Bán Đứng Đồng Minh – Bùi Anh Trinh

 Bài đọc suy gẫm: Bán Đứng Đồng Minh hay Cần trả lại sự thật cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, tác giả Bùi Anh Trinh. 
 
 
Cần trả lại sự thật cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu 30-4-2019
Bùi Anh Trinh
Cần trả lại sự thật cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau 30/4/1975 Mỹ mở chiến dịch đổ tội làm mất nước cho Tổng Thống Thiệu để cho người ta không oán hận Mỹ đã bỏ rơi VNCH. Giờ đây đã 44 năm trôi qua, nếu người Mỹ không lên tiếng giải oan cho Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, thì cũng nên trả lại sự thật cho lịch sử.


 

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cho tới trước khi chết Ông vẫn cúi đầu nhận chịu trách nhiệm đã làm cho mất nước, một lỗi lầm quá to lớn mà cá nhân một người không thể nào gánh vác. Nếu có một người nào đó đứng ra nhận chịu thì quả là vô lý, thế nhưng Ông Nguyễn Văn Thiệu đã làm.

Kể từ ngày lập quốc, nước Mỹ thực sự sụp đổ vào năm 1975 với 3 triệu cựu chiến binh tại chiến trường Việt Nam, 58 ngàn người đã chết, và 3.000 quân nhân còn mất tích. Xã hội Mỹ phân hóa trầm trọng với tranh cãi đổ lỗi cho nhau.

Chính vì vậy mà những người quân nhân VNCH không bao giờ động chạm tới nỗi đau của người bạn chiến đấu Mỹ, họ đã làm hết sức của họ rồi, họ đã phải chết tới 58.000 người và đã hao tốn 300 tỉ USD, lại còn phải nuôi 3 triệu cựu chiến binh Mỹ mà người nào cuộc đời cũng tan nát do bị khủng hoảng, bị thất bại vì không thể trở lại trường để làm lại cuộc đời.

Hai chữ “Bỏ Rơi” là do BBC và RFI dùng để xoa dịu sự oán hận của người Việt sau khi Mỹ cắt ông tiếp huyết cho VNCH. “Bỏ Rơi Đồng Minh” khác với “Phản Bội Đồng Minh”. Bỏ Rơi có nghĩa là tôi thích thì tôi giúp, khi thấy mệt mõi quá thì tôi không giúp nữa. Còn Phản Bội là phỉnh gạt, lừa đảo. Cho nên người Mỹ muốn nhận là họ Bỏ Rơi VNCH còn hơn là nhận Phản Bội VNCH.

Năm 1968 anh sinh viên Frank Snepp quyết định làm đơn xin đầu quân vào CIA để tránh khỏi phải đi lính và chiến đấu tại VN. Năm 1969 Snepp bắt đầu làm viêc tại chi nhánh CIA tại Sài Gòn trong tư thế một nhân viên mới vào nghề. Năm 1971 ông trở về Trung tâm CIA tại Mỹ với nhiệm vụ phân tích những tin tức thu thập từ báo chí của Bắc Việt.


 

 
Đến năm 1972 ông bị đày đi VN vì tội đã báo trực tiếp cho Tòa Bạch Ốc một thông tin ông đọc được trên báo của Hà Nội mà không qua các xếp lớn của CIA. Nhiệm vụ lần thứ hai của Frank Snepp tại Việt Nam là đọc báo và nghe đài phát thanh của CSVN và VNCH để trình cho Polgar, trưởng CIA tại Sài Gòn, những tin nào mà ông ta thấy đáng quan tâm.

Sau biến cố 1975 Frank Snepp quyết định viết thành sách về những gì ông chứng kiến trong vai trò một nhân viên CIA làm việc tại VN trong giai đoạn Hoa Kỳ cuốn cờ ra khỏi Việt Nam. Nhờ đó ông nhanh chóng trở thành nhân chứng sống duy nhất dám tiết lộ những bí mật mà một nhân viên CIA không được phép tiết lộ.

CIA đã đưa ông ra tòa vì ông đã hành động trái với lời tuyên thệ khi ông bước chân vào tổ chức CIA. Tòa án đã phán quyết Frank Snepp không bị tội tiết lộ bí mật nghiệp vụ nhưng cũng quyết định cho thu hồi quyển sách “Decent Interval” của Frank Snepp. Tuy nhiên phán quyết này chỉ có hiệu lực hình thức bởi vì cả thế giới đều đã đọc Decent Interval..

Theo Frank Snepp thì mọi chuyện đều bắt đầu từ khi ký kết Hiệp Định Paris. Rồi 3 tháng sau khi ký kết Hiệp Định, Tổng Thống Nixon cử Martin làm đại sứ Mỹ tại VN thay Bunker. Frank Snepp mô tả vai trò của Đại sứ Martin: “Mỹ buộc phải bỏ khỏi Việt Nam trong tư thế đường hoàng, và muốn tạo được ấn tượng như vậy thì cần phải có một chuyên gia về ảo thuật và kịch nghệ mà Martin thuộc vào hạng sư phụ. (Trang 75, nguyên văn: “The United States was obliged to crawl out of Vietnam standing up, and to foster that illusion required the kind of conjuring and stagecraft at which Martin so adept”). Như vậy màn kịch bỏ rơi Việt Nam đã được lên giàn từ tháng 4 năm 1973.

Năm 1974 giữa năm, Tổng Thống Mỹ Nixon đệ trình Quốc Hội Mỹ bản dự thảo hiệp ước giao thương giữa Mỹ và Liên Xô. Đến lúc này Quốc Hội Mỹ mới biết rằng đây là cái giá mà Nixon đã trả cho việc Liên Xô ngưng cung cấp vũ khí cho Hà Nội và ép Hà Nội phải ký hiệp ước ngưng bắn 1973. Dĩ nhiên khi đưa ra trước Quốc hội, Nixon tin rằng sẽ được thông qua dễ dàng vì lợi ích chung của cả hai nước, nhất là từng bước giải quyết chiến tranh lạnh là điều mà dân chúng Hoa Kỳ mong chờ.

Tuy nhiên ông đã tính lầm, Quốc Hội Mỹ đoán rằng còn nhiều cái giá khác nữa giữa Nixon và Liên Xô, Trung Quốc, Hà Nội vào năm 1972. Vì vậy Quốc Hội bác bỏ thẳng thừng hiệp ước thương mại Xô – Mỹ để buộc Nixon phải lòi ra những thỏa thuận khác. Dĩ nhiên là Nixon không đưa ra, ông dùng đặc quyền hành pháp để từ chối.

Vì vậy Quốc Hội có một cách khác để moi ra những gì mà Nixon đã cam kết với LX, TQ và Hà Nội vào năm 1972; đó là cách lợi dụng vụ Watergate để triệu tập một Ủy ban điều tra đặc biệt về sai phạm của Nixon trong vụ nghe lén, nhờ đó công tố viên của ủy ban điều tra có quyền bắt Nixon phải đưa ra tất cả những cam kết ngầm với Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và cả Hà Nội.

Nixon chỉ còn có cách từ chức để né tránh Ủy ban điều tra bởi vì ông và Kissinger đã có những thỏa thuận mật với đối phương mà không xin phép Quốc Hội. Một khi ông từ chức thì những cam kết của ông trở thành vô hiệu lực. Quốc Hội sẽ không còn cớ để truy xét.

Sau khi Nixon từ chức thì Quốc Hội Hoa Kỳ cho thông qua đạo luật cấm HK buôn bán với các nước Cộng Sản vào cuối năm 1974 (Đạo luật Jackson-Vanik). Sự trở mặt của Quốc Hội Mỹ đã khiến Liên Xô tức giận bởi vì những cam kết của Nixon khi ông ta viếng thăm Liên xô vào năm 1972 đã không được thi hành. Vì vậy, cuối năm 1974, Đại Tướng Kulikov của Liên Xô đến Hà Nội để xúi Hà Nội đưa quân đánh chiếm Miền Nam, Liên Xô sẽ cung cấp vũ khí và chiến phí..

Theo như 7 mục, 23 điều khoản của Hiệp Định Paris thì Hà Nội ngưng bắn vô điều kiện, trao trả cho Mỹ 591 tù binh Mỹ vô kiện, trao trả tù binh VNCH để đổi lại VNCH trao trả 28 ngàn tù binh Bắc Việt. Trong khi đó Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không phải từ chức, 38 ngàn tù chính trị của mặt trận GPMN vẫn tiếp tục bị giam giữ.

Đặc biệt là “ngưng chiến da beo”, nghĩa là quân đội CSVN vẫn ở trên rừng và quân đội VNCH kiểm soát thành thị và thôn quê Nam Việt Nam. Biên giới hai miền Nam Bắc vẫn được tôn trọng theo như Hiệp Định Geneve 1954.

Nhìn bề mặt của Hiệp Định Paris quá vô lý cho nên giới quan sát quốc tế thừa biết bên trong phải có một mật ước riêng. Quả nhiên sau này vào năm 1977 Tổng Thống Jimmy Cater của Mỹ xác nhận có một mật ước riêng đằng sau Hiệp Định Paris được Nixon ký với Hà Nội 4 ngày sau khi ký kết Hiệp Định Paris 1973. Vào tháng 10 năm 1988 Hà Nội cho công bố toàn văn bản mật ước Nixon & Phạm Văn Đồng.

Theo đó thì Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho Bắc Việt 3,25 tỉ USD và viện trợ phát triển kinh tế cho Hà Nội 1,5 tỉ USD. Trong vòng 30 ngày sau khi người tù binh HK cuối cùng rời khỏi VN thì hai bên sẽ thiết lập xong hệ thống viện trợ tái thiết, và trong vòng 60 ngày sau đó thì lập xong hệ thống viện trợ phát triển kinh tế.


 

Bản mật ước do đích thân Kissinger mang tới Hà Nội cho Phạm Văn Đồng ký nhận. Từ đó Lê Duẩn ngày đêm trông chờ món tiền của Kissinger và đến cuối năm 1974, Liên Xô cử tướng Kulikov sang Hà Nội xúi Lê Duẩn đánh chiếm Miền Nam thì có nghĩa là Hiệp Định Paris coi như tờ giấy lộn. Rốt cuộc Hà Nội biếu không 591 tù binh Hoa Kỳ mà chẳng nhận được đồng nào, suốt 10 năm chiến đấu gian khổ, hằng triệu người chết, hằng chục tỉ đô la nợ chiến phí… đến nay chỉ còn là con số không (sic).

Tướng Kulikov xúi Hà Nội phát động chiến tranh trở lại nhưng Lê Duẩn và tập đoàn lãnh đạo CSVN thực sự trắng mắt. Dân chúng Miền Bắc đã kiệt sức, trong 5 năm nhà nước đã đóng cửa tất cả 18 trường đại học và cao đẳng, bòn vét nhân lực đến độ phải gọi lính ở tuổi 16, tại Miền Bắc chỉ còn một trời đàn bà góa… thì lấy đâu để gây chiến tranh trở lại.

*(Theo hồi ký của tướng CSVN Hoàng Văn Thái thì cho tới năm 1974 Hà Nội đã động viên đến 16% dân số, không thể nào động viên thêm được nữa. Trong khi Miền Nam là 5,88%)

Bắt đầu từ năm 1975 Đại Tướng Cao Văn Viên viết tường trình cho Ngũ Giác Đài về những ngày cuối cùng của chiến tranh Việt Nam nhưng đến năm 1983 mới được in thành sách với tựa đề “The Final Collapse” và hai mươi năm sau, 2003 The Final Collapse được nhà nghiên cứu sử Nguyễn Kỳ Phong dịch ra tiếng Việt với tựa đề “Những ngày cuối của Việt Nam Cộng Hòa”. Trong sách có kèm theo những chú giải mới nhất của Đại Tướng Cao Văn Viên. “Một sự thực không thể chối cãi là quân đội VNCH sẽ hết đạn và nhiên liệu vào tháng 6 năm 1975…” (Tài liệu của Ngũ Giác Đài: Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong trang 136).

Năm 1974 tháng Giêng, theo tài liệu của CIA: “Từ cuối tháng 12-1973 đến đầu tháng Giêng 1974 Tướng John Murray và ban tham mưu của ông đã làm việc ngày đêm để cố gắng tìm đáp số cho bài toán viện trợ quân sự. Nhưng mỗi lần họ tìm ra một giải pháp để giải quyết vấn đề thì lại phát sinh một vấn đề khác mà kết quả cũng chỉ đưa tới bí lối” (Frank Snepp, Decent Interval, trang 95).

Tướng John Murray là Tư Lệnh cuối cùng của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam.. Ông đến Việt Nam sau Hiệp Định Paris 1973, sang đầu năm 1974 ông và Bộ Tham Mưu Hoa Kỳ tại Việt Nam phải tính toán sổ sách về viện trợ quân sự cho Nam Việt Nam trong nửa cuối 1974 và đầu năm 1975. Tuy nhiên Ngũ Giác Đài đã cho ông biết trước là có thể dưới 700 triệu đô la nhưng theo các chuyên viên tham mưu của John Murray thì 700 triệu chỉ đủ giữ được Vùng 4.

Năm 1974 cũng theo Frank Snepp, ngày 16-8 John Murray họp buổi họp chót với Đại Tướng Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), Tướng Đồng Văn Khuyên (Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận) và một số tướng lãnh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2 và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Tuy nhiên “Tướng Viên lẫn Tướng Khuyên đều nói rằng lên kế hoạch về quân sự thì được, nhưng về mặt chính trị thì không thể nào thi hành nổi”. Sau buổi họp này thì John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ.

Năm 1974 tháng 5, theo Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng (Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch của VNCH) thì ông đã tình cờ trông thấy bản kế hoạch “Cắt Đất Theo Lượng Viện Trợ” của Murray nằm trên bàn của Tổng Thống Thiệu vào tháng 5 năm 1974, nghĩa là 2 tháng trước khi Nixon từ chức. Như vậy Murray chính là tác giả của kế hoạch bỏ Vùng 1, Vùng 2 vào năm 1975, một kế hoạch mà cho tới 40 năm sau người ta vẫn cho là sáng kiến (tối kiến) của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Sự thực Tổng Thống đã bị báo chí Mỹ cố tình gieo tiếng oan mà lúc đó Ông không thể lên tiếng thanh minh.

Năm 1974, ngày 24-12: Theo hồi ký của Đại Tá Phạm Bá Hoa “Ngày 24-12-1974, lúc quân CSVN đang tấn công Phước Long sang ngày thứ 10; một buổi tiệc mừng Giáng Sinh được Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, tổ chức trên lầu của Câu lạc Bộ trong BTTM”. Khách tham dự gồm có Tướng Smith (Chỉ Huy Trưởng cơ quan quân sự HK tại VN; Tướng Quân Y Phạm Hà Thanh; Tướng Công Binh Nguyễn Văn Chức; Đại Tá Phạm Kỳ Loan (Tổng Cục Phó Tiếp Vận); Đại Tá Phạm Bá Hoa (Tham Mưu Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận); Đại Tá Pelosky (Phụ Tá của Tướng Smith); Trung Tá Nguyễn Đình Bá (Chánh Văn Phòng của Tướng Khuyên)..

Tướng Smith tiết lộ rằng: “Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ có kế hoạch với ngân khoản dự trù hơn 300 triệu đollar để di tản sang Hoa Kỳ khoảng 40 ngàn sĩ quan và gia đình, nhưng thời gian thì chưa rõ” (Phạm Bá Hoa, Đôi Dòng Ghi Nhớ, Bản in lần 4, trang 264). Khi sách của Phạm Bá Hoa phát hành thì tất cả các nhân vật trong bữa tiệc đều còn sống mạnh khỏe nhưng không ai phản đối, kể cả Tướng Smith; chứng tỏ chuyện này hoàn toàn có thật.

Như vậy là kịch bản bỏ rơi Miền Nam đã được lên giàn trước khi mất Phước Long chứ không phải là sau khi mất Ban Mê Thuột. Người ta đã tính toán sẵn kế hoạch để cho VNCH sụp đổ trước tháng 6 năm 1975, kể cả ước tính trước ngân sách chi dụng cho kế hoạch.

Năm 1975, ngày 7-1: Phản ứng của Mỹ sau khi mất Phước Long là: “Nhà Trắng nói rằng: Tổng Thống Ford không có ý vi phạm những điều cấm chỉ (của Quốc Hội) về việc sử dụng lực lượng quân sự Hoa Kỳ tại Việt Nam” (Hồi ký của Tướng CSVN Hoàng Văn Thái, trang 161). Khi vừa nghe tin này Phạm Văn Đồng tuyên bố: “Cho kẹo quân Mỹ cũng không dám trở lại VN”(trang 146).

Ngay sau khi nhận được tin, Lê Duẩn chỉ thị cho Đại Tướng Tổng Tham Mưu Trưởng Hoàng Văn Thái lên kế hoạch tiến chiếm miền Nam: “Một tháng sau chiến thắng Phước Long, ngày 5 tháng 2, anh Văn Tiến Dũng lên đường vào Tây Nguyên” (Hoàng Văn Thái, trang 172).

Ngày đó cơ quan USIS của CIA tung tin quân VNCH thua tại Phước Long là do Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cố tình bỏ Phước Long để thử xem phản ứng của Mỹ. 

Sở dĩ CIA đổ cho Nguyễn Văn Thiệu là để Quốc Hội Mỹ có cớ biểu quyết ngưng viện trợ quân sự cho VNCH.

-Tuần đầu của tháng 3 năm 1975. Trong một cuộc họp đầu tuần của Bộ Ngoại Giao HK, Kissinger đã giải thích hành động viện trợ “Lấy Có” cho Cam Bốt: “Chính Phủ Lon Nol đang trên đà sụp đổ, đây là nguyên do chính khiến chúng ta phải tiếp tục viện trợ để cho sau này không ai có thể trách chúng ta vô trách nhiệm”. (Frank Snepp, Decent Interval, trang 175). *(Nguyên văn: “…he say, the Lon Nol Government was on the brink of collapse, it was essential to keep open the aid pipeline so no one could later blame the United States for the disaster”).

– Ngày 7-3-1975, Kissinger chỉ thị cho các viên chức Ngoại Giao HK trước khi ông ta lên đường đi Trung Đông: “Hãy làm mọi cách để Quốc Hội tiếp tục duy trì viện trợ (Lấy Có) cho Cam Bốt và Việt Nam. Không phải để cứu vãn hai nước đó, mà vì không thể nào cứu vãn được hai nước đó” (Frank Snepp, Decent Interval trang 176). *(Nguyên Văn: Do every thing possible to ensure that Congress lived up our aid commitments to Cambodia and Vietnam- not because the two countries were necessarily salvageable, but precisely because they might not be).

Hai ngày sau khi Kissinger nói câu này thì Văn Tiến Dũng ra lệnh tấn công Ban Mê Thuột.

Kissinger không muốn thiên hạ nghĩ rằng Việt Nam sụp đổ do không còn viện trợ. Và với mức độ viện trợ nhỏ giọt thì đến ngày 30-6-1975 quân đội VNCH sẽ không còn Gạo và không còn Đạn (Tài Liệu The Final Collapse của Đại Tướng Cao Văn Viên). Vì thế Kissinger mong cho Quân đội VNCH tự tan rã trước khi hết Gạo và Đạn trước tháng Sáu năm 1975. Lúc đó thiên hạ sẽ nghĩ rằng Quân Đội Sài Gòn đã thua chạy trước sức tiến công vũ bão của quân Hà Nội.

Năm 1975 ngày 11-3, một ngày sau khi mất Ban Mê Thuột. Theo Đại Tướng Cao Văn Viên “Ngày 11-3 Tổng Thống Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại Dinh Độc Lập và sau đó trình bày ý định muốn cắt bỏ bớt lãnh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975”. Tướng Viên ghi lại cảm nghĩ của ông lúc đó: “Quyết định của Tổng Thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đã suy xét thận trọng. Hình như Tổng Thống Thiệu đã ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”

*“… Tổng Thống Thiệu phác họa sơ: …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cộng Sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi gía…Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại…” (Cao Văn Viên, The Final Collapse, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131).

“Ngay sau khi Phước Long bị tấn công, Hoa Kỳ không có một phản ứng nào … . Một thực tế gần như hiển nhiên là Hoa Kỳ không muốn cuộc chiến tiếp tục và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam đã kết thúc” (trang 132).

Henry Kissinger viết trong hồi ký của ông:
“Cho đến hôm nay tôi kính trọng ông Thiệu như là một gương hào hùng của một kẻ dám chiến đấu cho nền tự do dân tộc của ông, một kẻ sau này đã chiến bại bởi những hoàn cảnh ngoài tầm tay cá nhân ông, đất nước ông và ngay cả ngoài vòng quyết định của chúng ta…” ( Henry Kissinger, Years of Upheaval, 1981, Bản dịch của Xuân Khuê)

Kissinger là người mà T.T. Nguyễn Văn Thiệu ghét cay ghét đắng cho tới khi xuống mồ. Trong khi ngược lại, Kissinger cũng làm ra vẻ ghét cay ghét đắng T.T. Nguyễn Văn Thiệu, kẻ mà báo chí và nhân dân Mỹ luôn luôn nguyền rủa là cản trở và phá hoại hòa bình.

Tuy nhiên cuối cùng, khi mà hòa bình đã đạt được bằng cái giá phản bội dân tộc Việt Nam, Kissinger mới bình tâm thú thực cảm nghĩ của ông ta về người anh hùng lãnh đạo đất nước Việt Nam trong thời gian gay cấn nhất của lịch sử. Kissinger nói :

“… Sau khi ngưng bắn, quân đội chúng ta sẽ rút về bên kia bán cầu, còn dân tộc của ông vẫn còn cảnh một đội quân tiếp tục hy sinh cho những hy vọng mong manh của nền độc lập tại Đông Dương. Chúng ta đã chắc rằng biện pháp của chúng ta sẽ kềm hãm tham vọng của Hà Nội. Nhưng mắt của ông T.T. Thiệu chỉ quan ngại vào những điều mong manh về sau này…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).

Kissinger cũng thú thực là vì không còn cách lựa chọn nào khác cho nên Mỹ đành phải hy sinh Nam Việt Nam, và cũng vì vậy mà Kissinger đành phải đóng vai làm kẻ thù của T..T. Nguyễn Văn Thiệu nhưng tự sâu xa trong đáy lòng, Kissinger khâm phục T.T. Thiệu :

“…Như là một phép lạ phát xuất từ lòng dũng cảm, ông Thiệu đã cố gắng lèo lái quốc gia trong giai đoạn cam go này, chiến đấu chống lại quân thù cố tâm xâm lấn và làm an tâm đồng minh nào chưa thông hiểu ông …

… Về riêng tư tuy tôi dành ít cảm tình về ông T.T. Thiệu nhưng tôi rất kính nể ông vì ông là một người kiên tâm chiến đấu trong nỗi cô đơn ghê gớm ( nguyên văn: terrible loneliness ) sau cuộc rút quân của Hoa kỳ. Ông chấp nhận những cảm tình và thông hiểu ít ỏi dành cho ông. Chuyện đó không làm phẩm chất của ông hao mòn đi…” ( Bản dịch của Xuân Khuê ).

Ngày 22-10-1972 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nổi giận khi Kissinger ép buộc ông phải chấp nhận bản dự thảo Hiệp định đình chiến mà Kissinger đã cùng Lê Đức Thọ soạn thảo tại Paris. Ông khuyến cáo Kissinger :

“Tôi không đồng ý về việc một số nhân viên của quý vị đi nói khắp Sài Gòn là tôi đã ký. Tôi chưa ký kết gì cả. Tôi không phản đối hòa bình nhưng tôi chưa nhận được một trả lời thỏa đáng nào của quý vị cho nên tôi sẽ không ký”.

Kissinger mất bình tỉnh với tuyên bố của Tổng thống Thiệu, ông nói ông đã thành công ở Bắc Kinh, Mạc Tư Khoa và Paris mà bây giờ ông phải thất bại tại Sài Gòn : “Nếu ngài không ký, chúng tôi sẽ xúc tiến một mình”.

Tới phiên Thiệu nổi giận, ông buộc tội Kissinger là thông đồng với Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa để bán đứng Miền Nam. Hồi ký của Kissinger ghi lại lời lẽ của Thiệu:

“Là một quân nhân thì lúc nào cũng phải chiến đấu, nếu tôi không phải là một quân nhân thì tôi đã từ chức khi HK yêu cầu tôi từ chức và còn mặc cả với tôi về ngày giờ từ chức… … Tôi chưa hề nói với ai là người Mỹ đã đòi tôi từ chức, vì như vậy là nhục; cho nên tôi đã làm như tự mình chọn lấy quyết định đó…” (Kissinger, White House Years, trang 1385).

Kissinger đáp lại : “Tôi cảm phục tính hy sinh và lòng can đảm của ngài qua lời phát biểu vừa rồi. Tuy nhiên, là một người Hoa Kỳ, tôi không khỏi phiền lòng khi ngài cho rằng chúng tôi thông đồng với Liên Xô và Trung Quốc.

Làm sao ngài có thể nghĩ như vậy được trong khi quyết định ngày 8-5 của Tổng thống Nixon ( Thả bom Hà Nội và phong tỏa các hải cảng Bắc Việt ) đã liều cả tương lai chính trị của mình để giúp quý ngài. Chúng tôi điều đình với Liên Xô và Trung Quốc là để làm áp lực, buộc họ phải làm áp lực với Hà Nội… Nếu như chúng tôi muốn bán đứng quý ngài thì đã có nhiều cách dễ dàng hơn để hoàn thành việc đó…”( Kissinger, White House Years, trang 1385, 1386 ).

Rồi tới phiên Đại sứ Bunker mất bình tỉnh : “Vậy thì thưa Tổng thống, lập trường chót của ngài là không ký, có phải không?”

T.T. Thiệu đáp : “Vâng, đó là lập trường cuối cùng của tôi. Tôi sẽ không ký và tôi xin ngài thông báo cho Tổng thống Nixon biết như thế. Xin quý vị trở lại Washington và nói với Tổng thống Nixon rằng tôi cần được trả lời”.

Tổng thống Thiệu chỉ tay vào bản đồ Việt Nam rồi nói : “Có gì quan trọng khi Hoa Kỳ để mất một quốc gia nhỏ bé như Nam Việt Nam? Chúng tôi không hơn gì một chấm nhỏ trên bản đồ của thế giới đối với các ông… … Nhưng đối với chúng tôi, đó là một sự chọn lựa giữa sự sống và sự chết.

Đối với chúng tôi, đặt bút ký vào một hiệp ước tương đương với sự đầu hàng là chấp nhận một bản án tử hình, vì cuộc sống không có tự do là sự chết. Không, nó còn tệ hơn là sự chết” ( Larry Berman; No Peace, No Honor; trích từ Văn khố Bộ ngoại giao HK, bản dịch của Nguyễn Mạnh Hùng trang 230 ).

Sau 1975 thì người Mỹ muốn lái sự oán hận mất nước của nhân dân Miền Nam vào ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu và quân đội VNCH để quên đi hành động “bán đứng đồng minh” của Mỹ *( Lời của ông T.T. Nguyễn Văn Thiệu nói thẳng vào mặt Kissinger năm 1972 ). Họ vận động các phương tiện truyền thông tiếng Việt tại hải ngoại kết án ông Thiệu làm cho mất nước. Họ kết án quân đội VNCH hèn nhát, tham nhũng v.v,… Họ dập tắt tiếng nói thanh minh của ông Thiệu và của những quân nhân VNCH. Họ thuê bọn vô lại biến phong trào chống Cọng sản tại hải ngoại thành những trò thối tha vô liêm sỉ….!

Hằng năm cứ vào mùa tháng Tư thì các phương tiện truyền thông tiếng Việt như RFA, BBC, …lại rộn lên những luận điệu kêu gọi hòa hợp hòa giải giữa chế độ CSVN và những người đã bị đuổi chạy ra nước ngoài. Họ coi những người rượt đuổi và những người bị đuổi đều tội lỗi như nhau.

Trong khi đó cuộc chiến Nam Bắc Hàn cũng giống hệt như cuộc chiến Việt Nam. Nhưng ngày nay RFA, BBC… nói cho con cháu Nam Hàn rằng năm 1950 quân Bắc Hàn tràn qua vĩ tuyến 38 đánh chiếm Nam Hàn. Quân đội Mỹ đã giúp nhân dân Nam Hàn đẩy lui quân Bắc Hàn về Bắc. Tội lỗi đều là phía Bắc Hàn chứ phía Nam Hàn không có lỗi.

Nhưng đối với cuộc chiến Việt Nam thì quân Bắc Việt cũng tràn qua vĩ tuyến 17 đánh chiếm Miền Nam nhưng Mỹ lại nói : Phía CSVN và phía VNCH đều có lỗi cho nên Mỹ đứng giữa không biết giúp bên nào !! Cho tới nay cũng chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái.

Cũng vì chưa ngã ngũ bên nào phải bên nào trái cho nên cho tới nay danh dự của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vẫn chưa được phục hồi. Người Mỹ vẫn muốn con cháu Việt Nam nhìn Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu như là một kẻ luôn luôn cản trở và phá hoại hòa bình. 
Bùi Anh Trinh

 
 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Văn Tuyển

 

 

Trớ trêu thay! – Nguyễn Sơ Đông

Image result for quân y vnch

ourquoi le prononcer ce nom de la patrie?

Dans son brillant exil mon coeur en a frémi

II résonne de loin dans mon âme attendrie,

Comme les pas connus ou la voix d’un ami.

(Milly ou la terre natale – Lamartine)

Quê hương ấy nhắc chi thêm lưu luyến,
Giữa lưu đày rạng rỡ* xuyến xao lòng.
Từ xa xôi vọng lại vấn vương hồn
Bước chân cũ hay âm quen người bạn.

( Quê Mẹ, Mailoc phỏng dịch)

Bài đọc suy gẫm: Trớ Trêu Thay! hay “Nhớ Nhà” là lời tâm sự, chia sẻ kinh nghiệm của bác sĩ Quân Y – QLVNCH, Nguyễn Sơ Đông, blog 16 xin hân hạnh gởi đến bạn đọc nhưng tâm tình của tác giả.

 

Tôi muốn đổi chữ “brillant” (rạng rỡ) thành “douloureux” vì trốn chui, trốn nhủi, vượt biên còn thua con chó đói, thì có gì là “brillant”. Sợ mang tội với Lamartine, lại thừa một “pied” (vế).

Tôi là thằng “lăn chai”, lúc nhỏ suốt ngày ở ngoài đồng, lội hết mương nầy đến rạch kia. Tôi không phải đi chăn trâu, nhưng tôi cỡi trâu “nghề lắm”. Leo lên lưng trâu đâu có dễ. Tôi mới sáu, bảy tuổi, đứng vừa qua khỏi ngang nửa bụng trâu, mà trâu đâu có “mọp” xuống như voi cho mình leo lên. Vậy mà thằng tui phóng lên ngang hông trâu cũng được, kẹp “đầu gối” (trâu) trước cũng xong, phăng lên bằng đầu gối sau cũng “phẻ” mà kéo đuôi cũng yên. Trâu tốt hơn “người ta”: không khi nào “đá giò lái”, không “đá ngược” bạn bè.

Nắng, mưa tôi có coi ra gì đâu? Mưa xối xả, mưa nặng hột,… tắm mưa càng vui. Tắm đến chừng da tái mét, run lập cập mới thôi. Một lát – có khi cả giờ nữa, nắng lên, khô queo,… thì lội nữa.

Tụi chăn trâu “nhà nghề” chỉ tôi đủ thứ hết: làm sao “cột dàm” con nghé để nó khỏi ăn mạ. Người ta vác chổi chà mà đập mầy đó (không đập trâu đâu, vì chổi chà có thắm thìa gì nó). Nhìn dấu ở cửa hang là biết có cua ở trỏng hay không, cua lớn hay cua “nghé” (cua con, kẹp đau lắm). Bắt cá bóng kèo thì phải dùng một chân chận cái ngách nó lại, câu cá trê phải sửa soạn mồi trước: đập mấy con ốc bươu, để qua bữa sau có mùi hôi hôi là cá trê nó đớp nhanh lắm, xúc cá ròng ròng coi chừng bị cá mẹ táp cẳng, vì bênh con (ròng ròng là cá lóc con, cỡ 1/2 ngón tay út, kho tộ mặn mặn, cay cay… ngon hơn caviar nữa. Mà tôi có bao giờ được ăn caviar đâu mà xạo vậy!). Bọt trắng nhuyễn trên mặt “mương”, nhưng bọt nào là ổ cá chìa vôi, chả làm gì được hết, bọt nào là ổ cá “xiêm”, loại cá lia thia xanh mun, đá chết bỏ chứ nhứt định không chạy.

Lên Saigon, “lội” gần hết “hang cùng ngõ hẹp” của quận Tư (sau nầy là quận Năm, dành tên quận Tư cho bên Khánh Hội), chui vào Đại Thế Giới coi hát “cọp”, băng cầu chữ Y, qua giang sơn của ông Bảy (Bảy Viễn), đi chen lấn giựt cái “lưỡi” ông Tiêu cúng rằm tháng Bảy.

“Nắng Saigon, anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông”

Tôi có biết lụa là gì đâu? Hà Đông ở đâu? Thôi, tôi xin phép Nguyên Sa mà sửa lại:

“Nắng Saigon, tui đi mà chẳng ngán
Bởi vì da mốc thích “đui then” rồi.

Ra Chasseloup, đến mùa me chín, leo lên “rung” mạnh. Me rụng đầy đầu tụi ở dưới đất. Thằng nào ở “trển” vậy? Thằng Đông chớ ai vô đây.

Trước Bộ Y Tế có hai cây gừa, trái tròn, ngọt, cây chót vót, lại cũng thằng Đông leo. (Sau 75, tôi vẫn còn thấy hai cây nầy, già lão rồi, có ai để ý tới làm chi)

Vào lính, theo đơn vị hành quân, nhớ từng con suối nhỏ, từng gò mối, từng cây cầu khỉ,… nhứt là những nơi “đụng” nặng. Lính tử trận. Quan cũng đền nợ nước. Thứ hai, người vợ trẻ đưa chồng lên Đức Hòa. Thứ bảy, đã chít khăn tang. Nhưng tôi vẫn thương vẫn nhớ cái quận “nắng bụi, mưa bùn”… nghèo xơ nghèo xác nhưng đầy ấp tình người. Hoàng hôn xuống, nghe ảnh ương, nhái bầu, nhái bén, cả bao nhiêu thứ côn trùng hòa tấu “symphonie pastorale” nghe mà rụng rún.

Giờ đây, lưu lạc xứ người, muốn nghe… có đâu mà nghe.

“Lòng quê đi một bước đường một đau ” (Kiều)

 

Tâm trạng nhớ nhà là vậy

Tôi không dám “nghĩ” hoặc “đoán” tình cảm của ai khác. Riêng với tôi thì: tình đầu, tình đuôi, tình giữa… gì gì, thì với thời gian cũng sẽ khuây khoả, rồi phai, rồi tàn và rồi thuộc về dĩ vãng, dù nó “apporte chaque jour tout le bien, tout le mal”.

Nhưng, nhớ nhà thì hoàn toàn khác, lạ. Như một định luật tự nhiên, “tên” nào “lội” nhiều, lăn lóc với “đất nước” nhiều,.. khi về già, nhớ nhà càng ray rứt, càng nhức nhối.

Cái khổ là càng muốn quên, càng lại nhớ. Có những đêm thức giấc, nhớ quá, không tài nào ngủ lại được. Nhớ ai, ai đâu mà nhớ. Nhớ NHÀ!

Lúc ở Chasseloup, đọc sách tả Tour Eiffel, Montparnasse, Les Invalides, Chateaux de la Loire.. náo nức muốn xem lắm. Giờ xem qua rồi thì “thôi”. Nó không “thấm” vào xương, vào tủy, vào tim, vào óc như cái nhớ nhà.

“… Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn người bốn phương. ”

(Làng Tôi – Chung Quân)

Chắc tại tôi là đứa “chả giống ai”. Thôi đành chịu vậy.

Mấy trang viết nầy không đầu, không kết, ý tứ lung tung, “à bâtons rompus”, “du coq – à – l’âne”. Bà con có xem thì “xính xái”, từ bi hỷ xã dùm. Thiện tai, thiện tai.

Thôi thì cứ xem như :“mémoires d’outre tombe” của tôi vậy.

