chiến thắng hoàn toàn bằng chính trị, ngoại giao, áp lực kinh tế và tuyên truyền. Đó là điều đáng làm cho những tổ chức chính trị thiếu phương tiện quân sự hùng hậu lấy làm an ủi và hy vọng, nếu họ biết vận dụng đúng mức những phương pháp và phương tiện phi vũ trang, bất bạo động.

minhvo_sign

 Ảnh: Tác giả Minh Võ.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links: Bảo vệ Cờ Vàng

Pope John Paul II – English Full Movie


“Vọng Ngoại Tắc Tử” – Vương Văn Bắc

Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc (1927 – 2011)

Bài đọc suy gẫm: Nhân Tưởng niệm tử sĩ Hoàng Sa và trận Hải chiến bảo vệ lãnh hải của Quân Lực VNCH hàng năm, Blog 16 hân hạnh đăng bài “Vọng Ngoại Tắc Tử” tức bài nhớ về trận đánh ngoài đảo Hoàng Sa của Luật Sư ngoại trưởng, Tổng trưởng Ngoại giao VNCH Vương Văn Bắc. Bài ghi lại nỗ lực đóng góp của Bộ Ngoại giao, đồng thời đưa ra phân tách tình hình quốc tế trước và sau trận Hoàng Sa, bài học nào mà chúng ta có thể rút ra từ kinh nghiệm Hoàng Sa 1974? Hình ảnh chỉ là minh họa.

 Ảnh: Hải quân VNCH (trên), HQ – 10 và hạm trưởng Ngụy Văn Thà (hình dưới)

  

Giới Thiệu: Ông Vương Văn Bắc (19272011) là một luật sư và Tổng trưởng Ngoại giao của Việt Nam Cộng hòa vào những năm cuối cùng của quốc gia này. Vào đầu năm 1974 khi Trung Cộng mở cuộc gây hấn ở Quần đảo Hoàng Sa, tấn công lực lượng Hải quân Việt Nam Cộng hòa ngày 11 tháng 1 đóng ở nhóm Nguyệt Thiềm; căn cứ trên đảo Hoàng Sa (Pattle) thất thủ. Ông xúc tiến soạn văn kiện Tuyên cáo chủ quyền VNCH năm 1974 trên hải đảo Trường Sa và Hoàng Sa”, “Tuyên cáo của Bộ Ngoại Giao VNCH về việc Trung Cộng xâm lược đảo Hoàng Sa năm 1974”, và “Bạch thư của VNCH” đầu năm 1975 lên án vụ chiếm đoạt trước công đàn quốc tế…

Đây là bài Cựu Ngoại Trưởng Vương Văn Bắc viết xong tại Paris ngày 2-4-2007. Một bản được thông báo ông Vũ Hữu San để tác giả này đăng tiếp nối theo một bài trước của Ông viết bằng Anh Ngữ (trong cuốn sách “Tài liệu Hải Chiến Hoàng Sa, 2004”}

Tuy biến cố lịch sử này xảy ra cách đây đã trên ba mươi năm, trận hải chiến Hoàng Sa (19.01.1974) vẫn còn để lại trong đầu óc tôi một ấn tượng đậm nét. Điều này dễ hiểu vì ai còn tha thiết đến vận mệnh của tổ quốc quê hương mà không đau buồn, chừng nào còn một mảnh đất của ông cha để lại, dù nhỏ bé hay xa xôi đến đâu, vẫn bị ngoại bang chiếm cứ trái phép mà mình chưa giành lại được. Riêng đối với tôi, cảm xúc ấy càng sâu đậm hơn vì vụ Trung Cộng cưỡng chiếm Hoàng Sa xảy ra ngay sau khi tôi được giao phó trách nhiệm điều khiển Bộ Ngoại Giao chưa đầy ba tháng (ngày 08.11.1973), nên vụ ấy đã là thử thách đầu tiên mà tôi phải đối phó trong chức vụ ngoại trưởng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH).
Sau đây tôi sẽ ghi lại sơ lược những chuyện tôi còn nhớ và những điều tôi suy ngẫm về biến cố Hoàng Sa. Làm công việc ấy, tôi sẽ cố gắng hoàn toàn tôn trọng sự thật. Thảng hoặc có điều gì thiếu sót hoặc sai lạc ít nhiều về chi tiết thì cũng chỉ là vì thiếu tài liệu tra cứu (tôi không đem theo mình bản chính hay bản sao các văn kiện lưu trữ tại Bộ về vấn đề này), hoặc vì trí nhớ đã suy giảm theo thời gian (tôi đã đến tuổi tám mươi).

1/ Phần đóng góp của Bộ Ngoại Giao
Trong thời kỳ sôi động đã chứng kiến vụ hải chiến Hoàng Sa, Bộ Ngoại Giao VNCH có đóng góp vào nỗ lực bảo vệ chủ quyền quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của toàn quân toàn dân miền Nam hay không, và nếu có thì dưới hình thức nào?
Để trả lời cho câu hỏi này, trước hết tôi cần minh xác là Bộ Ngoại Giao cũng như cá nhân tôi không hề được Tổng Thống hay quý vị Tổng Trưởng Quốc Phòng, Tổng Tham Mưu Trưởng, Tư Lệnh binh chủng hoặc Tư Lệnh vùng tham khảo ý kiến hay thông báo diễn tiến về các vấn đề quân sự, các cuộc hành quân… Đây cũng là một điều tự nhiên và hợp lý vì các nhân viên Bộ Ngoại Giao cũng như cá nhân tôi không có thẩm quyền pháp định hay kiến thức chuyên môn trong lãnh vực này. Ngược lại, dĩ nhiên chúng tôi được tham khảo ý kiến và trình bày đề nghị của mình về khía cạnh quốc tế mà các vấn đề hay các hành động ấy có thể đặt ra. Chẳng hạn, trong vụ Hoàng Sa, Bộ Ngoại Giao đã đề nghị và dự thảo bản Tuyên Cáo ngày 14.02.1974 của Chính  Phủ VNCH nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sau vụ xâm lược của Trung Quốc.
Tôi không nhớ có một phiên họp của Nội Các VNCH vào ngày 17.01.1974 hay không, nếu có thì phiên họp ấy đã đề cập tới những vấn đề gì và đưa ra những quyết định nào liên quan đến vụ Hoàng Sa. Trái lại, tôi còn nhớ có tham dự một cuộc họp cấp cao ở miền duyên hải Trung Phần để thảo luận về vụ Hoàng Sa, sau khi quần đảo này đã bị Trung Cộng cưỡng đoạt. Tôi nhớ trong buổi họp này có mặt Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, đại tướng Cao Văn Viên và mấy vị khác mà ngày nay tôi không còn nhớ rõ tính danh và chức vụ. Tôi còn nhớ một chi tiết qua phần trình bầy của đại tướng Tổng Tham Mưu Trưởng: vì khoảng cách quá xa giữa Đà Nẵng và quần đảo Hoàng Sa, máy bay của ta dù có trang bị thêm những bầu chứa nhiên liệu cũng chỉ có thể tác chiến trên vùng trời Hoàng Sa khoảng mười lăm phút mà thôi, do đó ta không thể cung cấp cho quân đổ bộ hay quân đồn trú của ta trên đảo một sự yểm trợ không lực hữu  hiệu. Tuy không có sự hiểu biết chuyên  môn về vấn đề, tôi cũng ý thức được là trong một cuộc chiến hiện đại, nếu không đem lại cho các lực lượng đổ bộ không-yểm đầy đủ thì toan tính cho quân đổ bộ chiếm lại quần đảo Hoàng Sa sẽ chỉ là một hành động phiêu lưu vô vọng.
Trong phạm vi nhiệm vụ của mình, Bộ Ngoại Giao đã góp phần vào cuộc tranh đấu của toàn dân Miền Nam Việt Nam để bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Sự đóng góp ấy đã thể hiện dưới nhiều hình thức, trước cũng như sau ngày Trung Cộng cưỡng chiếm Hoàng Sa.

(a) Trước ngày 19.01.1974
– Ngày 11.01.1974, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Trung Cộng đột nhiên tuyên bố rằng quần đảo Tây Sa (chỉ quần đảo Hoàng Sa của ta) và quần đảo Nam Sa (chỉ quần đạo Trường Sa của ta) thuộc lãnh thổ Trung Quốc.
Lời tuyên bố ngang ngược này không phải chỉ là một lời phát biểu bừa bãi trong lúc bốc đồng mà chính là khởi điểm của mưu đồ thôn tính bằng vũ lực một phần lãnh thổ của Việt Nam. Quả vậy, sau đó Trung Cộng đã cho một số tầu đánh cá có vũ trang xâm nhập hải phận Hoàng Sa và đổ bộ lên những hòn đảo không có quân lực VNCH đồn trú.
– Ngay ngày hôm sau, 12.01.1974, với tư cách Ngoại Trưởng VNCH, tôi đã chính thức và cương quyết lên tiếng bác bỏ lời tuyên bố vô căn cứ của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc và lên án hành động gây hấn của nước này.
– Ngày 16.01.1974, cũng với tư cách Ngoại Trưởng VNCH, tôi đã gửi công điệp cho ông Chủ Tịch Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc để lưu ý Hội Đồng Bảo An tới tình hình căng thẳng nghiêm trọng gây ra bởi lời tuyên bố ngang ngược và những hành vi trái phép của Trung Cộng trong vùng Hoàng Sa, có khả năng đe dọa hòa bình và an ninh tại vùng này. Chính phủ VNCH yêu cầu Hội Đồng Bảo An LHQ ban bố mọi biện pháp thích nghi để cải thiện tình hình.

(b) Sau ngày 19.01.1974
– Ngày 19.01.1974, khi trận  hải chiến Hoàng Sa khởi diễn, dựa trên những tin tức đầu tiên nhận được, Bộ Ngoại Giao đã đưa ra tuyên cáo lên án ‘chánh sách bành trướng đế quốc mà Trung Cộng liên tục theo đuổi, đã được biểu lộ qua cuộc thôn tính Tây Tạng, cuộc xâm lăng Đại Hàn và Ấn Độ trước kia’ và ‘kêu gọi toàn thể các dân tộc yêu chuộng công lý và hòa bình hãy cương quyết lên án các hành vi chiến tranh thô bạo… buộc Trung Cộng phải tức khắc chấm dứt các hành động nguy hiểm đó’. Bản tuyên cáo kết luận: “Trong suốt lịch sử, dân tộc Việt Nam đã đánh bại nhiều cuộc ngoại xâm. Ngày nay Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hòa cũng nhất định bảo vệ sự toàn vẹn của lãnh tổ quốc gia”(1).

———————

(1) Toàn văn bản Tuyên Cáo 015 / BNG / TTBC / TT có được đăng trong sách của Ô. Vũ Hữu San – Trần Đỗ Cẩm, ‘Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa’, tr. 160, 161.

———————–


– Ngày 20.01.1974, khi chiến sự còn tiếp diễn trong vùng Hoàng Sa, tôi đã gửi công hàm cho ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc để yêu cầu vị này, chiếu điều 99 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, lưu ý Hội Đồng Bảo An về tình hình nghiêm trọng gây ra bởi hành động xâm lược của Trung Cộng.
– Ngày 21.01.1974, Bộ Ngoại Giao VNCH đã gửi văn thư cho các quốc gia thành viên của Hội Nghị Quốc  Tế Paris về Việt Nam, trong đó có Trung Cộng (Hội Nghị này được dự liệu ở điều 19 của hiệp định Paris ngày 27.01.1974 về Chấm Dứt Chiến Tranh và Tái Lập Hòa Bình ở Việt Nam), để cảnh báo về hiểm họa gây ra bởi việc Trung Cộng dùng vũ lực xâm lược quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
– Cũng ngày 21.01.1974, tôi đã triệu tập một buổi họp các trưởng nhiệm sở của tất cả các sứ quán nước bạn ở Sài Gòn tại trụ sở Bộ Ngoại Giao, để tố cáo hành động xâm lược của Trung Cộng và yêu cầu các nước bạn của VNCH lên tiếng bầy tỏ thái độ và ban hành những biện pháp thích hợp trước biến cố này.(2)

———————————

(2) Xin xem Vũ Hữu San – Trần Đỗ Cẩm, sách đã viện dẫn, tr. 214-216.
——————————
– Ngày 14.02.1974, Chính Phủ VNCH công bố một bản Tuyên Cáo, long trọng xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, khẳng định Việt Nam Cộng Hòa sẽ tiếp tục đấu tranh để tái lập và bảo vệ chủ quyền của mình trên những hải đảo ấy. Tuy vẫn sẵn sàng giải quyết mọi tranh chấp quốc tế bằng đường lối ôn hòa, điều này không có nghĩa là Việt Nam chấp nhận từ bỏ chủ quyền của mình trên một phần nào của lãnh thổ quốc gia. Bản tuyên cáo này do Bộ Ngoại Giao đề xướng và dự thảo.
– Ngày 22.03.1974, với tư cách Ngoại Trưởng VNCH, tôi đã đến New York hội kiến với Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Kurt Waldheim tại trụ sở Liên Hiệp Quốc để tái xác định lập trường của VNCH về chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa.
– Tháng 6.1974, nhân dịp Liên Hiệp Quốc triệu tập Hội Nghị Quốc Tế về Luật Biển tại Caracas, thủ đô Venezuela (Nam Mỹ), tôi đã đích thân hướng dẫn phái đoàn VNCH đến tham dự hội nghị này, với chủ đích là xác định, trước một hội nghị quốc tế quan trọng, rằng Hoàng Sa và Trường Sa là phần bất khả phân ly của lãnh thổ Việt Nam. Có lẽ họ cũng dự đoán được ý định của ta nên phái đoàn Trung Cộng đã rời bỏ phòng hội nghị ra ngoài khi tôi bước lên diễn đàn để phát biểu, nhưng sự cố này cũng không ngăn cản được phái đoàn VNCH chính thức trình bầy lập trường của mình trước hội nghị luật biển Caracas.
– Giữa năm 1974, tôi đã cho lập tại Bộ Ngoại Giao một nhóm đặc trách soạn thảo Bạch Thư về Hoàng Sa – Trường Sa (White Paper on the Hoang Sa and Truong Sa islands) với nhiệm vụ thu thập và trình bầy những chứng liệu chắc chắn để chứng minh chủ quyền không thể chối cãi được của Việt Nam trên hai quần đảo này. Ấn bản Việt ngữ và Anh ngữ của công trình này đã được Bộ Ngoại Giao phổ biến rộng rãi để giúp các quốc gia và công luận trong thế giới biết rõ hơn những cơ sở chính đáng và đầy đủ tín lực chứng tỏ chủ quyền của ta trên các quần đảo này. Cuốn Bạch Thư này cũng sẽ là một tài liệu hữu ích và tiện dụng nhằm bênh vực lập trường của Việt Nam trong mọi thủ tục tố tụng hay trọng tài quốc tế mai hậu, về vấn đề chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
– Trong cấp thời, ngay sau khi trận hải chiến Hoàng Sa chấm dứt, Bộ Ngoại Giao VNCH đã tiến hành một cuộc vận động ngoại giao rộng rãi trên trường quốc tế để gây áp lực buộc Trung Cộng trả lại tự do cho những binh sĩ hải quân, địa phương quân và những nhân viên dân chính của ta bị địch bắt giữ trái phép trong cuộc cưỡng chiếm Hoàng Sa. Cuộc vận động này đã đem lại kết quả mau chóng: ngày 17.02.1974, chưa đầy một tháng sau ngày bị chiếm cứ, Trung Cộng đã phải trao trả toàn thể bốn mươi tám tù binh VNCH cho Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế để trả về Việt Nam Cộng Hòa. Vụ bàn giao này đã diễn ra trên cầu biên giới giữa nhượng địa Hồng Kông và Hoa Lục. Vị trưởng nhiệm sở ngoại giao của Việt Nam Cộng Hòa ở Hồng Kông đã có mặt để chào đón các chiến sĩ anh dũng khi họ vừa được trả tự do và sắp hồi hương.
Cũng nên nhận xét là những bản tuyên cáo, những văn thư, công hàm, những bài phát biểu để tố cáo xâm lược, xác định chủ quyền, nêu rõ quyết tâm giành lại phần lãnh thổ quốc gia bị cưỡng đoạt phi pháp… không phải chỉ là những cử chỉ trống rỗng, những lời nói suông nhằm che đậy thất bại thực sự. Đó là những hành vi cần thiết, có giá trị và có hiệu lực bảo lưu chủ quyền của nước ta trên các hải đảo tranh chấp. Đó là những chứng tích không thể phủ nhận được, cho thấy rõ là khi Trung Cộng kéo quân đến chiếm Hoàng Sa, họ đã không phát hiện được một mảnh đất vô chủ, hoặc đã được Việt Nam ưng thuận nhượng dữ chủ quyền. Nếu các chiến sĩ của ta đã không chiến đấu can trường chống những kẻ đã ngang ngược xâm phạm bờ cõi của nước ta, nếu chính phủ ta đã lẳng lặng cam chịu thì sau này chúng ta dựa vào đâu để chống lại lời biện bác của địch là chính Nhà Nước và nhân dân Việt Nam cũng không tin chắc mình có chủ quyền thực sự trên quần đảo tranh chấp, và dẫu sao thì cũng đã mặc nhiên chấp nhận sự kiện Trung Quốc tự nhận là chủ phần đất này.
Suy ngẫm về sự đóng góp của Bộ Ngoại Giao VNCH, tôi cũng đã có những nỗi băn khoăn, những cảm xúc trái ngược mà một vài vị sĩ quan Hải Quân VNCH đã biểu lộ khi bàn về trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Một mặt các vị ấy tỏ ra tự hào (phản ứng này thực chính đáng) về cuộc chiến đấu dũng cảm và tinh thần phục vụ cao của đồng đội trong trận này, chứng tỏ họ xứng đáng là thừa kế của những bậc anh hùng đã từng ‘đoạt sáo Chương Dương độ, cầm hồ Hàm Tử quan’. Nhưng mặt khác, các vị ấy cũng cảm thấy bùi ngùi vì nhận xét là rốt cuộc, quần đảo Hoàng Sa đã mất, nhiệm vụ bảo vệ Hoàng Sa đã không chu toàn.
Cũng như vậy, một mặt tôi cảm thấy phấn khởi và tự hào vì thấy rằng, trong thời kỳ sôi động ấy, các anh chị em nhân viên Bộ Ngoại Giao, từ cấp chỉ huy đến cấp thừa hành, đã tận tụy phục vụ để hỗ trợ đắc lực và kịp thời cuộc đấu tranh chống ngoại xâm của nhân dân miền Nam Việt Nam. Nhưng mặt khác, tôi không khỏi đau buồn khi nhận thấy là mục đích tối hậu của cuộc vận động ngoại giao lớn rộng của ta đã không đạt được, mục đích ấy là dấy lên được trên chính trường và trong dư luận quốc tế một làn sóng chống đối và lên án Trung Cộng cưỡng chiếm Hoàng Sa, khiến cho họ phải chùn bước rút quân, trả lại quần đảo ấy cho chân chính sở hữu chủ là Việt Nam. Có thể cuộc vận động ngoại giao của chúng ta đã gặt được một vài kết quả cục bộ, như là làm cho Trung Cộng phải sớm trả lại tự do cho những người Việt bị họ giữ trái phép, đồng thời phải tạm ngưng bước chân xâm lăng trên Biển Đông. Nhưng sự thật chua chát vẫn là Hoàng Sa bị cướp mất năm 1974 và chưa được trả lại.
Sự trạng này gợi lên một câu hỏi: thất bại ấy vì đâu? vì thời thế quá bất lợi cho ta đến nỗi sức người không vượt nổi trợ lực, hay chỉ vì chúng ta thua tài kém trí?

2/ Thời thế bất lợi
Bàn về những khó khăn gặp phải trong công cuộc bảo vệ và khôi phục chủ quyền của nước ta trên quần đảo Hoàng Sa, hầu hết mọi người đều đồng ý là bối cảnh quốc tế đã trở nên bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa, chủ yếu là do sự xích lại gần nhau giữa Trung Cộng và Hoa Kỳ sau chuyến viếng thăm Trung Hoa của Tổng Thống Nixon năm 1972. Điều này đúng nhưng chưa đủ. Ta cần phân tích sâu xa hơn tình hình thế giới và Việt Nam vào thời kỳ đầu thập kỷ 1970, nhiên hậu mới có được một ý niệm chính xác hơn về mức độ của những trở lực mà VNCH gặp phải trên đường đi đòi công lý về vụ Hoàng Sa.

(a) Bối cảnh quốc tế
Một sự kiện đáng để ý là, ba tháng trước khi cuộc tranh chấp Hoàng Sa bùng nổ (19.01.1974), một cuộc chiến tranh ngắn ngủi nhưng ác liệt đã xảy ra ở vùng Trung Đông. Đó là cuộc chiến tranh Yom Kippour, khởi đầu với vụ quân đội Ai Cập (Egypte) bất thần tấn công quân đội Israel ở vùng kênh đào Suez, ngày 06.10.1973, trong lúc Do Thái đang cử hành lễ Yom Kippour. Ba ngày sau đó, liên quân Syrie, Irak và Jordanie tấn công Israel trên mặt trận đồi Golan. Tình hình trở nên cực kỳ nghiêm trọng sau khi Liên Xô tiếp tế nhiều vũ khí hiện đại cho các nước Ả Rập tham chiến và Hoa Kỳ hỏa tốc tiếp tế võ khí cho Israel. Như đổ dầu vào lửa, các quốc gia Ả Rập có chân trong tổ chức các quốc gia xuất cảng dầu lửa (O.P.E.C hay O.P.E.P) nhóm họp tại Koweit ngày 17.10.1973 quyết định giảm đáng kể mức khai thác dầu hỏa, đồng thời giảm số lượng dầu xuất khẩu sang các nước Tây Âu và Hoa Kỳ. Cuộc khủng hoảng gây ra bởi cuộc chiến tranh Yom Kippour trầm trọng đến mức tổng thống Hoa Kỳ Nixon đã phải đặt các lực lượng vũ trang nguyên tử của Mỹ vào tình trạng báo động. Nhờ có thương thuyết trực tiếp giữa Liên Xô và Hoa Kỳ, một quyết nghị hưu chiến đã được biểu quyết tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc vào cuối tháng 10.1974, rồi một lực lượng mũ xanh do Liên Hiệp Quốc tập hợp đã được gửi tới chiến địa để kiểm soát tình hình vẫn căng thẳng và chiến sự có thể bùng lên bất cứ lúc nào. Hơn nữa, quyết định của các nước Ả Rập trong O.P.E.C hạn chế sản xuất và xuất khẩu dầu lửa đã đẩy thế giới đi vào một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng ấy, thử hỏi làm sao có thể thuyết phục các nước Tây Phương và các nước trong thế giới đệ tam chú mục đến một cuộc tranh chấp về một quần đảo nhỏ ở Biển Đông và kiên quyến đòi kẻ xâm lăng phải rút khỏi nơi đó, nhất là khi kẻ xâm lăng này lại là một nước lớn mạnh?

