Những Dòng Kỷ Niệm – Trần Đoàn

Bài đọc suy gẫm: Những Dòng Kỷ Niệm hay Những vị Bác sĩ Thiên Thần Mũ Đỏ, tác giả Bác sĩ Trần Đoàn, cựu sĩ quan Quân Y thuộc binh chủng Nhảy Dù VNCH. Hiện ở tiểu bang Vigirnia, tu đạo Phật thành cư sĩ, rất có công trùng tu chùa Hoa Nghiêm tại địa phương.

 

 

 

 Những Vị Bác Sĩ Thiên Thần Mũ Đỏ
Trần Đoàn/Diễn Đàn Cựu SVQY

—oo0oo—

 

50 năm, một nửa thế kỷ của cuộc đời đã trôi qua từ khi tôi về đảm nhận chức vụ Y sĩ Trưởng Tiểu Đoàn 2 Nhảy Dù (TĐ2ND). Trí nhớ cũng phôi pha theo thời gian. Thế nhưng một chặng đường gần 6 năm đội chiếc Mũ đỏ vẫn là một dấu ấn khó quên, vì đó là một giai đoạn của tuổi thanh niên đầy nhựa sống, tích cực hăng hái đóng góp bàn tay bảo vệ Tự do cho Quê hương, vừa gian lao vừa hãnh diện.

Chiến tranh Quốc Gia – Cộng Sản từ năm 1965 bắt đầu sôi động dữ dội. Rối loạn chính trị miền Nam tạo cơ hội thuận tiện cho quân chính qui Bắc Việt dễ dàng xâm nhập khắp thôn ấp và các vùng ven đô thị.

Sau 7 năm dùi mài kinh sử, chúng tôi là sinh viên quân y hay dân y trưng tập đều được phân phối về các đơn vị chiến đấu hay các bệnh viện dã chiến để băng bó các vết thương của bom đạn.

Làm sao tránh khỏi lo âu và xúc động khi chỉ nội trong năm 1964 – 65 mà đã có 7 y sĩ hy sinh tại chiến trường.

BS. Đoàn Mạnh Hoạch ngã gục trước lằn đạn địch ở Quảng Ngãi 1964.

BS. Trương Bá Hân, Thuỷ quân Lục chiến, tử trận ở Bình Giả 1964.

Các đàn anh chỉ hơn tôi có một lớp, mới ngày nào cùng nhau thực tập trong Bệnh viện Chợ Rẫy, Bình Dân, v.v., có anh là nội trú xuất sắc, xứng đáng là bậc thầy trong Y nghiệp, hứa hẹn một tương lai sán lạn, thế mà cũng bị hy sinh tại trận địa mấy tháng sau khi đáo nhậm đơn vị.

Sinh viên Quân y vào năm cuối được liên tục luân phiên gác xác các đàn anh tử trận trong năm 1965.

BS. Phạm Bá Lương ngã gục ở Bầu Bàng.

BS. Nguyễn Văn Nhứt tử thương khi đoàn xe di chuyển bị phục kích ở rừng cao su Dầu Tiếng.

BS. Trần Thái hy sinh tại Bà Rịa.

BS. Trần Ngọc Minh, Y sĩ Trưởng TĐ5/TQLC bị đâm vào ngực trong một trận xáp lá cà với Việt cộng tại Thăng Bình.

BS. Đỗ Vinh, Y sĩ Trưởng TĐ5/ND bị mảnh pháo trúng ngay vào đầu khi đang săn sóc thương binh. Ngày đưa tang, Thiếu tá TĐT/ TĐ5ND Ngô Quang Trưởng và quân nhân các cấp, các đơn vị bạn ngậm ngùi thương tiếc tiễn anh ra mộ huyệt. Tôi vẫy tay chào anh, từ bỏ anh em quá sớm.

Chiếc áo Hoa rừng và Mũ đỏ của Binh chủng hào hùng thiện chiến vẫn có một mãnh lực hấp dẫn máu giang hồ, điếc không sợ súng của chúng tôi, ba thằng bạn xuất thân từ xứ Huế, học cùng lớp, ăn cùng mâm, ở cùng phòng trong trường Quân y ở Chợ Lớn:

-Lê Văn Châu, con của Tướng Lê Văn Nghiêm, tức là nhà văn Trang Châu, còn có biệt danh là “Châu cá ngựa” vì anh có mặt tại trường đua Phú Thọ hằng tuần;

-Đoàn Văn Bá, tục gọi là “Bá điên” còn được gọi là “ I‘homme des situations difficiles” vì anh bạo ăn bạo nói, chỗ nào gặp khó khăn với cấp trên là có anh. Anh bị kẹt lại ở Huế trong chuyến nghỉ phép về thăm nhà, tại trận Mậu Thân, được quân đội Mỹ giải cứu trong gang tấc, đưa anh về căn cứ MAC- V, giúp giải phẫu cứu mạng rất nhiều Quân nhân Mỹ bị trọng thương và được tuyên dương tưởng thưởng Huy chương Bronze Star Hoa Kỳ.

-Còn tôi, Trần Đoàn, được các bạn gán cho biệt danh “Đoàn cái bướm” vì tôi viết bài “Thằng cu hay Cái bướm” đăng nhiều kỳ trong Đặc san Tình Thương của Sinh viên Y Khoa thời ấy.

Bảng hiệu “BỆNH XÁ ĐỖ VINH” nền trắng chữ đỏ mới toanh, còn ướt màu sơn treo trên khu nhà bằng gạch hai tầng của Bệnh xá Nhảy dù 50 giường không làm chúng tôi sợ sệt mà còn cảm thấy một cái gì vinh quang khi trình diện thụ huấn Khóa 68 Nhảy dù vào tháng 8 năm 1965 .

Ba thằng bạn thân, không ai dám rủ ai vào nơi nguy hiểm, đều có mặt. Cổng trại Hoàng Hoa Thám thẳng tắp con đường tráng nhựa rợp bóng mát của hai hàng cây đưa đến các dãy doanh trại xây bằng gạch vững chắc sơn màu vàng, ngay ngắn sạch sẽ, là con đường quen thuộc, thân thương của chúng tôi từ dạo ấy.

Bóng dáng các đàn anh đeo bằng “Nhảy dù điều khiển” như BS. Văn Văn Của, BS. Trần Tấn Phát…, kích thích lòng tự ái liều lĩnh của chúng tôi trong niềm cảm phục kính nể. Chiếc mũ đỏ được đội lên đầu sau 3 tuần huấn luyện ướt đẫm mồ hôi, bò lết, hít đất, nhảy chuồng cu, và 6 “sauts” nhảy dù ở Hốc Môn – Củ Chi.

Cánh hoa dù T10 xoẹt mở rộng lộng gió tung bay mát rượi trong bầu trời trong xanh ôm trọn một phần của vũ trụ bao la là những giây phút thần tiên ngắn ngủi của người lính Mũ Đỏ. Sau đó thì nguy hiểm bắt đầu rình rập. Saut đêm bị hủy bỏ vào phút chót vì tình hình an ninh bãi nhảy không cho phép, có người lính nhảy xuống bị mất tích không tìm ra dấu vết.

 


“NHẢY DÙ – CỐ GẮNG” là một khẩu hiệu có mãnh lực xô chúng tôi phóng ra cửa máy bay sau tiếng hét “Go” của Huấn luyện viên, và là châm ngôn giúp chúng tôi vượt qua chặng đường hành quân vất vả, cực nhọc. “Nhảy Dù – Cố Gắng” gắn bó theo giúp chúng tôi suốt cả cuộc đời, nào là khi bị hành hạ xài xể trong trại tù Cộng sản, nào là khi gặp sóng gió, bão tố, ói mửa trong chiếc ghe nhỏ trên đường vượt biển tìm tự do, khi lao động chân tay để có tiền mua sách học lấy lại mảnh bằng hành nghề, khi đau ốm bệnh hoạn và cả khi tu tập chuyển hóa tâm linh.

BS. Lê Trọng Tín biệt phái về làm Y sĩ Trưởng TĐ1ND – Lê Văn Châu TĐ6ND – Đoàn Văn Bá về TĐ7ND – Trần Trọng Nghị về TĐ9ND và tôi về TĐ2ND.

TĐ2ND là 1 tiểu đoàn tân lập đóng ở Bà Quẹo, sát nách phi trường Tân Sơn Nhứt, không xa cổng trại Hoàng Hoa Thám. Thế là tôi may mắn được ở ngay Saigon, sớm tối được về chăm sóc vợ đang mang bầu. Vợ tôi còn là sinh viên trường Dược. Lương Y sĩ Nhảy dù phải gói gém lắm mới đủ sống.

Lần xuất quân thử thách đầu tiên của tôi vào cuối năm 1965 lại là với chức vụ Y sĩ Trưởng TĐ3ND thay thế BS. Nguyễn Đức Liên đi phép về hậu cứ. Trời Saigon 4 giờ sáng còn mờ sương, chiếc C123 rù máy xé tan bầu không khí tĩnh lặng, lạnh lùng cất cánh rồi đáp xuống phi trường Qui Nhơn sau hơn một giờ bay. Phi cơ há miệng đằng đuôi nhả ra hơn trăm binh sĩ súng đạn đầy mình (bỏ: sẵn sàng) ra bổ sung cho chiến trường Tam Quan, Bồng Sơn.

Phi đội trực thăng tiếp tới gắp chúng tôi đưa thẳng vào chiến địa còn hôi tanh mùi máu và thuốc súng, bay sà sát rừng dừa xơ xác ngả nghiêng cháy xám. Y sĩ Trưởng, Thiếu Tá Hoàng Cơ Lân, dẫn tôi vào chào Tướng Tư Lệnh Dư Quốc Đống trong một căn lều. Ông đang ở trần, mặc quần xà lỏn, đen đui đủi, vây quanh bởi các sĩ quan của Bộ chỉ huy, mồ hôi nhễ nhại. BS. Liên đưa tôi về trạm cứu thương TĐ3ND tạm trú dưới một mái nhà tôn đầy dấu đạn.

Các y tá còn bận rộn thu dọn y cụ vì công việc tản thương vừa mới được hoàn tất tối hôm qua. Thiếu tá Hưng, Tiểu đoàn trưởng, nước da rạm nắng có vẻ âu lo. Đại úy TĐP Trần Quốc Lịch người cao to, đầu trọc lóc trông rất “ngầu”, sau này ông lên đến cấp tướng chỉ huy sư đoàn. Hằng ngày tôi làm dân sự vụ, khám bệnh, phát thuốc, chăm sóc ngay cả các bà đang có bầu mà tác giả không ai khác là những du kích địa phương. Lòng nhân đạo của người y sĩ không phân biệt bạn hay thù. Tôi thương người dân, tôi thương những trẻ em lớn lên ở vùng đất mất an ninh này, không biết đâu mà lựa chọn. Tôi thông cảm nỗi khổ của họ khi sinh sống trong vùng xôi đậu.

Đồi 10, một ngọn đồi nổi tiếng khó tiến chiếm vì Cộng quân đào hầm địa đạo từ chân đồi lên đến đỉnh đồi và đặt thượng liên nhắm bắn vào trực thăng bao vùng xạ kích yểm trợ – Một ngọn đồi đẫm máu được ghi vào Chiến sử.

Chuẩn uý Lê Hồng, xuất thân từ hạ sĩ quan, là sĩ quan Ban 3 Tiểu đoàn sau khi thụ huấn xong khóa sĩ quan đặc biệt về. Người anh nhỏ con nhưng giọng nói Quảng Trị rõ ràng chắc nịch qua máy truyền tin vang to suốt cả ngày đêm để điều động các đại đội đang lục soát quanh vùng. Là người lính chăm chỉ, gan dạ và khuôn phép, anh leo dần lên đến chức vụ TĐT/TĐ1ND, rồi Trung tá Lữ đoàn phó khi tàn cuộc chiến.

Sau này, khi qua định cư tại Mỹ, tôi cảm phục sự nhẫn nhục của anh khi thấy anh bất chấp nặng nhọc lao động khuân vác trong một tiệm tạp hóa vùng Arlington, VA, để sinh sống và nuôi ý chí cương quyết về giải phóng Quê hương thoát khỏi gông cùm Cộng sản. Ước nguyện không thành, anh bỏ xác tại vùng biên giới Việt Lào trong niềm thương tiếc khôn cùng của đồng đội.

Trạm Y tế TĐ2ND nằm trong một gian nhà tiền chế của doanh trại, mái tồn nền đất. Y tá trưởng, Thượng sĩ “Hưng mù”, đeo kính cận dầy cộm, có nhiều kinh nghiệm từ hồi còn là y tá trong quân đội Pháp, tháo vát và khéo xã giao, giúp tôi và đội y tá trên dưới 20 người dọn dẹp phòng ốc, sắp đặt dụng cụ thuốc men. Vài ba anh lính trẻ khai bệnh lậu đái ra mủ vì không được hướng dẫn dùng bao cao su khi giao hợp với “chị em ta” phân trần: “Đời lính xa nhà mà Bác Sĩ!”. Tôi làm quen dần với các sĩ quan bộ Chỉ huy và các đại đội.

Chuẩn úy Võ Văn Thu, nguyên là y tá TĐ5ND, vừa thụ huấn khóa Sĩ quan Thủ Đức trở về nắm giữ chức vụ Sĩ quan Hậu cứ, thường lui tới thăm hỏi và giúp đỡ trạm Y tế. Anh được ông TĐT, cũng xuất thân từ TĐ5ND, tin cậy thương mến và nâng đỡ vì tinh thần phục vụ đắc lực của anh. Chức vụ cuối cùng của anh là TĐT/TĐ Yểm trợ/SĐND với cấp bậc Trung tá.

Nghe nói ngày di tản qua Mỹ, sống ở Washington State, nơi xứ lạ quê người, tinh thần anh bị suy sụp. Anh cạo gió cho con anh khi nó bị ho cảm. Mấy lằn vết đỏ sau lưng và trước ngực làm cho cô giáo nghi anh đánh đập ngược đãi trẻ con. Anh phản kháng khi cảnh sát đến còng tay anh. Vì quá uất ức, anh treo cổ tự tử trong tù.

Đại úy Lê Quang Lưỡng, vừa mới được thăng chức Thiếu tá mấy tháng trước, nắm chức vụ TĐT/TĐ2ND. Ông là người chiến binh mang nhiều thương tích và chiến tích, vào sinh ra tử biết bao nhiêu lần với những chiến công oanh liệt vẻ vang tại mặt trận An Lộc, Huế trong dịp Tết Mậu Thân, và Hạ Lào v.v…. Ông đã được thăng cấp Chuẩn tướng và được bổ nhiệm làm Tư Lệnh/SĐND vào năm 1973 (?) bởi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Ngày đoàn quân xa trên 30 chiếc chở Tiểu đoàn tân lập về Trung tâm huấn luyện Vạn Kiếp, Bà Rịa, để thụ huấn, chưa kịp ra tới đầu xa lộ Biên Hòa thì xui xẻo gặp lúc Cộng sản pháo kích vào thành phố Saigon. Vài ba quả nổ tung toé ngay trên đường Phan Thanh Giản giữa lúc dân chúng tấp nập đi làm buổi sáng. Cảnh tượng lúc ấy thật hỗn độn vì mọi người hoảng hốt chạy tìm chỗ ẩn núp sau mấy gốc cây. Đoàn xe bị khựng lại, mãi hơn giờ sau mới tiếp tục lộ trình về đến nơi đến chốn an toàn.

Sau 3 tháng huấn luyện, Tiểu đoàn được chuyển về đóng quân ở vòng đai Saigon, vùng Tân Quí, Hóc Môn, Bà Điểm.

Tiểu Đoàn phó, Đại úy Trần Kim Thạch, nhỏ con, bị thương ở háng nên khó khăn khi ngồi vệ sinh. Ông xuất thân từ hạ sĩ quan của Nhảy dù Pháp, vui tính, lanh lẹ và can đảm. Một buổi chiều, trời chạng vạng tối, tôi thấy ông vừa cười vang vừa hối hả chạy bộ thình thịch về Bộ Chỉ huy với hai người lính cận vệ, trên vai mỗi người đều mang thêm một khẩu AK. Tiểu đoàn phó mà chịu chơi nằm lại phục kích bên bờ lau sậy sau khi cả Tiểu đoàn tảo thanh lùng địch đã rút trở về.

Hai năm sau ông nắm chức vụ TĐT/TĐ2ND ghi thêm nhiều chiến công oanh liệt cho Tiểu đoàn. TĐ2ND đã đủ lớn mạnh để chuyển vận ra vùng địa đầu giới tuyến.

Ngày quân xa chở Tiểu đoàn từ Huế ra Quảng Trị, một đoạn đường dài hơn cả cây số khi gần đến làng Mỹ Chánh, bị cày nát và còn nóng hổi vết tích bom đạn đầy mảnh vụn của xe bị cháy đen hòa với máu đỏ. Ruộng lúa hai bên xơ xác tơi bời ngả nghiêng, dấu vết của TĐ2TQLC bị phục kích mới ngày hôm qua. Thiếu tá TĐT/TĐ2 Trâu Điên Lê Hằng Minh hy sinh ngay từ phút đầu. Đoàn quân xa dè dặt, thận trọng chậm rãi di chuyển trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.

Không khí ngột ngạt. Đến thành phố Quảng Trị, tôi bị choáng váng, ngộp thở vì ngọn gió Lào độc địa thổi về. Hôm sau, trực thăng vận thả Tiểu đoàn xuống các ngọn đồi trống vùng Cùa, những ngọn đồi mọc đầy những bụi hoa sim tím. Những cánh hoa còn ướt sương mai lóng lánh trong nắng sớm. Tôi ngắt hoa ép vào quyển nhật ký hành quân và thầm đọc bài thơ “Những đồi hoa sim tím” của Thi sĩ Hữu Loan, mong rằng ngày tôi về vẫn còn gặp nàng…

Toán Tiền sát báo cáo bắt được một cán binh Việt cộng đang ngơ ngác cầm bản đồ và ống nhòm quan sát trận địa. Khai thác cho biết Tiểu đoàn Cộng sản đang trên đường xâm nhập. Chiều về, Tiểu đoàn di chuyển ra khỏi làng và đóng quân trên dãy đồi cao thấp nối tiếp thoai thoải. Chập tối, Ban 3 Tiểu đoàn báo cáo mất liên lạc với Tiểu đội nằm lại phục kích trong làng. Tôi duỗi chân nằm thẳng trên cỏ, đếm sao nhấp nhánh trên trời và thiếp đi, rã rời chân tay. Thình lình nửa khuya, địch nổ súng ồ ạt la hét “hàng sống, chống chết” bò lên tấn công. Giao tranh cận chiến ác liệt. May thay cây thượng liên của chúng đặt trên đồi cao hướng về Bộ Chỉ huy và Toán quân y kế cận chưa kịp khai hỏa thì bị binh sĩ Nhảy dù tiêu diệt. Phi cơ phản lực liên tiếp thả bom Napalm vào khu rừng dưới đồi. Xác địch banh thây cách chổ tôi nằm không quá 50 thước. Băng bó, tản thương không ngừng tay.

Ngay tối hôm đó, đài Cộng sản oang oang nêu thành tích là đã giết được 15 lính ngụy Dù, một con số chính xác mà Ban 3 Tiểu đoàn vừa mới báo cáo thiệt hại về Sư Đoàn buổi sáng sớm. Phải chăng có nội tuyến nằm ngay trong trong BTL/SĐND?, tôi đắn đo suy nghĩ.

Về trạm dưỡng quân ở Đông Hà, tôi gặp BS Vũ khắc Niệm, Y Sĩ trưởng TĐ8ND. Hai anh em rủ nhau đi uống bia cho đỡ thèm khát dưới cái nắng nóng gay gắt của miền Trung. Một chai bia cao hiệu con cọp ướp lạnh giá 50 đồng. Tôi lục lọi mãi hết trong các túi bộ đồ trận lôi ra đếm được 49 đồng. BS Niệm cho tôi thêm 1 đồng.

Tiếng nổ của cây súng AK nghe có phần chát chúa và khiếp đảm hơn cây súng Carbine M1, M2, cổ lổ sĩ hay bị kẹt đạn. Trung Cộng và Liên Sô âm thầm trang bị cho Bắc Việt vũ khí ngày càng tối tân hơn. Đến cuối năm 1966, khi đóng quân ở làng An Hòa ngoài thành phố Huế, TĐ2ND mới được Ngũ Giác Đài phê chuẩn viện trợ súng AR-15, AR-16 thay thế.

Hạnh phúc của người lính trận lội bộ dài ngày khi được về dưỡng quân vùng khá an ninh rất đơn giản là tháo được đôi giày trận và đôi vớ hâm hẩm hôi thối, chùi được các ngón chân mốc meo, rửa được bộ sinh dục bầy nhầy và lắm khi là móc được cục phân cứng như đá ra khỏi hậu môn vì ăn thiếu rau, uống thiếu nước, không có thì giờ đi đại tiện.

Lính Nhảy dù bị bệnh trĩ nhiều là vì nguyên do như thế. Bộ đồ trận tanh tanh mồ hôi và dơ bẩn giặt phơi chưa kịp ráo thì có lệnh di chuyển. Một tuần phát lương khô gạo sấy chất vào balô. Tình báo cho biết địch vượt sông Bến Hải xâm nhập vào phía nam vùng phi quân sự. Tiểu đoàn lại được trực thăng vận đổ quân xuống sát hàng rào Mc Namara. Xa xa về phía tây, bụi khói bay ngút trời do B 52 rải bom ầm ầm nghe ghê rợn.

Cả tiểu đoàn di chuyển đội hình hàng một xuyên rừng rậm đầy gai góc theo bước chân của khinh binh đi trước phát quang. Chim chóc và côn trùng vắng tiếng hót. Cái im lặng khá rùng rợn khi dừng chân ngủ đêm. Thằng Y tá tên Dân thân cận của tôi sửa soạn đào hầm cá nhân cho “ông thầy”. Một nhát xẻng nhấn xuống là một ánh lửa loé lên vì chạm vào đất đầy sỏi đá. Tôi không đành thấy nó hì hục cực nhọc nên ngăn nó dừng tay, chấp nhận số mạng rủi ro.

Chiếc võng treo thấp đu đưa ru tôi vào giấc ngủ đầy mộng mị chết chóc. Vào khoảng 2 giờ sáng, địch pháo kích hàng loạt súng cối, tung tóe sấm sét vào vùng đóng quân. Một quả 60 ly chớp nổ cách chiếc võng khoảng 10 thước, hất tôi lăn ngã xuống đất. Tôi cảm thấy đau rát nơi hai mông, đưa tay sờ vào thì đỏ ướt máu. Tôi đã bị thương nhưng biết mình còn sống. Giọng ông TĐT vang lớn giữa những tiếng pháo kích còn nổ vang:

– Bác Sĩ, Bác Sĩ, tôi bị thương.

Tôi do dự định chạy đến nhưng thằng Y tá cận vệ thấy nguy hiểm níu tôi lại và trả lời lớn :

– Thưa Thiếu tá, BS cũng bị thương.

Đại đội Trưởng Thạch Văn Thịnh xui xẻo bị một quả rơi đúng chỗ ông nằm. Doanh trại từ đó mang tên của người Đại đội Trưởng đầu tiên của TĐ2ND bị tử trận. Trung đội trưởng Trần Công Hạnh dẫn Trung đội ngang Bộ chỉ huy và tiến về phía địch, nơi đặt pháo. Chiến đoàn Trưởng Đào Trọng Hùng la hét điều quân. Ông nổi tiếng là người chỉ huy can đảm không bao giờ khom lưng tránh né đạn khi lâm trận mà đạn biết tránh né ông.

Chiếc khăn đỏ quấn quanh cổ được xem như là bùa hộ mạng. Một bên lưng đeo khẩu súng lục chỉ huy, một bên kia đeo một bi đông rượu đế, đường đường một đấng. Bác Sĩ Hà tục gọi là “Hà chảy”, người ông dong dỏng cao, Y sĩ trưởng TĐ8ND, vừa đi vừa ôm bàn tay bị thương vừa chửi thề: “Địt mẹ, tao có muốn về Nhảy dù đâu mà bị thương như thế này”. BS. “Hà chảy” là dân y trưng tập, học cùng lớp với tôi, chưa kịp bổ đi đơn vị nào khi ra trường thì lại miễn cưỡng bị trưng dụng tạm thời vì Nhảy dù thiếu y sĩ. Y tá xuôi ngược chăm sóc thương binh, trực thăng liên tiếp đáp xuống tản thương.

Mỗi lần hành quân 2-3 tháng về hậu cứ là quân số Tiểu đoàn hao hụt hơn phân nửa. Tiểu đoàn Vương Mộng Hồng – Khối Bổ Sung phân phối về Tiểu đoàn nhiều tân binh chưa kịp hoàn tất xong khóa Nhảy dù.

Vùng I, vùng giới tuyến sùng sục dầu sôi lửa bỏng. Hành quân bấy giờ không còn là cấp tiểu đoàn lẻ tẻ mà là chiến đoàn gồm 2-3 tiểu đoàn che chở yểm trợ cho nhau. Hành quân với thiết vận xa của Việt Nam Cộng Hòa hay với chiến xa lội nước của Hạm Đội 7 Hoa Kỳ tăng cường thường dễ dàng hơn khi tiến chiếm mục tiêu và ít bị thiệt hại.

Cuộc hành quân “Nhảy dù trận” của TĐ2ND xuống đồng bằng sông Cửu Long vào giữa năm 1966 có lẽ là Saut nhảy xuống trận địa cuối cùng của binh chủng Nhảy dù vì sau đó trực thăng là phương tiện đổ quân nhanh chóng và ít nguy hiểm. Cả một rừng chiếc “Nấm” úp xuống khoảng ruộng nước bao la. Tôi xếp dù an toàn gom vào một chỗ với Đại đội 20 rồi tiếp tục bì bõm tiến theo đoàn quân. Vì bất ngờ nên địch quân không kịp bắn lên trong lúc chúng tôi còn lơ lửng trên trời trong buổi sáng sớm như trong phim “The longest day” khi quân đồng minh nhảy dù xuống Normandie. Chạm súng lẻ tẻ với du kích, địch tránh né rút vào rừng tràm. Vũng nước nào cũng có tôm có cá giúp cho chúng tôi có thêm thực phẩm tươi bồi dưỡng.

Tổ chức SĐ Nhảy dù từ năm 1966 đã nâng cấp số từ Liên đoàn thành Sư đoàn. Đại đội Quân y Nhảy dù thành Tiểu đoàn Quân y Nhảy dù. Bệnh xá Đỗ Vinh 50 giường thành Bệnh viện Đỗ Vinh 100 giường. Pháo binh, Truyền tin… nâng quân số từ Đại đội lên Tiểu đoàn. Chiến đoàn đổi thành Lữ Đoàn gồm ít ra là 3 tiểu đoàn khi hành quân cho kịp với đà leo thang chiến tranh ngày càng khốc liệt.

Lữ đoàn 3 ND của Trung tá Nguyễn Khoa Nam đóng gần Bộ chỉ huy TĐ 2 ND ở vùng Tân Quí. Các Đại đội phân chia đóng ở các thôn ấp chung quanh. Tình báo cho hay Tiểu đoàn đặc công Cộng sản mò về sát vòng đai Saigon, thuộc xã Vĩnh Hạnh, Vĩnh Lộc. Lịnh hành quân lục soát ban ra. Trung đội tiền phong do Trung đội Trưởng Trần Công Thọ vừa ra trường khóa 20 Võ Bị Đà Lạt chạm súng. Cả Tiểu đoàn tiến lên tốc chiến tốc thắng đẩy địch bỏ chạy rút vào vùng kinh lạch Đức hòa, Đức Huệ để lại gần 100 xác và súng ống đủ loại.

Thiếu úy Trần Công Thọ bị ngay một viên đạn giữa đỉnh trán, chết ngọt lịm không kịp trăn trối, nằm cách chỗ tôi không quá 20 thước. Tôi đưa tay vuốt mắt anh, không thấy chảy máu, mặt anh còn tươi tắn như thiên thần ngủ quên. Nhạc phẩm “Tạ từ trong đêm” của Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh viết lên để riêng tặng anh. BS. Bùi Thế Cầu, nguyên Thiếu tá Y sĩ trưởng TĐ5ND, đang nắm giữ chức vụ Tỉnh trưởng tỉnh Gia Định cùng giới chức Hành chánh dân sự cao cấp và báo chí tháp tùng trực thăng xuống ngay trận địa để chứng kiến tận mắt và tán dương. Danh tiếng TĐ2ND nổi như cồn trên trang đầu các tờ báo Saigon. Đại đội 23 tập hợp nhiều Trung đội trưởng họ “TRẦN “trẻ trung, gan dạ, thương mến nhau như anh em ruột thịt. Một Trần Công Thọ đã rơi rụng.

Một Trần Duy Phước cũng rụng rơi năm sau đó, còn lại Trần Công Hạnh leo dần đến chức vụ Tiểu đoàn trưởng TĐ2ND. Đại đội trưởng Trần Công Danh rời Tiểu đoàn chuyển hoán về đơn vị khác – Đại đội trưởng Phạm Kim Bằng bị thương hư một mắt – Đại đội trưởng Trần Như Tăng bị thương gãy chân – Đại đội trưởng Nguyễn Văn Được giã từ vũ khí ở vòng đai Saigon. Ngày tiễn anh ra mộ huyệt có 3 bà mặc áo quần đen dài chít khăn tang trắng sụt sùi sau quan tài – Đại đội trưởng Lê Văn Mạnh Đại đội 20 lên cầm quyền chỉ huy TĐ2ND một thời gian.

Toán Y tá của tôi gần 2 năm trời không ai bị hy sinh trừ một vài bị thương nhẹ. Tôi khâm phục tinh thần gan dạ của Y tá Nhảy dù, luôn luôn xông vào tuyến đầu ngay dưới lằn đạn địch để băng bó vết thương cho đồng đội. Y tá trưởng Thượng sĩ Hưng “Mù” được Y tá trưởng Trung sĩ nhất Be về thay thế. Anh Y tá trưởng mới này cũng thuộc loại “chì” không kém.