Trước sau gì, cát bụi cũng sẽ về cát bụi

QUANDO SATIS DIXISTI, PERISTI

(Quand tu auras dit assez, tu seras mort)

(St Augustin)

“Mai đây trong chuyến tàu vạn cổ
Nếu có người thương đến tiễn đưa
Xin hãy rắc thêm vào huyệt mộ
Chút tình hệ lụy núi sông xưa”

(Giang Hữu Tuyên)

Đúng, hệ lụy núi sông xưa!

“Objets inanimés, avez vous donc une âme
Qui s’attache à notre âme et la force d’aimer“

(Lamartine – Milly ou la terre natale)

Vật vô tri kia hỡi có linh hồn?
Sao mi quyện hồn ta trong thương cảm!

(Mailoc phỏng dịch)

Thôi đành

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng thử nhân sầu ”

(Thôi Hiệu)

Vậy, tôi đã làm được gì?

* Gia Đình: Trả hiếu?

– Má tôi mất sớm quá, tôi có nhớ gì đâu, nhứt là mấy tháng cuối cùng, mỗi lần tôi muốn tới gần Má tôi, thì các dì, cô, cậu… (đều ở nhà tôi để săn sóc má tôi) bảo: “Con ra ngoài chơi đi, để má con ngủ”, ngủ yên… Yên Giấc Ngàn Thu.

– Tôi có làm được gì giúp Ba tôi đâu. Chưa xong y khoa, niềm an ủi duy nhứt của tôi là: tôi đã cố hết sức nghe lời Ba tôi, dĩ nhiên, đôi lần chuyện nầy, chuyện nọ, chuyện “đâu đâu” làm Ba tôi không vui.

– Tôi rất mừng là đã cùng vợ tôi quyết định “sinh tử”: chết thì chết chung, không thể sống với vc được. Tụi nó không lương tâm, không tim, không óc, không cả tình người. Ít nhứt, dung thân ở xứ lạ, không ai ngăn cấm con tôi: “Mầy là con sĩ quan ngụy, không được lên cấp ba”. Đó là nguyên văn của tên “giám hiệu” trường Petrus Ký (tôi khôngmuốn nhắc tên mới của trường) khi đứa con trưởng của tôi học xong lớp 9 (classe de 3è) không được lên lớp 10 (classe de seconde). Đuổi học.

* Tổ Quốc: xin cho tôi mượn hai câu thơ của một nhà văn “gốc lính”

“Cúi đầu tạ với quê hương
Tôi còn một nửa đoạn đường chiến binh”.

Tôi đã đội trên đầu sáu chữ: DANH DỰ, TỔ QUỐC, TRÁCH NHIỆM. Ngày nào còn thở tôi còn tôn thờ. Chỉ khi nhắm mắt thì trách nhiệm của tôi với tổ quốc VNCH mới kể là hết.

Je ne fléchirai pas ! Sans plainte dans la bouche,
Calme, le deuil au coeur, dédaignant le troupeau,
Je vous embrasserai dans mon exil farouche,
Patrie, ô mon autel ! Liberté, mon drapeau !.

(Victor Hugo – ultima Verba)

Ta vẫn chẳng khom lưng đâu! Không kêu ca trong miệng
Bình tĩnh, đau thương, khinh cả bọn theo hùa
Trong cảnh đày, ta vẫn ôm chẳng chuyển
Tổ quốc, bàn thờ thiêng! Tự do, đẹp lá cờ!

( Bản dịch của Xuân Diệu – Lời Cuối Cùng)

 

THAY LỜI CUỐI

 

Những dòng sau đây, tôi:

– Kính dâng quý Trưởng Thượng, Niên Trưởng đã rời Việt Nam trước 30-04-1975

– Gởi đến thế hệ trẻ, những người chưa “nếm” mùi vc.

Tôi dạy vạn vật ở Petrus Ký từ năm 1963. Lúc bấy giờ, thi Tú Tài 1 và 2 còn vấn đáp. Chưa khi nào tôi hỏi lý lịch thí sinh trước khi cho điểm. Nói chung, trong suốt lịch trình thi, tất cả Giáo sư đều xử sự như thế.

Tết Mậu Thân, con đường tiếp liệu (y dược, y cụ..) của đơn vị tôi bị vc (đã chiếm Vinatexco, Vifon, và các hãng kế cận) đóng chốt. Tôi phải liên lạc với cố vấn đơn vị tôi, trình với cố vấn trưởng (cố vấn cho Tư Lệnh Sư Đoàn) cho phép tôi dùng trực thăng riêng của ông về căn cứ 73 tồn trữ y dược, nhứt là bông, băng, băng cá nhân, nước biển và trụ sinh.

Trớ trêu thay: người thương binh đầu tiên được truyền chai nước biển “nóng hổi” vừa được trực thăng mang về là một vc.

Trong hơn bốn năm trấn ở Đức Hòa, tôi đã gọi tản thương bằng trực thăng về Tổng Y Viện Cộng Hòa ít nhứt là mười vc bị thương nặng. Không tản thương thì chắc chắn 100% chúng đi“chầu Bác” rồi.

Dù mưa, dù nắng, một giờ khuya, hai giờ sáng,… chưa lần nào phi hành đoàn hỏi tôi tản thương lính nào vậy? QLVNCH hay vc. Tất cả đơn vị Quân Y QLVNCH đều làm như thế.

Tôi muốn viết thật rõ, hét thật to, ý nghĩ thật trong sáng: Tôn chỉ của dân VNCH, của QLVNCH, của chính phủ VNCH là TÔN TRỌNG CON NGƯỜI, cách hành sự chứa đầy tình người.

Sau 04/1975, bọn khát máu chóp bu vc đã ra lệnh phá tan nát xã hội miền Nam, mà nền tảng là gia đình. Bao nhiêu gia đình sĩ quan QLVNCH, viên chức VNCH bị gây áp lực đến đổ vỡ.

Bao nhiêu dân miền Nam bị lừa gạt, rồi bị ép tử, bỏ cho chết, chết đói, chết vì bệnh tật,… ở những khu gọi là kinh tế mới.

Bao nhiêu thanh thiếu niên “con ngụy” bị ép buộc qua Miên làm bia đỡ đạn cho vc.

Bao nhiêu trăm ngàn người VNCH đã thiệt mạng trên đường tìm tự do, thoát ách vc.

Trong mấy ngàn năm lịch sử dân tộc, có lần nào mà người dân Việt Nam, vốn rất gắn bó với “quê cha đất tổ”, với “mồ mả ông bà” liều chết, bỏ nước ra đi tìm tự do đông đến số triệu.

Tôi viết để quý vị Trưởng Thượng và thế hệ trẻ hiểu được mức độ khát máu, tàn ác, vô nhân đạo, đầy thú tính của vc.

Riêng cá nhân tôi, tôi không thù hằn vc vì:

1- Tôi đã hấp thụ nền giáo dục nhân bản miền Nam

2- vc không xứng đáng để tôi thù hằn, vì vc đã mất hẳn tính và tình người.

Tôi rất cám ơn, thương mến, kính yêu “bà xã” tôi đã chịu bao nhiêu cay đắng, cực khổ tảo tần giữ vững gia đình, lo cho bốn đứa con tôi.

Hiện giờ, chúng là công dân đơn thuần (simple citoyen) của quốc gia tạm cư, không là “quan to, quan bé” gì hết. Nhưng, người ta đã đối xử với chúng tôi rất ấm áp tình người.

 

Nguyễn Sơ Đông

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Ba Cây Trúc


Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19.1.1974 – Nguyễn văn Phảy

 

Bài đọc suy gẫm: Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19.1.1974 trích trong “Những mùa xuân ghi dấu” tác giả Nguyễn văn Phảy. Một vài hình ành chỉ là minh họa.

 
 
 
Hải quân – Cố Trung úy Huỳnh Duy Thạch (hình bên) người hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa và lá thư phân ưu của Đề đốc tư lênh Hải quân Trần văn Chơn gởi đến gia đình. 
Mùa Xuân Giáp Dần – Hải Chiến Hoàng Sa 19.1.1974
   Thắm thoát gần 1 năm Hiệp định Paris được ký kết. Vào những ngày đầu năm 1974, với sự hợp tác của Trung cộng, cộng quân Bắc Việt đã gia tăng tấn công trên đất liền tại miền Nam để làm suy yếu lực lượng đối kháng của quân lực VNCH. Thừa cơ hội, Mao Trạch Đông chỉ thị cho Đặng Tiểu Bình để họp bàn với các cấp lãnh đạo nhằm thực hiện cuộc hành quân biển để tiến chiếm quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam . Trung cộng thành lập một lực lượng hải quân đặc nhiệm thật hùng hậu gồm nhiều loại tàu chiến tối tân, kể cả tàu ngầm được trang bị hoả tiển, ngư lôi và phi đội chiến đấu cơ Mig. Chúng chia làm 2 phân đội. Một phân đội tấn công đi trước gồm có 2 Liệp Tiềm Đỉnh (loại Hộ Tống Hạm) Kronstadt K271 và K274, 2 Tảo Lôi Hạm (loại Trục Lôi Hạm) 389 và 396 và 2 Liệp Tiềm Đỉnh khác là 281 và 282, cộng thêm những tàu đánh cá có vũ trang mang danh số 402 và 407… Một phân đội tiếp ứng khác theo sau cùng tiến ra quần đảo Hoàng Sa nhằm xâm lăng biển đảo của ta. Cuộc hành quân biển của Trung cộng do Phó Đô Đốc Phương Quang Kinh, Tư Lệnh Phó Hạm Đội Nam Hải Trung cộng chỉ huy.
  Dang Tieu Binh dung ben goc phai
Tổ lãnh đạo Trung cộng 6 người gồm Diệp Kiếm Anh, Đặng Tiểu Bình, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Trần Tích Liên, Tô Chấn Hoa. Đặng Tiểu Bình tuy là Phó nhưng lấn lướt luôn quyền của Thống Chế Diệp Kiếm Anh. Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai cũng tham gia điều động lực lượng.
Những chiến hạm của Hải quân Trung cộng xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa.  
 
Phóng đồ điều quân của trận hải chiến Hoàng Sa quanh hai đảo Duy Mộng và Quang Hoà Đông.  

Những chiến hạm của Hải Quân VNCH
   Lúc bấy giờ Tuần Dương Hạm HQ16 của HQ VNCH đang tuần tra tại quần đảo Hoàng Sa biết được nhiều tàu chiến cũng như những tàu đánh cá được ngụy trang vũ khí của TC xâm nhập vào nhóm đảo Nguyệt Thiềm của quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Tức thì HQ16 báo cáo về Bộ Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải (TLV1DH), lúc đó Phó Đ Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại là Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải. Sau đó Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH đã chỉ định HQ Đại tá Hà Văn Ngạc (K5-SQHQNT) đương kim Hải Đội Trưởng Hải đội 3 tăng phái cho Bộ Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải. Lúc bấy giờ TLV1DH là Tư Lệnh Chiến trường và là vị Chỉ huy Liên Đoàn Đặc Nhiệm gồm các chiến hạm đương nhiệm và tăng phái cho chiến dịch Hoàng Sa. 
HQ Đại Tá Hà Văn Ngạc, Tư lệnh HQ Vùng 1 Duyên Hải. Chỉ Huy Trưởng Chiến Dịch Hoàng Sa (hình trên). Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (hình dưới, trái)
   Khi Hải Quân Đại tá Hà văn Ngạc từ Sài Gòn ra đến Bộ TLV1DH thì Vị Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải chỉ định Hải quân Đại tá Hà văn Ngạc làm Chỉ huy Trưởng Chiến Thuật cho chiến dịch bảo vệ biển đảo gồm có các chiến hạm sau đây:
– Khu Trục Hạm HQ4, Hạm trưởng là HQ Trung tá Vũ hữu San (K11-SQHQNT)
– Tuần Dương Hạm HQ5, Hạm trưởng là HQ Trung tá Phạm trọng Quỳnh (K11-SQHQNT). HQ5 là Soái Hạm (OTC: officer in tactical command) vì HQ Đại tá Hà văn Ngạc hiện diện trên đó để chỉ huy chiến dịch.
– Tuần Dương Hạm HQ16, Hạm trưởng là HQ Trung tá Lê văn Thự (K10-SQHQNT)
– Hộ Tống Hạm HQ10, Hạm trưởng là HQ Thiếu tá Ngụy văn Thà (K12- SQHQNT).  
   Tình hình chiến sự thời điểm đó rất căng thẳng. Áp lực của cộng quân Bắc Việt trên đất liền ngày càng gia tăng. Hải quân VNCH phải được phân tán mỏng ở các vùng duyên hải để ngăn chận Việt cộng xâm nhập bằng đường biển vào bờ ở miền Nam. Nhưng với quyết tâm bảo vệ biển đảo, không thể để một tấc đất nào lọt vào tay giặc phương Bắc như các bậc tiền nhân căn dặn, Hải quân VNCH đã giáng cho Hải quân Trung cộng một trận quyết liệt gây tổn thất nặng nề cho TC từ khoảng 10:25 phút đến khoảng 11:10 phút ngày 19.01.1974 tức là ngày 27 tháng 12 năm Quý Sửu mặc dù lực lượng ta yếu kém hơn so với lực lượng HQ Trung cộng.
Trong thời gian từ ngày 16.1.1974 đến 18.4.1974, có lần Khu Trục Hạm HQ4 ủi đụng tàu đánh cá TC mang số 407 được vũ trang khi chúng chạy chận đầu HQ4 để khiêu khích.
    Trong trận hải chiến 19.1.1974, tôi có 6 người bạn cùng khoá Đệ Nhị Song Ngư Sĩ Quan Hải Quân Nha Trang hiện diện trên các chiến hạm. Tôi cũng được nghe các bạn bè hiện đang định cư tại hải ngoại đã tham dự trận Hải Chiến Hoàng Sa kể lại một số chi tiết về trận chiến.
   Để đối đầu với lực lượng Hải quân TC, lực lượng ta được phân chia trách nhiệm như sau:
   –  HQ16 >< T396
–  HQ10 >< T389
–  HQ 4 ><  K271
–  HQ 5 ><  K274 
   Theo như lời người bạn cùng khoá, HQ Thiếu uý Nguyễn Văn Quý trên HQ5 kể cho tôi nghe khi tôi qua Hoa Kỳ thăm viếng năm 2005 cũng như bạn cùng khoá Nguyễn Hoà Nguyên liên lạc với bạn Quý vào đầu năm nay đã ghi lại như sau:
 … HQ5 ra đến Hoàng Sa buổi chiều 18.1.1974. Biển Hoàng Sa lúc đó đang ở vào mùa biển một, biển phẳng lặng, êm, rất êm! HQ5 tức khắc nhập đoàn cùng với HQ4 và HQ16 đang có mặt tại chỗ, cả 3 chiến hạm vào nhiệm sở tác chiến, lập đội hình “biểu dương lực lượng”. Các tàu Trung cộng thoạt đầu nhìn thấy đội hình các tàu của ta thì họ chạy dạt ra xa, e dè quan sát. Chỉ một lúc sau đó, họ cũng lập đội hình “biểu diễn giỡn mặt”. Các tàu Trung cộng nhỏ hơn nhưng chạy nhanh hơn, chúng chạy lượn quanh, chạy chận đầu các chiến hạm của ta. Phía hữu hạm HQ5, có một chiếc tàu Trung cộng chạy xé sóng, đâm tới nguy hiểm, khi còn cách khoảng 100 mét thì nó thình lình đổi hướng chạy song song với HQ5. Trên tàu, lính Trung cộng cởi trần, múa may, chỉ trỏ, la ó khiêu khích, khiến các chiến sĩ của ta thấy vui rồi nổi nóng. Một trận đấu võ miệng hai bên, từ trên xuống dưới, mạnh ai nấy chưởi, tiếng Việt và tiếng Tàu bằng loa và bằng mồm đã diễn ra…”
 * Toán công binh và nhân viên Toà Lãnh Sự Mỹ ông Gerald Kosh lên đảo Quang Hoà:
(Lãnh Sự Mỹ tại Đà Nẵng, ông Jerry Scott là bạn của Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, TLV1DH, là 1 cưụ Sĩ Quan HQ Mỹ, xin phép Đô Đốc Thoại cho ông Gerald Kosh theo HQ16 để biết Hoàng Sa. Sự thực Toà Lãnh Sự Mỹ có ý gì hay ông Gerald Kosh có làm việc cho CIA hay không thì vị TLV1DH không biết.)
  Theo như người bạn cùng khoá HQ Thiếu uý Phan Công Minh thuộc HQ5 tóm lược nhiệm vụ đưa toán công binh và cố vấn Mỹ vào đảo đêm 18.1.1974:
“… Sau nhiều lần kiểm tra đạt yêu cầu, Đại Tá Ngạc mới chính thức giao nhiệm vụ cho Thiếu Minh để đưa đoàn công tác lên đảo Hoàng Sa vào tối khuya ngày 18.1.1974.
   Cùng đi với Thiếu Minh có hai nhân viên cơ hữu HQ5 để lái ca nô (yuyu) và chống mũi. Trung Nguyễn minh Cảnh chỉ huy toán hải kích đi chung. Kéo theo sau là hai xuồng cao su do hai nhân viên hải kích cầm lái chở đoàn công tác công binh và một nhân viên Toà Lãnh Sự Mỹ, ông Gerald Kosh. Vũ khí đem theo là mấy khẩu M16. Sau khi rời chiến hạm các chiến sĩ ta đi trong tình trạng im lặng vô tuyến mặc dù có mang theo một máy PRC 25. Đó là chỉ thị của Đại tá Ngạc nhằm bảo đảm an ninh tuyệt đối cho cuộc hành quân. Chỉ liên lạc vô tuyến khi cần thiết mà thôi. Gần một giờ trôi qua thì đảo hiện ra lù lù một đống đen ngòm trước mặt, ca nô giảm máy chạy từ từ tiếp cận đảo.
Gần tới đảo, một nhân viên của đoàn công binh dùng đèn pin ra ám hiệu với đơn vị trên đảo, tất cả đều rất căng thẳng. Một ánh đèn pin lóe lên, tất cả hồi hộp, sau một loạt tín hiệu người liên lạc thốt lên:” phe ta”! tất cả thở phào nhẹ nhỏm. Trung uý Cảnh nói với Thiếu uý Minh : “anh em mình thoát nạn !”. Sau khi đưa toán công binh lên đảo an toàn, HQ Thiếu
Minh và 2 nhân viên cơ hữu quay trở lại chiến hạm. Trên đường về cũng hơi lo lắng nhiều, vì đêm tối như mực.
   Bạn Minh kể tiếp: “Tôi đã thi hành xong nhiệm vụ được giao phó. Chỉ một lần tiếp xúc với Đại tá Ngạc, tôi nhận thấy Ông là một vị chỉ huy có trách nhiệm, biết dự trù các tình huống, cẩn thận, trầm tĩnh biết cách sử dụng và động viên nhân viên dưới quyền, theo tôi biết ông thức gần sáng đêm để vạch kế hoạch cho cuộc hành quân tái chiếm các đảo đã bị Trung cộng lấn chiếm.”
Sáng sớm ngày hôm sau là ngày 19.1.1974, nhận được thông tin từ Sài Gòn ra lệnh tái chiếm các đảo bị địch lấn chiếm. Các Sĩ Quan trưởng khẩu của những chiến hạm đều quyết tâm bắn chiến hạm địch trước. Tuy nhiên bộ chỉ huy hành quân cũng đã phân tích lợi hại, và đã thống nhất phương án đổ bộ lên đảo.
 * Toán Hải kích từ HQ 5 vào đảo:

  HQ Thiếu úy Minh kể về toán Hải kích từ HQ5 vào đảo như sau:
    Khoảng gần 7 giờ sáng ngày 19.1.1974, HQ5 cho đổ bộ toán người Nhái Hải kích do Thiếu úy Đơn chỉ huy. Các người lính Hải kích bận quần sọt ở trần, võ trang súng M16, M18, M79 cả AK bá xếp và B40, đại liên M60, M72 và dao găm.
   Khi toán Hải kích tới đảo, Thiếu úy Đơn, trưởng toán, cho dàn hàng ngang chuẩn bị xung phong. Từ chiến hạm HQ5 Thiếu úy Minh thấy lính TC chạy ra ngăn. Thiếu úy Đơn giơ cao khẩu colt 45 hô xung phong. Một Hải kích tên Long cầm khẩu đại liên M60 xung phong nã đạn về phía địch, địch bắn trả từ những công sự đã bố trí sẵn. Quân ta anh dũng nhưng tình thế hoàn toàn bất lợi do địa hình hoàn toàn trống trải. Đội hình của toán đổ bộ còn nằm gần nửa người dưới nước biển. Hậu quả, Hạ sĩ Long tử trận, Thiếu úy Đơn cũng bị một viên đạn bắn trúng vào đầu, trong khi tay còn giơ cao khẩu colt 45 hô xung phong, vài nhân viên khác bị thương. Lúc nầy đạn thượng liên địch bắn xối xả, cày một lằn chắn ngang trước mặt toán đổ bộ, tạo thành một hàng rào chắn ngăn không cho toán đổ bộ tiến lên, nước bắn lên tung tóe, từ chiến hạm nhìn thấy rất rõ .
    Thấy tình thế bất lợi hoàn toàn, bộ chỉ huy hành quân đành cho lệnh rút quân về chiến hạm. Các nhân viên bị thương đưa sang HQ4, còn các tử sĩ được quàng tại kho thả bóng của HQ5. Bộ chỉ huy hành quân báo cáo về Sài Gòn. SG ra lệnh tạo điều kiện tái lập đầu cầu đổ bộ tiến chiếm lại đảo. Bộ chỉ huy hành quân trình phương án mới là sẽ tấn công các chiến hạm địch trước, vì tái đổ bộ là không thể thực hiện được, SG chấp thuận. Lệnh ban ra là các chiến hạm pháo lên đảo, nếu chiến hạm địch tấn công ta, chiến hạm ta sẽ bắn trả (phải tuân thủ qui chế ngoại giao quốc tế). Song tình hình thực tế không thể làm như vậy được. Đại Tá Ngạc trình phương án mới là cho HQ10 pháo lên đảo Quang Hòa, làm hiệu lệnh tấn công, tất cả chiến hạm ta sẽ đồng loạt tấn công địch trước. SG chấp thuận, lệnh tác chiến được triển khai chi tiết đến các chiến hạm, phân định mục tiêu rỏ ràng cho từng chiến hạm, từng trưởng khẩu. Lúc nầy các khẩu pháo của cả hai bên tham chiến đã đồng loạt chỉa thẳng vào nhau.
Giờ G đã điểm, lúc nầy khoảng 10 giờ 25, trước đó ít lâu Đại Tá Ngạc cho mở máy âm thoại, tất cả hệ thống liên lạc đều nghe rõ tiếng pháo lịch sử phát ra từ chiến hạm
Hộ Hống Hạm Nhật Tảo HQ10, mở màn cho cuộc chiến Hoàng Sa năm 1974 …
” (hết trích).
 
Hình minh hoạ của TC, diễn tả lúc lâm chiến giữa các chiến hạm TC và VNCH vào khoảng 10:30 phút ngày 19.1.1974.
Hình do báo chí TC phổ biến trên mạng giữa chiến hạm của HQ VNCH và của HQ TC
 Những phát đạn đầu tiên:

   Theo như người bạn HQ Thiếu uý Phạm Thế Hùng trưởng khẩu đại bác 41 ly bên tả hạm cũng như HQ Trung uý Hà văn Ngân trưởng khẩu 76,2 ly trên HQ10 cùng thuật lại đại ý như sau:
“…Vào sáng ngày 19.1.1974, các chiến hạm chạy loanh quanh với nhau chừng 2 vòng, các chiến hạm của Trung cộng từ từ lảng ra xa hơn. Như một dấu hiệu khác thường, Hạm trưởng HQ10 liền xin lệnh trên cho mở bao súng, hạ nòng xuống, nạp đạn và đề phòng mọi bất trắc, nhưng lệnh trên không cho phép.
Chừng nửa giờ sau, 2 trong 4 chiến hạm của Trung cộng xích lại chạy song song với nhau. Như một kinh nghiệm chiến trường thúc đẩy Hạm trưởng ra lệnh hạ nòng súng, tháo bao, nạp đạn sẳn sàng và quay súng về phía tàu Trung cộng.
Ít phút sau, hai tàu Trung cộng này chạy gần sát vào nhau và thình lình cùng quay mũi song song tiến về phía HQ10, hướng 3:00 giờ.
Hạm trưởng ra lệnh tất cả súng hướng về mục tiêu 1 và mục tiêu 2.
HQ Trung uý Hà văn Ngân ở ụ súng lớn phía trước mũi (khẩu 76.2 ly) được lệnh nhắm vào mục tiêu 1.
Hạm trưởng lại xin lệnh nổ súng một lần nữa nhưng được trả lời chờ Sài Gòn quyết định.
Thần kinh thật căng thẳng, 2 tàu Trung cộng cứ từ từ đến gần, khi còn cách khoảng 200 thước – 250 thước, Hạm trưởng hét lớn “Bắn”. Tất cả hỏa lực trên tàu cùng nhả đạn. HQ10 khai hỏa đầu tiên do lệnh của chính Hạm trưởng ban ra.
Đây là phóng đồ 2 chiến hạm Trung cộng (389, 396) đang chỉa mũi thắng vào chiến hạm HQ10 để tận dụng tối đa hoả lực 2 bên chiến hạm của chúng để tấn công vào HQ10 trước khi trận hải chiến xảy ra. Ở vị thế nầy gần như một nửa hoả lực bên tả hạm HQ10 bị hạn chế tác xạ.
    Khoảng 5 phút sau, mục tiêu 1 (tàu Trung cộng) bốc khói mịt mù và lùi lại phía sau, tất cả hỏa lực trên chiến hạm HQ10 lại nhắm vào mục tiêu 2. HQ10 đến lúc này vẫn an toàn, đạn từ tàu Trung cộng bắn tới đều bay qua đầu hoặc nổ trên mặt nước trước mặt.
Vài phút sau, mục tiêu 2 cũng bốc khói, mục tiêu 1 tuy còn chút khói bốc lên, chạy trở vào gần HQ10, bắn trả lại HQ10 và HQ10 bắt đầu trúng đạn của tàu Trung cộng.
HQ10 bị trúng trái đạn đầu tiên ngay trên đài chỉ huy, Hạm trưởng cùng các sĩ quan và thủy thủ có nhiệm sở tác chiến trên đài chỉ huy chết hết, trừ Hạm phó bị thương nặng, bò xuống được sàn tàu…” (hết trích).
   Và cũng theo như bạn HQ Thiếu uý Phạm Thế Hùng trên HQ10 kể thì tinh thần chiến đấu của thuỷ thủ đoàn ở các chiến hạm ta rất anh dũng. Khẩu đại bác 42 ly bên hữu hạm do người bạn cùng khoá là HQ Thiếu uý Vũ Đình Huân làm trưởng khẩu đã đồng loạt nả những loạt đạn đầu tiên vào chiến hạm TC. Khoảng 5 phút đầu giao tranh, HQ10 chủ động làm cho chiến hạm địch bị thương nặng và lúng túng. Sau đó HQ10 bị trúng đạn ở hầm máy và đài chỉ huy. Không may, Thiếu úy Huân bị tử thương khi giao tranh vì khẩu đại bác 42 ly bên hữu hạm đối diện trực xạ với chiến hạm địch. Tức thì bạn Hùng đang là trưởng khẩu đại bác 41 ly ở tả hạm cầm khẩu M16 chạy sang khẩu 42 ly để tiếp tục bắn tàu địch. Theo như HQ Thiếu úy Hùng cho biết thì HQ10 đã bắn được nhiều quả hải pháo 76,2 ly vào chiến hạm TC. Có khá nhiều vỏ đạn 76,2 ly nằm rải rác tại giàn pháo 76,2 ly.
   Khi đài chỉ huy HQ10 bị trúng đạn, Hạm Trưởng cùng toàn thể nhân viên đi ca và nhiệm sở tác chiến trên đài chỉ huy tử thương, hầm máy cũng bị trúng đạn bốc cháy. Hạm Phó là HQ Đại uý Nguyễn Thành Trí lúc đó cũng bị thượng nặng ra lệnh đào thoát. Tuy vậy, Hạ sĩ Lê văn Tây và Ngô văn Sáu đang tác xạ vào chiến hạm địch, không chịu rời nhiệm sở tác chiến ở khẩu đại bác 20 ly tại sân sau, để đào thoát. Trước khi nhảy xuống bè, Chuẩn úy Tất Ngưu cũng kêu gọi HS1VC Tây nhảy theo nhưng Hạ sĩ Tây từ chối và nói:  “Thôi, tôi ở lại ăn thua đủ với Trung Cộng. Chuẩn cứ nhảy đi.”.
    Tóm lại, theo như những lời kể của các bạn cùng khoá cũng như của HQ Trung uý Hà văn Ngân trưởng khẩu 76,2 ly trên HQ10 thì HQ10 khai hoả đầu tiên khi 2 Trục Lôi Hạm mang số 389 và 396 của TC chạy ủi thẳng góc vào hửu hạm HQ10, thay vì HQ10 tác xạ hải pháo lên đảo Quang Hoà để làm phát súng lệnh theo như kế hoạch của Bộ Chỉ Huy hành quân đề ra. Ngay sau khi HQ10 tác xạ vào chiến hạm TC thì tất cả súng của chiến hạm ta đồng loạt nả vào chiến hạm địch.
   Trên HQ4, người bạn cùng khoá là HQ Thiếu uý Nguyễn Phúc Xá cũng đã anh dũng hy sinh khi chiến đấu với kẻ thù TC.
 Kết quả trận hải chiến:  
– Trận hải chiến kéo dài khoảng trên 30 phút. Các chiến hạm VNCH không đuổi theo các chiến hạm Trung cộng khi chiến hạm TC bị thương nặng nên phải ủi vào bải đảo san hô gần đó. Ngược lại các chiến hạm Trung cộng cũng không đuổi theo các chiến hạm VNCH khi bị thương cũng như gặp trở ngại tác xạ rời vùng chiến đấu.
– Khi chiến hạm Trung cộng bị trúng đạn của ta, chúng ủi vào bãi san hô gần đó thì chúng cho xả những trái khói bịt bùng chiến hạm, để giảm tầm quan sát của ta.
– Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau, 2 chiến hạm TC mang số 281 và 282 tăng viện vào vùng chiến bắn chìm chiến hạm Nhật Tảo HQ10 bất khiển dụng và đang lềnh bềnh tại vùng chiến.
– Ngoài ra, không có chiến hạm nào của Đệ Thất Hạm Đội Hoa Kỳ tiến vào nơi có cuộc giao tranh.
* Thiệt hại về phía HQ Việt Nam Cộng Hoà:  

HQ Dai uy Nguyen Thanh Tri, Ham Phó HQ10  da Vi Quoc Vong Than  trong luc dao thoat bang be
– Hộ tống hạm Nhật Tảo HQ10 bị bắn chìm. HQ Thiếu Tá Nguỵ Văn Thà với 42 quân nhân khác bị tử thương trong đó có Hạm Phó HQ Đại uý Nguyễn Thành Trí. 32 người mất tích, 23 thủy thủ trôi dạt trên biển được tàu của hãng Shell vớt, 16 chiến sĩ khác trôi dạt trên thuyền cao su về đến Quy Nhơn.
– Hai Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ4 và Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng HQ5 bị hư hại, mỗi chiến hạm có hai chiến sĩ bị tử thương.
– Tuần Dương Hạm HQ16 bị trúng đạn nghiêng một bên, được lệnh quay về Đà Nẵng, có một chiến sĩ bị tử thương.
– Có 43 chiến sĩ trên đảo đã bị bắt làm tù binh, trong đó có cố vấn Mỹ, Mr Gerald Kosh, được đưa về Quảng Châu, sau đó được trao trả cho VNCH qua Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế.
 * Thiệt hại về phía Trung cộng:
 Theo tài liệu nghiên cứu của nhà biên khảo, Bác sĩ Trần Đại Sĩ ở Pháp, từng đi công tác tại Trung cộng thì cho biết sự thiệt hại của Trung cộng như sau:
– 
Liệp Tiềm Đỉnh (Hộ Tống Hạm) Kronstadt, ký số 271, Hạm trưởng là Đại-tá Vương Kỳ Vy, tử thương. Chiến hạm K271 bị chìm.
 
Liệp Tiềm Đỉnh (Hộ Tống Hạm) Kronstadt, ký số 274, Hạm trưởng là Đại-Tá Quan Đức, tử thương. Đây là soái hạm của chiến dịch. Tư lệnh mặt trận là Đô đốc Phương Quang Kinh, Tư lệnh phó Hạm đội Nam Hải của Trung cộng tử thương. Hộ tống hạm K274 bị hư hại nặng và ủi vào bãi san hô Quang Hoà. Sau đó được trục vớt đưa về đảo Hải Nam.
 
Tảo Lôi Hạm (Trục Lôi Hạm), ký số 389, bị chìm, Hạm trưởng là Trung tá Triệu Quát, tử thương.
 
Tảo Lôi hạm (Trục Lôi Hạm), ký số 396, bị hư hại nặng, Hạm trưởng là Đại-Tá Diệp Mạnh Hải, tử thương.
Ngoài ra còn có nhiều sĩ quan và binh sĩ TC bị tử thương.
Soai ham TC bi hu hai nang, tap vao dao san ho gan do, bi chim. Sau do duoc truc vot va dua ve dao Hai Nam
Soái hạm HQ TC, K274 bị chìm sau khi ủi vào bãi san hô ở đảo Quang Hoà.  

   Thay lời kết: Vào tháng 12 năm 2008 tôi hân hạnh có được nhiều cơ hội tiếp xúc với Đô Đốc Thoại khi Đô Đốc Thoại đến Đức quốc để cùng với Luật Sư Nguyễn Thành đến từ Mỹ, Luật Sư Trần Thanh Hiệp đến từ Pháp thuyết trình về chủ đề „Hội Luận về Hiện Tình Lãnh Thổ và Lãnh Hải Việt Nam được tổ chức tại Frankfurt am Main, Đức Quốc ngày 06.12.2008. Nhờ vậy tôi biết thêm một số chi tiết cần để ý về Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19.1.1974:

–   Đô đốc Thoại cho biết rằng vào ngày 17.1.1974 Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn đến thăm viếng Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải. Nhân dịp nầy tại Trung Tâm Hành Quân, Đô Đốc Thoại đã trình bày về hiện tình Hoàng Sa. Sau phần thuyết trình, khoảng 15 phút, Đô Đốc Thoại nhận chỉ thị trực tiếp từ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu với thủ bút của Tổng Thống. 
Tóm lược phần chỉ thị cho Đô Đốc Thoại:

Thứ nhứt là tìm đủ mọi cách ôn hòa mời các chiến hạm Trung Cộng ra khỏi lãnh hải Việt Nam Cộng Hòa. Thứ hai, nếu họ không thi hành thì được nổ súng cảnh cáo trước mũi các chiến hạm này và nếu họ ngoan cố thì toàn quyền xử dụng vũ khí để bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa.“

Tổng thống Thiệu rời Bộ Tư Lịnh Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải sau khi ra chỉ thị về biện pháp đối
phó với Trung Cộng khi hạm đội Trung Cộng xâm nhập hải phận Việt Nam Cộng Hòa tại Hoàng Sa (1974).
–  Sau khi trận chiến xảy ra, Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải đã xin Bộ Tư Lệnh Hải Quân tăng viện cho chiến dịch bảo vệ Hoàng Sa thêm Tuần Dương Hạm Trần Quốc Toản HQ6 và Hộ Tống Hạm Chí Linh HQ11.
–  Khi nghe trận hải chiến bắt đầu thì Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Vùng 1 Chiến Thuật, đã đến Trung Tâm Hành Quân của BTL Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải để được nghe Đô Đốc Thoại trình bày diễn tiến trận hải chiến. Lúc đó vị cố vấn Mỹ tại Sài Gòn cho Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại, Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải biết qua vị cố vấn Hoa Kỳ của Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải thì TC có 17 chiến hạm, trong đó có 4 tàu ngầm đang hướng về Hoàng Sa.
   Ngay lúc đó cố vấn trưởng Hoa Kỳ của Hải Quân Vùng 1 Duyên Hải bước vào Trung Tâm Hành Quân cho Đô Đốc Thoại biết phản lực cơ chiến đấu của Trung Cộng sắp cất cánh từ đảo Hải Nam để tấn công hai chiến hạm vừa được vị Tư Lệnh Vùng 1 Duyên Hải chỉ định hướng về Hoàng Sa để gia nhập Hải Đội của Đại tá Ngạc…“ (hết trích)
   Được biết sau trận hải chiến Hoàng Sa 19.1.1974 Bộ Tư Lệnh HQ VNCH có kế hoạch thực hiện 2 chiến dịch Bạch Đằng 50 và Bạch Đằng 52 nhằm tái chiếm quần đảo Hoàng Sa đã bị Hải quân TC xâm chiếm. 