(b) Bối cảnh quốc nội

Theo thiển ý của tôi, một trở lực còn to tát hơn cả trở lực gây ra bởi tình trạng thế giới bất ổn định sau cuộc chiến tranh Yom Kippour ở Trung Đông, đó là tình trạng chia rẽ ở Việt Nam vào thời kỳ hải chiến Hoàng Sa.
Thực vậy, lịch sử nước ta cho thấy rằng tuy luôn luôn có xu thế bành trướng lãnh thổ và ảnh hưởng về phía Nam, Trung Quốc vẫn phải ngưng chân hay lui bước khi dân tộc ta đoàn kết chặt chẽ. Trong quá khứ, sau khi Thoát Hoan trốn chạy về Tàu hay sau khi Tôn Sĩ Nghị lội sông tháo lui, khởi thủy triều đình Trung Hoa cũng dự tính xua quân sang xâm lược Việt Nam lần nữa, nhưng sau lại bỏ ý định đó và nhận lời cầu hòa vì ngại phải đụng độ một lần nữa với khí thế Diên Hồng, với khối đoàn kết keo sơn của toàn dân Việt Nam. Từ những kinh nghiệm ấy, ta có thể suy ra rằng muốn làm nản lòng hay đánh bại một cuộc xâm lăng lãnh thổ Việt Nam phát xuất từ phương Bắc, điều kiện cần thiết đầu tiên là dân tộc Việt Nam phải tạo thành một khối rắn chắc, phát huy một ý chí chung là đồng lòng chống ngoại xâm.
Điều kiện thiết yếu này đã vắng bóng một cách tuyệt vọng khi xảy ra vụ Hoàng Sa. Chính quyền cộng sản Hà Nội đã hoàn toàn giữ im lặng và bất động khi Trung Cộng tung ra huyền thoại về chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa cũng như khi Trung Cộng ngang nhiên dùng vũ lực cướp đoạt quần đảo. Hà Nội đã không nói một lời ủng hộ nào, hay phác họa một cử chỉ nào để yểm trợ Việt Nam Cộng Hòa trong nỗ lực phải đối, chống trả bọn xâm lăng nước ngoài và yêu sách chúng phải hoàn trả Hoàng Sa cho Việt Nam. Thái độ bàng quan tiêu cực ấy dĩ nhiên đã làm cho bọn xâm lược vững lòng hơn để tiếp tục hành động trái phép, cũng như đã triệt tiêu phần lớn tín lực và hiệu quả của những điều khẳng quyết của Việt Nam Cộng Hòa, theo đó quần đảo Hoàng Sa chính thức thuộc chủ quyền của mình và toàn dân Việt Nam kiên quyết bảo vệ chủ quyền này.
Không phải chúng ta không ý thức được nhược điểm ấy, hay không hiểu rằng tiếng nói của chúng ta trên trường quốc tế sẽ được để ý nhiều hơn nếu ta chứng minh được là, bất luận những trục trặc khó khăn còn gặp phải trong quá trình thi hành Hiệp Định Paris 27.01.1973 về Chấm Dứt Chiến Tranh và Tái Lập Hòa Bình ở Việt Nam, hai miền Nam Bắc vẫn có thể ngồi với nhau thương nghị để cùng lo liệu về những quyền lợi cơ bản của đất nước Việt Nam. Quả vậy, đã ba lần trong năm 1974, với tư cách Ngoại trưởng Việt Nam Cộng Hòa, tôi đã đề nghị đến gặp Bộ Trưởng Ngoại Giao của chính quyền Hà Nội để cùng thảo luận về những vấn đề đất nước, trong cuộc họp báo ngày 26.02.1974 tại Trụ sở Bộ Ngoại Giao ở Sài Gòn, trong một cuộc họp báo ngày 16.05.1974 cũng ở Sài Gòn, và sau hết vào ngày 20.07.1974, nhân dịp đưa ra bản tuyên cáo kỷ niệm ngày chia đôi đất nước. Cả ba lần đó, Hà Nội đều làm ngơ không đáp ứng tích cực, chắc vì họ tin vào đường lối chinh phục miền Nam bằng bạo lực, không kể gì đến Hiệp Định Paris. Trong hoàn cảnh ấy, Trung Cộng không có cớ gì để e ngại và thế giới không có lý do gì để tin chắc là nhân dân Việt Nam, muôn người như một, cương quyết đứng lên chống lại những kẻ dòm ngó các quần đảo trong Biển Đông thuộc lãnh thổ của Việt Nam.

(c) Cơ chế quốc tế bất lợi cho ta
Môt trở lực đáng kể khác cho sự thỏa mãn nguyện vọng chính đáng của Việt Nam về vấn đề Hoàng Sa là, trong hiện trạng của các cơ quan quốc tế có thẩm quyền và nhiệm vụ giải quyết những vụ tranh chấp lãnh thổ, đơn khiếu nại của Việt Nam Cộng Hòa chống Trung Quốc về vụ Hoàng Sa rất ít hy vọng thụ lý và phán xét.
Cơ quan đầu tiên được mọi người nghĩ đến là Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Thực vậy Hội Đồng Bảo An là cơ quan Liên Hiệp Quốc có trách nhiệm duy trì an ninh và hòa bình quốc tế, mà vụ Trung Cộng xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa có thể được xem như một hành động đe dọa an ninh và hòa bình trên thế giới. Do đó, Hội Đồng Bảo An có thẩm quyền biểu quyết những biện pháp chế tài (sanctions) và đòi các quốc gia hội viên Liên Hiệp Quốc thi hành những biện pháp ấy chống với quốc gia bị xác định là đe dọa hòa bình hoặc đã có hành vi xâm lược (điều 39 Hiến Chương Liên Hiệp Quốc). Tuy nhiên, vì Trung Quốc là một trong năm quốc gia hội viên thường trực có quyền phủ quyết tại Hội Đồng Bảo An nên không có triển vọng là cơ quan này biểu quyết như vậy chống Trung Quốc.
Cũng không có triển vọng là Tòa Án Quốc Tế (International Court of Justice) sẽ thụ lý đơn kiện của Việt Nam Cộng Hòa chống Trung Cộng. Điều này không liên quan gì đến sự kiện VNCH chỉ là “quan sát viên” chứ không phải “thành viên thực thụ” của Liên Hiệp Quốc, mà chỉ vì thủ tục được áp dụng trước Tòa Án Quốc Tế, theo đó Tòa này chỉ thụ lý vụ tranh chấp nếu quốc gia bị cáo minh thị chấp thuận sự xét xử ấy.(3)
Ngay cả trong trường hợp vạn nhất hồ sơ vụ tranh chấp Hoàng Sa được chuyển sang Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc để biểu quyết, ta cũng rất ít có hy vọng tìm thấy ở đó một đa số áp đảo để lên án Trung Cộng xâm lăng, căn cứ trên những thực tại ghi trong phần ‘Bối Cảnh Quốc Tế’ ở trên, căn cứ trên sự kiện là theo kết quả cuộc biểu quyết tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc chấp nhận cho Trung Cộng gia nhập Liên Hiệp Quốc thay thế cho Trung Hoa Quốc Gia với 76 phiếu thuận, 36 phiếu chống và 17 phiếu trắng ngày 26.10.1971, mới khoảng hơn hai năm trước ngày hải chiến Hoàng Sa. Với vị thế thuận lợi ấy, Trung Cộng không có lý do lo sợ là họ sẽ bị Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc biểu quyết, với đa số cần thiết, lên án và trừng phạt họ về vụ Hoàng Sa.

3/ Thái độ của Hoa Kỳ về vụ Hoàng Sa

Như đã trình bày trên đây, trong phần viết về sự đóng góp của Bộ Ngoại Giao, sau khi Trung Cộng xâm nhập hải phận Hoàng Sa và có hành động gây hấn để xâm phạm chủ quyền của ta trong vùng này, chúng ta đã tố cáo những hành vi phi pháp ấy và kêu gọi sự hỗ trợ để chống lại cuộc xâm lược ấy với Liên Hiệp Quốc và các quốc gia thân hữu, trong đó có Hoa Kỳ nhưng không phải chỉ có Hoa Kỳ.
Phản ứng của Hoa Kỳ đã rõ ràng. Trước hết qua đường lối liên lạc ngoại giao, sau đó qua những lời tuyên bố chính thức của Bộ Ngoại Giao Mỹ, Hoa Kỳ cho hay rằng họ không muốn dính dáng vào một vụ tranh chấp có nguồn gốc khá phức tạp trong lịch sử; họ cầu mong giữa đôi bên có được sự dàn xếp hòa bình. Nói rõ hơn, Hoa Kỳ không muốn can thiệp vào vụ này, không muốn đứng hẳn vào một bên để chống lại bên kia.
Những lý do đã thúc đẩy Hoa Kỳ chọn lựa thái độ ấy, theo ý tôi, là những lý do sau đây:
– Khi ký kết Hiệp Định Paris ngày 27.01.1973 về Chấm Dứt Chiến Tranh và Tái Lập Hòa Bình ở Việt Nam, chính phủ Hoa Kỳ đã dứt khoát lựa chọn đường lối giải kết ở Việt Nam nên không muốn vì vụ Hoàng Sa mà lại phải can thiệp trở lại ở đây. Một vụ đảo ngược chính sách bất thần như vậy có khả năng làm cho chính quyền gặp nhiều khó khăn tại Quốc Hội, trong dư luận quần chúng và với các nước đồng minh.
– Sau chuyến công du của Tổng Thống Nixon sang Trung Quốc năm 1972, Trung Quốc đã trở thành ‘đồng minh khách quan’ của Hoa Kỳ để kìm chân và chống lại Liên Xô. Hoa Kỳ không muốn mối quan hệ chiến lược hệ trọng này bị rạn nứt hay bị đứt đoạn vì vụ Hoàng Sa.
– Như đã trình bày trong phần ‘Bối Cảnh Quốc Tế’, cuộc chiến tranh Yom Kippour hồi tháng 10 năm 1973 đã gây ra một tình trạng căng thẳng rất nguy hiểm tại Trung Đông và một cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng trên thế giới. Chúng ta đều biết tầm quan trọng hàng đầu của vùng Trung Đông đối với Hoa Kỳ, về các mặt kinh tế, chính trị, chiến lược. Bởi vậy, trong thời kỳ hậu Yom Kippour, Hoa Kỳ không thể tự cho phép mình phân tán mỏng lực lượng quân sự của mình trên nhiều điểm nóng trên thế giới. Do đó, họ muốn tránh một cuộc đương đầu với Trung Quốc trong vùng Thái Bình Dương về vụ Hoàng Sa.
Tôi thấy mấy lý do quan trọng ấy cũng đủ làm ta hiểu tại sao Hoa Kỳ đã lựa chọn thái độ bàng quan trước vụ tranh chấp Hoàng Sa giữa Trung Quốc và ta, khỏi cần phải đề cập đến giả thuyết là đã có một thỏa ước ngầm giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc để nước này mặc sức làm mưa làm gió trong vùng Biển Đông. Cũng cần xác minh rằng trên đây là một cố gắng phân tích khách quan để hiểu tại sao Hoa Kỳ có thái độ ‘người dưng’ trong vụ Hoàng Sa, chứ không hàm ý bênh vực hoặc chê bai. Nếu có nghĩ ngợi thì cũng chỉ là nhớ đến một câu nói bất hủ của một chính khách Pháp: “Một nước lớn không có bạn thân mà chỉ có những quyền lợi”.

4/ Về câu chuyện nổ súng mà mất đảo
Có dư luận cho rằng, mặc dù bị Trung Cộng khiêu khích, nếu chùng ta không đánh thì tình hình Hoàng Sa vẫn chưa ngã ngũ và Trung Cộng vẫn không chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa.
Bản tính tôi ưa bàn về những chuyện có thực, những lý luận có căn cứ trên những sự kiện có thực, chứ không muốn luận bàn về những giả thuyết và những phỏng đoán vô bằng. Tôi có bị ảnh hưởng của câu châm biếm phổ thông của dân Pháp: “Với những chữ ‘nếu’ người ta có thể bỏ thủ đô Paris vào trong một cái lọ”.
Tuy nhiên, tôi thiển nghĩ giả thuyết nhắc lại trên đây không đứng vững nếu ta để ý đến mấy nhận xét theo lương tri thông thường sau đây:
– Không phải vì con đà điểu chúi đầu xuống cát để khỏi trông thấy, nghe thấy nữa mà nguy hiểm sẽ tan biến đi. Như lời một chính khách Mỹ mà đời sống bị đe dọa đã nói: “Làm gì có an ninh trong sự lủi trốn?”. Nếu hồi tháng 1 năm 1974, Hải Quân của ta không nổ súng trước sự xâm lăng trắng trợn của đối phương mà lại lẳng lặng rút đi thì điều đó chắc sẽ có hậu quả khuyến khích Trung Cộng xúc tiến việc thôn tính các hải đảo còn lại của ta ở Biển Đông vì không gặp chống đối, hơn là thúc giục họ giữ nguyên hiện trạng.
– Trung Cộng đánh chiếm Hoàng Sa (rồi Trường Sa về sau này) hẳn là theo một kế hoạch đã soạn thảo từ lâu và ở cấp cao nhất, nhằm biến vùng Biển Đông thành một thứ ‘biển nhà, ao nhà’ (Mare Nostrum), chứ không thể là kết quả của một phút bốc đồng, trong một cơn phẫn nộ nhất thời. Giả thuyết sau trái với những nhận xét kinh nghiệm của ta về bản tính của người Hán tộc: họ thường mưu trí, tính toán, chứ không phải là thứ người nông nổi, bốc đồng.
– Nếu quả thực Trung Cộng giận dữ vì Hải Quân ta nổ súng sáng ngày 19.01.1974 đến mức xâm chiếm ngay, không nghĩ ngợi, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa thì trong cơn giận dữ ấy, họ đã hạ sát ngay những người Việt bị bắt làm tù binh, hay ít ra cũng giam cầm họ lâu ngày và mở ra những vụ án để hài tội chứ không đời nào lại phóng thích ngay sau vài ba tuần lễ.
– Không thể nói rằng chính quyền cộng sản Hà Nội đã có thái độ khiêu khích Trung Cộng hay đã luôn biểu lộ thái độ đối kháng với Trung Cộng. Không ai nói là chiến hạm của chính quyền Hà Nội đã nổ súng trước, bắn vào hạm đội Trung Cộng. Vậy mà thái độ hòa hoãn, nhường nhịn ấy không ngăn cản Trung Cộng đầu năm 1988 đưa hải quân xuống chiếm cứ một số hải đảo trong quần đảo Trường Sa.(4)
Những nhận xét trên đây cho ta nghĩ là sự kiện Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã khai hỏa ở Hoàng Sa ngày 19.01.1974 không phải là nguồn gốc của vụ Trung Cộng quyết định chiếm trọn quần đảo này.

5/ Có hy vọng khôi phục chủ quyền trên đảo Hoàng Sa không?
Bài học mà chúng ta có thể rút ra từ kinh nghiệm Hoàng Sa 1974, theo thiển ý của tôi, gồm hai mặt, như mặt phải mặt trái của một đồng tiền:
– Trong công cuộc bảo vệ những quyền lợi sống còn của đất nước, chúng ta không thể trông cậy ở người ngoài mà chỉ có thể trông chờ ở chính mình. Thế giới biến chuyển không ngừng, các cuộc liên minh quốc tế luôn đổi thay theo quyền lợi riêng ở mỗi quốc gia. Vì thế ta không thể ỷ lại vào bên ngoài mà chỉ nên trông cậy ở mình. Như lời của một vị cách mệnh lão thành đã nói: “Trông chờ ở người ngoài là chết” (vọng ngoại tắc tử).
– Nói về chuyện trông cậy ở chính mình, chúng ta nên nhớ là nước ta không có đất rộng mênh mông, không có tài nguyên vô tận, không có biên thùy hiểm trở chẳng thể vượt qua. Sức mạnh của chúng ta chỉ tìm thấy ở bàn tay và khối óc của người dân. Vì vậy chúng ta chỉ mạnh khi dân chúng ta hợp thành một khối đoàn kết vững vàng, tuy bao gồm nhiều sắc thái khác nhau nhưng tất cả cùng chung một ý chí sắt đá bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ. Điều này giả thiết một chính quyền thực sự của dân, do dân, vì dân, không để chỗ cho chuyên quyền độc đoán.
Vận nước nào cũng có khi thăng khi trầm, quốc gia nào cũng có lúc suy lúc thịnh. Khi thời cơ đã trở nên thuận lợi cho Việt Nam, chúng ta có thể đặt lại vấn đề chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa với Trung Quốc và đòi họ trả lại quần đảo này cho Việt Nam, hoặc qua thương thuyết tay đôi, hoặc qua một phán quyết trọng tài hay tài phán quốc tế, hoặc do sự tranh đấu can trường và bền bỉ của quân dân Việt Nam.
Ngày 15.05.1974, trong dịp điều trần về chính sách ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa trước Ủy Ban Ngoại Giao và Thông Tin, Thượng Viện VNCH, về vấn đề Hoàng Sa, tôi đã kết luận: “Vụ Hoàng Sa nhất định chưa là chấm dứt”.
Ba mươi ba năm sau, khi viết những dòng này, tôi vẫn nghĩ như vậy.

Paris, ngày 02.04.2007

Vương Văn Bắc


Chú thích:

(1) Toàn văn bản Tuyên Cáo 015 / BNG / TTBC / TT có được đăng trong sách của Ô. Vũ Hữu San – Trần Đỗ Cẩm, ‘Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa’, tr. 160, 161.
(2) Xin xem Vũ Hữu San – Trần Đỗ Cẩm, sách đã viện dẫn, tr. 214-216.
(3) Xin xem “Encyclopedia Britannica’, ‘International Court of Justice’: States which have not accepted compulsory jurisdiction may not be sued without their consent.
(4) Xin xem sách ‘Cộng Sản Trên Đất Việt’ quyển II, tr. 356, tác giả GS Nguyễn Văn Canh, Kiến Quốc Phát Hành 2002.

Nguồn: Hải chiến Hoàng Sa


Khốn Nạn Đến Thế Là Cùng – Thế Giang.

Đặng Thái Sơn – Dec.1993

KHỐN NẠN ĐẾN THẾ LÀ CÙNG

   Thế Giang.

Khi kẻng báo động vừa khua vang ngoài đầu xóm thì hai người khách lạ đã thập thò trước sân.

– Chúng tôi muốn gặp ông Đặng Đình Hưng…

– À, ra thế là các ông; các ông muốn gặp ông Đặng? Các ông là ai? Gặp có việc gì?

Ông công an xã đưa mắt nhìn ông bí thư thở phào rồi xoi mói nhìn khách.

– Chúng tôi ở trên Bộ Văn Hoá về gặp ông ấy có chút việc riêng

– Việc riêng không thể nói ra đây được à?

– Tôi là Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội nhạc sĩ, yêu cầu ông mời hộ ông Hưng ra cho chúng tôi nói chuyện!

– Dạ… dạ, bác Hưng ngồi ở góc kia…, đó ông có nhìn thấy không? Thôi để tôi vào gọi hộ cho.

Vừa thoáng nghe đến cái tên Huy Du. ông Hưng đã xây xẩm mặt mày. Bao nhiêu rượu uống từ đầu bữa tới giờ toát hết hơi lạnh sau gáy. Nhè miếng giò đang nhai dở trong miệng vào bát, ông ngồi thừ ra lo nghĩ. Ông công an xã sốt ruột bèn xốc nách ông đứng dậy.Chân nam đá chân xiêu, quên cả xỏ guốc, ông lảo đảo vịn vai đám khách đang ngồi bệt dưới đất lần ra ngoài. Huy Du cái tên gợi lại cho ông những hình ảnh đấu tố của Bộ Văn hoá 20 năm về trước. Huy Du, bạn ông; Huy Du, người ngưỡng mộ ông; Huy Du đầu thú; Huy Du thủ trưởng; Huy Du, người phát động đấu tố Nhân Văn Giai Phẩm; Huy Du, cơn ác mộng của nửa đời ông… và bây giờ Huy Du lại về đây…

Ông còn lúng túng chưa biết xưng hô làm sao thì hắn ta đã ào tới ôm lấy vai, nụ cười gắn sẵn trên môi.

– Sao có khoẻ không Hưng? Bệnh tật vậy mà vẫn còn sức uống rượu à?
Ông cảm thấy nhột nhạt và lo sợ về cử chỉ thân mật bất ngờ nầy. Đã bao lần người ta êm ái, ân cần, nhân danh sự giúp đỡ khuyên vợ ông bỏ ông… và đẩy ông vào tù.

– Nghe tin cậu bị ung thư anh em rất lo. Hôm qua anh Trần Độ điện thoại hỏi thăm và yêu cầu mình về đón cậu đi nhà thương. Anh ấy nhường cả chiếc xe Volga thường ngày đi làm để cho cậu đấy.
Chúng nó vẫn để ý theo dõi mình? Vẫn chưa buông tha… sao chúng nó biết mình ung thư?

– Đời sống dễ chịu không? Chắc cũng khó khăn nhiều phải không? Nhưng giờ thì khá rồi! Cậu biết không, tay đại sứ của mình từ Ba Lan vừa điện về nhà xin ý kiến nên chuyển 30.000 đô-la tiền thưởng vào Ban tiếp nhận viện trợ trung ương hay chuyển vào ngân quỹ của sứ quán. Tụi mình chạy vội lên ông Phạm Văn Đồng xin giúp đỡ… Và thế là Thủ tướng ký lệnh trả lại cho thằng bé số tiền đó.

– Tiền gì? Thằng bé nào…?

– Thì thằng Sơn nhà cậu ấy. Cậu chưa biết chuyện gì xảy ra à? Thằng Sơn giật giải nhất thi Chopin ở Vác-sa-va ba ngày nay, báo chí đài phát thanh phát ầm lên mà cậu không hay sao?

– Tôi có cái đài cái đóm nào đâu mà biết… Sao? Nó đoạt giải nhất Chopin à?

– Ồ… ở đây sao người ta lại lười đọc báo, nghe đài quá! Các địa phương chả bao giờ nắm vững tình hình được…

Ông đã bắt đầu yên tâm với chiều hướng của câu chuyện, nhưng lòng vẫn còn bán tín bán nghi.

– Được ba ngày rồi à? Thế lúc nầy cháu nó ở đâu?

– Hiện cháu đã về lại Nga rồi. Nửa tháng nữa sẽ nghỉ phép về thăm nhà.

– Về Hà Nội à?

– Ừ, về Hà Nội. Sao? Cậu thấy trong người thế nào? Phải thu xếp lên ngay Hà Nội ngay bây giờ, tớ đã liên hệ với bệnh viện K, họ hứa sẽ thu xếp ngay cho cậu một chỗ nằm.

– Chả hy vọng gì đâu, xin cứ để tôi được yên ở đây. Cái bệnh nầy giỏi lắm cũng chỉ năm sáu tháng nữa là cùng, mà đừng có đụng dao kéo gì tới thì mới được…

– Cậu bệnh nầy lâu chưa?

– Nửa năm nay rồi…

– Bậy thật, thế mà chúng tớ có biết gì đâu, mãi đến hôm kia Thủ tướng điện hỏi thăm xem thằng Sơn là ai, cha mẹ nó làm gì v.v… tụi mình mới hay.

Họ sánh vai nhau đi trên đường làng. Huy Du ôm riết lấy vai ông bạn cũ, thỉnh thoảng lại ghé tai nói nhỏ điều gì rồi cười lên rinh rích. Những lúc đó, ông Hưng dừng lại, chờ cơn cười của Huy Du qua đi, hai bàn chân đi đất gãi gãi vào nhau cho đỡ ngứa rồi đi tiếp.

– Đi đây, rẽ đây… đường làng chật quá, tớ phải cho lái xe đỗ tuốt ngoài đầu đình… cậu đi đâu vậy? Tớ nhận được chỉ thị của anh Trần Độ là phải đưa cậu lên Hà Nội ngay lập tức!

– Cho tôi về nhà cái đã… còn nửa cút rượu uống dở giắt trong vách nhà… mà tôi bỏ quên đôi guốc ở đâu rồi?

– Lấy rượu thôi nhé… đồ đạc không cần, lên Hà Nội lấy quần áo của tớ mặc cho nó tươm tất một chút…

(NS Đặng Thái Sơn và bố Đặng Đình Hưng)

***
Gió Thu lờ lững vờn quanh dẫy nhà hai tầng quét vôi mầu vàng. Hàng sấu già mọc giăng hàng trước cửa đài phát thanh sướng run lên vì được vuốt ve.