Hành quân vùng Củ Chi – Hậu Nghĩa thường bị mìn bẫy nguy hiểm. Một một chiếc Chinook chở gần cả Đại đội bay sà sà sát mặt đất để tránh khỏi bị bắn tỉa khi đổ quân. Thế mà xui thay, viên Đại úy Cố vấn Mỹ mới về Tiểu đoàn, ngồi cạnh ông Tiểu đoàn trưởng, là người duy nhất bị trúng một viên đạn bắn lên xuyên qua, chết ngay tại chỗ.

Vùng I Chiến thuật lại khẩn điện về Bộ Tổng Tham Mưu cầu viện các Binh chủng tổng trừ bị như Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến. Dân chúng vùng Huế, Quảng Trị, Đông Hà an tâm khi có sự hiện diện của các binh chủng này. Tổng trừ bị gì mà ăn dầm ở dề tháng này qua tháng nọ giống như là Địa Phương Quân.

TĐ2ND trở lại Huế, hành quân lần này có Trung đội Thiết giáp M 113 yểm trợ. Những “Con cua khổng lồ ” dàn hàng ngang dậm chân trước một địa thế nghi ngờ. Trung đội khinh binh tiến sát vào hàng rào tre cao vút dày đặc của làng Đông Xuyên – Mỹ Xá, quận Quảng Điền. Im lặng đến ngộp thở. Chưa thấy động tĩnh thế nào cả. Bộ chỉ huy Tiểu đoàn dè dặt từng bước. Đợi đến khi thấy các cần câu của máy truyền tin PRC 25 của Bộ Chỉ huy gần kề thì địch khai hỏa. Thiết giáp đã dàn hàng ngang rồi ầm ầm nhào tới khạc đạn đại liên xối xả vào mục tiêu.

Lính Nhảy dù xung phong như sóng vỡ bờ. Lựu đạn thi nhau ném vào các hầm hố mới thanh toán được các ổ thượng liên mà xạ thủ bị còng chân tử thủ với nhau. Lựa đến khi trời tối địch nương theo kinh rạch để mà chém vè, rút sâu vào làng. Nhiều xác địch và vết máu để lại trên đường tháo chạy. Nhiều binh sĩ mang máy theo Bộ chỉ huy bị thiệt hại tính mạng. Ông Tiểu đoàn trưởng vẫn bình tĩnh điều quân. Thiết giáp không bị hư hại chiếc nào cả. Trực thăng rọi đèn tải thương trong đêm tối. Mồ mả quanh bờ làng là nơi che chở cho chúng tôi gối đầu qua đêm.

BS. Trần Lâm Cao tháp tùng các Sĩ quan Bộ Tư lệnh Sư đoàn 1 theo trực thăng tản thương từ Quân Y viện Nguyễn Tri Phương đáp xuống trận địa khi chiến trường đã thu dọn xong buổi sáng. Một chiến thắng quân địch sát nách thành phố Huế làm chấn động người dân thị thành. Chiến thắng nào mà không đổi lại bằng xương máu.

Viết đến đây lòng tôi bổng chùng vì xúc động. Những khuôn mặt người lính thân thương đó hiện rõ trong ký ức của tôi. Họ nằm xuống vì vết đạn vào đầu, vào tim, vào phổi nằm la liệt trước mặt tôi. Người Y sĩ Tiểu đoàn hoàn toàn bất lực trước những vết thương không có phương tiện cứu chữa. Tôi xin cầu nguyện cho các anh an giấc ngàn thu và không hận thù. Chúng ta đều chia sẻ một đau thương chung của vận nước nổi trôi.

Tôi bàn giao toán Y tá cho BS. Trần Lâm Cao làm tân Y sĩ trưởng TĐ2ND vì đáo hạn nhiệm kỳ 2 năm phục vụ Tiểu đoàn.

Tôi được thăng cấp Đại úy và nhận nhiệm vụ mới là Y sĩ trưởng Đại đội 3/QYND, thường đóng chung với Bộ chỉ huy Lữ đoàn 3 ND của Trung tá Nguyễn Khoa Nam khi đi hành quân. Sau này ông là Tướng Tư lệnh vùng 4 và tuẫn tiết không chịu đầu hàng địch. Danh thơm của ông ấy còn vang mãi trong hậu thế.

Tin dữ từ mặt trận đưa về: BS. Nghiêm sĩ Tuấn học cùng lớp, là BS dân y trưng tập, tình nguyện về TĐ6ND, cũng chỉ còn một tháng nữa là mãn nhiệm kỳ phục vụ cấp Tiểu đoàn bị tử trận tại Khe Sanh khi đang săn sóc thương binh. Anh đã 2 lần bị thương, một ở Dakto, một ở Cao Lãnh. BS. Lê Hữu Sanh, bạn cùng khóa, người thường được chọn cầm cờ đi hàng đầu trong các cuộc diễn hành của trường Quân y vì dáng anh cao lớn, tử trận khi anh đang làm Y sĩ trưởng một Tiểu đoàn TQLC.

Cuối năm 1970, tôi giữ chức vụ Y sĩ trưởng Bệnh viện Đỗ Vinh / SĐND và được thăng cấp Thiếu tá.

Khoảng tháng 3/1971, tôi đang thụ huấn tại Bệnh viện Brooks Hospital, thành phố San Antonio, Texas thì nhận được tin nhiều Y tá / TĐ2ND hy sinh tại mặt trận Hạ Lào. Lòng tôi quặn thắt.

Tôi rời Binh chủng Nhảy dù về phục vụ tại Quân Y viện Nha Trang để được gần gia đình. Chiếc Mũ đỏ và bộ hoa dù vẫn còn quyến luyến cho đến khi tôi giải ngũ vì đắc cử Nghị viên Thành phố Nha Trang năm 1974.

Viết những dòng kỷ niệm của nửa thế kỷ trước không sao tránh khỏi thiếu sót và nhầm lẫn, rất mong các bạn đọc đính chính và thông cảm.

Tôi xin nghiêng mình tưởng niệm những Quân nhân Binh chủng Nhảy dù đã nằm xuống, những người lính chỉ biết tiến không lùi dù trước hỏa lực mạnh của địch quân.

Tôi xin cảm phục và tưởng niệm người lính Chiến sĩ Vô danh của Nhảy dù bắn súng vào họng tự sát khi miệng còn nhai cơm sáng 30 tháng 4 tại hẻm tôi ở 147/8 Trần Quốc Toản, một hình ảnh hào hùng không thể quên.

Tiếp nối làm Y sĩ trưởng TĐ2 ND là BS. Vương Bình Dzương, BS. Bùi Văn Đạt, BS. Tôn Thất Sơn, BS. Lê Minh Tâm, BS. Nguyễn Đức Mạnh, BS Nguyễn Kiêm, các anh hứng pháo Cộng sản sau này còn dữ dội hơn tôi nhiều.

Trước tôi, BS. Võ Đạm là một trong 3 Sĩ quan thuộc Bộ chỉ huy TĐ7ND còn sống sót trong trận Đồng Xoài.

Sau tôi, BS. Tô Phạm Liệu, ông BS cầm súng như dân tác chiến, cũng là 1 trong 3 Sĩ quan thuộc Bộ Chỉ huy còn sống sót ở ngọn đồi Charlie, ngọn đồi đẫm máu chôn xác TĐT/ TĐ11ND Nguyễn Đình Bảo.

BS. Đường Thiện Đồng sống sót trận Hạ Lào, hốc hác lội bộ về thấu tiền trạm.

BS. Vũ Văn Quynh, BS. Nguyễn Văn Thường, v.v… trốn tù cải tạo bị xử bắn,… và còn, còn rất nhiều nữa mà người Y sĩ Nhảy dù đã chia sẻ.

Tôi xin thán phục tinh thần Nhảy dù bền bỉ của các BS Mũ đỏ Trần Văn Tính, Phạm Gia Cổn, Lê Quang Tiến…nắm giữ chức vụ Chủ tịch BCH/ TƯ/ GĐMĐVN / Hải Ngoại để nối vòng tay lớn, tương thân, tương trợ.

Tôi không thấy ngượng ngùng khi BS Mũ xanh Trần Xuân Dũng ca tụng các Y sĩ Nhảy Dù, Y sĩ TQLC là “Những Hiệp sĩ của thời đại, những Đường Sơn Đại Huynh trên tiền tuyến lửa.”

Tôi không quên cám ơn các Chi Hội trưởng GĐMĐ vùng Hoa Thịnh Đốn như anh Nguyễn Văn Mùi, Lý Thanh Phi… thường nhắc tôi tham dự buổi cơm cuối năm của Gia Đình Mũ đỏ tổ chức để góp chút tình gửi về cho Thương Phế Binh Nhảy dù còn ở quê nhà.

Tôi cũng không thể nào quên nhắc đến tên các đàn anh như Y sĩ Đại tá Hoàng Cơ Lân, người anh cả nghiêm minh và vui tươi, Y sĩ Đại tá Bùi Thiều, con người tài hoa và là người điều hành xây dựng Bệnh viện địa đạo ngay trong căn cứ Khe Sanh mà báo chí Mỹ khen phục.

Bốn chữ “Giữ Đời Cho Nhau” của BS. Lê quang Tiến nhắn trong Đặc San 70 để thực hiện số báo đặc biệt về QYND/ SĐND làm sống dậy trong tôi những năm tháng đùa với tử thần.

Có nếm mùi cực khổ, tù đày rồi mới thấy Độc lập – Tự Do là quí. Có lâm vào cảnh đói rách, nguy hiểm rồi mới thấy tình Huynh Đệ Chi Binh là quí.

Xin nói thêm vài lời nữa là nếu không đọc quyển “ Y Sĩ Tiền Tuyến” của Trang Châu, không đọc bài viết của Phan Nhật Nam, của Trương Đăng Sĩ trong Đặc San Mũ Đỏ – 70 thì e cũng khó ngồi mài miệt cả tuần để viết nên những trang giấy này.

BS Trần Đoàn sau sang được Mỹ, ở tiểu bang Virginia, tu đạo Phật thành cư sĩ, rất có công trùng tu chùa Hoa Nghiêm ở đây.

Bác sĩ Trần Đoàn là quân y sĩ trong binh chủng Nhẩy Dù VNCH. BS Trần Đoàn có hai người con cũng là sĩ quan y sĩ của Không lực Hoa Kỳ là:

* BS Trần Đại vừa được thăng thưởng lên cấp bậc Y Sĩ Đại Tá, và
* BS Huỳnh Trần Mylene, Nữ Y sĩ Đại tá, Giám đốc Chương trình Y khoa quốc tế của không quân Hoa Kỳ (The Air Force International Specialist Program)

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

http://svqy.org/2019/5-2019/nhung/nhung.html


Nixon bội hứa – Lâm Văn Bé

Hiệp định Paris 1973 ký ngày 27 tháng 1 năm 1973

Bài đọc suy gẫm: Nixon bội hứa hay 30-4 qua nhận định của những người chỉ huy cuộc chiến, biên khảo giá trị của tác giả Lâm Văn Bé. Hình ảnh chỉ là minh họa.

 Nixon cụng ly cùng Chu Ân Lai tại Bắc Kinh, sau đó bỏ rơi miền Nam Việt Nam. Hình dưới: Sinh viên biểu tình phản đối chiến tranh vì bị nhóm khuynh tả giật dây  tại Mỹ.

Những nhận định
Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt 44 năm rồi mà tài liệu viết về chiến tranh nầy vẫn còn phong phú. Không kể các tài liệu còn nằm im trong các kho lưu trữ chưa được khai thác, chỉ kể đến tài liệu các thể loại đang lưu hành trong các thư viện, con số thật khổng lồ.
Tham khảo thư mục World Cat (World Catalog) vào ngày 20/04/2019, với cụm từ Vietnam War 1961-1975, độc giả có thể tìm thấy 61 855 tiêu đề (headings) về tựa (titre) hay chủ đề (sujet). Nếu phân biệt theo ngôn ngữ, trong số những tiêu đề trên có 48 920 tiếng Anh, 4 362 tiếng Việt, 903 tiếng Pháp và 7 670 các ngôn ngữ khác. Nếu tính theo thể loại (format) có 31 744 dưới hình thức sách in, 8 000 sách điện tử, 3 045 luận án đại học, 5 840 video phim ảnh, và 13 226 các thể loại khác (bài báo, hồ sơ, âm nhạc…). Nếu tìm với cụm từ Vietnam history, độc giả sẽ tìm thấy 113 190 tiêu đề, dĩ nhiên trong đó có đề cập đến chiến tranh Việt Nam. Phải hiểu là với gần 200 000 tiêu đề như trên, khối tài liệu liên quan đến chiến tranh Việt Nam đang lưu hành trong hàng trăm thư viện lớn trên thế giới phải có đến vài triệu ấn bản.
Chiến tranh VN được xem như cuộc chiến tranh tàn khốc nhất trong thế kỷ 20 kể về thời gian, mức độ thiệt hại tài sản và nhân mạng. Chỉ riêng nước Mỹ, chi phí chiến tranh đã 150 tỉ Mỹ kim (thời giá hôm nay gần 1000 tỉ, không kể các thiệt hại xã hội, trợ cấp cựu quân nhân, phế nhân… lên đến 3 000 tỉ), 12 tướng, 238 đại tá và 58 000 quân nhân tử trận, 300 000 bị thương. Về phía Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), có 7 tướng và 12 đại tá tử trận, số thiệt hại nhân mạng và tài sản cả hai phía thật to tát.
Sở dĩ chúng tôi đề cập đến khối lượng tài liệu và mức độ tác hại của chiến tranh VN như trên, chúng tôi muốn nói đến nhiều thông tin chính yếu của cuộc chiến, mặc dù đã lần lượt được giải mật, nhưng thực sự không giải tỏa hết được những tranh luận, bất đồng, nhất là về những lý do thất trận của miền Nam.
Về phía Mỹ, 5 năm sau cuộc chiến, Tổng Thống Nixon đã giải thích về sự thất trận của Mỹ trong hồi ký của ông tựa là The Real War như sau: “Có thêm vũ khí nguyên tử trong kho cũng không cứu được VN. Có thêm quân đội tinh nhuệ cũng không cứu được VN. Việt Nam thất trận không phải vì thiếu sức mạnh mà vì thiếu khả năng sử dụng sức mạnh. Sự chia rẽ trong niềm tin của dân chúng đã đưa đến sự suy yếu và sụp đổ quyền lực quốc gia. Cuối cùng, những tác động tiêu cực của vụ Watergate đã khiến Quốc Hội hạn chế quyền điều khiển chiến tranh của Hành Pháp .(sđd, tr.123). Rõ ràng là Nixon phủi tay, đổ lỗi cho người dân và Quốc hội.
Henry Kissinger cũng cùng luận điệu với Nixon đổ lỗi cho Watergate và Quốc Hội nhưng thực sự, từ 1967, ngay khi là cố vấn cho Johnson, ông đã có chủ trương và hành động để Mỹ rút quân đơn phương ra khỏi Việt Nam. Hiệp định Paris là kế hoạch tinh vi của Kissinger để thực hiện của cuộc rút quân đơn phương nầy với “một khoảng thời gian coi được” (a decent interval) nghĩa là làm sao cho cuộc sụp đổ miền Nam với cuộc rút quân của Mỹ có một thời gian để Mỹ khỏi bị chỉ trích là bỏ chạy, bỏ rơi đồng minh của mình. Trong ý đồ ấy, Kissinger đổ lỗi cuộc thất trận miền Nam là vì ý chí chiến đấu của miền Nam yếu kém: “… những cố gắng từ bên ngoài cũng chỉ là bổ túc chớ không thể tạo ra được những cố gắng và ý chí chiến đấu cho người trong nước” (Guenter Lewy. America in Vietnam, p. 441).
Chính vì quan niệm vừa gian dối, vừa cao ngạo nầy, Kissinger đã không giấu diếm sự khinh rẻ và thù ghét chế độ VNCH. “Sao chúng nó không chết hết cho rồi. Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra nếu cứ để cho chúng sống dai dẳng hoài” là câu nói ác độc biểu tõ cái tâm địa gian ác của Kissinger (Ron Nessen. It Sure Looks Different From the Inside, p.98). Ngoài ra, Kissinger cũng không tiếc lời nhục mạ TT Thiệu và người Việt Nam trong quyển hồi ký của ông (The Whitehouse Years): Ông Thiệu chẳng bao giờ thảo luận bằng quan điểm mà theo cung cách của người Việt Nam: gián tiếp, quanh co cốt làm cho người đối thoại mệt nhừ hơn là đi thẳng vào vấn đề, phương pháp mà người Việt đã dùng qua bao thế kỷ để đánh bại đối phương trong những chiến thắng của họ; Người Việt, cả Nam lẫn Bắc đều không xem sự tin tưởng, tình bạn lá quý trọng, họ đã chống đỡ được ngoại bang qua bao thế kỷ không phải là nhờ niềm tin mà là do sử dụng mưu chước (p. 1368)
Về phía VNCH, lúc 19g30 ngày 21 tháng tư, TT Thiệu nói chuyện với quốc dân qua đài truyền hình trước khi từ chức, ông kết tội người Mỹ đã phản bội VN, ông gằn mạnh từng tiếng và lập lại: “các ông bỏ mặc cho binh sĩ chúng tôi dưới cơn mưa pháo của Cộng Sản, đó là hành động vô nhân đạo của một đồng minh vô nhân đạo…”. Sau nầy, trong bộ phim của Michael McClear: Vietnam, the Ten Thousand Day War, tập 12, ông lập lại lời kết tội ấy: “Lẽ ra là nên để cho chính người Mỹ nói lên điều nầy. Tôi nghe nói có nhiều nhân vật quan trọng có trách nhiệm đối với vấn đề Việt Nam đã thú nhận rằng họ đã bỏ chúng tôi”.

Về phía Cộng Sản Bắc Việt, Tổng Bí Thư Lê Duẩn đã trơ tráo tuyên bố: Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa và cả cho nhân loại, đánh cho cả bọn xét lại đang đâm vào lưng ta. Với mục tiêu tối hậu nầy, Cộng Sản Bắc Việt đã dốc toàn lực miền Bắc để xâm lăng miền Nam, tuyến đầu của chủ thuyết Domino mà Tổng Thống Eisenhower đã đem áp dụng ở VN từ 1954 để ngăn chặn làn sóng đỏ tràn xuống vùng Đông Nam Á. Để làm vừa lòng đàn anh Cộng Sản, Bắc Việt đã say máu gây ra cuộc chiến tranh Nam-Bắc, đem sinh mạng và tài sản của người dân phục vụ cho chủ nghĩa cộng sản. Phải chờ đến 20 năm sau, nhân ngày kỷ niệm 20 năm chiến thắng (03/04/1995), Hà Nội mới chính thức công bố thống kê thiệt hại quân nhân miền Bắc và quân Giải phóng Miền Nam: chết 1.1 triệu người, bị thương 600 000 người. Thống kê trên còn nói rõ là số người chết không phải chỉ tử trận trên chiến trường mà còn do các lý do khác như đuối sức, bịnh tật, bị thương không được săn sóc và đường mòn Hồ Chí Minh là mồ chôn tập thể cán binh miền Bắc xâm nhập vào Nam. Chính phủ Cộng Sản cũng xác nhận là cứ 2 người khởi hành từ miền Bắc thì chỉ có 1 người vào đến miền Nam và có 300 000 người chết chưa tìm được hài cốt.
Riêng về miền Nam, cứ 1 người lính Mỹ tử trận thì có 40 người Việt gồm thường dân và quân nhân chết.
Bài viết sau đây trình bày những sự kiên mấu chốt liên quan đến các nhận định kể trên, tuy là không đầy, nhưng đủ để hiểu được những nguyên nhân chính yếu khiến Miền Nam bại trận một cách tức tưởi.
Lyndon Johnson: vừa đánh vừa đàm
Ngày 8-3-1965, Tổng Thống Johnson quyết định gởi Thủy Quân Lục Chiến đổ bộ vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc tham chiến trực tiếp của quân đội Mỹ trên chiến trường Việt Nam. Nhưng chỉ một tháng sau (7 tháng 4), tại đại học John Hopkins (Baltimore), Johnson lại tuyên bố sẵn sàng điều đình vô điều kiện với Bắc Việt một giải pháp hòa bình theo đó Hoa Kỳ sẽ viện trợ 1 tỉ mỹ kim để phát triển vùng Đông Nam Á trong đó có Bắc Việt. Trong khi chánh phủ Sài Gòn ngạc nhiên và ái ngại thì Thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa ra 4 điều kiện tiên quyết: Hoa Kỳ rút khỏi miền Nam, hai miền không được liên kết quân sự với một nước khác, nội bộ miền Nam được giải quyết với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, và tổ chức thống nhất 2 miền không có sự can thiệp nước ngoài.
Mặc dù Johnson cho là Bắc Việt ngoan cố, nhưng trong 3 năm 1965-67, Johnson vãn tiếp tục nhờ nhiều nước trung gian (Anh, Ấn độ, Canada, Liên Hiêp Quốc, Vatican, nhiều nước Đông Nam Á) đề nghị hòa đàm với Bắc Việt. Theo tài liệu của Bộ Quốc Phòng Hoa kỳ, có ít nhất 26 đề nghị. Vẫn không nản lòng, ngày 8 tháng 2, 1967, Johnson lại viết thư thẳng cho Hồ Chí Minh và 1 tuần lễ sau (15/02) Hồ Chí Minh trả lời “…nếu chính phủ Mỹ muốn có những cuộc hội đàm nầy, trước hết, chánh phủ ấy phải ngưng vô điều kiện các vụ oanh tạc và mọi hành động gây chiến khác chống VNDCCH…” (Tâm tư TT Thiệu tr.276)
Rõ ràng là Johnson muốn dùng lực lượng quân sự, vừa đánh vừa đàm, nhưng vô hiệu với Bắc Việt. Sau nầy, TT Thiệu đã nói với Nguyễn Tiến Hưng ở Luân Đôn: chính sách của Mỹ tại VN nay thế nầy, mai thế khác, không phải chỉ chỉ có Tổng Thống Nixon mới bỏ chạy mà cả Tổng Thống Johnson cũng đã muốn tháo lui ngay từ 1965-1966…đem quân vào để rút quân đi. (Tâm tư TTThiệu, tr. 273, 280).
Ngoài yếu tố bất cập, chính sách chiến tranh của Mỹ tại VN còn có nhiều nghịch lý thất lợi cho VN, góp phần lớn cho chuyện 30 tháng Tư.
– Đổ quân Mỹ ồ ạt vào VN làm gia tăng xáo trộn xã hội, kinh tế VN
– Quân Mỹ chỉ quen với chiến tranh quy ước, không quen với chiến tranh du kích, khiến thiệt hại nhiều nhân mạng, gia tăng phong trào phản chiến tại Mỹ và trên thế giới về cuộc chiến tranh xâm lăng của Mỹ, điều mà cộng sản và phản chiến hô hào trên các diễn đàn tuyên truyền.
– Mỹ huấn luyện và Mỹ hóa quân đội VN, nhưng lại chậm trễ việc trang bị vũ khí cho VN. Mỹ chỉ cung cấp súng M-16 sau Tết Mậu Thân trong khi Cộng Sản sử dụng AK-47 tối tân hơn. Tương tự như vậy, VN sử dụng súng chống xe tăng M72, hỏa tiển TOW, đại bác 170 ly trong khi Cộng Sản trang bị tăng B-40, B-41, đại bác 130 ly. Phi cơ tối tân chỉ dành cho phi công Mỹ và phi công VN nhận lịnh của Mỹ.
– Điều kỳ lạ như chánh sách của Mỹ là quyết chiến nhưng không quyết thắng. Nhiều tài liệu cho biết là sau những trận mưa bom ác liệt phá hủy gần như toàn bộ hạ tầng cơ sở Bắc Việt, Hoa kỳ lại ngưng oanh tạc. Nếu Hoa Kỳ tiếp tục oanh tạc thêm vài tuần, Bắc Việt sẽ phải đầu hàng, thậm chí Ted Gundersen, một nhân viên FBI đã nói trên đài truyền hình là sau chiến dịch Operation Linebacker, Bắc Việt đã gởi điện tín đến phòng truyền tin Hoa Kỳ vào đầu năm 1973 xin đầu hàng vô điều kiện nhưng CIA đã giấu nhẹm thông tin nầy. Nếu sự thật là như vậy thì quả tình sự thất bại của cuộc chiến tranh Việt Nam là do sự ngu xuẩn (stupidity) của Mỹ và sự tàn bạo (brutality) của miền Bắc Việt Nam theo Max Hastings trong quyển sách của ông vừa xuất bản tựa là Vietnam: An Epic Tragedy 1945-1975.
Ảnh hội nghị bàn tròn 4 bên tham chiến tại Paris, nhưng thực sự chỉ có người Mỹ và cs. Bắc Việt
 