    Chiến hạm HQ503 mà tôi phục vụ là loại Dương Vận Hạm (LST) cũng nằm trong danh sách của chiến dịch. Có lẽ chiến hạm tôi được trưng dụng vì vừa có thể chở quân, vũ khí đạn dược, xe tăng dưới hầm và trên boong còn có thể chở được máy bay trực thăng, đại bác. Nhưng có lẽ vì cộng quân Bắc Việt gia tăng gây áp lực trên các mặt trận địa chiến vào năm 1974 nên 2 chiến dịch BĐ 50 và BĐ 52 không thể thực hiện được và đã được huỷ bỏ. Có lẽ Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH cũng đã cân nhắc kỹ càng về mối tương quan lực lượng Hải quân giữa ta và Trung cộng cũng như tình hình chiến sự bất lợi cho ta trong thời điểm đó.

Tôi ghi lại nơi đây hình ảnh Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại đã được mời đến Đức Quốc ngày 06.12.2008 để trình bày về Trận Hải Chiến Hoàng Sa 19.1.1974. Đó cũng là ý muốn của cựu Tư Lệnh Chiến trường và cũng là cựu Chỉ Huy Liên Đoàn Đặc Nhiệm năm xưa.

Thuyết trình đoàn: Hội Luận về Hiện Tình Lãnh Thổ và Lãnh Hải Việt Nam” ngày 6.12.2008
tại Frankfurt am Main, Germany
Từ trái: Luật Sư Nguyễn Thành (Mỹ), Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại (Mỹ), Luật Sư Trần Thanh Hiệp (Pháp), Kỹ Sư Nguyễn Văn Phảy (Đức quốc, cựu SV Đại Học Luật Khoa SG, Ban Công Pháp làm ĐHV).
(Hình được trích từ báo Người Việt Tây Bắc (USA) số 1774 Thứ Sáu Ngày 12 tháng 12 năm 2008)
 Mời xem tiếp Những Mùa Xuân Ghi Dấu (Phần 3): Mùa Xuân Ất Mão 1975 – Đám Cưới, Di Tản Quân Dân Cán Chính và những tháng năm kế tiếp:

 
Nguyễn văn Phảy
Xuân Quý Tỵ 2013 in Germany 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

 http://navygermany.gerussa.com/main/van%20nghe/baivo/NhungMuaXuanGhiDau_02.htm


Huyền thoại Nelson Mandela – Thùy Dương

Ông Mandela nhậm chức Tổng thống Nam Phi năm 1994.

Thùy Dương

Hãy tưởng tượng bạn lớn lên ở một đất nước mà uống nước nhầm vòi cũng có thể bị tống giam; nơi mà bạn làm việc như hàng xóm nhưng chỉ vì màu da nên lương cả năm không bằng lương một tuần của anh ta; một đất nước mà chính phủ coi thường tổ tiên và lối sống của bạn. Đó chính là đất nước của Nelson Mandela, vị tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi. Lớn lên dưới chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid hà khắc, thay vì cúi đầu trước sự bất công, Mandela đã trở thành một chiến binh quả cảm trong cuộc chiến giải phóng đất nước khỏi ách phân biệt chủng tộc. Trong cả quãng đời hoạt động của mình, ông đã trở thành một nhà lãnh đạo được cả thế giới tôn vinh là “Người anh hùng vì tự do”.

Làng Mvezo - nơi Mandela chào đời.

Cậu bé Rolihlahla Mandela sinh ngày 18/7/1918 trong ngôi làng Mvezo bé nhỏ trên bờ sông Mbashe ở Transkei, Nam Phi. Rolihlahla trong ngôn ngữ của người Bantu da đen ở Nam Phi có nghĩa đen là “kéo cành cây”, nhưng thông thường được hiểu là “người gây rắc rối”.
Cha của cậu bé Mandela là người đứng đầu bộ lạc ở Mvezo đồng thời là cố vấn của các trưởng tộc, nhưng mất cả hai chức tước và tài sản do không được lòng chính quyền thuộc địa. Lúc đó, Mandela mới vừa lọt lòng và đã buộc phải theo cả nhà đến ở làng Qunu, một ngôi làng còn nhỏ hơn nằm ở phía bắc Mvezo. Qunu chỉ có mấy trăm người, co cụm trong một thung lũng hẹp đầy cỏ cây, không có đường đi lại, chỉ có những con đường nhỏ nối các đồng cỏ với nhau.
Cả nhà Mandela phải sống trong ba cái lều vách trát bằng bùn, nhìn từ xa như những cái tổ ong. Trong ba cái lều, một dùng để nấu ăn, một để ngủ và một để làm nhà kho. Lối vào duy nhất là cái cửa thấp đến mức ra vào phải cúi khom người. Như những người cùng làng, gia đình Mandela phải lấy nước từ sông suối, ăn những thứ rẻ tiền như ngô, kê, bí ngô, đậu được nấu ngoài trời. Những gia đình giàu hơn còn mua được trà, cà phê và đường – những thứ xa xỉ ngoại lai với phần lớn người Qunu. Phụ nữ và trẻ con trong làng đều khoác trên mình những cái chăn nhuộm màu đất, chỉ vài người Thiên chúa giáo trong làng mặc những thứ quần áo “tây” hơn.
Ngay từ khi còn bé, phần lớn thời gian cậu bé Mandela dành để lang thang trên thảo nguyên, đánh lộn với lũ trẻ con cùng làng rồi tối đến lại ăn chung ngủ chung với những đứa trẻ đó. Mới lên 5 nhưng Mandela đã phải đi chăn cừu, chăn bê trên cánh đồng và cậu bé lấy đó làm thú vui. Trong lúc cừu và bê mải miết gặm cỏ, Mandela biết cách bắn chim bằng súng cao su, lấy mật ong và quả rừng, đào các loại rễ cây ăn được, uống dòng sữa ấm ngọt trực tiếp từ bò cái, bơi lội thỏa thích trong dòng suối trong mát lạnh. Sau những ngày chơi đùa mệt lả, Mandela về với túp lều nơi mẹ đang nấu ăn tối.
Cuộc sống của cậu bé Mandela được nhào nặn, vây quanh bởi phong tục, nghi lễ và những điều cấm kỵ. Con trai theo con đường mà cha đã dọn sẵn, con gái theo dấu chân của mẹ.
Mandela trở thành người đầu tiên trong gia đình được đến trường học. Ngày đầu tiên đi học, theo phong tục thời bấy giờ, cô giáo Mandela đã đặt cho cậu cái tên mới Nelson, theo người châu Âu – những người đã đặt chân đến Nam Phi từ thế kỷ 18 và chiếm mảnh đất này làm thuộc địa. Thay vì khoác một cái chăn như hàng ngày, Mandela lần đầu được mặc quần, một cái quần của cha được sửa lại.
Khi Mandela 9 tuổi, cha cậu chết vì bệnh phổi. Từ đó, cuộc đời cậu bé đột ngột thay đổi. Mandela được tù trưởng Jongintaba Dalindyebo nhận nuôi để tỏ lòng biết ơn người cha quá cố của cậu, người đã từng tiến cử ông làm tù trưởng.
Mandela nhanh chóng phải rời bỏ cuộc sống vô tư lự ở làng Qunu, thậm chí còn sợ rằng cậu sẽ không bao giờ được nhìn thấy ngôi làng của mình. Cậu được đưa đến Mqhekezweni, thủ phủ tỉnh Thembuland – nơi có dinh thự của tù trưởng. Dù trong lòng vẫn vấn vương làng cũ nhưng Mandela nhanh chóng thích nghi với môi trường mới và phức tạp hơn ở Mqhekezweni. Ở đây, Mandela có địa vị và được đối xử như hai người con của tù trưởng Jongintaba là Justice và Nomafu.
Hàng ngày, Mandela đến trường học bên cạnh dinh thự, học tiếng Anh, lịch sử và địa lý. Trong chính khoảng thời gian này, Mandela đã tỏ ra quan tâm đến lịch sử châu Phi, những câu chuyện được các tù trưởng mang đến mỗi khi bàn việc tại dinh thự của cha nuôi. Cậu biết rằng người châu Phi đã sống khá yên bình cho đến khi người da trắng xuất hiện.
Theo lời các tù trưởng, trẻ con Nam Phi từng sống như anh em một nhà nhưng chính người da trắng đã phá vỡ mối quan hệ đó. Trong khi người da đen chia sẻ đất đai, không khí, nước uống với người da trắng thì người da trắng lại vơ hết về cho mình.
Khi 16 tuổi, Mandela tham gia nghi lễ truyền thống cắt bao quy đầu của người châu Phi cùng 25 cậu bé khác để đánh dấu thời điểm cậu chính thức trở thành một người lớn, một người đàn ông thực thụ. Nghi lễ này không chỉ là một ca phẫu thuật mà còn là một nghi lễ rất tỉ mỉ. Theo truyền thống châu Phi, một người đàn ông chưa trải qua nghi lễ này không thể thừa kế tài sản của cha, kết hôn hay tham gia các nghi lễ của bộ tộc.
Tâm trạng háo hức, vui mừng xen lẫn hồi hộp của Mandelan chợt chùng xuống khi tù trưởng Meligqili lên phát biểu trước “những người đàn ông mới lớn” rằng họ bị bắt làm nô lệ trong chính quê hương của mình, rằng mảnh đất của họ bị người da trắng xâm chiến, rằng họ sẽ không bao giờ có quyền làm chủ chính bản thân mình. Vị tù trưởng than vãn rằng những thanh niên trẻ chỉ lãng phí thời gian nếu họ chỉ sống và làm những nhiệm vụ vô hồn cho người da trắng. Về sau, Mandela thừa nhận rằng cậu không hoàn toàn hiểu những lời của tù trưởng, nhưng chính những lời đó lại hình thành trong cậu lòng quyết tâm mang về độc lập cho Nam Phi.
Mandela theo học trường nội trú Clarkebury của Hội giám lý và tìm thấy niềm đam mê học hành và tiến bộ rất nhanh. Năm 1939, Mandela vào học trường Đại học College of Fort Hare, trường đại học duy nhất dành cho người da đen ở Nam Phi bấy giờ. Fort Hare được coi như trường Oxford hay Harvard của Nam Phi, thu hút rất nhiều học giả từ mọi nơi ở vùng tiểu Sahara.
Ngay từ năm đầu đại học, Mandela đã tập trung học để trở thành một phiên dịch viên hoặc một thư ký – những nghề được coi là tốt nhất đối với một người da đen thời bấy giờ. Năm thứ hai, Mandela được bầu vào Hội đồng đại diện sinh viên (SRC).
Từ lâu, sinh viên vốn không hài lòng với đồ ăn ở trường và việc SRC không có thực quyền gì. Phần lớn sinh viên đã tuyên bố tẩy chay SRC nếu yêu cầu của họ không được đáp ứng. Cùng quan điểm với đa số sinh viên, Mandela đã từ bỏ vị trí trong SRC, bị hiệu trưởng coi là bất hợp tác và đã trục xuất khỏi trường trong cả năm còn lại. Ông chỉ cho Mandela quay lại nếu chịu vào SRC. Lúc về nhà, cha nuôi của Mandela đã nổi giận, buộc anh phải nhận lỗi và quay lại trường vào mùa thu.
Chiến đấu không mệt mỏi

Mandela năm 1937

Vài tuần sau khi Nelson Mandela về nhà, tù trưởng Jongintaba (Regent) thông báo rằng ông đã sắp xếp một cuộc hôn nhân cho cậu con trai nuôi. Vị cha nuôi muốn đảm bảo rằng cuộc đời Mandela sẽ được lên kế hoạch đúng đắn và theo phong tục của bộ tộc, ông có quyền sắp đặt hôn nhân cho Mandela.
Quá sốc trước thông tin này, với cảm giác bị mắc kẹt và cho rằng mình không còn lựa chọn nào khác, Mandela đã bỏ nhà trốn đến thành phố Johannesburg. Chàng thanh niên làm đủ mọi việc, từ bảo vệ cho đến thư ký trong khi vẫn hoàn thành nốt bằng cử nhân từ xa. Sau đó, anh đã ghi danh vào trường Đại học Witwatersrand ở Johannesburg để học luật.
Thời kỳ đó, Nam Phi chìm trong chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid hà khắc. Apartheid trong tiếng Hà Lan nghĩa là tách biệt, dùng để chỉ hệ thống phân biệt chủng tộc ở Nam Phi giữa thiểu số người da trắng và phần đông người da đen trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Chế độ này trở thành chính sách phát triển chính thức của Nam Phi từ năm 1948 khi đảng Quốc gia lên nắm quyền.
Kể từ năm đó, hàng loạt đạo luật Apartheid đã ra đời. Theo những đạo luật này, người da đen đa số bị đối xử khác hẳn với người da trắng thiểu số. Người da đen không được kinh doanh hay hành nghề ở những khu vực dành riêng cho người da trắng trừ khi có phép. Các cơ sở giao thông và dân sự đều được phân chia rõ ràng. Xe buýt có loại dành cho người da trắng và người da đen. Điểm chờ xe buýt cũng riêng biệt. Tàu hỏa, bệnh viện, xe cứu hỏa dành cho người da trắng cũng tốt hơn dành cho người da đen. Hồ bơi công cộng, cầu đi bộ, chỗ đỗ xe, sân vườn, công viên, nhà vệ sinh công cộng, rạp chiếu phim… tất cả đều có biển chỉ dẫn “Dành cho người da đen” hoặc “Chỉ dành cho người da trắng”.
Không chỉ trong hoạt động xã hội, người da đen còn bị phân biệt đối xử và bị kỳ thị trong các hoạt động kinh tế, chính trị. Lương của người da trắng cao hơn rất nhiều người da đen. Người da đen bị ngăn cấm thành lập các liên đoàn thương mại và phải ở trong các khu nhà tập trung ổ chuột nghèo nàn, bị kiểm soát ngặt nghèo trong các ngành khai mỏ, nông trại, nhà máy…ở Nam Phi.
Chứng kiến cảnh bất công đó, Mandela sớm trở thành một người hoạt động tích cực trong phong trào chống chủ nghĩa Apartheid rồi gia nhập phong trào Đại hội Dân tộc Phi (ANC) năm 1942. Trong lòng ANC, một nhóm người châu Phi trẻ đã đoàn kết với nhau, gọi mình là Liên đoàn thanh niên của ANC (ANC Youth League) với mục tiêu biến ANC thành một phong trào quần chúng rộng rãi, tận dụng sức mạnh của hàng triệu nông dân và người lao động vốn không có tiếng nói dưới chế độ do người da trắng cầm quyền. Điều đặc biệt là, Liên đoàn thanh niên ANC cho rằng những biện pháp cũ của ANC là “kiến nghị lịch sự” không có hiệu quả.

Mandela tại Văn phòng luật Mandela & Tambo ở Johannesburg năm 1952.

Năm 1949, ANC chính thức áp dụng các phương pháp của Liên đoàn thanh niên gồm tẩy chay, đình công, bất hợp tác và bất phục tùng nhằm đạt được quyền công dân toàn diện, phân phối lại đất đai, quyền công đoàn, giáo dục bắt buộc và miễn phí cho mọi trẻ em.
Trong suốt 20 năm, Mandela đã chỉ đạo những hoạt động hòa bình, phi bạo lực chống lại chính phủ Nam Phi và chính sách phân biệt chủng tộc, nổi bật là hai chiến dịch năm 1952 và 1955.
Ông còn thành lập công ty luật Mandela & Tambo cùng với Oliver Tambo – một sinh viên ưu tú mà ông đã quen khi học ở trường Fort Hare. Công ty của ông cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý miễn phí và giá rẻ cho những người da đen.
Năm 1956, Mandela và 150 người khác bị bắt và kết tội phản quốc vì các hoạt động chính trị của họ nhưng về sau được tuyên trắng án. Trong lúc đó, ANC gặp nhiều thách thức từ một nhóm gồm các nhà hoạt động người da đen – những người cho rằng biện pháp hòa bình của ANC là không có hiệu quả. Nhóm này tách ra khỏi ANC và điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến ANC, làm mất đi một lực lượng hỗ trợ đáng kể.
Khi chính phủ Nam Phi cấm ANC hoạt động, Mandela đành phải rút vào bí mật. Một cuộc sống bí mật đòi hỏi ông phải cực kỳ cảnh giác, mọi hành động đều phải có kế hoạch, kể cả những việc nhỏ. Mandela đã rút ra được một điều rằng không tin bất kỳ điều gì nếu bạn là một người da đen ở Nam Phi, đặc biệt là khi bạn có một cuộc sống bí mật.
Trong thời gian này, Mandela đã trở thành một sinh vật của bóng đêm. Ông ẩn mình ban ngày và chỉ làm việc khi trời tối. Mọi công việc của ông chủ yếu ở Johannesburg nhưng ông cũng phải đi ra ngoài nếu cần thiết. Dù là người thích giao du nhưng ông thậm chí thích ở một mình hơn để có thể suy nghĩ, lên kế hoạch hành động. Tuy nhiên, có những lúc Mandela cảm thấy cực kỳ cô đơn và nhớ gia đình.
Cuộc sống bí mật đã khiến Mandela học được cách “vô hình”. Ông biết cách bước vào một căn phòng mà không bị ai chú ý. Ông không cắt tóc hay cạo râu và phần lớn thường đóng giả làm lái xe, đầu bếp hay người làm vườn. Ông thường mặc một bộ quần áo màu xanh da trời, kèm một cái mũ của người lái xe. Đóng giả một lái xe rất thuận tiện vì ông có thể đi lại và giả vờ đang lái xe cho ông chủ.
Có lúc Mandela đi cùng người Hồi giáo ở Cape, có lúc đi cùng công nhân đồn điền mía ở Natal, khi lại đồng hành cùng công nhân nhà máy ở cảng Elizabeth. Mandela đến rất nhiều thành phố khác nhau ở Nam Phi để tham gia các cuộc họp bí mật ban đêm. Ông thoắt ẩn thoắt hiện khiến cảnh sát rất tức giận.
Bản thân Mandela chưa bao giờ là một người lính, chưa bao giờ ra trận, chưa bao giờ chĩa súng vào kẻ thù nhưng lại được giao nhiệm vụ xây dựng một đội quân. Đó chính là một nhóm vũ trang của ANC có tên Umkhonto we Sizwe hay còn gọi là MK. Mandela sáng lập nhóm này để chuyên dùng các chiến thuật du kích và phá hoại nhằm chấm dứt chủ nghĩa Apartheid. Mandela đã không còn tin vào các biện pháp đấu tranh hòa bình như trước. Giờ đây, ông cho rằng phải đấu tranh bằng bạo lực mới có thể làm nên chuyện.
Ngày 26/6/1961 là Ngày Tự do của Nam Phi. Mandela đã gửi một bức thư cho báo chí, kêu gọi tổ chức một hội nghị hiến pháp toàn quốc. Ông tuyên bố nếu chính phủ không tổ chức hội nghị này, sẽ có một chiến dịch bất hợp tác trên quy mô toàn quốc. Mandela kêu gọi người dân: “Tôi sẽ sát cánh cùng các bạn chiến đấu chống lại chính phủ từng bước, cho đến khi giành chiến thắng. Các bạn sẽ làm gì? Các bạn có đến với chúng tôi hay sẽ hợp tác với chính phủ để đàn áp nguyện vọng và đòi hỏi của chính người dân nước bạn? Các bạn sẽ yên lặng và thờ ơ trong một vấn đề sống còn với người dân của chúng ta? Về phần tôi, tôi đã có lựa chọn của mình. Tôi sẽ không rời Nam Phi cũng sẽ không đầu hàng. Chỉ trải qua gian khó, hi sinh và hành động quân sự chúng ta mới giành được tự do. Cuộc đấu tranh này là cuộc đời tôi. Tôi sẽ tiếp tục chiến đấu vì tự do cho đến ngày cuối cùng”.
Những thời khắc đen tối
Năm 1961, Mandela “đạo diễn” một cuộc đình công của công nhân toàn quốc trong 3 ngày. Ông đã bị bắt ngay năm sau đó vì đóng vai trò lãnh đạo trong cuộc đình công và bị kết án 5 năm tù. Năm 1963, ông lại bị đưa ra xét xử. Lần này, ông và 10 thủ lĩnh ANC bị kết án tù chung thân vì các tội danh liên quan đến chính trị.

Mandela khâu áo trong sân nhà tù năm 1966.

Trong suốt 27 năm bị tù đày, Mandela bị giam trên đảo Robben tới 18 năm. Những năm tháng này là khoảng thời gian đen tối trong cuộc đời của Mandela. Ông từng viết: “Trong tù, bạn phải đối mặt với thời gian. Không có gì khủng khiếp hơn điều này”.
Bị giam trong phòng nhỏ hẹp, lấy sàn nhà là giường, phải lao động khổ sai, chỉ được tiếp một khách mỗi năm trong 30 phút, chỉ được viết và nhận một bức thư trong 6 tháng, nhưng cuộc sống tù đày trên đảo Robben đã trở thành môi trường tôi luyện Mandela. Bằng sự thông minh, tinh thần quyết chiến, Mandela đã đóng vai trò lãnh đạo bạn tù, trở thành ông chủ trong chính nhà tù của mình.

Phòng giam của Mandela trên đảo Robben.

Một ngày tù của ông diễn ra như thế này: Ông và các tù nhân khác bị cai ngục đánh thức lúc 5 giờ 30 sáng nhưng mãi đến 6 giờ 45 mới được ra khỏi phòng giam sau khi đã lau phòng, gấp thảm và chăn. Tù nhân không có nước máy, không có nhà vệ sinh trong phòng giam. Thay vào đó là một cái xô vệ sinh bằng sắt đường kính khoảng 25 cm, có nắp đậy bằng sứ và lõm ở giữa để đựng nước dùng khi cạo râu, rửa mặt, rửa tay.
Khi được ra khỏi phòng giam, việc đầu tiên họ làm là đổ và rửa xô. Điều thú vị nhất trong khi làm việc này là có cơ hội để trao đổi với bạn tù vài tiếng, tất nhiên là phải khẽ khàng và nhanh chóng vì cai ngục không thích tù nhân lề mề.
Sau đó đến giờ ăn sáng. Trong vài tháng đầu tiên ở tù, Mandela và các tù nhân được các tù nhân thường mang bữa sáng đến tận phòng giam. Bữa sáng gồm cháo ngô đặc, ngũ cốc được đổ vào bát và đẩy qua chấn song phòng giam. Cũng giống như mọi thứ khác trong tù, khẩu phần ăn cũng có sự phân biệt đối xử. Nói chung, người da màu và người da đỏ được ăn ngon hơn một chút so với người châu Phi. Gọi là ngon hơn nhưng thực ra không có gì khác nhau đáng kể giữa một loại thức ăn có mùi vị khó chịu và một loại không thể ăn được.
Sau vài tháng đầu, tù nhân sẽ ăn ở khu vực sân. Trong bữa sáng, mỗi người được uống một cốc đựng một thứ dung dịch gọi là cà phê, nhưng thực tế đó là ngô nghiền rang cháy đen và pha với nước nóng.
Giữa bữa sáng, Mandela và các bạn tù có thể bị cai ngục bắt ngừng ăn, ra ngoài phòng giam để kiểm tra. Nếu ba khuy áo khoác kaki không được cài ngay ngắn, nếu không bỏ mũ xuống khi cai ngục đi qua, nếu không dọn phòng giam sạch sẽ, họ sẽ bị coi là vi phạm luật lệ nhà tù và bị phạt dưới hình thức giam biệt lập hoặc cắt bữa ăn.
Sau bữa ăn, tù nhân phải lao động khổ sai, phần lớn là đập đá trong sân nhà tù đến tận trưa mà không được nghỉ. Ăn trưa xong, họ phải làm việc đến tận 4 giờ chiều, rồi điểm danh, dọn dẹp, tắm táp bằng nước lạnh bất kể thời tiết.
Chính xác lúc 4 giờ 30 chiều, sẽ có một tiếng gõ lớn trên cánh cửa gỗ cuối hành lang báo hiệu bữa ăn tối sắp được đưa vào. Bữa tối là cháo ngô đặc, đôi khi được thả cà rốt hoặc bắp cải hay củ cải đường nhưng tù nhân thường phải tìm kỹ mới thấy. Tù nhân phải ăn cùng một loại đến hàng tuần, đến khi cà rốt và bắp cải đã héo mốc và họ chán đến tận cổ. Đôi khi họ được một mẩu thịt nhỏ trong bát cháo, nhưng phần lớn là sụn.
Những thứ mà Mandela và các tù nhân khác phải nếm thậm chí còn không đạt tiêu chuẩn của nhà tù. Nguyên do là các tù nhân làm nhiệm vụ nấu ăn thường giữ lại những thức ăn ngon nhất cho họ và bạn bè họ. Họ cũng nhặt riêng những thứ ngon để đút lót cai ngục.
Đúng 8 giờ tối, cai ngục đêm sẽ vào trong hành lang, khóa trái cửa lại và đưa chìa khóa qua một cái lỗ nhỏ cho cai ngục khác ở bên ngoài. Cai ngục này sẽ đi đi lại lại dọc hành lang ra lệnh cho tù nhân ngủ. Những ai đang dở học hành sẽ được đọc đến tận 10 hoặc 11 giờ. Một ngày tù tội đã kết thúc. Với Mandela, ông phải trải qua 18 năm đằng đẵng như thế.
Chế độ nhà tù Apartheid khắc nghiệt đến mức Mandela thậm chí không được phép dự đám tang khi mẹ đẻ và con trai cả qua đời. Trong thời gian đen tối trong tù, Mandela bị bệnh lao và do là một tù nhân chính trị da đen, ông chỉ được chữa trị ở mức thấp nhất. Tuy nhiên, trước khi ra tù, Mandela đã học xong bằng cử nhân luật trường Đại học Luân Đôn theo chương trình học từ xa.
Trong một cuốn hồi ký năm 1981, điệp viên tình báo Nam Phi Gordon Winter tiết lộ rằng chính phủ Nam Phi âm mưu sắp xếp cho Mandela vượt ngục để định bắn chết ông trong lúc ông bị bắt lại. Tuy nhiên, âm mưu này đã bị tình báo Anh phá tan.
Năm 1982, Mandela và các thủ lĩnh ANC bị đưa tới nhà tù Pollsmoor để tiện liên lạc với chính phủ Nam Phi. Năm 1985, Tổng thống P.W. Botha đã đề xuất thả tự do cho Mandela với điều kiện ông từ bỏ cuộc đấu tranh vũ trang. Tuy nhiên, người tù da đen thẳng thừng bác bỏ đề nghị.
Trong khi Mandela và các thủ lĩnh khác của ANC bị tù đày hoặc phải sống lưu vong, thanh niên da đen Nam Phi đã làm mọi cách để chống lại nhà cầm quyền da trắng thiểu số. Họ coi Mandela là một biểu tượng không khuất phục trong cuộc phản kháng của người da đen.
Năm 1980, dưới sự lãnh đạo của ông Tambo, người từng chung văn phòng luật với Mandela và đang sống lưu vong, ANC đã phát động một chiến dịch quốc tế chống chế độ Apartheid và khéo léo hướng chiến dịch tới một mục tiêu duy nhất là đòi thả ông Mandela. Chiến dịch lên tới đỉnh điểm năm 1988 tại sân vận động Wembley ở Luân Đôn (Anh) khi khoảng 72.000 người và hàng triệu người xem TV trên toàn thế giới đã cùng hô vang “Hãy thả Nelson Mandela”.
Phong trào có sức mạnh lớn đến mức các lãnh đạo thế giới đã siết chặt lệnh trừng phạt chính quyền Nam Phi. Áp lực trong nước và quốc tế ngày càng lớn và đã có kết quả. Ngày 11/2/1990, Tổng thống Frederik Willem de Klerk đã ra lệnh thả Mandela, đồng thời tuyên bố bỏ lệnh cấm ANC, dỡ bỏ hạn chế đối với các nhóm chính trị và hủy hành quyết.
Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi
Sau khi được thả tự do, ông Nelson Mandela ngay lập tức kêu gọi các cường quốc không giảm áp lực với chính phủ Nam Phi để đòi cải cách hiến pháp. Một mặt, ông tuyên bố cam kết hướng tới hòa bình, mặt khác ông khẳng định cuộc đấu tranh vũ trang của ANC sẽ tiếp tục cho đến khi nào người da đen chiếm đa số ở Nam Phi được quyền bầu cử.

Năm 1991, ông Mandela được bầu làm chủ tịch đảng ANC, còn người bạn thân thiết và đồng nghiệp Oliver Tambo được bầu làm chủ tịch quốc gia. Mandela tiếp tục đàm phán với Tổng thống de Klerk về cuộc bầu cử đa sắc tộc đầu tiên ở Nam Phi. Người Nam Phi da trắng sẵn sàng chia sẻ quyền lực, tuy nhiên, nhiều người da đen muốn chuyển giao quyền lực hoàn toàn. Quá trình đàm phán thường xuyên căng thẳng và nhuốm màu bạo lực. Với cái tài của mình, Mandela đã phải cân bằng giữa một bên là áp lực chính trị và một bên là các cuộc đàm phán căng như dây đàn.
Nhờ nỗ lực hủy bỏ chế độ Apartheid, ông Mandela và Tổng thống de Klerk cùng được trao giải Nobel Hòa bình năm 1993. Nỗ lực của họ đã có kết quả khi ngày 27/4/1994, Nam Phi tổ chức cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên. Nelson Mandela đã nhậm chức tổng thống ngày 10/5/1994, trở thành tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi, trong khi ông de Klerk đảm nhiệm chức phó tổng thống.
Trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông Mandela đã thực hiện chuyển giao chế độ cầm quyền từ tay người da trắng thiểu số sang người da đen đa số. Ông đã tận dụng niềm đam mê thể thao của người Nam Phi để thúc đẩy hòa giải giữa người da đen và da trắng, khuyến khích người da đen ủng hộ đội bóng rugby quốc gia từng bị ghét bỏ. Tổng thống Mandela cũng có công lớn trong vực dậy nền kinh tế Nam Phi đang trên bờ sụp đổ.
Kể từ khi hết nhiệm kỳ tổng thống năm 1999, ông Mandela trở thành đại sứ cấp cao nhất của Nam Phi, đi đầu trong chiến dịch chống HIV/AIDS và giúp Nam Phi giành quyền đăng cai World Cup năm 2010. Ông cũng tham gia vào đàm phán hòa bình ở CHDC Cônggô, Burunđi và các nước khác ở châu Phi.
Năm 2004, ông Mandela rút lui khỏi công chúng để dành nhiều thời gian hơn cho gia đình – thứ mà ông đã phải hi sinh để theo đuổi tham vọng chính trị của mình. Trong mối quan hệ với vợ mình, bà Winnie Madikizela, ông Madela đã cảm thấy cực kỳ có lỗi vì những gì mà vợ ông đã phải chịu đựng, ông hối tiếc vì đã không có thời gian chăm lo cho gia đình. Tuy nhiên, với một “chiến binh” như Mandela, vợ và gia đình luôn xếp thứ hai sau tình yêu lớn ông dành cho ANC và cuộc đấu tranh tự do.
Bà Winnie kết hôn với ông Mandela đúng vào thời điểm quan trọng trong cuộc đấu tranh giành tự do ở Nam Phi. Cùng chung lý tưởng với ANC và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa Apartheid, hai vợ chồng ông không thể tận hưởng một cuộc sống gia đình bình thường. Dù chịu nhiều áp lực nhưng tình yêu mà hai người dành cho nhau tiếp tục lớn dần.
Trong gần 20 năm sống đời tù nhân trên đảo Robben, đối với ông Mandela, Winnie là trụ cột hỗ trợ và niềm an ủi không thể thiếu. Bà chấp nhận gánh nặng nuôi dạy con cái một mình. Bà chịu đựng những cuộc khủng bố từ chính phủ da trắng và không bao giờ ngừng tin tưởng vào cuộc đấu tranh giành tự do của chồng. Sự ngoan cường của Winnie đã củng cố tình yêu, sự tôn trọng của ông Mandela và khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ.
Tuy nhiên, căng thẳng nảy sinh do những khác biệt giữa ông Mandela và vợ đã khiến họ đi đến quyết định chia tay. Ông nói rằng quyết định chia tay không phải xuất phát từ việc bà Winnie ngoại tình.
Trong cuốn tự truyện, ông Mandela viết: “Có lẽ tôi bị lóa mắt trước một số điều nhất định vì phải chịu nỗi đau khi không thể hoàn thành vai trò của một người chồng với vợ tôi và người cha với các con tôi. Tôi cho rằng cuộc sống của vợ tôi khi tôi ở trong tù còn khó khăn hơn tôi, sự trở về của tôi cũng khó khăn với cô ấy hơn là với tôi. Cô ấy đã lấy một người mà người đó sẽ sớm rời bỏ cô ấy; người đàn ông đó trở thành thần thoại, và rồi thần thoại đó trở về nhà và xét cho cùng lại chỉ là một người đàn ông bình thường.

Ông Mandela và ông Klerk nhận giải thưởng Nobel Hòa bình ngày 10/12/1993.

Như tôi về sau đã nói trong đám cưới của con gái Zindzi, dường như số mệnh của những người đấu tranh cho tự do là phải có cuộc sống cá nhân bất ổn. Khi cuộc đời của bạn là đấu tranh, giống như cuộc đời tôi, hầu như không còn chỗ cho gia đình. Đó luôn là hối tiếc lớn nhất của tôi và là phần đau đớn nhất trong lựa chọn của tôi”.
Ông nói trong đám cưới đó: “Chúng tôi chứng kiến con cái trưởng thành mà không có sự dìu dắt của chúng tôi. Và khi chúng tôi ra khỏi tù, con tôi nói chúng con nghĩ rằng chúng con có một người bố và một ngày nào đó bố sẽ quay về. Nhưng thật thất vọng, bố chúng con về và ông ấy bỏ chúng con một mình vì giờ ông ấy đã là người cha của cả dân tộc”.
Ông Mandela kết luận: “Là cha của cả dân tộc là một vinh dự lớn lao, là một người cha của gia đình là một niềm vui lớn hơn. Nhưng đó là niềm vui mà đến nay tôi có quá ít”.
Vào sinh nhật thứ 80, Nelson Mandela kết hôn với bà Graca Machel, quả phụ của cựu Tổng thống Môdămbích. Ông vẫn tiếp tục đi khắp thế giới, gặp gỡ các lãnh đạo, tham gia hội nghị và giành được nhiều giải thưởng. Phần lớn công việc của ông liên quan đến Tổ chức Mandela, một quỹ từ thiện mà ông thành lập.

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

nghiencuulichsu.com


Huyền thoại Nelson Mandela – Thùy Dương

Ông Mandela nhậm chức Tổng thống Nam Phi năm 1994.

Thùy Dương

Hãy tưởng tượng bạn lớn lên ở một đất nước mà uống nước nhầm vòi cũng có thể bị tống giam; nơi mà bạn làm việc như hàng xóm nhưng chỉ vì màu da nên lương cả năm không bằng lương một tuần của anh ta; một đất nước mà chính phủ coi thường tổ tiên và lối sống của bạn. Đó chính là đất nước của Nelson Mandela, vị tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi. Lớn lên dưới chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid hà khắc, thay vì cúi đầu trước sự bất công, Mandela đã trở thành một chiến binh quả cảm trong cuộc chiến giải phóng đất nước khỏi ách phân biệt chủng tộc. Trong cả quãng đời hoạt động của mình, ông đã trở thành một nhà lãnh đạo được cả thế giới tôn vinh là “Người anh hùng vì tự do”.

Làng Mvezo - nơi Mandela chào đời.