Mở toang cửa sổ của văn phòng điều trị, ông Hưng vươn cổ uống lấy từng cơn gió. Bữa cơm chiều ba món nấu đơn giản nhưng đầy chất lượng của bệnh viện dành cho những con người tuyệt đường sinh lộ đang óc ách trăn trở trong bụng ông. Ăn uống kham khổ lâu ngày đã quen bỗng dưng từng khối thịt cá như đạn trái phá nã thẳng vào dạ dầy đâm ra hỏng bét hết cả. May mà ông nghe lời bác sĩ không ăn thêm món thịt ngỗng quay không biết của ai mua ở phố Hàng Buồm gửi vào. Quà cáp thật nhiều, của người quen có, của những cái tên lạ hoắc cũng có.

Sau cái trò Phạm Tuân lên vũ trụ, giờ lại tới tin con trai ông trở thành đệ nhất dương cầm thế giới đang gây dư luận sôi nổi trong cả nước. Quán rượu, quán cà phê, nước trà, đang khi chen chúc nhau trên xe buýt, người ta kháo nhau về cái tin bất ngờ đó. Nhiều gã thanh niên sau khi thêm thắt một vài chi tiết chung quanh cuộc thi rồi xuống giọng trầm buồn kể về cuộc đời gian truân đầy éo le của bố nó – Tôi vẫn thường uống rượu với ông Đặng Đình Hưng mà! – Một chi tiết đáng giá bảo đảm cho sự quen biết đối với bậc danh nhân. Ngay cả đến ông hàng xóm thật, hồi mà thiên tài của thằng Sơn còn mong manh trong vỏ trứng, đã một ngày hai bận sang đấm cửa nhà nó yêu cầu câm ngay cái âm thanh không thích hợp với rau muống, chuyện đấu đá ở cơ quan, để cho ông được yên tĩnh, cũng ngậm ngùi oán trách sự ngược đãi của chế độ đối với nhân tài.

Thôi cũng chả sao; bất mãn đang là cái mốt của người Hà Nội mà. Giới văn nghệ sĩ thì sung sướng ra mặt. Gặp nhau ngoài đường anh nào anh nấy mặt mũi tưng tửng làm như mình là người đoạt giải vậy. Xưa nay vốn bị coi khinh bạc, bị coi như một thứ xướng ca, mõ làng cho đảng giờ cũng đẻ ra được một cái gì, y như nàng thứ phi bỗng dưng sinh hạ cho chúa thượng một đấng con trai bèn lên mặt với đám thê thiếp. Cái đất nước quá nghèo nầy suốt đời ngửa cổ chờ đón tin trúng số độc đắc và những phen có dầu… hụt của tổng cục dầu khí, giờ đang nở mặt nở mày với thế giới.

Nhưng “Trung Ương” thì không được hài lòng lắm. Thật là một cú bất ngờ, xưa nay đã trót kìm kẹp đè nén khiến bao tài năng bị sinh non đẻ bậy, giờ lại phải ngậm đắng nuốt cay ẵm ngửa một cuộc đời đã thoát khỏi quỹ đạo của đảng bay ra ngoài giao du với thế giới. Việc nhọc lòng đầu tiên là ông Phạm Hùng buộc phải ký lệnh hết hiệu lực cái án phát vãng lưu vong cho ông bố thằng Sơn. Thứ đến là Sở quản lý nhà đất phải lo cho ông cái buồng để ở. Rồi đây, khi quan trên trông xuống, người ta trông vào, gia đình nó cũng phải có một chỗ trú thân cho tươm tất. Giới lãnh đạo văn nghệ lại phải lựa lời để thay đổi cách xưng hô. “Tên đồ tể Đặng Đình Hưng” (?) không hiểu ông nhạc sĩ Huy Du, bí thư đảng đoàn Hội Nhạc Sĩ lấy đâu ra lòng căm giận để nguyền rủa người bạn thân, kẻ đã can tội nhỏ nước mắt cho những oan hồn cải cách ruộng đất mà khi đó chính ông ta cũng là thành viên của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Và cũng chính ông Huy Du nầy, khi thằng Sơn đã học hết những cái gì có được của trường nhạc Việt Nam bèn lên giọng lập trường quan điểm đe bác bỏ đề nghị gửi nó đi Nga học. May mà có dịp ông Na-ta-xon, giáo sư dương cầm Nga, ghé Hà Nội, giữa rừng âm thanh bát nháo, ông đã lọc ra tiếng đàn thằng Sơn. Nhưng ba năm liền Hà Nội vẫn lì ra với lời yêu cầu gửi thẳng nó qua cho ông dạy. Đến độ ông nổi cáu, sát hạch lại trình độ tất cả học sinh được gửi sang, đuổi về một mớ và dọa sẽ đuổi tất cả nếu không cho thằng Sơn đi. Bị dồn vào bước đường cùng nên anh đội cẩm Huy Du đành duyệt cho qua lý lịch của nó.

“… Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ vì hành trình đi Vac-sa-va quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và giáo sư Na-ta-xon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ… Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự cuộc thi đều được chào cờ và cử quốc ca của mình, mà Việt Nam thì không có – Con tham dự với tư cách thí sinh tự do… Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp đươc Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…”

Ông hiểu con ông như hiểu chính mình. Nó vẫn cô đơn và đầy dũng cảm như cha nó. Nhưng ngôi sao bản mệnh của nó vững hơn nên đi hết được con đường ông đã dắt nó vào và bỏ dở. Buông rơi lá thư tay nóng hổi của con trai gửi về, ông liếc mắt xuống tờ báo Nhân Dân: “Công-cua Sô Phanh – Công-cua gốc mít.” Hàng tít lớn chạy dài cắt ngang tờ báo – “…Đặng Thái Sơn, tiếng đàn vọng lên từ những căn hầm trú ẩn. Tiếng đàn bay cao hơn tiếng bom Mỹ nổ. Tiếng đàn vọng lên từ dưới những gốc mít của các trại sơ tán của trường nhạc Việt Nam. Đặng Thái Sơn, những nỗi đau của một dân tộc đấu tranh đòi độc lập…”. Cái thằng Thép Mới nầy “rỉ” quá rồi. Thi sĩ Tố Hữu vừa dồn hết cảm hứng cho Phạm Tuân vào vũ trụ nên chưa lấy lại được hơi sức. Cũng may! Ông nhớ lại hình ảnh của những đứa trẻ con đá bóng trên đường phố trong đêm khuya, từng bầy công an bịt chặt các ngã đường – như đánh trận – để đuổi bắt chúng. Những đứa trẻ ở trần mồ hôi trơn láng, khó bắt thì ngáng chân! Rồi mai đây khi những đứa bé gẫy răng, đổ máu đầu để nứt đất chui lên thành Thế Anh, Cao Cường v.v… (hai cầu thủ nổi tiếng) thì con mẹ mìn đó lại ẵm vội vào lòng. “Nhờ sự quan tâm vun trồng của đảng!”…

Ông thấy thương con ông, ông thương những đứa trẻ. Nó chỉ có một con đường, cắm đầu mà đi, đằng sau không có lối về. Khi đụng đến bức tường cuối đường thì úp mặt vào, đợi tiếng lên đạn…
Nhưng lần nầy thì đạn nổ ngược, nó đã nhảy bật qua khỏi bức tường bay thoát ra thế giới bên ngoài. Ông nhẩm đếm những xác người đã ngã gục dưới bức tường đó. Trần Dần, Phan Khôi… những Đoàn Phú Tứ lẩn thẩn suốt đời đi dép lệch, những Lê Đạt lầm lũi chui trong đêm như con cóc, người quen gặp không dám chào vì sợ liên luỵ, những thằng họa sĩ sau khi buộc lòng học nghề thợ mộc trong tù nhìn bàn tay phế thải cứng như thợ đóng cối của mình mà trào nước mắt… Còn biết bao nhiêu cuộc đời bị rút phép thông-công đẩy vào bóng tối như mình?

Ông nhớ lại những trại nuôi bò mà người ta đã lùa ông và bạn bè ông lên đó để “lấy lại tình thương, lập trường giai cấp từ những con vật!…”. Để Văn Cao bây giờ suốt ngày đi ngoài đường thơ thẩn như con bò. Còn Hoàng Cầm nữa, nó yêu từ gốc rạ toả hơi ấm sớm mai, ngơ ngẩn hỏi “lá diêu bông” ở đâu… chứng nào vẫn tật nấy, còn ngứa ngáy với thơ thì lại rũ xương trong tù mà thôi.

Khuôn mặt vợ ông từ từ hiện lên. Nàng vẫn sống mà ông như nhớ về người đã chết. Hơn chục năm rồi không gặp lại kể từ lần cuối ra toà li dị. Tất cả đã đổ vỡ, đổ vỡ từ nàng Thái Thị Liên đẹp mơ mộng, có tiếng đàn lãng mạn như tình yêu đối với ông. Người ta không thể chịu được bà trưởng hệ Piano lại là vợ của “thằng Nhân Văn Giai Phẩm.” Nàng cũng không thể chịu được con người ngày hôm qua còn là đấng tao nhân hào hoa phong nhã ngước mắt nhìn trời là nhạc ý tuôn theo mây, nay thành kẻ phẫn chí nát rượu. Con cái nàng không thể ngóc đầu lên được nếu ngày nào còn là con “thằng Nhân Văn Giai Phẩm…”. Và ông đành gạt nước mắt chia tay vợ ở tòa án rúc về xó quê hẻo lành đợi tuổi già đến khuân đi. Nghĩ đến, ông vẫn còn tủi giận. Ông vẫn còn yêu, hằng đêm ông vẫn còn nhớ. Nhưng trời đày làm sao để những con người xa thì nhớ thương mà lại gần thì thấy ghét. Một cơn ho xé phổi kéo giật ông xuống giường. Người nữ y tá trực vội xô cửa chạy vào.

– Ông lại uống rượu phải không?

– Không, tôi có uống nữa đâu, có lẽ tại lạnh, làm ơn đóng hộ cái cửa sổ.
Ông cố giơ tay chỉ ra phía sau mình.

– Ông tệ lắm, cấm thế nào vẫn lén uống. Ông Huy Du đã chỉ cho chúng tôi mánh khoé giấu rượu của ông mà vẫn không sao ngăn được.
Có tiếng lao xao trò chuyện ngoài hành lang.

– Tôi chỉ vào năm phút thôi, tôi là cháu họ của ông ấy mà…
Anh đó cố vật nài.

– Đã bảo không được là không được mà!

Tiếng đàn ông xẵng giọng đáp lại.

– … Tôi đã nói với các người rất nhiều lần rồi, người bệnh cần được tĩnh dưỡng. Yêu cầu 4 giờ rưỡi chiều mai trở lại!

Ông nhận ra giọng nói của nhạc sĩ Huy Du.

– Cái thằng nầy thật lắm nghề, khi méo khi tròn, nó định làm bầu gánh hát cho cha con nhà nầy hay sao vậy?

–. Cô y tá vừa khép cánh cửa lại là ông vùng dậy liền. Ngắm nghía bộ quần áo của Huy Du đưa, ông tắc lưỡi rồi trút bỏ bộ đồ bệnh nhân, mặc nó vào. Tụt người khỏi bệ cửa sổ, ông bò xuống đường. Khi chân vừa chấm đất thì chợt vang lên một hồi kẻng. Ông giật mình đứng sững người lại để định thần. À, hoá ra tiếng kẻng đổi gác của hỏa lò Hà Nội. Nháy mắt với chú công an đang bồng súng trợn mắt nhìn mình trong chấn song sắt, ông đi cứ như chạy đến quán rượu của Hoàng Cầm.

(Đặng Thái Sơn về nước trong vinh quang)

– Thằng Sơn nó về là mình có quyền xoá tên trong “sổ thiên tào” của ông bạn vàng rồi. Tiên sư nó, mỗi lần ghi nợ mình là nó xướng to lên cho vợ nghe thấy rồi lẳng lặng dúi thêm cho nửa lít mang về.


Thế Giang.

(Nguồn: Trích từ CÂY ĐẮNG NỞ HOA trong tập truyện ngắn Thằng Người Có Đuôi; Nhà xuất bản Người Việt, 1987.)

Fb Nguyễn Nam

******

Câu chuyện bắt đầu vào năm 1956 tại miền Bắc Việt Nam, nhiều nhà văn, nghệ sĩ đã đứng lên tham gia một phong trào văn học có tên là Trăm hoa đua nở, là chữ dịch từ “Bách gia tranh minh, bách hoa tề phóng”, thời kỳ “trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” của mao xủ xí.

Ngày đó, rất đông văn nghệ sĩ đã tham gia phong trào này. Nổi tiếng nhất có các ông Phan Khôi – Chủ nhiệm tạp chí Nhân Văn, Trần Duy – Thư ký tòa soạn, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Phùng Cung, Phùng Quán, Văn Cao, Nguyễn Tuân, bà Thụy An… Có nhiều trí thức, không phải văn nghệ sĩ, như Đào Duy Anh, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu cũng tham gia phong trào này và mọi người biết đến nó dưới cái tên là nhóm “Nhân văn Giai phẩm”.

Trong nhóm Nhân văn Giai phẩm có một nhà thơ tên là Đặng Đình Hưng. Ông chính thức làm thơ từ cuối những năm 1950 cho đến khi qua đời, hoạt động nghệ thuật của Đặng Đình Hưng về chữ nghĩa gồm sáu tập thơ, với những vần thơ khó hiểu, rất khác người. Ông còn đuợc biết đến như một kiến trúc sư, nhạc sĩ, hoạ sĩ.

Năm 1957 Đặng Đình Hưng lấy bà Thái Thị Liên, một nhạc sĩ dương cầm (piano) nổi tiếng đương thời. Bà Thái Thị Liên đã có hai đời chồng trước – khi bà ở hải ngoại (Pháp, Tiệp Khắc) và đã có ba người con. Năm 1958, vợ chồng họ Đặng và họ Thái sinh được một cậu con trai, họ đặt tên là Đặng Thái Sơn.

Niềm vui vầy con cái chẳng được bao lâu thì tai họa ập đến. Chính quyền cộng sản, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Đặng Xuân Khu, Võ Nguyên Giáp đã ra tay dẹp phong trào Trăm hoa đua nở và nhóm Nhân văn Giai phẩm. Nhiều văn nghệ sĩ bị đưa đi nông trường, nặng hơn nữa thì bị khép án, tù tội. Bị xử nặng nhất là bà Thụy An và ông Nguyễn Hữu Đang – quả chanh mọng nước trước và sau cái gọi là cách mạng tháng 8.

Về người quyết định “đánh” Nhân Văn Giai Phẩm, chính thức được nêu danh thì là Xuân Khu và Tố Hĩu. Nhưng theo ông Nguyễn Hữu Đang, người rất thân cận và là quả chanh bị Hồ chí Minh vắt cho kiệt nước trong thời kỳ cộng sản mới cướp được chính quyền thì cho rằng nếu không có sự đồng ý hay cho phép của Hồ chí Minh thì Nhân văn Giai phẩm không thể bị dẹp.

Với một ông chồng là một nhân vật trong Nhân văn Giai phẩm, bị coi là một tay phản động chống đảng, bà Thái Thị Liên bị sức ép, phải chia tay với Đặng Đình Hưng. Và thế là bà Liên cùng với ba người con riêng-chung, trong đó có cậu quý tử Đặng Thái Sơn phải ra ở riêng, dạy nhạc kiếm sống, chấp nhận, chịu đựng một cuộc đời cực nhọc vất vả.

Cũng từ đó, kể cả nhiều năm tháng đi sơ tán ở các vùng quê xa Hà Nội, Đặng Thái Sơn học âm nhạc, học chơi dương cầm với mẹ. Cuộc đời khốn khó nhưng bà là một nhà sư phạm nghiêm khắc, khó tính và ít khi đưa ra lời khen, thậm chí Đặng Thái Sơn còn bị “đối xử” rất khắt khe nữa.

Năm 1974, một chuyện bất ngờ đã xẩy ra làm cho cuộc đời của Đặng Thái Sơn bước sang một khúc ngoặt: Một vị giáo sư âm nhạc người Nga, gốc Do Thái tên là Isaac Katz, sang dạy cho Trường Âm nhạc Hà Nội đã tình cờ phát hiện ra Đặng Thái Sơn.

Chuyện kể rằng một buổi chiều nọ, ông Katz đang tản bộ trên con đường gần nhà bà Thái Thị Liên, ông nghe thấy tiếng đàn dương cầm rất hay, rất đáng chú ý. Lần hồi ông Katz đã tìm được đến nhà bà Thái Thị Liên và gặp cậu con trai Đặng Thái Sơn, một học sinh Trường Âm nhạc Hà Nội, năm nào cũng đứng đầu lớp.

Sau vài lần chứng nghiệm khả năng của người học sinh này, giáo sư Isaac Katz chính thức yêu cầu Trường Âm nhạc Hà Nội cho ông được đích thân truyền dạy cho người học sinh xuất sắc đó, mặc dù trên nguyên tắc ông Issac Katz chỉ dạy những học sinh năm cuối trước khi thi tốt nghiệp và Đặng Thái Sơn năm sau mới hội đủ điều kiện này.

Năm 1975 giáo sư Isaac Katz về nước. Trước khi về ông đã đề nghị cho Đặng Thái Sơn được theo học dương cầm tại Liên Xô. Lời đề nghị này không được chấp thuận, bởi vì với chính quyền, Sơn là con của một người dính vào Nhân văn Giai phẩm, bị coi là một loại phản động nguy hiểm cho nhà nước.

Lời đề nghị không có phản hồi, giáo sư Isaac Katz đã phải yêu cầu lần thứ hai, kèm theo lời đề nghị này là thái độ khó khăn với những du học sinh con ông cháu cha, thiếu khả năng thật sự. Ông tạo một sức ép đủ mạnh để người học trò ông chọn phải được dạy dỗ đến nơi đến chốn.

Thế là năm 1976, Đặng Thái Sơn được phép đi học âm nhạc tại Liên Xô. Anh tạo thành tích ngay lập tức là thi đậu vào Học viện Âm nhạc Tchaikovsky. Trước anh chưa có một người nào vào được học viện này mà không qua một năm dự bị. Năm đó anh mới 18 tuổi.

Khi vào học tại Học viện Âm nhạc Tchaikovsky, Đặng Thái Sơn gặp một vị danh sư khác. Đó là giáo sư Natanson. Nếu như Isaac Katz là người khám phá ra tiếng đàn Đặng Thái Sơn, tìm mọi cách mang anh về Liên Xô để có thể tìm đúng thầy thì Natanson chính là ông thầy này, một thầy dạy tận tâm và rất giỏi.

Sơn được cấp học bổng 60 rúp một tháng. Số tiền này chẳng nhiều nhặn gì, nếu tính theo hối đoái thời đó thì chỉ tương đương với khoảng 20 USD. Sơn có hai người bạn thân trong thời gian này, cả ba góp gạo thổi cơm chung, dè sẻn từng đồng mới có thể tạm đủ ăn và thỉnh thoảng vẫn phải đi làm thêm để kiếm tiền chi dụng hàng ngày.

Năm 1980, Sơn tốt nghiệp Học viện Âm nhạc Tchaikovsky với hạng tối ưu. Tòa Đại sứ Việt Nam tại Moskva chắc được chỉ thị của Hà Nội nên đã coi như không biết, không để tâm đến thành tích của người đồng hương này mà còn có ý muốn truy nã, gây khó khăn cho Sơn chỉ vì bố anh thuộc “thành phần phản động Nhân văn Giai phẩm”!
Tốt nghiệp song phải làm gì? Giáo sư Natanson thúc đẩy anh phải nộp đơn và hoàn tất thủ tục xin dự thi, nhân kỷ niệm Chopin hàng năm tại Ba Lan. Đặng Thái Sơn bèn làm đơn với tòa Đại sứ Việt Nam xin được giới thiệu là một ứng viên Việt Nam đi thi Chopin và xin cấp ít tiền lộ phí vì đường từ Moskva đến Warszawa, thủ đô Ba Lan quá xa, mà anh làm gì có tiền. Đơn của anh bị bác.

Khi ấy Liên Xô cũng chuẩn bị cử một số nhạc sĩ đi Warszawa. Họ tổ chức một kỳ thi tuyển lựa cả trăm người để tìm ra mươi người đại diện cho Liên Xô. Những người này sẽ được chính phủ Liên Xô giúp đỡ. Đặng Thái Sơn cũng thi “ké” vào đó. Anh được chấm điểm cao nhất, nhưng anh không ở trong danh sách đại diện Liên Xô để đi thi được. Anh phải dự thi với tư cách tự do, vô tổ quốc và không được chính quyền Liên Xô giúp đỡ.

Không những thế ban tổ chức kỳ thi ở Ba Lan còn toan bác đơn xin dự thi của Đặng Thái Sơn vì đơn dự thi của anh không một lời giới thiệu, chẳng biết anh là ai, nhưng rồi họ cũng thông qua, vì Sơn là người Việt Nam đầu tiên xin dự thi từ trước đến giờ. Vả lại anh có sau lưng cả một học viện âm nhạc làm chứng cho khả năng của mình, khả năng hạng tối ưu khi ra trường.

Giáo sư Natanson thấy vậy lại phải ra tay giúp đỡ vì ông biết người trò cưng đầy tiềm năng của ông rất có hy vọng thắng giải. Ông phải bỏ tiền ra cho Đặng Thái Sơn mua vé xe lửa đi Warszawa, thuê nhà trọ, thuê cả dàn nhạc đệm cho anh đánh đàn – Một số tiền không nhỏ.
Không có tiền mua vé máy bay, và chỉ đủ tiền mua vé xe lửa hạng nhì, Sơn không có người thân nào ra tiễn tại sân ga Moskva, cũng chẳng có người bạn nào đến đón khi tới Warszawa. Hành lý của anh thì thật nhẹ, vài bộ quần áo tạm lành lặn. Anh không có cả một bộ đuôi tôm để lúc hữu sự dùng đến… Buồn quá, Sơn đã phải dốc bầu tâm sự với ông bố Đặng Đình Hưng.

Trong thư gửi cho cha mình, Đặng Thái Sơn viết:
“Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ vì hành trình đi Vác-sa-va quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và giáo sư Na-tan-xon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ…

Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự cuộc thi đều được chào cờ và cử quốc ca của mình mà Việt Nam thì không có – con tham dự với tư cách thí sinh tự do… Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp được Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…”

Và hình như thế, Sơn đã được Chopin chọn, anh qua được vòng loại một cách dễ dàng, loại hầu hết 149 đối thủ thuộc 37 quốc gia trên toàn thế giới, rồi tiến lên vào vòng chung kết. Để vào vòng chung kết, Sơn bị kẹt một điều là thí sinh phải mặc áo đuôi tôm. Anh có hai ngày chuẩn bị cho buổi chung kết nhưng làm sao có áo đuôi tôm bây giờ? Người gỡ rối cho anh lại là giáo sư Natanson.

Ông thầy phải lôi anh đến một cái tiệm, sắm cho anh một bộ, nhưng tìm cả nửa ngày không có chiếc nào vừa với thân thể nhỏ thó của anh. Thế là đành may một chiếc, lấy trong vòng 24 giờ. Anh bước vào phòng thi với cái áo còn chưa được nhặt sạch chỉ.

Kết quả anh đã thắng giải đầu là giải quan trọng nhất; anh còn đoạt thêm 11 giải phụ nữa, trong đó có một giải của hãng truyền hình NHK Nhật Bản, chính hãng NHK sau này mở cho anh con đường ra khỏi nước!