Bước đầu của kết thúc: hiệp định Paris (27/01/1973)
Hội nghị Paris bắt đầu ngày 13-05-1968 với cuộc gặp mặt chính thức giữa Lê Đức Thọ, Xuân Thủy và Averell Harriman, Cyrus Vance vào cuối thời Tổng Thống Lyndon Johnson (đảng Dân Chủ) và được ký kết ngày 27-01-1973 vào đầu nhiệm kỳ thứ 2 của Tổng Thống Richard Nixon (đảng Cộng Hòa). Lúc bắt đầu chỉ có 2 bên là Bắc Việt và Mỹ, đến ngày 25/01/1969 trở thành 4 bên có thêm VNCH và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tuy kéo dài hơn 4 năm với hơn 100 phiên họp, nhưng những phiên họp công khai đa số chỉ là những màn kịch diễn lại từ các cuộc mật đàm giữa Lê Đức Thọ và Kissinger tại nhà của Jean Sainteny ở Paris. Hội nghị thực sự kết thúc không phải tại Paris mà tại Bắc Kinh khi Nixon gặp Mao Trạch Đông vào tháng 2-1972 tại Thượng Hải, sau 2 năm Kissinger bí mật qua lại để dàn xếp cuộc gặp gỡ. Số phận của Việt Nam Cộng Hòa kể như đã được định đoạt tại đây, Mỹ sẽ rút quân khỏi Việt Nam theo những yêu sách của cộng sản.
Trả lời câu hỏi của Chu Ân Lai, Nixon đã không giấu diếm “nếu như bất cứ người lãnh đạo nào của Bắc Việt chấp nhận cuộc ngưng bắn và trả lại tù binh cho chúng tôi, chúng tôi sẽ rút quân khỏi Việt Nam trong vòng 6 tháng kể từ ngày đó”. (Richard Nixon. Memoirs, p. 568)
Khi Nixon ra tái cử năm 1972, Nixon-Kissinger ráo riết làm áp lực để TT Thiệu ký vào hiệp định. Một mặt, Kissinger thảo một loạt thơ cho Nixon ký (tổng cộng 27 mật thơ từ 1972 đến 1973, không kể những trao đổi giữa TT Ford và TT Thiệu sau khi Nixon từ chức), hứa sẽ ủng hộ ông Thiệu và VNCH, một mặt dùng chánh sách đe dọa, lúc ban đầu là dọa đảo chánh, sau đó là ám sát.
Trong bức thơ Nixon gởi TT Thiệu ngày 06 tháng 10, 1972 có đoạn chót như sau:
Tôi yêu cầu Ông phải áp dụng mọi biện pháp để tránh xảy ra một trạng huống có thể đưa đến biến cố mà chúng tôi ghê tởm như hồi năm 1963 mà chính tôi cũng cực lực phản đối năm 1968.” (Nguyễn Tiến Hưng, KĐMTC. p.91)
Rõ ràng là Nixon đã nhắc lại cuộc đảo chánh và cái chết của hai ông Diệm – Nhu năm 1963 để đe dọa Tổng Thống Thiệu.
Sau khi đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 2, Nixon lại gởi thêm bức thơ khác, lập lại lời đe dọa như trên cộng thêm vài lời phủ dụ:
“…Tôi xin nhắc lại những cam kết của tôi như sau: Thứ nhất, Hoa Kỳ công nhận chính phủ của Ông là chính phủ duy nhất hợp pháp của miền Nam VN; thứ hai, HK không công nhận sự có mặt của một quân đội ngoại quốc trên lãnh thổ Miền Nam và thứ ba, HK sẽ phản ứng mãnh liệt nếu Hiệp định bị vi phạm. Tôi nghĩ rằng Ông có hai lựa chọn chính yếu: một là ông tiếp tục cản trở việc ký kết, đó là hành động có vẻ hiên ngang nhưng thiển cận, hai là dùng bản Hiệp Định như một phương tiện để xây dựng một căn bản mới cho cuộc bang giao giữa Hoa Kỳ và VNCH.” (Nguyễn Tiến Hưng. Khi Đồng Minh Tháo Chạy, p.102-103).
Ngày 27 tháng 1, 1973, Hiệp định Paris được ký kết giữa 4 bên: VNCH, Mỹ, Bắc Việt và Mặt Trận GPMN.
Mỹ rút quân (thực ra lúc đó Mỹ chỉ còn lại có 25 000 quân) và tù binh Mỹ được thả, nhưng Nixon bội hứa cả 3 điều đã long trọng cam kết: 170 000 quân Cộng Sản (Miền Nam và miền Bắc) vẫn ở lại miền Nam; viện trợ quân sự Mỹ vẫn bị cắt giảm từ 2.1 tỉ USD năm 1973 còn 700 000 triệu năm 1975; và Mỹ đã làm ngơ trước sự tấn công vũ bão của cộng sản Bắc Việt vào lãnh thổ VNCH. Miền Nam đã bị bức tử bởi người bạn đồng minh Mỹ và người đao phủ chính là Kissinger.
Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây 
Khi Hiệp Định Paris được ký kết, lực lượng quân sự của VNCH còn mạnh hơn Bắc Việt, nhưng với sự cắt giảm viện trợ của Mỹ trong khi Trung Cộng và Nga Sô tăng cường tiếp tế cho cộng sản Bắc Việt, và mặt khác CS Bắc Việt xâm nhập vào Nam như chỗ không người, do đó chỉ một năm sau, lực lượng miền Bắc đã khống chế Miền Nam. Năm 1974, các nước cộng sản viện trợ cho Bắc Việt một số tiền tương đương với 1.7 tỉ mỹ kim (so với năm 1973 là 700 triệu), 140 000 tấn quân nhu và vào 2 năm cuối, “quân CSBV trang bị vũ khí tối tân và mạnh hơn VNCH, với 650 xe tăng, 400 đại pháo 122 ly, 130 ly có tầm bắn xa hơn đại bác của VNCH.
Sau khi ký Hiệp định Paris, Hà Nội huy động 30 000 nhân công cho khởi công xây xa lộ Trường Sơn Đông hay hành lang 613 song song với đường mòn Hồ Chí Minh hay còn gọi là Trường Sơn Tây (cách xa nhau 160 km ở đoạn xa nhất) nhưng hoàn toàn nằm trong lãnh thổ VN, chạy từ Đồng Hới đến Lộc Ninh. Nếu kể cả đường chiến lược (Bắc Nam) và đường chiến dịch (Đông Tây) cũ và mới, tổng cộng đường tiếp vận từ Bắc vô Nam dài đến 20 000 km. Dọc theo Trường Sơn Đông có hệ thống dẫn dầu từ Quảng Trị qua Tây Nguyên vào tới Lộc Ninh dài 5 000km. Đường dây điện thoại cũng đã kéo tới Lộc Ninh, từ Hà Nội có thể nói chuyện thẳng với nhiều chiến trường trong Nam.
Mặc dù phi cơ thám thính của VNCH thấy rõ sự di chuyển của đoàn quân xâm lược Bắc Việt nhưng Hoa Kỳ ngăn cản không cho không quân VNCH đánh phá, điều thật khó hiểu, vả chăng VNCH cũng không có đủ phi cơ để làm việc nầy sau khi Mỹ rút quân. Một số giới chức quân sự cho rằng viện trợ của Nga, Trung Cộng cho miền Bắc giai đoạn sau Hiệp Định Paris gia tăng gấp 3-4 lần so với thời gian trước, nhưng sự thực còn nhiều hơn vì CS đã dốc toàn lực quân nhân và khí giới của cả miền Bắc vào chiến trường miền Nam qua những xa lộ thênh thang nầy.
Chỉ trong 4 tháng đầu năm 1975 “đoàn vận tải Trường Sơn vận chuyển vào Nam Bộ 11 vạn 5 nghìn quân và 9 vạn tấn hàng (trong đó có 37.000 tấn vũ khí, 9.000 tấn xăng dầu). Riêng trong những ngày “chuẩn bị nước rút” từ ngày 5 đến 26-4, vừa khai thác vừa vận chuyển, ta đã đưa vào chiến trường 10.100 tấn đạn, 2.300 tấn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, 2.600 tấn xăng dầu. Nhiều trạm sửa chữa ôtô, sửa chữa pháo và tăng được bố trí dọc đường, phục vụ cơ động của chiến dịch. (Văn Tiến Dũng. Đại Thắng Mùa Xuân)
Ngoài Trường Sơn Đông và Trường Sơn Tây, Trung Cộng còn dùng hải cảng Sihanoukville của Cambot (bây giờ là Kompong Som) để nhận hàng tiếp tế cho quân Bắc Việt, rồi từ đó dùng xe chở về các mật khu của Việt Cộng ở biên giới Việt-Miên. Cho đến năm 1969, con đường tiếp tế nầy còn quan trọng hơn Đường mòn Hồ Chí Minh. Tương tự như với Cambot, chánh phủ Lào cũng cho phép Bắc Việt chuyển vận người và vật qua đường mòn Hồ Chí Minh, và tuy VNCH có phối hợp với Bộ Tư Lệnh Mỹ ở VN đánh vùng Mỏ Vẹt và Hạ Lào để triệt hạ các căn cứ của CS, nhưng chuyện như bắt cóc bỏ dĩa vì sau một vài trận thư hùng, các mật khu CS vẩn tiếp tục phát triển. Thì ra, VNCH bị 3 xứ xung quanh vây đánh trong khi đồng minh của VNCH là Mỹ tìm cách rút lui.
Đường mòn HCM (Trường Sơn Tây) và Hành Lang 613 (Trường Sơn Đông)
Nguồn: Nguyễn Đức Phương
Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu chiến trường miền Nam
Sau khi chuẩn bị kỹ hậu cần, từ mùa hè 1974, Bộ Chính trị, Quân Ủy Trung Ương và các cấp chỉ huy chiến trường miền Nam đã có nhiều phiên họp tại Hà Nội để thảo luận về kế hoạch hành động.
Trong quyển Tổng Hành Dinh trong mùa Xuân Toàn Thắng, Võ Nguyên Giáp viết: Đầu tháng 12, các anh Phạm Hùng (Bí Thư Trung ương Cục Miền Nam) Trần Văn Trà (thượng tướng, Tư Lịnh Miền B2 gồm Nam Bộ và Nam Trung Bộ), Phan Văn Đáng (Nam Bộ), Võ Chí Công, Chu Huy Mân (Khu 5) đã có mặt ở Hà Nội. Tôi và Bộ Tổng Tham mưu đã gặp và làm việc với các anh, tranh thủ thêm ý kiến của chiến trường về hướng tiến công chiến lược, về mục tiêu tiến công. Về kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976, mọi người đều cơ bản nhất trí. Về hướng chiến trường chính, đã có hai ý kiến: một là chọn Tây Nguyên, hai là chọn miền Đông Nam Bộ… Các đồng chí ở B2 với thực tiễn và kinh nghiệm chiến đấu, nắm tình hình địch tại chỗ, chủ trương trước hết đánh Đồng Xoài, chi khu quận lỵ và là vị trí then chốt của tỉnh Phước Long.
Đêm 13 /12/1974, quân Bắc Việt tấn công Phước Long. Lực lượng VNCH chỉ có địa phương quân, nghĩa quân và 4 trung đội pháo binh, tổng cộng độ 4 000 người. Về phía cộng sản, họ sử dụng 2 sư đoàn (SĐ7 và SĐ3) cộng thêm các đơn vị pháo binh, xe tăng, đặc công và phòng không, cộng chung lực lượng hơn VNCH gấp 6 lần. Sau 3 tuần cầm cự, Phước Long thất thủ ngày 6/1/1975). Từ đầu cuộc chiến kéo dài đến 20 năm, đây là lần đầu tiên VNCH bị mất một tỉnh.
Chiến thắng Phước Long đã đưa cộng sản đến một quyết định chiến lược tối hậu: Bộ Chính trị hạ quyết tâm: Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ở cả hai miền trong thời gian 1975-1976, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị, kết hợp với đấu tranh ngoại giao, xách động quần chúng, tiến hành tổng công kích, tổng khởi nghĩa… Ngoài kế hoạch chiến lược 1975-1976, Bộ Chính trị còn dự kiến: Nếu thời cơ đến vào đầu hoặc cuối năm 1975 thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975. (Tổng Hành Dinh trong mùa Xuân Toàn Thắng, tr. 108).
Để thực hiện cuộc Tổng công kích và Tổng khởi nghĩa, Bộ Chính Trị đã cử Văn Tiến Dũng vào Tây Nguyên làm Quân Ủy Chiến dịch 275 với bí danh là Tuấn để đánh chiếm Tây Nguyên. Tư Lịnh chiến trường là Trung Tướng Hoàng Minh Thảo điều khiển 4 sư đoàn 310, 316, F10 và Ba sao vàng với hàng trăm chiến xa T-54, đại bác 130 ly, hỏa tiển 120 ly. Với kế nghi binh giả vờ đánh Pleiku, Kontum để nhử quân VNCH đến giải tỏa, quân cộng sản cắt các đường dẫn đến Ban Mê Thuột rồi tấn công bằng biển người, đại pháo và xe tăng vào thị xã Ban Mê Thuột ngày 10/03/1975. Đạo quân trấn đóng của VNCH chỉ có 1 trung đoàn phải chiến đấu với quân cộng sản gấp 20 lần, lại thêm không may không quân VNCH oanh tạc lầm vào Bộ chỉ huy của Trung đoàn khiến mọi liên lạc với Quân Đoàn 2 bị cắt đứt, đạo quân tiếp viện bị chận đánh.
Ban Mê Thuột thất thủ vào ngày 14 tháng 3. Ngoài yếu tố lực lượng giữa phía phía CS và VNCH quá chênh lệch, nhiều nhận định của các giới chức Mỹ-Việt, được lập lại bởi báo chí cho là việc mất Ban Mê Thuột là do lỗi của tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II đã không nghe theo tin tức của quân báo, mắc lừa kế nghi binh của cộng sản, tướng Phú không có khả năng lãnh đạo, thuộc cấp không phục tùng, không am tường địa thế vì mới được bổ nhiệm 3 tháng thì vùng cao nguyên dậy khói lửa. Tuy nhiên, một số cộng sự viên của ông thì lại có những nhận định khác, rằng ông là nạn nhân của một trạng huống vượt quá khả năng quyết định vì sự bất nhất, bất minh của thượng cấp.
Kết thúc cuộc chiến
Cuộc họp ngày 11 tháng 3 ở Dinh Độc Lập
Một ngày sau khi cộng sản tấn công Ban Mê Thuột (11/03/1975), TT Thiệu họp với 3 tướng lãnh chủ chốt của chế độ là Trung Tướng Đặng Văn Quang, Cố vấn An ninh, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng. Sau khi duyệt xét tình hình, ông có quyết định: “Với khả năng và lực lượng chúng ta đang có, chắc chắn chúng ta không bảo vệ được tất cả lãnh thổ. Như vậy, chúng ta nên tái phối trí lực lượng và bảo vệ những nơi đông dân, trù phú vì những vùng đất đó mới thực sự quan trọng” (Trần Đông Phong.VNCH, 10 ngày cuối cùng, tr.116).
Quan điểm nầy cũng trùng hợp với ý kiến của tướng Westmoreland, cựu Tổng Tư Lịnh quân Mỹ ở VN chuyển qua ông Trần Kim Phượng, đại sứ VN tại Mỹ 2 ngày sau đó: “VNCH nên vừa rút quân đúng cách, vừa gây cho địch càng nhiều thiệt hại càng tốt, rồi tiến lần về vùng quan trọng là Nam Kỳ (Cochinchina) gồm Saigon và Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi có thể cầm cự được rồi tìm thêm tiếp liệu, và hi vọng cuộc khủng hoảng nầy sẽ làm cho Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ lại” (William Westmoreland. A Soldier Reports, p.400).
Phải chăng quyết định tái phối trí là một ý tưởng cũng đã nhen nhúm từ lâu bởi lẽ từ đầu năm 1974, tướng John Murray, đại diện cơ quan Quốc phòng Mỹ DAO ở Sài Gòn đã báo động cho Bộ Tổng Tham Mưu VN phải tiết kiệm đồ tiếp liệu, nhất là đạn dược bởi sự cắt giảm viện trợ Mỹ, đồng thời ông cũng cung cấp một ước lượng vùng lãnh thổ VN có thể bảo vệ được tương ứng với số tiền viện trợ.
– Nếu tiền viện trợ là 1.4 tỉ MK: có thể bảo vệ được cả 4 vùng chiến thuật
– Nếu tiền viện trợ là 1.1 tỉ MK: không thể giữ được Vùng I
– Nếu tiền viện trợ là 900 triệu MK: không thể giữ được Vùng I và II
– Nếu tiền viện trợ là 750 triệu MK: chỉ giữ được một số vùng đông dân
– Nếu tiền viện trợ là 600 triệu MK: chỉ giữ được Sài Gòn và Miền Tây.
Ngân sách năm 1975 chỉ còn 300 triệu sau khi bị khấu trừ một số thâm hụt trước đó và trả chi phí cho cơ quan DAO. Sau nầy, Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng khi gặp ông Thiệu ở Luân Đôn được biết thêm kế hoạch rút quân về Miền Tây của ông Thiệu như sau: “Sau khi rút khỏi Đà Nẵng, quân chủ lực chỉ còn vỏn vẹn 63 000 người. Phải bỏ Sài Gòn, nhưng tôi sẽ để một sư đoàn ở lại trấn giữ (để chận đường) rồi rút hết về miền Tây. Khi nào qua được Bến Lức thì sẽ phá cầu đi, và đây là tuyến cuối cùng. Sau đó không quân và hải quân sẽ cứu sư đoàn còn lại ở Saigon, được bao nhiêu hay bấy nhiêu” (NTH.Tâm tư TT Thiệu, tr. 120).
Kế hoạch nầy giống ý của kế hoạch Westmoreland kể trên và phải chăng ông Thiệu không thực hiện được vì những biến cố quân sự, chính trị và xã hội dồn dập khiến ông phải từ chức rồi ông và nhiều ông tướng khác di tản trước khi Dương Văn Minh đầu hàng. Nếu kế hoạch được thực hiện, chắc chắn sau đó không có hàng triệu người phải đi kinh tế mới và bị đi tù cải tạo, và VNCH vẫn còn có sở pháp lý trên trường quốc tế.
Cuộc họp ngày 14 tháng 3 tại Cam Ranh
Ba ngày sau cuộc họp tại Dinh Độc Lập, ngày 14-3, một cuộc họp mật khác tại Cam Ranh cũng gồm tổng thống và 3 vị trong cuộc họp ngày 11 /03 thêm tướng Phạm Văn Phú. Những quyết định của phiên hợp lịch sử nầy đã đưa đến những hỗn loạn dây chuyền làm tan rã quân đội Việt Nam Cộng Hòa 55 ngày sau đó mà hậu quả là xóa tên chế độ VNCH.
Frank Snepp, phụ tá của Thomas Polgar, Giám Đốc CIA tại VN, trong quyển Decent Interval xuất bản năm 1977, kể lại một số chi tiết của phiên họp mật nầy nhờ Đặng Văn Quang, vì “cơ quan tình báo CIA đã trả lương và nâng đỡ ông Quang trong bao nhiêu năm và đã bảo đảm giúp cho ông ta có một địa vị (Cố vấn về An Ninh) bên cạnh ông Thiệu” (sđd, p.495). Thì ra, bên cạnh ông Thiệu có nhiều gián điệp chiến lược cộng sản (Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng…) và cả một hệ thống điệp viên Mỹ. Đó cũng là một lý do quan trọng của cuộc bại trận.
Theo Frank Snepp thì Thiếu Tướng Phú trả lời với TT Thiệu là có thể bảo vệ được vùng cao nguyên trong vòng một tháng nếu được tăng viên quân số, vũ khí và không quân, điều mà TT Thiệu từ chối vì không còn lực lượng trừ bị. Giải pháp duy nhất là bỏ hai tỉnh Pleiku và Kontum để dùng những lực lượng nầy tăng cường vùng duyên hải và yểm trợ cho cuộc phản công tái chiếm Ban Mê Thuột.
Về việc triệt thoái, Tướng Phú phân vân giữa hai con đường Quốc Lộ 19 từ Pleiku đi Qui Nhơn và Quốc Lộ 14 đi từ Ban Mê Thuột về vùng III, vì hai con đường nầy đã bị cộng sản kiểm soát từng đoạn nên sau cùng Tướng Phú nghiêng theo phân tích của tướng Cao văn Viên là chọn đường Liên Tỉnh 7B là con đường nhỏ, bỏ hoang từ lâu để đi về Tuy Hòa. Nhưng cuộc triệt thoái là một thảm họa tàn khốc vì không kế hoạch, bị công sản rượt theo tấn công, cầu Ea Pha bắc qua sông Ba chưa hoàn tất, không quân thả bom lầm ngay vào đoàn quân đi đầu làm thiệt hại một tiểu đoàn…Hậu quả là trong số 200 000 dân di tản chỉ có 60 000 về đến Tuy Hòa, 75% lực lượng của Quân Đoàn II bị tiêu diệt chỉ trong 10 ngày.(Trần Đông Phong, sđd, tr.119). Chính cuộc triệt thoái thất bại nầy của tướng Phú làm bại hoại quân lực và niềm tin của quân dân với chế độ, làm sụp đổ chế độ nhanh không thể ngờ.
Triệt thoái Vùng I, Vùng Duyên hải phía Nam
Nguồn: Nguyễn Đức Phương. Chiến tranh VN toàn tập
Trong khi Văn Tiến Dũng tấn công Ban Mê Thuột thì Quân Khu I do tướng Ngô Quang Trưởng chỉ huy tương đối còn yên ổn vì được bảo vệ bởi 5 sư đoàn. Sau khi chiếm được Ban Mê Thuột, Võ Nguyên Giáp gởi điện văn cho Quân Khu Ủy B4 (Trị -Thiên) ra lịnh đẩy mạnh tấn công để chia cắt Huế và Đà Nẵng.
Ngày 19/03, Quảng Trị rơi vào tay CS khiến Huế bị đe dọa. Ngày 20/03, lúc 13g TT Thiệu tuyên bố trên đài phát thanh là Quân Đoàn 1 sẽ cố thủ Huế bằng mọi giá sau khi họp với Tướng Trưởng ở Dinh Độc Lập, nhưng đến chiều cùng ngày, khi Tướng Trưởng về tới Đà Nẵng thì nhận được mật điện khẩn số 2238 của TT Thiệu gởi qua Bộ Tổng Tham Mưu ra lịnh cho Tướng Trưởng “nếu tình hình bắt buộc chỉ giữ Đà Nẵng mà thôi” và cho rút Sư đoàn Dù về Sài Gòn ngay. Tướng Trưởng đã trả lời: “Tham chiếu công điện số 2248 của Đại tướng, tôi e ngại không thi hành nổi lệnh nầy. Xin Đại Tướng tìm người thay thế tôi”. Ngày hôm sau, Tướng Viên gởi công điện cho Tướng Trưởng: “Tình hình hết sức khẩn trương, Trung tướng liệu mà làm”.
Khi mà ông Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng ra lịnh cho ông Tư Lịnh Chiến trường “liệu mà làm” thì xem như quân đội đó đã tan rã. Dân chúng nhốn nháo “chạy giặc” khắp nơi từ trên đất liền tới biển, và chỉ trong 25 ngày, từ ngày 19 tháng 3 đến 16 tháng 4, 1975, ba quân khu lần lượt lọt vào tay cộng sản mà họ không cần phải đổ nhiều xương máu, tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị địch bắt, tướng Ngô Quang Trưởng và Hồ Văn Kỳ Thoại phải vất vả lắm mới thoát được chạy về Sài Gòn.
Chiến dịch Hồ Chí Minh (09/04 đến 30/04)
Ngày 06/04/1975, Lê Duẩn (anh Ba) cử Văn Tiến Dũng làm Tư Lịnh Mặt Trận Sài Gòn, Phạm Hùng làm Chính Ủy, Trần Văn Trà làm Phó Tư Lịnh thứ nhất kiêm Tham mưu trưởng, Sáu Nam tức Lê Đức Anh làm Phó Tư Lịnh và Lê Ngọc Hiền làm Tham mưu phó. Bộ tư lịnh đặt ở Lộc Ninh. Hôm sau, Lê Đức Thọ (Anh Sáu), nhân vật số 2 của chế độ, từ Hà Nội đến mặt trận để chỉ huy toàn bộ Chiến dịch 275 đổi tên ngày 14/04 thành Chiến dịch Hồ Chí Minh, mang theo văn thư của Chủ Tịch Tôn Đức Thắng gởi “Các đồng chí phải chiến thắng, nếu không thì đừng có trở về”.
Ngày 9 tháng tư, cộng sản bắt đầu Chiến dịch Hồ Chí Minh bằng cách huy động 3 sư đoàn 6,7 và 321 tấn công thị xã Xuân Lộc. Trung đoàn 48 thuộc Sư đoàn 18 BB của tướng Lê Minh Đảo đã anh dũng chống trả, mặc dù CS pháo kích đến 10 ngàn đại pháo trong một ngày (theo Snepp thì 1000, có lẽ hợp lý hơn), đã đẩy lui được quân CS, và đây là lần đầu tiên sau 3 tháng chiến thắng trên nhiều mặt trận, chiếm được 14 tỉnh, quân CS bị chận bước tiến. Tướng Trần Văn Trà, trong hồi ký Kết thúc cuộc chiến 30 năm, đã nhìn nhận là ba sư đoàn của Hoàng Cầm bị thiệt hại rất nhiều, Tướng Trà phải tăng viện quân trừ bị của sư đoàn 6 và 7 rồi tấn công Dầu Dây trên Quốc Lộ số 1.
Trong khi ông Thiệu đọc diễn văn từ chức, các đơn vị cuối cùng của sư đoàn 18 của tướng Lê Minh Đảo rút ra khỏi Xuân Lộc, và vài giờ sau, bộ chỉ huy Quân Đoàn 3 của tướng Nguyễn Văn Toàn phải di tản về Sài Gòn. Biên Hòa và Vũng Tàu bị đe dọa nặng. Chỉ 2 giờ sau lễ bàn giao giữa ông Thiệu và ông Hương, đài phát thanh Giải phóng và Hà nội đồng loạt tuyên bố: “Đó cũng chỉ là một chế độ bù nhìn, chánh phủ Thiệu không có Thiệu” (Todd, p.316).
Trong khi đó, một biến cố quân sự quan trọng xảy ra sát nách Sài Gòn. Lê Duẩn đánh điện cho Lê Đức Thọ và Văn Tiến Dũng đang đặt bản doanh ở Lộc Ninh yêu cầu gia tăng các cuộc tấn công càng mạnh càng mau trên khắp các mặt trận. Mọi chậm trễ có thể đưa đến những hậu quả quân sự và chính trị trầm trọng. Theo Olivier Todd thì Lê Duẩn sợ rằng nếu chiến trường kéo dài thì áp lực chính trị quốc tế có thể can thiệp để chia cắt đất đai như hồi 1954 trước hội nghị Genève. Tuân hành chỉ thị này, Văn Tiến Dũng ra lịnh cho tất cả các lực lượng từ chiến khu C, chiến khu D, Khu Tam giác Sắt ở miền Đông, và các lực lượng ở vùng đồng bằng Cửu Long và Cà Mau chuẩn bị tổng tấn công vào Sài Gòn và các tỉnh. Để phân công, bộ phận chính trị do Lê đức Thọ và Phạm Hùng đóng ở Lộc Ninh, còn tướng Trần văn Trà và Văn tiến Dũng lập bộ tham mưu mặt trận ở Bến Cát, sát nách Sài Gòn.
Ngày 30 tháng tư
* 2giờ 30 sáng, tại tòa đại sứ Mỹ còn 1000 người Việt, 53 nhân viên dân sự và 173 thủy quân lục chiến trong khi ở phi trường TSN còn độ 2000 chờ phi cơ.
* 4 giờ 42: chiếc trực thăng mang tên Lady Ace 9 đáp xuống nóc tòa đại sứ. Viên phi công trình lệnh của Tổng Thống: Martin phải lên phi cơ. Nếu Martin không tuân lệnh, viên phi công còn có một lệnh khác của Gayler, tư lịnh Mỹ vùng Thái Bình Dương là áp giải Martin.
* 7 giờ 53: chiếc trực thăng cuối cùng chở những binh sĩ cuối cùng (thực ra còn 2 xác thủy quân lục chiến ở Tân Sơn Nhất), yểm trợ bằng 6 trực thăng võ trang Cobra rời tòa đại sứ. Họ ném hơi cay trên đầu 420 người Việt còn đứng chờ bàng hoàng, ngơ ngác. Lá cờ Mỹ đã cuốn đi mang theo nỗi thất vọng, cay đắng, oán hờn, sung sướng, của người Việt bắt đầu một trang sử mới.
* 8 giờ sáng, tại dinh Phủ Thủ Tướng, ông Dương Văn Minh họp cùng các nhân vật quan trọng của nội các mới như Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu để trình bày tình hình quân sự và chính trị đã đến hồi tuyệt vọng, cuộc thương thuyết với chánh phủ Mặt Trận Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam và Hà Nội, qua trung gian của Pháp kể như không có trong khi thành phố Sài Gòn đã hỗn loạn cực kỳ.
* 9g30: sau phiên họp, nội các Dương Văn Minh đến dinh Độc Lập dự định theo chương trình để bàn giao với Nguyễn Văn Hảo, Phó Thủ tướng trong nội các Nguyễn Bá Cẩn, nhưng cuộc bàn giao không xảy ra mà họ chờ quân giải phóng đến.
* 11g30: “…tiếng chân người vang dội trong đại sảnh, có cả tiếng khua vũ khí và tiếng đạn lên nòng. Rồi tiếng hô từ phía đại sảnh: Mọi người đi ra khỏi phòng. Một người bộ đội cấp chỉ huy nói với ông Minh: Anh hãy viết một bản tuyên bố đầu hàng. Ông Minh trả lời rằng sáng nay ông đã có một tuyên bố trao quyền rồi. Viên chỉ huy nói: Anh chẳng có gì để trao. Anh chỉ có thể tuyên bố đầu hàng… Ông Minh vẫn đứng yên lặng. Viên chỉ huy yêu cầu ông Minh đi đến đài phát thanh để thảo và đọc bản tuyên bố đầu hàng…Trước khi rời dinh Độc Lập đến đài phát thanh, ông Minh nói với vị chỉ huy bộ đội: Vợ tôi vẫn ở đây. Xin các anh bảo đảm an ninh giùm. Viên chỉ huy đáp: Anh hãy yên tâm…Ông Minh và ông Mẫu được đưa đến đài phát thanh Sài Gòn trên chiếc xe Jeep của bộ đội…Bản tuyên bố đầu hàng do chính trị viên Bùi Văn Tùng thảo. Ông Minh đọc và đài phát lúc 13 giờ (Lý Quý Chung. Hồi ký không tên, tr. 407-08)
Pierre Darcourt kể lại với nhiều chi tiết sống sượng hơn:
* “Đúng 12 giờ 10 phút, ba chiếc xe tăng T54 cán dẹp những hàng rào cản sơn màu trắng đỏ bao quanh dinh Độc Lập. Họ bắn chỉ thiên một tràng dài, ủi sập cánh cổng lớn, cán lên trên rồi tiến thẳng vào dinh Độc Lập, cày bừa lên các bãi cỏ trong sân. Hai chiếc xe Jeep và một chiếc xe vận tải chạy đến, qua mặt các chiến xa. Tất cả mang cờ của Mặt Trận Giải Phóng Miên Nam…Vị sĩ quan cao cấp được 4,5 lính CS hộ tống ập vô đại sảnh, nơi mà tướng Dương Văn Minh đang hội họp với các người thân cận của ông ta. Thấy vị sĩ quan đeo đầy sao vàng trên cầu vai nền đỏ, Tướng Minh tưởng rằng mình đứng trước một sĩ quan cao cấp nên nói:
– Thưa quan sáu (nguyên văn: mon général ong sau), tôi đã chờ ông từ sáng để trao quyền cho ông.
– Mầy (nguyên tác: tu, có thể dịch là anh, nhưng mày có lẽ đúng hơn trong hoàn cảnh nầy) dám nói là trao quyền à. Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một tên bù nhìn. Mầy chẳng có quyền nào để trao cho tao cả. Chúng tao đạt được quyền bằng khẩu súng trong tay. Tao nói cho mày rõ là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chính trị. Và kể từ bây giờ, tao cấm mầy không được ngồi xuống. Gương mặt tướng Minh co rúm lại. Giọng nói hung bạo và khinh miệt của người sĩ quan khiến ông Minh hiểu rõ là ông đang đứng trước mặt một sĩ quan miền Bắc (nguyên tác: Tonkinois) chớ không phải là người Mặt Trận miền Nam. Tướng Minh cố giữ bình tĩnh và nhẹ nhàng nói:
– Chúng tôi đã có làm sẵn một bữa cơm để tiếp các ông. Có yến, súp măng cua.
Viên trung tá sẵng giọng
– Tụi bây đang ở trong tình trạng bị bắt. Hãy giữ thức ăn tư sản cho tụi bây. Chúng tao sẽ cho tụi bây ăn cơm dã chiến, một nắm cơm vắt và một hộp thịt mặn.
Tất cả các tổng trưởng hiện diện đều bị khám xét và bị bắt giam trong một phòng. Dinh Độc Lập bị tràn ngập bởi phóng viên báo chí” (Darcourt, p.209).
* Lúc 16 giờ 30, tướng Minh được rời khỏi phòng giam lỏng ở tầng dưới dinh Độc Lập. Một phóng viên của nhật báo Quân đội giải phóng hỏi ông:
– Ông nghĩ sao về những biến cố mà ông vừa trải qua?
Ông Minh ngập ngừng giây lát rồi trả lời với ngôn ngữ tuyên truyền mà CS thường sử dụng
– “Chúng tôi đã nhận thức được sức mạnh của Chánh phủ cách mạng lâm thời và của quân đội giải phóng. Các đơn vị thiết giáp của quân giải phóng thực hùng mạnh, quân đội Sài Gòn không thể nào đương cự được, chỉ còn có việc đầu hàng không điều kiện mà thôi…Các ông đã đạt được chiến thắng một cách nhanh chóng, chúng tôi vô cùng sung sướng. Chúng tôi và gia đình chúng tôi bình yên, thật là may mắn” (Darcourt, tr. 213).
Và sau đó, các nhân vật trong nội các cuối cùng của VNCH lưu xú với những câu nói bất hủ.
– Ông Vũ văn Mẫu thì hớn hở, nhảy nhót: “Các anh đánh hay lắm. Tôi rất sung sướng đã đuổi được người Mỹ ra đi. Bây giờ thì chúng ta với chúng ta mà thôi. Sau khi nhắc lại quê ông ở quận Thường Tín, phía Nam Hà Nội và chuyện ông cạo đầu phản đối ông Diệm, ông nói: Kể từ hôm nay thì tôi sẽ để tóc lại được rồi”
– Ông Nguyễn Văn Hảo đưa tay lên và nói lớn: “Các anh thật đáng phục vì đã đánh bại được nước Mỹ, chúng tôi hi vọng là tài nguyên của đất nước sẽ được sử dụng để xây dựng đất nước chúng ta”. (Darcourt, tr.213).
Nếu Cộng Sản Miền Bắc và Miền Nam là những kẻ thù của VNCH thì những người làm chính trị vọng tưởng, u mê, cơ hội chủ nghĩa, tranh đấu hay núp bóng dưới nhãn hiệu hòa giải hoà hợp, thành phần thứ ba, tất cả cũng là những kẻ thù của dân tộc bởi lẽ họ đã vô tình hay cố ý đánh phá phe quốc gia, góp công cho chiến thắng của cộng sản mặc dù cộng sản vẫn khinh rẻ họ và xem họ là kẻ thù.
Kết luận
Bài viết không mục đích định công buộc tội bởi đó là lãnh vực của lịch sử, tuy khi từ chức ngày 21 tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Thiệu đã nói trước đồng bào là: Khi tôi ra đi, tôi xin đồng bào, chiến sĩ cán bộ, tất cả các đoàn thể nhân viên tôn giáo, hãy thứ lỗi cho tôi những lỗi lầm gì đã có với quốc dân trong suốt 10 năm qua; và khi gặp Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng ở Luân Đôn đề cập đến cuộc thua trận, ông nói: Je suis responsable mais pas coupable – Tôi chịu trách nhiệm nhưng tôi không có tội (Tâm tư TT Thiệu, tr. 61).
Tuy nhiên, nhìn qua các biến cố, chúng tôi mạo muội có nhận định là VNCH rơi vào tay cộng sản vì 3 lý do chính yếu:
– Thứ nhất: Muốn rút quân, Mỹ đã phản bội VNCH bằng cách nhượng bộ CSBV nhiều điều nhục nhã và giảm bớt viện trợ quá nhiều và quá nhanh. Hậu quả là VNCH không có đủ thời gian và phương tiện cần thiết để tổ chức lại một đạo quân và một chiến thuật quân sự tự lập, khả dĩ chống đỡ lại sức tấn công vũ bão của đạo quân Bắc Việt hùng mạnh hơn gấp nhiều lần, nhất là từ lúc CS tổng tấn công Ban Mê Thuột, VNCH đã can kiệt súng đạn và nhiên liệu mà theo tướng Cao Văn Viên chỉ còn đủ sử dụng đến tháng 6/1975;
– Thứ hai: Trong số những người cầm vận mạng quốc gia của Đệ nhị cộng hòa, một số tướng lãnh bị xem là thiếu khả năng lãnh đạo và dũng khí, tham nhũng và phe nhóm, đã làm suy giảm nhiệt quyết của giới sĩ quan trung cấp, mặc dù quân đội Việt Nam Cộng Hòa vẫn can trường chiến đấu trên các mặt trận;
– Và sau cùng, sự suy giảm uy tín của chánh phủ Thiệu đã dấy lên những cuộc biểu tình chống đối của những phần tử đối lập chân chính và thời cơ, những thành phần thứ ba thật và giả, những thành phần thân cộng và cộng sản trà trộn trong các đoàn thể sử dụng chiến lược tổng nổi dậy của cộng sản, làm hậu phương rối loạn khiến cộng sản thắng hay thắng nhanh hơn.
Sau 44 năm miền Nam rơi vào tay Cộng Sản, đất nước càng thêm tang thương, tụt hậu, xã hôi băng hoại đạo đức, bị thế giới xem thường vì cấp lãnh đạo, từ trên xuống dưới, đại đa số đều ngu dốt, tham nhũng, độc tài và vô đạo.
 Uwe Siemon-Netto, người ký giả gốc Đức