Cậu bé Rolihlahla Mandela sinh ngày 18/7/1918 trong ngôi làng Mvezo bé nhỏ trên bờ sông Mbashe ở Transkei, Nam Phi. Rolihlahla trong ngôn ngữ của người Bantu da đen ở Nam Phi có nghĩa đen là “kéo cành cây”, nhưng thông thường được hiểu là “người gây rắc rối”.

Cha của cậu bé Mandela là người đứng đầu bộ lạc ở Mvezo đồng thời là cố vấn của các trưởng tộc, nhưng mất cả hai chức tước và tài sản do không được lòng chính quyền thuộc địa. Lúc đó, Mandela mới vừa lọt lòng và đã buộc phải theo cả nhà đến ở làng Qunu, một ngôi làng còn nhỏ hơn nằm ở phía bắc Mvezo. Qunu chỉ có mấy trăm người, co cụm trong một thung lũng hẹp đầy cỏ cây, không có đường đi lại, chỉ có những con đường nhỏ nối các đồng cỏ với nhau.

Cả nhà Mandela phải sống trong ba cái lều vách trát bằng bùn, nhìn từ xa như những cái tổ ong. Trong ba cái lều, một dùng để nấu ăn, một để ngủ và một để làm nhà kho. Lối vào duy nhất là cái cửa thấp đến mức ra vào phải cúi khom người. Như những người cùng làng, gia đình Mandela phải lấy nước từ sông suối, ăn những thứ rẻ tiền như ngô, kê, bí ngô, đậu được nấu ngoài trời. Những gia đình giàu hơn còn mua được trà, cà phê và đường – những thứ xa xỉ ngoại lai với phần lớn người Qunu. Phụ nữ và trẻ con trong làng đều khoác trên mình những cái chăn nhuộm màu đất, chỉ vài người Thiên chúa giáo trong làng mặc những thứ quần áo “tây” hơn.

Ngay từ khi còn bé, phần lớn thời gian cậu bé Mandela dành để lang thang trên thảo nguyên, đánh lộn với lũ trẻ con cùng làng rồi tối đến lại ăn chung ngủ chung với những đứa trẻ đó. Mới lên 5 nhưng Mandela đã phải đi chăn cừu, chăn bê trên cánh đồng và cậu bé lấy đó làm thú vui. Trong lúc cừu và bê mải miết gặm cỏ, Mandela biết cách bắn chim bằng súng cao su, lấy mật ong và quả rừng, đào các loại rễ cây ăn được, uống dòng sữa ấm ngọt trực tiếp từ bò cái, bơi lội thỏa thích trong dòng suối trong mát lạnh. Sau những ngày chơi đùa mệt lả, Mandela về với túp lều nơi mẹ đang nấu ăn tối.

Cuộc sống của cậu bé Mandela được nhào nặn, vây quanh bởi phong tục, nghi lễ và những điều cấm kỵ. Con trai theo con đường mà cha đã dọn sẵn, con gái theo dấu chân của mẹ.

Mandela trở thành người đầu tiên trong gia đình được đến trường học. Ngày đầu tiên đi học, theo phong tục thời bấy giờ, cô giáo Mandela đã đặt cho cậu cái tên mới Nelson, theo người châu Âu – những người đã đặt chân đến Nam Phi từ thế kỷ 18 và chiếm mảnh đất này làm thuộc địa. Thay vì khoác một cái chăn như hàng ngày, Mandela lần đầu được mặc quần, một cái quần của cha được sửa lại.

Khi Mandela 9 tuổi, cha cậu chết vì bệnh phổi. Từ đó, cuộc đời cậu bé đột ngột thay đổi. Mandela được tù trưởng Jongintaba Dalindyebo nhận nuôi để tỏ lòng biết ơn người cha quá cố của cậu, người đã từng tiến cử ông làm tù trưởng.

Mandela nhanh chóng phải rời bỏ cuộc sống vô tư lự ở làng Qunu, thậm chí còn sợ rằng cậu sẽ không bao giờ được nhìn thấy ngôi làng của mình. Cậu được đưa đến Mqhekezweni, thủ phủ tỉnh Thembuland – nơi có dinh thự của tù trưởng. Dù trong lòng vẫn vấn vương làng cũ nhưng Mandela nhanh chóng thích nghi với môi trường mới và phức tạp hơn ở Mqhekezweni. Ở đây, Mandela có địa vị và được đối xử như hai người con của tù trưởng Jongintaba là Justice và Nomafu.

Hàng ngày, Mandela đến trường học bên cạnh dinh thự, học tiếng Anh, lịch sử và địa lý. Trong chính khoảng thời gian này, Mandela đã tỏ ra quan tâm đến lịch sử châu Phi, những câu chuyện được các tù trưởng mang đến mỗi khi bàn việc tại dinh thự của cha nuôi. Cậu biết rằng người châu Phi đã sống khá yên bình cho đến khi người da trắng xuất hiện.

Theo lời các tù trưởng, trẻ con Nam Phi từng sống như anh em một nhà nhưng chính người da trắng đã phá vỡ mối quan hệ đó. Trong khi người da đen chia sẻ đất đai, không khí, nước uống với người da trắng thì người da trắng lại vơ hết về cho mình.

Khi 16 tuổi, Mandela tham gia nghi lễ truyền thống cắt bao quy đầu của người châu Phi cùng 25 cậu bé khác để đánh dấu thời điểm cậu chính thức trở thành một người lớn, một người đàn ông thực thụ. Nghi lễ này không chỉ là một ca phẫu thuật mà còn là một nghi lễ rất tỉ mỉ. Theo truyền thống châu Phi, một người đàn ông chưa trải qua nghi lễ này không thể thừa kế tài sản của cha, kết hôn hay tham gia các nghi lễ của bộ tộc.

Tâm trạng háo hức, vui mừng xen lẫn hồi hộp của Mandelan chợt chùng xuống khi tù trưởng Meligqili lên phát biểu trước “những người đàn ông mới lớn” rằng họ bị bắt làm nô lệ trong chính quê hương của mình, rằng mảnh đất của họ bị người da trắng xâm chiến, rằng họ sẽ không bao giờ có quyền làm chủ chính bản thân mình. Vị tù trưởng than vãn rằng những thanh niên trẻ chỉ lãng phí thời gian nếu họ chỉ sống và làm những nhiệm vụ vô hồn cho người da trắng. Về sau, Mandela thừa nhận rằng cậu không hoàn toàn hiểu những lời của tù trưởng, nhưng chính những lời đó lại hình thành trong cậu lòng quyết tâm mang về độc lập cho Nam Phi.

Mandela theo học trường nội trú Clarkebury của Hội giám lý và tìm thấy niềm đam mê học hành và tiến bộ rất nhanh. Năm 1939, Mandela vào học trường Đại học College of Fort Hare, trường đại học duy nhất dành cho người da đen ở Nam Phi bấy giờ. Fort Hare được coi như trường Oxford hay Harvard của Nam Phi, thu hút rất nhiều học giả từ mọi nơi ở vùng tiểu Sahara.

Ngay từ năm đầu đại học, Mandela đã tập trung học để trở thành một phiên dịch viên hoặc một thư ký – những nghề được coi là tốt nhất đối với một người da đen thời bấy giờ. Năm thứ hai, Mandela được bầu vào Hội đồng đại diện sinh viên (SRC).

Từ lâu, sinh viên vốn không hài lòng với đồ ăn ở trường và việc SRC không có thực quyền gì. Phần lớn sinh viên đã tuyên bố tẩy chay SRC nếu yêu cầu của họ không được đáp ứng. Cùng quan điểm với đa số sinh viên, Mandela đã từ bỏ vị trí trong SRC, bị hiệu trưởng coi là bất hợp tác và đã trục xuất khỏi trường trong cả năm còn lại. Ông chỉ cho Mandela quay lại nếu chịu vào SRC. Lúc về nhà, cha nuôi của Mandela đã nổi giận, buộc anh phải nhận lỗi và quay lại trường vào mùa thu.

Chiến đấu không mệt mỏi

Mandela năm 1937

Vài tuần sau khi Nelson Mandela về nhà, tù trưởng Jongintaba (Regent) thông báo rằng ông đã sắp xếp một cuộc hôn nhân cho cậu con trai nuôi. Vị cha nuôi muốn đảm bảo rằng cuộc đời Mandela sẽ được lên kế hoạch đúng đắn và theo phong tục của bộ tộc, ông có quyền sắp đặt hôn nhân cho Mandela.

Quá sốc trước thông tin này, với cảm giác bị mắc kẹt và cho rằng mình không còn lựa chọn nào khác, Mandela đã bỏ nhà trốn đến thành phố Johannesburg. Chàng thanh niên làm đủ mọi việc, từ bảo vệ cho đến thư ký trong khi vẫn hoàn thành nốt bằng cử nhân từ xa. Sau đó, anh đã ghi danh vào trường Đại học Witwatersrand ở Johannesburg để học luật.

Thời kỳ đó, Nam Phi chìm trong chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid hà khắc. Apartheid trong tiếng Hà Lan nghĩa là tách biệt, dùng để chỉ hệ thống phân biệt chủng tộc ở Nam Phi giữa thiểu số người da trắng và phần đông người da đen trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội. Chế độ này trở thành chính sách phát triển chính thức của Nam Phi từ năm 1948 khi đảng Quốc gia lên nắm quyền.

Kể từ năm đó, hàng loạt đạo luật Apartheid đã ra đời. Theo những đạo luật này, người da đen đa số bị đối xử khác hẳn với người da trắng thiểu số. Người da đen không được kinh doanh hay hành nghề ở những khu vực dành riêng cho người da trắng trừ khi có phép. Các cơ sở giao thông và dân sự đều được phân chia rõ ràng. Xe buýt có loại dành cho người da trắng và người da đen. Điểm chờ xe buýt cũng riêng biệt. Tàu hỏa, bệnh viện, xe cứu hỏa dành cho người da trắng cũng tốt hơn dành cho người da đen. Hồ bơi công cộng, cầu đi bộ, chỗ đỗ xe, sân vườn, công viên, nhà vệ sinh công cộng, rạp chiếu phim… tất cả đều có biển chỉ dẫn “Dành cho người da đen” hoặc “Chỉ dành cho người da trắng”.

Không chỉ trong hoạt động xã hội, người da đen còn bị phân biệt đối xử và bị kỳ thị trong các hoạt động kinh tế, chính trị. Lương của người da trắng cao hơn rất nhiều người da đen. Người da đen bị ngăn cấm thành lập các liên đoàn thương mại và phải ở trong các khu nhà tập trung ổ chuột nghèo nàn, bị kiểm soát ngặt nghèo trong các ngành khai mỏ, nông trại, nhà máy…ở Nam Phi.

Chứng kiến cảnh bất công đó, Mandela sớm trở thành một người hoạt động tích cực trong phong trào chống chủ nghĩa Apartheid rồi gia nhập phong trào Đại hội Dân tộc Phi (ANC) năm 1942. Trong lòng ANC, một nhóm người châu Phi trẻ đã đoàn kết với nhau, gọi mình là Liên đoàn thanh niên của ANC (ANC Youth League) với mục tiêu biến ANC thành một phong trào quần chúng rộng rãi, tận dụng sức mạnh của hàng triệu nông dân và người lao động vốn không có tiếng nói dưới chế độ do người da trắng cầm quyền. Điều đặc biệt là, Liên đoàn thanh niên ANC cho rằng những biện pháp cũ của ANC là “kiến nghị lịch sự” không có hiệu quả.

Mandela tại Văn phòng luật Mandela & Tambo ở Johannesburg năm 1952.

Năm 1949, ANC chính thức áp dụng các phương pháp của Liên đoàn thanh niên gồm tẩy chay, đình công, bất hợp tác và bất phục tùng nhằm đạt được quyền công dân toàn diện, phân phối lại đất đai, quyền công đoàn, giáo dục bắt buộc và miễn phí cho mọi trẻ em.

Trong suốt 20 năm, Mandela đã chỉ đạo những hoạt động hòa bình, phi bạo lực chống lại chính phủ Nam Phi và chính sách phân biệt chủng tộc, nổi bật là hai chiến dịch năm 1952 và 1955.

Ông còn thành lập công ty luật Mandela & Tambo cùng với Oliver Tambo – một sinh viên ưu tú mà ông đã quen khi học ở trường Fort Hare. Công ty của ông cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý miễn phí và giá rẻ cho những người da đen.

Năm 1956, Mandela và 150 người khác bị bắt và kết tội phản quốc vì các hoạt động chính trị của họ nhưng về sau được tuyên trắng án. Trong lúc đó, ANC gặp nhiều thách thức từ một nhóm gồm các nhà hoạt động người da đen – những người cho rằng biện pháp hòa bình của ANC là không có hiệu quả. Nhóm này tách ra khỏi ANC và điều này đã ảnh hưởng tiêu cực đến ANC, làm mất đi một lực lượng hỗ trợ đáng kể.

Khi chính phủ Nam Phi cấm ANC hoạt động, Mandela đành phải rút vào bí mật. Một cuộc sống bí mật đòi hỏi ông phải cực kỳ cảnh giác, mọi hành động đều phải có kế hoạch, kể cả những việc nhỏ. Mandela đã rút ra được một điều rằng không tin bất kỳ điều gì nếu bạn là một người da đen ở Nam Phi, đặc biệt là khi bạn có một cuộc sống bí mật.

Trong thời gian này, Mandela đã trở thành một sinh vật của bóng đêm. Ông ẩn mình ban ngày và chỉ làm việc khi trời tối. Mọi công việc của ông chủ yếu ở Johannesburg nhưng ông cũng phải đi ra ngoài nếu cần thiết. Dù là người thích giao du nhưng ông thậm chí thích ở một mình hơn để có thể suy nghĩ, lên kế hoạch hành động. Tuy nhiên, có những lúc Mandela cảm thấy cực kỳ cô đơn và nhớ gia đình.

Cuộc sống bí mật đã khiến Mandela học được cách “vô hình”. Ông biết cách bước vào một căn phòng mà không bị ai chú ý. Ông không cắt tóc hay cạo râu và phần lớn thường đóng giả làm lái xe, đầu bếp hay người làm vườn. Ông thường mặc một bộ quần áo màu xanh da trời, kèm một cái mũ của người lái xe. Đóng giả một lái xe rất thuận tiện vì ông có thể đi lại và giả vờ đang lái xe cho ông chủ.

Có lúc Mandela đi cùng người Hồi giáo ở Cape, có lúc đi cùng công nhân đồn điền mía ở Natal, khi lại đồng hành cùng công nhân nhà máy ở cảng Elizabeth. Mandela đến rất nhiều thành phố khác nhau ở Nam Phi để tham gia các cuộc họp bí mật ban đêm. Ông thoắt ẩn thoắt hiện khiến cảnh sát rất tức giận.

Bản thân Mandela chưa bao giờ là một người lính, chưa bao giờ ra trận, chưa bao giờ chĩa súng vào kẻ thù nhưng lại được giao nhiệm vụ xây dựng một đội quân. Đó chính là một nhóm vũ trang của ANC có tên Umkhonto we Sizwe hay còn gọi là MK. Mandela sáng lập nhóm này để chuyên dùng các chiến thuật du kích và phá hoại nhằm chấm dứt chủ nghĩa Apartheid. Mandela đã không còn tin vào các biện pháp đấu tranh hòa bình như trước. Giờ đây, ông cho rằng phải đấu tranh bằng bạo lực mới có thể làm nên chuyện.

Ngày 26/6/1961 là Ngày Tự do của Nam Phi. Mandela đã gửi một bức thư cho báo chí, kêu gọi tổ chức một hội nghị hiến pháp toàn quốc. Ông tuyên bố nếu chính phủ không tổ chức hội nghị này, sẽ có một chiến dịch bất hợp tác trên quy mô toàn quốc. Mandela kêu gọi người dân: “Tôi sẽ sát cánh cùng các bạn chiến đấu chống lại chính phủ từng bước, cho đến khi giành chiến thắng. Các bạn sẽ làm gì? Các bạn có đến với chúng tôi hay sẽ hợp tác với chính phủ để đàn áp nguyện vọng và đòi hỏi của chính người dân nước bạn? Các bạn sẽ yên lặng và thờ ơ trong một vấn đề sống còn với người dân của chúng ta? Về phần tôi, tôi đã có lựa chọn của mình. Tôi sẽ không rời Nam Phi cũng sẽ không đầu hàng. Chỉ trải qua gian khó, hi sinh và hành động quân sự chúng ta mới giành được tự do. Cuộc đấu tranh này là cuộc đời tôi. Tôi sẽ tiếp tục chiến đấu vì tự do cho đến ngày cuối cùng”.

Những thời khắc đen tối

Năm 1961, Mandela “đạo diễn” một cuộc đình công của công nhân toàn quốc trong 3 ngày. Ông đã bị bắt ngay năm sau đó vì đóng vai trò lãnh đạo trong cuộc đình công và bị kết án 5 năm tù. Năm 1963, ông lại bị đưa ra xét xử. Lần này, ông và 10 thủ lĩnh ANC bị kết án tù chung thân vì các tội danh liên quan đến chính trị.

Mandela khâu áo trong sân nhà tù năm 1966.

Trong suốt 27 năm bị tù đày, Mandela bị giam trên đảo Robben tới 18 năm. Những năm tháng này là khoảng thời gian đen tối trong cuộc đời của Mandela. Ông từng viết: “Trong tù, bạn phải đối mặt với thời gian. Không có gì khủng khiếp hơn điều này”.

Bị giam trong phòng nhỏ hẹp, lấy sàn nhà là giường, phải lao động khổ sai, chỉ được tiếp một khách mỗi năm trong 30 phút, chỉ được viết và nhận một bức thư trong 6 tháng, nhưng cuộc sống tù đày trên đảo Robben đã trở thành môi trường tôi luyện Mandela. Bằng sự thông minh, tinh thần quyết chiến, Mandela đã đóng vai trò lãnh đạo bạn tù, trở thành ông chủ trong chính nhà tù của mình.

Phòng giam của Mandela trên đảo Robben.

Một ngày tù của ông diễn ra như thế này: Ông và các tù nhân khác bị cai ngục đánh thức lúc 5 giờ 30 sáng nhưng mãi đến 6 giờ 45 mới được ra khỏi phòng giam sau khi đã lau phòng, gấp thảm và chăn. Tù nhân không có nước máy, không có nhà vệ sinh trong phòng giam. Thay vào đó là một cái xô vệ sinh bằng sắt đường kính khoảng 25 cm, có nắp đậy bằng sứ và lõm ở giữa để đựng nước dùng khi cạo râu, rửa mặt, rửa tay.

Khi được ra khỏi phòng giam, việc đầu tiên họ làm là đổ và rửa xô. Điều thú vị nhất trong khi làm việc này là có cơ hội để trao đổi với bạn tù vài tiếng, tất nhiên là phải khẽ khàng và nhanh chóng vì cai ngục không thích tù nhân lề mề.

Sau đó đến giờ ăn sáng. Trong vài tháng đầu tiên ở tù, Mandela và các tù nhân được các tù nhân thường mang bữa sáng đến tận phòng giam. Bữa sáng gồm cháo ngô đặc, ngũ cốc được đổ vào bát và đẩy qua chấn song phòng giam. Cũng giống như mọi thứ khác trong tù, khẩu phần ăn cũng có sự phân biệt đối xử. Nói chung, người da màu và người da đỏ được ăn ngon hơn một chút so với người châu Phi. Gọi là ngon hơn nhưng thực ra không có gì khác nhau đáng kể giữa một loại thức ăn có mùi vị khó chịu và một loại không thể ăn được.

Sau vài tháng đầu, tù nhân sẽ ăn ở khu vực sân. Trong bữa sáng, mỗi người được uống một cốc đựng một thứ dung dịch gọi là cà phê, nhưng thực tế đó là ngô nghiền rang cháy đen và pha với nước nóng.

Giữa bữa sáng, Mandela và các bạn tù có thể bị cai ngục bắt ngừng ăn, ra ngoài phòng giam để kiểm tra. Nếu ba khuy áo khoác kaki không được cài ngay ngắn, nếu không bỏ mũ xuống khi cai ngục đi qua, nếu không dọn phòng giam sạch sẽ, họ sẽ bị coi là vi phạm luật lệ nhà tù và bị phạt dưới hình thức giam biệt lập hoặc cắt bữa ăn.

Sau bữa ăn, tù nhân phải lao động khổ sai, phần lớn là đập đá trong sân nhà tù đến tận trưa mà không được nghỉ. Ăn trưa xong, họ phải làm việc đến tận 4 giờ chiều, rồi điểm danh, dọn dẹp, tắm táp bằng nước lạnh bất kể thời tiết.

Chính xác lúc 4 giờ 30 chiều, sẽ có một tiếng gõ lớn trên cánh cửa gỗ cuối hành lang báo hiệu bữa ăn tối sắp được đưa vào. Bữa tối là cháo ngô đặc, đôi khi được thả cà rốt hoặc bắp cải hay củ cải đường nhưng tù nhân thường phải tìm kỹ mới thấy. Tù nhân phải ăn cùng một loại đến hàng tuần, đến khi cà rốt và bắp cải đã héo mốc và họ chán đến tận cổ. Đôi khi họ được một mẩu thịt nhỏ trong bát cháo, nhưng phần lớn là sụn.

Những thứ mà Mandela và các tù nhân khác phải nếm thậm chí còn không đạt tiêu chuẩn của nhà tù. Nguyên do là các tù nhân làm nhiệm vụ nấu ăn thường giữ lại những thức ăn ngon nhất cho họ và bạn bè họ. Họ cũng nhặt riêng những thứ ngon để đút lót cai ngục.

Đúng 8 giờ tối, cai ngục đêm sẽ vào trong hành lang, khóa trái cửa lại và đưa chìa khóa qua một cái lỗ nhỏ cho cai ngục khác ở bên ngoài. Cai ngục này sẽ đi đi lại lại dọc hành lang ra lệnh cho tù nhân ngủ. Những ai đang dở học hành sẽ được đọc đến tận 10 hoặc 11 giờ. Một ngày tù tội đã kết thúc. Với Mandela, ông phải trải qua 18 năm đằng đẵng như thế.

Chế độ nhà tù Apartheid khắc nghiệt đến mức Mandela thậm chí không được phép dự đám tang khi mẹ đẻ và con trai cả qua đời. Trong thời gian đen tối trong tù, Mandela bị bệnh lao và do là một tù nhân chính trị da đen, ông chỉ được chữa trị ở mức thấp nhất. Tuy nhiên, trước khi ra tù, Mandela đã học xong bằng cử nhân luật trường Đại học Luân Đôn theo chương trình học từ xa.

Trong một cuốn hồi ký năm 1981, điệp viên tình báo Nam Phi Gordon Winter tiết lộ rằng chính phủ Nam Phi âm mưu sắp xếp cho Mandela vượt ngục để định bắn chết ông trong lúc ông bị bắt lại. Tuy nhiên, âm mưu này đã bị tình báo Anh phá tan.

Năm 1982, Mandela và các thủ lĩnh ANC bị đưa tới nhà tù Pollsmoor để tiện liên lạc với chính phủ Nam Phi. Năm 1985, Tổng thống P.W. Botha đã đề xuất thả tự do cho Mandela với điều kiện ông từ bỏ cuộc đấu tranh vũ trang. Tuy nhiên, người tù da đen thẳng thừng bác bỏ đề nghị.

Trong khi Mandela và các thủ lĩnh khác của ANC bị tù đày hoặc phải sống lưu vong, thanh niên da đen Nam Phi đã làm mọi cách để chống lại nhà cầm quyền da trắng thiểu số. Họ coi Mandela là một biểu tượng không khuất phục trong cuộc phản kháng của người da đen.

Năm 1980, dưới sự lãnh đạo của ông Tambo, người từng chung văn phòng luật với Mandela và đang sống lưu vong, ANC đã phát động một chiến dịch quốc tế chống chế độ Apartheid và khéo léo hướng chiến dịch tới một mục tiêu duy nhất là đòi thả ông Mandela. Chiến dịch lên tới đỉnh điểm năm 1988 tại sân vận động Wembley ở Luân Đôn (Anh) khi khoảng 72.000 người và hàng triệu người xem TV trên toàn thế giới đã cùng hô vang “Hãy thả Nelson Mandela”.

Phong trào có sức mạnh lớn đến mức các lãnh đạo thế giới đã siết chặt lệnh trừng phạt chính quyền Nam Phi. Áp lực trong nước và quốc tế ngày càng lớn và đã có kết quả. Ngày 11/2/1990, Tổng thống Frederik Willem de Klerk đã ra lệnh thả Mandela, đồng thời tuyên bố bỏ lệnh cấm ANC, dỡ bỏ hạn chế đối với các nhóm chính trị và hủy hành quyết.

Tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi

Sau khi được thả tự do, ông Nelson Mandela ngay lập tức kêu gọi các cường quốc không giảm áp lực với chính phủ Nam Phi để đòi cải cách hiến pháp. Một mặt, ông tuyên bố cam kết hướng tới hòa bình, mặt khác ông khẳng định cuộc đấu tranh vũ trang của ANC sẽ tiếp tục cho đến khi nào người da đen chiếm đa số ở Nam Phi được quyền bầu cử.

Năm 1991, ông Mandela được bầu làm chủ tịch đảng ANC, còn người bạn thân thiết và đồng nghiệp Oliver Tambo được bầu làm chủ tịch quốc gia. Mandela tiếp tục đàm phán với Tổng thống de Klerk về cuộc bầu cử đa sắc tộc đầu tiên ở Nam Phi. Người Nam Phi da trắng sẵn sàng chia sẻ quyền lực, tuy nhiên, nhiều người da đen muốn chuyển giao quyền lực hoàn toàn. Quá trình đàm phán thường xuyên căng thẳng và nhuốm màu bạo lực. Với cái tài của mình, Mandela đã phải cân bằng giữa một bên là áp lực chính trị và một bên là các cuộc đàm phán căng như dây đàn.

Nhờ nỗ lực hủy bỏ chế độ Apartheid, ông Mandela và Tổng thống de Klerk cùng được trao giải Nobel Hòa bình năm 1993. Nỗ lực của họ đã có kết quả khi ngày 27/4/1994, Nam Phi tổ chức cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên. Nelson Mandela đã nhậm chức tổng thống ngày 10/5/1994, trở thành tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi, trong khi ông de Klerk đảm nhiệm chức phó tổng thống.

Trong suốt nhiệm kỳ tổng thống của mình, ông Mandela đã thực hiện chuyển giao chế độ cầm quyền từ tay người da trắng thiểu số sang người da đen đa số. Ông đã tận dụng niềm đam mê thể thao của người Nam Phi để thúc đẩy hòa giải giữa người da đen và da trắng, khuyến khích người da đen ủng hộ đội bóng rugby quốc gia từng bị ghét bỏ. Tổng thống Mandela cũng có công lớn trong vực dậy nền kinh tế Nam Phi đang trên bờ sụp đổ.

Kể từ khi hết nhiệm kỳ tổng thống năm 1999, ông Mandela trở thành đại sứ cấp cao nhất của Nam Phi, đi đầu trong chiến dịch chống HIV/AIDS và giúp Nam Phi giành quyền đăng cai World Cup năm 2010. Ông cũng tham gia vào đàm phán hòa bình ở CHDC Cônggô, Burunđi và các nước khác ở châu Phi.

Năm 2004, ông Mandela rút lui khỏi công chúng để dành nhiều thời gian hơn cho gia đình – thứ mà ông đã phải hi sinh để theo đuổi tham vọng chính trị của mình. Trong mối quan hệ với vợ mình, bà Winnie Madikizela, ông Madela đã cảm thấy cực kỳ có lỗi vì những gì mà vợ ông đã phải chịu đựng, ông hối tiếc vì đã không có thời gian chăm lo cho gia đình. Tuy nhiên, với một “chiến binh” như Mandela, vợ và gia đình luôn xếp thứ hai sau tình yêu lớn ông dành cho ANC và cuộc đấu tranh tự do.

Bà Winnie kết hôn với ông Mandela đúng vào thời điểm quan trọng trong cuộc đấu tranh giành tự do ở Nam Phi. Cùng chung lý tưởng với ANC và cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa Apartheid, hai vợ chồng ông không thể tận hưởng một cuộc sống gia đình bình thường. Dù chịu nhiều áp lực nhưng tình yêu mà hai người dành cho nhau tiếp tục lớn dần.

Trong gần 20 năm sống đời tù nhân trên đảo Robben, đối với ông Mandela, Winnie là trụ cột hỗ trợ và niềm an ủi không thể thiếu. Bà chấp nhận gánh nặng nuôi dạy con cái một mình. Bà chịu đựng những cuộc khủng bố từ chính phủ da trắng và không bao giờ ngừng tin tưởng vào cuộc đấu tranh giành tự do của chồng. Sự ngoan cường của Winnie đã củng cố tình yêu, sự tôn trọng của ông Mandela và khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ.

Tuy nhiên, căng thẳng nảy sinh do những khác biệt giữa ông Mandela và vợ đã khiến họ đi đến quyết định chia tay. Ông nói rằng quyết định chia tay không phải xuất phát từ việc bà Winnie ngoại tình.

Trong cuốn tự truyện, ông Mandela viết: “Có lẽ tôi bị lóa mắt trước một số điều nhất định vì phải chịu nỗi đau khi không thể hoàn thành vai trò của một người chồng với vợ tôi và người cha với các con tôi. Tôi cho rằng cuộc sống của vợ tôi khi tôi ở trong tù còn khó khăn hơn tôi, sự trở về của tôi cũng khó khăn với cô ấy hơn là với tôi. Cô ấy đã lấy một người mà người đó sẽ sớm rời bỏ cô ấy; người đàn ông đó trở thành thần thoại, và rồi thần thoại đó trở về nhà và xét cho cùng lại chỉ là một người đàn ông bình thường.

Ông Mandela và ông Klerk nhận giải thưởng Nobel Hòa bình ngày 10/12/1993.

Như tôi về sau đã nói trong đám cưới của con gái Zindzi, dường như số mệnh của những người đấu tranh cho tự do là phải có cuộc sống cá nhân bất ổn. Khi cuộc đời của bạn là đấu tranh, giống như cuộc đời tôi, hầu như không còn chỗ cho gia đình. Đó luôn là hối tiếc lớn nhất của tôi và là phần đau đớn nhất trong lựa chọn của tôi”.

Ông nói trong đám cưới đó: “Chúng tôi chứng kiến con cái trưởng thành mà không có sự dìu dắt của chúng tôi. Và khi chúng tôi ra khỏi tù, con tôi nói chúng con nghĩ rằng chúng con có một người bố và một ngày nào đó bố sẽ quay về. Nhưng thật thất vọng, bố chúng con về và ông ấy bỏ chúng con một mình vì giờ ông ấy đã là người cha của cả dân tộc”.

Ông Mandela kết luận: “Là cha của cả dân tộc là một vinh dự lớn lao, là một người cha của gia đình là một niềm vui lớn hơn. Nhưng đó là niềm vui mà đến nay tôi có quá ít”.

Vào sinh nhật thứ 80, Nelson Mandela kết hôn với bà Graca Machel, quả phụ của cựu Tổng thống Môdămbích. Ông vẫn tiếp tục đi khắp thế giới, gặp gỡ các lãnh đạo, tham gia hội nghị và giành được nhiều giải thưởng. Phần lớn công việc của ông liên quan đến Tổ chức Mandela, một quỹ từ thiện mà ông thành lập.

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

nghiencuulichsu.com


Sau Một Cuộc Bội Phản – Nguyễn Vy Khanh

Bài đọc suy gẫm: Sau Một Cuộc Bội Phản hay 40 năm sau một cuộc bội phản của tác giả Nguyễn Vy Khanh, cựu học sinh Pétrus Ký, hiện đang sống tại Montreal, Canada. Ông cho biết: “Với tư cách hậu sinh và nghiệp-dư nghiên cứu lịch-sử, chúng tôi xin có một số nhận xét về biến cố lịch-sử và chính-trị 1-11-1963 đã xảy ra 40 năm trước, mong độc giả xem đây là những góp ý hướng về tương lai hơn là tranh luận hơn thiệt và biên khảo lịch-sử”. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

 Để tưởng nhớ đến cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm…
 

 Tưởng niệm Chí sĩ Ngô Đình Diệm tại Nam California.

1. Trước hết, cuộc đảo-chánh 1-11-1963 nói chung là một vụ bội-phản có tính toán và vì quyền lợi (1) phe nhóm cá nhân hơn là quốc-gia, của một số sĩ quan cao cấp trong đó phần lớn là thành phần đã được người Pháp đào tạo. Xảy ra như ở một số thuộc địa ở Phi châu mà tình trạng còn mãi đến nay! Cuộc đảo-chánh 1-11 thêm một lần chứng minh và làm nổi bật cái não trạng (mentality) phản trắc, hai lòng và cái não-trạng phục tùng ngoại bang của một số người Việt Nam. Ngay hai đảng viên Cần Lao đã phản là tướng Tôn Thất Ðính và Ðại Tá Ðỗ Mậu: ông Ðính, “con cưng của chế độ”, ngày 25-10 trước đảo-chánh, đã xin cải tổ chính phủ và cho ông chức Bộ Trưởng Nội Vụ nhưng bị từ chối (ông Trần Văn Ðôn thì mong được chức Bộ Trưởng Quốc-Phòng) ngoài ra ông mang thêm mặc cảm tấn công các chùa đêm 21-8-63 và bị ông Nhu khiển trách họp báo nói tiếng Pháp bồi và cho đi nghĩ Ðà-Lạt, còn Ðại Tá Ðỗ Mậu theo đảo chánh vì tức đã không được lên tướng trong khi bạn ông (cùng trình độ như ông) được đeo sao. Sau ngày 2-11-1963, lon tướng tá được gắn thoải mái, cả tự gắn, có người (Tướng Ðỗ Cao Trí) phải khiếu nại và rồi dù vừa mới lên lon chưa đầy tháng cũng được thêm một lon nữa! Thời Trịnh Nguyễn và phân tranh Gia Long – Tây Sơn được tái diễn trên mảnh đất nhiều ngàn năm văn hiến đó! Những não trạng đáng buồn đó, tiếc thay, hãy còn hiện diện sống động trong cộng đồng người Việt hải-ngoại!

2. Cuộc đảo-chánh này nay nhìn lại thấy rõ là một mưu đồ chống phá những nền tảng cùng tư tưởng dân-chủ của một nền Cộng Hoà (République) non nớt 9 năm. Cá nhân một số tướng tá đảo-chánh đã phản chủ, phản thầy, phản đảng trưởng, nhưng toàn thể những người liên hệ xa gần với đảo-chánh đã phản bội chính thể dân chủ. Chế độ TT Ngô Ðình Diệm vào 2, 3 năm cuối có thể bắt đầu mất lòng dân vì tỏ ra độc tài, đối lập bị tù, cả bị chết oan, đồng ý, nhưng đối lập ở Việt Nam ta cứ nhắm lật đổ chính quyền hợp pháp, cứ một sống một chết, mà không chấp nhận trò chơi dân chủ. Nếu tranh đấu chính-trị như ở các nước Tây phương thì đã không đưa đến những hậu quả đó. Vả lại tất cả những người bị chính quyền bắt (sinh viên, học sinh, phật tử, chính-trị gia, cả những người bị bắt sau vụ đảo-chánh 11-11-1960 chờ ra tòa) đều đã được Hội Ðồng Cách Mạng thả tự do – nhưng bắt tù lại một số cao cấp của chính quyền vừa bị đảo-chánh, có người sau sẽ bị xử tử! Xét về toàn bộ nguyên nhân đưa đến cuộc đảo-chánh 1-11, yếu tố tôn giáo chỉ là cái cớ, một cớ có tổ chức chứ không tự bộc phát và “pháp nạn” chỉ xảy ra ở một số nơi có đầu não phe Phật giáo chính-trị!