Tin Đặng Thái Sơn đoạt giải Chopin ở Warszawa đã như một làn sóng chấn động giới âm nhạc cổ điển thế giới. Khi tin này về tới Việt Nam thì báo Nhân Dân của nhà nước Việt Nam – những người từng không muốn anh ra khỏi nước, không muốn anh học dương cầm tại Liên Xô, lại còn tìm cách cản trở anh đi Warszawa tham dự kỳ thi Chopin – đã đăng tin này lên trang nhất trong ba ngày liền, với những lời ca tụng quá lố đến nỗi cả tháng sau, khi về nước thăm ông cụ thân sinh, anh ngượng khi đọc…

Cuộc sống sau “Nhân văn Giai phẩm”, nhà thơ Đặng Đình Hưng bị ung thư phổi. Khi Đặng Thái Sơn tham dự cuộc thi âm nhạc năm 1980 tại Ba Lan, Đặng Đình Hưng đang phải sống ở gầm cầu thang nhà ông bạn, không nhà không cửa, chỉ nằm chờ chết.

Đặng Thái Sơn về nước kịp thời. Cha anh bị bệnh đã khá lâu và không được điều trị đúng mức. Cha anh cần phải mổ ngay, một cái bướu trong phổi. Anh về nhà hôm trước, vài ngày sau cha anh nhập viện, một bệnh viện dành cho các cán bộ cấp cao cỡ thứ trưởng trở lên. Cha anh được bác sĩ Tôn Thất Tùng, người bác sĩ số một của y khoa Hà Nội khám bệnh và được giải phẫu bởi một bác sĩ lừng danh về phẫu thuật. Nhờ vậy mà anh cứu ông cụ sống thêm được mười năm nữa.

Năm tháng qua đi, dù cả cuộc đời “sau Chopin” Đặng Thái Sơn chỉ ở Nhật và du diễn khắp thế giới rồi định cư ở Canada, nhưng anh vẫn được nhà nước “lôi” về gắn lên ve áo danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân – cho dù phần lớn nhân dân chẳng biết anh là ai, và cũng chẳng bao giờ nghe – hiểu nổi thứ âm nhạc mà anh đánh ra!.

NS Đặng Thái Sơn và Mẹ tại Canada)

Có lẽ chính người nhạc sĩ cũng không để tâm đến danh hiệu này vì ngay sau đó ông cùng với mẹ, bà Thái Thị Liên xin định cư tại Montreal và xin nhập quốc tịch Canada .

Thế Giang.

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 


“Bí mật của gói quà!” – Nguyễn Tấn Phận

Bài đọc suy gẫm: “Bí mật của gói quà”, hồi ký Sĩ quan tùy viên của Đại tướng Trần thiện Khiêm viết về những ngày tháng tư 1975, chi tiết cuộc ra đi khỏi đất nước của Tổng thống Nguyễn văn Thiệu. Hình ảnh có tính cách minh họa.

 …

Buổi trưa ngày 21 tháng Tư, Ðại tướng Khiêm được Tổng thống Thiệu triệu tập vào dinh Ðộc Lập họp cùng với Phó Tổng thống Trần Văn Hương trong gần một giờ đồng hồ. Tôi theo Ðại tướng vào dinh Ðộc Lập cho tới lúc ra về. Tôi biết đây là một buổi họp rất quan trọng nhưng hoàn toàn không đoán ra chuyện gì. Mãi khi về tới nhà, Ðại tướng Khiêm bước xuống xe tại bậc tam cấp, ông không đi thẳng vào nhà mà dừng lại chờ tôi bước tới rồi nói với nét mặt vui hơn mọi khi: “Chiều nay mặc đồ đẹp, vào dinh Ðộc Lập nghe Tổng thống Thiệu đọc diễn văn từ chức!”.
Ðó là vào khoảng gần 1 giờ trưa ngày 21 tháng Tư, tôi là người đầu tiên nhận được nguồn tin vô cùng quan trọng mà “cả thế giới” đang chờ đợi.
Mẫu tin quan trọng nầy sẽ có giá trị rất lớn trong sự thăng tiến nghế nghiệp truyền thông của một phóng viên quốc tế nếu họ nhận được tin đó trước vài tiếng đồng hồ. Một thoáng suy nghĩ giữa lợi lộc và chữ tín, nhưng cũng vì lương tâm chức nghiệp nên nguồn tin đã được giữ kín cho đến 7 giờ 30 tối hôm đó.
Sau này khi đọc các tài liệu và sách vở thì người đầu tiên biết được tin từ chức không phải là tôi. Tòa Ðại sứ Mỹ đã biết trước tôi! Trong lúc Tổng thống Thiệu thông báo việc từ chức của ông cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương và Ðại tướng Trần Thiện Khiêm thì tại tòa Ðại sứ Mỹ, hệ thống điện tử đã ghi âm rõ những gì Tổng thống Thiệu nói như Frank Snepp đã ghi trong sách của ông, trang 394. Chuyện nghe lén này dư luận cũng đặt ra nhiều giả thiết là người Mỹ bắt đầu nghe lén từ lúc nào và bằng cách nào, đặt máy ở đâu. Ðó là câu hỏi không nằm trong bài viết này.
Tôi có mặt tại phòng Khánh Tiết trong dinh Ðộc Lập vào lúc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn từ chức trước một cử tọa rất đông đảo gồm các nhà lập pháp của hai viện Quốc hội với đầy đủ các viên chức Chánh phủ và các cơ quan truyền thông. Ngay hôm đó Tổng thống Thiệu tuyên bố bàn giao chức vụ Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa lại cho Phó Tổng thống Trần Văn Hương theo như Hiến Pháp đã qui định…

Ngay sau khi Tổng thống Thiệu từ chức, Ngoại trưởng Kissinger liền gởi cho ông Graham Martin, Ðại sứ Hoa Kỳ tại Sài-gòn một điện văn. Tiến sĩ Kissinger ỵêu cầu ông đại sứ chuyển lời bày tỏ lòng “kính trọng” của ông đối với vị cựu Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa và đề nghị muốn giúp Tổng thống Thiệu rời khỏi Việt Nam. (Decent Interval trang 396 )

Cũng trong chiều hướng đó, sáng sớm hôm sau là ngày 22 tháng Tư, tướng Charles Timmes vội vã đến tư dinh Ðại tướng Khiêm xin được tiếp kiến. Ðại tướng đã tiếp ông hơn nửa tiếng đồng hồ. Rồi ngay chiều hôm đó Ðại tướng Khiêm vào dinh Ðộc Lập gặp Tổng thống Thiệu. Chúng ta khó biết Ðại tướng Khiêm nói gì với cựu Tổng thống Thiệu nhưng sẽ không loại bỏ những gì Tướng Timmes muốn đề nghị lên ông Thiệu là nên ra đi khỏi nước.

Sau này ở hải ngoại Ðại tướng Trần Thiện Khiêm có cho tôi biết là ngay sau khi Tổng thống Thiệu từ chức “cụ Hương muốn Tổng thống Thiệu và dượng Tư” đi đường biển qua Singapore. Tiết lộ này trùng hợp với việc Thủ tướng Lý Quang Diệu đã yêu cầu ông Hoàng Ðức Nhã qua Singapore gặp ông để thông báo là giới chức Mỹ muốn Tổng thống Thiệu phải đi lưu vong ở Singapore hoặc một thủ đô nào của các quốc gia vùng Ðông Nam Á.
(Decent Interval trang 383)
Tuy đã từ chức song cựu Tổng thống Thiệu vẫn còn ở trong dinh Ðộc Lập và còn áp đặt nhiều ảnh hưởng khiến cho Tân Tổng thống Trần Văn Hương gặp nhiều khó khăn trong đường lối thương nghị với Cộng sản theo như Oliver Todd ghi lại trong cuốn sách Cruel April trang 327.

Ðể thấy ảnh hưởng của cựu Tổng thống Thiệu đối với Tân Tổng thống Trần Văn Hượng, tôi ghi ra đây giờ giấc làm việc của hai vị cựu và tân Tổng thống với sự có mặt của Ðại tướng Khiêm. Ðây là ghi nhận từ phía văn phòng Ðại tướng Khiêm. Phần thời gian làm việc riêng giữa cựu Tổng thống Thiệu với Tổng thống Hương thì có lẽ các quí vị sĩ quan tùy viên của cựu Tổng thống Thiệu xác nhận và bổ túc thêm. Các vị ấy là Chánh tùy viên Ðại tá Nguyễn Văn Ðức, các sĩ quan tùy viên: Ðại ủy Nguyễn Xuân Tám, Hải quân Ðại úy Trần Anh Tuấn.

Chương trình này tôi có ghi vào sổ tay như sau:
·Ngày 22 tháng Tư, Ðại tướng Khiêm:
16:00 giờ vào dinh Ðộc Lập gặp cựu Tổng thống Thiệu.
18:00 giờ qua cánh phải, tại văn phòng của Tổng Thống, gặp Tổng thống Hương.
·Ngày 23 tháng Tư, Ðại tướng Khiêm:
16:30 giờ vào dinh Ðộc Lập gặp Tổng thống Hương khoảng 20 phút rồi qua cánh trái dinh Ðộc Lập gặp cựu Tổng thống Thiệu. Sau đó Tổng thống Hương, cựu Tổng thống Thiệu và Ðại tướng họp cho đến 20:00 giờ.
·Ngày 24 tháng Tư, Ðại tướng Khiêm:
Lúc 15:00 giờ vào dinh Ðộc Lập gặp cựu Tổng thống Thiệu, sau đó qua văn phòng Tổng thống Hương, rồi cùng họp với cựu Tổng thống Thiệu và Tổng thống Hương.

Ngày 25 tháng Tư, Ðại tướng Khiêm Lúc: 09:00 giờ sáng vào dinh gặp Tổng thống Hương, cựu Tổng thống Thiệu và Ðại sứ Pháp Jean-Marie Mérillon của nước Pháp.

Ngoài ra theo Frank Sneep, Ðại tướng Dương Văn Minh ( lúc nầy Ðại Tướng Minh chưa có vai trò gì trong chánh quyền ) cũng đã góp một phần lớn vào áp lực buộc cựu Tổng thống Thiệu phải rời khỏi nước. Tướng Minh cho rằng sự có mặt của ông Thiệu làm cản trở tiến trình hòa bình do ông chủ trương nên ông yêu cầu tướng Timmes phải bằng mọi cách thúc bách cựu Tổng thống Thiệu sớm ra đi. Khi biết được điều này, Ðại sứ Martin rất lâý làm phấn khởi; trước hết ông không muốn bị mang tai tiếng về việc ra đi của ông Thiệu, ông muốn cho dư luận tin rằng đó là áp lực từ các thế lực địa phương – không phải từ phía tòa Ðại sứ Mỹ. ( Decent Interval, trang 434)

Một tiết lộ khác của Oliver Todd, trong cuốn Cruel April, là cuối cùng Tổng thống Trần Văn Hương phải quyết định triệu hồi Ðại sứ Martin vào dinh Ðộc Lập. Cụ Hương nêu ra nhiều lý do và nhấn mạnh với ông Martin là nếu còn có sự hiện diện của ông Thiệu ở Sài Gòn thì chánh quyền do ông lãnh đạo khó tiến hành các cuộc hòa đàm với phía bên kia. Tổng Thống Hương yêu cầu nước Mỹ nhận ông Thiệu sang sống lưu vong. Ông Ðại sứ hứa là chánh quyền Mỹ sẵn sàng chấp nhận ông Thiệu sang sinh sống ở Hoa Kỳ.

Nay nhìn lại các hoạt động của tướng Timmes và dựa vào các văn kiện của các Bộ Ngoại giao và Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, chúng ta thấy rõ ràng đã có áp lực mạnh mẽ từ Hoa Thịnh Ðốn buộc ông Thiệu phải đi ra khỏi nước theo kế hoạch của họ ngay sau khi ông từ chức.

Văn kiện đầu tiên được gởi đi từ Hoa Thinh Ðốn, đúng 12 tiếng đồng hồ sau khi Tổng thống Thiệu từ chức, là:

Buổi sáng ngày 22 tháng 4, năm 1975, thừa lệnh Tổng thống Hiệp Chủng quốc Hoa Kỳ, Bộ Tư pháp của chánh phủ này đã gởi điện văn ủy quyền cho tòa Ðại sứ Mỹ tại Việt Nam cấp một số parole documents (giấy tạm cư) cho phái đoàn cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. (Cruel April, trang 327)
Giấy tạm cư này có phát cho chúng tôi; ngày phái đoàn rời Việt Nam là ngày 25 tháng 4, 1975 mà trên parole documents do tòa Ðại sứ Mỹ ở Sài Gòn cấp, lại đề ngày April 22, 1975
* * * * Chuẩn bị ra đi Tại tư dinh Ðại tướng Trần Thiện Khiêm.

Buổi sáng ngày 25 tháng Tư, tôi thức dậy trễ vì đêm rồi Ðại úy Mùi, sĩ quan tùy viên của Ðại tướng và tôi xem tivi, nói chuyện rất khuya. Ăn mặc vội vàng rồi như thường lệ tôi đến phòng trực của Sĩ quan Tùy viên. Ðây là một phòng nhỏ, chỉ kê có một bàn viết ngay cửa ra vào tư dinh của Ðại tướng. Trung tá Ðặng Văn Châu là Chánh Văn phòng đã có mặt tại đó. Ông vừa được chỉ định thay thế Ðại tá Nguyễn Trọng Hồng. Tôi quan sát thấy ông có vẻ bận rộn hơn những ngày thường. Lúc này vào khoảng 8 giờ rưởi. Bên ngoài trời có nắng đẹp. Tiếng người hối thúc nhau và tiếng ồn ào của đủ loại xe cộ chạy trên đường Võ Tánh trước cửa tư dinh Ðại tướng trong thời gian gần đây càng dồn dập, hối thúc hơn. Từ khi tiễn bà Trần Thiện Khiêm đi Ðài Bắc, sau giờ làm việc tôi không về nhà bên vợ như thường lệ, theo lời dặn của bà là phải dành ưu tiên lo an ninh cho Ðại tướng; do đó không lúc nào tôi rời ông trong bất cứ hoàn cảnh nào, lúc đi ra ngoài cũng như lúc ở nhà. Ngay khi ngủ ban đêm, để bảo đảm an ninh tối đa cho Ðại tướng, Ðại úy Mùi và tôi quyết định trải chiếu ngủ tại phòng ăn, ngay dưới chân cầu thang dẫn lên phòng ngủ của Ðại tướng ở trên lầu. Phòng làm việc của Ðại tướng cũng ở trên đó, đặt cạnh phòng ngủ. Trung tá Châu cho biết là chỉ thị của Ðại tướng muốn tôi ra ngân hàng quốc gia đổi 3 triệu đồng bạc Việt Nam để lấy tiền Mỹ kim bằng bạc mặt (cash). Trung tá Châu còn lo xa và muốn cho việc đổi tiền được mau lẹ nên đã gọi điện thoại đến các cơ quan liên hệ trước vì tôi là người lạ mới về làm việc tại tư dinh chỉ mới hơn ba tuần lễ. Tài xế đưa tôi đến thẳng văn phòng ông Bộ trưởng Phủ Thủ tướng. Người đầu tiên tôi gặp là ông Nguyễn văn Thân, bí thư của ông Bộ trưởng. Anh Thân hiện định cư ở thành phố San Jose, miền bắc California. Cũng may anh Thân và tôi đã quen nhau từ trước. Anh là người vui tánh, lanh lẹ và cởi mở. Tôi cho anh biết ngay là Ðại tướng Cố vấn cần mỹ kim, bằng tiền mặt, để dùng cho công tác đặc biệt. Anh bảo tôi chờ để anh trình lên ông Bộ trưởng. Anh và tôi ngồi nói chuyện thời sự khoảng 20 phút thì văn thư làm xong. Tôi cám ơn anh Thân rồi xuống phòng phía dưới lầu gặp ông Phạm Văn Phàng, Chánh sự vụ Sở Công văn, để lấy văn thư đến Bộ Tài chánh. Trong văn thư ông Bộ trưởng Phủ Thủ tướng Nguyễn Long Châu gởi ông Tổng Trưởng Tài chánh yêu cầu thỏa mãn nhu cầu của Ðại Tướng. Bản văn nầy mang số 899 P Th T/HCPC/5, hiện tôi còn giữ. Lúc đó vào khoảng 10 giờ hơn. Tôi vội vã rời Phủ Thủ tướng đến thẳng Bộ Tài chánh. Khi đến Bộ Tài chánh thì được giới chức tại đó cho biết là ông Tổng trưởng đang họp và buổi họp sẽ kéo dài lâu lắm. Tôi hơi thắc mắc về câu nói “buổi họp sẽ kéo dài lâu lắm” nhưng tôi vẫn cứ chờ. Sau đó tôi có nhắc đây là yêu cầu của Ðại tướng và có ai có thẩm quyền ở đây không ngoài ông Tổng trưởng. Họ trả lời không dứt khoát và yêu cầu tôi cứ chờ. Chờ mãi đến giờ trưa vì đói nên tôi cùng tài xế và anh hiệu thính viên truyền tin ra chợ cũ, đến tiệm Thanh Xuân ăn hủ tiếu. Tôi không ngờ đó là bữa ăn cuối cùng mà mãi cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ hương vị hủ tiếu Thanh Xuân của khu chợ cũ năm nào. Sau khi ăn xong, chúng tôi trở lại Bộ Tài chánh. Ông Tổng trưởng vẫn còn đang họp! Lúc đó thì đã xế trưa. Tổng trưởng Tài chánh lúc bấy giờ là ông Lê Quang Trường thuộc Nội các Nguyễn Bá Cẩn. Tôi đành phải kiên nhẫn chờ mặc dầu tôi nghi ngờ về việc “họp” của ông Tổng trưởng. Tôi có ý nghĩ không tốt về vị Tổng trưởng này lúc đó. Về sau, được biết sau tháng 4/1975, Tổng trưởng Lê Quang Trường cũng bị bắt và bị đưa đi ” học tập cải tạo ” như bao người khác. Tôi hối hận vì đã nghi oan cho ông. Trong lúc tôi vắng mặt tại tư dinh, Ðại tướng Trần Thiện Khiêm đã tiếp tướng Timmes lúc 11 giờ 50 trưa và sau đó tiếp ông Polgar vào lúc 1 giờ. Ông Thomas Polgar là Trưởng chi nhánh tình báo Hoa Kỳ tại Sài-gòn. Ông chỉ huy và điều hành một cơ quan tình báo rất hùng hậu gồm hàng ngàn nhân viên. Ngoài hoạt động điều nghiên, thu thập tin tức địch, họ còn có mặt ở mọi nơi, len lỏi vào mọi ngành, mọi cấp của chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa. Polgar là một nhân vật có ảnh hưởng rất lớn trong mọi sinh hoạt chánh trị và quân sự ở Sài Gòn. Tôi vừa về tới thì thấy ông này vừa ra về.

Lúc đang chờ tại văn phòng ông Tổng trưởng Tài chánh thì anh tài xế bất chợt xô cửa bước vào, cho biết lịnh của Ðại tướng là phải trở về nhà gấp.

Trước khi trở về bộ Tổng Tham mưu, tôi cho xe chạy vòng qua chợ Trương Minh Giảng, về nhà đứa em thứ Tám của tôi ở trong một đường hẻm nhỏ. Má tôi cũng ở đó. Tôi không gặp được ai ngoài anh Chứ, người anh thứ Tư của tôi. Tôi cho anh biết một số sự việc và báo là tôi có thể sẽ đi một mình thôi, không đem ai theo được. Các anh em còn lại chỉ còn có con đường duy nhất là hãy xuống phi trường Trà Nóc ở Cần Thơ nhờ Hưng lo liệu. Hưng là em trai kế của tôi, đại úy phi công lái Cessna. Tôi căn dặn thêm là nói với Hưng, chỉ có con đường cuối cùng là lái phi cơ thẳng qua phi trường Utapao, Thái Lan.

Trên đường về tư dinh Ðại tướng Khiêm, theo thói quen, tài xế thường chạy xe qua đường Trương Quốc Dung – con đường dẫn vào cổng số 5 Bộ Tổng Tham mưu là con đường nhỏ nối liền đại lộ Cách Mạng 1 tháng 11 và đường Võ Tánh. Khi chạy ngang qua nhà anh Nguyễn Thanh Vân thì tôi thấy anh đang đứng ngay trước cổng nhà có vẻ như trông chờ ai. Tôi cho xe dừng lại và cũng vì chỗ thân tình, tôi khuyên là “các anh em” có phương tiện gì thì cứ đi đi. Các anh em mà tôi nhắn ở đây là những bạn học cũ ở trường Petrus Ký trước kia, một số là sĩ quan Hải quân và một số bạn dân sự khác gồm có anh Trần Khánh Vân. Lúc đó Vân đang là Tổng cục Trưởng Tổng cục Gia cư. Tôi không biết là vào lúc đó, trong số họ, nhiều người đã đi rồi! Mặc dầu không nói ra nhưng khi Ðại tướng Khiêm muốn tôi đích thân đi đổi tiền cũng là một cách gián tiếp cho tôi biết là phải ” sẵn sàng để đi. ” Có một việc bất ngờ xảy ra trước đó hai hôm cũng cho tôi thấy Ðại tướng có ngầm ý cho tôi biết là ” phải chuẩn bị.” Thông thường Ðại Tướng Khiêm ăn trưa xong là đi thẳng lên lầu nghỉ trưa, ít khi đi dạo phía sau vườn. Trưa ngày 23 tháng Tư, vừa ăn xong, Ðại tướng không lên lầu mà lại đi ra phía sau nhà.

Tôi đi theo sau ông. Ðại tướng vừa bước ra khỏi cửa sau thì bỗng có chiếc xe Mazda từ ngoài chạy vào. Tài xế thấy ông, giật mình dừng xe lại. Liền sau đó vợ tôi bước xuống. Cô nầy vừa khoanh tay khom mình chưa kịp thưa thì ông đã nạt lớn: ” Sao không đi đi, còn ở đây làm gì! ” Nhà tôi sợ quá, vội vàng leo lên xe. Trong khi xe đang quay đầu chưa kịp chạy thì Ðại tướng lại la tiếp: ” Ði liền đi, còn chờ gì nữa!” Bà bà xã tôi và tôi chưa kịp nói với nhau lời nào. Ngày hôm sau, gia đình bên vợ tôi lên máy bay Air Việt Nam đi Pháp. Ba vợ tôi là ông Ðinh Văn Re còn ở lại nên tôi mới có dịp gọi điện thoại cho ông vào phút chót, lúc Ðại tướng Khiêm sắp sửa lên đường.

Khi tôi về đến tư dinh thì thấy mọi người đều lăng xăng trong bầu không khí khác thường. Thiếu tá Ðinh Sơn Thông là em bà Khiêm và cũng là Bí thư của Ðại tướng nói với tôi là hãy đi nghỉ ngơi rồi ăn mặc chỉnh tề để chuẩn bị tiếp khách theo lịnh của thượng cấp. Ðến đây thì tôi thấy chắc chắn hôm nay là ngày lên đường, nhưng cá nhân tôi thì vẫn chưa có quyết định.
Nghỉ ngơi trong chốc lát rồi tắm rửa thay thường phục xong, tôi chưa vội khoác áo ngoài. Theo thông lệ tôi đi một vòng quanh nhà để kiểm soát các quân nhân canh gát và toán cận vệ rồi trở vào bằng cửa sau.