Để kết thúc, chúng tôi xin mượn lời của Uwe Siemon-Netto, người ký giả gốc Đức đã có mặt trên khắp các chiến trường Việt Nam từ 1965 đến 1972, đã chứng kiến những cảnh tượng cộng sản tàn sát tập thể dân Huế và các giáo sư người Đức đến giảng dạy thiện nguyện cho Đại học Y khoa Huế. Ông viết: “Chiến thắng của cộng sản dựa vào những căn bản độc ác, khủng bố, tàn sát và phản bội. Hiển nhiên, tôi không biện minh cho chuyện tiếp tục đổ máu nhằm điều chỉnh lại hậu quả tàn khốc đó, cho dù có khả thi đi chăng nữa. Là một người ngưỡng mộ tính kiên cường của dân tộc VN, tôi tin là cuối cùng họ sẽ tìm ra phương cách ôn hòa và các lãnh tụ chân chính để họ có thể thoát khỏi những tay bạo chúa. Có thể sẽ phải mất nhiều thế hệ, nhưng điều đó sẽ xảy ra” (Duc: A Reporter’s Love for A Wounded People / bản dịch của Lý Văn Quý).
27/04/2019
Lâm Văn Bé

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Dòng Sông Cũ

____________________________________
Thư mục tham khảo chính yếu:
– Lê Duẩn. Thư vào Nam.
– Trần Văn Trà. Kết thúc cuộc chiến 30 năm.
– Văn Tiến Dũng. Đại thắng mùa Xuân.
– Võ Nguyên Giáp. Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng.
– Lưu Văn Lợi. Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ-Kissinger tại Paris.
– Lý Quý Chung. Hồi ký không tên.
– Nguyễn Đức Phương. Chiến tranh Việt Nam toàn tập. -Toronto: Làng Văn, 2000
– Nguyễn Tiến Hưng. Khi Đồng minh tháo chạy. – San José: Hứa Chấn Minh, 2005.
– Nguyễn Tiến Hưng. Tâm tư Tổng Thống Thiệu. – San José: Hứa Chấn Minh, 2010 .
– Trần Đông Phong. Việt Nam Cộng Hòa: 10 ngày cuối cùng. – California: Nam Việt, 2006.
– Darcourt, Pierre. Viêtnam, qu’as-tu fait de tes fils. -Paris: Albatros, 1975.
– Nixon, Richard. The Memoirs of Richard Nixon.- New York: Grosset and Dunlap, 1978.
– Nixon, Richard. The Real War. New York: Warner Books Press, 1980.
– Snepp, Frank. Sauve qui peut. – Paris: Éditions Balland, 1977. (Dịch từ: Decent Interval).
– Todd, Olivier. La chute de Saigon: Cruel Avril. – Paris: Robert Laffont, 2005
– Uwe Siemon-Netto. Duc: A Reporter’s Love for A Wounded People / Bản dịch của Lý Văn Quý.Vinh quang của sự phi lý.
– Westmoreland, William. A Soldier Reports. – Garden City: NY Doubleday, 1976.

“Xuân ơi! Xuân ơi!” – Vương Mộng Long

Bài đọc suy gẫm: “Xuân ơi! Xuân ơi!” hay Thời Thế, Thiện, Ác và Con Người, tác giả Vương Mộng Long, ông cũng là sĩ quan Võ bị của Quân lực VNCH. cấp bậc sau cùng Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng, thuộc Liên đoàn 24 Biệt Động Quân. Hình ảnh có tính minh họa.

 

Thời Thế, Thiện, Ác và Con Người

Vậy là, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi sau khi mất nước, bốn người bạn của tôi đã phải trả giá cho Tự-Do bằng chính sinh mạng của họ.
Sau ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975, thời thế đã đổi thay.
Cái Thiện đã nhường chỗ cho cái Ác.

Tự-Do, Bác-Ái, Công-Bằng chỉ còn là kỷ niệm.

Vương Mộng Long – K20 VBQGVN

***

Một ngày cuối tháng Ba năm 1970 Thượng Sĩ Woodell ghé Cư Xá Trần Quí Cáp- Pleiku đón tôi vào Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa-Kỳ để ghi tên xin khám bệnh. Hôm sau, tôi chính thức nhập viện để được giải phẫu một vết thương.

Đúng lý ra, hôm đó, tôi phải lên đường về trình diện Tổng Y Viện Cộng-Hòa theo quyết định của Bác Sĩ Trung, Giám-Đốc Quân Y Viện Pleiku. Chỉ vì sáu tháng trước đây, vết thương trên vai trái của tôi đã được mổ một lần. Lần đó bác sĩ chỉ lấy ra được hai mảnh đạn nhỏ, còn mảnh đạn lớn vì ở quá sâu lại dính với xương vai, nên tôi được xuất viện về đơn vị, chờ ít lâu, sẽ vào nhà thương khám lại. Tôi tiếp tục đi hành quân, cho tới một ngày, thấy mủ màu đen bắt đầu nhỉ ra qua một lỗ rò dưới nách, tôi mới đi tái khám.

Nào ngờ, kết quả lần khám này cho thấy cái mảnh đạn súng cối ấy đã di chuyển xuống vùng sườn trái, khiến cả một vùng cơ bắp sưng tấy, và đang làm độc. Ban Giám Đốc Quân Y Viện Pleiku đã làm thủ tục chuyển tôi về Tổng Y Viện Cộng-Hòa vì nơi đây có nhiều phương tiện chữa trị hơn.

Tôi về đơn vị trình bày việc này cho trung tá liên đoàn trưởng, lúc đó cũng có mặt ông trung tá cố vấn trưởng liên đoàn. Ông trung tá Hoa-Kỳ nêu ý kiến, giới thiệu tôi vào Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa-Kỳ trước, nếu chữa không xong, họ sẽ chuyển tôi ra Hạm Đội 7.

Bệnh viện 71 Dã Chiến nằm trong một thung lũng, bên cạnh con đường nhựa nối liền phi trường Cù-Hanh và Bộ Tư-Lệnh Quân-Đoàn II.

Bệnh viện này là nơi tiếp nhận thương binh Mỹ từ các chiến trường Cao-Nguyên Vùng 2 chuyển về. Từ đây thương binh được cấp cứu, điều trị sơ khởi, sau đó tuỳ theo tình trạng nặng nhẹ, họ sẽ được chuyển về Sài-Gòn hay chuyển ra Hạm Đội 7.
Thay quần áo xong, tôi được đưa vào phòng Quang Tuyến X rồi chuyển sang phòng chẩn bệnh.

Nơi đây đã có mặt một nữ y sĩ trung tá già da đen. Bà y sĩ trung tá này chính là trưởng khoa giải phẫu của Bệnh Viện 71 Dã-Chiến. Hình dáng của bà ta thật là cao lớn và thô kệch, nhưng giọng nói của bà lại vô cùng ấm áp dịu dàng.

Rất từ tốn, bà tự tay đo, và ghi trên hồ sơ, nhịp tim, mạch của tôi. Rồi bà bước ra cửa, nói nhỏ với cô điều dưỡng vài lời. Một phút sau ông đại úy bác sĩ phụ trách ca mổ của tôi có mặt. Ông y sĩ đại úy này da trắng, cũng hơi lớn tuổi, và mang kiếng trắng. Hai vị thày thuốc luân phiên quan sát hai tấm hình X Ray, rồi sờ nắn vùng đang sưng tấy bên nách tôi. Khi ngón tay của họ nắn bóp trên chỗ sưng, tôi cảm như nơi đó là một quả xoài đã chín nhũn, chứ chẳng thấy đau đớn gì cả. Công việc chẩn bệnh chấm dứt, tôi ngồi chờ người dẫn sang phòng mổ.

Chợt ngoài bãi đáp có tiếng động cơ của trực thăng tản thương. Hai điều dưỡng viên chạy ra khiêng chiếc cáng, trên đó là một thương binh băng kín nửa người phần dưới. Theo sau chiếc cáng là một sĩ quan Mỹ và một sĩ quan Việt-Nam. Người sĩ quan Việt-Nam đó là Đại-Úy Phạm Văn Tư Khóa 19 Võ Bị, tôi quen biết.

Anh Tư là dân Tình-Báo, đang tăng phái ngắn ngày cho ban thẩm vấn đặc biệt của Mỹ tại Hàm-Rồng.

Thấy bệnh nhân là một người Việt-Nam, nên tôi thắc mắc hỏi anh Tư

– Ủa! Sao Niên Trưởng không đưa người của Niên Trưởng vào Quân Y Viện Pleiku mà lại đưa vào đây?

– Có phải người của “moa” đâu? Việt-Cộng đó!

– Việt-Cộng à?

– Thằng Việt-Cộng này vướng Claymore ngoài rào trại Dak-Séang. Mỹ bắt được, đem về Camp Enari , giao cho Phòng 2 Sư Đoàn 4 (Hoa-Kỳ).

– Từ Camp Enari về đây có vài ba cây số sao không dùng xe mà phải xử dụng tới trực thăng?

– “Moa” thấy đùi của anh ta bị quấn “garô” sưng to quá, sợ xảy ra nội xuất huyết thì chết, nên đề nghị với Mỹ lấy máy bay của sư đoàn, đưa anh ta về đây.

Nhìn mặt người nằm trên cáng, tôi đoán chừng hắn cũng cỡ tuổi của tôi và anh Tư thôi.

– Hắn thuộc đơn vị nào vậy?

– Tụi “moa” vừa ký nhận đã phải đưa tới đây ngay. Chưa hỏi được câu nào.

– Bộ anh ta đi đánh nhau không mang theo giấy tờ gì sao?

– Có chứ! Nhưng tài liệu mình còn để trên bàn. Việc cứu người là trọng, phải lo trước. Chiều nay mình sẽ nghiên cứu tài liệu cũng chưa muộn.

– Ừ nhỉ! Dù gì thì hắn ta cũng là người Việt-Nam, chỉ không cùng chiến tuyến với chúng mình.

– “Toa” biết không? Trên đường đi, hắn cứ luôn mồm gọi “Xuân ơi! Xuân ơi!” Chắc hắn yêu thương người mang tên Xuân này lắm?

Tôi gật đầu, tán đồng,

– Dù là Quốc-Gia hay Cộng-Sản, thì con người nào cũng có một trái tim, biết yêu thương, và biết giận hờn.

Một năm trước đây, trong trận Dak-Tô (5/1969), tôi đã trải qua tình cảnh tương tự như người cán binh Cộng-Sản này. Ngày đó, vào giờ phút tuyệt vọng nhất, trái tim tôi chỉ còn hình bóng người mà tôi yêu thương nhất. Tôi đã gọi tên người này nhiều lần trước khi bị ngất đi.

Tên tù binh được chuyển vào phòng X Ray rồi sang phòng chẩn bệnh. Hai Quân-Cảnh Hoa-Kỳ được gửi tới canh gác trước phòng chẩn bệnh. Đại Úy Tư bắt tay tôi, rồi cùng viên sĩ quan Mỹ rời bệnh viện.

Khi tôi và tên tù binh được đẩy vào phòng giải phẫu thì trên bàn mổ đang diễn ra một ca phẫu thuật khá ồn ào. Một nam bác sĩ cùng hai nữ y tá cố gắng và kiên nhẫn lắm mới lấy được cái đầu đạn đồng A.K 47 ra khỏi đùi trên của một anh lính Hoa-Kỳ. Anh lính này da trắng, còn rất trẻ, tuổi chừng mười chín hai mươi là cùng. Anh chàng bị cột chặt nửa người dưới và hai chân xuống bàn mổ, để tránh dãy dụa, gây trở ngại cho bác sĩ.

Chắc việc mổ xẻ làm cho người trẻ tuổi đau đớn lắm, nên anh ta không ngớt khóc lóc, kêu la. Ông bác sĩ và hai cô y tá cứ phải luôn miệng, dỗ dành, an ủi anh.

Trước cảnh này tôi cũng thấy tội nghiệp.

Mỗi khi hoàn tất một pha mổ, toán phục dịch vệ sinh lại nhanh tay thay cái khăn bàn mới, rồi đẩy vào phòng một khay đựng dụng cụ giải phẫu khác đã tẩy trùng.

Ca mổ của anh lính Hoa-Kỳ chấm dứt thì tới phiên anh tù binh Cộng-Sản.

Mỗi bên đùi của tên tù binh này bị hai viên chì Claymore ghim sâu tới xương. Bác sĩ phải đánh thuốc tê từng chân, mổ lấy đạn chì từ từng vết thương một. Do đó, thời gian hoàn thành công việc này khá dài.

Nhìn những giọt mồ hôi chảy thành dòng trên má hắn, tôi nghĩ hắn đang nén cơn đau.

Trong suốt nửa giờ đồng hồ, hắn chỉ rên nho nhỏ trong miệng, trừ hai lần bác sĩ gắp đạn ra khỏi đùi phải thì y chịu không nổi, buột miệng hét lên:

” Ối! Ối! Đau! Đau quá!… Ư!… Ư!… ư… ư…”

Với ca mổ này, cô điều dưỡng da trắng cũng tận tình săn sóc tên Việt-Cộng, không khác gì đã làm đối với anh lính Mỹ trong ca mổ trước. Cô dịu dàng lau đi những giọt mồ hôi trên mặt người tù. Dù biết rằng người được chăm sóc không hiểu cô nói gì, nhưng cô cứ dỗ dành:

“Don’t worry! Don’t worry! You will be Okay!”

Qua cử chỉ dịu dàng và giọng nói êm như ru của cô, không ai dám nghi ngờ rằng cô đang đóng kịch.

Bốn viên chì đã được lấy ra rồi. Vết thương cũng được may vá và băng bó xong. Y tá chuyển người tù sang chiếc xe lăn, cạnh chiếc xe lăn của anh lính Mỹ.

Là bệnh nhân cuối cùng, tôi leo lên bàn mổ mà nửa người bên trái nặng như đeo chì.

Tôi bị cởi trần, nằm hơi nghiêng về bên trái. Cô y tá vừa lau sạch đám bọt oxygen trên vùng sườn trái của tôi, thì ông bác sĩ bắt đầu dùng mười đầu ngón tay ấn nhè nhẹ quanh quanh, thăm dò. Rồi thật từ từ, ông dùng iode vàng xoa trên vùng đang mưng mủ, rộng dần ra thành một bề mặt cỡ lòng bàn tay.

Ông y sĩ đại úy chích cho tôi ba mũi thuốc tê, rồi huyên thuyên cùng tôi đôi chuyện nắng mưa. Vài phút sau, ông mới bắt đầu ra tay.

Dưới tay ông, lưỡi dao sắc như nước, nhanh như chớp, cắt ngọt hai nhát chéo chữ “X” xuyên da, thịt, chạm tới xương sườn của tôi.

Sau đó, cứ thủng thỉnh, ông xẻ dọc, rồi xẻ ngang, như người ta đang băm một cái bánh mềm. Tới khi thịt da trên cái diện tích cỡ lòng bàn tay đó bị bấy ra rồi, ông bác sĩ mới dùng một lưỡi dao cong như lưỡi hái, mạnh tay cạo từng lọn thịt bầm màu xanh lẫn với máu mủ, cho rơi xuống một cái thau nhôm do cô y tá hứng.

Vì nằm nghiêng về bên trái, tôi thấy cái thau nhôm chứa lổn nhổn những cục thịt pha máu đỏ, mủ xanh, mủ vàng, tanh hôi vô cùng.

Tôi chợt nghĩ, nếu như tôi cứ cứ ỷ y, không chịu nhập viện, chắc chỉ sau một thời gian ngắn nữa thôi, cả vùng sườn bên trái của tôi sẽ thối rữa thành mạch lươn, hết phương cứu chữa.

Khi lưỡi dao đục khoét lớp da thịt bên ngoài, tôi chưa thấy đau đớn chút nào, tới lúc lưỡi dao cạo trên xương nghe, “Két! Két! Cột! Cột!” thì điếng người. Ngay cả khi ở ngoài mặt trận, bị mảnh đạn ghim vào, tôi cũng không thấy đau như thế này. Toàn thân tôi run lên bần bật như đang cơn sốt rét. Tôi bật người lên, oằn người xuống, đồng bộ với những nhát dao đang cào, nạo xương sườn của tôi. Tôi cắn chặt hai hàm răng vào nhau. Hình như môi dưới của tôi bị răng tôi cắn chảy máu mất rồi? Mồ hôi trên mặt tôi chảy như tắm, rớt ròng ròng trên tấm nhựa trắng trải bàn mổ. Tôi nghĩ, lúc đó có lẽ mặt tôi đã xám xịt như chàm?

Nhưng tôi vẫn còn tỉnh táo lắm. Tôi biết, lúc này, có hai người đồng cảnh ngộ, một bạn, một địch, đang chăm chú theo dõi, đánh giá sức chịu đựng của một người lính Việt-Nam Cộng-Hòa. Một giọt nước mắt, một tiếng kêu la của tôi sẽ nằm trong trí nhớ của họ suốt đời.

Tôi nhắm mắt, nghĩ tới cảnh những thương binh Việt-Nam Cộng-Hòa khác đã từng lên bàn mổ, bị cưa chân, cưa tay, chắc họ phải chịu đau đớn vạn lần hơn tôi. Tôi tự an ủi rằng, mình còn may mắn hơn những người này rất nhiều…

Rồi tôi hồi tưởng lại truyện Tam Quốc Chí đọc ngày còn bé, với huyền thoại Tướng Quân Quan Vân Trường cứ ung dung ngồi uống rượu, ngâm thơ không màng tới việc Hoa Đà đang xẻ thịt, cạo xương ông để rút mũi tên tẩm thuốc độc đang ghim trên vai ông ta ra.

Ngày xưa làm gì có thuốc tê, thuốc mê? Vậy mà Quan Công không hé chút đau đớn nào, thì ông quả là người có sức chịu đựng phi thường. Càng nghĩ, tôi càng phục vị anh hùng thời Tam Quốc này quá!

Bỗng nhiên bác sĩ ngừng tay dao, đưa tay chụp cái kìm. Ông ngoáy mũi kìm vào cạnh sườn tôi, kẹp chặt một vật, rồi giựt mạnh! Theo phản xạ, tôi vội oằn mình, ưỡn người lên, nương theo hướng lôi kéo của mũi kìm.

“Bục!” thân mình tôi như bị móc lên cao, rồi rơi xuống mặt bàn.

Tôi có cảm giác như vừa bị ông bác sĩ giựt đứt một phần thân thể? Đau thấu xương, đau tới ù tai, hoa mắt luôn! Quá sức chịu đựng, tôi xón đái ra quần mà không hay!

“Here it is!”

Ông bác sĩ vừa cười, vừa giơ cái mũi kìm cho tôi thấy một cục thịt to bằng đầu ngón tay cái, máu đỏ bầy nhầy. Đó là cái mảnh 82 ly vừa bị gắp ra từ khe hở giữa hai cái sương sườn.

Thả cục đạn xuống cái khay trên bàn, ông bác sĩ lại tiếp tục cào nạo. Tay chân tôi bủn rủn không còn hơi sức. Tôi mệt lả người, nằm im như cái xác.

Hồi lâu sau, ông bác sĩ ngừng tay, hất hàm ra dấu cho cô điều dưỡng đứng chờ bên tủ thuốc. Hiểu ý, cô điều dưỡng bưng ra, đặt trên bàn một hộp nhựa chứa hai cái lọ. Bác sĩ nhanh tay lau sạch máu trên vết mổ, rồi mở nắp cái lọ, rút ra một sợi bấc tẩm thuốc bột trụ sinh màu vàng như nghệ.

Với cái kẹp inox, ông khéo léo nhét hết hai lọ băng bấc đèn màu nghệ vào đầy vết mổ. Xong xuôi, cô y tá dán miệng vết thương bằng một tấm băng hai lớp chứa bông gòn ở giữa, rộng bằng bàn tay. Bên ngoài miếng băng này, cô còn quấn thêm một lớp băng cứu thương quanh ngực tôi để cho tôi bớt đau.

Ông bác sĩ và hai cô y tá đều mang băng che miệng, tôi không thấy miệng họ cười, mà chỉ thấy mắt họ cười, khi ca mổ vừa hoàn tất.

 

Những gì xảy ra trong phòng giải phẫu buổi trưa hôm đó đã cho tôi thấy cái ý nghĩa cao quý của ngành y. Dưới mắt của người thầy thuốc, việc cứu người là mục đích tối thượng. Mạng sống của mỗi con người đều quan trọng như nhau: Dù người đó là bạn hay thù, là da trắng hay da màu, là Cộng-Sản hay Quốc-Gia.

Cô điều dưỡng vừa đẩy cái khay dụng cụ đi khuất thì bà y sĩ trung tá trưởng khoa bước vào.

Bà nói đôi lời với ông bác sĩ, rồi cúi xuống bế tôi gọn trên đôi cánh tay to lớn của bà.

Giọng nói của bà bên tai tôi, dịu dàng như giọng của một hiền mẫu:

“Oh! My baby! My baby! You will be Okay! My baby…”

Anh lính Mỹ và tên cán binh Việt-Cộng cũng sững người, trố mắt.

Bà bác sĩ bế tôi đi trước, hai cái xe lăn của anh lính Mỹ và tên cán binh Cộng-Sản được y tá đẩy theo sau.

Ra tới phòng hồi lực, bà đặt tôi xuống giường rồi lẳng lặng đi ra. Lúc sau bà quay lại, trên tay có gói Salem và cái kẹp diêm cây.
Bà để gói thuốc lá và diêm quẹt trên đầu giường tôi, rồi dơ ngón tay trỏ điểm điểm một vòng, ngụ ý món quà này dành cho cả ba người.

Giường tôi nằm ở giữa, bên trái là anh bạn Đồng-Minh, bên phải là tên cán binh Cộng-Sản. Chỉ có đầu giường tôi bị treo lủng lẳng dây nhợ chuyền nước biển pha thuốc trụ sinh. Còn giường hai bên không bị vướng vít gì, vì họ đã được chích Penicillin rồi.

Tôi đốt một điếu Salem đưa cho anh lính Mỹ. Anh ta lắc đầu, nhỏ nhẹ,

– Thank you!

Tôi đưa điếu thuốc lên môi, kéo một hơi dài, nhả khói.

Tôi trao bao thuốc cho tên Việt-Cộng,

– Này hút đi! Salem đầu lọc nhẹ lắm!

– Không thèm! Nhìn tôi với ánh mắt lừ lừ, gờm gờm, hắn ta gằn giọng.

Tôi tỉnh như ruồi,

– Không hút thì thôi! Tớ hút một mình.

– Thuốc của đế quốc, không thèm hút!

– Thông cảm đi! Ở đây không có thuốc lào. Chỉ có thuốc thơm đế quốc thôi. Không hút thì nằm đó mà ngửi khói.

Tới chiều, chúng tôi được cung cấp mỗi người một khay thức ăn, gồm một bánh mì kẹp thịt bò, một hộp sữa tươi, và một chùm nho.

Tôi và chú GI ăn uống rất ư là tự nhiên, còn tên cán binh Bắc-Việt thì nằm quay mặt vào tường không thèm chạm tới cái khay.
Trước khi quay gót đem theo cái khay của tôi, cô điều dưỡng nhìn tên bộ đội một lúc, rồi dịu giọng,

– Take it! It’s good for you!

Tôi chêm thêm,

– Ăn đi chứ! Không ăn thì chết đói! Muốn gì thì cũng phải sống trước đã! Ăn đi!

Cô y tá nhìn tôi, đồng tình,

– May you tell him to take it?

Tôi nghiêm mặt, hù cho anh cán binh sợ thêm,

– Thôi ăn đi! Anh không ăn, cô ấy dẹp mất thì đói đấy!

Anh chàng hình như cũng đói lắm rồi? Sau một phút ngập ngừng, chàng đưa tay cầm kẹp bánh mì, rồi vội quay mặt vào tường.

Buổi tối, trời trở lạnh, anh lính Mỹ nổi cơn, la hét, chửi bới om xòm. Cô y tá trực phải tới ngồi ở cuối giường, an ủi dỗ dành, rồi đọc truyện cho anh ta nghe.

Tôi mồi một điếu Salem , đưa cho tên Việt-Cộng,

– Hút đi! Không nguy hiểm tới tính mạng đâu mà sợ.

Lần này thì hắn ta không từ chối nữa.

– Ừ! Có thế chứ! Này! Vì sao bị thương và bị “tó” vậy? tôi bắt đầu gạ gẫm.

– Đang điều nghiên mục tiêu thì bị vướng mìn.

– E mấy?

– Hăm Tám (28)

Tôi đã biết E 28 là tên của Trung Đoàn 28 Mặt Trận B3 Cộng-Sản Bắc-Việt, nên khai thác tiếp,

– Năm ngoái tớ có đụng E 28 ở Dak-Tô. Trận đó E 28 chết gần hết, cậu còn sống sót là may lắm đó!

– Mới bổ sung về E 28 hai tháng thôi.

– Cấp chức gì?

– Trung úy Đặc-Công.

– Quê ở đâu?

– Hải …”Rương”

– Làng nào?

– Hỏi gì mà lắm thế?

– Thôi không hỏi nữa!

Thấy hắn sắp quạu, tôi không thèm nói chuyện thêm. Tôi xoay người lại, nằm ngửa, quay mặt sang anh bạn Đồng-Minh. Cậu bé đã ngáy khò khò.

Đêm vào khuya, tôi bị vết mổ hành, chỉ nhắm mắt, chập chờn. Thêm vào đấy, cứ ba tiếng đồng hồ, y tá lại đánh thức tôi dậy, nhét hai viên trụ sinh vào mồm bắt nuốt. Từ sau lần bị thương thứ nhì, cơ thể tôi không thể tiếp nhận Penicillin, nên kỳ này bác sĩ cho tôi uống Erythromycin với liều lượng cao gấp đôi để phòng ngừa vết mổ làm độc.

Hình như tên tù binh có tâm sự, không ngủ được. Chắc anh ta đang suy tính điều gì gay go lắm? Lâu lâu hắn lại mở mền, hé mắt quan sát quanh phòng. Có lúc hắn gượng gạo ngồi dậy thử đứng hai chân trên nền nhà, nhưng thấy không vững, y đành ngồi phịch xuống nệm, thở dài.

Mấy lần y mở miệng gọi tôi:

“Này! Này!”

Tôi khoát tay ra dấu cho hắn ta im tiếng, đừng làm ồn lúc đêm khuya.

Quá nửa đêm, ba, bốn y tá vào phòng hồi sức, chuyển anh lính Mỹ ra xe, chở đi.