3. Nếu phải nói đến Chính Nghĩa, Chính Danh, thì nhìn chung, đã bị phe đảo-chánh và đồng minh Mỹ xem thường. 1-11-1963 là một cuộc đảo-chánh nghĩa là phá đổ Chánh đề phù Tà hoặc tạo-dựng một Chánh khác không thể Chánh bằng cái Chánh do dân chủ tạo nên, vì dù gì thì chính quyền Ðệ Nhất Cộng Hòa là một cơ cấu hợp hiến, hợp pháp và tương đối có chính nghĩa! Ngay sau khi chắc chắn anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm đã chết, chiều 2-11-1963, Ủy Ban Cách-mạng (2) đã ra Quyết nghị số 2 ngưng áp dụng Hiến Pháp 26-10-1956! Có người đổi “đảo-chánh” thành “cách-mạng” thì cũng chẳng thấy cách-mạng gì hơn vì cũng từng ấy nhân vật, từ Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ đến các tướng nhiều sao trong Hội đồng Cách-mạng đều do quân đội (và công an) thực dân Pháp đào luyện, và cũng chẳng có lý-thuyết cách-mạng gì mới! Những người làm đảo-chánh tự cho có chính-nghĩa dù không tôn trọng trật tự, dân chủ, cả những người làm đảo-chánh 11-11-1960 trước đó. Có người phê phán ông Ngô đình Diệm “lật lọng”, “phản” cựu hoàng Bảo Ðại là người đã bổ nhiệm ông làm Thủ Tướng, có người còn nhân danh phong hoá Nho Giáo hoặc dân tộc.

Chúng tôi nhìn thời đó như một thời Trịnh Nguyễn và Gia Long-Tây Sơn: thì Quang Trung cũng đã nhận lời vua Lê Hiển Tông phù Lê diệt Trịnh và còn được gả công chúa Ngọc-Hân cho, mà rồi sau quần thần vua Lê bị ông rượt sang Tàu. Thứ nữa sử cũng ghi rằng anh em Tây Sơn nhận phục tùng chúa Nguyễn, chỉ cốt lật đổ quyền thần Trương Phúc Loan thôi, mà rồi thành Phú Xuân đã bị anh em Tây Sơn đốt cháy, còn quần thần Chúa Nguyễn phải bỏ chạy vô Nam. Thứ nữa, thời điểm tháng 6 và 7 năm 1954 là lúc chiến-tranh Việt-Pháp lên cao độ, khủng hoảng chính-trị (chính-phủ Bửu Hội không được lâu), xã hội băng hoại và miền Nam thì thập nhị sứ quân. Cựu Hoàng Bảo Ðại dù là Quốc Trưởng nhưng không hề đụng việc, chỉ giải trí riêng với hậu thuẫn (và tiền bạc, bổng lộc) của các sứ quân. Bảo Ðại lại do người Pháp đặt ở chức quốc trưởng, nên trưng cầu dân ý và Hiến Pháp 26-10-1956 không phải là một bước đầu dân chủ đấy sao? Trong hoàn cảnh bất an hậu thế chiến và thuộc địa đó, làm Thủ Tướng đâu phải dễ (trước đó mấy năm thủ tướng BS Nguyễn Văn Thinh đã phải tự sát!). Chính những người pro-Bảo Ðại ở Pháp lúc đó đã nhận xét như LM Cao Văn Luận nhân chứng ghi lại trong hồi ký của ngài:” Bảo Ðại đưa ông Ngô đình Diệm về Việt Nam là để đốt cháy tương lai chính-trị của ông mà thôi!” (3). Thành quả và sự thực lịch-sử đã hiển nhiên, viết lịch-sử là đứng ở tổng thể và cân nhắc phải-trái, sao lại có người đi soi móc chi tiết thổi phồng cho to, mà lại làm một cách thiên vị hoặc giả dối, đạo đức giả ? Tiện đây chúng tôi xin mở dấu ngoặc nói thêm là đối với cuộc chiến-tranh vừa qua (1954-1975), giới viết lách trong nước và một phần ở hải-ngoại đã nhận ra rằng chẳng có chính nghĩa nào hết nếu xét cho cùng. Tất cả chỉ là cường điệu, và hai bên đều là công cụ cho những “lý-tưởng” đối chọi nhau. Và vì không có chính nghĩa (dù có chính-đáng) nên cũng đã chẳng có một chung cuộc theo nghĩa có bên thắng có phe thua. Nga, Trung quốc và Hoa-Kỳ chỉ ngưng … chơi vì kiệt quệ, vậy thôi! Phạm Kim Vinh, vốn khó tính, vẫn nhìn nhận “chính quyền Ngô đình Diệm là chính quyền duy nhất của người Việt quốc-gia tạo được chính danh, chính thống và chính nghĩa cho công cuộc chống Cộng của người Việt Nam” (4).

4. Ðể “hoàn thành” cuộc đảo-chánh, trong hai ngày 1 và 2-11-1963, những kẻ chủ mưu và thừa hành đã ám sát theo thứ tự thời gian: Ðại Tá Hồ Tấn Quyền Tư Lệnh Hải Quân trưa 1-11, Ðại Tá Lê Quang Tung Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt, và em ông là Thiếu Tá Lê Quang Triệu tối 1-11; Tổng Thống Ngô đình Diệm và em ông là Cố vấn Ngô đình Nhu sáng 2-11. Bốn người, anh em ông Tổng Thống và anh em ông Tung Triệu bị Ðại úy Nguyễn Văn Nhung cận vệ của Dương Văn Minh giết và bắn chết (Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa cùng với Ðại úy Nhung giết anh em Tổng Thống), Ðại Tá Quyền bị thuộc hạ phản thùng là Thiếu Tá Lực và Ðại úy Giang giết. Các sĩ quan khác không thuận theo đảo-chánh hoặc bị nghi ngờ thì bị giam ở bộ Tổng Tham mưu như Cao Văn Viên, Lê Nguyên Khang, Nguyễn Ngọc Khôi, Ðỗ Ngọc Nhận, v.v.

Đại tá Lê Quang Tung (trái), tư lệnh Lực lượng đặc biệt và Đại tá Hồ Tấn Quyền, tư lệnh Hải quân thời Đệ nhất Cộng Hòa.

Người trách nhiệm hàng đầu trong vụ ám sát anh em Tổng Thống là Trung Tường Dương Văn Minh. Các tướng thuộc Ủy Ban Cách-Mạng ở Sài-Gòn lúc đó như Trần Văn Ðôn (5), Tôn Thất Ðính (6) và đại tá Ðỗ Mậu (7), … hoặc ở xa như Tướng Khánh, Thi đều xác nhận điều này. Dù gì thì anh em Tổng-Thống Ngô Đình Diệm đã bị ám sát chết, do Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa hay Ðại úy Nguyễn Văn Nhung thừa hành thì Tướng Dương Văn Minh và Ủy Ban Cách-Mạng phải liên đới trách nhiệm trước lịch-sử, cũng như các Tướng Mai Hữu Xuân (“Mission accomplie!” chào trình Tướng Dương Văn Minh) và hai Ðại Tá Nguyễn Văn Quan và Dương Văn Lắm, … chỉ huy đoàn quân xa đi đón đã không làm tròn trách nhiệm, hoặc có chỉ huy mà như không hoặc đồng lõa vì sự đã rõ là hai ông Nghĩa và Nhung muốn làm gì thì làm (cả cho biết trước!). Ông Trần Văn Ðôn kết luận chuyện tìm kẻ chủ xướng đã tỏ đồng ý và khen “người nào đó ra lịnh giết nầy quả là một người thấy xa, ông ta không phải ngu dại khi làm việc đó” (8). Dĩ nhiên người Mỹ hài lòng vì tham vọng bành trướng chiến-tranh sẽ hết bị cản trở bởi vị nguyên thủ quốc-gia hợp hiến, đã mừng reo lên chiều ngày 2-11 khi đón hai ông Ðôn và Lê Văn Kim đại diện các tướng đảo-chánh: “C’est formidable! C’est magnifique! (Tuyệt vời!)” (9).

Vai-trò của Nguyễn Văn Nhung thì đã rõ (10), còn Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa thì nhiều nhân chứng từ sau 1963 đã ám chỉ ông tham gia việc giết anh em tổng-thống – cả hai đều ngồi chung xe thiết-giáp với anh em Tổng Thống. Theo Trần Văn Ðôn, ông Nghĩa đòi đi theo đoàn đón Tổng Thống và nói “Moa có nhiệm vụ” (11). Hoàng Văn Lạc (Biệt bộ Tham mưu phủ Tổng Thống lúc đảo-chánh) và Hà Mai-Việt trong Nam Việt-Nam 1954-1975: Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, xuất-bản năm 1990, buộc tội ông Nghĩa là đao phủ thủ thứ hai trong vụ ám sát Tổng Thống. Ðiều tra của ông bà Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức xuất-bản năm 1994 cũng đưa tới cùng kết luận đó (12) nhưng ông Nghĩa từ chối trả lời phỏng vấn sau khi qua Mỹ theo diện H.O. Năm 1996, ông Nghĩa cuối cùng lên tiếng, tự biện hộ cho rằng ông có biết Tướng Dương Văn Minh ra lệnh giết ông Nhu. Ngay sau đó, ông bà Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức viết bài vạch mười điểm sai lầm và ngụy biện của ông Nghĩa, cho biết thêm Ðại úy Phan Hòa Hiệp (sau lên Chuẩn Tướng) đã nói với hai soạn giả (cũng như với nhiều người khác như Ngô Ðình Châu (13)), rằng ông đã nghe ông Nghĩa nói sẽ giết anh em ông Diệm để trả thù cho Ðại úy Thiết Giáp Bùi Ngươn Ngãi bạn ông và cùng đảng viên Ðại-Việt bị tử thương trong ngày đảo-chánh (14). Ông Duệ thì chắc chắn về việc ông Nghĩa nhúng tay giết tổng-thống vì có hai nhân chứng thấy ông Nghĩa lau tay dính máu. Về sau ông Nghĩa làm Phụ thẩm tòa án cách-mạng xử tử ông Ngô đình Cẩn, vậy theo ông Duệ, ông Nghĩa đã dính máu ba anh em ông Tổng Thống (15)! Ông Huỳnh Văn Lang trong bộ hồi ký Nhân Chứng Một Chế Ðộ đã cho biết thêm một số chuyện: Ðại Tá Nguyễn Văn Quan có vai-trò trong cái chết của anh em Ngô đình Diệm, ông Quan thuộc đảng Ðại Việt và có thù cá nhân với ông Nhu (16). Thứ nữa, tướng Dương Văn Minh bất mãn bị lấy lại “chiến lợi phẩm” từ Bảy Viễn (17). Ông Nguyễn Hữu Duệ, lúc đảo-chánh là Thiếu Tá Tư Lệnh Phó cho Trung Tá Nguyễn Ngọc Khôi Lữ đoàn Phòng Vệ Tổng Thống Phủ, đã ghi lại trong Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm (18), rằng ông Quan đã chối với ông vai-trò trong vụ ám sát tổng-thống vì ông Quan chỉ tình cờ đi theo. Cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên trong Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng-Hòa trong lời Bạt viết thêm khi bản dịch xuất-bản (19), đã tiết lộ thêm ông suýt bị cách-mạng giết vào tối 1-11 sau khi Ðại úy Nhung đã đưa anh em Lê Quang Tung đi giết ở nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế.

 Ông Ngô đình Cẩn (hình bên) đã vào tị nạn tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ nhưng họ lại giao ông cho hội đồng quân nhân cách mạng!

Ông Ngô đình Cẩn (hình bên) và Phan Quang Ðông thì bị “cách-mạng nối dài” xử tử ngày 9-5-1964 tức sáu tháng sau. Ông Cố Vấn Ngô đình Cẩn cả tin ở lời hứa của người Mỹ, đã vào trốn ở toà Lãnh Sự Mỹ ở Huế để cuối cùng bị đại sứ Henry Cabot Lodge giao lại cho những người vì họ ông phải … xin tị nạn, rồi khi có án tử thì Lodge (vờ) xin ân xá cho nạn nhân của y! Như vậy cái chết đến với ông vì một tướng Cần Lao phản bội khác vì muốn lấy lòng Phật Giáo nhưng lý do chính có thể vì không khai thác được tiền tưởng ông Cẩn và gia-đình gửi ở Thụy Si trong thực tế có thể không hề có (20)!
Ðảo-chánh 1-11-1963 cùng với những cái chết bi đát không những đối với người chết, với công lao và hành trạng của họ, mà còn bi đát cả đối với người sống, bởi vậy đã 40 năm qua, tang thương đã nhiều mà những cái chết đó vẫn còn ám ảnh nhiều người, Việt cũng như Mỹ, Pháp! Bà Anne Blair gọi là một “mối ám ảnh đeo đuổi dai dẵng lương tâm nước Mỹ, quần chúng và nhà lãnh đạo xứ này, tạo ra hội chứng Việt Nam / Vietnam Syndrome” (21). Người bản chất đã xấu càng tệ hơn bên cạnh con người thanh cao càng tỏ rạng hơn với thời gian!

5. Ðảo-chánh này đã có lợi cho kẻ thù nghịch là Hà-Nội và cho đồng minh Hoa-Kỳ. Hà-Nội từ sau đảo-chánh không còn phải đối đầu chính-trị với Ngô đình Diệm – một người yêu nước, thanh liêm mà nay chỉ phải đối đầu với tay sai, bù nhìn của thực dân Mỹ, lại tham nhũng, mất tư cách, gây “khoảng trống chính-trị khổng lồ” cho miền Nam thì dễ dàng quá xá! Cựu đảng viên cộng-sản Bùi Tín cho biết đảo-chánh đã gây thuận lợi cho mưu đồ thôn tính miền Nam của Hà-Nội, tháng 4-1964, chính Tướng Nguyễn Chí Thanh đã đích thân vào Nam điều khiển cuộc chiến đó (22)! Hoa-Kỳ thủ phạm và tòng phạm giết TT Ngô đình Diệm, Tổng Thống một quốc gia độc lập vừa là đồng minh, nay ai cũng biết là vì quyền lợi đế quốc kinh tế chứ chẳng vì lý thuyết cao quý gì cả! Lobby áp lực tư bản Mỹ đứng sau ba ông cố vấn “anti-Diem activists” của Tổng Thống Kennedy là tác-giả bức công điện định mạng Deptel 243 gửi cho Ðại Sứ “thực dân” Cabot Lodge, công điện bật đèn xanh cho vụ đảo-chánh! Còn chuyện Hoa-Kỳ giết lãnh tụ đồng minh, từ hơn 50 năm nay danh sách khá dài; khiến sau cái chết của Tổng Thống Diệm, một vị lãnh tụ ở A Châu là Ayoub Khan, Thủ Tường Pakistan, đã tuyên bố rằng làm đồng minh Hoa-Kỳ thật nguy hiểm, tốt hơn nên trung lập hoặc làm kẻ thù – sau này Kissinger cũng lập lại nhưng đạo đức giả vì tay ông ta nhúng chàm ở Chili, Việt Nam và nhiều nơi khác! Chính phủ Mỹ chứng minh với thế giới rằng khi họ cần thì là đồng minh, khi hết xử dụng được hoặc đụng chạm quyền lợi Mỹ thì ám sát, kể cả người đó là theo chủ nghĩa quốc gia hoặc cùng tôn giáo Thiên Chúa với người Mỹ. Và làm Ðại Sứ Mỹ ở đâu là hôm trước trình ủy nhiệm thư, hôm sau trở thành chuyên viên đảo-chánh!
6. Ðã là một thiết yếu có tính cách giai-đoạn, thành thử về trường kỳ đã là một sai lầm lớn. Các tài liệu được bạch hóa cũng như nhiều nghiên cứu, sách báo từ đó đã đi đến cùng một kết luận: tổng-thống Kennedy đã cho phép (chứ không phải “ra lệnh” – đây là cách hiểu lệnh theo ý của tùy tòng phụ tá ở Mỹ như … và ở Việt Nam như Lucien Conein, Henri C. Lodge). Nghiên cứu mới nhất của ký giả James Rosen tựa The Strong Man: John Mitchell, Nixon and Watergate về vụ Watwergate nhưng trở về một nguồn là vụ ám sát Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Cuốn sách Doubleday sẽ xuất bản tháng 8-2004 nhưng đã có một số bài báo tiết lộ một số chi tiết, như chuyện một cuộn băng được bạch-hoá ngày 28-2-2003 cho biết phó Tổng Thống Johnson đã xác nhận Tổng Thống Kennedy và ban tham mưu kể cả ông, không những đã bật đèn xanh mà còn “tổ chức và thi hành vụ thảm sát này” (“organized and executed it”) với lý do “tham nhũng / corrup”) (?), do đó đã “giết ông ta. Chúng ta đã họp với nhau và dùng một bọn giết mướn đáng nguyền rủa để làm việc này” (“So we killed him. We all got together and got a goddam bunch of thugs and assassinated him”! Xin để ý chữ dùng của phó tổng-thống Johnson để gọi những người phe đảo-chánh! Nhưng ông thêm một câu cho nhẹ tội đồng lõa: “Chúng ta đã giết ông ta vì cho rằng ông ta không tốt. Lúc đó tôi đã can đừng làm việc đó nhưng họ không nghe tôi và cứ thi hành” (“And I just pledge with them please don’t do it. But that is where it started and they knocked him off”). Trong Triangle of Death: The Shocking Truth About the Role of South Vietnam and the French Mafia in the Assassination of JFK , hai nhà báo Bradley O’Leary và L.E. Seymour cho rằng vụ ám sát Tổng Thống Kennedy là hậu quả của vụ ám sát anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm và do bàn tay của mafia gốc Pháp ở New Orleans LA và cả người Việt Nam. Dù những cố vấn và chóp bu toà Bạch ốc có chia ra hai phe bảo-thủ và tự-do, nhưng trách nhiệm lịch-sử đã đổ lên đầu tổng-thống Kennedy! Tổng Thống Kennedy 2 ngày sau, 4-11-1963, xúc động và tỏ ý hối tiếc vụ đảo-chánh và nhận trách nhiệm (23) nhưng vì muốn lấy phiếu cử tri nên ngày 20-11-1963 họp báo ở Hononulu đã tuyên bố sẽ rút quân về nếu thắng cử, và hai ngày sau thì ông bị ám sát ở Dallas, Phó Tổng Thống Johnson lên thay sẽ tha hồ đổ quân vào Việt Nam như tư bản Mỹ muốn!
Dĩ nhiên CIA cũng đã có một vai-trò quan trọng dù kín đáo hơn trong vụ ám sát hai anh em ông Tổng Thống Ngô đình Diệm (24). Ngoài ra, các thông tấn, báo chí nhất là New York Times từ 28-11-1962 đã “dám” cảnh cáo Tổng Thống Ngô đình Diệm nếu không nghe lời Mỹ, sẽ bị rớt đài (25). Các nhà báo Hoa-Kỳ như David Halberstam, Neil Sheehan, Malcolm Brownw, v.v… tìm liên hệ với báo chí Việt Nam đứng đầu là Bùi Diễm tờ Saigon Times để hoàn thành “chiến dịch” lật đổ Tổng Thống một nước đồng minh! Báo chí và truyền thông Hoa-Kỳ sau đó vẫn tiếp tục can dự vào chính-trị Việt Nam đưa đến biến cố 30-4-1975 khiến nhiều người đã kết luận là báo chí Mỹ đã thua cuộc chiến đó, vì vậy mà sau này quân đội Hoa-Kỳ đi đánh vùng Vịnh ở Trung đông đã giảm thiểu tối đa sự có mặt của giới truyền thông Mỹ!
7. Biến cố đảo-chánh này và những diễn biến chính-trị sau đó chứng tỏ vai-trò tệ hại của các chính đảng vốn nhập cảng từ Bắc vào với Hiệp định đình chiến 1954, đã không thật thích hợp với miền đất phía Nam. Các chính khách đó chỉ nhắm ghế bộ trưởng và quyền hành (thời kham khổ chiến đấu bí mật hay từ quần chúng nơi thôn quê hẻo lánh đã … xa lắc!). Rồi từ ngoại quốc về thẳng ghế phó thủ tướng, bộ trưởng, … rồi chạy theo người Mỹ vận động chức chưởng. Xuất hiện những Tân Ðại Việt, Phong Trào Cấp Tiến cùng với những biến mất vì ám sát của những Nguyễn Văn Bông, Trần Văn Văn, … Những Ðại Tá Nguyễn Văn Quan, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa đều là đảng viên Ðại Việt. Vai-trò của các đảng phái đặc biệt là Ðại-Việt Quan Lại tuy không là yếu tố quyết định nhưng góp phần phía chính trị lật đổ chế độ hợp hiến Ngô đình Diệm. Bùi Diễm khoe trong hồi ký và qua các tài liệu mật Pentagon cũng như các tài liệu nói chung, đã cho thấy ông đã đóng vai khá động, với tư cách nhà báo của Saigon Times và đồng thời đảng viên Ðại-Việt, đã làm “con thoi” của người Mỹ, ngay từ đảo-chánh 11-11-1960! Chính Ðạo từng hơn một lần gọi ông Diễm và Ðặng Văn Sung là “đảng viên Ðại-Việt thời cơ” (26). Ông Diễm từ 1960, nhất là sau vụ Caravelle, đã liên hệ cũng như “tường trình” vạch lá tìm sâu chế độ Ngô đình Diệm cho các nhà báo người Mỹ như Neil Sheehan, M. Brown, David Halberstam, v.v. (27). Họ Bùi và đảng Ðại-Việt vì tham vọng quyền lực chính-trị đã “tế thần” chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, qua connection Joseph Buttinger và thủ lãnh Nguyễn Tôn Hoàn đang ở Hoa-Kỳ lúc đó (chờ về … chấp chánh) làm lobby với chính quyền Kennedy. Các tướng lãnh đảo-chánh cũng như chỉnh lý và biểu dương lực lượng sau đó (1963-1965) đều rơi vào mê hồn trận của đảng Ðại-Việt, chi phối cho đến hoà đàm Paris và biến cố 30-4-1975 và cả sau đó ở hải-ngoại (28). Cũng không nên quên vai-trò của Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa trong cái chết của anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Nghĩa là đảng viên Ðại-Việt và từng tuyên bố trả thù cho đồng đảng bị tử trận ngày đảo-chánh. Sau ông lên đại tá và ra hải-ngoại được chất vấn vẫn chưa trả lời thỏa đáng.
8. Nhiều nhân-vật liên hệ và sự kiện, diễn biến chung quanh vụ đảo-chánh cũng như chế độ Ngô đình Diệm đã bị huyền thoại hóa, về gia tài gia đình họ Ngô – tiền của Tổng Thống Ngô đình Diệm gửi cha Toán Dòng Chúa Cứu Thế đã bị Tướng Trần Văn Minh cho người đến lấy, tiền của Cố Vấn Ngô đình Cẩn đã bị Tướng Ðỗ Cao Trí và Nguyễn Khánh lấy – ông này còn đòi thêm tiền ở Thụy Si nhưng có lẽ không có nên đã phó mạng ông Cẩn cho phe Phật giáo bạo động lấy lòng. Một vài sự vật và việc nhỏ nhoi khác cũng được thổi phồng, huyễn hóa cho lớn chuyện: nghiên mực Tức Mặc Hầu có người tình cờ thấy trong dinh Tổng thống, Vương Hồng Sển, một thư-ký thuộc địa (1923-43) lên đến Quản Thủ Viện Bảo Tàng Sài-Gòn (1947-1964), lại đi thắc mắc và tố ông Tổng Thống chiếm đoạt một nghiên mực (bằng suy luận) (29) – trong khi bao vàng bạc châu báu triều đình Huế đã dâng cho Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận đại diện Hồ Chí Minh buộc nhà Vua cuối cùng Triều Nguyễn thoái vị – thì chưa ai “dám” nói đến! Nghiên mực trong một căn phòng Tổng Thống mà vật dụng, trang hoàng chưa chắc đã hơn phòng ngũ của tài xế những ông tướng cùng thời, thì có gì đáng nói ? Nhưng, nhiều “khoa bảng, sử gia” dùng đó để kết luận về … con người Tổng Thống Ngô đình Diệm và phê cả chế độ!
9. Rồi chỉnh lý, biểu dương lực lượng và một số quả báo đã xảy ra cho những người liên hệ xa gần vụ đảo-chánh: TT Mỹ John F. Kennedy bị ám sát 3 tuần sau, ngày 22-11-1963, bốn tướng đảo-chánh (DV Minh, Xuân, Ðôn, Kim), Nguyễn Văn Nhung thiếu tá mới lên, Trần Văn Chương, … hoặc bộ mặt thật chẳng ra gì của họ! Về Dương Văn Minh, bà Tùng Long đã có nhận xét rất đáng kể khi Huỳnh Thành Vị mời bà vào nhóm Ba phe sau khi ông Minh ở Thái Lan về lại Việt Nam, bà đã từ chối lấy lý do không làm chính-trị mà nếu có làm cũng không bao giờ hợp tác với ông Minh với lý như sau: “Khi cờ đến tay mà còn không phất được thì bây giờ còn có cơ hội nào để làm nữa” (30). Bà Tùng Long lúc nhỏ ở gần nhà ông Minh ở đường Trương Công Ðịnh gần vườn Tao đàn, và học chung với các em gái ông Minh. Ðại Tướng Lê Văn Tỵ cũng từng phát biểu rằng tướng Big Minh chỉ “là một thùng phuy rỗng” (31).
10. Trong số những người trung thành với chế độ Ngô đình Diệm, đã có những người nhìn thấy trục trặc của chế độ do đó đã lên tiếng, ra tay, nhưng không được đáp ứng và do đó phải chịu trả giá bản thân: BS Trần Kim Tuyến, ông Nguyễn Văn Châu. V.v. Sau đảo-chánh 11-11-1960 của các sĩ quan như Vương Văn Ðông, Nguyễn Chánh Thi và có bàn tay của một số chính khách, một số người thân tín của chế độ đã nhìn thấy cần cải cách, thay đổi. Một lực lượng đối lập dân chủ được hình thành, Phong Trào Ðại Ðoàn Kết, từ đầu năm 1961 đã có một số đề nghị cải cách trong đó đề nghị lập chức Thủ Tướng và giao cho BS Phan Huy Quát là bộ mặt chính-trị tương đối thanh liêm và có tầm cỡ. Nhưng ông cố vấn Sài-Gòn không cùng ý kiến, do đó ông Châu mất chức, phải đi D.C. làm tùy viên quân sự từ tháng 9-1962, ông Tuyến làm Tổng Lãnh Sự ở Ai cập nhưng chưa nhận nhiệm sở thì đảo-chánh đã xảy ra. Cuộc đảo-chánh 1-11-1963 xảy ra thì tình hình Việt Nam về chính-trị, quân sự đã khác với thời đảo-chánh 11-11-1960: ba năm sau, người Mỹ thao túng mạnh mẽ hơn và các vị trung thành với chế độ đã bị ly tán, không có quân hoặc quyền hành như trước! Ông Châu bị ông Nguyễn Ngọc Khôi trách đem quân ủy vào làm yếu quân đội (32). Còn ông Nguyễn Hữu Duệ thì đưa ra sự kiện trước đảo-chánh, khi “đại tá Tung được lệnh cô lập ông Mậu để dằn mặt những người mưu toan” nhưng ông trung tá Châu “nhảy bổ vào trình diện tổng-thống khóc lóc than phiền là ông Nhu bây giờ hết tin anh em, đã đẩy ông đi xa , nay còn anh Mậu theo cụ từ bao lâu nay mà cũng ra lệnh bắt (…) Nếu ông Châu đừng xía vô việc này thì ông Mậu bị bắt, như vậy các tướng sẽ không dám làm đảo-chánh, tôi hỏi thêm ông Châu. Việc này có thể đúng, ông trả lời” (33)! Ông Duệ hỏi ông Châu chỉ vài ngày sau đảo-chánh. Theo Trần Văn Ðôn và nhiều người thì ông Ðỗ Mậu theo đảo-chánh vì sợ hơn là chủ động theo!
11. Vụ hiệp thương hoặc cố vấn Ngô đình Nhu tiếp xúc với đại diện Hà-Nội (Phạm Hùng, và có thể cả Trần Ðộ theo như lời ông Tôn Thất Thiện (34)) trước nay vẫn được dùng như một luận cứ để bênh vực … Mỹ và nhóm tướng lãnh đảo-chánh! Chính ông Ngô đình Nhu trong một số buổi học tập chính-trị đã kể – chứ không giấu diếm như nhiều người lầm tưởng để khiến CIA Mỹ phải rình rập! Chính Ðạo Vũ Ngự Chiêu nhiều lần nhưng nhất là trong Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975, đã chứng minh “hành động “ve vãn” Cộng-Sản của anh em Diệm-Nhu (…), yếu tố “phiến Cọng” này mới thực sự mang lại sự sụp đổ của đệ Nhất Cộng Hòa (1956-1963) mà không phải cuộc tranh đấu của Phật Giáo, hay cái gọi là “bảo vệ chủ quyền quốc-gia”, “quốc thể”, “nền độc lập” như nhiều người tưởng nghĩ” (35). Một số người để biện hộ cho những hành vi phản bội, phá đổ miền Nam đã lấy lý do ông Nhu nói chuyện với miền Bắc mà họ gọi là “thỏa hiệp với Cọng, xé bỏ Hiến pháp” như Ðỗ Mậu từng ngụy biện (36), vì rồi cũng chính ông Mậu mấy năm trước khi chết đã viết Tâm Thư (1995) và về lại trong nước và đã có những thái độ, lời nói rất khả nghi! Lịch-sử chưa phê phán, chính mình đã tự lột mặt nạ! Giả dụ chuyện đó (cũng như chuyện cành đào chủ tịch họ Hồ miền Bắc gửi cho Tổng Thống miền Nam) có thật và thành công, thiển nghĩ nhiều triệu người Việt, Nam và Bắc, đã không phải hy sinh, nằm xuống hoặc mất tích, thương tật, v.v. và hôm nay cũng chẳng có ai phải bàn cãi chuyện chất độc Orange đã thiêu hủy, gây thương tật cho thiên nhiên, môi trường sống ở Việt Nam cũng như những quái thai trong các ống thí nghiệm của Nhà Nước Hà-Nội! Và biết đâu miền Nam đã trở thành Nam Hàn! V.v. Ừ nhỉ, thế thì cái diaspora Việt Nam hải-ngoại làm sao giải thích? * Vấn-đề nghiên cứu về biến cố, người trẻ sau này sẽ gặp nhiều khó khắn cũng như dễ dàng (37). Xin tham khảo chính văn, đừng nghe kể lại dù người đó là khoa bảng hay có tiếng; nhãn “linh mục, pháp danh” cựu này cựu kia, với một thiểu số có khi còn nguy hại hơn tài liệu và chứng giám của một tù nhân hay lính quèn! Có thật sự tham khảo mới có thể có nhận định, phán đoán chính đáng, công bằng. Hãy tập bỏ lý luận vì người cùng phe, vì danh tiếng người nào đó, nếu muốn tránh hời hợt và trở thành trò xiếc!
Muốn nghiêm chỉnh nghiên cứu và phê phán cuộc đảo-chánh 1-11-1963, thiển nghĩ không thể không làm (thêm) những việc sau đây: – Nghiên cứu lý thuyết chính-trị Nhân Vị của ông Ngô đình Nhu. Thuyết này không từ trên trời rơi xuống, có thông hiểu nó và con người chủ trì ra nó Ðông Tây tổng hợp và có cái nhìn viễn kiến – cũng như muốn hiểu Trung cộng không thể không tham khảo những gì Mao Trạch Ðông đã viết từ những thập niên 1930, 40. Chính đảng trong chính quyền mà có lý thuyết nghiêm túc dĩ nhiên là cần thiết, băng đảng mới là nguy hại! – Nghiên cứu lại những lý-thuyết chống Cộng của ông Nhu cũng như của các người khác, của những thời 1954, 1960, 1963, v.v. so với sau đó cho đến 30-4-1975. – Khách quan tìm hiểu những thực hiện của chế độ Ðệ Nhất Cộng Hoà như chính sách dinh điền, khu trù mật, ấp-chiến-lược, v.v. Cũng tránh thiên-kiến, cảm tính là những điều khó tránh cho những người có liên hệ xa gần đến các biến cố, và tránh những tổng quát hóa đơn sơ như kết luận kiểu “Ngô đình Diệm tạo nên thời đại hoàng kim của Ki-tô giáo” (38) trong khi thực tế phức tạp nhiều! – Một khía cạnh khác cũng đáng kể nhưng ít ai đi sâu vào: vai-trò ông Cố Vấn miền Trung Ngô đình Cẩn. Ông Cẩn liên hệ tốt đẹp với giáo hội Phật giáo ở Huế cũng như với Thích Trí Quang. Nhạy bén và biết hành xử chính-trị, trong vụ khủng hoảng Phật giáo mùa Hè 1963, ông đã mời được các vị lãnh đạo Phật giáo đến nhà ông ngày 7-5-1963 và đã nói như sau khi tiễn họ ra cửa: “Một trò Ơn chết mà chết cả một chính phủ, huống chi của một tôn giáo lớn nhất mà bị triệt hạ ngang như thế!” (39). Giáo sư Nguyễn Văn Trung trong tập bản thảo “Vẽ Ðường Cho Hươu Chạy” đã tổng kết về những sự kiện lịch-sử chưa ai nói đến về ông Ngô đình Cẩn. Giáo sư đưa ra ánh sáng hai điểm qua hai tài liệu Bội Phản Hay Chân Chính, hồi ký tập thể của một số cựu tù nhân của Ðội Công Tác Ðặc Biệt Miền Trung và bài viết của luật sư Võ Văn Quan đăng trên Thế Giới Ngày Nay cuối năm 1992 – ông Quan là người từng biện hộ cho ông Ngô đình Cẩn: thứ nhất, ông Cẩn không phải là thủ phạm hay có dính líu đến vụ đàn áp Phật giáo, ngược lại ông còn ủng hộ cuộc “đấu tranh” đó và chống lại hai ông anh ở Sài-Gòn đã nghe lời TGM Ngô Ðình Thục. Thứ nữa, cách ông Cẩn chống Cộng làm cho cộng-sản Hà-Nội sợ và đã đem lại an ninh cho miền Trung vốn rất xáo động. Trích đoạn đã được đăng trên tờ Ngày Nay Houston (40) nói đến “thành tích chống Cộng của Mật vụ Ngô đình Cẩn-Dương Văn Hiếu thật diệu kỳ, siêu tổ chức”; và tù cộng-sản ở nhà tù ông Cẩn ra đều bị Hà-Nội nghi ngờ và không được tin dùng nữa! Ngoài ra, ông Trung còn đưa ra lý lẽ tại sao thượng tọa Thích Trí Quang muốn xử tử ông Ngô đình Cẩn: chỉ để bịt miệng thế gian là chế độ Ngô đình Diệm đàn áp Phật giáo trong khi thực tế ngược lại. Thích Trí Quang cộng tác với ông Cẩn lúc đầu là để trá hàng, lợi dụng ông Cẩn, và cuối cùng TT Quang đã để cho cộng-sản Hà-Nội lợi dụng ông! Cái chết của ông Cẩn là một sỉ nhục và ông đã khẳng khái tỏ ra khinh miệt kẻ gian khi không chịu bịt mặt!
Về các tài liệu, hồi ký của bên người miền Nam, quốc gia đã đành, mà cũng nên xem qua tiếng nói, nhân chứng phía người cộng sản Việt Nam và cựu đảng viên cộng-sản. Nếu lướt qua những tài liệu chúng tôi đã tham-khảo về biến cố đảo-chánh 1-11, xin lược lại đây một số ý kiến: một số người (Nguyễn Mạnh Quang,…). không tham khảo nguyên bản, chỉ lập lại lời người khác, hoặc trích lời dịch từ những nguyên bản tiếng ngoại ngữ có thể bất khả tín. Người khác, như Trần Ngọc Ninh (40 Năm Sau (41)), một cựu ủy viên tương đương Bộ Trưởng của miền Nam, 40 năm sau đảo-chánh mà không cập nhật tài liệu và khám phá mới, đọc ông cứ như mới viết sau đảo-chánh thời cao trào Phật giáo hoặc suýt gây thánh chiến với Công giáo. Người khác nữa thì nhầm lẫn nhân sự: một ông ở Úc (42) lầm Nguyễn Văn Châu với Nguyễn Hữu Châu, người khác ghi Trần Văn Châu khi nói tới Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý không biết ông ta muốn nói Trần Văn Trung hay Nguyễn Văn Châu vì cả hai đều giữ chức đó, ông Trung trước, ông Châu kế nhiệm.
Tài-liệu hoặc tác giả có thể tin hoặc giúp ích cho nghiên cứu về biến cố có: LM Cao Văn Luận (Bên Giòng Lịch-Sử, 2 ấn bản khác nhau, 1972 & 1983 ở hải-ngoại), Hoàng Lạc & Hà Mai-Việt (Nam Việt-Nam 1954-1975: những sự thật chưa hề nhắc tới. 1990), Nguyễn Trân (Công Và Tội: những sự thật lịch sử; hồi-ký lịch sử chính trị miền Nam 1945-1975. 1992); Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức (Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô đình Diệm. 1994, một điều tra lịch-sử khá khách quan (43); bản dịch ra tiếng Anh: President Ngô Dình Diêm and the US: his overthrow and assassination. 2001), Phan Văn Lưu (Biến Cố Chính-Trị Việt Nam Hiện Ðại. 1994), Vĩnh Phúc (Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm. 1998), Minh Võ (Ngô Ðình Diệm: Lời Khen Tiếng Chê. 1998), Huỳnh Văn Lang (Nhân Chứng Một Chế Ðộ, 3 tập), Nguyễn Hữu Duệ (Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô đình Diệm. 2003),… Cũng như những ấn phẩm xuất-bản trong nước trước 1975 như của Lê Tử Hùng, Ðỗ Thọ, Lương Khải Minh và Cao Vị Hoàng, Minh Hùng Nguyễn Văn Bảo, v.v.
Phía tác-giả ngoại quốc, trước hết phải kể đến những tài liệu giải mật của Pentagon (44), của chính quyền Hoa-Kỳ, Bản tường trình của Phái đoàn điều tra LHQ (công bố ngày 13-12-1963 chứ không bị chìm xuồng như một đôi người viết (45)), B. S. N. Murti (Vietnam divided; the unfinished struggle, 1960, tb 1964), Dennis J. Duncanson (Government and Revolution in Vietnam. 1968), Marguerite Higgins (Our Vietnam Nightmare, 1965), R. Shaplen (The Lost Revolution. 1965), Ellen J. Hammer (A Death in November: America in Vietnam, 1963. 1987), Frederick Nolting (From Trust to Tragedy: the political memoirs of Frederick Nolting, Kennedy’s ambassador to Diem’s Vietnam. 1988), Anne E. Blair (Lodge in Vietnam: a Patriot Abroad. 1995), Francis X. Winters (The Year of the Hare: America in Vietnam, January 25, 1963-February 15, 1964; xuất-bản 1997, từ tài liệu giải mật Foreign Relations of the U.S. 1961-1984),
Những tài-liệu hoặc tác giả sau dùng được nhưng đề cao cảnh giác: Bùi Diễm (In the Jaws of History. 1987; Gọng Kìm Của Lịch-Sử. 2000); Trần Văn Ðôn (Our Endless War: inside Vietnam. 1978; Việt Nam Nhân Chứng. 1989), Nguyễn Cao Kỳ (How we lost the Vietnam War. 1976; Buddha’s Child: my Fight to Save Vietnam. 2002), Phạm Văn Liễu. Trả Ta Sông Núi. Tập 1&2, 2002-, Nguyễn Ngọc Khôi (“Những sai lầm của Ðệ Nhất Cộng Hòa” (46)), Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Ðỗ Mậu (1986), Việt Nam: Một Trời Tâm Sự (1987) của Nguyễn Chánh Thi, 20 Năm Binh Nghiệp, tức Nghĩa Biển Tình Sông. 1998) của Tôn Thất Ðính – đều là những biện hộ không khéo hoặc quá đánh bóng cá nhân, Những bịa đặt, xuyên tạc của những Ðệ Nhất Phu Nhân của Hoàng Trọng Miên, Ðảng Cần Lao (1971) của Chu Bằng Lĩnh tức Mặc Thu, Việt Nam Ðệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (1998) của Nguyễn Mạnh Quang, Những Bí ẩn Lịch-sử Dưới Chế độ Ngô đình Diệm, Những Con Thò Lò Chính-Trị … và tương cận của Lê Trọng Văn, những bài viết và ấn-phẩm của nhóm Giao Ðiểm ở Cali và ở trong nước, cả cuốn Sáu Tháng Pháp Nạn của Vũ Văn Mẫu, cựu ngoại trưởng đã cạo đầu từ chức nhân biến cố Phật Giáo 22-8-1963 và cũng là thủ tướng hai ngày (28-4-1975) của tổng-thống cộng-hòa cuối cùng Dương Văn Minh, đã viết cuốn này lúc còn ở trong nước và in ronéo năm 1984, đến 2003, TT Thích Mãn Giác viết tựa và nhóm Giao Ðiểm in lại ở Nam California. Ngoài ra có những tài liệu, hồi ký khác có thể xử dụng về xa gần biến cố đảo-chánh hoặc con người: Nhị Lang (Phong Trào Trình Minh Thế. 1984), Văn Bia (Ðời Một Phóng Viên Và Những Ngày Chung Sống Với Chí Sĩ Ngô Ðình Diệm, 2001 (47)), Vương Văn Ðông (Binh Biến 11-11-60. 2000), Nguyên Vũ (Chính Ðạo, Vũ Ngự Chiêu) có nhiều tài liệu sử và biên thuật đáng kể và khá tinh tế sử dụng văn liệu, nhưng nếu ông nén cảm tính (dù ông đã ghi là “tâm bút” cho ít nhất hai cuốn Paris Xuân 1996 và Ngàn Năm Soi Mặt), khi sử-liệu-hóa lịch-sử thì giá trị khách quan và khoa học sẽ rõ hơn và thuyết phục được giới trẻ. Những ám ảnh thường thấy trong toàn bộ các biên khảo của ông về chế độ đệ nhất cộng hòa, đó là ngày sinh của tổng-thống Diệm thời mà giấy tờ hộ tịch chưa như sau này, đó là đánh giá cao hoặc cả tin những người Hoa-Kỳ, Pháp (48), v.v. trong mục-đích hạ giá các nhân vật người Việt, đó là mặc cảm về quyền lực của giáo hội Công giáo, đó là không khai thác những văn khố hoặc sự kiện có lợi cho chế độ đó, đó là quá đề cao các đảng phái khác khi phê phán đảng Cần Lao và chế độ, thiếu so sánh và căn cứ trên những sự kiện lịch-sử đã xảy ra, riêng vụ đảo-chánh, ông lý luận như bênh phe đảo-chánh (tại sao anh em Tổng Thống vào trốn ở nhà Mã Tuyên, “một địa điểm đầy nghi hoặc” (49) – nhưng vụ ám sát đã xảy ra khi anh em tổng-thống đã bị bắt và đang bị đưa về bộ chỉ huy đảo-chánh! Còn giả thuyết nếu xin đại sứ Hoa-Kỳ C. Lodge bảo vệ đưa ra khỏi nước thì kết quả chắc gì đã khác hậu quả đã xảy ra với ông Cẩn: giao kẻ xin tị nạn cho phe … giết người (!). Khi kết luận, thiển nghĩ Chính Ðạo không công bằng khi núp sau luật nhân quả (nhưng ai đủ thẩm quyền để xét luật nhân quả?) để xem rất nhẹ tội kẻ chủ mưu giết anh em tổng-thống Diệm hơn là lời nói và cái ông gọi là “vỗ tay” của bà Trần Lệ Xuân khi bà nói đến các vị sư tự thiêu BBQ: sự tự thiêu dù sao cũng có phần nào nghi vấn, trong khi lời nói dù quá lố hoặc được hiểu là thêm dầu vô lửa hay vỗ tay cũng không phải là chính hành động … giết người rồi chối tội sau khi đã nhận tiền ngoại bang và chia chác tiền của chiếm được!
Nhiều luận án ở các đại học Pháp, Mỹ và Úc đã nghiên cứu nghiêm túc một số biến cố hoặc cả chân dung chính-trị miền Nam thời này, về chế độ đệ nhất cộng-hoà, về vai trò một số đảng phái ở miền Nam, và đã có những cái nhìn theo tôi là can đảm, trung thực, công bằng và khoa học. Ở Pháp có rất nhiều luận án từ cao học đến tiến sĩ không thể kể dài dòng ở đây, ở Úc là nơi đang lên về nghiên cứu các vấn-đề Việt Nam từ chính-trị đến văn-học có những luận án tiến sĩ đại học Monash xin kể sau: The Miracle of Vietnam: the Establishment and Consolidation of Ngo Ðinh Diem ‘s Regime, 1954-1959 của Nguyễn Ngọc Tân, The Budhish Crises in Vietnam 1963-1966 của Phan Văn Lưu, v.v.
Ngoài ra cũng nên tìm hiểu thái độ cũng như những phát biểu của những người từng được chế độ đệ nhất cộng hoà cho đi du học, xem họ trung hoặc phản ra sao, cũng như nghiên cứu trường hợp những vị trí thức, khoa bảng hoặc thời cơ, “bảo hoàng hơn vua” để nịnh chế độ ra sao cũng như “tác phẩm” và thái độ của họ sau đó thế nào. Cũng như những người bỏ đạo gốc để theo đạo mới nịnh chế độ để tiến thân, rồi sau đảo-chánh, bỏ đạo mới! Và cả những người cao cấp nằm vùng, gián điệp nhị, tam trùng, v.v. Từ đó có thể có thêm những kết luận khác, về cái tâm địa khốn-cùng của con người chẳng hạn!