Trước hết phải đi qua nhà bếp. Các anh làm bếp đang bận rộn nấu ăn, khuôn mặt người nào cũng có vẻ ưu tư, lo lắng; chốc chốc người nọ nhìn người kia như để gạ hỏi điều gì. Họ thấy tôi ăn mặc khác thường nên càng xầm xì nhiều hơn vì trong suốt thời gian làm việc tại tư dinh Ðại tướng tôi chỉ mặc quân phục. Ðặc biệt hôm nay tôi lại thay quần áo thường phục. Ðể tránh sự tò mò, tôi nói giã lã vài câu chuyện rồi bước lên nhà trên.

Nhìn qua phòng khách tôi thấy bàn ăn đang đặt tại đó. Tôi nghĩ bụng, đáng lẽ ra phải dọn tiệc tại phòng ăn, ai lại dọn lên phòng khách. Phòng ăn rộng rãi và khang trang hơn. Dĩ nhiên đây là dấu hiệu bất thường. Rồi tôi đi về phía trước nhà.

Ðến phòng trực của sĩ quan tùy viên, tôi thấy Thiếu tá Lưu là sĩ quan tùy viên lên ca, thay thế Ðại úy Mùi làm việc ngày hôm trước. Anh đang xem xét giấy tờ và bận rộn lo giải quyết công việc thường nhựt một cách bình thản coi như không có chuyện gì xảy ra. Hình ảnh anh Lưu để lại trong tôi một ấn tượng thật tốt đẹp. Sự tận tụy và tinh thần phục vụ của anh trong giây phút này thật là đáng quí. Tôi tin anh đã biết rõ mọi chuyện vì anh là người có họ hàng với gia đình Ðại tướng.

Một lúc sau ông Trần Thiện Phương là anh ruột của Ðại tướng đến. Ông đi thẳng lên lầu gặp Ðại tướng trong vòng vài phút rồi vội vã ra về. Sau đó Thiếu tá Ðinh Sơn Tuyền là em bà Ðại tướng cũng tới. Tôi đến chào ông Tuyền đang ngồi tại hành lang trước nhà với vẻ mặt trầm tư. Tôi trao số tiền 3 triệu đồng bạc lại cho ông. Sau đó Thiếu tá Tuyền chỉ vào thưa chuyện với Ðại tướng trong vòng vài phút rồi cũng vội vã ra về.

Gần xế thì có lịnh từ Sở An ninh hoàn trả Ðại úy Vân và toán cận vệ của anh về phủ Thủ tướng. Toán quân nhân gác nhà cũng được trả về Liên đoàn An ninh Danh dự. Kể từ giờ phút này nhà Ðại tướng Khiêm coi như bỏ ngõ. Tôi bắt đầu lo lắng.

Lúc này cũng đã hơn 6 giờ chiều.

Vì thấy tôi có vẻ đâm chiêu Trung tá Châu cho biết là chiều nay Ðại tướng muốn chánh thức mời Tổng thống Thiệu, vài nhân vật trong nội các và ngoại giao đoàn đến dự tiệc để ông chào giã biệt vì từ ngày từ chức Thủ tướng đến nay chưa có dịp tổ chức. Tôi biết đó chỉ là lối ngụy trang cho chuyến đi. Tôi chỉ thắc mắc tại sao lại có Tổng thống Thiệu, tôi nghĩ Tổng thống Thiệu đã có kế hoạch ra đi riêng của ông.

Trời vừa chập choạng tối thì các món ăn cũng được dọn lên. Hôm đó có chả giò, nem nướng; mấy dĩa chả giò cuốn nhỏ, chiên giòn được bày ra trông rất đẹp mắt. Cách trình bày cũng làm cho thực khách cảm thấy món ăn ngon miệng hơn, nhưng lúc này lòng dạ trăm thứ ngổn ngang thì bụng nào thấy đói.

Gói quà đặc biệt Tại tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ…

Tòa Ðại sứ Mỹ nằm trên đường Thống Nhất, cách dinh Ðộc Lập vài khoảng đường, “từ đó có thể nhìn thấy các sinh hoạt của dinh Ðộc Lập.” ” Vào lúc 5 giờ Thomas Polgar gọi chúng tôi bốn người gồm có tướng Timmes, anh Joe Kingsley và một nhân viên khác rồi hỏi chúng tôi là các ông có rành đường phố Sài-Gòn ban đêm không. Chúng tôi đều gật đầu. Thế thì tốt, Polgar tiếp, tôi muốn các ông giúp tôi đưa Thiệu và cựu Thủ tướng Khiêm đi Ðài Loan tối nay…”
Ðó là theo lời kể của ông Frank Snepp trong cuốn Decent Interval, trang 434.

·* * * * Cũng khoảng thời gian trên tại dinh Ðộc Lập… Cựu Tổng thống Thiệu đang nghỉ ngơi ở phòng đọc sách tại lầu 3 bên cánh trái (từ trong dinh nhìn ra). Ông gọi Trung tá Tôn Thất Ái Chiêu, Sĩ quan Tùy viên thân cận nhất của ông, vào để chỉ thị mấy việc cần thiết và bảo ông Chiêu đem bộ quần áo của ông về nhà riêng trong Bộ Tổng Tham mưu. Nhà này cũng nằm chung dãy nhà với Ðại tướng Khiêm. Sau đó Tổng thống Thiệu gọi các vị sĩ quan thân cận gồm có: Ðại tá Võ Văn Cầm, Chánh Văn phòng; Ðại tá Nguyễn Văn Ðức, Chánh Tùy viên; Ðại tá Nhan Văn Thiệt, Chỉ huy trưởng Cảnh sát Quốc gia Vùng 4; Ðại tá Trần Thanh Ðiền, Trưởng khối Cận vệ. Tổng thống Thiệu ra lịnh, ” tất cả mấy chú phải thay thường phục, có mặt tại dinh lúc 7 giờ. Mỗi chú chỉ được mang theo một túi xách tay nhỏ, tuyệt đối giữ bí mật, không được thông báo cho gia đình.” Tổng thống Thiệu vừa dứt lời thì Ðại tá Ðiền thưa, ” Xin Tổng thống cho (Trung tá) Sáng và (Trung tá) Thứ đi theo.” Thấy ông Thiệu không trả lời, ông Ðiền lặp lại thì cũng vừa lúc đó Ðại tá Ðức khều nhẹ. Ðiền hiểu ý. Sau nâỳ được biết Tổng thống Thiệu đã có chỉ thị choTrung tá Sáng ở lại với công tác đặc biệt, còn Trung tá Thứ thì ở lại tiếp tục lo an ninh cho Tổng thống Trần Văn Hương. Riêng Bác sĩ Minh lúc đó không có mặt trong dinh, Trung tá Chiêu phải gọi vào. Thói thường lịnh vua truyền là như vậy nhưng lệ làng thì khác. Mấy hôm nay tất cả các vị quan này, vì bị đặt trong tình trạng báo động nên lúc nào cũng túc trực tại dinh, khi nghe được lịnh trên, ai ai cũng đều vội vã chạy về nhà hoặc gom góp chút ít đồ đạc, giấy tờ cá nhân, và dĩ nhiên là có thông báo cho vợ con, rồi trở lại dinh Ðộc lập ngay.

Tại tư dinh đại tướng Khiêm…

Quang cảnh có vẻ cần phải quan tâm hơn. Trong nhà bếp, Thượng sĩ Trị, Thượng sĩ Xê đang khóc thút thít. Anh Tín, một tay đầu bếp nấu ăn rất giỏi đang buồn rầu. Xin nói thêm, các chị em bà Trần Thiện Khiêm đều là những giai nhân hiền thục, đồng thời là nhũng người vợ đảm đang, lại thêm có khoa nấu ăn rất khéo. Có một lần tôi nghe một vị công chức cao cấp kể rằng: ” người ta đồn gia đình bà Khiêm nấu các món ăn ngon nổi tiếng ở Sài Gòn.”

Trung úy Hồng uống rượu nhiều, đang say ngà ngà. Anh Hồng cứ theo chất vấn Thiếu tá Thông là “sếp” đi đâu. Các anh thường gọi Ðại tướng Khiêm là “sếp” với cả tấm lòng kính mến vì họ là những người, phần lớn cuộc đời, đã gắn bó với gia đình này. Dĩ nhiên là anh và các nhân viên phục dịch tại nhà đều cảm nhận việc Ðại tướng sắp ra đi nhưng muốn được chánh thức xác nhận. Cuối cùng Thiếu tá Thông phải nói thật là “chúng tôi đưa Thủ tướng ra khỏi nước!”

Nghe đến đây, tôi đâm ra lo sợ cho sự an toàn của Ðại tướng nhiều hơn vì dưới khía cạnh an ninh tôi hoàn toàn không tin tưởng bất cứ ai. Tôi để ý từ lâu hai ông Châu và Thông cũng không có chuẩn bị cho sự an toàn của cá nhân hai ông thì làm sao mà lo cho Ðại tướng được. Hai vị này từ lâu đã trở thành mẫu người công chức – đúng hơn là những viên chức ngoại giao. Ðiều đó làm cho tôi lo ngại thêm. Nhưng các diển tiến sau đó cho biết những gì tôi nhận xét là sai lầm.

Kiểm lại các sự việc đã diễn ra, tôi nghĩ là tôi đã được chọn cùng đi theo phái đoàn. Lúc bà Trần Thiện Khiêm còn ở nhà, bà cũng có nói xa gần với tôi như vậy. Nhưng lúc đó cũng không có gì là chắc chắn vì tôi thấy trong nhà còn có Thiếu tá Ðinh Sơn Tuyền là ruột thịt trong nhà, là người mà gia đình cần hơn tôi; vì vậy mà tôi chưa chuẩn bị tinh thần cho đến khi ông Tuyền đến chào từ giã Ðại tướng thì thật sự mới biết là tôi có tên trong danh sách trình lên Tổng thống Trần Văn Hương.

Nhưng riêng cá nhân tôi thì cũng chưa có quyết định dứt khoát, đi cũng là điều may mà ở lại cũng không phải là điều gở; nếu đi thì tôi còn gần vợ con mà ở lại thì cũng là cơ hội cho tôi được lo cho bà Ngoại và Má tôi cùng nhiều anh em đang có hoàn cảnh sống khó khăn, họ cần sự có mặt của tôi. (Bây giờ nghĩ lại, mới biết là mình còn quá ngây thơ).
Khi nghe Thiếu tá Thông nói như vậy thì tôi đi vội về phòng, kiểm soát lại một số giấy tờ. Những gì không cần thiết tôi đem ra sân sau đốt cùng với tập nhựt ký. Lúc đó tôi nghĩ việc tiêu hủy tập nhựt ký của tôi chỉ đơn giản là không muốn các chi tiết ghi chép bị lọt ra ngoài nếu tôi không mang theo được bên mình, đâu có ngờ rằng điều đó đã làm cho tôi ân hận mãi, vì nếu còn giữ được cho đến bây giờ, nó sẽ là những chứng liệu vô cùng hữu ích cho một số các sự việc mà giờ đây vẫn còn trong vòng tranh cãi!
Tôi nhét vội hai bộ đồ cùng các giấy tờ tùy thân và cây súng rouleau nhỏ vào cái samsonite – đây là loại samsonite dùng đựng hồ sơ nhưng có bề dày khoảng một tấc có thể đựng 2 bộ đồ. Còn cây K54 tôi nhét vào thắt lưng tuy đã có lịnh tuyệt đối không được mang theo vũ khí.

Vì nóng lòng muốn về chào từ biệt má tôi và anh em lần chót, tôi hỏi Thiếu tá Thông cho tôi ra ngoài khoảng 15 phút. Ông đồng ý và còn hứa sẽ ” lo bảo đảm an ninh của anh Tư.” Tôi liền gọi tài xế đem xe ra cổng trước chờ …

Cũng trong thời điểm này, tại cơ quan CIA…

” Khoảng 8 giờ 30, bốn người chúng tôi đi trên ba xe đến Bộ Tổng Tham mưu của Nam Việt Nam nằm bên ngoài Tân Sơn Nhứt. Khiêm có nhà riêng ở đây. Joe và tôi giấu vũ khí dưới chỗ ngồi. Chúng tôi lo sợ một việc không lành có thể tái diễn vụ ám sát anh em ông Diệm trước đây… trên đường đi nếu có những sĩ quan trẻ Việt Nam chận chúng tôi lại, ra lịnh cho chúng tôi xuống xe và … định hạ thủ. Chúng tôi quyết định phải mang vài đứa theo chúng tôi…” Ðó là dự tính của nhóm ông Frank Snepp trước khi đoàn xe lên đường vào nhà Ðại tướng Khiêm. (Decent Interval, trang 435)

Tôi vừa bước ra tới cửa, giật mình thấy có ba chiếc xe Chevrolet to lớn màu đen, mang bản số ngoại giao, đang đậu ngay trước cổng nhà, sát bức tường phòng thủ của bộ Tổng Tham Mưu. Ðoàn xe hướng đầu về phía cổng chánh.
Tôi liền đổi ý, trở vào nhà thì gặp Ðại tướng đang ngồi ở phòng khách. Ông gọi tôi lại và giao cho tôi một gói đồ được gói trong giấy hồng điều thật đẹp. Gói quà có kích thước bề ngang khoảng 5 tấc, cao độ 3 tấc, dày một tấc. Ðại tướng Khiêm dặn, ” Phận, giữ cái này là món quà tặng. Một chút nữa Tổng thống Thiệu tới đi thì đem theo.” Tôi xách gói quà lên để cân sức nặng, không nặng mà cũng không nhẹ. Lúc Ðại tướng Khiêm ra lịnh như vậy, qua thái độ và cử chỉ của ông, tôi nghĩ đó là món quà có thể dùng để tặng ông Ðại sứ Mỹ, hay là phi hành đoàn, hoặc một nhân vật nào ở Ðài Bắc…Trong suốt cuộc hành trình vì là món quà quí nên tôi phải ôm nó trong người mà vẫn không tài nào đoán ra ở trong đó có cái gì cho tới khi đến Ðài Bắc.

Khi nghe nói “Tổng thống Thiệu tới đi ” thì tôi thấy rõ ràng không còn thời gian nhiều nữa. Tôi vội chạy lên lầu, vào phòng làm việc của Ðại tướng, nhấc điện thoai gọi tổng đài Phủ Tổng thống, yêu cầu cho tôi nói chuyện với khối cận vệ. Thật may mắn là Sĩ, em rể của tôi, có mặt tại đó. Sĩ là cận vệ của Tổng thống Thiệu. Tôi bảo Sĩ lên nhà Tổng Tham mưu ngay lập tức có việc cấp bách, không thể nói qua điện thoại được. Lúc này Bộ Tổng Tham mưu có lịnh kiểm soát người ra vào nghiêm nhặt. Tôi phải ra cổng chánh đón Sĩ vào.

Tôi và Sĩ đứng nói chuyện ngay trước cửa nhà Ðại tướng. Tôi cho biết là tôi sẽ đi nhưng chưa biết đi đâu và căn dặn tất cả anh em Lạc, Phất nếu không đi được thì về Tây Ninh, sống gần gũi, nương tựa nhau. Tôi đưa cho Sĩ địa chỉ nhà của ông bà Ðại tướng ở Ðài Bắc. Chúng tôi cả hai đều khóc. Lúc này là vào khoảng 8 giờ 30.

Vào khoảng 7 giờ 30 tối. Trong phòng ngủ, Tổng thống Thiệu thay đồ bốn túi, bộ đồ nầy may bằng vải gabardine màu nhà binh tại nhà may Huỳnh Hoan. Tiệm may nầy nằm trên con đường nhỏ ở quận Nhứt, hiện nay vẫn còn. Ông đi qua phòng nhỏ cạnh phòng ngủ, nghiêng đầu qua cửa sổ nhìn xuống. Dưới sân, bên cạnh thềm tam cấp một chiếc xe Mercedes màu xanh đậm đang đậu tại đó. Người cầm tay lái là Ðại Tá Nhan Văn Thiệt. Ông Thiệt đã từng giữ chức vụ Trưởng khối An ninh Phủ Tổng thống. Khối An ninh là tiền thân của Khối Cận vệ sau này…

Thấy mọi việc đã sẵn sàng, Tổng thống Thiệu vội vã rút trong hộc tủ ra cây Browning đã lắp đầy đạn, ông khóa chốt an toàn rồi cho vào túi áo.
Xong xuôi ông bấm interphone gọi Sĩ quan Tùy viên trực lúc đó là HQ Ðại úy Trần Anh Tuấn. Ông đưa cho Ðại úy Tuấn một gói quà nhỏ và ra lịnh, ” Chú mang cái hộp này qua cụ Hương. Nếu không gặp Cụ thì ngày mai đem qua cũng được. Nhớ đừng mở ra.” Có lẽ ông đã gọi thẳng Tổng thống Hương nên biết cụ còn đang bận tiếp Ðại sứ Pháp, ông Jean-Marie Mérillon, nên mới dặn Ðại úy Tuấn như vậy.

Khi ông và Ðại úy Tuấn vừa bước ra khỏi phòng thì lúc đó Ðại sứ Mérillon cũng vừa từ phòng làm việc của Tổng thống Hương bước ra. Thấy vậy ông Thiệu cùng với Ðại úy Tuấn đi qua tận văn phòng, trao cái hộp quà này cho Tổng thống Hương. Trao quà xong, Tổng thống Thiệu và Ðại úy Tuấn quay trở về bên cánh trái. Khi tới cầu thang máy, anh cận vệ bấm nút mở cửa cầu thang. Trước khi bước vào, ông Thiệu xoay lại dặn Ðại úy Tuấn, ” Tôi đi qua nhà Ðại tướng ăn cơm rồi trở về, chú khỏi đi theo.” Ông lanh lẹ bước vào thang máy. bấm nút tầng trệt.
Ðại úy Tuấn vì thấy có nhiều sinh hoạt khác thường, dự đoán là hôm nay ông Thiệu sẽ đi. Muốn để cho ông yên tâm nên cả buổi chiều anh cố tìm cách lánh mặt và mỗi lần theo ông đi đâu, anh đi cách xa ông.
Tại tầng trệt, khi cánh cửa cầu thang mở ra thì Ðại tá Ðiền đã túc trực tại đó. Tổng thống Thiệu vừa bước xuống bậc tam cấp thì cũng vào lúc hai anh cận vệ xuất hiện, Sanh và Khình vừa đến để đổi gác, làm ông giật mình. Tổng thống Thiệu và Ðại tá Ðiền lanh lẹ bước vào xe. Ðại tá Ðiền ngồi bên phải của Tổng thống Thiệu ở băng sau; Ðại tá Ðiền ngồi vào chỗ ngồi chánh thức của Tổng thống Thiệu – Trần Thanh Ðiền muốn làm Lê Lai cứu Chúa! Vừa ngồi vào xe, Tổng thống Thiệu liền hỏi Ðại tá Ðiền, ” có mấy cây súng? ” Ðại tá Ðiền đáp, “có hai cây: một cây dài, một cây ngắn.” Ðại tá Thiệt lập tức đạp ga cho xe chạy vòng qua sân cỏ, lướt ngang qua thềm đại sảnh, rồi tiến thẳng ra cổng chánh là đầu đại lộ Thống Nhất.

Trên khán đài danh dự nằm trên đại lộ Thống Nhất này, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, vào Ngày Quân Lực, đã từng đón nhận ” những chiến sĩ anh hùng của các đơn vị anh hùng ” về đây với những vòng hoa chiến thắng trong sự chào đón hân hoan nồng nhiệt của mọi giới đồng bào. Những lời hiệu triệu của vị Tổng Tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa trước những đoàn hùng binh chiến thắng đó vẫn còn nghe âm vang đâu đây khi xe ông lướt nhanh qua.
Ðại lộ này cũng đã từng chứng kiến nhiều dòng lịch sử đổi thay của ba trăm năm Sài-Gòn trong trái tim đồng bào miền Nam. Nay con đường này không còn tên là Thống Nhất nữa!

Ðoàn xe rẽ trái trên đường Pasteur rồi theo đường Hiền Vương quẹo mặt trên đường Công Lý… tiến thẳng trên đại lộ Cách Mạng 1-11. Xe vào cổng chánh Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam Cộng Hòa rồi rẽ phải. Lúc xe Tổng thống Thiệu sắp chạy ngang nhà Ðại tướng Khiêm thì tôi nhận ra ngay. Tôi nói với Sĩ, “xe Tổng thống tới.” Tôi vội tránh vào đoàn xe ngoại giao, nhưng không kịp nữa. Ðèn xe Tổng thống chiếu ánh sáng màu vàng tím cực mạnh làm tôi chóa mắt. Xe không vào nhà Ðại tướng Khiêm mà chạy thẳng về nhà Tổng thống Thiệu. Thời giờ đã quá cấp bách nên tôi khuyên Sĩ hãy về đi.
Trời đã vào đêm, không khí vẫn còn hơi đất nhưng tôi cảm thấy có một cảm giác lành lạnh. Hai người Mỹ đứng bên cạnh xe bên kia đường làm cho tôi vững tâm hơn. ( lúc đó tôi chỉ thấy có 2 người ). Ít ra thì sự có mặt của họ cũng phần nào giúp tôi bớt lo ngại về mặt an ninh. Riêng có một mình tôi thì làm gì được nếu có manh động nào xảy ra. Thật là may mắn, không có tiếng súng nổ, không có tiếng pháo của địch.

Trên đường Võ Tánh mới đây người người tranh giành, chen lấn nhau chạy giặc, bóp kèn inh ỏi. Giờ này bắt đầu giới nghiêm nên hoàn toàn vắng lặng. Cả một vùng không gian yên lặng nặng nề. Tôi vội vã bước vào nhà.

Tôi chạy thẳng lên phòng làm việc của Ðại tướng một lần nữa. Lúc này Ðại Tướng đang ở phòng ngủ. Tôi lấy điện thoại gọi số 57340 là điện thoại nhà ba vợ tôi ở đường Sư Vạn Hạnh, khu An Ðông. Khi nghe tiếng ông, tôi liền thưa: – “Dạ thưa Ba, một chút nữa con đi.” – “Dượng Tư đi phải không? ” Ba tôi hỏi lại. – “Dạ, con đi.” Tôi đáp. Tôi không nói ” dượng Tư đi ” mà chỉ nhấn mạnh hai tiếng “con đi”. Tôi biết ông hiểu ý tôi muốn nói gì.

Ðồng thời tôi xin địa chỉ nhà ở bên Pháp. Tôi phải chờ hơi lâu. Có lẽ ông không có sẵn địa chỉ thành ra thời gian lúc đó dài lê thê làm tôi đâm ra lo. Một lúc sau ông mới đọc địa chỉ được. Tôi lấy lại bình tĩnh rồi đi mau xuống lầu.

Trong lúc tôi nói chuyện điện thoại ở trên lầu thì:

“Một chiếc Mercedes màu xanh chạy vào cổng nhà Ðại tướng Khiêm. Người có tầm vóc trung bình, tóc bạc, chải gọn ra sau, da mặt bóng láng, trong bộ quần áo xám chỉnh tề, bước xuống đất. Trong bóng đêm, Nguyễn Văn Thiệu giống như người mẫu trong tạp chí Gentleman’s Quarterly hơn là một cựu nguyên thủ quốc gia. Ông ta vội vã bước vào nhà mà không thèm nhìn chúng tôi.”
Tổng thống Thiệu đã về đến nhà ông, thay đồ lớn (bộ đồ Trung tá Chiêu đem về) rồi mới qua bên nhà Ðại tướng Khiêm như Frank Snepp nói ở trên
. (Decent Interval, trang 435) .

Khi Frank Sneep nói da mặt bóng láng có thể làm cho mọi người nghĩ là Tổng thống Thiệu đang thoa kem. Thực tế, làm việc nhiều năm bên cạnh ông, chúng tôi cũng ngạc nhiên là ông có làn da mặt sáng bóng một cách tự nhiên, lạ lùng.