Lợi dụng lúc căn phòng chộn rộn, ồn ào, anh cán binh hỏi nhỏ,

– Các anh có đem tôi đi bắn bỏ không?

Tôi ngạc nhiên,

– Cái gì mà bắn bỏ? Ai nói với anh điều đó?

Anh cán binh trả lời với vẻ mặt hoàn toàn thật thà,

– Chính ủy nói mà! Chính ủy nói, nếu để các anh bắt, các anh sẽ đem xử bắn.

Tôi phì cười,

– Ai mà bắn anh làm gì? Tuyên truyền bậy bạ thế mà anh cũng tin!

Anh Việt-Cộng ngẩn người, ra chiều suy nghĩ, rồi lẩm bẩm:

“Chẳng lẽ chính ủy nói sai?”

tiếng anh ta nhỏ như thể là, anh ta nói, cho chính mình anh ta nghe thôi.

– Này! Có phải Xuân là vợ anh không? tôi hỏi dò.

– Đúng! Xuân là vợ tôi đấy! Xuân vừa đẻ đứa con gái đầu lòng thì tôi có lệnh đi B. Không biết kiếp này tôi có còn gặp lại Xuân và Bé Ty không?

Nghe tâm sự của anh ta, tôi không khỏi mủi lòng.

Hai người ngừng trò chuyện khi cô y tá trở về phòng cho tôi uống thuốc.

Ngày kế tiếp, sau bữa ăn sáng, hai Quân-Cảnh gác cửa phòng rút đi, Đại Úy Phạm Văn Tư và viên sĩ quan Phòng Nhì Sư-Đoàn 4 Hoa-Kỳ lại xuất hiện.

Anh Tư bắt tay tôi, rồi ngồi xuống cạnh giường bệnh của tên tù Phiến Cộng,

– Hết lo chết rồi nhé! Giờ thì mình đi thôi!

Viên đại úy Mỹ cũng cúi xuống, vỗ vai người tù, xí xố vài câu hỏi thăm.

Sau đó, hai sĩ quan Việt, Mỹ đỡ tên tù Cộng-Sản lên ghế lăn.

Tôi đưa bao Salem còn hơn nửa cho tên cán binh,

– Này! Cầm lấy! Tôi cũng người Hải-Dương…

Anh trung úy Việt-Cộng rụt rè cầm bao thuốc lá nhét vào túi. Rồi, anh ta nắm lấy bàn tay phải của tôi, lắc lắc vài cái,

– Các anh đã cứu mạng tôi. Người ta nói rằng các anh độc ác lắm. Nhưng thật ra… các anh có độc ác đâu?

Lúc này ánh mắt anh ta không còn vẻ gờm gờm, hằn học nữa. Tới cửa phòng, anh ta dơ tay vẫy tôi lần cuối.

Tới trưa, tôi được chuyền thêm một bịch nước biển pha trụ sinh, rồi rời bệnh viện lúc hai giờ chiều, theo chế độ điều trị ngoại trú.

Bà bác sĩ trưởng khoa dúi vào tay tôi cái bao nylon, trong đó chứa cục đạn bằng gang màu đen đã được chùi rửa sạch.

“Don’t throw it away! Keep it for memory!” bà dặn dò.

Bà không bắt tay tôi, mà xoay lưng đi về văn phòng.

“Take care! Good bye! My son!” phút chia tay, hình như bà tránh nhìn tôi, giọng nói của bà run run.

Khi đỡ tôi lên xe, cô y tá mới nói nhỏ vào tai tôi: “Her son was a Ranger like you!”

Hai ngày sau tôi trở lại bệnh viện để thay băng thì cô y tá quen báo cho tôi biết rằng bà y sĩ trung tá trưởng khoa vừa lên đường về nước vì bà đã mãn nhiệm kỳ phục vụ ở Việt-Nam.

Nhớ tới bà, lòng tôi chợt dâng lên một cảm giác lâng lâng, ngọt ngào.

Thế là bà đã về quê! Bà đã xa rời chốn hiểm nguy. Bà sẽ về đoàn tụ với người con trai của bà; anh ấy cũng là một “Ranger” như tôi. Bà cũng giống mẹ tôi: những lúc xa con, thấy anh lính nào cỡ tuổi con mình, cũng thấy thương, như là thương con mình…

Tác giả Vương Mộng Long

***

Cuối tháng Chín năm 1974 Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân xuống Đức-Lập tăng cường cho Tiểu-Khu Quảng-Đức để tham dự cuộc hành quân khai thông Liên Tỉnh Lộ 8 B. Thiếu Tá Phạm Văn Tư (lúc này là Trưởng Phòng 2 Tiểu-Khu) lại gặp tôi lần nữa. Nhớ chuyện năm nào ở Bệnh Viện 71 Dã-Chiến, tôi hỏi anh Tư,

– Ngày đó, vì cớ gì mà anh cứu thằng trung úy Đặc-Công Việt-Cộng?

– Đạo lý làm người mà Long! “Moa” cứu hắn, chỉ vì hắn sắp chết. Vả lại, hắn đâu phải là kẻ thù của chúng ta? Hắn chỉ là kẻ địch của chúng ta thôi.

Tôi biểu đồng tình,

– Đúng! Kẻ thù là người có ân oán với mình. Những tên cán binh đang đánh nhau với mình thì có thù oán gì với mình đâu?
Tôi hỏi tiếp,

– Sau này anh có còn gặp lại y không?

– Không. Vì khai thác xong thì tụi này chuyển giao anh ta cho Phòng Nhì Quân-Đoàn II ngay. Giữ lâu làm gì?

Tôi nhắc anh Tư,

– Anh có nhớ chuyện thằng Vi-Xi đó cứ gọi tên Xuân lúc hôn mê không? Và anh có biết Xuân là ai không?

– “Moa” không hỏi, mà cũng quên khuấy chuyện này rồi.

– Xuân là tên vợ hắn. Đứa con gái hắn vừa chào đời, thì hắn có lệnh vào Nam .

Nghe vậy, anh Tư bèn đưa bàn tay phải lên ngang ngực, dơ ngón trỏ ra nhịp nhịp,

– Ừ há! Chắc ngày trao đổi tù binh năm 1973 hắn đã về đoàn tụ với gia đình ngoài Bắc rồi.

Tôi chợt nhớ, tên cán binh ấy là người Hải-Dương, nên buột miệng,

– Thằng đó là người cùng quê với tôi đấy!

Anh Tư gật gù,

– Có khi hai người là bà con cũng nên?

Tôi cũng gật gù theo,

– Biết đâu chừng lại là anh em, họ hàng. Tôi có một bà dì và hai ông bác còn ở ngoài Bắc. Nếu như hắn là con của những người này, thì quả là “cốt nhục tương tàn”.

Anh Tư phụ họa,

– Những thằng địch đang cầm súng chỉ là nạn nhân bị tụi đầu sỏ cầm quyền lợi dụng máu xương thôi. Mấy thằng Cộng-Sản “cội” đang ăn trên, ngồi trốc ở ngoài Hà-Nội mới là nguyên nhân gây ra cuộc chiến tranh “nồi da xáo thịt” này. Tụi đó mới chính là kẻ thù của chúng mình!
***

Đầu năm 1976, nghĩa là đúng sáu năm, sau ngày Đại Úy Phạm Văn Tư áp giải viên trung úy Đặc-Công Việt-Cộng tới Bệnh Viện 71 Dã-Chiến Hoa -Kỳ, thì tôi và anh Tư đã thành hai trong số vài trăm tù nhân cấp thiếu tá của khu K 3 trại Tam-Hiệp, Biên-Hòa.

Thời kỳ này, giờ khắc trôi từ từ như đang đợi chờ ngày bầu cử Quốc-Hội nước Việt-Nam Thống-Nhất. Chúng tôi còn ở trong Nam, chưa bị đưa ra Bắc, chưa bị cưỡng bách làm các công tác lao động nặng.

Riêng anh Phạm Văn Tư và người cùng Khóa 19 Võ-Bị của anh là Trần Văn Bé được trại tuyển dụng làm thợ đóng bàn ghế trên ban chỉ huy. Tám giờ sáng, vệ binh vào mở cổng, dẫn hai anh đi làm công tác. Năm giờ chiều, hai anh tự động trở về K 3, không có ai dẫn độ.

Anh Trần Văn Bé là người ở cùng Đại Đội B với tôi trong Trường Võ-Bị thời sinh viên sĩ quan. Anh Bé cũng là người đã huấn luyện tôi những ngày đầu đời lính, nên chúng tôi không lạ gì nhau.

Chiều chiều, anh Tư và anh Bé thường rủ tôi tới Lán 2, nơi có cái bàn gỗ của Thi Sĩ Trương Minh Dũng để hút thuốc lào và tán gẫu. Anh Trương Minh Dũng là bạn cùng Khóa 5 Thủ- Đức với Trung Tá Hoàng Kim Thanh, Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân. Tôi đã gặp anh Dũng vài lần khi chúng tôi mới tới tăng phái cho tỉnh Quảng-Đức (9/1974). Lúc đó anh Dũng đang giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Tiểu-Khu này. Bây giờ thì ông Thi Sĩ Tham Mưu Trưởng Tiểu-Khu ngày xưa đã mang biệt danh rất hợp thời là “Dũng Điếu Cày”.

Anh Tư biết tôi ghét thuốc lào, nên mỗi ngày anh đều vấn cho tôi vài điếu thuốc rê Cẩm-Lệ.

Buổi trưa một ngày tháng Hai năm 1976, có tiếng súng liên thanh nổ ròn rã một tràng dài ngoài hàng rào. Tiếng súng ngừng lại vài giây, rồi tiếp tục, nhưng lơi đi, từng phát một, như ai đó đang thực tập bắn bia. Trên con đường nhựa bao quanh các khu cách ly, vệ binh chạy rầm rập nối đuôi nhau. Chúng vừa lên đạn “lách cách!” vừa gọi nhau ơi ới:

“Báo động! Báo động! Tù trốn! Tù trốn!”

Cổng chính của tất cả các khu giam giữ tù cải tạo liền bị đóng kín, khóa lại. Chòi gác nào cũng đầy lính canh, súng chĩa vào sân. Tù nhớn nhác nhìn nhau ngơ ngác.

Rồi cửa hông được mở cho hai vệ binh ghìm súng A.K đi vào K 3 để kiểm tra. Tù cải tạo bị đuổi về lán. Vệ binh vào từng nhà, đếm đầu, nhận mặt từng người, với sự xác nhận của lán trưởng.

Kiểm tra xong, trong sân trại sinh hoạt đã trở lại, nhưng không còn cái không khí ồn ào náo nhiệt thường ngày. Tù cải tạo vẫn tụm năm, túm ba, nhưng không phải để đánh cờ, chơi bóng chuyền, hay tập thể dục dưỡng sinh, mà để rì rầm với nhau về chuyện mới xảy ra lúc buổi trưa. Chẳng ai biết vị sĩ quan nào của Việt-Nam Cộng-Hòa đã mạo hiểm làm nên sự kiện này. Trong sân trại, tiếng chim se sẻ nói chuyện với nhau nhiều hơn là tiếng người ta.

Khoảng hai giờ chiều, loa phóng thanh trên chòi cao ra lệnh cho các lán trưởng lên văn phòng nhận lệnh.

Khi trở về, lán trưởng Lán 24 của tôi là Thiếu Tá Trần Thành Trai tập họp tất cả lán viên, rồi tuyên bố:

“Trưa nay có hai cải tạo viên trốn trại. Tên Phạm Văn Tư bị bắt lại. Tên Trần Văn Bé còn tại đào. Các anh đừng hoang mang, nghe lời dụ dỗ của bọn phản động mà trốn trại, sẽ mang họa vào thân.”

Chẳng rõ câu tuyên bố này là do Lán Trưởng Trần Thành Trai ứng khẩu, hay anh ta đã sao y nguyên bản lời của cán bộ?

Tôi ra sân bóng chuyền tìm gặp vài người quen để hỏi thăm tin tức của hai người đàn anh Khóa 19.

Một anh lán trưởng tiết lộ: Khi anh ta lên họp trên ban chỉ huy trại thì nghe vệ binh nói với nhau rằng anh Phạm Văn Tư bị bắn trọng thương, nhưng vẫn còn bị bỏ nằm trong hàng rào kẽm gai, vì khu vực đó có mìn nên vệ binh không chịu chui vào lôi anh Tư ra.

Xế chiều, anh bạn Bắc Hải ngoắc tôi ra góc sân thì thầm,

– Anh Bé thoát rồi! Còn anh Tư thì bị bắn nát bấy cả hai đùi và hai cánh tay. Người bắn anh Tư là “Thượng Sĩ Buồn” đó! Anh Tư thiệt là số xui. Thằng Thượng Sĩ Buồn đi đái, gặp ngay lúc anh Tư đang bị kẽm gai móc vào lưng áo, cách cầu tiêu có vài thước thôi. Nó chạy vào lấy khẩu A.K 47 nhắm hông và đùi của anh Tư, bắn hết một băng đạn ba mươi viên. Rồi nó ráp băng đạn thứ nhì, tì súng trên hàng rào, cứ nhắm tay, chân của anh Tư mà tiếp tục bóp cò từng viên một, cho tới viên cuối cùng. Chân tay anh Tư đã nát bấy, nên anh ấy chỉ còn nước nằm kêu la đau đớn chờ chết. Mãi tới ba giờ chiều chúng nó mới cho gọi mấy anh cải tạo viên bên K 1 chui vào hàng rào, lôi anh Tư ra. Họ khiêng anh Tư về bệnh xá, thằng thiếu úy trưởng trại không cho băng bó, nó còn bắn thêm ba, bốn phát K 54 vào bụng anh Tư, rồi bắt khiêng anh Tư bỏ trên miếng ván nằm trong cái nhà kho cũ của trại. Anh Tư khát quá, xin uống nước, anh em đi lấy nước cho anh, thì thằng Thượng Sĩ Buồn ngăn lại, không cho uống. Sau đó, nó đuổi mấy anh ấy về lán.

Nói xong, Hải buột miệng chửi thề:

– Đù Má! Cái thằng Thượng Sĩ Buồn này độc ác dữ!

“Thượng Sĩ Buồn” là biệt danh của tên Việt-Cộng quản giáo K 3.

Tên này tuổi dưới ba mươi, mặt mày sáng sủa như một thư sinh. Không rõ tên thật của hắn là gì, nhưng anh em trong trại thường gọi hắn là “Thượng Sĩ Buồn”.

Mà cũng đúng! Lúc nào mặt y cũng phảng phất nét u sầu, như đang mang tâm sự không vui, như đang nhớ thương ai.

Tôi nhớ hồi còn ở bên K 1, ông “Ba Gà Mổ”, tức ông lán trưởng Thiếu Tá Nguyễn Văn Lộc đã từng chỉ cho tôi thấy mặt một cán bộ Việt-Cộng “hiền hết xẩy” nhân dịp tôi theo ông Lộc lên khiêng gạo trên văn phòng trại. Ông “Ba Gà Mổ” có vẻ biết rành rẽ tên cán binh này lắm,

– Anh quản giáo này quê ở mãi ngoài Bắc-Thái lận! Ảnh mới vào Nam sau “ngày giải phóng”. Ảnh hiền hết xẩy!

Cuối năm 1975 tôi được chuyển từ K 1 sang K 3. Khi thấy người phụ trách K3 chính là anh cán bộ “hiền hết xẩy” tôi cũng mừng.
Sáng sáng, Thượng Sĩ Buồn đứng nơi góc trại nhìn các anh tù tập thể dục dưỡng sinh. Chiều chiều, Thượng Sĩ Buồn rảo quanh trại đôi lần, thủng thẳng tản bộ trên con đường mòn sát hàng rào. Lâu lâu hắn dừng chân, ân cần hỏi thăm sức khỏe của những tù nhân đang túm năm, tụm ba đánh cờ tướng hay đang bàn chuyện gẫu. Hắn rất sốt sắng liên lạc với cán bộ hậu cần giúp mua hàng cho anh em trong trại, mỗi khi được nhờ. Nói chung, hắn ta được lòng nhiều người. Không ai nghi ngờ lòng tốt của hắn cả.

Có một vị tù cải tạo nào đó đã “phịa” ra cái lý lịch đầy màu sắc tiểu thuyết của Thượng Sĩ Buồn, rồi chuyền tai nhau: Nào là, hắn ta vốn là sinh viên đại học Y-Khoa, ly khai vào “bưng” nhân Tết Mậu-Thân, ngày trở lại Sài-Gòn thì người yêu đã lấy chồng! Hoặc, cho hắn là con nhà địa chủ, cha mẹ chết hết trong thời cải cách ruộng đất, vì thế hắn buồn!

Chiều hôm đó Thượng Sĩ Buồn vẫn thủng thẳng tản bộ trên con đường mòn quanh trại. Nhưng không có người tù cải tạo nào dám nhìn anh ta cả. Vì ai cũng biết rằng, anh ta chính là người đã lạnh lùng bóp cò, nhắm bắn từng viên A.K 47 trên thân thể một người cùng màu da, cùng nguồn cội với anh ta.

Giờ đây, anh ta đã lộ rõ nguyên hình một tên cuồng sát máu lạnh, núp đàng sau một khuôn mặt điển trai.

Cũng từ hôm sau, cho tới ngày tôi lên tàu ra Bắc (tháng 7/1976), tôi không còn trông thấy Thượng Sĩ Buồn xuất hiện trong vòng rào K 3 nữa. Hình như hắn được chuyển sang phụ trách khu K 4?

Tối đó tôi mở ba lô, véo một cục từ bánh thuốc rê đầy ắp mà anh Phạm Văn Tư đã đưa cho tôi chiều hôm trước.

Tay tôi vân vê những sợi thuốc, trí óc tôi hiện lên khuôn mặt vừa nghiêm trang, vừa buồn rầu của người Niên Trưởng.

Lúc đưa “rê” thuốc cho tôi, giọng anh thực từ tốn, nhưng vô cùng dứt khoát, anh nói,

– Từ mai, “moa” bỏ thuốc! “Toa” cầm nguyên bánh Cẩm-Lệ này về, rồi tự tay vấn lấy mà hút! “Moa” chán cái việc suốt ngày ngồi vấn vấn, vê vê này rồi! Chẳng làm nên tích sự gì cả!

Chuyện xảy ra trưa nay, đã cho tôi hiểu rằng, thực sự, người đàn anh của tôi đâu đã chán thuốc rê? Anh cho tôi cả bánh Cẩm-Lệ còn mới toanh, và tuyên bố “bỏ thuốc”, chỉ vì anh phải bắt đầu một cuộc phiêu lưu ít người dám làm: Trốn trại!

Thật vậy, có ít người dám làm điều này lắm!

Chỉ vì, trốn trại chẳng phải chuyện đùa! Mà trốn trại, chính là đem sinh mạng của mình ra đánh đổi lấy Tự-Do.

Hai ông đàn anh của tôi đều là dân Tình-Báo, do đó, dù thân thiết cách mấy, tôi cũng không hay biết mảy may mưu đồ của hai ông.

Tôi cũng chợt nhận ra một điều trái khoáy, oái oăm, đó là chuyện ngày xưa Đại Úy Phạm Văn Tư vì “Đạo Làm Người” mà cứu mạng một tên Việt-Cộng sắp chết vì nội xuất huyết trên những vết thương ở đùi. Rồi chỉ sáu năm sau, người tù cải tạo Phạm Văn Tư lại bị những tên Việt-Cộng khác bắn nát tứ chi, không băng bó, vứt trong xó nhà, để mặc cho máu chảy tới cạn kiệt. Không có ai làm “garô” cho anh; không ai lưu tâm tới chuyện hai đùi, hai tay anh đang bị nội xuất huyết, hay ngoại xuất huyết cả; chắc chắn anh sẽ chết dần với nỗi đau đớn tột cùng. Cảnh này cũng thật là trái ngược với hình ảnh cô y tá Hoa-Kỳ tận tâm chăm sóc một tù binh bị thương, không cùng màu da và ngôn ngữ với cô, vừa luôn miệng dỗ dành:

“Don’t worry! Don’t worry! You will be Okay!”

Ngày xưa, khi nhân loại còn dã man, có chuyện người chiến thắng đã đem địch quân ra tùng xẻo, hoặc trói kẻ thù lại, cột dây cho ngựa kéo lê tới chết.

Ngày nay, dù thế giới đã đổi thay, nhưng cung cách đối xử với người dưới ngựa của Việt-Cộng cũng không văn minh hơn chút nào.

Tôi đang suy nghĩ miên man, thì anh bạn Nguyễn Phong Cảnh ló đầu vào cửa sổ ngoắc tay,

– Lẹ lên! Lẹ lên!

Vừa chui lọt thân mình qua cái cửa sổ, tôi đã bị anh Cảnh lôi đi như chạy giặc.

Cảnh dẫn tôi men theo bờ rào, đi về hướng nhà bếp, tới góc cuối của K 3, cách cái chòi gác hai lớp kẽm gai. Lúc đó trên chòi không có lính canh.

Hai đứa ngồi núp mình, nghe ngóng.

Từ căn nhà tôn bên kia, cách tôi bốn lớp kẽm gai và hai khoảng đất trống, rõ ràng là tiếng la rú đau đớn của anh Tư đang vọng ra.

“Ối!…Ối! …Ối!…ôi!…ôi!…ôi!..ư…ư…ư..”

Tiếng la rú lanh lảnh, đứt quãng, quằn quại, từng đợt rợn người, của một sinh vật sắp chết đã phá vỡ cái yên tĩnh của một vùng không gian vào lúc trời chạng vạng. Chắc chắn trong suốt cuộc chiến tranh hai mươi năm vừa qua, khó có thương binh nào phải lâm vào tình trạng đau đớn khủng khiếp như tình trạng hiện thời của người thất trận Phạm Văn Tư.

Tôi nghĩ rằng, nếu có gom góp hết những đau đớn mà tôi đã từng trải, qua ba lần bị thương, cũng chẳng thấm gì với cái đau mà người đàn anh của tôi đang gánh chịu giờ phút này.

Bạn cùng lán của tôi, Thiếu Tá Nguyễn Phong Cảnh, là một sĩ quan thuần túy tham mưu, không quen với cảnh máu đổ, thịt rơi ngoài trận tiền, nên chỉ qua vài phút chứng kiến cảnh thương tâm này, anh Cảnh đã chịu đựng không nổi. Anh òa lên khóc tức tưởi, rồi ù té chạy về hướng sân bóng chuyền.

Tôi vẫn ngồi sát bờ rào, theo dõi tiếp.

Tiếng rú hạ thấp xuống thành tiếng rên, “Hừ!… Hừ!…hừ! …hừ!…”

Rồi hình như trong khi rên, anh Tư đã ú ớ gọi tên ai đó:

“Hừ!… Hừ!…Hừ!..Hường…ơi!…Hư…ường …ơi!…ực!… ực!…ực!…”

Cuối cùng, chen lẫn với những tiếng nấc, bên kia rào chỉ còn những tiếng, “Ư! Ử!…Ư! Ử!…ư! ử!…” nhỏ dần.

Mấy chục năm sau, mỗi khi nhớ lại chuyện này, hai mắt tôi vẫn thấy nóng lên và mờ đi, tim tôi vẫn còn chùng xuống như một con tàu vỡ, đang bị nước tràn vào, đang tròng trành chìm dần xuống đáy biển khơi.

Mấy phút sau, hình như anh Tư đã kiệt sức, không rên được nữa.

Thấy không nghe thêm được gì, tôi đành lầm lũi trở về nhà giam.

Trong khu K 3, ngoại trừ những hôm có văn nghệ hay chiếu phim, thì sau tám giờ tối, cổng khóa, không còn vệ binh đi tuần tra trong vòng rào nữa.

Và cũng từ khi có kẻng báo ngủ (chín giờ tối) thì trên chòi canh, vệ binh bắt đầu các phiên gác đôi.

Từ khi tắt đèn cho tới khuya, lâu lâu tiếng gào thét, la hét của anh Tư lại theo gió vọng về. Có lẽ tới gần hai giờ sáng mới hoàn toàn không còn tiếng rú đau đớn của anh Tư nữa.

Suốt đêm đó tôi cứ giả đò mắc tiểu, lâu lâu lại đi ra sát bờ rào nghe ngóng.

Cũng đêm hôm đó, hình như có nhiều người trong khu K 3 cùng mang tâm trạng như tôi. Trong số này, ngoài Nguyễn Lành, Tạ Mạnh Huy và Ngô Văn Niếu ra, còn vài anh Võ-Bị bên Lán 17.

Họ cũng thay phiên nhau ra hàng rào… đứng một lúc, nghe ngóng … rồi đi vào.

Chúng tôi như chim cùng đàn, một con bị bắn chết, những con khác chỉ biết bay lòng vòng trên cao, cất tiếng kêu thương.
Mờ sáng ngày kế tiếp, có sáu anh tù cải tạo được gọi lên văn phòng để đi chôn xác anh Tư.

Tuần sau, anh Trần Văn Bé bị Việt-Cộng bắt trở lại, và đem về nhốt trong connex đặt trên ban chỉ huy trại. Cùng thời gian này, một anh tù trốn trại khác cũng bị giải về đây nhốt chung với anh Bé. Anh bạn này là Thiếu Tá Biệt Động Quân Phạm Hữu Thịnh. Anh Thịnh đã cùng anh Thiếu Tá Quách Hồng Quang, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân chui rào, tìm cách thoát đi từ Trại Hóc-Môn. Anh Quang bị vệ binh bắn chết ngay tại hàng rào, còn anh Thịnh thì bị bắt khi vừa chui ra khỏi lán. Anh Quách Hồng Quang là bạn cùng đơn vị với tôi thời chúng tôi còn là đại đội trưởng ở Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân. Còn anh Thịnh lại là dân cùng ngành Tình-Báo với anh Tư và anh Bé.

Giữa tháng Tư năm 1976, anh Bé và anh Thịnh bị đưa ra tòa án của trại để xử tội. Hôm đó là một ngày nắng gắt.

Khoảng hơn mười giờ sáng, khi loa phóng thanh truyền về trại âm thanh của những loạt đạn A.K kết thúc mạng sống của hai người thua trận, thì trời đang nắng bỗng tối sầm, một cơn giông kéo tới, bụi đất mù mịt. Tiếp theo, là một trận mưa rào xối xả, sầm sập trên mái tôn. Nước mưa vừa bốc thành hơi ngùn ngụt, vừa tuôn xuống đất ào ào. Nhưng chỉ vài phút sau, đột ngột, mưa ngừng. Cảnh vật lại trở về tình trạng cũ.

Hiện tượng khác thường này khiến người ta liên tưởng tới sự hiện diện của Đấng Vô Hình ở trên cao, đang theo dõi các hoạt động của con người dưới trần gian.

Có phải cái chết oan ức của hai vị sĩ quan Việt-Nam Cộng-Hòa đã động tới lòng Trời? Khiến Trời phải nổi cơn giông phẫn nộ hay không?

Tôi thì tin tưởng rằng, lúc cơn giông nổi lên, chính là lúc Thượng- Đế đưa bàn tay thương yêu của Người ra, để dắt dìu linh hồn các bạn tôi tới bến bờ Tự-Do.

Từ phút đó cho tới chiều tối, trong sân tập họp của khu K 3, tù cải tạo lại tụ nhau từng nhóm, thì thầm đọc kinh cầu nguyện.

Những anh tù đại diện có mặt trong phiên tòa, khi về trại, đã kể lại, việc chôn cất hai người bại trận cũng diễn ra rất gọn, vì một ngày trước khi có phiên tòa này, thì hai cái huyệt để chôn người bị xử tử đã được ban chỉ huy trại cho người đào sẵn sàng rồi.
Vậy là, chỉ trong một thời gian ngắn ngủi sau khi mất nước, bốn người bạn của tôi đã phải trả giá cho Tự-Do bằng chính sinh mạng của họ.

Sau ngày Ba Mươi tháng Tư năm 1975, thời thế đã đổi thay.

Cái Thiện đã nhường chỗ cho cái Ác.

Tự-Do, Bác-Ái, Công-Bằng chỉ còn là kỷ niệm.

 

Vương Mộng Long – K20 VBQGVN

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

 https://hung-viet.org/author/post/9131/1/vuong-mong-long


Bán Đứng Đồng Minh – Bùi Anh Trinh

 Bài đọc suy gẫm: Bán Đứng Đồng Minh hay Cần trả lại sự thật cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, tác giả Bùi Anh Trinh. 
 
 
Cần trả lại sự thật cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu 30-4-2019
Bùi Anh Trinh
Cần trả lại sự thật cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau 30/4/1975 Mỹ mở chiến dịch đổ tội làm mất nước cho Tổng Thống Thiệu để cho người ta không oán hận Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Giờ đây đã 44 năm trôi qua, nếu người Mỹ không lên tiếng giải oan cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thì cũng nên trả lại sự thật cho lịch sử.


 

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho tới trước khi chết Ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng Ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm.

Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường Việt Nam, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau.

Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời.

Hai chữ “Bỏ Rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ông tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ Rơi Đồng Minh” khác với “Phản Bội Đồng Minh”. Bỏ Rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mõi quá thì tôi không giúp nữa. Còn Phản Bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ Bỏ Rơi VNCH còn hơn là nhận Phản Bội VNCH.

Năm 1968 anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt.


 

 
Đến năm 1972 ông bị đày đi VN vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại Việt Nam là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm.

Sau biến cố 1975 Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại VN trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi Việt Nam. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ.

CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval..

Theo Frank Snepp thì mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp Định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết Hiệp Định, Tổng Thống Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại VN thay Bunker. Frank Snepp mô tả vai trò của Đại sứ Martin: “Mỹ buộc phải bỏ khỏi Việt Nam trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. (Trang 75, nguyên văn: “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept”). Như vậy màn kịch bỏ rơi Việt Nam đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973.

Năm 1974 giữa năm, Tổng Thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc Hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc Hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ.

Tuy nhiên ông đã tính lầm, Quốc Hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc Hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

Vì vậy Quốc Hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với LX, TQ và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và cả Hà Nội.

Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh Ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc Hội. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc Hội sẽ không còn cớ để truy xét.

Sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước Cộng Sản vào cuối năm 1974 (Đạo luật Jackson-Vanik). Sự trở mặt của Quốc Hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại Tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm Miền Nam, Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí..

Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp Định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp Định Geneve 1954.

Nhìn bề mặt của Hiệp Định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977 Tổng Thống Jimmy Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp Định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp Định Paris 1973. Vào tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon & Phạm Văn Đồng.

Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỉ USD và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỉ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi VN thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế.


 

Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissinger và đến cuối năm 1974, Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp Định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào, suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không (sic).

Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại nhưng Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức, trong 5 năm nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại.

*(Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi Miền Nam là 5,88%)

Bắt đầu từ năm 1975 Đại Tướng Cao Văn Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse” và hai mươi năm sau, 2003 The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Đại Tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” (Tài liệu của Ngũ Giác Đài: Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136).

Năm 1974 tháng Giêng, theo tài liệu của CIA: “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 95).

Tướng John Murray là Tư Lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.. Ông đến Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đô la nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

Năm 1974 cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Đại Tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), Tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận) và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2 và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Năm 1974 tháng 5, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch của VNCH) thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “Cắt Đất Theo Lượng Viện Trợ” của Murray nằm trên bàn của Tổng Thống Thiệu vào tháng 5 năm 1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến (tối kiến) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực Tổng Thống đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó Ông không thể lên tiếng thanh minh.

Năm 1974, ngày 24-12: Theo hồi ký của Đại Tá Phạm Bá Hoa “Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10; một buổi tiệc mừng Giáng Sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong BTTM”. Khách tham dự gồm có Tướng Smith (Chỉ Huy Trưởng cơ quan quân sự HK tại VN; Tướng Quân Y Phạm Hà Thanh; Tướng Công Binh Nguyễn Văn Chức; Đại Tá Phạm Kỳ Loan (Tổng Cục Phó Tiếp Vận); Đại Tá Phạm Bá Hoa (Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận); Đại Tá Pelosky (Phụ Tá của Tướng Smith); Trung Tá Nguyễn Đình Bá (Chánh Văn Phòng của Tướng Khuyên)..

Tướng Smith tiết lộ rằng: “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu đollar để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không ai phản đối, kể cả Tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật.

Như vậy là kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch.

Năm 1975, ngày 7-1: Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là: “Nhà Trắng nói rằng: Tổng Thống Ford không có ý vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc Hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam” (Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại VN”(trang 146).

Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch tiến chiếm miền Nam: “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” (Hoàng Văn Thái, trang 172).

Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ. 

Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu là để Quốc Hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự cho VNCH.

-Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại Giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “Lấy Có” cho Cam Bốt: “Chính Phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”. (Frank Snepp, Decent Interval, trang 175). *(Nguyên văn: “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster”).

– Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại Giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông: “Hãy làm mọi cách để Quốc Hội tiếp tục duy trì viện trợ (Lấy Có) cho Cam Bốt và Việt Nam. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” (Frank Snepp, Decent Interval trang 176). *(Nguyên Văn: Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be).

Hai ngày sau khi Kissinger nói câu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột.

Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn Gạo và không còn Đạn (Tài Liệu The Final Collapse của Đại Tướng Cao Văn Viên). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết Gạo và Đạn trước tháng Sáu năm 1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng Quân Đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội.

Năm 1975 ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên “Ngày 11-3 Tổng Thống Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại Dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975”. Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của Tổng Thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như Tổng Thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”

*“… Tổng Thống Thiệu phác họa sơ: …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cộng Sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi gía…Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại…” (Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131).

“Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào … . Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” (trang 132).

Henry Kissinger viết trong hồi ký của ông:
“Cho đến hôm nay tôi kính trọng ông Thiệu như là một gương hào hùng của một kẻ dám chiến đấu cho nền tự do dân tộc của ông, một kẻ sau này đã chiến bại bởi những hoàn cảnh ngoài tầm tay cá nhân ông, đất nước ông và ngay cả ngoài vòng quyết định của chúng ta…” ( Henry Kissinger, Years of Upheaval, 1981, Bản dịch của Xuân Khuê)

Kissinger là người mà T.T. Nguyễn Văn Thiệu ghét cay ghét đắng cho tới khi xuống mồ. Trong khi ngược lại, Kissinger cũng làm ra vẻ ghét cay ghét đắng T.T. Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mà báo chí và nhân dân Mỹ luôn luôn nguyền rủa là cản trở và phá hoại hòa bình.

Tuy nhiên cuối cùng, khi mà hòa bình đã đạt được bằng cái giá phản bội dân tộc Việt Nam, Kissinger mới bình tâm thú thực cảm nghĩ của ông ta về người anh hùng lãnh đạo đất nước Việt Nam trong thời gian gay cấn nhất của lịch sử. Kissinger nói :

“… Sau khi ngưng bắn, quân đội chúng ta sẽ rút về bên kia bán cầu, còn dân tộc của ông vẫn còn cảnh một đội quân tiếp tục hy sinh cho những hy vọng mong manh của nền độc lập tại Đông Dương. Chúng ta đã chắc rằng biện pháp của chúng ta sẽ kềm hãm tham vọng của Hà Nội. Nhưng mắt của ông T.T. Thiệu chỉ quan ngại vào những điều mong manh về sau này…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).

Kissinger cũng thú thực là vì không còn cách lựa chọn nào khác cho nên Mỹ đành phải hy sinh Nam Việt Nam, và cũng vì vậy mà Kissinger đành phải đóng vai làm kẻ thù của T..T. Nguyễn Văn Thiệu nhưng tự sâu xa trong đáy lòng, Kissinger khâm phục T.T. Thiệu :

“…Như là một phép lạ phát xuất từ lòng dũng cảm, ông Thiệu đã cố gắng lèo lái quốc gia trong giai đoạn cam go này, chiến đấu chống lại quân thù cố tâm xâm lấn và làm an tâm đồng minh nào chưa thông hiểu ông …

… Về riêng tư tuy tôi dành ít cảm tình về ông T.T. Thiệu nhưng tôi rất kính nể ông vì ông là một người kiên tâm chiến đấu trong nỗi cô đơn ghê gớm ( nguyên văn: terrible loneliness ) sau cuộc rút quân của Hoa kỳ. Ông chấp nhận những cảm tình và thông hiểu ít ỏi dành cho ông. Chuyện đó không làm phẩm chất của ông hao mòn đi…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).

Ngày 22-10-1972 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nổi giận khi Kissinger ép buộc ông phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp định đình chiến mà Kissinger đã cùng Lê Đức Thọ soạn thảo tại Paris. Ông khuyến cáo Kissinger :

“Tôi không đồng ý về việc một số nhân viên của quý vị đi nói khắp Sài Gòn là tôi đã ký. Tôi chưa ký kết gì cả. Tôi không phản đối hòa bình nhưng tôi chưa nhận được một trả lời thỏa đáng nào của quý vị cho nên tôi sẽ không ký”.

Kissinger mất bình tỉnh với tuyên bố của Tổng thống Thiệu, ông nói ông đã thành công ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và Paris mà bây giờ ông phải thất bại tại Sài Gòn : “Nếu ngài không ký, chúng tôi sẽ xúc tiến một mình”.

Tới phiên Thiệu nổi giận, ông buộc tội Kissinger là thông đồng với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để bán đứng Miền Nam. Hồi ký của Kissinger ghi lại lời lẽ của Thiệu:

“Là một quân nhân thì lúc nào cũng phải chiến đấu, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức khi HK yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức… … Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã đòi tôi từ chức, vì như vậy là nhục; cho nên tôi đã làm như tự mình chọn lấy quyết định đó…” (Kissinger, White House Years, trang 1385).

Kissinger đáp lại : “Tôi cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của ngài qua lời phát biểu vừa rồi. Tuy nhiên, là một người Hoa Kỳ, tôi không khỏi phiền lòng khi ngài cho rằng chúng tôi thông đồng với Liên Xô và Trung Quốc.

Làm sao ngài có thể nghĩ như vậy được trong khi quyết định ngày 8-5 của Tổng thống Nixon ( Thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt ) đã liều cả tương lai chính trị của mình để giúp quý ngài. Chúng tôi điều đình với Liên Xô và Trung Quốc là để làm áp lực, buộc họ phải làm áp lực với Hà Nội… Nếu như chúng tôi muốn bán đứng quý ngài thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó…”( Kissinger, White House Years, trang 1385, 1386 ).

Rồi tới phiên Đại sứ Bunker mất bình tỉnh : “Vậy thì thưa Tổng thống, lập trường chót của ngài là không ký, có phải không?”

T.T. Thiệu đáp : “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi. Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho Tổng thống Nixon biết như thế. Xin quý vị trở lại Washington và nói với Tổng thống Nixon rằng tôi cần được trả lời”.

Tổng thống Thiệu chỉ tay vào bản đồ Việt Nam rồi nói : “Có gì quan trọng khi Hoa Kỳ để mất một quốc gia nhỏ bé như Nam Việt Nam? Chúng tôi không hơn gì một chấm nhỏ trên bản đồ của thế giới đối với các ông… … Nhưng đối với chúng tôi, đó là một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết.

Đối với chúng tôi, đặt bút ký vào một hiệp ước tương đương với sự đầu hàng là chấp nhận một bản án tử hình, vì cuộc sống không có tự do là sự chết. Không, nó còn tệ hơn là sự chết” ( Larry Berman; No Peace, No Honor; trích từ Văn khố Bộ ngoại giao HK, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 230 ).

Sau 1975 thì người Mỹ muốn lái sự oán hận mất nước của nhân dân Miền Nam vào ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu và quân đội VNCH để quên đi hành động “bán đứng đồng minh” của Mỹ *( Lời của ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu nói thẳng vào mặt Kissinger năm 1972 ). Họ vận động các phương tiện truyền thông tiếng Việt tại hải ngoại kết án ông Thiệu làm cho mất nước. Họ kết án quân đội VNCH hèn nhát, tham nhũng v.v,… Họ dập tắt tiếng nói thanh minh của ông Thiệu và của những quân nhân VNCH. Họ thuê bọn vô lại biến phong trào chống Cọng sản tại hải ngoại thành những trò thối tha vô liêm sỉ….!

Hằng năm cứ vào mùa tháng Tư thì các phương tiện truyền thông tiếng Việt như RFA, BBC, …lại rộn lên những luận điệu kêu gọi hòa hợp hòa giải giữa chế độ CSVN và những người đã bị đuổi chạy ra nước ngoài. Họ coi những người rượt đuổi và những người bị đuổi đều tội lỗi như nhau.

Trong khi đó cuộc chiến Nam Bắc Hàn cũng giống hệt như cuộc chiến Việt Nam. Nhưng ngày nay RFA, BBC… nói cho con cháu Nam Hàn rằng năm 1950 quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 38 đánh chiếm Nam Hàn. Quân đội Mỹ đã giúp nhân dân Nam Hàn đẩy lui quân Bắc Hàn về Bắc. Tội lỗi đều là phía Bắc Hàn chứ phía Nam Hàn không có lỗi.

Nhưng đối với cuộc chiến Việt Nam thì quân Bắc Việt cũng tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Miền Nam nhưng Mỹ lại nói : Phía CSVN và phía VNCH đều có lỗi cho nên Mỹ đứng giữa không biết giúp bên nào !! Cho tới nay cũng chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái.

Cũng vì chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái cho nên cho tới nay danh dự của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa được phục hồi. Người Mỹ vẫn muốn con cháu Việt Nam nhìn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu như là một kẻ luôn luôn cản trở và phá hoại hòa bình. 
Bùi Anh Trinh

 
 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Văn Tuyển

 

 

Trớ trêu thay! – Nguyễn Sơ Đông

Image result for quân y vnch

ourquoi le prononcer ce nom de la patrie?

Dans son brillant exil mon coeur en a frémi

II résonne de loin dans mon âme attendrie,

Comme les pas connus ou la voix d’un ami.

(Milly ou la terre natale – Lamartine)

Quê hương ấy nhắc chi thêm lưu luyến,
Giữa lưu đày rạng rỡ* xuyến xao lòng.
Từ xa xôi vọng lại vấn vương hồn
Bước chân cũ hay âm quen người bạn.

( Quê Mẹ, Mailoc phỏng dịch)

Bài đọc suy gẫm: Trớ Trêu Thay! hay “Nhớ Nhà” là lời tâm sự, chia sẻ kinh nghiệm của bác sĩ Quân Y – QLVNCH, Nguyễn Sơ Đông, blog 16 xin hân hạnh gởi đến bạn đọc nhưng tâm tình của tác giả.

 

Tôi muốn đổi chữ “brillant” (rạng rỡ) thành “douloureux” vì trốn chui, trốn nhủi, vượt biên còn thua con chó đói, thì có gì là “brillant”. Sợ mang tội với Lamartine, lại thừa một “pied” (vế).

Tôi là thằng “lăn chai”, lúc nhỏ suốt ngày ở ngoài đồng, lội hết mương nầy đến rạch kia. Tôi không phải đi chăn trâu, nhưng tôi cỡi trâu “nghề lắm”. Leo lên lưng trâu đâu có dễ. Tôi mới sáu, bảy tuổi, đứng vừa qua khỏi ngang nửa bụng trâu, mà trâu đâu có “mọp” xuống như voi cho mình leo lên. Vậy mà thằng tui phóng lên ngang hông trâu cũng được, kẹp “đầu gối” (trâu) trước cũng xong, phăng lên bằng đầu gối sau cũng “phẻ” mà kéo đuôi cũng yên. Trâu tốt hơn “người ta”: không khi nào “đá giò lái”, không “đá ngược” bạn bè.

Nắng, mưa tôi có coi ra gì đâu? Mưa xối xả, mưa nặng hột,… tắm mưa càng vui. Tắm đến chừng da tái mét, run lập cập mới thôi. Một lát – có khi cả giờ nữa, nắng lên, khô queo,… thì lội nữa.

Tụi chăn trâu “nhà nghề” chỉ tôi đủ thứ hết: làm sao “cột dàm” con nghé để nó khỏi ăn mạ. Người ta vác chổi chà mà đập mầy đó (không đập trâu đâu, vì chổi chà có thắm thìa gì nó). Nhìn dấu ở cửa hang là biết có cua ở trỏng hay không, cua lớn hay cua “nghé” (cua con, kẹp đau lắm). Bắt cá bóng kèo thì phải dùng một chân chận cái ngách nó lại, câu cá trê phải sửa soạn mồi trước: đập mấy con ốc bươu, để qua bữa sau có mùi hôi hôi là cá trê nó đớp nhanh lắm, xúc cá ròng ròng coi chừng bị cá mẹ táp cẳng, vì bênh con (ròng ròng là cá lóc con, cỡ 1/2 ngón tay út, kho tộ mặn mặn, cay cay… ngon hơn caviar nữa. Mà tôi có bao giờ được ăn caviar đâu mà xạo vậy!). Bọt trắng nhuyễn trên mặt “mương”, nhưng bọt nào là ổ cá chìa vôi, chả làm gì được hết, bọt nào là ổ cá “xiêm”, loại cá lia thia xanh mun, đá chết bỏ chứ nhứt định không chạy.

Lên Saigon, “lội” gần hết “hang cùng ngõ hẹp” của quận Tư (sau nầy là quận Năm, dành tên quận Tư cho bên Khánh Hội), chui vào Đại Thế Giới coi hát “cọp”, băng cầu chữ Y, qua giang sơn của ông Bảy (Bảy Viễn), đi chen lấn giựt cái “lưỡi” ông Tiêu cúng rằm tháng Bảy.

“Nắng Saigon, anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”

Tôi có biết lụa là gì đâu? Hà Đông ở đâu? Thôi, tôi xin phép Nguyên Sa mà sửa lại:

“Nắng Saigon, tui đi mà chẳng ngán
Bởi vì da mốc thích “đui then” rồi.

Ra Chasseloup, đến mùa me chín, leo lên “rung” mạnh. Me rụng đầy đầu tụi ở dưới đất. Thằng nào ở “trển” vậy? Thằng Đông chớ ai vô đây.

Trước Bộ Y Tế có hai cây gừa, trái tròn, ngọt, cây chót vót, lại cũng thằng Đông leo. (Sau 75, tôi vẫn còn thấy hai cây nầy, già lão rồi, có ai để ý tới làm chi)

Vào lính, theo đơn vị hành quân, nhớ từng con suối nhỏ, từng gò mối, từng cây cầu khỉ,… nhứt là những nơi “đụng” nặng. Lính tử trận. Quan cũng đền nợ nước. Thứ hai, người vợ trẻ đưa chồng lên Đức Hòa. Thứ bảy, đã chít khăn tang. Nhưng tôi vẫn thương vẫn nhớ cái quận “nắng bụi, mưa bùn”… nghèo xơ nghèo xác nhưng đầy ấp tình người. Hoàng hôn xuống, nghe ảnh ương, nhái bầu, nhái bén, cả bao nhiêu thứ côn trùng hòa tấu “symphonie pastorale” nghe mà rụng rún.

Giờ đây, lưu lạc xứ người, muốn nghe… có đâu mà nghe.

“Lòng quê đi một bước đường một đau ” (Kiều)

 

Tâm trạng nhớ nhà là vậy

Tôi không dám “nghĩ” hoặc “đoán” tình cảm của ai khác. Riêng với tôi thì: tình đầu, tình đuôi, tình giữa… gì gì, thì với thời gian cũng sẽ khuây khoả, rồi phai, rồi tàn và rồi thuộc về dĩ vãng, dù nó “apporte chaque jour tout le bien, tout le mal”.

Nhưng, nhớ nhà thì hoàn toàn khác, lạ. Như một định luật tự nhiên, “tên” nào “lội” nhiều, lăn lóc với “đất nước” nhiều,.. khi về già, nhớ nhà càng ray rứt, càng nhức nhối.

Cái khổ là càng muốn quên, càng lại nhớ. Có những đêm thức giấc, nhớ quá, không tài nào ngủ lại được. Nhớ ai, ai đâu mà nhớ. Nhớ NHÀ!

Lúc ở Chasseloup, đọc sách tả Tour Eiffel, Montparnasse, Les Invalides, Chateaux de la Loire.. náo nức muốn xem lắm. Giờ xem qua rồi thì “thôi”. Nó không “thấm” vào xương, vào tủy, vào tim, vào óc như cái nhớ nhà.

“… Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn người bốn phương. ”

(Làng Tôi – Chung Quân)

Chắc tại tôi là đứa “chả giống ai”. Thôi đành chịu vậy.

Mấy trang viết nầy không đầu, không kết, ý tứ lung tung, “à bâtons rompus”, “du coq – à – l’âne”. Bà con có xem thì “xính xái”, từ bi hỷ xã dùm. Thiện tai, thiện tai.

Thôi thì cứ xem như :“mémoires d’outre tombe” của tôi vậy.

Trước sau gì, cát bụi cũng sẽ về cát bụi

QUANDO SATIS DIXISTI, PERISTI

(Quand tu auras dit assez, tu seras mort)

(St Augustin)

“Mai đây trong chuyến tàu vạn cổ
Nếu có người thương đến tiễn đưa
Xin hãy rắc thêm vào huyệt mộ
Chút tình hệ lụy núi sông xưa”

(Giang Hữu Tuyên)

Đúng, hệ lụy núi sông xưa!

“Objets inanimés, avez vous donc une âme
Qui s’attache à notre âme et la force d’aimer“

(Lamartine – Milly ou la terre natale)

Vật vô tri kia hỡi có linh hồn?
Sao mi quyện hồn ta trong thương cảm!

(Mailoc phỏng dịch)

Thôi đành

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng thử nhân sầu ”

(Thôi Hiệu)

Vậy, tôi đã làm được gì?

* Gia Đình: Trả hiếu?

– Má tôi mất sớm quá, tôi có nhớ gì đâu, nhứt là mấy tháng cuối cùng, mỗi lần tôi muốn tới gần Má tôi, thì các dì, cô, cậu… (đều ở nhà tôi để săn sóc má tôi) bảo: “Con ra ngoài chơi đi, để má con ngủ”, ngủ yên… Yên Giấc Ngàn Thu.

– Tôi có làm được gì giúp Ba tôi đâu. Chưa xong y khoa, niềm an ủi duy nhứt của tôi là: tôi đã cố hết sức nghe lời Ba tôi, dĩ nhiên, đôi lần chuyện nầy, chuyện nọ, chuyện “đâu đâu” làm Ba tôi không vui.

– Tôi rất mừng là đã cùng vợ tôi quyết định “sinh tử”: chết thì chết chung, không thể sống với vc được. Tụi nó không lương tâm, không tim, không óc, không cả tình người. Ít nhứt, dung thân ở xứ lạ, không ai ngăn cấm con tôi: “Mầy là con sĩ quan ngụy, không được lên cấp ba”. Đó là nguyên văn của tên “giám hiệu” trường Petrus Ký (tôi khôngmuốn nhắc tên mới của trường) khi đứa con trưởng của tôi học xong lớp 9 (classe de 3è) không được lên lớp 10 (classe de seconde). Đuổi học.

* Tổ Quốc: xin cho tôi mượn hai câu thơ của một nhà văn “gốc lính”

“Cúi đầu tạ với quê hương
Tôi còn một nửa đoạn đường chiến binh”.

Tôi đã đội trên đầu sáu chữ: DANH DỰ, TỔ QUỐC, TRÁCH NHIỆM. Ngày nào còn thở tôi còn tôn thờ. Chỉ khi nhắm mắt thì trách nhiệm của tôi với tổ quốc VNCH mới kể là hết.

Je ne fléchirai pas ! Sans plainte dans la bouche,
Calme, le deuil au coeur, dédaignant le troupeau,
Je vous embrasserai dans mon exil farouche,
Patrie, ô mon autel ! Liberté, mon drapeau !.

(Victor Hugo – ultima Verba)

Ta vẫn chẳng khom lưng đâu! Không kêu ca trong miệng
Bình tĩnh, đau thương, khinh cả bọn theo hùa
Trong cảnh đày, ta vẫn ôm chẳng chuyển
Tổ quốc, bàn thờ thiêng! Tự do, đẹp lá cờ!

( Bản dịch của Xuân Diệu – Lời Cuối Cùng)

 

THAY LỜI CUỐI

 

Những dòng sau đây, tôi:

– Kính dâng quý Trưởng Thượng, Niên Trưởng đã rời Việt Nam trước 30-04-1975

– Gởi đến thế hệ trẻ, những người chưa “nếm” mùi vc.

Tôi dạy vạn vật ở Petrus Ký từ năm 1963. Lúc bấy giờ, thi Tú Tài 1 và 2 còn vấn đáp. Chưa khi nào tôi hỏi lý lịch thí sinh trước khi cho điểm. Nói chung, trong suốt lịch trình thi, tất cả Giáo sư đều xử sự như thế.

Tết Mậu Thân, con đường tiếp liệu (y dược, y cụ..) của đơn vị tôi bị vc (đã chiếm Vinatexco, Vifon, và các hãng kế cận) đóng chốt. Tôi phải liên lạc với cố vấn đơn vị tôi, trình với cố vấn trưởng (cố vấn cho Tư Lệnh Sư Đoàn) cho phép tôi dùng trực thăng riêng của ông về căn cứ 73 tồn trữ y dược, nhứt là bông, băng, băng cá nhân, nước biển và trụ sinh.

Trớ trêu thay: người thương binh đầu tiên được truyền chai nước biển “nóng hổi” vừa được trực thăng mang về là một vc.

Trong hơn bốn năm trấn ở Đức Hòa, tôi đã gọi tản thương bằng trực thăng về Tổng Y Viện Cộng Hòa ít nhứt là mười vc bị thương nặng. Không tản thương thì chắc chắn 100% chúng đi“chầu Bác” rồi.

Dù mưa, dù nắng, một giờ khuya, hai giờ sáng,… chưa lần nào phi hành đoàn hỏi tôi tản thương lính nào vậy? QLVNCH hay vc. Tất cả đơn vị Quân Y QLVNCH đều làm như thế.

Tôi muốn viết thật rõ, hét thật to, ý nghĩ thật trong sáng: Tôn chỉ của dân VNCH, của QLVNCH, của chính phủ VNCH là TÔN TRỌNG CON NGƯỜI, cách hành sự chứa đầy tình người.

Sau 04/1975, bọn khát máu chóp bu vc đã ra lệnh phá tan nát xã hội miền Nam, mà nền tảng là gia đình. Bao nhiêu gia đình sĩ quan QLVNCH, viên chức VNCH bị gây áp lực đến đổ vỡ.

Bao nhiêu dân miền Nam bị lừa gạt, rồi bị ép tử, bỏ cho chết, chết đói, chết vì bệnh tật,… ở những khu gọi là kinh tế mới.

Bao nhiêu thanh thiếu niên “con ngụy” bị ép buộc qua Miên làm bia đỡ đạn cho vc.

Bao nhiêu trăm ngàn người VNCH đã thiệt mạng trên đường tìm tự do, thoát ách vc.

Trong mấy ngàn năm lịch sử dân tộc, có lần nào mà người dân Việt Nam, vốn rất gắn bó với “quê cha đất tổ”, với “mồ mả ông bà” liều chết, bỏ nước ra đi tìm tự do đông đến số triệu.

Tôi viết để quý vị Trưởng Thượng và thế hệ trẻ hiểu được mức độ khát máu, tàn ác, vô nhân đạo, đầy thú tính của vc.

Riêng cá nhân tôi, tôi không thù hằn vc vì:

1- Tôi đã hấp thụ nền giáo dục nhân bản miền Nam

2- vc không xứng đáng để tôi thù hằn, vì vc đã mất hẳn tính và tình người.

Tôi rất cám ơn, thương mến, kính yêu “bà xã” tôi đã chịu bao nhiêu cay đắng, cực khổ tảo tần giữ vững gia đình, lo cho bốn đứa con tôi.

Hiện giờ, chúng là công dân đơn thuần (simple citoyen) của quốc gia tạm cư, không là “quan to, quan bé” gì hết. Nhưng, người ta đã đối xử với chúng tôi rất ấm áp tình người.

 

Nguyễn Sơ Đông

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Ba Cây Trúc


Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19.1.1974 – Nguyễn văn Phảy

 

Bài đọc suy gẫm: Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19.1.1974 trích trong “Những mùa xuân ghi dấu” tác giả Nguyễn văn Phảy. Một vài hình ành chỉ là minh họa.

 
 
 
Hải quân – Cố Trung úy Huỳnh Duy Thạch (hình bên) người hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa và lá thư phân ưu của Đề đốc tư lênh Hải quân Trần văn Chơn gởi đến gia đình. 
Mùa Xuân Giáp Dần – Hải Chiến Hoàng Sa 19.1.1974
   Thắm thoát gần 1 năm Hiệp định Paris được ký kết. Vào những ngày đầu năm 1974, với sự hợp tác của Trung cộng, cộng quân Bắc Việt đã gia tăng tấn công trên đất liền tại miền Nam để làm suy yếu lực lượng đối kháng của quân lực VNCH. Thừa cơ hội, Mao Trạch Đông chỉ thị cho Đặng Tiểu Bình để họp bàn với các cấp lãnh đạo nhằm thực hiện cuộc hành quân biển để tiến chiếm quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam . Trung cộng thành lập một lực lượng hải quân đặc nhiệm thật hùng hậu gồm nhiều loại tàu chiến tối tân, kể cả tàu ngầm được trang bị hoả tiển, ngư lôi và phi đội chiến đấu cơ Mig. Chúng chia làm 2 phân đội. Một phân đội tấn công đi trước gồm có 2 Liệp Tiềm Đỉnh (loại Hộ Tống Hạm) Kronstadt K271 và K274, 2 Tảo Lôi Hạm (loại Trục Lôi Hạm) 389 và 396 và 2 Liệp Tiềm Đỉnh khác là 281 và 282, cộng thêm những tàu đánh cá có vũ trang mang danh số 402 và 407… Một phân đội tiếp ứng khác theo sau cùng tiến ra quần đảo Hoàng Sa nhằm xâm lăng biển đảo của ta. Cuộc hành quân biển của Trung cộng do Phó Đô Đốc Phương Quang Kinh, Tư Lệnh Phó Hạm Đội Nam Hải Trung cộng chỉ huy.
  Dang Tieu Binh dung ben goc phai
Tổ lãnh đạo Trung cộng 6 người gồm Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Trần Tích Liên, Tô Chấn Hoa. Đặng Tiểu Bình tuy là Phó nhưng lấn lướt luôn quyền của Thống Chế Diệp Kiếm Anh. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cũng tham gia điều động lực lượng.
Những chiến hạm của Hải quân Trung cộng xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa.  
 
Phóng đồ điều quân của trận hải chiến Hoàng Sa quanh hai đảo Duy Mộng và Quang Hoà Đông.  