Gần đây, một sinh viên tiến-sĩ người Mỹ đã gây ngạc nhiên cho tôi khi anh gặp tôi vì muốn tìm hiểu rõ hơn vai trò của ông Nguyễn Văn Châu cũng như một số người khác liên hệ và chỉ ở những ngày trước sau vụ đảo-chánh 1-11. Một trí thức người Việt tốt nghiệp ở Nga cũng hỏi thăm tôi như vậy! Nghĩa là có người vẫn đi tìm sự thực lịch-sử, việc tôi vẫn và tiếp tục theo dõi! Ngoài ra mới đây, hai ngày 24-25 tháng 10-2003, một cuộc hội thảo về biến cố đảo-chánh 1-11 đã được Vietnam Center thuộc đại học Texas Technology ở Lubbock tổ chức. Cựu đảng viên cộng-sản Bùi Tín đã có bài tham luận đã kết luận như sau về Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đại Tá Lê Quang Tung Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt, như Đại Tá Hồ Tấn Quyền chỉ huy Hải Quân, đều bị đảo chánh giết, sinh mạng ông như ngọn đèn dầu trước bão táp bất nhân, phải nhiều lần ra phi trường ông mới được thoát trở về Hoa-Thịnh-đốn rồi bị nghĩ giã-hạn không lương. Thoát đạn vài vị tướng như nghe nói là TTÐ từng phải “nhịn nhục” ông trong quá khứ. Chán đồng minh Mỹ, ông đi Pháp, đổi sang nghề dạy học cũng như đi học lại. Sau Cao học, ông làm tiếp luận án tiến sĩ, có sang Canada và trở thành khách bộ Ngoại giao Mỹ muà hè 1984 khi đến D.C. nghiên cứu tài liệu. Chúng tôi lúc đó hành nghề thủ-thư ở thư viện Quốc hội Québec, đã phụ tìm giúp ông nhiều tài liệu của Anh nhất là của Sir R. Thompson, Dennis J. Duncanson, của Phi-Luật-Tân, (55)… Ông mất vì bệnh tại miền Nam nước Pháp tháng 8-1985, hết còn có thể trả lời, bạch hóa một số hồi ký và nghi vấn về vụ đảo-chánh và vai-trò của ông trong quá-khứ! *

Từ năm 1962, nội bộ anh em và gia-đình Tổng Thống Ngô đình Diệm đã có những dấu hiệu rạn nứt, có thể bất đồng về một số quyết định chính-trị. Tổng Thống bắt đầu hết thích hợp thời thế (như chọn người dòng dõi, biết chắc gốc gác), vả lại ông quá nhân từ và tin người – dùng người do Pháp đào tạo hoặc quá khứ khả nghi, cuối cùng là vì sống theo tinh thần Nho giáo quyền huynh thế phụ mà ông đã không ngăn cản những sai trái của ông anh tổng giám mục và vợ chồng ông em cố vấn có con trai nối dõi. Hai ông cố vấn có lúc hai đường lối và nhân sự có khi không hẳn như nhau, đưa đến việc nghi ngờ và xa lánh những người thân tin từ đầu như ông trung tá NV Châu, bs Trần Kim Tuyến. Cả hai ông cố vấn đã dùng người đầu thú, chiêu hồi rất gentlemen, phần lớn thu phục người, nhưng có khi bị phản (Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Ngọc Thảo, v.v.). Ba năm trước đó, sau vụ đảo-chánh 11-11-1960, ông Trung Tá Châu là Thư ký Ủy Ban Nhân dân Chống Ðảo-Chánh, các sĩ quan trung thành lúc đó nhiều hơn là người có ý phản. Ba năm sau, tình hình chính-trị và nhân sự đã thay đổi nhiều. Những cán bộ của Ngô đình Cẩn hiệu nghiệm ở miền Trung nhưng bớt ở Sài-Gòn vì không còn đồng thuận có trước đó và ê-kíp thu hẹp hơn trước (56). Chế độ sau 9 năm cầm quyền, với nhân tình đảo điên, với những quá đà và chia rẽ nội bộ, thế nào ngày cuối cũng đến, dù có hay không vụ đảo-chánh 1-11-1963. Nhưng nếu đến với nhiều lá phiếu thật của dân và không phải xảy ra những vụ giết người hèn nhát (anh em Diệm Nhu đã bị trói tay), bất công (ông Ngô đình Cẩn ra đầu thú, thù hận và chính-trị đã xử thay vì công lý xử), thì lịch-sử đã bước đi ngã khác! Tổng-thống Ngô đình Diệm dù có một số khuyết điểm (tinh thần gia tộc mạnh, nghe nịnh hót, xa dân, …) đã hành xử lúc bình sinh và rồi tuẫn tiết như một nhà Nho, chứng tỏ khí tiết của một người quốc-gia yêu nước chân thành, trong khi đối lập và những kẻ phản dân chủ chạy theo tiền và ngoại bang. Có thể lúc về nước năm 1954 ông được sự ủng hộ của ngoại bang, nhưng đã tỏ ra có tài điều khiển khiến kéo dài được 9 năm. Ông không thật sự thiên vị đạo Công giáo và nếu có chăng là do những người tâng công hoặc lạm dụng, cả TGM Ngô Ðình Thục anh ông. (Năm 1959, tổng-thống Diệm được giải Leadership Magsaysay $15,000 đô nhưng ông đã chuyển cho đức Ðạt Lai Lạt Ma qua lãnh sự ở New Delhi). Kết luận như ông Minh Võ: “Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một lãnh tụ xứng đáng của miền Nam” (57). LM Cao Văn Luận lúc gần cuối đời đã phê phán như sau: “Sự thanh toán ông Diệm và chế độ ông Diệm phải chăng là một sai lầm tai hại cho đất nước Việt Nam. Những hỗn loạn chính-trị, những thất bại quân sự sau ngày 1-11-1963 đã trả lời cho câu hỏi đó” (58).

Cuộc đảo-chánh 1-11-1963 đã mở cửa cho cuộc chiến-tranh toàn diện, huynh đệ bị hy-sinh cho lý tưởng cường điệu của hai phe chiến-tranh lạnh, quốc-cộng trở nên lằn ranh hằn sâu lên tâm trí và thân xác con người Việt Nam cho đến hôm nay. Biến cố đó đã mở toang cho thú-tính tung hoành, cho thói tính vô-chính-phủ lên ngôi! Hậu quả này, nay đã rửa sạch, đã trả nợ xong chưa ? Một điều chắc chắn là thời gian 40 năm đã cắt nghĩa nhiều sự kiện, hành động, cũng như cho thấy bộ mặt thật của một số người (Nguyễn đình Thuần, Phan Quang Ðán, Bùi Diễm, TV Ðôn, TT Ðính, Ðỗ Mậu (59), v.v.).
Một nhận xét khác, từ biến cố 1-11, từ khi có quân có súng có “OK” của quan thầy cả tự ý nhân danh Chính nghĩa, để làm loạn, đảo-chánh, chỉnh lý, biểu dương lực lượng – mà năm 1964 là năm trăm hoa đua nở nhất, nhiều người làm chính-trị mỗi lúc một đưa Chính nghĩa ra làm ngáo ộp. Và xuất cảng ra đến hải-ngoại từ sau 1975. Chính nghĩa vốn là cái cao quý, hệ trọng cho cả một dân tộc, đã bị con người ta hễ có chuyện là lôi ra. Trục trặc phe nhóm, cá nhân, buôn bán bảo hiểm, làm ăn không như ý, thế là lại lôi Chính nghĩa ra. Thế mà cũng có thể lôi kéo, quyên góp được tiền bạc của nhiều người – thì cứ xem như là một cách chống Cộng hay chống nằm vùng, chao đảo hoặc để lương tâm được … yên ổn! Dĩ nhiên có những lúc mà Chính nghĩa đã được xử dụng đúng chỗ trong hơn 28 năm qua – phần lớn toàn mạo danh, thậm xưng, làm bạc giả!

Trong bài này, hậu sinh chúng tôi trong việc tìm hiểu lịch-sử, chỉ nói đến sự phản trắc một cơ cấu dân chủ, hợp pháp, hợp hiến – Tổng Thống Ngô đình Diệm là người đại diện được dân cử. Hội đồng Cách-mạng cũng chỉ là một thiểu số của một cơ cấu là quân đội, hơn nữa các ủy viên đứng đầu phần lớn đã đi lính cho Pháp thời Pháp thuộc. Còn Quân đội Việt Nam Cộng Hoà so với bộ đội miền Bắc nói chung anh hùng và nhiều bậc đáng kính hơn! Tai hại về lâu dài của vụ đảo-chánh phản bội, là đã làm yếu các chế độ sau đó vì vẫn xây trên nền không-dân-chủ, và di hại hơn nữa vì chứng đã thành bệnh khi ra đến hải-ngoại: não trạng phản bội, chia rẽ, không tôn trọng dân chủ, cứ nhìn Văn Bút hải-ngoại, các cơ cấu cộng đồng Atlanta, Nam Cali và Bắc Cali đều chia làm 2 với thủ lãnh khác nhau, rồi các cựu tù binh, tị nạn chính-trị, ngay cựu học sinh cũng thành nhiều hội mà danh xưng chỉ là một trò … chơi chữ!

Bài học nếu có cho thế hệ tương lai theo tôi là hãy quên quá-khứ nhưng hãy công bình với lịch-sử xét xử công tội cố gắng khách quan. Chân lý và công lý phải là những mục đích cần có trong việc tìm cho ra những nguyên nhân của não trạng tinh thần và chính-trị người Việt Nam đã khiến cho nước Việt và con người Việt phải như hôm nay, tìm cho ra sự thực từ những khúc mắc chính-trị, gián điệp, tuyên truyền, v.v. Và thoát khỏi tâm địa thời thuộc địa và cả tư duy hậu thuộc địa!
Tóm, tất cả người Việt chúng ta đều là nạn nhân của chính-trị nội bộ Hoa-Kỳ, của truyền thông và báo chí Hoa-Kỳ, của các cường quốc nói chung, của chiến-tranh lạnh, nhưng chúng ta cũng là nạn nhân chính chúng ta mà trong chúng ta kẻ nhiều tội nhất là những kẻ tự xưng là người của Mỹ, của Pháp, của Cộng sản quốc tế,…!

Nguyễn Vy Khanh

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

The

Links:

Giòng Sông Cũ

Chú Thích:
1. Số tiền 3 triệu đồng Việt Nam tức 42,000 Mỹ kim do Lucien Conein đưa đến bộ Tổng Tham mưu cho các tướng đảo-chánh. X. Nguyên Vũ. Ngàn Năm Soi Mặt: tâm bút (Houston: Văn Hóa, 2002), tr. 114; Ðỗ Mậu. Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Mission Hills CA: Quê Hương, tb 1987), tr. 816; v.v…
2. Hội đồng Quân nhân Cách-mạng chỉ thành lập từ ngày 3-11-1963.
3. Cao Văn Luận. Bên Giòng Lịch-Sử 1940-1965 (Sài-Gòn: Trí Dũng, 1972; Sống Mới tái bản, s.d.), tr. 256.
4. Phạm Kim Vinh. Việt Nam Tự Do Từ Ngô Ðình Diệm Ðến Lưu Vong. Tủ Sách PKV, 1987.
5. Trần Văn Ðôn. Việt Nam Nhân-Chứng (Los Alamitos CA: Xuân Thu, 198?), tr. 249.
6. Tôn Thất Ðính. 20 Năm Binh Nghiệp, tức Nghĩa Biển Tình Sông (San Jose CA: TB Chánh Ðạo, 1998), tr. 455.
7. Ðỗ Mậu. Sđd, tr. 789.
8. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 250.
9. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 238.
10. Trần Văn Ðôn kể Nhung đã khoe với con trai ông con dao găm lịch-sử (Sđd, tr. 236-8).
11. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 236. Ngô Ðình Châu xác nhận điều này trong Những Ngày Cuối Cùng Của Ðệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam (s.l.: Holly Graphics, 1999), tr. 19.
12. Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức. Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng-Thống Ngô đình Diệm (San José CA: Quang Vinh, Kim Loan & Quang Hieu, 1994), tr. 532.
13. Ngô Ðình Châu. Sđd, tr. 41. Ông Ngô Ðình Châu đã hỏi trung sĩ trưởng chiến xa M-113 chở anh em tổng-thống Diệm.
14. Diễn Ðàn Phụ Nữ, 148, 1996, tr. 59.
15. Nguyễn Hữu Duệ. Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng-Thống Ngô đình Diệm (Tác-giả xuất-bản, CA 2003), tr. 170-171.
16. Huỳnh Văn Lang. Nhân Chứng Một Chế Ðộ (Tác-giả xuất-bản, 2000), tập 3, tr. 256-8.
17. Tập 2, tr. 70. Lại có tin ông DV Minh không nộp đủ, giấu đi một thùng phuy vàng (X. Nguyên Vũ. NNSM, Sđd, tr. 13).
18. Nguyễn Hữu Duệ. Sđd, tr. 74 & 78. Ông Quan trước khi chết đã xin trở lại đạo Công giáo do TGM Nguyễn Văn Bình rửa tội, điều ông muốbn từ trước đảo-chánh nhưng không làm vì sợ hiểu lầm hoặc giống những người khác!
19. Tr. 258. Nguyễn Kỳ Phong dịch, Vietnam Bibliography ở Centreville VA xuất-bản, 2003. Nguyên bản tiếng Anh xuất-bản năm 1985. Trong Bốn Mươi Năm Văn-Học Chiến-tranh (Ðại Nam, 1997, tr. 140), chúng tôi có trách là các tướng sang Hoa-Kỳ viết report và study xuất-bản hạn chế cho bộ Quốc phòng Mỹ mà quên đồng bào người Việt, nay có bản dịch này nằm trong số những tài liệu đó.
20. Trong nước cũng làm một cuộc kỷ niệm 40 năm “cách-mạng 1-11-1963 thành công”, Nguyễn Ðắc Xuân làm một cuộc “tham quan” dinh Gia Long và nhân đó tiết lộ tướng Dương Văn Minh đã “nạt nộ tướng Ðôn “André! Giờ này mà anh còn muốn phản tôi hả? Nhung đưa súng đây”. Tướng Ðôn sợ quá muốn xỉu luôn! “ (Bốn Mươi Năm Nhìn Lại, tuyển tập 1963-2003. Garden Grove CA: Giao Ðiểm, 2003). Chuyện tướng Ðôn chiều ngày 1-11 điện thoại với tổng-thống Diệm đã có người nói đến, nhưng việc ttướng Minh giựt điện thoại và câu nói “lịch-sử” trên thì chưa, chúng tôi ghi lại với dè dặt vì chưa biết! Xuân kể theo lời KTS Nguyễn Hữu Ðống mà theo ông là “người đại diện dân sự độc nhất có mặt bên cạnh tướng DV Minh lúc ấy”(?).
21. Anne Blair. Lodge in Vietnam. New Haven: Yale University Press, 1995, tr. 190.
22. Bùi Tín. “Nhân vật lịch-sử Ngô đình Diệm và hậu quả cuộc đảo-chánh 1-11, 63”, Ngày Nay, 513, 15-10-2003, tr. A5 & B6.
23. Theo cuộn băng 37 tiếng đồng hồ tàng trữ ở JFK Library (Boston) được giải mật ngày 24-11-1998.
24. X. David Antonel et al. Les Complots de la CIA. Paris: Stock, 1976 (Chương “Un suicide accidentel” – lấy lại lời tuyên bố với báo chí của tướng Trần Tử Oai, ủy viên báo chí, nghe theo lời dặn của tướng Trần Văn Ðôn).
25. Trích theo F X Winters. Sđd, tr. 183. Trong khi đó, tờ New York Herald Tribune thì bênh vực chế độ Ngô đình Diệm!
26. Chính Ðạo. Tôn Giáo Và Chính-Trị: Phật Giáo, 1963-1967. Houston: Văn Hóa, 1994, trích theo bản cập nhật 2003 (phần C. Thay đổi đại sứ Mỹ).
27. X. Marguerite Higgins. Our Vietnam Nightmare, 1965; Ellen J. Hammer . A Death in November: America in Vietnam, 1963. 1987; Nguyễn Ngọc Tân. “The Miracle of Vietnam: the Establishment and Consolidation of Ngo Ðinh Diem ‘s Regime, 1954-1959”. Ph. D. Thesis, Monash University.
28. X. Nghiên cứu của chúng tôi về các vận động chính-trị của người Việt hải-ngoại 1975-2005, sẽ công bố hoặc xuất-bản.
29. Bách Khoa SG, 1969, đăng lại trong hồi ký Hơn Nửa Ðời Hư.
30. Bà Tùng Long. Hồi-Ký (Saigon: NXB Trẻ, 2003), tr. 221.
31. Nguyễn Văn Châu ghi nhận trong Ngô Ðình Diệm Và Nổ Lực Hoà Bình Dang Dở (Los Alamitos CA: Xuân Thu, 1989), tr. 95.
32. “Những sai lầm của Ðệ Nhất Cộng Hòa”. Thời Báo Toronto 202, 11-11-1993; 203, 18-11-1993 (cùng đăng trên một số báo khác). Ông Khôi tư lệnh Lữ đoàn Phòng vệ Tổng-thống phủ lúc xảy ra đảo-chánh 1-11, trong bài viết ông tỏ ra mặc cảm, ghen tương với nhiều người khác lên lon lên chức hơn ông và ông muốn đính chính chối từ liên hệ của ông với chế độ. Ông phê bình ông NV Châu đem đảng Cần lao vào quân đội làm mất hiệu lực và làm mất miền Nam (?). Phê phán ngây thơ vì chiến-tranh một sống một còn với guồng máy cộng-sản, đáng ra còn phải đi xa hơn, nếu không triệt để tổ chức lại quân đội quốc gia thì cũng phải cô lập hoặc cho làm bàn giấy tất cả những phần tử do Pháp đào luyện hoặc quá-khứ khả nghi (MH Xuân, TT Ðính, DV Minh, Ðỗ Mậu, …) là chuyện khả thể ngay cả trong các xã hội dân chủ như Hoa-Kỳ, Pháp.
33. Sđd, tr. 97.
34. X. Vĩnh Phúc. Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm. (Westminter CA: Văn Nghệ, 1998), tr. 337.

35. Chính Ðạo. “Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975” (chưa xuất-bản, bản Internet ở trang giaodiem.com).
36. Ðó cũng là nội dung của cả chương XVI, sđd.
37. Một người nghiên cứu trẻ, Nguyễn Kỳ Phong, tác-giả bộ Người Mỹ và Chiến-tranh Việt Nam (Centreville VA: Vietnam Bibliography, 2001) từng bị chính trị gia Nhị Lang phê phán quá dựa theo tài liệu của Mỹ. X. “Trở lại vụ án 47 năm trước: ai giết tướng Trình Minh Thế?”. Văn Nghệ Tiền Phong, 636, 16-7-2002, tr. 24+.
38. Chính Ðạo. Tôn Giáo Và Chính-Trị: Phật Giáo, 1963-1967. Houston: Văn Hóa, 1994, trích theo bản cập nhật 2003.
39. Hải Triều Âm, 2, 30-4-1964, tr. 5. Trích lại từ Lê Cung. “Tìm hiểu những sự kiện đầu tiên trong phong trào Phật giáo miền Nam 1963”. Nghiên Cứu Lịch-Sử, 4, 1994, tr. 10. Chú thêm: Vụ trò Ơn bị giết khiến học sinh biểu tình và làm rớt chính phủ thời đó!
40. Ngày Nay, 374, 15-9-1997, tr. A5-6.
41. Ðã đăng trên trang Internet Vietpage.com ngày 6-9-2003.
42. ST. “Dân-tộc Việt Nam hai lần bị lường gạt”. Bên Kia Bờ Ðại Dương, 45, 6-2002.
43. Dĩ nhiên bị một số người bênh nhóm tướng lãnh “cách-mạng”, chế độ sau đó và bênh nhóm Phật giáo bạo động, chỉ trích. Nhưng khác Vĩnh Phúc, hai tác-giả này đã phỏng vấn hoặc khiến một số người trong cuộc phải lên tiếng, cả sau khi đã xuất-bản như với trung tá Dương Hiếu Nghĩa (X. Diễn Ðàn Phụ Nữ 148, 1996, tr. 59).
44. The Pentagon Papers: as published by the New York times, The Pentagon history was obtained by Neil Sheehan. Written by Neil Sheehan [and others]. New York, Quadrangle Books [1971]. 810 p.
45. Report of the UN Fact Finding Mission to South Vietnam. Washington D.C.: Government Printing Office, 1964. 254 tr.
46. Bđd. Thời Báo Toronto 202, 11-11-1993; 203, 18-11-1993.
47. Methuen MA: Lê Hồng, 2001. Chúng tôi đã có lời viết Tựa cho tập Hồi ký này.
48. Thí dụ không tin lời học giả Trần Trọng Kim (VNSL) mà tin báo cáo của Khâm sứ Pháp về việc đào mã lãnh tụ Cần Vương Phan Ðình Phùng. Chính Ðạo. Sđd, chú 51. Ðể viết tiểu sử Ngô Ðình Diệm, theo lời ông Nguyên Vũ, đã “sử dụng cơ bản là tập tiểu sử chính phủ Diệm do cơ quan an ninh Pháp thành lập ngày 5/7/1954 hiện vẫn còn chưa giải mật” (HCM con người & huyền thoại, tập III: 1947-1969).
49. Nguyên Vũ. NNSM. Sđd, tr. 135.
50. Bùi Tín. Bđd. Ngày Nay, tr. A5.
51. X. Trương Phú Thứ. Văn Nghệ Tiền-Phong, 643, 1-11-2002, tr. 8.
52. Hoặc nói rằng ông Châu về dự lễ mở tay linh mục của người em ông (X. Nguyễn Hữu Duệ, Sđd, tr. 97) – thật ra đã xảy ra năm 1960.
53. X. Nghiên Cứu Lịch-Sử, 48, 3-1963, tr. 6.
54. Trong số có ông Ðỗ Mậu (X. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 203), nhưng ông Mậu không nói đến trong hồi ký của ông. Người duy nhất trong số đó còn sống là ông NN Khôi.
55. Ghi lại vài tài liệu còn nhớ: Dennis J. Duncanson: Lessons of Vietnam: three interpretive essays, 1971; Indo-China, the conflict analysed, Conflict Studies 39, 1973, v.v.; Robert Thompson: Defeating Communist insurgency: experiences from Malaya and Vietnam. 1966; “Vietnam: the human cost of communism”. Worldview Nov 1972; No exit from Vietnam. 1969; Peace is not at hand. 1974; v.v. Ngoài ra, nói đến tài liệu, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ còn giữ cuộn băng ông trả lời phỏng vấn của nhà báo Neil Sheehan năm 1974 (X. Prof. Nguyen Van Chau, Oct. 24, 1974, my study, Wash., D.C. [sound recording]. 1974; Call no: RYB 6636-6637 (Recording made or collected by Neil Sheehan in preparation for the writing of his book A bright shining lie: John Paul Vann and America in Vietnam).
56. Nhà văn Nguyên Sa trong Hồi Ký (Irvine CA: Ðời, 1998) đã viết lại sự hữu hiệu của công an miền Trung ở Sài-Gòn (tr. 271+).
57. Minh Võ. Sđd, tr. 286.
58. Cao Văn Luận. Bên Giòng Lịch-Sử Việt Nam, 1940-1975 (Sacramento, CA: Tantu Research, c1983), tr. 6.
59. Ông Tôn Thất Ðính và Ðỗ Mậu là hai người bị phê phán nặng nề nhất, riêng ông Ðính ít ra đã có những lời “thú lỗi” dù tập thể ở đoạn cuối cuốn hồi ký: “cuộc hành quân 1-11-63 không phải là một thành công mà chính là một thảm bại lớn lao đối với lịch-sử” (Sđd, tr. 455). Hãy so với đa ngôn nhưng lời rỗng của Ðỗ Mậu: “ý nghĩa thực sự của ngày 1-11-63 là giải thoát. Trên mặt lịch-sử, nó chấm dứt những bế tắc của thế và thời để khai mở một giòng sinh mệnh mới; trên mặt dân-tộc, nó chấm dứt một giai đoạn trì trệ và đen tối để dân-tộc lại trở về với chức năng của chủ nhân đất nước (!)… “ (Sđd, tr. 791).


Sau Một Cuộc Bội Phản – Nguyễn Vy Khanh

Bài đọc suy gẫm: Sau Một Cuộc Bội Phản hay 40 năm sau một cuộc bội phản của tác giả Nguyễn Vy Khanh, cựu học sinh Pétrus Ký, hiện đang sống tại Montreal, Canada. Ông cho biết: “Với tư cách hậu sinh và nghiệp-dư nghiên cứu lịch-sử, chúng tôi xin có một số nhận xét về biến cố lịch-sử và chính-trị 1-11-1963 đã xảy ra 40 năm trước, mong độc giả xem đây là những góp ý hướng về tương lai hơn là tranh luận hơn thiệt và biên khảo lịch-sử”. Hình ảnh chỉ có tính minh họa.

 Để tưởng nhớ đến cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm…….

 

 Tưởng niệm Chí sĩ Ngô Đình Diệm tại Nam California.

1. Trước hết, cuộc đảo-chánh 1-11-1963 nói chung là một vụ bội-phản có tính toán và vì quyền lợi (1) phe nhóm cá nhân hơn là quốc-gia, của một số sĩ quan cao cấp trong đó phần lớn là thành phần đã được người Pháp đào tạo. Xảy ra như ở một số thuộc địa ở Phi châu mà tình trạng còn mãi đến nay! Cuộc đảo-chánh 1-11 thêm một lần chứng minh và làm nổi bật cái não trạng (mentality) phản trắc, hai lòng và cái não-trạng phục tùng ngoại bang của một số người Việt Nam. Ngay hai đảng viên Cần Lao đã phản là tướng Tôn Thất Ðính và Ðại Tá Ðỗ Mậu: ông Ðính, “con cưng của chế độ”, ngày 25-10 trước đảo-chánh, đã xin cải tổ chính phủ và cho ông chức Bộ Trưởng Nội Vụ nhưng bị từ chối (ông Trần Văn Ðôn thì mong được chức Bộ Trưởng Quốc-Phòng) ngoài ra ông mang thêm mặc cảm tấn công các chùa đêm 21-8-63 và bị ông Nhu khiển trách họp báo nói tiếng Pháp bồi và cho đi nghĩ Ðà-Lạt, còn Ðại Tá Ðỗ Mậu theo đảo chánh vì tức đã không được lên tướng trong khi bạn ông (cùng trình độ như ông) được đeo sao. Sau ngày 2-11-1963, lon tướng tá được gắn thoải mái, cả tự gắn, có người (Tướng Ðỗ Cao Trí) phải khiếu nại và rồi dù vừa mới lên lon chưa đầy tháng cũng được thêm một lon nữa! Thời Trịnh Nguyễn và phân tranh Gia Long – Tây Sơn được tái diễn trên mảnh đất nhiều ngàn năm văn hiến đó! Những não trạng đáng buồn đó, tiếc thay, hãy còn hiện diện sống động trong cộng đồng người Việt hải-ngoại!