Từ trên lầu xuống, khi đi ngang qua phòng ăn tôi giật mình thấy Tổng thống Thiệu đang ngồi nói chuyện với Ðại tướng Khiêm ở phòng khách. Hai ông đang uống rượu, tôi nghĩ vậy. Frank Snepp sau này xác nhận khi lái xe đưa Tổng thống Thiệu ra phi trường, lúc nói chuyện có nghe mùi rượu.
Tổng thống Thiệu và Ðại tướng Khiêm nói chuyện vừa đủ nghe trong bầu không khí tương đắc, giống như những ngày nào Tổng thống Thiệu tiếp Ðại tướng Khiêm tại phòng ăn gia đình trong khu Hậu dinh, dinh Ðộc Lập – nơi ngự trị của vị lãnh đạo tối cao có uy quyền lẫy lừng nhất nước trong suốt gần một thập niên dài.

·* * * * Những văn kiện ngoại giao viết tay! Thật là điều may mắn, trái với suy đoán của tôi, tất cả mọi nhơn viên làm việc đều là những người trung thành. Họ ít ra cũng đã trải qua một lần kinh nghiệm. Ðó là lần Ðại tướng Khiêm bị lưu vong dưới thời Ðại tướng Nguyễn Khánh. Sau khi chia tay lại là những ngày sum hợp. Ðại tướng đi rồi Ðại tướng lại về. Họ cũng nghĩ rằng lần đi của Ðại tướng kỳ này rồi cũng phải trở về. Thiếu tá Thông cũng có cho tôi biết: ” Khi mọi việc xong xuôi Ðại tướng Minh cũng muốn anh Tư về hợp tác. Mình chỉ đi lánh mặt một thời gian.” Cho nên nếu có đi thì tôi hy vọng cũng được trở về. Thành ra các anh em kia cũng có một niềm hy vọng giống như tôi.

Ngày chúng tôi lên đường là ngày 25/4/1975. Lúc đó cụ Trần Văn Hương cũng vừa lên làm Tổng thống được 4 ngày mà đã có sự tiên liệu ” Ðại tướng Minh sẽ mời anh Tư trở về ” thì cũng cho chúng ta biết thêm một dữ liệu về các diễn biến chánh trị sau đó, đã được thấy trước. Sở dĩ được biết trước là vì trước đó một ngày, là ngày 24 tháng Tư, tại tư dinh Ðại tướng Khiêm trong Bộ Tổng Tham Mưu , Tổng thống Trần Văn Hương, Luật sư Nguyễn Văn Huyền và Ðại tướng Dương Văn Minh được trực thăng riêng của Ðại tướng Khiêm rước vào để họp cùng với Ðại tướng Khiêm. Ðây là buổi họp rất đặc biệt và vô cùng quan trọng, phải giữ kín đến đỗi ngay cả Tổng Thống Hương cũng phải dùng trực thăng riêng của đại tướng để di chuyển. Buổi họp kéo dài từ 11 giờ 15 cho tới gần 1 giờ trưa. Tôi quan sát trên nét mặt lúc đó, khi ra về, các quí vị lãnh đạo quốc gia đã tỏ ra không đồng thuận lắm – theo nhận xét của riêng tôi – trước giờ phút lâm nguy của đất nước. . . Sáng hôm sau là ngày 25 tháng Tư, Ðại tướng Khiêm lại vào dinh Ðộc Lập họp với cựu Tổng thống Thiệu cùng với Tổng thống Trần Văn Hương và ông Ðại sứ Jean-Marie Mérillon của nước Pháp. . .
Chương trình họp nói trên tôi có ghi trong sổ tay.

Thông qua các buổi họp như vậy, những nhà làm chánh trị, những nhà bàn luận thời cuộc, những nhà chạy tin có cơ hội để ” luận cổ suy kim.” Thiếu tá Thông là người hay suy luận nhưng ông là người thành thật và rất tốt bụng. Ông có những lập luận khéo léo, có ý cho tôi biết những gì ông nói chỉ là suy đoán, có nghĩa là không phải ý đó phát xuất từ ” anh Tư.” Riêng tôi, qua những gì tôi quan sát tận mắt, nghe ngóng dư luận và theo dỏi báo chí, tôi cũng có những nhận định giống như vậy – Ðại tướng sẽ có cơ hội trở về . . .

Bước ra phía trước nhà, tôi thấy ông Thomas Polgar đang ngồi tại bàn viết của Sĩ quan Tùy viên. Ông kiểm soát lại danh sách phái đoàn để điền tên vào parole documents, dựa vào bản văn của Tổng thống Thiệu.

Danh sách phái đoàn do cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trình lên Tổng thống Trần Văn Hương có nội dung như sau: (Tổng thống Thiệu viết tay)Danh sách phái đoàn do cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trình lên Tổng thống Trần Văn Hương

Danh sách phái đoàn do cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trình lên Tổng thống Trần Văn Hương

Kính trình Tổng thống Trần Văn Hương,
Thưa Cụ,
Ðể thực hiện công tác cụ giao phó, tôi kính xin cụ chấp thuận cho những sĩ quan sau đây gọi là thành phần tối thiểu cần thiết để giúp tôi, đi theo tôi trong suốt thời gian công du:
1. Ðại tá Võ Văn Cầm
2. Ðại tá Nguyễn Văn Ðức
3. Ðại tá Nhan Văn Thiệt
4. Ðại tá Trần Thanh Ðiền
5.Trung tá Tôn Thất Ái Chiêu
6. Bs Thiếu tá Hồ Vương Minh
7. Ðại úy Nguyễn Phú Hải (giờ chót không có mặt)
8. Phục dịch viên Nghị (giờ chót không có mặt)
Ngoài ra, Cựu Thủ tướng Ðại tướng Trần Thiện Khiêm cũng cần đem theo những sĩ quan và dân sự sau đây:
1. Trung tá Ðặng Văn Châu
2. Thiếu tá Ðinh Sơn Thông
3. Thiếu tá Nguyễn Tấn Phận
4. Ông Ðặng Vũ (giờ chót không có mặt)
Ðại tướng Trần Thiện Khiêm nhờ tôi trình cụ chấp thuận ./.
Kính chào Tổng thống
(ký tên Thiệu)
Tổng thống Trần Văn Hương phê thuận,
Ðề ngày 25/4/75
Và ký tên Trần Văn Hương

·* * * * Ở đây có một sự trùng hợp lịch sử. Khi viết danh sách phái đoàn để trình lên Tổng thống Trần Văn Hương, cựu Tổng thống Thiệu muốn Ðại tá Cầm đánh máy, Ðại tá Cầm không biết đánh máy, ông Thiệu đành phải viết tay; khi có lịnh của Ðại sứ Martin là phải mang theo bàn đánh máy khi đến nhà Ðại tướng Khiêm, ông Polgar quên đem theo bàn đánh máy. Thành ra hai văn kiện: một là danh sách phái đoàn của Tổng thống Thiệu và hai là tên điền vào mẫu parole documents đều không đánh máy, mà phải viết tay.
Cựu Tổng thống Thiệu, với bản tánh cố hữu, người luôn luôn nghĩ xa, ra lịnh cho Ðại tá Cầm ở Ðài Bắc làm nhiều bản photocopy danh sách phái đoàn do Tổng thống Trần Văn Hương chấp thuận, phát cho mỗi người một bản để trong trường hợp cần thì có thể làm bằng chứng với Sở Di trú của quốc gia sẽ đến định cư. Lúc đó chúng tôi chưa biết đi đâu.

Tại hành lang trước nhà, trong ánh sáng mờ mờ ảo ảo, các ông Ðại tá Cầm, Thiệt, Ðức, Ðiền, Trung tá Chiêu, Bác sĩ Minh đang xúm xích bàn chuyện nhỏ to. Mọi người đều ăn mặc chỉnh tề có vẻ như là những quan chức lớn sắp lên đường đi công tác ở ngoại quốc hơn là sắp đi tỵ nạn. Tất cả chúng tôi cũng không ai tin là sẽ đi tỵ nạn. Trên tay mỗi người xách một túi sắc nhỏ. Cũng cần nói thêm, Ðại tá Cầm là người rất nhiệt thành với công vụ và cũng là cấp thừa hành ” một cách triệt để.” Sau khi Tổng thống Thiệu ra lịnh “mỗi người chỉ được đem theo một xách tay nhỏ,” thì ông lại khuyên anh em “không nên mang theo gì hết – nên đi tay không! ”

·* * * *
Ðoạn đường dài như vô tận
Ðúng 9 giờ tối…
Vừa điền giấy xong thì ông Thomas Polgar phân phát tờ parole document (tờ tạm cư) cho từng người. Ngay khi vừa đến Ðài Bắc, “Cơ quan Ðại diện Mỹ” tại đây lập tức thu hồi lại tất cả, duy chỉ có mỗi Trung tá Chiêu, không hiểu sao ông vẫn còn giữ được tờ giấy này.
Chúng tôi lần lượt ra xe và yêu cầu họ mở cốp sau. Tôi bỏ cái samsonite vào, (Lúc ông Polgar đang viết, tôi đã bỏ cây K54 vào samsonite ) hai khẩu súng nhỏ va chạm vào nhau khua lộp cộp. Trong sách của Frank Snepp có nhắc tới chuyện này. Ông có nghe tiếng kim loại khua khi chúng tôi xếp sắc tay vào cốp xe, và có thể nghĩ đó là tiếng va chạm của vàng bạc, châu báu!
Liền sau đó Tổng thống Thiệu, Ðại tướng Khiêm, Polgar, Timmes cùng ra xe. Ðại tướng Khiêm ngồi xe trước với ông Polgar. Tổng thống Thiệu ngồi xe sau với tướng Timmes; ông ngồi giữa tướng Timmes và Ðại tá Ðức, Trung tá Chiêu ngồi ghế trước với tài xế là ông Frank Snepp. Chúng tôi chia nhau vào hai xe còn lại.
Thời gian từ lúc ông Thiệu đến nhà Ðại tướng Khiêm đến khi bắt đầu ra xe kéo dài độ 10 phút!
Ðoàn xe bắt đầu chạy hướng về cổng chánh Bộ Tổng Tham mưu, vừa ra khỏi cổng thì quẹo phải, đi thẳng vào cổng phi trường Tân Sơn Nhứt.

Trưởng sở tình báo CIA tại Sài gòn, thời chiến tranh Việt Nam, Thomas Polgar.


Tôi giật mình khi nhận ra cả khu vực phi trường tối om. Dường như hệ thống điện hoàn toàn bị cắt. Nhìn vào cổng VIP – khu vực dành riêng cho các viên chức cao cấp – giờ nầy vắng tanh giống như cổng vào bãi tha ma. Ðoàn xe chạy vòng qua khu dành riêng cho hảng Air America của cơ quan tình báo Mỹ. Khi sắp tới đường băng, tất cả xe đều tắt đèn, di chuyển trong bóng đêm. Sau đó bóng một chiếc máy bay lù lù hiện ra dưới chân trời nhờ đèn trong buồng máy cháy sang, một loại máy bay giống như DC6. Khi tới gần chiếc máy bay, đoàn xe bất thần thắng gấp vì thấy có bóng người. Xe thứ hai ủi tới suýt đụng vào xe đi trước vì trời tối. Hai xe sau tạt qua hai bên hông xe Tổng thống Thiệu. Chiếc xe tôi ngồi vừa thắng gấp vừa bẻ tay lái kêu nghe ken két. Một cuộc biểu diễn ngoạn mục. Dù đó là do sắp xếp hay chỉ là một “tai nạn” nhưng dưới con mắt an ninh họ là những thành phần phải được liệt vào hàng các tay bảo vệ yếu nhân chuyên nghiệp. Xe Tổng thống Thiệu bị bao vây bởi ba chiếc xe Chevrolet to lớn. Xa xa trong bóng đêm, xung quanh chúng tôi xuất hiện có nhiều người Mỹ vạm vỡ, vận thường phục, súng M16 dựng đứng bên hông, trong thế tác chiến… Chúng tôi tông cửa xe, bước xuống mau. Tổng thống Thiệu đi trước, Ðại tướng Khiêm theo sau, rồi Polgar, Timmes. Chúng tôi nối đuôi theo sau. Hình ảnh ông Ðại sứ Graham Martin – một quan Khâm sai của Ðại Vương quốc Hoa Kỳ – hiện ra tại chân cầu thang máy bay như một vị thần hộ mạng, giống với hình ảnh ông thần miễu Ông Tà ở Ô-Môn quê tôi mà hồi nhỏ tôi đã tưởng tượng ra: đôi mắt xanh, tóc bạc trắng, hai tay dài lòng thòng… ai cũng phải sợ. Tổng thống Thiệu bắt tay ông Ðại sứ. Hai bên trao đổi mấy lời. Tất cả leo lên mau. Tổng thống Thiệu, Ðại tướng Khiêm, tướng Timmes vào buồng danh dự. Tại đây có bốn ghế bành bọc vải trắng. (Sau nầy mới biết đó là máy bay riêng của đại sứ Martin) Ðại sứ Martin vào tận buồng máy nói vài lời tiễn biệt rồi vội vã rời máy bay. Chúng tôi mạnh ai nấy tìm chỗ ngồi ở các hàng ghế phía sau. Vào thời điểm nâỳ, Trung tá Nguyễn văn Phú Hiệp là phi công chiếc máy bay Air Việt Nam 727 có lịnh ứng trực, chuẩn bị sẵn sàng, chỉ dành riêng cho Tổng thống Thiệu sử dụng. Trung tá Hiệp trước kia là Trưởng phi hành đoàn trực thăng Phủ Tổng thống. Anh Hiệp, giờ chót không đi được, sau nầy chết trong trại tù Cộng sản. Cũng vào thời gian nói trên, một vài đơn vị trưởng các đơn vi phòng thủ Thủ Ðô, và các đơn vị đóng quân gần khu vực phi trường Tân Sơn Nhứt được nghe dư luận đồn đải là có người rỉ tai: ” ông Thiệu sẽ dùng Air Việt Nam để ra khỏi nước. . .”

Tướng Charles Timmes.

Khi tất cả chúng tôi ngồi vào chỗ rồi thì Tổng thống Thiệu từ phía trước bước ra sau chỗ chúng tôi. Ông đứng giữa hai hàng ghế với khuôn mặt không còn giống như hồi ở nhà Ðại tướng nữa. Nét nghiêm nghị như giận dữ hiện rõ trên khuôn mặt như tôi đã từng chứng kiến nhiều lần trước kia. Các sĩ quan làm việc quanh ông đôi khi phải đón nhận những phản ứng dữ dội từ ông, thay cho các đối tượng mà ông vì cần phải giữ hòa khí ở một mức độ có thể coi được, ông thường “giận cá chém thớt” và hay “phang nhầm” chúng tôi. Với cái nhìn sáng quắc, mặt đỏ gay, Tổng thống Thiệu gằn từng tiếng: “Nè, các chú nhớ là không được nói gì hết. Có ai hay báo chí hỏi thì trả lời là không biết gì hết! Nghe chưa! ” Nói xong ông liền trở về phía trước.

Ðoạn đường từ Bộ Tổng Tham mưu đến đây không xa, chỉ là một khoảng đường rất ngắn nhưng với tôi nó thật dài. Cho tới bây giờ, khi ngồi ghi lại những dòng nầy tôi vẫn còn cảm thấy mọi việc như vừa mới xảy ra!


 

Ðúng 9 giờ 15 phút, giờ Sài-gòn.


Buồng máy máy bay tắt đèn. Phi cơ từ từ lăn bánh ra phi đao, đem theo hai vị lãnh tụ quốc gia, một tướng lãnh Mỹ và 9 “quan” tùy tùng, hộ vệ! Chiếc phi cơ lượn một vòng trên bầu trời “đen tối” của không phận Sài-Gòn, rồi hướng về biển Ðông…
Tôi bật người ra thành ghế, hít một hơi thở thật dài, nhắm mắt lại; hai dòng lệ từ từ lăn xuống má…
Xin giã biệt quê hương… tạm biệt mọi người thân…
Bí mật của gói quà!
Tôi ôm cái món quà của Ðại tướng trong suốt chuyến bay. Suy nghĩ vẩn vơ. Ði đâu làm gì ở xứ người. Một quân nhân Mỹ, đoàn viên phi hành ngồi gần cửa cầu thang, luôn luôn bận rộn nhiệm vụ liên lạc. Thỉnh thoảng anh liếc tôi. Anh không cười cũng không nói gì. Có lẽ anh thông cảm hoàn cảnh của những kẻ sắp xa nhà. Thỉnh thoảng tôi nhìn ra cửa sổ. Cũng chỉ là một màu đen.
Chúng tôi không ai nói chuyện với ai. Mỗi người theo đuổi những ý nghĩ riêng tư của mình…

Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin trình ủy nhiệm thư lên Tổng thống Nguyễn văn Thiệu ngày 20 tháng 7 năm 1973.

* * * * Chiếc máy bay bắt đầu giảm độ cao, đảo một vòng rồi từ từ hạ cánh. Ðường bay nằm dài trước mặt là phi trường Ðài Bắc. Chiếc C118 bốn động cơ của Không lực Hoa Kỳ đáp xuống nhẹ nhàng rồi từ từ dừng hẳn. Tôi nhìn đồng hồ. Ðúng 3 giờ 40 sáng. Anh Hạ sĩ quan mở cửa cầu thang. Gió ùa vào nghe lành lạnh. Mọi người lần lượt xuống máy bay. Tại chân cầu thang, dưới ánh điện lờ mờ, tôi nhận ra bà Nguyễn Văn Kiểu, phu nhân ông Ðại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Ðài Bắc; một vị Trung tá, Tùy Viên Quân Sự tại tòa đại sứ Việt Nam; một nhân viên cao cấp của Bộ Ngoại giao Trung Hoa Dân quốc – ông này nói tiếng Việt rất giỏi; một hai người nữa tôi không biết tên; và một nhân vật không kém phần quan trọng, đó là Trưởng Chi nhánh tình báo Hoa Kỳ tại Ðài Bắc, tôi không biết tên. Gió ở Ðài Bắc lạnh hơn Sài-Gòn. Lại có những cảm giác là lạ lướt qua mau, khác hơn nhũng cảm giác ở quê nhà. Lòng bồn chồn khó tả. Có một điều đặc biệt là không có mặt sĩ quan Di trú vào lúc này tại phi trường vì đây là một trường hợp ngoại lệ . . .

Ðể cho mọi việc có danh chánh ngôn thuận, và vào giờ chót muốn dành cho cựu Tổng thống Thiệu và Ðại tướng Khiêm một danh dự của chuyến đi, Tổng thống Trần Văn Hương ký Quyết định đề cử cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hướng dẫn một phái đoàn đi Ðài Bắc. Bản văn có nội dung như sau: ( bản văn này Ðại tá Cầm viết tay )Tổng thống Trần Văn Hương ký Quyết định đề cử cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hướng dẫn một phái đoàn đi Ðài Bắc

Tổng thống Trần Văn Hương ký Quyết định đề cử cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu hướng dẫn một phái đoàn đi Ðài Bắc

Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Trần Văn Hương
Quyết định
1 – Nay đề cử cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và cựu Thủ tướng Trần Thiện Khiêm đại diện Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa đến Ðài Bắc để phân ưu cùng Chánh phủ và Nhân dân Trung Hoa dân quốc nhân dịp Tổng thống Tưởng Giới Thạch tạ thế.
2 – Sau đó hai vị trên được đề cử tiếp tục viếng thăm các quốc gia trên thế giới xét cần thiết trong vòng 6 tháng để làm sáng tỏ thiện chí hòa bình của Việt Nam Cộng Hòa đồng thời vận động các Chánh phủ và nhân dân các quốc gia đó hỗ trợ lập trường hòa bình của Chánh phủ và nhân dân ta.
Chương trình thăm viếng sẽ do hai vị tùy nghi quyết định thể theo sự thuận lợi của tình hình đối với các quốc gia đó.
3 – Yêu cầu Bộ Ngoại giao chỉ thị các Tòa Ðại sứ Việt Nam Cộng Hòa yểm trợ cần thiết để nguyên Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và nguyên Thủ tướng Trần Thiện Khiêm cùng phái đoàn chu toàn nhiệm vụ giao phó.
4 – Chi phí công tác do Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng đài thọ trong khuôn khổ được luật lệ ấn định. (Tổng thống Hương viết thêm hàng chữ: trong khuôn khổ được luật lệ ấn định).
Sài-gòn, ngày 25 tháng 04, 1975
(ký tên Hương)


Khi ký tên trên văn bản này Tổng thống Trần văn Hương, một lần nữa cho thấy sự cẩn trọng và nghiêm túc trong công việc, tác phong của một nhà lãnh đạo xuất thân từ giới mô phạm. Cụ Hương là một nhân sĩ, là một nhà chánh trị được đại đa số nhân dân miền Nam ngưỡng mộ. Cụ cũng là một nhà hành chánh nổi tiếng công bằng liêm khiết. Trần Văn Hương, một tên tuổi được đánh giá là một trong vài nhân sĩ cuối cùng của miền Nam Việt Nam, đã quyết định ở lại sau 30 tháng Tư 1975 và kết thúc cuộc đời trên quê hương của mình…
Vào thời kỳ bầu cử Tổng thống năm 1967, lúc đó từ Ðại đội Trinh sát / Sư đoàn 5 Bộ binh, tôi được điều động khẩn cấp về Sài Gòn để bảo vệ an ninh cho Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia; khi đi bỏ phiếu tôi chọn Liên danh Trần Văn Hương – Mai Thọ Truyền thay vì Liên danh Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ. Tôi là một quân nhân trẻ mang nhiều lý tưởng cũng như nhiều bạn trẻ khác. Các anh em ấy hầu hết đã tốt nghiệp đại học ở trong nước cũng như từ ngoại quốc trở về, đang phục vụ trong mọi ngành, mọi giới; họ làm việc bên hành chánh cũng như đang phục vụ trong quân đội. Chúng tôi thường gặp gở, trao đổi ý kiến và cùng đi đền một nhận định chung là quần chúng Nam Việt Nam, lúc bấy giờ, chưa sẵn sàng đón nhận một Tổng thống và một Phó Tổng thống xuất thân từ quân đội.
Tổng thống Thiệu và đoàn tùy tùng của ông về nhà Ðại sứ Nguyễn Văn Kiểu. Ðại tướng Khiêm và chúng tôi về nhà Ðại tướng Khiêm.
Sau khi gõ cửa vài phút thì có người ra mở cửa. Tôi nhìn vào thấy bà Ðinh Thủy Nga, bà Trần Bạch Yến. . . đứng khép nép bên trong, vừa mừng vừa lo. Ðại tướng bước vào trước. Chúng tôi lần lượt vào sau. Nghe có tiếng người nói chuyện lào xào, bà Trần Thiện Khiêm thức giấc. Bà bước ra khỏi phòng trong bộ áo ngủ, đứng tựa lan can nhìn xuống. Yên lặng trong vài giây rồi bà từ từ quỵ xuống sàn nhà. Bà cố gắng lần xuống tới giữa cầu thang, khi nhận ra Ðại tướng, bà kêu lên, ” Anh đó hả? ” rồi òa lên khóc…


·* * * * Những ngày ở Ðài Bắc Tại một villa nhỏ 3 phòng ngủ có lầu ở ngoại ô thành phố Ðài Bắc, Ðại tướng Khiêm và chúng tôi không có việc gì làm, buồn và nhớ nhà nên thường hay bắt đài phát thanh Sài-gòn để theo dõi tin tức. Các sự kiện đáng chú ý nghe được qua làn sóng đài phát thanh được tôi ghi chép như sau:

Ngày 27 tháng 4 – 20 giờ Tổng thống Trần Văn Hương yêu cầu quốc hội chọn người thay thế ông để thương thuyết với Cộng sản – 20 giờ 45 Quốc hội họp. – 2 giờ 25 Quốc hội biểu quyết chọn Ðại tướng Dương Văn Minh làm Tổng thống thế Tổng thống Trần Văn Hương.