Những chiến hạm của Hải Quân VNCH
   Lúc bấy giờ Tuần Dương Hạm HQ16 của HQ VNCH đang tuần tra tại quần đảo Hoàng Sa biết được nhiều tàu chiến cũng như những tàu đánh cá được ngụy trang vũ khí của TC xâm nhập vào nhóm đảo Nguyệt Thiềm của quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Tức thì HQ16 báo cáo về Bộ Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải (TLV1DH), lúc đó Phó Đ Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải. Sau đó Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH đã chỉ định HQ Đại tá Hà Văn Ngạc (K5-SQHQNT) đương kim Hải Đội Trưởng Hải đội 3 tăng phái cho Bộ Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải. Lúc bấy giờ TLV1DH là Tư Lệnh Chiến trường và là vị Chỉ huy Liên Đoàn Đặc Nhiệm gồm các chiến hạm đương nhiệm và tăng phái cho chiến dịch Hoàng Sa. 
HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc, Tư lệnh HQ Vùng 1 Duyên Hải. Chỉ Huy Trưởng Chiến Dịch Hoàng Sa (hình trên). Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (hình dưới, trái)
   Khi Hải Quân Đại tá Hà văn Ngạc từ Sài Gòn ra đến Bộ TLV1DH thì Vị Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải chỉ định Hải quân Đại tá Hà văn Ngạc làm Chỉ huy Trưởng Chiến Thuật cho chiến dịch bảo vệ biển đảo gồm có các chiến hạm sau đây:
– Khu Trục Hạm HQ4, Hạm trưởng là HQ Trung tá Vũ hữu San (K11-SQHQNT)
– Tuần Dương Hạm HQ5, Hạm trưởng là HQ Trung tá Phạm trọng Quỳnh (K11-SQHQNT). HQ5 là Soái Hạm (OTC: officer in tactical command) vì HQ Đại tá Hà văn Ngạc hiện diện trên đó để chỉ huy chiến dịch.
– Tuần Dương Hạm HQ16, Hạm trưởng là HQ Trung tá Lê văn Thự (K10-SQHQNT)
– Hộ Tống Hạm HQ10, Hạm trưởng là HQ Thiếu tá Ngụy văn Thà (K12- SQHQNT).  
   Tình hình chiến sự thời điểm đó rất căng thẳng. Áp lực của cộng quân Bắc Việt trên đất liền ngày càng gia tăng. Hải quân VNCH phải được phân tán mỏng ở các vùng duyên hải để ngăn chận Việt cộng xâm nhập bằng đường biển vào bờ ở miền Nam. Nhưng với quyết tâm bảo vệ biển đảo, không thể để một tấc đất nào lọt vào tay giặc phương Bắc như các bậc tiền nhân căn dặn, Hải quân VNCH đã giáng cho Hải quân Trung cộng một trận quyết liệt gây tổn thất nặng nề cho TC từ khoảng 10:25 phút đến khoảng 11:10 phút ngày 19.01.1974 tức là ngày 27 tháng 12 năm Quý Sửu mặc dù lực lượng ta yếu kém hơn so với lực lượng HQ Trung cộng.
Trong thời gian từ ngày 16.1.1974 đến 18.4.1974, có lần Khu Trục Hạm HQ4 ủi đụng tàu đánh cá TC mang số 407 được vũ trang khi chúng chạy chận đầu HQ4 để khiêu khích.
    Trong trận hải chiến 19.1.1974, tôi có 6 người bạn cùng khoá Đệ Nhị Song Ngư Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang hiện diện trên các chiến hạm. Tôi cũng được nghe các bạn bè hiện đang định cư tại hải ngoại đã tham dự trận Hải Chiến Hoàng Sa kể lại một số chi tiết về trận chiến.
   Để đối đầu với lực lượng Hải quân TC, lực lượng ta được phân chia trách nhiệm như sau:
   –  HQ16 >< T396
–  HQ10 >< T389
–  HQ 4 ><  K271
–  HQ 5 ><  K274 
   Theo như lời người bạn cùng khoá, HQ Thiếu uý Nguyễn Văn Quý trên HQ5 kể cho tôi nghe khi tôi qua Hoa Kỳ thăm viếng năm 2005 cũng như bạn cùng khoá Nguyễn Hoà Nguyên liên lạc với bạn Quý vào đầu năm nay đã ghi lại như sau:
 … HQ5 ra đến Hoàng Sa buổi chiều 18.1.1974. Biển Hoàng Sa lúc đó đang ở vào mùa biển một, biển phẳng lặng, êm, rất êm! HQ5 tức khắc nhập đoàn cùng với HQ4 và HQ16 đang có mặt tại chỗ, cả 3 chiến hạm vào nhiệm sở tác chiến, lập đội hình “biểu dương lực lượng”. Các tàu Trung cộng thoạt đầu nhìn thấy đội hình các tàu của ta thì họ chạy dạt ra xa, e dè quan sát. Chỉ một lúc sau đó, họ cũng lập đội hình “biểu diễn giỡn mặt”. Các tàu Trung cộng nhỏ hơn nhưng chạy nhanh hơn, chúng chạy lượn quanh, chạy chận đầu các chiến hạm của ta. Phía hữu hạm HQ5, có một chiếc tàu Trung cộng chạy xé sóng, đâm tới nguy hiểm, khi còn cách khoảng 100 mét thì nó thình lình đổi hướng chạy song song với HQ5. Trên tàu, lính Trung cộng cởi trần, múa may, chỉ trỏ, la ó khiêu khích, khiến các chiến sĩ của ta thấy vui rồi nổi nóng. Một trận đấu võ miệng hai bên, từ trên xuống dưới, mạnh ai nấy chưởi, tiếng Việt và tiếng Tàu bằng loa và bằng mồm đã diễn ra…”
 * Toán công binh và nhân viên Toà Lãnh Sự Mỹ ông Gerald Kosh lên đảo Quang Hoà:
(Lãnh Sự Mỹ tại Đà Nẵng, ông Jerry Scott là bạn của Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, TLV1DH, là 1 cưụ Sĩ Quan HQ Mỹ, xin phép Đô Đốc Thoại cho ông Gerald Kosh theo HQ16 để biết Hoàng Sa. Sự thực Toà Lãnh Sự Mỹ có ý gì hay ông Gerald Kosh có làm việc cho CIA hay không thì vị TLV1DH không biết.)
  Theo như người bạn cùng khoá HQ Thiếu uý Phan Công Minh thuộc HQ5 tóm lược nhiệm vụ đưa toán công binh và cố vấn Mỹ vào đảo đêm 18.1.1974:
“… Sau nhiều lần kiểm tra đạt yêu cầu, Đại Tá Ngạc mới chính thức giao nhiệm vụ cho Thiếu Minh để đưa đoàn công tác lên đảo Hoàng Sa vào tối khuya ngày 18.1.1974.
   Cùng đi với Thiếu Minh có hai nhân viên cơ hữu HQ5 để lái ca nô (yuyu) và chống mũi. Trung Nguyễn minh Cảnh chỉ huy toán hải kích đi chung. Kéo theo sau là hai xuồng cao su do hai nhân viên hải kích cầm lái chở đoàn công tác công binh và một nhân viên Toà Lãnh Sự Mỹ, ông Gerald Kosh. Vũ khí đem theo là mấy khẩu M16. Sau khi rời chiến hạm các chiến sĩ ta đi trong tình trạng im lặng vô tuyến mặc dù có mang theo một máy PRC 25. Đó là chỉ thị của Đại tá Ngạc nhằm bảo đảm an ninh tuyệt đối cho cuộc hành quân. Chỉ liên lạc vô tuyến khi cần thiết mà thôi. Gần một giờ trôi qua thì đảo hiện ra lù lù một đống đen ngòm trước mặt, ca nô giảm máy chạy từ từ tiếp cận đảo.
Gần tới đảo, một nhân viên của đoàn công binh dùng đèn pin ra ám hiệu với đơn vị trên đảo, tất cả đều rất căng thẳng. Một ánh đèn pin lóe lên, tất cả hồi hộp, sau một loạt tín hiệu người liên lạc thốt lên:” phe ta”! tất cả thở phào nhẹ nhỏm. Trung uý Cảnh nói với Thiếu uý Minh : “anh em mình thoát nạn !”. Sau khi đưa toán công binh lên đảo an toàn, HQ Thiếu
Minh và 2 nhân viên cơ hữu quay trở lại chiến hạm. Trên đường về cũng hơi lo lắng nhiều, vì đêm tối như mực.
   Bạn Minh kể tiếp: “Tôi đã thi hành xong nhiệm vụ được giao phó. Chỉ một lần tiếp xúc với Đại tá Ngạc, tôi nhận thấy Ông là một vị chỉ huy có trách nhiệm, biết dự trù các tình huống, cẩn thận, trầm tĩnh biết cách sử dụng và động viên nhân viên dưới quyền, theo tôi biết ông thức gần sáng đêm để vạch kế hoạch cho cuộc hành quân tái chiếm các đảo đã bị Trung cộng lấn chiếm.”
Sáng sớm ngày hôm sau là ngày 19.1.1974, nhận được thông tin từ Sài Gòn ra lệnh tái chiếm các đảo bị địch lấn chiếm. Các Sĩ Quan trưởng khẩu của những chiến hạm đều quyết tâm bắn chiến hạm địch trước. Tuy nhiên bộ chỉ huy hành quân cũng đã phân tích lợi hại, và đã thống nhất phương án đổ bộ lên đảo.
 * Toán Hải kích từ HQ 5 vào đảo:

  HQ Thiếu úy Minh kể về toán Hải kích từ HQ5 vào đảo như sau:
    Khoảng gần 7 giờ sáng ngày 19.1.1974, HQ5 cho đổ bộ toán người Nhái Hải kích do Thiếu úy Đơn chỉ huy. Các người lính Hải kích bận quần sọt ở trần, võ trang súng M16, M18, M79 cả AK bá xếp và B40, đại liên M60, M72 và dao găm.
   Khi toán Hải kích tới đảo, Thiếu úy Đơn, trưởng toán, cho dàn hàng ngang chuẩn bị xung phong. Từ chiến hạm HQ5 Thiếu úy Minh thấy lính TC chạy ra ngăn. Thiếu úy Đơn giơ cao khẩu colt 45 hô xung phong. Một Hải kích tên Long cầm khẩu đại liên M60 xung phong nã đạn về phía địch, địch bắn trả từ những công sự đã bố trí sẵn. Quân ta anh dũng nhưng tình thế hoàn toàn bất lợi do địa hình hoàn toàn trống trải. Đội hình của toán đổ bộ còn nằm gần nửa người dưới nước biển. Hậu quả, Hạ sĩ Long tử trận, Thiếu úy Đơn cũng bị một viên đạn bắn trúng vào đầu, trong khi tay còn giơ cao khẩu colt 45 hô xung phong, vài nhân viên khác bị thương. Lúc nầy đạn thượng liên địch bắn xối xả, cày một lằn chắn ngang trước mặt toán đổ bộ, tạo thành một hàng rào chắn ngăn không cho toán đổ bộ tiến lên, nước bắn lên tung tóe, từ chiến hạm nhìn thấy rất rõ .
    Thấy tình thế bất lợi hoàn toàn, bộ chỉ huy hành quân đành cho lệnh rút quân về chiến hạm. Các nhân viên bị thương đưa sang HQ4, còn các tử sĩ được quàng tại kho thả bóng của HQ5. Bộ chỉ huy hành quân báo cáo về Sài Gòn. SG ra lệnh tạo điều kiện tái lập đầu cầu đổ bộ tiến chiếm lại đảo. Bộ chỉ huy hành quân trình phương án mới là sẽ tấn công các chiến hạm địch trước, vì tái đổ bộ là không thể thực hiện được, SG chấp thuận. Lệnh ban ra là các chiến hạm pháo lên đảo, nếu chiến hạm địch tấn công ta, chiến hạm ta sẽ bắn trả (phải tuân thủ qui chế ngoại giao quốc tế). Song tình hình thực tế không thể làm như vậy được. Đại Tá Ngạc trình phương án mới là cho HQ10 pháo lên đảo Quang Hòa, làm hiệu lệnh tấn công, tất cả chiến hạm ta sẽ đồng loạt tấn công địch trước. SG chấp thuận, lệnh tác chiến được triển khai chi tiết đến các chiến hạm, phân định mục tiêu rỏ ràng cho từng chiến hạm, từng trưởng khẩu. Lúc nầy các khẩu pháo của cả hai bên tham chiến đã đồng loạt chỉa thẳng vào nhau.
Giờ G đã điểm, lúc nầy khoảng 10 giờ 25, trước đó ít lâu Đại Tá Ngạc cho mở máy âm thoại, tất cả hệ thống liên lạc đều nghe rõ tiếng pháo lịch sử phát ra từ chiến hạm
Hộ Hống Hạm Nhật Tảo HQ10, mở màn cho cuộc chiến Hoàng Sa năm 1974 …
” (hết trích).
 
Hình minh hoạ của TC, diễn tả lúc lâm chiến giữa các chiến hạm TC và VNCH vào khoảng 10:30 phút ngày 19.1.1974.
Hình do báo chí TC phổ biến trên mạng giữa chiến hạm của HQ VNCH và của HQ TC
 Những phát đạn đầu tiên:

   Theo như người bạn HQ Thiếu uý Phạm Thế Hùng trưởng khẩu đại bác 41 ly bên tả hạm cũng như HQ Trung uý Hà văn Ngân trưởng khẩu 76,2 ly trên HQ10 cùng thuật lại đại ý như sau:
“…Vào sáng ngày 19.1.1974, các chiến hạm chạy loanh quanh với nhau chừng 2 vòng, các chiến hạm của Trung cộng từ từ lảng ra xa hơn. Như một dấu hiệu khác thường, Hạm trưởng HQ10 liền xin lệnh trên cho mở bao súng, hạ nòng xuống, nạp đạn và đề phòng mọi bất trắc, nhưng lệnh trên không cho phép.
Chừng nửa giờ sau, 2 trong 4 chiến hạm của Trung cộng xích lại chạy song song với nhau. Như một kinh nghiệm chiến trường thúc đẩy Hạm trưởng ra lệnh hạ nòng súng, tháo bao, nạp đạn sẳn sàng và quay súng về phía tàu Trung cộng.
Ít phút sau, hai tàu Trung cộng này chạy gần sát vào nhau và thình lình cùng quay mũi song song tiến về phía HQ10, hướng 3:00 giờ.
Hạm trưởng ra lệnh tất cả súng hướng về mục tiêu 1 và mục tiêu 2.
HQ Trung uý Hà văn Ngân ở ụ súng lớn phía trước mũi (khẩu 76.2 ly) được lệnh nhắm vào mục tiêu 1.
Hạm trưởng lại xin lệnh nổ súng một lần nữa nhưng được trả lời chờ Sài Gòn quyết định.
Thần kinh thật căng thẳng, 2 tàu Trung cộng cứ từ từ đến gần, khi còn cách khoảng 200 thước – 250 thước, Hạm trưởng hét lớn “Bắn”. Tất cả hỏa lực trên tàu cùng nhả đạn. HQ10 khai hỏa đầu tiên do lệnh của chính Hạm trưởng ban ra.
Đây là phóng đồ 2 chiến hạm Trung cộng (389, 396) đang chỉa mũi thắng vào chiến hạm HQ10 để tận dụng tối đa hoả lực 2 bên chiến hạm của chúng để tấn công vào HQ10 trước khi trận hải chiến xảy ra. Ở vị thế nầy gần như một nửa hoả lực bên tả hạm HQ10 bị hạn chế tác xạ.
    Khoảng 5 phút sau, mục tiêu 1 (tàu Trung cộng) bốc khói mịt mù và lùi lại phía sau, tất cả hỏa lực trên chiến hạm HQ10 lại nhắm vào mục tiêu 2. HQ10 đến lúc này vẫn an toàn, đạn từ tàu Trung cộng bắn tới đều bay qua đầu hoặc nổ trên mặt nước trước mặt.
Vài phút sau, mục tiêu 2 cũng bốc khói, mục tiêu 1 tuy còn chút khói bốc lên, chạy trở vào gần HQ10, bắn trả lại HQ10 và HQ10 bắt đầu trúng đạn của tàu Trung cộng.
HQ10 bị trúng trái đạn đầu tiên ngay trên đài chỉ huy, Hạm trưởng cùng các sĩ quan và thủy thủ có nhiệm sở tác chiến trên đài chỉ huy chết hết, trừ Hạm phó bị thương nặng, bò xuống được sàn tàu…” (hết trích).
   Và cũng theo như bạn HQ Thiếu uý Phạm Thế Hùng trên HQ10 kể thì tinh thần chiến đấu của thuỷ thủ đoàn ở các chiến hạm ta rất anh dũng. Khẩu đại bác 42 ly bên hữu hạm do người bạn cùng khoá là HQ Thiếu uý Vũ Đình Huân làm trưởng khẩu đã đồng loạt nả những loạt đạn đầu tiên vào chiến hạm TC. Khoảng 5 phút đầu giao tranh, HQ10 chủ động làm cho chiến hạm địch bị thương nặng và lúng túng. Sau đó HQ10 bị trúng đạn ở hầm máy và đài chỉ huy. Không may, Thiếu úy Huân bị tử thương khi giao tranh vì khẩu đại bác 42 ly bên hữu hạm đối diện trực xạ với chiến hạm địch. Tức thì bạn Hùng đang là trưởng khẩu đại bác 41 ly ở tả hạm cầm khẩu M16 chạy sang khẩu 42 ly để tiếp tục bắn tàu địch. Theo như HQ Thiếu úy Hùng cho biết thì HQ10 đã bắn được nhiều quả hải pháo 76,2 ly vào chiến hạm TC. Có khá nhiều vỏ đạn 76,2 ly nằm rải rác tại giàn pháo 76,2 ly.
   Khi đài chỉ huy HQ10 bị trúng đạn, Hạm Trưởng cùng toàn thể nhân viên đi ca và nhiệm sở tác chiến trên đài chỉ huy tử thương, hầm máy cũng bị trúng đạn bốc cháy. Hạm Phó là HQ Đại uý Nguyễn Thành Trí lúc đó cũng bị thượng nặng ra lệnh đào thoát. Tuy vậy, Hạ sĩ Lê văn Tây và Ngô văn Sáu đang tác xạ vào chiến hạm địch, không chịu rời nhiệm sở tác chiến ở khẩu đại bác 20 ly tại sân sau, để đào thoát. Trước khi nhảy xuống bè, Chuẩn úy Tất Ngưu cũng kêu gọi HS1VC Tây nhảy theo nhưng Hạ sĩ Tây từ chối và nói:  “Thôi, tôi ở lại ăn thua đủ với Trung Cộng. Chuẩn cứ nhảy đi.”.
    Tóm lại, theo như những lời kể của các bạn cùng khoá cũng như của HQ Trung uý Hà văn Ngân trưởng khẩu 76,2 ly trên HQ10 thì HQ10 khai hoả đầu tiên khi 2 Trục Lôi Hạm mang số 389 và 396 của TC chạy ủi thẳng góc vào hửu hạm HQ10, thay vì HQ10 tác xạ hải pháo lên đảo Quang Hoà để làm phát súng lệnh theo như kế hoạch của Bộ Chỉ Huy hành quân đề ra. Ngay sau khi HQ10 tác xạ vào chiến hạm TC thì tất cả súng của chiến hạm ta đồng loạt nả vào chiến hạm địch.
   Trên HQ4, người bạn cùng khoá là HQ Thiếu uý Nguyễn Phúc Xá cũng đã anh dũng hy sinh khi chiến đấu với kẻ thù TC.
 Kết quả trận hải chiến:  
– Trận hải chiến kéo dài khoảng trên 30 phút. Các chiến hạm VNCH không đuổi theo các chiến hạm Trung cộng khi chiến hạm TC bị thương nặng nên phải ủi vào bải đảo san hô gần đó. Ngược lại các chiến hạm Trung cộng cũng không đuổi theo các chiến hạm VNCH khi bị thương cũng như gặp trở ngại tác xạ rời vùng chiến đấu.
– Khi chiến hạm Trung cộng bị trúng đạn của ta, chúng ủi vào bãi san hô gần đó thì chúng cho xả những trái khói bịt bùng chiến hạm, để giảm tầm quan sát của ta.
– Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau, 2 chiến hạm TC mang số 281 và 282 tăng viện vào vùng chiến bắn chìm chiến hạm Nhật Tảo HQ10 bất khiển dụng và đang lềnh bềnh tại vùng chiến.
– Ngoài ra, không có chiến hạm nào của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ tiến vào nơi có cuộc giao tranh.
* Thiệt hại về phía HQ Việt Nam Cộng Hoà:  

HQ Dai uy Nguyen Thanh Tri, Ham Phó HQ10  da Vi Quoc Vong Than  trong luc dao thoat bang be
– Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ10 bị bắn chìm. HQ Thiếu Tá Nguỵ Văn Thà với 42 quân nhân khác bị tử thương trong đó có Hạm Phó HQ Đại uý Nguyễn Thành Trí. 32 người mất tích, 23 thủy thủ trôi dạt trên biển được tàu của hãng Shell vớt, 16 chiến sĩ khác trôi dạt trên thuyền cao su về đến Quy Nhơn.
– Hai Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ4 và Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ5 bị hư hại, mỗi chiến hạm có hai chiến sĩ bị tử thương.
– Tuần Dương Hạm HQ16 bị trúng đạn nghiêng một bên, được lệnh quay về Đà Nẵng, có một chiến sĩ bị tử thương.
– Có 43 chiến sĩ trên đảo đã bị bắt làm tù binh, trong đó có cố vấn Mỹ, Mr Gerald Kosh, được đưa về Quảng Châu, sau đó được trao trả cho VNCH qua Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế.
 * Thiệt hại về phía Trung cộng:
 Theo tài liệu nghiên cứu của nhà biên khảo, Bác sĩ Trần Đại Sĩ ở Pháp, từng đi công tác tại Trung cộng thì cho biết sự thiệt hại của Trung cộng như sau:
– 
Liệp Tiềm Đỉnh (Hộ Tống Hạm) Kronstadt, ký số 271, Hạm trưởng là Đại-tá Vương Kỳ Vy, tử thương. Chiến hạm K271 bị chìm.
 
Liệp Tiềm Đỉnh (Hộ Tống Hạm) Kronstadt, ký số 274, Hạm trưởng là Đại-Tá Quan Đức, tử thương. Đây là soái hạm của chiến dịch. Tư lệnh mặt trận là Đô đốc Phương Quang Kinh, Tư lệnh phó Hạm đội Nam Hải của Trung cộng tử thương. Hộ tống hạm K274 bị hư hại nặng và ủi vào bãi san hô Quang Hoà. Sau đó được trục vớt đưa về đảo Hải Nam.
 
Tảo Lôi Hạm (Trục Lôi Hạm), ký số 389, bị chìm, Hạm trưởng là Trung tá Triệu Quát, tử thương.
 
Tảo Lôi hạm (Trục Lôi Hạm), ký số 396, bị hư hại nặng, Hạm trưởng là Đại-Tá Diệp Mạnh Hải, tử thương.
Ngoài ra còn có nhiều sĩ quan và binh sĩ TC bị tử thương.
Soai ham TC bi hu hai nang, tap vao dao san ho gan do, bi chim. Sau do duoc truc vot va dua ve dao Hai Nam
Soái hạm HQ TC, K274 bị chìm sau khi ủi vào bãi san hô ở đảo Quang Hoà.  

   Thay lời kết: Vào tháng 12 năm 2008 tôi hân hạnh có được nhiều cơ hội tiếp xúc với Đô Đốc Thoại khi Đô Đốc Thoại đến Đức quốc để cùng với Luật Sư Nguyễn Thành đến từ Mỹ, Luật Sư Trần Thanh Hiệp đến từ Pháp thuyết trình về chủ đề „Hội Luận về Hiện Tình Lãnh Thổ và Lãnh Hải Việt Nam được tổ chức tại Frankfurt am Main, Đức Quốc ngày 06.12.2008. Nhờ vậy tôi biết thêm một số chi tiết cần để ý về Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19.1.1974:

–   Đô đốc Thoại cho biết rằng vào ngày 17.1.1974 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn đến thăm viếng Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải. Nhân dịp nầy tại Trung Tâm Hành Quân, Đô Đốc Thoại đã trình bày về hiện tình Hoàng Sa. Sau phần thuyết trình, khoảng 15 phút, Đô Đốc Thoại nhận chỉ thị trực tiếp từ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với thủ bút của Tổng Thống. 
Tóm lược phần chỉ thị cho Đô Đốc Thoại:

Thứ nhứt là tìm đủ mọi cách ôn hòa mời các chiến hạm Trung Cộng ra khỏi lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa. Thứ hai, nếu họ không thi hành thì được nổ súng cảnh cáo trước mũi các chiến hạm này và nếu họ ngoan cố thì toàn quyền xử dụng vũ khí để bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.“

Tổng thống Thiệu rời Bộ Tư Lịnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải sau khi ra chỉ thị về biện pháp đối
phó với Trung Cộng khi hạm đội Trung Cộng xâm nhập hải phận Việt Nam Cộng Hòa tại Hoàng Sa (1974).
–  Sau khi trận chiến xảy ra, Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải đã xin Bộ Tư Lệnh Hải Quân tăng viện cho chiến dịch bảo vệ Hoàng Sa thêm Tuần Dương Hạm Trần Quốc Toản HQ6 và Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ11.
–  Khi nghe trận hải chiến bắt đầu thì Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng 1 Chiến Thuật, đã đến Trung Tâm Hành Quân của BTL Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải để được nghe Đô Đốc Thoại trình bày diễn tiến trận hải chiến. Lúc đó vị cố vấn Mỹ tại Sài Gòn cho Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải biết qua vị cố vấn Hoa Kỳ của Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải thì TC có 17 chiến hạm, trong đó có 4 tàu ngầm đang hướng về Hoàng Sa.
   Ngay lúc đó cố vấn trưởng Hoa Kỳ của Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải bước vào Trung Tâm Hành Quân cho Đô Đốc Thoại biết phản lực cơ chiến đấu của Trung Cộng sắp cất cánh từ đảo Hải Nam để tấn công hai chiến hạm vừa được vị Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải chỉ định hướng về Hoàng Sa để gia nhập Hải Đội của Đại tá Ngạc…“ (hết trích)
   Được biết sau trận hải chiến Hoàng Sa 19.1.1974 Bộ Tư Lệnh HQ VNCH có kế hoạch thực hiện 2 chiến dịch Bạch Đằng 50 và Bạch Đằng 52 nhằm tái chiếm quần đảo Hoàng Sa đã bị Hải quân TC xâm chiếm. 

    Chiến hạm HQ503 mà tôi phục vụ là loại Dương Vận Hạm (LST) cũng nằm trong danh sách của chiến dịch. Có lẽ chiến hạm tôi được trưng dụng vì vừa có thể chở quân, vũ khí đạn dược, xe tăng dưới hầm và trên boong còn có thể chở được máy bay trực thăng, đại bác. Nhưng có lẽ vì cộng quân Bắc Việt gia tăng gây áp lực trên các mặt trận địa chiến vào năm 1974 nên 2 chiến dịch BĐ 50 và BĐ 52 không thể thực hiện được và đã được huỷ bỏ. Có lẽ Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH cũng đã cân nhắc kỹ càng về mối tương quan lực lượng Hải quân giữa ta và Trung cộng cũng như tình hình chiến sự bất lợi cho ta trong thời điểm đó.

Tôi ghi lại nơi đây hình ảnh Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại đã được mời đến Đức Quốc ngày 06.12.2008 để trình bày về Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19.1.1974. Đó cũng là ý muốn của cựu Tư Lệnh Chiến trường và cũng là cựu Chỉ Huy Liên Đoàn Đặc Nhiệm năm xưa.

Thuyết trình đoàn: Hội Luận về Hiện Tình Lãnh Thổ và Lãnh Hải Việt Nam” ngày 6.12.2008
tại Frankfurt am Main, Germany
Từ trái: Luật Sư Nguyễn Thành (Mỹ), Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (Mỹ), Luật Sư Trần Thanh Hiệp (Pháp), Kỹ Sư Nguyễn Văn Phảy (Đức quốc, cựu SV Đại Học Luật Khoa SG, Ban Công Pháp làm ĐHV).
(Hình được trích từ báo Người Việt Tây Bắc (USA) số 1774 Thứ Sáu Ngày 12 tháng 12 năm 2008)
 Mời xem tiếp Những Mùa Xuân Ghi Dấu (Phần 3): Mùa Xuân Ất Mão 1975 – Đám Cưới, Di Tản Quân Dân Cán Chính và những tháng năm kế tiếp:

 
Nguyễn văn Phảy
Xuân Quý Tỵ 2013 in Germany 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

 http://navygermany.gerussa.com/main/van%20nghe/baivo/NhungMuaXuanGhiDau_02.htm


Huyền thoại Nelson Mandela – Thùy Dương

Ông Mandela nhậm chức Tổng thống Nam Phi năm 1994.

Thùy Dương

Hãy tưởng tượng bạn lớn lên ở một đất nước mà uống nước nhầm vòi cũng có thể bị tống giam; nơi mà bạn làm việc như hàng xóm nhưng chỉ vì màu da nên lương cả năm không bằng lương một tuần của anh ta; một đất nước mà chính phủ coi thường tổ tiên và lối sống của bạn. Đó chính là đất nước của Nelson Mandela, vị tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi. Lớn lên dưới chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid hà khắc, thay vì cúi đầu trước sự bất công, Mandela đã trở thành một chiến binh quả cảm trong cuộc chiến giải phóng đất nước khỏi ách phân biệt chủng tộc. Trong cả quãng đời hoạt động của mình, ông đã trở thành một nhà lãnh đạo được cả thế giới tôn vinh là “Người anh hùng vì tự do”.

Làng Mvezo - nơi Mandela chào đời.