2. Cuộc đảo-chánh này nay nhìn lại thấy rõ là một mưu đồ chống phá những nền tảng cùng tư tưởng dân-chủ của một nền Cộng Hoà (République) non nớt 9 năm. Cá nhân một số tướng tá đảo-chánh đã phản chủ, phản thầy, phản đảng trưởng, nhưng toàn thể những người liên hệ xa gần với đảo-chánh đã phản bội chính thể dân chủ. Chế độ TT Ngô Ðình Diệm vào 2, 3 năm cuối có thể bắt đầu mất lòng dân vì tỏ ra độc tài, đối lập bị tù, cả bị chết oan, đồng ý, nhưng đối lập ở Việt Nam ta cứ nhắm lật đổ chính quyền hợp pháp, cứ một sống một chết, mà không chấp nhận trò chơi dân chủ. Nếu tranh đấu chính-trị như ở các nước Tây phương thì đã không đưa đến những hậu quả đó. Vả lại tất cả những người bị chính quyền bắt (sinh viên, học sinh, phật tử, chính-trị gia, cả những người bị bắt sau vụ đảo-chánh 11-11-1960 chờ ra tòa) đều đã được Hội Ðồng Cách Mạng thả tự do – nhưng bắt tù lại một số cao cấp của chính quyền vừa bị đảo-chánh, có người sau sẽ bị xử tử! Xét về toàn bộ nguyên nhân đưa đến cuộc đảo-chánh 1-11, yếu tố tôn giáo chỉ là cái cớ, một cớ có tổ chức chứ không tự bộc phát và “pháp nạn” chỉ xảy ra ở một số nơi có đầu não phe Phật giáo chính-trị!

3. Nếu phải nói đến Chính Nghĩa, Chính Danh, thì nhìn chung, đã bị phe đảo-chánh và đồng minh Mỹ xem thường. 1-11-1963 là một cuộc đảo-chánh nghĩa là phá đổ Chánh đề phù Tà hoặc tạo-dựng một Chánh khác không thể Chánh bằng cái Chánh do dân chủ tạo nên, vì dù gì thì chính quyền Ðệ Nhất Cộng Hòa là một cơ cấu hợp hiến, hợp pháp và tương đối có chính nghĩa! Ngay sau khi chắc chắn anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm đã chết, chiều 2-11-1963, Ủy Ban Cách-mạng (2) đã ra Quyết nghị số 2 ngưng áp dụng Hiến Pháp 26-10-1956! Có người đổi “đảo-chánh” thành “cách-mạng” thì cũng chẳng thấy cách-mạng gì hơn vì cũng từng ấy nhân vật, từ Thủ Tướng Nguyễn Ngọc Thơ đến các tướng nhiều sao trong Hội đồng Cách-mạng đều do quân đội (và công an) thực dân Pháp đào luyện, và cũng chẳng có lý-thuyết cách-mạng gì mới! Những người làm đảo-chánh tự cho có chính-nghĩa dù không tôn trọng trật tự, dân chủ, cả những người làm đảo-chánh 11-11-1960 trước đó. Có người phê phán ông Ngô đình Diệm “lật lọng”, “phản” cựu hoàng Bảo Ðại là người đã bổ nhiệm ông làm Thủ Tướng, có người còn nhân danh phong hoá Nho Giáo hoặc dân tộc.

Chúng tôi nhìn thời đó như một thời Trịnh Nguyễn và Gia Long-Tây Sơn: thì Quang Trung cũng đã nhận lời vua Lê Hiển Tông phù Lê diệt Trịnh và còn được gả công chúa Ngọc-Hân cho, mà rồi sau quần thần vua Lê bị ông rượt sang Tàu. Thứ nữa sử cũng ghi rằng anh em Tây Sơn nhận phục tùng chúa Nguyễn, chỉ cốt lật đổ quyền thần Trương Phúc Loan thôi, mà rồi thành Phú Xuân đã bị anh em Tây Sơn đốt cháy, còn quần thần Chúa Nguyễn phải bỏ chạy vô Nam. Thứ nữa, thời điểm tháng 6 và 7 năm 1954 là lúc chiến-tranh Việt-Pháp lên cao độ, khủng hoảng chính-trị (chính-phủ Bửu Hội không được lâu), xã hội băng hoại và miền Nam thì thập nhị sứ quân. Cựu Hoàng Bảo Ðại dù là Quốc Trưởng nhưng không hề đụng việc, chỉ giải trí riêng với hậu thuẫn (và tiền bạc, bổng lộc) của các sứ quân. Bảo Ðại lại do người Pháp đặt ở chức quốc trưởng, nên trưng cầu dân ý và Hiến Pháp 26-10-1956 không phải là một bước đầu dân chủ đấy sao? Trong hoàn cảnh bất an hậu thế chiến và thuộc địa đó, làm Thủ Tướng đâu phải dễ (trước đó mấy năm thủ tướng BS Nguyễn Văn Thinh đã phải tự sát!). Chính những người pro-Bảo Ðại ở Pháp lúc đó đã nhận xét như LM Cao Văn Luận nhân chứng ghi lại trong hồi ký của ngài:” Bảo Ðại đưa ông Ngô đình Diệm về Việt Nam là để đốt cháy tương lai chính-trị của ông mà thôi!” (3). Thành quả và sự thực lịch-sử đã hiển nhiên, viết lịch-sử là đứng ở tổng thể và cân nhắc phải-trái, sao lại có người đi soi móc chi tiết thổi phồng cho to, mà lại làm một cách thiên vị hoặc giả dối, đạo đức giả ? Tiện đây chúng tôi xin mở dấu ngoặc nói thêm là đối với cuộc chiến-tranh vừa qua (1954-1975), giới viết lách trong nước và một phần ở hải-ngoại đã nhận ra rằng chẳng có chính nghĩa nào hết nếu xét cho cùng. Tất cả chỉ là cường điệu, và hai bên đều là công cụ cho những “lý-tưởng” đối chọi nhau. Và vì không có chính nghĩa (dù có chính-đáng) nên cũng đã chẳng có một chung cuộc theo nghĩa có bên thắng có phe thua. Nga, Trung quốc và Hoa-Kỳ chỉ ngưng … chơi vì kiệt quệ, vậy thôi! Phạm Kim Vinh, vốn khó tính, vẫn nhìn nhận “chính quyền Ngô đình Diệm là chính quyền duy nhất của người Việt quốc-gia tạo được chính danh, chính thống và chính nghĩa cho công cuộc chống Cộng của người Việt Nam” (4).

4. Ðể “hoàn thành” cuộc đảo-chánh, trong hai ngày 1 và 2-11-1963, những kẻ chủ mưu và thừa hành đã ám sát theo thứ tự thời gian: Ðại Tá Hồ Tấn Quyền Tư Lệnh Hải Quân trưa 1-11, Ðại Tá Lê Quang Tung Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt, và em ông là Thiếu Tá Lê Quang Triệu tối 1-11; Tổng Thống Ngô đình Diệm và em ông là Cố vấn Ngô đình Nhu sáng 2-11. Bốn người, anh em ông Tổng Thống và anh em ông Tung Triệu bị Ðại úy Nguyễn Văn Nhung cận vệ của Dương Văn Minh giết và bắn chết (Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa cùng với Ðại úy Nhung giết anh em Tổng Thống), Ðại Tá Quyền bị thuộc hạ phản thùng là Thiếu Tá Lực và Ðại úy Giang giết. Các sĩ quan khác không thuận theo đảo-chánh hoặc bị nghi ngờ thì bị giam ở bộ Tổng Tham mưu như Cao Văn Viên, Lê Nguyên Khang, Nguyễn Ngọc Khôi, Ðỗ Ngọc Nhận, v.v.

 

 

 

 

 

 

Đại tá Lê Quang Tung (trái), tư lệnh Lực lượng đặc biệt và Đại tá Hồ Tấn Quyền, tư lệnh Hải quân thời Đệ nhất Cộng Hòa.

Người trách nhiệm hàng đầu trong vụ ám sát anh em Tổng Thống là Trung Tường Dương Văn Minh. Các tướng thuộc Ủy Ban Cách-Mạng ở Sài-Gòn lúc đó như Trần Văn Ðôn (5), Tôn Thất Ðính (6) và đại tá Ðỗ Mậu (7), … hoặc ở xa như Tướng Khánh, Thi đều xác nhận điều này. Dù gì thì anh em Tổng-Thống Ngô Đình Diệm đã bị ám sát chết, do Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa hay Ðại úy Nguyễn Văn Nhung thừa hành thì Tướng Dương Văn Minh và Ủy Ban Cách-Mạng phải liên đới trách nhiệm trước lịch-sử, cũng như các Tướng Mai Hữu Xuân (“Mission accomplie!” chào trình Tướng Dương Văn Minh) và hai Ðại Tá Nguyễn Văn Quan và Dương Văn Lắm, … chỉ huy đoàn quân xa đi đón đã không làm tròn trách nhiệm, hoặc có chỉ huy mà như không hoặc đồng lõa vì sự đã rõ là hai ông Nghĩa và Nhung muốn làm gì thì làm (cả cho biết trước!). Ông Trần Văn Ðôn kết luận chuyện tìm kẻ chủ xướng đã tỏ đồng ý và khen “người nào đó ra lịnh giết nầy quả là một người thấy xa, ông ta không phải ngu dại khi làm việc đó” (8). Dĩ nhiên người Mỹ hài lòng vì tham vọng bành trướng chiến-tranh sẽ hết bị cản trở bởi vị nguyên thủ quốc-gia hợp hiến, đã mừng reo lên chiều ngày 2-11 khi đón hai ông Ðôn và Lê Văn Kim đại diện các tướng đảo-chánh: “C’est formidable! C’est magnifique! (Tuyệt vời!)” (9).

Vai-trò của Nguyễn Văn Nhung thì đã rõ (10), còn Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa thì nhiều nhân chứng từ sau 1963 đã ám chỉ ông tham gia việc giết anh em tổng-thống – cả hai đều ngồi chung xe thiết-giáp với anh em Tổng Thống. Theo Trần Văn Ðôn, ông Nghĩa đòi đi theo đoàn đón Tổng Thống và nói “Moa có nhiệm vụ” (11). Hoàng Văn Lạc (Biệt bộ Tham mưu phủ Tổng Thống lúc đảo-chánh) và Hà Mai-Việt trong Nam Việt-Nam 1954-1975: Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới, xuất-bản năm 1990, buộc tội ông Nghĩa là đao phủ thủ thứ hai trong vụ ám sát Tổng Thống. Ðiều tra của ông bà Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức xuất-bản năm 1994 cũng đưa tới cùng kết luận đó (12) nhưng ông Nghĩa từ chối trả lời phỏng vấn sau khi qua Mỹ theo diện H.O. Năm 1996, ông Nghĩa cuối cùng lên tiếng, tự biện hộ cho rằng ông có biết Tướng Dương Văn Minh ra lệnh giết ông Nhu. Ngay sau đó, ông bà Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức viết bài vạch mười điểm sai lầm và ngụy biện của ông Nghĩa, cho biết thêm Ðại úy Phan Hòa Hiệp (sau lên Chuẩn Tướng) đã nói với hai soạn giả (cũng như với nhiều người khác như Ngô Ðình Châu (13)), rằng ông đã nghe ông Nghĩa nói sẽ giết anh em ông Diệm để trả thù cho Ðại úy Thiết Giáp Bùi Ngươn Ngãi bạn ông và cùng đảng viên Ðại-Việt bị tử thương trong ngày đảo-chánh (14). Ông Duệ thì chắc chắn về việc ông Nghĩa nhúng tay giết tổng-thống vì có hai nhân chứng thấy ông Nghĩa lau tay dính máu. Về sau ông Nghĩa làm Phụ thẩm tòa án cách-mạng xử tử ông Ngô đình Cẩn, vậy theo ông Duệ, ông Nghĩa đã dính máu ba anh em ông Tổng Thống (15)! Ông Huỳnh Văn Lang trong bộ hồi ký Nhân Chứng Một Chế Ðộ đã cho biết thêm một số chuyện: Ðại Tá Nguyễn Văn Quan có vai-trò trong cái chết của anh em Ngô đình Diệm, ông Quan thuộc đảng Ðại Việt và có thù cá nhân với ông Nhu (16). Thứ nữa, tướng Dương Văn Minh bất mãn bị lấy lại “chiến lợi phẩm” từ Bảy Viễn (17). Ông Nguyễn Hữu Duệ, lúc đảo-chánh là Thiếu Tá Tư Lệnh Phó cho Trung Tá Nguyễn Ngọc Khôi Lữ đoàn Phòng Vệ Tổng Thống Phủ, đã ghi lại trong Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm (18), rằng ông Quan đã chối với ông vai-trò trong vụ ám sát tổng-thống vì ông Quan chỉ tình cờ đi theo. Cựu Ðại Tướng Cao Văn Viên trong Những Ngày Cuối Của Việt Nam Cộng-Hòa trong lời Bạt viết thêm khi bản dịch xuất-bản (19), đã tiết lộ thêm ông suýt bị cách-mạng giết vào tối 1-11 sau khi Ðại úy Nhung đã đưa anh em Lê Quang Tung đi giết ở nghĩa trang Bắc Việt Tương Tế.

Ông Ngô đình Cẩn (hình bên) đã vào tị nạn tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ nhưng họ lại giao ông cho hội đồng quân nhân cách mạng!

Ông Ngô đình Cẩn (hình bên) và Phan Quang Ðông thì bị “cách-mạng nối dài” xử tử ngày 9-5-1964 tức sáu tháng sau. Ông Cố Vấn Ngô đình Cẩn cả tin ở lời hứa của người Mỹ, đã vào trốn ở toà Lãnh Sự Mỹ ở Huế để cuối cùng bị đại sứ Henry Cabot Lodge giao lại cho những người vì họ ông phải … xin tị nạn, rồi khi có án tử thì Lodge (vờ) xin ân xá cho nạn nhân của y! Như vậy cái chết đến với ông vì một tướng Cần Lao phản bội khác vì muốn lấy lòng Phật Giáo nhưng lý do chính có thể vì không khai thác được tiền tưởng ông Cẩn và gia-đình gửi ở Thụy Si trong thực tế có thể không hề có (20)!

Ðảo-chánh 1-11-1963 cùng với những cái chết bi đát không những đối với người chết, với công lao và hành trạng của họ, mà còn bi đát cả đối với người sống, bởi vậy đã 40 năm qua, tang thương đã nhiều mà những cái chết đó vẫn còn ám ảnh nhiều người, Việt cũng như Mỹ, Pháp! Bà Anne Blair gọi là một “mối ám ảnh đeo đuổi dai dẵng lương tâm nước Mỹ, quần chúng và nhà lãnh đạo xứ này, tạo ra hội chứng Việt Nam / Vietnam Syndrome” (21). Người bản chất đã xấu càng tệ hơn bên cạnh con người thanh cao càng tỏ rạng hơn với thời gian!

5. Ðảo-chánh này đã có lợi cho kẻ thù nghịch là Hà-Nội và cho đồng minh Hoa-Kỳ. Hà-Nội từ sau đảo-chánh không còn phải đối đầu chính-trị với Ngô đình Diệm – một người yêu nước, thanh liêm mà nay chỉ phải đối đầu với tay sai, bù nhìn của thực dân Mỹ, lại tham nhũng, mất tư cách, gây “khoảng trống chính-trị khổng lồ” cho miền Nam thì dễ dàng quá xá! Cựu đảng viên cộng-sản Bùi Tín cho biết đảo-chánh đã gây thuận lợi cho mưu đồ thôn tính miền Nam của Hà-Nội, tháng 4-1964, chính Tướng Nguyễn Chí Thanh đã đích thân vào Nam điều khiển cuộc chiến đó (22)! Hoa-Kỳ thủ phạm và tòng phạm giết TT Ngô đình Diệm, Tổng Thống một quốc gia độc lập vừa là đồng minh, nay ai cũng biết là vì quyền lợi đế quốc kinh tế chứ chẳng vì lý thuyết cao quý gì cả! Lobby áp lực tư bản Mỹ đứng sau ba ông cố vấn “anti-Diem activists” của Tổng Thống Kennedy là tác-giả bức công điện định mạng Deptel 243 gửi cho Ðại Sứ “thực dân” Cabot Lodge, công điện bật đèn xanh cho vụ đảo-chánh! Còn chuyện Hoa-Kỳ giết lãnh tụ đồng minh, từ hơn 50 năm nay danh sách khá dài; khiến sau cái chết của Tổng Thống Diệm, một vị lãnh tụ ở A Châu là Ayoub Khan, Thủ Tường Pakistan, đã tuyên bố rằng làm đồng minh Hoa-Kỳ thật nguy hiểm, tốt hơn nên trung lập hoặc làm kẻ thù – sau này Kissinger cũng lập lại nhưng đạo đức giả vì tay ông ta nhúng chàm ở Chili, Việt Nam và nhiều nơi khác! Chính phủ Mỹ chứng minh với thế giới rằng khi họ cần thì là đồng minh, khi hết xử dụng được hoặc đụng chạm quyền lợi Mỹ thì ám sát, kể cả người đó là theo chủ nghĩa quốc gia hoặc cùng tôn giáo Thiên Chúa với người Mỹ. Và làm Ðại Sứ Mỹ ở đâu là hôm trước trình ủy nhiệm thư, hôm sau trở thành chuyên viên đảo-chánh!

6. Ðã là một thiết yếu có tính cách giai-đoạn, thành thử về trường kỳ đã là một sai lầm lớn. Các tài liệu được bạch hóa cũng như nhiều nghiên cứu, sách báo từ đó đã đi đến cùng một kết luận: tổng-thống Kennedy đã cho phép (chứ không phải “ra lệnh” – đây là cách hiểu lệnh theo ý của tùy tòng phụ tá ở Mỹ như … và ở Việt Nam như Lucien Conein, Henri C. Lodge). Nghiên cứu mới nhất của ký giả James Rosen tựa The Strong Man: John Mitchell, Nixon and Watergate về vụ Watwergate nhưng trở về một nguồn là vụ ám sát Tổng Thống Ngô Ðình Diệm. Cuốn sách Doubleday sẽ xuất bản tháng 8-2004 nhưng đã có một số bài báo tiết lộ một số chi tiết, như chuyện một cuộn băng được bạch-hoá ngày 28-2-2003 cho biết phó Tổng Thống Johnson đã xác nhận Tổng Thống Kennedy và ban tham mưu kể cả ông, không những đã bật đèn xanh mà còn “tổ chức và thi hành vụ thảm sát này” (“organized and executed it”) với lý do “tham nhũng / corrup”) (?), do đó đã “giết ông ta. Chúng ta đã họp với nhau và dùng một bọn giết mướn đáng nguyền rủa để làm việc này” (“So we killed him. We all got together and got a goddam bunch of thugs and assassinated him”! Xin để ý chữ dùng của phó tổng-thống Johnson để gọi những người phe đảo-chánh! Nhưng ông thêm một câu cho nhẹ tội đồng lõa: “Chúng ta đã giết ông ta vì cho rằng ông ta không tốt. Lúc đó tôi đã can đừng làm việc đó nhưng họ không nghe tôi và cứ thi hành” (“And I just pledge with them please don’t do it. But that is where it started and they knocked him off”). Trong Triangle of Death: The Shocking Truth About the Role of South Vietnam and the French Mafia in the Assassination of JFK , hai nhà báo Bradley O’Leary và L.E. Seymour cho rằng vụ ám sát Tổng Thống Kennedy là hậu quả của vụ ám sát anh em Tổng Thống Ngô đình Diệm và do bàn tay của mafia gốc Pháp ở New Orleans LA và cả người Việt Nam. Dù những cố vấn và chóp bu toà Bạch ốc có chia ra hai phe bảo-thủ và tự-do, nhưng trách nhiệm lịch-sử đã đổ lên đầu tổng-thống Kennedy! Tổng Thống Kennedy 2 ngày sau, 4-11-1963, xúc động và tỏ ý hối tiếc vụ đảo-chánh và nhận trách nhiệm (23) nhưng vì muốn lấy phiếu cử tri nên ngày 20-11-1963 họp báo ở Hononulu đã tuyên bố sẽ rút quân về nếu thắng cử, và hai ngày sau thì ông bị ám sát ở Dallas, Phó Tổng Thống Johnson lên thay sẽ tha hồ đổ quân vào Việt Nam như tư bản Mỹ muốn!

Dĩ nhiên CIA cũng đã có một vai-trò quan trọng dù kín đáo hơn trong vụ ám sát hai anh em ông Tổng Thống Ngô đình Diệm (24). Ngoài ra, các thông tấn, báo chí nhất là New York Times từ 28-11-1962 đã “dám” cảnh cáo Tổng Thống Ngô đình Diệm nếu không nghe lời Mỹ, sẽ bị rớt đài (25). Các nhà báo Hoa-Kỳ như David Halberstam, Neil Sheehan, Malcolm Brownw, v.v… tìm liên hệ với báo chí Việt Nam đứng đầu là Bùi Diễm tờ Saigon Times để hoàn thành “chiến dịch” lật đổ Tổng Thống một nước đồng minh! Báo chí và truyền thông Hoa-Kỳ sau đó vẫn tiếp tục can dự vào chính-trị Việt Nam đưa đến biến cố 30-4-1975 khiến nhiều người đã kết luận là báo chí Mỹ đã thua cuộc chiến đó, vì vậy mà sau này quân đội Hoa-Kỳ đi đánh vùng Vịnh ở Trung đông đã giảm thiểu tối đa sự có mặt của giới truyền thông Mỹ!

7. Biến cố đảo-chánh này và những diễn biến chính-trị sau đó chứng tỏ vai-trò tệ hại của các chính đảng vốn nhập cảng từ Bắc vào với Hiệp định đình chiến 1954, đã không thật thích hợp với miền đất phía Nam. Các chính khách đó chỉ nhắm ghế bộ trưởng và quyền hành (thời kham khổ chiến đấu bí mật hay từ quần chúng nơi thôn quê hẻo lánh đã … xa lắc!). Rồi từ ngoại quốc về thẳng ghế phó thủ tướng, bộ trưởng, … rồi chạy theo người Mỹ vận động chức chưởng. Xuất hiện những Tân Ðại Việt, Phong Trào Cấp Tiến cùng với những biến mất vì ám sát của những Nguyễn Văn Bông, Trần Văn Văn, … Những Ðại Tá Nguyễn Văn Quan, Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa đều là đảng viên Ðại Việt. Vai-trò của các đảng phái đặc biệt là Ðại-Việt Quan Lại tuy không là yếu tố quyết định nhưng góp phần phía chính trị lật đổ chế độ hợp hiến Ngô đình Diệm. Bùi Diễm khoe trong hồi ký và qua các tài liệu mật Pentagon cũng như các tài liệu nói chung, đã cho thấy ông đã đóng vai khá động, với tư cách nhà báo của Saigon Times và đồng thời đảng viên Ðại-Việt, đã làm “con thoi” của người Mỹ, ngay từ đảo-chánh 11-11-1960! Chính Ðạo từng hơn một lần gọi ông Diễm và Ðặng Văn Sung là “đảng viên Ðại-Việt thời cơ” (26). Ông Diễm từ 1960, nhất là sau vụ Caravelle, đã liên hệ cũng như “tường trình” vạch lá tìm sâu chế độ Ngô đình Diệm cho các nhà báo người Mỹ như Neil Sheehan, M. Brown, David Halberstam, v.v. (27). Họ Bùi và đảng Ðại-Việt vì tham vọng quyền lực chính-trị đã “tế thần” chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, qua connection Joseph Buttinger và thủ lãnh Nguyễn Tôn Hoàn đang ở Hoa-Kỳ lúc đó (chờ về … chấp chánh) làm lobby với chính quyền Kennedy. Các tướng lãnh đảo-chánh cũng như chỉnh lý và biểu dương lực lượng sau đó (1963-1965) đều rơi vào mê hồn trận của đảng Ðại-Việt, chi phối cho đến hoà đàm Paris và biến cố 30-4-1975 và cả sau đó ở hải-ngoại (28). Cũng không nên quên vai-trò của Thiếu Tá Dương Hiếu Nghĩa trong cái chết của anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Nghĩa là đảng viên Ðại-Việt và từng tuyên bố trả thù cho đồng đảng bị tử trận ngày đảo-chánh. Sau ông lên đại tá và ra hải-ngoại được chất vấn vẫn chưa trả lời thỏa đáng.

8. Nhiều nhân-vật liên hệ và sự kiện, diễn biến chung quanh vụ đảo-chánh cũng như chế độ Ngô đình Diệm đã bị huyền thoại hóa, về gia tài gia đình họ Ngô – tiền của Tổng Thống Ngô đình Diệm gửi cha Toán Dòng Chúa Cứu Thế đã bị Tướng Trần Văn Minh cho người đến lấy, tiền của Cố Vấn Ngô đình Cẩn đã bị Tướng Ðỗ Cao Trí và Nguyễn Khánh lấy – ông này còn đòi thêm tiền ở Thụy Si nhưng có lẽ không có nên đã phó mạng ông Cẩn cho phe Phật giáo bạo động lấy lòng. Một vài sự vật và việc nhỏ nhoi khác cũng được thổi phồng, huyễn hóa cho lớn chuyện: nghiên mực Tức Mặc Hầu có người tình cờ thấy trong dinh Tổng thống, Vương Hồng Sển, một thư-ký thuộc địa (1923-43) lên đến Quản Thủ Viện Bảo Tàng Sài-Gòn (1947-1964), lại đi thắc mắc và tố ông Tổng Thống chiếm đoạt một nghiên mực (bằng suy luận) (29) – trong khi bao vàng bạc châu báu triều đình Huế đã dâng cho Trần Huy Liệu, Cù Huy Cận đại diện Hồ Chí Minh buộc nhà Vua cuối cùng Triều Nguyễn thoái vị – thì chưa ai “dám” nói đến! Nghiên mực trong một căn phòng Tổng Thống mà vật dụng, trang hoàng chưa chắc đã hơn phòng ngũ của tài xế những ông tướng cùng thời, thì có gì đáng nói ? Nhưng, nhiều “khoa bảng, sử gia” dùng đó để kết luận về … con người Tổng Thống Ngô đình Diệm và phê cả chế độ!

9. Rồi chỉnh lý, biểu dương lực lượng và một số quả báo đã xảy ra cho những người liên hệ xa gần vụ đảo-chánh: TT Mỹ John F. Kennedy bị ám sát 3 tuần sau, ngày 22-11-1963, bốn tướng đảo-chánh (DV Minh, Xuân, Ðôn, Kim), Nguyễn Văn Nhung thiếu tá mới lên, Trần Văn Chương, … hoặc bộ mặt thật chẳng ra gì của họ! Về Dương Văn Minh, bà Tùng Long đã có nhận xét rất đáng kể khi Huỳnh Thành Vị mời bà vào nhóm Ba phe sau khi ông Minh ở Thái Lan về lại Việt Nam, bà đã từ chối lấy lý do không làm chính-trị mà nếu có làm cũng không bao giờ hợp tác với ông Minh với lý như sau: “Khi cờ đến tay mà còn không phất được thì bây giờ còn có cơ hội nào để làm nữa” (30). Bà Tùng Long lúc nhỏ ở gần nhà ông Minh ở đường Trương Công Ðịnh gần vườn Tao đàn, và học chung với các em gái ông Minh. Ðại Tướng Lê Văn Tỵ cũng từng phát biểu rằng tướng Big Minh chỉ “là một thùng phuy rỗng” (31).

10. Trong số những người trung thành với chế độ Ngô đình Diệm, đã có những người nhìn thấy trục trặc của chế độ do đó đã lên tiếng, ra tay, nhưng không được đáp ứng và do đó phải chịu trả giá bản thân: BS Trần Kim Tuyến, ông Nguyễn Văn Châu. V.v. Sau đảo-chánh 11-11-1960 của các sĩ quan như Vương Văn Ðông, Nguyễn Chánh Thi và có bàn tay của một số chính khách, một số người thân tín của chế độ đã nhìn thấy cần cải cách, thay đổi. Một lực lượng đối lập dân chủ được hình thành, Phong Trào Ðại Ðoàn Kết, từ đầu năm 1961 đã có một số đề nghị cải cách trong đó đề nghị lập chức Thủ Tướng và giao cho BS Phan Huy Quát là bộ mặt chính-trị tương đối thanh liêm và có tầm cỡ. Nhưng ông cố vấn Sài-Gòn không cùng ý kiến, do đó ông Châu mất chức, phải đi D.C. làm tùy viên quân sự từ tháng 9-1962, ông Tuyến làm Tổng Lãnh Sự ở Ai cập nhưng chưa nhận nhiệm sở thì đảo-chánh đã xảy ra. Cuộc đảo-chánh 1-11-1963 xảy ra thì tình hình Việt Nam về chính-trị, quân sự đã khác với thời đảo-chánh 11-11-1960: ba năm sau, người Mỹ thao túng mạnh mẽ hơn và các vị trung thành với chế độ đã bị ly tán, không có quân hoặc quyền hành như trước! Ông Châu bị ông Nguyễn Ngọc Khôi trách đem quân ủy vào làm yếu quân đội (32). Còn ông Nguyễn Hữu Duệ thì đưa ra sự kiện trước đảo-chánh, khi “đại tá Tung được lệnh cô lập ông Mậu để dằn mặt những người mưu toan” nhưng ông trung tá Châu “nhảy bổ vào trình diện tổng-thống khóc lóc than phiền là ông Nhu bây giờ hết tin anh em, đã đẩy ông đi xa , nay còn anh Mậu theo cụ từ bao lâu nay mà cũng ra lệnh bắt (…) Nếu ông Châu đừng xía vô việc này thì ông Mậu bị bắt, như vậy các tướng sẽ không dám làm đảo-chánh, tôi hỏi thêm ông Châu. Việc này có thể đúng, ông trả lời” (33)! Ông Duệ hỏi ông Châu chỉ vài ngày sau đảo-chánh. Theo Trần Văn Ðôn và nhiều người thì ông Ðỗ Mậu theo đảo-chánh vì sợ hơn là chủ động theo!

11. Vụ hiệp thương hoặc cố vấn Ngô đình Nhu tiếp xúc với đại diện Hà-Nội (Phạm Hùng, và có thể cả Trần Ðộ theo như lời ông Tôn Thất Thiện (34)) trước nay vẫn được dùng như một luận cứ để bênh vực … Mỹ và nhóm tướng lãnh đảo-chánh! Chính ông Ngô đình Nhu trong một số buổi học tập chính-trị đã kể – chứ không giấu diếm như nhiều người lầm tưởng để khiến CIA Mỹ phải rình rập! Chính Ðạo Vũ Ngự Chiêu nhiều lần nhưng nhất là trong Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975, đã chứng minh “hành động “ve vãn” Cộng-Sản của anh em Diệm-Nhu (…), yếu tố “phiến Cọng” này mới thực sự mang lại sự sụp đổ của đệ Nhất Cộng Hòa (1956-1963) mà không phải cuộc tranh đấu của Phật Giáo, hay cái gọi là “bảo vệ chủ quyền quốc-gia”, “quốc thể”, “nền độc lập” như nhiều người tưởng nghĩ” (35). Một số người để biện hộ cho những hành vi phản bội, phá đổ miền Nam đã lấy lý do ông Nhu nói chuyện với miền Bắc mà họ gọi là “thỏa hiệp với Cọng, xé bỏ Hiến pháp” như Ðỗ Mậu từng ngụy biện (36), vì rồi cũng chính ông Mậu mấy năm trước khi chết đã viết Tâm Thư (1995) và về lại trong nước và đã có những thái độ, lời nói rất khả nghi! Lịch-sử chưa phê phán, chính mình đã tự lột mặt nạ! Giả dụ chuyện đó (cũng như chuyện cành đào chủ tịch họ Hồ miền Bắc gửi cho Tổng Thống miền Nam) có thật và thành công, thiển nghĩ nhiều triệu người Việt, Nam và Bắc, đã không phải hy sinh, nằm xuống hoặc mất tích, thương tật, v.v. và hôm nay cũng chẳng có ai phải bàn cãi chuyện chất độc Orange đã thiêu hủy, gây thương tật cho thiên nhiên, môi trường sống ở Việt Nam cũng như những quái thai trong các ống thí nghiệm của Nhà Nước Hà-Nội! Và biết đâu miền Nam đã trở thành Nam Hàn! V.v. Ừ nhỉ, thế thì cái diaspora Việt Nam hải-ngoại làm sao giải thích? * Vấn-đề nghiên cứu về biến cố, người trẻ sau này sẽ gặp nhiều khó khắn cũng như dễ dàng (37). Xin tham khảo chính văn, đừng nghe kể lại dù người đó là khoa bảng hay có tiếng; nhãn “linh mục, pháp danh” cựu này cựu kia, với một thiểu số có khi còn nguy hại hơn tài liệu và chứng giám của một tù nhân hay lính quèn! Có thật sự tham khảo mới có thể có nhận định, phán đoán chính đáng, công bằng. Hãy tập bỏ lý luận vì người cùng phe, vì danh tiếng người nào đó, nếu muốn tránh hời hợt và trở thành trò xiếc!

Muốn nghiêm chỉnh nghiên cứu và phê phán cuộc đảo-chánh 1-11-1963, thiển nghĩ không thể không làm (thêm) những việc sau đây: – Nghiên cứu lý thuyết chính-trị Nhân Vị của ông Ngô đình Nhu. Thuyết này không từ trên trời rơi xuống, có thông hiểu nó và con người chủ trì ra nó Ðông Tây tổng hợp và có cái nhìn viễn kiến – cũng như muốn hiểu Trung cộng không thể không tham khảo những gì Mao Trạch Ðông đã viết từ những thập niên 1930, 40. Chính đảng trong chính quyền mà có lý thuyết nghiêm túc dĩ nhiên là cần thiết, băng đảng mới là nguy hại! – Nghiên cứu lại những lý-thuyết chống Cộng của ông Nhu cũng như của các người khác, của những thời 1954, 1960, 1963, v.v. so với sau đó cho đến 30-4-1975. – Khách quan tìm hiểu những thực hiện của chế độ Ðệ Nhất Cộng Hoà như chính sách dinh điền, khu trù mật, ấp-chiến-lược, v.v. Cũng tránh thiên-kiến, cảm tính là những điều khó tránh cho những người có liên hệ xa gần đến các biến cố, và tránh những tổng quát hóa đơn sơ như kết luận kiểu “Ngô đình Diệm tạo nên thời đại hoàng kim của Ki-tô giáo” (38) trong khi thực tế phức tạp nhiều! – Một khía cạnh khác cũng đáng kể nhưng ít ai đi sâu vào: vai-trò ông Cố Vấn miền Trung Ngô đình Cẩn. Ông Cẩn liên hệ tốt đẹp với giáo hội Phật giáo ở Huế cũng như với Thích Trí Quang. Nhạy bén và biết hành xử chính-trị, trong vụ khủng hoảng Phật giáo mùa Hè 1963, ông đã mời được các vị lãnh đạo Phật giáo đến nhà ông ngày 7-5-1963 và đã nói như sau khi tiễn họ ra cửa: “Một trò Ơn chết mà chết cả một chính phủ, huống chi của một tôn giáo lớn nhất mà bị triệt hạ ngang như thế!” (39). Giáo sư Nguyễn Văn Trung trong tập bản thảo “Vẽ Ðường Cho Hươu Chạy” đã tổng kết về những sự kiện lịch-sử chưa ai nói đến về ông Ngô đình Cẩn. Giáo sư đưa ra ánh sáng hai điểm qua hai tài liệu Bội Phản Hay Chân Chính, hồi ký tập thể của một số cựu tù nhân của Ðội Công Tác Ðặc Biệt Miền Trung và bài viết của luật sư Võ Văn Quan đăng trên Thế Giới Ngày Nay cuối năm 1992 – ông Quan là người từng biện hộ cho ông Ngô đình Cẩn: thứ nhất, ông Cẩn không phải là thủ phạm hay có dính líu đến vụ đàn áp Phật giáo, ngược lại ông còn ủng hộ cuộc “đấu tranh” đó và chống lại hai ông anh ở Sài-Gòn đã nghe lời TGM Ngô Ðình Thục. Thứ nữa, cách ông Cẩn chống Cộng làm cho cộng-sản Hà-Nội sợ và đã đem lại an ninh cho miền Trung vốn rất xáo động. Trích đoạn đã được đăng trên tờ Ngày Nay Houston (40) nói đến “thành tích chống Cộng của Mật vụ Ngô đình Cẩn-Dương Văn Hiếu thật diệu kỳ, siêu tổ chức”; và tù cộng-sản ở nhà tù ông Cẩn ra đều bị Hà-Nội nghi ngờ và không được tin dùng nữa! Ngoài ra, ông Trung còn đưa ra lý lẽ tại sao thượng tọa Thích Trí Quang muốn xử tử ông Ngô đình Cẩn: chỉ để bịt miệng thế gian là chế độ Ngô đình Diệm đàn áp Phật giáo trong khi thực tế ngược lại. Thích Trí Quang cộng tác với ông Cẩn lúc đầu là để trá hàng, lợi dụng ông Cẩn, và cuối cùng TT Quang đã để cho cộng-sản Hà-Nội lợi dụng ông! Cái chết của ông Cẩn là một sỉ nhục và ông đã khẳng khái tỏ ra khinh miệt kẻ gian khi không chịu bịt mặt!