Ngày 28 tháng 4 – 17 00 giờ Lễ bàn giao chức vụ Tổng thống giữa cụ Hương và Ðại tướng Dương Văn Minh được cử hành tại dinh Ðộc Lập Cụ Hương trao quyền Tổng thống lại cho Ðại tướng Minh lúc 17 giờ 15. Tân Tổng thống Dương Văn Minh chọn cụ Huyền làm Phó Tổng thống, ông Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng… trong bài diễn văn cụ Hương nhấn mạnh “hãy quên oán thù, đừng tạo thêm oán thù”…

Ngày 29 tháng 4 . . .sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm được thả. Lý Quí Chung được đề cử Tổng trưởng Thông tin. Cộng sản phá cảng Newport, đốt kho dầu gần xa lộ, chiếm vài xã ở Gò Vấp…

Ngày 30 tháng 4… Lúc 11giờ 15, Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố trao quyền lại cho Chánh phủ “Cách Mạng Lâm Thời miền Nam Việt Nam”. Có tin VC đã cắm cờ trên thượng đài dinh Ðộc Lâp lúc 13 giờ. (giờ Sài-gòn…)
Các tin trên được tôi ghi nhận qua chiếc máy thâu thanh hiệu Zenith 4 băng, có băng tần làn sóng ngắn, và nghe rất rõ tiếng nói của đài phát thanh Sài-gòn.
Cái radio đó chính là món quà gói trong giấy màu hồng điều thật đẹp mà tôi trân trọng cất giữ từ khi Ðại tướng Khiêm trao cho tôi ở Sài-Gòn như đã nói ở trên.

·* * * *
Một thời gian sau đó, bà Anna Chennault tuân hành lịnh của Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford từ Hoa Thịnh Ðốn qua Ðài Bắc, Ðài Loan để gặp Tổng Thống Thiệu và Ðại tướng Khiêm.
Bà Anna Chennault là vợ của vị tướng anh hùng thời Ðệ II Thế chiến, Trung tướng Claire Lee Chennault Tư lệnh Không đoàn 14 của Không Lực Hoa Kỳ hoạt đông ở Trung Hoa lục địa. Bà Anna Chennault sau nầy là một nhân vật quan trọng trong Bộ Tham mưu tranh cử của ông Richard Nixon; bà là người trung gian trong sự liên hệ mật thiết giữa ông Nixon và Tổng thống Thiệu trong thời gian đó. Nhiệm vụ trong chuyến đi nầy của bà là chuyển lời Tổng thống Hoa Kỳ yêu cầu Tổng thống Thiệu và Ðại tướng Khiêm đừng vào nước Mỹ.
Như trước đã nói, Thủ tướng Lý Quang Diệu thông báo là giới chức Mỹ muốn ông Thiệu sống lưu vong ở các nước Ðông Nam Á. Tổng thống Thiệu đã ở Ðài Bắc trong một thời gian khá lâu là đúng với những gì chánh quyền Mỹ muốn. Gợi ý của Tổng thống Trần Văn Hương với Ðại tướng Khiêm trước kia chắc có lẽ cũng do ý của tòa Ðại sứ Mỹ ở Sài-gòn. Nhưng theo những gì bà Chennault biết trước đó thì Hoa Thịnh Ðốn đã chấp thuận và có kế hoạch đưa Tổng thống Thiệu vào Mỹ. Ðiều này làm cho bà Chennault rất bất mãn khi được lịnh qua gặp ông Thiệu trong một tình huống thật khó xử vì chánh sách “nước đôi” của Hoa Kỳ; hơn nữa bà là bạn thân được Tổng thống Thiệu tin cậy trong mối liên hệ mật thiết giữa Tổng Thống Thiệu và Tổng Thống Richard Nixon, mà huyền thoại- hay là sự thật – về bà đối với việc đắc cử của Tổng Thống Richard Nixon năm 1968 còn đang được nhiều người đề cập tới.
Trước hết bà Anna Chennault qua nhà thăm Ðại tướng và bà Trần Thiện Khiêm. Tôi nhận thấy bà không có gì thay đổi sau nhiều năm vắng mặt ở Sài-Gòn; bà vẫn giữ được vẻ đẹp quí phái như xưa trong chiếc áo dài sườn xám đậm màu với dáng người đài các của một nhà ngoại giao lỗi lạc đã một thời gây nên nhiều tranh cãi trong chánh giới Hoa Kỳ.
Khi rời nhà Ðại tướng Khiêm bà đi thẳng qua nhà Ðại sứ Kiểu thăm Tổng thống Thiệu. Bà Chennault kể trong cuốn hồi ký, The Education of Anna, như sau:
“Khi đến căn nhà nhỏ của Ðại sứ Nguyễn Văn Kiểu tại Ðài Bắc, tôi đi vào cửa hông. Ông Kiểu tiếp tôi tại sân cỏ. Ông nói ít lời rồi nắm tay tôi dìu vào phòng khách. Ông Thiệu đã ngồi sẵn tại đó, xoay lưng về phía tôi. Thật hết sức là bất ngờ và ngạc nhiên về những gì xảy ra cho ông Thiệu…
” Tôi đã từng gặp gỡ ông vào các ngày cuối tuần ở Bạch Dinh là tòa nhà trắng đồ sộ của Hoàng đế Bảo Ðại trước kia dùng để nghỉ mát ở bãi biển xinh đẹp Vũng Tàu. Ông Thiệu cũng đã tiếp tôi tại dinh Ðộc Lập ở Sài-gòn, nơi mà trong một phòng khách vàng rộng lớn bên đại sãnh đường, ngay trước phòng làm việc của ông, có cặp ngà voi đứng chầu, đây là cặp ngà voi được xếp vào hàng lớn nhứt thế giới…
” Một cảm giác đau buồn tràn ngập lòng tôi khi tôi bước tới vài bước để chào ông. Ông đứng lên và xoay lại nhìn tôi. Chúng tôi bắt tay và ôm chặt trong một giây yên lặng. Rồi cuối cùng nhìn lên mặt ông, tôi thấy nước mắt ông dâng trào.”

California, mùa Thu 2008
Nguyễn Tấn Phận


Sinh quán tại Cần Thơ, trú quán tại Tây Ninh. – Cựu thiếu tá QLVNCH, Khóa 13 sĩ quan Trừ Bị Thủ Ðức.
-Ðại đội trinh sát Sư Ðoàn 5 Bộ Binh.
-Sĩ quan cận vê/ Sĩ quan tùy viên Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa – Quận trưởng kiêm Chi khu trưởng Chi khu Hiếu Thiện ( Gò Dầu Hạ) – Ðầu tháng 4-1975 được thuyên chuyển về phụ trách an ninh cho Ðại Tưóng Trần Thiện Khiêm. – Tháp tùng phái đoàn cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu và cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm rời khỏi Việt Nam vào buổi tối ngày 25-4-1975. – Hiện cư ngụ tại tiểu bang California

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Ong Vò Vẽ


Ba Cội là ai vậy? – Cao Bá Tuấn

Bài đọc suy gẫm: Ba Cội là ai vậy? tức bài viết kể lại cuộc nói chuyện với một Trung đội trưởng – Nghĩa quân VNCH. Tác giả Cao Bá Tuấn. Hình ảnh có tính cách minh họa.

Lời giới thiệu:

, , , , , , , , , ,

Mời đọc những lời lẻ chơn chất, thẳng ruột ngựa của một người lính VNCH năm xưa; chứ không màu mè, xảo trá của mấy thằng học giả (chứ không phải học thiệt !!!)

Nói chuyện với một cựu Trung đội Trưởng Nghĩa Quân

– Rất vui được nói chuyện với chú. Chú có thể cho biết tên tuổi, cấp bậc, đơn vị…

– À, tôi tên Nguyễn Văn Ba, Trung Đội trưởng Nghĩa Quân, sáu mươi sáu tuổi.

– Ngày 30/4/75 chú còn ở trong quân đội?

– Tới ngày 6/5/75…

– Nghĩa là chú vẫn cầm súng sau 30/4/75?

– Tụi tôi vẫn chiến đấu mặc dù đã biết có lệnh đầu hàng.

– Chú nghĩ gì về cuộc chiến tranh Việt Nam?

– Rất đơn giản: bên mình Cộng Hòa phải tự vệ vì bị bên kia là Việt cộng tấn công. Hễ buông súng là chết….

– Chú có thể giải thích rõ hơn một chút.

– Tụi nó đánh mình, phá hoại nhà cửa đất nước mình, bổn phận mình là phải chống trả để tự vệ. Cũng giống như bị cướp vào nhà, mình không muốn vợ con bị hại thì mình phải chống lại.

– Nhiều người cho rằng chiến tranh Việt Nam là chiến tranh ý thức hệ, chú nghĩ sao?

– Ý thức hệ cái con mẹ gì. Lính Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu để tự vệ, chiến tranh ý thức hệ là sản phẩm của mấy cha mấy mẹ trí thức chồn lùi, sa lông. Mấy cha mấy mẹ muốn chứng tỏ mình “học giỏi, thông minh hơn người khác” nên chế ra vụ ý thức hệ để hù con nít…

– Vậy đánh nhau giữa Bắc Việt và Nam Việt không phải do ý thức hệ?

– Để tôi cho em một thí dụ dễ hiểu: nếu Cộng sản miền Bắc (CSMB) không xúi dục đám “Giải phóng miền Nam” (GPMN) và không đưa lính vào phá miền Nam liệu chiến tranh có xảy ra hay không? Nếu tụi nó cứ ở yên ngoài đó mà xây dựng “chủ nghĩa Cộng Sản,” dân miền Nam có đi lính không? Trả lời được câu này em sẽ thấy chẳng ý thức hệ con mẹ gì hết!

– Có người lại cho rằng chiến tranh Việt Nam là nội chiến, chú đồng ý không?

– Theo suy nghĩ của tôi nội chiến là người cùng một nước đánh nhau vì tranh dành hay bất đồng gì đó. “Việt Nam Cộng Hòa” và “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” là hai nước độc lập không phải anh em trong nhà.

– Nói về anh em trong nhà lại có người cho rằng miền Nam và miền Bắc đánh nhau theo kiểu huynh đệ tương tàn. Chú nhận xét thế nào?

– Đó là ý nghĩ của đám trốn lính. Tụi nó là thứ hèn nhát sợ chết nên phải chế ra vụ “huynh đệ tương tàn” để từ chối đi lính. Tụi nó nại cớ “không muốn bắn vào anh em.”

– Một người viết cho rằng Việt Nam Cộng Hòa điên cuồng chống Cộng. Tác giả này còn đưa ra hình ảnh của hai nhân vật mà tác giả gọi là đại diện của hai quân đội. Một anh tên Lưu Quang Vũ lính miền Bắc, và Nguyễn Bắc Sơn của VNCH. Tôi xin phép đọc thơ của cả hai cho chú nghe (đọc thơ)…

– ĐM thằng nào viết ngu vậy?

– Chú có vẻ tức giận… xin cho biết lý do…

– Việt Nam Cộng Hòa mà điên cuồng chống Cộng thì đâu có chính sách Chiêu hồi, đâu có bắt tù binh cả trăm ngàn nuôi ăn cho mập rồi trao trả? Thằng cha này chắc chưa bao giờ cầm súng! Cũng chưa bao giờ biết rõ về Việt cộng. Chú em về biểu chả đọc bài của Trần Đức Thạch, cựu lính trinh sát Việt cộng về vụ thảm sát ở miền Đông. Hèn gì VNCH mất sớm chỉ vì còn có nhiều người quá khờ khạo và ngu xuẩn. Cha tác giả này chắc không biết vụ tết Mậu Thân, Đại Lộ Kinh Hoàng… Tui nói cho chú biết Việt cộng được “chính huấn” là đằng trước mũi súng của tụi nó kể cả con gà con chó đều là kẻ thù. Cho nên chúng giết dân vô tội không gớm tay. Được bao nhiêu người trong lính Việt cộng giống như ông Lưu Quang Vũ nào đó? Còn cha Nguyễn Bắc Sơn làm thơ để giải sầu chứ đâu có Sĩ quan nào đem bi đông rượu đi hành quân. Lính khát nước cần nước chứ đâu cần rượu, hơn nữa giữa trận tiền mà say rượu thì chỉ huy sao được? Mạng sống của lính nằm trong tay mình, đâu có giỡn được?’

 Một cuộc săn lùng địch, hình dưới “Bảo quốc – An dân”.

– Xin phép hỏi chú câu khác: chú có thể kể lại diễn biến những ngày cuối cùng tại sao chú vẫn còn cầm súng cho tới sau 30/4?

– Tôi là Trung đội Trưởng Nghĩa Quân. Nhiệm vụ của tôi là đóng đồn ở địa phương… Có mười tám anh em dưới quyền tôi. Ngày tan hàng tôi biết tụi du kích sẽ không tha mạng nếu bị bắt sống, do đó tôi ra lệnh anh em giải tán về nhà. Còn tôi thì xách cây M16 vô rừng. Tôi tính thí mạng cùi, nếu bị phát giác trước sau gì cũng chết vậy nên chọn cái chết cho đáng. Trong số mười tám anh em có sáu thằng tình nguyện theo tôi…

– Rồi sau đó thì sao?

– Khi thấy êm êm tôi nói tụi nhỏ giải tán, trốn đi xứ khác đừng trở về nhà…

– Vậy là chú không trở về nhà? Chú có ân oán gì với du kích địa phương không?

– Thì chiến tranh mà, tránh sao được…

– Vậy có lần nào chú bắn tù binh khi bắt sống không?

– Để tôi kể cho em nghe vụ này: Một lần lính đi phục tóm được du kích dẫn về trình diện tôi. Thằng du kích cỡ khoảng mười bốn mươi lăm tuổi, nhìn đã thấy ngờ ngợ. Tới chừng hỏi ra mới biết là con trai của thằng Ba Cội…

– Ba Cội là ai vậy?

– Bạn cùng quê, lớn lên nó theo Việt cộng… Nó là Đội Trưởng du kích, tụi tôi thỉnh thoảng cũng chạm nhau.

– Rồi chú xử con Ba Cội ra sao?

– Xử gì, con nít mà…. tôi đá đít, bạt tai nó mấy cái rồi đuổi về. Tôi biểu nó: Nói với tía mày có ngu thì ngu một mình đừng xúi dại con mình đi theo… Vụ này Ban Hai Chi Khu làm hồ sơ chuyển tôi lên Quận. Cũng may ông Quận biết tánh khí tôi nên vỗ vai cười rồi cho tôi về. Ổng biếu tôi chai rượu nói: Tôi biết anh mà anh Ba….

– Sau này chú gặp lại Ba Cội không?

– Không, Ba Cội chết rồi. Bị Thám Sát Tỉnh dứt…

– Còn con Ba Cội?

– Nghe nói nó qua Công An bây giờ làm lớn lắm. Thời gian tôi trốn, nó có ghé nhà vợ tôi hỏi thăm. Có cho mấy chục kí gạo. Nghe nói nó có cám ơn tôi ….

– Rồi chú ra trình diện hay bị bắt?

– Bị bắt. Trốn hoài mệt quá, cũng mấy năm sau nhớ vợ con mò về thăm…

– Chú bị bao lâu?

– Sáu năm tám tháng mười bốn ngày!

– Vậy sao chú không xin đi HO?

– HO gì tôi, mình đâu phải sĩ quan, mà chữ Anh chữ U mình đâu có biết gì…

– Sau khi trở về nhà chú có bị khó dễ gì không?

– Nói thiệt chú nghe, Việt cộng nó ghét lính Tổng Trừ Bị (ND, TQLC, BDQ…) một, nó ghét tụi tôi mười. Lính đánh giặc xong rồi rút còn tụi tôi, đây là tài sản vợ con xóm giềng, địa phương mình nên tụi tôi sống chết cũng cố thủ, tụi nó đánh hoài mà không chiếm được. Nó đì tôi sói trán, nhưng mình thua rồi thì cứ làm câm làm điếc mà sống.

– Chú có cơ hội nào gặp lại mấy anh em dưới quyền?

– Có, hai thằng em giờ nghèo lắm, còn ba thằng đi vượt biên. Tội nghiệp, huynh đệ chi binh thỉnh thoảng hùn tiền gởi về cho mấy đứa nghèo.

– Họ có giúp chú không?

– Có, mà tôi không nhận. Vợ con buôn bán cũng sống được, để dành cho mấy đứa em khổ hơn mình.

– Xin phép chú được hỏi một câu về chính trị: Có vài người đang hô hào hòa hợp hòa giải với Việt cộng chú nghĩ sao?

– Tôi cảm ơn chú em đã tôn trọng mà hỏi tôi, cỡ Trung Đội trưởng Nghĩa Quân học hành bao nhiêu. Nhưng như tôi đã nói hòa hợp hòa giải là anh em trong nhà có chuyện xích mích mới ngồi xuống mà nói chuyện. Còn đàng nầy nước mình là “Việt Nam Cộng Hòa” bị nước khác là “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” đánh chiếm thì làm sao mà có chuyện đó. Tôi hỏi chú em: Tàu lục địa đánh chiếm Tây Tạng, Duy Ngô Nhĩ… liệu dân mấy nước đó có chịu hòa hợp hòa giải với Tàu không?

– Bây giờ nói chơi cho vui một chút, chú biết Nguyễn Tấn Dũng chớ?

– Biết…

– Thí dụ nếu ngày xưa chú đi kích bắt được Nguyễn Tấn Dũng thì chú làm sao, cha này nghe nói trước đây cũng là du kích mà.

– Nguyễn Tấn Dũng cũng cỡ tuổi tôi. Hồi đó có bắt được chắc cũng bớp tai đá đít vài cái rồi gởi về cho Ban Hai.

– Nếu chú biết trước Nguyễn Tấn Dũng sẽ là Thù Tướng sau nầy chú tính sao?

– Làm sao biết được? Nhưng như chú em nói nếu có thiên lý nhãn thấy được vị lai tôi sẽ tính cách khác!

– Cách nào chú có thể cho biết…

– Bị mật quân sự mà chú em, làm sao cho biết được… thì cũng cỡ như người nhái Mỹ với Osama Bin Laden vậy thôi (cười….) – Vậy chớ bây giờ hỏi vui chú em điều này: đố chú em biết đám mới về hưu kỳ rồi (NTD, TTS, NSH…) đang làm gì? Bí hả? Tụi nó đang viết kiến nghị! Thằng Cộng sản nào về hưu cũng giỏi viết kiến nghị hết. (cười…)

– Cụng ly cái chú Ba…  Tôi thấy chú lớn tuổi rồi và cũng đã cống hiến phần vụ của mình cho Tổ Quốc. Giả sử bây giờ nếu đất nước Việt Nam Cộng Hòa cần, chú dám cầm súng trở lại không?

– Già rồi, giờ chỉ nghỉ ngơi vui với con cháu. Nhưng nếu phải chiến đấu để lấy lại đất nước Việt Nam Cộng Hòa từ bất cứ ai chết tôi cũng chịu chú à. Cầm súng không nỗi thì cầm dao, bất cứ cái gì…

– Chiến tranh qua rồi giờ nghĩ lại chú có thấy căm thù lính bên kia không?

– Không, lính chỉ biết theo lệnh. Căm thù là căm thù đám lãnh đạo. Đám này đã lừa gạt lính của nó vào trong nầy chết cả triệu. Cả triệu gia đình ngoài kia mất người thân đến nỗi không có cái xác mà chôn. Hồi đó thiếu gì dịp bắn chết tù binh rồi quẳng xuống sông phi tang mà mình làm không được, ngoài chiến trường bắn nhau thì OK nhưng bắt tù binh rồi tôi chuyển qua cho Ban Hai thẩm vấn coi như mình xong nhiệm vụ… Cũng là con người với nhau cũng có gia đình, cha mẹ, vợ con sung sướng gì bắn người đã ngã ngựa?

– Theo chú những người Cộng sản có nghĩ như vậy không?

– Tôi đã nói rồi, tụi nó được chính huấn coi mỗi thứ trước đầu súng là kẻ thù cần phải giết hết. Thương binh của nó nó còn giết phi tang huống hồ gì lính mình. Bởi vậy mình thua nó vì phía bên mình còn nhân đạo quá!

– Dạo này có nhiều cuộc biểu tình về môi trường mà lượng người tham gia không đông. Có vẻ như dân Saigon rất thờ ơ cho chính tương lai của đất nước và của gia đình họ. Chú có ý nghĩ gì không?

– Giỡn hoài chú em mày! Để tôi nói cho chú em mày rõ: dân Saigon thứ thiệt thì hoặc là ở nước ngoài hoặc là chết tù chết biển hết. Còn dân “Saigon” bây giờ đa số toàn tụi Ba Ke 75 (?)  Tụi nầy thừa hưởng biết bao quyền lợi từ “bác” và “đảng” đâu có ngu gì chống! Cỡ phân nữa Saigon bây giờ là dân nguyên thủy Việt Nam Cộng Hòa thì Việt cộng hết nước sống!

– Chắc chú biết chuyến thăm của Obama. Ổng còn ghé ăn bún chả rồi thăm chùa Tàu gì đó ở Saigon…

– Biết chớ, có điều Tổng Thống của chú em đi lộn chỗ! Đáng lẽ ổng phải ghé mấy cái quán “phở chửi” “cháo mắng” để biết “văn hóa của Xã Hội Chủ Nghĩa.” Thay vì viếng chùa Tàu ổng nên đi thăm Nguyễn Trường Tô và Sầm Đức Xương (mấy thằng cô hồn các đãng môi giới và mua trinh nữ sinh) để học thêm về “đỉnh cao trí tuệ của loài người…”

– Chú Ba vui quá! cảm ơn chú về cuộc nói chuyện này. Chú có muốn nhắn gì với anh em không?

– Ai?

– Những người lính cùng chung chiến tuyến ngày xưa.

– À, vậy thì tôi xin có chút lời: Thưa anh em tôi Nguyễn Văn Ba, Trung Đội trưởng Nghĩa Quân xin có lời chào hỏi anh em mình: Tôi chỉ muốn nói là tôi hãnh diện từng chiến đấu dưới cờ của Việt Nam Cộng Hòa như anh em. Tuổi trai trẻ của tụi mình đã không phí phạm. Tôi cũng có nhiều dịp gặp anh em thương binh thỉnh thoảng ngồi uống cà phê, hút điếu thuốc. Anh em coi vậy chớ hãnh diện lắm vì đã cống hiến phần thân thể mình cho đất nước. Khổ thì có khổ, nhưng tới ngày chết tụi tôi còn ở trên quê hương không bao giờ mất đi niềm hãnh diện từng là người Lính Việt Nam Cộng Hòa. Đi dân nhớ, ở dân thương.  Phải không các chiến hữu?

Cao Bá Tuấn.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:

Nông Nghiệp Hải Ngoại


Thơ Gởi Ông Hãn – Trần Trọng Kim

  Thủ tướng Trần trọng Kim (1883-1953)

Bài đọc suy gẫm: Thơ Gởi Ông Hãn là thủ bút của Giáo sư Trần Trọng Kim viết tay gởi cho học giả Hoàng Xuân Hãn năm 1947, thời điểm lịch sử của đất nước, trong thư có đoạn nói về Việt Minh. Bài viết của tác giả Nguyễn Đức Toàn, được đăng trong Blog Tễu (Yêu Hán Nôm) của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện. Hình ảnh có tính minh họa.


Ảnh về gia tài văn học cụ Trần Trọng Kim để lại chúng ta khá đồ sộ.