Cậu bé Rolihlahla Mandela sinh ngày 18/7/1918 trong ngôi làng Mvezo bé nhỏ trên bờ sông Mbashe ở Transkei, Nam Phi. Rolihlahla trong ngôn ngữ của người Bantu da đen ở Nam Phi có nghĩa đen là “kéo cành cây”, nhưng thông thường được hiểu là “người gây rắc rối”.
Cha của cậu bé Mandela là người đứng đầu bộ lạc ở Mvezo đồng thời là cố vấn của các trưởng tộc, nhưng mất cả hai chức tước và tài sản do không được lòng chính quyền thuộc địa. Lúc đó, Mandela mới vừa lọt lòng và đã buộc phải theo cả nhà đến ở làng Qunu, một ngôi làng còn nhỏ hơn nằm ở phía bắc Mvezo. Qunu chỉ có mấy trăm người, co cụm trong một thung lũng hẹp đầy cỏ cây, không có đường đi lại, chỉ có những con đường nhỏ nối các đồng cỏ với nhau.
Cả nhà Mandela phải sống trong ba cái lều vách trát bằng bùn, nhìn từ xa như những cái tổ ong. Trong ba cái lều, một dùng để nấu ăn, một để ngủ và một để làm nhà kho. Lối vào duy nhất là cái cửa thấp đến mức ra vào phải cúi khom người. Như những người cùng làng, gia đình Mandela phải lấy nước từ sông suối, ăn những thứ rẻ tiền như ngô, kê, bí ngô, đậu được nấu ngoài trời. Những gia đình giàu hơn còn mua được trà, cà phê và đường – những thứ xa xỉ ngoại lai với phần lớn người Qunu. Phụ nữ và trẻ con trong làng đều khoác trên mình những cái chăn nhuộm màu đất, chỉ vài người Thiên chúa giáo trong làng mặc những thứ quần áo “tây” hơn.
Ngay từ khi còn bé, phần lớn thời gian cậu bé Mandela dành để lang thang trên thảo nguyên, đánh lộn với lũ trẻ con cùng làng rồi tối đến lại ăn chung ngủ chung với những đứa trẻ đó. Mới lên 5 nhưng Mandela đã phải đi chăn cừu, chăn bê trên cánh đồng và cậu bé lấy đó làm thú vui. Trong lúc cừu và bê mải miết gặm cỏ, Mandela biết cách bắn chim bằng súng cao su, lấy mật ong và quả rừng, đào các loại rễ cây ăn được, uống dòng sữa ấm ngọt trực tiếp từ bò cái, bơi lội thỏa thích trong dòng suối trong mát lạnh. Sau những ngày chơi đùa mệt lả, Mandela về với túp lều nơi mẹ đang nấu ăn tối.
Cuộc sống của cậu bé Mandela được nhào nặn, vây quanh bởi phong tục, nghi lễ và những điều cấm kỵ. Con trai theo con đường mà cha đã dọn sẵn, con gái theo dấu chân của mẹ.
Mandela trở thành người đầu tiên trong gia đình được đến trường học. Ngày đầu tiên đi học, theo phong tục thời bấy giờ, cô giáo Mandela đã đặt cho cậu cái tên mới Nelson, theo người châu Âu – những người đã đặt chân đến Nam Phi từ thế kỷ 18 và chiếm mảnh đất này làm thuộc địa. Thay vì khoác một cái chăn như hàng ngày, Mandela lần đầu được mặc quần, một cái quần của cha được sửa lại.
Khi Mandela 9 tuổi, cha cậu chết vì bệnh phổi. Từ đó, cuộc đời cậu bé đột ngột thay đổi. Mandela được tù trưởng Jongintaba Dalindyebo nhận nuôi để tỏ lòng biết ơn người cha quá cố của cậu, người đã từng tiến cử ông làm tù trưởng.
Mandela nhanh chóng phải rời bỏ cuộc sống vô tư lự ở làng Qunu, thậm chí còn sợ rằng cậu sẽ không bao giờ được nhìn thấy ngôi làng của mình. Cậu được đưa đến Mqhekezweni, thủ phủ tỉnh Thembuland – nơi có dinh thự của tù trưởng. Dù trong lòng vẫn vấn vương làng cũ nhưng Mandela nhanh chóng thích nghi với môi trường mới và phức tạp hơn ở Mqhekezweni. Ở đây, Mandela có địa vị và được đối xử như hai người con của tù trưởng Jongintaba là Justice và Nomafu.
Hàng ngày, Mandela đến trường học bên cạnh dinh thự, học tiếng Anh, lịch sử và địa lý. Trong chính khoảng thời gian này, Mandela đã tỏ ra quan tâm đến lịch sử châu Phi, những câu chuyện được các tù trưởng mang đến mỗi khi bàn việc tại dinh thự của cha nuôi. Cậu biết rằng người châu Phi đã sống khá yên bình cho đến khi người da trắng xuất hiện.
Theo lời các tù trưởng, trẻ con Nam Phi từng sống như anh em một nhà nhưng chính người da trắng đã phá vỡ mối quan hệ đó. Trong khi người da đen chia sẻ đất đai, không khí, nước uống với người da trắng thì người da trắng lại vơ hết về cho mình.
Khi 16 tuổi, Mandela tham gia nghi lễ truyền thống cắt bao quy đầu của người châu Phi cùng 25 cậu bé khác để đánh dấu thời điểm cậu chính thức trở thành một người lớn, một người đàn ông thực thụ. Nghi lễ này không chỉ là một ca phẫu thuật mà còn là một nghi lễ rất tỉ mỉ. Theo truyền thống châu Phi, một người đàn ông chưa trải qua nghi lễ này không thể thừa kế tài sản của cha, kết hôn hay tham gia các nghi lễ của bộ tộc.
Tâm trạng háo hức, vui mừng xen lẫn hồi hộp của Mandelan chợt chùng xuống khi tù trưởng Meligqili lên phát biểu trước “những người đàn ông mới lớn” rằng họ bị bắt làm nô lệ trong chính quê hương của mình, rằng mảnh đất của họ bị người da trắng xâm chiến, rằng họ sẽ không bao giờ có quyền làm chủ chính bản thân mình. Vị tù trưởng than vãn rằng những thanh niên trẻ chỉ lãng phí thời gian nếu họ chỉ sống và làm những nhiệm vụ vô hồn cho người da trắng. Về sau, Mandela thừa nhận rằng cậu không hoàn toàn hiểu những lời của tù trưởng, nhưng chính những lời đó lại hình thành trong cậu lòng quyết tâm mang về độc lập cho Nam Phi.
Mandela theo học trường nội trú Clarkebury của Hội giám lý và tìm thấy niềm đam mê học hành và tiến bộ rất nhanh. Năm 1939, Mandela vào học trường Đại học College of Fort Hare, trường đại học duy nhất dành cho người da đen ở Nam Phi bấy giờ. Fort Hare được coi như trường Oxford hay Harvard của Nam Phi, thu hút rất nhiều học giả từ mọi nơi ở vùng tiểu Sahara.
Ngay từ năm đầu đại học, Mandela đã tập trung học để trở thành một phiên dịch viên hoặc một thư ký – những nghề được coi là tốt nhất đối với một người da đen thời bấy giờ. Năm thứ hai, Mandela được bầu vào Hội đồng đại diện sinh viên (SRC).
Từ lâu, sinh viên vốn không hài lòng với đồ ăn ở trường và việc SRC không có thực quyền gì. Phần lớn sinh viên đã tuyên bố tẩy chay SRC nếu yêu cầu của họ không được đáp ứng. Cùng quan điểm với đa số sinh viên, Mandela đã từ bỏ vị trí trong SRC, bị hiệu trưởng coi là bất hợp tác và đã trục xuất khỏi trường trong cả năm còn lại. Ông chỉ cho Mandela quay lại nếu chịu vào SRC. Lúc về nhà, cha nuôi của Mandela đã nổi giận, buộc anh phải nhận lỗi và quay lại trường vào mùa thu.
Chiến đấu không mệt mỏi

Mandela năm 1937

Vài tuần sau khi Nelson Mandela về nhà, tù trưởng Jongintaba (Regent) thông báo rằng ông đã sắp xếp một cuộc hôn nhân cho cậu con trai nuôi. Vị cha nuôi muốn đảm bảo rằng cuộc đời Mandela sẽ được lên kế hoạch đúng đắn và theo phong tục của bộ tộc, ông có quyền sắp đặt hôn nhân cho Mandela.
Quá sốc trước thông tin này, với cảm giác bị mắc kẹt và cho rằng mình không còn lựa chọn nào khác, Mandela đã bỏ nhà trốn đến thành phố Johannesburg. Chàng thanh niên làm đủ mọi việc, từ bảo vệ cho đến thư ký trong khi vẫn hoàn thành nốt bằng cử nhân từ xa. Sau đó, anh đã ghi danh vào trường Đại học Witwatersrand ở Johannesburg để học luật.
Thời kỳ đó, Nam Phi chìm trong chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid hà khắc. Apartheid trong tiếng Hà Lan nghĩa là tách biệt, dùng để chỉ hệ thống phân biệt chủng tộc ở Nam Phi giữa thiểu số người da trắng và phần đông người da đen trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Chế độ này trở thành chính sách phát triển chính thức của Nam Phi từ năm 1948 khi đảng Quốc gia lên nắm quyền.
Kể từ năm đó, hàng loạt đạo luật Apartheid đã ra đời. Theo những đạo luật này, người da đen đa số bị đối xử khác hẳn với người da trắng thiểu số. Người da đen không được kinh doanh hay hành nghề ở những khu vực dành riêng cho người da trắng trừ khi có phép. Các cơ sở giao thông và dân sự đều được phân chia rõ ràng. Xe buýt có loại dành cho người da trắng và người da đen. Điểm chờ xe buýt cũng riêng biệt. Tàu hỏa, bệnh viện, xe cứu hỏa dành cho người da trắng cũng tốt hơn dành cho người da đen. Hồ bơi công cộng, cầu đi bộ, chỗ đỗ xe, sân vườn, công viên, nhà vệ sinh công cộng, rạp chiếu phim… tất cả đều có biển chỉ dẫn “Dành cho người da đen” hoặc “Chỉ dành cho người da trắng”.
Không chỉ trong hoạt động xã hội, người da đen còn bị phân biệt đối xử và bị kỳ thị trong các hoạt động kinh tế, chính trị. Lương của người da trắng cao hơn rất nhiều người da đen. Người da đen bị ngăn cấm thành lập các liên đoàn thương mại và phải ở trong các khu nhà tập trung ổ chuột nghèo nàn, bị kiểm soát ngặt nghèo trong các ngành khai mỏ, nông trại, nhà máy…ở Nam Phi.
Chứng kiến cảnh bất công đó, Mandela sớm trở thành một người hoạt động tích cực trong phong trào chống chủ nghĩa Apartheid rồi gia nhập phong trào Đại hội Dân tộc Phi (ANC) năm 1942. Trong lòng ANC, một nhóm người châu Phi trẻ đã đoàn kết với nhau, gọi mình là Liên đoàn thanh niên của ANC (ANC Youth League) với mục tiêu biến ANC thành một phong trào quần chúng rộng rãi, tận dụng sức mạnh của hàng triệu nông dân và người lao động vốn không có tiếng nói dưới chế độ do người da trắng cầm quyền. Điều đặc biệt là, Liên đoàn thanh niên ANC cho rằng những biện pháp cũ của ANC là “kiến nghị lịch sự” không có hiệu quả.

Mandela tại Văn phòng luật Mandela & Tambo ở Johannesburg năm 1952.

Năm 1949, ANC chính thức áp dụng các phương pháp của Liên đoàn thanh niên gồm tẩy chay, đình công, bất hợp tác và bất phục tùng nhằm đạt được quyền công dân toàn diện, phân phối lại đất đai, quyền công đoàn, giáo dục bắt buộc và miễn phí cho mọi trẻ em.
Trong suốt 20 năm, Mandela đã chỉ đạo những hoạt động hòa bình, phi bạo lực chống lại chính phủ Nam Phi và chính sách phân biệt chủng tộc, nổi bật là hai chiến dịch năm 1952 và 1955.
Ông còn thành lập công ty luật Mandela & Tambo cùng với Oliver Tambo – một sinh viên ưu tú mà ông đã quen khi học ở trường Fort Hare. Công ty của ông cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý miễn phí và giá rẻ cho những người da đen.
Năm 1956, Mandela và 150 người khác bị bắt và kết tội phản quốc vì các hoạt động chính trị của họ nhưng về sau được tuyên trắng án. Trong lúc đó, ANC gặp nhiều thách thức từ một nhóm gồm các nhà hoạt động người da đen – những người cho rằng biện pháp hòa bình của ANC là không có hiệu quả. Nhóm này tách ra khỏi ANC và điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến ANC, làm mất đi một lực lượng hỗ trợ đáng kể.
Khi chính phủ Nam Phi cấm ANC hoạt động, Mandela đành phải rút vào bí mật. Một cuộc sống bí mật đòi hỏi ông phải cực kỳ cảnh giác, mọi hành động đều phải có kế hoạch, kể cả những việc nhỏ. Mandela đã rút ra được một điều rằng không tin bất kỳ điều gì nếu bạn là một người da đen ở Nam Phi, đặc biệt là khi bạn có một cuộc sống bí mật.
Trong thời gian này, Mandela đã trở thành một sinh vật của bóng đêm. Ông ẩn mình ban ngày và chỉ làm việc khi trời tối. Mọi công việc của ông chủ yếu ở Johannesburg nhưng ông cũng phải đi ra ngoài nếu cần thiết. Dù là người thích giao du nhưng ông thậm chí thích ở một mình hơn để có thể suy nghĩ, lên kế hoạch hành động. Tuy nhiên, có những lúc Mandela cảm thấy cực kỳ cô đơn và nhớ gia đình.
Cuộc sống bí mật đã khiến Mandela học được cách “vô hình”. Ông biết cách bước vào một căn phòng mà không bị ai chú ý. Ông không cắt tóc hay cạo râu và phần lớn thường đóng giả làm lái xe, đầu bếp hay người làm vườn. Ông thường mặc một bộ quần áo màu xanh da trời, kèm một cái mũ của người lái xe. Đóng giả một lái xe rất thuận tiện vì ông có thể đi lại và giả vờ đang lái xe cho ông chủ.
Có lúc Mandela đi cùng người Hồi giáo ở Cape, có lúc đi cùng công nhân đồn điền mía ở Natal, khi lại đồng hành cùng công nhân nhà máy ở cảng Elizabeth. Mandela đến rất nhiều thành phố khác nhau ở Nam Phi để tham gia các cuộc họp bí mật ban đêm. Ông thoắt ẩn thoắt hiện khiến cảnh sát rất tức giận.
Bản thân Mandela chưa bao giờ là một người lính, chưa bao giờ ra trận, chưa bao giờ chĩa súng vào kẻ thù nhưng lại được giao nhiệm vụ xây dựng một đội quân. Đó chính là một nhóm vũ trang của ANC có tên Umkhonto we Sizwe hay còn gọi là MK. Mandela sáng lập nhóm này để chuyên dùng các chiến thuật du kích và phá hoại nhằm chấm dứt chủ nghĩa Apartheid. Mandela đã không còn tin vào các biện pháp đấu tranh hòa bình như trước. Giờ đây, ông cho rằng phải đấu tranh bằng bạo lực mới có thể làm nên chuyện.
Ngày 26/6/1961 là Ngày Tự do của Nam Phi. Mandela đã gửi một bức thư cho báo chí, kêu gọi tổ chức một hội nghị hiến pháp toàn quốc. Ông tuyên bố nếu chính phủ không tổ chức hội nghị này, sẽ có một chiến dịch bất hợp tác trên quy mô toàn quốc. Mandela kêu gọi người dân: “Tôi sẽ sát cánh cùng các bạn chiến đấu chống lại chính phủ từng bước, cho đến khi giành chiến thắng. Các bạn sẽ làm gì? Các bạn có đến với chúng tôi hay sẽ hợp tác với chính phủ để đàn áp nguyện vọng và đòi hỏi của chính người dân nước bạn? Các bạn sẽ yên lặng và thờ ơ trong một vấn đề sống còn với người dân của chúng ta? Về phần tôi, tôi đã có lựa chọn của mình. Tôi sẽ không rời Nam Phi cũng sẽ không đầu hàng. Chỉ trải qua gian khó, hi sinh và hành động quân sự chúng ta mới giành được tự do. Cuộc đấu tranh này là cuộc đời tôi. Tôi sẽ tiếp tục chiến đấu vì tự do cho đến ngày cuối cùng”.
Những thời khắc đen tối
Năm 1961, Mandela “đạo diễn” một cuộc đình công của công nhân toàn quốc trong 3 ngày. Ông đã bị bắt ngay năm sau đó vì đóng vai trò lãnh đạo trong cuộc đình công và bị kết án 5 năm tù. Năm 1963, ông lại bị đưa ra xét xử. Lần này, ông và 10 thủ lĩnh ANC bị kết án tù chung thân vì các tội danh liên quan đến chính trị.

Mandela khâu áo trong sân nhà tù năm 1966.

Trong suốt 27 năm bị tù đày, Mandela bị giam trên đảo Robben tới 18 năm. Những năm tháng này là khoảng thời gian đen tối trong cuộc đời của Mandela. Ông từng viết: “Trong tù, bạn phải đối mặt với thời gian. Không có gì khủng khiếp hơn điều này”.
Bị giam trong phòng nhỏ hẹp, lấy sàn nhà là giường, phải lao động khổ sai, chỉ được tiếp một khách mỗi năm trong 30 phút, chỉ được viết và nhận một bức thư trong 6 tháng, nhưng cuộc sống tù đày trên đảo Robben đã trở thành môi trường tôi luyện Mandela. Bằng sự thông minh, tinh thần quyết chiến, Mandela đã đóng vai trò lãnh đạo bạn tù, trở thành ông chủ trong chính nhà tù của mình.

Phòng giam của Mandela trên đảo Robben.

Một ngày tù của ông diễn ra như thế này: Ông và các tù nhân khác bị cai ngục đánh thức lúc 5 giờ 30 sáng nhưng mãi đến 6 giờ 45 mới được ra khỏi phòng giam sau khi đã lau phòng, gấp thảm và chăn. Tù nhân không có nước máy, không có nhà vệ sinh trong phòng giam. Thay vào đó là một cái xô vệ sinh bằng sắt đường kính khoảng 25 cm, có nắp đậy bằng sứ và lõm ở giữa để đựng nước dùng khi cạo râu, rửa mặt, rửa tay.
Khi được ra khỏi phòng giam, việc đầu tiên họ làm là đổ và rửa xô. Điều thú vị nhất trong khi làm việc này là có cơ hội để trao đổi với bạn tù vài tiếng, tất nhiên là phải khẽ khàng và nhanh chóng vì cai ngục không thích tù nhân lề mề.
Sau đó đến giờ ăn sáng. Trong vài tháng đầu tiên ở tù, Mandela và các tù nhân được các tù nhân thường mang bữa sáng đến tận phòng giam. Bữa sáng gồm cháo ngô đặc, ngũ cốc được đổ vào bát và đẩy qua chấn song phòng giam. Cũng giống như mọi thứ khác trong tù, khẩu phần ăn cũng có sự phân biệt đối xử. Nói chung, người da màu và người da đỏ được ăn ngon hơn một chút so với người châu Phi. Gọi là ngon hơn nhưng thực ra không có gì khác nhau đáng kể giữa một loại thức ăn có mùi vị khó chịu và một loại không thể ăn được.
Sau vài tháng đầu, tù nhân sẽ ăn ở khu vực sân. Trong bữa sáng, mỗi người được uống một cốc đựng một thứ dung dịch gọi là cà phê, nhưng thực tế đó là ngô nghiền rang cháy đen và pha với nước nóng.
Giữa bữa sáng, Mandela và các bạn tù có thể bị cai ngục bắt ngừng ăn, ra ngoài phòng giam để kiểm tra. Nếu ba khuy áo khoác kaki không được cài ngay ngắn, nếu không bỏ mũ xuống khi cai ngục đi qua, nếu không dọn phòng giam sạch sẽ, họ sẽ bị coi là vi phạm luật lệ nhà tù và bị phạt dưới hình thức giam biệt lập hoặc cắt bữa ăn.
Sau bữa ăn, tù nhân phải lao động khổ sai, phần lớn là đập đá trong sân nhà tù đến tận trưa mà không được nghỉ. Ăn trưa xong, họ phải làm việc đến tận 4 giờ chiều, rồi điểm danh, dọn dẹp, tắm táp bằng nước lạnh bất kể thời tiết.
Chính xác lúc 4 giờ 30 chiều, sẽ có một tiếng gõ lớn trên cánh cửa gỗ cuối hành lang báo hiệu bữa ăn tối sắp được đưa vào. Bữa tối là cháo ngô đặc, đôi khi được thả cà rốt hoặc bắp cải hay củ cải đường nhưng tù nhân thường phải tìm kỹ mới thấy. Tù nhân phải ăn cùng một loại đến hàng tuần, đến khi cà rốt và bắp cải đã héo mốc và họ chán đến tận cổ. Đôi khi họ được một mẩu thịt nhỏ trong bát cháo, nhưng phần lớn là sụn.
Những thứ mà Mandela và các tù nhân khác phải nếm thậm chí còn không đạt tiêu chuẩn của nhà tù. Nguyên do là các tù nhân làm nhiệm vụ nấu ăn thường giữ lại những thức ăn ngon nhất cho họ và bạn bè họ. Họ cũng nhặt riêng những thứ ngon để đút lót cai ngục.
Đúng 8 giờ tối, cai ngục đêm sẽ vào trong hành lang, khóa trái cửa lại và đưa chìa khóa qua một cái lỗ nhỏ cho cai ngục khác ở bên ngoài. Cai ngục này sẽ đi đi lại lại dọc hành lang ra lệnh cho tù nhân ngủ. Những ai đang dở học hành sẽ được đọc đến tận 10 hoặc 11 giờ. Một ngày tù tội đã kết thúc. Với Mandela, ông phải trải qua 18 năm đằng đẵng như thế.
Chế độ nhà tù Apartheid khắc nghiệt đến mức Mandela thậm chí không được phép dự đám tang khi mẹ đẻ và con trai cả qua đời. Trong thời gian đen tối trong tù, Mandela bị bệnh lao và do là một tù nhân chính trị da đen, ông chỉ được chữa trị ở mức thấp nhất. Tuy nhiên, trước khi ra tù, Mandela đã học xong bằng cử nhân luật trường Đại học Luân Đôn theo chương trình học từ xa.
Trong một cuốn hồi ký năm 1981, điệp viên tình báo Nam Phi Gordon Winter tiết lộ rằng chính phủ Nam Phi âm mưu sắp xếp cho Mandela vượt ngục để định bắn chết ông trong lúc ông bị bắt lại. Tuy nhiên, âm mưu này đã bị tình báo Anh phá tan.
Năm 1982, Mandela và các thủ lĩnh ANC bị đưa tới nhà tù Pollsmoor để tiện liên lạc với chính phủ Nam Phi. Năm 1985, Tổng thống P.W. Botha đã đề xuất thả tự do cho Mandela với điều kiện ông từ bỏ cuộc đấu tranh vũ trang. Tuy nhiên, người tù da đen thẳng thừng bác bỏ đề nghị.
Trong khi Mandela và các thủ lĩnh khác của ANC bị tù đày hoặc phải sống lưu vong, thanh niên da đen Nam Phi đã làm mọi cách để chống lại nhà cầm quyền da trắng thiểu số. Họ coi Mandela là một biểu tượng không khuất phục trong cuộc phản kháng của người da đen.
Năm 1980, dưới sự lãnh đạo của ông Tambo, người từng chung văn phòng luật với Mandela và đang sống lưu vong, ANC đã phát động một chiến dịch quốc tế chống chế độ Apartheid và khéo léo hướng chiến dịch tới một mục tiêu duy nhất là đòi thả ông Mandela. Chiến dịch lên tới đỉnh điểm năm 1988 tại sân vận động Wembley ở Luân Đôn (Anh) khi khoảng 72.000 người và hàng triệu người xem TV trên toàn thế giới đã cùng hô vang “Hãy thả Nelson Mandela”.
Phong trào có sức mạnh lớn đến mức các lãnh đạo thế giới đã siết chặt lệnh trừng phạt chính quyền Nam Phi. Áp lực trong nước và quốc tế ngày càng lớn và đã có kết quả. Ngày 11/2/1990, Tổng thống Frederik Willem de Klerk đã ra lệnh thả Mandela, đồng thời tuyên bố bỏ lệnh cấm ANC, dỡ bỏ hạn chế đối với các nhóm chính trị và hủy hành quyết.
Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi
Sau khi được thả tự do, ông Nelson Mandela ngay lập tức kêu gọi các cường quốc không giảm áp lực với chính phủ Nam Phi để đòi cải cách hiến pháp. Một mặt, ông tuyên bố cam kết hướng tới hòa bình, mặt khác ông khẳng định cuộc đấu tranh vũ trang của ANC sẽ tiếp tục cho đến khi nào người da đen chiếm đa số ở Nam Phi được quyền bầu cử.

Năm 1991, ông Mandela được bầu làm chủ tịch đảng ANC, còn người bạn thân thiết và đồng nghiệp Oliver Tambo được bầu làm chủ tịch quốc gia. Mandela tiếp tục đàm phán với Tổng thống de Klerk về cuộc bầu cử đa sắc tộc đầu tiên ở Nam Phi. Người Nam Phi da trắng sẵn sàng chia sẻ quyền lực, tuy nhiên, nhiều người da đen muốn chuyển giao quyền lực hoàn toàn. Quá trình đàm phán thường xuyên căng thẳng và nhuốm màu bạo lực. Với cái tài của mình, Mandela đã phải cân bằng giữa một bên là áp lực chính trị và một bên là các cuộc đàm phán căng như dây đàn.
Nhờ nỗ lực hủy bỏ chế độ Apartheid, ông Mandela và Tổng thống de Klerk cùng được trao giải Nobel Hòa bình năm 1993. Nỗ lực của họ đã có kết quả khi ngày 27/4/1994, Nam Phi tổ chức cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên. Nelson Mandela đã nhậm chức tổng thống ngày 10/5/1994, trở thành tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi, trong khi ông de Klerk đảm nhiệm chức phó tổng thống.
Trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông Mandela đã thực hiện chuyển giao chế độ cầm quyền từ tay người da trắng thiểu số sang người da đen đa số. Ông đã tận dụng niềm đam mê thể thao của người Nam Phi để thúc đẩy hòa giải giữa người da đen và da trắng, khuyến khích người da đen ủng hộ đội bóng rugby quốc gia từng bị ghét bỏ. Tổng thống Mandela cũng có công lớn trong vực dậy nền kinh tế Nam Phi đang trên bờ sụp đổ.
Kể từ khi hết nhiệm kỳ tổng thống năm 1999, ông Mandela trở thành đại sứ cấp cao nhất của Nam Phi, đi đầu trong chiến dịch chống HIV/AIDS và giúp Nam Phi giành quyền đăng cai World Cup năm 2010. Ông cũng tham gia vào đàm phán hòa bình ở CHDC Cônggô, Burunđi và các nước khác ở châu Phi.
Năm 2004, ông Mandela rút lui khỏi công chúng để dành nhiều thời gian hơn cho gia đình – thứ mà ông đã phải hi sinh để theo đuổi tham vọng chính trị của mình. Trong mối quan hệ với vợ mình, bà Winnie Madikizela, ông Madela đã cảm thấy cực kỳ có lỗi vì những gì mà vợ ông đã phải chịu đựng, ông hối tiếc vì đã không có thời gian chăm lo cho gia đình. Tuy nhiên, với một “chiến binh” như Mandela, vợ và gia đình luôn xếp thứ hai sau tình yêu lớn ông dành cho ANC và cuộc đấu tranh tự do.
Bà Winnie kết hôn với ông Mandela đúng vào thời điểm quan trọng trong cuộc đấu tranh giành tự do ở Nam Phi. Cùng chung lý tưởng với ANC và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa Apartheid, hai vợ chồng ông không thể tận hưởng một cuộc sống gia đình bình thường. Dù chịu nhiều áp lực nhưng tình yêu mà hai người dành cho nhau tiếp tục lớn dần.
Trong gần 20 năm sống đời tù nhân trên đảo Robben, đối với ông Mandela, Winnie là trụ cột hỗ trợ và niềm an ủi không thể thiếu. Bà chấp nhận gánh nặng nuôi dạy con cái một mình. Bà chịu đựng những cuộc khủng bố từ chính phủ da trắng và không bao giờ ngừng tin tưởng vào cuộc đấu tranh giành tự do của chồng. Sự ngoan cường của Winnie đã củng cố tình yêu, sự tôn trọng của ông Mandela và khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ.
Tuy nhiên, căng thẳng nảy sinh do những khác biệt giữa ông Mandela và vợ đã khiến họ đi đến quyết định chia tay. Ông nói rằng quyết định chia tay không phải xuất phát từ việc bà Winnie ngoại tình.
Trong cuốn tự truyện, ông Mandela viết: “Có lẽ tôi bị lóa mắt trước một số điều nhất định vì phải chịu nỗi đau khi không thể hoàn thành vai trò của một người chồng với vợ tôi và người cha với các con tôi. Tôi cho rằng cuộc sống của vợ tôi khi tôi ở trong tù còn khó khăn hơn tôi, sự trở về của tôi cũng khó khăn với cô ấy hơn là với tôi. Cô ấy đã lấy một người mà người đó sẽ sớm rời bỏ cô ấy; người đàn ông đó trở thành thần thoại, và rồi thần thoại đó trở về nhà và xét cho cùng lại chỉ là một người đàn ông bình thường.

Ông Mandela và ông Klerk nhận giải thưởng Nobel Hòa bình ngày 10/12/1993.

Như tôi về sau đã nói trong đám cưới của con gái Zindzi, dường như số mệnh của những người đấu tranh cho tự do là phải có cuộc sống cá nhân bất ổn. Khi cuộc đời của bạn là đấu tranh, giống như cuộc đời tôi, hầu như không còn chỗ cho gia đình. Đó luôn là hối tiếc lớn nhất của tôi và là phần đau đớn nhất trong lựa chọn của tôi”.
Ông nói trong đám cưới đó: “Chúng tôi chứng kiến con cái trưởng thành mà không có sự dìu dắt của chúng tôi. Và khi chúng tôi ra khỏi tù, con tôi nói chúng con nghĩ rằng chúng con có một người bố và một ngày nào đó bố sẽ quay về. Nhưng thật thất vọng, bố chúng con về và ông ấy bỏ chúng con một mình vì giờ ông ấy đã là người cha của cả dân tộc”.
Ông Mandela kết luận: “Là cha của cả dân tộc là một vinh dự lớn lao, là một người cha của gia đình là một niềm vui lớn hơn. Nhưng đó là niềm vui mà đến nay tôi có quá ít”.
Vào sinh nhật thứ 80, Nelson Mandela kết hôn với bà Graca Machel, quả phụ của cựu Tổng thống Môdămbích. Ông vẫn tiếp tục đi khắp thế giới, gặp gỡ các lãnh đạo, tham gia hội nghị và giành được nhiều giải thưởng. Phần lớn công việc của ông liên quan đến Tổ chức Mandela, một quỹ từ thiện mà ông thành lập.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

nghiencuulichsu.com