Về các tài liệu, hồi ký của bên người miền Nam, quốc gia đã đành, mà cũng nên xem qua tiếng nói, nhân chứng phía người cộng sản Việt Nam và cựu đảng viên cộng-sản. Nếu lướt qua những tài liệu chúng tôi đã tham-khảo về biến cố đảo-chánh 1-11, xin lược lại đây một số ý kiến: một số người (Nguyễn Mạnh Quang,…). không tham khảo nguyên bản, chỉ lập lại lời người khác, hoặc trích lời dịch từ những nguyên bản tiếng ngoại ngữ có thể bất khả tín. Người khác, như Trần Ngọc Ninh (40 Năm Sau (41)), một cựu ủy viên tương đương Bộ Trưởng của miền Nam, 40 năm sau đảo-chánh mà không cập nhật tài liệu và khám phá mới, đọc ông cứ như mới viết sau đảo-chánh thời cao trào Phật giáo hoặc suýt gây thánh chiến với Công giáo. Người khác nữa thì nhầm lẫn nhân sự: một ông ở Úc (42) lầm Nguyễn Văn Châu với Nguyễn Hữu Châu, người khác ghi Trần Văn Châu khi nói tới Giám Đốc Nha Chiến Tranh Tâm Lý không biết ông ta muốn nói Trần Văn Trung hay Nguyễn Văn Châu vì cả hai đều giữ chức đó, ông Trung trước, ông Châu kế nhiệm.

Tài-liệu hoặc tác giả có thể tin hoặc giúp ích cho nghiên cứu về biến cố có: LM Cao Văn Luận (Bên Giòng Lịch-Sử, 2 ấn bản khác nhau, 1972 & 1983 ở hải-ngoại), Hoàng Lạc & Hà Mai-Việt (Nam Việt-Nam 1954-1975: những sự thật chưa hề nhắc tới. 1990), Nguyễn Trân (Công Và Tội: những sự thật lịch sử; hồi-ký lịch sử chính trị miền Nam 1945-1975. 1992); Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức (Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng Thống Ngô đình Diệm. 1994, một điều tra lịch-sử khá khách quan (43); bản dịch ra tiếng Anh: President Ngô Dình Diêm and the US: his overthrow and assassination. 2001), Phan Văn Lưu (Biến Cố Chính-Trị Việt Nam Hiện Ðại. 1994), Vĩnh Phúc (Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm. 1998), Minh Võ (Ngô Ðình Diệm: Lời Khen Tiếng Chê. 1998), Huỳnh Văn Lang (Nhân Chứng Một Chế Ðộ, 3 tập), Nguyễn Hữu Duệ (Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng Thống Ngô đình Diệm. 2003),… Cũng như những ấn phẩm xuất-bản trong nước trước 1975 như của Lê Tử Hùng, Ðỗ Thọ, Lương Khải Minh và Cao Vị Hoàng, Minh Hùng Nguyễn Văn Bảo, v.v.

Phía tác-giả ngoại quốc, trước hết phải kể đến những tài liệu giải mật của Pentagon (44), của chính quyền Hoa-Kỳ, Bản tường trình của Phái đoàn điều tra LHQ (công bố ngày 13-12-1963 chứ không bị chìm xuồng như một đôi người viết (45)), B. S. N. Murti (Vietnam divided; the unfinished struggle, 1960, tb 1964), Dennis J. Duncanson (Government and Revolution in Vietnam. 1968), Marguerite Higgins (Our Vietnam Nightmare, 1965), R. Shaplen (The Lost Revolution. 1965), Ellen J. Hammer (A Death in November: America in Vietnam, 1963. 1987), Frederick Nolting (From Trust to Tragedy: the political memoirs of Frederick Nolting, Kennedy’s ambassador to Diem’s Vietnam. 1988), Anne E. Blair (Lodge in Vietnam: a Patriot Abroad. 1995), Francis X. Winters (The Year of the Hare: America in Vietnam, January 25, 1963-February 15, 1964; xuất-bản 1997, từ tài liệu giải mật Foreign Relations of the U.S. 1961-1984),

Những tài-liệu hoặc tác giả sau dùng được nhưng đề cao cảnh giác: Bùi Diễm (In the Jaws of History. 1987; Gọng Kìm Của Lịch-Sử. 2000); Trần Văn Ðôn (Our Endless War: inside Vietnam. 1978; Việt Nam Nhân Chứng. 1989), Nguyễn Cao Kỳ (How we lost the Vietnam War. 1976; Buddha’s Child: my Fight to Save Vietnam. 2002), Phạm Văn Liễu. Trả Ta Sông Núi. Tập 1&2, 2002-, Nguyễn Ngọc Khôi (“Những sai lầm của Ðệ Nhất Cộng Hòa” (46)), Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi của Ðỗ Mậu (1986), Việt Nam: Một Trời Tâm Sự (1987) của Nguyễn Chánh Thi, 20 Năm Binh Nghiệp, tức Nghĩa Biển Tình Sông. 1998) của Tôn Thất Ðính – đều là những biện hộ không khéo hoặc quá đánh bóng cá nhân, Những bịa đặt, xuyên tạc của những Ðệ Nhất Phu Nhân của Hoàng Trọng Miên, Ðảng Cần Lao (1971) của Chu Bằng Lĩnh tức Mặc Thu, Việt Nam Ðệ Nhất Cộng Hòa Toàn Thư 1954-1963 (1998) của Nguyễn Mạnh Quang, Những Bí ẩn Lịch-sử Dưới Chế độ Ngô đình Diệm, Những Con Thò Lò Chính-Trị … và tương cận của Lê Trọng Văn, những bài viết và ấn-phẩm của nhóm Giao Ðiểm ở Cali và ở trong nước, cả cuốn Sáu Tháng Pháp Nạn của Vũ Văn Mẫu, cựu ngoại trưởng đã cạo đầu từ chức nhân biến cố Phật Giáo 22-8-1963 và cũng là thủ tướng hai ngày (28-4-1975) của tổng-thống cộng-hòa cuối cùng Dương Văn Minh, đã viết cuốn này lúc còn ở trong nước và in ronéo năm 1984, đến 2003, TT Thích Mãn Giác viết tựa và nhóm Giao Ðiểm in lại ở Nam California. Ngoài ra có những tài liệu, hồi ký khác có thể xử dụng về xa gần biến cố đảo-chánh hoặc con người: Nhị Lang (Phong Trào Trình Minh Thế. 1984), Văn Bia (Ðời Một Phóng Viên Và Những Ngày Chung Sống Với Chí Sĩ Ngô Ðình Diệm, 2001 (47)), Vương Văn Ðông (Binh Biến 11-11-60. 2000), Nguyên Vũ (Chính Ðạo, Vũ Ngự Chiêu) có nhiều tài liệu sử và biên thuật đáng kể và khá tinh tế sử dụng văn liệu, nhưng nếu ông nén cảm tính (dù ông đã ghi là “tâm bút” cho ít nhất hai cuốn Paris Xuân 1996 và Ngàn Năm Soi Mặt), khi sử-liệu-hóa lịch-sử thì giá trị khách quan và khoa học sẽ rõ hơn và thuyết phục được giới trẻ. Những ám ảnh thường thấy trong toàn bộ các biên khảo của ông về chế độ đệ nhất cộng hòa, đó là ngày sinh của tổng-thống Diệm thời mà giấy tờ hộ tịch chưa như sau này, đó là đánh giá cao hoặc cả tin những người Hoa-Kỳ, Pháp (48), v.v. trong mục-đích hạ giá các nhân vật người Việt, đó là mặc cảm về quyền lực của giáo hội Công giáo, đó là không khai thác những văn khố hoặc sự kiện có lợi cho chế độ đó, đó là quá đề cao các đảng phái khác khi phê phán đảng Cần Lao và chế độ, thiếu so sánh và căn cứ trên những sự kiện lịch-sử đã xảy ra, riêng vụ đảo-chánh, ông lý luận như bênh phe đảo-chánh (tại sao anh em Tổng Thống vào trốn ở nhà Mã Tuyên, “một địa điểm đầy nghi hoặc” (49) – nhưng vụ ám sát đã xảy ra khi anh em tổng-thống đã bị bắt và đang bị đưa về bộ chỉ huy đảo-chánh! Còn giả thuyết nếu xin đại sứ Hoa-Kỳ C. Lodge bảo vệ đưa ra khỏi nước thì kết quả chắc gì đã khác hậu quả đã xảy ra với ông Cẩn: giao kẻ xin tị nạn cho phe … giết người (!). Khi kết luận, thiển nghĩ Chính Ðạo không công bằng khi núp sau luật nhân quả (nhưng ai đủ thẩm quyền để xét luật nhân quả?) để xem rất nhẹ tội kẻ chủ mưu giết anh em tổng-thống Diệm hơn là lời nói và cái ông gọi là “vỗ tay” của bà Trần Lệ Xuân khi bà nói đến các vị sư tự thiêu BBQ: sự tự thiêu dù sao cũng có phần nào nghi vấn, trong khi lời nói dù quá lố hoặc được hiểu là thêm dầu vô lửa hay vỗ tay cũng không phải là chính hành động … giết người rồi chối tội sau khi đã nhận tiền ngoại bang và chia chác tiền của chiếm được!

Nhiều luận án ở các đại học Pháp, Mỹ và Úc đã nghiên cứu nghiêm túc một số biến cố hoặc cả chân dung chính-trị miền Nam thời này, về chế độ đệ nhất cộng-hoà, về vai trò một số đảng phái ở miền Nam, và đã có những cái nhìn theo tôi là can đảm, trung thực, công bằng và khoa học. Ở Pháp có rất nhiều luận án từ cao học đến tiến sĩ không thể kể dài dòng ở đây, ở Úc là nơi đang lên về nghiên cứu các vấn-đề Việt Nam từ chính-trị đến văn-học có những luận án tiến sĩ đại học Monash xin kể sau: The Miracle of Vietnam: the Establishment and Consolidation of Ngo Ðinh Diem ‘s Regime, 1954-1959 của Nguyễn Ngọc Tân, The Budhish Crises in Vietnam 1963-1966 của Phan Văn Lưu, v.v.

Ngoài ra cũng nên tìm hiểu thái độ cũng như những phát biểu của những người từng được chế độ đệ nhất cộng hoà cho đi du học, xem họ trung hoặc phản ra sao, cũng như nghiên cứu trường hợp những vị trí thức, khoa bảng hoặc thời cơ, “bảo hoàng hơn vua” để nịnh chế độ ra sao cũng như “tác phẩm” và thái độ của họ sau đó thế nào. Cũng như những người bỏ đạo gốc để theo đạo mới nịnh chế độ để tiến thân, rồi sau đảo-chánh, bỏ đạo mới! Và cả những người cao cấp nằm vùng, gián điệp nhị, tam trùng, v.v. Từ đó có thể có thêm những kết luận khác, về cái tâm địa khốn-cùng của con người chẳng hạn!

Gần đây, một sinh viên tiến-sĩ người Mỹ đã gây ngạc nhiên cho tôi khi anh gặp tôi vì muốn tìm hiểu rõ hơn vai trò của ông Nguyễn Văn Châu cũng như một số người khác liên hệ và chỉ ở những ngày trước sau vụ đảo-chánh 1-11. Một trí thức người Việt tốt nghiệp ở Nga cũng hỏi thăm tôi như vậy! Nghĩa là có người vẫn đi tìm sự thực lịch-sử, việc tôi vẫn và tiếp tục theo dõi! Ngoài ra mới đây, hai ngày 24-25 tháng 10-2003, một cuộc hội thảo về biến cố đảo-chánh 1-11 đã được Vietnam Center thuộc đại học Texas Technology ở Lubbock tổ chức. Cựu đảng viên cộng-sản Bùi Tín đã có bài tham luận đã kết luận như sau về Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Đại Tá Lê Quang Tung Tư Lệnh Lực Lượng Ðặc Biệt, như Đại Tá Hồ Tấn Quyền chỉ huy Hải Quân, đều bị đảo chánh giết, sinh mạng ông như ngọn đèn dầu trước bão táp bất nhân, phải nhiều lần ra phi trường ông mới được thoát trở về Hoa-Thịnh-đốn rồi bị nghĩ giã-hạn không lương. Thoát đạn vài vị tướng như nghe nói là TTÐ từng phải “nhịn nhục” ông trong quá khứ. Chán đồng minh Mỹ, ông đi Pháp, đổi sang nghề dạy học cũng như đi học lại. Sau Cao học, ông làm tiếp luận án tiến sĩ, có sang Canada và trở thành khách bộ Ngoại giao Mỹ muà hè 1984 khi đến D.C. nghiên cứu tài liệu. Chúng tôi lúc đó hành nghề thủ-thư ở thư viện Quốc hội Québec, đã phụ tìm giúp ông nhiều tài liệu của Anh nhất là của Sir R. Thompson, Dennis J. Duncanson, của Phi-Luật-Tân, (55)… Ông mất vì bệnh tại miền Nam nước Pháp tháng 8-1985, hết còn có thể trả lời, bạch hóa một số hồi ký và nghi vấn về vụ đảo-chánh và vai-trò của ông trong quá-khứ! *

Từ năm 1962, nội bộ anh em và gia-đình Tổng Thống Ngô đình Diệm đã có những dấu hiệu rạn nứt, có thể bất đồng về một số quyết định chính-trị. Tổng Thống bắt đầu hết thích hợp thời thế (như chọn người dòng dõi, biết chắc gốc gác), vả lại ông quá nhân từ và tin người – dùng người do Pháp đào tạo hoặc quá khứ khả nghi, cuối cùng là vì sống theo tinh thần Nho giáo quyền huynh thế phụ mà ông đã không ngăn cản những sai trái của ông anh tổng giám mục và vợ chồng ông em cố vấn có con trai nối dõi. Hai ông cố vấn có lúc hai đường lối và nhân sự có khi không hẳn như nhau, đưa đến việc nghi ngờ và xa lánh những người thân tin từ đầu như ông trung tá NV Châu, bs Trần Kim Tuyến. Cả hai ông cố vấn đã dùng người đầu thú, chiêu hồi rất gentlemen, phần lớn thu phục người, nhưng có khi bị phản (Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Ngọc Thảo, v.v.). Ba năm trước đó, sau vụ đảo-chánh 11-11-1960, ông Trung Tá Châu là Thư ký Ủy Ban Nhân dân Chống Ðảo-Chánh, các sĩ quan trung thành lúc đó nhiều hơn là người có ý phản. Ba năm sau, tình hình chính-trị và nhân sự đã thay đổi nhiều. Những cán bộ của Ngô đình Cẩn hiệu nghiệm ở miền Trung nhưng bớt ở Sài-Gòn vì không còn đồng thuận có trước đó và ê-kíp thu hẹp hơn trước (56). Chế độ sau 9 năm cầm quyền, với nhân tình đảo điên, với những quá đà và chia rẽ nội bộ, thế nào ngày cuối cũng đến, dù có hay không vụ đảo-chánh 1-11-1963. Nhưng nếu đến với nhiều lá phiếu thật của dân và không phải xảy ra những vụ giết người hèn nhát (anh em Diệm Nhu đã bị trói tay), bất công (ông Ngô đình Cẩn ra đầu thú, thù hận và chính-trị đã xử thay vì công lý xử), thì lịch-sử đã bước đi ngã khác! Tổng-thống Ngô đình Diệm dù có một số khuyết điểm (tinh thần gia tộc mạnh, nghe nịnh hót, xa dân, …) đã hành xử lúc bình sinh và rồi tuẫn tiết như một nhà Nho, chứng tỏ khí tiết của một người quốc-gia yêu nước chân thành, trong khi đối lập và những kẻ phản dân chủ chạy theo tiền và ngoại bang. Có thể lúc về nước năm 1954 ông được sự ủng hộ của ngoại bang, nhưng đã tỏ ra có tài điều khiển khiến kéo dài được 9 năm. Ông không thật sự thiên vị đạo Công giáo và nếu có chăng là do những người tâng công hoặc lạm dụng, cả TGM Ngô Ðình Thục anh ông. (Năm 1959, tổng-thống Diệm được giải Leadership Magsaysay $15,000 đô nhưng ông đã chuyển cho đức Ðạt Lai Lạt Ma qua lãnh sự ở New Delhi). Kết luận như ông Minh Võ: “Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một lãnh tụ xứng đáng của miền Nam” (57). LM Cao Văn Luận lúc gần cuối đời đã phê phán như sau: “Sự thanh toán ông Diệm và chế độ ông Diệm phải chăng là một sai lầm tai hại cho đất nước Việt Nam. Những hỗn loạn chính-trị, những thất bại quân sự sau ngày 1-11-1963 đã trả lời cho câu hỏi đó” (58).

Cuộc đảo-chánh 1-11-1963 đã mở cửa cho cuộc chiến-tranh toàn diện, huynh đệ bị hy-sinh cho lý tưởng cường điệu của hai phe chiến-tranh lạnh, quốc-cộng trở nên lằn ranh hằn sâu lên tâm trí và thân xác con người Việt Nam cho đến hôm nay. Biến cố đó đã mở toang cho thú-tính tung hoành, cho thói tính vô-chính-phủ lên ngôi! Hậu quả này, nay đã rửa sạch, đã trả nợ xong chưa ? Một điều chắc chắn là thời gian 40 năm đã cắt nghĩa nhiều sự kiện, hành động, cũng như cho thấy bộ mặt thật của một số người (Nguyễn đình Thuần, Phan Quang Ðán, Bùi Diễm, TV Ðôn, TT Ðính, Ðỗ Mậu (59), v.v.).

Một nhận xét khác, từ biến cố 1-11, từ khi có quân có súng có “OK” của quan thầy cả tự ý nhân danh Chính nghĩa, để làm loạn, đảo-chánh, chỉnh lý, biểu dương lực lượng – mà năm 1964 là năm trăm hoa đua nở nhất, nhiều người làm chính-trị mỗi lúc một đưa Chính nghĩa ra làm ngáo ộp. Và xuất cảng ra đến hải-ngoại từ sau 1975. Chính nghĩa vốn là cái cao quý, hệ trọng cho cả một dân tộc, đã bị con người ta hễ có chuyện là lôi ra. Trục trặc phe nhóm, cá nhân, buôn bán bảo hiểm, làm ăn không như ý, thế là lại lôi Chính nghĩa ra. Thế mà cũng có thể lôi kéo, quyên góp được tiền bạc của nhiều người – thì cứ xem như là một cách chống Cộng hay chống nằm vùng, chao đảo hoặc để lương tâm được … yên ổn! Dĩ nhiên có những lúc mà Chính nghĩa đã được xử dụng đúng chỗ trong hơn 28 năm qua – phần lớn toàn mạo danh, thậm xưng, làm bạc giả!

Trong bài này, hậu sinh chúng tôi trong việc tìm hiểu lịch-sử, chỉ nói đến sự phản trắc một cơ cấu dân chủ, hợp pháp, hợp hiến – Tổng Thống Ngô đình Diệm là người đại diện được dân cử. Hội đồng Cách-mạng cũng chỉ là một thiểu số của một cơ cấu là quân đội, hơn nữa các ủy viên đứng đầu phần lớn đã đi lính cho Pháp thời Pháp thuộc. Còn Quân đội Việt Nam Cộng Hoà so với bộ đội miền Bắc nói chung anh hùng và nhiều bậc đáng kính hơn! Tai hại về lâu dài của vụ đảo-chánh phản bội, là đã làm yếu các chế độ sau đó vì vẫn xây trên nền không-dân-chủ, và di hại hơn nữa vì chứng đã thành bệnh khi ra đến hải-ngoại: não trạng phản bội, chia rẽ, không tôn trọng dân chủ, cứ nhìn Văn Bút hải-ngoại, các cơ cấu cộng đồng Atlanta, Nam Cali và Bắc Cali đều chia làm 2 với thủ lãnh khác nhau, rồi các cựu tù binh, tị nạn chính-trị, ngay cựu học sinh cũng thành nhiều hội mà danh xưng chỉ là một trò … chơi chữ!

Bài học nếu có cho thế hệ tương lai theo tôi là hãy quên quá-khứ nhưng hãy công bình với lịch-sử xét xử công tội cố gắng khách quan. Chân lý và công lý phải là những mục đích cần có trong việc tìm cho ra những nguyên nhân của não trạng tinh thần và chính-trị người Việt Nam đã khiến cho nước Việt và con người Việt phải như hôm nay, tìm cho ra sự thực từ những khúc mắc chính-trị, gián điệp, tuyên truyền, v.v. Và thoát khỏi tâm địa thời thuộc địa và cả tư duy hậu thuộc địa!

Tóm, tất cả người Việt chúng ta đều là nạn nhân của chính-trị nội bộ Hoa-Kỳ, của truyền thông và báo chí Hoa-Kỳ, của các cường quốc nói chung, của chiến-tranh lạnh, nhưng chúng ta cũng là nạn nhân chính chúng ta mà trong chúng ta kẻ nhiều tội nhất là những kẻ tự xưng là người của Mỹ, của Pháp, của Cộng sản quốc tế,…!

Nguyễn Vy Khanh

 

Hình ảnh và bài đọc do nhóm Paltalk tổng hợp từ Nam California, Hoa Kỳ.

 

The

Links:

Giòng Sông Cũ

 

Chú Thích:

1. Số tiền 3 triệu đồng Việt Nam tức 42,000 Mỹ kim do Lucien Conein đưa đến bộ Tổng Tham mưu cho các tướng đảo-chánh. X. Nguyên Vũ. Ngàn Năm Soi Mặt: tâm bút (Houston: Văn Hóa, 2002), tr. 114; Ðỗ Mậu. Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (Mission Hills CA: Quê Hương, tb 1987), tr. 816; v.v…
2. Hội đồng Quân nhân Cách-mạng chỉ thành lập từ ngày 3-11-1963.
3. Cao Văn Luận. Bên Giòng Lịch-Sử 1940-1965 (Sài-Gòn: Trí Dũng, 1972; Sống Mới tái bản, s.d.), tr. 256.
4. Phạm Kim Vinh. Việt Nam Tự Do Từ Ngô Ðình Diệm Ðến Lưu Vong. Tủ Sách PKV, 1987.
5. Trần Văn Ðôn. Việt Nam Nhân-Chứng (Los Alamitos CA: Xuân Thu, 198?), tr. 249.
6. Tôn Thất Ðính. 20 Năm Binh Nghiệp, tức Nghĩa Biển Tình Sông (San Jose CA: TB Chánh Ðạo, 1998), tr. 455.
7. Ðỗ Mậu. Sđd, tr. 789.
8. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 250.
9. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 238.
10. Trần Văn Ðôn kể Nhung đã khoe với con trai ông con dao găm lịch-sử (Sđd, tr. 236-8).
11. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 236. Ngô Ðình Châu xác nhận điều này trong Những Ngày Cuối Cùng Của Ðệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam (s.l.: Holly Graphics, 1999), tr. 19.
12. Hoàng Ngọc Thành và Thân Thị Nhân Ðức. Những Ngày Cuối Cùng Của Tổng-Thống Ngô đình Diệm (San José CA: Quang Vinh, Kim Loan & Quang Hieu, 1994), tr. 532.
13. Ngô Ðình Châu. Sđd, tr. 41. Ông Ngô Ðình Châu đã hỏi trung sĩ trưởng chiến xa M-113 chở anh em tổng-thống Diệm.
14. Diễn Ðàn Phụ Nữ, 148, 1996, tr. 59.
15. Nguyễn Hữu Duệ. Nhớ Lại Những Ngày ở Cạnh Tổng-Thống Ngô đình Diệm (Tác-giả xuất-bản, CA 2003), tr. 170-171.
16. Huỳnh Văn Lang. Nhân Chứng Một Chế Ðộ (Tác-giả xuất-bản, 2000), tập 3, tr. 256-8.
17. Tập 2, tr. 70. Lại có tin ông DV Minh không nộp đủ, giấu đi một thùng phuy vàng (X. Nguyên Vũ. NNSM, Sđd, tr. 13).
18. Nguyễn Hữu Duệ. Sđd, tr. 74 & 78. Ông Quan trước khi chết đã xin trở lại đạo Công giáo do TGM Nguyễn Văn Bình rửa tội, điều ông muốbn từ trước đảo-chánh nhưng không làm vì sợ hiểu lầm hoặc giống những người khác!
19. Tr. 258. Nguyễn Kỳ Phong dịch, Vietnam Bibliography ở Centreville VA xuất-bản, 2003. Nguyên bản tiếng Anh xuất-bản năm 1985. Trong Bốn Mươi Năm Văn-Học Chiến-tranh (Ðại Nam, 1997, tr. 140), chúng tôi có trách là các tướng sang Hoa-Kỳ viết report và study xuất-bản hạn chế cho bộ Quốc phòng Mỹ mà quên đồng bào người Việt, nay có bản dịch này nằm trong số những tài liệu đó.
20. Trong nước cũng làm một cuộc kỷ niệm 40 năm “cách-mạng 1-11-1963 thành công”, Nguyễn Ðắc Xuân làm một cuộc “tham quan” dinh Gia Long và nhân đó tiết lộ tướng Dương Văn Minh đã “nạt nộ tướng Ðôn “André! Giờ này mà anh còn muốn phản tôi hả? Nhung đưa súng đây”. Tướng Ðôn sợ quá muốn xỉu luôn! “ (Bốn Mươi Năm Nhìn Lại, tuyển tập 1963-2003. Garden Grove CA: Giao Ðiểm, 2003). Chuyện tướng Ðôn chiều ngày 1-11 điện thoại với tổng-thống Diệm đã có người nói đến, nhưng việc ttướng Minh giựt điện thoại và câu nói “lịch-sử” trên thì chưa, chúng tôi ghi lại với dè dặt vì chưa biết! Xuân kể theo lời KTS Nguyễn Hữu Ðống mà theo ông là “người đại diện dân sự độc nhất có mặt bên cạnh tướng DV Minh lúc ấy”(?).
21. Anne Blair. Lodge in Vietnam. New Haven: Yale University Press, 1995, tr. 190.
22. Bùi Tín. “Nhân vật lịch-sử Ngô đình Diệm và hậu quả cuộc đảo-chánh 1-11, 63”, Ngày Nay, 513, 15-10-2003, tr. A5 & B6.
23. Theo cuộn băng 37 tiếng đồng hồ tàng trữ ở JFK Library (Boston) được giải mật ngày 24-11-1998.
24. X. David Antonel et al. Les Complots de la CIA. Paris: Stock, 1976 (Chương “Un suicide accidentel” – lấy lại lời tuyên bố với báo chí của tướng Trần Tử Oai, ủy viên báo chí, nghe theo lời dặn của tướng Trần Văn Ðôn).
25. Trích theo F X Winters. Sđd, tr. 183. Trong khi đó, tờ New York Herald Tribune thì bênh vực chế độ Ngô đình Diệm!
26. Chính Ðạo. Tôn Giáo Và Chính-Trị: Phật Giáo, 1963-1967. Houston: Văn Hóa, 1994, trích theo bản cập nhật 2003 (phần C. Thay đổi đại sứ Mỹ).
27. X. Marguerite Higgins. Our Vietnam Nightmare, 1965; Ellen J. Hammer . A Death in November: America in Vietnam, 1963. 1987; Nguyễn Ngọc Tân. “The Miracle of Vietnam: the Establishment and Consolidation of Ngo Ðinh Diem ‘s Regime, 1954-1959”. Ph. D. Thesis, Monash University.
28. X. Nghiên cứu của chúng tôi về các vận động chính-trị của người Việt hải-ngoại 1975-2005, sẽ công bố hoặc xuất-bản.
29. Bách Khoa SG, 1969, đăng lại trong hồi ký Hơn Nửa Ðời Hư.
30. Bà Tùng Long. Hồi-Ký (Saigon: NXB Trẻ, 2003), tr. 221.
31. Nguyễn Văn Châu ghi nhận trong Ngô Ðình Diệm Và Nổ Lực Hoà Bình Dang Dở (Los Alamitos CA: Xuân Thu, 1989), tr. 95.
32. “Những sai lầm của Ðệ Nhất Cộng Hòa”. Thời Báo Toronto 202, 11-11-1993; 203, 18-11-1993 (cùng đăng trên một số báo khác). Ông Khôi tư lệnh Lữ đoàn Phòng vệ Tổng-thống phủ lúc xảy ra đảo-chánh 1-11, trong bài viết ông tỏ ra mặc cảm, ghen tương với nhiều người khác lên lon lên chức hơn ông và ông muốn đính chính chối từ liên hệ của ông với chế độ. Ông phê bình ông NV Châu đem đảng Cần lao vào quân đội làm mất hiệu lực và làm mất miền Nam (?). Phê phán ngây thơ vì chiến-tranh một sống một còn với guồng máy cộng-sản, đáng ra còn phải đi xa hơn, nếu không triệt để tổ chức lại quân đội quốc gia thì cũng phải cô lập hoặc cho làm bàn giấy tất cả những phần tử do Pháp đào luyện hoặc quá-khứ khả nghi (MH Xuân, TT Ðính, DV Minh, Ðỗ Mậu, …) là chuyện khả thể ngay cả trong các xã hội dân chủ như Hoa-Kỳ, Pháp.
33. Sđd, tr. 97.
34. X. Vĩnh Phúc. Những Huyền Thoại Và Sự Thật Về Chế Ðộ Ngô Ðình Diệm. (Westminter CA: Văn Nghệ, 1998), tr. 337.

35. Chính Ðạo. “Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975” (chưa xuất-bản, bản Internet ở trang giaodiem.com).
36. Ðó cũng là nội dung của cả chương XVI, sđd.
37. Một người nghiên cứu trẻ, Nguyễn Kỳ Phong, tác-giả bộ Người Mỹ và Chiến-tranh Việt Nam (Centreville VA: Vietnam Bibliography, 2001) từng bị chính trị gia Nhị Lang phê phán quá dựa theo tài liệu của Mỹ. X. “Trở lại vụ án 47 năm trước: ai giết tướng Trình Minh Thế?”. Văn Nghệ Tiền Phong, 636, 16-7-2002, tr. 24+.
38. Chính Ðạo. Tôn Giáo Và Chính-Trị: Phật Giáo, 1963-1967. Houston: Văn Hóa, 1994, trích theo bản cập nhật 2003.
39. Hải Triều Âm, 2, 30-4-1964, tr. 5. Trích lại từ Lê Cung. “Tìm hiểu những sự kiện đầu tiên trong phong trào Phật giáo miền Nam 1963”. Nghiên Cứu Lịch-Sử, 4, 1994, tr. 10. Chú thêm: Vụ trò Ơn bị giết khiến học sinh biểu tình và làm rớt chính phủ thời đó!
40. Ngày Nay, 374, 15-9-1997, tr. A5-6.
41. Ðã đăng trên trang Internet Vietpage.com ngày 6-9-2003.
42. ST. “Dân-tộc Việt Nam hai lần bị lường gạt”. Bên Kia Bờ Ðại Dương, 45, 6-2002.
43. Dĩ nhiên bị một số người bênh nhóm tướng lãnh “cách-mạng”, chế độ sau đó và bênh nhóm Phật giáo bạo động, chỉ trích. Nhưng khác Vĩnh Phúc, hai tác-giả này đã phỏng vấn hoặc khiến một số người trong cuộc phải lên tiếng, cả sau khi đã xuất-bản như với trung tá Dương Hiếu Nghĩa (X. Diễn Ðàn Phụ Nữ 148, 1996, tr. 59).
44. The Pentagon Papers: as published by the New York times, The Pentagon history was obtained by Neil Sheehan. Written by Neil Sheehan [and others]. New York, Quadrangle Books [1971]. 810 p.
45. Report of the UN Fact Finding Mission to South Vietnam. Washington D.C.: Government Printing Office, 1964. 254 tr.
46. Bđd. Thời Báo Toronto 202, 11-11-1993; 203, 18-11-1993.
47. Methuen MA: Lê Hồng, 2001. Chúng tôi đã có lời viết Tựa cho tập Hồi ký này.
48. Thí dụ không tin lời học giả Trần Trọng Kim (VNSL) mà tin báo cáo của Khâm sứ Pháp về việc đào mã lãnh tụ Cần Vương Phan Ðình Phùng. Chính Ðạo. Sđd, chú 51. Ðể viết tiểu sử Ngô Ðình Diệm, theo lời ông Nguyên Vũ, đã “sử dụng cơ bản là tập tiểu sử chính phủ Diệm do cơ quan an ninh Pháp thành lập ngày 5/7/1954 hiện vẫn còn chưa giải mật” (HCM con người & huyền thoại, tập III: 1947-1969).
49. Nguyên Vũ. NNSM. Sđd, tr. 135.
50. Bùi Tín. Bđd. Ngày Nay, tr. A5.
51. X. Trương Phú Thứ. Văn Nghệ Tiền-Phong, 643, 1-11-2002, tr. 8.
52. Hoặc nói rằng ông Châu về dự lễ mở tay linh mục của người em ông (X. Nguyễn Hữu Duệ, Sđd, tr. 97) – thật ra đã xảy ra năm 1960.
53. X. Nghiên Cứu Lịch-Sử, 48, 3-1963, tr. 6.
54. Trong số có ông Ðỗ Mậu (X. Trần Văn Ðôn. Sđd, tr. 203), nhưng ông Mậu không nói đến trong hồi ký của ông. Người duy nhất trong số đó còn sống là ông NN Khôi.
55. Ghi lại vài tài liệu còn nhớ: Dennis J. Duncanson: Lessons of Vietnam: three interpretive essays, 1971; Indo-China, the conflict analysed, Conflict Studies 39, 1973, v.v.; Robert Thompson: Defeating Communist insurgency: experiences from Malaya and Vietnam. 1966; “Vietnam: the human cost of communism”. Worldview Nov 1972; No exit from Vietnam. 1969; Peace is not at hand. 1974; v.v. Ngoài ra, nói đến tài liệu, Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ còn giữ cuộn băng ông trả lời phỏng vấn của nhà báo Neil Sheehan năm 1974 (X. Prof. Nguyen Van Chau, Oct. 24, 1974, my study, Wash., D.C. [sound recording]. 1974; Call no: RYB 6636-6637 (Recording made or collected by Neil Sheehan in preparation for the writing of his book A bright shining lie: John Paul Vann and America in Vietnam).
56. Nhà văn Nguyên Sa trong Hồi Ký (Irvine CA: Ðời, 1998) đã viết lại sự hữu hiệu của công an miền Trung ở Sài-Gòn (tr. 271+).
57. Minh Võ. Sđd, tr. 286.
58. Cao Văn Luận. Bên Giòng Lịch-Sử Việt Nam, 1940-1975 (Sacramento, CA: Tantu Research, c1983), tr. 6.
59. Ông Tôn Thất Ðính và Ðỗ Mậu là hai người bị phê phán nặng nề nhất, riêng ông Ðính ít ra đã có những lời “thú lỗi” dù tập thể ở đoạn cuối cuốn hồi ký: “cuộc hành quân 1-11-63 không phải là một thành công mà chính là một thảm bại lớn lao đối với lịch-sử” (Sđd, tr. 455). Hãy so với đa ngôn nhưng lời rỗng của Ðỗ Mậu: “ý nghĩa thực sự của ngày 1-11-63 là giải thoát. Trên mặt lịch-sử, nó chấm dứt những bế tắc của thế và thời để khai mở một giòng sinh mệnh mới; trên mặt dân-tộc, nó chấm dứt một giai đoạn trì trệ và đen tối để dân-tộc lại trở về với chức năng của chủ nhân đất nước (!)… “ (Sđd, tr. 791).