Trần Trọng Kim (1887-1953) là một nhà giáo, một nhà nghiên cứu văn học, sử học có tiếng trong giới trí thức nước ta thời cận đại. Ông đã để lại nhiều công trình nghiên cứu có giá trị, như Nho giáo, Việt Nam sử lược, có đóng góp cho tri thức và nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà. Trong khi tiếp xúc với văn bản Nam quốc địa dư chí, tôi phát hiện ra bức thư này nằm giữa tờ bìa ngoài gấp đôi đã bị phết hồ dán kín lại, do thời gian lâu ngày lớp hồ khô đi, trong lúc kiểm tra văn bản bức thư vô tình rơi ra. Được biết một số sách Hán Nôm có nguồn gốc từ thư viện riêng của gia đình GS. Hoàng Xuân Hãn. Bức thư này có lẽ đã đến tay cụ Hoàng và được cụ Hoàng dấu kín vào tờ bìa của cuốn Nam quốc địa dư chí, mà sau này được hiến tặng lại cho thư viện. Đối chiếu với tập hồi ký Một cơn gió bụi của cụ Trần đã được xuất bản trong những năm 60, chúng tôi nhận định đây chính xác là bút tích và giọng văn của cụ Lệ thần – Trần Trọng Kim, vì những nhân vật trong thư nhắc đến đều là những gương mặt trí thức chính trị đương thời với cụ. Ngày tháng, sự kiện, giọng văn và tư tưởng trong bức thư hoàn toàn phù hợp với ngày tháng, sự kiện, giọng văn, tư tưởng của cụ Trần trong tập hồi ký đã nêu trên.
Chúng tôi xin được giới thiệu nội dung bức thư như một phần di cảo bút tích của một nhà giáo, một học giả uyên bác và đức hạnh, một nhà nghiên cứu Nho giáo tân học cuối cùng, sau hơn nửa thế kỷ nằm im lìm trong một tập sách cũ. Thấy rõ thêm mối quan hệ giữa hai gương mặt trí thức lớn của nước ta trong lịch sử cận đại. Bên cạnh đó, đặt ra vấn đề thận trọng và nghiêm túc trong công tác bảo quản các tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay.
 Ảnh cụ Hoàng xuân Hãn thời trẻ, và bản tin tên cụ Hãn được dùng đặt cho 1 giảng đướng Đại học của nước Pháp


Bức thư gồm 2 tờ viết 2 mặt.
Nội dung như sau :
Sài Gòn, ngày 8 tháng 5, năm 19471 Ông Hãn2 Hôm ông Phan văn Giáo3 đưa cái thư của ông vào cho tôi, tôi không gặp ông ấy. Tôi xem thư của ông, nhất là đoạn viết bằng chữ nôm, tôi biết rõ sự tình và tôi đã phiên dịch ra quốc-ngữ, gửi sang để Ngài4 xem.             Gần đây tôi lại được thư khác của ông, do ông Giáo gửi lại cho tôi, đại khái cũng như thư trước. Cái tình thế nước ta bây giờ, tôi cũng hiểu đại khái như ông, cho nên trước khi tôi về, tôi đã dặn Ngài : Trừ khi có bằng-chứng chắc-chắn, thì ngài chớ nghe ai mà về. Sau khi tôi đã về đây rồi tôi lại viết thư ra nhắc lại lời dặn của tôi. Vậy sự ngài về chắc là không có. Tôi sở dĩ về đây là vì Ngài và tôi ở bên ấy5, hoang-mang chẳng biết rõ gì cả, nhân có ông Cousseau6 do ông D’argenlieu7 sai sang gặp Ngài và tôi, nói Pháp sẵn lòng đổi thái-độ để cầu hoà-bình. Ngài thấy thế bảo tôi về tận nơi xem thái độ người Pháp có thật không, và nhân tiện xem ý tứ người Việt ta thế nào. Nếu làm được việc gì ích lợi cho nước và để cho dân đỡ khổ, thì ta cố làm cho trọn nghĩa-vụ của mình, nếu không thì lương-tâm ta cũng yên, vì đã cố hết sức mà không làm được8. Tôi về đây hôm 6 tháng hai tây9, không gặp ông D’argenlieu, vì ông ấy sắp về Pháp. Ông ấy cho người bảo tôi chờ ông ấy sang sẽ nói chuyện. Tôi có gặp mấy người có chủ nhiệm về việc chính trị, nói chuyện thì tử-tế lắm và đồng ý hết cả. Nhưng xét ra họ nói một đường, làm một nẻo, toàn là những việc mưu-mô lừa dối cả. Lúc đầu tôi có xin cho tôi dược gặp ông, ông Hiền10 và Khiêm11, họ hứa sẽ cho vào ngay, nhưng mãi chẳng thấy ai vào. Tôi biết ý [tr1] cũng không hỏi nữa. Tôi xem việc người Pháp làm, không thấy gì là chân thực. Họ thấy tôi giữ cái thái-độ khảng khái không chịu để họ lợi dụng, họ phao ra rằng tôi nhu-nhược và đa nghi không làm được việc. Họ cho những người Nam thân tín của họ đến nói muốn gặp tôi, tôi từ chối không gặp ai cả. Cũng vì thế tôi không muốn gặp ông Giáo. Tôi có nói với người Pháp rằng : Tôi về đây, là tin ở lời hứa hẹn của ông Cousseau là đại biểu của Thượng xứ Pháp, nay công việc không xong, thì cho tôi trả ra để bảo cho Ngài biết. Họ nói : Việc ấy cố nhiên rồi, nhưng ông hãy thong-thả chờ ít lâu. Họ nói thế, nhưng tôi biết là họ không cho tôi ra với Ngài, và họ lại cho người khác nói chuyện với Ngài12. Dù sao, tôi cũng không ân-hận vì việc tôi về đây. Có về đây mới biêt rõ sự thực. Biết rõ sự thực thì cái bụng tôi yên không áy náy như khi ở ngoài kia. Bây giờ tôi nhất định không làm gì cả. Nếu thời cục yên-ổn thì tôi về ngoài Bắc, néu không tì xoay xở ở tạm trong này, chờ khi khác sẽ liệu. Còn về phương diện người mình, thì tôi thấy không có gì đáng vui. Phe nọ đảng kia lăng-nhăng chẳng đâu vào đâu cả. Ai cũng nói vì lòng ái-quốc, nhưng cái lòng ái-quốc của họ chỉ ở cửa miệng mà thôi, nhưng kỳ thực là vì địa-vị và quyền-lợi, thành ra tranh dành nhau, nghi-kỵ nhau rồi lăng-mã lẫn nhau. Tôi về đây chỉ gặp Thảo13, Hoè14 và Sâm15. Tôi bảo Sâm nên tìm cách đoàn kết nhau thành khối, thì mới có thể đối phó với người ta được. Sâm cũng cho ý kiến ấy là phải. Song một độ thấy bẵng đi, không đến gặp tôi, rồi bất thình-lình xuất hiện ra Mặt trận quốc gia16, mà không cho tôi biết. Mãi mấy hôm nay mới đến nói rằng vì sự đi lại khó khăn, nên không kịp nói cho tôi biết việc ấy. Tôi bảo hắn rằng : Việc ông làm đó, là việc nên làm, nhưng trước hết phải xếp đặt cho chu-đáo, phải có đủ các cơ-quan tuyên truyền và bênh-vực việc làm của mình. Nhất là phải giao-thông với Mặt trận kháng chiến17, họ [tr2] có đồng ý, thì việc ông làm hoạ may mới có hiệu-quả. Nay việc chưa xếp đặt ra gì cả mà ông đã vội-vàng xướng xuất ra như thế, tôi e khó thành được. Hắn nói : Việc đã trót rồi, đã ném lao thì phải theo lao. Tôi thấy tình thế có nhiều nỗi khó khăn quá, mà minh thì thân cô thế cô, không làm gì được, cho nên chỉ giữ cái dịa vị bàng-quan mà thôi, thật là:        身 在 南 蕃 無 所 預 心 懐 百 憂 復 千 慮 (Thân tại Nam phiên vô sở dự,Tâm hoài bách ưu phục thiên lự. = Thân ở cõi Nam không tham dự việc chính trị, Lòng đã ôm trăm mối lo lắng lại thêm nghìn điều ưu lự) Tôi vẫn biết việc chống với Pháp chỉ có V.M. mới làm nổi, nhưng vì chỉ tiếc họ quá thiên về chủ-nghĩa cọng-sản quá. Họ chỉ có một mục-đích là thi hành chủ nghĩa của họ, họ dùng đủ phương diện để đưa người ta vào cái chòng của họ. Sự hành-động của họ ở bên ta cũng như bọn cọng sản đã dùng ở bên Tàu và ở các nước khác, đều theo một lối đúng nhau như hệt. Họ không cần quốc-gia, không cần đạo-đức, nhưng có nhiều người tin ở nghĩa quốc-gia, thì họ lợi dụng cái nghĩa quốc-gia để đạt cái chủ-nghĩa của họ. Lừa dối xảo-quyệt đủ đường, cho nên người ta dễ mắc lừa lắm. Nay V.M. đứng vào cái địa-vị chống Pháp, tất là có cái thanh-thế rất mạnh. Nếu họ biết đổi cái thái-độ hung tàn bạo ngược đi, và tìm cách thu dụng các đảng phái khác, để lập thành một khối, không khuynh hướng hẳn về Cọng sản, thì có cơ thành công được, nhưng bảo con chó sói trở nên con cừu, thì có thể được không? Dù sao, đối với viêc nước mình, V.M phải chịu cái tiếng 功 之 首 罪 之 魁 (Công chi thủ tội chi khôi = Công đứng đầu mà tội cũng đứng đầu). Đó là ý kiến riêng của tôi, còn các ông nghĩ thế nào tôi không biết. Khi tôi ở Hương- cảng, ông Cousseau có cho tôi biết tin ông Oánh18 bị Tây giết, tôi thương ông Oánh quá, có làm bài tuyệt- cú gửi về, nhờ ông đem điếu ông ấy:             Khóc bạn Nguyễn Băng Hồ             Đất khách mơ – màng những thở – than,             Mảng tin bác bị lũ hung tàn.             Ngắn dài giọt lệ lòng thương bạn,             Căm giận quân thù đã tím gan. Ông Oánh sinh thời là một người trung hậu ngay chính, ở đời này thật là ít có. Chẳng may vì duyên nghiệp mà phải cái nạn tai bay vạ gió. Thôi [tr3] thì cũng là một cách ông ấy trả nợ nước. Tôi muôn nhờ ông một tí việc, khi tôi đi, tôi còn một bản đánh máy tập Vũ trụ đại quân19 gửi ông Oánh, nhờ ông thử hỏi nhà ông Oánh xem tập ấy có còn nữa không. Nếu còn, thì ông làm ơn giữ lấy cho tôi, kẻo công trình mất mấy năm trời mà mất đi, thì tiếc quá.

Ảnh Nội các Chính phủ Trần Trọng Kim, 1945.

Nhờ ông nói với Khiêm, nhờ hắn đến qua chỗ nhà tôi ở Nhà Rượu20, xem có ai coi giữ cái nhà đã bị đốt21 đó không. Nếu có người coi, thì nhờ Khiêm thử vào trong nhà xem những sách vở có còn gì nữa, thì nhờ hắn nhặt đem về giữ lấy cho tôi. Còn cái nhà bên cạnh mà không hư hỏng lắm thì nhờ hắn xem có thể chữa sửa được không. Giá có thể chữa lại it nhiều rồi cho người ta tạm thuê để lấy tiền và cốt nhất là khi nào tôi có về được, mong còn có chỗ che sương che nắng.(Việc này không cần nữa, vì tôi đã gặp Khiêm ở đây rồi.)22 Ông có biết tin ông Bùi Kỷ23 bây giờ ở đâu không. Tôi về đây không có tin tức gì về đường nhà ông Bảng cả. Nhà tôi và Chương24 đều có lời chúc ông bà được mạnh khoẻ. Tôi có lời thăm ông Hiền, Khiêm và Hoè và tất cả các bạn. Ông Hoè hôm ra Hà-nội có đến gặp tôi, nhưng vội quá, không viết được thư. Bây giờ ông Hoè ở đâu và làm gì? Sau này ông có gửi thư cho tôi, nên để chờ khi nào có người chắc chắn vào đây, đưa đến cho tôi thì hơn. Không nên gửi người không được chắc chắn.                                                             Nay kính thư                                                                        

Trần Trọng Kim

[tr4] Chú thích :
1. 8/5/1947 : ngày viết thư. Một cơn gió bụi có ghi việc Cao uỷ Pháp là Bollaert ra Bắc : “ngày 8/5 mấy hôm trước khi ông Bollaert ra Bắc, ông Didier Michel hẹn đến gặp tôi”. Bức thư có lẽ được cụ Trần nhờ Didier Michel gửi hộ.
2. Ông Hãn: Chỉ Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng bộ giáo dục và Mỹ thuật của chính quyền Trần Trọng Kim trước Cách mạng tháng 8. Năm 1947 Hoàng Xuân Hãn còn đang ở Hà Nội.
3. Phan văn Giáo: Dược sĩ, chủ hiệu thuốc lớn ở Thanh Hoá, là nhà Tư sản nổi tiếng có tư tưởng thân Pháp. Bị bắt trong Cách mạng tháng 8, sau được thả ra. Sau năm 1945 tiến hành nhiều cuộc vận động để khôi phục chính thể quân chủ ở miền Nam.
4. Ngài : Chỉ vua Bảo Đại – Vĩnh Thuỵ, lúc này đã thoái vị. Sau được chính quyền cách mạng cử đi công cán Trung Quốc, thì ở lại không về và sang ở Hương Cảng. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd)
5. Bên ấy : Khi Cách mạng tháng 8 nổ ra thì Trần Trọng Kim đang ở Huế. Bảo Đại thoái vị, ông về ở làng Tại Lại Thế gần thôn Vĩ Dạ, đóng cửa đọc sách không ra ngoài. Đầu năm 1946 thì về Hà Nội, không tham gia việc gì nữa. Sau khi Bảo Đại đi sang Trung Quốc, rồi ở lại không về. Cuối tháng 5/1946, quân Tầu Tưởng rút dần về nước. Tháng 6/1946, Trần Trọng Kim theo một số người của Quốc Dân đảng sang Trung Quốc tìm bắt liên lạc với Bảo Đại, và gặp nhau ở Hương Cảng.
6. Cousseau : Quan cai trị, từng làm Công sứ ở nhiều tỉnh tại Bắc Kỳ, là người móc nối dàn xếp đưa Bảo Đại từ Hương Cảng về nước để thành lập chính phủ theo ý người Pháp. (Phạm Khắc Hoè. sđd)
7. D’argenlieu : Cao uỷ Pháp tại Đông Dương lúc bấy giờ. Năm 1947 thì về nước cho Bollaert sang thay. (sđd)
8. Trần Trọng Kim, sđd, tr166, 167…
9. hôm 6 tháng 2 tây : ngày Trần Trọng Kim về đến Sài Gòn. Một cơn gió bụi có ghi : “ngày 5 đến Sài Gòn, nhưng đến sáng mùng 6 mới lên bờ.”
10. ông Hiền : Luật sư Vũ Văn Hiền, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tài chính. Bị quân Pháp bắt giữ sau ngày toàn quốc kháng chiến năm 1946 ở Hà Nội cùng với Phạm Khắc Hoè, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Xuân Chữ, … sau được thả ra. (Phạm Khắc Hoè, sđd)
11. Khiêm : Có thể là Phạm Duy Khiêm, người cùng tham gia với Trần Trọng Kim soạn sách “Việt Nam văn phạm”.
12. Trần Trọng Kim lúc này đã không còn giá trị. Người Pháp muốn tách ông ra khỏi Bảo Đại để không thể gây ảnh hưởng, cản trở ý đồ thành lập một chính phủ theo ý muốn của người Pháp.
13. Thảo : Luật sư Trịnh Đình Thảo (1901-1986), luật sư toà Thượng thẩm Sài Gòn, là một luật sư rất có uy tín, thường đứng ra bảo vệ quyền lợi của nhân dân lao động cấp dưới, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Tư pháp, Phó chủ tịch hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Sau ra chiến khu tham gia thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ hoà bình Việt Nam, đi nhiều nước vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, Uỷ viên trung ương mặt trận tổ quốc, Đại biểu quốc hội.
14. Hoè : Phạm Khắc Hoè, giữ chức Đổng chưởng lý văn phòng Ngự tiền của vua Bảo Đại. Sau này đi theo kháng chiến, bị Thực dân Pháp bắt đưa về miền Nam dụ dỗ quay trở lại phục vụ Bảo Đại không thành, phải thả ông ra ở Hà Nội, ông tìm cách trốn khỏi thành phố lên chiến khu, có viết tập hồi ký “Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc”. Tập hồi ký này có nhắc đến việc ngày 16/4/1947, Phạm Khắc Hoè có đến chào từ biệt Trần Trọng Kim trước khi ra Hà Nội. Thư này viết sau khi Phạm Khắc Hoè đi Hà Nội gần một tháng (8/5/1947). (Phạm Khắc Hoè, sđd)
15. Sâm : Nguyễn Văn Sâm, Chủ tịch hội ký giả Nam Kỳ. Bị Thực dân Pháp an trí ở Sóc Trăng vì những hành động chống Pháp. Năm 1945, tham gia chính quyền Trần Trọng Kim, Hội viên hội đồng dự thảo Hiến pháp. Sau được phái đi làm Khâm sứ Nam Kỳ để tiếp thu Nam Kỳ được Nhật trao trả, chưa kịp thực hiện thì cách mạng tháng 8 bùng nổ. Là người tham gia thành lập Mặt trận quốc gia Việt Nam ở miền Nam, là thủ lĩnh đảng Việt Nam quốc dân độc lập, ông bị ám sát chết cuối năm 1947. (Nguyễn Quang Thắng, sđd)
16. Mặt trận quốc gia : Ngày 17-2-1947, Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam cùng một số nhân sĩ đã tiếp xúc với Bảo Đại và đã thành lập một Mặt Trận mệnh danh là Mặt Trận Quốc Gia nhóm tại Hương Cảng gồm: Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Dân Chủ Xã Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Thanh Niên Đoàn có mục đích lợi dụng Bảo Đại để tranh thủ độc lập nhưng Bảo Đại cũng như các nhà thực dân khác không chịu được sự “khó tính” của Mặt trận này nên đã gạt khéo Mặt trận ra ngoài và sau này, Bảo Đại về lập chính phủ chỉ có nhân viên của các nhóm tư bản và của đế quốc cộng tác mà thôi. Với những thành phần “Nam kỳ quốc” và bọn tay chân của đế quốc, Pháp tạo ra các chiêu bài độc lập, tính đánh lừa dân chúng Việt Nam nhưng đã thất bại. Nguyễn Văn Sâm chắc cũng tham gia trong mặt trận này.
17. Mặt trận kháng chiến : Chỉ Mặt trận kháng chiến của nhân dân miền Nam (?)
18. ông Oánh : Tức Nguyễn Quang Oánh (1888-1946), anh ruột Nguyễn Văn Ngọc (hiệu Ôn Như). Làm Thanh tra các trường Sơ học, Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, từng cùng Trần Trọng Kim và Bùi Kỷ biên soạn sách Tiểu học Việt Nam văn phạm giáo khoa thư. Toàn quốc kháng chiến, ông bị giặc Pháp ập vào nhà bắn chết ngày 22/12/1946. (Trần Văn Giáp, sđd); Nguyễn Băng Hồ : Chỉ tên hiệu của ông Nguyễn Quang Oánh là Băng Hồ.
19. Vũ trụ đại quan : Một trong các công trình nghiên cứu của Trần Trọng Kim. (Trần Văn Giáp, sđd)
20. Nhà Rượu : Trần Trọng Kim có nhà ở khu vực gần Nhà máy Rượu Hà Nội (phố Nguyễn Công Trứ). Tức là căn nhà 41 phố Hàng Chuối (Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb.Vĩnh Sơn, S., 1969)
21. “Cái nhà của tôi ở phố nhà Rượu cũng bị quân tự vệ đốt cháy. Thành ra bao nhiêu sách vở của tôi, có lắm quyển rất cổ rất quý, tích trữ trong mấy chục năm, đều hoá ra tro tất cả. Tôi vẫn chưa hiểu vì lẽ gì mà họ đốt nhà tôi, hoặc là vì đốt nhà bên cạnh mà cháy lây sang, hoặc vì Việt Minh thấy tôi bỏ đi, họ giữ không được, họ cho lệnh đốt nhà cho bõ tức”. Trần Trọng Kim, sđd.
22. Tác giả tự đánh dấu, và ghi chú sang bên cạnh thư, nhắc việc này thôi vì đã nhờ được rồi.
23. Bùi Kỷ : Tức cụ Phó bảng Bùi Kỷ (1887-1960), Hội viên hội đồng cải cách giáo dục của chính quyền Trần Trọng Kim, cùng Trần Trọng Kim biên soạn nhiều tác phẩm : Truyện Thuý Kiều, Việt Nam văn phạm, Nho giáo. Chủ tịch Hội văn hoá kháng chiến liên khu 3, uỷ viên Hội Liên Việt liên khu, Chủ tịch hội hữu nghị Việt- Trung. (Trần Văn Giáp, sđd)

24. Chương : Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. (Trần Trọng Kim; Phạm Khắc Hoè, sđd).

24. Chương: Tên người, lúc đầu tôi chỉ tra cứu được 1 người tên Chương là Luật sư Trần Văn Chương, từng tham gia Nội các của chính quyền Trần Trọng Kim, giữ chức Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Đến hôm 9.2.2014, bài viết nhận được phản hồi từ bà Phạm Thị Lệ Hương, 1 Việt kiều Mỹ cung cấp thông tin sửa sai cho, tên Chương là tên con gái cụ Trần Trọng Kim, tức bà “Trần Thị Diệu Chương, vì trong thư Cụ Kim thường kêu các Cụ ngang tuổi là Ông… mà không nói tên trống không như thế này, vả lại Cụ viết “nhà tôi [tức là vợ của Cụ] và Chương đều có lời chúc ông bà…” thì chắc chắn phải là người trong gia đình Cụ. Con gái độc nhất của cụ tên là Trần Thị Diệu Chương, vẫn còn sống ở Pháp, năm nay cỡ 90 hay trên 90 tuổi 1 chút (ngang tuổi ông Bùi Diễm là con trai Cụ Bảng Bùi Kỷ là first cousin của bà Trần Diệu Chương, vì Cụ Bùi Kỷ là anh của Cụ bà Trần Trọng Kim).] Sở dĩ tôi dám quả quyết như thế này là vì tôi là người trong họ của Cụ bà Trần Trọng Kim, nên tôi đọc thư của Cụ Kim viết cho Cụ Hoàng Xuân Hãn tôi hiểu như thế. Tôi có hỏi thêm những người trong họ thì mấy nguời đó cũng nghĩ như tôi viết cho anh ở trên.” (trích thư phản hồi của bà Phạm). Tôi xin sửa lại chú thích này theo ý kiến phản hồi của bà Phạm và xin trân trọng cám ơn bà. _____________
. Thư mục tham khảo 1.Lệ thần – Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, Nxb Vĩnh Sơn, S,. 1969 2. Phạm Khắc Hoè, Từ triều đình Huế đến chiến khu Việt Bắc, H,.1986 3. Nguyễn Quang Thắng, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. S,.1982 4. Trần Văn Giáp, Lược truyện các tác gia Hán Nôm II. H.,1987 5. La Sơn Yên Hồ – Hoàng Xuân Hãn. Nxb GD, H,. 1998 (2t)
Phụ lục ảnh nguyên bản: .

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

Links:


Tễu Blog

Nghiên Cứu Lịch sử